ABOUT US

Our development agency is committed to providing you the best service.

OUR TEAM

The awesome people behind our brand ... and their life motto.

  • Neila Jovan

    Head Hunter

    I long for the raised voice, the howl of rage or love.

  • Mathew McNalis

    Marketing CEO

    Contented with little, yet wishing for much more.

  • Michael Duo

    Developer

    If anything is worth doing, it's worth overdoing.

OUR SKILLS

We pride ourselves with strong, flexible and top notch skills.

Marketing

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

Websites

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

PR

Development 90%
Design 80%
Marketing 70%

ACHIEVEMENTS

We help our clients integrate, analyze, and use their data to improve their business.

150

GREAT PROJECTS

300

HAPPY CLIENTS

650

COFFEES DRUNK

1568

FACEBOOK LIKES

STRATEGY & CREATIVITY

Phasellus iaculis dolor nec urna nullam. Vivamus mattis blandit porttitor nullam.

PORTFOLIO

We pride ourselves on bringing a fresh perspective and effective marketing to each project.

  • ĐỨC TIN ĐỨNG VỮNG VƯỢT THỜI GIAN

    ĐỨC TIN ĐỨNG VỮNG VƯỢT THỜI GIAN

    KINH THÁNH: Ha-ba-cúc 2

    NHẬP ĐỀ
    Tuần trước, chúng ta đã có dịp tìm hiểu một tiên tri ngắn rất thú vị đó là tiên tri Ha-ba-cúc, một tiên tri có rất nhiều gánh nặng, gánh nặng này chưa qua gánh nặng khác đã tới.
    Ông đã chứng kiến và nhìn xem cảnh bạo tàn, trái ngược, ức hiếp xảy ra giữa vòng dân sự Đức Chúa Trời. Đứng trước cảnh đau thương đó, Ha-búc-cúc người có tấm lòng trắc ẩn đã khẩn thiết, kêu van, nài xin Chúa đoái nghe, giải cứu.
    Nhưng cô đơn càng hơn, thất vọng thật nhiều khi Chúa lại dấy lên người Canh-đê hung hăng, dữ tợn như con beo, con sói trong ban đêm để cắn xé, cướp phá, ức hiếp dân của Chúa.

    Liên hệ đến đời sống chúng ta, Chúa đã cho chúng ta ứng dụng bài học cách thực tế, Ngài đã cho chúng ta chứng kiến người Canh-đê hung tợn như con beo để cắn nuốt, cướp phá, ức hiếp người chính trực trong những tuần vừa qua.

    Qua biến cố đó, chúng ta thấy Chúa của lịch sử vẫn cầm quyền tể trị trên mọi biến cố, Ngài có thể dùng những kẻ gian ác, và những biến cố đau thương nhất để thanh luyện đức tin của chúng ta được tinh tuyền càng hơn.

    Ngài có thể dùng ngay cả những nghịch cảnh mà nó có thể đi ngược lại với trí hiểu, và tính tự nhiên của con người. Con người có thể mù mờ, khó hiểu vào thời điểm lúc bấy giờ. Nhưng trải qua và sống trong những hoàn cảnh như vậy chắc chắn chúng ta sẽ được Chúa chỉ cho biết chúng ta giống Chúa là bao nhiêu, chúng ta là ai? Là người được tái sanh hay là người vẫn sống trong vỏ bọc của tôn giáo.

    Thật giống như sứ đồ Phi-e-rơ đã nói: “Anh em vui mừng về điều đó, dầu hiện nay anh em vì sự thử thách trăm bề buộc phải buồn bã ít lâu; hầu cho sự thử thách đức tin anh em quí hơn vàng hay hư nát, dầu đã bị thử lửa, sanh ra ngợi khen, tôn trọng, vinh hiển cho anh em khi Đức Chúa Jêsus Christ hiện ra.” ( I Phi-e-rơ 1:6-7)

    Sáng nay, tôi mời Hội Thánh tiếp tục học với tôi qua Lời Chúa trong sách Ha-ba-cúc với đề tài: ĐỨC TIN ĐỨNG VỮNG VƯỢT THỜI GIAN.

    I/. ĐỨC TIN LÀ PHẢI ĐỨNG VỮNG ( câu 1a)
    Tiên tri Ha-ba-cúc tuyên bố rằng: “ Ta sẽ đứng nơi vọng canh, chôn chân nơi đồn lũy,”
    Ba chữ đầu tiên của đầu câu 1 tiên tri Ha-ba-cúc đã thốt lên rằng: Ta sẽ đứng, không phải là ta sẽ ngã, mà là ta sẽ đứng. Ta sẽ đứng ngay cả trong hoàn cảnh bế tắc nhất, Ta sẽ đứng ngay cả ta bị sỉ nhục nhất, ta sẽ đứng ngay cả trong chỗ bị xúc phạm và tổn thương nhất.

    Ta sẽ đứng là một câu nói oanh liệt, hào hùng, tráng lệ, mạnh mẽ, can đảm của người đầy đức tin.

    Ta sẽ đứng là một tinh thần bất khuất, kiên cường, nhẫn nhịn trước mọi sóng gió, trước mọi biến cố dù thuận cảnh hay nghịch cảnh.

    Ta sẽ đứng là lời tuyên bố rất mạnh mẽ của tiên tri Ha-ba-cúc khi ông đang phải sống trong bối cảnh của một xã hội đầy bạo lực, bất công, kẻ gian ác ức hiếp người công bình.

    Trong một xã hội và thời kỳ đen tối, người Canh-đê đã dấy lên như hùm, như beo, hung tợn như sói trong ban đêm đi tìm cướp phá cái không thuộc về mình.
    Thưa quý vị!
    Minh họa: Giữa một xã hội đầy những sự trái ngược, bất công, kẻ công bình bị chèn ép, bị ức hiếp, bị bắt bớ và bị chà đạp chúng ta có hiên ngang đứng vững và tuyên bố cách mạnh mẽ như tiên tri Ha-ba-cúc đã từng tuyên bố hay không? Hay chúng ta ngã quỵ, bỏ cuộc, bại xuội, và thất vọng.

    Minh họa: Ru-tơ là một người phụ nữ ngoại bang, sống trong thời kỳ đen tối vào thời các quan xét, một thời kỳ mà ai cũng tưởng ý mình là phải, ai cũng làm theo ý riêng mình, và một thời kỳ được cho là thời kỳ hắc ám.

    Giữa thời khó khăn tối tăm như thế, Ru-tơ như viên ngọc quý, chiếu sáng đêm đen của quá khứ tang chế, nghèo thiếu. Ru tơ như là một bông hoa tỏa hương nở rộ giữa những bụi gai, bờ đá.

    Nàng đã chiếu sáng không phải bằng tài năng, bằng sự khéo ăn nói, nhưng nàng đã chiếu sáng nếp sống, cách ăn ở bằng đức hạnh, ân hậu của mình.


    Đời sống và tình yêu của Ru-tơ đã đạp đổ bức tường phân biệt chủng tộc-thù địch nhau giữa người Mô-áp và người Y-sơ-ra-ên.
    Ru-tơ đã đứng vững trong đức tin, nói cách khác Ru-tơ ăn rễ bám sâu đức tin của mình vào Chúa chính điều đó đã khiến nàng chiếu sáng như ngọn đuốc giữa thế gian mờ tôi.

    Phải ta sẽ đứng là câu nói của người đầy đức tin. Đức tin là phải đứng vững, đức tin là đứng vững vượt trên mọi biến cố, bão tố, sóng gió bủa vây.

    Minh họa: Áp-ra-ham được tác giả Hê-bơ-rơ gọi là anh hùng đức tin, một tổ phụ đức tin trọn vẹn, một đức tin liều mình, một đức tin bước đi. Ngay cả Chúa thử thách ông, Chúa phán với ông hãy giết đứa con một của mình để dâng cho Chúa ông cũng đã vâng lời cách tuyệt đối.

    Minh họa: Đa-ni-ên cũng được gọi là anh hùng đức tin, khi ông phải sống trong cảnh mà thời kỳ dân tộc của ông bị bắt đi làm phu tù, sống trong một đất nước ngoại bang, thờ hình tượng. Ông đã nhiều lần bị bắt, bị vất vào hang sư tử, bạn bè ông bị vất vào vạc dầu. Nhưng đức tin của họ vẫn luôn bám chắc, dính chặt vào sự thành tín của Chúa. Đối với họ dù phải chết họ cũng không bao giờ đánh mất đức tin nơi Đức Chúa Trời. Và cuối cùng Ngài đã giải cứu họ cách thật tuyệt vời.

    Đó chính là những minh họa đức tin đứng vững mạnh mẽ nhất mà chúng ta tìm thấy trong Thánh Kinh. Họ nêu gương cho chúng ta, họ dám sống cho đức tin nhưng họ cũng sẵn sàng chết vì đức tin nữa.

    Minh họa: Trong Công-vụ có ghi lại việc Ê-tiên là người đầu tiên đã tử vì đạo khi ông đang rao giảng về Đức Chúa Giê-xu Christ, người ta đã ném đá ông cho đến chết, nhưng ông vẫn luôn đứng vững trong đức tin và ông đã chết vì đức tin.

    Ha-ba-cúc sống giữa một dân tộc tranh cạnh, cãi vã, cãi cọ, người Canh-đê dấy nghịch cướp bóc, phá phách khắp mọi nơi như thế nhưng tiên tri Ha-ba-cúc vẫn tuyên bố rằng: Ta sẽ đứng.

    Đây là câu nói của người đầy đức tin, đây là câu nói của người anh hùng đức tin.
    Minh họa: Hội Thánh trải qua nhiều sóng gió, biến cố, nguy nan, bắt bớ, khốn khó, đói nghèo, và tranh cạnh, cãi cọ. Chúng ta rất dễ nhụt chí khí, dễ bỏ cuộc, hay nói những lời tiêu cực nhưng chúng ta buổi sáng hôm nay hãy tuyên bố như Ha-ba-cúc đã tuyên bố: Ta sẽ đứng. Ta sẽ đứng để nhìn xem sự giải cứu của Chúa, ta sẽ đứng để nhìn xem sự thành tín của Chúa, ta sẽ đứng để nhìn xem sự trả lời của Chúa cho nan đề của chúng ta.

    Nhiều khi chúng ta vừa có một tý tẹo những biến cố, những khủng hoảng, những nan đề xảy ra, chúng ta đã lao lúng, chao đảo đức tin và chúng ta đã bị nan đề làm cho ngã quỵ.

    Lời Chúa trong I Phi-e-rơ 5: 9 đã sứ đồ Phi-e-rơ đưa ra mệnh lệnh:“ Hãy đứng vững trong đức tin”
    Còn sứ đồ Phao nói trong thơ I Tê-sa-lô-ni-ca 3:8 “ hãy đứng vững trong Chúa.”
    Cũng trong thơ gửi cho Hội Thánh thành Ê-phê-sô sứ đồ Phao lô nói: “Hãy đứng vững trong Lẽ thật”
    Đứng vững trong đức tin, đứng vững trong Chúa, đứng vững trong Lẽ thật là những thế đứng đắc thắc mà Chúa muốn mỗi con dân của Chúa đều phải đứng.
    Tác giả Thi-thiên thứ nhất đã nói:
    Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ,
    Chẳng đứng trong đường tội nhân,
    Không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng;
    Chúa không muốn chúng ta đứng trong con đường của kẻ tội nhân và kẻ dữ hoặc cũng không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng mà Ngài muốn chúng ta hãy đứng vững trong đức tin, đứng vững trong Chúa, đứng vững trong Lẽ thật.
    Ngài không muốn chúng ta ngã, Ngài muốn chúng ta đứng, Ngài không chỉ muốn chúng ta đứng nhưng mà phải đứng cho vững, cho chắc.
    Ta sẽ đứng, Ta sẽ đứng vững, Ta sẽ đứng trong Chúa, Ta sẽ đứng trong Lời Chúa đây chính là chỗ đứng của người chiến thắng, đây chính là chỗ đứng dành cho người đầy đức tin.
    Minh họa: Anh chị em trải qua những ba đào, khi đối diện với những con beo, con hùm, những dân Canh-đê dữ tợn quý vị làm gì? Quý vị thối lui chăng? Chẳng hề như vậy. Ha-ba-cúc nói: Tôi sẽ đứng.
    Ch 24:10   “ Nếu con ngã lòng trong ngày hoạn nạn,
    Thì sức lực con nhỏ mọn thay.”
    So sánh bản dịch:
    Ch 24:10   10 Chỉ kẻ yếu hèn mới sờn lòng trong ngày hoạn nạn.
    [HĐ]
    Ch 24:10   10 Ngày khốn quẫn mà để mất tinh thần,
    sức lực con ắt sẽ bị suy giảm.
    [GKPV]
    Minh họa: Lúc Giê-rê-mi thắc mắc với Đức Chúa Trời về hoạn nạn mà ông gặp, Đức Chúa Trời đã hỏi ông rằng làm thế nào ông có thể mong đương đầu nổi với những thách thức lớn hơn, nếu ông chịu thua những thách thức nhỏ mọn này Gie 12:5)? Đừng phàn nàn về các vấn đề của bạn. Hoạn nạn mà bạn gặp hôm nay sẽ rèn luyện để bạn trở nên mạnh mẽ hơn hầu đối đầu với những hoàn cảnh khó khăn hơn mà bạn sẽ phải gặp trong tương lai.
    IICo 4:8   Chúng tôi bị ép đủ cách, nhưng không đến cùng; bị túng thế, nhưng không ngã lòng;
    Minh họa: Phao lô nói trong thơ IICo 11:26 “ Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển,nguy với anh em giả dối;”
    Ch 24:16   Vì người công bình dầu sa ngã bảy lần cũng chỗi dậy;
    Bẩy lần, không phải một lần, dầu cho người công bình sa ngã nhiều lần cũng sẽ chổi dậy.

    II/. ĐỨC TIN LÀ PHẢI BỀN LÒNG ( câu 1b)
    Ha-ba-cúc tuyên bố: “Ta sẽ đứng nơi vọng canh, chôn chân nơi đồn lũy” Đức tin là phải đứng vững, nhưng không chỉ đứng vững mà thôi mà câu tuyên bố của Ha-ba-cúc còn nói cho chúng ta biết: chỗ chúng ta đứng là chỗ nào nữa? Chỗ chúng ta đứng rất quan trọng, chỗ chúng ta đứng có liên hệ đến đời sống đức tin của chúng ta.
    Đức tin là phải đứng vững nhưng sẽ không đứng vững mãi được nếu chúng ta đứng chỗ không tốt.
    Ha-ba-cúc đã nói rõ cho chúng ta chỗ đứng của ông là: nơi vọng canh. Ta sẽ đứng vững, nhưng ta chỉ đứng vững được khi ta đứng nơi vọng canh. Vậy vọng canh là nơi nào?

    Minh họa: Các tháp canh vốn được xây trên các vách thành hoặc đồn luỹ để từ xa các lính canh có thể nhìn thấy kẻ thù hoặc sứ giả khi họ tiến đến gần thành. Các tháp canh cũng được dựng lên trong các vườn nho để giúp bảo vệ cho các trái nho đã chín muồi sắp thu hoạch canh giữ nho khi đến mùa thu hoạch (Es 52:1-12). Ha-ba-cúc muốn ở vị trí thuận tiện nhất để tiếp nhận sứ điệp của Đức Chúa Trời.

    Người canh giữ tại các vọng canh hoặc tháp canh thường được các nhà tiên tri dùng để chứng minh cho thái độ trông chờ.

    Minh họa: Trong Công vụ ghi lại sự kiện các môn từ núi Ô-ni-ve trở về lên thành Giê-ru-sa-lem để chờ Đức Thánh Linh được ban xuống cho họ.
    Cong 1:14 “Hết thảy những người đó bền lòng đồng một ý mà cầu nguyện với các người đàn bà, và Ma-ri là mẹ Đức Chúa Jêsus cùng anh em Ngài.”

    Ngài chỉ nói cho họ biết họ cần phải cầu nguyện trong tinh thần chờ đợi, Ngài không nói thời gian họ phải chờ là bao lâu, nhưng điều Chúa Giê-xu muốn họ là phải chờ đợi.

    Chờ đợi là thái độ của người tỉnh thức, chờ đợi là thái độ của người bền đỗ, kiên trì.
    Minh họa: Chúa đã phán với vua Sa-lô-môn trong sách I Sử-ký 28:7  Nếu người bền lòng làm theo các điều răn và luật lệ ta như ngày nay, thì ta sẽ làm cho nước người được bền vững đời đời.”
    Ngôi nước của vua Sa-lô-môn chỉ được bền vững đến đời đời khi và chỉ khi ông bền lòng làm theo các điều răn và luật lệ của Chúa. Nhưng rất tiếc Sa-lô-môn đã không bền lòng đi theo con đường của Chúa mà ông đã nghe theo lời dụ dỗ của những người vợ ngoại bang, lập miếu thờ và cúng thờ các thần của dân tộc ngoại bang, lòng lìa khỏi Đức Chúa Trời cuối cùng ngôi nước của ông được Chúa chuyển rao sang thế hệ khác.
    Ha-ba-cúc nói: Ta sẽ đứng nơi vọng canh một thái độ trông mong, hướng lên Chúa, chờ đợi Chúa. Nhưng ông cũng nói tiếp: Ta chôn chân nơi đồn lũy.
    Quý vị! Có thấy từ chôn chân không? Chôn chân là thái độ của người vững vàng, không lay động, không giao động. Mặc cho những biến cố quanh ông đang xảy ra những chuyện khủng khiếp nhưng đức tin của ông vẫn không hề giao động, không thay đổi. Ông rất vững vàng ở nơi Chúa.
    Mặc dù ông đã dốc lòng cầu nguyện và Chúa trả lời ngược lại với lời cầu nguyện của ông nhưng không vì thế mà ông nản lòng, bỏ cuộc, và mất lòng tin nơi Chúa.
    Minh họa: Vợ Gióp nói với người rằng: “ Uả? Ông hãy còn bền đỗ trong sự hoàn toàn mình sao? Hãy phỉ báng Đức Chúa Trời, và chết đi! 10 Người đáp lại rằng: Ngươi nói như một người đàn bà ngu muội. Uả sao! Sự phước mà tay Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, chúng ta lãnh lấy, còn sự tai họa mà tay Ngài giáng trên chúng ta, lại chẳng lãnh lấy sao? Trong mọi việc đó, Gióp không phạm tội bởi môi miệng mình.” ( Gióp 2:9-10)
    Vợ Gióp chế giễu ông, khinh miệt ông nhưng ông vẫn kiên trì bền đỗ trong đức tin, đối với vợ của Gióp chỉ có tiền bạc, chiên bò, nhà cửa nhưng vợ Gióp chẳng hề có đức tin gì ở nơi Chúa hết.

    Ngược lại, Gióp đã đặt đức tin của mình không phải ở nơi của cải, giàu có, bò lừa, chiên hay nhà cửa con cái. Nhưng đức tin ông đã đặt trọn vẹn nơi Chúa.

    Quý vị và tôi đang đặt đức tin vào đâu? Nếu quý vị đặt đức tin ở nhà cửa, con cái, chiên bò, của cải thì một khi những cái đó bị sụp đổ thì đức tin của quý vị và tôi cũng sụp đổ theo.

    Nhưng đức tin ở nơi Chúa thì dù có mưa sa, gió lay, sô động xong không hề sập vì đức tin ấy đặt nơi Đấng bền vững.

    Đối với Ha-ba-cúc thì dân tộc của ông chẳng phải là đồn lũy của ông, giàu có của cải hoặc nhà cửa cũng chẳng phải là đồn lũy của ông. Mà đối với ông Chúa mới chính là đồn lũy.
    Tác giả Thi-thiên thứ 27:1 “Đức Giê-hô-va là ánh sáng và là sự cứu rỗi tôi:
    Tôi sẽ sợ ai?”
    Đức Giê-hô-va là đồn lũy của mạng sống tôi: Tôi sẽ hãi hùng ai?

    Thi 31:3   Vì Chúa là hòn đá và đồn lũy tôi;
    Ngài là đồn lũy của họ trong thì gian truân. Thi 37:39 

    Thi 144:2   Ngài là sự nhân từ tôi, đồn lũy tôi,
    Nơi ẩn náu cao của tôi, và là Đấng giải cứu tôi,
    Cũng là cái khiên tôi, và nơi tôi nương náu mình;


    Chỉ có Chúa mới là Đấng đời đời, chỉ có trong Ngài mới không hề thay đổi, trong Ngài cũng chẳng có bóng của một sự biến cải nào hết.
    Đấng mà chúng ta tôn thờ, trông cậy, nương dựa, và đặt đức tin là Đấng hôm qua, ngay nay và còn đến đời đời.
    Chỉ có đức tin vào trong Ngài thì đức tin ấy mới thực sự là đức tin bền vững.

    Minh họa: Sứ đồ Phao lô viết thư khen ngợi các tín hữu sống tại thành phố Cô-lô-se rằng: “Vì dẫu thân tôi xa cách, nhưng tâm thần tôi vẫn ở cùng anh em, thấy trong anh em có thứ tự hẳn hoi và đức tin vững vàng đến Đấng Christ, thì tôi mừng rỡ lắm.” ( Co 2:5 )
    Sứ đồ Phao lô và Ba-nan-ba là hai nhà truyền giáo đến giảng Tin Lành tại thành An-ti-ốt, ở tại nơi đó có nhiều người trở thành môn đồ của Đấng Christ và hai ông đã tiếp tục khuyên bảo họ phải: Bền đỗ trong đức tin.
    “Khi hai sứ đồ đã rao truyền Tin lành trong thành đó, và làm cho khá nhiều người trở nên môn đồ, thì trở về thành Lít-trơ, thành Y-cô-ni, và thành An-ti-ốt, 22 giục các môn đồ vững lòng, khuyên phải bền đỗ trong đức tin, và bảo trước rằng phải trải qua nhiều nỗi khó khăn mới vào được nước Đức Chúa Trời.”  ( Công vụ 14: 21-22)
    Chúng ta đã từng chứng kiến rất nhiều người đã trở lại đạo trong những thời điểm trước kia, nhưng phần lớn những người trong vòng họ không bền đỗ trong đức tin cho lên đã trở lại về thế gian rồi. Tin Chúa là bước đầu tiên nhưng bền đỗ đức tin là cả một cuộc đời, cả một cuộc hành trình.

    Đức Tin Bền Đỗ

     12 Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. 13 Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài. 14 Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự, 15 hầu cho anh em ở giữa dòng dõi hung ác ngang nghịch, được nên con cái của Đức Chúa Trời, không vít, không tì, không chỗ trách được, lại giữa dòng dõi đó, giữ lấy đạo sự sống, chiếu sáng như đuốc trong thế gian; 16 cho đến nỗi tới ngày của Đấng Christ, tôi có thể khoe mình rằng chẳng đã chạy vô ích và khó nhọc luống công. 17 Ví dầu huyết tôi phải dùng để tưới trên của tế lễ và của dâng đức tin anh em, tôi cũng vui lòng, lại đồng vui với anh em hết thảy. 18 Anh em cũng vậy, hãy vui lòng về điều đó, và hãy cùng vui với tôi. (Phi-líp 2:12-18 )
    Không phải chỉ tin Chúa trong một năm, hai năm, ba năm nhưng tin Chúa và theo Chúa là cả cuộc đời của mình.

    Mac 13:13   13 Các ngươi sẽ bị mọi người ghen ghét vì danh ta; song ai cứbền lòng đến cuối cùng, người ấy sẽ được cứu.
    Còn như các ngươi đã bền lòng theo ta trong mọi sự thử thách ta, 29 nên ta ban nước cho các ngươi, cũng như Cha ta đã ban cho ta vậy, 30 để các ngươi được ăn uống chung bàn trong nước ta, và được ngồi ngai để xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.  Lu 22:28 

    Gia 5:8   Anh em cũng vậy hãy nhịn nhục và bền lòng; vì kỳ Chúa đến gần rồi.

    IIGi 1:9   Hễ ai đi dông dài, chẳng bền lòng theo đạo Đấng Christ, thì người ấy không có Đức Chúa Trời. Còn ai bền lòng trong đạo ấy, thì người đó có Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con. 
  • GÁNH NẶNG CỦA TIÊN TRI HA-BA-CÚC

    GÁNH NẶNG CỦA TIÊN TRI HA-BA-CÚC



    ĐỀ TÀI: GÁNH NẶNG CỦA TIÊN TRI HA-BA-CÚC
    KINH THÁNH: HA BA CÚC 1

    Nhập đề:
    Đọc sách Ha-ba-cúc chúng ta thấy tiên tri Ha-ba-cúc là một con người có tâm hồn cô đơn, so với các tiên tri khác họ có bạn bè như Đa-ni-ên, họ có người yêu như Giê-rê-mi và họ có vợ như tiên tri Ô-sê.

    Ngược lại Ha-ba-cúc là một tiên tri cô đơn vì ông không có một người bạn nào, không có vợ, không có con cái không có láng giềng thân thích.

    Nhưng trong 3 chương chúng ta thấy: Ha-ba-cúc đã thiết lập một tình bạn rất mật thiết, sâu sắc, gần gũi đó là mối quan hệ tình bạn với Đức Chúa Trời.

    Ông luôn xưng hô với Chúa và luôn gọi Ngài là “ Đức Chúa Trời của tôi”, điều đó tỏ ra sự thân mật, gần gũi, yêu thương của ông dành cho Chúa.

    Tên của Ha-ba-cúc có nghĩa là: ‘ Người Được Bồng Ẵm ’
    Mặc dù ông là một người cô đơn, với nhiều nỗi truân chuyên nhưng ông luôn luôn kinh nghiệm được Chúa là Đấng luôn bồng ẵm ông.

    Thưa quý vị! Chúng ta cảm ơn Chúa vì giữa những giá băng, đau đớn, tủi hờn và cô đơn nhưng chúng ta tin chắc rằng: Chúa luôn luôn bồng ẵm chúng ta, Ngài chẳng lìa bỏ chúng ta, Ngài ở với chúng ta đời đời, Ngài che trở chúng ta trong ngày phong ba, báo táp.

    Hôm nay, tôi mời quý vị hãy cùng tôi học với đề tài: NHÀ TIÊN TRI CÓ GÁNH NẶNG, qua đó chúng ta liên tưởng và nhìn lại đời sống của chúng ta, gia đình, Hội Thánh và cộng đồng chúng ta đang sống. Chúng ta cưu mang, bỏ ra tâm huyết cho những gánh nặng đó thật đáng quý trước mặt Chúa biết bao. Như sứ đồ Phao lô đã nói công khó của anh chị em trong chẳng phải là vô ích đâu.
    Phần thứ nhất, chúng ta sẽ học đó là:

    I/. TẤM LÒNG CỦA HA BA CÚC ( CÂU 2-4)
    Chúng ta đọc câu từ 2 – 4 “ Nhân sao Chúa khiến tôi thấy sự gian ác, và Ngài nhìn xem sự ngang trái? Sự tàn hại bạo ngược ở trước mặt tôi; sự tranh đấu cãi lẫy dấy lên. 4 Vậy nên luật pháp không quyền, sự chánh trực không hề tỏ ra. Kẻ hung ác vây chung quanh người công bình, vì cớ đó sự xét đoán ra trái ngược.”
    Chúng ta thấy tâm trạng và tấm lòng của tiên tri Ha-ba-cúc, tấm lòng của vị tiên tri này rất đỗi buồn rầu vì ông chứng kiến sự Bạo ngược, sự bất công, cướp bóc, tàn phá, cưỡng bức, giết người giữa dân tộc và xã hội mà ông đang sống.

    Quý vị đã bao giờ thấy cảnh bất công, áp bức, ức hiếp, cướp bóc, tàn phá và giết người chưa? Chắc chắn điều này thường xảy ra ngay trong xã hội chúng ta, nó rất gần chúng ta.

    Minh họa: Bây giờ, liên hệ đến Hội Thánh toàn cầu thì chúng ta thấy có sự bất công quá mức, bạo ngược quá mức.

    Trong khi các đạo khác thì cúng bái linh đình thì chính quyền họ không bắt phải xin phép, thế mà Hội Thánh của Chúa thì họ bắt phải xin phép. Trong khi các vũ trường, hút thuốc lắc nhảy hát thâu đêm suốt sáng thì chẳng thấy ai bắt, nhưng Hội Thánh vừa cất lên hát hoặc nhóm thì họ bắt.

    Cơ Đốc nhân là những người sống tốt đạo đẹp đời, gương mẫu, trong sáng, lành mạnh thì họ bắt, họ đánh, họ giết. Còn đằng trước nhà là xòng bài, ổ chứa gái mại dâm thì họ bảo kê. Đấy là những cảnh bất công, bạo tàn, kẻ gian ác bủa vây người công bình.

    Nhìn vào đời sống thực tế, thì những người ăn ngay ở lành thì cứ khổ hoài, bệnh tật hoài, còn những kẻ ác nó dùng quyền lực để nó đàn áp hết người này đến người khác thì nó sống khỏe hoài.

    Có phải lúc đó, chúng ta cũng kêu lên như Ha-ba-cúc không? Tại sao Ngài cứ làm thinh, tại sao Ngài để cho kẻ gian ác nuốt chửng kẻ chính trực. Kinh Thánh không có xa xôi trìu tượng chút nào, liên hệ đến đời sống thực tế của chúng ta. Liên hệ đến cái kinh nghiệm mà mỗi chúng ta có thể đã trải qua.

    Chúng ta sẽ làm gì đối với những điều bất công như thế? Cảm xúc chúng ta sẽ như thế nào? Tâm trạng giống như Ha-ba-cúc đã có, tâm trạng không phải là mất đức tin, chúng ta vẫn tin Chúa chứ, vì nếu không tin thì chắc đã không kêu van đến Chúa.

    Tâm trạng của Ha-ba-cúc khó hiểu, cảm thấy nó mù mờ, tâm trạng của chúng ta cũng như vậy đó.

    Ngay câu đầu của chương 1 nói đến “ gánh nặng” của nhà tiên tri khi ông xem thấy và chứng kiến sự gian ác, sự ngang trái, sự tàn hại, bạo ngược, tranh đấu, và cãi lẫy.
    Khi ông chứng kiến và xem thấy cảnh bạo ngược như thế thì ông đã làm gì? Trong câu 2 cho chúng ta biết: Ông tha thiết kêu van với Đức-Giê-hô-va.

    Trong một câu Kinh Thánh lặp lại hai lần động từ “ kêu van” cho thấy sự cấp bách, khẩn thiết của nhà tiên tri Ha-ba-cúc khi đứng trước nan đề, gánh nặng lớn lao này, ông kêu van cùng Đức Chúa Trời đây không phải chỉ nói lên gánh nặng của nhà tiên tri mà còn nói lên lòng thương xót của nhà tiên tri này nữa.

    Minh họa: Trong Phúc Âm Mác chương 6 ghi lại: “ Bấy giờ Đức Chúa Jêsus ở thuyền bước ra, thấy đoàn dân đông lắm, thì Ngài động lòng thương xót đến, vì họ như chiên không có người chăn;” ( Mac 6:34 )

    Thường chúng ta chỉ thương xót đến người nhà của mình, đến bản thân của mình, đến nan đề của mình. Còn Chúa Giê-xu thương xót đoàn dân đông, thường chúng ta chỉ thương xót đến một người nào đó còn Chúa Giê-xu thương xót đến tất cả mọi hạng người cả giầu và nghèo, thường chúng ta chỉ thương xót bề ngoài nhưng Ngài đã động lòng bên trong một cử chỉ thương xót xuất phát từ nội tâm.

    Đây chính là điều tôi muốn nói đến tiên tri Ha-ba-cúc. Ông chứng kiến, nhìn thấy, xem thấy những cảnh trái ngược, tranh chấp, cãi cọ. Và ông đã kêu van, kêu van, thương xót, và thương xót đồng loại mình.

    Ngày nay, lòng thương xót của chúng ta không mấy khi bị rung động, đứng trước những nan đề, những cảnh đau lòng người ta vẫn đứng trơ trơ, rửng rưng trước đau khổ của người khác.

    Trước những linh hồn đang bị đùa xuống địa ngục chúng ta không động lòng mảy may dám nói về Chúa, chúng ta không cứu và đem được người ta về với Chúa vì chúng ta chưa có lòng thương xót, chưa có gánh nặng, sứ đồ Phao lô đã nói rằng: nếu một người không cưu mang thì làm sao mong có ngày sanh sở.

    Minh họa: Một người mẹ phải cưu mang đứa con trong bụng của mình chín tháng mười ngày, rồi mới mong đến ngày mẹ con rạng rỡ, nự cười ngời sáng, vinh quang hé nộ.
    Nếu không cưu mang, mong đợi, kêu van, tha thiết, khẩn nài thì làm sao có ai trở về tin Chúa được.

    Cưu mang, gánh nặng tức là: lúc nào tôi cũng nghỉ về một người nào đó, khi tôi ăn, tôi nằm, tôi ngủ, tôi đi, tôi làm, tôi học tôi luôn nghĩ về Hội Thánh, tôi nghĩ về ai đó, mong cho ai đó trở về tin nhận Chúa, mong cho ai đó, tăng trưởng mỗi ngày. Đó chính là gánh nặng, đó chính là cưu mang.

    Nhà đại tiên tri Giê-rê-mi đã có gánh nặng rất lớn khi ông nhìn thấy tình trạng sa-sút của dân sự và ông để cho nước mắt rơi như suối lệ, thậm chí ông thốt lên rằng: ban đêm nước mắt làm trôi giường tôi điều này được ghi lại trong sách Ca-thương. Đó chính là một người có gánh nặng, quặn thắt trong lòng.

    Hằng ngày tiên tri Ha-ba-cúc đã phải chứng kiến những cảnh giết người, cưỡng bức, tàn phá xảy ra ngay tại trước mắt mình làm lòng ông rất buồn bực, đau đớn. Và ông đã phải tha thiết kêu van đến Chúa.

    Khi chúng ta đọc kỹ và so sánh các bản dịch Thánh Kinh khác nhau: Chúng ta thấy có những động từ ông dùng ở mấy câu này là: kêu than, kêu thét, kêu cứu mãi đó là những điều nói lên tấm lòng khẩn thiết, than thở, buồn phiền của nhà tiên tri này.

    Thưa Hội Thánh của Chúa Giê xu yêu dấu!
    Quý vị và tôi đã có tấm lòng của nhà tiên tri Ha-ba-cúc khi ông đối diện với gánh nặng bằng việc khẩn thiết, kêu than, kêu thét, kêu cứu đến với Chúa chưa? Hay chúng ta cứ để mặc cho mọi sự, thấy gánh nặng, thấy nan đề, thấy nhu cầu của người khác chúng ta ngoảnh mặt, làm ngơ, vẻ mặt ơ thờ, tâm hồn hững hờ, rửng rưng, lạnh lành trước mọi nan đề.

    Minh họa: Nhìn vào thực tại của Hội Thánh, chúng ta sẽ khám phá ra rằng: hiện tại chúng ta mạnh ai người ấy sống, chúng ta chưa có sự kết dính vào nhau, Hội thánh không phải là những chi thể tách rời nhau, Hội Thánh là một chi thể khắng khít với nhau.
    Chúng ta không phải chỉ có ngồi lại với nhau hai giờ vào sáng Chúa nhật mà thôi, còn cả tuần chúng ta không thèm ngó ngàng gì đến nhau, chúng ta cần phải thăm hỏi nhau, giúp đỡ nhau, dìu dắt nhau, nâng đỡ nhau, cầu nguyện cho nhau nữa.


    Trong một bản dịch Hiện Đại có dịch hai cụm từ trong câu 3: “ Đâu đâu cũng thấy tàn phá, cưỡng bức, giết người. Đâu đâu cũng thấy cãi vã, tranh chấp.”
    Đâu đâu là ở đâu?
    Bối cảnh mà phân đoạn Kinh Thánh này đang nói đến từ: đâu đâu không phải là đang nói đến giữa vòng dân ngoại đâu, mà thực ra sự việc này xảy ra ngay trong cộng đồng dân sự của Chúa.

    Bối cảnh của đoạn Kinh Thánh này đang nói lên tình trạng thối lát, suy đồi, bại xuội, và bội đạo của dân sự Đức Chúa Trời.

    Tại sao trong vòng dân sự của Đức Chúa Trời trong thời bấy giờ lại suy đồi, bại xuội như vậy? Trong câu số 4 trả lời cho chúng ta biết:
    Có hai lý do khiến họ bị suy đồi đó là:
    1. Luật không còn được tuân giữ nữa, hay luật pháp không còn được tôn trọng nữa.
    2. Vì kẻ gian ác bủa vây người công bình.
    Trước hết, luật pháp của Chúa không còn được tôn trọng nữa, không được họ tuân giữ nữa. Họ không còn tìm kiếm, tra cứu, hay vui thích trong Lời Chúa nữa. Quyển sách luật pháp không còn được đọc trên môi miệng họ quyển sách luật pháp không còn được họ suy gẫm ngày và đêm nữa.

    Vào thời của thầy tế lễ Nê-hê-mi, và Ê-xơ-ra dân sự đã phải đứng suốt từ sáng đến chiều tối để nghe thầy tế lễ đọc Lời của Chúa, nhưng bây giờ học không muốn nghe nữa, bây giờ họ thích nghe những lời êm tai hơn là nghe những lời ngay thẳng từ Lời Chúa.

    Lịch sử đã chứng minh: Khi nào dân sự của Đức Chúa Trời yêu thích Lời Chúa, tôn trọng Lời Chúa, giữ gìn Lời Chúa thì lúc bấy giờ tấm lòng của họ sẽ được phấn hưng.

    Sự phấn hưng không đến từ bên ngoài, sự phấn hưng đến từ bên trong, khi Lẽ thật được khôi phục tình yêu của chúng ta cũng sẽ được khôi phục.

    Trong thời các quan xét: Mọi người ai nấy đi theo ý mình, ai cũng tưởng mình phải và Kinh Thánh mô tả rằng: Thời các quan xét Lời Chúa lấy làm hiếm hoi.
    Chính vì Chúa không phán, họ không còn được nghe Lời Chúa nữa cho nên họ đi theo ý của mình, họ tưởng ý mình là ý Chúa.

    Minh họa: Ngày nay Kinh Thánh nhiều hơn bất cứ thời điểm nào khác, ngày trước cả nhóm mới có một quyển Kinh Thánh, bây giờ Kinh Thánh nhiều nhưng lời Chúa thì thật hiếm hoi. Lời Chúa chẳng được đọc đến, lời Chúa không được tôn trọng, không được tuân giữ. Ai cũng muốn hưởng phước và thấy phước nhưng không ai muốn giữ và làm theo Lời Chúa hết.

    Ai cũng chỉ muốn ăn sữa thôi bằng những lời nói vuốt ve thay vì ăn những đồ ăn đặc, cứng, và rắn. Mãi mãi không lên bậc thành nhân được.
    Chính vì, thiếu vắng Lời Chúa cho nên dân sự phóng tứ, dân sự lấy ý mình là phải, ai theo đường nấy.

    Minh họa: Vào thời của Môi-se Chúa đại dụng Môi-se lãnh đạo dân sự ra khỏi Ai cập trở về Ca-na-an miền xứ đượm sữa và mật. Họ đã có dân, họ đã có của cải, họ đã có đất đai nhưng họ chưa có luật pháp. Chính vì thế, thông qua Môi-se Chúa đã ban cho họ bảng 10 điều răn và nhiều điều luật khác để chỉ dẫn họ cách sống đẹp lòng Chúa và yêu thương nhau trong cộng đồng.

    Tình trạng sa sút, suy đồi của dân sự bị sa ngã là bởi vì họ khinh thường Lời của Chúa, Lời của Chúa không còn được tôn trọng nữa, họ cãi vã, tranh cạnh nhau vì họ không tôn trọng Lời Chúa nữa, họ đấu đá nhau, ghen ghét nhau vì họ không còn tuân giữ làm theo Lời Chúa nữa.

    Chúng ta có thể nói rằng: Ở đây làm gì có tàn phá nhau, cưỡng bức, giết người? nhưng chúng ta nghe sứ đồ Giăng nói rằng: “Ai ghét anh em mình, là kẻ giết người;” (IGiăng 3:15)
    Quả thật tình trạng đâu đâu cũng xảy ra trong Hội Thánh của Chúa là: “ Đâu đâu cũng thấy cãi vã, tranh chấp, cãi cọ.”

    Hội Thánh đánh mất sự hiệp nhất, Hội thánh đánh mất sức mạnh, Hội Thánh bị ngưng lại không phát triển được là bởi vì giữa vòng dân sự của Chúa cãi vã, tranh chấp nhau, chia rẽ nhau.

    Minh họa: Trong Phúc Âm Mác chương 9 câu 34 mô tả, trong khi thầy của họ đi bộ ngàn dặm, chịu khổ cực để giảng Tin Lành cho mọi người, chữa lành, đuổi quỷ, làm nhiều dấu kỳ phép lạ thì các môn đệ của Ngài ngồi lại với nhau để bàn xem ai là lớn nhất trong giữa vòng họ.

    Đây chính là tình trạng chung của Hội Thánh ngày nay, họ thích đứng đầu mà không chịu làm gương, họ thích lãnh đạo mà không thích làm tôi tớ, họ thích chỉ dẫn thay vì học để đầu phục.
    Vì lẽ đó mà sứ đồ Phao lô viết thơ cho người Cô-rinh-tô rằng: Thật, bởi trong anh em có sự ghen ghét và tranh cạnh, anh em há chẳng phải là tánh xác thịt ăn ở như người thế gian sao?” (ICo 3:3)
    Thánh đồ Gia-cơ thì viết: “ Vì ở đâu có những điều ghen tương tranh cạnh ấy, thì ở đó có sự lộn lạo và đủ mọi thứ ác.” ( Gia 3:16  )

    Anh chị em ơi!
    Anh chị em và tôi cần phải có gánh nặng giống như Ha-ba-cúc đã có, chúng ta cần phải buồn rầu, đau đớn, và than khóc cho tình trạng suy đồi của Hội Thánh, sự chia rẽ gây phá hại Hội Thánh, sự bất vâng phục nhau nó tàn phá Hội Thánh.

    Hãy tỉnh thức nhìn lại xem chính mình xem tình trạng của mình đang ở chỗ nào của Lời Chúa.
    Chúng ta có vẻ như chưa than khóc, chưa đau đớn đủ, chưa khóc lóc đủ phải không?
    Chúng ta sẽ làm gì đối với tình trạng cãi vã, tranh chấp, chúng ta phải làm như nhà tiên tri của Chúa đã làm: kêu than, kêu thét, kêu cứu mãi trước mặt Đức Chúa Trời.

    Hai môn đồ trên đường Em-ma-út cũng cãi vã với nhau, Chúa Giê xu cũng hiện ra và giải hòa cho họ bằng Lời của Chúa.
    Xin Chúa cho Hội Thánh sống bao phủ nhau bằng tình yêu của Chúa, xin Chúa khiến chúng ta hiệp lại ngàn người như một để Hội Thánh có sức mạnh mọi bề thắng hơn kẻ thù.

    Và cũng xin Chúa thức tỉnh chúng ta kẻo chúng ta sống dễ dãi, phóng túng trong tội lỗi mà không còn cảm biết đau đớn, cáo trách, lên án nữa.

    II. TÍN THÁC VÀO QUYỀN TỂ TRỊ CỦA CHÚA ( CÂU 5-10)
    Không gì thất vọng hơn, không gì chán trường hơn, nếu chúng ta ở trong hoàn cảnh của tiên tri Ha-ba-cúc chúng ta mới cảm nhận được nỗi thất vọng nặng nề.
    Ông chứng kiến cảnh bạo ngược, tranh cạnh, cãi cọ, và ông đã cư xử, ứng phó với nan đề đó rất đúng đắn bằng cách đó là kêu than, khẩn thiết, kêu thét, kêu cứu mãi tỏ ra sự bền bỉ trước Chúa.

    Nhưng Chúa lại không trả lời cho ông bằng câu giải đáp tích cực nhưng thậm chí còn tệ hại hơn trước rất nhiều.

    Ngài sẽ khiến người Canh-đê dấy lên cách dữ tợn, hung hăng, nó chuyên đi cướp phá, cướp bóc những điều không thuộc về mình. Nó nhanh nhẹn hơn con bao, hung tợn hơn muông sói ban đêm.

    Ha-ba-cúc đã cầu nguyện để cho Chúa tiêu diệt kẻ thù, để dân Chúa được đắc thắng thì Chúa lại dấy lên kẻ thù hung hăng hơn, dữ tợn hơn.

    Khi tác giả cầu nguyện để xã hội có sự công bằng thì lại có sự bao ngược, và kẻ công bình bị ức hiếp, công lý bị bẻ cong.

    Vậy điều đó là nghĩa làm sao?

    Có phải Ngài không nghe lời cầu nguyện của tiên tri Ha-ba-cúc không?

    Minh họa: Trong sách Xuất-ê-díp-tô-ký 14:17 Chúa bảo Ngài sẽ làm cho lòng vua Pha-ra-ôn cùng toàn thể dân Ai-cập ra chai đá. Tại sao Chúa muốn cứu dân của Ngài ra khỏi Ai-cập thì Ngài phải làm cho lòng vua Pha-ra-ôn và dân Ai-cập ra mềm lại chứ, cảm động vua Ai-cập và dân Ai-cập để tha cho dân Chúa đi chứ.

    Ngược lại, đây Chúa lại làm cho lòng người Ai-cập ra chai đá.

    Ngày xưa, người ta dùng cái cảnh diễn tả này để đề cao quyền năng của Đức Chúa Trời, đề cao quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên mọi loài xác thịt. Để nhấn mạn rằng Đức Chúa Trời là Đấng làm chủ mọi sự, đến nỗi chính Ngài làm cho người ta ra chai đá, và ở trong Ha-ba-cúc chính Ngài đã dấy người ta hung tợn hơn muông sói nữa.

    Dù cho dân Canh-đê có hung tợn đến đâu thì cũng không thể nào vượt ra khỏi quyền năng của Đức Chúa Trời được, dù cho dân Canh-đê có nổi lên cướp phá dân của Ngài thì Ngài vẫn cầm quyền tể trị trên mọi sự.

    Ngài luôn luôn làm chủ lịch sử, Chúa có thể dùng những biến cố mà từ góc độ tự nhiên mà ta chỉ thấy là thiệt thòi, là đau khổ cho mình. Nhưng Chúa dùng chính những biến cố ấy để thanh luyện chúng ta, thanh luyện Hội Thánh, thanh luyện dân của Chúa.

    Minh họa: Chúa cho phép những người vào tù để chịu đau khổ, nhưng chính thời gian đó lại là ân điển Chúa ban cho họ, họ đã gặp Chúa trong tù, định hướng lại trong tù. Nhà tù giúp thanh lọc đức tin của chúng ta tinh tuyền hơn.
    Chính Đức Chúa Trời là Chúa của lịch sử Ngài có thể dùng những biến cố đau thương nhất để đem chúng ta trở về với Ngài, và để thanh lọc đức tin của chúng ta tinh tuyền hơn.

    Mỗi lần dân tộc của Chúa lầm đường lạc lối, là Chúa lại dấy lên những dân ngoại bang mạnh sức, cướp phá, và bắt họ làm nô lệ, trong cơn nô lệ, cùng quẫn đó họ kêu cầu cùng Chúa và Chúa giải cứu họ. Chúa sẽ dùng những biến cố mà theo góc độ tự nhiên chúng ta khó chấp nhận để thanh luyện đức tin của chúng ta.
    Cho nên, nếu chúng ta nghĩ theo chiều hướng này thì thay vì tuyệt vọng thì chúng ta thấy rất tích cực,

    Nếu Ngài không cho phép họ dấy lên thì họ không làm gì được, dù cho Sa-tan có mạnh sức đến mấy thì cũng không thể sánh được với quyền năng của Đức Chúa Trời, Ngài cho phép nó đụng vào Gióp thì nó mới đụng được. Quyền tể trị và quyền năng của Chúa vượt trên mọi quyền bính của loài người.

    Minh họa: Có những lúc chúng ta cầu nguyện Chúa tiêu diệt kẻ ác thì kẻ ác nó lại được bình an, nhưng mà chắc chắn sẽ đến kỳ Chúa thăm phạt kẻ ác. Nhưng kỳ thăm phạt của Ngài sẽ không phụ thuộc vào sự suy nghĩ của chúng ta.

    Trong hoàn cảnh của tiên tri Ha-ba-cúc chúng ta thiết tưởng Chúa quên chúng ta, Ngài không nghe lời kêu van của chúng ta nữa, Ngài bỏ chúng ta rồi, nhưng hãy nhớ Đức Chúa Trời vẫn đang cai trị, Ngài sẽ phán xét kẻ ác theo ngày giờ Ngài đã định.

    Tại sao kẻ ác được thành công và hưng thịnh đó là tác giả trong sách Thi-thiên đã hỏi.




  • Xe đạp pháp cổ

    Xe đạp pháp cổ




  • KINH NGHIỆM CHÚA TRONG SA MẠC CUỘC ĐỜI

    KINH NGHIỆM CHÚA TRONG SA MẠC CUỘC ĐỜI

    KINH NGHIỆM CHÚA TRONG SA MẠC CUỘC ĐỜI

    KINH THÁNH: XUẤT-Ê-DÍP-TÔ 15-17

    LỜI CHÀO:
    NHẬP ĐỀ:
    Trong Kinh Thánh nói rất nhiều đến Sa mạc, và rất nhiều cuộc đời đã kinh nghiệm, gặp gỡ Chúa ngay trong sa mạc, trong chúng ta ngồi đây buổi sáng hôm nay, chúng ta có những người có rất nhiều sa mạc trong cuộc đời, thậm chí có những người cũng đang phải sống trong những cuộc hành trình trong sa mạc dài ngày của mình.

    Minh họa: Như phải chịu đựng sự bắt bớ của người thân, có những người đang phải sống trong những sa mạc bệnh tật, có những người thì cảm nhận tâm linh của mình đang khô cằn như những sa mạc, những người khác thì cảm nhận mình thiếu những chim cút và ma na trong cuộc đời.
    Như vậy, nếu chúng ta để tâm hồn lắng đọng, yên lặng để nhìn lại và nhìn vào sâu bên trong chính cuộc đời của mình thì quả thật không ai là không có những sa mạc trong cuộc đời của mình.
    Điều quan trọng là, khi chúng ta phải sống trong sa mạc và đối diện với những sa mạc của cuộc đời, chúng ta sẽ sống ra sao? Và liệu ở trong chỗ khó khăn, khô cằn đó chúng ta có còn tin vào một Đức Chúa Trời yêu thương và thành tín đang quan phòng, tể trị hay không?
    Buổi sáng hôm nay, sứ đồ Phao lô bảo rằng: Chúng ta hãy nhìn vào một dân tộc, một cuộc hành trình dài 40 năm của Y-sơ-ra-ên để rút ra những bài học cho chính đời sống của chúng ta.

    I/. KINH NGHIỆM SA MẠC ( 15:22 – 18:27)
    Xuất-ê-díp-tô từ chương 15 đến cuối chương 18, Trước hết, chúng ta nói đến kinh nghiệm của dân Y-sơ-ra-ên được Đức Chúa Trời là Đấng mạnh sức đưa bàn tay giải thoát ra khỏi ách nô lệ của người Ai-cập.

    Nhưng không phải là họ được giải thoát ra khỏi Ai-cập là đã được đặt chân ngay vào đất hứa mà họ phải trải qua một cuộc hành trình rất lâu dài là 40 năm trước khi được đặt chân vào đất hứa.
    Dân Y-sơ-ra-ên phải trải qua một hành trình rất dài lâu trong sa mạc, và trong hành trình sa mạc đó, họ đã được Chúa cho kinh nghiệm về những thử thách, khó khăn.
    Và điều họ cảm nghiệm và nếm trải kinh nghiệm được về một Đức Chúa Trời vĩ đại, toàn năng đã giải thoát họ ra khỏi bàn tay dũng mãnh là Ai cập, biến cố ấy in đậm, là dấu ấn khó phai nhòa trong ký ức của toàn thể dân Chúa. Nhưng vừa mới thoát khỏi bàn tay của người Ai cập thì dân của Chúa lại phải đối diện và phải bước vào một sa mạc đầy thử thách.

    Giờ đây biến cố Ma-ra tại vùng đất này dân của Chúa phải gặp cái tình cảnh thiếu thốn về lương thực và nước uống và họ phải đối diện cả với kẻ thù rất mạnh là dân A-ma-léc.
    Cái khó khăn đầu tiên mà họ gặp phải là:

    Nước uống, không phải chỉ có vài người, vài gia đình thiếu mà lúc đó cả một đoàn dân đông hơn ba triệu người người già đàn bà con nít, bò lừa chiên theo sau. Chúng ta thử tượng tượng xem đây là một nan đề cấp bách và quan trọng lắm.
    Họ đi gặp một cái dòng nước, nhưng nước đó đắng không thể uống được. Cho nên dân đã oán than, càm giàm.
    Môi se lúc này đã kêu cầu Đức Chúa Trời giúp đỡ, Chúa bảo Môi se hãy dùng cây gậy của ông để lên dòng sông thì dòng sông thành nước ngọt.
    Cái biến cố này khẳng định cho dân Chúa về một Đức Chúa Trời luôn hiện diện, Ngài đã giải thoát họ nhưng không phải Ngài bỏ mặc họ nhưng Ngài đã hiện diện và ở cùng họ, cứu giúp họ ra khỏi khốn cùng này.

    Kế đến dân của Chúa đi và lại gặp một biến cố khác là thiếu lương thực,
    Trong chỗ mà dân sự của Chúa nhận ra rằng: giữa lúc mình không còn gì để ăn thì có một phép lạ xảy ra đó là chim cút, trong mùa đó tràn về đất Sinai, và họ dễ dàng bắt lấy để làm lương thực.

    Minh họa: Về mặt khoa học người ta giải thích rằng: Cái đàn chim cút này vào mùa xuân nó bay qua phía Châu Âu nhưng vào mùa thu nó bay trở về lại đất Pa-les-tin là bán đảo Si nai. Thì chúng bay một hành trình rất là dài xuyên qua địa Trung Hải.
    Trong cái cuộc trở về vào mùa thu ấy băng qua đại dương ngàn trùng sóng nước, chúng dễ dàng kiệt sức, chúng đáp xuống ngay bờ biển địa Trung Hải và vì thể mà dân  dễ dàng bắt được làm đồ ăn.

    Minh họa: Có con là do uống thuốc AM UÂY, còn Thánh Kinh thì bảo rằng: Con cái là tài sản, là cơ nghiệp do Đức Giê hô va ban tặng.

    Khi chúng ta thành công về việc gì là chúng ta thường cho mình là xứng đáng, là khôn ngoan, là bắt kịp thời đại, vvv.
    Nhưng Lời Chúa trong sách Thi-thiên vua Đa vít bảo rằng: “ Nếu Đức Giê-hô-va không cất nhà, Thì những thợ xây cất làm uổng công. Nhược bằngĐức Giê-hô-va không coi giữ thành, Thì người canh thức canh luống công”

    Nhưng thực ra đây chính là phép lạ mà Đức Chúa Trời thực hiện, qua biến cố này Ngài muốn minh định cho dân của Chúa biết rằng: Ngài giống như một người mẹ hằng chăm sóc, dưỡng nuôi, lo lắng cho con cái có lương thực nuôi đàn con bé nhỏ của mình. Ngài là Đấng thành tín yêu thương và đầy sự thương xót.

    Minh họa: Ma-thi-ơ “ Đừng lo lắng ăn gì uống gì, mặc gì vì Cha trên trờivẫn hằng chăm sóc và giữ gìn, tiếp trợ cho các con cái của Ngài. Ngài không chỉ nuôi dưỡng chúng ta về phương diện vật chất mà thôi, nhưng Ngài nuôi dưỡng chính cả đời sống đức tin của chúng ta nữa. Vì lúc chúng ta kinh nghiệm được Chúa là Đấng giải thoát, Ngài cũng là một người mẹ nuôi nấng chúng ta, bảo bọc chúng ta thì đức tin của chúng ta trở nên mạnh mẽ hơn.

    Trong sách Tin Mừng Ma-thi-ơ Mat 23:37 Chúa đã phán rằng:  bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!
    Chúa là Đấng sắm sẵn cho Áp-ra-ham, cho Ê-li, cho người đàn bà góa Sa-rép-ta trong ngày đói kém. Và Chúa là Đức Chúa Trời vẫn y nguyên, trong Ngài không có bóng của sự biến cải.

    Minh họa: Đói, Khát, Sự đe dọa kẻ thù,
    Lúc này tự do không có quan trọng, mà quan trọng là có bánh ăn,
    Thiên đàng không có quan trọng, miễn là giàu có là đủ rồi.
    Tự do không quan trọng cho bằng có nước uống.
    Đây chính là điều mà Sa-tan nó đã cám dỗ Chúa Giê xu suốt 40 ngày đêm trong sa mạc.
    Nó cũng cám dỗ, về bánh đồ ăn, giàu có, quyền lực.
    Nhưng chúng ta thấy Chúa Giê xu đã chiến thắng cám dỗ bằng cách nói rằng: người ta sống chẳng
    Và những khó khăn này không chỉ dừng lại ở mức độ vật chất nhưng còn dẫn đến những thử thách cho chính đức tin: “Có Đức Chúa ở giữa chúng ta hay không?” (Xuất 17:7).
    Khi mà người ta đói, người ta khát, người ta khổ sở, người bệnh tật, thất bại thì thường người ta đặt câu hỏi rằng: “Có Đức Chúa ở với chúng ta không?”

    Minh họa: Gióp có nghĩa là Đức Chúa Trời ở đâu? Đức Chúa Trời ở đâu khi nhà cửa tôi sập? Đức Chúa Trời ở đâu khi con cái tôi chết hết? Đức Chúa Trời ở đâu khi mà bò lừa, chiên cùng tôi tớ đều bị cướp hết?

    Thế chúng ta bình tâm suy xét lòng mình xem: có bao giờ tôi và anh chị em đặt cái câu hỏi như thế hay không? “Có Đức Chúa ở với chúng ta không?” Đức Chúa Trời ở đâu? Đức Chúa Trời có ở trong cuộc đời của tôi không?Có chứ, chúng ta phải chân thành thừa nhận rằng có nhiều lần trong đời chúng ta đặt câu hỏi như vậy phải không?

    Chúa ở đâu khi tôi phải sống trong màn trời chiếu đất, Chúa ở đâu khi tôi phải ở trong thử thách, thiếu thốn, đau khổ mà mình cầu xin mãi từ ngày này qua ngày khác mà chẳng thấy Chúa nhận lời mình gì cả.

    Tác giả Thi-thiên Thi 63:7   7 Vì Chúa đã giúp đỡ tôi, dưới bóng cánh của Chúa tôi sẽ mừng rỡ.

    Thi-thiên 57:1 đã thốt lên rằng: Phải, tôi nương náu mình dưới bóng cánhcủa Chúa,Cho đến chừng tai họa đã quaThi 125:2   2 Các núi vây quanh Giê-ru-sa-lem thể nào,
    Đức Giê-hô-va vây phủ dân sự Ngài thể ấy,
    Từ rày cho đến đời đời.

    Rồi sang đến chương 17 họ phải đối diện với kẻ thù mạnh là dân A-ma-léc những kẻ chuyên sống ở sa mạc và cướp bóc, họ không có vũ khí, có tấc sắt trong tay của mình, họ cảm thấy yếu đuối nhưng cuối cùng dân Y-sơ-ra-ên vẫn chiến thắng, vì họ có một Đức Chúa Trời vĩ đại bênh đỡ họ, tiếp sức và chiến đấu cho họ

    Lại một lần nữa họ tiếp tục kinh nghiệm được Đức Chúa Trời Đấng đang quan phòng, bảo vệ và Ngài cũng là Đức Chúa Trời của chiến trận nữa. Và đồng thời Ngài cũng là một người mẹ hằng chăm sóc, dưỡng nuôi, lo lắng cho con cái có lương thực.

    Đây không phải là bài học dành cho dân Y-sơ-ra-ên mà thôi, không chỉ là bài học của Cựu Ước mà thôi mà chính là bài học cho mỗi đời sống của chúng ta ngày hôm nay.
    Chúng ta cũng hãy tiếp tục sống và tin cậy vào một Đức Chúa Trời luôn quan phòng, hiện diện, nuôi dưỡng chúng ta vào trong Con Một của Đức Chúa Trời là Đức Chúa Giê xu Christ.

    Chúng ta đọc Cựu Ước qua cái nhìn và sự soi sáng của Thánh Kinh Tân Ước, Chúa Giê xu là Môi se mới, Ngài là trung tâm của lịch sử nhân loại , qua Ngài ta gặp được một Đức Chúa Trời luôn luôn giải thoát.

    Ngài giải thoát không chỉ cho dân mà Ngài đã tuyển chọn mà Ngài giải thoát mỗi đời sống của chúng ta.

    Con người chúng ta không chỉ bị  làm nô lệ cho văn hóa, chính trị, tập tục, tín ngưỡng, lề luật, thói đời và dục vọng mà đặc biệt Chúa Giê xu là Môi se mới giải thoát chúng ta ra xiềng xích của tội lỗi, bóng tối. Đó là cái nô lệ sâu xa nhất, đó là con đường dẫn người ta vào ngõ cụt.

    Ngài là thủ lãnh của một giao ước mới, thủ lãnh này không giống như một Đức Chúa Trời mạnh mẽ dùng sức mạnh, vũ khí để trấn áp kẻ đe dọa, nhưng chúng ta phải nhìn nhận Đức Chúa Trời Ngài là một Đấng toàn năng, mạnh mẽ nhưng tỏ lộ qua sự yếu đuối qua việc nhập thể làm một con người và sống giữa chúng ta.

    Chính người Con một của Ngài đã chiến thắng trên thập tự giá bởi tình yêu, Ngài không chiến thắng bằng sức mạnh trấn áp mà Ngài đã dùng sức mạnh của tình yêu để chiến thắng.
    Không phải chỉ có dân Y sơ ra ên phải đối diện với những biến cố trong Cựu ước mà thôi, mà chính đời sống mỗi chúng ta cũng đang phải sống trong những sa mạc và với những biến cố trong sa mạc đau thương này.

    Chúa Giê xu cũng phải chịu những sa mạc rất đau đớn khi Ngài bị treo trên thập tự giá, thử hỏi trong cuộc đời này có ai bị thử thách mà lớn hơn đau đớn mà Chúa Giê xu Ngài chịu không?

    Chúa Giê xu đã bị đánh đòn suốt đêm rồi lại phải vác cây gỗ đi từ thành phố lên đồi gô gô tha.
    Có một nhà giải kinh đã nói rằng: người ta đã không đóng đinh vào tay của Chúa Giê xu mà người ta đã đóng ở cổ tay, mới chịu được sức nặng của cả thân thể.
    Chúa Giê xu Ngài kêu lên: Cha ôi sao Ngài lìa bỏ con, đây là một sự thử thách rất lớn. Cho nên giữa thánh giá và sa mạc có một mối quan hệ mật thiết.
    Phi-líp 2:5-11 cái ý nghĩa và chiều sâu của thập tự giá là: Câu 7.
    “ nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhânsống như người trần thế.”
    Dịch sát là: Ngài đã hủy mình ra không. Ngài đã hủy mình bắt đầu từ lúc Ngài giáng sinh nhập thể rồi, nhưng thập giá là đỉnh cao của Đức Chúa Trời hủy mình ra không.

    Hãy nhớ lại lời Chúa Giê xu kêu gọi rằng: “Nếu ai muốn theo ta, phải tự bỏ mình đi, mỗi ngày vác thập tự giá mình mà theo ta.” (Lu 9:23 )
    Ngày hôm nay Chúa không mời gọi chúng ta vác cây gỗ đi dọc thành phố, cũng không phải do chúng ta đeo thập tự và làm dấu thánh giá thì người ta nhận biết chúng ta có Chúa đâu.
    Nhưng đòi hỏi ở câu này là: phải tự bỏ mình đi. Và không có cái gì khó cho bằng việc bỏ mình, khó lắm, nhiều khi chúng ta bỏ của cải, bỏ gia sản được nhưng bỏ mình thì không bỏ được.
    Đây chính là kinh nghiệm sa mạc sâu xa nhất, vào trong sa mạc sống với Chúa thôi chứ có sống với ai đâu? Vì trong sa mạc chỉ có mênh mông là cát trắng thôi chứ làm gì có người ở đó, vào trong sa mạc là sống với Chúa, sống nhờ Chúa và sống cho Chúa thôi.

    Tập sống từ bỏ mình ngay trong gia đình và trong mối quan hệ giữa người với người.

    Đức Giáo Hoàng Pi-Ô thứ 12 có nói: Gia đình nào mà người chồng không còn nghĩ đến mình nữa mà chỉ nghĩ đến vợ và các con, vợ cũng không chỉ nghĩ đến mình nữa mà chỉ nghĩ đến chồng và các con, con không nghĩ đến mình nữa mà nghĩ đến bố mẹ và các anh chị em trong gia đình thì gia đình ấy là thiên đàng.
    Chúng ta được kêu gọi để tự bỏ mình trong đời sống cá nhân cũng như trong Hội Thánh và gia đình của chúng ta.

    Cái kinh nghiệm sa mạc nó đưa mình và giúp mình nhận thấy mình ra không mà thôi, không có gì và không là gì cả và tại chỗ đó chúng ta thấy được Chúa là tất cả.

    Trong giây phút này, mỗi anh chị em và tôi hồi tưởng lại cái lịch sử đời mình, lịch sử của gia đình mình. Hồi tưởng lại những cuộc hành trình của đời sống mình, hồi tưởng lại những biến cố trong đời sống cá nhân, gia đình và Hội Thánh. Cũng nhận ra một kinh nghiệm tương tự như dân Chúa thời Cựu Ước.
    Đức Chúa Trời là Đấng quan phòng, nuôi dưỡng, hiện diện với lịch sử đời mình, lịch sử gia đình mình.
    Cuối năm chúng ta hãy dành một thì giờ khoảng lặng để nhận ra bàn tay của Đức Chúa Trời đã dẫn dắt, bàn tay giải thoát của Ngài, bàn tay chăm sóc của Ngài trong đời sống của mình. Chúa đã ra tay, trong những lúc hết sức khó khăn trong gia đình mình.
    Lòng kề lòng với Chúa, lắng nghe Chúa, học Lời Chúa, ở trong sự hiện diện của Chúa để nhớ đến sự thành tín của Chúa.

    Nhiều lúc có những biến cố xảy khó khăn, đói kém, khổ đau xảy ra liên tục mà sao đến bây giờ tôi không ngã quỵ, tại sao không bị đè bẹp, không bị tuyệt vọng mà vẫn trung tín trong niềm tin với Chúa.
    Có bao nhiêu những món quà, có bao nhiêu những ân nhân, có bao nhiều người đã chia sẻ cho cơm ăn áo mặc đó là nhớ đến những biến cố nhỏ, thấy được bàn tay của Chúa dìu dắt.
    Nhìn rộng hơn, nhìn vào Hội Thánh có bao nhiêu những khó khăn, biến cố đau thương xảy ra trong Hội Thánh nhưng tại sao Hội Thánh vẫn tồn tại, tại sao vẫn đứng vững, tại sao vẫn phát triển. Vì Chúa Giê xu là thủ lãnh Ngài bảo vệ và phán rằng: Chẳng một kẻ thù nào thắng được Hội Thánh của Chúa Giê xu.

    Kết luận:
    Kinh nghiệm sa mạc của Dân Chúa trong Cựu Ước cũng giúp ta nhìn lại đời sống Cơ Đốc nhân của mình trong ánh sáng mới. Trở thành Cơ Đốc nhân là bước vào một hành trình dài trong đó chúng ta phải đối diện với rất nhiều cám dỗ và thử thách, hi sinh và từ bỏ. Như Dân Chúa ngày xưa, nhiều lần ta cảm thấy mệt mỏi, muốn bỏ cuộc và quay về nếp sống cũ. Tuy nhiên Tập đón nhận những biến cố đau buồn để Chúa dạy dỗ, thanh lọc đức tin và đời sống chúng ta để mỗi ngày chúng ta càng giống Chúa Giê xu càng hơn.
  • PAGEVIEWS

    Labels

    WHAT WE DO

    We've been developing corporate tailored services for clients for 30 years.

    CONTACT US

    For enquiries you can contact us in several different ways. Contact details are below.

    GIA ĐÌNH GIEO GIỐNG

    • Street :Road Street 00
    • Person :Person
    • Phone :+045 123 755 755
    • Country :POLAND
    • Email :contact@heaven.com

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua.

    Lorem ipsum dolor sit amet, consectetur adipisicing elit, sed do eiusmod tempor incididunt ut labore et dolore magna aliqua. Ut enim ad minim veniam, quis nostrud exercitation.