ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • Thơ Truyền Giáo

    Thơ Truyền Giáo

    Vợ ơi, anh nhớ mình nhiều lắm,
    Trước khi đi, em đã khóc ngậm ngùi,
    Mắt đỏ hoe, miệng em cười tươi tắn,
    Chồng đi xa, em mới thấy anh cần,
    Sự trống trãi đôi khi là cần thiết
    Để đôi ta càng thấy trọng biết bao.
    Anh vẫn nhớ cơm em nấu gạo mới,
    Rẻo thơm ngon, canh mát bổ muôn phần
    Lòng đang nhớ bần thần trong ký ức,
    Thương vợ con, gánh nặng chất trên vai
    Anh mơ ước cho tương lai mình sẽ
    Cùng vợ con đi khắp nẻo núi non,
    Truyền tin vui cho muôn người được biết
    Thoát cực hình sự chết bủa vây,
    Hẹn ngày về, anh chắc sẽ dành đây
    Phần thưởng Cha ban, bó lúa mình.
    Chia cho em nửa phần công khó
    Sự tận tụy, trèo trống suốt ngày qua.
    Quân Nguyễn!      

                       ÔI CHỊ TÔI!
    Bước lên đường giảng dạy, truyền giáo xa.
    Chị thương tôi, vất vả làm ruốc cá.
    Gói gém thơm tho mùi í vị.
    Nhắc nhở lời khuyên rất ân cần.
    Mục sư nhớ ăn cho có sức,
    Đường còn hẹp, hầu việc Chúa dài lâu!
    Chị ơi, những lúc mệt em ăn cá chị làm
    Nghiền ngẫm, nghĩ suy tình của chị
    Ấm áp khôn nguôi giữa trời đông!
    Lên cao nguyên em rất nhớ mọi người,
    Nhớ bầy nhỏ, gắn bó ở thôn quê,
    Nhớ nụ cười rạng rỡ tình thân,
    Nhớ bữa ăn rau muống với cà tương,
    Đầm ấm yêu thương Chúa mỉm cười.
    Hẹn ngày về, em đem quà chị nhé,
    Bó lúa thơm gởi dâng Chúa đầu thu.
    Quân Nguyễn!
  • Tâm Sự

    Tâm Sự


    Chị ơi! Chữ NHỊN Là Đây!
    Đêm qua, được nghe về cuộc đời của chị mà lòng em se lại với những nỗi đau về thể chất mà chị đang phải gánh chịu từng giờ. Nỗi đau về tâm hồn chị bị tổn thương
    Em cứ tưởng sẽ khích lệ và an ủi chị bằng Lời của Chúa trong khi chị đau đớn, tâm can.
    Nhưng ngược lại, Chúa đã cho chị có đức tin của người anh hùng đứng hiên ngang, kiên trì, anh dũng giữa bão giông trần thế. 
    Chị can đảm, phi thường và lạ lùng quá. Mỗi khi được nghe những chiến tích của chị phải vật vã, chiến đấu với ung thư, bứu cổ và tim bẩm sinh mà lòng em chứa chan ứa lệ.
    Em khen chị bởi mỗi chiến tích, thiên sứ cũng khen chị, và tự hào vì Nước của Đức Chúa Trời có một thành viên tuyệt vời, chắc rằng: Chính Đức Chúa Trời cũng rất tự hào khi Ngài có một người con ưu tú như chị.
    Chị có hỏi em vẻn vẹn chỉ có môt chữ " NHỊN" là gì?
    Ai ơi trả lời cho chị tôi với!
    Còn đối với tôi, con người của chị tôi lớn hơn cuốn từ điển mà tôi đang có.
    Lối sống của chị và tấm lòng của chị lớn hơn bất cứ loại từ điển nào trên thế gian này. Chị chính là cuốn từ điển sống.
    Bây giờ, để em nói cho chị nghe chữ: " NHỊN" là gì chị nhé!
    + khi chị bị bệnh ung thư, cùng một lúc chị bị tim bẩm sinh, chị bị bứu. Bao nhiêu bệnh tật giằng xe thân thể của chị. Nhưng chị vẫn đặt trọn vẹn tình yêu vào Chúa. Đó chính là NHỊN chị ạ.
    + Năm nay, chị 44 tuổi, chị nặng còn có 33 kg. Nhưng chị vẫn thốt lên rằng: dầu người bề ngoài hư nát, nhưng bên trong càng ngày càng đổi mới càng hơn. Đó chính là NHỊN đó chị ơi.
    Thân thể có điêu tàn - nhưng lòng chị sắt son với Chúa đó chính là NHỊN đó chị ơi.
    + Chị ạ, khi chị đến Nhà thờ, trong bữa ăn, ai cũng sợ ngồi gần chị vì sợ lây bệnh, mỗi khi chị gắp thức ăn. Phải để đôi đũa
    đang ăn xuống để lấy đôi đũa khác gắp, vì người ta sợ chị lây bệnh. Đó chính là sự NHỊN đó chị ơi.
    Chị không giận, không tránh móc, ngược lại chị lại cao thượng, nhìn theo cách mà Đức Chúa muốn kéo chị càng lệ thuộc, gần Ngài hơn. Đó chính là nhịn đó chị ơi.
    + Khi con cái Chúa gặp tai nạn, chị đã lần lội đi từ sáng tới 10h để đến bệnh viện trợ rẫy, lo làm thủ tục để chuyển họ về bệnh viện Tân An. Nhưng khi họ khỏi rồi họ sợ chị lây. Đó chính là sự NHỊN đó chị ơi.
    + Hàng ngày, hàng giờ căn bệnh cắn xé chị, thân thể chị héo tàn. Nhưng chị vẫn nói: dầu Chúa giết con, con cũng còn để lòng trông cậy nơi Ngài. Vì Ngài là Chúa của con. Trừ Ngài ra con không có phước gì hết.
    Có ai nhịn như chị tôi không?
    Thưa chị, em viết lên vài dòng để trả lời cho chị chữ mà chị đã hỏi em. NHỊN là gì?
    Quân Nguyễn!










    Nhìn xa đứng giữa đất trời bao la với núi đồi bao quanh, hướng mắt về phía dãy núi cao trung trùng điệp điệp có ánh mặt trời. Lòng tôi nhớ về đồi Calve quá.
    Lòng càng nhớ về sự cô đơn mà Con của Đức Chúa Trời đã chịu đựng, trong lúc đau đớn, nhục hình. Ngài không nhận được một lời yên ủi nào đến với Ngài trong giây phút ấy, cũng không có một bàn tay nào ngăn cản để họ đừng đóng đinh Ngài nữa.
    Khi chúng ta nhớ đến cảnh tượng của đồi Calve, khi chúng ta hướng mắt lên đồi Gô-gô-tha. Ở đó, chúng ta khám phá ra một hình ảnh Thiên Chúa yêu thương, đến độ hiến ban chính con một mình cho nhân loại. Không phải là một thiên Chúa đòi hỏi, mà là một Thiên Chúa hy sinh đến độ ban tặng chính sự sống của mình cho nhân loại.
    Lúc đó, chúng ta mới thấm thía câu nói trong Giăng 3:16.
    Có một nhà chú giải Thánh Kinh đã nói rằng: giả như có một cuộc hỏa hoạn và sách vở cháy hết, kể cả Kinh Thánh nhưng chỉ còn có một câu đó thôi, chỉ một câu trong Giăng 3:16 thôi thì cũng vẫn đủ. Bởi vì, đó là cốt lõi của Đạo, cốt lõi của Phúc Âm.
  • Chân Dung Các Tổ Phụ

    Chân Dung Các Tổ Phụ

    Khi lần theo Thánh Kinh Cựu Ước, bạn và tôi sẽ thấy được hình ảnh và chân dung của những tổ phụ hiện lên như những đợt sóng cao trào làm cho lịch sử chói sáng, họ không xuất hiện rầm rộ rồi dần dần lịm tắt, khuất bóng.
    Ngược lại, điều họ làm, lòng họ tin nơi Chúa mỗi ngày một sâu hơn, cao hơn, rộng hơn chỗ họ bắt đầu.
    Họ đã đi qua nhưng dấu chân của họ không mờ, họ đã chạy xong nhưng họ đã để lại cho chúng ta một di sản: Di sản đó chính là lòng yêu kính dành cho Đức Chúa Trời là đời đời, là mãi mãi.
    Một trong những người tổ phụ của thời Cựu ?ớc mà tôi yêu thích và ngưỡng mộ đó là: Môi-se.
    Trong sách Dân-số-ký 11: 12-13 Môi-se đã biện luận với Chúa rằng: " Có phải con đã cưu mang tất cả dân này không? Có phải con đã sinh ra nó không mà Ngài lại bảo con: "Hãy bồng nó vào lòng, như vú nuôi bồng trẻ thơ, mà đem vào miền đất Ta đã thề hứa với cha ông chúng?
    Bạn và tôi nhìn vào hai câu Kinh Thánh đó, chúng ta sẽ bắt gặp những động từ: " cưu mang" " sinh ra" "bồng ẵm" " vú nuôi"
    Nhìn vào Môi se và qua những động từ trên, chúng ta thấy Môi se chính là chân dung của một nhà lãnh đạo chan chứa tình yêu thương.
    Ông là một nhà lãnh đạo có tấm lòng của người mẹ, ông là một nhà lãnh đạo có trái tim của một người mẫu tử.
    Ông đã vượt qua và nếm trải sự vất vả, khó khăn khi phải dẫn một đoàn dân s?m thì đòi ăn, tối thì lằm bằm.
    Biết bao lần ông phải đối diện với những sự thạnh nộ của họ, nhưng ông cũng đã xoa dịu, làm nguôi cơn giận của Đức Chúa Trời nữa qua sự cầu nguyện.
    Bạn có thấy điều đó khi ông đã sống và ở giữa vòng dân sự suốt thời gian dài bốn mươi năm.
    Một mặt phải chịu cực khổ đối với dân sự,
    Mặt khác phải hằng ngày đối phó với vua Pha-ra-ôn.
    Lại còn phải là người giữ vai trò trung gian, tư tế đối với Đức Chúa Trời nữa.
    Nếu Môi se không có trái tim và tấm lòng của một người mẹ thì không thể nào vượt qua được. Một trái tim và tấm lòng yêu thương của một người mẹ sẽ giúp chúng ta chịu đựng tốt hơn, bao dung hơn, dễ tha thứ hơn, và bỏ qua mọi điều vụn vặt, vì tình yêu thương che đậy vô số tội lỗi.
    Chúa đã hỏi thánh đồ Phi-e-rơ rằng: Ngươi yêu ta chăng? Ngươi có yêu ta hơn những kẻ này chăng? Chúa không hỏi ông rằng: Ngươi có thông minh hơn những kẻ này chăng? Chúa Giê xu cũng không hỏi Ông có giàu hơn những kẻ này không? Câu hỏi: Ngươi có yêu ta không? Và rồi Chúa ôn tồn bảo rằng: Hãy chăn chiên ta.
    Yêu Chúa thì mới chăn chiên của Chúa được, yêu Chúa thì mới chịu đựng, tha thứ và mới yêu thương được chiên của Chúa. Có yêu Chúa thì mới dám hy sinh cho chiên của Chúa.
    Chúa đã vì yêu mà phó chính sự sống Ngài cho chúng ta.
    Bạn có muốn giống như chân dung các tổ phụ trong Thánh Kinh không? Bạn sẽ giống họ khi bạn và tôi có tấm lòng và trái tim của một người mẫu tử.
    Bạn có yêu Hội Thánh không? Nếu bạn không yêu Hội Thánh thì bạn không giống Chúa rồi! Vì Chúa yêu thương Hội Thánh giống như người chồng yêu vợ của mình.
    Nhân ngày Phục Sinh của Chúa xin gởi đến các bạn một thông điệp của Chúa Giê Xu kính yêu rằng: Các ngươi hãy yêu thương nhau, vì như vậy thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.
    Bạn ơi! Hãy có trái tim và tấm lòng của một người mẹ bạn nhé.
    Quân Nguyễn!
  • Sự Lựa Chọn Của Chúa

