• SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH TRONG NGÀY SAU RỐT

    SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH TRONG NGÀY SAU RỐT


    Đề tài: SỨ MẠNG CỦA HỘI THÁNH TRONG NGÀY SAU RỐT
    Kinh-thánh: A-mốt 8:11-12;

    Nhập đề:
    Một con tàu trong khi hành trình cần phải biết phương hướng để xác định tọa độ để đi đến, một người lên đi trong rừng cần phải biết phương hướng, nếu không sẽ càng ngày bị lạc mất mà thôi.

    La bàn, hoặc bản đồ là điều không thể thiếu được đối với người hành hương.

    Hội-thánh cũng giống như con tàu cần phải biết phương hướng của mình. Hội-thánh ở thế gian mà không biết phải làm gì, không biết phải hướng về đâu, không biết khải tượng là gì thì Hội-thánh đó chỉ tồn tại mà không có sự phát triển.

    Để đời sống của mỗi chúng ta không bị lạc mất giữa dòng đời, để Hội-thánh của Chúa biết phải làm gì khi còn ở thế gian thì Chúa đã để lại cho chúng ta một La-bàn hoặc một bản đồ để biết đường đi và biết được phương hướng cần đến.

    Có 4 điều mà Hội-thánh đang sống trong ngày sau cùng, cuối rốt cần làm và cần có phương hướng đó là:

    I.                   HỘI THÁNH ĐÓI KHÁT NGHE LỜI CHÚA
    “ Chúa Giêhôva phán : Nầy , những ngày sẽ đến, là khi ta khiến sự đói kém đến trong đất, chẳng phải là đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, bèn là về nghe lời của Đức Giêhôva - Bấy giờ chúng nó sẽ đi dông dài từ biển nầy đến biển khác, từ phương bắc đến phương đông; chạy đi đây đi đó đặng tìm lời Đức Giêhôva mà không tìm được”  ( Amốt 8 : 11 – 12 )

    Minh họa: Ngày 10 tháng 3 năm 1876 được coi là mốc son đánh dấu sự ra đời của điện thoại. Cha đẻ của chiếc điện thoại đầu tiên là Alexander Graham Bell. Chiếc máy thô sơ có thể truyền được giọng nói này đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới trong lịch sử thông tin liên lạc, thay thế cho điện tínNăm 1967, chiếc điện thoại được coi là "di động" đầu tiên trình làng với tên gọi Carry Phone, rất cồng kềnh cho việc di chuyển vì nó nặng đến 4,5 kg.

    Điện thoại di động chính thức ra đời vào ngày 3 tháng 4 năm 1973, mang tên Motorola Dyna Tac, phát minh bởi nhà sáng chế Martin Cooper. Motorola Dyna Tac  khá cồng kềnh (nặng khoảng 1 kg) và không phổ biến.

    Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động phát triển không ngừng phát triển theo hướng nhỏ gọn hơn rất nhiều tổ tiên của nó và ngày càng được tích hợp nhiều chức năng hơn chứ không còn đơn thuần là nghe và gọi.
    Mục đích chính của chiếc điện thoại không phải là xem phim, nghe nhạc, nhắn tin, chụp ảnh. Mục đích chính của điện thoại là để NGHE.


    Tiên tri A-mốt bảo rằng: Nầy, ngày sẽ đến tức là những ngày cuối rốt. Đức Chúa Trời sẽ khiến sự đói kém xảy ra trên đất. Điều này cũng được Chúa Giê-xu nhắc đến trong Ma-thi-ơ  24: 7: “ Sẽ có đói kém và động đất”

    Minh họa: Trong xã hội mà chúng ta đang sống, cảm tạ ơn Chúa cho chúng ta có cái ăn cái mặc và sống trong sự bình an. Nhưng trên thế giới còn có hàng triệu người vẫn chết đói, chết khát.

    Theo thông tin của Bread For The World, năm 2010, có 925 triệu người thiếu ăn trên thế giới, trong đó có 16 ngàn trẻ em chết vì thiếu ăn và dinh dưỡng. Nạn khủng hoảng kinh tế năm 2009-2010, khiến 100-150 triệu người trở nên nghèo khó.

    Kinh Thánh nói tiên tri trước về sự sụp đổ kinh tế toàn cầu như sau: Các nhà buôn trên đất cũng vì nó khóc lóc rầu rĩ, vì không ai mua hàng hóa mình nữa: 12 Hàng hóa là vàng, bạc, ngọc, châu, vải gai mịn, màu tía, lụa, màu điều; các hạng gỗ thơm; các thức đồ bằng ngà voi, bằng gỗ quí, bằng đồng, bằng sắt, bằng đá hoa; 13 nhục quế, sa nhân, hương, dầu thơm, nhũ hương, rượu, dầu, bột mì mịn, lúa mì, bò, cừu, ngựa, xe, tôi mọi và linh hồn người ta nữa.14 Các thứ trái mà lòng ngươi mơ ước đó đã mất đi rồi, mọi sự rực rỡ sang trọng đó cũng đã hư mất khỏi ngươi; người ta sẽ không hề tìm thấy nữa. 15 Các nhà buôn đó đã nhờ Ba-by-lôn làm nên giàu, sẽ đứng cách xa, vì e phải chia khổ cùng nó; họ sẽ than khóc và buồn rầu, mà rằng: 16 Khốn thay! Khốn thay! Thành lớn kia, đã từng mặc vải gai mịn, màu tía và màu điều, rực rỡ những vàng ngọc cùng hột châu! Trong một giờ, sự giàu có sang trọng dường bao đã biến mất hết!” (Khải huyền 18:11,17).


    Theo như Kinh Thánh cho biết chỉ trong một giờ sẽ có rất nhiều người trên thế giới phá sản. Ở đây chúng ta thấy không phải chỉ thương gia phá sản mà nhiều quốc gia đang mắc nợ họ đang trên đường tuyên bố phá sản.

    Nhưng tiên tri A-mốt nói sẽ có nạn đói xảy ra không phải trên bình diện kinh-tế hoặc nạn đói về thực phẩm và nước uống thôi đâu. Mà tiên tri A-mốt bảo rằng trong những ngày sau rốt, Đức Chúa Trời sẽ khiến người ta chẳng phải đói vì bánh hoặc khát vì nước mà vì bởi NGHE Lời của Đức Chúa Trời.

    “Chúa Giê-hô-va phán: Nầy, những ngày sẽ đến, là khi ta khiến sự đói kém đến trong đất, chẳng phải là đói về bánh, cũng chẳng phải khát về nước, bèn là về nghe lời của Đức Giê-hô-va12 Bấy giờ chúng nó sẽ đi dông dài từ biển nầy đến biển khác, từ phương bắc đến phương đông; chạy đi đây đi đó đặng tìm lời Đức Giê-hô-va mà không tìm được.” ( A-mốt 8:11-12)

    Tiên-tri A-mốt không nói là đói khát Kinh-thánh mà là đói khátNGHE Lời Chúa.

    Thế giới không thiếu Kinh-thánh, vì Kinh-thánh vốn được bán chạy nhất thế giới, nhanh nhất và cũng như là nhiều nhất thế giới. Chạy nhất, nhanh nhất và nhiều nhất. Nhưng thế giới không thiếu Kinh-thánh nhưng thế giới thiếu việc NGHE Lời Chúa.

    Minh họa: Trong nhà hoặc gia đình của quý vị có thể có rất nhiều Kinh-thánh nhưng vẫn bị đói Lời của Đức Chúa Trời. Kinh-thánh có rất nhiều nhưng không hiểu gì về Đức Chúa Trời và ý muốn của Ngài cả.

    Nhiều lần chúng ta đọc Kinh-thánh mà chẳng hiểu gì cả, soạn bài mà chẳng hiểu gì cả, chẳng có sự soi sáng nào từ Chúa cả. Trong khi Chúa đã ban Đức Thánh Linh xuống cho con cái Ngài để dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật. Vậy mà tình trạng nghèo thiếu, rách rưới, khổ sở và cùng cực, đùi mù thuộc linh diễn ra trong tấm lòng của con dân Ngài.

    Tại sao vậy? Điều này, Chúa Giê-xu đã giải thích trong Phúc-âm Ma-thi-ơ 13: 13-14 “ vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết. 14 Vậy, về họ, đã được ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai rằng: Các ngươi sẽ lắng tai nghe, mà chẳng hiểu chi; Lấy mắt xem mà chẳng thấy chi. 15 Vì lòng dân nầy đã cứng cỏi; Đã làm cho nặng tai Và nhắm mắt mình lại.”

