ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • VỮNG TIN TRONG THÁNH CHỨC

    VỮNG TIN TRONG THÁNH CHỨC


    Nội Dung
    Lời tựa……………………………………………………………4
    1.     Sự Kêu Gọi Vào Chức Vụ……………………………………………...6
    2.     Sự Kêu Gọi Đến Một Hội Thánh………………………………………19
    3.     Mục Sư Trong Một Hội Thánh Mới……………………………………28
    4.     Tổ Chức Của Hội Thánh………………………………………………..45
    5.     Sự Giảng Dạy…………………………………………………………...55
    6.     Mục Sư Và Sách Vở……………………………………………………66
    7.     Những Buổi Nhóm Của Hội Thánh…………………………………….77
    8.     Những Sinh Hoạt Và Chương Trình……………………………………85
    9.     Sự Thăm Viếng………………………………………………………..101
    10.                        Hôn Nhân Và Li Dị……………………………………………………110
    11.                        Qua Đời Và Tang Lễ…………………………………………………..117
    12.                        Những Bạn Đồng Công……………………………………………….122
    13.                        Xử Lý Với Những Người Có Nan Đề…………………………………135
    14.                        Thuộc Viên Của Hội Thánh……………………………………………145
    15.                        Kỷ Luật Trong Hội Thánh…………………………………………….153
    16.                        Mục Sư Và Mái Ấm Của Ông………………………………………...160
    17.                        Những Vấn Đề Riêng Tư………………………………………………168
    18.                        Mục Sư Và Những Vấn Đề Ưu Tiên…………………………………181


    LỜI TỰA
    Đức Chúa Trời đã kêu gọi chúng ta trở thành những Mục sư và rao giảng Lời Ngài, và nói một cách hoàn toàn thẳng thắn, chúng ta vui hưởng điều ấy! Ông Philips Brooks đã đặt những lời này một cách đẹp đẽ trong những lời nhắn nhủ đầu tiên của ông trong Những Bài Nói Chuyện Về Giảng Dạy: “ Chúng ta hãy cùng vui với nhau vì trên thế giới này, bất cứ nơi nào có những sự tốt đẹp và niềm vui lớn lao để con người thực hiện, thì Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta điều tốt đẹp nhất và hạnh phúc nhất, đó là làm cho chúng ta trở nên những người rao giảng chân lý.”
    Thật là một đặc ân cho chúng ta được làm Mục sư trong Hội Thánh lớn cũng như Hội Thánh nhỏ. Tại làng quê cũng như trong thành phố. Và thật là một đặc ân lớn lao cho chúng ta được thi hành chức vụ trong những đại hội khác nhau trên khắp đất nước. Thông thường, phần thưởng lớn lao nhất là những đại hội giữa vòng các Mục sư là nơi chúng ta được gặp gỡ những anh em trong chức vụ và chia sẻ cho nhau những gánh nặng. Chúng tôi thường tổ chức những thì giờ giải đáp thắc mắc bằng cách dùng Lời Chúa và kinh nghiệm của mình để cố gắng khích lệ và làm cho nhẹ đi những gánh nặng của anh em mình.
    Những câu hỏi và những câu giải đáp trong quyển sách này được lấy ra từ những khóa hội thảo ấy. Chúng tôi thường được đề nghị là hãy cho xuất bản những câu hỏi mà nhiều người đang thắc mắc nhất, và đó là lý do để giải thích tại sao bạn có quyển sách này trên tay. Những câu hỏi này xử lý chủ yếu với Mục sư và công tác của ông trong Hội Thánh. Đây không phải là quyển sách về những nan đề thần học hay những thắc mắc về Thánh Kinh.
    Chúng tôi cũng khôn dám mong rằng tất cả quý vị Mục sư đều đồng ý với từng câu trả lời được đưa ra ở đây. Những chúng tôi thật mong các anh em xem xét mỗi câu trả lời một cách chân thật và xin sự hướng dẫn của Chúa. Chúng tôi không rắc thêm vào trang này với những lời như “ Tôi nhớ lại một lần kia” và “ Bây giờ, đây là điều xảy đến với tôi”. Quý vị Mục sư là những người bận rộn rất quý những câu trả lời đi thẳng vào vấn đề. Chắc chắn các vị Mục sư có thể viết ra những lời minh họa từ chính kinh nghiệm của mình!
    Xin đừng quên rằng chúng tôi viết ra đây kinh nghiệm của chính chúng tôi và vì thế nó không thể nói bằng sức mạnh với từng Hội Thánh địa phương. Chức vụ của chúng tôi đã được sử dụng trong những Hội Thsnh với những chức vụ độc lập, mặc dầu vẫn có sự thông công với những người có cùng đức tin. Chúng tôi ý thức rằng những giáo phái khác nhau có những cách giải quyết vấn đề khác nhau, đặc biệt là trong lãnh vực kỷ luật của Hội Thánh và sự kêu gọi vào chức vụ Mục sư. Tuy nhiên, chúng tôi nghĩ rằng các anh em Mục sư trong những Hội Thánh này vẫn có thể nhận được những ích lợi từ những điều chúng tôi phải nói ra đây.

    Phải nói rằng khi viết trên những trang giấy này  chúng tôi luôn suy nghĩ đến những vị Mục sư trẻ tuổi. vì một số những lý do nào đó, những vị Mục sư trẻ tuổi này đã không được dạy dỗ về những nguyên tắc căn bản tại trường lớp; và nếu chúng ta có thể cứu họ khỏi một số khó khăn và gian nan này, chúng tôi có cảm tưởng những nổ lực của mình được đền bồi phần nào. Nhưng có lẽ những Mục sư có kinh nghiệm cũng có thể lượm lặt được một vài ý tưởng hoặc được nhắc nhở về những nguyên tắc đã bị quên lãng. Người nào khoe khoang rằng ông đã có mười lăm năm kinh nghiệm trong chức vụ có lẽ đã nói không thật có lẽ ông chỉ có một năm kinh nghiệm trong chức vụ nhưng lặp lại mười lăm lần.

    Dầu sao đi nữa, chúng tôi gửi quyển sách này đi với lời cầu nguyện rằng sách sẽ hỗ trợ và khích lệ các anh em của chúng tôi trong chức vụ, để tất cả chúng ta đều trở nên hiệu quả trong việc chinh phục những linh hồn hư mất và gây dựng Hội Thánh của Đấng Christ.
    Howard F.Sugden
    Hội Thánh Báp tit Miền Nam
    Lansing, Michigan

    Chương Một
    SỰ KÊU GỌI VÀO CHỨC VỤ

    Làm thế nào để có thể khẳng định rằng tôi có được kêu gọi vào chức vụ hay không, và việc bảo đảm rằng mình được kêu gọi vào một chức vụ đặc biệt có tầm quan trọng như thế nào?

    Công việc của chức vụ thật đầy dẫy những đòi hỏi khó khăn đối với một người bước vào chức vụ ấy mà không cảm nhận về sự kêu gọi thiên thượng. thông thường nhiều người bỏ dở chức vụ là vì họ thiếu mất sự cảm nhận về tính khẩn cấp thiên thượng. Chỉ có sự kêu gọi rõ ràng từ nơi Đức Chúa Trời mới có thể giúp một người thành công trong chức vụ đến mãi mãi.
    Làm thế nào để biết rằng chúng ta được kêu gọi? Đối với một số người, có một kinh nghiệm về cơn khủng hoảng: Môi se tại bụi gai đang cháy, hay Ê-sai trong đền thờ…nhưng hầu hết mọi người thì đơn giản chỉ là một sự cáo trách không thể trốn thoát được mà Đức Chúa Trời đã đặt trên chúng ta. Phao lô bày tỏ như thế này: “ Vì có lẽ cần buộc tôi; còn không rao truyền Tin Lành thì khốn khó cho tôi thay!”  (I Cô-rinh-tô 9:16). Người được kêu gọi sẽ cảm nhận một sự thôi thúc bên trong và sự thôi thúc ấy sẽ không cho họ đầu tư đời sống mình vào bất cứ công việc nào khác.

    Song song với sự kêu gọi này là việc sỡ hữu những ân tứ và những phẩm chất mà Đức Chúa Trời đòi buộc nơi các công nhân của Ngài. Tốt hơn là người ứng cử vào chức vụ nên cầu nguyện và cân nhắc những lời của Phao lô trong I Ti-mô-thê 3:1-7 và Tít 1:5-9. không có một vị Mục sư nào cảm thấy mình được trang bị đầy đủ; ngay cả Phao lô cũng phải là lên rằng: “ Và ai có thể được trang bị đầy đủ cho những điều này? Nhưng người được Đức Chúa Trời kêu gọi cảm nhận rằng Đức Chúa Trời đã ban cho mình những ân tứ thuộc linh và những khả năng tự nhiên là những điều sẽ được tận hiến. được vun trồng và sử dụng vì cớ sự vinh hiển  của Đức Chúa Trời.

    Chắc chắn Mục sư phải là người có tâm tánh và hành vi không chỗ trách được. Người ấy phải thật lòng ao ước được hầu việc Chúa. Người ấy phải có một tấm lòng yêu mến Lời Chúa, thém được nghiên cứu Lời ấy và chia sẻ với những người khác. Yếu mến con người và cộng tác hòa hợp với họ. Có sự trưởng thành thuộc linh và những động cơ thiêng liêng. Nếu đã có gia đình, thì vợ hoặc chồng của người ấy phải đống ý với họ trong quyết định này.

    Cùng với sự thôi thúc bên trong và sự đánh giá chân thật về chính mình, còn cần phải có sự chấp thuận từ những người biết Chúa. Điều này không có nghĩa là chúng ta phải “ bàn với thịt và huyết,” nhưng có nghĩa rằng những người của Đức Chúa Trời sẽ xác định điều Chúa đã phán với một tấm lòng. Nếu một người cảm nhận rằng mình được kêu gọi để giảng dạy, người ấy nên bắt đầu vận dụng ân tứ của mình tại Hội Thánh địa phương và ở bất cứ nơi đâu mà Chúa tạo điều kiện cho mình. Spurgeon đã bắt đầu chức vụ bằng cách đi phát truyền đạo đơn tại những khu nhà tập thể; D.L Moody đã bắt đầu chức vụ bằng cách làm một nhân sự Trường Chúa Nhật. Dành thì giờ với một thánh đồ dày dạn ( có thể là vị Mục sư của bạn) để thảo luận về những vấn đề này và tìm kiếm sự dẫn dắt của Chúa điều rất khôn ngoan. Thật có ý nghĩa khi trong Kinh Thánh Chúa thích chọn những người bận rộn: Ghê-đê-ôn đang đập lúa mì; Môi se đang chăn chiên; Đa vít đang ở cùng bầy chiên của cha mình; Phierơ và Gia cơ đang đánh cá. Rất khó để lái một chiếc xe không tiến cũng không muốn lùi, và thông thường Đức Chúa Trời cũng không muốn dẫn dắt một tín hữu muốn “ sống thoải mái”.

    Thỉnh thoảng Hội Thánh sẽ cảm nhận về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời trên đời sống của một người thậm chí trước khi người ấy cảm nhận cho chính mình. John Knox được kêu gọi để giảng vào cuối bài giảng của John Rough trong lâu đài của St.Andrew, khi ông thầy buộc ông một cách nghiêm trang rằng ông phải “ đừng từ bỏ nghề thánh này”. Knox đã chạy vào phòng, cầu nguyện và khóc, rồi cuối cùng chạy ra vâng theo tiếng gọi. Truett đã có một kinh nghiệm tương tự khi ông bị một chấp sự lớn tuổi trong Hội Thánh Báptít tại Whiteright, Texas buộc vào chức vụ. Ông nói rằng: “ Tôi bị ném vào một giòng suối nên đành phải lội!”

    Một người không bước vào chức vụ vì đã thất bại trong hàng tá công việc khác, hoặc bởi vì không còn công việc nào để làm. Một lời khuyên xưa đã lập đi lập lại nhiều lần thật đáng giá để lập lại một lần nữa: Nếu bạn có thể ở ngoài chức vụ, hãy ở ngoài; vì điều này sẽ chứng minh rằng bạn không được kêu gọi để bắt đầu chức vụ. Người được Đức Chúa Trời kêu gọi sẽ biết rõ điều này nếu người ấy chân thật thuận phục ý Chúa.

    Một lời nhắc nhở: Nếu bạn có những ân tứ đặc biệt nhưng không được kêu gọi vào chức vụ dâng trọn thời gian, thì hãy tham gia thật nhiều với Hội Thánh địa phương và sử dụng ân tứ của bạn vì cớ vinh hiển của Đức Chúa Trời; nhưng đừng cố gắng làm Mục sư của Hội Thánh ấy. Một tín đồ bình thường nhưng trung tín và có ân tứ của Chúa, tự xem mình “ gần như là Mục sư” có thể trở thành một sự giúp đỡ lớn lao cho Hội Thánh nhưng cũng có thể trở thành sự cản trở cho Hội Thánh ấy. Nếu người ấy tôn trọng sự kêu gọi thiên thượng về chức vụ chăn bầy của ông Mục sư, thì sẽ trở nên một người hỗ trợ ích lợi cho ông. Còn nếu người ấy quyết định “ tự bước vào chức vụ”, sẽ tạo nên không biết bao nhiêu là phiền toái, đặc biệt nếu người ấy còn tự cho được ơn hơn ông Mục sư được Chúa kêu gọi.















    Chưa đánh trang 9

    Bắt đầu đánh trang 10

    Waterbeach, nên Đức Chúa Trời đã ban cho ông chức vụ lớn lao tại Luân Đôn. Người nào không trung tín  trong công tác nhỏ mọn không bao giờ có cơ hội để được tỏ mình là người trung tín trong những công việc lớn lao. Hãy bắt đầu từ nơi bạn đang ở; hãy làm những gì cần được thực hiện; và để Chúa mở đường.

    Có lẽ vị Mục sư trong Hội Thánh của bạn muốn cho bạn được phép giảng. Một sự cho phép như vậy là một sự sắp xếp giống như từ chiếc nhẫn đính hôn đến hôn nhân: đó là bước đầu và luôn luôn nó có thể bị hủy bỏ. Phao lô cảnh cáo những lãnh đạo trong Hội Thánh, “ Đừng vội vàng đặt tay trên ai” ( I Timôthê 5:22). Trước khi Hội Thánh đặt tay trên bạn để phong chức, phải bảo đảm rằng Đức Chúa Trời đã đặt tay Ngài trên bạn với một chức vụ hầu việc trọn đời. Thà kiên nhẫn và chắc chắn còn hơn là “ bốc” và bị xấu hổ.

    Hãy bắt đầu cầu nguyện và lập kế hoạch cho khóa huấn luyện chuyên biệt. Mục sư của bạn và những Cơ Đốc nhân trưởng thành có thể hướng dẫn bạn quan tâm đến những trường lớp đang có sẵn. Xin đừng dùng những lời bào chữa xưa rích rằng những nhà truyền đạo trứ danh không bao giờ cần phải đến trường! Spurgeo, Moody, Ironside, và G. Campbell Morgan chưa bao giờ tham dự bất cứ trường lớp nào về những khóa huấn luyện mục vụ; tuy nhiên, hai người trong số họ đã sáng lập ngôi trường để huấn luyện những nhà truyền đạo, và hai người kia đầy những tài năng do học hỏi. Họ biết tầm quan trọng của nền giáo dục.

    Hãy canh chừng sự tấn công của Ma quỷ trong giai đoạn này. Nó hay sử dụng những Cơ Đốc nhân khác để làm nản lòng những Mục sư tương lai, và thậm chí thỉnh thoảng còn sử dụng những Mục sư tiền nhiệm. Hãy duy trì một cuộc đời tận hiến mạnh mẽ. Hãy tận hiến cho Đấng Christ, nghĩa là hãy chịu kỷ luật và chịu làm việc! Hãy công bố Châm ngôn 3:5-6 và Thi-thiên 37:3-5.

    “ Chuẩn bị đầy đủ” cho chức vụ thật sự là gì?
    Đức Chúa Trời có rất nhiều đường lối để chuẩn bị một người, và chúng ta không bao giờ nên xem thường hay thắc mắc về những đường lối của Ngài. Ngài có một mụch đích cụ thể cho mỗi công nhân của Ngài, và chỉ một mình Ngài biết làm thế nào để chuẩn bị những công cụ của Ngài. Qui luật một: Hãy chăm mắt nhìn xem Ngài chứ đừng nhìn vào những Cơ Đốc nhân khác, đặc biệt là những vị Mục sư khác.

    Đức Chúa Trời có nhiều phương cách để chuẩn bị cho chức vụ. Chẳng hạn như sự chuẩn bị tổng quát đến từ đời sống hằng ngày. Phao lô là người may trại; Phierơ và Giacơ  là những người đánh cá; và chỉ với nghề nghiệp mỗi ngày, từng người trong họ đã học biết rất nhiều về con người và cuộc sống. Nhiều người đã học được một bài học đặc biệt trong văn phòng hoặc cơ xưởng, bạn đừng bao giờ xem thường những giờ lao nhọc của mình. Thật may mắn cho vị Mục sư nào dành thời gian và đã học hỏi từ kinh nghiệm làm một Cơ Đốc nhân trong công việc bình thường mỗi ngày của thế giới này có nghĩa là gì!

    Dĩ nhiên, cũng có những sự chuẩn bị cho “ nghề nghiệp” nữa chứ: nghiên cứ Lời, nhận biết những ngôn ngữ của Kinh Thánh, am hiểu giáo lý, và lịch sử Hội Thánh, và khóa huấn luyện thực tiễn để biết phải thực hành thế nào trong công tác phục vụ Cơ Đốc. “ Có khả năng dạy dỗ” là một trong những phẩm chất quan trọng cho chức vụ, và điều này đỏi hỏi chúng ta phải “ có khả năng học hỏi”. Chúng ta phải là người nhận lãnh trước khi chúng ta có thể là người ban ra. Người nào không học biết những nguyên tắc của việc học hỏi sẽ bao giờ đạt được tất cả những gì mà Đức Chúa Trời muốn người ấy đạt được trong chức vụ.

    Khi nói đến việc giáo dục thì đã có sẵn những phương pháp tùy chọn, và bạn cùng Chúa quyết định xem điều nào là tốt nhất cho bạn. Bạn có thể dành thời gian ba năm trong chủng viện được công nhận rồi ngưng lại, nhưng đây không phải là điều được đề nghị ( trừ khi tuổi tác là một yếu tố ngăn trở thật). Bạn có thể lấy ba năm đó và thêm vào hai năm nữa tại trường Kinh Thánh để có được mảnh bằng. Hoặc bạn có thể dành ra bốn năm đại học và ba năm tại chủng viện. Có một số người cảm nhận rằng mình được kêu gọi để có những bằng cấp, học vị ngày càng cao hơn, nhưng phải cẩn thận đừng dùng trường lớp như là phương tiện để trốn thoát khỏi những thực tế của chức vụ. Người ta rất dễ bị chết bởi bằng cấp.

    Dầu bạn đang theo học chương trình nào, chỉ cần bảo đảm bạn đang tiến bộ dần trong việc nhận biết cách thức sử dụng những công cụ cơ bản của chức vụ. Một kiến thức hiểu biết về Kinh Thánh thật sống động là điều căn bản. Hãy cố gắng nắm chặt lấy những nền tảng của ngôn ngữ Thánh Kinh, mặc dầu thậm chí bạn dự định sử dụng từ điển hoặc những bản dịch khác nhau. Một số khóa học rất hay về giảng dạy là điều cần thiết yếu! Hãy học cách làm thế nào để chuẩn bị và trình bày một sứ điệp từ trong Lời Chúa! Những khóa học căn bản về thần học sẽ giúp bạn nhận ra tà giáo khi bạn gặp chúng, và cũng giúp bạn không bị rối trí mâu thuẫn trong sự giảng dạy của bạn. Lịch sử và triết học có thể rất khô khan, nhưng những môn này sẽ cho bạn những quan điểm và chiều sâu.

    Dĩ nhiên, bạn phải là một người sẵn sàng học hỏi trong cả cuộc đời của mình! Bất cứ điều gì ông Mục sư kinh nghiệm và đọc được đều là một phần của kho báu thuộc linh của ông, và ông có thể đầu tư những điều này vào trong công việc Chúa. Ông Mục sư phải xem Kinh Thánh là quan trọng nhất nhưng ông cũng đọc những sách khác nữa. Ông sẽ đọc “ Quyển Sách của Cõi Thiên Nhiên” Và “ Quyển Sách Về Nhân loại” nữa. Ông sẽ thường xuyên nhận ra được nơi đâu chân lý động đến đời sống, và tại chỗ đó ông sẽ nuôi dân sự của mình bằng lẽ thật đời đời trong Chúa Giê xu Chrisrt.

    Nói tóm  lại: Hãy để Chúa dẫn bạn đến trường lớp nào có thể chuẩn bị bạn tốt nhất cho công việc mà Chúa kêu gọi bạn thực hiện. khi bạn đã đến nơi rồi, hãy tận hiến chính mình cho việc học hỏi, bởi vì bạn sẽ không bao giờ có lại những năm chuẩn bị này đâu. Đừng xem việc học hành như là một giai đoạn nghỉ ngơi hoặc một bước ngoặc trong đời sống bạn, nhưng nên xem đây là một phần trong sự vâng phục ý chỉ của Chúa. Sự học rộng là cương vị của người quản lý. Ban đang thi hành chức vụ cho Chúa trong việc nghiên cứu cũng như trong bài giảng của bạn, vậy hãy trung tín. Có những lúc bạn bị cám dỗ muốn trốn khỏi trường và “ bước ra khỏi công việc”. Hãy chống lại những cám dỗ đó! Tiến sẽ W.B.Riley nói rất hay như sau: “ Nếu công việc trong trường học buộc bạn phải trở thành học sinh, thì một trong những sự chuản bị thiết yếu cho việc giảng dạy đã hoàn tất rồi. Nếu bạn rời trường lớp mà không hề yêu mến việc học hỏi, thì nền tảng của trường học có giá trị nhỏ nhoi quá” ( The Preaching and Hí Preaching) Wheaton, III Soword ò the Lord, 1948, page 21).

    Chúa có gọi một người mãi mãi ở trong chức vụ không?
    “ Ai đã tra tay cầm cày còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng cho ta.” ( Luca 9:62). Dường như suốt cả Thánh Kinh đều nhấn mạnh đến sự kêu gọi mãi mãi. Xin đừng bước vào chức vụ với thời hạn! Thật là không khôn ngoan khi xin Chúa cho có một điều khoản trốn thoát trong hiệp ước. Cặp vợ chồng nào bước vào hôn nhân mà bảo rằng, “ Này, chúng ta có thể li dị bất cứ lúc nào nếu chẳng thấy ích lợi gì! Là đang mở cửa cho nan để; và cũng tương tự như vậy với ông Mục sư tự nhủ rằng, “ Nếu tôi thấy không thuận tiện, tôi có thể chọn một nghề khác bất cứ lúc nào.”

    Chức vụ không phải là “ một nghề” nhưng đó là sự kêu gọi thiên thượng! “ Vì các sự ban cho và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời chẳng hề đổi lại bao giờ” ( Rooma 11:29). Người được kêu gọi mà lại chạy khỏi ý chỉ ấy sẽ giống như Gioona, khám phá ra rằng chẳng có nơi nào để trốn.

    Điều này không có nghĩa là Chúa sẽ không bao giờ thay đổi phạm vi chức vụ của một người. Nhiều Mục sư trung tín đã được dẫn dắt từ chức vụ tại Hội Thánh địa phương đến chức vụ dạy dỗ, công tác truyền giáo, dạy Kinh Thánh cho đại hội, hoặc có trách nhiệm với cả một giáo phái. Đôi khi cơn khủng hoảng trong gia đình đòi hỏi một sự thay đổi của chức vụ. Đã từng có một số người phải thay đổi phạm vi hầu việc Chúa để có thể chăm  sóc cho người vợ bị tàn tật hoặc cha mẹ già yếu.

    Mỗi một đầy tớ của  Chúa đều có lúc này hoặc lúc khác cảm thấy chính cá nhân mình không xứng hợp với công tác của chức vụ. Ông Marcus Dods vĩ đại đã viết trong nhật ký của mình rằng, “ Không có ngày nào trôi qua mà không có những cám dỗ như bão táp khiến phải bỏ cuộc, trên mảnh đất mà tôi đứng không vừa với công tác của một Mục sư. Thông thường, soạn bài giảng là công việc lao nhọc nhất; đi thăm viếng thì thật khủng khiếp”. Tuy vậy, Marcus Dods trở thành một sức mạnh lớn lao cho Chúa, và các Mục sư ngày nay vẫn đang đọc sách của ông.

    Khi giờ ấy đến và bạn thấy muốn bỏ cuộc. Đừng, Đức Chúa Trời đã kêu gọi bạn, Đức Chúa Trời ở cùng bạn, và Đức Chúa Trời sẽ sử dụng bạn để hoàn tất những mục đích của Ngài. Thay vì từ bỏ công việc và lời thề hứa thiêng liêng, hãy ở riêng với Chúa! “ Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Giê xu Christ” ( Philip 1:6)

    Một người lớn tuổi có nên cân nhắc về sự kêu gọi vào chức vụ không?
    Dường như có rất ít bằng chứng cho thấy rằng sự kêu gọi của Chúa luôn dành cho những người trẻ. AMốt và Môi se đã tương đối ổn định nghề nghiệp khi Chúa kêu gọi họ rao giảng. Thật ra, người cao tuổi còn có một số lợi diểm mà người trẻ không có: kinh nghiệm trong đời, cẩn trọng về những mục tiêu, chỉ trường thành qua trường lớp mà thôi thì không bao giờ có thể truyền đạt được hoặc có cảm nhận đúng về những giá trị. Nhiều nhà sư phạm tuyên bố rằng những học viên lớn tuổi của họ vượt xa những học viên trẻ tuổi, vì họ phải cố gắng rất nhiều.

    Dĩ nhiên, cũng có vài điểm bất lợi: giá rất cao về việc nhổ cọc lên và bắt đầu một đời sống mới, dòng suối cứ mãi trôi chảy của thời gian, sự dán chặt vào nhiều điều và có lẽ là một lối sống phong phú, sự khó khăn của việc trở lại làm học sinh. Nhưng mỗi một hòn đá vấp chân của sự kêu gọi như thế sẽ trở thành tảng đá để người nào tin cậy Chúa có thể bước lên. Điều quan trọng không phải là tuổi tác của người ấy, nhưng là sự sẵn lòng vâng lời Đức Chúa Trời bất chấp giá phải trả là gì.

    Trong nhiều phương diện, tuổi tác là tình trạng của tâm trí. Hãy gieo trồng một nhân sinh quan có đức tin, và bạn sẽ luôn luôn trẻ trong tấm lòng và trong tâm linh. Chúng tôi đã có lần đọc thấy câu khẩu hiệu nơi một bàn làm việc: “ Già cả không phải là vấn đề, chỉ là một mặc cảm xấu mà con người bận rộn không bao giờ có thì giờ cho mặc cảm ấy.”

    Vợ bạn hoặc người yêu đóng vai trò gì trong việc bạn được gọi vào chức vụ?
    Cô ta đóng một vai trò rất quan trọng! Người vợ là người giúp đỡ chứ không phải người cản trở. Một Đức Chúa Trời nắm quyền tể trị, biết rằng Ngài sẽ kêu gọi một người vào chức vụ, chắc chắn cũng hướng dẫn người ấy chọn một người vợ là “ kẻ giúp đỡ giống như nó”. ( Sáng 2:18). Những nan đề của chức vụ rất lớn lao, lại phải thêm vào gánh nặng của một gia đình bị phân rẽ chắc sẽ làm cho nặng nề hơn nhiều.

    Nếu người nam đánh đính hôn với một người nữ Cơ Đốc không cảm nhận về một sự kêu gọi tương tự như vậy, thì người nam ấy nên từ hôn: hoặc người nữ ấy hãy tìm kiếm ý chỉ của Chúa và đầu phục, nếu đó là điều cần thiết. “ Nếu hai người không đồng ý với nhau, thì há cùng đi chung được sao?” ( A Mốt 3:3).

    Người nam đã lập gia đình rồi đối diện những nan đề khác hơn và khó hơn. Nếu vợ là một người yêu thích công việc nhà và yêu người phối ngẫu của mình, thì chẳng có nan đề gì; bởi vì vợ ông Mục sư trước hết phải là người “ chăm sóc gia đình mình”. Cô ta không cần phải là diễn giả gây xúc động của một bữa tiệc, một nhạc sĩ có tài, hoặc một cô giáo thành công mới có thể trở thành một người vợ giỏi của ông Mục sư. Nhưng nếu cô giữ cho “ guồng máy gia đình” chạy trôi chảy để chồng có thể hoàn tất chức vụ của ông, thì cô đã làm trọn công tác quan trọng nhất.

    Rủi thay, một số sách vở được viết ra cho vợ của các Mục sư lại đe dọa các cô các bà coi chừng sẽ bị mất trí thông minh. Hãy để cho cô ấy cầu nguyện và nói chuyện với một “ bà mẹ trong Y-sơ-ra-ên” nào đó có kinh nghiệm, trước khi cô quyết định là mình có thích hợp với chức vụ hay không. Đức Chúa Trời biết lòng người, và nhiều điều người ta viết trong sách vở chẳng bao giờ xảy ra.

    Phải có sự đồng ý và hòa hợp gia đình. Và điều này là thật với tất cả các gia đình Cơ Đốc chứ không phải chỉ với gia đình của Mục sư; cho nên nếu việc kêu gọi vào chức vụ đem đến những phản ứng quá đáng, thì có điều gì đó sai trật tận gốc rễ trong cơ cấu nền tảng của gia đình bạn. Những điều này nên được tiến hành một cách yêu thương và kiên nhẫn, dưới sự hướng dẫn của một Mục sư trưởng thành thì hơn.

    Đã có nhiều hơn một ông Mục sư hầu việc Chúa mà không có sự giúp đỡ của vợ mình, bạn không thể làm gì được ngoài việc cảm thương cho họ và con cái họ. “ Loài người ở một mình thì không tốt” ( Sáng 2:18). “ Hai người thì hơn một” ( Truyền đạo 4:9). Ông John Wesley tội nghiệp đã lập gia đình với một bà vợ có tính hay nghi ngờ đã từ chối sống với ông và cùng ông chia xẻ chức vụ. Nhưng bà vợ nào lại muốn dùng cả cuộc đời của mình để ngồi trên lưng ngựa như Wesley? Dĩ nhiên, một người đàn ông đã lập gia đình phải cân nhắc đến bất cứ đứa con nào tham dự trong hôn nhân của họ ( I Tim 5:8). Đức Chúa Trời không thường hay giật sập một điều gì đó để có thể gây dựng một điều khác.
    Khi những lời hứa nguyện trong hôn nhân đứng trước những lời hứa nguyện của chức vụ, thì việc đặt tay không tự động hủy bỏ những điều ấy đâu. Người đàn ông có thể phải dừng lại ở “ điều tốt hạng nhì” nếu khám phá ra rằng mình đã có một cuộc hôn nhân ra ngoài ý Chúa. Vậy người ấy hãy cố gắng hết sức mình vì cớ vinh hiển Đức Chúa Trời và tìm kiếm sự khích lệ trong lời Chúa phán với Đavít: “ Ngươi có rắp lòng cất một cái đền cho danh ta, ấy thật phải lắm” ( II Sử ký 6:8).

    Tôi là một người đã bỏ chức vụ Mục sư. Làm sao để tôi có thể trở lại với chức vụ?
    Hãy bắt đầu, sau khi cầu nguyện nhiều và rà soát lòng mình, bằng cách nói chuyện với một vị Mục sư mà bạn biết và tin cậy. Một số câu hỏi bạn phải trả lời thành thật là, Tại sao tôi đã bỏ chức vụ? Nan đề đó đã được giải quyết cách tốt đẹp chưa? Bây giờ tôi có đang ở trong chỗ phước hạnh của Chúa để Ngài có thể tái sử dụng tôi không? Tôi đã từng thực hiện những bước cần thiết để phục hồi lại những thiệt hại mà tôi đã gây ra chưa? Còn có những tâm tánh yếu đuối nào cần xử lý trước khi tôi trở lại chức vụ không?

    Giăng Mác là người đã bỏ chức vụ, nhưng Chúa đã phục hồi ông và sử dụng ông cách lạ thường. Ngay cả sứ đồ Phao lô vĩ đại cũng phải thay đổi cái nhìn của ông về Mác ( Hãy đọc Công vụ 15:36-41), Cô-lô-se 4;10, và II Ti-mô-thê 4;11). Cả Giô na và Phi-e-rơ đều thất bại trước sự kêu gọi của mình, tuy vậy Đức Chúa Trời đã tha thứ và phục hồi họ. “ Và Ngài lấy mà nắn cái bình khác, tùy ý mình muốn làm” ( Giê-rê-mi 18:1-4).

    Trên hết, hãy yên nghỉ nơi Lời Chúa, chứ  không phải nương  vào những ý kiến của loài người. Đa vít bày tỏ một chân lý rất lớn lao sau khi ông đã phạm tội, “ Ta xin sa vào tay Đức Giê hô và, vì sự thương xót của Ngài rất lớn; chớ để ta vào tay của loài người” ( I Sử ký 21:31) Đôi khi những vị Mục sư khác có thể kết tội và làm cho bạn rất nản lòng! Đức Chúa Trời đã hứa tha thứ ( I Giăng 1:9) và phục hồi lại mối thông công và ban phước. Hãy yên nghỉ nơi lời hứa của Ngài!


    <span class="post-labels">

    Filed Under:
             
    <a href="http://www.mybloggertricks.com/search/label/Vững Tin Trong Thánh Chức" rel="tag">SEO</a>

    </span>

  • Tận Hiến Tột Cùng

    Tận Hiến Tột Cùng

    Giới thiệu
    Những tín hữu bạn gặp trong sách này không phải là nạn nhân; họ là những người chiến thắng. Những câu chuyện về họ trải dài suốt lịch sử, từ những môn đồ của chính Chúa Giê xu cho đến những người tuận đạo thời nay. Những người bắt bớ thuộc đủ mọi hạng, từ người La Mã đến người Rumani, từ quân kẻ cướp đến người Hồi Giáo, từ người theo khổng tử đến người cộng sản.
    Mỗi một tín hữu này đều là tấm gương sáng cho chúng ta, tấm gương về lòng tận hiến cho Đấng Christ. Các tín hữu mà bạn sẽ đọc câu chuyện của họ trong những trang này là những người đã tìm được lòng khao khát thậm chí còn sâu sắc hơn cả ý muốn cơ bản của con người để tự bảo tồn: Khao khát để hầu việc Đấng Christ và làm nhân chứng cho Ngài.
    Lúc bắt đầu biên soạn quyển sách này, chúng tôi bước vào một kỷ nguyên mới tại nước Mỹ. những biến cố ngày 11 tháng 9 năm 2001 thay đổi bộ mặt của thế giới tự do và đẩy hết thảy chúng ta vào một thời kỳ đầy thắc mắc – thời kỳ mà nhiều người sẽ nhìn vào Hội Thánh để tìm câu trả lời – một thời kỳ mà Hội Thánh sẽ ngước nhìn lên Đức Chúa Trời và quyền tể trị tối thượng của Ngài để tìm được sức mạnh.
    Mục tiêu cuối cùng của chúng tôi ấy là quyển sách này được dùng để mở rộng lối suy nghĩ và tác động đến những hành động của chúng ta khi chính chúng ta đối diện với những khó khăn lớn lao. Lấy ví dụ, chúng ta đáp ứng thế nào với những người làm ác cho chúng ta? Đấng Christ đã đáp ứng thế nào? Cơ Đốc nhân trong quá khứ đáp ứng thế nào? Thái độ đối với người khác đức tin sẽ phải thế nào nếu họ dùng bạo lực chống đối chúng ta? Liều bỏ mọi sự để nếm và chia sẻ tình yêu của Đức Chúa Trời với những người có thể giết chúng ta vì cớ chúng ta làm như vậy thì có đúng không?
    Quyển sách này không trả lời mọi câu hỏi ấy, nhưng chắc chắn sẽ thách thức đức tin của bạn. khi đọc câu chuyện về những Cơ Đốc nhân đã chịu khổ, chịu những hành động tàn bạo khôn tả vì cớ Đấng Christ, hãy nhìn vượt xa hơn thảm kịch và gian khó để khám phá những châu ngọc ẩn bên dưới bề mặt.
    Hãy tập trung vào đức tin chứa đựng trong lời làm chứng của những anh chị em can đảm này. Hãy nhận thấy chính Đức Thánh Linh đang ngự hoặc đã ngự trong họ cũng chính là Đấng đang ngự trong bạn, và tin bạn có cùng một lượng đức tin như vậy dành sẵn cho mình trong bất kỳ hoàn cảnh cùng cực nào.
    Khi đọc qua những câu chuyện này, bạn cũng sẽ thưởng thức đúng khía cạnh triệt để của đức tin nhờ hiểu được thần học về sự chịu khổ.
    Phần đầu tiên để hiểu được thần học này chính là nhận biết những câu chuyện này không phải là những bản ký thuật tuyệt vọng về sự tra tấn. những tín hữu này cũng không phải là những “ siêu” Cơ Đốc nhân. Đương nhiên họ nổi bật bởi can đảm, kiên cường vượt quá hiểu biết  của con người, và tận tụy với Đấng Christ đến độ đôi khi khó hiểu nổi. nhưng trong thực tế, họ là những Cơ Đốc nhân bình thường giống như chúng ta đang đối diện với những tình huống phi thường.
    Vậy yếu tố dường như mầu nhiệm nào đã khiến họ có được “ Lòng tận hiến tột cùng” như thế?
    Nói đơn giản, đức tin của họ nơi Đức Chúa Giê xu Christ là Chúa, và đó chính Là điều khiến họ chịu khổ. Một mình đức tin là đủ rồi. chịu khổ trong tay con người có thể là điều không tài nào chịu đựng nổi. nhưng khi kết hợp vương quốc của Đấng Christ với đức tin, sự chịu khổ làm vững mạnh tấm lòng những Cơ Đốc nhân nào sẵn sàng chịu mất chính mình để được Đấng Christ nhiều hơn. Những người tuận đạo trong sách này thảy đều có chung niềm say mê Đức Chúa Trời. Đây là niềm say mê đã thắng hơn nổi sợ hãi những hậu quả kinh khiếp khi bắt gặp đang chia sẻ tình yêu của Chúa cho người khác.
    Có lẽ một phần đam mê của họ xuất phát từ chỗ giá phải trả rất đắt của điều mình có được. Khi đức tin đòi chúng ta phải trả giá một điều nào đó, thì đức tin càng vô cùng quý giá. Chính phương diện này trong bản tánh con người đã giúp làm vững mạnh những Cơ đốc nhân đang sống dưới những chính quyền đàn áp không cho phép tự do tín ngưỡn.
    Thánh Augustine đã có lần nói: “ Nguyên nhân chịu khổ - chứ không phải sự chịu khổ - mới làm nên một nhà tuận đạo chân chính.”
    Theo nguyên văn Hy Lạp, chữ “ Người tuận đạo” thực sự có nghĩa là “ chứng nhân.”
    Những người tuận đạo trong sách này đã có thể đích thân làm chứng cho Lẽ Thật và quyền năng của Đức Chúa Giê xu Christ, và tin rằng họ phải đem lời chứng đó đến cho người khác, bất luận phải trả giá nào.
    Trong vỡ kịch “ Vụ Sát Nhân Tại Đại Giáo Đường, T.S Eliot mô tả người tuận đạo là người “ người đã trở thành công cụ của Đức Chúa Trời, người đã dầm thấm ý muốn của mình trong ý muốn của Chúa, không phải là đánh mất nhưng là tìm được ý muốn ấy, vì đã tìm được tự do trong sự thuận phục Đức Chúa Trời. Người tuận đạo không còn khao khát bất cứ điều gì cho riêng mình, ngay cả đến vinh quang của sự tuận đạo cũng không.”
    Làm một chứng nhân sẽ đưa bạn lên ngay tiền tuyến. Mục sư E.V. HILL có lần kể chuyện một người nữ kia đến nói với ông: “ Thưa Mục sư HILL hãy cầu nguyện cho tôi. Ma quỷ đang chạy theo tôi.” Mục sư HILL bảo bà: “ Ma quỷ không chạy theo sau bà đâu. Bà chưa làm được điều gì đủ cho Ma quỷ đeo đuổi bà.”
    Mục tiêu của hết thảy Cơ Đốc nhân phải là “ làm việc đủ” cho Nước Đấng Christ đến nổi khiến Ma quỷ phải chú ý đến chúng ta.
    Khi một dạng chịu khổ nào đó xảy đến cho bạn vì cớ bạn làm chứng cho Đấng Christ, chúng tôi mong rằng chính bạn, cũng giống như những người trong quyển sách này, được kinh nghiệm sự vinh hiển và vẻ đẹp của lòng tận hiến tột cùng.
    Ngày 1   THỔ NHĨ KỲ: ERCAN SENGUL
    Khi Ercan Sengul dâng đời sống mình cho Đấng Christ tại nước Thổ Nhĩ Kỳ Hồi Giáo, có người xem anh đã xây lưng lại với di sản và đất nước mình. Khi nói mình sẽ làm bất kỳ việc gì cho Đức Chúa Trời, thì lúc đó anh đã thực ý nói như vậy. Nhưng bây giờ thì sao?
    Ercan ngồi trong xà lim tối tăm nhớp nhúa giữa những bạn tù. Anh bị cảnh sát địa phương bắt vì bảo anh “ lăng mạ Hồi Giáo” bằng cách phân phối sách cho một nhà xuất bản Cơ Đốc.
    Ercan lớn tiếng kêu cầu với Chúa, nài xin Chúa giải cứu. Anh biết mình không làm gì sai để đáng bị nhốt vào đây. Đức Chúa Trời thầm thì vào lòng của Ercan: “ Con đã nói sẽ làm bất kỳ việc gì cho ta mà. Có đúng con muốn nói như vậy không?” Tan vỡ trước mặt Chúa, Ercan khóc và thờ phượng Ngài. Anh thưa với Chúa bằng cả tấm lòng: “ Con thực sự muốn nói như vậy.” Ercan bắt đầu giảng mỗi ngày ba giờ trong tù. Anh đã biết Chúa cho phép bị tù để ban cho anh một cánh đồng truyền giáo mới! Ercan bị tù ba mươi ngày cho đến khi những nhân chứng thừa nhận rằng cảnh sát đã ép họ phải ký vào tờ khai, và thẩm phán không tìm thấy bằng chứng anh có tội.
    Vụ bắt giữ đã phát triển việc chứng đạo của Ercan. Từ khi anh được thả ra, rất nhiều người chung xà lim với anh đã đến thăm Hội Thánh, tìm hiểu về Đức Chúa Trời là Đấng đã ban cho anh sự bình an đang khi bị nhốt trong tù. Ercan vẫn sung sướng phân phối những quyển sách Cơ Đốc, dầu biết mình có thể bị bắt trở lại.
    Hầu hết Cơ Đốc nhân đều thừa nhận khi nói mình muốn được Đức Chúa Trời sử dụng, thì họ hoàn toàn không nghĩ đến sự chịu khổ. Đương nhiên, chúng ta muốn sống bày tỏ ra đức tin mình – nhưng không đến mức phải chịu bắt bớ. chúng ta tức giận khi bị bỏ qua không được thăng chức hay tăng lương tại sở làm, hay bị loại khỏi những dịp giao tiếp trong xã hội.


    Chúng ta cảm thấy bị khinh thường. bị lường gạt. Bị tước đoạt. Tuy nhiên, chúng ta phải sẵn lòng tìm kiếm Chúa trong tinh thần cầu nguyện giữa những lúc thất vọng. Chính trong giây phút tìm kiếm Ngài, chúng ta sẽ thấy sự cầu nguyện thay đổi quan điểm của mình. Chúng ta bắt đầu nhìn thấy những cơ hội để tăng trưởng. Chúng ta nhận lấy niềm hy vọng. Chúng ta tìm được những lời hứa giữa cơn đau đớn. Cuối cùng, chúng ta bắt đầu khám phá ra rằng tình huống hiện tại dù bất công hay không xứng đáng phải gánh chịu đến đâu đi nữa, hoàn cảnh chúng ta có thể là một phần trong kế hoạch của Chúa. Khi cầu nguyện xin Chúa ban cho nhãn quan của Ngài đối với sự bắt bớ, chúng ta tìm được can đảm để vâng lời bằng mọi giá.
  • Hồi Ký

    Hồi Ký

    Bất cứ ai cũng có một khoảng trống nào đó trong tâm hồn, khoảng trống đó ngay cả vợ  bạn, con bạn, chồng bạn, bố mẹ bạn, nhà cửa hay tiền của cũng không thể lấp đầy được.
    Chúa dựng nên con người và cho con người có khoảng trống mà chỉ có duy nhất Ngài mới lấp đầy, chỉ có Ngài mới làm đầy trọn của tâm hồn trống đó.
    Tôi thường đi một mình, tôi thường khóc một mình, tôi cầu nguyện một mình. Chỉ đến  khi được sự đụng chạm của Ngài tôi mới thấy mới đáng sống.
    Nếu bạn giống như tôi, bạn đang có một nỗi trống vắng, đôi khi hụt hẫng đó chính là phút bạn nhận ra bạn cần có Chúa hơn bao giờ hết.
    Nếu bạn đang bị bệnh, bạn từng mơ ước được lành, bạn muốn được một Mục sư nào đó đầy ơn chạm đến thân thể bạn. nhưng ngay cả người Á Châu, Âu Châu hay Phi Châu đặt tay trên bạn thì bạn không nên hỏi trong đầu rằng: Mình được lành chưa nhỉ? Hay liệu mình có được lành không?
    Mình đã uống rất nhiều loại thuốc, tây có ta có, mình chẳng khác nào người đàn bà mất  huyết đã tốn kém trong tay nhiều thầy thuốc. Nhưng chẳng hiệu quả là bao? Tiền mất tật vẫn mang.
    Nhưng một ngày kia mình đã ngồi một mình ngước mắt lên cao để nói chuyện với Chúa về những suy nghĩ và bệnh tật mình đang mang. Đây có lẽ là giải pháp tốt nhất mà mình có thể làm được vì trừ Chúa ra tôi chẳng có phước gì hết.
    Vừa ôm đầu vì đau và mình đã thưa với Chúa những điều thật với tình trạng tội lỗi, thật với tình trạng bệnh tật của mình với Chúa.
    Chẳng có đường sáng lòe nào cả, chẳng có một luồng điện nào chạy dọc sống lưng cả,  cũng chẳng thấy trên đầu mình có ánh sáng nào hết, cũng chẳng cầu nguyện ồn ào. Nhưng phép lạ đã xảy ra.
    Đức tin không phải là ồn ào, đức tin không phải là cảm giác, cảm thấy, đức tin không cần phải sấm chớp sáng lòe, cũng không phải là lời nói trôi chảy. Con đã từng học về đức tin, từng dạy về đức tin. Nhưng đức tin thật luôn có kết quả và kiến tạo một tâm hồn tươi mới. đức tin cười trong nước mắt, đức tin không còn nhìn chân tay bạn có run rẩy hay co cứng, hoặc đau đớn nữa mà đức tin nhìn lên Chúa. Đấng đã làm các phép lạ là vì Ngài vẫn thường hay làm như thế.
    Chúa biết con không phải là người mau nước mắt, Chúa biết con chẳng mấy khi khóc cười trước đám đông. Nhưng lòng con khóc trong vinh quang, khóc trong vui sướng , khóc trong sự riêng tư.
    Quả thật, tôi đã cảm nhận được bài ca vui mừng của Vua Đa vít:
     Thi 56:8   8 Chúa đếm các bước đi qua đi lại của tôi:
    Xin Chúa để nước mắt tôi trong ve của Chúa,
    Nước mắt tôi há chẳng được ghi vào sổ Chúa sao?

    Chúa ôi, con biết Ngài thương con, lên Ngài cho con còn tồn tại trên thế gian này, con biết Ngài thương con lên vợ không mất chồng, con không mất cha. Con biết Chúa có thể dùng con lừa để làm phương tiện, Ngài có thể khiến đá có thể tung hô cho Ngài, Ngài làm được mọi sự mà không cần có con, phận con bé nhỏ, như giọt nước trong một đại dương mà thôi có đáng kể gì đâu?
    Nếu hôm nay, có ai hỏi tại sao Chúa còn cho con còn sống, tại sao Chúa còn dùng con, con ngẩng cao đầu để nói rằng: Vì Ngài biết lòng con yêu Ngài, lòng con chân thật với Ngài. Ngài biết con đã tận hiến mọi sự để có thể làm công việc của Ngài, con làm mà không trông mong có người trả ơn, vì con biết rõ mai đây về với Cha, Cha sẽ thưởng cho con. Người ta vẫn tự hỏi rằng: con lấy tiền ở đâu để truyền giáo? con có kinh phí ở đâu mà đi được? Đó chẳng phải giáo phái sai con đi, đó chẳng phải giáo phải chi trả.
    Nhưng Ngài đã cho con vui hưởng thành quả nơi những mớ rau, nơi của những củ sắn củ khoai của làng quê nghèo khó. Cái quý nhất của đời con trong phục vụ Ngài cho đến ngày nay đó là: Con được dùng những đồng tiền bằng mồ hôi công sức của những nông dân chân chính, đó không phải là những đồng tiền thừa, đó là những đồng tiền bớt đi những bữa ăn ngon, bớt đi những phương tiện tốt. Con quý lắm, nên con không dám dùng sai việc, con quý lắm nên không dám dùng cho mình.
    Con muốn là Ba-na-ba, là một người lành, con muốn là một Na-tha-na-ên chân thật. Trong người không có chút chi dối trá.
    Con còn nhớ Ngài đã từng dạy con trong sách tiên tri Ê-sai 48:10 rằng: Đáng rủa thay là kẻ làm việc Đức Giê-hô-va cách dối dá!
    Cha ôi, con muốn cuối con đường của con sẽ vẫn là như thế, phía cuối con đường dù ngắn hay dài sẽ vẫn mãi là như thế Chúa ạ. Xin giúp con giữa dòng đời đầy dối gian này.
     Mọi hướng gió tiếp trợ của Á Châu, Âu châu con chưa một lần ngóng đợi, xin xỏ.
    Con báo cáo với ai? Con báo cáo với những người chân nấm, tay bùn. Họ cùng chia sẻ  niềm vui của mỗi cuộc hành trình con đi. Mỗi bước chân con đi là lời cầu nguyện thay, là lời thăm hỏi, là lời động viên là sự sẻ chia tiền mình có. Họ không bố thí cho con nhưng họ đã làm quá sức những gì họ đang có.
    Bố mẹ con cũng chẳng động viên con như thế, thật Ngài đã chuẩn bị một dân sẵn lòng cho Chúa. Tôi may mà có được cơ nghiệp tinh thần đẹp đẽ như thế, mối quan hệ của người chăn với bầy chiên không phải là thái độ của ông chủ với đầy tớ, cũng không phải quan quyền với cấp dưới. Nhưng tôi nói như Phao lô rằng: Anh em thật ở trong lòng tôi.  Trong bữa ăn tôi nhớ đến anh em, tôi ăn miếng ngon mà thương người thiếu thốn. tôi đang vui mà chợt nghĩ đến nan đề của anh em.
    Chúa đã tập cho tôi đánh trận cho đến nỗi tôi dương nổi cung đồng, Ngài đã dạy tôi vui với kẻ vui, buồn với kẻ buồn, tôi thường nín chịu mọi sự suốt gần chục năm qua, tôi nào dám kiêu mà khoe mình, tôi đã khóc lớn giữa anh em khi anh em quên mình là ánh sáng. Tôi đã khóc cùng anh em trước Chúa vì sự bất lực trước nan đề của anh chị em.
    Anh em ơi, tôi không mong anh em phải hiểu lòng của tôi, nhưng tôi mong anh em hãy sống xứng đáng với sự kêu gọi của Cha từ ái của chúng ta.

    Anh em đã dành cho tôi sự ưu ái, mến mộ và cảm thông lắm, nhiều lần tôi định như Phao lô từ biệt Hội Thánh thành Ê-phê-sô bên bờ đẹp, ôm nhau luyến tiếc, nhưng anh em đã giữ chân tôi lại. tôi thương anh em thật như chân với tay vậy.  
    Quân Nguyễn


  • Bài 58: Sự Sống Lại Của Chúa Cứu Thế Giê xu

    Bài 58: Sự Sống Lại Của Chúa Cứu Thế Giê xu

    Giáo Lý Thần Học

    Bài 58: Sự Sống Lại Của Chúa Cứu Thế Giê xu.

    Chúng ta phải nhớ rằng: Sự cứu rỗi mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta không chỉ quan hệ đến sự chết của Chúa Giê xu mà thôi. Nhưng cả đến sự sống lại, trở về trời. Và chức vụ cầu thay của Chúa Giê xu hiện nay ở trên trời.
    Chúng ta sẽ cùng nhau đi vào chi tiết Chúa Giê xu sống lại trong bài học hôm nay để thấy rõ chương trình cứu rỗi toàn vẹn của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại là như thế nào?
    Trước hết chúng ta sẽ bàn đến:

     I/. Sự sống lại của Chúa Giê xu.

    Sự sống lại của Chúa Giê xu sau khi Ngài chịu chết để chuộc tội cho nhân loại quan hệ như thế nào đối với chương trình cứu rỗi nhân loại.
    Thánh Kinh đã dành cho sự sống lại của Chúa Giê xu, một tầm quan trọng vô cùng lớn lao. Vì đây là điều cần thiết cho sự cứu rỗi của chúng ta.
    Rô-ma 10:9-10 chép rằng: “…”
    Sự sống lại của Chúa Giê xu là giáo lý căn bản của giáo hội Chúa Giê xu thành lập, và chúng ta là tín đồ của Ngài. Trong ánh sáng toàn diện cứu rỗi của toàn thể nhân loại, chúng ta không thể nào không nhấn mạnh đến sự chết của Chúa Giê xu như là sự kiện cần thiết để cứu rỗi chúng ta.
    Nhưng đồng thời chúng ta cũng không thể nào quên tầm quan trọng của sự sống lại của Chúa Giê xu sau khi chết.
    Sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê xu là một trong những cột trụ chính của kế hoạch cứu rỗi.
    Trong thơ I Cô-rinh-tô 15: 12-19 Phao lô đã quả quyết rằng: nếu Chúa Giê xu không sống lại:
    Thì thứ nhất: lời giảng dạy của các vị sứ đồ chỉ là luống công.
    Thứ hai đức tin của người tin chỉ là vô ích.
    Thứ ba các vị sứ đồ chỉ là những nhân chứng láo khoét.
    Thứ tư những người tin vẫn còn sống trong tội lỗi.
    Thứ năm những người chết trong đức tin vẫn còn bị hư mất đời đời
    Thứ sáu những người tin theo Chúa Giê xu là những người khốn nạn đáng thương hơn hết trên đời này.

    Nếu chúng ta theo dõi các bài giảng của sứ đồ Phao lô trong sách Công vụ các sứ đồ cũng như các bức thư của Phao lô, cũng như những bài giảng của sứ đồ Phi-e-rơ. Thì chúng ta sẽ thấy rằng: sự sống lại của Chúa Giê xu là một trong những đề tài chính của những bài giảng này.

    Chính Phao lô đã xem sự sống lại của Chúa Giê xu là một phần chính trong Phúc Âm mà chúng ta phải rao giảng. Như Phao lô đã viết trong II Ti-mô-thê 2: 8 rằng: “…”

    Sự sống lại của Chúa Giê xu cũng là một phần quan trọng trong vấn đề áp dụng ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời cho loài người. Thánh Kinh nói rằng: Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Giê xu sống lại và tôn Chúa Giê xu lên bên phải Ngài để Chúa Giê xu làm đầu mọi sự.
    Ê-phê-sô 1:17-23 chép rằng: “…”
    Chúa Giê xu sống lại là một điều rất quan trọng, vì sự sống lại của Chúa Giê xu mặc nhiên công nhận Ngài là Đức Chúa Trời. và là Đấng chúng ta đang tôn thờ và là Đấng đang cầm vận mệnh của giáo hội của Ngài trên mặt đất.

    Trong lời tâm sự của Chúa Cứu Thế Giê xu với các môn đệ của Ngài, trước khi Ngài chịu chết Chúa Giê xu cũng đã giải thích rõ cho họ biết rằng: Ngài phải chịu chết nhưng sẽ sống lại và trở về trời trước khi Chúa Thánh Linh đến cùng với Hội Thánh.
    Chúa Giê xu nói trong Phúc Âm Giăng 16:7 rằng: “….”

    Sự chết, sự sống lại, sự thăng thiên của Chúa Giê xu đều có mục đích chuẩn bị cho những ân tứ mà Chúa Thánh Linh ban xuống cho Hội Thánh, cho loài người chúng ta.
    Phao lô đã giải thích rằng: trong khi sự chết của Chúa Giê xu giải hòa chúng ta với Đức Chúa Trời, thì sự sống lại của Ngài hoàn tất ơn cứu rỗi cho chúng ta.
    Rô-ma 5:10 chép rằng: “…”
    Sự sống lại của Chúa Giê xu bảo đảm cho chúng ta về sự sống lại của những người tin theo Chúa để được hưởng sự sống đời đời.
    Chúa Giê xu hứa ban cho chúng ta là những người tin theo Ngài sự sống đời đời. Nhưng nếu Ngài không sống lại sau khi chết thì làm sao chúng ta dám tin Ngài được.

    Nếu Chúa Giê xu đã làm những phép lạ như kêu người chết sống lại mà chính Ngài không sống lại sau khi chết, thì làm sao chúng ta dám tin các phép lạ ấy thật sự xảy ra như Lời Thánh Kinh chép.
    Do đó, sự sống lại của Chúa Giê xu chẳng những quan hệ đến giáo lý, đến việc áp dụng ơn cứu rỗi của Chúa cho chúng ta. Mà còn bảo đảm cho chúng ta rằng: Chúng ta cũng sẽ được sống lại với Ngài sau này để sống bên cạnh Đức Chúa Trời mãi mãi.

    I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-17 chép: “…”
    Tóm lại sự sống lại của Chúa Cứu Thế Giê xu là một giáo lý vô cùng quan trọng, vì đó là giáo lý căn bản của giáo hội mà Chúa Giê xu đã thành lập. Các vị sứ đồ đã giảng dạy về giáo lý Chúa Giê xu sống lại như là một phần quan trọng, cần thiết và phải có trong các bài giảng của các vị sứ đồ. Đặc biệt là của Phao lô và của Phi-e-rơ.

     Nếu Chúa Giê xu không sống lại, thì những lời giảng dạy đó hoàn toàn vô ích và giáo hội của Chúa Giê xu chỉ là một tổ chức luân lý mà thôi.
    Chúa Giê xu đã sống lại, quyền năng của Ngài làm cho ơn cứu rỗi qua cái chết của Ngài trở lên sự thật cho những người tin theo Chúa.
    Chúa Giê xu sống lại cũng bảo đảm cho chúng ta biết rằng: chúng ta sẽ sống lại, Chúa Giê xu là trái đầu mùa của những kẻ chết, tức là trong những người chết Ngài là người sống lại đầu tiên để sống mãi mãi.

    Nếu chúng ta tin Ngài đặt niềm tin vào Chúa, chúng ta cũng hưởng được biến cố lạ lùng đó, chúng ta cũng sống lại với Chúa để hưởng được phước hạnh của Ngài.
    Và đó là điều mà Thánh Kinh bảo chúng ta: hãy an ủi cùng nhau. Vì đó là hy vọng lớn lao nhất của những người tin theo Chúa Giê xu.

    Bài hát: Ngài là Ai?
    Chúng ta đã tìm hiểu tầm quan trọng của sự sống lại của Chúa Giê xu. Bây giờ chúng ta sẽ dựa vào mặc khải của Thánh Kinh để tìm hiểu thêm về bản chất của sự sống lại của Ngài.

    II/. Bản chất của sự sống lại của Chúa Giê xu.

    Chúa Giê xu thực sự đã sống lại, sau khi chết ba ngày đúng như Thánh Kinh chép, thân thể của Chúa Giê xu đã trải qua cái chết rất đau đớn, đã được tẩm niệm và đã được đem chôn. Nhưng đến ngày thứ ba thân thể ấy của Chúa Giê xu đã sống lại.
    Sau đây là một vài bằng chứng về sự sống lại của Chúa Giê xu mà chúng ta cần phải thông suốt:
    1/. Chúa Giê xu thực sự sống lại
    Trong lịch sử giáo hội đã có người đã không tin Chúa Giê xu thực sự sống lại, họ cho rằng khi bị đóng đinh trên cây thập tự, Chúa Giê xu chưa thực sự chết mà chỉ bị ngất xỉu đi. Khi chôn trong huyệt đá, hơi lạnh trong huyệt đá đã làm cho Chúa Giê xu tỉnh lại.

    Đây là một lý thuyết hoàn toàn có tính cách phạm thượng, vì nếu chúng ta đọc kỹ Thánh Kinh, chúng ta dựa vào lời chứng của các sứ đồ và những người đương thời bạn cũng như thù. Chúng ta sẽ thấy rằng: sự chết của Chúa Giê xu là một cái chết thực sự có nhiều nhân chứng xác nhận.
    Phúc Âm Mác 15 thuật lại rằng: Sau khi được báo cáo Chúa Giê xu đã chết, tổng đốc Phi lát không tin là Ngài chết mau như vậy, nên đã hỏi lại viên sĩ quan phụ trách công việc hành hình thì viên sĩ quan này đã xác nhận rằng: Chúa Giê xu đã thực sự chết rồi.
    Dựa vào lời trình này tổng đốc Phi lát mới cho phép gỡ xác Chúa Giê xu ra để đem đi chôn.
    Mặc khác khi các phụ nữ đem thuốc thơm đến mộ, để xức cho xác của Chúa Giê xu thì dĩ nhiên họ biết rằng: Ngài đã thực sự chết rồi. vì không ai đem thuốc thơm để xức xác cho một người còn sống cả.

    Ngoài ra, dựa vào cách mô tả của bốn sách Phúc Âm trong Thánh Kinh thì sự kiện máu và nước đã chảy ra từ hông của Chúa Giê xu, khi một người lính lấy giáo đâm vào. Các Bác sĩ ngày nay đều quả quyết rằng: chắc chắn Chúa Giê xu phải thực sự chết vì không một người nào lâm vào trường hợp như vậy mà còn sống cả.

    2/. Thân thể của Chúa Giê xu thực sự sống lại
    Một số người nghĩ rằng: Chúa Giể xu sống lại trong thần linh của Ngài mà thôi. Nhưng Thánh Kinh phủ nhận điều đó, Thánh Kinh xác nhận rằng: thân thể của Chúa Giê xu đã thực sự sống lại.

    Phúc Âm Luca 24 thuật lại rằng: khi Chúa Giê xu xuất hiện ra với các môn đệ của Ngài sau khi Ngài sống lại, thì tất cả các môn đệ đều sửng sốt, rụng rời tưởng rằng: thấy thần linh của Ngài.
    Nhưng Chúa Giê xu đã chấn an và bảo họ rằng: Sao các ngươi bối rối và sao trong lòng các ngươi nghi ngờ như vậy: hãy đến xem tay chân ta, thật chính ta, hãy rờ đến ta và hãy xem. Thần linh thì không có thịt xương mà các ngươi thấy ta có thịt xương.
    Đang khi phán như vậy: Chúa Giê xu cũng rơ tay và chân ra cho các môn đồ xem, và rồi để cho các môn đồ thấy rõ: Chúa Giê xu đã lấy một miếng cả lướng mà các môn đệ đưa cho Ngài để ăn trước mặt họ.

    Phúc Âm cũng thuật lại cho chúng ta trường hợp của ông Thô ma, là người Chúa Giê xu hiện ra sau khi Ngài sống lại với mười môn đồ không có mặt ông ta. Khi các môn đồ thuật lại cho ông biết rằng: Chúa Giê xu đã sống lại và họ đã gặp rồi. thì Thô Ma nhất định không tin. Ông nói rằng: Cho đến khi nào tay tôi rờ vào dấu đinh của Chúa ở bàn tay, ở nơi hông của Ngài thì tôi mới thật tin chắc Chúa Giê xu đã thực sự sống lại.

    Sau đó, trong một cuộc họp khác, Chúa Giê xu đã hiện ra và có mặt Thô Ma ở đó. Chúa Giê xu đã bảo Thô Ma hãy đến lấy tay và rờ vào bàn tay và hông của Ngài là nơi có hai vết sẹo. Nhưng Thô Ma đã thấy rõ ràng Chúa Giê xu đã sống lại rồi cho lên đã quỳ gối xuống và tung hô Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời của ông ta.

    Phúc Âm Ma thi ơ cũng cho chúng ta biết: Các phụ nữ gặp Chúa khi Ngài sống lại đã mừng quá và quỳ gối xuống ôm chân Ngài mà thờ lạy: nếu Chúa Giê xu chỉ là thần linh khi Ngài sống lại thì các bà này không cách nào ôm được chân của Chúa.
    Trước đó, chính các bà phụ nữ này khi vào bên trong mộ cũng không thấy xác Chúa đâu cả. Ông Giăng và Phi e rơ là các môn đệ cũng vào tận nơi và không tìm thấy xác của Chúa Giê xu vì vậy mà họ nhóm lại. Lời của Chúa Giê xu đã giảng dạy trước khi Ngài chịu chết rằng: Ngài phải chịu chết nhưng Ngài phải sống lại, sống lại bởi thân xác của Ngài như Phúc Âm Giăng đã ghi lại.

    3/. Sự sống lại của Chúa Giê xu là một biến cố có một không hai trong lịch sử
    Thánh Kinh ghi lại rất nhiều biến cố người đã chết sống lại, chẳng hạn như người con trai của người góa phụ ở Sa rép ta. Người con trai của một phụ nữ ở Si lem. Người con gái của Giai ru, một thanh niên ở thành Na-in. Ông La-xa-rơ anh của Ma-ri và Ma-thê v.vv…

    Tuy nhiên, tất cả những người đã nhận được phép lạ chết và sống lại thì sau đó cũng chết, chứ không sống lại. Trái lại sự sống lại của Chúa Giê xu khác hẳn với những người này vì Ngài đã sống lại và sống mãi, sống đời đời.
    Chúa Giê xu đã trở về trời trước mắt chứng kiến của các môn đệ Ngài và Ngài đang ngồi bên hữu ngai của Đức Chúa Trời để cầu thay cho chúng ta là những người tin theo Chúa Giê xu.
    Chúa Giê xu cũng quả quyết rằng: Ngài sẽ trở lại và dựa vào lời của các thiên sứ nói với các môn đệ của Chúa như được ghi lại trong sách Công vụ đoạn 1. Chúng ta thấy rằng: Chúa Giê xu sẽ trở lại với thân thể bằng xương bằng thịt như lúc Ngài được cất lên trời. Do đó, sự sống lại của Chúa Giê xu là một biến cố có một không hai trong lịch sử.

    Khắp trái đất, nơi nào có những người tin theo Chúa Giê xu là nơi đó có những người cất lên tiếng hát để ca ngợi Chúa Giê xu là Đấng đã chết để chuộc tội cho nhân loại. Nhưng cũng đã sống lại để đảm bảo cho những người tin theo Ngài sự sống đời đời và hạnh phúc viên mãng bên cạnh Đức Chúa Trời là Cha.
    Điểm quan trọng sau cùng mà chúng ta cần tìm hiểu qua sự sống lại của Chúa Giê xu đó là:

    4/. Hiệu quả của sự sống lại

    - Sự sống lại của Chúa Giê xu đã chứng minh Ngài là Đức Chúa Trời là Đấng mà chúng ta tôn thờ. Phao lô đã viết trong Rô ma 1:4 rằng: “…”
    vì không có một người nào đã chết và sống lại để rồi sống mãi, nên chúng ta thấy rằng: Chúa Giê xu phải là Đức Chúa Trời thì mới có biến cố lạ lùng này.
    Điều này cũng giải thích cho chúng ta thấy rằng: sự chết của Chúa Giê xu hoàn toàn có tính cách thay thế cho tội nhân. Và sau khi chết, Chúa Giê xu đã sống lại vì quyền lực của sự chết không thể nắm giữ thân xác của Chúa Giê xu mãi mãi.
    Chúa Giê xu đã chiến thắng tội ác bằng sự chết của Ngài và Ngài cũng đã chiến thắng quyền lực của sự chết bằng sự sống lại của Ngài.
    - Sự sống lại của Chúa Giê xu chứng minh ơn cứu rỗi của Chúa Giê xu đã thành tựu trong chúng ta những người tin theo Ngài. Rô ma 4:24 chép rằng: “…”
    Chúng ta không thể nào được kể là vô tội, là công chính trước mặt Đức Chúa Trời nếu Chúa Giê xu không sống lại sau khi chết vì tội lỗi thế cho chúng ta.

    - Sự sống lại của Chúa Giê xu Ngài trở về trời rồi nên Ngài mới có thể đóng vai trò thầy tế lễ thượng phẩm ngày đêm cầu thay cho chúng ta bên cạnh ngai Đức Chúa Trời.
    Thơ I Giăng 2:1 chép rằng: “…”
    Chúa Giê xu là Đấng công bình đang cầu thay cho chúng ta, chúng ta không cần phải nhờ cậy một người nào cầu thay cho chúng ta ở trên trời. Vì tất cả những người đã về trong nước Chúa ở trên trời cũng đều nhờ Chúa Giê xu mà được sự cứu rỗi.
    Chúng ta chỉ cần nhờ Chúa Giê xu là Đấng ở bên cạnh Đức Chúa Trời là Đấng đã xuống trần gian này một lần chịu chết vì tội của chúng ta và đã sống lại. Đấng đó mới có quyền cầu thay cho chúng ta.
    - Sự sống lại của Chúa Giê xu là bằng chứng công đức hy sinh  của Chúa Giê xu đã được Đức Chúa Trời chấp nhận. Chúa Giê xu là người công chính chết thế cho người bất chính như Thánh Kinh đã nói: Sự sống lại của Chúa Giê xu là bằng chứng vô cùng chắc chắn, khích lệ chúng ta là những người tin theo Chúa. Vì chúng ta sẽ được sống lại với Chúa Giê xu sau này. Chúa Giê xu được gọi là trái đầu mùa của những kẻ chết. Trong những người chết Ngài là người đầu tiên đã sống lại. vì vậy mà tất cả chúng ta đều sẽ được sống lại khi Chúa Giê xu sẽ trở lại trần gian này để tiếp rước Hội Thánh về trời.

















  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.