ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • Ân Điển Cho Nhân Loại

    Ân Điển Cho Nhân Loại


    Kinh Thánh: Luca 2:14 Lời chào mừng: Trân trọng kính chào quý vị! Trước hết xin cho tôi thay mặt Hội Thánh của Đức Chúa Trời xin gởi lời kính chúc quý vị một mùa Giáng Sinh và một năm mới Bình An, Hạnh Phúc và Ân Sủng của Đức Chúa Trời. Thưa quý vị, Có một câu hỏi được hỏi nhiều nhất trên thế giới tính cho đến thời điểm này mà công cụ điện toán, google đã thống kê ghi lại đó là: Thượng Đế Ôi! Ngài ở đâu? Và nếu tối nay, tôi hỏi quý vị rằng: Thượng Đế ơi! Ngài ở đâu? Thì sẽ có rất nhiều câu trả lời khác nhau phải không quý vị? Chúng ta trở về với không khí của Mùa Lễ Giáng Sinh, trở về với Lời của Đức Chúa Trời để tìm biết câu trả lời: Đức Chúa Trời đã nhập thế làm người qua thân vị là Chúa Giê xu Christ. Và Chúa Giê xu Christ có danh xưng cao quý là: Em-ma-nu-ên. Nghĩa là Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta. Vâng Thượng Đế Ôi! Ngài ở đâu? Ngài đang ở đây với chúng ta. Xin chúng ta cùng cho một chàng vỗ tay chào mừng sự hiện diện của Đức Chúa Trời vì Ngài đang ở cùng chúng ta. Nhập đề: Kính thưa quý vị! Chúng ta đang ngồi hướng lên tâm điểm của Lễ Giáng Sinh, và buổi tối hôm nay, Hội Thánh chúng xin giới thiệu cùng quý vị chủ đề của Lễ Giáng Sinh đó là: Ân Sủng Cho Nhân Loại. Trước khi chúng ta cùng nhau đến với Lời Đức Chúa Trời, kính mời quý vị đồng đứng lên để chúng ta cùng đọc câu gốc nền tảng hai. Khi đọc xong... cầu nguyện. Kính lạy Đức Chúa Giê xu, tối nay chúng con muốn nói về Ngài, xin hãy làm vinh hiển Ngài qua chúng con, vì chúng con nhận biết rằng: Nếu không có Ngài thì cuộc đời chúng con chẳng là gì hết. Chúng con cầu xin Đức Thánh Linh hãy vận hành trên người nói cùng người nghe. Để mỗi chúng con đều được rờ chạm và nếm biết ân sủng của Ngài. Trong Danh Chúa Giê-xu Christ. A men. Thân đề: Quê hương VN nằm ở bên bờ của Thái Bình Dương, cho nên hứng chịu trọn vẹn hai mùa mưa nắng. Mùa mưa về, nước lũ ngập từng cơn, khi hạn hán đến, đồng khô cỏ cháy. Vì vậy quê hương VN luôn nguyện cầu: Cầu cho mưa thuận gió hòa, cho đồng lúa tốt, nhà nhà ấm lo! Miền Trung lưng dựa vào dãy núi Trường Sơn. Mà chân dãy Trường Sơn thì đất cày lên sỏi đá, cho nên lời nguyện cầu có vẻ tha thiết hơn: Lạy trời mưa thuận gió đều, cho nhiều lúa bắp, cho nhiều sắn khoai. Đó là cái tâm, cái tấm lòng và sự cậy trông của người xưa đặt tin nơi Đức Chúa Trời Hằng Sống. Nhưng cách đây khoảng hơn 30 năm, Nhân loại .... đã thốt lên những lời mà khiến Đức Chúa Trời vô cùng thất vọng: Anh trời dẹp lại một bên, để cho thủy lợi đứng lên thay trời. Và khi chương trình thủy lợi, nông nghiệp thất bại thì đổ lỗi là tại trời: Mất mùa là tại thiên tai, được mùa là bởi thiên tài của ta. Cách nói ấy, luận điệu đó, đúng như cách nói, giọng điệu của người La Mã vào Thế Kỉ thứ nhất mà Phao lô đã chép trong thư Rô-ma rằng: “ Vì họ dẫu biết Đức Chúa Trời, mà không làm sáng danh Ngài là Đức Chúa Trời, và không tạ ơn Ngài nữa; song cứ lầm lạc trong lý tưởng hư không, và lòng ngu dốt đầy những sự tối tăm. Họ tự xưng mình là khôn ngoan, mà trở nên điên dại” ( Rô ma 1:21-22) Trong khi con người tự hào có thể đội đá vá trời, trong khi con người càng ngày đẩy Ngài ra xa, trong khi con người luôn luôn làm Ngài thất vọng. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng Chí Nhân, Chí Ái: “Bởi vì Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác.” ( Mathiơ 5:45 ). Ngài vẫn luôn săn sóc, yêu thương và Ngài vẫn gọi tiếng gọi tình thương từ vườn Ê-đen năm xưa, để con người vốn xa cách trở về cùng Cha Thiên Phụ: “ A-đam, con ở đâu?” Vâng tiếng gọi ấy, tiếng gọi tình thương ấy cũng vẫn dành cho quý vị và tôi! Và ngày nay Ngài không phải ngồi trên Thiên đàng để gọi chúng ta đâu. Ngài cũng không phải ngồi trên thiên đàng rồi dơ tay xuống kéo con người ra khỏi cái huyệt của sự chết đâu. Thưa quý vị! Ân sủng của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại này không chỉ khiến mặt trời mọc lên soi dọi nơi trần thế thôi đâu, Ân sủng của Đức Chúa Trời cũng không chỉ làm mưa cho mùa màng bội thu thôi đâu. Vì dù mặt trời có soi dọi cả đêm đi chăng nữa thì tâm linh con người vẫn u mê đen tối, lầm lạc trong tội lỗi. Nước lũ có thể cuốn trôi đi bất cứ điều gì, nước chảy đá cũng phải mòn, nhưng tội lỗi của con người thì chẳng một loại nước lũ nào có thể cuốn trôi hay làm mòn, hoặc tẩy sạch đi được. Vì tội lỗi và sự hư hoại của con người nó ăn sâu, bám rễ trong bản chất của mỗi con người chúng ta. Chính vì thế mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ Ân sủng của Ngài cách trọn vẹn nhất, và Tuyệt Đỉnh của Ân Sủng đó là sự ban cho một Đấng Cứu Thế để cứu nhân loại hư mất này. Trong đêm đen tối của trần thế. Thiên sứ đã báo cho các kẻ chăn chiên rằng:“ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu-thế, là Christ, là Chúa.” ( Luca2:11) Sau đó thiên sứ ngợi khen Đức Chúa Trời mà rằng: “Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!” ( Luca2:14) Bài ca của thiên sứ rất ngắn, nhưng đã đụng đến và đem sự sống vĩnh cửu vào thế giới hư vong, đem vào cho nhân loại một tin mừng: tội ta được tha, nợ tôi được trả cho những kẻ nào tin đến danh con người, cho những kẻ ở trong Chúa Giê-xu Christ. Bài ca ấy chỉ cho nhân loại biết phương hướng tìm về nguồn của sự sống thật, sự bình an thật, cũng chỉ cho chúng phương cách để trở về làm hòa với Đấng Tạo Hóa thông qua: Một Đấng Cứu Thế, gọi là Christ, là Chúa. Martin Luther nói về sự Giáng Sinh của Chúa Jêsus rằng: “Ngài là Đấng mà nhiều thế giới không thể bao hết được lại nằm bên hông của Mary”. Một người khác cũng thốt lên rằng: “ Bởi vì yêu thế nhân mà Ngài đã từ vĩnh cửu bước vào trong thời gian, đã từ vô cùng đi vào hữu hạn.” Đấy là sự hóa thân thành nhục thể — Đây chính là Ân Sủng dành cho nhân loại. Chúa Cứu Thế Giê xu được ban tặng cho Những kẻ không xứng đáng, những kẻ luôn làm Ngài thất vọng. W. Tozer khi nói về ân sủng của Đức Chúa Trời Ông đã ghi trong nhật ký trước khi qua đời: “ Ðức Chúa Trời đã lấy ân sủng vô cùng to lớn của Ngài để đến với tôi, lớn đến nỗi cho dù tôi có sống được đến một triệu thiên niên kỷ, tôi cũng không thể trả nổi những gì Ngài đã làm cho tôi.” Thưa quý vị! Có một bài thánh ca đã làm lay động thế giới suốt 250 năm qua, làm rung động biết bao con tim trai cứng, mang lại sự yên ủi cho biết bao những cuộc đời vỡ tan trong hoạn nạn, nghịch cảnh, và đau thương. Bài ca: Ân Điển Lạ Lùng. Cuộc đời của John Newton: John Newton là một người mồ côi mẹ từ thuở nhỏ. Ông sống một cuộc đời ngang tàng, hư hỏng, tội lỗi, xấu xa. Ông len lỏi từ địa vì của một người sai vặt lên làm thuyền trưởng của một tàu buôn nô lệ hạng sang. Trong một chuyến vượt Đại Tây Dương, John Newton gặp một trận bão khủng khiếp. Trong hoàn cảnh nguy nan đó, ông nhận thức được sự mong manh của cuộc sống đã dâng một lời cầu nguyện để xin Đấng có quyền cứu mình khỏi chết. Và Đức Chúa Trời thành tín, Ngài phán rằng: Phàm ai kêu cầu danh Chúa thì sẽ được cứu. Trong nhất ký John Newton mô tả cuộc đời mình như là một chiếc tàu hư hỏng, mục nát. Cuộc đời tôi lạc lõng giữa những bão tố mênh mông, cạm bẫy của cuộc đời. Nhưng ân điển Chúa đã cứu ông để rồi bài ca: Ân Điển Lạ lùng như một lời tạ ơn có mùi thơm dâng nên Chúa. Hôm nay có thể cuộc đời chúng ta có phải cũng đang đối diện với những giông bão, cạm bẫy và đêm đen của cuộc đời do tội lỗi đang nhấn chìm chúng ta. Tin mừng cho quý vị buổi hôm nay là: Ân điển của Đức Chúa Trời sẽ cứu vớt quý vị, giữ quý vị trong cuộc sống hạnh phước thiêng liêng. Khi mở đầu sứ điệp giáng sinh Sứ đồ Phao lô đã đi ngay, đi thẳng vào con tim của sự giáng sinh chính là: “ Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, ấy là lời chắc chắn, đáng đem lòng tin trọn vẹn mà nhận lấy ” ( ITi 1:15 ) Trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là những kẻ chăn chiên mục đồng hay các bác sĩ đông phương, trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là máng cỏ chuồng chiên, hay các ngôi sao. Trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là đến Brazil để ngắm cây thông Noel lớn nhất thế cao 85m đâu. Trọng tâm của lễ giáng sinh đối với Phao lô không phải là cái bánh dài 1km với hương vị vani đâu. Con tim của lễ Giáng Sinh đối với Phao lô là: “ Đức Chúa Jêsus Christ đã đến trong thế gian để cứu vớt kẻ có tội, trong đó có tôi và quý vị” ITi 1:15. Đây có phải tinh thần của chúng ta khi đến với Chúa giáng sinh không? Đây có phải là tấm lòng chúng ta đến đây để gặp Chúa Giáng Sinh không? Trong tất cả các vị sứ đồ của Chúa Cứu Thế Giê-xu thì Phao lô đã viết và nếm trải kinh nghiệm về Ân Sủng nhiều hơn hết thảy. Trong toàn bộ Kinh Thánh Tân Ước nói tới 76 lần động từ “ Ân điển” thì Phao lô nói đến 71 lần trong số 13 thư tín của Ông. Đó cũng đủ thấy Ân điển của Đức Chúa Trời đã gột rửa và đem ông lên cao hơn những người khác. Phao lô có nghĩa là nhỏ bé, + Chrysostom đã nói về Phao lô rằng: cao ba cubit ( đơn vị đo ngày xưa, 1 cubit =45,72cm) nhưng ông đã đụng đến bầu trời. Dầu vóc người thấp nhỏ, Phao lô là người đã nhận lãnh và kinh nghiệm được sự ban cho ân điển diệu kì của Đức Chúa Trời. Sau khi tin Chúa Phao lô được đổi mới nên khiêm tốn ý thức được rằng: Mình chỉ là một hạt cát bên bờ Đại Dương của tình yêu bao la Ân Sủng của Chúa. Đến đây có thể chúng ta tự nhủ rằng: Chắc ông ấy phải là người tốt lành, công bình lắm, đạo đức lắm nên mới được Đức Chúa Trời ưu ái, ban ơn nhiều như vậy. Kính thưa Hội Thánh, thưa quý vị thân hữu! Chúng ta đang sống trong một xã hội có qua có lại mới toại lòng nhau, quy luật sòng phẳng, bánh tét đi qua, bánh quy trở lại, chính vì vậy mà quy luật ấy con người cũng đem áp dụng vào lĩnh vực tâm linh, chúng ta đem vào mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Về phương diện con người thì Phao lô: Là con của gia đình gia giáo: Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức hẳn hoi. Ông là một người mang dòng họ máu chất của dân tộc Do Thái, một gia đình khá giả, thượng lưu, một gia đình có tư cách, có địa vị, có tiền bạc, và là một gia đình nuôi dạy con theo luật pháp điển hình là lúc 8 ngày đem con vào đền thờ làm nghi thức theo đạo giáo. Về học vấn: Phao lô là một thanh niên tài giỏi, vượt bực, ông có tới ba bốn bằng tiến sĩ, rất giỏi, rất xuất sắc, một người đi học trường tư với thầy dạy nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Và ông là một sinh viên ưu tú. Ông là một diễn giả hùng hồn, ông là một triết gia, ông là một nhà hùng biện, là một giáo sư có một không hai. Đang khi còn rất trẻ ông là thuộc viên của tòa công luận của nước Do Thái. Một trong 70 người nỗi lạc nhất trên toàn quốc đứng trong chính quyền cai trị dân. Một người đức hạnh: ông nói: tôi giữ luật pháp không chỗ trách được, không chỗ chê, không chỗ thất bại. Khi nhìn vào những thành tích và mẫu mực của Phao lô thì chúng ta tưởng rằng: ông đủ tiêu chuẩn, đủ tư cách, đủ để được Đức Chúa Trời ưu ái cứu vớt. Nhưng Phao lô tuyên bố: nhờ những việc làm, việc lành được được cứu là vô ích, và Phao lô nói rằng: trong sự cứu rỗi thì không một mảy bụi việc làm nào hết. Phao lô nói: “ Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. 9 Ấy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình;” ( Ê-phê-sô 2:8-9) Giữa con người với nhau thì Phao lô là một gương mẫu, là gương sáng cho chúng ta noi theo, và chúng ta thấy Phao lô là người thành công, là tốt đẹp là mẫu mực. Nhưng trong Kinh Thánh qua cái nhìn của Đức Chúa Trời thì Phao lô là một tội nhân. Nói đến tội nhân thì chúng ta thường nghĩ rằng: Một người được gọi là một tội nhân thì phải có cái gì đó sai trật trong đạo đức, trong cư xử. Nhưng thật ra thì không, theo con mắt bình thường chúng ta thấy: Phao lô là một tu sĩ, một dòng tu rất khắc khổ, một dòng tu Pha-ri-si. Giữ đạo luật rất khắt khe. Phao lô đưa ra một đại diện, một kiểu mẫu về hình ảnh của một tội nhân: Phao lô nói: “ trong những kẻ có tội đó ta là đầu.” Phao lô nói: ta là người nặng tội nhất, Phao lô nói: ta là tội nhân xấu nhất. [PT] Có một số bản dịch của CG là: ta là chúa chùm tội, ta tổ sư, là kẻ cầm đầu tất cả những tội nhân. Câu: “ tôi là người có tội” là nói đến bản chất trong con người bên trong, khi nói đến bản chất thì nói đến một vấn đề không thể sửa chữa ở bên ngoài mà phải là một sự giải quyết thay đổi trong bản chất. Hơn nữa, đây không phải là tội lỗi, lỗi lầm, vấp phạm giữa người với người mà thôi, câu nói Tôi là người có tội là một nhận thức về liên hệ giữa mình với Đức Chúa Trời, đối diện với Thiên đàng và địa ngục. Chúng ta thường ngoảnh mặt làm ngơ, sống cuộc đời không màng đến sự có mặt của Đức Chúa Trời. Mọi hơi thở của chúng ta đều đến từ Ngài, miếng cơm, áo mặc, hạnh phúc đều đến từ Đức Chúa Trời, mà chúng ta cứ tỉnh bơ, mà chúng ta cứ gọi rằng đó là chuyện của riêng mình, không đếm xỉa gì đến Ngài. Kinh Thánh gọi đó là tội lỗi, tội đó là tội vi phạm đến Đức Chúa Trời và tội đó là tội tày trời. Con người không thể bào chữa mình được. Đây là tội lỗi không thể chạy chữa mình được. Kết Luận: Trong tất cả chúng ta không ai dám chắc nói rằng: mình toàn hảo, tuyệt đối, ai cũng có thể nói rằng: tôi lầm lỗi, tôi thiếu xót, nhiều thất bại. Qua Lời của Đức Chúa Trời, quý vị và tôi có nhận thức thấy mình là một tội nhân cần được cứu vớt không? Quý vị và tôi có đồng thanh với Phao lô rằng: tôi là người có tội không? Thánh Kinh tuyên bố: Nếu ai nói mình không có tội chi hết ấy là người nói dối, lẽ thật không ở trong người ấy. Vì mọi người đều đã phạm tội. Con người vốn sinh ra trong tội lỗi, lớn trong tội lỗi và phạm tội mỗi ngày nữa. Chính vì thế, Thánh Kinh tuyên bố: Đức Chúa Trời đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta chất trên mình Chúa Giê-xu. Ro 6:23 23 Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta. Gi 3:36 36 Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó. Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người. ( Ê-sai 53) Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. 6 Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Tr 12:6 6 Lại hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa trước khi dây bạc đứt, và chén vàng bể, trước khi vò vỡ ra bên suối, và bánh xe gãy ra trên giếng; Cụ Si mê ôn là người đạo đức công bình nhưng không .... Muốn thân mình không lệch, trước hết phải giữ cho tâm hồn không lệch. (Tuân Sinh Tiên)
  • Hãy đứng lên qua sông Giô-đanh

