ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • THÔNG SỰ CAO ĐÀI TÌM ĐƯỢC CHÂN LÝ

    THÔNG SỰ CAO ĐÀI TÌM ĐƯỢC CHÂN LÝ


    Thân gửi đến hiền huynh Lý Thanh Trung, kỷ niệm ngày vui lớn nhất của cuộc đời: Ngày hiền huynh tin nhận Chúa Jesus Christ làm Cứu Chúa và Chủ của đời sống mình.
    Đêm Lễ Thương Khó 4/17/1992 Tại Phoenix, Arizona, USA
    Tôi theo Đạo Cao Đài, là đạo ông bà, cha mẹ. Ông nội, bà nội tôi là phó sự, cha tôi là giáo hữu, mẹ tôi là lễ sanh; chính tôi, hồi 10 tuổi là đồng nhi, đến 18 tuổi, tôi nhập môn, nghĩa là thề không bỏ đạo. Lời thề như vầy: "Tôi chỉ biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, nếu như sau mà tôi thay dạ, đổi lòng, thì thiên tru, địa lục!" Vì vậy, phần nhiều tín hữu Cao Đài không ai dám bỏ đạo. Sở dĩ tôi dám bỏ đạo là vì tôi được đọc Kinh Thánh, Lời của Đức Chúa Trời. Tôi biết không ai hơn Đức Chúa Trời. Thiên là Ông Trời mà tôi thờ Đức Chúa Trời, như vậy Đức Chúa Trời đâu có bắt tội tôi; còn địa lục là đất cũng ở dưới quyền của Trời. Nếu tôi còn tiếp tục là tín hữu Cao Đài Giáo là tôi có tội với Đức Chúa Trời vì Chúa cấm thờ hình tượng mà Cao Đài Giáo thờ một mắt ở trên, kế đó, thờ hình tiên, phật, còn thờ Chúa hàng thứ ba; như vậy, tôi thấy có tội cùng Chúa cho nên tôi quyết định tin Chúa.
    Ông Phạm Công Tắc là người sáng lập Cao Đài Giáo, vợ ông là bà Tám. Ông bà có hai con gái, tên là cô Tranh và cô Cẩm. Ông là vị tiền bối đại từ hiền. Ông kêu gọi nhân sanh làm lành, lánh dữ để Trời ban phước, chớ ông đâu có nói nên làm lành, lánh dữ để ông ban phước cho nhân sanh. Ông cũng không nói ông là chân lý.
    Tôi lập gia đình lúc 20 tuổi. Hai mươi hai tuổi tôi làm thông sự, nghĩa là người thông thạo luật lệ của giáo hội để khi nào trong anh em bổn đạo có xích mích với nhau thì giải thích đạo và dàn xếp sự xích mích của anh em. Từ năm 1960 đến 1973 tôi làm thông sự. Tôi tìm tất cả kinh trong Cao Đài không có cuốn kinh nào Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc nói ông là chân lý. Ông chỉ nói để Trời ban phước cho nhân sanh. Năm 1960, chồng tôi và đứa con trai 10 tuổi bị cướp giết. Tôi bị mất hết tiền của. Mình tôi phải gánh vác gánh nặng năm gái và một trai vừa mới sanh được một tháng mười ngày. Tuổi đời tôi lúc đó mới 35. Vì gánh nặng gia đình tôi phải xin nghỉ làm thông sự để lo nuôi sáu đứa con nhỏ dại.
    Tôi xin đi làm sở Mỹ ở Phi Trường Pleiku. Mười năm làm cho sở Mỹ tôi thấy đủ hạng người gian trá, giả dối. Tôi chán quá! Từ đó đến giờ, tôi chưa dám làm điều gì trái với lương tâm và cũng không dám làm phiền lòng người lân cận hoặc người thân trong gia đình. Tôi chỉ thấy những điều bất hạnh trong gia đình mà thôi. Tôi nghĩ, chắc gia đình tôi tiền kiếp không trồng cây phước đức cho nên bây giờ gia đình mình không được hưởng phước Trời ban cho.
    Đang làm việc trong nhà ăn, sau khi lãnh lương về, tôi thảo luận với các  con lớn: Mẹ con mình làm ăn chân thật lại gặp điều không may mắn. Mẹ nghĩ là kiếp trước của mẹ kém tu cho nên ngày nay mẹ con ta phải chịu gian truân. Vậy, mẹ khuyên các con ráng lo làm việc, học hành, còn mẹ đem các em nhỏ về Tây Ninh đặng mẹ lo lập công đức. Hai con lớn ở lại Pleiku đi học vì Pleiku ít tốn kém. Mẹ nghĩ, nếu mẹ ở lại dù có làm cho mấy cũng không qua khỏi ý Trời. Các con tôi bằng lòng để tôi về Tây Ninh. Lúc ấy, tôi trở về Tây Ninh, trở lại Thánh Thất Cao Đài năm 1970 và giữ chức Đệ Nhất Thông Sự Phân Đạo Hướng Đạo Bá Hữu. Tôi ăn chay trường từ năm 1970 cho đến năm 1986, chỉ tương, rau, dưa, muối, làm ra tiền thì cho con cháu; thấy ai túng thiếu, khổ hơn tôi, tôi cho họ tiền để làm phước. Rồi cũng chính trong thời gian tu hành, ăn chay, khắc khổ để tìm phước đời này, tôi chẳng tìm thấy phước hạnh là đâu, lại gặp biết bao buồn vui, tủi nhục nhưng buồn thì nhiều hơn vui.
    Mười sáu năm ăn chay, cái trứng gà không dám ăn, sợ có tội sát sanh như vậy mà tôi không nhận được ơn phước gì của Trời ban cho. Tôi nghĩ, sự ban cho là của Đức Chúa Trời mà tôi đã phạm tội cùng Đức Chúa Trời nên chẳng nhận được sự ban cho.
    Năm 1981, đứa con gái thứ năm của tôi (là mẹ của đứa con lai Mỹ mà qua đó sau này tôi được sang Mỹ với nó, định cư tại Tiểu Bang Utah) cảm thấy sống dưới chế độ cộng sản bị mất nhân quyền, sự sống hàng ngày trở nên vất vả, nên bằng mọi giá phải tìm cái sống, nên đã sa vào việc buôn bán xăng lậu, trái luật. Một hôm, con gái tôi bị bắt giam. Hai tháng sau, cộng sản cho tôi đứng ra bảo lãnh về nuôi dạy con. Hai tháng bị giam cầm thật cực khổ, ngày đi làm, tối về còn phải đi học chính trị. Nói là học cho đẹp chứ tới lớp chỉ nghe cán bộ chửi. Con tôi than phiền, thà chết chớ sống dưới chế độ Cộng Sản không thể chịu nỗi. Bằng giá nào, con cũng ra đi, tìm tự do. Gia đình mẹ con ta mất mát rất nhiều, mẹ tiện tặn được bao nhiêu nên hy sinh đưa tiền để con vượt biển, tìm tự do. Nếu con được đến Mỹ thì sẽ bảo lãnh mẹ qua, chúng ta sum họp, sống. Nếu chẳng may chết, đó là ý Trời. Tôi thật hết lòng khuyên can nhưng không hiệu quả.
    Lần đi đó bị thất bại. Con tôi bị công an bắt nhốt, cưỡng bức lao động, cực khổ, đói khát, cơm không đủ ăn phải hái lá cây rừng ăn tạm cho đỡ đói. Con tôi móc nối với một nam thanh niên trong trại giam, cùng nhau vượt ngục. Thoát được bốn ngày, cả hai đều bị công an bắt lại. Người nam thanh niên bị công an đả thương chết tại chỗ, con gái tôi bị đả thương gảy cả hai chân, chở về đến trại giam hai ngày sau thì chết.
    Sau năm tháng dài bặt tin, một hôm, có một thanh niên tìm tôi trao cho bức thư của con gái tôi viết trối trăn với mẹ là nó không thể nào chịu nỗi sự hà khắc của công an cộng sản nên quyết tâm trốn trại. Nếu không thoát khỏi sự kìm kẹp của cộng sản mà chết dọc đường thì quả là cái hạn xui của mình không qua khỏi. Thanh niên đó xác quyết với tôi rằng con gái của tôi đã chết cách năm tháng trước, hiện mộ được chôn dưới chân Trường Sơn. Thế mà công an không hề báo tử cho tôi biết.
    Khi tôi tìm thăm mộ con tôi, công an không cho tôi được cắm mộ bia nên tôi cứ ở lại trại. Mãi đến 28 ngày sau, công an buộc lòng phải cho tôi cắm mộ bia cho con tôi, tôi mới chịu ra về. Công an còn hẹn tôi bốn năm sau mới được vào lấy cốt. Vì cảnh gia đình nghèo khó nên việc lấy cốt không thể thực hiện.
    Một hôm, tôi đi Saigon có việc, nhân tiện tôi ghé sang một ngôi chùa xin gặp sư ông để thỉnh giáo. Xin sư ông vui lòng giải thích cho tôi về chân lý. Sư ông cho tôi biết là, Phật dạy chúng sanh phải tự lực cánh sinh vì Phật Thích Ca dạy con đường chính là mình. Phải dùng sức mình để đạt chân lý. Phật Thích Ca phán: Ta không phải là chân lý. Ta chỉ cho các con đường nào đến chân lý. Các con theo lời chỉ dạy mà đi. Như vậy, cũng như Tôn Giáo Cao Đài. Tôi từ giả sư ông ra về, lòng buồn bã, thất vọng vì mình đi tìm chân lý mà chẳng biết tìm ở đâu.