    Sự Lựa Chọn Của Chúa


    Đa vít là nhân vật hết sức quan trọng trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Đa vít trở thành một vị vua hình mẫu lý tưởng của dân Y-sơ-ra-ên.
    Trong I Sa-mu-ên 16. Cho chúng ta biết lý do mà Chúa chọn Đa vít, sự chọn lựa của Chúa đối với Đa vit không dựa vào hình thức bề ngoài mà Chúa nhìn vào chiều sâu của tâm hồn Đa vít.
    Đức Chúa Trời đã chọn đứa con út trong gia đình, mà sách Sa-mu-ên mô tả Đa vít chỉ là một cậu thiếu niên, đang chăn chiên ở ngoài đồng. Nhưng là một người có tâm hồn chiều sâu với Chúa.
    Bạn có tưởng tượng được cách Chúa nhìn, cách Chúa chọn không? Chúa chọn một anh chăn chiên làm người lãnh đạo cả một dân tộc.
    Và khi ta nhìn lại cách tuyển chọn của Chúa như vậy, thì chúng ta phải tập cách nhìn và cách sống của Chúa.
    Chúng ta ?ang sống trong thời đại mà người ta rất đang chú trọng vào những thứ bên ngoài.
    Trong cách giao tiếp làm ăn thì người ta chú trọng đến chiếc xe hơi, có nó thì mới dễ làm việc, xong việc.
    Ngay trong lĩnh vực được cho là cao quý nhất như là giáo dục, chạy theo chủ nghĩa thành tích, không đi học cũng đậu. Mà làm sao phường của tôi, xã của tôi, quận của tôi. Thành tích nó phải cao.
    Hội Thánh cũng thế, chạy đua cái bề ngoài, thành tích, báo cáo con số rất nhiều nhưng thực chất lại có tiếng mà không có miếng.
    Nhiều khi dẫn đến sự gian dối. Cho nên từ cách nhìn cách đánh giá con người, mối quan hệ xã hội mình thấy rất rõ người ta chú trọng cái bề ngoài chứ không chú trọng vào chiều sâu tâm hồn.
    Chúng ta đọc lại Thánh Kinh trên, chúng ta sẽ thấy rất rõ cách tuyển chọn của Chúa và Chúa cũng nói rất rõ rằng:
    Người phàm thì chỉ thấy bề ngoài, còn Chúa thì nhìn tận đáy lòng. Chúng ta phải học cách nhìn của Chúa. Nhiều khi chúng ta cũng nhìn anh chị em của mình bằng cái nhìn bề ngoài.
    Quan Nguyen!
  • Sự Ghen Tỵ Của Sau Lơ Và Sự Quảng Đại Của Đa vít.

    Sự Ghen Tỵ Của Sau Lơ Và Sự Quảng Đại Của Đa vít.

    Sự Ghen Tỵ Của Sau Lơ Và Sự Quảng Đại Của Đa vít.
    Trong ISa-mu-en 18:6-9 và ISa-mu-ên 24.
    Kinh thánh dùng chính cái từ ghen tỵ để nói về Sau lơ. Khi sự ghen tỵ được un đúc trong lòng ông và nó thúc đẩy ông dẫn đến ông có những hành động độc ác. Và nhiều lần ông đã tìm cách để giết Đa vít cho bằng được, chính tỏ sự ghen tỵ đó đã ăn sâu vào tâm hồn của Sau lơ.
    Điều quan trọng là chúng ta tìm xem nguồn gốc của sự ghen tỵ nó nằm ở đâu?
    Sau lơ làm vua, là một nhà lãnh đạo của dân, nhưng ông không còn nhìn thấy cái lợi ích chung nữa.
    Mà ông chỉ thấy cái lợi riêng của mình, cái địa vị, cái quyền lực của bản thân mình.
    Nếu ông nhìn thấy ích chung của cả một dân tộc. Thì khi Gô-li-át nó đe dọa như vậy mà cả dân tộc không có ai có thể đương đầu được. Cuối cùng Đa vít sung phong ra trận và thắng, nếu ông nhìn thấy cái lợi ích chung của dân thì phải vui mừng chớ, đằng này khi Đa vít thắng rồi, người ta khen, bắt đầu ông nổi cơn lên. Tức là chỉ nghĩ đến bản thân mình, chỉ nghĩ đến cái tôi , cái ích kỉ của mình.
    Chỉ nghĩ đến quyền lợi, đến địa vị, đến danh tiếng riêng của mình. Và khi thấy nó bị giảm sút đi thì mình thấy khó chịu, bực bội.
    Và sự bực bội, khó chịu mình đổ trên một ai đó, coi người đó như thể là nguyên cớ gây lên cái tình trạng đau khổ cho mình.
    Sau lơ đổ trên đầu Đa vít, xem Đa vít là thủ phạm và tìm cách giết cho bằng được.
    Cái cội nguồn của sự ghen tỵ nó nằm ở chỗ đó. Và khi chúng ta đọc Kinh Thánh, chúng ta bực mình và lên án ông Sau lơ. Nhưng câu chuyện này được viết lên cũng là để mỗi chúng ta nhìn lại bản thân mình nữa.
    Vì không ai không có tính ghen tỵ hết, vấn đề là chúng ta phải ý thức và cầu nguyện xin Chúa giúp đỡ mình vượt qua nó.
    Thánh Phao lô nói: Hãy vui với kẻ vui, và hãy khóc với kẻ khóc.
    Trong thực tế, chúng ta khóc với người khóc là dễ hơn vui với người vui.
    Vì khi mình khóc với người khóc thì thực sự mình vẫn đang ở trong tư thế hơn người ta. Còn khi mình vui với người vui là mình đang chấp nhận mình ở dưới người ta. Chia sẻ cái sự thành công của người khác là khó lắm.
    Ngay trong Hội Thánh này với Hội Thánh kia, giữa người hầu việc Chúa này với người hầu việc Chúa khác thường có những sự ghen tỵ lẫn nhau, nói xấu nhau, người khác thành công thì chúng ta tìm cách hạ thấp.
    Cái nguồn gốc của sự ghen tỵ là ở chỗ chúng ta chỉ thấy cái lợi ích riêng chứ chưa nhìn thấy cái lợi ích lớn hơn, lợi ích chung, lợi ích vì Hội Thánh, lợi ích vì Nước Đức Chúa Trời.
    Ngược lại với sự ghen tỵ của Sau lơ, chúng ta bắt gặp những trang sách thánh, những con người rất đẹp đó là: Sự Quảng Đại của Đa Vít.
    Chúng ta đọc thấy Đa vít có thể giết Sau lơ một cách hết sức dễ dàng. Nhưng Đa vít đã không giết Sau lơ là vì lý do tôi gọi đây là tầm nhìn đức tin chứ không phải cái nhìn tầm thường.
    Đa vít nhìn Sau lơ là cái nhìn của đức tin, ông nhìn Sau lơ người được Chúa xức dầu. Và nhờ cái nhìn đức tin đó mà ông không ra tay hại sát Sau lơ. Ông cũng ngăn cản những bàn tay binh sĩ của ông không được ra tay giết Sau lơ.
    Ngày hôm nay, chúng ta cần nhìn anh em của mình bằng cặp mắt đức tin, hãy nhìn anh em của mình như là người của Đức Chúa Trời, người được Chúa xức dầu.
    Sự quảng đại, sự tha thứ nó phát xuất từ tầm nhìn đức tin chứ không phải là chìla những bài học về đạo đức, luân lý mà thôi.
    Quân Nguyễn!
  • Tôi là chiếc bình bằng đất

    Tôi là chiếc bình bằng đất

    Tôi là chiếc bình bằng đất nhưng chứa đựng của báu có giá trị, bình đất, bình sành dễ vỡ, dễ ngã lòng, dễ tội lỗi. Nhưng Chúa lại nhào nặn, sửa chữa, thánh hóa, thanh lọc để con trở lên một chiếc bình có giá trị.
    Tôi là chiếc bình đất, nhưng biết ở trong tay Chúa cho lên tôi là tác phẩm nghệ thuật của Chúa.
    Nhớ lời của mẹ Tê-rê-sa của người công giáo đã từng nói: Lạy Chúa, con chỉ là chiếc bút chì, nhưng chiếc bút chì nằm trong tay Chúa.
    Quả thật, càng đi với Chúa, càng học lời Chúa, tôi mới hiểu được cách sâu xa lời của Chúa yêu dấu đã nói: Ngoài ta ra các ngươi chẳng làm chi được.
    Thưa Chúa con chỉ như hạt cải nhưng hạt cải này sẽ nằm trong tay Chúa, con tin Ngài có thể khiến con hữu dụng, đơm hoa kết trái cho Chúa.
    Quân Nguyễn!
  • CHẠM CHÚA HAY CHẠM CHIẾC ÁO CỦA NGÀI!

    CHẠM CHÚA HAY CHẠM CHIẾC ÁO CỦA NGÀI!


    Chúa Giê xu đã từng công bố rằng: “ ta đến để tìm và cứu kẻ bị hư mất ”.
    Quả thật đúng như Lời Ngài công bố: Ngài rất chăm chỉ, nhiệt thành, và sốt sắng để hoàn thành sứ mệnh cao cả cứu người đó.
    Ngài đã ngồi trên núi để giảng dạy, Ngài đã ngồi trên thuyền của Si-môn nơi bờ biển để giảng dạy, và giờ đây Ngài rời thuyền để hướng đến đất liền để rao giảng về Nước Đức Chúa Trời.

    Khi Ngài đi tới đâu, vào làng mạc, thành thị hay thôn xóm nào, người ta cũng đặt kẻ ốm đau ở ngoài đường ngoài chợ và xin Ngài cho họ chạm đến tua áo của Ngài, và bất cứ ai chạm đến thì đều được lành. ( Mác 6:53-56)

    Tôi lấy làm lạ và đặt câu hỏi rằng: Tại sao lúc này họ không xin, hay kêu lên như người mù Ba-ti-mê, hoặc kêu la như ….
    Lạy Chúa, con Vua Đa vít xin cứu lấy tôi!

    Ngược lại ở đây có một sự im lặng, nhưng có một sự chờ đợi, trông mong của những kẻ có bệnh.
    Đôi khi chúng ta chỉ có thể cảm nhận và tình yêu và sự hiện diện của Chúa bằng cái gần gũi giờ chạm. có những lúc chúng ta không nói gì cả, hoặc Chúa có thể không nói gì cả. nhưng Ngài vẫn đang ở rất gần chúng ta.

    Có khi chúng ta cầu nguyện kêu la, có thể chúng ta muốn Chúa mau mau cứu giúp chúng ta trong những hoàn cảnh éo le. Và rồi chúng ta tưởng rằng: Chúa đang đi vắng, Ngài đang ở xa không đến được với chúng ta. Có những lúc chúng ta tưởng chừng Chúa bỏ rơi chúng ta. Nhưng không. Ngài phán trong sách tiên tri Ê-sai 43 rằng: “ Đừng sợ vì ta đã chuộc ngươi, ngươi thuộc về ta, đừng sợ, vì ta ở cùng ngươi. Đừng sợ ta ở cùng ngươi luôn cho đến tận thế. Ta sẽ không lìa không bỏ ngươi đâu.”

