ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • Bội ước với Chúa

    Bội ước với Chúa

    Đề tài: Bội ước với Chúa
    Kinh Thánh: Giê-rê-mi 2

    Nhập đề:

    Giữa xã hội bân, rộn và thời cuộc hối thúc chúng ta bởi những điều mắt thấy như cơm áo, gạo tiền. Nhưng khi chúng ta tạm gạt bỏ lại tất cả những gánh nặng về thể chất, gác lại tất cả những tính toán, lo toan ở đời này để đến với Kinh Thánh, chắc chắn chúng ta sẽ tìm được bài học khôn ngoan, hữu ích và đầy giá trị cho linh hồn chúng ta.

    Khi chúng ta đọc Kinh Thánh với lòng khao khát, tìm kiếm, nhìn vào từng câu từng chữ, đọc lớn tiếng và âm vang Lời của sự sống sẽ dội lại linh hồn chúng ta. Lời Chúa là đem lại sự sống và Lời Chúa có sức mạnh để lật tẩy, thanh lọc những bụi bặm, rác rưỡi, vô tín, bất khiết của con người bên trong chúng ta. Quả thực, Ngài sẽ dùng Lời của Ngài để bổ lại linh hồn chúng ta.

    Thân đề:
    Trong câu 2, Lời Chúa phán qua tiên tri Giê-ri-mi đi kêu vào tai Giê-ru-sa-lem, các bản dịch khác dùng từ rất nặng đó là: đi gào, đi thét vào tai Giê-ru-sa-lem.
    Tại sao phải đi thét và gào mà không phải chỉ nói hoặc kêu? Vì dân thành Giê-ru-sa-lem đã bị nặng tai, và béo lòng không còn có thể nghe được tiếng nhỏ nhẹ của Thiên Chúa nữa.

    Phải thét là một sự cấp bách và bày tỏ sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng dân tội lỗi. Chúa bảo với Giê-rê-mi đi thét, đi gào vào tai Giê-ru-sa-lem. Vì Giê-ru-sa-lem đã xây mặt, cứng lòng đối với Đức Chúa Trời, ngày càng lún sâu trong tội lỗi và nhất là phạm tội thờ lạy hình tượng.

    Giêrusalem được xem là thành phố thiêng liêng của ba tôn giáo lớn trên thế giới: Do thái giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Đây được xem là nơi đất lành chim đậu của các tôn giáo lớn trên thế giới.

    Giêrusalem là thành phố văn hoá đa dạng, là trung tâm của nước Do Thái, cũng là trung tâm của những cuộc thờ phượng dành cho Đức Chúa Trời. Thánh ca được hát xướng, những lời cầu nguyện thiêng liêng được dâng lên vào mỗi buổi sớm mai. Nhất là Lời Đức Chúa Trời được rao giảng qua môi miệng của các Ra-bi , thầy ký.

    Nhưng đến vào thời điểm này, Giê-ru-sa-lem không còn giữ được cái vẻ đẹp thuộc linh, huy hoàng, vàng son của mình nữa. Không còn được coi là nơi thiêng liêng dành cho Đức Chúa Trời nữa.
    Nhìn dọc vào các thung lũng, trên đồi cao, đâu đâu cũng thấy sự thờ lạy đa thần giáo.
    Đức Chúa Trời đã kết tội họ là những kẻ bất trung, bất nghĩa, và bất tín với Đức Chúa Trời.

    Trong câu 2 phần B Chúa phán: Ta nhớ lại lòng trung nghĩa của ngươi lúc ngươi còn trẻ.”
    Ở đây chúng ta thấy, cảm xúc dâng trào của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài. Chúa nhớ! Ngày xưa họ yêu Ngài bao nhiêu thì bây giờ họ xa cách Ngài bấy nhiêu, ngày xưa họ trung nghĩa bao nhiêu thì bây giờ họ bất trung với Ngài bấy nhiêu. Chúa nhớ!Đây không phải là những cảm xúc khiến cho Ngài tự hào, hay vui thỏa, hãnh diện nơi dân Ngài.

    Nhưng tấm lòng đau buồn của Chân Thần duy nhất dành cho nàng dâu của Ngài, đây là tâm trạng của một người chồng nho là chính Chúa dành cho cây nho mà Ngài đã chăm bẵm, tưới tắm.

    Ngài đã chăm bẵm, nuôi dưỡng, sửa tỉa để mong sao họ ra những trái nho mọng chín, tươi đẹp mang lại hoa lợi cho người chủ. Ngược lại họ lại sanh ra chà chuôn, gai góc và tật lê, những trái nho chua, những trái nho chua chát không ăn được, cũng chẳng mang lợi ích gì cho người chủ cả. Đây chính là tâm trạng thật rất buồn của Đức Chúa Trời đối với tuyển dân của Ngài.

    Trong sách tiên tri Ô-sê Đức Chúa Trời đã ví sánh Ngài như là người chồng và Y-sơ-ra-ên như là nàng dâu của Ngài vậy. Một mối tình  không vụ lợi, một mối tình xuất phát rất đẹp lúc khởi đầu, một mối tình tin cậy lẫn nhau khi mới khởi sự.
    Lúc dân y sơ ra ên vừa mới ra khỏi A-cập, chân ướt, chân dáo chưa biết chiến trận. Chúa dạy cho họ biết chiến trận, tại Sa-mạc Ngài dạy cho họ lòng trông cậy và đức tin ở nơi Chúa. Hằng ngày họ sống trong sự hiện diện của Ngài qua đám mây, và trụ lửa. Hằng ngày họ được nuôi dưỡng bởi sự thành tín và yêu thương của Ngài.

    Họ rất trung nghĩa, tức là một lòng trọn vẹn đi theo và phục vụ, tin cậy một mình Ngài chứ không chạy theo những thần tượng của các nước láng giềng khác.

    Lúc còn trong Sa-mạc họ rất nghèo, thậm chí họ thiếu nước, thiếu ăn, thiếu áo nhưng họ học càng tin cậy Chúa nhiều hơn, càng yêu thương Chúa nhiều hơn.
    Nhưng giờ đây, họ không còn nghèo nữa, họ có dư cái ăn, cái mặc, họ sống trong sự dư dật của Chúa ban cho. Đáng lẽ họ phải yêu Chúa nhiều hơn, gần Chúa nhiều hơn và tin cậy Ngài nhiều hơn. Nhưng kết cục là họ bỏ lòng kính mến Đức Chúa Trời tức họ không còn chung thủy hay trung nghĩa với Ngài nữa.
    Ngài phán trong Giê-rê-mi 3:20 rằng: thật như một người đờn bà lìa chồng mình cách quỉ quyệt thể nào, thì các ngươi cũng quỉ quyệt với ta thể ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.”

    Bài học: Thưa quý vị! Thưa ông bà anh chị em của tôi!
    Có lẽ, buổi sáng hôm nay, Đức Chúa Trời đã không còn thủ thỉ, ân tình hoặc nhẹ nhàng, hiền dịu với chúng ta nữa. Nhưng có thể Ngài đang gào thét, đang đau buồn về tình trạng tội lỗi và bất trung của anh chị em và tôi.

    Chúng ta đã xa khỏi Ngài rồi, chúng ta đã đánh mất tình yêu ban đầu với Ngài rồi, chúng ta cắt đứt sự sống giữa chúng ta với Ngài rồi. Chúng ta không còn nghe được tiếng của Ngài nữa. Lương tâm chúng ta đã bị chai sạn, tấm lòng chúng ta đang là những sa mạc, đời sống chúng ta có quá nhiều chà chuôm và gai gốc.

    Trong chương 3: 12 Chúa đang mời gọi dân Ngài cũng như chúng ta ngày nay: “Hỡi Y-sơ-ra-ên bội nghịch, hãy trở về. Ta sẽ không lấy nét mặt giận nhìn ngươi đâu, vì Ta hay thương xót, Ta chẳng ngậm giận đời đời, Đức Giê-hô-va phán vậy.

    Suốt đoạn 3 sựu gào thét và lời mời gọi của Đức Chúa Trời càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết: để được phục hòa với Ngài, để được trở về với Ngài, Ngài phán với họ điều họ phải làm là: “ngươi phải nhận lỗi mình: ngươi đã phạm tội nghịch cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; ngươi đã chạy khắp mọi ngả nơi các thần khác ở dưới mỗi cây xanh, mà không vâng theo tiếng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.

    “ Hỡi con cái bội nghịch, hãy trở về; vì ta là chồng ngươi.”

    Ngày nay, chúng ta hãy nhớ lại lúc chúng ta mới theo Chúa, mới tin Chúa, đây chính là thời kỳ đẹp nhất, và mối tình đẹp nhất giữa chúng ta với Đức Chúa Trời phải không?

    Tình yêu đầu đời giữa chúng ta với Chúa thật đượm tình, nặng nghĩa lắm thay. Lòng chúng ta vui sướng, hân hoan, chúng ta cảm nhận và kinh nghiệm được thời điểm, giờ khắc giữa đất và trời giao hòa với nhau.

    Chúng ta sẵn sàng hy sinh, chịu đói, chịu rét, bắt bớ, sỉ nhục, nói vu nhưng tình yêu của chúng ta với Chúa sắt son, trung nghĩa, thủy chung. Thậm chí cái chết cũng không có thể làm chúng ta nản lòng, nhụt chí.

    Nhưng trải qua tới ngày nay, chúng ta đã và đang dần đánh mất đi lòng yêu mến, sự thủy chung của chúng ta dành cho Đức Chúa Trời.
    Chúng ta đang bị thế gian sâm chiếm, mê hoặc, chúng ta bị những mối quan hệ thân thuộc làm chúng ta xa cách Chúa.
    VD: Có những người sẵn sàng bỏ Thờ Phượng Chúa cách không có lý do chính đáng.
    Chúng ta bị những tục lệ, thói làng, trò chơi quyến dũ chúng ta.
    Chúng ta thích hưởng thụ: Thích nghe nhạc đời, thích xem ti vi, thích ngồi lê dài giờ bên quán nước thay vì lợi dụng thì giờ tìm kiếm Chúa, cầu nguyện Chúa, đọc Lời Ngài.
    Chúng ta thích ngồi nhiều giờ trên Vi tính, Facebook, hay trên điện thoại hơn hất tất cả.
    Đây chính là những giếng nước Si ho ở Ai-cập, đây chính là nguyên nhân tình yêu và lòng chung thủy giữa chúng ta với Ngài bị rạn nứt, gẫy đổ.

    Chúa phán: Ta nhớ lại lòng trung nghĩa, sự chung thủy của ngươi lúc còn trẻ.
    Chúa đang gợi nhớ lại những tháng ngày vàng son của thời kỳ đầy sinh lực.
    Chúa muốn líu kéo, muốn giữ gìn và muốn kêu gọi, mời gọi bạn và tôi hãy nhớ lại để xem mình xa sút từ đâu và làm lại từ đầu.

    Chúa gợi nhớ cho chúng ta những chặng đường biết bao gian khổ nhưng chúng ta kinh qua hết cả vì không phải do nỗ lực, bàn tay của chúng ta mà là do sự thành tín đức yêu thương của Thiên Chúa dành cho chúng ta.
    Đừng quen sống với những thói quen xấu nữa, đấy có thể là những giếng nước Si-ho. Nó như là những cái bẫy để kéo chúng ta ra khỏi lòng yêu thương, sự sắt son giữa chúng ta với Chúa.
    Hôm nay, Chúa nhớ lại và nhắc lại những quá khứ hào hùng, oanh liệt mà tôi và các bạn cùng Chúa đã đồng hành bên nhau.
    Còn tôi với các bạn hôm nay có sẵn sàng trở lại với Ngài không?