    Chữ “ cứng cỏi” ở đây có nghĩa là: tấm lòng người đó bị chai lì, ương ngạnh, không chịu đầu phục, giống như một cái ống bị vít đặc không có chỗ nào để Thánh Linh vẫn hành, soi dọi nữa.

    Minh họa: Người gieo giống và hạt giống
    Mat-thi-ơ 13: 13-16 “13 Vậy nên ta phán thí dụ cùng chúng; vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe, và không hiểu chi hết. 14 Vậy, về họ, đã được ứng nghiệm lời tiên tri của Ê-sai rằng:
    Các ngươi sẽ lóng tai nghe, mà chẳng hiểu chi;
    Lấy mắt xem mà chẳng thấy chi.
    15 Vì lòng dân nầy đã cứng cỏi;
    Đã làm cho nặng tai
    Và nhắm mắt mình lại,
    E khi mắt mình thấy được,
    Tai mình nghe được,
    Lòng mình hiểu được,
    Họ tự hối cải lại,
    Và ta chữa họ được lành chăng. [†] EsIs 6:9,10
    16 Nhưng phước cho mắt các ngươi vì thấy được; phước cho tai các ngươi, vì nghe được!”

    Trong thời kỳ của A-mốt họ khinh lờn Lời của Chúa.
    Họ cảm thấy thờ ơ, lãnh đạm đối với Lời của Chúa, xem thường Lời của Chúa. Dân sự không cảm thấy đói khát về lời Đức Chúa Trời khi các nhà tiên tri như A-mốt đem nó đến.

    Do thái độ lãnh đạm của họ, Đức Chúa Trời phán Ngài sẽ cất khỏi họ cơ hội được nghe lời Ngài.

    Sứ đồ Phao-lô nhắn nhủ với I Ti-mô-thê 4:4 “Vì sẽ có một thời kia, người ta không chịu nghe đạo lành; nhưng vì họ ham nghe những lời êm tai, theo tư dục mà nhóm họp các giáo sư xung quanh mình,bịt tai không nghe lẽ thật, mà xây hướng về chuyện huyễn.”

    Thời kỳ mà sứ đồ Phao-lô bảo rằng: người ta ham nghe những lời êm tai, bịt tai không nghe lẽ thật mà hướng về chuyện huyễn chính là thời kỳ mà chúng ta đang sống đây.
    Có phải chúng ta thích nghe những lời nịnh lọt hơn là lời quở trách, có phải chúng ta thích ngồi lê nói chuyện huyễn hơn là ngồi lại chia sẻ Lời Chúa phải không? Đây chính là điều sứ đồ Phao-lô cảnh cáo chúng ta.

    Tại sao trong ngày sau rốt, người ta sẽ đói khát việc NGHE Lời Đức Chúa Trời? Vì Ngài sẽ không phán bảo bất cứ điều gì nữa.


    Minh họa: Anh chị em biết rằng chúng ta có bộ sách Kinh-thánh Cựu Ước và Tân Ước. Trong Cựu Ước chúng ta có một sách gọi là sách Ma-la-chi đây là sách cuối cùng của bộ Kinh-thánh Cựu Ước. Và sang đến đầu Tân Ước chúng ta có sách Ma-thi-ơ.

    Thì khoảng thời gian giữa sách Ma-la-chi cho đến sách Ma-thi-ơ là một khoảng thời kéo dài suốt 400 năm. Người ta gọi là 400 năm yên lặng của Đức Chúa Trời. Trong thời gian này, Đức Chúa Trời không dùng bất cứ một tiên tri nào để nói tiên tri hoặc viết lên một sách nào cả.

    Minh họa: “ Nhưng khi Sau-lơ thấy trại quân Phi-li-tin, thì sợ và lòng rung động lắm. Người cầu vấn Đức Giê-hô-va; song Đức Giê-hô-va không đáp lời, hoặc bằng chiêm bao, hoặc bằng u-rim, hay là bởi các đấng tiên tri. Sau-lơ nói cùng các tôi tớ mình rằng: Hãy kiếm cho ta một người đàn bà biết cầu vong; ta sẽ đi đến người mà cầu vấn. Các tôi tớ thưa rằng: Tại Ên-đô-rơ có một người đàn bà cầu vong, Sau-lơ giả dạng mặc những áo khác, đi đem theo hai người, rồi đến nhà người đàn bà nầy lúc ban đêm.” ( I Sa-mu-ên 28:6-8)