    Ngài vẫn có ở đó, Ngài vẫn đang nhìn thấy chúng ta, nhu cầu của chúng ta. Ngài biết rõ tình trạng của chúng ta. Đôi khi đến với Chúa bởi sự cầu nguyện mà không cần nói một lời nào hết.
    Muốn chạm được tua áo của Chúa phải rất gần Chúa. Nếu Chúa ở xa thì làm sao chạm được?

    Nếu ngày nay bạn và tôi cũng ước ao được gần Chúa, được Ngài chạm đến, được hà hơi ấm yêu thương của Ngài, được sự hiện diện thánh của Ngài chạm đến thì không một điều gì mà chúng ta không được Chúa thay đổi.

    Bài hát: Đụng chạm con Chúa ôi ngay giờ này.
    Đây không phải chỉ lời bài hát bằng tiếng bằng môi miệng – nhưng đây phải là tiếng hát trong tâm linh, đây phải là tiếng hát đói khát, mong mỏi Chúa chạm đến mình.

    Những người ốm đau bại suội có ước mơ và lời cầu xin rất dản dị. Đó là được chạm đến tua áo, hay chôn áo của Ngài.

    Ngày xưa, người Do Thái ăn mặc một chiếc áo dài, chiếc áo này phủ kín đến gót chân, với những ngày nắng, mưa gió. Cứu Chúa đi từ nơi này đến nơi kia, biết bao nhiêu bụi bặm và mồ hôi bám vào chiếc áo đó.
    Nhưng họ ước ao chỉ giờ đến tua áo đó thì đều được lành cả.

    Tại sao họ không ước ao lớn hơn là được đôi bàn tay ấm áp chạm đến, tại sao họ không ước ao con mắt hiền từ của Cứu Chúa nhìn thẳng vào mình và đỡ mình lên. Tại sao họ không ước áo được thấy khuôn mặt và nụ cười hiền dịu của Cứu Chúa. Họ chỉ ước ao được lành mà họ không ước ao được mặt đối mặt với Ngài.
    Hôm nay, quý anh chị và tôi đang ước ao điều gì nơi Chúa?
    Có phải chỉ ước ao mình có sức khỏe, có phải chỉ ước ao Chúa ban cho thịnh vượng, có phải chỉ ước ao Chúa ban cho mình một công việc, có phải chỉ xin Chúa chữa lành. Có phải cuộc đời của tôi với bạn là xin xin xin không?
    Hôm nay, điều mà tôi và quý vị cần ước ao. Điều mà chúng ta cần xin hơn hết. Lời cầu xin vĩ đại nhất là lời cầu xin được có mối quan hệ yêu thương với Cha trên trời.

    Bạn không chỉ đến với Chúa vì những nhu cầu, chúng ta không đến với Chúa chỉ vì Chúa giải quyết nan đề cho chúng ta.
    Chúng ta đến với Ngài, chúng ta tin Ngài, chúng ta đi thờ phượng Ngài, vì Ngài đã dựng nên chúng ta, vì Ngài đã cứu chuộc chúng ta, vì chúng ta thuộc về Ngài, vì  chúng ta là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài, chúng ta là con của Ngài và Ngài là Cha của chúng ta.
    Môi se ước ao xin Chúa cho mình được thấy mặt của Chúa.
    Đừng chỉ xin giờ đến chôn áo của Ngài mà hãy xin được giờ chạm đến chính Ngài.
    HÃY NHỚ: hãy tìm Đấng mặc áo chứ không phải chiếc áo.
    Nếu bạn và tôi chạy đến với Chúa chỉ để Ngài ban cho bạn điều này, điều kia thì tôi và bạn mới chỉ đi tìm cánh tay của Chúa mà thôi.
    Hãy có thách thức lớn hơn thế các bạn ơi! Đức Chúa Trời còn vĩ đại hơn tất cả những điều đó. Tác giả Thánh Vịnh đã dạy chúng ta bài học giá trị, còn đến ngàn đời và là mẫu mực của một mối quan hệ khắng khít giữa Cha Thiên Thượng với các con của Ngài.
    Khi Chúa phán rằng: Các ngươi hãy tìm mặt ta;
    Thì tôi thưa cùng Chúa rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Tôi sẽ tìm mặt Ngài.”
    ( Thi 27:8 )

    Bạn đang tìm cánh tay Chúa hay tìm kiếm mặt Chúa?
    Bạn và tôi đang muốn được giờ chạm vào chính Ngài hay chỉ muốn giờ đến tua áo của Ngài?
    Nào chúng ta cùng thưa với Chúa rằng: Đức Giê-hô-va ôi! Tôi sẽ tìm mặt Ngài.”
    Quân Nguyễn!



    Lời Chúa trong sách Châm ngôn :  hãy dâng mọi sự ước ao cho Ngài, vì Ngài làm thành các sự ước ao.
    Hãy ước ao cho được nói tiên tri, nhưng hãy ước ao yêu người khác nhiều hơn.

    Lời cầu xin của họ rất giản dị. họ chỉ giờ đến chôn áo của Ngài.

    Ngày nay, Thánh Kinh chép trong thơ
    Chúng ta được dạn dĩ bước vào nơi chí thánh để gặp Ngài, chúng ta không phải run sợ nữa mà là dạn dĩ, không phải khiếp đảm mà là khiêm cung đến với Chúa.
    Chúng ta không chỉ ước ao để được giờ chạm đến tua áo của Ngài đâu, mà được giờ chạm đến chính Ngài.
    Sứ đồ Giăng đã nói: Tay tôi đã giờ về Ngài.


  • Ý nghĩa của từ «Amen»

    Ý nghĩa của từ «Amen»

    Ý nghĩa của từ «Amen»
    Giới thiệu.
    Trong Hội thánh rất thường xuyên sử dụng từ ngữ A-men, nhưng nhiều con cái của Chúa vẫn không hiểu ý nghĩa của nó là gì? Chỉ thấy người ta A-men thì cũng A men chứ không hiểu gì cả.
    Từ A-men thường được dùng và sử dụng để kết thúc một lời cầu nguyện, hoặc kết thúc một bài hát, kết thúc một buổi thờ phượng.

    Minh họa: Bài Cầu Nguyện Chung
    Bài hát: Tôn vinh chân thần, nguồn muôn ơn phước, dưới đất chúng sanh đều hát kính khen, trời cao cũng chung ca tụng Ba Ngôi, Chúa Cha, và Con Thánh Linh hiệp lòng. A-men.
    Chữ A-men đóng một vai trò rất quan trọng trong sự thờ phượng Chúa và được Thánh Kinh nhắc đến rất nhiều lần trong những bối cảnh khác nhau.

    Vậy Amen có ý nghĩa gì ?
    Ý nghĩa của từ A-men được dịch ra có nghĩa là: “ Xin được như vậy, Ước gì được như vậy, mong được Chúa chấp nhận lời cầu xin đó, Đúng vậy, chắc chắn như vậy, xin được như vậy – xin tin như thế.v.v…. ”

    Minh họa: Bây giờ, khi tôi công bố lời chúc phước cho anh chị em và nếu anh chị em đồng ý với lời chúc phước đó thì hãy đáp lớn tiếng A-men.
    1. Người mà Đức Giê-hô-va yêu mến
    Sẽ được ở yên gần bên Ngài.
    Hằng ngày Đức Giê-hô-va sẽ che chở người,

    2. Xứ ngươi được Đức Giê-hô-va ban phước;
    Từ trời Ngài giáng xuống cho ngươi ân tứ rất báu, là sương móc,
    Những suối của vực thẳm có nước sâu;
    Những huê lợi quí nhứt của mặt trời,
    Hoa quả cực báu của mặt trăng;
    Những vật nhứt hạng của núi xưa,
    Các báu lạ của mấy gò đống đời đời,
    Bửu bối của đất, và sự sung mãn nó,
    Nguyện ơn của Đấng Toàn Năng
    Giáng xuống trên đầu các ngươi.



    3. Đáng ngợi khen thay Đấng để các ngươi nơi khoảng khoát,
    Đời ngươi lâu bao nhiêu, sức mạnh ngươi lâu bấy nhiêu.
    Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi,
    Ngài đuổi kẻ thù nghịch khỏi trước mặt ngươi,
    4. Ồ! Ngươi có phước dường bao!
    Hỡi dân được Đức Giê-hô-va cứu rỗi, ai giống như ngươi?
    Ngài là cái thuẫn giúp đỡ ngươi,
    Thanh gươm khiến cho ngươi nên vinh hiển.
    Kẻ thù nghịch ngươi sẽ đến dua nịnh ngươi;
    Còn ngươi, ngươi sẽ lấy chân giày đạp các nơi cao của chúng nó.

    1. Amen trong Kinh Thánh Cựu ước

    Các tín hữu, con cái của Chúa thời Cựu Ước thường dùng chữ A-men để kết thúc lời cầu nguyện khi ở giữa hội chúng.
    Minh họa: Giê-rê-mi 11: 3-5
    Thi-thiên 41:13 Đáng ngợi khen Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, từ trước vô cùng cho đến đời đời! A-men, A-men!”
    Thi-thiên 72:19 “ Đáng ngợi khen danh vinh hiển Ngài đến đời đời!
    Nguyện khắp trái đất được đầy sự vinh hiển của Ngài! A-men! A-men! ”

    Khi chúng ta nói A-men, không có nghĩa là một câu thần chú, hoặc khi chúng ta nói A-men với thái độ thờ ơ, khinh xuất, hoặc được chăng hay chớ.

    Trong nguyên ngữ, « amen »  nói lên sự chắc chắn, chân lý và sự trung tín. Nói «amen”, có nghĩa là “Vâng, đúng vậy, chắc như thế!”.

    Trong Kinh Thánh, người ta đáp tiếng «amen» để nói lên sự gắn bó của mình với một lời chúc lành, hay một công bố long trọng nào đó.
    Trong sách 1 Sử ký16:35-36 chép rằng:  “ Hãy cảm tạ Đức Giê-hô-va, vì Ngài là nhân từ; Sự thương xót Ngài còn đến đời đời. Hãy nói: Hỡi Đức Chúa Trời, Đấng chửng cứu chúng tôi! Xin hãy cứu rỗi chúng tôi, Hiệp chúng tôi lại, và giải thoát khỏi các nước, Để chúng tôi cảm tạ danh thánh Chúa, Và nhờ sự ngợi khen Chúa mà lấy làm được vinh. Đáng khen ngợi Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Từ đời đời cho đến đời đời! Cả dân sự đều đáp rằng: A-men! Và ngợi khen Đức Giê-hô-va.",


    Trong các bốn sách Phúc Âm, tiếng «amen» được dùng theo cách khác. Trong Tin Lành Giăng người ta nhân đôi tiếng  «amen». « Amen, amen, tôi bảo thật các anh …» (Ga 1,51[2]).

    Dường như lối nói này muốn bảo đảm cho chân lý của lời nói nhờ vào thẩm quyền của người nói. Lại nữa, sách Khải Huyền loan báo Chúa Giêsu là Đấng Amen: “Hãy viết cho thiên thần của Hội Thánh Laođikia: Đây là lời của Đấng Amen, là Chứng Nhân trung thành và chân thật, là Khởi Nguyên của mọi loài Thiên Chúa tạo dựng” (Kh 3,14[3]). Ta hiểu điều này chỉ muốn nói rằng Ngài chính là chân lý.