    Hãy đứng lên qua sông Giô-đanh

    Đề tài: Hãy đứng lên qua sông Giô-đanh
    Kinh Thánh: Giô suê 3: 7-17
    Nhập đề:
    Bài hát:
    Hãy đứng lên qua sông Giô-đanh, đi vào miền đất Chúa đã hứa ban chẳng lo sợ vì Giê-hô-va ở cùng khắp nơi nao ta đi qua. Cháy trong tim lòng nhiệt thành

    I/. Tinh Thần Hợp Nhất Trước Khi Qua Sông Giô-đanh( Giô-suê 3:1)
    -         Giô-suê dậy sớm đi cùng hết thảy dân Y-sơ-ra-ên
    -         Cả lãnh đạo cùng dân sự ngủ đêm tại một đó
    Vượt qua sông Giô-đanh đó không phải chỉ là trách nhiệm của riêng cá nhân của Giô-suê mà của hết thảy dân sự nữa. Cả người lãnh đạo và dân sự cùng dậy sớm, cùng đi, cùng ngủ tại mé bờ sông.
    Đây chính là tinh thần cùng đoàn kết, hiệp một, và thống nhất cả về mục đích và kế hoạch thực hiện.
    Quả thật chúng ta thấy, ở tại đây chúng ta nhìn thấy Giô-suê quả là một nhà lãnh đạo có tinh thần tâm huyết, lo lắng cho dân sự, trọng trách không phải đổ trên vai của người lãnh đạo mà trọng trách, và sứ mạng này là của chung của toàn thể tuyển dân.

    Chúng ta thấy tài năng lãnh đạo và thẩm quyền của Giô-suê không phải chỉ thông qua lời nói mà là thông qua việc làm, nhiều người chỉ tay và sai khiến mà không hề làm gương.
    Giô-suê đã dậy sớm đến Si-tim đi cùng với dân sự.

    Chúng ta cũng thấy toàn bộ dân sự sống và bước đi trong tinh thần thuận phục, họ đã giữ mình trong lời hứa.
    Họ đã hứa trong Giô-suê 1: “Những người ấy thưa cùng Giô-suê rằng: “ Chúng tôi sẽ làm mọi điều ông dặn biểu, và đi khắp nơi nào ông sai; 17 chúng tôi sẽ vâng theo ông trong mọi việc y như đã vâng theo Môi-se. Chỉn nguyện Giê-hô-va Đức Chúa Trời ông ở cùng ông, y như Ngài đã ở cùng Môi-se vậy! 18 Phàm ai nghịch mạng không vâng theo lời ông trong mọi điều ông dặn biểu chúng tôi, thì người đó sẽ bị xử tử; chỉ ông hãy vững lòng bền chí.”
    Họ đã giữ sự trung tín và thuận phục người lãnh đạo của họ. Họ không coi thường người lãnh đạo trẻ tuổi mà Đức Chúa Trời mới thành lập, họ không hề than phiền về Giô suê là người mới thiếu kinh nghiệm lãnh đạo và thiếu kinh nghiệm thuộc linh với Đức Chúa Trời.
    Hình ảnh của Môi se là một người lãnh tụ nỗi lạc, tài nâng và đầy ơn của Chúa – bây giờ Giô-suê là người đã phục vụ người thầy của ông suốt 40 và xỏ chân vào đôi dày của người thầy.
    Có thể không vừa, có thể đôi chân của Giô suê nhỏ hơn rất nhiều nhưng cả dân sự tin rằng: Đức Chúa Trời chính là Đấng kêu gọi và chọn lựa Giô suê làm người lãnh đạo thế chỗ xứng đáng.
    Họ nâng đỡ, khích lệ, động viên và ở cùng góp sức, cùng tiến lên để hoàn thành sứ mạng đặt chân vào đất hứa.
    Họ nói: “ông hãy vững lòng bền chí.” Đây chính là lời nâng đỡ, và rất đáng thường xuyên nói đến với những người lãnh đạo thuộc linh.
    Nhiều người nghĩ rằng: người lãnh đạo là người máy hoặc siêu nhân nên không cần phải nói ra những lời khích lệ, hay dục giã mạnh mẽ.
    Lần trước, chúng ta đã học với nhau về tinh thần hiệp nhất và sẵn sàng sắn tay, chân hăng hái bước đi không ngại khó khổ của dân sự và A-rôn, Hu-rơ bê đá, đỡ tay cho Môi-se. rất ít người nhìn thấy cánh tay của Môi se mỏi. Chỉ có hai người nhìn thấy mà thôi. Họ nhìn thấy họ không chê trách, oán than về sự yếu đuối của Môi se mà họ đã nâng tay của Môi se lên. Họ đã góp công, góp sức vào trong sự chiến thắng của toàn dân.

