ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • Ápraham - ANH HÙNG ĐỨC TIN KHÔNG SỢ HÃI?

    Ápraham - ANH HÙNG ĐỨC TIN KHÔNG SỢ HÃI?

     
    Ápraham - ANH HÙNG ĐỨC TIN KHÔNG SỢ HÃI? 
    Sáng thế ký 13 - 15
    Mục sư Hồ Xuân Phước
         Ngày 27 tháng 6, 1976 lực lượng vũ trang giải phóng Palestine cướp chuyến bay của Hàng Không Pháp, với phi hành đoàn 12 người và 101 hành khách. Mặc dù giữ bí mật về nơi đến, người ta khám phá chuyến bay đã đến phi trường Entebbe, Uganda, của tổng thống Idi Amin.
         Trong khi nhóm vũ trang Palestine làm chủ tình hình bảy ngày liên tục – cách đó 2500 dặm, từ Tel Aviv, ba chiếc máy bay vận tải C-130 Hercules âm thầm vận chuyển biệt kích cảm tử Do thái.
         Không đầy 60 phút, trong bóng tối của đêm đen, cảm tử quân Do thái tràn ngập Entebbe, càn quét đám vũ trang cướp máy bay, và giải cứu 110 người trong số 113 con tin. Ngày hôm sau, 4 tháng 7, thủ tướng Do thái Yitzhak Rabin vẻ vang tuyên bố sứ mạng hoàn tất và “sẽ đi vào huyền thoại.”
         Thật vậy, sứ mạng giải phóng chuyến bay Hàng Không Pháp đã đi vào lịch sử Do thái oai hùng. Quyết tâm giải phóng và khả năng hành động chớp nhoáng, hiệu quả của người Do thái không có gì mới lạ. Hàng ngàn năm trước, ông tổ Áp-ra-ham của họ đã khai nguyên lịch sử hành quân chớp nhoáng oai hùng, khi ông giải phóng cháu mình.
           Nghe tin Lót bị bắt, Áp-ra-ham triệu tập đoàn gia nhân đã được huấn luyện thuần thục, gồm 318 người, đuổi theo quân thù. Ðể lều trại, bầy súc vật và gia đình lại sau lưng, Áp-ra-ham chuyển quân chớp nhoáng, vượt 120 dặm. Tấn công vào ban đêm, ông đánh bại địch quân, đoạt lại tất cả tài vật và đem Lót trở về – với phụ nữ và trẻ con đầy đủ.
         Vì Lót chỉ biết lo cho hũ gạo của mình, đâu đếm xỉa gì đến Bác, Áp-ra-ham có thể thụ động ngồi yên, phải không? Thưa không, con người tha thứ, bao dung của Áp-ra-ham khác hẳn. Thay vì bỏ mặc Lót, Áp-ra-ham chọn đem thân hy sinh để cứu vớt cháu và gia đình.
     
         Quân tử Áp-ra-ham can đảm, đại lượng – giống Chúa Cứu Thế Giê-xu quá!Chúa Giê-xu không thụ động ngồi yên, đợi chờ con người hồi tâm, đổi mới xứng đáng rồi Chúa mới hành động! Con Trời bằng lòng từ bỏ thiên đàng vinh quang ngời sáng đó, tìm cứu những người không xứng đáng được yêu thương, tha thứ – như tôi, như Anh, Chị!
     
         May rủi của chiến trận có thể kết thúc với Áp-ra-ham đui mắt, cụt chân, mất tay, bị bắt sống, hay tử thương. Tại sao Áp-ra-ham bằng lòng trả giá lớn lao, liều lĩnh như thế?
     
         Áp-ra-ham thương yêu Lót – như Chúa yêu thương Anh, Chị và tôi. Ông cứu được cả gia đình cháu và giải phóng Sô-đôm. Trong mấy ngày ngắn ngủi Áp-ra-ham trở thành anh hùng. Ðánh bại quân đội của bốn vua, Áp-ra-ham chiến thắng vẻ vang nhưng tự gây thêm oán thù, hiểm nguy cho chính mình bội phần hơn.
     
         Áp-ra-ham đã từng can đảm tiến bước. Ông đáp ứng tiếng Chúa gọi, rời bỏ quê hương ra đi vào miền đất hứa xa lạ. Ông đã nhường phần đất tốt màu mỡ cho đứa cháu vô ơn. Ông đã chọn tránh xa Sô-đôm, kinh đô ánh sáng tội lỗi, cám dỗ.
     
         Sau những quyết định dứt khoát và hành động can đảm đó, Áp-ra-ham đối diện với quân đội của bốn vua mình vừa đánh bại. Mây đen của cuộc trần thế phũ phàng đột kích Áp-ra-ham trong giây phút mệt mỏi không ngờ. Áp-ra-ham hồi hộp, sợ hãi.
     
         Lo âu, sợ hãi sau chiến thắng vinh quang không phải là một kinh nghiệm xa lạ. Ê-li sau khi đắc thắng 450 thầy tế lễ Ba-anh một cách lừng lẫy đã suy sụp tinh thần, sợ chết, bỏ chạy khi nghe lời hăm dọa của một người nữ (1 Các Vua 18; 19:3).
     
         Áp-ra-ham rúng động phương diện nào – thể chất, tình cảm, tinh thần, tâm linh? Tôi không rõ nhưng Chúa biết rõ tâm trạng Áp-ra-ham. Vì thế Chúa phán, “Áp-ram, con đừng sợ! Ta sẽ là cái khiên bảo vệ con. Phần thưởng cho con rất lớn” (15:1). Tạ ơn Chúa!
     
         Áp-ra-ham sợ gì? Ngoài việc sợ bị tấn công, phục kích bất ngờ, sợ chết, có lẽ Áp-ra-ham sợ nghèo đói. Sau cuộc chiến lớn, tốn kém nhiều – không ôm giữ lấy chiến lợi phẩm cho mình, ông lại từ chối phần thưởng rất trọng hậu của vua Sô-đôm (14:21-23). Áp-ra-ham còn sợ chết mà không có con nối dõi – một sỉ nhục đau thương khủng khiếp cho bất cứ ai thời bấy giờ.
     
         Áp-ra-ham và Sa-ra đã quá già. Nhìn quanh, Áp-ra-ham thấy đầy tớ mình đều có con cháu quây quần đông đúc, đầm ấm, hạnh phúc. Ông tự hỏi – ta đây nổi danh, uy tín, giàu có, quyền thế để làm gì – khi không con, không cháu, để bồng ẵm, hôn hít, chuyện trò? Bánh trái để ai ăn? Vàng bạc để ai hưởng?
     
         Biết ông sợ, nên “Chúa đem Áp-ram ra sân và bảo: ‘Con hãy nhìn lên bầu trời và thử đếm sao đi, nếu con đếm được!” (15:5). Không dừng tại đó, Chúa nói thêm, “Dòng dõi con sẽ đông như thế!” Ðông như thế” là bao nhiêu? Nhiều như sao trên trời – không thể đếm hết được!
     
         Tạ ơn Chúa! Áp-ra-ham không còn phải nghi ngờ, sợ hãi trong yên lặng, cô đơn nữa – vì Chúa biết hết. Có khi chúng ta tưởng anh hùng đức tin không sợ hãi? Áp-ra-ham sợ! Anh, Chị và tôi cũng có những giây phút sợ hãi chứ! Vấn đề là Anh, Chị và tôi để sợ hãi chế ngự đời sống mình hay chúng ta bám sát Chúa và lắng nghe tiếng Ngài?
     
         Sau trận chiến, quân thù của Áp-ra-ham bây giờ tràn lan từ sông Ơ-phơ-rát đến sông Nile – đông như kiến, đe họa, hãi hùng. Chúa nói, Áp-ra-ham, con ơi, Ta sẽ là cái khiên bảo vệ con! Tạ ơn Chúa!
     
         Còn tốn kém, hư hại, hao hụt sau trận chiến và không nhận chiến lợi phẩm từ vua Sô-đôm? Chúa ôn tôn bảo, “Áp-ra-ham, con ơi, phần thưởng Ta cho con rất lớn!” Tiếng Chúa nói ôn tồn, nhỏ nhẹ lắm nhưng phần thưởng Chúa ban cho chúng ta lớn lao, đầy ắp, phước hạnh.
     