    Vậy thì mỗi lần đáp lời thưa « amen », bạn hãy quyết chắc rằng mình hoàn toàn đồng ý với những gì được nói bởi vì thưa “amen” là bạn quả quyết rằng đó là sự thật và là điều chắc chắn.

    **********************
    Trong nhà tù Cộng sản 13 năm, Đức cố Hồng Y Phanxico Xavier Nguyễn văn Thuận đã không chỉ nói lên lời xin vâng theo thánh ý Chúa mà vác thanh gía đau khổ tù tội, nhưng ngài đã nói cùng với lời Amen. Chính vì thế ngài đã trong tâm tư biến trại tù thành giáo phận mới của ngài, căn phòng nhà tù thành ngôi thánh đường chính tòa giáo phận, hận thù ghen ghét thành tình yêu tha thứ.
    Với lời Amen rất nhiều cha mẹ đã từ thâm tâm tìm ra cùng xây dựng căn cước tính là người mẹ, người cha khi họ đã sống trải vượt qua những giai đọan lên xuống trong đời sống lo cho gia đình con cái. Và từ đó có nền tảng vững chắc cho đời sống.
    Amen không là tiêu cực, cùng không duy chỉ là khẳng định, nhưng hàm chứa ý nghĩa luyện tập đặt tin tưởng hy vọng vào ngày mai vươn lên: xin được như vậy, xin tin như thế!


  • SAI ĐI TỪNG ĐÔI

    SAI ĐI TỪNG ĐÔI


    ĐỀ TÀI: SAI ĐI TỪNG ĐÔI
    KINH THÁNH: MÁC 6: 7-13
    Mục đích:
    Để Hội Thánh được phát triển chúng ta cần thực hành lời sai phái của Chúa Giê xu và trở lại với khuôn mẫu Hội Thánh đầu tiên. Cũng khiêm nhường nhìn nhận những thiếu xót của bản thân và thiếu xót của Hội Thánh.

    Lời chào:

    Câu chuyện:

    Nhập đề:



    Qua bản văn Thánh Kinh vừa đọc, chúng ta cùng học với nhau hai bài học:
    Phần thứ nhất: SAI ĐI.
    Phần thứ hai: TỪNG ĐÔI
    Bây giờ, chúng ta cùng học phần thứ nhất.

    I. CHÚA SAI ĐI.
    Chữ sai đi là một động từ diễn tả hành động, họ không phải đang ngồi mà là họ đang đi, họ đang chủ động chứ không phải họ thụ động, hay bất động. Sai đi là họ đang ở trong một tư thế luôn luôn sẵn sàng, luôn luôn dấn thân.

    Họ cần ra đi rao giảng và công bố Phúc Âm tha tội của Chúa Giê xu cho thế giới đang lầm lạc ở trong bóng tối của tội lỗi. Họ cần phải ra đi để rao báo hồng ân và sự giải thoát cấp bách của Đức Chúa Trời cho thế giới đang ở trong sự chết.
    Trong sách tiên tri Ê-sai 6, Ê-sai nghe thấy tiếng gọi của Chúa và ngay lập tức ông đáp ứng lại với tiếng gọi ấy:
    “  Đoạn, tôi nghe tiếng Chúa phán rằng: Ta sẽ sai ai đi? Ai sẽ đi cho chúng ta? Tôi thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi.”Es 6:8)

    Có rất nhiều người khi Chúa kêu gọi thì đặt điều kiện với Chúa, có rất nhiều lúc Chúa sai phái chúng ta chúng ta do dự, lưỡng lự và trần trừ.
    Nhưng Ê-sai đã không đặt điều kiện gì với Chúa cả, cũng không do dự, lưỡng lự hay trần trừ bất cứ điều gì cả. Ê sai thưa rằng: Có tôi đây; xin hãy sai tôi.

    Minh họa: Đang khi đi đường, có kẻ thưa Ngài rằng: Chúa đi đâu tôi sẽ theo đó. 58 Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Con cáo có hang, chim trời có ổ; song Con người không có chỗ mà gối đầu. 59 Ngài phán cùng kẻ khác rằng: Ngươi hãy theo ta. Kẻ ấy thưa rằng: Xin cho phép tôi đi chôn cha tôi trước đã. 60 Nhưng Đức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy để kẻ chết chôn kẻ chết; còn ngươi, hãy đi rao giảng nước Đức Chúa Trời. 61 Có kẻ khác nữa thưa rằng: Lạy Chúa, tôi sẽ theo Chúa, song xin cho phép tôi trước về từ giã người trong nhà tôi. 62 Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với nước Đức Chúa Trời. ( Luca 9:57-61)

    Nhiều người được Chúa mời gọi để trở thành làm con cái của Đức Chúa Trời, Chúa hứa khi ai làm con của Chúa thì mọi tội lỗi sẽ được tha, sẽ được phục hòa với Đức Chúa Trời, sẽ được sự sống đời đời, có sự bình an, và sự chăm sóc, che trở của Chúa ban cho.
    Nhưng lại nói để tôi về tôi hỏi chồng tôi đã, để tôi về tôi hỏi bà cố, ông nội, bác trưởng. hoặc là khi nào công việc của tôi ổn định, gia đình khá giả rồi thì tôi mới tin Chúa.
    Trong khi Thánh Kinh bảo: Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.” ( Giăng 3:36)
    Mỗi chúng ta mai đây phải khai trình trước mặt Chúa về mọi điều mình đã làm trong trần thế này.
    Thật đáng tiếc cho những ai đã đặt cuộc đời mình trên ý kiến của người khác, thật đáng tiếc cho những ai để cuộc đời mình cho người khác quyết định.
    Trở lại với câu Chúa sai đi, chúng ta nhận thấy theo bản văn thì tất cả 12 môn đệ của Chúa được sai phái đi rao giảng Phúc âm cứu rỗi. Tức là không ai ở nhà cả, không ai đùn đẩy ai ai cũng đứng lên đi ra theo sự sai phái và sứ mạng Chúa rao phó.
    Có ba cấp trong tiến trình huấn luyện của Chúa dành cho các môn đồ.
    1. Nhóm 12 người
    2. Nhóm 3 người
    3. Nhóm 1 người
    Trong mười 12 người ông Phi-e-rơ có thể là môn đồ trưởng đi chăng nữa thì ông ở nhà, ông Giăng được mệnh danh là sứ đồ của tình yêu là người gần gũi và thân cận của Chúa Giê xu nhất cũng không miễn trừ sự ra đi chứng đạo.

    Tất cả các môn đồ cùng được sai đi, họ cùng nhau đi ra để nói lên một chân lý rằng: việc chứng đạo, truyền giáo là dành cho tất cả mọi người, là trách nhiệm chung của tất cả con cái của Chúa.
    Dù mới tin Chúa hay tin Chúa lâu năm thì rao báo Tin Lành của Chúa Giê xu Christ là sứ mạng của tất cả chúng ta.

    Minh họa: Ngày nay, chúng ta cứ làm ngược lại cái tiến trình tăng trưởng Kinh Thánh đã đưa ra một mô hình, khuôn mẫu tuyệt vời trong Thánh Kinh. Chúng ta cứ bảo: Để ông mục sư giảng, để ông mục sư dạy giáo lý, để ông mục sư thăm viếng, để ông mục sư làm chứng, truyền giáo. Cái gì cũng sư sư thành sứ sứ, sự sự.
    Lời khuyên của bố vợ Môi se khuyên môi se rằng:   Quả thật, con cùng dân sự ở với con sẽ bị đuối chẳng sai, vì việc đó nặng nề quá sức con, một mình gánh chẳng nổi.” (Xu 18:18  )
    Đúng thế chắc chắn sẽ bị hụt hơi và đuối sức, chính vì thế mà cần có những A rôn tình nguyện, cần có Hu rơ dấn thân, cần có Giô suê là những chiến binh.
    Sách Công Vụ Các Sứ Đồ 6, khi số người tin Chúa càng ngày càng thêm lên, nhu cầu gia tăng và chăm sóc, đáp ứng nhu cڧu càng cấp bách, nhanh chóng hơn.

    Các sứ đồ đã triệu tập một cuộc họp, trong cuộc họp họ nhận ra cái đáng trách đó là: họ quá bận rộn trong nhiều việc, họ đã làm quá nhiều việc phụ và họ đi cái việc chính yếu là: Chuyên lo cầu nguyện và giảng đạo.

    Chuyên lo cầu nguyện và chức vụ giảng đạo là chức vụ của Ms. Không phải là những việc khác không quan trọng, công việc Chúa thì việc nào cũng quan trọng nhưng ở đây phải nhận ra đâu là công việc ưu tiên nhất, cần thiết nhất.
    Minh họa: Trong Hội Thánh hướng dẫn của Ms, truyền giáo cũng Mục sư, thăm viếng cũng mục sư, âm nhạc cũng mục sư, có những Hội Thánh còn bắt cả mục sư đi gặt nữa, đi cày, mà nếu không đi cày, đi gặt cho thì bảo không có yêu thương.

    Cái gì tuốt tuồn tuột kệ ông mục sư, tuốt tuồn tuột thì sẽ tuột ngay. Một Hội Thánh mạnh là một Hội Thánh mà tất cả cùng làm việc, một Hội Thánh mạnh sẽ phục vụ, hầu việc theo chức năng, ân tứ Chúa cho.

    Minh họa: Trong Kinh Thánh tín đồ đi ra mục sư ở nhà chuyên lo cầu nguyện và giảng đạo, còn bây giờ tín đồ ở nhà Mục sư đi ra. Trong Kinh thánh tín đồ chứng đạo và mục sư thì giảng đạo.
    Thế bây giờ, giảng đạo đã không giảng được rồi, chứng đạo cũng không chứng đạo thì làm gì bây giờ, chờ Chúa tái lâm, rồi nghe Chúa gọi: hỡi đầy tớ chăm chỉ của ta được lắm, hãy đến nhận phần thưởng của ngươi.

    Thế tự nhiên giật mình nghĩ rằng: ô thế mình cũng có phần thưởng àh, nghĩ Chúa không biết. Nhưng thực ra đến nhận mão triều hư nát.
    Chẳng có cái mão nào cả, mà chỉ có cái mào, cái mũ mà chỉ có cái chóp, nó đâm cho thủng đầu.
    Trong Phúc âm Giăng 19:10, Chúa Giê xu nhập thế, nhập thể Ngài vào đời, Ngài đến trong thế gian này không phải để ngồi một chỗ nhưng đã đi đến từng làng, Ngài gõ từng nhà, Ngài đến với từng cuộc đời một.
    Đây chính là sứ mạng cao cả của Chúa.

    Bạn và tôi hiện diện trong thế gian này để làm gì? Để làm cho đầy cái miệng, đầy đôi bàn tay, đڧy cái bụng thôi sao.
    Điều đó thật bé nhỏ, tầm thường và ích kỷ biết bao.
    Bạn và tôi còn sống tồn tại đang ngồi đ?y là đang mang trên vai một sứ mạng trọng đại của Cha trên trời.
    Tìm và cứu người.
    Tìm và cứu người là những động từ diễn tả hành động của Chu?a.
    Tìm và cứu là ngôn ngữ của trái tim,
    Tìm và cứu là ngôn ngữ của tình yêu.
    Trái tim bạn có cùng nhịp đập của Cứu Chúa không?
    Bڡn đang ti?m gì?
    Có phải tìm hạnh phúc cho cuộc đời,
    Có phải bạn đang tìm mái ấm cho gia đình?
    Có phải bạn đang tìm giấc ngủ ngon, những bữa ăn ngon?
    Có phải bڡn đang tìm cái...

