ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • TÔI TỚ ĐỨC CHÚA TRỜI

    TÔI TỚ ĐỨC CHÚA TRỜI



    Kinh Thánh: Ê sai 52:13 & Ê SAI 53
    Nhập đề:
    I. Thứ nhất, chúng ta thấy Đấng Christ hầu việc Đức Chúa Trời.
    Đó là Đức Chúa Trời là Cha phán những chữ trong câu 13,
    “Nầy, tôi tớ ta sẽ làm cách khôn ngoan; sẽ được tôn lên, dấy lên, và rất cao trọng” (Ê-sai 52:13). Trong Kinh Thánh, chúng ta tìm thấy từ “Tôi tớ được dùng đến 995 lần.
    Tôi tớ = một người phục vụ hay hầu hạ cách tự nguyện, hay là một nô lệ.
    Đức Chúa Trời nói với chúng ta hãy nhìn “tôi tớ” của Ngài. Khi Giê-xu xuống trần gian.
    Là Tôi Tớ của Đức Chúa Trời trên trần gian, Đấng Christ cư xử thận trọng, và hành động cách khôn ngoan. Tất cả những gì Chúa Giê-su nói và làm, trong mục vụ của Ngài trên đất, là làm với sự rất khôn ngoan.
    Lúc Chúa Giê-xu 12 tuổi Ngài lên đền thờ ngồi tranh luận với những nhà thông thái và người Pha-ri-si ( Luca 2: 46 Khỏi ba ngày, gặp Ngài tại trong đền thờ đang ngồi giữa mấy thầy thông thái, vừa nghe vừa hỏi. 47 Ai nấy nghe, đều lạ khen về sự khôn ngoan và lời đối đáp của Ngài)
     “Chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người” (Phi-líp 2:7).
    Mác 10: 35-45 Hai con trai của Xê-bê-đê
    35 Bấy giờ, Gia-cơ và Giăng, hai con trai Xê-bê-đê, đến gần Ngài mà thưa rằng: Lạy thầy, chúng tôi muốn thầy làm thành điều chúng tôi sẽ xin. 36 Ngài hỏi rằng: Các ngươi muốn ta làm chi cho? 37 Thưa rằng: Khi thầy được vinh hiển, xin cho chúng tôi một đứa ngồi bên hữu, một đứa bên tả. 38 Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Các ngươi không biết điều mình xin. Các ngươi có uống được chén ta uống, và chịu được phép báp-têm ta chịu chăng? 39 Thưa rằng: Được. Đức Chúa Jêsus phán rằng: Các ngươi sẽ uống chén ta uống, và sẽ chịu phép báp-têm ta chịu; 40 nhưng chí như ngồi bên hữu và bên tả ta thì không phải tự ta cho được: Ấy là thuộc về người nào mà điều đó đã dành cho.41 Mười sứ đồ kia nghe sự xin đó, thì giận Gia-cơ và Giăng. 42 Nhưng Đức Chúa Jêsus gọi họ mà phán rằng: Các ngươi biết những người được tôn làm đầu cai trị các dân ngoại, thì bắt dân phải phục mình, còn các quan lớn thì lấy quyền thế trị dân. 43 Song trong các ngươi không như vậy; trái lại, hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ; 44 còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi mọi người. 45 Vì Con người đã đến không phải để người ta hầu việc mình, song để hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc cho nhiều người.”
    Rồi đoạn văn của chúng ta nói, liên quan đến Tôi Tớ của Đức Chúa Trời,
    “Người sẽ được tôn lên, dấy lên, và rất cao trọng” (Ê-sai 52:13).
    Những từ ngữ trong tiếng Anh hiện đại có thể được dịch “nổi,” “nâng lên,” “hết sức đề cao.”
    Đọc những chữ nầy mà không được nhắc nhở về sự tôn cao của Đấng Christ miêu tả trong Phi-líp 2:9-11 và Công-Vu-Các-Sứ-Đồ 2:33”
    Tôn cao – “được nổi.” Tán dương – “được nâng lên.” Rất cao – “hết sức được tôn cao.” Đây là những chữ mà phản chiếu những giai đoạn về sự nâng cao của Đấng Christ. Ngài vượt lên từ kẻ chết! Ngài được đem lên đến Thiên Đàng tại sự Thăng Thiên của Ngài! Hiện nay Ngài ngồi bên hửu Đức Chúa Trời! Tôn cao – “được nổi”! Tán dương – “được nâng lên.” Rất cao – bằng đến bên hửu Đức Chúa Trời trên Thiên Đàng! A-men!
    Ngài không tự mình nâng mình lên: Ngài đã tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.
    Tấm gương của Ngài: “ Nhưng ta ở giữa các ngươi như kẻ hầu việc vậy” ( Luca22:27)
    Cong Cv 10:38 “Đức Chúa Giêsu ở Naxarét” - Ngài có nơi sinh, hiện hữu như một con người, có da thịt và huyết.
    Phi Pl 2:9 “Chính vì thế Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh hiệu” .Vì vậy Đức Chúa Trời Đã Tôn Vinh Ngài...
    Đây là lời mệnh lệnh của Chúa dành cho chúng ta những kẻ theo Chúa: GiGa 12:26 “Ta ở đâu thì kẻ phục vụ Ta cũng sẽ ở đó”
    Ra chân cũng là hình thc phc v thp hèn nht trong nn văn hóa Hêbơrơ. Người Hêbơrơ không cho phép ngay c nhng nhân công người Hêbơrơ làm vic này. H bt nhng nô l ngoi bang thp hèn nht ca h ra chân cho khách. Khi mt môn đ ra chân cho mt người thy như là mt s th hin lòng trung thành đi vi thy.
    Chúa Giêsu đưa ra mt tiêu chun mi :
    a-Trong GiGa 13:1-35, chúng thy Chúa Giêsu, mt người thy, đang ra chân cho các môn đ ca Ngài. Mt thông đip rõ ràng :Các con phc v Ta vì Ta là đu ca các con (c.13) Dù vy, nhưng Ta phc v các con (c.14a). Cho nên, các con cũng hãy vui lòng mà phc v cho nhau (c.14b,15)
    b- Chúng ta phi vui lòng mà phc v cho người khác bi vì Đng ln hơn chúng ta đã vui lòng phó c mng sng Ngài phc v cho chúng ta.
    c- Đc bit hơn, khi chúng so sánh chính chúng ta vi Chúa Giêsu và chúng ta nhn ra mi liên h v đa v ca chúng ta đi vi Ngài. Chúng ta s không c nói rng chúng ta có quyn và đương nhiên không phi làm bt c hình thc phc v nào. Chúng ta t chi phc v bi vì nó rt “thp hèn”. Chúng ta đt chính mình cao hơn Chúa Giêsu trong khi Ngài đã thc hin công vic nht ca s phc v.
    II. Thứ hai, chúng ta thấy Đấng Christ hy sinh vì tội lỗi.
    Xin lớn tiếng đọc câu 14.
    “Như nhiều kẻ thấy ngươi mà [lấy làm lạ]; (mặt mày người xài xể lắm hơn kẻ nào khác, hình dung xài xể hơn con trai loài người)” (Ê-sai 52:14).
    Những người mà đã thấy “[lấy làm lạ] mặt mày người xài xể lắm hơn kẻ nào khác…[lấy làm lạ] hình dung xài xể hơn con trai loài người…hình hài của người xấu xí đến nỏi người không còn giống một con người. Đây là một cách nói rất mạnh mẽ về sự chịu đau đớn của Ngài”
    Hình hài của Chúa Giê-su bị làm xấu xí cách tàn bạo trong thời gian Ngài chịu sự khổ nạn. Đêm trước khi Ngài bị thương khó “trong sự đau đớn,”
    “mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất” (Lu-ca 22:44).
    Trước khi họ bắt Ngài. Trong đêm tối ở Ghết-sê-ma-nê, sự phán xét cho tội lỗi của bạn chồng chất trên Đấng Christ. Khi quân lính đến để bắt Ngài thì Ngài đã ngâm trong mồ hôi máu.
    Rồi họ đem Ngài đi và đánh đập vào mặt Ngài. Trong một đoạn khác, tiên tri Ê-sai cho chúng ta biết Đầy Tớ Chịu Khổ nói,
    “Ta đã đưa lưng cho kẻ đánh ta, và đưa má cho kẻ nhổ râu ta; ai mắng hoặc nhổ trên ta, ta chẳng hề che mặt” (Ê-sai 50:6).
    Lu-ca nói, “Họ đánh vào mặt Ngài” (Lu-ca 22:64). Mác nói rằng Phi-lát “áp bức Ngài” (Mác 15:15). Giăng nói,
    “Bấy giờ, Phi-lát bắt Đức Chúa Giê-su và sai [đánh đòn] Ngài. Bọn lính [đan] một cái mão triều bằng gai, đội trên đầu Ngài, và mặc cho Ngài một cái áo điều. Đoạn, họ đến gần, nói với Ngài rằng: Lạy vua dân Giu-đa! Họ lại cho Ngài mấy cái vả” (Giăng 19:1-3).
    Rồi họ đóng đinh vào tay và chân Ngài trên cây Thập Tự Giá. Như Tiến Sĩ Young diển tả, “Hình hài của Ngài bị làm rất xấu xí đến nói không còn giống con người”
    Đa số những bức tranh hiện đại hầu như không được chính xác như của Mel Gibson về “Những Nỗi Khổ Hình của Đấng Christ
    .” Hãy nghe một bài Thánh Ca bởi Joseph Hart (1712-1768),
    Bởi gai đầu Ngài bị đâm và rạch,
    Toả ra dòng huyết từ mọi bộ phận;
    Lưng Ngài với những lằn roi tàn bạo,
    Nhưng lằn roi bén hơn xé tim Ngài.
    Trần truồng đinh đóng trên cây đáng ghét,
    Phô bày thấu cho đất và trời ở trên
    Cảnh tượng của những vết thương và máu,
    Phô bày đáng thương về tình yêu tổn thương!
    Tại sao, Đấng Cứu Thế, cho con biết tại sao
    Đấng chịu khổ huyết tuôn nằm xuống?
     Bởi động cơ lớn nào cảm động Ngài?
    Động cơ chính – ‘bởi vì tình yêu!
    Tại sao, Đấng Cứu Thế yêu dấu, cho tôi biết tại sao diện mạo Ngài “mặt mày người xài xể hơn kẻ nào khác, hình dung xài xể hơn con trai loài người”? Câu trã lời nằm ở cuối câu 12, trong đoạn 53, “Người đã mang lấy tội lỗi nhiều người” (Ê-sai 53:12).
    Đây là sự hy sinh của Đấng Christ cho những tội lỗi của bạn, chịu hy sinh thay cho kẻ khác – Chúa Giê-su chịu khổ và chết thay vì tội lỗi của bạn, thay chổ của bạn – trên cây Thập Tự Giá! Vì vậy, chúng ta thấy sự hầu việc Đức Chúa Trời của Đấng Christ. Vì thế, chúng ta thấy sự hy sinh của Đấng Christ để trã hình phạt cho tội lỗi của bạn.
    Nhưng Đc Chúa Tri t lòng yêu thương Ngài đi vi chúng ta, khi chúng ta còn là người có ti, thì Đng Christ vì chúng ta chu chết” (Rô ma 5: 8).
    Chết Thay Cho Người

    Môn đệ của một vị đạo sĩ kia muốn từ bỏ thế gian, nhưng anh ta quyến luyến gia đình và bảo rằng: "Vợ con tôi quá thương yêu tôi, nên họ không bằng lòng cho tôi thoát tục".
    Nghe nói thế, vị đạo sĩ muốn cho anh ta biết sự thật nên đã dạy cho anh một kỹ thuật giả chết. Sau một thời gian học thuần thục, vị đạo sĩ bảo anh hãy áp dụng kỹ thuậ này khi về đến nhà. Và quả thật, anh ta đã thực hành bài học cách tuyệt hảo để nhắm mắt xuôi tay, nhưng vẫn còn nghe được mọi tiếng khóc than của vợ con và thân nhân, bạn bè.
    Ngày hôm sau, vị đạo sĩ đến để phân ưu cùng thâm quyến. Sau những giây phút tưởng niệm người quá cố, ông nghiêm nghị bảo thân nhân đang khóc thương người đã từ biệt cõi đời rằng: "Tôi có bí quyết để cứu sống anh ta, nếu có ai sẵn lòng chết thay cho anh".
    Anh chàng giả chết ngạc nhiên khi nghe mọi người trong gia đình nêu ra mọi lý do để biện minh là mình cần phải sống. Càng ngạc nhiên hơn khi anh nghe người vợ nghĩa thiết của mình tóm lược mọi lý lẽ trên bằng một lời quả quyết: "Tôi nghĩ không ai cần chết thay cho chồng tôi. Không có anh ta, chúng tôi vẫn có thể làm lụng để sống".

    III. Thứ ba, chúng ta thấy sự cứu rổi được áp dụng.
    Xin vui lòng đứng lên và đọc lớn tiếng Ê-sai 52:15
    “Thì cũng vậy người sẽ vảy rửa nhiều dân, và các vua ngậm miệng lại vì người; vì họ sẽ thấy điều chưa ai nói cho mình, và sẽ hiểu biết điều mình chưa hề nghe” (Ê-sai 52:15).
    Sự biến dạng [trong sự chịu khổ của Ngài] là…tình trạng mà chính mình người sẽ đem đến sự tẩy sạch đến nhiều quốc gia. Động từ “người sẽ rải” [nói về] sự rải về… huyết như sự tẩy sạch….Đó là việc làm của [Đấng Christ là thầy tế] ấy tại đây đặc trước, và mục đích của việc làm là đem sự thanh tẩy và tẩy sạch đến những người khác…chính người là thầy tế lể sẽ rải huyết và rửa sạch nhiều quốc gia. Ngài làm điều nầy như người chịu khổ nạn, sự đau đớn của người là vì mục đích…thanh tẩy và tạo sự biến đổi sâu sắc trong thái độ của những ai trong thấy người.
    Như đã được đoán trước bởi tiên tri, tin lành về Đấng Christ đã lan ra khắp những quốc gia của thế giới,
    “thì cũng vậy người sẽ vảy rửa nhiều dân” (Ê-sai 52:15).
    Kể cả Tổng Thống của Hoa Kỳ, chỉ mang danh Cơ Đốc Nhân, đôi lúc cuối đầu ở trong nhà thờ và im “miệng [của ông] trước Ngài.”
    như Tertiullian đã nói trong thế kỷ thứ hai, “Máu của những người tử đạo là hạt giống của hội thánh.” Và đây cũng thật sự xãy ra ngày nay cho khắp nước trong Thế Giới Thứ Ba. Giữa lúc nước Mỹ, và Tây Phương nói chung, đang xa rời bối cảnh của Cơ Đốc Nhân, và đang hòa tan trong chủ nghĩa nhân dân, tâm linh rối loạn hoài nghi, như Spirgeon đã đoán,
    Chúa Giê-su sẽ…rải không chỉ trên người Do Thái, nhưng luôn cả trên những quốc gia ngoại ban mọi nơi…Tất cả đất sẽ nghe đến danh Ngài, và cảm giác Ngài giáng xuống như mưa rào trên cỏ đã cắt. Những bộ lạc mờ tối ở xa xôi, và người ở trên đất của mặt trời lặn sẽ nghe học thuyết của Ngài và sẽ uống nó vào…Ngài sẽ rải cho nhiều dân tộc với lời nhân từ của Ngài (ibid. trang 248).
    Sứ điệp “tiên đoán” của Spurgeon càng đúng trong ngày nay hơn là lúc ông nói những lời đó hơn trăm năm về trước. Và chúng ta lấy làm vui mừng về điều đó vô cùng! A-men!
    Lời hứa chưa được hoàn toàn ứng nghiệm. Nhưng nó sẽ được – vì miệng của Chúa đã phán nó – bởi tiên tri Ê-sai, là người đã nói,
    “Các dân tộc sẽ đến nơi sự sáng ngươi” (Ê-sai 60:3).
    “Sự giàu có các nước sẽ đến với ngươi” (Ê-sai 60:5).
    “Nầy, những kẻ nầy sẽ đến từ nơi xa; kìa, những kẻ kia sẽ đến từ phương Bắc, những kẻ nọ từ phương Tây, và những kẻ khác từ xứ Si-ni” (Ê-sai 49:12).
    James Hudson Taylor là nhà truyền giáo đến Trung Hoa trước kia, nói rằng “Sinim” là đất của Trung Hoa, như Bản Học Kinh Thánh Scotfield ‘The Scotfield Study Bible,’ trong sự ghi chú về Ê-sai 49:12. Làm sao chúng ta có thế không đồng ý với Taylor và sự ghi chú của Scotfield được khi chúng ta thấy việc nầy đang xẩy ra bên Trung Hoa trước mắt chúng ta ngày nay? Tất nhiên là thật rồi, ít nhất là trong sự áp dụng! Hàng ngàn người đã được biến đổi và tin nhận Đấng Christ trong mỗi giờ ở tại Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, và nhiều người khác ở những nơi xa xôi, và chúng ta lấy làm vui mừng về điều đó!
    tôi hỏi bạn sáng hôm nay, “Bạn có biết Đấng Christ không? Bạn đã có thấy bằng đức tin đến Ngài là người ‘mặt mày người xài xể lắm hơn kẻ nào khác’ để trã hình phạt vì tội lỗi ngươi – vâng cho ngươi! Ngài có rải Huyết của Ngài trên tội lỗi của ngươi chưa, được chép trong sách sự sống của Đức Chúa Trời trên Thiên Đàng chưa? Bạn đã được rữa sạch bởi Huyết của Chiên Con của Đức Chúa Trời mà đã lấy đi tội lỗi của thế gian chưa? Và, nếu chưa, thì bạn có “câm miệng mình” trước sự hiện diện của Ngài không, và cúi đầu trước Chúa Giê-su, và tiếp nhận Ngài là Chủ và là Đấng Cứu Chuộc không? Và bạn sẽ làm điều đó ngay bây giờ chăng?”
    Xin vui lòng đứng lên và hát Thánh Ca số bảy trong tờ nhạc của quý vị.
    Gáng nặng tội lỗi quá to lớn chồng chất trên Đấng Cứu Chuộc;
     Đâu buồn làm áo che Ngài, vì tội nhân mà Ngài phải mặc vào,
    Vì tội nhân phải mặc vào.
    Và trong đau nhối khiếp chết Ngài khóc và cầu thay cho tôi;
    Yêu và ôm ấp linh hồn tội lỗi lúc bị đóng trên cây.
    Lúc bị đóng trên cây.
    Ôi tình yêu tuyệt vời! Tình yêu hơn lưỡi của nhân loại thế giới được;
    Tình yêu đó sẽ thành lời tôn vinh của bài ca trường tồn!



  • SỨ ĐỒ GIĂNG ĐƯỢC BIẾN ĐỔI LẠ LÙNG

    SỨ ĐỒ GIĂNG ĐƯỢC BIẾN ĐỔI LẠ LÙNG


    KINH THÁNH:
    NHẬP ĐỀ:
    Tên của Giăng có nghĩa là. "Đức Giêhôva là sự vinh hiển" hay "kẻ được Đức Giêhôva yêu".

    I/. GIA ĐÌNH CỦA GIĂNG ( MA-THI-Ơ 4:21-22)
    -          LÀM NGHỀ CHÀI LƯỚI
    -          CHA CỦA GIĂNG LÀ: Xê-bê-đê
    -          MẸ CỦA ÔNG LÀ: Sa-lô-mê (Mathiơ 27.56; Mác 16.1)
    II/. Ở GẦN CHÚA GIÊ-XU HƠN CÁC SỨ ĐỒ KHÁC ( )
    Sứ đồ Giăng tuy là người trẻ tuổi nhất trong số mười hai sứ đồ, nhưng ông được xếp vào một trong những người thân tình nhất, tín cẫn nhất của Chúa Jêsus.  Ông là một trong số các sứ đồ Chúa chia xẽ những giờ phút riêng tư nhất:
    -  Ông đã ở với Chúa Jêsus khi làm cho con gái Giairu sống lại (Luca 8.49…). 
    -  Ông đã ở với Chúa Jêsus trên Núi Hóa Hình (Mathiơ 17.1…).
    -  Ônglà một trong số các sứ đồ hiện diện khi Chúa nói chuyện với Môi Se và Ê li sê, và tận tai nghe tiếng từ trên trời "Này là Con yêu dấu của Ta;"
    -  Ông dựa vào ngực Chúa Jêsus tại bữa Tiệc Thánh (Giăng 13.23-26).
    - Ông là một trong số các sứ đồ đi theo Chúa đến vườn Ghết se ma nê, thấy Chúa cầu nguyện mồ hôi đỗ ra như giọt máu, rồi ngủ mê vì buồn rầu.
    III/. CHỨC VỤ  SAU KHI CHÚA THĂNG THIÊN
    Khi được Chúa Jésus kêu gọi, Phierơ đang thả lưới, do việc thả lưới đó Chúa hứa cùng ông, “ Ta sẽ khiến ngươi trở nên tay đánh lưới người”. Còn khi Chúa kêu gọi Giăng, kinh thánh miêu tả Giăng đang vá lưới. Động từ “ vá” ở đây theo tiếng Hi Lạp là katartizo. Từ ngữ này có nghĩa phục hồi, hàn gắn, vá sửa, tu bổ lại nguyên trạng, rồi tăng cường thêm cho lưới không rách nữa. Đó là chức vụ tu bổ, chức vụ phục hồi mà Chúa kêu gọi Giăng làm.
    -                      Ông phục vụ lâu hơn các sứ đồ khác.


    - Ông đã sống khoảng 70 năm sau khi Chúa thăng thiên.
    - Ông sống lâu hơn Phierơ và Phaolô khoảng 30 năm.
    - Ông có mặt trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Công Vụ các Sứ đồ 2.1).
    - Ông phục vụ với Phierơ trong một thời gian (Công Vụ các Sứ đồ 3.1-11; 4.13-22).
    -  Ông rất nổi bật trong Hội Thánh tại thành Jerusalem (Galati 2.9).
    Sau khi Chúa Jêsus đã thăng thiên, Giăng được phân chia cho một phần ở tiểu Á.  Tuy nhiên ông không đi đến cánh đồng thuộc linh của mình ngay được, nhưng ở lại Giê ru sa lem một thời gian để chăm sóc bà Mari cho đến khi bà qua đời khoảng mười lăm năm sau khi Chúa thăng thiên.
    Sau khi việc tin cậy mà Chúa đã giao phó cho hoàn tất, Giăng đến vùng Tiểu Á, và tận tụy dấn thân vào việc truyền bá tin mừng Cơ Đốc, giảng dạy ở những nơi lời Chúa chưa được rao giảng, bồi dưỡng vun xới thuộc linh cho những nơi đã được gây dựng. 
    Nhiều hội thánh đã được Giăng gây dựng và bồi dưỡng trong số đó hội thánh ở Smyrna, Philadelphia, Laodicea, và một số nơi khác; nhưng nơi hầu việc Chúa chánh của ông là ở Ê phê sô, nơi mà Phao Lô đã thành lập hội thánh, và cử Ti mô thê đến để làm người chăn bầy.
    Sau khi Giăng ở Ê phê sô được vài năm, Ông bị tố cáo trước Hoàng Đế Domitian, người đang khởi đầu việc bắt bớ Cơ Đốc Nhân, về tội loan truyền một tín ngưỡng sai lầm và không tôn kính Thượng Đế, và là một người dựng đứng tôn giáo trong đế quốc La Mã.  Hậu quả của việc này và phù họp theo mạng lệnh của Hoàng Đế Domitian, viên lãnh sự ở Ê phê sô bắt trói Giăng giải về La mã, nơi đó ông bị đối xử tàn nhẫn dưới gông cườm dã man của Hoàng Đế Domitian, rồi bị quăng vào lò dầu sôi.  Nhưng Đức Chúa Trời chí cao bảo toàn ông cho công việc nới rộng của vương quốc Ngài, đã dẹp tắt sức nóng của lò dầu sôi, và giải cứu ông khỏi cảnh tưởng như đã chết.  Qua phép lạ kỳ diệu cứu khỏi cái chết này của Giăng, một người bình thường nào cũng thiết nghĩ việc giảng dạy của Giăng về một Đức Chúa Trời có một và thật, và Giăng được che chở bởi một Đấng Vô hạn.  Nhưng những phép lạ này vẫn không đủ thiết phục vị Hoàng Đế hung bạo hay giảm bớt cơn thịnh nộ của bạo Chúa này.  Hoàng Đế Domitian ra lệnh đày sứ đồ Giăng ra một hoang đảo gọi là Patmos, và Giăng phải ở đó trong nhiều năm, giảng dạy cho những người dân mọc mạc trên hoang đảo biết chân lý và đức tin Cơ đốc giáo; và ở trên hoang đảo này, vào gần cuối triều đại của Hoàng Đế Domitian, Giăng viết sách Khải Huyền. Qua mặc khải và bày tỏ của Chúa, sứ đồ Giăng đã tiên tri cho chúng ta thấy về tình trạng và tương lai của hội thánh Chúa cũng như thời đại của trời mới và đất mới trong tương lai.
    Vì quá quyến luyến yêu thương sứ đồ Giăng nên giáo dân và các vị mục sư phụ tá đã chôn cất ông ngay trong nhà thờ Ê phê sô.  Sứ đồ Giăng là người duy nhất trong số các sứ đồ bị chết không tàn nhẫn như các sứ đồ khác.  Tuy nhiên ông cũng được liệt vào những người tuẫn đạo mặc dầu toan tính giết ông đã bị Đức Chúa Trời ngăn cãn.  Ông là người sống lâu nhất trong số các sứ đồ, hưởng thọ gần một trăm tuổi khi ông qua đời.
    Sứ đồ Giăng xuất thân là một người đánh cá, không có một nền học vấn thường tình; nhưng ông đã chứng tỏ có một bản năng bén nhạy, tinh tú, thêm vào sự ban cho ân điển thuộc linh, ông đã được Chúa trang bị để làm công việc của Ngài có kết quả. 
    Bản tính khiêm nhường của ông còn đáng được kính phục; ông luôn luôn che dấu những điều có vẻ đề cao ông hay làm ông nỗi bật.  Những sách của ông viết trong Kinh Thánh, ông không bao giờ tự gọi mình là sứ đồ hay nhà truyền giáo; cái tên mà ông thích gọi là mục sư hay trưởng lão vì ông cho rằng ông là người cao niên lo công việc Chúa.  Trong sách Tin Lành ông viết, khi đề cập đến "người môn đồ được Chúa yêu", ông dấu tên ông đi để cho người đọc suy gẫm rồi khám phá ngưởi đó là ai.
    Ông thực hành tình yêu thật và cao điểm nhất và còn muốn tất cả mọi người thực thi tình yêu chân thật đó.  Đó là tình yêu Chúa và tha nhân, tuôn trào ra từ những dòng chữ mà ông viết trong các sách do ông là tác giả trong Tân Ước. 
    Ông thúc đẩy mỗi Cơ Đốc Nhân phải nhận ra tình yêu thiên thượng là điều mà mỗi Cơ Đốc Nhân phải có, là điều cao thượng nhất nhưng khác biệt nhất của Cơ Đốc Nhân.  Họ phải thể hiện tình yêu đó để bầy tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời với người khác.  Nếu không có nó, những sự giả vờ tin theo Chúa trở nên trống không và bông long, vô dụng và vô nghĩa.  Khi đã về già và thân thể yếu đuối, ông không còn có thể giảng dạy được nữa, ông thường được hướng dẫn đến những buổi nhóm ở hội thánh Ê phê sô, ông luôn khuyên lớp người sau: "Các con bé mọn, hãy yêu thương lẫn nhau."  Khi người nghe cứ phải nghe ông nói lập lại câu nói đó, hỏi ông lý do cho những lời đó, ông giải thích cho họ biết yêu thương lẫn nhau là mạng lệnh của Cứu Chúa.

  • Hầu Việc Thần Nào? Hầu Việc Ai?

    Hầu Việc Thần Nào? Hầu Việc Ai?



    Kinh Thánh: Đa-ni-ên 3
    Nhập đề:
    1/. Những Kẻ Hầu Việc Thần Tượng ( 3:1-15)
    Tên vua có nghĩa là "Nê-bô, người bảo hộ khỏi sự rủi ro."
    Vua ____________ đã dựng nên một pho tượng bằng vàng, cao______
    Ngang_________
    Vua cho triệu tập các quan đại thần từ khắp tỉnh Ba-by-lôn đến khánh thành và thờ phượng pho tượng đó.
    Trải qua hàng ngàn năm nhưng bức tranh tội lỗi của sự nghịch mạng Đức Chúa Trời vẫn hiển lộ: Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác.
    Đây là lời dành cho nhưng người đã nhận Giê-hô-va làm thần của mình, chẳng những tuyển dân nghe một lần mà nghe rất nhiều lần.
    ấy thế mà, sự phạm tội thờ hình tượng vẫn xảy ra liên tục và lan tràn khắp xứ sở vào trong mọi thời đại.
    Ngày nay, bức tranh tội lỗi này vẫn được tái diễn trong thời của các vua dân ngoại, đặc biệt là thế kỉ của chúng ta hiện nay.
    Ngày nay, người ta không còn thờ ở hang hốc, gốc cây, mục nát nữa nhưng những bức tượng bằng vàng, bằng đồng được tạc, được dựng, được đúc trải dài khắp nơi trong đất nước.
    Con người vốn được dựng nên để thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng chúa đời này là ma quỷ đã làm mù lòng người ta, để con người quay khỏi Đức Chúa Trời mà đi thờ điểu thú côn trùng, các ngôi sao, vật ở dưới đất. Nhận các ngẫu tượng làm cha, làm mẹ, ông sư, ông tổ.
    Triều đình của Ba-by-lôn từ vua cho đến các quan, giàu sang, phú quý tự đi nhận pho tượng làm thần của mình.
    Đức Chúa Trời đã rất nghiêm khắc và ghét hình tượng:
    Xu 20:5   5 Ngươi chớ quì lạy trước các hình tượng đó, và cũng đừng hầu việc chúng nó; vì ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, tức là Đức Chúa Trời kỵ tà, hễ ai ghét ta, ta sẽ nhân tội tổ phụ phạt lại con cháu đến ba bốn đời,
    Trong những bài học trước chúng ta đã học rằng: lý do mà Đa-ni-ên và ba người bạn của ông đã chiến thắng được những cám dỗ, mưu chước của người Ba-by-lôn vì họ đã được nuôi dưỡng bởi Lời của Đức Chúa Trời khi còn nhỏ, chắc chắn họ đã dấu Lời Chúa trong lòng để rồi họ không phạm tội cùng Chúa.
    Họ đã được cha mẹ của mình treo Lời Chúa trên cột nhà, thành giường hoặc đeo nó trên rất nhiều nơi khác nhau. Họ có Lời Chúa và trên hết là họ sống theo Lời Chúa dạy.
    Họ ở đất Ba-by-lôn, ăn thức ăn của người Ba-by-lôn, nói tiếng Ba-by-lôn, học thức Ba-by-lôn nhưng họ không thuộc về Ba-by-lôn. Họ là người của Đức Chúa Trời và thuộc về Đức Chúa Trời, gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
    Họ thà sẵn sàng chịu chết cho đức tin đặt nơi Đức Chúa Trời còn hơn là sống vui sướng trong tội lỗi.
    Họ coi Đức Chúa Trời còn quý hơn cả sự sống vì họ hiểu rằng: Ngài là lý do khiến họ có quyền sống và chết.
    Khi tiếng kèn, tiếng kèn thổi thì các dân, các thứ tiếng, các nước phải sấp mình thờ lạy pho tượng. Họ đối diện với tiếng kèn, họ sẵn sàng nghe tiếng kèn nhưng họ không hề sấp mình.
    Họ sẵn sàng đối diện với cơn thịnh nộ của vua Nê-bu-cát-nết-sa nhưng họ không sợ vua, vì họ biết rằng: Các vua trong tay của Đức Giê- hô va, chỉ như dòng nước chảy, Ngài nghiêng lệch theo ý Ngài. Họ hiểu rằng: các vua quan triều đình Ba-by-lôn chẳng qua cũng là người phàm, có hơi thở trong lỗ mũi mà thôi.
    Họ đối diện với lò lửa hực, thậm chí nóng gấp bẩy lần nhưng họ không sợ ngọn lửa đốt chết. Vì lời tuyên bố của họ rằng: Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc, có thể cứu chúng tôi thoát khỏi lò lửa hực và chắc cứu chúng tôi khỏi tay vua. ( 3:17)
    He 11:34   34 tắt ngọn lửa hừng, lánh khỏi lưỡi gươm, thắng bịnh tật, tỏ sự bạo dạn nơi chiến tranh, khiến đạo binh nước thù chạy trốn.
    Ôi, chua xót làm sao, khi vua Ba-by-lôn và cả triều đình nghe những lời này, cả một triều đình đều sợ sắc mặt của vua, cả triều đình nhìn vào ngọn lửa hừng cháy cuồn cuộn, run sợ biết bao. Nhưng ở đây lại có tới ba người người không thuộc đất nước của họ dám cả gan không sợ chút nào.
    Một triều đình ngu dại hèn nhát trước cơn thịnh nộ trước ngọn lửa hừng. Trong cơn thịnh nộ ấy, giữa ngọn lửa hừng phừng phừng dữ dội, những con người đức tin, thanh cao, ngẩng cao đầu không mảy may run sợ, van xin kêu cứu.
    Và đây lời tuyên bố của đức tin đầy linh nghiệm của họ nơi Chúa.

    Gios 24:14   14 Vậy bây giờ, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va, và phục sự Ngài cách thành tâm và trung tín; hãy bỏ xa các thần mà tổ phụ các ngươi hầu việc bên kia sông, và tại xứ Ê-díp-tô; phải phục sự Đức Giê-hô-va.
    Gios 24:15   15 Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đã hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân A-mô-rít trong xứ mà các ngươi ở; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va.

    2/. Những Người Hầu Việc Đức Chúa Trời ( 3:16-17)
    Thánh Phao lô nói trong thư: Ro 12:11   phải có lòng sốt sắng; phải hầu việc Chúa.
    ICo 7:35   35 không phân tâm mà hầu việc Chúa.
    Chẳng những Sa.................................. hầu việc Chúa mà hầu việc Chúa cách sốt sắng, hầu việc Chúa không phân tâm.
    Đứng trước thần tượng, đứng trước vị vua đang nổi giận, đứng trước lò lửa hực nóng gấp bẩy lần bình thường, họ không bị phân tâm, họ không thối chí, họ không hề chịu lụy van xin vua và triều đình tha chết, hoặc cứ quỳ rồi ăn năn sau cũng được.
    Không? Họ không cho phép mình làm thế, vì họ không làm đẹp lòng mình nhưng làm đẹp lòng Đấng chiêu mộ mình.
    Thi 2:11   11 Khá hầu việc Đức Giê-hô-va cách kính sợ,
    Và mừng rỡ cách run rẩy.
    Gie 48:10   10 Đáng rủa thay là kẻ làm việc Đức Giê-hô-va cách dối dá!
    + Những người này họ tin thờ Chúa, nhưng họ đã sống cho niềm tin của họ, họ không sợ con người, họ không sợ đám đông, họ trả giá cho đức tin của mình.
    Chúng ta nói có đức tin nhưng trong đời sống việc làm thì không thể hiện cái đức tin ấy, chúng ta vẫn sống theo ý riêng, vẫn làm điều chúng ta thích, vẫn nhìn xem điều mắt mình thích và đi theo lòng mình muốn. Họ hầu việc Chúa, nhưng hầu việc Chúa cách thành tâm, trung tín, họ hầu việc Chúa tìm phương cho Chúa đẹp lòng.
    Họ xác nhận quả quyết rằng: Đức Chúa Trời mà chúng tôi hầu việc cứu thoát chúng tôi khỏi lò lửa hừng và khỏi tay vua.

    Chúng ta có đức tin cho nan đề của mình không? Họ biết rõ Đức Chúa Trời, nên họ không sợ vua và lò lửa, họ biết Chúa sẽ giải thoát.
    Trong những bài học trước chúng ta cũng đã học họ là những con người  cầu nguyện, hiệp nhất trong sự cầu nguyện, và họ là những người dám dâng những lời cầu nguyện khó và lớn.
    Chúa đã nhìn thấy tấm lòng, đức tin và con người của họ và Ngài đã giải thoát họ. Nhậm lời họ trong quá khứ, trong cả hiện tại và tương lai.
    Đức Chúa Trời mà họ hầu việc là Đức Chúa Trời An Pha và Ô mê ga, đầu tiên và cuối cùng, Ngài là Đấng không chỉ thuộc về quá khứ, nhưng Ngài còn là Đấng của hiện tại và tương lai nữa.
    Lời thách đố của vua Nê-bu-cát-nết-sa nói: xem thần nào có thể giải cứu các ngươi khỏi tay ta ( 3:15)
    Và đây cũng giống như cuộc thách đố giữa tiên tri của Đức Chúa Trời là Ê-li với tiên tri của các thần tượng Ba-anh tại trên núi Cạt Mên.
    3/. Hầu việc Chúa Cách Nhịn Nhục – Trọn Vẹn  ( 3:18-19)
    Nóng gấp bảy lần ( con số bẩy là con số trọn vẹn)
    He 10:36   36 Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình.
    Tit 2:2   2 Khuyên những người già cả phải tiết độ, nghiêm trang, khôn ngoan, có đức tin, lòng yêu thương và tánh nhịn nhục vẹn lành.
    Gia 1:4   4 Nhưng sự nhịn nhục phải làm trọn việc nó, hầu cho chính mình anh em cũng trọn lành toàn vẹn, không thiếu thốn chút nào.
    Gia 5:7   7 Hỡi anh em, vậy hãy nhịn nhục cho tới kỳ Chúa đến. Hãy xem kẻ làm ruộng: họ bền lòng chờ đợi sản vật quí báu dưới đất cho đến chừng nào đã được mưa đầu mùa và cuối mùa.
    Gia 5:8   8 Anh em cũng vậy hãy nhịn nhục và bền lòng; vì kỳ Chúa đến gần rồi.
    He 6:15   15 Ấy, Áp-ra-ham đã nhịn nhục đợi chờ như vậy, rồi mới được điều đã hứa.
    Gia 5:11   11 Anh em biết rằng những kẻ nhịn nhục chịu khổ thì chúng ta xưng là có phước. Anh em đã nghe nói về sự nhịn nhục của Gióp, và thấy cái kết cuộc mà Chúa ban cho người; vì Chúa đầy lòng thương xót và nhân từ.

    Thánh Gióp đã nói:
     Dẫu Chúa giết tôi tôi cũng còn nhờ cậy nơi Ngài nữa ( 3:18)
    4/. Chân Thần Không Dấu Mặt ( 3:24-25)
    Chúa ở cùng với >>>>>>>>>>>> ngay chính giữa lò lửa hực
    Vua Đa vít nói rằng: tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào vì Chúa ở cùng tôi
    Câu chuyện: chiếc màng nhện.. nơi có Chúa hiện diện....
    Họ bước đi giữa lửa mà chẳng bị trói....
    Dây chói có thể bị cháy, nhưng họ thì không?
    Họ bước đi giửa lửa, chứ không ngồi.
    Khi có nan đề xảy ra, chúng ta thường nói: tôi như ngồi trên đống lửa. Không ngồi yên được, phải chạy tới chạy lui.
    Họ bước đi chứ họ không ngồi...
    Gần đây người ta đã kỷ niệm hòa thượng.... đã tự thiêu sống trong thời vua....
    Khi chúng ta bị bắt bớ, chúng ta nói thôi tôi không đi nhóm nữa...
    Khi chúng ta bị mất mùa chúng ta nói thôi tôi không muốn đến với Chúa nữa
    Khi chúng ta bị bệnh tật chúng ta nói Chúa chẳng nhậm lời, Ngài chẳng quyền năng.
    Nếu đức tin của chúng ta không vượt trên nan đề, hoạn nạ và thử thách thì chúng ta không thể nào kinh nghiệm được sự tự do trong giờ phút ấy.
    Trong giữa ngọn lửa hừng họ bước đi cách tự do, họ không tập chung vào ngọn lửa, họ không tập chung vào quần áo, họ không tập chung vào thân thể. Họ bước đi cách tự do vì họ chăm xem Chúa.
    Chúng ta cũng học được bài học rằng: ở đâu có sự hiện diện của Chúa, ở đâu có Chúa ở cùng, người nào, gia đình nào? Hội Thánh nào? Dân tộc nào có Chúa ngự trị hiện diện thì nơi đó có sự tự do.
    Chỉ có Chúa mới mang lại sự tự do thật, sự tự do của con người, của xã hội dựa trên hoàn cảnh thuận lợi, thành công, sức khỏe, tiền bạc.
    Nhưng sự tự do, hạnh phước trong Chúa thực sự dù hoàn cảnh, nan đề thế nào đi nữa.

  • Nhân Cách Của Người Thuộc Về Chúa

    Nhân Cách Của Người Thuộc Về Chúa



    Kinh Thánh: Đa-ni-ên 2:19-28
    Nhập đề:
    Chúng ta đã học với nhau về cuộc đời của tiên tri Đa-ni-ên trong nhiều tuần qua, với rất nhiều bài học khác nhau về những con người Hê-bơ-rơ năm xưa, đã để lại sự khích lệ lớn lao cho đức tin nơi Chúa trong những nghịch cảnh khổ đau, chúng ta cũng biết được lý do thể nào Đức Chúa Trời đã dìu dắt ông cùng những người bạn kiên trung nơi đất khách quê người.
    Ngài chẳng bao giờ lìa bỏ con cái Ngài bao giờ, Ngài cũng chẳng bao giờ để cho con cái Ngài đối diện và chịu đụng một mình những gánh nặng trong cuộc đời.
    Chính vì vậy, mà Chúa Giê-xu một lần nữa đã cất cao lời mời gọi: Hỡi những kẻ mệt mỏi hãy đến cùng ta, vì gánh ta nhẹ nhàng và ách của ta rễ chịu. Hãy học theo ta và...
    Chúng ta đã biết thể nào về mục đích của Ngài cho dân tộc của Ngài, và chẳng một con đường nào, cánh cửa nào có thể đóng kín được Ngài, chẳng điều gì có thể dấu kín được Ngài.
    Cách Đa-ni-ên đối diện với nan đề và chia sẻ nan đề cho các bạn của mình (2:17)
    Cách Đa-ni-ên cầu nguyện và phương cách cầu nguyện ( kiên trì, bền bỉ, dâng điều khó và lớn)
    Và bây giờ, cuộc đời đang đầu lìa khỏi cổ, nhà sắp trở nên đống phân thì Đức Chúa Trời đã mở lối, can thiệp và giải cứu tôi tớ của Ngài, nhậm lời cầu nguyện của Đa-ni-ên.
    I/. Khiêm Hòa Nhưng Cương Trực
    Suốt từ đoạn 1 đến đoạn 2 của sách Đa-ni-ên, chúng ta thấy nhân cách và con người của Đa-ni-ên nổi bật rất rõ trong mối quan hệ với con người và với Đức Chúa Trời.
    Đầu tiên chúng ta phải chú ý kể đến sự ôn nhu, khiêm hòa của Đa-ni-ên.
    a.     Đồ ăn: 1: 6-9
    Không chịu ô uế bởi đồ ăn vua ban, không ăn nhưng không nói là: tôi không ăn, không ăn nhưng xin được không ăn.
    Chú ý từ : Đa-ni-ên xin người làm đầu hoạn quan, chúng ta cảm thấy tưởng Đa-ni-ên yếu đuối ư? Không, Đa-ni-ên không phải thuộc hạng người gió chiều nào che chiều ấy.
    Điều mà Đa-ni-ên đã quyết định trong lòng thì Đa-ni-ên sẽ không lay động, thay đổi. Nhưng Đa-ni-ên đã học bài học hạ mình khiêm nhường đối với người không phải thuộc về Chúa, ông đã xin chứ không miễn cưỡng, cứng đầu. Hay hống hách.
    Có thể chúng ta cho rằng: Đa-ni-ên chỉ cần cầu xin Đức Chúa Trời là đủ chứ không cần gì phải xin con người, xin con người là khúm lúm, là yếu đuối.
    Nhưng Đa-ni-ên không khúm lúm cũng không yếu mềm trước cường quyền mà là thái độ khôn ngoan trong sự dẫn dắt của Chúa.
    Cảm ơn Chúa, Ngài đã khiến Đa-ni-ên được ơn và thương xót trước mặt người làm đầu hoạn quan cho đồng ý không ăn.
    Đa-ni-ên 1:8 “ Xin” xuống tới câu 12. Lại một lần nữa Đa-ni-ên dùng từ xin...người hoạn quan.
    Đa-ni-ên 2:16 “ Xin vua’’ cho ra hạn vài ngày để cầu nguyện với Chúa Toàn Năng.
    Đa-ni-ên 2:17 “ Về nhà Xin những người bạn cầu nguyện cùng mình”
    Rất nhiều lần ông xin thì đều được vua, quạn quan đồng ý và bạn mình được bầu bạn giúp đỡ.
    Câu chuyện đám cưới: về nhà nói chuyện với bố mẹ để cho cưới vợ.
    Chúng ta cần xin Chúa cho sự khôn ngoan để chúng ta cần phải ôn nhu lễ độ nhưng có lúc chúng ta phải cần phê bình thẳng thắn và quở trách.
    Đa-ni-ên 5:17-28 và Mác 6:18.
    Nếu Đa-ni-ên là một người 
    Với tâm tình khiêm nhu, tính tình cương trực ngay thẳng, Đức Chúa Trời
    Cương trực ngay thẳng trong lòng nhưng rất khôn ngoan và ôn nhu trong cung cách
    Họ không hề thách thức cho rằng mình thuộc về Chúa, họ cũng không chống đối hay ngang nhiên khước từ, họ cũng không quỵ lụy sợ hãi, nhưng rất cứng rắn, cương trực ôn nhu và lịch sự.
    I/. Tỏ Lòng Biết Ơn Chúa ( 2:
    Chúng ta thấy Chúa trách dân Y-sơ-ra-ên năm xưa, chúng nó lấy môi miếng tôn kính ta, nhưng lòng chúng nó cách xa ta lắm.
    Bạn cho rằng: Ngợi khen Chúa là vào ngày Chúa nhật ư? Bạn nghĩ sự ngợi khen Chúa chỉ giới hạn trong bài thánh ca thôi ư? Không? Sự ngợi khen đẹp nhất đến từ nếp sống, nối sống và cách sống của chúng ta bày tỏ có Chúa.
    Dù bạn và tôi có ngợi khen Chúa sáng sớm đến chiều tối mà sống không có ra sao thì sự ngợi khen Chúa chỉ là tiếng kèn thổi hay chập chỏa vang tiếng mà thôi.
    Sự ban cho, bố thí, hay đức tin rời núi, hoặc ... nhưng không có tình yêu thương thì chẳng có nghĩa chi hết.
    Bạn ngợi khen Chúa mà không yêu thương Chúa, không vâng theo tiếng Ngài thì làm sao nói yêu Chúa được.
    Bạn ngợi khen Chúa trong lúc nào? Mỗi Chúa nhật phái không? Đa-ni-ên đã ngợi khen Chúa ngay trong ban đêm khi Đức Chúa Trời tỏ ra sự kín nhiệm cho ông, Đa-ni-ên đã ngợi khen Chúa ngay cả...
    Đa-ni-ên là một người tri ân Chúa, tức là ông là người biết ơn Chúa, ngay khi Chúa nhậm lời ông thì tức khắc ông đã ngợi khen Chúa.
    Chúng ta mỗi khi được Chúa ban ơn, nhậm lời và giải cứu thường quên mất Ngài phải không? Chúng ta sẽ chạy đi vui vẻ và sung sướng về những điều Chúa làm cho mình mà quên đi ơn ấy do ai và đến từ đâu.
    10 người phung khi đến với Chúa Giê-xu, tất cả đều được chữa lành nhưng chỉ có 1 người đến tạ ơn Ngài, rồi Ngài hỏi: chín người kia ở đâu.
    Chúng ta thường có khuynh hướng quên rất nhanh vì bản chất con người là vô ơn, khi đã xong rồi thì cũng đồng thời dứt đoạn, rút cầu.
    Khi chúng ta dự lễ tiệc thánh, một trong những điều mà Chúa căn rặn là: khi ăn bánh uống chén để nhớ đến sự chịu khổ, hy sinh của Chúa Cứu Thế đã vì chúng ta mà chịu tan nát.
    Sau khi Đa-ni-ên cầu xin Đức Chúa Trời tiết lộ giấc mơ của Nê-bu-cát-nết-sa cho ông, ông đã có một khải tượng về giấc mơ ấy. Lời cầu nguyện của Đa-ni-ên đã được nhậm. Trước khi tìm đến A-ri-ốc để báo tin, Đa-ni-ên đã tìm thì giờ để tôn vinh Đức Chúa Trời về tất cả những gì là khôn ngoan, quyền thế, tạ ơn Ngài vì đã nhậm lời khẩn xin của ông. Bạn cảm thấy thế nào khi lời cầu nguyện của bạn được Chúa nhậm? Phấn khởi, ngạc nhiên nhẹ nhõm? Lắm khi chúng ta tìm cầu Đức Chúa Trời bằng sự cầu nguyện, nhưng sau khi được Ngài nhậm lời, chúng ta lại quá hăm hở vì phấn khởi mà quên tôn vinh Đức Chúa Trời vì lời đáp lại của Ngài. Một khi lời cầu xin của bạn đã được nhậm, hãy tỏ lòng tri ân tương xứng với thái độ kiên trì nhẫn nhục cầu nguyện của mình.