    Trong đoạn 2: 21 Ngài khẳng định rằng: Ngài đã trồngY-sơ-ra-ên như cây nho hảo hạng, cây nho thuần chúng, tức được biệt riêng, được chọn lựa, được ban cho, được công bố là giống tốt nhất. Nhưng Ngài mong đợi ở họ thì họ lại làm cho Ngài thất vọng nặng nề.

    Bài học: Chúng ta có đang trong tiến trình được thánh hóa hay đang trong quá trình bị thoái hóa, chúng ta đang trong quá trình sinh trưởng hay đang trong quá trình chết dần chết mòn.
    Chúng ta đang trong quá trình được cắt tỉa hay đang trong quá trình bị ném bỏ.
    Là người Cha Thiên Thượng, Ngài rất quan tâm, lo lắng đến sự tăng trưởng, và thánh hóa của dân sự Ngài.
    Trải qua bao nhiêu năm, nhìn lại trong buổi sáng hôm này, chúng ta có sẵn sàng hạ lòng và chịu đầu phục Chúa, ăn năn về tội lỗi, về việc chúng ta yêu mến thế gian và những vật trong thế gian hơn là yêu mến Đức Chúa Trời.

    Xuống đến câu 5-6 Chúa đã đưa ra một câu hỏi để họ phải dừng lại, ngẫm nghĩ và trả lời với Ngài.
    “Đức Giê-hô-va phán như vầy: Tổ phụ các ngươi có thấy điều không công bình gì trong ta, mà đã xa ta, bước theo sự hư không, và trở nên người vô ích?”
    Chúa hỏi: “ Cha ông các ngươi thấy ta bất công ở chỗ nào mà các ngươi lại rời bỏ?”
    Chúng ta thường nhìn vào tình trạng sa sút, và tình trạng đổ vỡ của mình mà đổ lỗi cho Đức Chúa Trời, chúng ta cho rằng: sự thất bại của chúng ta là do Chúa. Nhưng tôi xin hỏi quý anh chị em một câu hỏi rằng: Hiện tại anh chị em đang sa sút phải không? Điều này có phải là do Chúa bất công không? Hiện tại anh chị em đang thất bại phải không? Điều này có phải do Chúa bất công không? Có phải anh chị em đang cay đắng có phải do Chúa bất công không?

    Bây giờ, để minh chứng cho việc Chúa có bất công không thì Ngài nói với dân Y sơ ra ên là hãy đi hỏi: Những cha ông của họ.
    Vì những cha ông của họ chính mắt đã chứng kiến mọi điều về sự dìu dắt và chăm sóc của Chúa cho dân của Ngài.
    Chúa chứng minh trong câu số 6 về sự thành tín, gìn giữ, nuôi dưỡng của Ngài đối với dân của Ngài như sau:
    Đầu tiên Ngài khẳng định với họ rằng:
    - Chính Ngài là Đấng đã đem họ lên khỏi đất Ê-díp-tô.
    Ê-díp-tô nơi họ phải chịu phục dịch, Ê-díp-tô nơi họ phải chịu đầy đọa, Ê-díp-tô nơi họ bị đánh đập và chối bỏ, Ê-díp-tô nơi họ phải chịu cùng cực bởi sự bất công. Họ khốn khổ, sống trong cảnh đen tối, và bị cai trị. Trong lúc họ bị khốn khổ, cùng cực. Họ đã kêu đến Đức Chúa Trời. Ngài đã từ trên cao Ngài nghe thấy, Ngài nhìn thấy nỗi thống khổ của họ và Ngài đã không ngồi yên được mà Ngài đã cứu giúp họ.

    Thánh Phao lô cũng nói: Chúng ta lúc trước cũng thế, bị ngoại quyền cai trị, sống theo dục vọng, chiều theo xác thịt, bị cai trị bởi tội lỗi, sống trong bóng tối của tội lỗi, bị Ma quỷ áp bức, đe dọa. Và rồi Đức Chúa Trời thương xót chúng ta cứu chúng ta không phải bởi việc công đức chúng ta làm. Nhưng cứ theo sự thương xót rất lớn của Chúa.
    Đáng lẽ chúng ta phải bị chết mất trong tội lỗi, nhưng Ngài đã đem chúng ta lên khỏi sự chết để đến sự sống.
    Từ địa vị con của Ma quỷ lên đến địa vị con cái của Đức Chúa Trời.
    Từ chỗ sống trong bóng tối thì Ngài đã rời chúng ta qua nước của con rất yêu dấu của Ngài.
    Từ chỗ đời đời bị xa cách mặt Chúa nhưng bây giờ chúng ta được gần Ngài và được gọi Ngài là A-ba Cha của chúng ta.

    Thư hỏi: Đức Chúa Trời có bất công không? Nếu không bất công tại sao chúng ta lại rời bỏ Ngài?
    Có bài thánh ca: bỏ Ngài con biết theo ai?

    -         Chính Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ băng qua đồng vắng.
     Đồng vắng mà Thánh Kinh mô tả là nơi Sa-mạc đầy hầm hố, khô khan,  chết chóc, chẳng có một người nào đi qua, và cũng không có ai ở”
    Vậy thì thử hỏi: một nơi như thế này mà sống sót được trong bốn mươi năm đây quả thật là phép lạ phi thường.
    Suốt bốn mươi năm họ lang thang trong Sa-mạc, họ thiếu nước, Ngài cho nước, họ đói Ngài cho họ ăn, họ bệnh Ngài là Giê hô va Ra-pha Đấng chữa bệnh cho họ. Họ rét Ngài sưởi ấm, họ nóng Ngài là bóng mát qua đám mây. Thánh Kinh khẳng định về sự chăm sóc của Chúa rằng: Suốt bốn mươi năm sống trong Sa mạc, áo của họ không rách, giầy của họ thì không mòn.
    Giữa vùng cát lún, không một bóng cây, không một bóng người, không một mái nhà, không một suối nước, không một cánh đồng thế mà họ không phải là sống bốn mươi ngày mà là bốn mươi năm.
    Thử hỏi: Đức Chúa Trời có bất công không?
    Nếu không bất công tại sao? Chúng ta lại rời bỏ Ngài?
    Ngài hỏi mỗi chúng ta câu ấy? là để chúng ta nhìn vào chính chúng ta, và rồi chúng phải thừa nhận rằng: Đây là do lỗi của chúng ta, đây là sự chọn lựa và quyết định của chúng ta.

    -         Không chỉ dân thường thôi nhưng chính các tư tế và thầy dạy luật, mục tử trong sách Giê-rê-mi là những người những người phục vụ và hầu việc Đức Chúa Trời cũng xa Chúa nữa.
    -         Câu 8: “Các thầy tế lễ không còn nói: Nào Đức Giê-hô-va ở đâu? Những người giảng luật pháp chẳng biết ta nữa. Những kẻ chăn giữ đã bội nghịch cùng ta. Các tiên tri đã nhân danh Ba-anh mà nói tiên tri”
    Nhưng họ cũng xa Chúa, làm công việc tôn giáo, mồm họ nói: nào chúng tôi có bỏ Chúa đâu nào? Nào chúng tôi có thờ thần tượng Ba anh đâu nào? Nhưng nhìn vào việc họ làm thì là nghịch lại gớm giếc với Đức Chúa Trời.

    Thưa quý vị! Những ai là tư tế, là mục tử, là thầy dạy luật… chúng ta đang bị Đức Chúa Trời cáo trách về tình trạng xa cách Chúa của chúng ta, chúng ta đang bị cáo trách về sự bội ước của chúng ta với Ngài. Chúng ta đã thực sự xa cách Ngài, chúng ta nói hầu việc Ngài nhưng kỳ thực chỉ hầu việc cái bụng và mục đích ích kỷ của tham vọng bản thân mà thôi.
    Chúng ta nói: chúng ta đang hầu việc Chúa nhưng kỳ thực tâm linh chúng ta đã chết đối với Đức Chúa Trời rồi.

    Kết Luận:

    Hai câu trong phân đoạn Kinh Thánh này đánh mạnh và đập mạnh vào mắt tôi và lòng tôi nhất đó là: “ rời bỏ” hay “ lìa bỏ” hoặc “ xa ta”
    Đây phải là thành ngữ trở thành tiếng nói để đánh động tâm linh chúng ta trong buổi sáng hôm nay.
    Ngài luôn chăm sóc quý vị và tôi! Ngài luôn yêu thương, dẫn dắt, và thành tín, giữ gìn đời sống tôi và quý vị! vậy tại sao! Tại cớ gì mà chúng ta đang rời bỏ Ngài, tại sao chúng ta lại lìa bỏ Ngài, tại sao chúng ta đang xa Ngài.

    Dù cho lý do là gì đi nữa, thì không có lý do nào xứng đáng để cho chúng ta xa Ngài, lìa Ngài và bỏ Ngài.
    Dù cho sự chọn lựa của chúng ta là gì đi nữa? thì quyết định khôn ngoan nhất vẫn là phải chung thủy, chung tình, thủy chung, sắt son với Ngài.

    Hôm nay, tôi và các bạn nhớ lại tình yêu của chúng ta với Ngài trong những năm đầu đời theo Chúa, hãy trở lại với Ngài. Đừng xa Ngài nữa.
    Ngài đang nhớ nhung, Ngài đang khao khát, chờ đợi bạn và tôi hãy quay về với Ngài.
    Hỡi những tôi tớ của Đức Giê hô va, là kẻ ban đêm đứng tại nhà Ngài. Hãy cho mắt chúng ta chảy và lòng chúng trải ra trước mặt Ngài.
    Chúng ta đang thực sự đang sống động với Đức Chúa Trời hay mối quan hệ của chúng ta với Ngài đã chết và gẫy đổ. Hãy trở lại với Ngài ngay thì giờ này trong danh Chúa Giê xu. A men!



  • Bài 51 Lý do Chúa Cứu Thế Giê xu Phải Trở Thành Người ( Bài 1)

    Bài 51 Lý do Chúa Cứu Thế Giê xu Phải Trở Thành Người ( Bài 1)

    Giáo Lý Thần Học
    Bài 51 Lý do Chúa Cứu Thế Giê xu Phải Trở Thành Người ( Bài 1)
    Thánh Kinh trình bày cho chúng ta biết rõ rằng Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời, nhưng để hoàn tất cứu rỗi nhân loại. Chúa Giê xu đã tình nguyện nhập thể và nhập thế. Tức là trở thành người và đến thế gian này.
    Chúa Giê xu ngôi hai của Đức Chúa Trời đã trở thành một người Giăng 1:14 chép rõ “…”
    Và trong bức thơ gửi cho những người tại thành phố Ga la ti, nhà sứ đồ Phao lô cũng viết “ Nhưng khi kỳ hạn đã được chọn, Đức Chúa Trời bèn sai Con Ngài bởi một người nữ sinh ra” ( Ga-la-ti 4:4)

    Thư Phi líp cũng nói đến sự kiện này như sau: “ Chúa Cứu Thế vốn có hình Đức Chúa Trời hay là vốn có bản tính Đức Chúa Trời, nhưng đã tự làm cho mình trở nên trống không, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người.”
    Hơn thế nữa, những câu chuyện về Chúa Giê xu đã ghi lại đầy đủ trong các sách Phúc Âm, tất cả được nhấn mạnh đến sự kiện Đức Chúa Giê xu được sinh ra một cách bình thường như bao nhiêu người khác.
    Dù sự kiện, mẹ của Ngài là bà Ma ri là một phép lạ của Đức Chúa Trời làm. Tại sao Đức Chúa Giê xu trở thành một người. Những lý do nào đã khiến cho kế hoạch cứu rỗi nhân loại phải đòi hỏi Chúa Giê xu phải trở thành một người? thì mới có thể đem lại ơn cứu rỗi cho nhân loại, cho chúng ta?
    Chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu vấn đề này.