    Ê-phê-sô 4:1-6
    Hội thánh Ê-phê-sô thời sứ đồ Phao-lô gồm người giàu, người nghèo, người Do-thái, người người, đàn ông, đàn bà, ông chủ và nô lệ. Nơi nào có khác biệt thì ở đó có bất đồng. Mối quan tâm mà Phao-lô đề cập chính là sự hiệp một. Hãy quan sát điều Phao-lô nói về vấn đề này trong Ê-phê-sô 4:3. Ông không nói họ “nôn nả thiết lập hay tạo ra sự hiệp nhất.” Ông nói họ hãy gắng sức “duy trì sự hiệp nhất của Thánh Linh bằng sợi dây hòa bình.” Sự hiệp một đã sẵn có bởi những người tin Chúa có cùng một thân thể, một Thánh Linh, một nguồn hy vọng, một Chúa, một đức tin, một phép Báp-têm, một Đức Chúa Trời và một Cha (c. 4-6).
    Chúng ta “giữ sự hiệp một” như thế nào? Hãy bày tỏ ý kiến và lý lẽ của mình trong sự khiêm nhường, mềm mại, và nhịn nhục (c. 2). Đức Thánh Linh sẽ ban năng lực để chúng ta đối đáp bằng tình yêu với người bất đồng với mình.

    Chúa Giê xu cầu nguyện để các môn đồ sống và bước đi trong sự hiệp một!

    Ta hãy xem lại một lần nữa Chúa Giê-su đã cầu xin điều gì trong Giăng 17:21-23: "… để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ ở trong chúng ta, đặng để cho thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến. Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một. Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con".
    Tác giả Thi-thiên133: "Kìa, anh em ăn ở hòa thuận nhau. Thật tốt đẹp thay! Ấy khác nào dầu quí giá đổ ra trên đầu; chảy xuống râu, tức râu của A-rôn; chảy đến trôn áo người; Lại khác nào sương móc Hẹt-môn sa xuống các núi Si-ôn. Vì tại đó Ðức Giê-hô-va đã ban phước, tức là sự sống cho đến đời đời."
    II/. Điều kiện tiên quyết để qua sông Giô-đanh ( Giô-suê 3:2)
    Điều kiện thứ nhất:
    -         Hòm giao ước phải đi trước - Dân sự phải đi theo sau
    -         Câu 6: “Đoạn, Giô-suê nói cùng những thầy tế lễ rằng: Hãy khiêng hòm giao ước đi qua trước dân sự. Vậy, những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước và đi đầu dân sự.”
    Đối tượng để khiêng hòm giao ước là: Những thầy tế lễ về dòng Lê-vi
    Đây là những người được biệt riêng…
    Tại sao hòm giao ước phải đi trước?
    Hòm giao ước biểu tượng cho sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời.
    Muốn vượt qua sống thì đừng đi trước Chúa, vì nếu hòm giao ước không đi trước thì nước sông không thể rẽ ra được.
    Chỉ khi nào hòm giao ước được khiêng đi trước thì quyền năng phép lạ mới xảy ra.
    Nhiều khi chúng ta thường vượt qua sông Giô-đanh của đời sống bằng sức riêng, nỗ lực và cố gắng của chúng ta, hoặc chúng ta vượt qua sông Giô-đanh bằng sự khôn ngoan riêng của mình, tính toán riêng của mình.
    Quý vị và anh chị có phải đang có những trở ngại của Giô-đanh trong đời sống.
    Nước sông quá lớn, độ sâu quá, ngọn núi quá cao, quá nhọn.
    Có lời bài thánh ca rằng: Có núi ngăn trở hành trình con chăng? Núi nhọn và sâu trước mặt? giải pháp và câu trả lời là: nhìn lên chăm xem Chúa Giê xu Christ.
    Bạn có nhờ quyền năng của Đức Chúa Trời để qua sông không? Bạn và tôi có nhờ sức lực của Chúa để vượt qua sông không?
    Có thể chúng ta đang có những ngọn núi của lòng tự tôn, kiêu hãnh, kiêu ngạo, đấy chính là những trở ngại để chúng ta không bước được vào xứ hứa. chúng ta phải nhờ quyền năng của Chúa, chúng ta phải sống trong sự hiện diện của Chúa mới có thể phá tan những cái tôi của mình.

    Ch 8:13   “ Ta ghét sự kiêu ngạo, xấc xược, con đường ác, và miệng gian tà.”
    Ch 13:10   10 Sự kiêu ngạo chỉ sanh ra điều cãi lộn;
    Còn sự khôn ngoan ở với người chịu lời khuyên dạy.
    Sự kiêu ngạo không dẫn tôi đến đắc thắng, mà trái lại, Lời Chúa dạy rằng lòng kiêu ngạo dẫn đến chỗ bị hủy diệt (16:18). Không thể hy vọng có sự bình an nếu không sẵn sàng hạ mình xuống. Mỗi năm có hàng ngàn cuộc ly dị, đa số chỉ vì một lý do duy nhất là lòng kiêu ngạo. Không bên nào chịu nói “Tôi xin lỗi”, không bên nào chịu thừa nhận “tôi sai”.

    Một ví dụ cho thấy lòng kiêu ngạo và sự xét đoán dẫn đến thất bại như thế nào là câu chuyện được chép trong 
    Lu-ca 18:10-14 như sau:

    Bạn đừng giải quyết nan đề mà không có Đức Chúa Trời, bạn đừng cố gắng vượt qua sông để chứng tỏ bạn thân mình có giá trị. Bạn vốn rất giá trị rồi, bạn và tôi vốn tự thương hại mỗi khi có sự sỉ nhục. điều đó cũng là những dòng sông rất sâu và ngọn núi rất cao.

    Bạn muốn thấy những phép lạ, bạn muốn bản thân được đặt chân vào miền đất hứa, bạn muốn nước sông rẽ ra làm đôi, bạn phải đi sau hòm giao ước. bạn phải đi theo sau những thầy tế lễ.

    Bài học bổ ích cho chúng ta ở đây là: Chẳng có dòng sông Giô đanh nào quá sâu hay quá lớn đối với Đức Chúa Trời, chẳng có ngọn núi nan đề nào quá cao và quá nhọn trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
    Cái chính là chúng ta có đang tập chú vào Ngài hay đang tập chú vào chúng ta.
    Lúc tôi soạn bài đến đây: ngọn núi của tôi đó chính là cá tính nóng nảy và sự tức giận bởi những….
    Tôi cầu nguyện thầm rằng: Xin Chúa cho mình sự nhịn nhục để chiến thắng được những xác thịt nổi lên, và xin Chúa cho những ngọn núi và dòng sông sâu phải bị rẽ ra.

    Khi vượt đi ra khỏi Ai cập, Y-sơ-ra-ên đã vượt qua dòng sông Giô-đanh bởi quyền năng của Đức Chúa Trời biểu tượng là cây gậy của Đức Chúa Trời được dơ cao lên bởi tay của Môi se. Còn dân Ai cập thử đi qua đều chết hết.

    Giê-rê-cô bị sụp đổ hoàn toàn cũng bởi vì hòm giao ước được khiêng đi trước và thầy tế lễ theo sau. Mỗi ngày, mỗi ngày họ khiêng hòm và cầu nguyện và cuối cùng phép lạ xảy ra. Thành trì kiên cố, đồn lũy Giê-ri-cô đã sụp xuống.
    Có những nan đề lớn, và khó vượt qua như Giê-ri-cô nhưng tất cả nếu chúng ta đi trong sự chỉ dẫn, dẫn dắt của Chúa thì quyền năng phép lạ sẽ cặp theo.

    Những bia rượu, và cờ bạc cũng là những Giê-ri-cô và sông giô-đanh của đời sống. lời tục tĩu và thói nói dối, trộm cướp cũng phải làm cho sụp đổ hoàn toàn.
    Thắng trận sẽ không đến nếu không để Chúa đi trước làm chủ. ( Giô-suê 3:6)
    Đoạn, Giô-suê nói cùng những thầy tế lễ rằng: Hãy khiêng hòm giao ước đi qua trước dân sự. Vậy, những thầy tế lễ khiêng hòm giao ước và đi đầu dân sự.

    - Đi theo nhưng phải cách một khoảng là phải cách chừng hai ngàn thước.
    tại sao lại phải cách mà không được đi sát? vì các ngươi chưa hề đi đường nầy bao giờ.
    Mệnh lệnh phải giữ khoảng cách độ 900m giữa họ với hòm giao ước giúp toàn thể dân Y-sơ-ra-ên nhận thức đầy đủ về quyền lãnh đạo đầy đủ của Đức Chúa Trời.
    -         Điều kiện thứ hai để vượt qua sống Giô-đanh là:

    III/. Hãy Làm Cho Mình Ra Thánh ( Giô-suê 3:5)
    Giô-suê cũng nói cùng dân sự rằng: Hãy làm cho mình ra thánh, vì ngày mai Đức Giê-hô-va sẽ làm những việc lạ lùng giữa các ngươi.

    Ngày 9 tháng Nisan, Giô-suê chỉ thị cho dân sự làm cho mình nên thánh ( so sánh 11:8), ông nhấn mạnh vào tình trạng thánh khiết của quân đội. Việc nên thánh này đòi hỏi họ phải giặt dũ quần áo ( So sánh xuất 19:10) và tránh sinh hoạt tình dục ( so sánh 19:5)

    Quân đội có người lãnh đạo là những chiến binh giỏi, quân đội có hòm giao ước, có vũ khí nhưng nếu không có sự thánh khiết thì hoàn toàn sẽ thất bại.
    Sự thánh khiết sẽ khiến cho dân sự có sức mạnh, sự thánh khiết sẽ làm cho sự hiện diện của Chúa được ra tăng mạnh mẽ.

    Sống trong sự trong sạch trước mặt Chúa
    Cuộc đời của Giô sép khi đối diện với vợ Phô-ti-pha
    13 năm trong tù, quyết định sống thánh khiết là phải trả một cái giá rất đắt, sống chân thật chúng ta phải trả một cái giá rất đắt. Nhưng nó xứng đáng.