         Áp-ra-ham bước đi với Chúa và lắng nghe tiếng Ngài. Chúa bảo Áp-ra-ham nhìn lên. Ông nhìn lên. Chúa bảo Áp-ra-ham thử đếm sao trời. Ông đếm thử nhưng bỏ cuộc liền. Ông dứt khoát từ bỏ nỗ lực riêng và chọn đi với Chúa. Áp-ra-ham tin cậy, tín thác đời sống mình, tương lai mình – hoàn toàn nơi Chúa quyền năng, thành tín.
     
         “Áp-ra-ham tin Chúa, nên Ngài kể cho người là công chính” (15:6). Tạ ơn Chúa! Chữ “tin” trong tiếng Hy-bá-lai đến cùng một chữ gốc với từ “Amen.” Chúng ta có thể hiểu rằng, Áp-ra-ham nói “Amen” khi Chúa bảo, “Áp-ram, con đừng sợ!” 
     
         Chúa nói, “Ta sẽ là cái khiên bảo vệ con!” Áp-ra-ham đáp: “Amen!” Chúa nói, “Phần thưởng cho con rất lớn!” Áp-ra-ham đáp: “Amen! Xin ý Chúa được nên!”Phải, Áp-ra-ham dứt khoát tin và ông hoàn toàn nghỉ an trên lời hứa của Chúa, Ðấng thành tín không rời. Ông không còn lý do gì để tranh đấu, lo lắng, bồn chồn, sợ hãi nữa.
     
         Chúa tôn quý đức tin của Áp-ra-ham chứ không phải hành động, tài năng hay lòng can đảm. “Vì nếu Áp-ra-ham được tuyên xưng công chính bởi việc làm thì người có cớ để khoe khoang. Nhưng trước mặt Ðức Chúa Trời không có như vậy. Kinh Thánh nói gì? Áp-ra-ham tin Ðức Chúa Trời và vì thế được kể là công chính” (Rô-ma 4:2-3).
     
         Vì lý do đó, thánh Phao-lô viết, “Thật vậy, nhờ ân sủng, bởi đức tin mà anh chị em được cứu rỗi. Ðây không phải tự sức anh chị em, nhưng là một tặng phẩm Ðức Chúa Trời ban – cũng không phải do công đức anh chị em làm, để không ai có thể khoe mình” (Ê-phê-sô 2:8-9).
     
          Không một người nào được cứu thoát khỏi chết để vào thẳng thiên đàng nhờ sống đạo hạnh hoặc làm việc lành. Con người chỉ có thể được cứu rỗi nhờ đức tin. Áp-ra-ham hướng nhìn về tương lai – thập tự giá.
     
          Mùa Phục sinh 2011 nầy, chúng ta cũng hướng nhìn về thập tự giá, với lòng tin trọn vẹn, chân thành nơi Chúa Cứu Thế Giê-xu – Ðấng đã hiến thân trên thập tự. Chúa chết, được chôn trong mộ đá, đến ngày thứ ba Ngài sống lại.
     
         Chúa là Con Trời trở thành người, Ðấng thánh yêu thương, vô tội duy nhất. Chúa chết vì tội chúng ta – thế chỗ cho Anh, Chị và tôi. Chúa chết và đã sống lại vì yêu thương mọi người. Ai thành tâm tiếp nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu đều được tha thứ tội, được nhận làm con Thiên Chúa, được cứu rỗi linh hồn.
     
         Sau khi từ giã cuộc sống nầy, Bạn sẽ về đâu? Tôi biết chắc, tôi đã có một chỗ trên thiên đàng. Lúc chết là giây phút tôi bước qua ngưỡng cửa vào thiên đàng phước hạnh, sống gần bên Chúa luôn luôn. Tôi được đoàn tụ gia đình với những người thánh thân yêu – đã được Chúa tiếp rước trước tôi.
     
         Xin Anh, xin Chị mời gọi bạn bè và người thân trong gia đình tiếp nhận Chúa Giê-xu làm Cứu Chúa của mình để được bảo đảm về cuộc sống phước hạnh vĩnh cửu với Chúa.
     
         Sống trong thế kỷ thứ 21, không phải đối diện với những thách thức giống hệt như Áp-ra-ham, nhưng mỗi chúng ta đều có những trăn trở hoặc nhu cầu căn bản như Áp-ra-ham. Ðối diện với hiểm nguy, bất an, Áp-ra-ham cần được bình an, đảm bảo cho cuộc sống. Tin cậy Chúa và muốn làm theo ý Chúa, ông dấn thân tiến bước theo Ngài.
     
         Ông tách rời khỏi Lót, chấp nhận thua thiệt. Ông bằng lòng trả giá đắt để bảo vệ, cứu Lót và gia đình. Ông không muốn nhân nhượng, đồng hóa với người Sô-đôm tội lỗi, vô tín. Chắc ông phải chán ngán cuộc sống vô đạo, đồi trụy? Chán đứa cháu tệ bạc. Lẻ loi vì ít bạn thiết giao du, và không con cháu gần gũi trong nhà?
     
         Tranh chấp ở chỗ làm, khủng hoảng tài chánh, căng thẳng gia đình, xung đột trong cuộc sống có làm Anh, Chị mệt mỏi, ngao ngán, lo âu, sợ hãi? Anh, Chị đang hết sức mình tranh đấu, nỗ lực để giải quyết hay quyết tâm giao thác, nhờ cậy Chúa?
    ***
         Mấy chữ “Chúa đem Áp-ram ra sân và bảo...” (15:5) như bảy nốt nhạc thiên đàng, trong suốt, ngọt ngào. Tai tôi thích thú, sảng khoái. Hồn tôi ấm lại, hạnh phúc dạt dào. Mắt tôi mở ra, tươi mới – hình dung Áp-ra-ham cùng sánh vai, bước đi bên Chúa giữa mây trời ngời sáng.
     
         Tiếng ai đó hát vang lên trầm ấm, “Chúa với tôi tâm giao khi Ngài đi bên tôi, và Ngài phán – chính Chúa đã chuộc tôi. Thật sung sướng thỏa vui khi gần bên Jesus. Chẳng còn ai trong trần thế sánh hơn!” (Buổi Mai Với Jesus).
     
         Thật, “Bước với Chúa yêu thương, tay trong tay, gian lao không sờn. Vượt dặm trường men theo đường tới thiên cung. Bước với Chúa yêu thương, tôi nghe lâng lâng, vui trong tâm hồn. Ngày lại ngày, thêm sâu nhiệm Chúa nhiều hơn. Bước với Chúa yêu thương, tôi không cô đơn. Vui tươi trên đường, lòng nhẹ nhàng quăng xa mọi gánh sầu vương. Ðược đi với Cha, khi mộng trần gian khuất xa. Bước cùng với Cha, trong tình thắm thiết bao la. Ðược đi với Cha, cho dù thời gian lướt qua. Tôi luôn vui thỏa sống trong yêu mến chan hòa” (Bước Với Chúa). Amen.
     
    Mục sư Hồ Xuân Phước
    Phục sinh 2011
     
  • TIẾN TRÌNH CỦA SỰ TẠO DỰNG CON NGƯỜI

    TIẾN TRÌNH CỦA SỰ TẠO DỰNG CON NGƯỜI


    ĐỀ TÀI: TIẾN TRÌNH CỦA SỰ TẠO DỰNG CON NGƯỜI
    KINH THÁNH: Sáng-thế-ký 2:7
    “ Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”

    Lời chào mừng:


    Nhập đề:
    Thưa quý vị!
    Có bao giờ bạn và tôi tự tra vấn hỏi lòng mình rằng: Tôi đến từ đâu và tôi sẽ đi về đâu? Và đây là hai câu hỏi mà mỗi người đều phải trả lời, và câu trả lời sẽ quyết định và thay đổi số phận của chúng ta cách đời đời.

    Bạn đến từ đâu? Là câu hỏi mà qua đó chúng ta nhận biết và khám phá ra thân phận của mình, và Thánh Kinh trả lời cách chính xác rằng: Cuộc đời của tôi và bạn là đến từ Chúa, do Chúa ban tặng. Điều này sẽ khiến chúng ta thay đổi suy nghĩ và cách nhìn nhận về bản thân của chúng ta.

    Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, Ngài nắn lên bạn và tôi giống hình Đức Chúa Trời. Bạn có lý trí, có tình cảm, có ý trí tự do để chọn lựa. Trên cả mọi sự là bạn và tôi mang trong mình một bản tánh thiêng liêng mà không loài vật nào có được. Bản tánh thiêng liêng đó là: Duy chỉ có con người mới biết tương giao và thờ phượng Chúa.

    Minh họa: Ma quỷ luôn che dấu sự thật và nó là cha của sự nói dối: nó thường nói với người ta rằng số phận của con người được gắn liền với con trâu, chó, lợn, gà vv… Thân phận của bạn không gắn với con trâu, chó, dê, gà, lợn đâu. Ma quỷ đã bóp méo và xuyên tạc sự thật. Nó phỉ báng hạ thấp phẩm giá, giá trị cao quý của con người.

    Nhưng sự thật mà chân lý Thánh Kinh cho chúng ta biết: Bạn và tôi là đến từ Chúa, giống Chúa. Bạn và tôi chính là con trai, con gái của Đức Chúa Trời, là những hoàng tử, và công chúa Nước trời. Ngài đã dựng nên chúng ta cách trọn vẹn và và thật rất tốt lành: Ngài phán: con thật rất tốt lành.

    Hãy nói với chính mình rằng: Tôi thật rất tốt lành, tôi là tạo vật tuyệt vời của Chúa.
    Bạn thật rất tốt lành, bạn giống Chúa, bạn đến từ Chúa, và bạn sẽ trở về với Chúa. Hãy nói với người bên cạnh mình như vậy.
    Bài học hôm nay, chúng ta sẽ thấy được tiến trình khi Chúa tạo dựng con người một cách rất đặc biệt. Qua đó, chúng ta sẽ tiếp nhận vài bài học từ Lời của Chúa cho đời sống chúng ta. Tiến trình đầu tiên của sự tạo dựng đó là:

    I.                CHÚA DỰNG NÊN CON NGƯỜI TỪ BỤI ĐẤT ( Sáng-thế-ký 2:7a)
    Lời Chúa trong sách Sáng-thế-ký chương 2:7 cho chúng ta biết: “ Giê-hô-va Đức Chúa Trời bèn lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sanh khí vào lỗ mũi; thì người trở nên một loài sanh linh.”

    Chúa đã dựng nên bạn và tôi từ “ bụi đất” và Chúa đã nói với con người rằng: “ Con người chỉ là bụi đất và sẽ lại trở về với cát bụi mà thôi”.

    Có bao nhiêu người trong quý vị tin rằng: Mình được dựng nên từ bụi đất.
    Và có bao nhiêu người trong quý vị sẽ tin rằng: Mình sẽ trở về với cát bụi.
    Câu hỏi mà tôi đặt ra là: Liệu A-đam và Ê-va có tự nhận biết được rằng họ đến từ bụi đất và rồi họ sẽ trở về bụi đất hay không?

    Mặc dù họ có biết hay không? Thì đã đến lúc Chúa phải nói cho họ biết họ là ai, họ đến từ đâu và họ sẽ trở về đâu?

    Ngái phán với A-đam trong sách Sáng-thế-ký chương 3 câu số 19 rằng: “ ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.”

    Câu “ vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi” để nói lên rằng chúng ta không được tạo dựng từ chất liệu như sắt thép, bê tông, hay vải vóc, gấm lụa. Chúng ta được dựng nên một thân thể không phải để trường tồn, vĩnh cửu.

    Nhưng Chúa dựng nên chúng ta từ bụi đất một chất liệu bất toàn, vô giá trị, vô tri, vô giác để rồi chúng ta chạy đến với Ngài để biết nương dựa vào chính mình Ngài.

    Chúng ta được tạo dựng từ đất để nói lên thân phận của con người rất tầm thường, mong manh và mỏng dòn, dễ vỡ. Động từ “ bụi đất” cũng mô tả nói lên thân phận của con người đầy giới hạn, nhiều người trong chúng ta sống trên đất này nhưng không bao giờ nghĩ mình là đất. Không bao giờ nghĩ mình sẽ về đất.

    Là tro bụi con người không có thể làm được tất cả. Con người là một tạo vật có khả năng giới hạn sống trên mặt đất. Đời sống con người như dòng sông, dòng điện trôi qua đi mau.

    Họ không thể kéo giữ lại những gì đã xảy ra ngay cả những gì cho là tốt đẹp nhất. Tất cả tuần tự trôi qua đi như cát trôi dạt ngoài biển khơi, như bụi tro bay lưu lạc trong không khí.

    Theo tác giả Thánh-vịnh thứ 103 câu số 14-16 Lời Chúa nói với chúng ta rằng:
    “ Vì Ngài biết chúng tôi nắn nên bởi giống gì,
    Ngài nhớ lại rằng chúng tôi bằng bụi đất.
    15 Đời loài người như cây cỏ;
    Người sanh trưởng khác nào bông hoa nơi đồng;
    16 Gió thổi trên bông hoa, kìa nó chẳng còn,
    Chỗ nó không còn nhìn biết nó nữa.”  (Thi-thiên 103:14-16)

    Quý vị thấy không, tác giả Thi-thiên đã định nghĩa và mô tả đời người cách rõ ràng nhất: Đời loài người như cây cỏ, như bông hoa nơi đồng nội, nay còn mai mất, sớm nở tối tàn. Chỉ tạm bợ như hơi nước hiện ra rồi lại tan ngay.

    Kinh Thánh cũng cho biết ông A-đam sống đến chín trăm tuổi rồi mới qua đời. Ông Sết hưởng thọ chín trăm mười hai tuổi rồi từ trần. Ông Hê-nóc sống chín trăm lẻ năm tuổi rồi cũng phải từ giả cõi đời. Hơn sáu tỷ người đang sống trên mặt đất hiện nay rồi cũng sẽ ra đi trong vòng một trăm năm nữa, không ai sẽ thấy ánh mặt trời của thế-kỷ hai mươi hai. (Sáng-thế-ký 5:1-32)

    Tất cả những con người mà chúng ta vừa đọc nói lên rằng: Dù con người có thọ đến mấy đi chăng nữa thì cũng có một ngày rồi cũng phải qua đời.

    Ngày nay, khoa học đã tiến bộ cách không tưởng; Các Rô-bốt và những công nghệ ngày càng hiện đại, tân tiến bậc nhất. Nhưng khoa học không có cách nào cưỡng lại được sự chết. Chân lý Thánh Kinh đã quả quyết rằng: tất cả mọi người trên mặt đất đều phải kết-thúc bằng sự chết và vấn-đề chuẩn-bị cho cuộc sống trong đời sau rất là việc rất hệ-trọng.

    Sách Truyền Đạo đã nói rõ ràng: "Có thời để sinh ra, có thời để lìa đời." (Gv 3, 2).

    Minh họa:
    Ở Âu-Mỹ, có một thành-ngữ như sau: "Ở đời nầy, chỉ có hai việc chắc-chắn không ai thoát khỏi là sự chết và nộp thuế." Chúng ta thường lo lắng dành tiền dể nộp thuế mà quên mất vấn-đề phải chuẩn bị cái chết.

    Thánh Gia-cơ đã viết: "Anh em không biết cuộc đời mình ngày mai sẽ ra sao. Thật vậy, anh em chỉ là hơi nước xuất hiện trong giây lát , rồi lại tan biến đi." (Gia-cơ 4:14).
    Theo Thánh đồ Gia-cơ: Cuộc đời con người giống như đám sương mù buổi sớm mai, rất mong manh, bốc thành hơi nước dưới ánh mặt trời rồi biến mất giữa ban ngày.

    Minh họa: Gần đây bệnh Mers đã cướp đi nhiều sinh mạng mà chưa có bất kỳ một loại vắc-xin nào chữa trị được. Thế giới đang đói kém, chiến tranh và loạn lạc tranh giành lãnh thổ của nhau, nhưng Thánh Kinh bảo rằng: Tất cả rồi cũng sẽ qua đi mau chóng, khi người ta còn sống thì đấu tranh, tranh quyền, đoạt lợi. Nhưng khi nằm xuống rồi thì mọi sự đã có đều bỏ lại sau lưng.
    Những thời điểm vừa qua, có biết bao nhiêu người đã phải chết đi bất thình lình bởi bị đột quỵ và tai biến. Thử hỏi rằng: Chết rồi họ sẽ đi về đâu? Chắc chắn là họ sẽ đi xuống địa ngục mà thôi.

    Thánh Gióp cũng đã từng than-thở: "Vì tuổi con người đã được Ngài ấn-định, sống được bao năm tháng là tùy thuộc ở Ngài. Ngài định giới-hạn rồi, sao có thể vượt qua." (Gióp14: 5).

    Chúa đã ấn định cho bạn và tôi có mặt trên đời này, và Ngài cũng đã ấn định cuộc đời của mỗi người là sống được bao nhiêu trên đất. Điều quan trọng không phải là chúng ta sống được bao nhiêu năm trên đất mà quan trọng là chúng ta sẽ sống như thế nào.

    Đời sống trên đất chỉ là đời sống tạm bợ, chúng ta đừng chỉ lo xây dựng những cái tạm bợ, chóng qua. Vì dù chúng ta có được mọi sự, có được mọi điều đi chăng nữa thì rồi đây hai bàn tay trắng sinh ra thể nào rồi cũng hai bàn tay trắng mà trở về thể ấy.

    Câu chuyện: Một ông vua trước khi qua đời, ông đã ra lệnh cho triều đình phải bỏ ông vào quan tài với hai cái lỗ hai bên cạnh để thò tay ông ra ngoài rồi kéo đi khắp các đường phố và rao lên rằng: Trần truồng lọt khỏi lòng mẹ thể nào thì bây giờ cũng hai bàn tay trắng mà trở về thể ấy.

    Qua môi miệng của tiên-tri A-mốt, Ðức Chúa cũng tuyên phán cho mọi người: "Ngươi hãy chuẩn-bị đi gặp Thiên-Chúa của ngươi." (Am 4,12).

    Một nhà thông thái bảo các môn đệ phải chuẩn bị cho cái chết một ngày trước khi họ chết. Nhưng họ phản đối, "Chúng tôi có thể chết ngày mai." "Phải rồi," người đó trả lời, "thế thì hãy chuẩn bị ngay hôm nay."

    John Bunyan, tác-giả cuốn "Thiên-lộ lịch-trình", đã nói lúc ông gần qua đời: "Các bạn đừng than khóc cho tôi, nhưng hãy than khóc cho chính các bạn.”

    Trong Sáng Thế Ký 5, trước đại hồng thủy, cuộc đời người trung bình là 846 năm. Nhưng sang đến Sáng Thế Ký chương 11, sau đại hồng thủy, cuộc sống chỉ còn 393 năm.

    Trong thời Môi-se, Thi Thiên 90:10, "Tuổi tác của chúng tôi đến được bảy mươi, Còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi; Song sự kiêu căng của nó bất quá là lao khổ và buồn thảm, Vì đời sống chóng qua, rồi chúng tôi bay mất đi."

    Thi Thiên 89:47, "Ôi Chúa! xin nhớ lại thì giờ tôi ngắn dường nào."

    Gióp 14:1, " Loài người bởi người nữ sanh ra, sống tạm ít ngày."

    Xin mỗi chúng ta nhớ rằng: "Thời gian như thể thoi đưa, Nó đi, đi mãi có chờ đợi ai!"
    Nguyễn Công Trứ nói: "Ba vạn sáu ngàn ngày là mấy, cảnh phù du trông thấy cũng nực cười."
    Nguyễn Khuyến nói:
    "Nhớ từ năm trước hãy thơ ngây, Phút chốc mà già đã đến ngay,
    Mái tóc chùm đen, chùm lốm đốm, Hàm răng chiếc rụng, chiếc lung lay!"

    Muốn có đời sống đẹp lòng Chúa và hữu ích, chúng ta phải nhớ cầu nguyện như Môi se rằng: "Cầu xin Chúa dạy chúng con biết đếm các ngày của chúng con, hầu cho chúng con có lòng khôn ngoan." (Thi thiên 90:12).

    Xin Chúng ta để lòng cầu nguyện nơi Chúa trước khi chúng ta học tiếp…

    Trở lại trong Sáng-thế-ký chương 2 câu 7 là một tin tức tốt lành mà Đức Chúa Trời thẩm định cho A-đam và Ê-va rằng: Họ có giá trị, họ trọn vẹn và họ rất tốt lành. Thì sang đến Sáng-thế-ký chương 3 câu số 19 lại là một tin buồn cho A-đam và Ê-va.

    Vậy điều gì đã phá vỡ đi tin tức tốt lành đó? Điều gì đã sen vào giữa sự sống và cái chết? Điều gì đã phá vỡ đi cái đời đời trở thành cái tạm thời. Đó chính là tội lỗi.
    Tội lỗi nó đã ngăn trở và phá vỡ đi sự tốt lành nơi con người mà vốn dĩ Chúa đã ban cho. Tội lỗi đã biến sự hoan hỉ trong A-đam và Ê-va trở thành buồn dầu.
    Tội lỗi đã chặn đứng bước tiến của họ tới con đường có cây sự sống. Trước đó, họ không cần có ai canh chừng họ hết, họ tự do, tự tại, thong dong, vui thỏa, hỉ hoan trong vườn địa đàng. Nhưng giờ đây thiên sứ đã cầm gươm sáng lòa để canh giữ họ đến với cây của sự sống.

    Thưa quý vị!
    Nếu quý vị muốn hưởng được sự sống đời đời, và muốn thực sự vui hưởng một cuộc sống được phước trên đất. Thì nhất thiết chúng ta phải loại trừ tội lỗi ra khỏi đời sống chúng ta.

    Một đời sống tự do là một đời sống bước đi trong sự thánh khiết.
    Một đời sống phước hạnh là một đời sống cần phải thẳng thắn thanh trừng tội lỗi cách công khai.

    Nếu muốn bước đi trong một đời sống có sự sống sung mãn chúng ta cần phải vâng theo lời của Chúa. Chính sự bất tuân lời Chúa đã khiến cho A-đam và cả nhân loại đến chỗ đau khổ. Và sự đau khổ đó kéo theo cả triều dài của lịch sử nhân loại.

    Câu Kinh Thánh “ ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.”
    Quý vị đọc câu Kinh Thánh này, quý vị và tôi có thấy Chúa đã phán câu này ngay từ thuở sơ khai lập địa, hai mươi mốt thế kỷ đã trôi qua và không ai phủ nhận được câu Kinh Thánh này.

    Mặc dù loài người có không tin vào nơi Đức Chúa Trời đi chăng nữa, nhưng loài người không một ai dám phủ nhận rằng: Mình chỉ là bụi đất, và rồi mình sẽ trở về bụi mà thôi.

    Chúa đã phán câu này sau khi A-đam phạm tội, Chúa đã phán với tôi và các bạn câu này để cho thấy: Chính tội lỗi nó đã cướp đi sự sống, chính tội lỗi nó đã chặn đứng sự sống đời đời nơi con người.

    Bởi Thánh Kinh Lời Chúa đã chép trong sách Rô-ma chương 5 câu số 12 sứ đồ Phao lô đã viết “Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội”
    Chúa đã ban cho A-đam và Ê-va số phận sống đời đời nhưng chính họ đã đánh mất cái đời đời trong mình, chính họ đã mở cửa cho phép tội lỗi qua việc họ nghe theo lời dụ dỗ của Ma quỷ mà bất tuân với Chúa.

    A-đam đã phạm tội và khiến cho cả nhân loại cũng phải mang tội trong mình. Sự chết đã đến với A-đam và sự chết cũng đã đến với cả nhân loại này vì mọi người đều phạm tội.
    Tội lỗi luôn luôn có tính cách di truyền, tội lỗi giống như chất men, nó lây lan rất nhanh, nó lây từ người này sang người khác và nó làm chết mất nhiều người.
    Bởi tội lỗi của một người là A-đam mà cả thế gian phải mang tội, bởi sự bất tuân của một người mà khiến cả thế gian phải gánh hậu quả nặng nề.

    Thưa quý vị!
    Người thế gian có câu: “Một con sâu làm rầu nồi canh”.
    Để cho thấy một chi thể nằm trong một Hội Thánh, và chi thể đó được nuôi dưỡng, được trưởng thành, lớn mạnh cũng là do Hội Thánh mang lại. Và ngược lại một Hội Thánh mạnh là một Hội Thánh mà qua đó mỗi chi thể đều mạnh, mỗi chi thể đều góp phần xây dựng Hội Thánh theo ta lâng, ân tứ Chúa ban.
    Nếu một Hội Thánh mà chỉ cần có một vài người nổi lên sống theo xác thịt thì Hội Thánh đó chỉ là một Hội Thánh lộn lạo, tranh cạnh và thất bại mà thôi.
    Trong sách Nhã ca lời của Chúa có chép: “Hãy bắt giúp chúng tôi những con chồn, những con chồn nhỏ, nhá hại vườn nhỏ. Vì vườn nho chúng tôi đang trổ hoa” (Nhã Ca 2:15)

    Đừng khinh thường những tội lỗi nhỏ mọn, đừng coi thường những thói quen xấu, đừng coi thường những lời nói vô bổ và hư không. Cả một vườn nho đang trổ hoa, có những trái chín mọng nhưng chỉ với vài con chồn nhỏ cũng đủ phá hại tan tành vườn nho ấy.

    Hội Thánh đẹp như một vườn nho, Hội thánh có những đời sống được Chúa đổi thay họ là những trái nho chín mọng dâng lên cho Chúa và làm sáng danh Chúa.

    Nhưng bên cạnh đó có những con chồn đang ngầm tìm cách phá hại. Xin Chúa cho chúng ta là những trái nho chín có mùi thơm dâng lên Chúa, chứ đừng làm con chồn ngấm ngầm gây phá hại vườn nho của Chúa.

    Để vườn nho không bị phá hại, chúng ta thấy tác giả sách Nhã ca một người con gái nói với chàng trai là người yêu của mình một cách tha thiết: Hãy bắt cho em những con nhỏ.
    Chúng ta cần phải can đảm, ngay thẳng để bắt những con nhỏ bởi những cá tính xác thịt của chúng ta để nó không gây tổn hại cho vườn nho của Chúa.

    Sứ đồ Phao lô đã lên án mạnh mẽ đối với tín đồ sống tại thành Cô-rinh-tô rằng: Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao? 7 Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Christ là con sinh lễ Vượt Qua của chúng ta, đã bị giết rồi. 8 Vậy thì, chúng ta hãy giữ lễ, chớ dùng men cũ, chớ dùng men gian ác, độc dữ, nhưng dùng bánh không men của sự thật thà và của lẽ thật. 9 Trong thơ tôi viết cho anh em, có dặn đừng làm bạn với kẻ gian dâm, 10 đó tôi chẳng có ý nói chung về kẻ gian dâm đời nầy, hay là kẻ tham lam, kẻ chắt bóp, kẻ thờ hình tượng, vì nếu vậy thì anh em phải lìa khỏi thế gian. 11 Nhưng tôi viết khuyên anh em đừng làm bạn với kẻ nào tự xưng là anh em, mà là gian dâm, hoặc tham lam, hoặc thờ hình tượng, hoặc chưởi rủa, hoặc say sưa, hoặc chắt bóp, cũng không nên ăn chung với người thể ấy.” ( I Cô-rinh-tô 5:6-11)

    Thưa quý vị!
    Sứ đồ Phao lô đã viết điều này không phải cho dân ngoại đâu, nhưng ông viết cho người đã tin Chúa, ông không viết để làm đẹp lòng loài người. Nhưng giọng văn của phao lô đầy sự trịnh trọng, thẳng thắn, lên án những người tự xưng mình là tín đồ mà ăn ở theo tánh xác thịt của mình.

    Ông nói nếu trong Hội Thánh của Chúa mà có những người chửi rủa thì chắc chắn nó giống như một chút men làm dậy cho cả đống bột.

    Nếu trong Hội Thánh mà có những người gian dâm thì sự gian dâm ấy cũng giống như một chút men phá vỡ Hội Thánh của Chúa.

    Nếu trong Hội thánh mà có những kẻ tham lam tiền bạc, tham lam địa vị thì sớm muộn cũng giống như một chút men làm phá vỡ Hội Thánh của Chúa.

    Nếu trong Hội thánh mà có những người say sưa thì chắc chắn nó cũng giống như một chút men làm hỏng cả Hội Thánh của Chúa nữa.

    Nếu Hội Thánh có những người trộm cắp, lường gạt thì sớm muộn Hội Thánh cũng bị làm huen ố Hội Thánh của Chúa.


    Cách giải quyết, và xử trí của Phao lô cho một Hội Thánh có những thành phần như vậy là: “ đừng làm bạn với kẻ, cũng không nên ăn chung với người thể ấy ”
    Chữ bạn ở đây có nghĩa là tương giao, thân mật, qua lại.
    Không thân mật, không tương giao, không đi lại, không giao thiệp với những người như vậy.
    Phao lô giải quyết rất dứt khoát, ông không chấp nhận sự thỏa hiệp với những người có lối sống theo tánh xác thịt trên.
    Ai dám bảo Phao lô là không yêu thương, Ai dám bảo Phao lô là không có lòng thương xót, tình yêu thương là cắt bỏ sự giữ đó mới là tình yêu chân chính.

    Nhìn vào các Hội Thánh Chúa ngày nay!
    Tôi thực sự cảm thấy rất đau lòng vì Hội Thánh càng ngày thỏa hiệp với tội lỗi.
    Hội Thánh rung túng cho tội lỗi.
    Người hầu việc Chúa sợ tín đồ hơn là sợ Chúa.
    Người hầu việc Chúa không dám đương đầu với những con chồn nhỏ, để mặc những con chồn chạy lung tung, phá phách. Sợ bị mang tiếng là không yêu thương. Tôi đứng đây để nói với quý vị sứ điệp từ nơi Chúa rằng:

    Nếu Hội Thánh còn muốn Chúa hiện diện ở đây nữa thì Hội Thánh phải thanh trừng, khai trừ tội lỗi.

    Nếu Hội Thánh muốn trở thành một ngọn đèn để trên cao soi sáng thế gian thì phải bỏ đi những việc làm tăm tối trong đời sống của chúng ta.

    Nếu Hội Thánh còn muốn bước đi trong quyền năng của Chúa Thánh Linh thì Hội Thánh phải bước đi trong sự nên thánh và thánh khiết.
    Chính tội lỗi đã cướp đi sự sống trong A-đam và cũng chính tội lỗi của mỗi chúng ta mà Hội Thánh không còn sự sống nữa, Hội Thánh không có Chúa hiện diện nữa.
    Hội Thánh ơi!
    Đừng để cho tội lỗi xen vào ngăn trở và phá vỡ đi mối tương giao giữa cái đầu là Chúa Cứu Thế với thân là Hội Thánh của Ngài nữa.

    Đến đây, trước khi chúng ta học tiếp phần hai, xin chúng ta cùng cúi đầu cầu nguyện ăn năn và xin Chúa tha thứ, xin Chúa ban quyền năng để chúng ta dứt bỏ tội lỗi trong đời sống của chúng ta để vì cớ Nước Chúa, vì cớ anh em của mình mà làm cho mình sạch hết men cũ đi. Hãy như bánh không men trước mặt Chúa.




  • BẠN ĐƯỢC DỰNG NÊN ĐỂ LÀM GÌ?

    BẠN ĐƯỢC DỰNG NÊN ĐỂ LÀM GÌ?


    ĐỀ TÀI: BẠN ĐƯỢC DỰNG NÊN ĐỂ LÀM GÌ?
    KINH THÁNH: Sáng-thế-ký 2: 26 & Sáng-thế-ký 3:8

    Tôi xin thân ái gởi lời chào mừng tới toàn thể quý tôi con của Chúa Giê xu yêu dấu.
    Tạ ơn Chúa, một tuần trôi qua thật nhanh và sáng nay Chúa lại cho Hội Thánh trở về nơi này để cùng nhau ra mắt thờ phượng Chúa.
    Trong niềm vui mừng của Chúa ban cho, tôi hết sức cảm tạ Chúa khi thấy Hội Thánh trung tín và hết lòng yêu thương hát ca ngợi Ngài.
    Giờ này, trước khi học Lời của Chúa trân trọng kính mời Hội Thánh cùng hiệp ý với tôi trong sự cầu nguyện!
    Thưa Chúa, đường phía trước còn dài lắm, mà sức chúng con thì mỗi ngày yếu đi. Xin Chúa ban sức mới trên chúng con để chúng con đi trọn con đường dài đó.
    Chúa ôi! Xin Chúa dấy các anh em con lên để cùng chung vai gánh vác công việc của Chúa, vì một mình con gánh vác không nổi.

    Thưa quý vị!
    Có bao giờ chúng ta tự hỏi rằng: Tại sao tôi có mặt trên đời này? Và tôi có mặt trên đời này để làm gì hay không?
    Bài giảng kỳ trước đã trả lời cho chúng ta câu hỏi: Tại sao tôi có mặt trên đời này?
    Thưa quý vị! Quý vị và tôi không phải tình cờ có mặt trên đời này đâu, cũng không phải do ngẫu nhiên chúng ta có mặt trên đời  này đâu.
    Tác giả thánh vịnh 139:13 vua Đa vít đã nức lòng, lớn tiếng nói cho cả thế giới biết rằng: “ Vì chính Chúa nắn nên tâm thần tôi, Dệt thành tôi trong lòng mẹ tôi.”
    Qua lời của thánh vịnh trên, chúng ta biết chắc chắn rằng: Bạn và tôi được Chúa dựng nên, chúng ta không phải tự nhiên mà có, chúng ta cũng không phải được tiến hóa từ loài vượn khỉ hay bất kỳ một công cụ nào khác.
    Thánh Kinh trả lời rằng: Bạn và tôi có mặt trên đời này là bởi tình yêu của Đức Chúa Trời, chính Ngài đã hoạch định và cũng chính Ngài đã dệt chúng ta ngay từ khi còn trong lòng mẹ.
    Bài học hôm nay sẽ trả lời cho quý vị biết quý vị có mặt trên đời này để làm gì? Hay nói cách khác bạn được dựng nên để làm gì?
    Theo quý vị! Quý vị và tôi được Chúa dựng nên để làm gì?

    Bây giờ, chúng ta sẽ lần lượt tìm câu trả lời cho câu hỏi ấy qua phần thứ nhất của bài học đó là:
    I. BẠN ĐƯỢC DỰNG NÊN ĐỂ TƯƠNG GIAO VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI. ( Sáng-thế-ký 3: 8)
    Thưa quý vị! Không có một mối quan hệ nào khắng khít cho bằng mối quan hệ giữa vợ với chồng. Và Thánh Kinh thường mô tả hình ảnh đẹp nhất của sự hiệp nhất, bền chặt, gắn bó, mật thiết giữa vợ với chồng giống như Chúa Cứu Thế Giê-xu với Hội Thánh, như chàng rể với nàng dâu của Ngài.

    Lời Chúa trong sách Sáng-thế-ký chương 2 mô tả: Khi Chúa dựng nên muôn vật thì mọi vật đều có đôi, có đực và có mái, có trống và có cái. Nhưng về phần A-đam, thì chẳng tìm được một ai giúp đỡ giống như mình hết.

    Cho nên, Chúa đã phải lấy xương sườn của A-đam để tạo nên một người nữ rồi tác thành hôn nhân và để giúp đỡ cho A-đam. Lúc này A-đam đã có người bạn đời, biết chia sẻ, cảm thông, giúp đỡ, gánh vác và đồng công với mình.
    Hơn thế nữa Chúa lại lập một cảnh vườn tại Ê-đen, ở về hướng Đông, và đặt người mà Ngài vừa dựng nên ở đó. Ê-đen có nghĩa là vui mừng hoa hỉ.

    Có thể, chúng ta bảo rằng: A-đam thế là đã đủ rồi, A-đam không cần gì thêm nữa. Vừa có vợ đẹp, vừa được ở trong vườn hoan hỉ, vui mừng. Cuộc sống của A-đam là Thiên đàng trên đất.

    Nhưng qua Lời Chúa chúng ta thấy được rằng: Cuộc sống của A đam thế vẫn chưa đủ, tuy đã có vợ đẹp, và được sung sướng ở trong vườn hoan lạc, hoan hỉ, vui mừng.
    Nhưng từ nơi sâu thẳm của tâm hồn A-đam và Ê-va họ vẫn cảm thấy trống trải, và khắc khoải, trong tâm linh họ cần một điều gì đó lớn hơn và điều lớn hơn đó chính là: Mối quan hệ với Đức Chúa Trời hay còn gọi là tương giao với Đức Chúa Trời.
    Thưa quý vị!
    Mối quan hệ với Đức Chúa Trời là một mối quan hệ thiêng liêng nhất, cao quý nhất, và sâu sắc nhất mà chỉ có con người mới có nơi Đấng Tạo Hóa. A-đam có một mối quan hệ rất gần gũi với các tạo vật của Chúa, ông đã đặt tên cho từng loài một, người ta đã vẽ một bức họa chân dung A-đam đang nằm vuốt đầu con sử tử hoặc A-đam đang nằm ngủ ngay cạnh đầu con sư tử.

    Hơn thế nữa A-đam lại có một mối quan hệ rất mật thiết, gắn bó với vợ của mình, giữa họ chưa có tội lỗi xen vào, mối quan hệ hai người trở nên một thịt mới đẹp làm sao. Nhưng điều đó cũng chẳng thể thỏa lấp được tâm hồn trống vắng trong ông.

    Thưa quý vị!
    Chỉ có Đức Chúa Trời mới là Đấng khỏa lấp được sự trống vắng bên trong con người của mỗi chúng ta, và chỉ có mối quan hệ với Đức Chúa Trời mới là mối quan hệ cao quý nhất, thiêng liêng nhất và đầy trọn nhất mà qua đó chúng ta mới thấy thực sự hạnh phúc, vui thỏa, và bình an.

    Quý vị và tôi đã có mối quan hệ với Đức Chúa Trời chưa? Quý vị và tôi bảo rằng: À, tôi đã tin Chúa, hay tôi vẫn thường dâng hiến 1/10, hoặc là tôi vẫn trung tín đi thờ phượng Chúa hằng tuần.

    Đúng, những điều đó là những biểu hiện của việc tôi và bạn bắt đầu đã có mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Nhưng điều đó vẫn chưa đủ đâu. Điều đó vẫn chưa khẳng định chắc chắn bạn và tôi đã có mối quan hệ khắng khít với Đức Chúa Trời rồi đâu.

    Vậy điều gì là minh chứng mạnh mẽ nhất, rõ ràng nhất, cao quý nhất, và thiêng liêng nhất của mối quan hệ giữa  quý vị  và tôi với Đức Chúa Trời?

    Thánh Kinh  Sáng-thế-ký 3: 8 trả lời cho câu hỏi đó: “ Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.” Theo câu Kinh Thánh này, thì đâu là những động từ mô tả giữa Đức Chúa Trời với ông bà A-đam và Ê-va có một mối quan hệ khắng khít với Chúa?

    Chú ý hai cụm từ “ tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời” và “ mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời? Nói đến “ tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời” và “ mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời? Là nói đến chính sự hiện diện của Đức Chúa Trời.
    Trước hết chúng ta thấy! Đỉnh cao của mối tương giao giữa loài người với Đức Chúa Trời là chúng ta nghe được tiếng của Chúa.

    1. A-ĐAM VÀ Ê-VA ĐÃ NGHE ĐƯỢC TIẾNG CỦA CHÚA
    Nghe được tiếng của Chúa là mối quan hệ cao quý nhất giữa họ vۛới Đức Chúa Trời.
    Nghe được tiếng của Chúa là mối quan hệ mất thiết nhất giữa họ với Đức Chúa Trời.
    Nghe được tiếng của Chúa là mối quan hệ hai chiều giữa họ với Đức Chúa Trời.
    Nghe được tiếng của Chúa là mối quan hệ thiêng liêng nhất trong mọi mối quan hệ mà các tạo vật khác không có.
    Thưa quý vị!
    Minh hoạ: Trong mối quan hệ giữa vợ với chồng, hoặc giữa cha mẹ với con cái, chúng ta thường hay thích nói hơn là thích nghe phải không? Chúng ta thường thích mọi người lắng nghe những gì chúng ta nói hơn là những gì chúng ta nghe.

    Chính vì Chúa biết chúng ta thích hay nói mà ít nghe cho nên Ngài đã gởi đến cho chúng ta sách Gia cơ 1:19 răn dạy: “ Hỡi anh em yêu dấu, anh em biết điều đó: người nào cũng phải mau nghe mà chậm nói, chậm giận;”

    Trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời cũng như vậy, chúng ta thường thích kể nể, nói nhiều, thậm chí chúng ta chạy đến với Ngài rồi đưa cho Ngài một bảng liệt kê, danh sách với những nan đề về những nhu cầu của chúng ta trình ra trước mặt Ngài. Nhưng đó không phải là một mối tương giao tốt nhất, đó cũng không phải là một mối quan hệ mật thiết nhất, đó cũng không phải là một mối quan hệ hai chiều với Đức Chúa Trời.

    Vì chữ “ tương giao” có nghĩa là hai chiều, có nghĩa là qua lại giữa hai người, người này nói thì người kia lắng nghe và ngược lại.
    Thưa quý vị! Lời cầu nguyện sâu sắc nhất là lời cầu nguyện mà chúng ta ở trong sự hiện diện của Chúa không nói một lời nào.
    Chúng ta bước vào sự hiện diện của Chúa trong tinh thần yên tịnh để chiêm ngắm sự vinh hiển, oai nghi cả thể của Ngài, chúng ta yên lặng lắng nghe tấm lòng của Chúa, sự suy tư, và tâm trí của Chúa truyền đạt ý muốn của Ngài cho chúng ta.

    Minh họa: Khi bạn quỳ gối nên và yên lặng với lòng thánh sạch, cung kính trước Chúa. Ngài sẽ phán với lòng bạn. Mối quan hệ khắng khít nhất, mật thiết nhất là mối quan hệ lắng nghe được tiếng của Chúa.

    Bạn ơi! Ngài sẽ phán với lòng bạn, Ngài sẽ không phán với bạn qua cơn gió lốc, Ngài cũng không phán với bạn qua cơn sấm sét, Ngài cũng không phán với bạn qua cơn động đất rung rinh đâu. Nhưng Ngài sẽ phán với lòng bạn khi bạn yên tịnh trước mặt Đức-Giê-hô-va.

    Tác giả thánh vịnh vua Đa-vít đã kêu gọi rằng: “  Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê-hô-va, và chờ đợi Ngài” ( Thi 37:7 )
    Quý vị! thấy rằng việc để tấm lòng mình trước mặt Ngài là một điều mà Thánh Kinh mời gọi, quý vị cần phải yên tịnh và chờ đợi Ngài nữa. Đây là thì giờ rất khó khăn nhưng cần phải kỷ luật.
    Minh họa: Bạn có bao giờ chạy đến với Chúa mà không biết phải nói gì, và bạn chỉ nói vẻn vẹn có một câu thôi, câu đó là: “ Chúa ôi, con yêu Ngài, con yêu Ngài Chúa ôi”
    Bạn yên tịnh trước mặt Ngài, và thốt lên một lời chân thật từ con tim, tấm lòng của mình điều đó thật đáng giá hơn một vạn lời nói sáo rỗng.
    Tiên tri Ha-ba-cúc đã thốt lên rằng: “ Ta sẽ đứng nơi vọng canh, chôn chân nơi đồn lũy, rình xem Ngài bảo ta điều gì, và ta trả lời thế nào về sự đối nại của ta.” ( Ha 2:1  )
    Tiên tri Ha-ba-cúc ông tự đặt mình vào trong tư thế của một người lính đang thức canh, và đang đứng trên tháp canh để có thể nhìn thấy kẻ thù từ đằng xa, ông bảo vệ lãnh thổ đất đai, hoa màu, và sản nghiệp của dân sự mình.

    Một người lính gác canh là một người bền bỉ, kiên trì, và luôn luôn tỉnh thức chờ đợi. Ha-ba-cúc muốn nói rằng: Ông giống như người lính gác tháp canh kiên nhẫn, chờ đợi xem Chúa phán với ông điều gì? Chúa bảo với ông điều gì? Và ông sẽ đối lại thể nào với Chúa.

    Quý vị thấy không?
    Hai vế đối nhau trước hết là ông “ rình xem Ngài bảo ông điều gì” và sau đó ông mới “trả lời thế nào” Đây là một mối quan hệ hai chiều rất mật thiết giữa tiên tri Ha-ba-cúc với Chúa.

    Trước hết, là ông nghe, sau đó là ông mới nói. Quý vị đã thấy được điều mà Chúa muốn nói với chúng ta chưa? Quý vị và tôi cần phải yên tịnh để lắng nghe Chúa trước và rồi sau đó chúng ta mới đối nại, mới trả lời, và mới nói.

    Vì nếu ông không lắng nghe tiếng của Chúa thì ông không thể nào tiếp nhận được sứ điệp của Chúa dành cho dân sự. Vì ông là một tiên tri của Đức Chúa Trời, là tiên tri của Chúa ông cần phải cho dân sự biết ý muốn và chương trình của Đức Chúa Trời cho dân sự. Để làm được điều đó ông cần phải yên tịnh để lắng nghe tiếng của Ngài.

    Minh họa: Là một người hầu việc Chúa, tôi không giảng bằng những ý tưởng đến từ cái đầu của mình, tôi cũng không chia sẻ những tin tức thời sự cho quý vị, tôi cũng không chia sẻ ý riêng của mình cho quý vị. Nhưng tôi cần chia sẻ và rao truyền cho anh chị em hết thảy ý muốn của Đức Chúa Trời và để làm được điều đó, tôi cũng cần phải luôn luôn lắng nghe tiếng Chúa.
    Tuần này giảng nhưng phải lắng nghe Chúa muốn mình giảng gì cho tuần sau? Cả tuần vừa soạn vừa lắng nghe, v۫ừa cầu nguyện vừa lắng nghe tiếng Chúa.

    Trước khi A-đam và Ê-va nghe theo lời dụ dỗ của Ma quỷ phạm tội và sa ngã thì họ đã có một quan hệ mất thiết, khắng khít, yêu thương với Đức Chúa Trời. Một mối quan hệ gần gũi đến độ họ lắng nghe được tiếng của Chúa.
    Chúng ta chú ý trong Sáng-thế-ký chương 3 câu 8 có chép “ Lối chiều, nghe tiếng Giê-hô-va Đức Chúa Trời đi ngang qua vườn, A-đam và vợ ẩn mình giữa bụi cây, để tránh mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời.”

    Ngay trong đầu câu có động từ “ Lối chiều” tức là cứ vào mỗi buổi chiều thì Chúa đều đi ngang qua vườn, bản dịch khác dịch là: thường thường cứ vào buổi chiều Đức Chúa Trời đi lại trong vườn, hoặc thường thường cứ vào buổi chiều có gió mát Ngài đi dạo trong vườn.

    Ngài luôn luôn đi lại, Ngài luôn đi dạo vào buổi chiều trong vườn để gặp A-đam và Ê-va. Điều đó, cho chúng ta thấy những lẽ thật rất quan trọng rằng:
    Chúa luôn luôn muốn gặp chúng ta.
    Chúa luôn luôn muốn nói chuyện với chúng ta.
    Chúa luôn luôn giữ thời khóa biểu của Ngài với chúng ta.
    Chúa luôn luôn tìm những người có lòng khao khát bước vào mối tương giao với chính Ngài.

    Trong Thánh Kinh Cựu Ước động từ được Chúa lặp đi lặp lại là: “ Hãy trở về cùng ta” “ hãy trở ở về cùng ta, ta không lấy nét mặt giận để nhìn ngươi đâu”
    Qua những sự kêu gọi thổn thức của Đức Chúa Trời đối với con người, chúng ta nhận thấy mình đã xa cách với Ngài, chúng ta đã lìa bỏ Ngài, chúng ta đã bỏ đi thì giờ, yên tịnh trước mặt Chúa. Và giờ đây Chúa kêu gọi chúng ta rằng: “ Hãy trở về cùng Ngài”

    Còn trong Thánh Kinh Tân Ước, Đức Chúa Cứu Thế Giê xu đã tuyên bố rất mạnh mẽ, và quả quyết rằng: “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta.” ( Giăng 10:27)
    Qúy vị và tôi có phải là những chiên của Chúa không?
    Nếu quý vị và tôi là chiên của Chúa thì chúng ta phải nghe được tiếng của người chăn, Chúa Giê xu là chính là Đấng chiên hiền lành của chúng ta. Ngài đang gọi chúng ta với tiếng gọi của tình thương, Ngài đang gọi chúng ta với tiếng gọi thổn thức, Ngài đang gọi chúng ta quay trở về với Ngài.

    Minh họa: Vào thời Do thái, người chăn chiên sẽ gọi chiên bằng những dấu hiệu qua tiếng nói: Nếu người chăn kêu be be thì chiên sẽ nhận ra đó có phải là tiếng của chăn của mình không? Nếu người chăn lạ gọi Rê-rê thì chắc chắn chiên sẽ không theo vì đó không phải là người chăn thật.

    Nếu một Hội Thánh mà toàn là những chiên lạ đến thì chắc chắn trước sau gì chiên đó sẽ không nghe được tiếng của người chăn, và rồi chiên đó cũng sẽ tìm cách đi chuồng khác mà thôi.
    Câu chiên ta nghe tiếng ta, nói lên một mối quan hệ mật thiết, hai chiều giữa người chăn chiên và con chiên.

    Trước hết, là tiếng của người chăn chiên được cất lên trước, sau đó là con chiên lắng tai nghe và nhận diện người chăn và hành động bước theo sau người chăn. Nếu quý vị là chiên của Chúa thì không thể vừa theo Chúa, vừa theo phật được. Nếu quý vị và tôi là chiên của Chúa thì không thể nào nghe theo tiếng của thầy bói, hoặc tiếng của thế gian này được nữa.

    Minh họa: Chúa Giê-xu phán Ngài đến thế gian không phải để lập thêm một tôn giáo mới qua những câu chuyện ngụ ngôn: không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì rượu mới sẽ chằng rách bầu da. Không ai vá miếng vải mới vào chiếc áo cũ, vì áo cũ sẽ bị rách ngay.

    Vì Chúa Giê xu phán: một tôi thì chẳng thể làm hai chủ, vì sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia. Một người không thể vừa yêu Đức Chúa Trời lại vừa yêu tiền bạc được. Không thể nào một người vừa làm tôi Đức Chúa Trời lại làm tôi cho Ma môn nữa. Sẽ chẳng bao giờ là như vậy được. Vì một người không thể vừa đi trên cùng một lúc trên hai con thuyền được.

    A-đam đã thất bại và đổ vỡ trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời vì đã nghe theo tiếng của vợ mình, ma quỷ nó cám dỗ Ê-va trước và sau đó Ê va lại cám dỗ A đam.
    Sa-lô-môn là người khôn ngoan nhất thế gian nhưng đã không nghe theo tiếng của Chúa mà ông đã nghe theo tiếng của các bà vợ ngoại đạo, họ đã cám dỗ ông lập miếu và cúng thờ thần tượng trên các nơi cao, và Thánh Kinh bảo rằng: tấm lòng của ông đã lìa bỏ Đức-Giê-hô-va. Cuối đời thất bại ê chề, đắng cay.

    Sam sôn đã nghe theo tiếng của người nữ ngoại đạo là Đa-ni-na, tiết lộ bí mật về sức mạnh, khiến cho dân sự bị bại trận dưới kẻ thù. Cuối cùng ông bị kẻ thù chọc thủng mù mắt, chết cách đau đớn.

    Thưa quý vị! Tiếng nói mạnh nhất đang chi phối quý vị là tiếng nói nào? Có thể đó là tiếng nói của người chồng quý vị, của con cái quý vị, của người hàng xóm quý vị, của người xung quanh quý vị.

    Dù cho tiếng nói đó là gì đi nữa, dù tiếng nói đó tốt đến đâu đi nữa. Quý vị hãy nhớ tiếng Đức-Giê-hô-va mới là mạnh nhất, chi phối nhiều nhất, chiếm hữu nhiều nhất và hành động nhanh nhất.

    Câu chuyện trong sách Công-vụ-các-sứ-đồ đã để lại cho chúng ta nhiều bài học đau thương. A-na-nia và Sa-phi-ra là hai vợ chồng, thấy người ta bán đất ruộng để dâng cho công việc Chúa, đặt dưới chân các sứ đồ. Hai vợ chồng về nhà, bàn bạc rồi bán thửa ruộng đi, được tiền bán ruộng cất đi nửa phần, còn dâng nửa phần. Nhưng khi chạy đến với các sứ đồ đã bàn mưu nói dối các sứ đồ.

    Chồng chạy đến với các sứ đồ và nói:  Sau đó vợ chạy đến cũng nói y hệt như vậy. Sứ đồ Phi-e-rơ đứng dậy nói rằng: Các ngươi đồng mưu nói dối Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời.

    Có những lúc vợ chồng rất là quan trọng, lời góp ý, hay tiếng nói rất là cần thiết nhưng chúng ta phải suy xét xem lời đó có đến từ Chúa hay không? Lời của vợ mình, của chồng mình có phải là đến từ Chúa, do ý muốn của Chúa hay đến bởi xác thịt.

    Người thế gian thường có câu rằng: Thuận vợ, thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Nhưng trong Chúa thì không phải thế, dù hai vợ chồng có thuận nhau, hiệp nhau đến mấy đi chăng nữa nhưng đó cũng phải là tiếng nói cuối cùng và tốt nhất.

    Có thể hai vợ chồng đồng ý, hiệp nhau, thuận hiệp nhau, nhưng chưa chắc ý của cả hai vợ chồng đã thuận ý của Chúa. Tiếng nói của Chúa mới là cao nhất, tiếng nói của Chúa phải là tiếng nói mạnh mẽ nhất trước khi chúng ta thực hành, bước đi.

    Minh họa: Gióp đã không nghe lời vợ, Gióp ở trong hoàn cảnh đau thương tột cùng. Vợ Gióp nói với chồng rằng: “ Uả? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi!” ( Gióp 2:9)

    A-đam đã thất bại vì nghe theo tiếng của vợ, mối quan hệ của A-đam bị gẫy đổ vì đã không bền đỗ trong sự hoàn toàn của mình.

    A-rôn và Mi-ri-am đã nghe theo tiếng nói xác thịt mà chống lại thẩm quyền của Môi se, cuối c?ng Môi se đã đưa ra một dấu chỉ, đó là cây gậy của họ được đặt vào trong hòm đậy nắp lại, đến sáng mai gậy của ai trổ hoa thì chứng tỏ người đó được Chúa trao thẩm quyền cao nhất.

    Môi se đã để cho tiếng nói và sự vận hành của Chúa là cao nhất.
    Điều gì đang ngăn trở và phá vỡۡ đi mối tương giao và lòng tin kính của bạn với Chúa thì dù người đó là chồng của bạn, là vợ bạn, là con bạn đi chăng nữa thì chúng ta cũng không thể nghe theo được.

    Điều đầu tiên mà chúng ta thấy Sa-tan là kẻ rất mưu mô, xảo quyệt nó lừa dối A-đam và Ê-va phạm tۙội với Chúa để mục đích là phá vỡۡ mối tương giao của ông bà với Chúa. Những tội lỗi luôn phá hỏng và ngăn trở mối tương giao giữa bạn vۛới Chúa.

    Vườn Ê đen là một chỗ vui mừng và tương giao với Chúa, nay trở thành nơi sợ hãi và ẩn mình khỏi Đức Chúa Trời.
    Trong khi Đức Chúa Trời mong mỏi được thông công với chúng ta. Thì chúng ta lại sợۣ tương giao với Ngài. A-đ và Ê-va trốn khỏi Đức Chúa Trời khi họ nghe tiếng Ngài.

    Đức Chúa Trời muốn ở bên họ, nhưng vì cớ tội lỗi họ sợ gặp mặt Ngài. Tội lỗi đã phá vỡ mối quan hệ khắng khít giữa họ với Đức Chúa Trời, y như nó đã phá vỡ mối quan hệ giữa chúng ta với Ngài.
    Nhưng Chúa Cứu Thế Giê-xu, Con Đức Chúa Trời, mở một con đường cho chúng ta làm mới lại mối thông công giữa chúng ta với Ngài. Chúa Cứu Thế Giê xu chính là Đấng trung bảo để nối liền mối thông công giữa loài người với Đức Chúa Trời
    Sứ đồ Phao lô viết trong thơ I Cô-rinh-tô 1:9 rằng
    "Đức Chúa Trời là thành tín. Ngài đã gọi anh em được thông công với Con Ngài là Đức Chúa Jêsus Christ, Chúa chúng ta."

    Sự kêu gọi căn bản là để thông công hơn là hy sinh hay phục vụ.


    Chúng ta được tạo dựng để sống trong sự hiện diện miên viễn của Đức Chúa Trời, nhưng sau biến cố Sa Ngã, mối tương giao lý tưởng đó đã bị mất. Chỉ có một số ít người trong thời Cựu Ước có được đặc ân hưởng một tình bạn với Đức Chúa Trời. Môi-se và Áp-ra-ham được gọi là “bạn hữu Chúa,” Đa-vít được gọi là “người vừa lòng Chúa,” còn Gióp, Hê-nóc và Nô-ê đã là những người bạn thân thiết của Đức Chúa Trời. 
  • Phụ tùng xe đạp Pháp 2015

    Phụ tùng xe đạp Pháp 2015


























































































  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.