    Bài hát: Chúa Giê xu người bạn của tội nhân
    Tại sao Chúa Cứu Thế Giê xu là Đức Chúa Trời phải trở thành một người trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại?
    Dựa vào Thánh Kinh chúng ta có thể tìm ra được một số những lý do sau đây:

    1/. Chúa Giê xu trở thành một người để thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời.
    Như chúng ta đã có dịp nghiên cứu trước đây, thì sau khi A đam và Ê va là tổ phụ của loài người sa ngã. Đức Chúa Trời đã hứa sẽ có một người mệnh danh là dòng dõi của người nữ ra đời để đạp đầu con rắn tức là Ma quỷ, Sa tan.
    Lời hứa này được chép trong sách Sáng Thế Ký 3:15.
    Nhưng lời tiên tri trong Thánh Kinh Cựu Ước cũng cho chúng ta thấy lời hứa của Đức Chúa Trời luôn luôn được nhắc đến sự mệnh của Đức Chúa Trời là một người của Chúa Cứu Thế như trong sách tiên tri Ê sai 9: 6 có chép rằng: “…” và trong Ê-sai 7:14 nói rằng: “…”

    Nhà tiên tri Mi-chê cũng được gọi là Mai-ca cũng nói trước về sự ra đời của Chúa Cứu Thế Giê xu trong Chương 5 câu 2 rằng: “…”

    Nghiên cứu kỹ lưỡng Thánh Kinh Cựu Ước, chúng ta thấy những lời tiên tri về Chúa Cứu Thế đều nhất loạt nói rằng: Ngài sẽ ra đời như một người, Ngài sẽ là một người, một người sinh ra để làm vua, để làm Chúa Cứu Thế, để giải phóng nhân loại ra khỏi tội lỗi.

    Những hình thức dâng sinh tế để chuộc tội mà Đức Chúa Trời đã dạy cho dân tộc Do Thái phải thi hành trong thời đại Cựu Ước, cũng luôn luôn nhấn mạnh đến sự kiện con sinh tế, phải bị giết chết trên bàn thờ, để chuộc tội cho người có tội.
    Tuy nhiên, chúng ta thấy rằng cái chết của những con sinh tế, hoặc bò, hoặc chiên v.vv…không thể nào có giá trị tương đương với giá trị sinh mạng của con người. vì vậy mà cái chết của những con sinh tế này chỉ là cách mà Đức Chúa Trời nói trước, về cái chết của một người có giá trị thay thế cho người và người ấy chính là Chúa Giê xu.
    Chúng ta có thể nói rằng những con sinh tế ấy chỉ là hình bóng cho Chúa Giê xu mà thôi. Chúa Giê xu phải trở thành một người để thi hành nhiệm vụ làm con sinh tế, thế mạng cho loài người theo luật công bằng của Đức Chúa Trời, luật công bằng của Đức Chúa Trời đòi hỏi người có tội thì phải chết như Lời Chúa đã phán ở trong sách Ê-xê-chiên 18:4 “…”
    Vậy để có thể giải thoát loài người ra khỏi sự chết, ra khỏi án phạt công bằng của Đức Chúa Trời. Chúa Giê xu đã phải trở thành một người và đã chịu chết thế cho loài người.
    Lý do thứ hai khiến Chúa Giê xu phải trở thành một người là để:

    2/. Bày tỏ Đức Chúa Trời là Cha cho loài người
    Trong thời Cựu Ước chúng ta thấy Đức Chúa Trời thường mặc khải chính Ngài cho loài người biết Ngài là Đấng Tạo Hóa và Đấng chủ tể của toàn thể vũ trụ và muôn vật, nhưng Chúa Giê xu đã đến trần gian để mặc khải thêm cho loài người biết rằng Đức Chúa Trời là Cha của chúng ta.
    Bản dịch phổ thông Phúc Âm Giăng 1:14-18 chép rằng: “…”
    Trong một cuộc đối thoại giữa Chúa Giê xu và ông Phi líp, Chúa cũng đã phán rằng: Nầy Phi Líp ta ở với các con đã lâu mà các con chưa biết ta sao? Ai thấy ta tức là thấy Cha, sao con còn nói xin chỉ Cha cho chúng tôi?

    Chúa Cứu Thế Giê xu Ngài đã trở nên một người và qua những năm Ngài có mặt trên trần gian này, chúng ta đã thấy được mối quan hệ mật thiết giữa Ngài với Đức Chúa Trời như giữa con và Cha.
    Chúa Giê xu đã từng nói đến mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời là Cha và chúng ta là con trong bài giảng trên núi ( Ma-thi-ơ 5-7)
    -         Ma-thi-ơ 5:45
    -         Ma-thi-ơ 5:48
    -         Ma-thi-ơ 6:1
    -         Ma-thi-ơ 6:3-4
    -         Ma-thi-ơ 6:5-6
    -         Ma-thi-ơ 6:7-15
    -         Ma-thi-ơ 7:7-11
    Những câu mà tôi đã trích ra đó, cho chúng ta thấy rằng loài người vốn có khuynh hướng xem Đức Chúa Trời như Đấng Tạo Hóa, như là Chúa tể của muôn loài, muôn vật,  như là vị chánh án công minh sẵn sàng chừng phạt những người có tội.
    Nhưng Chúa Giê xu đã đến đã giảng dạy những lời đó, để bày tỏ cho chúng ta biết thêm nữa rằng Đức Chúa Trời là Đấng đầy tình yêu, Ngài là Cha của chúng ta. Nếu chúng ta ăn năn tội trở về với Chúa thì Chúa sẽ chấp nhận.
    Trong câu chuyện người con trai phá của mà Chúa Giê xu đã kể và Phúc Âm Lu ca có ghi lại trong chương 15. Một lần nữa, Chúa Giê xu cũng dạy cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời là người Cha nhân từ, Đức Chúa Trời có tâm tình như người Cha già trong câu chuyện này. Sẵn sàng tha thứ và phục hồi địa vị làm con cho đứa con phá của khi nó đã biết ăn năn tội lỗi và trở về với Cha.
    3/. Chúa Giê xu đã trở thành người để trở thành một thầy tế lễ thượng phẩm
    Thầy tế lễ thượng phẩm là người trung gian giữa Đức Chúa Trời và loài người, thầy tế lễ là người đại diện cho loài người để dâng nên lời cầu nguyện, ca tụng và cầu xin Thượng Đế.
    Hệ thống tế lễ của loài người, đặc biệt là của Do Thái Giáo luôn luôn cần phải có thầy tế lễ. Trong giáo luật của dân Do Thái, thầy tế lễ là những người được lựa chọn trong vòng dân chúng để làm người đại diện cho dân chúng, dâng sinh tế chuộc tội cho nhân dân. Chúa Giê xu đã đến trần gian trở thành một người, để hành xử chức vụ tế lễ, để làm một thầy tế lễ cho loài người.
    Vai trò thầy tế lễ của Chúa Giê xu chẳng những quan trọng, mà còn cần thiết nữa. Bởi vì tất cả những thầy tế lễ đều chỉ là những người thường, cũng có tội như bao nhiêu người khác. Ngoài việc dâng sinh tế chuộc tội cho dân chúng, thầy tế lễ còn phải dâng sinh tế chuộc tội cho chính mình nữa.
    Nhưng Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời vì thế mà khi Ngài trở thành người, Ngài trở thành một người hoàn toàn vô tội và chức vụ thầy tế lễ của Chúa Giê xu có tính cách toàn vẹn. Và Chúa Giê xu có thể đại diện cho toàn thể mọi người để dâng lên Đức Chúa Trời những lời cầu xin được Đức Chúa Trời chấp nhận.
    Thánh Kinh Tân Ước trong thơ Hê-bơ-rơ nói đến vai trò thầy tế lễ của Chúa Giê xu, đặc biệt là sự kiện Chúa Giê xu trở thành một người, để cảm thông với nỗi khổ đau của loài người trong thơ Hê-bơ-rơ 4:15 có chép “…”
    Trong Hê-bơ-rơ 7:7-23 chép rằng: “…”



  • Bài 52 Lý do Chúa Cứu Thế Giê xu Phải Trở Thành Người ( Bài 2 tiếp theo)

    Bài 52 Lý do Chúa Cứu Thế Giê xu Phải Trở Thành Người ( Bài 2 tiếp theo)

    Giáo Lý Thần Học
    Bài 52 Lý do Chúa Cứu Thế Giê xu Phải Trở Thành Người ( Bài 2 tiếp theo)

    Chúng ta đang tìm hiểu về vai trò của Chúa Cứu Thế Giê xu trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại,
    Trong bài học lần trước, chúng ta đã nêu ra những lý do là tại sao Đức Chúa Trời mà phải trở thành một người mới có thể cứu rỗi loài người được.
    Trên lĩnh vực thần học chúng ta có thể đặt ra câu hỏi, tại sao Đức Chúa Giê xu là Ngôi Hai Đức Chúa Trời lại phải trở thành một người mới có thể cứu rỗi loài người được.

    Trong bài học Giáo Lý Thần Học lần trước bài số 51 chúng ta đã nêu lên ba lý do:
    1/. Chúa Giê xu đã trở thành người để thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời về một người sẽ ra đời để giải phóng nhân loại.
    Những lời hứa của Đức Chúa Trời đều nói rõ vị cứu tinh nhân loại phải là một người, và trong tư thế của một người vị cứu tinh ấy mới có thể chịu chết đền tội cho loài người.

    2/. Chúa Giê xu phải trở thành một người là vì Ngài muốn giãi bày Đức Chúa Trời là Cha cho loài người biết.
    Loài người thường chỉ xem Đức Chúa Trời như là Đấng Tạo Hóa, là Đấng chủ tể, là Đấng thẩm phán, sẽ phán xét loài người. Nhưng qua Chúa Giê xu loài người mới học được rằng Đức Chúa Trời còn là một người Cha đầy lòng nhân ái đối với chúng ta.

    3/. Chúa Giê xu đã trở thành người để làm một thầy tư tế thượng phẩm đại diện cho tội nhân trước mặt Đức Chúa Trời.
    Thầy tế lễ phải là người thì mới có thể đại diện cho người, vì vậy để làm một thầy tế lễ để đại diện cho loài người trước mặt Đức Chúa Trời. Chúa Giê xu đã trở thành một người.
    Trong bài học hôm nay, chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp những lý do khác khiến cho Chúa Giê xu đã trở thành người trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại.

    Ca tụng Chúa bài hát: Dòng Sông Trường Sinh
    Bài hát trường sinh của Phương Thảo vừa qua, đã trình bày về sự kiện Chúa Giê xu từ giã thiên đàng vinh hiển ra đi, đi xuống trần gian này để cứu rỗi nhân thế.

    Chúa Giê xu đã nhập thể như một dòng sông ngập tràn hồng phúc, mang theo ơn cứu độ của Đức Chúa Trời đến tưới mát lòng nhân loại.
    Trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại, Chúa Giê xu đã trở thành một người vì những lý do tiếp theo đây:
    4/. Chúa Giê xu đã phải trở thành một người là để cất bỏ tội lỗi ( Hê-bơ-rơ 9:26b)
    Lời Chúa có chép rằng: Chúa Giê xu đã xuất hiện chỉ bởi một lần, dâng mình làm sinh tế để cất tội lỗi đi. Chân lý này đã được lặp đi lặp lại rất nhiều lần trong Thánh Kinh. Chính Chúa Giê xu đã nói rõ mục đích của Ngài đến trần gian trở thành một người là để chuộc tội cho loài người.
    Phúc Âm Mác 10:45 ghi lại lời Chúa Giê xu nói rằng: Vì Con Người ( tức là cách mà Chúa Giê xu tự xưng hô) đã đến không phải để cho người khác phục vụ mình, nhưng để phục vụ người ta và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người.

    Lời Thánh Kinh giải thích rõ ràng rằng: Chúa Giê xu phải trở thành người để chịu chết đền tội cho loài người.
    Hê-bơ-rơ 2:9b có chép: Đức Chúa Giê xu đã vì mọi người mà nếm sự chết.
    Trong thư I Giăng có chép rằng: vả, các con biết rằng Chúa Cứu Thế Giê xu đã hiện ra để cất tội lỗi đi. Và biết trong Ngài không có tội lỗi.

    Vì đức công chính của Đức Chúa Trời đòi hỏi người có tội phải đền tội và vì tiền công của tội lỗi là sự chết. Nên không một người nào đền tội thế cho người khác được. Vì tất cả mọi người đều là tội nhân.

    Nhưng Chúa Giê xu đã trở thành một người, một người hoàn toàn vô tội. Vì vậy mà cái chết của Ngài mới có giá trị đền tội, thế cho tất cả mọi người.
    Trong thời Cựu Ước Đức Chúa Trời đã từng dạy cho dân Do Thái những luật lệ quan hệ đến vấn đề đền tội và cất bỏ tội lỗi.
    Dân Do Thái trong ngày đại lễ chuộc tội, phải dâng hai con sinh tế và đó là hai con dê, một con phải đem ra giết nơi bàn thờ để chết thế cho người có tội. Còn con dê kia thì bị xua đuổi vào sa mạc, sau khi thầy tế lễ thượng phẩm đặt tay trên đầu con dê đó và xưng ra những tội lỗi của dân Do Thái.

    Sách Lê vi ký 16:22 ghi rằng: Vậy con dê đó sẽ gắn trên mình nó các tội ác của dân Do Thái ra nơi hoang địa.
    Khi gặp Chúa Giê xu lần đầu tiên chính nhà tiên tri Giăng Báp tít cũng tuyên bố: Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.

    Nhà tiên tri Ê-sai cũng nói rõ trong đoạn 53 về vai trò của Chúa Giê xu trong việc gánh tội của nhân loại. Ê-sai53:6 chép: “ Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường lấy, Đức Giê hô và đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chồng chất trên người.

    Thánh Phao lô cũng xác nhận như vậy trong II Cô-rinh-tô 5: 21 “ Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi đã trở nên tội lỗi vì chúng ta, hầu cho chúng ta nhờ Đấng ấy mà được trở nên sự công chính của Đức Chúa Trời.”

    5/. Chúa Giê xu phải trở thành người là để phá hủy công việc của Ma quỷ Sa tan.
    I Giăng 3:8 có chép rằng: “
    Trong thư Hê-bơ-rơ 2:14-15 giải thích rõ hơn.

    Sự xuất hiện của Chúa Cứu Thế Giê xu đặc biệt là sự chết của Ngài trên thập tự giá, đã đánh bại Sa tan một cách hoàn toàn. Công việc của Sa tan đã bị phá vỡ và số phận của Sa tan đã bị ấn định chắc chắn trong hồ lửa đời đời.

    Như sách Khải Huyền 20:10 chép: “…”
    Trong ngày tận thế, khi Sa tan bị quăng xuống hồ lửa rồi, mọi tội lỗi sẽ đi đến kết thúc và không còn hoành hoành nữa trong thế giới do Đức Chúa Trời cai trị. Nhưng những ai không tiếp nhận ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế Giê xu thì sẽ phải đồng chung số phận với quỷ vương Sa tan.

    6/. Chúa Giê xu đã phải trở thành một người là để làm một gương mẫu toàn vẹn cho một đời sống thánh khiết.
    I Phi-e-rơ 2:21-22 thánh Phi-e-rơ nói rằng: “…”

    Kể từ khi A đam nghe theo lời Ma quỷ mà phạm tội, thì chính A đam và tất cả mọi người sinh ra đều không thể nào đạt được đến địa vị thánh thiện hoàn toàn trong đời sống được nữa.
    Tội lỗi đã làm hư đi bản tính của loài người, tội lỗi đã đưa loài người từ băng hoại này đến băng hoại khác trong vấn đề tâm tinh, đạo đức và luân lý.
    Những cố gắng của loài người xưa nay hầu đạt đến bậc thánh thiện đều bị thất bại, những người mà ngày nay chúng ta tôn là thánh. Chính họ cũng biết rõ rằng họ là những người bất toàn như bao nhiêu người khác.
    Những người đã tin nhận Chúa Cứu Thế Giê xu cũng thường phải trải qua những cuộc tranh chiến nội tâm, để giữ cho mình một đời sống thánh thiện dầu là thánh thiện tương đối mà thôi.
    Nhưng Chúa Giê xu đã trở thành người và Ngài đã sống một cuộc đời hoàn toàn thánh khiết, để làm gương mẫu cho chúng ta, đồng thời chỉ cho chúng ta thấy rằng nếu chúng ta trung kiên với Chúa thì cuối cùng chúng ta cũng đạt đến bậc thánh thiện toàn vẹn như Ngài. Vì đó chính là mục đích của Đức Chúa Trời khi Ngài ban ơn cứu rỗi cho chúng ta.
    Thư Rô-ma 8: 29 có chép: “…”
    Lý do sau cùng khiến Chúa Giê xu trở thành một người trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại là vì:

    7/. Ngài sẽ trở lại với tư cách là một người để cai trị thế giới loài người
    Hê-bơ-rơ 9:28 “…”

    Ở đây có nói rằng: Chúa Giê xu sẽ hiện ra lần thứ hai để ban sự cứu rỗi cho những người chờ đợi Ngài. Sự cứu rỗi ở đây là sự cứu rỗi toàn vẹn, là giai đoạn viên mãn của sự cứu rỗi. Chúng ta cần phân biệt hai giai đoạn của sự cứu rỗi trong Chúa Giê xu.
    Giai đoạn thứ nhất là: Cung ứng ơn cứu rỗi.
    Và giai đoạn này bắt đầu từ lúc sáng thế cho đến ngày tận thế. Những hình thức dâng sinh tế trong thời Cựu Ước đều là những hình ảnh nói trước về sự chết của Chúa Giê xu khi Ngài đến trần gian cách đây gần hai nghìn năm. Và trong thời gian này những ai tin nhận Chúa Giê xu đều được cung ứng sự cứu rỗi.

    Giai đoạn thứ hai là giai đoạn: Áp dụng ơn cứu rỗi.
    Giai đoạn này bắt đầu khi Chúa Giê xu tái lâm và cho đến đời đời vô cùng. Khi Chúa Giê xu trở lại trần gian này lần thứ hai thì tất cả những người đã thực sự tin theo Ngài đã được cung ứng sự cứu rỗi sẽ đạt đến bậc toàn vẹn trong ơn cứu rỗi. Vì lúc ấy ơn cứu rỗi được áp dụng một cách toàn vẹn đối với người ấy.
    Chúa Giê xu đã chịu chết để đền tội cho loài người, khi chúng ta tin nhận Ngài thì chúng ta được cứu rỗi ngay hay là chúng ta được giải phóng ra khỏi án phạt của tội lỗi và mặc cảm tội lỗi. Nhưng chúng ta chưa được giải phóng ra khỏi sự hiện diện của tội lỗi. tội lỗi vẫn còn có mặt xung quanh chúng ta, và đôi lúc tội lỗi vẫn còn có mặt trong chúng ta. Là những người tin theo Chúa Giê xu như lời của sứ đồ Giăng đã xác nhận trong I Giăng 1:8 “…”
    Qua chương 10 của chương 1 này ông Giăng cũng xác nhận thêm “…”

    Nhưng chúng ta nên nhớ khi Chúa Giê xu trở lại thì tội lỗi sẽ bị hủy diệt và quỷ vương Sa tan sẽ bị quăng xuống hồ lửa đời đời. Tội lỗi lúc ấy hoàn toàn biến mất trong ngày Chúa Giê xu trở lại, để cai trị toàn thể thế giới loài người.
    Do đó, chính là giai đoạn cứu rỗi toàn vẹn, và đó cũng là điều mà tác giả thư Hê-bơ-rơ đã nói: Chúa Cứu Thế sẽ hiện ra một lần thứ hai không phải để cất tội như lần thứ nhất, nhưng là để ban sự cứu rỗi, sự cứu rỗi thuộc giai đoạn toàn vẹn cho những người chờ đợi Ngài.
    Thánh Phao lô cũng mô tả sự kiện này trong thơ Rô-ma 8:18-23 “…”

    Muôn vật cũng được mong rằng sẽ được giải thoát khỏi vòng hư hoại của nhân loại, để dự phần trong sự tự do vinh hiển của các con cái Đức Chúa Trời. Vì chúng ta biết rằng muôn vật đều thở than và chịu khó nhọc cho đến ngày nay, không những muôn vật thôi mà cả chúng ta nữa cũng than thở trong lòng đang khi chờ đợi được làm con tức là sự cứu chuộc thân thể.


  • Bài 53 Bản Chất Của Sự Kiện Chúa Giê xu Trở Thành Người

    Bài 53 Bản Chất Của Sự Kiện Chúa Giê xu Trở Thành Người

    Giáo Lý Thần Học
    Bài 53 Bản Chất Của Sự Kiện Chúa Giê xu Trở Thành Người
    Trong bài học số 52 chúng ta đã nhắc tới 7 lý tại sao Chúa Giê xu lại trở thành người trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại.
    7 lý do này là:
    1/. Để thực hiện lời hứa của Đức Chúa Trời về việc ban một Đấng Cứu Chuộc cho nhân loại.
    2/. Để bày tỏ cho loài người biết được Đức Chúa Trời là Cha nhân ái.
    3/. Để thi hành một chức vụ thượng phẩm đại diện cho loài người trước mặt Đức Chúa Trời.
    4/. Để cất bỏ tội lỗi.
    5/. Để phá hủy công việc của Ma-quỷ.
    6/. Để làm một gương mẫu toàn vẹn về một đời sống thánh khiết cho loài người noi theo.
    7/. Để sẽ trở lại trực tiếp cai trị thế giới loài người.
    Trong bài học giáo lý thần học hôm nay, chúng ta sẽ bàn đến bản chất của sự kiện Chúa Giê xu trở thành một người trong kế hoạch cứu rỗi nhân loại.
    Câu hỏi mà nhiều người thường đặt ra trong vấn đề Chúa Giê xu trở thành người, là làm thế nào Chúa Giê xu vốn là Đức Chúa Trời lại có thể trở thành một người được? Cũng như các giáo lý khác mà chúng ta đã nghiên cứu thì thẩm quyền trả lời thắc mắc này là Lời Chúa trong Thánh Kinh.
    Chúng ta tìm được trong Thánh Kinh khá nhiều đoạn giải thích sự kiện này. Phân biệt nổi bật hơn hết là ở trong thư Phi-líp 2:6-8: “Ngài vốn có hình Đức Chúa Trời, song chẳng coi sự bình đẳng mình với Đức Chúa Trời là sự nên nắm giữ; 7 chính Ngài đã tự bỏ mình đi, lấy hình tôi tớ và trở nên giống như loài người; 8 Ngài đã hiện ra như một người, tự hạ mình xuống, vâng phục cho đến chết, thậm chí chết trên cây thập tự.” (BDTKH)

    Bản DÝ của Mục sư Lê Hoàng Phu thì dịch như sau: “ Ngài vốn có bản thể làm một giống như Thượng đế. Tuy nhiên, Chúa Cứu Thế không cố vị tham quyền là quyền hành tối linh thiêng bình đẳng với Tạo Hóa. 7 Tình nguyện bỏ tất cả, mang thân thể con người. Hình hài người khiêm ti, chịu thân phận nô tỳ. 8 Đi con đường vâng phục, chịu chết cách cực nhục. Trên thập tự giá hi sinh.” (BDYTK)

    Một bản dịch khác của Hồng Y Trịnh Văn Căn thì mấy câu này được dịch là: “ Người đồng bản tính với Thiên Chúa song chẳng nghĩ mình ngang hàng với Thiên Chúa, một mực hạ mình nhận lấy bậc tôi tớ và nên giống như phàm nhân và khi đã mặc lấy hình thể phàm nhân rồi. Người còn tự hạ hơn nữa, người đã vâng phục cho đến chết và đã chết trên cây thập giá.”
    Qua ba bản dịch vừa nêu lên thì chúng ta thấy rằng sự kiện căn bản là Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời, là Thiên Chúa, là Thượng Đế. Nhưng Ngài đã tình nguyện trở thành một người để trong thân phận của một con người đó Chúa Giê xu chịu chết vì tội lỗi của nhân loại. Vấn đề đầu tiên mà chúng ta tìm hiểu là:

    I/. Chúa Giê xu tình trạng của Ngài trước khi trở thành một người.
    Những thành ngữ trong câu Thánh Kinh này “ vốn có hình Đức Chúa Trời” hay “ vốn có bản thể của Thượng Đế” hoặc “ đồng bản tính với Thiên Chúa” đều rất rõ nghĩa, rõ ràng chúng ta không cần phải bàn cãi gì cả.

    Những thành ngữ này dịch rất sát với nguyên văn tiếng Hy Lạp của Thánh Kinh Tân Ước và đều có nghĩa là: Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời. Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Thượng Đế, Ngài là Đấng Tạo Hóa.

    Đây cũng là điều mà sứ đồ Giăng đề cập đến khi mở đầu Phúc Âm “ Ban đầu có ngôi lời, ngôi lời ở cùng Đức Chúa Trời, và ngôi lời là Đức Chúa Trời”
    Sự kiện Chúa Giê xu trở thành một người mới là vấn đề thần học mà chúng ta cần phải tìm hiểu một cách rất kỹ lưỡng, cũng dựa vào câu Thánh Kinh quan trọng trong Phi-líp 2:6-8 mà chúng ta đã so sánh cả ba bản dịch. Chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu hai điểm rất quan trọng sau đây:

    1/. Người đã tự bỏ mình đi.
    Chúa từ bỏ tất cả hay hạ mình trong câu này có nghĩa gì? Trong nguyên văn tiếng Hy Lạp của Thánh Kinh Tân Ước thì động từ: “ bỏ mình đi” hay “ tự bỏ” hoặc “ từ bỏ tất cả” hay “ hạ mình” đều có nghĩa là tự làm cho mình trở nên trống không. Tự làm cho mình trở nên trống không.
    Thật ra, đây là một động từ rất khó hiểu và có thể đưa chúng ta đến chỗ hiểu sai về bản thể của Chúa Giê xu khi Ngài xuống thế làm một người.

    Khi nói rằng Đức Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời, là Thiên Chúa, là Thượng Đế. Nhưng Ngài đã từ bỏ tất cả, Ngài đã tự hạ mình xuống, Ngài đã làm cho Ngài trở nên trống không thì điều này không có nghĩa là Chúa Giê xu từ bỏ hay gác lại tất cả các bản tính, bản thể của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như bản tính toàn tri tức là biết tất cả mọi sự, toàn năng tức là làm được tất cả mọi sự, toàn tại tức là hiện hữu khắp mọi nơi. Mà chỉ giữ lại các bản tính như là thánh khiết, yêu thương và chân thành.

    Như một số các nhà thần học, như ông Thô-mát-si-ốt ở Đức hay là Đa-vít-forres ở Á-nhĩ-lan hoặc Goody ở Mỹ chủ trương.
    Nếu chúng ta đọc Thánh Kinh một cách kỹ lưỡng thì sẽ thấy rằng, không một chỗ nào trong toàn bộ Thánh Kinh Tân Ước hay đặc biệt là các sách Phúc Âm nói rằng: khi trở thành người thì Chúa Giê xu không còn các bản tính của Đức Chúa Trời nữa.

    Đây là một sự kiện mà chúng ta cần phải đả thông, đọc lại Phúc Âm, đọc thật kỹ Phúc Âm, chúng ta thấy rằng khi còn có mặt trên trần gian này. Khi đã mang lấy thân xác của phàm nhân, Chúa Giê xu vẫn biểu lộ các bản tính của Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như ở trong Giăng 2:24-25 nói rằng: “ Chúa Giê xu nhận biết mọi người”Chúa Giê xu tự hiểu thấu mọi điều trong lòng của người khác. Đây là điều chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể biết được, vì như Thánh Kinh trong Cựu Ước có nói rằng: Chúa dò xét trong trí, thử nghiệm trong lòng.

    Chỉ Chúa mới có thể biết được những gì mà chúng ta đang suy nghĩ, những gì mà chúng ta đang manh tâm và Chúa Giê xu khi Ngài trở thành một người rồi. Ngài đọc được tất cả những gì trong trí óc của những người đương thời. Ngài nhận biết mọi người, Ngài hiểu thấu mọi điều trong lòng người.

    Điều đó, chứng tỏ rằng khi Chúa Giê xu trở thành một người. Chúa Giê xu vẫn còn bản tánh của Đức Chúa Trời vì Ngài hiểu thấu mọi sự, dù đã trở thành một người rồi Chúa Giê xu vẫn có quyền năng toàn vẹn như Đức Chúa Trời. Chẳng hạn như Chúa Giê xu đã có lần hóa hai ổ bánh và năm con cá ra cho một lúc năm ngàn người ăn. Tất cả mọi người ăn no nê và cuối cùng cá và bánh thừa được mười hai giỏ.

    Chúa Giê xu trong khi đi truyền giáo Ngài đã chữa lành các thứ tật bệnh mà người ta lúc đó không chữa được, chẳng hạn như Chúa chữa lành cho một người què từ thuở sinh ra được lành, Chúa chữa lành một người tử thuở sinh ra được thấy. Chúa chữa lành cho người điếc được nghe, Chúa làm cho người câm nói được. Và ngay cả Chúa kêu người chết sống lại nữa.
    Chúa Giê xu cũng đuổi quỷ ra khỏi những người bị quỷ ám và chúng ta vẫn biết rằng đuổi quỷ ra một người bị quỷ ám, phải là quyền năng của Đức Chúa Trời mới làm được.

    Chúa Giê xu cũng cho chúng ta thấy bản tính của Đức Chúa Trời khi Ngài đi bộ trên mặt nước, khi Ngài quở sóng gió phải vâng lời Ngài. Nếu Chúa Giê xu từ bỏ tất cả nghĩa là gác lại các bản tính của Đức Chúa Trời thì làm sao có thể Ngài thi hành những phép lạ như vậy được.
    Trong khi Ngài trở thành một người vì thế mà động từ “ từ bỏ tất cả” “ hạ mình xuống” hay là “ từ bỏ” trong thơ Phi-líp 2:7 chỉ có nghĩa Chúa Giê xu tự ý hạn chế một số quyền hành của Đức Chúa Trời trong thời gian Ngài trở thành một người và sống trên trần gian này.

    Khi trở thành một người Chúa Giê xu vẫn là Đức Chúa Trời thánh khiết tuyệt đối, công bình tuyệt đối, nhân từ tuyệt đối, yêu thương tuyệt đối, chân thành tuyệt đối. v.v…
    Nhưng một số quyền hành khác của Đức Chúa Trời trong bản tánh của Đức Chúa Trời thì Chúa Giê xu chỉ sử dụng khi nào Đức Chúa Cha trên trời muốn Ngài làm mà thôi.
    Trong vấn đề tự hạn chế quyền hành và bản tính của Ngài khi trở thành người. Chúa Giê xu đã che dấu vinh quang Đức Chúa Trời để xuất hiện như là một người thường, một tên nô lệ, một người tôi tớ của Đức Chúa Trời trên trần gian này.

    Và Đức Chúa Giê xu cũng gọi Đức Chúa Cha trên trời là Cha, và Ngài kể Ngài là Con của Đức Chúa Trời, tại sao? Tại vì trong thân xác của một phàm nhân của một con người. Chúa Giê xu đã tình nguyện làm Con của Đức Chúa Trời.
    Vì vậy, mà Phúc Âm đã ghi lại rằng những sự kiện Chúa Giê xu chỉ nói những điều mà Đức Chúa Cha tỏ cho Ngài biết mà thôi. Và Chúa nói rằng ta chỉ dạy cho các ngươi những điều mà Cha đã dạy ta.
    Chúa Giê xu cũng tiếp nhận quyền năng của Chúa Thánh Linh khi Ngài chịu Lễ Báp Tem, Ngài cũng lấy quyền năng của Chúa Thánh Linh để đuổi quỷ, để làm phép lạ. Ngài cũng lấy quyền phép của Chúa Thánh Linh mà dạy các môn đệ.
    Tất cả những điều đó chứng tỏ cho chúng ta nhớ rằng trong thân phận của một con người khi Chúa Giê xu trở thành một người rồi, Ngài đã tự hạn chế một số quyền hành và bản tính của Ngài. Và khi cần sử dụng quyền hành và bản tính của Ngài thì Chúa Giê xu vâng phục Đức Chúa Trời. Chúa Giê xu nói những điều mà Đức Chúa Trời bảo Ngài nói, Đức Chúa Giê xu đã dạy cho các môn đồ những điều mà Đức Chúa Cha đã tỏ cho Ngài biết. Và khi cần quyền năng đặc biệt của Đức Chúa Trời để làm phép lạ thì Chúa Giê xu đã nương cậy quyền năng của Chúa Thánh Linh tức là một trong Ba ngôi của Đức Chúa Trời để làm những phép lạ đó.
    Nói tóm lại, khi Chúa Giê xu trở thành một người, Chúa Giê xu vẫn là Đức Chúa Trời. Nhưng Ngài tự ý che dấu vinh quang Đức Chúa Trời và Ngài tự hạn chế một số quyền hành, một số quyền năng của Đức Chúa Trời. Để Chúa Giê xu có thể sinh hoạt trong một thân phận là con người và loài người có thể đến gần Chúa Giê xu mà không sợ bị chết. Vì Thánh Kinh nói rằng không ai có thể thấy mặt Đức Chúa Trời được.

    Trong tư thế là một con người, Chúa Giê xu đã mở đường cho loài người chúng ta tiếp xúc trực tiếp với Ngài, trong khi làm người không có nghĩa là Chúa Giê xu từ bỏ tất cả bản tính Đức Chúa Trời của Ngài hay nói một cách khác trong khi làm người không phải là Chúa Giê xu đã từ bỏ không làm Đức Chúa Trời nữa.

    Trong thời gian có mặt trên trần gian, tùy theo tình thế mà Chúa Giê xu vẫn thi hành các quyền năng của Đức Chúa Trời chẳng hạn như Ngài bày tỏ vinh quang thật của Ngài cho các môn đệ Ngài thấy khi Ngài hóa hình trên núi hoặc Ngài làm các phép lạ mà Thánh Kinh đã ghi lại.

    II. Chúa Giê xu trở nên giống như loài người có nghĩa gì?

    Thành ngữ thứ hai rất quan trọng trong vấn đề Chúa Giê xu trở thành một người mà chúng ta tìm thấy ở trong thơ Phi-líp 2:7 là: “ Chúa trở nên giống như loài người” đây là thành ngữ mà chúng ta thấy các bản dịch khác nhau, chẳng hạn như bản dịch của Thánh Kinh Hội nói rằng: “ Ngài trở nên giống như loài người. Bản diễn ý của Thánh Kinh của mục sư Lê Hoàng Phu dịch là “ Chúa mang thân thể con người”, bản Thánh Kinh Tân Ước của Hồng y Trịnh Văn Căn dịch là “ Người trở nên giống như phàm nhân”.

    Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời nhưng đã trở nên giống như loài người, trở nên phàm nhân, hay mang thân thể con người như thế nào?

    * Thành ngữ “ trở nên giống như loài người” có nghĩa rằng Chúa Giê xu trở thành một người hoàn toàn. Có linh hồn, có thể xác giống như bất cứ một con người nào sinh ra trên đời này.
    Và để thực sự trở nên giống như loài người. Chúa Giê xu đã chọn con đường tự nhiên của công lệ sinh hóa của loài người. Ngài đã trở thành một bào thai trong lòng của một phụ nữ và Ngài đã được mẹ Ngài sinh ra như bất cứ một người nào khác sinh ra trên đời này.
    Tuy nhiên, Chúa Giê xu chỉ trở nên giống như loài người mà thôi, vì trên sự kiện Ngài làm người đó. Chúa không có bản tính tội lỗi như loài người chúng ta, ở trong Phúc Âm Giăng 1:14 xác nhận rõ: Chúa Giê xu trở nên xác thịt, Chúa mang lấy hình hài thể xác của con người, Chúa mang lấy thân xác của phàm nhân. Ngài cũng biết đói, biết khát, biết mệt, biết đau, biết buồn, biết giận.v.v…như con người.

    Nhưng về tội lỗi, thì Chúa Giê xu hoàn toàn không giống loài người chúng ta ( Hê-bơ-rơ 4:15) nhấn mạnh rằng Chúa Giê xu là một thầy tế lễ có thể cảm thương sự yếu đuối của chúng ta. Ngài bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, xong chẳng phạm tội.
    Cô-lô-se 2:9 cũng giải thích cho chúng ta thấy rằng: Mặc dù đã trở thành một người nhưng trong Chúa Giê xu vẫn có đầy đủ bản tính của Đức Chúa Trời.
    Tóm lại, chúng ta có thể ghi nhận những điểm quan trọng sau đây trong vấn đề Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời nhưng đã trở thành người.

    1/. Chúa Giê xu chính là Đức Chúa Trời, là một trong Ba ngôi của Đức Chúa Trời, Ngài là Thượng Đế, Ngài là Thiên Chúa, Ngài là Đấng bình quyền, bình đẳng với Đức Chúa Cha và Đức Thánh Linh trong Ba ngôi của Thượng Đế.
    2/. Khi tình nguyện trở thành một người để thi hành kế hoạch cứu rỗi nhân loại. Chúa Giê xu đã trở thành một người có thân thể, có linh hồn như loài người chúng ta. Nhưng Chúa Giê xu là Đấng tuyệt đối vô tội, Chúa Giê xu giống như chúng ta trong mọi sự ngoại trừ điểm Chúa không có tội như loài người chúng ta.
    3/. Khi trở thành người Chúa Giê xu đã tự ý che dấu vinh quang Đức Chúa Trời và tự hạn chế một số quyền hành và bản tính trời của Ngài. Tuy nhiên, Chúa Giê xu vẫn có đầy đủ bản tính và quyền hạn của Đức Chúa Trời trong khi Ngài mang thân thể phàm nhân.
    Trong một số trường hợp, chính Chúa Giê xu đã thi hành quyền hạn Đức Chúa Trời của Ngài, mặc dù Ngài đang mang thân thể phàm nhân.
    Những phép lạ Chúa Giê xu làm, chứng tỏ rằng Chúa là Đức Chúa Trời mặc dù lúc đó Chúa mang thân thể của một con người.
    Đây là một giáo lý rất quan trọng, Chúa Giê xu là Đức Chúa Trời nhưng Ngài đã trở thành một người và khi trở thành một người, Chúa Giê xu không mất bản tính Đức Chúa Trời, Ngài chỉ tự ý hạn chế một số bản tính của Ngài mà thôi.







  • Thơ Vợ Chồng Và Luật Đời Luật Trời

    Thơ Vợ Chồng Và Luật Đời Luật Trời

    Luật đời
    Đường ăn cùng chữ đường đời
    Đường ăn thì ngọt đường đời đắng cay
    Vạn vật có sự đổi thay giữ trọng đạo lý 
    Chớ thay tình người

    Luật trời
    Nắng mưa định luật của trời
    Cũng là rèn luyện người đời trần gian
    Ai mà bất chính bất an, mưa là để rửa
    Nắng tan bụi đời.
    Quân Nguyễn
    Quân hoa hai tiếng vợ chồng
    Tuy hai thành một dệt lời kết giao
    Trải bao nắng gió mưa sa
    Thương em nước mắt lệ sa thấm dầm
    Em như suối nước trong ngần
    Tình em cũng ấm như vấng thái dương
    Dù cho dãi nắng dầm sương
    Hai ta xiết chặt bền lâu suốt đời
    Dù cho vật đổi sao rời
    Sông sâu sao cắt được mình với ta
    Giờ đây chẳng chỉ đôi ta
    Xuân hồ thứ nhất phước anh thứ nhì
    Bình minh sẽ đến là vì
    Tình yêu thiên Chúa sắt son vô bờ
    Lấy anh em không phải ngờ
    Năm năm cũng đủ chứng minh chân tình
    Quân Nguyễn
  • Khoe Mình Biết Chúa

    Khoe Mình Biết Chúa

    Đề tài: Khoe Mình Biết Chúa
    Kinh Thánh: Giê-rê-mi 9:23-24
    Câu gốc: I Cô-rinh-tô 1:31

    Nhập đề:

    Giê-rê-mi được gọi làm tiên tri trong lúc tình hình chính trị và tôn giáo có nhiều xáo trộn và bất ổn. Giê-rê-mi đã phục vụ suốt năm triều đại các vua lớn: Giô-si-a, Giê-hô-gia-kim, Sê-đê-kia, Giôacha, Giêhôakim.

    Có thể nói cuộc đời của ông đượm chất buồn sầu, đầy đau thương và tăm tối. Một đời sống như thế đã làm cho Vị Tiên tri này xứng với danh hiệu “Con Người Sầu Khổ”.
    Giê-rê-mi hầu việc Chúa với nhiều nước mắt, ông khóc nhiều hơn những vị tiên tri khác, rất nhiều lần ông đã thốt lên rằng: Mắt tôi tuôn nước mắt, không thôi cũng không ngớt, hay Ôi ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy.
    Phao lô và Giê-rê-mi có chung một tâm điểm đó là: Hầu việc Chúa với nhiều nước mắt.
    Có lẽ chính vì thế mà Đức Chúa Trời đã tán dương ông cũng rất gần với một ý nghĩa khác của tên ông là:  “Đức Chúa Trời đáng tán dương”.

    Đến đây Đức Chúa Trời đã dùng tiên tri của Ngài kêu gọi vua và dân tộc của Ngài như một lời hiệu triệu rằng:
    Kẻ khôn ngoan, đừng tự hào mình khôn ngoan;
    Kẻ hùng mạnh, đừng tự hào mình hùng mạnh;
    Kẻ giàu có, đừng tự hào mình giàu có
    Đây là lời mà Giê-rê-mi đã đứng trước đền thờ Giê-ru-sa-lem lộng lẫy và tráng lệ, ông đã đứng trước mặt vua lên án vua đừng tự hào về những sự khôn ngoan, quân đội hùng mạnh và sự giàu có của cung vua.
    Nếu Vua và dân tộc nhận biết Đức Chúa Trời tức là quay trở về với đường nối của Đức Chúa Trời thì sẽ được giải cứu bằng không thì quân Ba-by-lôn tiến đến tấn công và đốt thành. Và lời này đã được xảy ra đúng như lời tiên tri mà Giê-rê-mi đã nói.
    Đây cũng là lời cảnh mà Chúa dành cho mỗi chúng ta và Hội Thánh Ngài trong buổi sáng hôm nay.
    Trước hết, Lời của Chúa phán với chúng ta rằng:

    I/. Đừng khoe về sự khôn ngoan của mình
    Phao lô viết trong thơ Rô-ma 1 nói về dân ngoại đạo là: hay mách, gièm chê, chẳng tin kính, xấc xược, kiêu ngạo, khoe khoang, khôn khéo về sự làm dữ, không vâng lời cha mẹ ” (  Rô-ma 1:30)
    Dân ngoại đạo thường cho rằng đội đá vá trời, một tay ta làm nên tất cả, có sức người sỏi đá cũng thành cơm. Đây là sự kiêu ngạo và tự tôn.
    Người khoe khoang trong sách Rô-ma là người không nhận biết Đức Chúa Trời.
    Thực ra chẳng phải những người ngoại hay khoe khoang đâu mà ngày nay nhiều con dân và tôi tớ của Chúa cũng mắc cái bệnh hay khoe khoang.
    Người khoe khoang là người kiêu ngạo, tự tôn, tự phụ và tự mãn. Thánh đồ Phao lô đã viết cho người Ga-la-ti hay kiêu ngạo khoe mình như sau:
    Kìa anh em lấy những lời kiêu ngạo mà khoe mình! Phàm khoe khoang như vậy là xấu. ( Gia 4:16  )

    Có một Hội Thánh kia khi thành lập Hội Thánh và ban chấp hành thuê mướn một Mục sư về chăn bầy. bốn người họ tranh nhau để đưa ra sự chọn lựa của mình về sự chọn lựa Mục sư  chăn bầy tương lai.

    Ông thứ nhất thì bảo: Phải chọn một Mục sư phải tốt nghiệp một trường danh tiếng tức là một Mục sư phải có bằng cấp cao nhất.

    Một chấp sự khác thì nói: Ông ấy không chỉ có bằng cấp cao nhưng phải biết tất cả mọi thứ và làm được mọi việc.

    Người thứ ba nói: tôi có quen một ông Mục sư rất có ơn nhưng cái khó là làm sao mời được ông ấy về đây để quản nhiệm.

    Thì người thứ tư nói: Chỉ cần trả cho ông nhiều tiền là được ngay, người khác lên tiếng phải chọn lấy một Mục sư lớn tuổi. Vì người trẻ thiếu kinh nghiệm và hay dạy đời.
    Cuối cuộc họp họ cùng nhau đưa  ra các yêu cầu như sau:
    1/. Chọn một Mục sư phải có bằng cấp cao.
    2/. Phải biết hết mọi sự và làm được mọi điều
    3/. Phải chọn người hầu việc Chúa lớn tuổi vì người trẻ hay dạy đời.
    4/. Để mướn được người như thế chỉ cần: Trả tiền nhiều.

    Thưa Hội Thánh, đây là sự chọn lựa đáng buồn của ban điều hành trong Hội Thánh, hay là ban chấp sự của một Hội Thánh. Họ chỉ chọn những tiêu chuẩn mà họ nhìn thấy bằng mắt, họ chọn lựa người hầu việc Chúa qua cái nhìn bề ngoài, họ chỉ chọn người hầu việc Đức Chúa Trời dựa trên sự khôn ngoan của họ mà thôi.
    Mà họ không hề hỏi rằng: ông ấy là ai? Ông ấy có thực sự biết và có được Đức Chúa Trời kêu gọi hay không? Hay ông ấy có những phẩm chất của một tôi tớ Chúa không?

    Thưa quý vị!
    Chúng ta thà chọn một người kính sợ Chúa để đi theo hơn là chọn một người có tài năng, bằng cấp mà không kính sợ Chúa. Vì Lời Chúa sự Kính sợ Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan.

    Chúng ta thà chọn đi theo người có phẩm chất của Chúa hơn là chọn người làm được nhiều việc.
    Chúng ta thà chọn người lãnh đạo có sự kêu gọi hơn là chỉ có tiền, và địa vị hay bằng cấp mà thôi.
    Và chúng ta thà chọn người biết nương dựa Chúa hơn là chọn người chỉ biết làm theo sức riêng của mình.

    Nếu người hầu việc Chúa theo sự đòi hỏi của họ là phải biết hết tất cả, làm được mọi điều thì chỉ có thể tìm thấy ở nơi Đức Chúa Trời chứ không bao giờ có thể tìm thấy nơi con người trần thế này.

    Hội Thánh ơi, Hội Thánh đừng dựa vào sự khôn ngoan của loài người đừng dựa vào tiêu chuẩn của loài người mà chọn và áp dụng vào trong công việc của Đức Chúa Trời, là công việc thuộc linh, công việc thiêng liêng.

    Vì chỉ có người thiêng liêng mới hiểu được những sự thiêng liêng mà thôi. Chọn một người lãnh đạo tài ba ngoài đời mà vào lãnh đạo Hội Thánh thì hỏng hết mọi sự. Vì người lãnh đạo đời này không hiểu được những sự thuộc linh.
    Hội Thánh tại Cô-rinh-tô có ý lập đức tin trên sự khôn ngoan của loài người, Và cậy sự khôn ngoan của người đời để chọn và lập người lãnh đạo cho nên Phao lô cảnh cáo họ như sau: anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người, bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời.” ( ICo 2:5)
    Phao lô cũng tuyên bố khi ông rao giảng Phúc Âm của Chúa Cứu Thế không cậy sự khôn ngoan đời này bèn là sự tỏ ra bởi quyền phép của Chúa Thánh Linh.

    “ Hỡi Anh em, về phần tôi, khi tôi đến cùng anh em, chẳng dùng lời cao xa hay là khôn sáng mà rao giảng cho anh em biết chứng cớ của Đức Chúa Trời. 2 Vì tôi đã đoán định rằng ở giữa anh em, tôi chẳng biết sự gì khác ngoài Đức Chúa Jêsus Christ, và Đức Chúa Jêsus Christ bị đóng đinh trên cây thập tự. (1 Cô-rinh-tô 2:1-2)

    Phao lô giảng Phúc Âm ông không khoe về những thành tích của mình, đáng lẽ Phao lô có quyền hãnh diện và khoe mình vì mình là con của gia đình gia giáo: Sinh trưởng trong một gia đình đạo đức hẳn hoi. Ông là một người mang dòng họ máu chất của dân tộc Do Thái, một gia đình khá giả, thượng lưu, một gia đình có tư cách, có địa vị, có tiền bạc, và là một gia đình nuôi dạy con theo luật pháp điển hình là lúc 8 ngày đem con vào đền thờ làm nghi thức theo đạo giáo.
    Về học vấn: Phao lô là một thanh niên tài giỏi, vượt bực, ông có tới ba bốn bằng tiến sĩ, rất giỏi, rất xuất sắc, một người đi học trường tư với thầy dạy nổi tiếng nhất thời bấy giờ. Và ông là một sinh viên ưu tú. Ông là một diễn giả hùng hồn, ông là một triết gia, ông là một nhà hùng biện, là một giáo sư có một không hai. Đang khi còn rất trẻ ông là thuộc viên của tòa công luận của nước Do Thái. Một trong 70 người nỗi lạc nhất trên toàn quốc đứng trong chính quyền cai trị dân. Một người đức hạnh: ông nói: tôi giữ luật pháp không chỗ trách được, không chỗ chê, không chỗ thất bại.

    Một loạt về những danh sách thành công và đầy sự hiển hách của Phao lô nhưng ông chẳng màng đến trái lại ông nói: Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Christ.”  (Phi 3:8)
    Nếu mà khoe mình, thì Phao lô hãnh diện, tự hào về bằng cấp học vấn, địa vị và tiền bạc. Nhưng Phao lô không khoe về những điều đó mà ông tuyên bố rằng: Ga 6:14   Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Jêsus Christ chúng ta”

    Đối với Phao lô Đấng Christ chính là mão trụ của sự cứu rỗi chứ không phải là tri thức hay khôn ngoan. Và cái chết hy sinh của Chúa là cái chết để gánh thế chết thay và đó là công lao cứu chuộc của Chúa Cứu Thế chứ không phải là do Phao lô hay Phao lô đã chết thay cho họ. Phao lô không cứu được họ mà chỉ có Chúa Cứu Thế mà thôi. Cho nên Phao lô nói: Chúng tôi chẳng lại phô mình cùng anh em” ( IICo 5:12 )

    Câu chuyện: một người bạn đi học thần học 4 năm về:

    Cái vấn đề không phải là cái đầu chúng ta biết Chúa là bao nhiêu, có gì? Nhưng là tấm lòng của chúng ta có biết Chúa và có Chúa không?
    ICo 8:1  Song sự hay biết sanh kiêu căng.
    Trong Thánh Kinh Cựu Ước Đức Chúa Trời đã tự hào về tôi tớ của Ngài là Môi se, Ngài khẳng định rằng:   Vả, Môi-se là người rất khiêm hòa hơn mọi người trên thế gian.”  Dan 12:3
    Bối cảnh câu Kinh Thánh này là sự nổi lên chống đối người lãnh đạo của Mi-ri-am. Chính Đức Chúa Trời đã khẳng định và bênh vực tôi tớ của Ngài là Môi se.
    Là người hầu việc Chúa và con dân Chúa chúng ta cần giảng và nghe những bài giảng chúng ta không thích nữa. Có thể người giảng thiếu kém ơn của Chúa nhưng chúng ta cứ khiêm nhường lắng nghe với thái độ tiếp nhận Lời Chúa thì tôi tin rằng: Chúng ta sẽ nhận được bài học cho chính mình chúng ta.

    Phao lô khẳng định cho người Cô-rinh-tô rằng sự khôn ngoan không cứu được họ mà chỉ bởi thập tự giá của Đấng Christ mà thôi. Phao lô tuyên bố: Vả, đương khi người Giu-đa đòi phép lạ, người Gờ-réc tìm sự khôn ngoan, 23 thì chúng ta giảng Đấng Christ bị đóng đinh trên cây thập tự, là sự người Giu-đa lấy làm gương xấu, dân ngoại cho là rồ dại; 24 song le, về những người được gọi, bất luận người Giu-đa hay người Gờ-réc, thì Đấng Christ là quyền phép của Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. 25 Bởi vì sự rồ dại của Đức Chúa Trời là khôn sáng hơn người ta, và sự yếu đuối của Đức Chúa Trời là mạnh hơn người ta.”  ICo 1:22   

    Môt lần nữa Lời Chúa phán với chúng ta rằng: Kẻ khôn ngoan, đừng tự hào mình khôn ngoan;
    Điều thứ hai mà Lời Chúa phán với chúng ta không được khoe đó là:

    II/. Đừng  khoe về sức mạnh của mình
    Chúng ta nhớ Lời Chúa được rao truyền cho Vua và dân sự trong lúc đang quân hùng tướng mạnh. Có thể vua và dân tộc tin cậy vào binh lính, xe ngựa, và các tướng lĩnh hơn là tin cậy nơi Đức Chúa Trời hằng sống. Họ bỏ không nhờ cậy Ngài mà đi nhờ cậy vua và quân lính của Ai-cập. Khi quân Ba-by-lôn tiến đến tấn công. Người Ai-cập không giúp họ, điều họ trông cậy khiến họ thất vọng và thất bại nặng nề.
    Tác giả của Thi-thiên số 33 đã thốt nên rằng:
    Chẳng có vua nào vì binh đông mà được cứu,
    Người mạnh dạn cũng không bởi sức lực lớn lao mà được giải thoát.
    17 Nhờ ngựa cho được cứu, ấy là vô ích,
    Nó chẳng bởi sức mạnh lớn của nó mà giải cứu được ai.
    18 Kìa, mắt của Đức Giê-hô-va đoái xem người kính sợ Ngài,
    Cố đến người trông cậy sự nhân từ Ngài,
    19 Đặng cứu linh hồn họ khỏi sự chết,
    Và bảo tồn mạng sống họ trong cơn đói kém.
    Lời Chúa đã khẳng thẩm định cho chúng ta về bài học cho cuộc sống này, không phải nhờ vua hay binh đông mà được cứu, cũng chẳng được giải thoát là bởi sức mạnh của bản thân đâu. Nhưng chúng ta được cứu và giải thoát là bởi chúng ta để lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
    Tiên tri Giê-ri-mi cũng lên tiếng: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Đáng rủa thay là kẻ nhờ cậy loài người, lấy loài xác thịt làm cánh tay, lòng lìa khỏi Đức Giê-hô-va. 6 Nó sẽ như thạch thảo trong sa mạc, không thấy phước đến, nhưng ở trong nơi đồng vắng khô khan, trên đất mặn không dân ở. 7 Đáng chúc phước thay là kẻ nhờ cậy Đức Giê-hô-va, và lấy Đức Giê-hô-va làm sự trông cậy mình. 8 Nó cũng như cây trồng nơi bờ suối, đâm rễ theo dòng nước chảy; ngộ khi trời nắng, chẳng hề sợ hãi, mà lá cứ xanh tươi. Gặp năm hạn hán cũng chẳng lo gì, mà cứ ra trái không dứt..(Gie 17:5-7)
    Lời Chúa Phán: Kẻ hùng mạnh, đừng tự hào mình hùng mạnh;
    Có nhiều khi chúng ta cũng khoe về sức mạnh của mình nữa.
    Chúng ta cũng thường đánh giá thành công dựa trên các con số. Khi truyền giảng giáng sinh, chúng ta thường hỏi, có bao nhiều người đã tin Chúa. Và chúng ta rất mãn nguyện tự hào rằng: Có 30 chục, 60 chục và 100. Nhưng giáng sinh qua đi rồi thì cũng chẳng có một bóng người nào mới tin còn đỗ lại trong Hội Thánh. Chúng ta tốn kém nhiều tiền của cuối cùng cũng chỉ gặt được một mùa giáng sinh vui nhưng không hề kết quả. Đây không phải là điều chúng ta tự hào và khoe đâu, nhưng đó phải là điều đau buồn nữa.

    Chúng ta có thể đang hãnh diện, và tự hào mãn nguyện rằng: Hội Thánh chúng ta đông, và coi thường những Hội Thánh ít người.
    Nhưng nhìn vào lịch sử của Kinh Thánh và lịch sử của nhân loại chúng ta thấy: đông hay nhiều chưa chắc đã mạnh hay đã có thực.

    Tôi đã nhìn thấy những cây cổ thụ là những người được cho và xem như là đứng đầu hay giáo hoàng của giáo hội. Tự hào giáo hội của mình có con số tín hữu đông nhất nước, và có dàn nhân sự đông hơn hết thảy.
    Nhưng thực chất có tiếng là sống nhưng kỳ thực lại là chết, có tiếng là đông nhưng đó không phải là những con người Đức Chúa Trời lựa chọn.

    Có những lúc con người hiệp lại giống như tháp Ba-bên để tỏ ra cái sự oai vệ và sức mạnh của mình. Nhưng chỉ một biến cố nhỏ Đức Chúa Trời đem đến họ tan tác, và thất bại hoàn toàn.
    Có nhiều cây cổ thụ của Cơ Đốc giáo mỗi năm ngã gục, và dàn nhân sự tan tác, người người đều nói: tôi về để đi đánh cá, người khác cũng nói như vậy.
    Khi họ được trả tiền, thì xông pha trận mạc nhưng khi tiền hết thì họ nãn lòng bỏ cuộc.
    Chúng ta lần trước đã học bài học về tài lãnh đạo của Môi se khi chiến thắng dân A-ma-léc.
    Giô-suê đã được mệnh lệnh là: hãy đi chọn lấy những tráng sĩ, những người có lòng can đảm, chịu khổ và Phao lô cũng nói với Ti-mô-thê rằng: Con là lính giỏi của Đức Chúa Trời.
    Chúng ta cần phải là những chiến sĩ dũng cảm, gan dạ của Đức Chúa Trời chứ không phải chỉ theo Chúa như đoàn dân đông thời của Chúa Giê xu. Theo Chúa chỉ để được ăn bánh mỗi ngày. Đến khi Ngài gặp hoạn nạn, bắt bớ họ liền bỏ Chúa và hô hào đóng đinh Chúa.

    Chúng ta còn nhớ tướng sĩ Ghê-đê-ôn đã đánh thắng dân Ma-đi-an chỉ bởi số ít người là: 300 tướng sĩ. Đây là những tướng sĩ luôn biết chiến đấu và biết cảnh giác trong mọi tình huống với kẻ thù.
    Khi nhìn lại những người đồng thời với tôi, bây giờ họ đã sa ngã và trở về với thế gian này rồi. Mỗi khi tôi nhớ và nghĩ về những điều đó tôi lại khóc mà cảm ơn Chúa không thôi vì Ngài đã thương xót tôi, giữ tôi để cho tôi hôm nay còn đứng được ở đây.
    Phao lô nói: “  Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã.” ( ICo 10:12 )
    Anh chị em ơi, đời sống chúng ta vốn là yếu đuối lắm, chính vì thế mà chúng ta phải không ngừng chạy đến với Chúa để nương dựa nơi Ngài. Mạnh mẽ như Phi-e-rơ mà cũng còn chối Chúa tới ba lần huống chi chúng ta là ai? Chỉ là loài có hơi thở trong lỗ mũi mà thôi.
    Cho nên: Kẻ hùng mạnh, đừng tự hào mình hùng mạnh;
    III/. Đừng khoe về sự giàu có của mình

    Lời kêu gọi thứ ba mà chúng ta không được khoe đó là: khoe về sự giàu có của mình.
    Giê-ru-sa-lem lúc bấy giờ có vẻ như đang cường thịnh.
    Ngày nay, có rất nhiều giáo phái dạy về Phúc Âm Thịnh Vượng, họ dạy rằng tin Chúa thì phải giàu có, phải sống sung sướng, tin Chúa không bao giờ còn phải bị bệnh tật hay những tai nạn nữa. Đây chính là Phúc Âm đi ngược lại Phúc Âm của Chúa Giê xu.
    Vì Lời Chúa cho chúng ta biết rằng: “Các ngươi chớ chứa của cải ở dưới đất, là nơi có sâu mối, ten rét làm hư, và kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy; nhưng phải chứa của cải ở trên trời, là nơi chẳng có sâu mối, ten rét làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch khoét vách mà lấy. Vì chưng của cải ngươi ở đâu, thì lòng ngươi cũng ở đó.” (Ma-thi-ơ 6:19-21)
    Chúa Giê xu cũng cảnh báo chúng ta trong Phúc Âm Giăng 16: 33 rằng: Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi!
    Nhiều Hội Thánh ngày nay thường tự hào, hãnh diện về Hội Thánh có nhiều phương tiện như Đàn, như máy quay, hay khoe Hội Thánh dâng hiến nhiều, khoe về tín đồ đông.

    Có nhiều người hầu việc Chúa khoe mình có I Pát, Ipost, hay xe máy phân khối lớn, khoe nhà cao, có cái này cái kia.
    Lời Chúa cũng chép trong thơ Giăng thứ nhất cảnh báo chúng ta như sau: “Chớ yêu thế gian, cũng đừng yêu các vật ở thế gian nữa; nếu ai yêu thế gian, thì sự kính mến Đức Chúa Cha chẳng ở trong người ấy. Vì mọi sự trong thế gian, như sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời, đều chẳng từ Cha mà đến, nhưng từ thế gian mà ra.  Vả thế gian với sự tham dục nó đều qua đi, song ai làm theo ý muốn Đức Chúa Trời thì còn lại đời đời.” (I Giăng 2:15-17).
    Chúng ta còn nhớ câu chuyện sứ đồ Phi-e-rơ lên đền thờ cầu nguyện, ngày nay Hội Thánh có thể tự hào và hãnh diện về những phương tiện vật chất đầy đủ nhưng càng ngày Hội Thánh đánh mất đi năng quyền của Đức Chúa Trời trong Hội Thánh.
    Phi-e-rơ không có tiền nhưng có quyền năng. Còn chúng ta có tiền nhưng chẳng có quyền năng gì cả.
    IV/. Hãy Khoe Về Mình Biết Đức Chúa Trời
    Biết Chúa là cái biết cao nhất, và đây là cái biết quan trọng nhất, cần thiết nhất, cấp bách nhất.
    Chính vì thế mà Thánh Kinh mời gọi chúng ta: IIPhi 3:18   18 Hãy tấn tới trong ân điển và trong sự thông biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Jêsus Christ.
     chúng ta biết về tôn giáo Tin lành nhưng rất có thể lại không biết Chúa là ai.
    Người công giáo tự hào tin Chúa mấy đời, gọi là đạo dòng nhưng thực chất chẳng biết Chúa là ai. Chúa cũng thờ, ma ri cũng thờ, thờ luôn cả 12 vị sứ đồ, rồi lại thờ luôn cả ông bà tổ tiên nữa. Vừa bàn thờ của Chúa và dưới là bàn thờ của ông bà.
    Đây thực sự là người không biết Chúa, chỉ sinh hoạt và tham gia tôn giáo, chỉ đi nhà thờ thôi chưa đủ, chỉ dâng hiến thôi chưa đủ, mà cái trên hết mọi sự là: Phải biết Chúa và có Chúa.
    Biết Chúa không phải chỉ là cái biết trên tâm trí, cũng không phải chỉ biết về giáo lý, hay là biết các lễ nghi.
    Mà Biết Chúa là: Mối thông công mật thiết giống như cành nho với cây nho vậy, biết Chúa là Cha ở trong con, con ở trong Cha.
    Biết Chúa là phải như Sứ đồ Giăng đã nói: IGi 1:1   1 Điều có từ trước hết, là điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã ngắm và tay chúng tôi đã rờ, về Lời sự sống;
    Đây chính là toàn bộ kinh nghiệm biết Chúa.
    Người Pha-ri-si khoe với Chúa Giê xu rằng: mình là con cháu của Áp-ra-ham. Áp ra-ham là tổ phụ của dân Do Thái. Và họ cho rằng: họ thừa hưởng đức tin tông truyền từ Áp-ra-ham nhưng kỳ thực họ không phải như thế.
    Nhiều người CG nói họ biết Chúa, có Chúa nhưng thực chất chẳng biết Chúa là ai, họ tin Chúa theo kiểu cha truyền con lối.
    Có hai người lên đền thờ: một người tự hào về một tuần kiêng ăn hai lần, dâng 1/10 về bạc hà.
    Lu 18:12  Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. 13 Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! 14 Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên.
    Hai con trai của thầy tế lễ Hê-li giữ chức vụ thầy tế lễ, mặc áo thầy tế lễ nhưng chẳng biết Chúa và chẳng có Chúa gì hết.
    Es 1:3   3 Bò biết chủ mình, lừa biết máng của chủ; song Y-sơ-ra-ên chẳng hiểu biết, dân ta chẳng suy nghĩ.
    Người sắc tộc được Chúa làm cho nhiều phép lạ hơn hết, nhiều sự chữa lành đã xảy ra khi họ cầu nguyện đặt tay, tà linh, các thầy mo bị tẩy chay. Thực ra họ không biết Chúa nhiều bằng trí óc, vì học thức của họ rất giới hạn. Nhưng quyền năng xảy ra bởi cớ lòng tin đơn sơ của họ nơi Chúa.
    Con người thường hay tự hào và khoe khoang, khoe về sự khôn ngoan, tự hào về sức mạnh, khoe về sự giàu có.
    Nhưng tất cả những điều đó rồi cũng sẽ qua đi, những điều đó không cứu được chúng ta, những điều đó không bảo lãnh được cứu chúng ta.

    Ai nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ thì giữ các điều răn Ngài


    3 Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài. 4 Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. 5 Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài. 6 Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm.
    1 Giăng 2:3-6
  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.