    “Chúng nó sẽ tìm sự hiện thấy nơi kẻ tiên tri; nhưng luật pháp lìa khỏi thầy tế lễ, trí mưu lìa khỏi các trưởng lão.” ( Ê-xê-chi-ên 7:26b)
    -         tiên tri
    -         thầy tế lễ
    -         trưởng lão
    Cả 3 hạng người này đại diện cho dân Chúa để làm trung gian giữa Đức Chúa Trời và dân sự.
    Nhiệm vụ của tiên tri là:
    Từ “tiên tri” (prophet) bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (“προφήτης” có nghĩa là “tiên đoán”), mang ý nghĩa chỉ những người phát ngôn thay mặt một người khác. Theo truyền thống của các Kitô hữu Do Thái (Judaeo-Christian), “người khác” ấy chính là Thiên Chúa. Như vậy, tiên tri là những người nói nhân danh Thiên Chúa. Họ có đặc sủng nhìn thấy những viễn ảnh qua sự linh hứng của Thiên Chúa và phần lớn quy chiếu vào hiện tại. Xa hơn nữa, họ nói về những diễn biến hành động trong hiện tại nhưng hướng đến tương lai.
    Đúng hơn: “Tiên tri là người cảnh báo, chứ không phải là người tiên đoán tương lai”
    Nhiệm vụ của thầy tế lễ là:
    “Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức thầy tế lễ nhà vua, là dân thánh, là dân thuộc về Đức Chúa Trời, hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài” (I Phi-e-rơ 2:9)
    Quay lại với Tân Ước, chúng ta khám phá ra rằng chức vụ tế lễ là đặc quyền của mọi tín đồ thật (IPhi 2:5, 9). Như vậy, chúng ta có đặc quyền vinh hiển được đến gần Đức Chúa Trời qua thầy tế lễ thượng phẩm là Đức Chúa Jesus Christ.

    Việc đến gần Đức Chúa Trời của các tín đồ được Kinh Thánh nói rõ trong Hêb 10:19-22

    "Hỡi anh em, vì chúng ta nhờ huyết Đức Chúa Jêsus, được dạn dĩ vào nơi rất thánh, bởi đường mới và sống mà Ngài đã mở ngang qua cái màn, nghĩa là ngang qua xác Ngài, lại vì chúng ta có một thầy tế lễ lớn đã lập lên cai trị nhà Đức Chúa Trời, nên chúng ta hãy lấy lòng thành thật, với đức tin đầy dẫy trọn vẹn, lòng được tưới sạch khỏi lương tâm xấu, thân thể rửa bằng nước trong mà đến gần Chúa ".

    Trong thời đại của chúng ta, một số giáo phái Cơ đốc cho rằng chỉ những người lãnh đạo mới là thầy tế lễ. Điều này không được Kinh Thánh Tân Ước ủng hộ và hoàn toàn trái ngược với nguyên tắc căn bản của sự mặc khải Tân Ước về Hội Thánh.

    Bạn hãy suy gẫm những lời được chép trong IPhi 2:5, 9 "Anh em cũng. .. làm chức tế lễ thánh, dâng của lễ thiên liêng, nhờ Đức Chúa Jêsus Christ mà đẹp ý Đức Chúa Trời. .. Nhưng anh em là dòng giống được lựa chọn, là chức tế lễ nhà vua, là dân thánh,. .. hầu cho anh em rao giảng nhơn đức của Đấng đã gọi anh em ra khỏi sự tối tăm, đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài ".

    Đây là đặc ân cao nhất trong kinh nghiệm Cơ đốc của chúng ta. Chúng ta được vào trong nơi chí thánh, vào trong chính nơi hiện diện của Đức Chúa Trời qua Chúa Giêxu Christ.

    Khi Chúa Cứu Thế chết trên thập tự giá, bức màn trong đền thờ bị xé từ trên xuống dưới. Nói theo cách bóng bẩy, nhiều người đã cố khâu lại tấm màn đó, nhưng vô ích. Hình bóng này đã làm cho trọn vẹn những hình bóng được nói trước đây. Những hình bóng đó đã được thay thế. Đấng còn đang sống đời đời, là Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và con người.