    Về nhà con tôi ở Thị Nghè, Saigon. Trong khi nó đi làm, ở nhà tôi thấy trên bàn có quyển Kinh Thánh, tò mò, tôi mở ra xem trang đầu Sáng Thế Ký đoạn1, đến câu 31, con tôi đi làm về, tôi hỏi con tôi: quyển Kinh Thánh này ở đâu con có? Được nó trả lời, nó mua với giá gần 15 ngàn đồng Việt Nam. Muốn mua một quyển Kinh Thánh phải chờ đợi đôi ba tháng và khi nào ở Hà Nội gửi vào mới có. Tôi nói: dù có giá bao nhiêu con cũng mua cho mẹ một quyển. Con tôi nói: Nếu mẹ cần, cứ cầm quyển Kinh Thánh này về Tây Ninh, con sẽ mua quyển khác. Thú thật với mẹ, vợ chồng con đã tin nhận Chúa gần một năm nay. Sở dĩ chúng con không cho mẹ biết vì mẹ là thông sự và mẹ ăn chay đã 16 năm. Nay mẹ muốn đọc Kinh Thánh, con rất đỗi vui mừng. Con cầu xin Chúa mở mắt mẹ để mẹ có thể hiểu được Lời Chúa.
    Mang quyển Kinh Thánh về Tây Ninh, lòng những vui mừng, tôi hằng đọc Kinh Thánh mỗi ngày và đọc mất một tháng năm ngày là hết quyển Kinh Thánh. Kinh Thánh chép:
    Sáng Thế Ký 1:1 "Ban đầu, Đức Chúa Trời dựng nên trời đất."
    Ma-thi-ơ 7:7 "Hãy xin, sẽ được; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho."
    Ma-thi-ơ 11:28 "Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ."
    Công Vụ Các Sứ Đồ 4:12 "Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu."
    Giăng 14:6 "Vậy Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha."
    Khải Huyền 20:15 "Kẻ nào không được biên vào sách sự sống đều bị ném xuống hồ lửa."
    Những câu Kinh Thánh này đánh mạnh vào tâm linh và từ chỗ bấy lâu nay tôi sống trong sự tối tăm, nay Chúa đã mở mắt tôi. Tôi quyết định từ bỏ Đạo Cao Đài, trở lại tin theo Chúa. Chúa là Đấng tạo dựng loài người chớ chẳng có Đấng nào khác. Nếu không chịu tin Chúa là có tội với Chúa.
    Khi tôi xuống Thị Nghè, Saigon lần kế, tôi hối thúc con tôi dẫn tôi đến nhà thờ Tin Lành Thị Nghè đặng chịu lễ báp-tem vì tôi đọc thấy trong Khải Huyền 20:15; tôi rất sợ nếu đêm ấy không chịu lễ báp-tem kịp, rũi chết sẽ bị xuống hồ lửa. Con tôi cho biết, Hội Thánh mỗi 4 tháng mới có làm lễ báp-tem một lần. Hôm nay mẹ xuống, may quá, Chủ Nhật tới này Hội Thánh có làm lễ báp-tem. Mẹ chỉ còn có một ngày để học giáo lý. Những người sắp chịu lễ báp-tem đều đã học 15 lần rồi. Lòng tôi bắt đầu bối rối. Người ta học 15 lần, còn tôi chỉ có một lần, làm sao đậu được?
    Tôi đọc Công Vụ Các Sứ Đồ 13:3 "Đã kiêng ăn và cầu nguyện xong, môn đồ bèn đặt tay trên hai người, rồi để cho đi." Tôi bắt đầu kiêng ăn, cầu nguyện và học bài giáo lý. Mới tin nhận Chúa tôi không biết cầu nguyện như thế nào, nên chỉ vắn tắt: "Xin Chúa tha tội cho con. Xin Chúa tha tội cho con, vì con là kẻ có tội. Nhân danh Chúa Jesus. A-men!"
    Chiều đi làm việc về, con tôi hỏi, hôm nay mẹ học được mấy câu? Tôi e ngại trả lời, mẹ ngu quá con, học trước quên sau. Chắc mẹ không thi được quá. Con tôi an ủi, nếu lần này mẹ thi không được thì lần sau.
    Sáng Chủ Nhật, mẹ con dắt nhau đi nhà thờ Khánh Hội. Truyền Đạo Lê Phước Thiện phụ trách việc thi để chịu lễ báp-tem. Khi được Truyền Đạo Thiện hỏi, bà có viết được không? Tôi trả lời, thưa được nhưng bây giờ mất bình tỉnh quá, lại nữa, tôi học trước, quên sau, xin thầy hỏi để tôi trả lời miệng.
    Thầy Thiện hỏi: Tại sao bà quyết định tin Chúa?
    Trả lời: Giăng 14:6,7 "Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha. Ví bằng các ngươi biết Ta, thì cũng biết Cha Ta."
    Hỏi: Bà căn cứ vào đâu mà tin Chúa?
    Trả lời: Tôi tin Lời Chúa hứa trong Kinh Thánh
    Thầy Thiện: Bà đậu rồi.
    Tôi rất mừng và tin rằng nhờ Đức Thánh Linh ban ơn cho tôi chớ khi học, tôi không có đức tin là sẽ thi đậu. Tôi liền trở về tây Ninh nội Chủ Nhật ấy và dọn dẹp tất cả bàn thờ, hình tượng Cao Đài, đem đốt tất cả. Con tôi sợ quá. Tôi giải thích cho nó, mẹ nhân danh Chúa Jesus mà dẹp, đốt tất cả các bàn thờ, hình tượng, vì từ trời cao hoặc dưới đất thấp này chẳng có ai lớn hơn Chúa đâu mà con sợ.
    Trước khi sống trong Chúa, gia đình tôi thật sống trong hoàn cảnh bi đát, cơm không đủ no, tiền bạc thiếu thốn, chồng con bị cướp giết, một đứa con gái bị công an cộng sản đả thương chết trong trại giam; nhưng từ khi tin Chúa đến nay, gia đình sống trong sự bình an, hy vọng. Chúa đã thăm viếng gia đình, dù trong hoàn cảnh nào cũng chỉ kêu cầu Chúa luôn, nên từ đó, mọi việc trong gia đình thật tốt đẹp, tràn đầy ơn Chúa.
    Tôi được làm báp-tem ngày 3 tháng 3 năm 1986. Từ đó, tôi thường xuyên đi thờ phượng Chúa mỗi Chủ Nhật, kiêng ăn ngày Thứ Bảy.
    Chúa còn ban cho tôi một ơn khác nữa. Khi tôi đi khám
     sức khoẻ, bác sĩ nhãn khoa thấy mắt tôi có cườm, ông khuyên tôi nên mổ mắt, nếu không, sau này mắt sẽ không còn thấy. Tôi nhận lời mổ mắt, hiện nay mắt tôi rất tốt, tôi chỉ biết dâng lời tạ ơn Chúa những điều Chúa ban cho tôi.
    Sau khi mổ mắt về vài ngày, vì dốt nát không biết nên uống lầm thuốc bị ngất xỉu, cả nhà đều đi vắng. Nhờ cô Mai là đồng hương ở cách nhà tôi vài căn, tình cờ ghé thăm tôi vì nghe nói tôi vừa mổ mắt, vào nhà thấy tôi bị ngất xỉu nên vội kêu xe cứu thương chở tôi đi bệnh viện cứu cấp. Một sự khó khăn cho bác sĩ, đó là, phần thì tôi bị ngất xỉu, phần thì cô Mai không biết việc gì xảy ra nên bác sĩ phải tự tìm lấy nguyên nhân và chữa lành cho tôi.
    Sau khi tôi rời Việt Nam được một tháng, đứa con trai út của tôi tên Tứ Hiền nay đã lớn, có gia đình, nhưng vì chưa tin Chúa nên ham mê theo thế gian, bỏ vợ con, theo vợ nhỏ, tôi viết thơ về khuyên can.
    Trong bức thơ khuyên nó, tôi viết: Con phạm điều răn của Chúa, con phải ăn năn xưng tội cùng Chúa, xin Chúa tha tội cho con thì mẹ cũng tha tội cho con. Nếu con không ăn năn, Chúa không tha tội và mẹ cũng không tha tội, mẹ buồn và xấu hổ vì con, mẹ sẽ chết vì con. Được thơ, Tứ Hiền buồn, đứng dậy ăn năn, bỏ vợ nhỏ, về với gia đình. Sau đó, Tứ Hiền cầu nguyện tin Chúa và đã làm lễ báp-tem. Được thơ con báo tin, lòng tôi rất vui mừng, cảm tạ ơn Chúa. Thật quyền phép Chúa lớn lao đã đổ trên gia đình tôi cách dư dật, chẳng những cho chính tôi mà còn cho con cái tôi nữa.
    Hiện nay, Chúa đem tôi qua đất Mỹ này cách bình an, đời sống vật chất đầy đủ, sức khoẻ trọn vẹn. Trước đây, mắt tôi rất kém không thấy rõ, nay nhờ mổ mắt, tôi đọc Kinh Thánh dễ dàng, phần thuộc linh của tôi thật tràn đầy ơn Chúa. Lòng tôi lúc nào cũng thấy tình thương của Chúa dư dật đổ trên tôi, nhất là từ ngày tôi ăn năn, tin Chúa đến nay, trọn đời sống tôi không có lúc nào được hưởng sự bình an như hiện tại. Tôi vẫn trung tín kiêng ăn ngày Thứ Bảy, còn Chủ Nhật thì đi thờ phượng Chúa. Tôi cũng cầu xin Chúa gia ân cho tôi để tôi có thể bảo lãnh được mẹ già và một số con cháu còn ở tại Việt Nam. Xin quý anh chị em trong Chúa nhớ đến tôi mà hằng cầu nguyện cho gia quyến tôi được sum họp. Tôi tạ ơn Chúa. A-men!

    Nguyễn Thị Đỉnh
    Tháng 8 năm 1990
  • CON GẶT VÀ CHỦ MÙA GẶT

    CON GẶT VÀ CHỦ MÙA GẶT

     

    Quân Nguyễn

    Việc truyền giáo không phải chỉ là một nghề, hay một công việc phu, truyền giáo không phải tôi có hứng tôi sẽ đi. Nhưng là một tinh thần, một tiếng gọi từ trên cao cũng là tiếng gọi của một tấm lòng thương xót. Ngày nay thật hiếm để chúng ta nghe và thấy được tiếng mời gọi của người Ma-xê-đoan năm xưa như Phao lô đã nghe, đã thấy.

    Chúng ta bị che lấp bởi những bận rộn, với nhu cầu cá nhân, chúng ta lấy tai nghe mà chẳng nghe được, lấy mắt xem mà chẳng thấy gì. Giữa biển người bao la, mà chúng ta chẳng có khát vọng chinh phục một ai, lòng ta dửng dưng trước biển người thì làm sao chân bước nổi. Làm sao có thể khoác túi, với những giọt mồ hôi trên trán, với những bữa ăn xa lạ, giấc ngủ chập chờn giữa núi rừng, giữa dòng người vun vút đang tiến dần đến cánh cửa sự chết.
    Tôi có nghe thấy hàng trăm những lời mập mờ và cả dại khờ rằng: Ta muốn đi nhưng không có tiền để đi. Nếu có tiền ai cũng muốn đi, nhưng họ sẽ chẳng bao giờ có một chuyến đi nào đúng nghĩa thực sự, vì họ cứ trông chờ một điều thần kỳ nào đó từ bên kia của đại dương mang đến, họ trông mong mà chẳng nhận được. Vì Chúa là Đấng dò trong trí, thử nghiệm trong lòng.

    Nhược bằng bên kia đại dương mang đến thỏa mãn cho họ đi chăng nữa, thì thực sự lịch sử đã chứng minh, nhiều tôi tớ đã bị sa lầy bởi những thỏa mãn đó, trật mục tiêu, sai động cơ vì con mắt trần tục đã đặt để vào những điều tạm bợ. Rối loạn trong lòng, trong Hội Thánh đã xảy ra vì cớ những điều ở bên kia đại dương.

    Chúng ta phải khắc cốt, tri ân những con người ở bên kia của đại dương là những người đã vì cớ danh Chúa, liều bỏ mọi sự để gieo bằng nước mắt, đầu gối và tiền bạc để xây dựng, cứu biết bao sanh linh. Nhưng không vì thế mà chúng ta dựa dẫm, ỷ lại và trở nên vô cảm, trông chờ một hoài bão hoang tưởng.

    Đã đến lúc chúng ta phải đứng nên trên chính đức tin của mình, trên chính quê hương mình và hướng mắt, gieo mình trong tấm lòng của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời của người Việt Nam, sẽ giúp người Việt Nam hầu việc Chúa cho Việt Nam, phục vụ người Việt Nam.

    Chúng ta có quyền ngẩng cao đầu khi Chúa thành tín chưa bao giờ để người công bình và dòng dõi người công bình phải đi ăn mày. Chúng ta hướng lên Chúa chứ không phải hướng nhìn về chân trời của bên kia đại dương. Nếu có nghèo khó thì hãy chết ở trong sự thanh liêm chứ đừng vì những điều ở bên kia đại dương giết chết phẩm hạnh, ăn mòn tư cách của một tôi tớ ngay lành phục vụ Nước Trời.

    Chúng tôi đã đi bắt đầu từ đồng tiền nhỏ nhất, tôi tin và kinh nghiệm rằng: đồng tiền nhỏ nhất đem tôi đến nơi xa nhất, Vì Đức Chúa Trời đã không ẩn mặt Ngài giữa những hoàn cảnh mà Ngài cho phép, Ngài không ẩn mặt đối với người thực sự đang mang gánh nặng trên vai và tấm lòng yêu tội nhân.

    Việc bước đi để thực hiện vương quốc riêng là một điều sỉ nhục cho vương quốc Đức Chúa Trời, tạo lập vun đắp cho chính bản thân, đẹp lòng giáo hội cũng tỏ bày rằng: công việc ấy sẽ qua đi, công việc ấy đang xây trên cỏ khô, rơm rạ mà thôi.

    Đức Chúa Trời cần một nông dân và công dân thuộc linh biết vì Ngài, vì nước Ngài mau đến, ý Ngài được nên ở đất như ở trời. Một công nhân thuộc linh phải có mối thân mật, khắng khít với Chủ của mùa gặt và phải làm đẹp lòng Chủ mùa gặt là Đức Chúa Giê-xu Christ.

    Hôm nay chúng ta không đứng núp mình dưới hình thức của những điều thiêng liêng để che dấu những động cơ sai trật, phải thoát lốt người cũ, là con người bị tư dục sai khiến mà phải mặc lấy con người mới với tấm lòng thiêng liêng thật sự, tình yêu thực sự, tiếng nói thực sự mới có thể bước đến an ủi, chinh phục trở nên ống dẫn tươi mới cho người đang thất vọng, nặng nề.

    Bạn và tôi chẳng bao giờ đón được cơn mưa đầu mùa, nếu cứ ngủ rồi lại lăn, lăn xong rồi lại ăn… chúng ta cần hướng mắt lên, và trở lên những con gặt cho Chủ mùa gặt, chúng ta cần phải trở nên những lưỡi liềm có giá trị của thiên đàng.

    Chủ mùa gặt đang chăm xem chúng ta, những bước chân chúng ta, những lời giảng chúng ta, công việc chúng ta, những lúc chúng ta ngồi, đứng, ăn, ngủ. Bạn và tôi đang làm điều gì? Vì ai? Chúng ta không chỉ đồng hành và rao giảng Phúc âm mà phải sống trong Phúc âm chúng ta rao giảng. Một con gặt chân chính, rao giảng Phúc âm chân chính là con gặt phải ở trong Chủ mùa gặt và Chủ của mùa gặt ở trong con gặt.

    Quả thực Chủ của mùa gặt luôn dự bị sự nhân từ và ân điển của Ngài cho tôi tớ của Ngài, cho mảnh đất của Ngài, cho những con người của Ngài. Chẳng thể tránh thoát được những đau thương, thiếu thốn, nguy hiểm. Nhưng chẳng sự gì lớn hơn được Đấng đã vì yêu mà phó sự sống cho chúng ta.

    Bạn và tôi có thể tạm gác những điều không đồng thuận, Chủ mùa gặt đang cần những con gặt biết dấn thân, hy sinh mà không đòi công giá. Chủ của mùa gặt mong ước anh chị em ta, nếu đã và đang là những con gặt thành công, không vì hoa lợi của bên kia đại dương. Chúng ta hãy cùng nhau nói: chúng tôi là những con gặt vô ích, việc chúng tôi làm là việc chúng tôi đáng phải làm. Hôm nay Chủ mùa gặt đã và đang làm trong bạn, qua bạn, hãy cũng dâng vinh hiển cho Ngài. A-men.
    QUÂN NGUYỄN

  • CHÚA VỚI TÔI GIỮA NƠI KHÔ HẠN

    CHÚA VỚI TÔI GIỮA NƠI KHÔ HẠN



    Hỡi Đức Chúa Trời, Chúa là Đức Chúa Trời tôi, vừa sáng tôi tìm cầu Chúa;
    Trong một đất khô khan, cực nhọc, chẳng nước,
    Linh hồn tôi khát khao Chúa, thân thể tôi mong mỏi về Chúa,
    2 Đặng xem sự quyền năng và sự vinh hiển của Chúa,
    Như tôi đã nhìn xem Chúa tại trong nơi thánh.
    ( Thi 63:
    Ước mơ được sống trong nơi trù phú, thịnh phượng khiến sinh ra cơ hội và sực sống tuôn trào, nhưng không phải vậy,
    Sự sống trổi lên như một điệp khúc thúc đẩy lòng người vào chính giữa đêm đen, mặt trăng không rọi vào ban đêm, ánh bình minh chẳng nó dạng.
    Một con người đã ở nơi rừng vắng năm xưa tưởng chừng  như vô vọng, đầy ắp những sợ hãi, và xót xa bởi chính người con trai tìm cách đuổi giết. Tình cha con, tình mẫu tử đã bị cái danh bên ngoài, tiếng bên ngoài đánh đổi.
    Có khi thời điểm chúng ta đang lừng lẫy mà lòng đắng ngắt như dòng sông nước đắng năm xưa mà người Y-sơ-ra-ên không thể uống được.
    Trong rừng vắng Giu đa, trong một đất khô khan, cực nhọc chẳng nước, bạn sẽ không còn cảm thấy đức tin lên cao, bay xa nữa. Người ta mơ ước sang bên kia đại dương, nhưng tôi cứ ở biên cương nước nhà.
    Tôi tự hỏi tôi là ai? Ước mơ của tôi là gì?
    Tôi nhớ đến cuộc đời của một tiểu tiên tri phục vụ Chúa cho vương quốc phía...một con người bình dị, núp sau dưới lời nói bình dị, công việc bình dị là cả một sức mạnh tâm linh, lòng nóng cháy đến tột cùng cho Chúa.
      A-mốt trả lời cho A-ma-xia rằng: Ta không phải là đấng tiên tri, cũng không phải con đấng tiên tri; nhưng ta là một kẻ chăn, sửa soạn những cây vả rừng.” ( A mốt 7:14)
    Sống trong thời buổi đồng tiền và địa vị đang chi phối, nhiều người hầu việc Chúa cũng không tránh khỏi bị mờ mắt, chúng ta thích ngồi ở nơi tiện nghi, và có nhiều cơ hội với cách nghĩ ấy sẽ thổi phồng trong tâm trí chúng ta rằng: nếu được như vậy thì chức vụ đời sống sẽ thành công. Đức tin vươn cao, tấm lòng phấn hưng.
    Nhưng giữa những tiện nghi choáng ngợp nơi xứ người, đã lấy cắp đi một tấm lòng đơn của một người tôi tớ, giữa những động cơ như sóng cồn đại dương, nổi dậy phủ đầy tâm trí, khiến cho lòng thăng hoa. Nhưng cuối cùng thay vì sự sống tuôn trào thì trở nên khô cứng, thay vì nhân hậu trở nên bất nghĩa.
    Một tôi tớ thật, một Cơ Đốc Nhân chân chính được Chúa đặt đúng nơi, đúng chỗ và chịu ở thỏa lòng, tìm được niềm vui, sự an nghỉ trong khi phục vụ, ắt hẳn sẽ có kết quả lớn lao đích thực, Chúa vui, người người được gây dựng.
    Cái chính không phải ở đâu? Bạn là ai? Mà là tấm lòng bạn thế nào?  Đa vít đã ở trong rừng vắng Giu đa, với sự cô đơn và bóng tối vây chùm, có thể trong những lúc chạy chốn người con trai dứt tình mẫu tử, mang trong người dòng máu của mình, bây giờ trở thành kẻ tàn nhẫn, lạnh lùng, lòng một người cha chắc hẳn như ngàn mũi dao đâm cắm.
    Giữa những rừng vắng, giữa nơi một nơi khô khan, cực nhọc, chẳng có nước, nhưng Đa vít đã nhớ đến Chúa, nhớ đến một con người đã có lần nói rằng: tôi chỉ như một con trùng, nhớ đến cuộc đời bé nhỏ của mình, nhớ đến những ngày thiếu niên chăn chiên, vui với bầy, đánh đàn ca ngợi Cha trên trời đã bày tỏ tình yêu thương, và sự nhân từ vô bờ bến.
    Ngài đã yêu ông ngay cả khi ông lầm lỗi, chắc hẳn tình yêu ấy đã thúc đẩy Đa vít tìm được sự yên ủi, xoa dịu nỗi đau và nhân ái đối với một người con bất hiếu.
    Đa vít đã tìm được sức mạnh thực sự, ông thực sự đã kinh nghiệm đức tin khải hoàn của mình giữa rừng vắng Giu đa, ông đã tìm được nguồn nước sống thực sự, bền vững, dài lâu, sự sống của ông lúc này không phải mình là ai? Mình sẽ là gì? Mà là Chúa là ai với tôi? Ngài có phải là nguồn nước sống cho cuộc đời bạn và tôi, Ngài có phải là Đấng duy nhất làm cho bạn và tôi được no thỏa.
    Có phải Ngài đang là Ước mơ, đang là niềm khát khao lớn nhất của đời bạn, trong rừng vắng Giu đa, trong một nơi khô khan, cực nhọc, chẳng nước, tình yêu thương của một người Cha được chổi dậy, mọi sự cay đắng tổn thương, sự thù hận, được chôn vùi trong rừng vắng Giu đa.
    Cớ sao và cớ làm sao chúng ta cứ đeo bám mãi những nỗi âm u, sầu não đảo điên, cớ sao và cớ làm sao chúng ta cứ giữ mãi cái bóng hận thù, đắng cay đã bị thời gian làm lu mờ, cớ sao chúng ta cứ khơi gợi, nhắc lại  những đau thương mọc rêu xanh hàng trăm tuổi.
    Hãy đem đến rừng vắng Giu đa, nơi đó bạn đối diện với một người Cha nhân từ, đầy lòng thương xót, nơi đó bạn và tôi nghĩ đến mình kẻ tội nô, chẳng ra gì, đầy sự nhuốc nhơ và nhiều lần cư xử dại dột, tình yêu trào dâng, sự sống đích thực được bừng sáng, hãy để Chúa là nguồn nước sống, tưới mát tâm linh, tấm lòng chúng ta. Tại nơi của sự hạ lòng tìm kiếm bạn và tôi được nhấc lên trong sự trũng thấp sẽ được nấp đầy sự yêu thương, tha thứ, bao dung, và ngay thẳng. Trong nơi vắng vẻ đó lòng cong quẹ sẽ được sửa cho ngay bởi sự cáo trách, nhẹ nhàng của Đức Thánh Linh, nước mắt ngắn dài dưới chân Chúa là sức mạnh để chúng ta bước quay trở về làm hòa lại với anh em mình.
    Lúc này, Đa vít làm gì có giường, trong rừng vắng Giu đa, trong một nơi cực nhọc, chẳng nước, làm gì có giường, đang chạy chốn thì làm gì có thể mang giường theo được.
    Nhưng trong sự chằn chọc, với nhiều bối dối, âu lo thổn thức của đêm trường, khiến Đa vít không sao ngủ được, và lúc ấy ông nhớ đến Chúa, suy gẫm về Chúa trọn các canh đêm.
    Thi 63:6   Khi trên giường tôi nhớ đến Chúa,
    Bèn suy gẫm về Chúa trọn các canh đêm;”
    Phước cho người nào được sức lực trong Chúa,
    Và có lòng hướng về đường dẫn đến Si-ôn!
    6 Đương khi đi qua trũng khóc lóc [†Nguyên-bổn rằng: trũng Ba-ca
    Họ làm trũng ấy trở nên nơi có mạch;
    Mưa sớm cũng phủ phước cho nó.
    7 Họ đi tới, sức lực lần lần thêm;
    Ai nấy đều ra mắt Đức Chúa Trời tại Si-ôn.
  • ÂN SỦNG CHO NHÂN LOẠI

    ÂN SỦNG CHO NHÂN LOẠI


    Kinh Thánh: Luca 2:14 Lời chào mừng: Trân trọng kính chào quý vị! Trước hết xin cho tôi thay mặt Hội Thánh của Đức Chúa Trời xin gởi lời kính chúc quý vị một mùa Giáng Sinh và một năm mới Bình An, Hạnh Phúc và Ân Sủng của Đức Chúa Trời. Thưa quý vị, Có một câu hỏi được hỏi nhiều nhất trên thế giới tính cho đến thời điểm này mà công cụ điện toán, google đã thống kê ghi lại đó là: Thượng Đế Ôi! Ngài ở đâu? Và nếu tối nay, tôi hỏi quý vị rằng: Thượng Đế ơi! Ngài ở đâu? Thì sẽ có rất nhiều câu trả lời khác nhau phải không quý vị? Chúng ta trở về với không khí của Mùa Lễ Giáng Sinh, trở về với Lời của Đức Chúa Trời để tìm biết câu trả lời: Đức Chúa Trời đã nhập thế làm người qua thân vị là Chúa Giê xu Christ. Và Chúa Giê xu Christ có danh xưng cao quý là: Em-ma-nu-ên. Nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Vâng Thượng Đế Ôi! Ngài ở đâu? Ngài đang ở đây với chúng ta. Xin chúng ta cùng cho một chàng vỗ tay chào mừng sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì Ngài đang ở cùng chúng ta. Nhập đề: Kính thưa quý vị! Chúng ta đang ngồi hướng lên tâm điểm của Lễ Giáng Sinh, và buổi tối hôm nay, Hội Thánh chúng xin giới thiệu cùng quý vị chủ đề của Lễ Giáng Sinh đó là: Ân Sủng Cho Nhân Loại. Trước khi chúng ta cùng nhau đến với Lời Đức Chúa Trời, kính mời quý vị đồng đứng lên để chúng ta cùng đọc câu gốc nền tảng hai. Khi đọc xong... cầu nguyện. Kính lạy Đức Chúa Giê xu, tối nay chúng con muốn nói về Ngài, xin hãy làm vinh hiển Ngài qua chúng con, vì chúng con nhận biết rằng: Nếu không có Ngài thì cuộc đời chúng con chẳng là gì hết. Chúng con cầu xin Đức Thánh Linh hãy vận hành trên người nói cùng người nghe. Để mỗi chúng con đều được rờ chạm và nếm biết ân sủng của Ngài. Trong Danh Chúa Giê-xu Christ. A men. Thân đề: Quê hương VN nằm ở bên bờ của Thái Bình Dương, cho nên hứng chịu trọn vẹn hai mùa mưa nắng. Mùa mưa về, nước lũ ngập từng cơn, khi hạn hán đến, đồng khô cỏ cháy. Vì vậy quê hương VN luôn nguyện cầu: Cầu cho mưa thuận gió hòa, cho đồng lúa tốt, nhà nhà ấm lo! Miền Trung lưng dựa vào dãy núi Trường Sơn. Mà chân dãy Trường Sơn thì đất cày lên sỏi đá, cho nên lời nguyện cầu có vẻ tha thiết hơn: Lạy trời mưa thuận gió đều, cho nhiều lúa bắp, cho nhiều sắn khoai. Đó là cái tâm, cái tấm lòng và sự cậy trông của người xưa đặt tin nơi Đức Chúa Trời Hằng Sống. Nhưng cách đây khoảng hơn 30 năm, Nhân loại .... đã thốt lên những lời mà khiến Đức Chúa Trời vô cùng thất vọng: Anh trời dẹp lại một bên, để cho thủy lợi đứng lên thay trời. Và khi chương trình thủy lợi, nông nghiệp thất bại thì đổ lỗi là tại trời: Mất mùa là tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài của ta. Cách nói ấy, luận điệu đó, đúng như cách nói, giọng điệu của người La Mã vào Thế Kỉ thứ nhất mà Phao lô đã chép trong thư Rô-ma rằng: “ Vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại” ( Rô ma 1:21-22) Trong khi con người tự hào có thể đội đá vá trời, trong khi con người càng ngày đẩy Ngài ra xa, trong khi con người luôn luôn làm Ngài thất vọng. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Chí Nhân, Chí Ái: “Bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác.” ( Mathiơ 5:45 ). Ngài vẫn luôn săn sóc, yêu thương và Ngài vẫn gọi tiếng gọi tình thương từ vườn Ê-đen năm xưa, để con người vốn xa cách trở về cùng Cha Thiên Phụ: “ A-đam, con ở đâu?” Vâng tiếng gọi ấy, tiếng gọi tình thương ấy cũng vẫn dành cho quý vị và tôi! Và ngày nay Ngài không phải ngồi trên Thiên đàng để gọi chúng ta đâu. Ngài cũng không phải ngồi trên thiên đàng rồi dơ tay xuống kéo con người ra khỏi cái huyệt của sự chết đâu. Thưa quý vị! Ân sủng của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại này không chỉ khiến mặt trời mọc lên soi dọi nơi trần thế thôi đâu, Ân sủng của Đức Chúa Trời cũng không chỉ làm mưa cho mùa màng bội thu thôi đâu. Vì dù mặt trời có soi dọi cả đêm đi chăng nữa thì tâm linh con người vẫn u mê đen tối, lầm lạc trong tội lỗi. Nước lũ có thể cuốn trôi đi bất cứ điều gì, nước chảy đá cũng phải mòn, nhưng tội lỗi của con người thì chẳng một loại nước lũ nào có thể cuốn trôi hay làm mòn, hoặc tẩy sạch đi được. Vì tội lỗi và sự hư hoại của con người nó ăn sâu, bám rễ trong bản chất của mỗi con người chúng ta. Chính vì thế mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ Ân sủng của Ngài cách trọn vẹn nhất, và Tuyệt Đỉnh của Ân Sủng đó là sự ban cho một Đấng Cứu Thế để cứu nhân loại hư mất này. Trong đêm đen tối của trần thế. Thiên sứ đã báo cho các kẻ chăn chiên rằng:“ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu-thế, là Christ, là Chúa.” ( Luca2:11) Sau đó thiên sứ ngợi khen Đức Chúa Trời mà rằng: “Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!” ( Luca2:14) Bài ca của thiên sứ rất ngắn, nhưng đã đụng đến và đem sự sống vĩnh cửu vào thế giới hư vong, đem vào cho nhân loại một tin mừng: tội ta được tha, nợ tôi được trả cho những kẻ nào tin đến danh con người, cho những kẻ ở trong Chúa Giê-xu Christ. Bài ca ấy chỉ cho nhân loại biết phương hướng tìm về nguồn của sự sống thật, sự bình an thật, cũng chỉ cho chúng phương cách để trở về làm hòa với Đấng Tạo Hóa thông qua: Một Đấng Cứu Thế, gọi là Christ, là Chúa. Martin Luther nói về sự Giáng Sinh của Chúa Jêsus rằng: “Ngài là Đấng mà nhiều thế giới không thể bao hết được lại nằm bên hông của Mary”. Một người khác cũng thốt lên rằng: “ Bởi vì yêu thế nhân mà Ngài đã từ vĩnh cửu bước vào trong thời gian, đã từ vô cùng đi vào hữu hạn.” Đấy là sự hóa thân thành nhục thể — Đây chính là Ân Sủng dành cho nhân loại. Chúa Cứu Thế Giê xu được ban tặng cho Những kẻ không xứng đáng, những kẻ luôn làm Ngài thất vọng. W. Tozer khi nói về ân sủng của Đức Chúa Trời Ông đã ghi trong nhật ký trước khi qua đời: “ Ðức Chúa Trời đã lấy ân sủng vô cùng to lớn của Ngài để đến với tôi, lớn đến nỗi cho dù tôi có sống được đến một triệu thiên niên kỷ, tôi cũng không thể trả nổi những gì Ngài đã làm cho tôi.” Thưa quý vị! Có một bài thánh ca đã làm lay động thế giới suốt 250 năm qua, làm rung động biết bao con tim trai cứng, mang lại sự yên ủi cho biết bao những cuộc đời vỡ tan trong hoạn nạn, nghịch cảnh, và đau thương. Bài ca: Ân Điển Lạ Lùng. Cuộc đời của John Newton: John Newton là một người mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Ông sống một cuộc đời ngang tàng, hư hỏng, tội lỗi, xấu xa. Ông len lỏi từ địa vì của một người sai vặt lên làm thuyền trưởng của một tàu buôn nô lệ hạng sang. Trong một chuyến vượt Đại Tây Dương, John Newton gặp một trận bão khủng khiếp. Trong hoàn cảnh nguy nan đó, ông nhận thức được sự mong manh của cuộc sống đã dâng một lời cầu nguyện để xin Đấng có quyền cứu mình khỏi chết. Và Đức Chúa Trời thành tín, Ngài phán rằng: Phàm ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Trong nhất ký John Newton mô tả cuộc đời mình như là một chiếc tàu hư hỏng, mục nát. Cuộc đời tôi lạc lõng giữa những bão tố mênh mông, cạm bẫy của cuộc đời. Nhưng ân điển Chúa đã cứu ông để rồi bài ca: Ân Điển Lạ lùng như một lời tạ ơn có mùi thơm dâng nên Chúa. Hôm nay có thể cuộc đời chúng ta có phải cũng đang đối diện với những giông bão, cạm bẫy và đêm đen của cuộc đời do tội lỗi đang nhấn chìm chúng ta. Tin mừng cho quý vị buổi hôm nay là: Ân điển của Đức Chúa Trời sẽ cứu vớt quý vị, giữ quý vị trong cuộc sống hạnh phước thiêng liêng. Khi mở đầu sứ điệp giáng sinh Sứ đồ Phao lô đã đi ngay, đi thẳng vào con tim của sự giáng sinh chính là: “ Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy ” ( ITi 1:15 ) Trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là những kẻ chăn chiên mục đồng hay các bác sĩ đông phương, trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là máng cỏ chuồng chiên, hay các ngôi sao. Trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là đến Brazil để ngắm cây thông Noel lớn nhất thế cao 85m đâu. Trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là cái bánh dài 1km với hương vị vani đâu. Con tim của lễ Giáng Sinh đối với Phao lô là: “ Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, trong đó có tôi và quý vị” ITi 1:15. Đây có phải tinh thần của chúng ta khi đến với Chúa giáng sinh không? Đây có phải là tấm lòng chúng ta đến đây để gặp Chúa Giáng Sinh không? Trong tất cả các vị sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu thì Phao lô đã viết và nếm trải kinh nghiệm về Ân Sủng nhiều hơn hết thảy. Trong toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước nói tới 76 lần động từ “ Ân điển” thì Phao lô nói đến 71 lần trong số 13 thư tín của Ông. Đó cũng đủ thấy Ân điển của Đức Chúa Trời đã gột rửa và đem ông lên cao hơn những người khác. Phao lô có nghĩa là nhỏ bé, + Chrysostom đã nói về Phao lô rằng: cao ba cubit ( đơn vị đo ngày xưa, 1 cubit =45,72cm) nhưng ông đã đụng đến bầu trời. Dầu vóc người thấp nhỏ, Phao lô là người đã nhận lãnh và kinh nghiệm được sự ban cho ân điển diệu kì của Đức Chúa Trời. Sau khi tin Chúa Phao lô được đổi mới nên khiêm tốn ý thức được rằng: Mình chỉ là một hạt cát bên bờ Đại Dương của tình yêu bao la Ân Sủng của Chúa. Đến đây có thể chúng ta tự nhủ rằng: Chắc ông ấy phải là người tốt lành, công bình lắm, đạo đức lắm nên mới được Đức Chúa Trời ưu ái, ban ơn nhiều như vậy. Kính thưa Hội Thánh, thưa quý vị thân hữu! Chúng ta đang sống trong một xã hội có qua có lại mới toại lòng nhau, quy luật sòng phẳng, bánh tét đi qua, bánh quy trở lại, chính vì vậy mà quy luật ấy con người cũng đem áp dụng vào lĩnh vực tâm linh, chúng ta đem vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Về phương diện con người thì Phao lô: Là con của gia đình gia giáo: Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức hẳn hoi. Ông là một người mang dòng họ máu chất của dân tộc Do Thái, một gia đình khá giả, thượng lưu, một gia đình có tư cách, có địa vị, có tiền bạc, và là một gia đình nuôi dạy con theo luật pháp điển hình là lúc 8 ngày đem con vào đền thờ làm nghi thức theo đạo giáo. Về học vấn: Phao lô là một thanh niên tài giỏi, vượt bực, ông có tới ba bốn bằng tiến sĩ, rất giỏi, rất xuất sắc, một người đi học trường tư với thầy dạy nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Và ông là một sinh viên ưu tú. Ông là một diễn giả hùng hồn, ông là một triết gia, ông là một nhà hùng biện, là một giáo sư có một không hai. Đang khi còn rất trẻ ông là thuộc viên của tòa công luận của nước Do Thái. Một trong 70 người nỗi lạc nhất trên toàn quốc đứng trong chính quyền cai trị dân. Một người đức hạnh: ông nói: tôi giữ luật pháp không chỗ trách được, không chỗ chê, không chỗ thất bại. Khi nhìn vào những thành tích và mẫu mực của Phao lô thì chúng ta tưởng rằng: ông đủ tiêu chuẩn, đủ tư cách, đủ để được Đức Chúa Trời ưu ái cứu vớt. Nhưng Phao lô tuyên bố: nhờ những việc làm, việc lành được được cứu là vô ích, và Phao lô nói rằng: trong sự cứu rỗi thì không một mảy bụi việc làm nào hết. Phao lô nói: “ Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;” ( Ê-phê-sô 2:8-9) Giữa con người với nhau thì Phao lô là một gương mẫu, là gương sáng cho chúng ta noi theo, và chúng ta thấy Phao lô là người thành công, là tốt đẹp là mẫu mực. Nhưng trong Kinh Thánh qua cái nhìn của Đức Chúa Trời thì Phao lô là một tội nhân. Nói đến tội nhân thì chúng ta thường nghĩ rằng: Một người được gọi là một tội nhân thì phải có cái gì đó sai trật trong đạo đức, trong cư xử. Nhưng thật ra thì không, theo con mắt bình thường chúng ta thấy: Phao lô là một tu sĩ, một dòng tu rất khắc khổ, một dòng tu Pha-ri-si. Giữ đạo luật rất khắt khe. Phao lô đưa ra một đại diện, một kiểu mẫu về hình ảnh của một tội nhân: Phao lô nói: “ trong những kẻ có tội đó ta là đầu.” Phao lô nói: ta là người nặng tội nhất, Phao lô nói: ta là tội nhân xấu nhất. [PT] Có một số bản dịch của CG là: ta là chúa chùm tội, ta tổ sư, là kẻ cầm đầu tất cả những tội nhân. Câu: “ tôi là người có tội” là nói đến bản chất trong con người bên trong, khi nói đến bản chất thì nói đến một vấn đề không thể sửa chữa ở bên ngoài mà phải là một sự giải quyết thay đổi trong bản chất. Hơn nữa, đây không phải là tội lỗi, lỗi lầm, vấp phạm giữa người với người mà thôi, câu nói Tôi là người có tội là một nhận thức về liên hệ giữa mình với Đức Chúa Trời, đối diện với Thiên đàng và địa ngục. Chúng ta thường ngoảnh mặt làm ngơ, sống cuộc đời không màng đến sự có mặt của Đức Chúa Trời. Mọi hơi thở của chúng ta đều đến từ Ngài, miếng cơm, áo mặc, hạnh phúc đều đến từ Đức Chúa Trời, mà chúng ta cứ tỉnh bơ, mà chúng ta cứ gọi rằng đó là chuyện của riêng mình, không đếm xỉa gì đến Ngài. Kinh Thánh gọi đó là tội lỗi, tội đó là tội vi phạm đến Đức Chúa Trời và tội đó là tội tày trời. Con người không thể bào chữa mình được. Đây là tội lỗi không thể chạy chữa mình được. Kết Luận: Trong tất cả chúng ta không ai dám chắc nói rằng: mình toàn hảo, tuyệt đối, ai cũng có thể nói rằng: tôi lầm lỗi, tôi thiếu xót, nhiều thất bại. Qua Lời của Đức Chúa Trời, quý vị và tôi có nhận thức thấy mình là một tội nhân cần được cứu vớt không? Quý vị và tôi có đồng thanh với Phao lô rằng: tôi là người có tội không? Thánh Kinh tuyên bố: Nếu ai nói mình không có tội chi hết ấy là người nói dối, lẽ thật không ở trong người ấy. Vì mọi người đều đã phạm tội. Con người vốn sinh ra trong tội lỗi, lớn trong tội lỗi và phạm tội mỗi ngày nữa. Chính vì thế, Thánh Kinh tuyên bố: Đức Chúa Trời đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta chất trên mình Chúa Giê-xu. Ro 6:23 23 Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Gi 3:36 36 Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó. Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. ( Ê-sai 53) Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. 6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Tr 12:6 6 Lại hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa trước khi dây bạc đứt, và chén vàng bể, trước khi vò vỡ ra bên suối, và bánh xe gãy ra trên giếng; Cụ Si mê ôn là người đạo đức công bình nhưng không .... Muốn thân mình không lệch, trước hết phải giữ cho tâm hồn không lệch. (Tuân Sinh Tiên)
  • LƯỚI TRỜI LỒNG LỘNG

    LƯỚI TRỜI LỒNG LỘNG

    II PHI-E-RƠ 2:4 -10 Thưa quý vị, hai tuần trước, trên đường đến nhà thờ, tôi bị đụng xe. Cám ơn Chúa là không ai bị thương hết. Nhiều khi mình nghĩ, mình đi đến hội thánh thờ phượng Chúa, thì đáng lẽ Chúa phải giữ mình trên đường đi. Nhưng không, Chúa để tai nạn xảy ra. Đầu năm nay, ở Pê-ru, một chiếc máy bay nhỏ do một bà giáo sĩ lái bị người ta tưởng lầm là máy bay của bọn buôn lậu, nên bị bắn rớt, và bà chết. Lần nữa, mình nghĩ đây là những người hầu việc Chúa, và Chúa phải gìn giữ họ. Nhưng không, tai nạn vẫn xảy ra. Hai năm trước có một vụ án rất nổi tiếng xử ông OJ Simpson. Mặc dầu nhiều người nghĩ là ông có tội, ông lại được tự do đi đánh golf ở Miami. Thành ra, đôi khi người tín đồ có những câu hỏi như, “Chúa ơi, tại sao con tin Chúa, mà lại gặp tai nạn, khó khăn. Trong lúc những người coi thường Chúa không những không bị trừng phạt, mà lại còn được thịnh vượng, sống trên nhung lụa?” Hồi nãy chúng ta đọc Thi Thiên 73. Câu 13 nói, “Tôi đã làm cho lòng tôi tinh sạch, và rửa tay tôi trong sự vô tội, việc ấy thật lấy làm luống công.” Những việc tốt lành của tôi chỉ là luống công! Thế thì chúng ta phải trả lời làm sao? Bây giờ xin chúng ta tiếp tục đọc Phi-e-rơ thứ nhì, để thấy câu trả lời của Phi-e-rơ trong đoạn 2 từ câu 4 đến câu 11. 4. Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét; 5. nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi; 6. nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau; 7. nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia, 8. (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình), 9. thì Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ, và hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét, 10. nhứt là những kẻ theo lòng tư dục ô uế mình mà ham mê sự sung sướng xác thịt, khinh dể quyền phép rất cao. Bọn đó cả gan, tự đắc, nói hỗn đến các bậc tôn trọng mà không sợ, 11. dẫu các thiên sứ, là đấng có sức mạnh quyền phép hơn chúng nó, còn không hề lấy lời nguyền rủa mà xử đoán các bậc đó trước mặt Chúa. I. Ba ví dụ 1. Các thiên sứ Phi-e-rơ cho chúng ta 3 ví dụ trong quá khứ. Thí dụ thứ nhất trong câu 4, “Vả, nếu Đức Chúa Trời chẳng tiếc các thiên sứ đã phạm tội, nhưng quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét...” Chúng ta không biết rõ Phi-e-rơ nói về trường hợp nào. Nhưng có nhiều người nghĩ ông nói đến câu chuyện được ghi trong Sáng Thế Ký đoạn 6, từ câu 1, “Vả, khi loài người khởi thêm nhiều trên mặt đất, và khi loài người đã sanh được con gái rồi, các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người tốt đẹp, bèn cưới người nào vừa lòng mình mà làm vợ.” Thành ra bài học trước nhất mình học ngày hôm nay là, không ai phạm tội có thể tránh khỏi sự trừng phạt hết. Đừng nói gì đến con người, ngay cả các thiên sứ cũng bị trừng phạt. Tổng thống nước Mỹ, hay người giàu có tột cùng, có thể sống trên luật lệ, thoát khỏi mạng lưới của thế gian, nhưng cuối cùng cũng sẽ phải trả lời trước mặt Chúa. Đây là điều mỗi người chúng ta phải hiểu. Dầu biết rằng người ta chỉ thích Chúa là một vị thầy, là cha hiền, là bạn thật, chúng ta phải nói cho người chưa biết Chúa rằng Ngài là một quan tòa thánh khiết, phải ban án cho người phạm tội. Nếu không, người ta sẽ không thấy sự cao sang, thánh khiết, trong sáng của Chúa. Nếu không trừng phạt tội lỗi chúng ta, thì Chúa đã chấp nhận tội lỗi, và như thế không đáng để chúng ta thờ phượng. Nếu là người cha hay nói láo, và thấy con nói láo, tôi khen thằng nhỏ vậy mà khôn. Nhưng nếu ghét nói láo, tôi phải cảm thấy đau đớn trong lòng, và phải trừng phạt con. 2. Những người đồng thời với Nô-ê Phi-e-rơ đưa ra ví dụ thứ hai trong câu 5, “Nếu Ngài chẳng tiếc thế gian xưa, trong khi sai nước lụt phạt đời gian ác nầy, chỉ gìn giữ Nô-ê là thầy giảng đạo công bình, với bảy người khác mà thôi....” Câu chuyện ông Nô-ê đóng tàu nằm trong Sáng Thế Ký đoạn 6, từ câu 11, “Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác. Nầy, Đức Chúa Trời nhìn xem thế gian, thấy điều bại hoại, vì hết thảy xác thịt làm cho đường mình trên đất phải bại hoại.” Vì thế, Đức Chúa Trời cho một cơn đại hồng thủy xảy ra. Xin để ý, chỉ có Nô-ê với 7 người khác sống sót sau cơn đại hồng thủy mà thôi. Đây là một con số rất nhỏ! Và bài học chúng ta học được trong ví dụ này là, không phải vì 7 người là thiểu số nên sai. Không, trong trường hợp này, đại đa số là sai. Đôi khi, nhìn chung quanh ngày hôm nay, chúng ta thấy mình như bị lép vế, thua thiệt. Nhưng xin quý vị đừng vì thấy những người tin Chúa là thiểu số trong cộng đồng, mà nghĩ là mình sai. Đặc biệt trong nước Mỹ dân chủ này, đa số có quyền. Nếu đa số người Mỹ muốn bầu lên một tổng thống, một quốc hội, hay một tối cao pháp viện ủng hộ việc phá thai, thì không có nghĩa là vì vậy mà phá thai là đúng. 3. Sô-đôm và Gô-mô-rơ Bây giờ chúng ta đến thí dụ thứ ba liên quan đến hai ông Lót và A-bra-ham (hay Áp-ram): “6. nếu Ngài đã đoán phạt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ, hủy phá đi khiến hóa ra tro, để làm gương cho người gian ác về sau; nếu Ngài đã giải cứu người công bình là Lót, tức là kẻ quá lo vì cách ăn ở luông tuồng của bọn gian tà kia, (vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình).” Chúng ta đọc truyện này từ Sáng Thế Ký đoạn 13, “8. Áp-ram nói cùng Lót rằng: Chúng ta là cốt nhục, xin ngươi cùng ta chẳng nên cãi lẫy nhau và bọn chăn chiên ta cùng bọn chăn chiên ngươi cũng đừng tranh giành nhau nữa. Toàn xứ há chẳng ở trước mặt ngươi sao? Vậy, hãy lìa khỏi ta; nếu ngươi lấy bên hữu, ta sẽ qua bên tả. Lót bèn ngước mắt lên, thấy khắp cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh, là nơi (trước khi Đức Giê-hô-va chưa phá hủy thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ) thảy đều có nước chảy tưới khắp đến Xoa; đồng đó cũng như vườn của Đức Giê-hô-va và như xứ Ê-díp-tô vậy. Lót bèn chọn lấy cho mình hết cánh đồng bằng bên sông Giô-đanh và đi qua phía Đông. Vậy, hai người chia rẽ nhau.” Bước đến đoạn 18, chúng ta thấy kinh thánh diễn tả hai thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ như thế này “20. Đức Giê-hô-va phán rằng: Tiếng kêu oan về Sô-đôm và Gô-mô-rơ thật là quá, tội lỗi các thành đó thật là trọng.” Sau đó, Chúa hủy phá toàn hai thành này. Cũng giống như Nô-ê, Phi-e-rơ diễn tã Lót một người công bình. Lần nữa, ông và gia đình là thiểu số trong hai thành Sô-đôm Gô-mô-rơ. Thành ra thiểu số không hẳn là sai. Theo Phi-e-rơ, Lót là người công bình, “8. vì người công bình nầy ở giữa họ, mỗi ngày nghe thấy việc trái phép của họ bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình.” Khi nói đến người tín đồ bị đau đớn, chúng ta thường nghĩ đến việc bị người ta coi thường, hay chèn ép, áp bức. Nhưng Lót được xem là người công bình vì ông lấy làm đau đớn vì tội lỗi của người khác. Chúng ta phải thấy đau đớn vì tội lỗi, nếu chúng ta coi trọng tiêu chuẩn của Chúa hơn tiêu chuẩn của đa số những người xung quanh. Chúa dạy đừng nói láo, đừng phạm tội tà dâm. Và khi đối diện với những tội lỗi đó, của chúng ta hoặc của người khác, chúng ta phải thấy đau xót trong lòng. Hơn thế nữa chúng ta phải thấy thương hại cho những người đang ở trong vòng tội lỗi. II. Bài học Chúng ta đã rút tỉa một số bài học riêng rẽ từ mỗi ví dụ. Giờ đây chúng ta có thể rút tỉa thêm một vài bài học chung từ ba ví dụ trên. Trước hết, xin để ý những thí dụ này bao gồm mọi không gian và thời gian. Về thứ tự thời gian: Việc các thiên sứ phạm tội xảy ra trong Sáng Thế Ký đoạn 6, trận đại hồng thủy trong Sáng Thế Ký đoạn 7, và hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ bị hủy diệt trong Sáng Thế Ký đoạn 19. Về thứ tự không gian: Phi-e-rơ trước hết nói đến các thiên sứ trên trời cao phạm tội, và bị trừng phạt. Sau đó, ông nói đến một môi trường nhỏ hơn, là cả thế gian trong thời Nô-ê phạm tội, và bị trừng phạt. Cuối cùng, ông nói đến một môi trường nhỏ hơn nữa, là hai thành phố Sô-đôm và Gô-mô-rơ phạm tội, và bị trừng phạt. 1. Kẻ không công bình bị hình phạt Phi-e-rơ cho chúng ta bài học thứ nhất, đó là “9. Chúa biết... hành phạt kẻ không công bình, cầm chúng nó lại để chờ ngày phán xét.” Đây là câu trả lời cho câu hỏi là tại sao những người có vẻ công bình lại gặp khó khăn, trong lúc người có vẻ như gian ác lại được thịnh vượng: Sự trừng phạt chắc chắn sẽ đến, nhưng nhiều khi chúng ta phải chờ mới thấy. Về các thiên sứ phạm tội, Phi-e-rơ viết trong câu 4, Đức Chúa Trời “quăng vào trong vực sâu, tại đó họ bị trói buộc bằng xiềng nơi tối tăm để chờ sự phán xét.” Đây là một sự chờ đợi lâu dài, đến ngày cuối cùng. Khi Nô-ê nhìn những người xung quanh, thấy họ phè phỡn, có lẽ ông cũng đặt câu hỏi như chúng ta, “Tại sao mình phải đóng tàu hùng hục ngày đêm, trong lúc bao nhiêu người cứ thụ hưởng.” Nô-ê phải chờ 120 năm, đến trận đại hồng thủy, mới thấy câu trả lời. Sự trừng phạt chưa đến không có nghĩa là sẽ không đến. Xin chúng ta đừng nhìn những cảnh trước mắt, mà vội kết luận là Đức Chúa Trời không có mắt. Một trăm năm trên đời quá ngắn, để chúng ta thấy sự trừng phạt của Chúa. Tuần trước, tôi nói là nếu nhìn gần, chúng ta sẽ bị cận thị thuộc linh. Chúng ta phải nhìn xa hơn để thấy sự trừng phạt của Chúa. Phải chờ đến ngày cuối cùng, khi đứng trước mặt Chúa, chúng ta mới thấy người nào sẽ được Chúa thưởng, người nào sẽ bị Chúa phạt. Trong Thi Thiên 73 nói đến hồi nãy, câu 13 than, “Tôi đã làm cho lòng tôi tinh sạch, và rửa tay tôi trong sự vô tội, việc ấy thật lấy làm luống công.” Nhưng sau khi tác giả nhìn đến Chúa rồi, ông nói trong câu 17, “Cho đến khi tôi vào nơi thánh của Đức Chúa Trời, suy lượng về sự cuối cùng của chúng nó, Chúa thật đặt chúng nó tại nơi trơn trượt, khiến cho chúng nó hư nát. Ủa kìa, chúng nó bị hủy diệt trong một lát! Chúng nó bị kinh khiếp mà phải tiêu hao hết trọi. Hỡi Chúa, người ta khinh dể chiêm bao khi tỉnh thức thể nào, Chúa khi tỉnh thức cũng sẽ khinh dể hình dáng chúng nó thể ấy.” 2. Người công bình được gìn giữ khỏi cơn cám dỗ Tác giả Thi Thiên 73 nói tiếp trong câu 23, “Song tôi cứ ở cùng Chúa luôn luôn, Chúa đã nắm lấy tay hữu tôi. Chúa sẽ dùng sự khuyên dạy mà dẫn dắt tôi, Rồi sau tiếp rước tôi trong sự vinh hiển. Ở trên trời tôi có ai trừ ra Chúa, còn dưới đất tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa.” Phi-e-rơ nói, “9. Chúa biết cứu chữa những người tôn kính khỏi cơn cám dỗ.” Nô-ê và Lót sống giữa một cộng đồng tội lỗi, nhưng Chúa không để họ bị cám dỗ đi theo đa số, và nhờ thế họ không bị trừng phạt trong ngày cuối cùng. Sau khi tin Chúa, nhiều người chúng ta thích rút ra khỏi cộng đồng bên ngoài, về sống trong hội thánh. Nhưng Chúa không muốn như vậy. Chúa không muốn chúng ta trở thành những người biệt tu, lên núi sống. Chúa muốn chúng ta vẫn sống cùng với thế gian này. Nếu không, Chúa đã cất chúng ta về với Ngài ngay. Nếu chỉ muốn cứu Nô-ê, Chúa không cần phải đợi đến 120 năm sau khi ông xây tàu rồi mới cứu ông. Trong 120 năm đó, Nô-ê không đóng tàu trong rừng, nhưng giữa cộng đồng của ông. Người ta đi qua, đi lại, nói, “Ông này khùng quá! Vì sao trời này mà lại đóng một chiếc tàu như vậy.” Và Nô-ê có dịp nói với người đó về sự trừng phạt của Chúa. Và chúng ta cũng vậy. Chúa không để chúng ta ở lại đây chỉ để thụ hưởng, nhưng để đem tin lành đến những người xung quanh. Để chúng ta giữa cộng đồng đầy tội lỗi như vậy, Chúa hứa là Ngài sẽ bảo vệ chúng ta khởi cơn cám dỗ của thế gian. Là thiểu số, mình bị áp lực từ xung quanh, nhưng vẫn có thể mạnh dạn ra đi vào nhân thế, vì biết Chúa sẽ gìn giữ, không để chúng ta bị cám dỗ. Trong nhà tôi có treo tấm hình vẽ bởi một người họa sĩ Mỹ rất nổi tiếng tên là Norman Rockwell. Ông vẽ cảnh một bà già và một em bé cầu nguyện trước khi ăn trong một tiệm ăn. Mặc dầu có bao nhiêu con mắt của những người không biết Chúa nhìn một cách ngạc nhiên, họ vẫn cúi đầu cầu nguyện. Họ sẵn sàng sống cho Chúa, mặc dầu áp lực của thế gian. Họ được Chúa gìn giữ, để có thể sống “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.” Chúng ta phải hiểu ai là người được gọi là công bình. Trước kia chúng ta nghe Phi-e-rơ nói về Lót, “người công bình... nghe thấy việc trái phép của họ, bèn cảm biết đau xót trong lòng công bình mình.” Thật ra, đây không phải là định nghĩa của người công bình, nhưng chỉ là một hành động, thái độ của họ. Đọc Sáng Thế Ký, chúng ta thấy Lót không có vẻ không tốt gì: Áp-ram cho ông quyền chọn lựa, ông chọn chỗ tốt hơn. Như Lót, chúng ta công bình không phải vì chúng ta ăn hiền ở lành, hay ngay cả tại vì đã cố gắng sống đẹp lòng Chúa. Sự công bình ở đây nói đến cái nợ chúng ta phải trả, mà Đức Chúa Giê-xu đã trả thế cho chúng ta trên thập tự giá. Nhờ đó, chúng ta được kể là công bình. Đó là tin lành mà chúng ta đem ra cho mọi người: Ai cũng có tội, và cũng sẽ bị trừng phạt, nhưng Chúa đã trả sự trừng phạt cho chúng ta, khiến chúng ta thành những người công bình, và Chúa gìn giữ chúng ta khỏi những sự cám dỗ trên đời. Tôi muốn chấm dứt ở đây bằng một câu chuyện. Có một người cha lái xe, và người con ngồi bên cạnh. Bỗng dưng có một con ong từ ngoài bay vào xe. Người con sợ lắm. Thấy vậy, người cha một tay lái xe, một tay chụp con ong đó. Sau đó, gương mặt ông tỏ ra rất đau đớn, vì con ong đó chích tay ông. Đau quá, ông phải thả nó ra, và nó đó tiếp tục bay trong xe. Lần nữa, người con la lên, vì sợ con ong chích. Trong sự đau đớn, người cha nói. “Con ong đó không chích con đâu. Nó đã chích ba, và hết nọc rồi!” Tội lỗi vẫn còn hoành hành trên thế gian, và Chúa vẫn trừng phạt tội lỗi bằng sự chết. Nhưng Chúa Giê-xu đã chịu cái nọc của sự chết, nên chúng ta sẽ không còn chịu trừng phạt vì tội lỗi nữa. Mục Sư Đỗ Lê Minh
  • GIÁO SƯ GIẢ

    GIÁO SƯ GIẢ



    Kính thưa quý vị, trong đoạn thứ nhất của thơ Phi-e-rơ thứ nhì, Phi-e-rơ nói là, Chúa đã ban cho chúng ta tất cả những điều thuộc về sự sống và sự tin kính. Bây giờ chúng ta chỉ cần áp dụng chúng trong đời sống chúng ta. Sau đó, trong đoạn thứ hai nói về những giáo sư giả, Phi-e-rơ không ngại ngùng gì khi dùng những chữ rất nặng nề để nói về những giáo sư giả đó. Tôi không có ý định phân tích hết đoạn thứ hai, vì một nửa đoạn diễn tả những giáo sư giả. Hôm nay chúng ta chỉ học một phần ngắn trong đoạn thứ hai, trong đó Phi-e-rơ khẳng định rất rõ ràng là đã, đang, và cũng sẽ có những giáo sư giả trong vòng chúng ta. Ông cảnh cáo chúng ta điều này, và chúng ta sẽ thấy những điều ông lo sợ không phải là vô cớ.

    Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được.

    Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là Ngài Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.

    Dầu vậy, trong dân chúng cũng đã có tiên tri giả, và cũng sẽ có giáo sư giả trong anh em; họ sẽ truyền những đạo dối làm hại, chối Chúa đã chuộc mình, tự mình chuốc lấy sự hủy phá thình lình.
    Có nhiều kẻ sẽ theo họ trong những sự buông tuồng, và đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.

    Họ sẽ bởi lòng tham mình, lấy lời dối trá khoét anh em; nhưng sự kêu án nghịch cùng họ đã nghị định từ lâu nay, và sự hư mất của họ chẳng ngủ.

    Trong Cựu Ước, chúng ta thấy có nhiều tiên tri giả. Đó là những người tự nhận là họ có lời Chúa, tự nhận họ nằm mơ thấy Chúa dạy điều này điều kia, nhưng thật sự không đúng. Phi-e-rơ nói rõ ràng là trước kia đã có các tiên tri giả, bây giờ đang có, và trong tương lai cũng sẽ có các giáo sư giả. Chúng ta hôm nay học một vài điều trong đoạn này về những giáo sư giả đó.
    I.             Trong anh em

    Điều thứ nhất Phi-e-rơ nói là những giáo sư giả đó ở giũa chúng ta. Đó mới là điều nguy hiểm. Có những giáo sư ở ngoài hội thánh, nói rõ ràng rằng họ không tin Chúa Giê-xu, rằng Ngài không phải là Thượng Đế. Đây là chuyện dễ. Nhưng điều khó khăn chúng ta phải đối diện là có những giáo sư giả nằm ngay trong hội thánh của chúng ta. Tôi biết là ngay trong hội thánh Việt Nam, trong vòng những người ăn uống, dự tiệc thánh, cầu nguyện, hát thánh ca chung với chúng ta, có người mà mình có thể gọi là giáo sư giả, dạy dỗ những điều sai lầm, trái với kinh thánh.

    Đến hội thánh, những người giáo sư giả đó không nhận họ là giáo sư giả. Họ không đứng trước hội thánh và nói, “Tôi là giáo sư giả, tôi sẽ giảng cho anh em một bài giảng.” Kiếm mục sư, hội thánh cũng không kiếm một giáo sư giả, không đăng bảng nói, “Chúng tôi cần một giáo sư giả đến giảng dạy chúng tôi.” Dầu vậy, vẫn có những giáo sư giả trong hội thánh.

    Không phải chỉ có Phi-e-rơ nói điều này. Trong sách Công Vụ các Sứ Đồ đoạn 20, từ câu 29, Phao-lồ dặn những mục sư ở Ê-phê-sô rất rõ ràng, “Tôi biết rằng sau khi tôi đi, sẽ có muôn sói dữ tợn xen vào trong vòng anh em, chẳng tiếc bầy đâu, lại giữa anh em cũng sẽ có những người nói lời hung ác dấy lên, ráng sức dỗ môn đồ theo họ.” Chúa Giê-xu diễn tả họ như “những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muôn sói hay cắn xé.” (Ma-thi-ơ 7:15)

    II. Họ truyền những đạo dối
    Phi-e-rơ còn nói thêm là họ đến để “truyền những đạo dối.” Nhiều khi chúng ta mời những người khác đến hội thánh, nói “Anh ơi, chị ơi, xin mời đến nghe mục sư A giảng. Ông giảng rất hay. Mình nghe say mê luôn.” Nhưng chúng ta không để ý xem những điều mục sư này có giảng đúng kinh thánh hay không.

    Mấy tuần trước, khi học về căn bản tin lành, Phi-e-rơ làm chứng rằng “quyền phép và sự đến của Đức Chúa Giê-xu Christ ... chẳng phải là theo những chuyện khéo đặt để, bèn là chính mắt chúng tôi đã ngó thấy sự oai nghiêm Ngài.” Ông không dạy những điều ông cảm nhận được, hay sự thay đổi trong đời sống của ông, hay những phép lạ ông làm. Chúng ta cũng phải như vậy. Khi chọn một hội thánh, hay đi nghe một người mục sư, xin chúng ta đừng tìm những người nói thao thao bất tuyệt, chỉ làm chúng ta cảm thấy sung sướng, thích thú.

    Đặc biệt xin đừng chọn một mục sư chỉ vì ông làm phép lạ. Sau khi đã cảnh cáo trong Ma-thi-ơ đoạn 7 hãy coi chừng “những kẻ mang lốt chiên đến cùng các ngươi, song bề trong thật là muôn sói hay cắn xé,” Chúa Giê-xu nói tiếp, “21. Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi. Ngày đó, sẽ có nhiều người thưa cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, chúng tôi chẳng từng nhơn danh Chúa mà nói tiên tri sao? nhơn danh Chúa mà trừ quỉ sao? và lại nhơn danh Chúa mà làm nhiều phép lạ sao? Khi ấy, ta sẽ phán rõ ràng cùng họ rằng: Hỡi kẻ làm gian ác, ta chẳng biết các ngươi bao giờ, hãy lui ra khỏi ta!”

    Phục Truyền Luật Lệ Ký đoạn 13 câu 1 dặn, “Nếu giữa ngươi có nổi lên một tiên tri hay là một kẻ hay chiêm bao làm cho ngươi một dấu kỳ hoặc phép lạ, nếu dấu kỳ hoặc phép lạ nầy mà người đã nói với ngươi được ứng nghiệm, và người có nói rằng: Ta hãy đi theo hầu việc các thần khác mà ngươi chẳng hề biết, thì chớ nghe lời của tiên tri hay là kẻ chiêm bao ấy, vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi thử các ngươi, đặng biết các ngươi có hết lòng hết ý kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi chăng.”

    1. Giảng theo ý riêng

    Thế thì làm sao chúng ta nhận biết những giáo sư giả? Phi-e-rơ nói ở đây hai điều. Trong đoạn 1 câu 20, Phi-e-rơ nói, “Trước hết, phải biết rõ rằng chẳng có lời tiên tri nào trong kinh thánh lấy ý riêng giải nghĩa được. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.”

    nguyên bản, câu 20 này có thể được dịch ra nhiều nghĩa khác nhau. Trong nghĩa thứ nhất, chữ “riêng” bổ nghĩa cho chữ “lời tiên tri;” tức là, “Không có lời tiên tri nào trong kinh thánh, mà mình có thể giải thích một cách riêng rẽ được.” Điều này có nghĩa là, muốn hiểu một câu kinh thánh, chúng ta phải hiểu trong bối cảnh, thượng hạ văn của nó. Trong nghĩa thứ hai, chữ “riêng” nói về người đọc kinh thánh; tức là, “Tự ý riêng của mình, chúng ta không thể hiểu kinh thánh được.” Tòa thánh La Mã đã dùng nghĩa thứ hai này từ lâu. Họ dạy là người tín đồ không thể hiểu được kinh thánh, nên phải có hàng giáo phẩm để giải nghĩa kinh thánh cho tín đồ. Nhưng nếu đọc thêm, chúng ta sẽ thấy là câu này không có nghĩa như vậy. Phi-e-rơ viết tiếp, “21. Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là Ngài Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời.” Rõ ràng, câu 20 có nghĩa thứ ba, trong đó chữ “riêng” nói về các nhà tiên tri. Tức là, “Khi nói tiên tri, các nhà tiên tri không tự ý riêng của họ mà nói được.” Họ phải được sự trợ giúp từ Đức Thánh Linh, phải được Đức Thánh Linh cảm động.

    Chữ “cảm động” là một chữ rất hay. Trong sách Công Vụ các Sứ Đồ, Phao-lồ cuối cùng bị đưa đến thành La Mã. Trên đường đi, chiếc tàu của ông gặp cơn bão lớn. Người ta phải quăng tất cả hành lý xuống biển. Sau đó chiếc tàu trôi nổi bập bềnh, chỉ để gió đưa đi thôi. Chữ “gió đưa đi” là chữ “cảm động” ở đây. Có nhiều người nghĩ lời kinh thánh được viết ra, như Chúa đọc chính tả cho người ta chép. Họ “xuất thần,” không biết gì hết. Rồi sau khi chép xong, họ giật mình, tỉnh dậy, và thấy mình đã viết một phần kinh thánh. Không, Chúa làm việc qua con người, chứ không phải qua một cái máy. Đọc kinh thánh, chúng ta thấy bài viết của Phao-lồ khác với bài viết của Giăng, hay của Phi-e-rơ. Mỗi người có một đặc tính riêng, hoàn cảnh riêng. Nhưng dầu bài viết của mỗi người phản ảnh cá tính riêng của họ, tất cả đều được Chúa hướng dẫn, cảm động mà viết.

    Đây là sự hợp tác giữa con người và Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh là nguồn gió đưa họ đi, nhưng nếu những tác giả trong kinh thánh không giăng buồm thuộc linh của họ lên, thì họ cũng không viết được điều mà Chúa muốn họ viết. Nếu họ giăng buồm thuộc linh lên, mà Đức Thánh Linh không thổi, thì họ cũng không biết được điều họ muốn biết. Những người tiên tri giả không có sự hợp tác đó. Sau khi mời chúng ta xuống thuyền của họ, thay vì họ giăng buồm thuộc linh lên để được Đức Thánh Linh đưa đi, họ tự chèo lấy, giảng dạy bày theo ý riêng của mình, nói đây là lời của Chúa.

    Phi-e-rơ nói trước kia có các tiên tri giả, tức là những người dạy những thần học “mới.” Trong khoa học, có ý mới là điều đáng khen, nhưng trong thần học chúng ta phải coi chừng. Cuốn kinh thánh được viết ra bởi nhiều người, qua bao nhiêu thời đại, và nền thần học của chúng ta không phải chỉ đến hôm qua. Nó đã được hoàn thành gần 2 ngàn năm, và không có gì mới để thêm vào cuốn kinh thánh này. Trong lịch sử hội thánh, có bao nhiêu người đưa ra những ý mới, nhưng chỉ là tà đạo, và cuối cùng không tồn tại. Thành ra, chúng ta phải đề phòng những ai đến hội thánh, và nói là họ vừa nhận được một lời tiên tri, lời dạy dỗ mới từ Đức Thánh Linh, và muốn dạy dỗ chúng ta điều mới lạ này.

    Phi-e-rơ nói trước kia có các tiên tri giả, giờ đây “có giáo sư giả.” Đó là nhưng người không nhận mình có những gì mới, nhưng bóp méo kinh thánh và diễn dịch kinh thánh theo ý của mình. Có người đứng lên giảng bắt đầu bằng một câu kinh thánh, nhưng đó chỉ để “làm kiểng,” để bắt đầu thôi. Sau đó, họ đi vòng vòng, dùng hết từ tâm lý học đến những sự khôn ngoan ngoài đời để dạy dỗ, đến nỗi mình không nhớ là họ bắt đầu bằng câu kinh thánh nào nữa. Đó là những người nguy hiểm hơn, vì nhận biết được một người bóp méo kinh thánh khó hơn là nhận biết được một người dạy những điều ngoài kinh thánh. Chúng ta phải đề phòng.

    2. Chối Chúa đã chuộc mình

    Những người bóp méo, giải thích kinh thánh theo ý riêng thường “chối Chúa đã chuộc mình” (câu 2:1). Họ nói đến Chúa Giê-xu, nhưng khi chúng ta hỏi họ Chúa Giê-xu có phải là Thượng Đế hay không, họ nói Ngài chỉ là một vị thầy, hay một người được “siêu thoát” thôi. Có người nghi ngờ Chúa là con người thực sự. Có người coi sự Chúa chết như là một ví dụ của một người thầy, người tử đạo. Có người nghi ngờ Chúa đã thật sự sống lại. Và có người nghi ngờ sự trở lại của Ngài. Đặc biệt có người nghi ngờ sự cứu chuộc của Chúa. Có một mục sư Việt Nam nói với tôi là ông ta tin rằng chúng ta không cần tin vào Chúa Giê-xu để được sự cứu rỗi. Ông không tin rằng dòng huyết của Chúa trên thập tự giá là con đường độc nhất để đưa chúng ta lên thiên đàng. Đối với ông, ai cũng được cứu hết, kể cả những phật tử thành tâm. Vị giáo sư giả này coi thường câu nói của Chúa Giê-xu, “Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi ta thì không ai được đến cùng Cha.” (Giăng 14:6)

    3. Làm hại

    Nói đến những giáo sư giả, Phi-e-rơ nói thêm “đạo thật vì cớ họ sẽ bị gièm pha.” (Câu 2) Bây giờ chúng ta hỏi lại là, “Nếu không tin Chúa Giê-xu là Chúa cứu thế, tại sao những giáo sư giả lại len lỏi vào hội thánh?” Họ phải có một ý đồ nào đó; nếu không, họ đã đứng ngoài hội thánh rồi. Như thế, họ không thể nào là những người thật sự có đời sống đạo đức. Đến một ngày nào đó, sự thật xấu xa trong họ bị lộ ra, và đạo Chúa sẽ bị gièm pha. Không phân biệt được những giáo sư thật và giả, người ta nói, “Thấy ông này không? Ông là mục sư, giáo sư trong hội thánh, mà lại làm như thế này, thế kia.” Họ chê cười, nhạo báng hội thánh của Chúa.
    Chúng ta sống trong xã hội không có cảm tình nhiều với tin lành. Có rất nhiều người, nhiều tổ chức lớn, chỉ chờ những người giáo sư giả trong hội thánh phạm một lỗi lầm gì đó, để nhạo báng đạo của Chúa. Chúng ta đã nghe nhiều câu chuyện về những mục sư nổi tiếng phạm tội tà dâm, mà báo chí nói tới, nói lui từ tháng này qua tháng kia. Những giáo sư giả này càng tạo thêm dịp tiện cho những người chống Chúa bêu xấu Ngài.

    Phi-e-rơ dùng chữ là “làm hại.” Trong nguyên ngữ Hy Lạp, chữ này có nghĩa là làm hại cho đến đời đời. Sự khác nhau giữa người được cứu và người không được cứu là niềm tin vào sự cứu rỗi của Chúa Giê-xu mà thôi. Vì thế, nếu bị các giáo sư giả dẫn dắt vào con đường lầm lạc, chúng ta có thể không có niềm tin vào Chúa Giê-xu, và không được sự cứu rỗi đời đời.

    Đây là những lời cảnh cáo rất nặng nề, làm chúng ta phải lo sợ. Thế thì chúng ta phải làm gì để đối phó với những giáo sư giả? Điều quan trọng mỗi người chúng ta có thể làm được là thông biết kinh thánh. Nếu coi thường, không học kinh thánh để có một căn bản vững vàng, chúng ta sẽ dễ bị các giáo sư giả đưa vào con đường lầm lạc. Tôi kêu gọi mỗi người chúng ta phải học kinh thánh.

    Tôi không nói là tôi biết hết kinh thánh. Thật ra, tôi chỉ mới ra trường, mới chập chững hầu việc Chúa, và có rất nhiều điều tôi cần phải học. Nếu tôi giảng điều gì sai lầm, tôi xin quý vị trong tình yêu thương chỉ dạy tôi. “Mục sư Minh ơi, ông nói điều này sai rồi, vì kinh thánh có nói...” Khi được quý vị sửa như vậy, tôi phải chấp nhận trong sự khiêm nhường. Nếu cần, tôi phải đứng trước hội thánh để sửa lại những điều tôi đã giảng sai lầm trước kia. Nhưng nếu sau khi quý vị dùng kinh thánh giải nghĩa cho tôi, mà tôi vẫn còn ngoan cố, quý vị có thể bảo tôi đi chỗ khác, vì hội thánh này là hội thánh tuân theo lời dạy trong kinh thánh, và chỉ học những điều được dạy dỗ trong kinh thánh mà thôi. Xin chúng ta luôn ghi nhớ những điều dạy trong sách Giăng thứ nhất, đoạn 4 câu 1, “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chớ tin cậy mọi thần, nhưng hãy thử cho biết các thần có phải đến bởi Đức Chúa Trời chăng; vì có nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ.”

    Đó là thái độ chín chắn của mỗi tín đồ trong hội thánh. Xin đừng thụ động, nhận lấy tất cả những gì mà người giáo sư giảng cho mình, nhưng hãy nghe chúng với một thái độ trung thực, phải chuẩn bị cho mình một căn bản vững vàng trong kinh thánh, để nhận biết những lời giảng sai lầm. Nếu mỗi người trong hội thánh chúng ta làm được điều này, hội thánh chúng ta sẽ đứng vững trong Chúa, và Chúa sẽ tiếp tục ban phước lành cho chúng ta.

    Mục Sư Đỗ Lê Minh

  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.