    Lời cầu nguyện của Chúa Giê xu!
    Con chẳng cầu Cha cất họ khỏi thế gian, nhưng xin Cha gìn giữ họ cho khỏi điều ác. 16 Họ không thuộc về thế gian, cũng như Con không thuộc về thế gian. 17 Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật. 18 Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian. 19 Con vì họ tự làm nên thánh, hầu cho họ cũng nhờ lẽ thật mà được nên thánh vậy.  ( Giăng 17:15-19)


  • Phước Hạnh Gia Đình Tin Kính

    Phước Hạnh Gia Đình Tin Kính




    Kinh Thánh: Thi-thiên 128:1-6
    Nhập đề:
    Tướng Giô suê sau khi dẫn dân Y-sơ-ra-ên vượt qua mọi trở ngại, và đánh bại mọi kẻ thù hung ác. Và giờ đây một lần nữa ông khẳng định niềm tin của cá nhân ông, niềm tin của gia đình ông nơi Đức Chúa Trời, trước mặt dân sự ông đã sống cách kính sợ Chúa và kêu gọi dân sự phải kính sợ Chúa và phục vụ Ngài cách thành tâm.
    Giô-suê rất giỏi trong chiến trận, ông rất quan tâm đến sự an ninh của dân sự, nhưng không vì thế mà ông bỏ qua sự an ninh của gia đình ông, vợ con của ông. Đây là một người lãnh đạo giỏi của Đức Chúa Trời. Ông không chỉ là trụ cột của toàn thể dân tộc của Chúa nhưng ông cũng xứng đáng là người trụ cột trong gia đình của mình. Bây giờ ông nói:
    Gios 24:15   Vậy bây giờ, hãy kính sợ Đức Giê-hô-va, và phục sự Ngài cách thành tâm và trung tín; hãy bỏ xa các thần mà tổ phụ các ngươi hầu việc bên kia sông, và tại xứ Ê-díp-tô; phải phục sự Đức Giê-hô-va. 15 Nếu chẳng thích cho các ngươi phục sự Đức Giê-hô-va, thì ngày nay hãy chọn ai mà mình muốn phục sự, hoặc các thần mà tổ phụ các ngươi đã hầu việc bên kia sông, hoặc các thần dân A-mô-rít trong xứ mà các ngươi ở; nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va.
    Câu nói của Giô suê: nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va. Cho thấy sự quả quyết đức tin và lòng tin kính của gia đình ông nơi Chúa, ông quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng đức tin của gia đình mình nơi Chúa.
    Giô suê là người chồng, là người cha tin Kính Chúa, ông bảo vệ vườn nho của gia đình ông trong sự tin kính Chúa. Ông không để những con chồn nhỏ phá hại vườn nho, tấn công vườn nho của gia đình ông. Ông là chiến sĩ ngoài chiến trường, nhưng ông cũng là vị tướng giỏi và tin kính cho gia đình vợ con của ông noi theo.
    Đây là một gương mẫu của những người làm cha, làm chồng, làm ông trong thời đại của chúng ta. Trong Thi-thiên128 có 6 câu thì có tới 5 động từ “ Phước” liên tục được đề cập và đây là một chuỗi phước.
    Ở đây không phải là một ít phước, nhưng là phước chồng trên phước. Phước trong công việc, phước trong gia đình, phước ở ngoài đồng ruộng, nhưng phước trong con cái nữa.
    Trong sách Phục truyền mô tả những phước hạnh của Chúa nếu một người nghe theo và giữ các điều răn và luật lệ của Chúa.
    “ Ngươi sẽ được phước trong thành, và được phước ngoài đồng ruộng. 4 Bông trái của thân thể ngươi, hoa quả của đất ruộng ngươi, sản vật của sinh súc ngươi, luôn với lứa đẻ của bò cái và chiên cái ngươi, đều sẽ được phước; 5 cái giỏ và thùng nhồi bột của ngươi đều sẽ được phước!
    6 Ngươi sẽ được phước trong khi đi ra, và sẽ được phước trong khi vào.” Phu 28:6  
    Mỗi bước chân, mỗi việc làm của chúng ta, đều sẽ được phước, được phước khi đi ra và đi vào, có người rất được phước khi đi ra hầu việc Chúa nhưng không được phước khi về gia đình, có thể ra ngoài xã hội đối nhân xử thế rất nhã nhặn, nhưng về nhà lại bày tỏ cách sống thô lỗ, và cộc cằn.
    Kinh Thánh không chỉ nói về những chuyện trên thiên đàng nhưng nói những chuyện rất đời thường thực tế. Nói đến người chồng, người cha, người làm vợ, làm mẹ, Kinh Thánh nói đến con cái, nói đến những chuyện nhỏ nhất như Ăn hoặc uống hãy vì sự vinh hiển của Chúa mà làm.
    Ai trong chúng ta cũng muốn mình được phước, muốn nhìn thấy vợ con, cháu chắt được phước, ai trong chúng ta cũng mong mỏi ước ao phước mỗi ngày. Nhưng Kinh Thánh đưa ra một khuôn mẫu, một mô hình của một gia đình được phước.
    Trước hết muốn gia đình mình được phước thì điều đầu tiên là:
    I/. Xây dựng gia đình tin kính ( 128:1)
    Nói đến gia đình là nói đến một tập thể, là nói đến mỗi cá nhân trong gia đình. Nói đến gia đình là nói đến: người chồng, người vợ, và con cái. Gia đình là một tế bào nhỏ của xã hội.
    Trong câu số 1 Kinh Thánh không đề cập đến người đàn ông, nhưng đọc suốt mạch văn thì chúng ta hiểu ngầm ngay ý tác giả muốn nói đến là người chồng, người cha trong gia đình.
    Người chồng như là chiếc đầu của người đàn bà, người đàn ông như chiếc đầu tầu, nhờ cái đầu tàu mà nó kéo cả chục cái toa khác theo.
    Người Việt Nam chúng ta thường nói: người đàn ông phải đầu tầu gương mẫu.
    Gương mẫu trong lời nói, gương mẫu trong việc làm, gương mẫu trong nếp sống, tư cách sống, làm gương trong nhân cách nữa.
    Không thể nào người cha hút thuốc mà lại khuyên người con không hút thuốc, không thể nào người cha hay chửi bậy mà lại khuyên con không được chửi bậy. Cha là tấm gương cho vợ con noi theo.
    Chúng ta phải xây dựng một gia đình để mỗi thành viên đều Kính sợ Chúa, Kính sợ Chúa là gì? Đó là đi trong đường nối của Ngài, tức là gia đình đó phải sống theo Lời Chúa đã dạy, một gia đình không có nền tảng là một gia đình đổ vỡ, chẳng mấy chốc gió lay xông động gia đình ấy xập liền, nhưng một gia đình xây dựng trên lời Chúa sống theo Lời Chúa thì chẳng điều gì có thể làm lạy động gia đình ấy được.
    Nền tảng của gia đình cơ đốc là sự Kính sợ Chúa, nền tảng của gia đình cơ đốc đặt nền móng trên Lời của Đức Chúa Trời.
    Mỗi khi có xung đột, có sự xích mích không phải ông đổ tội cho bà, bà đổ tội cho ông, nhưng trước hết cả hai phải chạy đến với Chúa để xem Lời Chúa nói gì về nan đề này.
    Chồng nói với vợ rằng: mình ạ, mình thông cảm, tha thứ cho tôi, vì lúc đó tôi đã nóng giận, không cầm giữ được lên đã xúc phạm tới mình, hoặc vợ nói: Mình ạ, vợ chồng mình đã làm cho Chúa buồn, nhất là vợ chồng mình đã giận dữ cãi lộn nhau như thế không làm sáng danh Chúa, đã sỉ nhục danh Chúa, chúng ta cùng nhau ăn năn thì việc được thành.
    A-đam đã thất bại vì không kính sợ Chúa và đã chống lại điều răn của Ngài. Chúng ta có thể rút ra ba bài học từ thất bại của A-đam
    ·         Không có ý thức về vai trò mình (là đầu gia đình, với nhiệm vụ trồng và giữ vườn), để khi thấy kẻ thù là  rắn đến nói rủ rỉ dỗ dành vợ mình mà không đuổi đi (không mạnh mẽ dùng quyền khi cần thiết)       
    ·         Biết điều Chúa dạy mà không làm, biết vợ sai mà không cản (không tỏ vai trò lãnh đạo lúc cần, thiếu quyết đoán – sợ người hơn sợ Chúa)
    ·         Vô trách nhiệm (không nhận lỗi để ăn năn mà đổ trách nhiệm sang cho người khác)
    Có phải là những yếu điểm nói trên đều có trong đàn ông bây giờ, vì chúng ta đều là hậu duệ của A-đam? Nhưng người nào biết kính sợ Chúa, sẽ không làm điều trái với lương tâm.
    Khi người khác dẫm vào cái ngón chân út của chúng ta, và ngón chân út của chúng ta bị thương, và chúng ta cứ chờ cái người làm tổn thương cái ngón út của mình đến xin lỗi trước. Nhưng lời Chúa không dạy như vậy, Lời Chúa nói rằng: Mat 18:15   15 Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại.
    Khi nào thì chúng ta đến hòa giải, đó là khi chúng ta bất hòa với nhau, khi thấy lòng mình nặng trĩu, ăn không ngon,ngủ không yên, đứng ngồi không yên, thì lúc đó chúng ta phải chạy đến với anh em để giải quyết vấn đề.
    Đến giải quyết vấn đề: chúng ta không nên nói: tại ông trước, tại bà trước, chúng ta không đến thanh minh, không đến để bênh vực mình và kết tội người khác sai. Mà đến để xin lỗi vì chúng ta đã không làm đẹp lòng Chúa.
    Gia đình tin kính Chúa là gia đình phải ăn ở theo đường lối Ngài, gia đình được phước là gia đình để Chúa làm Chủ.
    Gia đình kính sợ Chúa là gia đình tìm xem điều gì đẹp lòng Chúa thì dữ lấy, còn điều gì tựa như điều ác thì phải lánh đi.
    Thiên sứ Chúa đóng lại chung quanh những kẻ kính sợ Ngài, Và giải cứu họ (Thi Thiên 34:7) Hỡi các thánh của Chúa, hãy kính sợ Ngài; Vì kẻ nào kính sợ Ngài chẳng thiếu thốn gì hết (Thi Thiên 34:9)

    Hỡi các con, hãy đến nghe ta; Ta sẽ dạy các con sự kính sợ Chúa (Thi Thiên 34:11)
    Sự kính sợ Chúa là khởi đầu của mọi sự khôn ngoan, người không học nhiều nhưng kính sợ Chúa thì người đó còn khôn ngoan hơn người cả chục bằng tiến sĩ nhưng không kính sợ và tin Chúa.
    Nếu kính sợ Chúa thì phải đi theo con đường của Chúa. Chúng ta không thể ép Ngài đi theo con đường chúng ta và chúc phước cho chúng ta mãi được. Phước cho người nào kính sợ Chúa, Đi trong đường lối Ngài! Xin Chúa cho chúng ta biết con đường của Ngài.

    II/. Phước hạnh của gia đình tin kính Chúa
    ·         Được hưởng mọi thành quả của công việc mình làm ( 128:2)
     Mình không đựng tiền công trong túi lủng nữa, cũng không đổ mồ hôi chán luống công, người kính sợ Chúa là người được Chúa bảo vệ trở che và thêm sức để chúng ta nói như Phao lô rằng: Tôi làm được mọi sự nhờ Đấng thêm sức cho tôi.
    Vâng nếu không có Chúa thêm sức cho thì chúng ta chẳng hoàn thành được việc gì cả, vì Chúa Giê-xu đã phán rằng: Ngoài Ta ra các ngươi chẳng làm chi được.
    Tính được, làm được nhưng phải có Chúa ban cho thì mới được, nói được làm được nhưng Chúa không cho thì dù nhìn thấy trước mắt cũng chẳng nhận được.
    Mọi công lao, kết quả đều đổ xuống sông, xuống biển hết, dã chàng xe cát biển đông khi không có Chúa giữ gìn cho.
    Vua Đa vít nói rằng: Ngoài Chúa ra tôi không có phước gì hết
    Thi 16:6   5 Đức Giê-hô-va là phần cơ nghiệp và là cái chén của tôi:
    Ngài gìn giữ phần sản tôi.
    6 Tôi may được phần cơ nghiệp ở trong nơi tốt lành;
    Phải, tôi có được cơ nghiệp đẹp đẽ.
    Đa vít nói Chúa giữ phần sản tôi, điều gì xảy ra khi gia đình chúng ta không được giữ gìn, sẽ có sâu mối ten rét, kẻ trộm sẽ đào ngạch khoét vách lấy đi.


    Tác giả Thi thiên 127: Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà,
    Thì những thợ xây cất làm uổng công.
    Nhược bằng Đức Giê-hô-va không coi giữ thành,
    Thì người canh thức canh luống công.
    2 Uổng công thay cho các ngươi thức dậy sớm, đi ngủ trễ,
    Và ăn bánh lao khổ;
    Chúa cũng ban giấc ngủ cho kẻ Ngài yêu mến bằng vậy.
    Người ta luôn tìm cách xây lên những ngôi nhà kiên cố, và cắt đặt người canh giữ các thành phố nhưng cả hai hoạt động đó đều chỉ là phí công vô ích, nếu Đức Chúa Trời không ở với họ. Một gia đình không có Đức Chúa Trời thì chẳng bao giờ từng trải được sự ràng buộc thuộc linh mà Đức Chúa Trời đã đem đến trong các mối quan hệ.Một thành phố không có Đức Chúa Trời sẽ sụp đổ vì sự gian ác băng hoại từ bên trong. Đừng sai lầm bỏ Đức Chúa Trời ra ngoài cuộc đời của bạn - nếu bạn làm như thế thì mọi thành tựu của bạn đều sẽ chỉ là phí công vô ích mà thôi. Hãy biến Đức Chúa Trời thành ưu tiên cao nhất của bạn, rồi để cho chính Ngài làm công việc xây dựng.
    Nếu gia đình chúng ta đặt để mời Chúa làm chủ, chúng ta kính sợ Chúa, đi trong đường lối của Ngài thì mọi công việc mà tay chúng ta làm đều sẽ được phước và may mắn.

    ·         Vợ con sẽ ở trong nhà như cây nho thạnh mậu ( 128:3)
    Khi quý vị là cha, là chủ gia đình, hết lòng kính sợ và đi theo đường lối Chúa, chu cấp mọi nhu cầu của gia đình, thì vợ của quý vị sẽ như cây nho thạnh mậu. Đối với người Do Thái ‘cây nho’ biểu tượng cho sự thịnh vượng, cho đời sống phong phú. Không những dây nho dùng để trang trí mà trái nho còn đem lại sự ngon ngọt cho người dùng nó, lợi nhuận cho người trồng nó. Nho là loài thảo mộc yếu đuối, mềm dịu, cần được nâng đỡ và vun trồng, nho cần tường vách để nương tựa. Đây cũng là hình ảnh của người vợ lúc nào cũng dựa nương vào chồng của mình, như ông bà ta thường nói ‘cát đằng, nương bóng tùng quân’. Có một người thầy dạy luật Do Thái nói rằng: Tôi không bao giờ gọi vợ tôi là vợ, mà gọi là 'nhà tôi', vì nàng đã biến căn nhà tôi trở thành mái ấm, nơi che chở, bảo bọc, nuôi dưỡng đàn con của tôi.
    Khi người chồng kính sợ Chúa, đi theo đường lối Chúa và hết lòng thờ phượng Ngài thì vợ của người như nho thạnh mậu, người vợ đảm đan, người mẹ hiền của đàn con mình. Cây nho thạnh mậu sẽ sanh ra trái khôn ngoan, cành lá vượt tường thành, không bò dưới đất, không sanh những trái chua, những quả chát, trái lại kết những trái nho to, chín mọng, ngon ngọt.
    Người cha nào kính sợ Chúa, hết lòng làm theo lời dạy Chúa, và kính sợ Ngài chẳng những sẽ có được người vợ đảm đang như cây nho thạnh mậu, mà còn có con cái quây quần chung quanh bàn người khác nào những chồi ô-li-ve.

    Ở tại Do Thái, là xứ thánh, nơi Chúa Cứu Thế đã giáng trần, người nào làm chủ một vườn ô-liu, người đó sở hữu một loài cây rất có giá trị, vì cây ô-liu cung cấp trái từ 20 đến 30 đời. Đây là hình ảnh của người cha có phước lớn vì con cháu của người mấy mươi đời vẫn được phước.
    Thật không có hình ảnh nào phước hạnh hơn, êm đềm hơn cho người cha khi có đầy đủ các con tụ họp lại trong mỗi buổi ăn chiều. Công tác chánh của người cha không phải tạo ra sự nghiệp lớn lao, mà là xây dựng một gia đình đầm ấm, con cái yêu thương nhau, quây quần bên nhau cùng với cha mẹ trong mái ấm gia đình.
  • Bài 56 Công Vụ Của Chúa Cứu Thế Trong Công Cuộc Cứu Rỗi Nhân Loại

    Bài 56 Công Vụ Của Chúa Cứu Thế Trong Công Cuộc Cứu Rỗi Nhân Loại

    Giáo Lý Thần Học
    Bài 56 Công Vụ Của Chúa Cứu Thế Trong Công Cuộc Cứu Rỗi Nhân Loại

    Khi Chúa Cứu Thế Giê xu từ trời đến trần gian để thi hành công cuộc cứu rỗi nhân loại, thì Chúa đã tình nguyện trở thành một người, trong thân phận của một con người Chúa Giê xu đã nêu gương sáng cho chúng ta trên nhiều lĩnh vực. Ngài là một người cầu nguyện, Ngài là một nhà truyền giáo, Ngài là một vị giáo sư, Ngài là một người đầy lòng nhân từ bác ái.vv….

    Tuy nhiên, sự chết, sự sống lại và trở về trời cũng như sự trở lại của Chúa Giê xu mới là những điều vô cùng quan trọng mà chúng ta cần phải tìm hiểu. Tất cả những điều này đều là những giáo lý căn bản của Thánh Kinh của công cuộc cứu chuộc loài người,  vì tất cả những điều này đều liên hệ mật thiết đến chương trình cứu rỗi nhân loại.

    Một số các nhà thần học thường chia các bài học về Chúa Cứu Thế Giê xu dưới ba đại đề mục.
    1/. Chúa là nhà tiên tri
    2/. Chúa là thầy tế lễ
    3/. Chúa là Vua
    Tuy nhiên cách phân chia như vậy không đề cập nhiều đến cái chết hy sinh của Chúa Giê xu vì nhân loại là sự cố quan trọng nhất, cũng như sự sống lại vốn là nền tảng của tất cả mọi hy vọng của chúng ta là những người tin theo Chúa Giê xu.
    Vì vậy, mà tôi đề nghị chúng ta sẽ dành nhiều thì giờ nghiên cứu thẳng về sự chết của Chúa Giê xu dựa trên căn bản Thánh Kinh.

    I/. Tầm quan trọng của sự chết của Chúa Cứu Thế Giê xu
    Trái với trường hợp của mọi người khác trên đời này cái chết của Chúa Giê xu hay nói đúng hơn là cuộc đời của Chúa Giê xu khi Ngài có mặt trên trần gian này. Có một tầm quan trọng vô cùng lớn lao đối với chương trình cứu chuộc nhân loại.
    Sự chết của Chúa Giê xu có tầm quan trọng vô cùng lớn lao vì một số các lý do sau đây:

    1/. Thánh Kinh Cựu Ước đã nói trước về cái chết của Chúa Giê xu
    Người Việt Nam rất quen thuộc với chữ Hán: Sinh hữu hạn tử vô kỳ có nghĩa là chúng ta biết rõ ngày sinh nhưng không ai biết trước được ngày chết của chúng ta. Tuy nhiên cái chết của Chúa Giê xu cũng như những chi tiết rất tỉ mỉ về cái chết của Ngài đều đã được nói trước trong các lời tiên tri của Thánh Kinh Cựu Ước từ hàng nghìn năm trước.
    Cái chết hy sinh của Chúa Giê xu cũng được báo trước cho chúng ta qua những hình ảnh đặc biệt, và đặc biệt hơn hết là cái chết của những con sinh tế trong các cuộc tế lễ của các tôn giáo Do Thái.
    Hình ảnh trước hết được nói đến là trong Sáng Thế Ký 3:21 câu này nói đến sự kiện sau khi A đam và Ê va là hai con người đầu tiên sa ngã phạm tội. Thì Đấng Tạo Hóa đã lấy da thú kết thành áo dài cho vợ chồng A đam.
    Đây chính là con thú đầu tiên bị giết để cung cấp bộ quần áo cho vợ chồng A đam và Ê va sau khi họ sa ngã. Chúng ta cũng thấy những hình ảnh tiếp theo đó về những con sinh bị giết để dâng tế lễ chuộc tội như con chiên bị A bên giết để làm của lễ dâng lên cho Đức Chúa Trời như Sáng Thế Ký 4:4 ghi lại.
    Hoặc con dê bị giết chết trên núi Mô-ri-a để thế chỗ cho Y sác trên bàn thờ như Sáng Thế Ký 22:13 cho chúng ta biết.
    Hình ảnh dâng sinh tế chuộc tội cũng đã được các nhân vật xa xưa áp dụng,  như trường hợp của Gióp dâng sinh tế để chuộc tội lỗi cho các con. Như trường hợp Áp-ra-ham, như trường hợp mỗi trường hợp mỗi gia đình Do Thái giết một con chiên đầu lòng trong lễ vượt qua đầu tiên khi họ rời Ai-cập trở về đất hứa.
    Như trường hợp dâng sinh tế trong nghi lễ mà Chúa đã truyền cho Môi se. Tất cả đều làm hình ảnh về cái chết hy sinh của Chúa Cứu Thế Giê xu trên thập tự giá để chuộc tội cho nhân loại.
    Ngoài những hình ảnh này chúng ta còn thấy những lời tiên tri về cái chết của Chúa Giê xu chẳng hạn như Thi thiên 41:9 nói về Chúa bị phản bội.
    Chúng ta thử so sánh mấy câu này với thực sự điều đã xảy ra được chép lại trong Phúc Âm về cái chết của Chúa Giê xu để thấy rõ vấn đề.

    Đến đỗi người bạn thân tôi,
    Mà lòng tôi tin cậy, và đã ăn bánh tôi,
    Cũng giơ gót lên nghịch cùng tôi.”

    Lời tiên tri này đã thành sự thật như chúng ta thấy như Phúc Âm Mác 14:18 chép lời Chúa Giê xu nói với các môn đệ.
    “Đang ngồi ăn, Đức Chúa Jêsus phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, trong vòng các ngươi có một kẻ ngồi ăn cùng ta, sẽ phản ta.”

    Điều này đã ứng nghiệm hoàn toàn khi Giu-đa-ích-ca-ri-ốt một trong mười hai môn đệ thân tín của Chúa Giê xu đã bán Chúa để lấy ba mươi nén bạc, và dẫn đường cho người ta đến bắt Chúa Giê xu và đóng đinh Ngài chết trên cây thập tự.
    Những lời tiên tri trong Thi Thiên 22 cũng vậy câu 1 nói về lời kêu van của Chúa Giê xu khi Ngài bị đóng đinh.

    “Đức Chúa Trời tôi ôi!
    Đức Chúa Trời tôi ôi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?
    Hễ kẻ nào thấy tôi đều nhạo cười tôi.
    Trề môi, lắc đầu, mà rằng:
    8 Người phú thác mình cho Đức Giê-hô-va, Ngài khá giải cứu người;
    Ngài khá giải cứu người, vì Ngài yêu mến người!”
    Câu này cũng được ứng nghiệm rõ rệt khi Chúa Giê xu bị mọi người nhạo báng và một tên cướp bị đóng đinh bên Ngài cũng đã nói: “ nếu ngươi cứu được người ta, tại sao không cứu mình đi, nếu ngươi cứu được người ta tại sao không nhảy ra khỏi thập tự giá rồi cứu tôi nữa đi.”

    Câu 18 của Thi Thiên 22 chép rằng: “Chúng nó chia nhau áo xống tôi;
    Bắt thăm về áo dài tôi.”

    Được thành sự thật với đầy đủ chi tiết đúng như vậy khi binh sĩ chia nhau áo xống của Chúa Giê xu, và bắt thăm để lấy chiếc áo choàng, áo ngoài của Ngài.
    Thật ra thì chúng ta không đủ thì giờ để nhắc đến tất cả những lời tiên tri trong Thánh Kinh Cựu Ước nói về cái chết của Chúa Giê xu. Nói trước về cái chết của Chúa Giê xu với những chi tiết rất đầy đủ. Nhưng chúng ta phải kết luận rằng: sự chết của Chúa Giê xu có một tầm quan trọng vô cùng, chính vì lý do này mà Thánh Kinh Cựu Ước nói về trước về cái chết của Ngài. Vì trong chương trình cứu rỗi nhân loại Đức Chúa Trời đã định liệu Chúa Giê xu phải chịu chết vì nhân loại.

    II/. Thánh Kinh Tân Ước dành rất nhiều đoạn để nói về cái chết của Chúa Giê xu
    Sự chết của Chúa Giê xu chiếm một địa vị quan trọng trong Thánh Kinh Tân Ước, ba ngày sau cùng của cuộc đời Chúa Giê xu trên trần gian này đã chiếm 1/5 tổng số các sách Phúc Âm.
    Nếu các tác giả Phúc Âm viết đầy đủ chi tiết về cuộc đời của Chúa Giê xu trong ba năm rưỡi hoạt động của Ngài như kiểu ba ngày cuối cùng mà Tân Ước đã ghi lại. Thì Phúc Âm ít nhất là dài mười nghìn trang giấy in.
    Người ta đã đếm và nói đến cái chết của Chúa Giê xu hơn 175 lần hay nói cách khác cứ 53 câu trong Thánh Kinh Tân Ước thì đã có một câu nói trực tiếp đến cái chết của Chúa Giê xu.
    Chúng ta cũng không có thì giờ đủ để trưng dẫn các câu Thánh Kinh này. Nhưng bất cứ ai đọc Thánh Kinh đều phải công nhận và thấy được tầm quan trọng về sự chết của Chúa Giê xu qua cách mô tả của Thánh Kinh.

    III/. Sự chết của Chúa Giê xu chính là mục đích chính của sự kiện Ngài trở thành người

    Chúng ta có thể nhắc lại một số câu Thánh Kinh để nói về tầm quan trọng của vấn đề này.
    Mác 10:45; Hê-bơ-rơ 2: 9;14; Hê-bơ-rơ 9:26; I Giăng 3:5
    Qua những lời này và những câu khác trong Thánh Kinh, chúng ta biết rằng: Chúa Giê xu không phải trở thành người đến trần gian này để sống làm gương cho người khác, hay để dạy giáo lý mà thôi. Nhưng nhiệm vụ chính của Chúa Giê xu là đến trần gian này là để chịu chết vì tội lỗi của tất cả chúng ta.
    Sự chết của Chúa Giê xu không phải là một việc ngẫu nhiên hay là một tai nạn. Nhưng để hoàn tất một mục đích có quan hệ mật thiết Ngài trở thành người. Chúa Giê xu trở thành người chưa phải là tâm điểm của Phúc Âm mà cái chết của Ngài vì tội lỗi của loài người mới là tâm điểm của chương trình cứu chuộc nhân loại.

    IV/. Tầm quan trọng về cái chết của Chúa Giê xu là sự chết của Chúa Giê xu chính là đề tài của các sách Phúc Âm
    Phúc Âm có nghĩa là tin tức tốt, có nghĩa là tin mừng, tin tức tốt hay tin mừng trong Phúc Âm có nghĩa là tin mừng về ơn cứu chuộc nhân loại. Phao lô nói rằng: tin mừng hay Phúc Âm bao gồm sự chết, sự chôn, sự sống lại của Chúa Giê xu như ở trong I Cô-rinh-tô 15:1-4 có chép: Hỡi anh em, tôi nhắc lại cho anh em Tin lành mà tôi đã rao giảng và anh em đã nhận lấy, cùng đứng vững vàng trong đạo ấy, 2 và nhờ đạo ấy, anh em được cứu rỗi, miễn là anh em giữ lấy y như tôi đã giảng cho; bằng không, thì anh em dầu có tin cũng vô ích. 3 Vả, trước hết tôi đã dạy dỗ anh em điều mà chính tôi đã nhận lãnh, ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội chúng ta theo lời Kinh thánh; 4 Ngài đã bị chôn, đến ngày thứ ba, Ngài sống lại, theo lời Kinh thánh;

    Sự chết của Chúa Giê xu vì tội lỗi chúng ta là một tin mừng, vì tin mừng này hàm ý rằng: Chúng ta không còn phải bị chết vì bởi tội lỗi của chúng ta nữa. trên một phương diện, luật pháp Môi se, bài giảng trên núi của Chúa Giê xu hay là những lời dạy của Ngài cũng không phải là tin lành. Tất cả những điều này chỉ mặc khải cho chúng ta biết, chúng ta cần có Chúa Cứu Thế. Chúng ta cần phải có Chúa Giê xu chịu chết chuộc tội cho chúng ta. Tất cả những điều đó chưa phải là điều căn bản để có thể cứu rỗi chúng ta. Chỉ có cái chết của Chúa Giê xu mới cứu chúng ta ra khỏi sự trừng phạt của tội lỗi, và ban cho chúng ta địa vị làm con của Đức Chúa Trời.

    V/. Sự chết của Chúa Giê xu là nền tảng sống còn của Hội Thánh
    Tất cả những tôn giáo trên đời này đều dựa vào những lời dạy của những vị sáng lập ra tôn giáo ấy. Nhưng Hội Thánh của Chúa Giê xu tùy thuộc trước hết vào cái chết của Ngài. Rút sự chết của Chúa Giê xu ra khỏi Hội Thánh, ra khỏi giáo lý của Chúa thì đạo của Chúa chỉ là một tổ chức luân lý không hơn không kém.
    Có người đã nói rằng: các anh hùng trên thế giới đã xây dựng đế quốc của họ dựa vào sức mạnh, chỉ có Chúa Giê xu xây dựng đế quốc của Ngài dựa vào tình yêu. Và dựa vào tình yêu đó đã được thể hiện đầy đủ qua cái chết hy sinh của Ngài trên thập tự giá.

    VI/. Sự chết của Chúa Giê xu chính là điều kiện tất yếu của ơn cứu rỗi
    Chúa Giê xu đã từng dạy rằng: Ngài phải bị treo lên tức là bị giết thì người ta mới được cứu, Chúa cũng dùng một hột lúa gieo xuống đất phải chết đi thì mới mọc lên thành cây lúa và kết hột được.

    Đức Chúa Trời không thể tha thứ tội lỗi chỉ trên căn bản chúng ta ăn năn vì như vậy là trái với đức công chính của Ngài. Đức Chúa Trời chỉ có thể tha thứ tội lỗi cho chúng ta khi tội lỗi ấy phải bị trừng phạt xứng đáng.

    Để Đức Chúa Trời có thể tha thứ tội lỗi cho chúng ta, đồng thời không vi phạm đức công chính của Ngài. Chúa Giê xu đã thay chúng ta là những tội nhân để chịu chết, để chịu trừng phạt.
    Trên quan điểm của Đức Chúa Trời cái chết của Chúa Giê xu là điều kiện tất yếu không thể thiếu được để loài người chúng ta được tha thứ, khi chúng ta ăn năn tội lỗi và tin nhận Chúa Cứu Thế Giê xu.
    Tóm lại, chúng ta thấy rằng: Sự chết của Chúa Giê xu có một tầm quan trọng rất đặc biệt vì các lý do:
    Thứ nhất Thánh Kinh Cựu Ước đã nói trước về cái chết của Chúa Giê xu với nhiều chi tiết rất rõ rệt, tỉ mỉ.
    Thứ hai Thánh Kinh Tân Ước dành rất nhiều đoạn để nói về cái chết của Chúa Giê xu.
    Thứ ba là mục đích chính của sự kiện Ngài trở thành người.
    Thứ tư là sự chết của Chúa Giê xu là đề tài chính của các sách Phúc Âm. Thứ năm là sự chết của Chúa Giê xu là nền tảng sống còn của Hội Thánh Chúa.
    Thứ sáu cái chết của Chúa Giê xu là điều kiện tất yếu cho ơn cứu rỗi của chúng ta.
    Chúng ta đã tìm hiểu về tầm quan trọng vô cùng về cái chết của Chúa Cứu Thế Giê xu. Chúa Giê xu đã trở thành một người để chết thế cho loài người, không có cái chết hy sinh này thì mọi cố gắng và đức tin của chúng ta đều vô ích.
    Thánh Kinh đã nói rất đầy đủ và rõ ràng về cái chết của Chúa Giê xu tâm điểm của Phúc Âm cứu rỗi nhân loại.
    Tuy nhiên, trong lịch sử giáo hội có một số người đã từng giải thích sai lạc về cái chết của Chúa Giê xu, chúng ta cũng cần lên biết qua về các tà thuyết này để không bị lung lạc và đi ra khỏi niềm tin chân chính của Thánh Kinh.

    1/. Lý thuyết ngẫu nhiên
    Lý thuyết ngẫu nhiên không tin sự chết của Chúa Giê xu có một ý nghĩa quan trọng nào cả. lý thuyết này nói rằng vì Chúa Giê xu là một người nên Ngài đằng nào cũng phải chết, vì đó là định luật bất di bất dịch đối với loài người.
    Lý thuyết này cũng cho rằng nguyên tắc sống đạo của Chúa Giê xu lúc ấy không hợp thời lên bị người đời chống đối và giết Ngài đi.
    Mặc dù lý thuyết này đề cao Chúa Giê xu là một bậc hiền nhân, một người nhân đức. Nhưng cái chết của Chúa Giê xu theo lý thuyết này không có một ý nghĩa nào cả cho bất cứ ai.
    Chúng ta thấy ngay tà thuyết này hoàn toàn sai, ở chỗ cái chết của Chúa Giê xu đã được nói trước rất nhiều lần trong Thánh Kinh Cựu Ước. Chính Chúa Giê xu cũng đã nói trước về cái chết của Ngài và lý do Ngài phải chết.
    Dựa vào những bằng chứng trong Thánh Kinh, chúng ta bác bỏ ngay lý thuyết ngẫu nhiên mà không cần phải thảo luận thêm.
    Tà thuyết thứ hai về cái chết của Chúa Giê xu là:

    2/. Lý thuyết tử đạo
    Tà thuyết tử đạo chủ trương cái chết của Chúa Giê xu bất quá chỉ là một trường hợp tử đạo mà thôi. Chúa Giê xu nói lẽ phải trong lúc người đương thời sống trong dối trá, vì vậy mà Ngài đã bị người đời giết chết. Cái chết của Chúa Giê xu của một vị anh hùng tử đạo. Và cái chết này cũng khích lệ chúng ta ngày nay phải sống đúng với những gì mình đã tin, mình đang tin dù phải trả một giá rất đắt là cái chết. Và khi dám chết vì đạo như vậy thì chúng ta sẽ được cứu rỗi.
    Cũng như tà thuyết ngẫu nhiên, tà thuyết tử đạo không đếm xỉa gì đến điều quan trọng mà Thánh Kinh đã mặc khải về cái chết của Chúa Giê xu.
    Cái chết của Chúa Giê xu là cái chết thay thế cho loài người tội lỗi, Ngài là người công bình chết thế cho người có tội. Chúa Giê xu đã hiến dâng sinh mạng của Ngài làm sinh tế chuộc tội cho nhân loại.
    Và chúng ta phải nhờ cái chết của Chúa Giê xu thì mới được tha thứ tội lỗi và mới được cứu rỗi. chứ không phải chỉ noi gương theo Chúa chịu tử đạo mà đã được cứu đâu.
    Tà thuyết thứ ba là:

    3/. Ảnh hưởng đạo đức về cái chết của Chúa Giê xu
    Theo tà thuyết này vì Chúa Giê xu trở thành người nên đã chết vì tội chung của người. cái chết của Chúa Giê xu bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời đối với loài người nói chung, cái chết của Chúa Giê xu cũng như là cái chết về sau của những nhà truyền giáo, sả thân vì đạo đều giống như nhau.
    Cũng như các tà thuyết trước, chúng ta thấy ngay tà thuyết ảnh hưởng đạo đức không khác xa gì với tà thuyết tử đạo cả.
    Điểm chính trong cái chết của Chúa Giê xu là chết thế cho tội nhân để chuộc tội cho tội nhân thì hoàn toàn không được bàn đến trong tà thuyết này. Dựa trên căn bản ấy chúng ta cũng có thể bác ngay và thấy đây là một tà thuyết. chứ không phải là một giáo lý của Thánh Kinh về cái chết của Chúa Giê xu. Ngoài ba ta thuyết nói trên, còn có rất nhiều các tà thuyết khác nữa. thỉnh thoảng xảy ra trong giáo hội nói về cái chết của Chúa Giê xu và giải thích cái chết của Chúa Giê xu.
    Thật ra, thì chúng ta không có đủ thì giờ để tìm hiểu tất cả những chi tiết về các tà giáo này. Tuy nhiên, bất cứ một lý thuyết nào nói về cái chết của Chúa Giê xu mà không nhấn mạnh đến sự kiện Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời. Nhưng đã trở thành người để thay thế người chịu chết vì tội lỗi của người và tội nhân phải nhờ cậy vào cái chết của Chúa Giê xu thì mới được tha tội thì mới được cứu rỗi.


  • Bài 55 Thần Tính Của Chúa Giê-xu

    Bài 55 Thần Tính Của Chúa Giê-xu



    Bài 55 Thần Tính Của Chúa Giê-xu

    Trong bài học nói về nhân tính của Chúa Cứu Thế Giê xu, chúng ta đã tìm hiểu lý do Chúa Giê xu phải trở thành một người thì mới có thể thay thế loài người, chịu chết  vì tội lỗi của loài người.

    Chúa Giê xu dù là Đức Chúa Trời, dù là Thượng Đế một trong Ba Ngôi của Thiên Chúa. Nhưng đã giáng thế làm người để thi hành cứu chuộc toàn thể nhân loại. Chúa Giê xu đã trở  thành một người hoàn toàn như mọi người trên trần gian này ngoại trừ Ngài là người tuyệt đối vô tội.

    Mặc dù trở thành một bào thai của một người là trinh nữ Ma-ri, nhưng Chúa Giê xu không thừa hưởng bản tính tội lỗi từ mẹ của Ngài vì sự nhập thể của Ngài là một phép lạ của Chúa Thánh Linh.

    Nhân tính của Chúa Giê xu đã được chứng minh rõ rệt, qua các sự kiện Ngài được sinh ra theo cách sinh ra của mọi người, Ngài lớn lên một cách bình thường như bao nhiêu người khác. Ngài có các yếu tố quan trọng của con người là thân thể và linh hồn.

    Ngài có tên của một người, Ngài được những người đồng thời  gọi Ngài là người và Ngài cũng có những đặc tính của con người như đói, khát, vui buồn. Ngài cũng bị cám dỗ, cũng biết mỏi mệt, cũng biết đau đớn v.vv…

    Hôm nay, chúng ta sẽ đi vào Thần Tính của Chúa Giê xu. Và vấn đề hai bản thể: Bản thể trời và bản thể người hoạt động như thế nào trong Chúa Cứu Thế Giê xu.

    Trước hết, tôi xin cần nhắc lại rằng: về thần tính của Chúa Giê xu chúng ta đã tìm hiểu khá đầy đủ trong các bài giáo lý thần học thứ 22, 23 và 24 nói về Ba Ngôi Đức Chúa Trời.

    Tuy nhiên, chúng ta cũng nên ôn lại về Thần Tính của Chúa Giê xu trong bài học hôm nay.

    Căn cứ trên Thánh Kinh chúng ta thấy rằng: Chúa Giê xu có những đặc tính của Đức Chúa Trời. mặc dù Ngài đã xuất hiện trong trần gian này như một người.

    Có 5 thuộc tính của Đức Chúa Trời là:

    Đời đời, toàn năng, toàn tri, toàn tại và bất biến.

    Chúa Giê xu đều có cả 5 thuộc tính này.

    Phúc Âm Giăng đã chứng minh cho chúng ta thấy rằng: Chúa Giê xu hiện hữu từ đời đời vô cùng , Ngài là Đấng đời đời, Ngài hiện hữu trước mọi người, trước khi vũ trụ được tạo dựng.

    Thuộc tính đời đời của Chúa Giê xu chứng minh rằng: Ngài chính là Đức Chúa Trời vì chỉ Đức Chúa Trời mới là Đấng đời đời, hiện hữu từ trong cõi đời đời vô cùng.

    Chúa Giê xu cũng là Đấng toàn tại hay vô sở bất tại nghĩa là Ngài có mặt khắp mọi nơi, Ngài hiện hữu trên trời nhưng cũng hiện hữu dưới đất này. Sau khi hoàn tất chương trình cứu chuộc nhân loại Chúa Giê xu đã trở về trời nhưng Ngài nói rằng: Ngài ở cùng các môn đệ của Ngài luôn luôn.

    Chúa Giê xu cũng là Đấng toàn tri hay vô sở bất tri nghĩa là Ngài biết tất cả mọi sự   Chúa biết rõ mọi ý tưởng của con người, Ngài thấy rõ tâm hồn mọi người.

    Phúc Âm cho chúng ta biết rằng: Ngài biết ông Na-tha-na-ên đang ngồi dưới một gốc cây vả, mặc dù lúc ấy Ngài không có mặt tại đó. Chúa Giê xu biết rõ quá khứ của người đàn bà Sa-ma-ri khi bà này gặp Chúa bên giếng nước Gia cốp. Chúa Giê xu cũng biết trước ai là kẻ phản bội Ngài. Chúa biết trước những gì sẽ xảy ra cho Ngài.

    Chúa Giê xu cũng là Đấng toàn năng hay là Đấng vô sở bất năng nghĩa là Chúa có thể làm được mọi sự như Đức Chúa Trời. Thánh Kinh đã nói cho chúng ta biết rằng: Chúa Giê xu là Đấng tạo dựng nên trời và đất với Đức Chúa Cha và với Đức Thánh Linh. Ngài là Đấng đang bảo dưỡng vũ trụ này và thế giới này nhờ Chúa Giê xu mà tiếp tục hoạt động. Chúa Giê xu cũng có quyền chữa lành các bệnh nan y, Chúa Giê xu cũng từng gọi người chết sống lại, Ngài đã từng đi trên mặt nước, Ngài đã làm những điều mà chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể làm mà thôi.

    Chúa Giê xu cũng là Đấng bất biến nghĩa là không bao giờ thay đổi. Ngài là Đấng hôm qua và ngày nay và cho đến đời đời không bao giờ thay đổi như Thánh Kinh đã chép.

    Chúa Giê xu cũng đã làm những công việc như Đức Chúa Trời đã làm chẳng hạn như Ngài tạo dựng nên vũ trụ này, Ngài tha thứ tội lỗi cho con người, Ngài để cho người ta tôn thờ Ngài. Thánh Kinh nói rằng: Đến ngày tận thế Chúa Giê xu sẽ là vị thẩm phán xét xử tất cả nhân loại này.

    So sánh Thánh Kinh Tân Ước và Cựu Ước, chúng ta thấy Đức Chúa Giê xu được kể làm một với Đức Giê hô va tức là danh hiệu của Đức Chúa Trời đối với dân tộc Do Thái.

    Những chỗ nói về Đức Chúa Trời trong Cựu Ước khi được nhắc lại trong Tân Ước thì áp dụng cho Chúa Cứu Thế Giê xu. Trong các lời chúc phước của các vị sứ đồ tên của Chúa Giê xu được nêu ra ngang hàng với Đức Chúa Cha và với Đức Chúa Thánh Linh.

    Còn có nhiều bằng chứng khác trong Thánh Kinh xác nhận cho chúng ta thấy rằng: Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời, một trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Nói tóm một lời Chúa Giê xu có thần tính nghĩa là bản thể trời hoàn toàn như Đức Chúa Cha và như Đức Chúa Thánh Linh.

    Thánh Kinh nền tảng của giáo lý chúng ta, nền tảng của thần học chứng minh rằng: Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời, Ngài có thần tính. Chúng ta chấp nhận Thánh Kinh là lời mặc khải của Đức Chúa Trời, thì bắt buộc phải chấp nhận thần tính của Chúa Giê xu là một sự thật. Chính vì thế mà chúng ta tôn thờ Chúa Giê xu như là tôn thờ Đức Chúa Trời.

    Cách đây không lâu có một người đến hỏi tôi rằng: Làm thế nào mà tôi có thể tin là Chúa Giê xu một nhân vật lịch sử, một con người sinh ra trên trần gian này có lịch sử ghi lại như vậy lại là Đức Chúa Trời được?

    Câu trả lời của tôi là: Bạn phải làm hai điều:

    Thứ nhất là đọc Thánh Kinh, nhất là bốn sách Phúc Âm nói về cuộc đời của Chúa Cứu Thế Giê xu.

    Thứ hai là cầu nguyện với Chúa Giê xu.

    Không một người nào thành thật tìm hiểu về Chúa Giê xu qua Thánh Kinh mà có thể phủ nhận Ngài không phải là Thượng Đế.

    Và không một người nào cầu nguyện với Chúa Giê xu và qua mối tâm giao với Ngài mà lại không đi đến chỗ tin nhận Chúa Giê xu có thần tín, Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời.

    Vì vậy, mà vấn đề đặt ra cho chúng ta là chúng ta phải dựa vào Thánh Kinh để chấp nhận vấn đề Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời. Ngài có thần tính bản thể trời của Ngài  chính là bản thể thực sự như Đức Chúa Cha và Đức Chúa Thánh Linh.

    Chúa Cứu Thế Giê xu chính là Đức Chúa Trời là Thiên Chúa là Thượng Đế.

    Thánh Kinh đã mặc khải cho chúng ta biết rõ giáo lý này và là những người tin theo Chúa giê xu, và là những người chấp nhận Thánh Kinh là Lời của Chúa chúng ta phải chấp nhận Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời là Đấng có thần tính như Đức Chúa Trời.

    Trước khi chúng ta đi qua những điểm khác trong bài học hôm nay, tôi muốn hỏi quý vị và các bạn một câu. Đây là một câu hỏi rất chân thành.

    Quý vị có thực sự tin Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời không? Quý vị có thực sự biết rằng Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời nhưng Ngài đã đến trong thế gian này với hình hài thể xác của một người không?

    Nếu chúng ta không có niềm tin đó, thì tất cả những gì chúng ta xây dựng trong đời sống tôn giáo của chúng ta đều sẽ bị sụp đổ. Chúa Cứu Thế Giê xu là Đức Chúa Trời trong hình hài thể xác của một người. Ngài có hai bản thể: bản thể trời và bản thể người.

    Chúa giê xu trở thành người giống như tất cả mọi người khác, ngoại trừ hai điểm quan trọng đó là Ngài có thần tính và Ngài tuyệt đối vô tội.

    Hai bản thể trời và người hoạt động như thế nào?

    Khi nghiên cứu về hai bản thể trời và người của Chúa Giê xu. Chúng ta đã đi vào một trong những sự huyền nhất mà trí óc con người chúng ta không thể nào hiểu thấu được, tuy nhiên chúng ta tin giáo lý này vì chúng ta chấp nhận Thánh Kinh là Lời mặc khải của Đức Chúa Trời. Chẳng những chúng ta tin mà là thực nghiệm giáo lý này nữa. Vì mối tâm giao của chúng ta là những người tin theo Chúa Giê xu.

    Quý vị và các bạn có cầu nguyện với Chúa Giê xu không? Quý vị và các bạn có từng trải những giờ phút thoải mái, sung sướng, hạnh phúc nhất khi chúng ta được nói chuyện cùng Chúa và được nghe Lời của Chúa nói với chúng ta không?

    Thánh Kinh khuyến khích chúng ta chấp nhận sự huyền nhiệm này ( Cô-lô-se 2:2-3) ghi lại lời của sứ đồ Phap lô nói rằng: “…”

    Chính Chúa Giê xu cũng nói rằng: sự hiểu biết về Chúa là do mặc khải từ trời chứ không phải theo lý luận của loài người ( Ma-thi-ơ 11: 27) Chúa Giê xu đã nói với những người tin theo Ngài rằng: “…”

    Vấn đề hiều biết Đức Chúa Trời, vấn đề hiểu biết Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời Ngài có thần tính là do sự  mặc khải của Chúa chứ không phải do theo lý luận của chúng ta. Vì vậy chúng ta nên nhớ điều này: chúng ta không thể nào dùng lý luận hay dùng suy luận của con người để chấp nhận Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời Ngài có thần tính Chúng ta chỉ có thể tin điều đó vì điều đó là sự thật đã được Thánh Kinh mặc khải, và điều đó cũng được chứng nghiệm trong mối quan hệ của chúng ta đối với Chúa Giê xu.

    Sở dĩ chúng ta cảm thấy khó hiều khi nghiên cứu về hai bản thể của Chúa Giê xu là vì không một người nào khác trên đời này có thể giống như Chúa Giê xu cả, để cho chúng ta theo đó mà suy luận, không một người nào có bản thể trời và bản thể người đầy đủ trọn vẹn như Chúa Cứu Thế Giê xu. Hai bản thể trời và người đều là bản thể toàn vẹn trong Ngài.

    1/. Bằng chứng và nhân chứng đều thực hữu toàn vẹn trong Chúa Giê xu

    Hai bản thể trời và bản thể người trong Chúa Giê xu không phải giống như sự hòa hợp giữa vợ chồng., vì dù vợ chồng hòa hợp, khăng khít với nhau qua hôn nhân. Nhưng vợ vẫn là vợ và chồng vẫn là chồng, nhưng trong Chúa Giê xu thần tính hòa hợp toàn vẹn với nhân tính của Ngài. Và nhân tính hoà hợp toàn vẹn với thần tính của Ngài.

    Một tà giáo xuất hiện từ xa xưa là tà giáo Nét-tô-riêng cho rằng: Chúa Giê xu chỉ là một người như bao nhiêu người khác trên đời này, nhưng Ngài là một người đã tiếp nhận được Chúa Thánh Linh cách đầy dẫy khiến cho chúng ta nghĩ rằng: Ngài có bản thể trời như Đức Chúa Trời Ngài có thần tính.

    Thánh Kinh phủ nhận lời giải thích này, vì Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời trở thành người chứ không phải là  một người được Đức Chúa Trời ngự trong người đó. Chúng ta cần phải khẳng định những gì mà Thánh Kinh nói về Chúa Giê xu.

    a/. Thứ nhất Thánh Kinh nói rằng: Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời trở thành người ( Giăng 1:1-3)

    b/. Thư hai Thánh Kinh dạy chúng ta rằng: mặc dù Chúa Giê xu có hình hài thể xác của một con người nhưng Ngài vẫn là Đức Chúa Trời hoàn toàn.

    Những phép lạ mà Chúa Giê xu làm, những lời dạy của Ngài đã chứng minh rằng: Ngài phải là Đức Chúa Trời.

    c/. Thứ  ba Thánh Kinh khẳng định cho chúng ta là mặc dù Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời hoàn toàn nhưng Ngài cũng là một con người hoàn toàn nữa.

    Chúng ta học được từ trong sách Phúc Âm như Ngài đói, Ngài khát, Ngài mệt, Ngài đau, Ngài khóc vv…Những điều đó chứng tỏ Ngài thật sự là một con người. Mặc dầu Chúa Giê xu cũng là Đức Chúa Trời.

    d/. Thứ tư Thánh Kinh xác nhận cho chúng ta là thần tính và nhân tính của Chúa Giê xu không hòa hợp lại để tạo thành  ra một bản thể thứ ba. Chẳng hạn như nữa trời, nữa người. Nhưng lúc nào Chúa Giê xu cũng là Đức Chúa Trời hoàn toàn mà Ngài cũng vừa là một người hoàn toàn.

    Nếu nói theo từ toán học thì Chúa Giê xu là: Đức Chúa Trời một trăm phần trăm và Ngài cũng là người một trăm phần trăm. Chứ không phải Chúa Giê xu chỉ có năm mươi phần trăm trời và năm mươi phần trăm người. Vì Chúa Giê xu vừa là Đức Chúa Trời hoàn toàn cũng vừa là con người hoàn toàn.

    Chúa Giê xu cũng có những bản tính theo lời Thánh Kinh dạy sau đây:

    -                   Chúa Giê xu là Đấng tuyệt đối Thánh Khiết là con người tuyệt đối thánh khiết ( Luca 1:35) ( Công vụ 2:27) nói đến danh hiệu Chúa Giê xu Đấng thánh của Đức Chúa Trời. sách ( Công vụ 3:14) giới thiệu Chúa Giê xu là Đấng thánh và công chính ( Công vụ 4: 27 ) gọi Chúa Giê xu là đầy tớ thánh của Đức Chúa Trời. Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời, Chúa Giê xu là một người vì thế mà Chúa có bản tính thánh khiết tuyệt đối, trong Ngài không bao giờ có điều gì dối trá. Và Ngài không bao giờ phạm tội như Hê-bơ-rơ 4:15. Chúa Giê xu cũng được mô tả trong Hê-bơ-rơ 7:26 rằng: Ngài thánh khiết, vô tội, trong sạch, tách biệt khỏi người tội lỗi. Sứ đồ Phi-e-rơ là người môn đệ gần gũi, thân tín với Chúa Giê xu nhất đã viết về Ngài rằng: “ Chúa chẳng hề phạm tội, không nói một lời  dối trá nào cả”. và trong thời gian Chúa Giê xu có mặt ở trong nước Do Thái. Ngài đã từng thách thức người nào bắt Ngài thù tội được nhưng không một người nào làm được điều đó.

    -                   Ngài có tình yêu siêu việt tuyệt vời ( Ê-phê-sô 3;18-19)

    Chúa Giê xu đã sử dụng tình yêu siêu việt này tức là tình yêu của Đức Chúa Trời, yêu Đức Chúa Trời để chống trả sự cám dỗ của Ma quỷ. Và Chúa Giê xu cũng bảo chúng ta ngày hôm nay rằng phải yêu thương Chúa như Chúa yêu thương chúng ta. Chúa Giê xu bảo chúng ta phải yêu kẻ thù và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ , khủng bố chúng ta . Nếu chúng ta không có thứ tình yêu trời đó, tình yêu tuyệt vời mà Chúa Giê xu đã ban cho những người tin theo Ngài  thì chúng ta không cách nào có thể yêu được kẻ thù chúng ta được cả. Chúa Giê xu cũng yêu thương chúng ta một cách lạ lùng  ( Mác 10:21)

    Chúa Giê xu cũng thương yêu những người thu thuế, những người tội lỗi mà xã hội đương thời ghét và khinh bỉ  ( Giăng 10;11 và Rô ma 5: 8; Giăng 15:9)

    Và Chúa Giê xu yêu thương chúng ta quá nhiều đến nỗi không một người cũng không một điều gì có thể phân rẽ chúng ta ra khỏi tình yêu thương của Ngài được cả ( Rô-ma 8:37-39)

    - Chúa Giê xu cũng là một người có bản tính khiêm nhường thực sự

    Đức khiêm nhường của Chúa Giê xu đã được Phao lô diễn tả trong thơ Phi-líp 2, bản tính khiêm nhường của Chúa Giê xu cũng được phát huy ra trong cách đối xử của Ngài với mọi người. Chúa Giê xu tiếp xúc với tất cả mọi người. kể cả những người mà Do thái xem là cặn bã.

    - Chúa Giê xu cũng là Đấng có bản tính nhân ái

    Hiền hòa, siêng năng, cần mẫn và lúc nào cũng chuyên cần cầu nguyện với Cha trên trời. trong thời gian là một người Chúa Giê xu tự coi Ngài là Con của Đức Chúa Trời , một người Con gương mẫu không bao giờ xa cách Cha mình. Chúa Giê xu đã dành ra rất nhiều thì giờ để cầu nguyện . Thánh kinh chép rằng: Ngài cầu nguyện vào lúc sáng sớm, Ngài vào nơi vắng vẻ để cầu nguyện cùng Đức Chúa Cha. Chúa Giê xu thật sự là khiêm nhường. Ngài yêu tất cả mọi người. Chúa Giê xu cũng chỉ ra cho chúng ta những bản tính tốt đẹp khác mà khi chúng ta nghiên cứu Phúc Âm chúng ta sẽ tìm thấy. bản tính của Chúa Giê xu đã được ghi lại rất đầy đủ trong các sách Phúc Âm.

    Vì thế mà là con cái của Chúa chúng ta cần phải đọc Thánh Kinh, chúng ta cần phải đọc Phúc Âm. Chúa Giê xu thật là một con người toàn vẹn với tất cả những đức tính gương mẫu và vì thế mà Thánh Kinh đã nói rằng: Đức Chúa Trời đã chọn những người tin theo Ngài và chỉ định cho họ trở nên giống như Con của Ngài tức là Chúa Cứu Thế Giê xu.

  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.