    Trong Hội Thánh Cơ Đốc, Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta nhiều chức vụ khác nhau, có những mục sư và những người khải đạo và khuyên lơn chúng ta. Tuy nhiên không ai có thể đem chúng ta đến gần Đức Chúa Trời được. Đấng Christ đã làm điều này một lần đủ cả. "Vậy chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng " (Hêb 4:16).
    Thầy tế lễ đại diện cho Đức Chúa Trời trước dân sự, nhưng thầy tế lễ cũng thay mặt cho dân sự trước Đức Chúa Trời. Có người nào xung quanh bạn muốn cầu thay cho một trong những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời không? Có lẽ một người nào đó sẽ chỉ biết được Đức Chúa Trời vì nhìn thấy Ngài trong đời sống bạn. Thế gian của chúng ta đang khao khát được biết rõ Chúa Giê-xu thật sự là ai và sống đời sống Ngài qua dân sự Ngài như thế nào. Thật nguy hiểm khi đặt việc làm mình lên trên sự kêu gọi của Đức Chúa Trời. Chúng ta được kêu gọi để làm thầy tế lễ trước, và sau đó thực hiện công việc mình. Khi chúng ta không theo thứ tự này, mọi người xung quanh chúng ta không thể nào đến được với Cha qua chúng ta, Đức Chúa Trời có thể đã kêu gọi bạn vào một công việc ở thế gian này như một thiên hướng, nhưng quan trọng hơn Ngài đã chỉ định bạn làm một trong những thầy tế lễ nhà vua của Ngài.

    Nhiệm vụ của trưởng lão là:
    Nguyên ngữ Hy-lạp là “πρεσβύτερος,” /prét-bú-tơ-ro/ [1] được dùng để gọi người lớn tuổi, đứng đầu trong gia đình, gia tộc, hoặc bộ tộc; khi được dùng trong Hội Thánh thì có nghĩa là người có nhiều kinh nghiệm trong đức tin, trong sự hiểu biết Lời Chúa.

    Trong Thời Cựu Ước, trước khi được Đức Chúa Trời dẫn ra khỏi xứ Ai-cập, dân I-sơ-ra-ên sống theo chế độ bộ tộc, đứng đầu là các tộc trưởng. Các tộc trưởng là những người lớn tuổi, khôn ngoan, có uy tín được chọn ra từ trong mỗi gia tộc, Thánh Kinh gọi họ là các trưởng lão (Xuất Ê-díp-tô Ký 3:16).

    Thánh Kinh Tân Ước có khi dùng các danh từ “trưởng lão,” “giám mục,” và “người chăn” tương tự nhau, mặc dù mỗi từ ngữ có một nghĩa riêng.
    I Phi-e-rơ 5:1-3 cho biết trưởng lão là người chăn bầy:

    “Tôi gởi lời khuyên nhủ nầy cho các bậc trưởng lão trong anh em, tôi đây cũng là trưởng lão như họ, là người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Christ, và cũng có phần về sự vinh quang sẽ hiện ra: hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhiệm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy.”

    Cả 3 hạng người quan trọng này đáng lẽ phải có có sự soi sáng và nghe được tiếng phán của Chúa để rồi rao truyền lại ý muốn của Ngài cho dân sự. Nhưng rồi họ không còn nghe thấy gì nữa, không cò có sự soi sáng nào của Chúa cả.

    Minh họa: Hê-li và 2 con trai của thầy tế lễ Hê-li.
    Đoạn 1 của sách nói về việc gánh nặng và nỗi khổ của An-ne không có con, và bà đã cầu nguyện xin Chúa cho có con, lời cầu nguyện của bà được Chúa đáp lời.
    Sang đoạn 2 ghi lại việc bậy bạ của hai con trai thầy tế lễ và Hê-li là cha mắt đã mờ.
    Sang đoạn 3 ghi lại việc Chúa gọi Sa-mu-ên.

    Trong I Su-mu-ên 3: 1 Sa-mu-ên thơ ấu phục sự Đức Giê-hô-va tại trước mặt Hê-li. Trong lúc đó, lời của Đức Giê-hô-va lấy làm hiếm hoi, và những sự hiện thấy chẳng năng có. Vả, bấy giờ Hê-li khởi làng mắt, chẳng thấy rõ. Có ngày kia, người đương nằm tại chỗ mình quen nằm, đèn của Đức Chúa Trời chưa tắt, Sa-mu-ên nằm ngủ trong đền thờ của Đức Giê-hô-va, là nơi có cái hòm thánh. 4Bấy giờ, Đức Giê-hô-va gọi Sa-mu-ên; người thưa rằng: Có tôi đây! 5

    “Bấy giờ chúng nó sẽ kêu cùng Đức Giê-hô-va, nhưng Ngài không trả lời. Phải, Ngài sẽ giấu mặt khỏi chúng nó trong lúc ấy theo như những việc dữ chúng đã làm. 7Những kẻ tiên kiến sẽ phải xấu hổ, và những kẻ tiên tri sẽ bị nhuốc nhơ. Hết thảy đều che môi lại, vì chẳng được lời đáp nào của Đức Chúa Trời.” ( Mi-chê 3:4)

    Các nhà lãnh đạo đã không có lòng thương xót tôn trọng những người họ phục vụ. Họ đối xử hà khắc dân sự mình để thoả mãn ham muốn của họ, và rồi còn dám kêu cầu Đức Chúa Trời giúp đỡ khi gặp khó khăn. Chúng ta cũng giống như các nhà lãnh đạo này, không nên xem Đức Chúa Trời như công tắt đèn, bật lên khi chúng ta cần đến. Nhưng, chúng ta phải luôn luôn trông cậy nơi Ngài.


    Cuối cùng, sự đoán phạt sẽ là cơn đói kém (c.11-14), không chỉ thiếu thốn đồ ăn cho thể xác, họ còn không được nuôi dưỡng cho đời sống thuộc linh. “Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời” (Mat 4:4 Phu 8:3). Trong những lúc khó khăn, dân sự xây về Đức Chúa Trời để xin Ngài hướng dẫn và khích lệ, nhưng đối với Y-sơ-ra-ên, Ngài không dành một lời nào cho họ. “Chúng tôi chẳng còn thấy các ngọn cờ chúng tôi; Không còn đấng tiên tri nữa, và giữa chúng tôi cũng chẳng có ai biết đến chừng nào” (Thi 74:9).
    Thảm cảnh thật đau lòng cho “tôn giáo”, nhưng không có một lời nào từ Đức Chúa Trời! Đó có nghĩa là không hề có ánh sáng soi rọi trong sự tối tăm, không có sự nuôi dưỡng tâm hồn, không có sự hướng dẫn, không có sự bảo vệ trước sự dối gạt của kẻ thù. Dân sự sẽ loạng choạng như kẻ say, luôn mong tìm được đồ ăn và thức uống cho thể xác họ và chất bổ thuộc linh cho linh hồn.


    những ngày: Khi sự phán xét của Đức Chúa Trời bắt đầu có hiệu lực.
    sự đói....... về nghe lời Đức Giê-hô-va: Trong thời gian truân lớn Y-sơ-ra-ên quay về Chúa để được lời tiên tri hi vọng hoặc sự hướng dẫn (xem thí dụ, IIVua 19:1-41422:13-14Gie 21:2Exe 14:3-7), nhưng trong sự phán xét hầu đến Chúa sẽ trả lời tất cả tiếng cầu xin như thế bằng im lặng - sự im lặng đáng sợ của Đức Chúa Trời (xem ISa 28:6Exe 7:2620:1-3Mi 3:47).

    Đói Khát Lời Chúa

    Gia 1:22   22 Hãy làm theo lời, chớ lấy nghe làm đủ mà lừa dối mình. 


    I.                   HỘI THÁNH RAO GIẢNG TIN LÀNH
    Bấy giờ, sự cuối cùng sẽ đến.
    Sứ đồ Phao-lô nói rằng: Nếu chẳng ai rao giảng thì người ta làm sao mà nghe được, nếu chẳng ai rao giảng thì chẳng ai biết đâu mà tin.


    II.                HỘI THÁNH BƯỚC ĐI TRONG QUYỀN NĂNG
    Một lần nữa “ chữ sau rốt lại được nhắc đến” “ chữ cặp các phép lạ làm ứng nghiệm Lời tiên tri trong
    Người già cả sẽ thấy chiêm bao,
    “Sự hiện thấy” hay “khải tượng” là gì?
    Từ ngữ “khải tượng” và “sự hiện thấy” là hai từ đồng nghĩa, “khải tượng” được dùng trong bản dịch Truyền Thống Hiệu Đính 2011 hay trong các bản dịch Kinh Thánh hiện đại khác. “Sự hiện thấy” được dùng trong bản dịch Kinh Thánh Truyền Thống 1926. Cả hai được dịch từ chữ “vision”  trong Anh ngữ (tiếng Hebrew: châzôwn; tiếng Hy-lạp: őραμα, horama).
    Khải tượng hay sự hiện thấy có nghĩalà sự nhìn thấy  nghe thấy những điều Chúa bày tỏ (revelation) cho con người khi người đó đang trong tình trạng tỉnh thức.
    “Nhưng ấy là điều đấng tiên tri Giô-ên đã nói tiên tri rằng: “Đức Chúa Trời phán: Trong những ngày sau rốt, Ta
        sẽ đổ Thần ta khắp trên mọi xác-thịt; con trai và con gái các ngươi đều sẽ nói lời tiên tri, bọn trai trẻ sẽ thấy 
        khải tượng (vision), và các người già cả sẽ có chiêm bao”
     (Công Vụ Các Sứ Đồ 2:16,17)
    Phi-e-rơ trích dẫn lời tiên tri trong Giô-ên 2:28,29. Lời tiên Đức Thánh Linh được ban xuống bắt đầu ứng nghiệm trong ngày Lễ Ngũ Tuần. Những người tiếp nhận Tin Lành sẽ nhận được các ân tứ đặc biệt như nói tiên tri, chiêm bao hay khải tượng tùy theo Đức Thánh Linh ban phát theo ý định của Ngài. Chúng ta ghi nhận Chúa thật đã ban cho một số người những ơn nầy trong thời kỳ Hội Thánh thành lập được ghi chép trong Công Vụ Các Sứ Đồ: A-na-nia; Cọt-nây; Phao-lô đều nhận được khải tượng (Công Vụ Các Sứ Đồ 9:10; 10:3; 16:9,10; 18:9). Phi-e-rơ thấy chiêm bao (10:9,10). A-ga-bút, Giu-đe, Si-la, các cô gái con của Phi-líp là những người nói tiên tri (11:28; 15:32; 21:9).


    III.             HỘI THÁNH ĐƯỢC TINH TUYỀN












    II.                HỘI THÁNH RAO GIẢNG TIN LÀNH
    “Tin lành nầy về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.” ( Ma-thi-ơ 24:14)


    III.             HỘI THÁNH ĐƯỢC THÁNH HÓA
    “ đặng tỏ ra Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.”  ( Ê-phê-sô5:27)

    lấy nứơc rửa và dùng Đạo (Lời) làm cho Hội tinh sạch: Nhiều người cố gắng tìm các phong tục tập quán liên hệ đến hôn nhân hay ý nghĩa biểu tượng của việc tụng niệm trong câu này. Có một điều rõ ràng là Chúa Giê-xu đã chịu chết, chẳng những để đem đến sự tha tội, mà còn để thực hiện một đời sống mới và thánh khiết trong Hội thánh là “tân nương” Ngài. Muốn nghiên cứu các ý niệm rửa, nước và Đạo (Lời), cần tham khảoGi 3:5Tit 3:53:21.



    để khiến Hội nên thánh sau khi lấy nước rửa và dùng Đạo làm cho Hội tinh sạch,

    26-27 Sự chết của Chúa Cứu Thế thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh. Ngài tẩy sạch chúng ta khỏi nếp sống tội lỗi cũ và biệt riêng chúng ta cho sự phục vụ thiêng liêng đặc biệt của Ngài (He 10:2913:12). Chúa Cứu Thế thanh tẩy Hội Thánh bằng “nước rửa” của phép báp-têm. Nhờ phép báp-têm chúng ta được chuẩn bị để gia nhập Hội Thánh như những cô dâu xưa của vùng cận Đông được chuẩn bị cho hôn lễ bằng một nghi lễ tắm rửa vậy. Chính Lời Đức Chúa Trời tẩy sạch chúng ta (Gi 17:17Tit 3:5).

    Eph 5:26   26 [HĐ] 
    Eph 5:26   26 để Ngài có thể thánh hóa hội thánh, bằng cách dùng nước, tức là lời Ngài, mà rửa sạch hội thánh, [ĐNB] 
    Eph 5:26   26 để sau khi đã dùng nước là lời mà rửa cho tinh sạch rồi, thì khiến hội nên thánh, [NC] 
    Eph 5:26   26 khiến hội thuộc về Thượng Đế. Ngài dùng lời phán làm cho hội được tinh sạch, sau khi đã rửa bằng nước. [PT] 
    Eph 5:26   26 như vậy, Người thánh hoá và thanh tẩy Hội Thánh bằng nước và lời hằng sống, [GKPV]
  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels