• BÀI HỌC 1 ĐẠI CƯƠNG VỀ GIẢI KINH HỌC

    BÀI HỌC 1
    ĐẠI CƯƠNG VỀ GIẢI KINH HỌC
    SỰ BẢO TỒN VÀ LƯU TRUYỀN KINH THÁNH
    A. Giới thiệu bài học
    I. Mục đích bài học: Giúp học viên thấy được nhu cầu của môn Giải Kinh Học, biết được quá trình hình thành, bảo tồn và lưu truyền Kinh Thánh
    II. Mục tiêu bài học: Sau khi học xong bài này, học viên có thể:
    ·                 Hiểu được tầm quan trọng của công tác giải kinh
    ·                 Biết được quá trình hình thành, bảo tồn và lưu truyền Kinh Thánh cũng như tầm quan trọng của những kiến thức này trong công tác giải kinh.
    B. Nội dung bài học:
    I. Đại Cương Về Giải Kinh Học
    Trước đây, khi nói đến “giải kinh học” thì người ta thường nghĩ đến công tác tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy của một đoạn kinh văn trong Kinh Thánh rồi áp dụng ý nghĩa đó vào hoàn cảnh đương thời. Đây là nghĩa rộng rãi của công tác giải kinh học (tiếng Anh: heumeneutics). Nhưng gần đây, công tác giải kinh hiểu theo nghĩa rộng này được chia ra làm hai giai đoạn để cho công việc nghiên cứu được mạch lạc hơn: giải kinh (exegesis) và giai đoạn áp dụng hay giảng kinh (cũng là heumeneutics nhưng được hiểu theo nghĩa hẹp). Trong suốt loạt bài học này, chúng ta sẽ dùng những từ ngữ này theo nghĩa hẹp để công việc trao đổi kiến thức được dễ dàng hơn. Trong những trang sau đây, chúng ta sẽ lần lượt trả lời những câu hỏi rất thực tế như “tại sao phải có môn giải kinh học?” hay “công tác giải kinh có ích lợi gì cho công việc của người hầu việc Chúa và đức tin của Cơ-đốc-nhân?”
    Cơ-đốc-nhân chúng ta khẳng định rằng: (1) Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, là sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời cho nhân loại (về công việc, ý muốn, chương trình cứu rỗi của Ngài, v.v. . .); (2) bản Kinh Thánh nguyên thủy (do chính tay các trước giả viết ra) được Đức Chúa Trời thần cảm một cách hoàn toàn (fully inspired); và (3) khi được hiểu một cách đúng đắn, Kinh Thánh hoàn toàn có thẩm quyền chẳng những trong mọi vấn đề về đức tin và nếp sống đạo mà còn trong những lãnh vực như lịch sử và khoa học nữa.
    Nhìn thoáng qua, những điều khẳng định ở trên có vẻ làm cho công việc học và hiểu Kinh Thánh trở thành rất đơn giản. Thật ra thì vấn đề không đơn giản như vậy. Là một người nghiên cứu Kinh Thánh có trách nhiệm, chúng ta cần phải luôn tự đặt ra cho mình một câu hỏi trong khi nghiên cứu một đoạn Kinh Thánh: “Có thật tôi đã hiểu được sứ điệp của Chúa trong đoạn kinh văn này một cách chính xác chưa?” hay một cách cụ thể hơn “Có thật tôi đã hiểu được sứ điệp này theo đúng như ý nghĩa nguyên thủy của nó mà tác giả Kinh Thánh muốn nói lên (và truyền đạt cho một nhóm đọc giả nguyên thủy nào đó, ví dụ như lời các tiên tri cho dân tộc Y-sơ-ra-ên hay lá thư của một sứ đồ gửi cho một hội thánh địa phương) khi vị này nhận được một mặc khải của Đức Chúa Trời do sự thần cảm của Ngài?” Ví dụ, sứ đồ Phao-lô viết thư tín Cô-rinh-tô I để trả lời một số câu hỏi liên quan đến đức tin, nếp sống đạo . . . của các tín hữu ở Hội Thánh Cô-rinh-tô. Câu hỏi của một người nghiên cứu Thánh Kinh ở đây có thể là, “Điều mà tôi đang hiểu về I Cô-rinh-tô và những sứ điệp trong đó có thật trung thực với những điều mà sứ đồ Phao-lô muốn nói với các tín hữu ở Hội Thánh Cô-rinh-tô vào một thời điểm cách nay gần 2000 năm và trong một bối cảnh văn hóa khác xa ngày nay?”
    Một điều khá hiển nhiên là giữa chúng ta hôm nay và sứ điệp nguyên thủy (hoàn toàn được thần cảm bởi Đức Chúa Trời, theo như điều mà chúng ta đã khẳng định ngay từ đầu) có một số “bức màn ngăn cách.” Chính những bức màn này có thể ít nhiều đã làm cho những nhận thức của chúng ta hôm nay về một sứ điệp nào đó không hoàn toàn giống như ý nghĩa ban đầu của nó theo như tác giả đã dự định khi viết ra những dòng chữ này. Những khoảng cách giữa chúng ta và tác giả cũng như những đọc giả nguyên thủy về phương diện văn chương, thời điểm lịch sử, hoàn cảnh xã hội và văn hóa làm cho việc hiểu chính xác một đoạn kinh văn nào đó có thể trở nên khó khăn hơn. Ngoài ra, sự thất thoát phát sinh ra trong quá trình bảo tồn và lưu truyền Kinh Thánh cũng làm tăng lên mức độ khó khăn khi chúng ta muốn giải thích một đoạn Kinh Thánh thật trung thực với ý định ban đầu của tác giả. Đó là chưa kể đến việc Kinh Thánh lại được chuyển ngữ từ ngôn ngữ nguyên thủy của Kinh Thánh (Hy-bá-lai, Hy-lạp, A-ram . . .) sang những ngôn ngữ khác mà đôi khi sự tương đương giữa các ngôn ngữ không phải lúc nào cũng có sẵn hoặc chính xác hoàn toàn. Vì chính những bức màn này mà một người nghiên cứu Kinh Thánh có trách nhiệm có lẽ sẽ không bao giờ dám nghĩ rằng mình đã hoàn toàn thấu triệt hết những chân lý kỳ diệu của Chúa được mặc khải qua quyển “Kinh Thánh” chúng ta đang có trong tay (thật ra là những bản dịch Kinh Thánh). Chúng ta có thể nghĩ đến trường hợp ngay cả sứ đồ Phao-lô, một tác giả của phần lớn thư tín trong Kinh Thánh Tân Ước, trong một đoạn kinh văn nói về hôn nhân cũng cẩn thận không dám đánh đồng ý kiến riêng của mình với Ý Chúa mặc dù ông tin tưởng rằng mình cũng có Thánh Linh của Chúa (I Cô. 7: 12, 25, 40). Nhưng người giải kinh không bao giờ tự bằng lòng với những điều mình đang biết mà luôn luôn có ý muốn tìm hiểu để tiến càng gần đến ý nghĩa nguyên thủy của đoạn kinh văn đang tra xét càng tốt—có nghĩa là càng tiến gần đến chân lý của Đức Chúa Trời được chuyển tải qua đoan kinh văn này càng tốt.
    Chúng ta cũng cần nên nhớ rằng các tiên tri và các sứ đồ cũng là những con người của xã hội đương thời của họ mặc dù những sứ điệp mà họ đang xác chứng qua những dòng chữ của họ là những sứ điệp vượt thời gian và không gian. Chính vì lý do này mà chúng ta cần nên nhận ra rằng những tác giả Kinh Thánh đã phải dùng những tư tưởng hoặc ngôn ngữ mang đậm nét văn hóa hoặc lịch sử của xã hội đương thời của họ. Chính hai nhà cải chánh giáo hội quan trọng của Hội Thánh Tin Lành là Luther và Calvin cũng đã nhận rằng khi làm công việc giải kinh, người nghiên cứu cần phải phân biệt cẩn thận giữa “ý nghĩa nội tại” (inward content) và “hình thức ngoại tại” (outward form). Nói một cách khác, hình thức bên ngoài (từ ngữ, văn phạm, văn thể, văn cảnh, tính chất lịch sử, v.v...) là phương tiện được dùng để chuyển tải ý nghĩa nội tại (cái cốt lõi của sứ điệp), nhưng nó không phải là chính sứ điệp đó. Chúng ta có thể sẽ hiểu được một phần lớn của ý nghĩa nội tại của đoạn kinh văn mà không cần để ý đến hình thức bên ngoài của đoạn văn, nhưng chính sự nghiên cứu những hình thức bên ngoài này sẽ cho chúng ta một sự hiểu biết thấu đáo hơn về đoạn văn. Việc mà người giải kinh dùng mọi phương pháp, mọi sự hiểu biết về đoạn văn để tiến càng gần đến ý nghĩa nguyên thủy được dự định bởi các tác giả ban đầu càng tốt chính là mục đích của công tác giải kinh.
    Có một số ý kiến của các nhà giải kinh thời trước thì cho rằng chúng ta chỉ cần dùng chính Kinh Thánh để giải thích Kinh Thánh là đủ. Chúng tôi đồng ý rằng chúng ta cần phải dành ưu tiên cho việc dùng Kinh Thánh để giải thích Kinh Thánh. Phương pháp giải kinh như vậy gọi là phương pháp sử dụng nội chứng (internal evidence). Nhưng chúng tôi cho rằng khi nói là “đủ” thì không hẳn như vậy. Việc nghiên cứu những yếu tố bên ngoài (ngoại chứng—external evidence) như văn thể, từ ngữ, văn cảnh, yếu tố lịch sử, v.v... sẽ giúp cho chúng ta hiểu chính xác đoạn văn hơn. Sau đây là một vài thí dụ để cho chúng ta thấy sự cần thiết của việc sử dụng ngoại chứng. Ví dụ, nếu không nghiên cứu về văn thể thì những nhóm từ như “tận cùng trái đất” hoặc những nhóm từ tương tự sẽ rất dễ bị hiểu lầm theo nghĩa đen là khi đi ra đến tận cùng trái đất thì sẽ rơi ra ngoài trái đất. Thực ra đây là một cách dùng ngôn ngữ biểu tượng (metaphorical language). Câu “mọi sự tôi có phép làm” (I Cô. 6: 12) là một trong những câu khẩu hiệu (slogan) của những người ở thành phố Cô-rinh-tô đã được sứ đồ Phao-lô trích dẫn trong thư tín Cô-rinh-tô thứ Nhất để làm tăng sức mạnh của sứ điệp của ông. Sự nghiên cứu về văn thể và văn cảnh sẽ giúp chúng ta hiểu được: (1) đây là một câu khẩu hiệu đương thời phản ảnh nếp sống luông tuồng của người dân ở thành phố Cô-rinh-tô đương thời; (2) ảnh hưởng của nền văn hóa bên ngoài lên tâm lý và nếp sống đạo của một số tín hữu ở Cô-rinh-tô; và (3) ý nghĩa đích thực và sức mạnh của sứ điệp tiếp theo sau đó. Trong những bản dịch Kinh Thánh cũng có những vấn đề cần đến sự hổ trợ của các nghành nghiên cứu liên quan. Ví dụ, trong bản dịch Kinh Thánh truyền thống tiếng Việt (bản củ, nay đã sửa) ở II Sa-mu-ên 18: 24 có nhóm chữ “nhìn thấy một người chạy ên.” Việc nghiên cứu ngôn ngữ địa phương cho chúng ta hiểu câu này là “nhìn thấy một người chạy một mình.” Nếu không có sự nghiên cứu về ngôn ngữ địa phương thì chắc chúng ta khó mà biết được dịch giả muốn nói điều gì. Như vậy, những nghành phê bình mang tính tích cực về văn chương, lịch sử, v.v... sẽ giúp cho chúng ta hiểu được Lời Chúa một cách chính xác hơn. Đây là mục tiêu của công việc giải kinh. Dĩ nhiên, có những sự phê bình mang tích cách đả phá uy tín của Kinh Thánh. Chúng ta không cần để ý đến những sự phê bình như vậy vì chúng chẳng giúp gì được cho sự hiểu biết của chúng ta về mặc khải của Đức Chúa Trời và niềm tin của Cơ-đốc-nhân.
    Có một câu hỏi cần được đặt ra ở đây đó là “có sự đối lập nào giữa thế giới của niềm tin Cơ-đốc và thế giới của sự nghiên cứu Kinh Thánh mang tính chất bác học hay không?” Chúng tôi tin là không có một sự đối lập như vậy giữa hai thế giới này nếu chúng ta có một phương pháp nghiên cứu đúng đắn và có mục đích là nhắm vào sự hiểu biết rỏ ràng hơn về những mặc khải của Đức Chúa Trời. Một người nghiên cứu Kinh Thánh có trách nhiệm sẽ mang trọng trách là duy trì một sự tương tác giữa hai thế giới này. Xuất phát từ sự nhấn mạnh vào “Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời,” một người học Kinh Thánh không có những sự nghiên cứu cẩn thận rất dễ bị thiên lệch trong sự hiểu biết của mình. Sự tin tưởng rằng chúng ta nghe được Đức Chúa Trời phán trực tiếp qua Thánh Kinh là thích đáng. Nhưng nếu chúng ta nhất định bịt mắt ngưng tai đối với những sự nghiên cứu mang tính cách bác học thì chúng ta rất dễ rơi vào tình trạng chủ quan quá khích. Những thiên kiến đã có trước trong suy nghĩ trước khi chúng ta đến với một đoạn kinh văn nào đó sẽ làm cho chúng ta chỉ “nghe” những điều nào chúng ta muốn nghe và loại ra những sứ điệp mà chúng ta không thích, hoặc có thể chúng ta sẽ “nghe” được những sứ điệp hoàn toàn khác hẳn với những điều mà tác giả muốn truyền đạt trong bản văn nguyên thủy. Sự “chọn lọc” những sứ điệp do thiên kiến như vậy khi đọc Lời Chúa rất dễ đưa chúng ta đến những sự dạy dỗ sai lạc và những hành động hoàn toàn không đúng với Ý Chúa. Trong những thư tín của ông, sứ đồ Phao-lô đã cảnh báo về những “Tin Lành khác” được truyền bá dưới ảnh hưởng của trí huệ phái (gnoticism), phái khắc kỷ (stoicism), và những tín hữu tin rằng Cơ-đốc-nhân cần phải giữ luật pháp của người Do-thái như thời kỳ Cựu Ước (Judaizers). Ngày hôm nay cũng không thiếu những nhóm cực đoan như vậy. Họ cũng cho rằng họ tin vào Kinh Thánh như là Lời của Đức Chúa Trời, nhưng trong thực tế họ đã trích dẫn Kinh Thánh một cách “chọn lọc,” giải thích theo ý riêng, và thậm chí đã bẻ cong lời Chúa để phục vụ cho mục đích của họ. Giáo phái “Chứng Nhân Giê-hô-va” là một trong những thí dụ điển hình. Chúng ta cũng không quên khi ma quỉ cám dỗ Chúa Giê-xu trong đồng vắng, nó cũng đã trích dẫn Kinh Thánh để phục vụ cho ý riêng của mình (Ma. 4: 6; Lu. 4: 10 – 11). Những sự nghiên cứu có tính khoa học sẽ giúp cho người đọc Kinh Thánh tránh được những tình trạng thiên kiến, hiểu sai, hoặc bẻ cong lời Chúa theo ý riêng như vậy khi chúng giúp cho người đọc tiến gần hơn đến ý nghĩa của những đoạn kinh văn trong bối cảnh nguyên thủy.
    Nhưng ngược lại, sự nghiên cứu có tính bác học cũng không ích lợi gì nếu được thực hiện một cách độc lập, không liên quan gì với niềm tin Cơ-đốc. Nhu cầu cần được hiểu một đoạn kinh văn theo đúng ý nghĩa nguyên thủy trong bối cảnh nguyên thủy của nó cũng hoàn toàn chính đáng. Nhưng nếu việc làm này không được kết hợp với niềm tin rằng những lời này được chép lại với thẩm quyền là Lời Đức Chúa Trời thì nó trở nên vô nghĩa. Nếu nó không giúp gì được cho niềm tin của người Cơ-đốc thì cùng lắm nó chỉ trở thành một môn học thích thú cho một số ít học giả mà thôi. Nếu việc nghiên cứu này không được hướng dẫn bởi một mục đích là nâng cao niềm tin Cơ-đốc thì nó rất dễ dẫn đến những sự tưởng tượng hoặc suy đoán tuy mới lạ nhưng xa rời với thực tại và Lời Chúa.
    Tóm lại, chúng ta khẳng định rằng Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời, là sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời, là những sứ điệp cho nhân loại vượt không gian và thời gian. Nhưng chúng ta cũng thừa nhận những tính chất lịch sử của Kinh Thánh đó là (1) Kinh Thánh đã được viết ra bởi những tác giả của một thời đại lịch sử và thuộc về một nền văn hóa khác với chúng ta hôm nay; (2) những sứ điệp của Kinh Thánh trước hết được gửi đến cho những đối tượng trong những hoàn cảnh cụ thể nào đó; và (3) những tác giả Kinh Thánh đã dùng những hình thức văn chương và ngôn ngữ có ý nghĩa đối với đọc giả đương thời của họ (bao gồm cả những “lời không thành văn” ẩn đàng sau những dòng chữ mà cả người việt và người đọc thời đó điều hiểu ngầm). Tất cả những sự khẳng định và thừa nhận này đặt ra một mục đích cho người nghiên cứu Kinh Thánh: đặt những đoạn kinh văn trong bối cảnh lịch sử của chúng để “nghe” như chúng đã được dự định bởi những tác giả khi họ viết ra lúc ban đầu và “nghe” như những đọc giả ban đầu, và đem những sứ điệp này áp dụng vào hoàn cảnh đương thời của chúng ta hôm nay. Mục đích này không chỉ riêng của người nghiên cứu Kinh Thánh mà còn là ước muốn của tất cả những người khao khát học hỏi Lời Chúa. Tuy vậy, việc thực hiện mục đích này không phải dễ dàng vì những dòng chữ viết của những tác giả Kinh Thánh thời xa xưa đã phải trải qua một chặng đường dài mấy chục thế kỷ để đến với chúng ta và phải chịu đựng nhiều mất mát hoặc thay đổi.
    Trong những chương tiếp theo đây, chúng ta sẽ điểm sơ về quá trình bảo tồn và lưu truyền Kinh Thánh để từ đó có thể nhận ra những khó khăn của công việc này và sẽ thấy được tầm quan trọng của công việc giải kinh mang tính “khoa học” mà chúng ta sẽ đi vào chi tiết trong những bài học sau.
    II. Quá Trình Bảo Tồn Và Lưu Truyền Kinh Thánh
    1. Cựu Ước
    a. Sự hình thành vào bảo tồn [xin đọc thêm chương 7 của cuốn Thánh Kinh Nhập Môn]
    Căn cứ vào nội chứng, Kinh Thánh Cựu Ước đã được viết trong một khoảng thời gian dài chừng 1000 năm (từ khoảng năm 1400 đến năm 400 Trước Công Nguyên) bởi ít nhất là 30 tác giả. Tác giả một số sách trong Cựu Ước thì không được rỏ ràng lắm. Ngôn ngữ chính của Cựu Ước là tiếng Hy-bá-lai (Hebrew). Trong thời kỳ lưu đày Ba-by-lon, tiếng Aram từ từ trở thành một ngôn ngữ chính thức của khu vực Trung Đông, và do đó mà một phần của các sách Ê-xơ-ra (4: 8 – 6: 18; 7: 12 – 26), Giê-rê-mi (10: 11), và Đa-ni-ên (2: 4 – 7: 28) đã được viết bằng ngôn ngữ này.
    Da thuộc là vật liệu chính đã được dùng trong việc chép Cựu Ước. Vì tính chất dai bền của nó, loại vật liệu này vẫn còn được tiếp tục dùng cho việc sao chép Kinh Thánh trong thời kỳ văn hóa Hy-lạp và La-mã, mặc dù trong những thời kỳ sau này, giấy chỉ thảo (papyrus) có rất nhiều và đã trở thành một thứ vật liệu tiêu chuẩn trong việc ghi chép. Một cuộn sách bằng da trung bình dài khoảng 9 mét và cao khoảng 2 tấc rưỡi. Một đặc điểm quan trọng của Cựu Ước là bản văn cổ nguyên thủy chỉ được viết bằng những phụ âm. Những dòng này được viết một cách liên tục và có rất ít những khoảng ngăn cách giữa các chữ.
    Vào thời kỳ Chúa Giê-xu, đã có nhiều bản Cựu Ước hơi khác nhau được lưu hành trong vòng những người Do-thái. Vì việc sao chép những văn kiện để lưu hành đã trở nên thịnh hành vào lúc bấy giờ, những bản sao Cựu Ước cũng được sao chép bởi những nhà sao chép (scribe) và lưu hành khắp nơi. Tuy nhiên, những bản sao này thì không hoàn toàn giống nhau. Có bản thì dài hơn vì có những phần thêm vào (phần lớn là lời giải nghĩa những chữ khó hiểu), có bản thì lại ngắn hơn vì những phần thêm vào nói trên được bỏ bớt. Tất cả những bản văn đều có những chỗ thay đổi và những lỗi sao chép. Thường thì những thay đổi hoặc lỗi này có tính địa phương nghĩa là những thay đổi hoặc lỗi trong những thủ bản ở vùng này (thí dụ như ở Ba-by-lon) thì giống nhau, nhưng chúng lại không giống như những thay đổi hoặc lỗi ở vùng khác (thí dụ như ở Ai-cập). Trong thực tế, vào thời kỳ Chúa Giê-xu thì đã có mặt ba nhóm thủ bản của Cựu Ước: nhóm Ba-by-lon, nhóm Pa-lét-tin, và nhóm Ai-cập. Để chấm dứt tình trạng lộn xộn này, vào cuối thế kỷ thứ Nhất sau Công Nguyên những giáo sư Do-thái-giáo đã đồng ý với nhau là sẽ chọn lựa những phần tốt nhất trong ba nhóm thủ bản này để hợp thành một bản Cựu Ước duy nhất. Thí dụ, họ đã chọn Ngũ Kinh trong thủ bản Ba-by-lon, trong khi đó họ lại chọn những sách khác như Giê-rê-mi và Ê-sai trong thủ bản Pa-lét-tin, v.v...
    Những giáo sư Do-thái-giáo này cũng đã đưa ra một phương pháp rất tốt để ngăn ngừa sự thêm vào hoặc bớt đi phát sinh ra trong quá trình sao chép, dù không phải là có thể loại bỏ những sai sót một cách hoàn toàn. Họ đã đếm chữ, âm, phần và viết số tổng cộng vào cuối mỗi sách của Cựu Ước. Những con số này đã được dùng để xem thử một bản sao có thật sự chính xác hay không. Hệ thống này đã rất hiệu quả trong nhiều thế kỷ qua về việc bảo tồn một bản Cựu Ước khá trung thực so với những thủ bản ban đầu. Việc này cũng lót đường cho việc thêm vào những nguyên âm được thực hiện do một nhóm học giả Do-thái (từ thế kỷ thứ 8 đến thế kỷ thứ 11 sau Công Nguyên) gọi là masoretes—nghĩa đen là những người giải nghĩa.
    Công việc thêm nguyên âm vào các câu Kinh Thánh Cựu Ước đã trở nên cần thiết khi mà kiến thức về tiếng Hy-bá-lai của những đọc giả của Cựu Ước ngày càng kém đi trong thời gian này. Kết quả của công việc của những học giả masoretes này là một bản Cựu Ước có đầy đủ nguyên âm và phụ âm gọi là bản Cựu Ước Masoretic. Kể từ đây, bản này đã trở thành bản Cựu Ước tiêu chuẩn (cho Do-thái-giáo và cho giáo hội Tin Lành sau này). Kề từ bản này, những chữ trong nguyên bản (chỉ có phụ âm) đã được gán cho một ý nghĩa nhất định. Ví dụ như người đọc không còn có “cơ hội” để thắc mắc chữ qtl trong nguyên bản phải hiểu là qotel—kẻ giết người—hay là qatal—hắn đã giết. Những học giả masoretes đã làm việc một cách hết sức cẩn thận, công phu và dựa vào những nguồn tài liệu giải nghĩa, phê bình Cựu Ước tốt nhất mà họ có thể tìm được vào lúc ấy. Họ còn là những người đã chia câu cho toàn bộ Cựu Ước. [1] Sự đóng góp của các học giả này cho công việc nghiên cứu Kinh Thánh của những thế hệ sau này thật là lớn lao. Nhưng đôi khi chính việc thêm phụ âm vào bản văn gốc (một chữ trong bản văn bây giờ đã bị buộc chặt vào một ý nghĩa nhất định) đã đưa ra những câu hỏi lớn hơn thay vì giải quyết được nan đề. Như trong ví dụ ở trên, qtl có thể đã trở thành qotel dưới bàn tay của các masoretes, nhưng biết đâu tác giả ban đầu lại muốn nói là qatal. Suy cho cùng thì các học giả masoretes sống sau thời đại của các tác giả Kinh Thánh hàng mấy chục thế kỷ. Ý nghĩa của những từ ngữ trong ngôn ngữ đương thời của họ không chắc là phản ảnh trung thực ngôn ngữ mà các tác giả trước đó mấy mươi thế kỷ đã sử dụng để diễn đạt tư tưởng của họ. Chính vì điều này mà nghành phê bình bản văn (textual criticism) hiện naytrở nên hết sức quan trọng trong việc xác định ý nghĩa đích thực của một đoạn kinh văn.
    Bản Cựu Ước dưới dạng sách do kỷ thuật ấn loát ra đời vào năm 1488 tại Soncino, Italy. Trước đó thì như chúng ta đã biết là Cựu Ước được lưu hành dưới dạng những quyển chép tay trên cuộn da thuộc hoặc một số ít dưới dạng sách trên giấy chỉ thảo (trong các nhà hội Do-thái –giáo thì chỉ được phép dùng cuộn da mà thôi).
    Cuộn Biển Chết (Dead Sea Scrolls) viết bằng tiếng Hy-bá-lai và A-ram được khám phá tại Qumran năm 1947 có lẽ là thủ bản xưa nhất mà hiện nay còn tồn tại. Những bản này do cộng đồng tu sĩ Qumran chôn dấu. Tưởng cũng cần nên biết là cộng đồng này đã bị phân tán một thời gian ngắn trước sự tàn phá Giê-ru-sa-lem năm 70 Sau Công Nguyên. Cuộn Biển Chết có sự hiện diện của tất cả các sách trong Cựu Ước, chỉ trừ sách Ê-xơ-tê. Trong Cuộn Biển Chết thì chỉ có sách Ê-sai là có đầy đủ toàn bộ, những sách khác thì chỉ còn những mảnh chứa đựng vài phần trong các sách. Khi đem so sánh những phần còn lại của Cựu Ước trong Cuộn Biển Chết với bản tiêu chuẩn Masoretic thì người ta thấy rằng giữa hai bản này không có sự thay đổi lớn nào. Điều này chứng tỏ rằng bản Cựu Ước từ thế kỷ thứ 1 sau Công Nguyên được lưu truyền cho đến thời các học giả masoretes mà không có một sự thay đổi lớn nào.
    b. Các bản dịch cổ
    Những bản dịch cổ cũng góp phần rất quan trọng trong việc tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy của Cựu Ước. Có hai bản dịch quan trọng được thực hiện chủ yếu là để cho đọc giả người Do-thái: Bản Bảy Mươi (Septuagint) và Bản Diễn Ý (Jewish Targum). Ngoài ra, có những bản dịch quan trọng khác của Cựu Ước ra các thứ tiếng như La-tinh, Sy-ri, Coptic, v.v... nhắm vào những đọc giả thuộc khối Cơ-đốc-giáo, quan trọng nhất là bản Vulgate (La-tinh) và bản Peshitta (Sy-ri).
    Bản Bảy Mươi
    Bản Bảy Mươi là bản dịch toàn bộ Cựu Ước từ tiếng Hy-bá-lai qua tiếng Hy-lạp được thực hiện do 72 dịch giả vào khoảng giữa thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên tại Alexandria. [1] Đây chẳng những là bản dịch cổ nhất mà còn là một bản giá trị nhất trong các bản dịch xưa. Tuy người ta không thể nói chắc chắn là bản dịch này có thật trung thành với bản gốc hay không, nhưng ảnh hưởng của nó trên người Do-thái sống ngoài Pa-lét-tin (nhất là trong thời kỳ những đế quốc Hy-lạp và La-mã), mối liên quan của nó với Tân Ước, và vai trò của nó trong giáo hội Cơ-đốc giáo thật là lớn lao. Đối với những nhà nghiên cứu, bản này thật rất quan trọng trong việc giúp họ có thể tra ngược những chữ trong tiếng Hy-lạp để rồi có thể quyết định ýnghĩa chính xác nhất của một chữ trong nguyên ngữ Hy-bá-lai.
    Tuy nhiên, có một điều mà những người Do-thái trung thành với bản Cựu Ước tiếng Hy-bá-lai không thích về bản Bảy Mươi này là nó chứa cả 7 thứ kinh (deuterocanonical books). [1] Bản Cựu Ước tiếng Hy-bá-lai (và một phần là tiếng A-ram) được các giáo sư Do-thái-giáo đồng ý vào thế kỷ thứ 1 chỉ chứa 39 sách (đây là quyển Cựu Ước được chấp nhận bởi giáo hội Tin Lành sau này), trong khi đó thì giáo hội Công Giáo đã chấp nhận cả 46 sách (7 thứ kinh này được viết bằng tiếng Hy-lạp, trừ ra sách Sirach).
    Bản Diễn Ý Targum
    Vào thời kỳ Chúa Giê-xu, một phần lớn người Do-thái không còn nói tiếng Hy-bá-lai mà sử dụng tiếng A-ram. Do đó, nhu cầu đề ra là làm thế nào có một bản dịch qua tiếng A-ram để người ta có thể hiểu được những điều được đọc (bằng tiếng Hy-bá-lai) trong nhà hội. Kết quả là bản dịch diễn ý trong tiếng A-ram gọi là Targum ra đời. Bản này được sử dụng để đọc song song với những đoạn kinh văn (đọc bằng tiếng Hy-bá-lai) trong mỗi buổi nhóm. Vì là bản diễn ý nên bản này không phải là một bản phiên dịch chữ theo chữ thật sát với nguyên bản. Tuy nhiên bản này cũng giúp cho những nhà nghiên cứu rất nhiều trong việc tìm hiểu ý nghĩa của những câu văn trong nguyên bản.
    Bản dịch Vulgate
    Đây là bản dịch Cựu Ước sang tiếng La-tinh được thực hiện bởi Jerome vào thế kỷ thứ 5 sau Công Nguyên. Trong việc thực hiện bản dịch này, Jerome đã cố gắng theo sát nguyên bản tiếng Hy-bá-lai tới mức mà ông có thể làm được. Ông cũng đã được sự trợ giúp của những người Do-thái ở Pa-lét-tin trong công việc này. Nghĩa đen của chữ Vulgate là phổ thông, và quả thật bản dịch này đã dành vị trí danh dự của một bản dịch Cựu Ước được sử dụng một cách phổ thông trong Tây Giáo Hội trong suốt cả thời kỳ Trung Cổ.
    Bản dịch Peshitta
    Đây là bản dịch Cựu Ước qua tiếng Sy-ri cổ. Việc bản dịch này là công trình của những người thuộc Do-thái-giáo hay Cơ-đốc-nhân ở khu vực Sy-ri là một vấn đề vẫn còn được tranh luận. [1] Tuy nhiên có vài điều chúng ta biết khá chắc chắn là bản dịch này được bắt đầu thực hiện vào thế kỷ thứ 2 sau Công Nguyên và hoàn tất khoảng cuối thế kỷ thứ 4. Bản dịch này được lưu hành rộng rãi trong Đông Giáo Hội. Bản dịch này đôi khi theo sát bản Hy-bá-lai, đôi khi lại theo bản Bảy Mươi. Các học giả đã sử dụng những chỗ khác nhau này để giải quyết một số những khó khăn về bản văn.
    Những bản dịch cổ khác
    Ngoài những bản dịch trên, những bản dịch Cựu Ước cổ trong những thứ tiếng khác cũng rất quan trọng trong việc giúp cho những nhà nghiên cứu Kinh Thánh xác định ý nghĩa của những câu trong Cựu Ước. Những bản này gồm có những bản dịch qua tiếng Coptic (bản Sahidic, bản Bohairic, bản Achmimic, bản hạ Achmimic, bản Trung Ai-cập, và bản Fayyumic), bản dịch Gothic (một thứ tiếng cổ của người Goth ở phía Đông nước Đức), bản dịch Armenian được thực hiện vào khoảng đầu thế kỷ thứ 5 (Armenia thường tự hào là vương quốc đầu tiên đã tiếp nhận Cơ-đốc-giáo như là quốc giáo, khoảng cuối thế kỷ thứ 3 sau Chúa), bản dịch qua tiếng Ả-rập.
    2. Tân Ước
    a. Sự hình thành và bảo tồn
    Kinh Thánh Tân Ước từ đâu mà có? Khi bắt đầu được viết ra thì Kinh Thánh Tân Ước nhìn giống như thế nào? Quyển Kinh Thánh Tân Ước mà chúng ta đang cầm trong tay đã trãi qua những chặng đường như thế nào sau hàng chục thế kỷ kể từ khi Tân Ước được viết ra? Đây là những câu hỏi mà không phải dễ dàng để trả lời.
    Vài chi tiết nhỏ mà chúng ta cần biết đó là trước khi Kinh Thánh nói chung và Tân Ước nói riêng bắt đầu được in hàng loạt do kỷ thuật ấn loát (bắt đầu từ năm 1456), tất cả những sách của Tân Ước được lưu truyền từ nơi này đến nơi khác bằng những bản viết tay hay “thủ bản” (manuscript). Những thủ bản được tìm thấy ở đủ mọi dạng vật liệu như bảng đất sét, mảnh sành, đá, xương, gỗ, vài thứ kim loại, giấy chỉ thảo, da thuộc, v.v..., nhưng phần lớn là giấy chỉ thảo và da thuộc. Vì việc sử dụng da thuộc vào việc sao chép sách xuất hiện trễ hơn thời kỳ dùng giấy chỉ thảo, những thủ bản ở dạng giấy chỉ thảo được xem là cổ hơn. Các thủ bản thường ở hai dạng: cuộn sách và mảnh sách (da thuộc được cắt ra thành tấm, đánh sáp, và đóng lại như dạng sách ngày nay gọi là codex). Chữ viết trên các thủ bản có hai dạng: Chữ in (uncial) viết rời từng chữ và chữ thảo (minuscule) viết liên tục. Những dòng chữ trên các thủ bản thì được viết liên tục và rất ít dấu chấm câu (việc phân chương, câu, đoạn, là do các nhà nghiên cứu sau này).
    Quá trình bảo tồn và lưu truyền Tân Ước là một quá trình khá phức tạp, nhưng chúng ta cũng có thể hình dung ra một quá trình như sau. Trước hết, các sách trong Tân Ước được các tác giả dưới sự thần cảm của Đức Thánh Linh viết ra để gửi cho một số đọc giả hoặc một hội thánh địa phương nào đó. Những sách này là chính tay họ hoặc do các “thư ký” chép (như trong trường hợp sứ đồ Phao-lô). Những bản này goiï là thủ bản gốc (autograph hay original manuscript). Những sách này lại được lưu truyền từ nơi nhận đầu tiên đến nơi khác rồi đến nơi khác nữa bằng cách sao chép lại do các ký lục (scribe). Do đó ta có bản sao thứ cấp (sao lần thứ nhất), bản sao tam cấp, tứ cấp, v.v... Điều đáng tiếc là trong hiện tại, không một thủ bản gốc nào còn tồn tại (vì sự hư hỏng mục nát theo thời gian của những vật liệu được dùng để chép kinh). Phần lớn những bản sao quan trọng xưa nhất mà chúng ta có được là những thủ bản được sao chép vào khoảng trước sau năm 300 sau Chúa. Có một vài bản sao xưa hơn được xác định vào khoảng năm 200, nhưng những thủ bản này chỉ là một vài mảnh vụn nhỏ nên dù có giá trị cao về khảo cổ học nhưng không giúp gì nhiều về việc nghiên cứu nội dung bản văn. Hiện nay, trước sau những nhà nghiên cứu đã khám phá ra 5000 thủ bản tiếng Hy-lạp, trên 8000 thủ bản tiếng La-tinh, và trên 1000 thủ bản trong những ngôn ngữ khác. Có những thủ bản chép trọn vẹn hoặc gần đủ một sách trong Tân Ước, có những thủ bản chỉ gồm vài trang hoặc vài đoạn.
    Việc sao chép các sách Tân Ước nói riêng và văn chương để lưu truyền vào thời xưa này không phải là một việc đơn giản như chúng ta nghĩ. Khi so sánh những thủ bản, người ta thấy có những sự khác nhau về nội dung. Những thủ bản tìm thấy ở vùng này lại có những đặc tính giống nhau (dù chúng không giống nhau hoàn toàn), nhưng những đặc tính này thì lại khác với những thủ bản tìm thấy ở khu vực khác. Việc quan sát các thủ bản đưa những nhà nghiên cứu đến những kết luận quan trọng: (1) Việc sao chép này không phải lúc nào cũng theo cách trực tuyến (nghĩa là từ bản thứ cấp đến tam cấp, từ tam cấp đến tứ cấp, v.v... một cách trực tiếp và duy nhất), nhưng những bản sao cấp thấp hơn thường lại chịu ảnh hưởng của hai hoặc nhiều thủ bản cấp cao hơn ở hai khu vực khác nhau cùng một lúc; (2) Thủ bản xưa hơn thì được xem là cấp cao hơn, nghĩa là càng gần với thủ bản gốc hơn; (3) Trong những bản sao sau luôn có những sự thêm bớt và lỗi sao chép so với bản làm nguồn để chép. Những sự thêm này thường là vì người sao chép sau lại viết luôn vào thân bài những ghi chú của người sao chép trước đó (thường ở bên lề và với mục đích giải thích nội dung một chỗ nào đó). Khi một người chép lại sau nữa thấy được điều này (thường là nhờ một bản sao khác) thì lại bỏ ra. Ngoài ra, sự khó nhọc trong việc sao chép cũng là một tác nhân lớn trong trong việc làm cho những ký lục gây ra những lỗi sao chép. Những lỗi khách quan thường là do nhìn sai, viết sai (trong đầu nhớ một chữ nhưng lại viết ra một chữ khác), nghe sai (khi được một người khác đọc cho chép), nhớ sai (khi nhớ nghĩa của chữ đó mà lại dùng một chữ đồng nghĩa để ghi), hiểu sai, v.v... Lại có những lỗi chủ quan khi một nhà ký lục lại dùng chữ và văn phạm của mình để chép một ý nào đó, nhất là đối với những câu văn khó hiểu. Vì những sự không đồng nhất (có sự thêm bớt, và lỗi sao chép) giữa các thủ bản, việc dựa vào những thủ bản đời sau để tìm lại ý nghĩa nguyên thủy của một chữ hoặc một đoạn kinh văn thật là thích thú nhưng cũng thật nặng nề. Đây chính là một công tác quan trọng của nghành phê bình bản văn. Luôn luôn có những khám phá mới về những thủ bản cổ. Bản tìm thấy sau đôi khi lại giúp cho hiệu đính lại những hiểu biết trước đó.
    Riêng về bản Tân Ước tiếng Hy-lạp, những nhà nghiên cứu trong thế kỷ thứ 15 cũng không để ý gì mấy đến việc này. Bản dịch Vulgate tiếng La-tinh là bản Kinh Thánh của họ. Nhưng đến đầu thế kỷ 16, một số các nhà nghiên cứu đã nghĩ đến nhu cầu cần phải có một “bản gốc” Tân Ước trong tiếng Hy-lạp, là thứ tiếng đã được chính các tác giả Kinh Thánh sử dụng. Kể từ đó, đã có những nổ lực để xây dựng lại một bản do các Hội Thánh Kinh với hy vọng là nó sẽ càng gần “nguyên bản” càng tốt. Hai bản đầu tiên được xuất bản song song trong cùng năm 1522. Một bản gọi là Complutensian Polyglot (nghĩa đen là bản “đa ngôn ngữ tại thành phố Complutum”) được soạn thảo do Hồng Y Ximenes, bản kia là do học giả Erasmus. Những bản này căn cứ trên một số rất ít thủ bản có sẵn vào thời bấy giờ. Sau đo, Robert Estienne, một nhà in người Pháp, đã dùng cả hai bản trên cùng với sự tham chiếu với khoảng 15 thủ bản cổ khác để xuất bản những bản mới. Ấn bản lần thứ 3 của ông vào năm 1550 là bản giá trị nhất, và nó đã trở thành bản tiêu chuẩn tại Anh vào thời đó. [1] Sau Estienne là Theodore Beza, người pháp, đã xuất bản chín ấn bản từ 1565 đến 1604. Sau đó, Bonaventure và Abraham Elzevir, hai nhà xuất bản người Hòa Lan đã dựa trên bản của Estienne và của Beza để xuất bản 7 ấn bản. Vì rất giỏi trong thương mãi nên hai vị này đã biết cách để phổ biến rộng rãi ấn phẩm của họ trong toàn cõi Châu Âu. Kết quả là ấn bản lần thứ 2 của họ đã đạt được vị trí danh dự là “bản tiêu chuẩn” hay là “bản được thừa nhận” (Textus Receptus) tại Châu Âu—danh từ này hiện vẫn còn được dùng để chỉ về ấn bản lần thứ 2 này và về ấn bản lần thứ 3 của Estienne. Tuy vậy, sự khám phá những thủ bản cổ ngày càng nhiều cho thấy những ấn bản đầu trong thời kỳ đầu còn nhiều khuyet điểm. Chính những khám phá mới này đã thúc đẩy các học giả tiếp tục xây dựng một bản Kinh Thánh Tân Ước tiếng Hy-lạp chính xác hơn. Quan trọng nhất có lẽ là những công trình của Constantin von Tischendorf (giữa thế kỷ 19), Brooke Foss Westcott & Fenton John Anthony Hort (hậu bán thế kỷ 19), Hermann Freiherr von Soden (cuối thế kỷ 19).
    Cuộc hành trình trên con đường khám phá và xây dựng lại một bản Kinh Thánh Tân Ước tiếng Hy-lạp không phải đã chấm dứt với những công trình quan trọng ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 mà vẫn được tiếp tục cho đến nay. Những khám phá mới về những thủ bản cổ (cho một cái nhìn chính xác hơn so với sự hiểu biết trước đó) lại buộc những người biên soạn phải luôn luôn hiệu đính lại những công trình của họ trước đó. Thí dụ, loạt ấn bản quan trọng hiện nay gọi là Nestle-Aland khởi đầu do Eberhard Nestle từ năm 1898 (hiện do Barbara Aland tiếp nối) đã xuất bản ấn bản Tân Ước bằng tiếng Hy-lạp lần thứ 27 năm 1993. Riêng quyển Tân Ước tiếng Hy-lạp của Thánh Kinh Hội Quốc Tế (the United Bible Societies) đã phát hành ấn bản lần thứ 4 (1993-94) với nhiều hiệu đính so với những ấn bản trước đó. Những công trình này chắc chắn sẽ không dừng lại nơi đây mà sẽ còn nhiều lần hiệu đính trong tương lai khi mà những khám phá mới giúp soi sáng thêm vào bóng tối bí ẩn của hai ngàn năm trước. Sự khao khát được “nghe” chính các tác giả Kinh Thánh ngày xưa thật sự đã “nói” gì chính là động lực thúc đẩy các học giả, cá nhân cũng như thuộc các hiệp hội Kinh Thánh, tiếp tục tiến lên trên con đường khó khăn này.
    b. Các bản dịch cổ
    Việc dịch các tàc phẩm văn chương từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác vao thời cổ là một việc hiếm hoi (do đó, việc Cựu Ước được dịch sang tiếng Hy-lạp vài thế kỷ trước Chúa—Bản Bảy Mươi—gần như là độc đáo nhất vào thời bấy giờ). Chính vì điều này mà chúng ta thấy tầm quan trọng của những bản dịch Tân Ước ra các ngôn ngữ khác vào thời xưa. Những bản dịch này giúp cho các học giả ngày nay rất nhiều trong việc so sánh đối chiếu các bản văn tiếng Hy-lạp để đi đến những quyết định tương đối chính xác nhất về những đoạn kinh văn.
    Bản dịch tiếng La-tinh
    ·                 Bản dịch tiếng La-tinh cổ:
    Dù tiếng Hy-lạp là ngôn ngữ chính thức của Đế Quốc La-mã, nhu cầu về bản Tân Ước tiếng La-tinh vẫn có trong vòng một số tín hữu. Ngôn ngữ của bản dịch này là loại văn chương đơn giản. Điều này cho thấy bản dịch này được lưu hành trong vòng những người bình dân. Bản này sau được thay thế bởi bản Vulgate.
    ·                 Vulgate:
    Do Jerome thực hiện (thực ra còn nhiều người tiếp tục sau này nhưng không rõ ràng lắm) do sự đặc trách của giáo hoàng Damasus. Bản Vulgate được phát hành năm 384 và đã trở thành bản Kinh Thánh Tân Ước chính thức của giáo hội Công Giáo cho đến ngày nay. Hiện nay, hơn 8000 thủ bản của Vulgate vẫn còn tồn tại.
    Bản dịch tiếng Sy-ri
    ·                 Diatessaron
    Một bản dịch rất cổ của các sách Phúc Âm, nhưng không phải là các sách riêng lẻ như chúng ta thấy trong quyển Kinh Thánh ngày nay mà là sự kết hợp cả bốn sách Phúc Âm thành một sách duy nhất. Bản dịch này được cho là của Tatian thực hiện vào khoảng năm 160. Thực ra, di tích của bản dịch này thì hiện tại không còn gì mà người ta chỉ biết sự có mặt của nó một cách gián tiếp qua những sự đề cập đến trong các văn kiện khác mà thôi.
    ·                 Bản Sy-ri cổ
    Bản dịch bốn sách Phúc Âm ra tiếng Sy-ri. Hiện tại người ta khám phá được hai thủ bản: niên hiệu một bản là cuối thế kỷ thứ 4 và bản kia là thế kỷ thứ 5.
    ·                 Bản Peshitta
    Bản dịch tòan bộ Tân Ước ra tiếng Sy-ri (ngoại trừ 2 Phi-e-rơ, 2&3 Giăng, Giu-đe và Khải Huyền vì những sách này không được Hội Thánh Sy-ri kể vào hàng kinh điển). Hiện nay, còn khoảng 350 thủ bản, bản cổ nhất được chép vào khoảng đầu thế kỷ thứ 5.
    ·                 Bản Philoxenian
    Bản này được hoàn tất năm 508, bao gồm cả những sách bị bỏ ra trong bản Peshitta. Bản này do giáo phụ Polycarp soạn thảo cho giám mục Maburg của Sy-ri. Trong khi một số học giả cho là bản này là một bản dịch qua tiếng Sy-ri gần nhất với bản tiếng Hy-lạp, Kenyon cho là bản này mang nhiều tính văn chương nhất so với các bản dịch tiếng Sy-ri khác vì sử dụng văn chương tự do và co nhiều thành ngữ.
    ·                 Bản Harkleian
    Bản này do Thomas ở Harkel hoàn tất năm 616. Nội dung của bản dịch này đã tạo ra những cuộc tranh luận giữa các học giả. Có nhiều người cho rằng Thomas chỉ thêm vào phần bên lề (rất nhiều) để đọc thay cho bản Philonexian, trong khi các học giả khác thì cho rằng Thomas đã nhuận chánh toàn bộ bản Philonexian và thêm vào phần đọc thay nói trên. Những người cho là bản này là một bản độc lập đối với những bản dịch khác tin rằng bản này rất gần với nguyên bản tiếng Hy-lạp vì nó đã không theo luật thành ngữ và văn phong của tiếng Sy-ri. Hiện nay còn khoảng 50 thủ bản của bản Harkleian, niên đại của thủ bản cổ nhất của bản này có lẽ vào khoảng thế kỷ thứ 8.
    ·                 Bản Palestine tiếng Sy-ri
    Bản này được thực hiện vào lúc nào thì không ai rõ. Bản này độc đáo ở chỗ là nó là bản dịch duy nhất theo lối tập kinh giảng (lectionary). Có ba tập kinh giảng được tìm thấy, niên hiệu của chúng là vào khoảng thế kỷ 11 và 12. Chúng theo sát những tập kinh giảng trong tiếng Hy-lạp, và điều này cho thấy là những tập kinh giảng này được dịch trực tiếp từ những tập kinh giảng tiếng Hy-lạp.
    Bản dịch tiếng Coptic (thuộc Ai-cập)
    Mặc dù tiếng Hy-lạp cũng được biết và sử dụng tại Ai-cập, nhưng nhu cầu cần có một bản dịch tiếng bản xứ trở nên quan trọng. Vào khoảng thế kỷ thứ 2, một hệ thống chữ viết dùng mẫu tự tiếng Hy-lạp với những biến thể đã được thực hiện. Hệ thống chữ viết mới này gọi là Coptic. Nó khác hẳn với chữ viết cổ và cũng không giống với lối chữ bình dân được sử dụng hàng ngày. Sau khi hệ thống chữ Coptic thành hình và phổ biến, Kinh Thánh đã được dịch sang nhiều thứ tiếng trong họ ngôn ngữ Coptic này.
    ·                 Sahidic
    Thứ tiếng Coptic sử dụng ở vùng Thượng Ai-cập gọi là sahidic. Căn cứ vào tài liệu gián tiếp, bản dịch Tân Ước ra tiếng sahidic có lẽ vào khoảng thế kỷ thứ 3. Những thủ bản cho thấy có mặt gần đầy đủ hết tất cả các sách của Tân Ước. Thủ bản cổ nhất của nhóm này có lẽ vào thế kỷ thứ 4.
    ·                 Bohairic
    Bohairic là thứ tiếng Coptic được sử dụng ở vùng Hạ Ai-cập. Alexandria, thủ đô văn hóa của Ai-cập, ở trong vùng này. Thứ ngôn ngữ này đã dần dần trở thành loại ngôn ngữ chính thức trong Hội Thánh Coptic và thay thế những thứ ngôn ngữ khác. Con số những thủ bản còn lại hiện nay chỉ vào khoảng trên dưới 100. Mặc dù niên hiệu của đa số những thủ bản này chỉ vào khoảng thế kỷ thứ 7 hoặc đầu thế kỷ thứ 8, nhưng một thủ bản hiếm là Papyrus Bodmer III (Phúc Âm Giăng) được đưa ra ánh sáng vào năm 1958 cho thấy những bản dịch trong tiếng Bohairic đã được thực hiện rất sớm vào thế kỷ thứ 4.
    ·                 Ngôn ngữ Trung Ai-cập
    Ngôn ngữ vùng Trung Ai-cập gồm có những thứ tiếng như Fayumic, Achmimic, và hạ Achmimic. Bản dịch của Phúc Âm Giăng được tìm thấy trong tiếng Fayumic và hạ Achmimic. Trong tiếng Achmimic, người ta tìm thấy một phần của Phúc Âm Giăng, thư Gia-cơ, thư Giu-đe, và những mảnh vụn của Phúc Âm Ma-thi-ơ và Phúc Âm Lu-ca. Niên hiệu của nhóm sau này là vào cuối thế kỷ thứ 4.
    Ngôn ngữ Armenian
    Tân Ước được bắt đầu dịch qua tiếng Armenian vào khoảng đầu thế kỷ thứ 5 bởi tu sĩ Mesrop, là người đã có công trong việc tạo ra chữ viết Armenian. Bản dịch này bị ảnh hưởng của cả bản dịch Sy-ri cổ và bản tiếng Hy-lạp. Một bản nhuận chánh thực hiện sau này dựa sát theo bản tiếng Hy-lạp đã được sử dụng chính thức trong các hội thánh Armenian cho đến ngày nay. Những thủ bản Armenian được tìm thấy rất nhiều, và thủ bản cổ nhất của nhóm này có niên hiệu vào khoảng thế kỷ thứ 9.
    Tiếng Georgian
    Tân Ước cũng được dịch ra cho những tín hữu ở Georgia, một khu vực ở giữa Hắc Hải và Biển Caspian. Bản dịch này dùng chữ viết Georgian mà truyền thống cho là cũng do sự sáng tạo của tu sĩ Mesrop nói trên. Bản dịch này có lẽ dưa trên bản Armenian. Niên hiệu sớm nhất của những thủ bản còn sót lại hiện nay có lẽ vào cuối thế kỷ thứ 9.
    Bản dịch Ê-thi-ô-pi
    Sách Công vụ các Sứ Đồ có ghi lại sự qui đạo của hoạn quan Ê-thi-ô-pi, nhưng Cơ-đốc Giáo chỉ được biết đến một cách rộng rãi ở Ê-thi-ô-pi rất trễ sau này. Do đó, các học giả không thể xác định được việc dịch Kinh Thánh ra tiếng Ê-thi-ô-pi bắt đầu từ bao giờ. Có khoảng trên 100 thủ bản còn sót lại và không bản nào sớm hơn thế kỷ thứ 13. Đa số các bản này đều chịu cả ảnh hưởng của bản dịch tiếng Sy-ri và tiếng Hy-lạp.
    Bản dịch Ả-rập
    Tuy người ta không thể xác định được số lượng, nhưng chắc chắn là có rất nhiều bản dịch Tân Ước sang tiếng Ả-rập được thực hiện vào gần khoảng thời gian Hồi giáo bắt đầu nổi lên vào thế kỷ thứ 7. Những bản dịch tiếng Ả-rập của Tân Ước và những bản nhuận chánh tiếp theo sau đó đa số dựa trên những bản tiếng Hy-lạp, bản Peshitta, bản Sahidic, Bohairic, bản La-tinh cổ, bản Vulgate. Một số lớn thủ bản tìm thấy được viết theo lối văn xuôi có vần điệu như được dùng trong kinh Ko-ran của Hồi giáo. Tuy nhiên, giá trị về phê bình bản văn của các bản dịch này thì không lớn lắm.
    Các ngôn ngữ khác
    Ngoài những bản dịch quan trọng kể trên, còn có những bản dịch cổ của Tân Ước ra các thứ tiếng khác như bản Gothic, bản Ba-tư, bản Xla-vô-ni, bản Frankish. Những bản này cũng đóng góp trong sự tìm tòi để xác định chính xác ý nghĩa nguyên thủy của những sứ điệp Tân Ước.
    Riêng về bản dịch Kinh Thánh tiếng Việt (1926) mà tín hữu Việt Nam thường gọi là bản truyền thống, các học giả vào thời bấy giờ như ông bà giáo sĩ W.C. Cadman, giáo sĩ J.D. Olsen, nhà văn Phan Khôi, nhà văn Trần Văn Dõng có lẽ đã dựa vào những bản dịch tiếng Hán, tiếng Pháp, tiếng Anh đã được lưu hành rộng rãi vào thời bấy giờ. Vì bà giáo sĩ Cadman rất giỏi về tiếng Hy-lạp và Hy-bá-lai nên việc tham chiếu các bản Kinh Thánh tiếng Hy-bá-lai và tiếng Hy-lạp (có mặt vào thời đó) chắc chắn cũng góp phần nhiều trong việc dịch thuật này. Bản này thật đã đóng một vai trò lịch sử lớn lao trong việc xây dựng niềm tin Cơ-đốc cho các tín hữu Tin Lành ở Việt Nam. Trong những năm gần đây, trước sự ra đời của những bản nhuận chánh của Kinh Thánh trong tiếng Hy-bá-lai và nhất là Hy-lạp (có lẽ đã dẫn đến sự xuất hiện của những bản dịch mới trong các ngôn ngữ khác), các nhóm học giả Việt Nam cũng đã thực hiện nhiều bản dịch mới để sử dụng trong các Hội Thánh Việt Nam. Điều này đã tạo điều kiện để sự nghiên cứu Lời Chúa của các mục sư, truyền đạo, và con cái Chúa trở nên dễ dàng và phong phú hơn.


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels