ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • LỊCH SỬ CƠ ĐỐC GIÁO VIỆT NAM

    LỊCH SỬ CƠ ĐỐC GIÁO VIỆT NAM



    Lời Nói Đầu

    Cơ Đốc Giáo là tôn giáo của những người tin theo Chúa Jêsus Christ, những người này còn được gọi là Cơ Đốc Nhân (Christians hoặc Chrétiens). Lịch sử Cơ Đốc Giáo được hoài thai từ khởi thủy của loài người khi Thượng Đế hứa ban một Đấng Cứu Thế (Đức Chúa Jêsus) xuống trần trong chương trình cứu chuộc của Ngài cho cả nhân loại. Hội thánh đầu tiên được thành lập sau khi Đức Chúa Jêsus thăng thiêng và Ngài truyền lệnh cho các môn đồ "Hãy đi khắp thế gian giảng Tin Lành cho mọi người." Từ đó trở đi, Hội thánh càng ngày càng phát triển ngay cả những lúc bị đàn áp và bắt bớ.
    Giáo Hội Công Giáo La-mã thường được coi như tổ chức đầu tiên của Cơ Đốc Giáo sau các cơ cấu Hội Thánh đầu tiên. Kế đến các giáo hội khác được thành lập tách ra từ Công Giáo như Chính Thống Giáo, Anh Quốc Giáo, Tin Lành (Protestant). Tin Lành gồm nhiều hệ phái từ Lutheran đến Báp Tít (Baptist), Cơ Đốc Phục Lâm (Seventh Day Adventists), Giám lý (Methodist), Ngũ tuần (Pentecostal)... Đặc điểm chung của Cơ Đốc Giáo là việc công nhận Kinh Thánh như là nền tảng căn bản. Các giáo phái thêm hay bớt những sách của Kinh Thánh, có thể không được coi như Cơ Đốc Giáo chánh thống.
    Phần lịch sử của Cơ Đốc Giáo ở Việt Nam sau đây gồm lịch sử Giáo hội Công Giáo La-mã, lịch sử Hội thánh Tin Lành Việt Nam thuộc Hội Truyền Giáo Phúc Âm Liên Hiệp (Christian & Missionary Alliance), lịch sử Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật (Seventh Day Adventists), lịch sử Hội Thánh Báp Tít Việt Nam và lịch sử Giáo Hội Mennonite. Nhiều giáo hội khác không được đề cập đến vì chúng tôi không có tài liệu đầy đủ.
    Sau năm 1975, Cơ Đốc Giáo ở Việt Nam càng phát triển mạnh. Nhiều giáo hội khác đến Việt Nam cũng như có sự phát triển ở các cộng đồng người Việt Nam hải ngoại.
    I. Lịch sử Giáo Hội Công Giáo La Mã tại Việt Nam
    II. Lịch sử Hội Thánh Tin Lành Việt Nam
    III. Lịch sử Giáo Hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật Việt Nam
    IV. Lịch sử Giáo Hội Báp Tít Việt Nam
    V. Lịch sử Giáo Hội Mennonite tại Việt Nam

    Chương 1: Lịch sử Đạo Công Giáo La-mã Tại Việt Nam
    Không ai biết rõ đạo Công Giáo (còn được gọi là đạo Gia-tô, đạo Thiên Chúa) đã đến Việt Nam như thế nào. Theo truyền thuyết thì vào thế kỷ thứ hai, thứ ba... nhiều người Tây phương đến viếng Việt Nam trong đó có các thương gia, các linh mục Thiên Chúa Giáo. Những hoạt động của các nhà truyền giáo này không được ghi chép và không có bằng chứng nào cho biết là đã có người theo đạo lúc ấy mãi cho đến thế kỷ thứ 16.
    Theo lịch sử chánh thức của triều đình Việt Nam (Khâm Định Việt Sử) thì từ năm Nguyên-hòa nguyên niên đời vua Trang-tông nhà Lê (1533) có chiếu chỉ cấm đạo Công Giáo ở Việt Nam. Chiếu chỉ này đã đề cập đến một người Tây phương tên I-Hi-Khu đã rao giảng đạo Thiên Chúa ở huyện Giao Thủy và Nam Chân tỉnh Nam Sơn (nay là Nam Định).
    Đây là một giai đoạn xáo trộn về chính trị với sự phân tranh lãnh thổ: Nhà Mạc ở miền bắc và Nhà Lê ở miền nam (1527-1592); đất nước được thống nhất trên danh nghĩa dưới Triều Lê nhưng trên thực tế đã chia ra làm Đường Ngoài (miền bắc) thuộc chúa Trịnh và Đường Trong (miền nam) thuộc chúa Nguyễn (1592-1788).
    Sử liệu không nói rõ là I-Hi-Khu đã bị trục xuất ngay lúc đó hay vẫn còn ở lại và tiếp tục chức vụ truyền giáo. Vào năm 1583, một phái đoàn gồm 8 linh mục dưới sự hướng dẫn của Cha Diego d'Oropesa đã đến viếng Việt Nam theo lời mời của vua Mạc Mậu Hợp. Phái đoàn đã đi từ Manila đến Quảng Yên và dùng đường thủy để đến thủ đô Thăng Long (Hà Nội). Dọc đường, tàu của họ đã bị một trận cuồng phong làm lạc hướng. Linh mục Bartholomeo Ruiz, một thành viên của phái đoàn trên trở lại Việt Nam năm sau và được quốc vương tiếp đón nồng hậu. Ông được nhà vua cho phép ở lại để truyền giáo.
    Cha Ruiz và một số các linh mục Công Giáo, đa số là người Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, đã đến Việt Nam trong thời gian này. Họ đã hoạt động tích cực và đem những nhân vật cao cấp của chính quyền trong đó có Công chúa Regent Mai Hoa trở lại đạo. Dầu vậy, ảnh hưởng của họ không được sâu rộng lắm trong quần chúng Việt Nam. Nguyễn Hữu Trọng, trong luận án tiến sĩ của ông dưới tựa đề "Nguồn gốc của hàng giáo phẩm Việt Nam" (Les Origines Du Clergé Vietnamien), đã viết như sau: "Nếu chúng ta xem xét những thành quả của việc truyền giáo trong giai đoạn tiên khởi này, chúng ta phải nhìn nhận rằng nó đã thành tựu một cách khiêm nhường. Có vài người chịu phép rửa tội (báp-têm), chưa đủ để tạo dựng một cộng đồng Cơ Đốc có thể gây dựng một Hội thánh tương lai".
    Mãi cho đến năm 1624, khi một giáo sĩ người Pháp, một học giả tài ba lỗi lạc là Cha Đắc Lộ hay Alexandre de Rhodes đến Việt Nam, việc truyền giáo mới chuyển qua một khúc quanh quan trọng. Ông hoạt động cả miền bắc lẫn miền nam (Đường Ngoài và Đường Trong) trong 22 năm. Ông thành thạo ngôn ngữ, lịch sử và địa lý Việt Nam, nhất là đã hoàn tất việc chuyển đổi chữ viết Việt ngữ bằng cách dùng mẫu tự La-tinh. Với vài thay đổi và tu chỉnh sau này, Việt ngữ do ông soạn thảo đã thay thế chữ nho để trở thành quốc ngữ vào cuối thập niên 1910.
    Linh mục Đắc Lộ trở về Ba-lê vào năm 1649. Ông thành lập Hội Thừa Sai (Societé des Missions Etrangères) để khuyến khích các nhà truyền giáo người Pháp đến vùng Viễn Đông. Vì thế, các giáo sĩ người Pháp càng ngày càng gia tăng và đã trở thành một thành phần nòng cốt của các giáo sĩ Công Giáo ở Việt Nam. Theo Đào Duy Anh, tác giả của quyển Việt Nam Văn Hóa Sử Cương, vào năm 1680, khoảng 30 năm sau khi Hội Truyền Giáo Hải Ngoại được thành lập, Giáo Hội Công Giáo Việt Nam cho rằng có đến 600.000 giáo dân ở miền nam (Đường Trong) và 200.000 ở miền bắc (Đường Ngoài). Các con số này không được xác nhận và dường như hơi cao hơn trên thực tế, vì sau hơn một thế kỷ, con số giáo dân trong toàn quốc sau nhiều lần tăng gia và phát triển đã không vượt quá 320.000 (theo Linh mục Phan Phát Huồn, một sử gia Công Giáo).
    Hoạt động truyền giáo của Công Giáo vào cuối thế kỷ thứ 17 đến thời đại vua Gia Long năm 1802 thường gặp khó khăn. Sự thăng trầm này thường bắt đầu và chấm dứt với việc lên ngôi hay băng hà của các vị vua có thiện cảm hay ác cảm với tôn giáo nầy. Trong nhiều trường hợp, việc này tùy thuộc vào sự thay đổi quan điểm của các vị vua hoài nghi. Điển hình là trong đời chúa Trịnh Tráng, các linh mục Bồ Đào Nha được phép theo ông trong chuyến chinh phục miền nam để giảng đạo. Họ được phép mở các nhà thờ ở Hà Nội và các thành phố miền bắc khác. Nhưng khi ông biết rằng những đặc ân ông dành cho các giáo sĩ Bồ ĐàoNha đã không mang lại lợi lộc trong việc trao đổi kinh tế với nước này, Trịnh Tráng quyết định trục xuất các nhà truyền giáo. Ở miền nam, Cha Đắc Lộ là giáo sĩ đầu tiên tiếp kiến chúa Công Thương Vương, được người chấp nhận lễ vật và được phép kiều ngụ trong xứ. Tuy vậy chúa Công Thương Vương đã ra lệnh hành quyết 3 Thánh tử đạo là An-rê, Inhaxo, và Vinh Sơn cùng nhiều giáo dân khác (1644-1645).
    Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ, ba anh em Nhà Tây Sơn (1788-1802), đã thống nhất sơn hà, dẹp bỏ chế độ cai trị của các Lãnh chúa ở miền bắc lẫn miền nam và chấm dứt chế độ nhà Lê. Mặc dù các vị vua nhà Tây Sơn không chống đối đạo Công Giáo, đa số các nhà truyền giáo đã phải rời bỏ Việt Nam vì chiến tranh. Trong thời gian này, hoạt động của các nhà thờ Công Giáo không được ghi chép đầy đủ. Học giả Trần Trọng Kim đã viết trong quyển Việt Nam Sử Lược rằng "trong thời Tây Sơn, vì đất nước bất yên, triều đình chú tâm vào việc chiến tranh và Công Giáo không bị cấm".
    Chánh sách dễ dãi với Công Giáo này đã dần dần thay đổi trong những năm cuối. Lúc đầu quân lính Tây Sơn không có thiện cảm với các tôn giáo, họ không giúp đỡ các chùa, đền hay nhà thờ và Công Giáo cũng được coi như các đạo khác. Khi Giám mục Bá Đa Lộc thành Adran công khai ủng hộ Hoàng tử Nguyễn Ánh, đối thủ chánh của nhà Tây Sơn, chính quyền trong nam dưới thời Nguyễn Lữ, em của Hoàng Đế Quang Trung, bắt đầu bắt bớ Công Giáo: nhà thờ bị tàn phá, các giáo chức người Việt phải lẩn trốn trong rừng.
    Trong 9 năm dưới thời Tây Sơn, số giáo dân giảm đi từ 100.000 xuống còn 60.000 ở miền nam. Tuy nhiên, nhiều bằng cớ cho biết sự sút giảm này là do ảnh hưởng tàn phá của chiến tranh đã làm cho dân số giảm xuống hơn là sự đàn áp của chánh quyền Tây Sơn.
    Ở miền bắc và miền trung, Công Giáo được chấp nhận, không bị nhà Tây Sơn để ý trong lúc đầu cho đến khi Giám mục Labartette ở Thuận Hóa (Huế) nhận được mật thư của Hoàng tử Nguyễn Ánh sau khi ông đã chinh phục được miền nam. Vì lý do này mà 31 tín đồ Công Giáo bị giết trong đó có Linh mục Nguyễn Văn Triệu, nhiều người khác phải lẩn trốn. Phản ứng khắc nghiệt của nhà Tây Sơn không phải là do sự chống đối ngoại kiều hay đạo Công Giáo mà do sự ủng hộ của Giám mục Bá Đa Lộc và các hàng giáo phẩm đối với Nguyễn Ánh. Linh mục Phan Phát Huồn, tác giả của Việt Nam Giáo Sử, là quyển lịch sử đầy đủ nhất của đạo Công Giáo ở Việt Nam đã đồng ý với quan điểm rằng "nếu Giám mục Bá Đa Lộc không giúp đỡ Nguyễn Ánh chinh phục đất nước, triều đình Tây Sơn sẽ không sát hại tín đồ Công Giáo".
    Cuối cùng, Nguyễn Ánh đã thành công trong việc diệt trừ được nhà Tây Sơn, lên ngôi lấy danh hiệu là Gia Long. Trong thời gian 18 năm đời vua Gia Long, Công Giáo được yên ổn và phát triển dù rằng nhà vua không theo đạo. Ông cũng không ban đặc ân nào cho Giáo hội. Ông thường biểu lộ lòng biết ơn đối với các nhà truyền giáo nhất là Giám mục Bá Đa Lộc, người đã hết lòng giúp đỡ nhà vua (dù rằng sau này Giám mục Bá Đa Lộc bị mất chức) cho đến khi ông qua đời. Trong đời vua Gia Long, Giáo Hội Công Giáo có 320.000 giáo dân, 119 Linh mục Việt Nam, 15 nhà truyền giáo ngoại quốc và 3 Giám mục. Điều đáng chú ý là 80 % các Linh mục và Giáo chức Việt Nam đều ở miền Bắc.
    Sau khi vua Gia Long băng hà, Giáo hội Công Giáo chỉ được một thời gian yên ổn ngắn ngủi, từ năm 1820-1833, sau đó đã trải qua một thời kỳ đen tối nhất trong lịch sử dưới thời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức (1833-1883). Vua Minh Mạng đã ra chiếu chỉ cấm đạo Công Giáo trong toàn lãnh thổ vào ngày 6 tháng giêng năm 1833. Lịnh cấm chỉ này được các vua Thiệu Trị và Tự Đức theo đuổi: các nhà truyền giáo vào lãnh thổ bất hợp pháp để rao giảng đạo sẽ bị xử tử; các linh mục Việt Nam không bỏ đạo sẽ bị khắc chữ vào mặt và lưu đày; giáo dân bị cấm không được theo đạo, tuy nhiên họ không bị ám hại. Rất nhiều giáo sĩ ngoại quốc, nhiều giáo chức Việt Nam bị giết vì chính quyền địa phương tố cáo họ là những người nằm vùng, chính quyền trung ương càng tình nghi họ nhiều hơn, lại thêm các nhóm chống đối (chống Pháp) địa phương cũng nghi kỵ họ. Mãi đến khi hòa ước năm 1862 và 1874 ra đời, Việt Nam bị áp lực phải thâu hồi các lệnh cấm trên. Một sử gia Việt Nam, ông Phan Thanh Khôi đã viết: "Các vị vua Việt Nam đã chống đối Công Giáo không phải vì họ có chủ trương thái quá nhưng vì họ muốn bảo vệ sự thuần nhất của dân tộc về chính trị cũng như về đạo đức. Họ cho rằng người Công Giáo không thờ cúng ông bà là một đe dọa cho sự thuần nhất của quốc gia".
    Có ít nhất 3 lý do khiến các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức có chánh sách khắt khe với Công Giáo.
    1. Nguyên nhân thứ nhất là chính trị, có lẽ là nguyên nhân quan trọng nhất. Vua Minh Mạng, không phải là trưởng nam của vua Gia Long (Hoàng tử Cảnh là người kế vị đã mất tại Gia Định sau chuyến thăm viếng Ba-lê với Giám mục Bá Đa Lộc) và sự chọn ông để nối nghiệp đã bị một vài triều thần và các nhân vật có thiện cảm với Công Giáo chống đối. Cho đến ngày nay, nhiều người Công Giáo vẫn cho là sự chọn lựa này không hợp pháp, và chỉ có con của Hoàng tử Cảnh mới có quyền kế vị vua Gia Long. Sau khi lên ngôi, vua Minh Mạng tỏ sự bất mãn đối với những người đã chống đối ông. Vì vậy, việc cấm chỉ đạo Công Giáo đã không làm ai ngạc nhiên.
    2. Nguyên nhân thứ nhì là chủ trương của nhà vua muốn theo đạo truyền thống dân tộc như Khổng giáo, đạo thờ ông bà và như vậy ông chống đối các đạo ngoại lai mà ông cho là "tà giáo".
    3. Lý do thứ ba cũng là lý do chính trị: vì chính sách bành trướng của các đế quốc thời đó nhất là nước Anh đã đô hộ Ấn độ và Miến điện trước đó mấy chục năm, và nước Pháp muốn bành trướng sự hiện diện ở Á Châu sau khi bị mất Ấn Độ vào tay Anh quốc. Các nhà truyền giáo bị coi là gián điệp và tín đồ Công Giáo bị coi như những người nằm vùng, họ không ngần ngại phản bội đất nước cho sự tự do tín ngưỡng.
    Trong hòa ước 1862, Hoàng đế Việt Nam bị bắt buộc phải thừa nhận sự đô hộ của nước Pháp ở miền nam như được nêu lên ở điều thứ nhất: "Nước Nam phải để cho giáo sĩ nước Pháp và nước I-pha-nho được tự do vào giảng đạo, và để dân gian được tự do theo đạo".
    Sự tự do tín ngưỡng này không được dành cho dân miền trung và miền bắc. Họ vẫn còn bị cấm bởi chính quyền. Các nhóm ái quốc điển hình là nhóm Văn Thân đã tuyên bố rằng "Tín đồ Công Giáo đã bán nước cho thực dân Pháp. Một khi những kẻ nằm vùng này bị loại trừ, người Pháp sẽ không còn hậu thuẩn nữa ắt sẽ bị tiêu diệt". Nỗ lực của họ không ngưng cho tới năm 1884 khi hòa ước Patenotre đặt Việt Nam dưới sự bảo hộ của Pháp, và sự tự do tín ngưỡng cho đạo Công Giáo được bảo đảm dưới hòa ước Giáp Tuất (1874) được tái xác nhận và thực thi. Giáo hội Công Giáo không bao giờ mất "sự tự do giảng đạo" và tiếp tục bành trướng trong thời gian Pháp thuộc. Vào năm 1932, Việt Nam có 13 giáo phận và tất cả đều do các giám mục ngoại quốc đảm nhiệm. Giám mục đầu tiên của Việt Nam là đức cha Nguyễn Bá Tòng được nhậm thánh chức vào năm 1933. Đây là một biến cố lịch sử cho hàng giáo phẩm Việt Nam vì trong gần bốn thế kỷ, những nhà truyền giáo Âu châu không cố gắng đào tạo những người lãnh đạo cũng như những linh mục trong nước theo tinh thần của các thánh đồ vào thế kỷ thứ nhất.
    Một biến cố khác, 27 năm sau, vào năm 1960, Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đề cử 3 Tổng Giám mục giáo khu (archbishoprics) và các hàng giáo phẩm đầu tiên của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam. Đó là giáo khu Hà Nội với 8 giáo phận (diocese) do Tổng Giám mục Trịnh Như Khuê, giáo khu Huế với 3 giáo phận (dioceses) do Tổng Giám mục Ngô Đình Thục, giáo khu Sài-gòn với 5 giáo phận do Tổng Giám mục Nguyễn Văn Bình lảnh đạo. Trong số 16 Giám mục được Đức Giáo Hoàng bổ nhiệm cho các giáo phận trên, có 14 Giám mục Việt Nam.
    Trên thực tế, Công Giáo là tôn giáo có tổ chức, hệ thống nhất ở Việt Nam ngày nay. Với 1.454.842 giáo dân ở miền nam và 833.468 giáo dân ở miền bắc, Công Giáo là một cộng đồng lớn nhất và mạnh mẽ nhất trong xã hội Việt Nam. Ngoài công việc truyền giảng và huấn luyện các giới lãnh đạo trong nước, Giáo hội Công Giáo với 24 giáo phận (orders) có được một hệ thống rộng lớn và hữu hiệu chuyên lo về vấn đề giáo dục và xã hội. Điều này đã làm cho hằng ngàn người trở lại đạo mỗi năm và đã gây ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thức. (Trích dịch từ luận án tiến sĩ của Mục sư Lê Hoàng Phu, 1972).
  • TƯ VẤN MỤC VỤ