    III. Mối tương giao của người thuộc về Chúa
    1.     Giữ gìn sự hiệp một với nhau trong Chúa
    Đa-ni-ên và ba người bạn ở trên đất Ba-by-lôn, nói tiếng Ba-by-lôn, ăn thức ăn của người Ba-by-lôn, học văn hóa của người Ba-by-lôn, làm việc cho người Ba-by-lôn, mang tên người Ba-by-lôn, tất cả đều Ba-by-lôn nhưng họ vẫn là người của Đức Chúa Trời, thuộc về Ngài.
    Đa-n-ên và ba người bạn cùng nhau đối diện với khó khăn, chia sẻ hoạn nạn và họ là người hiệp nhất trong lúc đất nước của mình đang bị phu tù, họ hiệp một với nhau trong hoàn cảnh đầy khó khăn. Họ biết nương dựa vào nhau và khích lệ nhau cùng nhau bước đi, cùng nhau xây dựng đức tin cho nhau.
    Họ cùng nhau không ăn, điều gì xảy ra nếu chỉ có một mình Đa-ni-ên không ăn còn họ...
    Họ không chỉ cùng nhau chịu khổ để làm đẹp lòng Chúa mà họ còn là những người cùng nhau cầu nguyện.
    Đa-ni-ên chia sẻ gánh nặng với Mục đích để họ cùng cầu nguyện với mình.
    Hội Thánh thời đầu tiên là Hội Thánh cùng nhau thờ phượng, cùng nhau cầu nguyện và cùng nhau đi ra nữa.
    Sự hiệp nhất, sự đồng ý với nhau, thuận phục nhau tại đất Ba-by-lôn đã khiến họ có sức mạnh lớn lao.
    Trong A-mốt nói rằng: hai người không đồng ý thì há đi chung một đường sao?

    Hơn bao giờ hết, HT đang bị ngày càng , chúng ta hãy học tập tấm gương của Đa-ni-ên và ba người bạn hiệp nhất với nhau giữ gìn dây liên lạc hòa bình trong một Chúa Thánh Linh.
    Phao lô nói: trong Chúa chúng ta cùng chung một dòng huyết, cùng ăn một thứ bánh thiêng liêng và cùng chịu chung một phép báp tem.
    Trong Hội Thánh có nhiều chi thể nhưng có chung một thân, mỗi chi thể đều có giá trị như nhau, chúng ta như chiếc bình để cho Ngài sử dụng hữu ích mỗi ngày.
    Phao lô nói với người Cô rinh tô rằng: Chớ phân rẽ nhau ra.
    Họ cùng nhau cầu nguyện cho nhau.
    Đây là hình ảnh đẹp nhất của HT, của người HVC với bầy chiên của Ngài.
    Phao lô ý thức được tầm quan trọng tối cần khi phải nhớ nhau và cầu nguyện cho nhau;




    2.     Họ có mối tương giao và nhận ý chủ của Ngài.

    Đối tượng của lời cầu nguyện và đối tượng của sự ngợi khen là Đức Chúa Trời, Đấng tỏ ra sự kín nhiệm là Đức Chúa Trời, tất cả do Đức Chúa Trời, nhờ Ngài mà đức tin và lời cầu nguyện của ông được hiệu nghiệm.
    Chính vì thế mà, chỉ có người thuộc về Đức Chúa Trời mới có thể tương giao với Ngài mà thôi.
    2:27  đứng trước mặt vua, Đa ni-ên ngay thẳng nói rằng: các bác sĩ, thuật sĩ, đồng bóng và thầy bói đều vô ích mà thôi, vì sự bí mật này thuộc về Đức Giê-hô va và chỉ những người thuộc về Ngài mới được Ngài giải bày cho mà thôi.
    Họ không thể biết được sự kín nhiệm vì họ không thuộc về Đức Chúa Trời, họ không có mối tương giao với Đức Chúa Trời.
    Đa ni ên thuộc về Đức Chúa TRời thì ông mới có thể tương giao trò chuyện vời Ngài.

  • SỰ BÍ MẬT ĐƯỢC BÀY TỎ

    SỰ BÍ MẬT ĐƯỢC BÀY TỎ


    Kinh Thánh  Đa-ni-ên 2:1-28
    Nhập đề:
    He 4:13   13 Chng có vt nào được giu kín trước mt Chúa, nhưng thy đu trn tri và l ra trước mt Đng mà chúng ta phi thưa li.
    Chẳng sự gì dấu kín mà không phải lộ ra, trước mặt Đức Chúa Trời chẳng sự gì dấu kín được Ngài, vì Ngài la Đấng Toàn Tri biết hết mọi sự.
    Trong Khải Huyền mô tả Chúa Giê-xu là Đấng có con mắt sáng như đồng.
    Trong sách Gióp nói rằng: Giop 26:6   6 Âm ph bày l ra trước mt Đc Chúa Tri,
    Và vực sâu không màn che khuất,
    Đáy bin bèn l ra, Thi 18:15
    Ngay cả âm phủ cũng lộ bày ra trước mặt Ngài, thậm chí vực sâu không màn che khuất.
    Chúng ta thật vinh dự, và sung sướng vô biên khi đặt cuộc đời tương lai vào trong tay của Đấng nắm giữ tương lai.
    Có lời bài Thánh ca: Tôi không biết ngày mai sẽ thế nào, tôi chỉ biết có mỗi một điều là Đấng nắm tương lai tôi là Đức Chúa Trời.
    Đa-ni-ên đang cùng dân tộc của mình đang ở trong hoàn cảnh phu tù, nô lệ cho một nước, một vua gian ác là Ba-by-lôn.
    Trước những cảnh không phu tù, kìm kẹp và có vẻ bế tắc thì Đức Chúa Trời đã thành tín không dấu mặt khỏi những hoạn nạn.
    Vì thật như Lời Chúa chép: “Es 63:9   9 H khi dân Ngài b khn kh, chính Ngài cũng khn kh, và thiên s trước mt Ngài đã cu h ri. Chính Ngài đã ly lòng yêu đương thương xót mà chuc h. Ngài đã m bng, và mang h trong các ngày thu xưa.”
    Đức Chúa Trời không dấu mặt đối với dân thuộc riêng về Ngài.
    ·         Trong bối cảnh của khúc Kinh Thánh này: Chúng ta thấy – người đang bế tắc, cùng khốn không phải là Đa-ni-ên và dân tộc của ông, mà chính là Vua Nê-bu-cát-nết-sa.
    ·         Đây là một ông vua bất lực và nuôi những con người hầu cận cũng bất lực: Những kẻ như đồng bóng, thuật sĩ, thầy bói là những kẻ bất lực đi vào ngõ cụt không nối ra. Đầu lìa khỏi cổ, chết trong sự ngu dốt.
    Câu chuyện bắt đầu bởi một giấc ngủ và tiến đến là giấc mơ của vua Nê-bu-cát-nết ca. Một giấc mơ làm ông bối dối không ngủ được, gây nên sự hoang mang mà không biết ý nghĩa của nó.
    1/. Vua và các thầy bói không nối thoát ( 2:1-10)
    Đây là những người đại diện cho những giữ chức quan trọng trong triều đình thời bấy giờ, chúng ta phải nhớ đây là dân ngoại đang nhờ cậy các thần thánh của họ ban ơn cho họ.
    Nhưng họ vô vọng, lạc nối... họ chẳng thể nhận được sự tỏ ra nào cả.
    a/. Họ được triệu tập để giải giấc chiêm bao mà không được nói cho biết lo giấc chiêm bao nào.
    -          Họ nịnh bợ vua
    -          Họ nài nỉ vua hãy nói cho họ biết giấc mơ rồi họ cắt nghĩa
    Số phận của họ là chết (câu 12)
    2/. Đa-ni-ên và 3 người bạn
    -          Đa-ni-ên nghe tin tức ( thay vì hoảng loạn, đi xin vua tha tôi chết cho thì Đa-ni-ên xin vua cho thêm thời gian ra hạn để ông về nhà cầu nguyện.
    -          Khi ông đến gặp vua không một mảy may, sợ hãi, sợ chết, ông không tìm cách chốn chạy nan đề mà ông sẵn sàng đối diện với nó.
    -          Khi chúng ta nghe tin tức bất lợi thì thái độ của chúng ta sẽ thế nào?
    Thi 112:7   7 Người không s cái tin hung;
    Lòng người vững bền, tin cậy nơi Đức Giê-hô-va.
    Một người tin cậy trong tay của Đấng nắm giữ tương lai của cuộc đời mình thì dù giông tố ập đến cũng không sợ hãi.
    Chúng ta thấy các môn đồ khi đang đi trên biển hồ Ga-li-lê rồi thình lình có cơn bão dữ tợn nổi lên thổi trên mặt biển hầu gần chìm tầu/. Các môn đồ hoang mang, hoảng sợ, tìm cách trèo chống. Người giữ dây, người cầm lái. Kẻ hô to, người chạy ngược. Thái độ thất kinh.
    Cuối cùng họ mới nhớ đến Chúa. Vội chạy đến xin Ngài cứu giúp.
    Tại sao họ sợ hãi vì Chúa Giê-xu giải thích các ngươi ít đức tin: Vấn đề ở đây là gì?
    Đa-ni-ên không sợ chết, vì chết là được ở với Chúa.
    Đa-ni-ên không sợ cái chết thân thể. Vì mai đây thân thể hèn mạt sẽ biến hóa đầy vinh hiển.
    a/. Đa-ni-ên trở về nhà, khi quý vị đang đối diện với cái chết tôi quý anh chị sẽ đi đâu, làm gì?
    tìm cách tẩu thoát khỏi người canh đê là xong chuyện phải không, hay nhờ vả, xin vua tha chết.
    Trước  những điều như vậy, Đa-ni-ên đã đi từ hoàng cung về và không phải ăn bữa cơm, ăn đồ ngon, nghỉ ngơi rồi chết. Mà về nhà cầu nguyện với Cha Thiên Thượng.
    Vì Con người bất lực nhưng Đức Chúa Trời chẳng bao giờ bất lực, con người không làm được, không hiểu được, không giải được giấc mơ của người khác. Nhưng Chúa làm được mọi sự biết hết mọi điều.
    Ông đã không âm thầm chịu đựng một mình, mà về nhà chia sẻ cho những người bạn tin kính Chúa với mình.
    Để làm gì? Để cảm thông và quan trọng hơn cả là cùng cầu nguyện.
    Khi chúng ta gặp hoạn nạn, có nan đề chúng ta hãy mạnh dạn chia sẻ những hoạn nạn đó cho những người tin kính Chúa để họ cùng cầu nguyện với chúng.
    Đừng dấu những nan đề với vợ con mình, bạn hữu mình và Hội Thánh ( 2: 17)
    3/. Sự cầu nguyện được đáp lời (2:19-20)
    Chúng ta có thường cầu nguyện những điều khó cho Chúa không?
    Tôi thường thấy chúng ta hay dâng những điều dễ làm nên cho Chúa, để làm gì? Để nghĩ rằng: vì điều đó thích hợp cho Chúa dễ làm hơn.
    Lời Kinh Thánh chép rằng: Có sự gì khó cho Ngài chăng.
    Chúng ta cứ nghĩ khi mình dâng thì cứ dâng còn phần mình là chính, Chúa chẳng qua cũng chỉ 50/50 thôi. Ngài chỉ hỗ trợ phần nào thôi.
    Cho nên thường việc khó chúng ta tìm cách tự làm tự giải quyết còn phần dễ chúng ta dễ mang đến trước Ngài hơn.
    Thánh Kinh chép rằng: Gie 33:3   3 Hãy kêu cu ta, ta s tr li cho; ta s t cho ngươi nhng vic ln và khó, là nhng vic ngươi chưa tng biết.
    **
    Chúng ta dễ dâng năm con cá và năm cái bánh hơn là 500 ngàn hay dễ dâng 500 ngàn hơn năm triệu hơn phải không>

    4/. Tấm Lòng biết ơn Đức Chúa Trời của người đầy tớ ( 2:19-20)
    Khi được Đức Chúa Trời tỏ bày, giải đáp nhận lời rồi thì Đa-ni-ên đã ca ngợi Đức Chúa Trời, hành động ca ngợi không chỉ được thể hiện trong lời bài hát nhưng trong cách sống của chúng ta.
    Khi Chúa ban ơn cho, chữa lành cho, cung ứng cho chúng ta có nhớ đến Chúa hay quên đi. Chúng ta có biết ơn Chúa trong cuộc đời mình không.
    Thánh kinh chép: Chớ quên các ơn huệ của Ngài, ấy là...
    CHúng ta có nhớ câu chuyện: có 10 người phung đến gặp Chúa để Ngài chữa lành cho, sau đó chỉ có 1 người quay lại biết ơn Ngài không.
    Chúa Giê-xu hỏi: Còn chín người kia ở đâu? Hôm nay Chúa đang hỏi tôi với quý vị. Có phải chúng ta đang ở trong số chín người hay trong số một người.
    Người biết ơn rất ít còn người vô ơn thì nhiều.
    Ăn bánh của thầy nhưng lấy chân đạp đầu thầy.
    Hôm nay là bạn mai thành thù cũng chỉ vì không biết ơn lẫn nhau.
    Chúng ta cần biết ơn Chúa, mang ơn Chúa.


    Thi 44:21   21 Đc Chúa Tri há s chng hi tra sao?
    Vì Ngài biết thấu sự bí mật của lòng.
    **
    Phu 29:29   29 Nhng s bí mt thuc v Giê-hô-va Đc Chúa Tri chúng ta; song nhng s bày t thuc v chúng ta, và con cháu chúng ta đi đi, đ chúng ta làm theo mi li ca lut pháp ny.

  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.