    Nhưng nhۯng điều đo? qua đi, chẳng còn lại. Nhưng tìm và cứu ngư?i là đam mê của Cứu Chúa, là khát vọng của mỗi chúng ta.
    Xin Chúa cho chúng ta bước theo gương Chúa.
    A-ghê chúng ta tìm vật liệu ?ể lo xây dựng gia đình mình, còn công việc Chúa thì bỏ hoang.
    Thứ tự của chúng ta là đây:
    1. Tín nhân
    2. Thánh nhân
    3. Chứng nhân
    Bạn đang có gì và thiếu gì?
    Đang ở trong chỗ nào?
    Có những ngư?i cả đời mấy chục năm hiện diện trên đất,nhưng chẳng bao giờ cứu được một người nào về với Chúa.
    Giữa biển người bao la mênh mông đông như sao trên trời như cát dưới biển mà chẳng tìm được thấy một người nào đem về cho Chúa. Chẳng bao giờ dám nói về tình yêu của Chúa cho một người nào.
    + có người đa? từng nói rằng: Nếu chúng ta có trái tim chúng ta sẽ tìm được một người có cùng nhịp đập.
    Nếu chúng ta có tình yêu và lòng thương xót thực sự: Chúa sẽ cho ta có kết quả chứ chẳng phڣi ở rưng bao giờ.

    Vì cớ chúng ta không có hành động của Cứu Chúa: Ngài phán; chúng ta hãy đi làng xung quanh. Đi các làng xung quanh đây.
    Chúa có một tấm lòng và tình yêu bao la, tình yêu và sự cứu rỗi của Ngài không phải chỉ dành cho một số người hay một nhóm người mà dành cho tất cả nhân loại này.

    Đây chính là điều mà Ngài đã no?i: ta hãy đi sang làng xung quanh, cốt tại việc đó mà Ngài đến thế gian.

    Đi các làng xung quanh nhắn nhủ chúng ta mở rộng tấm lòng và mở rộng tầm mắt ra, hãy có khải tượng lớn lao, khải tượng vĩ đại là khải tượng cứu người, trái tim biết yêu thương là trái tim tìm người và cứu người.
    Chúa phán: Hãy nhướng mắt lên vì đồng lúa đã chín vàng... Xong con gặt thì ít.
    Quá ít người thăm viếng, quá ít người làm chứng, quá ít người ra đin quá ít người hy sinh.
    Nếu chúng ta thấy cánh đồng ruộng lúa đã chín chúng ta không thể ngồi yên được, mà nóng lòng muốn gặt và đây chính là điều Chúa muốn tôi với quý vị cần có.
    + Ngài không muốn một người nào bị hư mất, song muốn mọi người đều ăn năn và hiểu biết lẽ thật.

    ++

    Đây là khải tượng của Cứu Chúa, đây là

    Chúng ta không có trái tim của Cứu Chúa, chúng ta kh?ng có tình thư?ng của Cứu Chúa.
    Phao lô đã từng thốt lên rằng: Dù tôi bị bỏ đi thân mi?nh, nhưng mong dân tộc tôi được cứu.

    Trong Phu?c Âm Giăng4,
    Chúa Giê xu đa đi giữa trời nắng chang chang, mồ hôi nhễ nhãi, con đường gập gềnh, vừa đói vừa khát. Nhưng Ngài đã bắt tay ngay vào viۇc chia sẻ Phúc Âm sự sống cho người đàn bà tội lỗi.


    Ngài đã vượt biển trong trời tối, người ta ?n uống ngủ nghỉ, Ngài cùng các môn đồ căng buồm trong đêm để vượt qua bờ bên kia để kịp chia sẻ Phúc âm cho đoàn dân đông.

    Trong chuyến truyền giáo thứ...
    Phao lô căng buồm tiến đến tiểu a?, trong khi giữa bi?n cả, đại dương bao la, phao lô đã kiêng ăn cầu nguyện.
    Bận rộ, nguy hiۃm nhưng vẫn không quên tìm kiếm sự hướng dẫn qua sự kiêng ăn hầu cho đặt chân đến vùng đất mới, con người mới thì có nhiều người được cứu, nhiều HT được thành lập.

    Bạn ơi, bạn và tôi ?ang bận rộn nhưng đang bận rộn vì chính bạn, vì gia đình bạn, bạn và tôi cần phải b?n rộn, nghiêm chỉnh trong việc tìm kiếm Chúa và cứu người.

    II. CHÚA SAI TỪNG ĐÔI
    Chúng ta chú ý động từ " từng đôi"
    + Chúa tạo dựng nên các loài thú, thì loài nào cũng có đôi, có cặp, riêng A đam thì không tìm được ai để có đôi có cặp.
    Và Chúa đã phải dựng nên một người phụ nữ là Ê va cho ông, và từ đây ông có đôi có cặp, có vợ có chồng, có hôn nhân, có mái ấm gia đình.
    +Khi Chúa cứu gia đình nhà Nô ê Chúa đã rặn Nô ê là phải mang vào tàu các con vật có đôi có cặp,
    Chúa luôn luôn chọn từng đôi và từng cặp.
    Và con người cũng thế.
    Nói đến từng đôi là nói đến sự hiệp một, nói đến việc họ cần có nhau, hỗ trợ cho nhau, cầu nguyện nhau, sữa chữa cho nhau, khích lệ nhau, vui với nhau.

    các môn đồ ai cũng có bạn đồng công.
    Chúng ta là con cái của Chúa chúng ta không lẻ loi, cô đ?c vì chúng ta có anh chị em, có bạn đồng công.
    + Bạn đồng làm việc
    Nếu hôm nay, tôi hۏi quý vị rằng: Ai sẽ là người đi cùng với bڡn, ai sẽ lắng nghe bạn, ai sẽ tin cậy bạn, ai sڽ sẻ chia vۛi bạn dù hoàn cảnh thế nào?
    Bạn có người nào không? Bạn có ngư?i bạn nào trong ?ời của bạn không? Chúng ta thường có rất nhiều b?n, nhưng chۉ có những người bạn trong thế gian mà thôi, mà sứ đồ Giăng bảo rằng: Chớ làm bạn với thế gian, vì sự kính mڿn God không ở trong ng?ời ấy, người thế gian ghét Chúa, chống đối Chúa, chối bỏ Chúa nếu làm bạn với họ thì là đang thù nghịch với God, làm bạn ở đây là: thân thiết, gắn bó, học theo.
    Bạn và tôi phải có những người bạn trong đức tin.
    + bạn trong đức tin.
    + ?a ni ên đã có những người bạn kính sợ Chúa,
    + Gióp có những người bạn tin kính Chúa.
    Bạn và tôi có rất nhiều ng?ời bạn, nhưng thường có những người bạn trong thế gian này mà thôi.
    Sứ đồ Gi?ng nói: Chớ làm bạn với thế gian, chớ yêu mến thế gian. Vì sự kính mến..
    Sứ đồ Giăng nói: Ngài đã đến trong thế gian nhưng thế gian chẳng nhìn biết Ngài, thế gian chối bỏ Ngài,chống đối Ngài và thù nghịch với Ngài.
    Như vậy nếu chúng ta làm bạn với thế gian thì đang thù nghịch với God.

    + hai ngư?i hơn một,
    + Sợi dây ba tao lấy làm..
    Một người ở một mình thì không tốt.
    Nếu mۙt người ngã thì sẽ có người khác đۡ mình lên.
    Nếu chúng ta ngã thì thế gian nó cười, Ma quỷ nó sung sư?ng.
    Nó rất sung sướng khi chúng ta cãi nhau, nó rất sung sướng khi chúng ta thất bại, đau yếu.
    + trong thi thiên: " kẻ nào mong tôi thất bại nguyện nó sẽ bị sa ngã"


    Đây là thế gian, nhưng tấm lòng của God rất đau khổ khi thấy con dân Chúa đau khổ.
    + Kinh Thánh
    + dân Y. Sơ ra ên cùng cực kêu cầu Chúa, Chúa nghe, Chúa thấy và Chúa Cứu vớt.
    + bạn Gióp thấy Gióp đau khổ bèn kiêng ăn bẩy ngày kêu khóc cùng.
    + Đa ni ên đã có những người bạn đã vào sinh ra tử trong trận chiڿn thuộc linh.


    + châm ngôn lời Chúa nói: Một người bạn trí cốt quý hơn anh em ruột.
    Bạn cùng đức tin đã là tốt rồi, mà bạn cùng làm việc cho Chúa còn qúy hơn.

    + nỗi khổ của người HVC.
    - Gia cốp ban đêm chịu lạnh, ban ngày nắng nóng.
    + Chúa Giê xu trong vườn Ghết Sê ma nê, Ngài đang đối diện với sự thống khổ nên Ngài đã cầu nguyện rất khẩn thiết. Ngài mong tìm được một ng?ời bạn trong các môn đồ, trong lúc ngài đang tranh đấu giữa cái chết và cái sống thế mà không một người nào biết được, không một người nào ở cùng cầu nguyện với Ngài.

    + Họ có đôi tức là họ có cùng một mục đích, có cùng một khải tượng, có cùng một cha.
    Tuy mỗi người một tính một nết, mỗi người có hoàn cảnh riêng, có khó khăn riêng.
    Nhưng khi họ đã đi cùng thì họ sẽ chờ đợi nhau, họ khích lệ nhau, người này nói, người kia sẽ cầu nguyện.



    Các môn đệ Chúa được sai đi ra từng đôi. Nếu đi riêng lẻ, họ đã có thể đến nhiều khu vực hơn trong xứ, nhưng đây không phải là kế hoạch của Chúa Cứu Thế. Một lợi điểm khi ra đi từng đôi một là họ có thể hỗ trợ và khích lệ nhau, nhất là khi họ bị người khác từ chối không tiếp. Sức lực của chúng ta vốn đến từ Đức Chúa Trời, nhưng Ngài đáp ứng rất nhiều nhu cầu của chúng ta qua việc chúng ta cùng làm việc với những người khác. Khi bạn hầu việc Chúa Cứu Thế, xin đừng tìm cách chỉ làm một mình.
  • Dấu Ấn Tình Yêu

    Dấu Ấn Tình Yêu

    Dấu Ấn Tình Yêu

    1. Chúa ghi vào hồn con dấu ấn của Ngài. Chúa ghi vào đời con êm ái tuyệt vời. Mấy cung đàn tơ tấu lên trìu mến, khúc ca cuộc đời con thơm ngát hương trời.

    ĐK : Hồng ân Chúa tràn trề tháng năm, tay con nhỏ bé đón sao cho vừa. Hồng ân Chúa vô biên vô tận, tim con nhỏ bé nhưng vẫn còn vơi.

    2. Ôi ân huệ tình yêu cao quý khôn lường. Chúa dắt dìu con đi qua tháng năm trường, sớt chia buồn vui, ủi an phù giúp, dẫu con là tôi tớ tay trắng khôn cùng.

    3. Xin cho đời con như cây sáo của Ngài. Chúa gieo vào giai khúc thánh khiết muôn đời. Chúa cho đầy vơi, mát tươi cuộc sống, khi tay Ngài âu yếm ngây ngất tâm hồn.

    Linh Mục viết theo cảm hứng của ta go, một thi hào nổi tiếng của thế giới. Ông đã được trao tặng giải thưởng văn chương, trong tác phẩm của ông chứa đầy chất tâm linh.


    Được Chúa gọi dù con là tôi tớ tay trắng khốn cùng, Xin cho đời con như cây sáo của Ngài. Cây sáo rất bình thường thôi nhưng nếu mà nó trở thành cây sáo của Chúa, thì cây sáo đó có thể rung nên những điệu nhạc tuyệt vời, đem lại cho nhiều người được tươi mát.
  • TIN LÀNH CỦA NIỀM VUI

    TIN LÀNH CỦA NIỀM VUI

    Đề tài: TIN LÀNH CỦA NIỀM VUI
    Kinh Thánh: Luca 2: 10-13
    NHẬP ĐỀ:
    Chúng ta đã bước sang tháng 12 của năm, và tháng 12 có sự kiện lịch sử trọng đại cho toàn thế giới đó là sự kiện MỪNG CHÚA GIÊ XU GIÁNG SINH.

    Thánh sử Luca mô tả Tin Lành của Chúa Giê-xu là Tin Lành của niềm vui.
    Ngay trong những chương đầu của sách Phúc Âm Luca, Bác sĩ Luca mô tả sự ra đời, sự Giáng Sinh của Chúa Giê xu là một niềm vui lớn cho muôn dân.
    Trong đêm Chúa Giáng Sinh, thiên sứ của đã báo cho các kẻ chăn chiên ngoài đồng như vầy: “ Đừng sợ chi; vì nầy, ta báo cho các ngươi một tin lành, sẽ là một sự vui mừng lớn cho muôn dân”  (Lu 2:10  )
    Ngày Chúa Giê xu sinh ra là một ngày vui mừng trọng đại cho toàn thế giới.
    Ngày chúng ta sinh ra, thì chỉ có bà con, họ hàng, làng xóm đến thăm chúc mừng, và có những phụ nữ đem chứng, đem tiền đến để chúc mừng.
    Nhưng ngày Chúa Giê xu sinh ra là ngày vui mừng cho toàn thế giới, không phải chỉ là niềm vui của gia đình Ma-ri và Giô-sép, cũng không phải chỉ là niềm vui của xóm giềng tại Bết-lê-hem mà là cho toàn thế giới, cho muôn dân, một niềm vui trọng đại.

    I. CHÚA GIÊ XU LÀ NIỀM VUI ĐÍCH THỰC CỦA NHÂN LOẠI

    Niềm vui ở đây là được thấy Đấng Cứu Thế, chứ không phải là niềm vui của sự kiện, trong cuộc sống chúng ta rất cần niềm vui, nếu cuộc đời thiếu niềm vui, thiếu hy vọng thì thật buồn tẻ và nặng nề chẳng khác chi địa ngục của trần gian.

    Có nhiều người tìm niềm vui cho cuộc đời mình, bằng cách là phó mình vào những ăn uống, tiệc tùng thâu đêm suốt sáng, cần sa, ma tuý, cờ bạc, trai gái. V.v…
    Có một số người đi tìm niềm vui bằng cách có thật nhiều tiền, áo quần đắt tiền, điện thoại hiện đại, xe đẹp, sắc đẹp.
    Nhưng niềm vui đó chỉ như bọt nước nổi, nó sẽ tan ngay, nhìn vào xã hội con người ngày nay có tất cả mọi sự về vật chất trên thế gian này, nhưng lòng vẫn thấy bất an và buồn chán, và phát hiện ra rằng những vật chất giàu có này sẽ không đem lại thoả mãn niềm vui thật sự cho tâm hồn chúng ta. 

    Trong câu 11 “ấy là hôm nay tại thành Đa-vít đã sanh cho các ngươi một Đấng Cứu-thế, là Christ, là Chúa.”
    Chúng ta chú ý đến Luca nói đến một cái thành, đó là thành Đa-vít.
    Thành Đa-vít rất nổi tiếng mang tên một vị vua tài giỏi, xuất sắc của dân tộc Do thái là Đa-vit, nói đến Đa vít là nói đến một vi vua hình mẫu lý tưởng và niềm tự hào hãnh diện của toàn dân tộc, cho nên người ta đã đặt tên thành mang tên của ông.
    Thời Cựu Ước thì thành Đa-vít chính là Giê-ru-sa-lem, vào thời của Hoàng đế Sa-lô-môn lên ngôi. Ông đã cho xây dựng những kiến trúc đồ sộ, tráng lệ bậc nhất, thủ đô này là niềm tự hào, và niềm vui của dân tộc Do Thái.

    Nhưng thiên sứ không loan báo đó là niềm vui, tại thành phố có tên là Đa vít đó có biết bao nhiêu những sự kiện nổi bật trên thế giới. Nhưng thiên sứ đã không hướng nhân loại chú ý vào đó mà Đức Chúa Trời muốn cả nhân loại này phải hướng mắt, hướng lòng vào Đấng Cứu Chuộc là Chúa Cứu Thế Giê xu.
    Chúng ta chú ý đến một danh hiệu rất quyền năng của Chúa Giê xu đó là: Đấng Cứu Chuộc.

    Chữ “ JESUS” có nghĩa là Đấng Cứu Chuộc.
    Danh hiệu “Đấng Cứu Chuộc” là làm cho thoát khỏi mối đe dọa, Lấy lại cái đã mất, cứu vớt khỏi mọi sự ràng buộc tội lỗi, được giải cứu ra khỏi sự gian ác.

    Đấng Cứu Chuộc là chỉ về “công tác cứu chuộc do Đức Chúa Giêsu đã
    thực hiện bằng cái chết trên thập tự giá.
    Nhân loại bị cầm tù, giam cầm trong tội lỗi và phải làm nô lệ cho Ma-quỷ, và đang ở trong tình trạng tuyệt vọng, chết mất, không có cách nào thoát ra được.
    Trước tình cảnh đó, cuộc khổ nạn và cái chết của Đức Chúa Giê xu là tiền chuộc hay một cái giá phải trả để giải thoát con người khỏi tay Ma quỷ và cứu vớt con người ra khỏi sự chết đời đời trong địa ngục.
    Đức Chúa Giê xu đền tội thay cho chúng ta không phải bằng cách trả tiền nhưng bằng cách cống hiến cái đáng giá nhất là phó chính sự sống bản thân của Ngài cho chúng ta.
    Sứ đồ Phao lô nhắc nhở và kêu gọi các con cái Chúa sống tại thành phố Cô-rinh-tô là: “ Anh em đã được chuộc bằng giá cao, chớ trở nên tôi mọi của người ta làm chi.” ( ICo 7:23  )

    Vì thế cuộc khổ nạn của Đức Kitô được gọi là sự cứu chuộc nhân loại”.
    Minh họa: Thiên Chúa chọn để cứu dân Israel bằng cách giải phóng dân này khỏi nô lệ Ai Cập (Xh 12,27; 14,13; x. Is 63,9) và bằng cách lập họ thành “dân riêng” của Chúa (Xh 19,5; Đnl 26,18).
    Trong Tân Ươc, bản văn Tit 2,13t, phản ánh rõ ràng giáo lý sơ khai, biểu lộ nguồn gốc mà tác giả dựa vào để diễn tả công cuộc cứu chuộc của Đức Chúa Giê xu.
    Chúa Giêsu là “Đấng Cứu Thế, hay Đấng Cứu Chuộc” với tư cách “chuộc chúng ta khỏi mọi tội ác” và “tinh lọc một dân riêng cho Ngài”.

    Thiên sứ bảo ông Giô-sép phải đặt cho Ngài: “Ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ” (Mt 1:21). Như vậy thiên sứ đã cho thấy Đức Giê-su là Đấng Cứu Chuộc nhân loại.

    II. CÁCH ĐỂ CÓ ĐƯỢC NIỀM VUI ĐÍCH THỰC
    Luca 15:5-8
    Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai; 6 đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất. 7 Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.”
    Có mấy dòng mà nói đến rất nhiều lần sự mừng rỡ, chung vui, vui mừng.

    Câu 9 Khi tìm đươc rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất. 10 Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn.”
    Xin chung vui với tôi.
    Câu 20 “Nó bèn đứng dậy mà về cùng cha mình. Khi còn ở đàng xa, cha nó thấy thì động lòng thương xót, chạy ra ôm lấy cổ mà hôn, Hãy bắt bò con mập làm thịt đi. Chúng ta hãy ăn mừng, 24 vì con ta đây đã chết mà bây giờ lại sống, đã mất mà bây giờ lại thấy được. Đoạn, họ khởi sự vui mừng.”
    Câu 32 “Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.”
    Tin lành của Chúa là niềm vui, niềm vui ở đây là Đức Chúa Trời đã tìm lại được con người tưởng chừng đã bị đánh mất.
    Niềm vui ở đây là con người tìm lại được phẩm giá đích thực của mình đó là Đức Chúa Trời. Con người lại được trở về hòa thuận với Cha trên trời, niềm vui ở đây là mối quan hệ giữa con người với Đấng Tạo Hóa bị bẻ gẫy bởi tội lỗi nhưng bây giờ được phục hòa. Chúng ta lại được trở về làm con Vua Thánh trên trời. Đó là niềm vui đích thực.
    Minh họa: Và từ đây, chúng ta phải thay đổi ý nghĩ của mình về Đức Chúa Trời, đôi khi mình không có hình dung ra được Đức Chúa Trời Đấng chúng ta đang thờ phượng là người Cha của niềm vui.
    Mà mình toàn hình dung ra Chúa như vị quan tòa, thẩm phán: Chỉ chờ rình rình mình phạm tội là phạt, và ông thích thú phạt cái người nào phạm tội.

     Trong khi đó, mình đọc cái dụ ngôn này khác hẳn, những dụ ngôn này diễn tả Đức Chúa Trời vui mừng không phải là vì phạt chúng ta khi chúng ta phạm tội, mà Ngài vui mừng tìm lại được con người tưởng chừng như bị đánh mất.
    Đây là niềm vui của thiên đàng chứ không phải là niềm vui của thế gian.
    Phải thay đổi hình ảnh của Đức Chúa Trời trong suy nghĩ của mình về Ngài, phải nghĩ rằng: Ngài là người Cha hay thương xót.
    Ngài vui mừng khi chúng ta bỏ đi tội lỗi, ăn năn trở lại tìm lại được đúng cái phẩm giá của mình đó là: mình là con cái của Đức Chúa Trời.

    Chúng ta chú ý đến động từ đi tìm “ tìm lại được con chiên bị lạc mất, tìm lại được đồng bạc bị mất.
    Mình chú ý đến động từ đi tìm như thế, thì mình mới khám phá ra điều này, mình cứ thường nói: là mình đi tìm Chúa.
    Nhưng chúng ta phải nhớ ở đây là: Chính Chúa đi tìm mình trước, chính Thiên Chúa đi tìm con người.
    Đức Chúa Trời giống như người chăn chiên đi tìm con chiên lạc mất.
    Đức Chúa Trời giống như người phụ nghèo đi tìm đồng bạc mất.
    Đức Chúa Trời đã đi tìm mình, những bước chân đi tìm là những bước chân của tình thương, Đức Chúa Trời luôn luôn đi bước trước, chứ không phải chúng ta, còn chúng ta đáp lại thôi.
    Điều quan trọng là chúng ta phải chấp nhận để Chúa tìm, chúng ta không giống như đồng bạc vô tri vô giác, con người có tự do, Chúa có thắp đèn, quét chổi thì mình lại tránh né.
    Chúa tìm chúng ta bằng nhiều cách lắm, có thể là một lời nhắc nhở của một người bạn, một biến cố đau thương như tai nạn chẳng hạn, nghe một bài giảng, nghe một bài thánh ca. Đức Chúa Trời dùng đủ mọi cách để tìm chúng ta.
    Tìm chúng ta để đưa chúng ta ra khỏi cái vòng lẩn quẩn tội lỗi và đen tối của cuộc đời.
    Còn mình thì cứ tránh Chúa, ẩn Chúa.
    Minh họa: Ngay khi A-đam và Ê-va phạm tội Chúa đã tìm hai ông bà, nhưng hai ông bà thì tìm cách để tránh mặt Chúa.
    Trong khi Chúa đi tìm con người, thì con người lại tìm cách để né tránh Ngài.
    Cho nên, động từ đi tìm là quan trọng lắm, giúp cho chúng ta thấy rõ chân dung Đức Chúa Trời của tình yêu, của lòng thương xót.
    Đây chính là niềm vui cho đời sống mỗi chúng ta, mỗi chúng khi được trở về làm con cái của Chúa, được hòa thuận với Ngài, phải hãnh diện và cảm thấy niềm vui, niềm vui từ bên trong tâm hồn con người, niềm vui vì mình trước kia đã bị mất mà nay lại trở về với Ngài.

    III. TRÔNG MONG NIỀM VUI TRỌN VẸN
    Lu 10:20   20 Dầu vậy, chớ mừng vì các quỉ phục các ngươi; nhưng hãy mừng vì tên các ngươi đã ghi trên thiên đàng.
    Lu 6:22   22 Phước cho các ngươi khi vì cớ Con người, thiên hạ sẽ ghét, đuổi, mắng nhiếc các ngươi, bỏ tên các ngươi như đồ ô uế!
    He 11:16   16 nhưng họ ham mến một quê hương tốt hơn, tức là quê hương ở trên trời;nên Đức Chúa Trời không hổ thẹn mà xưng mình là Đức Chúa Trời của họ, vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một thành.
    Tôi cũng thấy thành thánh, là Giê-ru-sa-lem mới, từ trên trời, ở nơi Đức Chúa Trời mà xuống, sửa soạn sẵn như một người vợ mới cưới trang sức cho chồng mình. 3 Tôi nghe một tiếng lớn từ nơi ngai mà đến, nói rằng: Này, đền tạm của Đức Chúa Trời ở giữa loài người! Ngài sẽ ở với chúng, và chúng sẽ làm dân Ngài; chính Đức Chúa Trời sẽ ở với chúng. 4 Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng, sẽ không có sự chết, cũng không có than khóc, kêu ca, hay là đau đớn nữa; vì những sự thứ nhất đã qua rồi. ( Kh 21:2)


  • HỌC THÁNH KINH

    HỌC THÁNH KINH

    SÁNG THẾ KÝ
    (Chương 12-19)

    11 chương đầu của sách Sáng-thế-ký là nói về nguồn gốc của vũ trụ, nguồn gốc loài người, rồi mô tả cho chúng ta nguồn gốc của cái ác, tại sao nó xuất hiện trong trần gian này. Và cái ác nó đã đem đến những hậu quả như thế nào cho đời sống của con người.
    Mối tương quan giữa vợ chồng trong gia đình, tương quan trong anh em, tương quan con người với con người, và cả tương quan giữa con người và vũ trụ bị đổ vỡ ra sao.
    Nhưng bên cạnh sự gẫy đổ tất cả mối tương quan của con người thì lời hứa cứu rỗi, sau 11 chương đầu, chúng ta bắt đầu bước vào chương 12 là bắt đầu các trình thuật, ký thuật về các tổ phụ.
    Mà đầu tiên là tổ phụ Áp-ra-ham, và qua sự ký thuật về các tổ phụ này và cũng như qua sách khác trong Thánh Kinh là ta thấy Đức Chúa Trời thực hiện công trình cứu chuộc của Ngài trong lịch sử nhân loại như thế nào?
    Và bây giờ, chúng ta bắt đầu với tổ phụ Áp-ra-ham.

    I. TIẾNG GỌI VÀ LỜI ĐÁP TRẢ CỦA ABRAM
    Sáng-thế-ký 12:1-5
    Ở đây, chúng ta đọc thấy Áp-ram, mãi đến chỗ chương 17:5 thì sẽ thấy người ta gọi tên là Áp-ra-ham. Như vậy, Chúa đổi tên của Áp-ram thành Áp-ra-ham. Trong Thánh Kinh nhiều người được đổi tên lắm.

    Minh họa: Trong những chương kế tiếp chúng ta sẽ thấy Gia-cốp sẽ được đổi tên thành Y-sơ-ra-ên.
    Ông Phi-e-rơ trước đó tên là Si-môn và sau đó được đổi tên thành Sê-phê có nghĩa là Phi-e-rơ nghĩa là đá.

    Ở trong Thánh Kinh khi Chúa đổi tên một người là Chúa trao một sứ mạng mới cho người đó.

    Trong bản văn Thánh Kinh đã ký thuật về sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho tổ phụ Áp-ra-ham, sự kêu gọi đó hoàn toàn là từ Đức Chúa Trời mà đến.
    Khởi đầu của sự kêu gọi là từ phía Đức Chúa Trời chứ không phải là từ phía con người. Khi mình thấy sự kêu gọi là mình phải hiểu chính Chúa đi bước trước, ơn gọi thiên triệu, ơn gọi làm Mục sư chẳng hạn.

    Người ta hầu việc Chúa, làm Mục sư không phải là do cái cố gắng của bản thân mình, chúng ta chỉ là đáp ứng lại sự kêu gọi của Chúa mà thôi. Chứ còn tiếng gọi và ơn kêu gọi trước hết là đến từ Đức Chúa Trời.
    Ở đây cũng vậy, khi Chúa kêu gọi Áp-ra-ham và Ngài hứa sẽ làm cho ông thành một dân lớn.
    Chúng ta chú ý đến câu 2-3 “ Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. 3 Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, rủa sả kẻ nào rủa sả ngươi; và các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.”

    Để trở thành một dân lớn thì Áp-ra-ham phải có hậu duệ, phải có người nối dõi chứ, nếu không có người nối dõi thì lấy đâu ra mà dân lớn, khi chúng ta đọc tiếp sách Sáng-thế-ký thì mình thấy ông chẳng có con cái gì.

    Chúng ta thấy câu chuyện này nó thu hút mình là bởi vì phải có sự can thiệp của chính Đức Chúa Trời thì lời hứa này mới được thực hiện.
    Và gắn với hậu duệ là đất đai, và lời hứa mà Chúa dành cho Áp-ra-ham đó không chỉ là dành cho cá nhân của ông, mà là nhờ ông mà mọi dân tộc trên đất này được chúc phước. Đó là về phía Đức Chúa Trời, còn về phía tổ phụ Áp-ra-ham thì Thánh Kinh ghi nhận làm sao? Cái thái độ của Áp-ra-ham.

    II. Lời đáp trả của Abraham

    Chúng ta để ý câu 4: “ Rồi, Áp-ram đi, theo như lời Đức Giê-hô-va đã phán dạy;”
    Tác giả của thư Hê-bơ-rơ diễn tả về Áp-ra-ham như sau: “ Bởi đức tin, Áp-ra-ham vâng lời Chúa gọi, đi đến xứ mình sẽ nhận làm cơ nghiệp: người đi mà không biết mình đi đâu.” ( Hê-bơ-rơ 11: 8)

    Ra đi mà không biết mình đi đâu, chỉ cần Chúa bảo mình đi thì mình đi thôi, không cần biết mình đi đâu. Như vậy cái thái độ này nó diễn tả một sự vâng phục tuyệt đối của tổ phụ Áp-ra-ham.

    Nó diễn tả cái thái độ trọn vẹn của tổ phụ Áp-ra-ham đối với Đức Chúa Trời, Chúa gọi thì tôi lên đường, Chúa gọi thì tôi đi thế thôi. Còn đi đến đâu, điều gì sẽ xảy ra, tôi không cần biết, mọi sự là ở nơi Chúa.

    Bài thánh ca: Tôi không biết ngày mai sẽ thế nào?

    Một điều rất lạ lùng, chúng ta để ý mà xem, Thánh Kinh của người Tin lành được chia ra thành hai phần lớn: Cựu Ước và Tân Ước.

    Sau 11 chương đầu của sách Sáng-thế-ký là nói đến nguồn gốc của vũ trụ và con người và sang chương 12 là nói đến tổ phụ Áp-ra-ham. Cho nên có thể coi như là khởi đầu của thời kỳ Cựu Ước là tổ phụ Áp-ra-ham.

    Trong Tân Ước thì nói đến Chúa Giê xu, cho nên, hai khuôn mặt mở đầu cho hai giao ước, giao ước cũ và giao ước mới, cả hai vị tổ phụ đó là sống đức tin tuyệt đối.
    Phó thác trọn vẹn nơi Đức Chúa Trời, cho nên đức tin là chủ đề đặc biệt được nhấn mạnh trong câu chuyện về ơn kêu gọi của tổ phụ Áp-ra-ham.
    Chính vì vậy, tổ phụ Áp-ra-ham là tổ phụ mẫu mực cho chúng ta trong đời sống đức tin.

    Minh họa: Nếu chúng ta đặt mình vào trong bối cảnh lúc bấy giờ khi Ngài kêu gọi thì chắc chắn chúng ta thế nào cũng hỏi vậy thì Chúa muốn đưa con đi đâu? Và nếu Chúa bảo mình đi đến một chỗ nào nó tốt đẹp thì mình mới đi, còn nếu Chúa bảo mình đi đến chỗ nào khó khăn, khó thở thì chắc mình từ chối thôi.

    Thường thường đức tin của chúng ta có điều kiện, chứ nó chưa phải là sự phó thác trọn vẹn ở nơi Đức Chúa Trời.

    Sau này, chúng ta học về thánh Phao lô chúng ta sẽ thấy ông dùng cái từ đó là: Sự vâng phục của đức tin.

    Đức tin là gì? là thưa vâng với Lời của Chúa, Chúa cất tiếng gọi, Chúa phán, tôi thưa vâng đó là đức tin.
    Đức tin là thưa vâng đối với Lời của Chúa.
    Minh họa: Khi thiên sứ báo tin cho bà Ma-ri thì bà nói: Xin sự ấy xảy ra như điều Chúa hứa, có nghĩa là bà xin vâng với Lời của Chúa.
    Tổ phụ Abrham mãi mãi là mẫu mực cho đời sống đức tin của mọi tín hữu.

    III. GIAO ƯỚC VỚI ABRAHAM
    Sáng-thế-ký 15:7-11 Ở nói đến lời hứa và giao ước của Đức Chúa Trời, chúng ta thấy Thánh Kinh mô tả làm sao? Chúng ta cùng đọc.
    Chúng ta để ý thấy Chúa bảo Áp-ra-ham kiếm cho Chúa một con bò cái ba tuổi, một con dê cái ba tuổi, một con chiên đực ba tuổi, một con cu rừng và một con bồ câu con. Thế rồi Áp-ra-ham sẻ đôi ra đặt nửa này đối diện với nữa kia.
    Ở đây là một nghi thức ký kết một giao ước mà người xưa người ta thực hiện. Những con vật đó được sẻ đôi, đặt hai bên. Rồi hai bên mà ký kết giao ước đó sẽ đi qua, đi lại ở giữa để nói lên điều gì?
    Để nói rằng mình phải giữ lời giao ước đó mà nếu mình không giữ lời giao ước đó thì số phận của mình sẽ giống như những con vật này này, sẽ bị sẽ đôi ra. Cho nên, ý kết giao ước là một điều rất quan trọng.

    Chúng ta đọc tiếp câu 17 sẽ thấy Khi mặt trời đã lặn, thình lình sự tối mịt giáng xuống; kìa, có một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa loè ngang qua các xác thịt đã mổ.”

    một lò lớn khói lên, và một ngọn lửa loè, lửa ở đây là hình ảnh, là dấu chỉ sự hiện diện của Đức Chúa Trời.

    Đức Chúa Trời đi ở giữa những con vật đã bị sẻ đôi, có nghĩa rằng Đức Chúa Trời ký kết giao ước với tổ phụ Áp-ra-ham.
    Ngay trong câu 18 thì viết “ Ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước cùng Áp-ram ”
    Đấy chính là cái nghi thức kỳ kết giao ước là như vậy.

    Rồi câu 12 thì viết “ Vả, khi mặt trời vừa lặn, thì Áp-ram ngủ mê; nầy một cơn kinh hãi, tối tăm nhập vào mình người.”  
    Câu này nó diễn tả ông Áp-ra-ham đi vào chạng thái ngưng hoạt động trong thể lý của con người để được dẫn vào trong mặc khải của Đức Chúa Trời.
    Được dẫn vào trong cuộc gặp gỡ với Đức Chúa Trời.

    Đọc lời này, chúng ta nhận thấy Đức Chúa Trời vận dụng, và dùng những hình ảnh, phong tục, tập quán để giúp cho con người hiểu về Ngài.

    Cái giao ước được nói đến ở đây nó như là một hợp đồng, khi nói đến hợp đồng nó có nghĩa là cả hai bên có quyền lợi và có trách nhiệm.
    Về phía Đức Chúa Trời thì trách nhiệm ra làm sao và về phía Áp-ra-ham thì trách nhiệm ra làm sao?
    Và trong chương 17:5 Chúa đổi tên từ Áp-ram thành Áp-ra-ham nó diễn tả một mối quan hệ mới với Đức Chúa Trời.
    Và ý nghĩa tên của Áp-ra-ham có nghĩa là cha của nhiều dân tộc.

    Một điểm nữa ở chương 17:7 “ Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi, và cùng hậu tự ngươi trải qua các đời; ấy là giao ước đời đời, hầu cho ta làm Đức Chúa Trời của ngươi và của dòng dõi ngươi.”

    Chúng ta chú ý ở đây là Chúa không chỉ lập giao ước với cá nhân Áp-ra-ham mà còn với dòng dõi của Áp-ra-ham, và cái giao ước đó là cái giao ước đời đời, vĩnh cửu.

    Cũng ở trong chương 17 nói đến dấu hiệu, dấu chỉ của lập giao ước là cắt bì, chúng ta đọc ở câu 14 “ Một người nam nào không chịu phép cắt bì nơi xác thịt mình, sẽ bị truất ra khỏi ngoài dân sự mình; người đó là kẻ bội lời giao ước ta.”

    Người Do thái rất tự hào về cái căn tính của dân tộc mình, cái gì làm cho người Do thái là người Do thái, cái gì nó làm cho tôi là dân của Chúa, còn dân ngoại nó không phải là dân của Chúa. Có một dấu hiệu rõ ràng đó là việc cắt bì.

    Nếu anh chịu phép cắt bì thì anh mới là người Do thái, là dân của Chúa, còn nếu anh không chịu cắt bì thì anh không phải là dân của Chúa.
    Sau này mình đọc Thánh Kinh Tân Ước, đọc thư của sứ đồ Phao lô mình sẽ thấy nó lại được nhắc đến và đặt ra.
    Cái người Do thái chịu cắt bì thế người không phải Do Thái tức là dân ngoại người ta tin Chúa Giê xu người ta có cần phải cắt bì không?

    IV. Ismael chào đời
    Sáng-thế-ký 16: 1-2 Vả, Sa-rai, vợ của Áp-ram, vẫn không sanh con; nàng có một con đòi Ê-díp-tô, tên là A-ga. 2 Sa-rai nói cùng Áp-ram rằng: Nầy, Đức Giê-hô-va đã làm cho tôi son sẻ, vậy xin ông hãy lại ăn ở cùng con đòi tôi, có lẽ tôi sẽ nhờ nó mà có con chăng. Áp-ram bèn nghe theo lời của Sa-rai.”
    Đọc cái câu chuyện này chúng ta thấy có bà nào cho phép chồng mình như vậy không? Đây là sự đề nghị của bà Sa-ra, liệu luật của Chúa có quy định như vậy không?
    Thánh Kinh đã viết cách chúng ta 30 thế kỷ, 20 thế kỷ một điều quan trọng là mình phải nhìn lại thời lúc bấy giờ, phong tục, tập quán, luật lệ ra làm sao?
    Khi bà Sa-ra đề nghị tổ phụ Áp-ra-ham cái điều này là bà ấy làm một điều hoàn toàn phù hợp với tục lệ lúc bấy giờ ở vùng mê-bô-sô-ta-mi.

    Luật pháp thời bấy giờ cũng quy định rằng: đứa con mà nữ tỳ sinh ra là con của bà chủ và cô nữ tỳ lại phải trở về thân phận nữ tỳ của mình.
    Chúng ta cho rằng rất bất công quá, nhưng chúng ta không có tranh luận đến vấn đề bất công hay không bất công mà chúng ta phải đặt mình vào bối cảnh lúc bấy giờ.
    Minh họa: Việt Nam chúng ta 100 năm trở về trước, các cụ từng nói: Trai thì năm thê, bẩy thiếp, gái thì chỉ chính chuyên có một chồng. Mà các cụ thời đó đâu có bảo là bất công, bây giờ thì mình bảo bất công. Mình đặt mình vào cái thời điểm đó để mình hiểu.

    Tục lệ lúc bấy giờ là khi một người vợ mà son sẻ không có con, thì người vợ ấy có thể để cho người vợ ấy ăn ở với nữ tỳ, mà đứa con người nữ tỳ đó sinh ra, là con của bà chủ “vậy xin ông hãy lại ăn ở cùng con đòi tôi, có lẽ tôi sẽ nhờ nó mà có con chăng”
    Con của tôi chứ không phải con của nó, thành thử bà Sa-ra bà ấy làm phù hợp với luật pháp thời đó, phù hợp với ở vùng đó.

    Khi cô nữ tỳ này đi lại với ông chủ thì cô nữ tỳ này rất hãnh diện và giờ cô ấy lại còn có con nữa, bà chủ thì không có thì chắc chắn cô nữ tỳ này rất kiêu hãnh, vênh mặt.

    Cô A-ga này cô có bầu và cô lên mặt, cho nên xảy ra chuyện giữa bà Sa-ra với A-ga.
    Câu 6: “Áp-ram đáp cùng Sa-rai rằng: Nầy, con đòi đó ở trong tay ngươi, phân xử thể nào, mặc ý ngươi cho vừa dạ. Đoạn, Sa-rai hành hạ A-ga, thì nàng trốn đi khỏi mặt người.”

    Đang trên đường đi trốn trở về Ai-cập, đang trên đường trở về Ai-cập thì thiên sứ của Đức Chúa Trời gặp A-ga an ủi cô và trong lời an ủi đó. Thiên sứ nói câu 11: “Nầy, ngươi đương có thai, sẽ sanh một trai, đặt tên là Ích-ma-ên; vì Đức Giê-hô-va có nghe sự sầu khổ của ngươi.”

    Câu đó là cách tên gọi của đứa trẻ mà A-ga sẽ sinh ra, Ích-ma-ên có nghĩa là Đức Chúa Trời lắng nghe, Đức Chúa Trời đã lắng nghe lời cầu cứu của A-ga. Và đã đến nâng đỡ cô ấy.
    Câu kết tiếp 12: “Đứa trẻ đó sẽ như một con lừa rừng: tay nó sẽ địch cùng mọi người, và tay mọi người địch lại nó. Nó sẽ ở về phía đông, đối mặt cùng hết thảy anh em mình.”

    Câu 12 là câu mô tả tính cách con người của Ích-ma-ên.
    Ngày nay người ta cho rằng Ích-ma-ên là tổ phụ của dân tộc vùng Trung Đông Ả rập.
    Mà theo đạo Hồi giáo. Người ta trở về cái câu Kinh Thánh này để nói về cái khối của Ả rập.


    Tất cả những câu chuyện của Ích-ma-ên muốn nói lên điều gì? Điều quan trọng nhất là ở chỗ này, Chúa hứa cho tổ phụ Áp-ra-ham trở thành một tổ phụ mà có dòng dõi đông như sao trên trời như cát biển, đợi mãi trả thấy cái gì cả.

    Cho nên bà vợ bà ấy sốt ruột, bà ấy bảo thôi ông đi lại với đứa nữ tỳ ấy đi. Nhưng cuối cùng cái đứa con ấy không phải là cái đứa con của lời hứa, mà chỉ là đứa con của xác thịt thôi.
    Thánh Kinh nói rằng: Đó không phải là đứa con của lời hứa, chỉ là đứa con của xác thịt, mà đứa con của lời hứa là Y-sác.
    Cho nên một khi Đức Chúa Trời đã hứa, thì chính Ngài sẽ thực hiện bằng quyền năng của Ngài, chứ không phải bằng những tính toán, thủ đoạn của chúng ta. Điều quan trọng nó nằm ở chỗ đó.

    Nhiều khi anh chị em chúng ta cũng nóng nảy quá, nôn nả quá, mình gặp khó khăn này đến gặp khó khăn quá, mãi chẳng thấy thay đổi rồi mình sốt ruột lên, rồi mình cũng phương thế, phương cách nhân loại, phương cách của con người để giải quyết.
    Minh họa: Mày đánh tao gẫy một cái răng thì tao chơi hai cái, mày lấy của tạo một con mắt tao lấy của mày cả hai con, thế gian nó gian dối thì mình vừa mánh khóe, vừa gian dối. Người ta dùng bùa phép của Ma quỷ thì mình cũng đi dùng bùa phép của Ma quỷ, người ta ăn của cúng thần tượng thì mình cũng ăn của cúng, người ta nói ngồi lại nói chuyện xấu thì mình cũng vào hùa theo để nói xấu Hội Thánh.

    Có thể mình đạt được mục đích, nhưng mục đích đó chỉ là trước mắt, mục đích đó chỉ là thỏa mãn xác thịt mà thôi mà nó không bền vững và đẹp lòng Chúa được.
    Cho nên, qua câu chuyện chúng ta học được những bài học về đời sống đức tin của chúng ta, mình phải dám tin vào lời của Chúa, phải dám phó thác vào lời của Chúa.


    Và phải sống với lời Chúa ngay trong hoàn cảnh dường như là tăm tối nhất, dường như là khó khăn nhất, chính Chúa sẽ thực hiện lời hứa của Ngài chứ không phải chúng ta thực hiện bằng những tính toán riêng của chúng ta.

    Phải dám sống phó thác và có đủ đức tin như vậy.
    Mỗi đoạn Thánh Kinh đều hàm chứa rất nhiều ý nghĩa cho đời sống chúng ta ngày hôm nay, chứ không phải câu chuyện của quá khứ mà thôi, mà mình phải lắng nghe để áp dụng vào trong đời sống đức tin của mình.
    Tuần tới tiếp tục đọc chương 20-25.






  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.