    TƯ VẤN MỤC VỤ


    CHƯƠNG 1

     TƯ VẤN MỤC VỤ
    Ai được gọi đến làm chức vụ, hãy buộc mình vào chức vụ; ai dạy dỗ, hãy chăm mà dạy dỗ;  ai gánh việc khuyên bảo, hãy khuyên bảo... ai làm sự thương xót, hãy lấy lòng vui mà làm            (-ma 12: 7-8).
    Tư vấn mục vụ là đặc ân Chúa dành cho người thuộc về Ngài và phục vụ Ngài.  Người làm công tác tư vấn là làm theo mạng lịnh và ý muốn của Đức Chúa Trời.  Ngài sai phái chúng ta đi ra giúp người khác với nhiệm mạng tư vấn và chăm sóc chiên Ngài.  Chúng ta cần học hỏi và thực hiện chức vụ tư vấn một cách nghiêm túc, hầu giúp con dân Chúa có được những kinh nghiệm thuộc linh, tăng trưởng tâm linh, vững vàng và trở nên môn đồ Ngài.  Nhiệm vụ của người hầu việc Chúa trong việc tư vấn không phải là cố gắng giúp người có nan đề đạt được điều họ muốn, nhưng giúp họ hiểu điều Chúa muốn trên đời sống và giúp họ cách tự giúp bản thân khi gặp phải nan đề. Tư vấn mục vụ là người dự phần vào công tác hầu việc Đức Chúa Trời và chăm nôm chiên Ngài.
    Nhu cầu Hội Thánh khắp nơi đang cần những người làm công tác tư vấn vì, nhà nhà đều có nan đề và trong Hội Thánh Chúa thì đầy dẫy những nan đề.  Mỗi Cơ Đốc nhân có thể trở thành một người tư vấn và chăm sóc của Hội Thánh, tùy khả năng, tùy nan đề và cũng tùy hoàn cảnh.  Điều cần thiết đối với người tư vấn đó là được đào tạo, huấn luyện, tập tành cho đến khi già giặn kinh nghiệm trong vấn đề tư vấn cùng sự khao khát muốn dự phần.  Đức Chúa Trời sẽ phú sự thông sáng, khôn khéo cho những ai có lòng cảm động, xui mình đến gần đặng làm công việc (Xuất-ê-díp-tô-ký 36:2).

    Chúng ta biết rằng, những người lính được đào tạo, huấn luyện và sẵn sàng trước khi ra trận, thế nhưng chiến trận thường có lắm người bị thương, bị tấn công thậm chí còn hi sinh. Không phải người được đào tạo, được huấn luyện tư vấn là có thể tư vấn hiệu quả, nhưng đây là chiến trường thuộc linh điều con người cần đó chính là Chúa.  Một khi con người đầu phục Chúa, kính sợ Chúa và đặt Chúa lên trên hết đời sống mình thì Thánh Linh và quyền năng Ngài có thể tái thiết con người trong mối quan hệ với Chúa và với nhau trong mọi nan đề của con người trong đời sống.  Đức Chúa Trời Đấng biết hết mọi sự.  Nguồn khôn sáng, bình an, hi vọng đến từ Chúa.  Tư vấn mục vụ là làm tôi tớ của Đức Chúa Trời để giúp người khác hiểu được ý Đức Chúa Trời muốn trên đời sống con người.


         ĐỊNH NGHĨA VÀ MỤC TIÊU CỦA TƯ VẤN MỤC VỤ

    Tư vấn mục vụ là khải đạo, khuyên bảo và chỉ dẫn giúp người có nhu cầu nhìn ra con đường nào phải đi.  Trọng tâm của tư vấn Cơ Đốc là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tư vấn Cơ Đốc tin nơi năng quyền biến đổi của Chúa.  Sự tha thứ của Chúa, thẩm quyền của Kinh Thánh và niềm hi vọng về tương lai (Hê-bơ-rơ.1:1-4).

    Người làm công tác tư vấn Cơ Đốc phải được đào tạo và học theo nếp sống làm gương, thanh sạch, tin kính của Chúa Giê-xu với lòng yêu thương và quan tâm thật sự đối với người khác mới có thể chỉ dẫn, khuyên bảo hay tư vấn cho đối tượng có nan đề với mục đích hướng dẫn đối tượng đó đến nếp sống đầu phục Chúa, nhận được sự tha thứ, hiểu biết và chấp nhận tuân theo những nguyên tắc sống của Chúa truyền dạy trong mọi hoàn cảnh.  Người tư vấn giúp người có nan đề kinh nghiệm được sự chữa lành, tăng trưởng tâm linh và phát triển nội tâm phù hợp với cá tính của Đấng Christ và được phục hồi mối quan hệ với Chúa, với người khác và chấp nhận theo Chúa trong mọi hoàn cảnh.  Trách nhiệm của chúng ta là nhắc nhở, khích lệ và cổ võ lẫn nhau rằng mục tiêu tư vấn Cơ Đốc là giúp đỡ người khác trở nên giống Chúa, không còn bị điều gì ràng buộc để họ tự do thờ phượng và phục vụ Chúa cách tốt đẹp (Công-vụ.: 20:28).

    Mục tiêu của tư vấn phải theo ý tưởng Kinh Thánh là đẩy mạnh vấn đề trưởng thành của Cơ Đốc nhân, giúp con người nhận được kinh nghiệm phong phú hơn trong sự thờ phượng và có đời sống hiệu năng hơn trong sự phục vụ.  Chúng ta mong mỏi rằng, mỗi con cái Chúa được chữa lành và được phục hồi xây dựng thân thể Đấng Christ (Hội Thánh) lành mạnh và phát triển.
        
         Sau đây là một số định nghĩa về tư vấn mục vụ của những tư vấn chuyên nghiệp:

    Theo Clinebell, tư vấn mục vụ là chức vụ đáp ứng cho nhu cầu của những người bên trong lẫn bên  ngoài Hội Thánh.  Công tác tư vấn vừa là một sứ mạng hướng ngoại cho những người đang cơn tranh chiến và phiền muộn.  Ngoài ra, đây còn là chức vụ chăm sóc cho những người không ở trong tình trạng khủng hoảng trở thành những người trưởng thành.

    Theo Gary Collins, người tư vấn không chỉ khuyên bảo hay khích lệ người khác, nhưng phải dự phần tương quan với họ.  Công tác tư vấn vì thế cần được định nghĩa như là mối tương quan giữa hai người hoặc giữa nhiều người, trong đó người tư vấn tìm cách khuyên bảo, khích lệ, giúp đỡ người được tư vấn giải quyết một cách hữu hiệu những nan đề trong cuộc sống của người ấy.

    Theo Charles F. Kraft, làm công tác tư vấn là dự phần trong công việc của Đức Chúa Trời để chữa lành, giải phóng, phục hồi con người và đẩy mạnh sự hòa nhập và tăng trưởng trong đời sống họ.  Đó là công tác dự phần vào việc khôi phục lại hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người vốn đã bị làm cho hư hỏng vì sự sa ngã.

    Theo Paul Tillich, con người luôn có nhu cầu cần được quan tâm.  Tuy nhiên có một số hoàn cảnh và nan đề mà sự quan tâm chăm sóc bình thường không thể giải quyết hay mang lại sự hàn gắn, chữa lành được.  Cần phải có những phương pháp đặc biệt để mang lại sự thay đổi trong những con người mà nan đề của họ dường như quá sâu và quá triền miên.  Sự can thiệp đặc biệt này thường được mệnh danh là tâm lý trị liệu, hay trong bối cảnh của chức vụ, gọi là tư vấn mục vụ.

    Theo Leona Tyler, chủ đích của công tác tư vấn là phải làm cho những sự lựa chọn và quyết định khôn ngoan có được cách dễ dàng, phải khuyến khích sự thích ứng và khỏe mạnh về tinh thần.  Những người không có nan đề nghiêm trọng có thể tìm đến với công tác tư vấn để có sự lựa chọn tốt hơn, được hiệu quả hơn trong công việc sinh sống.

    Tư vấn cũng có thể nhằm mục đích giúp thay đổi cách cư xử, thái độ hay giá trị của người được tư vấn; ngăn chặn sự phát triển những vấn đề nghiêm trọng; hướng dẫn những kỹ năng giao tiếp; khích lệ sự biểu lộ tình cảm; hỗ trợ kịp thời các nhu cầu; thấu hiểu nội tâm; giúp đi  đến những quyết định; giáo dục tinh thần trách nhiệm; kích thích sự tăng trưởng thuộc linh; giúp vận dụng những nguồn lực sẵn có trong thời điểm khủng hoảng.

    Công tác tư vấn cũng nhắm vào việc xây dựng cá tính, đưa đến sự trưởng thành trong cách suy nghĩ, hành động. Tư vấn giúp con người thích ứng cách hữu hiệu với những nan đề trong cuộc sống, với những tranh chấp nội tại, những thương tích trong tình cảm. Tư vấn cũng nhằm giúp đỡ cá nhân, hay những thành viên trong gia đình, hoặc vợ chồng giải quyết những mối căng thẳng, bất hòa, để xây dựng những mối quan hệ tốt đẹp hơn.  Công tác tư vấn cũng nhắm vào những đối tượng mà lối sống dễ đưa đến thất bại và bất hạnh.

    Người làm công tác tư vấn có Chúa sẽ tìm cách đưa mọi người bước vào mối tương quan với Chúa, để nhận lãnh được sự tha thứ và sự chữa lành những tàn phá nội tâm, do hậu quả của lỗi lầm trong quá khứ hay mặc cảm dày vò.

    Tuyệt điểm của công tác tư vấn là bước dẫn đối tượng đến lối sống đầu phục nguyên tắc hướng dẫn của Chúa, trở thành môn đồ của Ngài, có khả năng hướng dẫn, nâng  đỡ người khác.
    Tuyệt điểm của tư vấn mục vụ là kinh nghiệm được sự chữa lành của đối tượng và sự trưởng thành tâm linh.


         TẦM QUAN TRỌNG CHỦ YẾU CỦA TƯ VẤN MỤC VỤ

    Người Chăn Chiên: làm người chăn chiên là dự phần vào những mối quan tâm của chiên mình.  Vì vậy, Mục sư phải dự phần vào những mối quan tâm và nhu cầu của hội chúng của mình. Vị Mục sư ở trong một công tác “hướng đến hội chúng.”  Một hội chúng dù lớn hay nhỏ vẫn luôn có nhiều người với nhiều nan đề khác nhau, và vì vị Mục sư làm công tác hướng đến hội chúng nên những người này luôn mong mỏi vị Mục sư nhận ra nhu cầu của họ và giúp đỡ họ.  Họ xem vị Mục sư là người chăn đáng tin cậy.  Từ “người chăn chiên” trong Thánh Kinh mang ý nghĩa là “người trông nôm” hay “người nuôi dưỡng” - Chăm Sóc Mục Vụ (Pastoral Care):   “Anh em hãy giữ lấy mình, và luôn cả bầy mà Đức Thánh Linh đã lập anh em làm kẻ coi sóc, để chăn Hội thánh của Đức Chúa Trời, mà Ngài đã mua bằng chính huyết mình” (Công-vụ 20:28).

    Kinh Thánh không nói đến việc tư vấn mục vụ, nhưng nói đến việc “chăm sóc bầy chiên.”  Từ “người chăn bầy” được tìm thấy trong Thi-thiên 23, Ê-xê-chi-ên 34, Công-vụ 20:25-29, I Phi-e-rơ 5:1-4, Giăng 21:15-19.
    Thi Thiên 23 dạy chúng ta cách thức chăn bầy của Đức Chúa Trời:
    Câu 1: - Đức Chúa Trời là Đấng chu cấp cho mọi nhu cầu vật chất cho chúng ta.
    Câu 2 - 3: - Đức Chúa Trời là Đấng chữa lành - Ngài giúp chúng ta được:
    An nghỉ nơi đồng cỏ xanh tươi, mé nước bình tịnh - Bổ lại linh hồn.

    Khi chúng ta bị bức xúc, căng thẳng (stress), Ngài ban cho sự bình an, sự yên tịnh trong tâm hồn (tiếp xúc vớ i thiên nhiên, màu xanh của đồng cỏ, màu xanh của lá cây.  Màu xanh của nước, bầu trời...).
    Chữa lành trong tâm hồn khi chúng ta có nan đề, sự chữa lành nội tâm.

    Câu 4: - Đức Chúa Trời là Bạn hữu của chúng ta.  Ngài luôn ở bên cạnh chúng ta:
    Trong trũng bóng chết: bệnh tật, hoạn nạn, gian nan, nguy khốn... ( không nói là bao lâu, khi nào chấm dứt...).
    Chúng ta sẽ không cô đơn một mình, và sẽ chẳng cần phải sợ hãi.

    Đức Chúa Trời là Chủ nhà.  Ngài tiếp đãi, ân cần chúng ta trước mặt kẻ thù nghịch mình
    “Kẻ thù” có thể là bất cứ ai chung quanh, trong gia đình, ngoài xã hội, là những người làm tổn thương chúng ta.

    Đức Chúa Trời muốn chúng ta kinh nghiệm sự chu cấp, sự chữa lành từ nơi Chúa để chúng ta có thể là những người chăn bầy đem bầy chiên đến chỗ kinh nghiệm sự chu cấp và sự chữa lành của Ngài.  Chúa cũng muốn chúng ta là bạn hữu của dân sự Ngài giống như Ngài là Bạn hữu của chúng ta vậy.

         Công tác của người chăn bầy là:
    Đi theo chiên: suốt ngày, quan sát, chăm sóc chiên như người bạn.
    Đây là công tác khó khăn, tốn thì giờ, tốn năng lực.
    Chăm sóc chiên: đem lại sự yên ủi, nâng đỡ, khích lệ cho chiên, giúp cho chiên tìm thấy sự bình an trong Chúa.

         Tại sao cần có công tác tư vấn mục vụ trong Hội Thánh?

    Tư vấn được giới thiệu cho Hội Thánh khoảng 60 năm, đến từ ngành Tâm Lý Học vốn đã có khoảng 100 năm, trong khi đó Hội Thánh có mặt trên đất hơn 2000 năm.  Do đó, trước khi có công tác tư vấn trong Hội Thánh thì các nan đề của tín hữu được giải quyết ra sao?

    Trong thời Cựu ước: Đức Chúa Trời đến thăm A-đam hằng ngày; Ngài gần gũi với Áp-ra-ham, với Môi-se, Giê-trô góp ý cho Môi-se, Đa-vít có các mưu sĩ bên cạnh mình....
    Công tác chăm sóc đã được dạy dỗ trong Kinh Thánh từ lâu, và là một mạng lệnh của Chúa.  Hội Thánh đầu tiên đã có ban chăm sóc tín hữu.

    Đức Thánh Linh là Đấng Yên Ủi các tín hữu trong Hội Thánh.
    Nếu chúng ta chỉ cần Đức Thánh Linh hướng dẫn, có phương pháp chăm sóc rút ra từ Kinh Thánh thì đâu cần phải học về tư vấn mục vụ làm gì.  Thế nhưng thực tế thì:
    Các Mục sư lại quá bận rộn việc rao giảng, dạy dỗ, và môn đệ hóa, không đủ thời gian để làm công tác chăm sóc và tư vấn mục vụ cho tín hữu trong Hội Thánh.
    Trong khi đó, rất nhiều người thực sự đang có nan đề cần được giúp đỡ tích cực chung quanh chúng ta.

    Ngoài ra, mục tiêu tối hậu của Hội Thánh là “càng làm cho tình yêu của Đức Chúa Trời và người lân cận tăng thêm lên giữa vòng con người.”  Cách chúng ta có thể làm tăng thêm tình yêu của Đức Chúa Trời giữa vòng con người là rao truyền Đại Mạng Lệnh của Đức Chúa Trời cho mọi người ở mọi nơi (Ma-thi-ơ 28:19).  Trong Lu-ca 4:18-21, Chúa Giê-xu tuyên bố Ngài đang làm trọn các chức vụ đã nói đến trong Ê-sai 61.  Đó là chức vụ dành cho con chiên lạc mất trong ý nghĩa chúng được thi hành trên một nền tảng người đối với người.  Bởi vì công tác tư vấn là một chức vụ giữa người với người, nên những người tư vấn đang giúp đỡ cho con chiên lạc mất.  Và vì các mục tiêu của công tác tư vấn rất giống với mục đích của Hội Thánh, nên chúng ta có thể nói rằng tư vấn mục vụ là một hình thức đặc biệt và không thể thiếu trong chức vụ của Hội Thánh.


         TÍNH CÁCH ĐẶC BIỆT CỦA MỤC SƯ TRONG VAI TRÒ TƯ VẤN

    Trong lĩnh vực tư vấn, các Mục sư (hay những người hầu việc Chúa nói chung) dễ thành công trong việc đến gần đối tượng tín hữu và đạt kết quả trong việc hướng dẫn hơn so với những nhà tâm lý chuyên môn vì những yếu tố sau:

         Biểu tượng quyền năng của chức vụ:
    Trong cái nhìn của tín hữu, Mục sư là biểu tượng của Thánh chức và quyền năng.  Họ chính là hiện thân của thực tại bao gồm đức tin nơi Chúa, nơi truyền thông của Hội Thánh, nơi cách nhận định về ý nghĩa của đời sống, nơi năng lực của đức tin, và nơi chính Chúa.  Sự hiện diện của Mục sư thường có một năng lực làm sống lại trong lòng đối tượng những tình cảm thiêng liêng hướng về Chúa, làm thức dậy những thế lực tiêu cực trong tiềm thức của người tín hữu cần phải đương đầu, đối phó và khắc phục, cũng như khơi dậy những thế lực tích cực có thể mang lại sự chữa lành và năng lực cho đối tượng trong những khủng hoảng của đời sống.

         Tính cách chủ động:
    Trong cả hai ý nghĩa - mối quan hệ vốn có giữa Mục sư và đối tượng tín hữu, cũng như trong thời gian tư vấn.  Con cái Chúa thường mong mỏi sự hiện diện của Mục sư mỗi khi họ gặp khó khăn khủng hoảng, kể cả đối với gia đình các tín hữu thờ ơ đối với đức tin.  Mức độ đức tin, sự am tường, tính chân thật, sự giúp đỡ hữu hiệu, và mối quan tâm chân thật của tôi tớ Chúa khiến ông có đủ tư cách để chủ động trong việc tìm đến can thiệp trong những khủng hoảng của con cái Chúa, để đem lại những sự hướng dẫn thực sự gây dựng.

         Mối quan hệ giữa Mục sư với đối tượng tín hữu cần tư vấn:
    Mục sư thường đã có ít nhiều quen biết với đối tượng trong khủng hoảng, vì thế ông dễ đến gần họ trong cơn khủng hoảng, và ông cũng có môi trường Hội Thánh để tiếp tục duy trì sự nâng đỡ sau này.  Tuy nhiên, người hầu việc Chúa cần cảnh giác trước hiện tượng “thần thánh hóa,” tức là sự mong mỏi rằng từ Mục sư sẽ có mọi năng lực và giải pháp để giải quyết mọi nan đề của mình à Người hầu việc Chúa cần phải hướng sự hi vọng của tín hữu đến với chính mình Chúa.

         Cộng đồng tín hữu cùng đức tin:
    Cộng đồng tín hữu sẽ cùng tiếp tay nâng đỡ người trong cơn khủng hoảng.  Mục sư không nên đơn phương gánh vác công tác này mà cần chia sẻ với những người lãnhvấn thuộc linh khác trong Hội Thánh có tâm tình và khả năng, ân tứ trong lãnh vực tư vấn để cùng gánh vác với mình trọng trách này.


         TÍNH CÁCH ĐỘC ĐÁO CỦA TƯ VẤN MỤC VỤ

         Độc đáo trong quan điểm:
    Khác với những nhà tư vấn phi Cơ Đốc, hầu hết các nhà tư vấn Cơ Đốc đều xây dựng quan điểm trên sự hiện hữu của Đức Chúa Trời, các đặc tính của Ngài, bản chất của con người, thẩm quyền của Kinh Thánh, vấn đề về tội lỗi, sự tha thứ, và niềm hi vọng nơi tương lai. Niềm tin và quan điểm ấy ảnh hưởng sâu xa đến cách nhận định căn nguyên nan đề, cùng phương cách giải quyết.

         Độc đáo trong mục tiêu:
    Cũng giống như các nhà tư vấn chuyên nghiệp khác, chức vụ tư vấn nhằm giúp đối tượng có nan đề thay đổi hành vi, thái độ, quan niệm về giá trị, cách nhận định về cuộc sống. Nhà tư vấn Cơ Đốc cũng giúp các đối tượng một số kỹ năng cần thiết như:
    Kỹ năng giao tiếp, đối thoại, trình bày, diễn đạt cảm xúc, ước muốn, chọn lựa và quyết định.
    Cung ứng sự nâng đỡ, khích lệ, động viên trong những lúc cần thiết.
    Dạy tinh thần trách nhiệm, cung ứng sự sáng suốt hướng dẫn khi cần phải quyết định, giúp các đối tượng duy trì sự quân bình cần thiết cho nội tâm cũng như trong ngoại cảnh giữa cơn khủng hoảng.

    Tư vấn mục vụ cũng nhằm chỉ dẫn đối tượng kỹ năng và phương pháp giải quyết nan đề, tăng cường khả năng thích ứng với hoàn cảnh.  Ngoài việc giúp đỡ các đối tượng tín hữu thay đổi những giá trị, nhận định, thái độ, nếp sống, hoặc dạy họ về ý thức trách nhiệm, kỹ năng giao tiếp, các tôi tớ Chúa cần giúp cho con cái Chúa tăng trưởng về mặt thuộc linh qua sự ăn năn, xưng tội, dâng đời sống mình để sống dựa trên nền tảng Thánh Kinh thay vì chỉ dựa trên những giá trị của con người.

         Độc đáo trong phương pháp:
    v Tất cả kỹ năng tư vấn đều có ít nhất bốn đặc điểm:
    Ø Khơi dậy đức tin
    Ø Vạch ra những định kiến và nhân sinh quan sai lầm
    Ø Hướng dẫn và phát huy kỹ năng giao tiếp, đối thoại
    Ø Giúp đối tượng nhận thức được giá trị bản thân.

    Để đạt được những mục tiêu này, nhà tư vấn kiên trì dùng những kỹ năng căn bản như: lắng nghe, bày tỏ quan tâm, cảm thông, đề nghị phương cách giải quyết vấn đề.  Ngoài ra, các nhà tư vấn cũng nên cầu nguyện với đối tượng trong mỗi cơ hội tiếp xúc, làm sáng tỏ các chân lý Thánh Kinh liên quan đến chính trường hợp của họ, khuyến khích họ tìm ý nghĩa cho đời sống và giá trị bản thân qua sự dự phần trong công tác phục vụ C húa tại Hội thánh địa phương.  Trên hết là sự nhờ cậy Đức Thánh Linh dẫn dắt họ phải biết làm gì để giúp đỡ cho đối tượng tín hữu cách hữu hiệu nhất.

         Độc đáo trong phẩm chất của người tư vấn:
    Trong mỗi trường hợp, người tư vấn cần hỏi ít nhất 4 câu hỏi sau đây:
    Ø Nan đề bạn đang đối diện là gì?
    Ø Tôi có nên can thiệp và đề nghị biện pháp giúp đỡ chăng?
    Ø Tôi có thể làm gì để giúp bạn?
    Ø Có ai khác giải quyết được vấn đề này cách tốt đẹp hơn chăng?

    Người tư vấn cần phải hiểu rõ vấn đề, quan điểm của Kinh Thánh về vấn đề đó và nắm vững kỹ năng tư vấn.  Ngoài ra, người tư vấn cần có những đặc tính ân cần, nhạy bén, thông cảm, lòng chân thật quan tâm đến đối tượng, và tâm tình khuyên bảo trong sự yêu thương.  Chúa Giê-xu là một gương mẫu tư vấn truyệt vời đáng cho chúng ta noi theo.  Có lúc Ngài khuyên bảo, nâng đỡ.  Có lúc Ngài nghiêm khắc sửa sai và thách thức.  Trong công tác tư vấn, Chúa hoàn toàn trung thực, lấy hết lòng yêu thương, nhạy bén với tình trạng của đối tượng, và thể hiện tinh thần của một con người trưởng thành sâu nhiệm trong lãnh vực thuộc linh.  Ngài chấp nhận tình trạng tội nhân của con người, xem họ như là những đối tượng cần giúp đỡ.  Đồng thời Ngài đòi hỏi sự ăn năn, xưng tội, và tâm tình vâng phục Đức Chúa Trời.

    Thánh Kinh dạy rằng Cơ Đốc nhân phải dạy những kẻ tin mọi điều Chúa Giê-xu phán dạy.  Điều này bao gồm các giáo lý về Đức Chúa Trời, quyền tể trị của Ngài, sự cứu rỗi, sự tăng trưởng thuộc linh, sự cầu nguyện, Hội Thánh, tương lai, thiên sứ, ma qủi, bản chất con người....  Chúa cũng dạy về hôn nhân, mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái, sự vâng phục, sự tự do của người nam lẫn người nữ, mối quan hệ giữa các chủng tộc.  Ngài cũng dạy về cách đối diện với sự sợ hãi, lo lắng, cô đơn, nghi ngờ, kiêu ngạo, nản lòng....  Ngoài sự truyền đạt những điều trên, các nhà tư vấn cũng cần dạy đối tượng cách sống đẹp lòng Chúa, hòa đồng với mọi người, cũng như với chính bản thân mình.

    Trọng tâm giúp đỡ của các nhà tư vấn Cơ Đốc, dù riêng tư hay giữa Hội Thánh, chính là nỗ lực truyền đạt ảnh hưởng của Thánh Linh.  Sự hiện diện và ảnh hưởng của Ngài làm cho sự tư vấn Cơ Đốc trở thành độc nhất vô nhị.  Khi có được các phẩm chất của Ngài, được biểu tượng qua trái Thánh Linh, các nhà tư vấn sẽ thực hiện công tác này cách vô cùng hữu hiệu.  Ngài là Đấng an ủi, giúp đỡ, dạy chúng ta “mọi điều,” nhắc chúng ta nhớ lại những điều Chúa Giê-xu đã truyền dạy, cáo trách tội lỗi, và dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật.  Qua sự cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, xưng tội thường xuyên, quyết tâm theo Chúa mỗi ngày, các nhà tư vấn sẽ trở nên những công cụ của Thánh Linh dùng để an ủi, nhắc nhở, hướng dẫn dân sự của Ngài.  Mục tiêu mỗi người cần đặt ra là giúp người khác kinh nghiệm quyền năng thay đổi của Thánh Linh, trưởng thành trong phương diện tâm linh và phục vụ Chúa.
  • Lịch Sử Cơ Đốc Giáo Tại Việt Nam Chương I

    Lịch Sử Cơ Đốc Giáo Tại Việt Nam Chương I



    LỜI  G I Ớ I   T H I Ệ U
    Quyển  sách  41  NĂM   HAU  v i ệ c   c h ú a   v ớ i   h ộ i
    T H Á N H  TIN LÀNH VIỆT NAM của Giáo sĩ I. R. Stebbins là
    tư liệu lịch sử quan trọng, đây là  hồi ký của một trong những vị giáo sĩ tiên phong đã đem Tin Lành cứu rỗi  của Cứu chúa Jêsus Christ đến với dân tộc Việt nam.
    Quyển Hồi  ký  nầy chưa từng  được  xuất  bản bằng tiếng Anh hay tiếng Việt. Đối với tôi, những tư Liệu ghi chép trong đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì do chính gia đình của tác giả trân trọng giữ gìn và riêng tặng cho tôi.
    cầm quyển  hồi ký  cũ kỹ  với  những  trang đánh  máy  và những dòng chữ viết tay đã  ố vàng của tác giả,  lòng tôi tràn ngập niềm vui và cảm động. Đây là lời làm chứng chân thành của một vị  giáo sĩ tiên phong,  người đã  hiến dâng trọn cuộc đời  mình, chấp nhận mọi  gian nguy  thử thách,  quyết tâm đi đến những “M iền Xa xôi Hẻo Lánh" để rao truyền Tin Lành Cứu rỗi. Vì thế, qua những trang hồi ký ngắn ngủi đầy âp tình yêu  thương, tràn ngập những nụ  cười  rạng rõ' và  cũng không thiếu những giọt nước mắi đắng cay chua xót, chúng ta cảm nhận được bước đường vô cùng gian nan của các giáo sĩ đầu tiên, cũng như ơn phưc và những điều kỳ diệu mà Đức Chúa Trời đã ban cho Hội thánh của Ngài tại Việt nam.
    Giáo  sĩ  I.  R.  Stebbins  đã trân  trọng  ghi  lại  những  năm tháng đầu tiên gây dựng Hội Thánh Tin Lành Việt nam, những khó  khăn,  thách  thức  Hội  thánh  đa  trải  qua  trong  thời  gian gần nửa thế kỷ thi hành chức vụ giữa một dân tộc mà ông rất thông cảm và hết lòng yêu thương.  Bởi quyển năng của Chúa,
    từ những bước đi đầu tlên đó, hôm nay chúng ta có được một cộng đồng Cớ-đốc nhân  Việt  Nam luôn có đức tin mạnh mẽ, vì biết rằng cánh cửa địa  ngục sẽ không thắng được Hội Thánh của Đức Chúa Jésus Christ
    Nhận thức được giá  tri  của tập hồi ký, cũng như tin rằng gia đình giáo si cũng  sẵn  sàng chia  sẻ những tư liệu quí báu nầy với con dân Chúa người Việt nam ở khắp nơi, nên tôi đã chuyển tập hòi ký này  cho Tòa soạn Báo Đèn Linh, một tập san  của  Hội thánh  Tin  lành  Việt  nam  tại  Akron,  Ohio,  do Mục  sư Đặng  Ngọc Cang  lam  quản nhiệm.
    Một  số chương  trong  tâp  Hồi  ký  nầy  đã  được  dịch  ra Tiếng  Việt  và  đang  trên  báo  Đèn  Linh.  Độc  giả  khắp  nơi trên thế giới  đọc các  bài  trích đăng trên báo đã  viết thư,  gọi điện  thoại  yêu  câu  tòa  soạn  Báo Đèn Linh xuất  bản  thành sách.
    Hôm nay tôi xin hân hạnh giới thiệu quyển sách 41  NĂM HẦU  VIỆC  CHÚA  VỚI  HỘI  THÁNH  TIN LÀNH  VIỆT NAM của Mục sư  Giáo sĩ I  R  Stebbins đến với quí độc giả.
    Mong rằng cuốn Hồi  ký  nầy  sẽ  giúp độc giả  hiểu được một phần  nào lịch  sử hình  thành  Hội  thánh  Tin  lành  Việt  nam, để  mỗi  người  chúng  ta  thêm  lòng  biết  ơn  các  giáo  sĩ  tiên phong, nhữns người gieo hạt giông Tin lành, và dâng lời tôn vinh  chúc  tụng  Ba  ngôi  Đức  Chúa  Trời,  Đấng  đã  làm  cho Hội  thánh  tăng  trưởng.
    Akron,  Oh' 0
    Mùa Đông 2004
    Mục sư Đặng Ngọc Minh
    VỚI HỘI T hánh T in Lành V iệt N am
    Chương Một
    “Không có khải tượng, dân chúng phóng túng”
    Lịch sử hình thành Hội thánh Tin lành Việt nam là  công việc phi thường của Đức Chúa  Trời, nhưng những ai  đã  từng đóng góp nhiều tiền của, thời gian và sự cầu nguyện nhằm tạo nên sức mạnh lớn lao đó vẫn còn biết rất ít về câu chuyện nầy.
    NgỢi khen Chúa vì khải tượng mà Đức Chúa Trời đã ban cho Tiến sĩ A.B. Simpson, nhà sáng lập Hội Truyền giáo của chúng tôi. Tại một trong những Hội nghị Truyền giáo vĩ đại ông nói:  “Chúa phán cùng chúng ta một cách chính xác khi nào  Ngài  sẽ  trở  lại,  ông  trích  dẫn  lời  của  Đức  Chúa  Trời: “ Tin lành nầy vê nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất,  đ ể  làm  chứng  cho  muôn  dân.  Bấy  giờ sự cuối  cùng  sẽ đến”. Một ký giả có mặt trong buổi lễ và khi b ế mạc đã hỏi Tiến sĩ Simpson rằng ông có thật sự biết khi nào Chúa sẽ trở lại không. Tiến sĩ Simpson đáp rằng ông biết và lập lại câu Kinh thánh trong sách Ma-thi-ơ 24:14. Người ký giả lại hỏi:
    “Chỉ có thế thôi sao?” Tiến sĩ Simpson đáp: “Vâng, chỉ có thế thôi  Trong Hội nghị của Tiến sĩ Simpson, ông thường dùng sứ điệp tiên tri để hỗ trợ cho những lời kêu gọi và thông tin do các giáo sĩ mang về. Lắng nghe lời kêu gọi người tình nguyện đầy lòng trắc ẩn của Tiến  sĩ Simpson,  một nhóm các giáo  sĩ trẻ  tuổi đã  tiếp 41  NA M HẦU Việc  Chúa nhận khải  tượng của  ông làm khải  tượng của mình, rồi  tình nguyện đi Congo, Việt nam, và các khu vực khác nữa.
    Tiến sĩ R.A. Jaffray là một trong số những người đã nghe lời  kêu  gọi  đến  Trung  hoa  và  sau  nầy  chính  ông  là  người hướng dẫn một nhóm thanh niên nam nữ mạnh mẽ đi về phía nam đến một vùng đất bao la, đó là Đông dương thuộc Pháp.
    Vài  năm  sau,  nơi  đây  đã  có  sáu  Địa  hạt Truyền  giáo  trong một xứ, Địa hạt Bắc kỳ, An nam, Nam kỳ, Cao miên, Lào và Thượng đu. Trong những năm sau, Tiến sĩ Jaffray có một giấc mơ  khủng  khiếp,  ông  thấy  vô  số người  In-đô-nê-si-a  bị  hư mất  và  tuyệt vọng.  Ông  thấy  bàn  tay  mình  vấy  máu  và  sự kinh  hãi  khiến ông tỉnh giấc.  Khải  tượng nầy thôi  thúc ông phải làm một điều gì đó, và  hành động đã  đưa ông vượt qua ngoài biến giới của những nỗ  lực truyền giáo ban đầu. Khải tượnng nầy rất quí báu và cuối cùng ông đã chết nhưmột người tuận đạo,  nhưng ngày  nay có  hàng ngàn linh hồn nhận biết Đức  Chúa  Jêsus  Christ bởi  vì Tiến  sĩ Jaffray  đã  vâng  theo Khải tượng Thiên thượng.

    Lịch sử hình thành Hội thánh Tin lành Việt nam là  một câu chuyện đầy dẫy sự gian khổ, ngược đãi, đau đớn, chiến tranh,  tù  tội  và  chết chóc.  Có  thể  nói  một  cách chắc chắn rằng  hơn  một  trăm  ngàn  người Việt  nam  quí  báu  đã  đựỢc cứu, chịu phép Báp-têm  và  trở  thành tín đồ  của Hội thánh.
    Số tín đổ  hiện nay vào khoảng 43.000, đương nhiên con số nầỵ không chính xác bởi vì đất nước bị chia cắt thành Miền Nam việt nam Tự do  và  Miền  Bắc Việt  nam  Xã-hội  Chủ nghĩa: Lễ  Kỷ  niệm  Năm Mươi Năm Tin lành đến Việt nam được tổ chức tại Sài gòn năm  1961.  Mục sư Lưu và Mục sư
    Âp  cùng  với  tám  Truyền  đạo  khác  cô'  gắng  giúp  đỡ  Hội thánh rộng lớn ở Bắc kỳ  trong khi họ ở lại bên kia vĩ tuyến mười bảy. điều  nầy thúc giục chúng tôi cầu nguyện cho họ VỚI H ội Thánh Tin Lành V iệt N am nhiều  hơn.  Cánh  cửa  Địa  ngục  sẽ  không  thắng  được  Hội thánh của Đức Chúa Jêsus Christ.
    Và o ngày  Đình chiến kết thúc Thế chiến Thứ nhâ't, ngày nhóm giáo sĩ đầu tiên đến Việt nam, chỉ có bốn người còn ở lại Địa hạt Truyền giáo. Trong thời gian chiến tranh, chỉ có một nữ giáo sĩ trẻ tuổi được phái đến tăng cường cho Địa hạt Truyền giáo. Mục sư & bà w. c. Cadman, Mục sư & bà E. F. Irwin, những tôi tớ trung tín của Chúa đã không chịu nhượng bộ và về nhà. Những ngựời khác buộc phải ra đi vì có họ tên mang gốc Đức khiến người Pháp nghi ngờ họ làm gián điệp. Công việc bị đình trệ, không được phép giảng dạy nơi công cộng, nhưng họ vẫn vững vàng tiến hành  mục  đích  của  mình  là  đem  sứ  điệp  sự  sống  đến  cho những người Việt nam mà họ đã biết rõ và hết lòng yêu thương.
    Những người hỏi đạo đến với họ qua cửa sau và cộng tác Làm chứng tiếp tục. Chính quyền Pháp cho phép tiến hành công tác truyền giáo trong phạm vi Nhượng địa nhỏ bé ở Đà nẵng, nhưng không được vượt ra ngoài ranh giới. Sau bảy năm đầu tiên tập trung gieo trồng, họ đã gặt hái được một số thành quả và các giáo sĩ đã  vươn ra đến tận Hội an cách đó  20 dặm (1 dặm= 1.609 Km). Trước năm 1918chỉ có khoảng ba mươi hay bốn mươi người được cứu.
    Nước Pháp rất cảm kích sự trợ giúp củá Hợp chủng quốc Hoa kỳ  trong  thế chiến,  và  điều đỏ  ảnh  hưởng  đến  thái  độ của họ với các giáo sĩ lúc Đình chỉến.  Mục sư & bà Cadman được phép cư ngụ  ở thành phố Hà  nội,  thủ  đô  chính trị  của nước Việt nam thời Pháp thuộc, ở Bắc kỳ.
    hôm trước ngày Đình chiến, Tiến sĩ Jaffray cùng với bốn giáo sĩ đến Bắc kỳ, Việt nam. Đó là cô Mary Hartman, các ông Olsen, Jackson, và  Stebbins. Tiến sĩ Jaffray đã thấy trước sự cần thiết phải chuẩn bị cho các giáoSĨ mới nầy một sự khởi  đầu tốt đẹp. Khi ông biết Jackson và Stebbins  chưa  được  phong chức,  ông  nói  với  họ:  “Các  ông sắp đến một xứ do  người  Pháp cai  trị, cho nên các ông cần phải đến đó với tư cách là  nttững người đã được phong chức mục sư,  được trang bị  đầy đủ  và  sẵn sàng công tác. Hai ông có  bằng lòng không?” ông hỏi.  Đương nhiên họ hết sức vui lòng. Vì họ hãy còn ở Long châu (Wuchow), miền Hoa Nam, nên có mặt đủ các giáo sĩ đã được phong chức để biệt riêng hai thanh niên nầy làm Mục sư  Tin lành. Đó là cách làm việc của Tiến sĩ Jaffray khi cần đáp ứng nhu cầu, đồng thời, ông tỏ lòng tin tưởng Ban Hải ngoại  và Ban Giám đốc sẽ chọn những thanh niên nầy. Trong thời đại nền  giáo dục  tiến  bộ  rất nhiều,  phần lớn dân bản xứ ở các Địa hạt Truyền giáo trên thê giới không còn mù chữ nữa, nên điều có lợi cho tất cả các giáo sĩ, đương nhiên là nam giới,  có thể được phong chức trước khi ra đi. Đây không phải là trường
    hợp gây  uy  tín cho các  giáo  sĩ của chúng ta,  nhưng là  lòng mong muốn, khi  đến nơi  họ sẵn sàng cử hành mọi giáo nghi khi được yêu cầu. Sau chuyến viếng thăm ngắn ngủi Ông bà Cadman ở Hà nội, Tiến sĩ JafTray cùng với bốn giáo sĩ mới đi tàu thủy hướng về phía nam, đến Đà nẵng. Tiến sĩ Jaffray thường bị đau nặng khi đi tàu biển, đặc biệt khi có bão lớn. Đó là  một chiếc tàu rất nhỏ, nên Tiến sĩ Jaffray bị say sóng dữ dội, nôn mửa liên tục, cùng với bệnh yếu tim, đó là một cái giá về thể chất mà
    Tiến sĩ Jafĩray phải trả, nhưng ông không bao giờ chịu thua. Lúc đó Tiến sĩ Jaffray triệu tập Hội đồng Địa hạt Truyền giáo  thường  lệ.  Các  giáo  sĩ lớn tuổi không giấu được niềm vui khi thấy số giáo sĩ trong địa hạt tăng lên gấp đôi. Không bao lâu, giáo sĩ D. I. Jeffrey đến, số giáo sĩ trong Địa hạt lúc đó  được  mười  người.  Các giáo sĩ mới  thích thú tiếp xúc  lần đầu  tiên  với  người Việt  nam.  Họ  bối  rối  khi  được  biết  cần phải học nói tiếng Việt và cả tiếng Pháp nữa. Các giáo sĩ nầy hết lòng tin cậy nơi Tiến sĩ Jafĩray, nhưng họ chưa hiểu hết về những điều  trĩu  nặng  trong  lòng ông.  Ngay  trong  Hội  đồng Địa hạt Truyền giáo, họ bị thử thách một lần nữa khi ông treo kín trên tường những tâm bản đồ xứ Đông dương thuộc Pháp.
    Chưa có một giáo sĩ nào ở Việt nam được về phép để kể cho những người thân trong gia đình biết về Địa hạt Truyền giáo rộng lớn  tại  Việt nam,  vì  vậy, ngay cả  các -giáo  sĩ mới  nầy cũng chỉ biết hay hiểu rất ít. Trước hết, Tiến sĩ Jaffray cảm tạ  ơn Chúa vì giáo sĩ đã vào được thành phô Hà nội, Bắc kỳ. Kế, đến, ông khen ngợi Mục sư và bà Cadman đã hết sức cố gắng dịch các sách Tin lành Ma-thi-ơ và Mác ra tiếng Việt.
    Hiển nhiên là Tiến sĩ Jaffray hiểu rõ  những tăm bản đồ mà ông đang giải 'thích cặn kẽ cho chín giáo sĩ ngồi trước mặt ông. Ông nói: “Cảm tạ ơn Chúa về những gì Chúa đã cho làm được, và hiện nay chúng ta đã có thêm bôn người, chẳng bao lâu sẽ có thêm một giáo sĩ nữa, các ông thử nghĩ xem, chúng ta phải có k ế hoạch gì cho năm tới?” Olsen và Stebbins chăm chú và náo nức, tự hỏi họ có thể được gởi đến nơi nào để bắt đầu chức vụ truyền giáo.
    Dường như mọi người đều thấy rõ rằng lúc đó không thể xét đến  việc  tiến  thêm  nữa  vào  vùng  đất  mới.  Trong  cuộc thảo luận, hai cặp vợ chồng giáo sĩ lớn tuổi khẳng định rằng các giáo sĩ mới phải được bố trí ở những nơi đã có các giáo sĩ  lớn tuổi. Họ nhận thấy các giáo sĩ mới cần được giúp đỡ trong việc học ngôn ngữ và chẳng bao lâu có thể hỗ trợ cho hai địa điểm  truyền  giáo chính.  Đương  nhiên,  các  giáo  sĩ mới  cần phải được huấn luyện, và họ cũng chẳng nghĩ gì đến việc sẽ đi  đến một vùng đất mới,  tách  rời  sự trỢ  giúp cần  thiết của các giáo sĩ lớn tuổi hơn.
    Tiến sĩ Jaff'ray  lắng nghe mọi  ý  kiến  thảo  luận với  tinh thần cảm thông, rồi đứng lên, bắt đầu phác họa chương trình mà ông nghĩ cần phải thực hiện. Ông nhân mạnh: “Chúng ta phải tiến tới, phải chiếm giữ hai địa điểm  mới, một ở thành phố Hải phòng, Bắc kỳ, và một ở Sài gòn, Nam kỳ. Như vậy số địa  điểm  chiến  lược  được  chiếm  giữ  tăng  lên  gấp  đôi”.
    Ban đầu có sự phản đối mạnh m ẽ, nhưng chẳng bao lâu mọi người bị thuyết phục rằng không được để mất thời gian, rằng phải tiến lên ngay tức khắc. Thật vậy, đây là giờ phút trọng đại đối với R. M  Jackson vì ông sẽ đi Hải phòng, Bắc kỳ và chẳng bao lâu ông Jeffreỹ  sẽ đến cộng tác. Olsen và Stẹbbins xúc động dữ dội bởi quyết định lớn lao và quan trọng nầy. Cô Hartman tiếp tục ở lại Đà nẵng cùng với cô Marion Foster vẫn còn đang học tiếng.
    Các  giáo sĩ mới nhận thức được tay của Đức Chúa Trời đặt trên họ và cảm ơn Chứa vì có được một nhà lãnh đạo như Tiến  sĩ  R.  A.  Jaffray,  một  người  thấy  khải  tượng,  là  người hành động cần thiết cho Địa hạt Truyền giáo, chứ không phải là  một  người  có  ảo  tưỏng. Vào  lúc  b ế mạc  Hội  đồng,  ông Jackson đi ngay đến nhiệm sở mới thì một cơn bão lớn quét vào bờ biển phía nam. Quyền lực của sự tối tăm không cho phép chuyến đi suôn sẻ. Ông Irwin có thể thuê một chiếc xe Ford kiểu T để đi đoạn đường đầu tiên đến Qui nhơn, cách xa 200 dặm. K ế hoạch là  khởi hành vào sáng sớm hôm sau.
    Đ êm   đó  ông  òlsen   bị  đau  bụng  dữ  dội,  sau  đó  đến  lượt Stebbins.  Đau quá, họ  gọi Tiến  sĩ Jaffray,  và  trong khi đang xức  dầu  cho  họ,  bất  ngờ  có  một  con  chuột  khổng  lồ  chạy ngang qua phòng, dừng lại cắn mạnh vào chân Tiến sĩ Jaffray làm cho chảy máu.  Có  vẻ  như quyền lực ma quỷ  đang hiện diện trong phòng,  nhưng khi  tất cả  kêu cầu danh Chúa,  nài xin khẩn  thiết,  thì  đã  chiến  thắng.  Sáng  hôm  sáu,  Olsen  và Stebbins thấy khỏe hơn và đồng ý khởi hành.
    Mọi người đều cảm nhận có một cuộc chiến đang diễn ra trên trời. Cuối cùng họ lên đường.

  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.