• BÀI HỌC 2 Bối Cảnh Lịch Sử, Xã Hội, Nhân Văn

    BÀI HỌC 2
    Bối Cảnh Lịch Sử, Xã Hội, Nhân Văn
    Của Kinh Thánh Cựu Ước
    A. Giới thiệu bài học
    I. Mục đích bài học: Giúp học viên biết được bối cảnh chung quanh sự hình thành của Cựu Ước.
    II. Mục tiêu bài học: Sau khi học xong bài này, học viên có thể:
    ·                 Biết được bối cảnh lịch sử, nhân văn, địa lý của thời kỳ Cựu Ước và mối liên hệ của những bối cảnh này với sự hình thành Cựu Ước.
    ·                 Có một cái nhìn tổng quát về bản chất, cấu trúc, quá trình kinh điển của Cựu Ước.
    B. Nội dung bài học:
    I. Cựu Ước và nhân địa sử
    Giá trị của Kinh Thánh Cựu Ước và những sứ điệp của nó thật vượt ra ngoài biên giới của không gian và thời gian. Tuy vậy, chúng ta cũng cần biết rằng Cựu Ước đã được ra đời trong những bối cảnh nhất định về địa lý, văn hóa, và lịch sử. Sự nghiên cứu về những bối cảnh này giúp chúng ta càng hiểu rỏ hơn về Cựu Ước và những sứ điệp vĩnh hằng của nó. Ngoại trừ một phần đầu của Sáng Thế Ký, một phần lớn Ngũ Kinh, các sách lịch sử, thơ văn, và các sách tiên tri đều gắn liền với sự hình thành, cuộc đấu tranh sinh tồn của dân Y-sơ-ra-ên, và, thật đáng buồn, sự suy sụp của Y-sơ-ra-ên ở giữa những dân tộc của vùng Cận Đông thời cổ. Sự hiểu biết về địa lý của vùng Cận Đông cổ, về lịch sử và văn hóa của những dân tộc này và về mối quan hệ giữa dân Y-sơ-ra-ên và những dân tộc này sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc hiểu rỏ hơn những sứ điệp trong Cựu Ước.
    Bối cảnh địa lý rộng lớn của Cựu Ước là vùng Cận Đông thời cổ, và những vùng đồi núi của xứ Pa-lét-tin ngày nay chính là nơi mà phần lớn những câu chuyện Kinh Thánh Cựu Ước diễn ra. Bối cảnh văn hóa và lịch sử của Cựu Ước là của thời kỳ mà các nhà khảo cổ và các sử gia gọi là thời kỳ Đồ Sắt của vùng Sy-ri/Pa-lét-tin, bắt đầu từ thời kỳ suy thoái của Ai-cập và đế quốc Hê-tít (khoảng năm 1200 trước Công Nguyên) và chấm dứt vào khoảng thời gian A-léc-xan Đại Đế chinh phục vùng Địa Trung Hải và những khu phụ cận để thành lập đế quốc Hy-lạp (khoảng năm 300 trước Công Nguyên). Những đoạn kinh văn Cựu Ước thường liên quan đến những địa danh của những vùng núi non, thung lũng, thành phố, và làng mạc. Những địa danh này và những dân tộc cũng như phong tục tập quán vào thời bấy giờ có lẽ khá xa lạ đối với đọc giả của Kinh Thánh ngày nay, nhưng các tác giả Cựu Ước hình như xem việc các đọc giả vào thời bấy giờ quen thuộc với những điều này là chuyện hiển nhiên.
    1. Tầm quan trọng của “lịch sử” và “địa lý”
    Mặc dù quyển Cựu Ước vẫn còn tiếp tục “nói” với hàng triệu người trong thời kỳ của chúng ta hôm nay nhưng chúng ta sẽ không thể nào hoàn toàn hiểu hết chiều sâu của những sứ điệp của nó nếu chúng ta không thật sự hiểu về những con người của thời kỳ cổ đại. Những tác giả Cựu Ước đã dùng chữ viết, văn phạm, văn phong có ý nghĩa trong thời kỳ của họ để viết ra những trang Kinh Thánh gửi cho những đọc giả đầu tiên của họ là những con người sống cách đây hàng nhiều ngàn năm. Chúng ta nên nhớ là những con người này sống, làm việc, và suy nghĩ rất khác với chúng ta hôm nay trong nhiều phương diện. Họ không có một nền “khoa học hiện đại” như của chúng ta, họ du hành rất ít và ít khi gặp người nước ngoài. Một số lớn những người thời cổ này chưa hề đọc hoặc viết một chữ trong cả cuộc đời của họ. Ngay cả đối với những nhân vật trong cùng có mặt trong Cựu Ước, thế giới của họ cũng rất khác nhau. Thí dụ, thế giới của Áp-ra-ham rất khác với thế giới của tiên tri Giê-rê-mi một ngàn năm sau đó. Một công việc khó khăn nhưng thú vị của người nghiên cứu Thánh Kinh là tìm hiểu cách suy nghĩ của người xưa hay nói khác hơn tập “suy nghĩ” như họ đã suy nghĩ. Nổ lực này sẽ giúp chúng ta sàng lọc ra trong những đoạn kinh văn điều gì là những nét văn hóa, phong tục tập quán, chỉ có ý nghĩa và giá trị trong thời đại xa xưa và điều gì là sứ điệp vĩnh hằng mà Đức Chúa Trời muốn phán với chúng ta hôm nay qua phương tiện chuyển tải là những nét văn hóa, phong tục tập quán xa xưa đó.
    a. Bối cảnh thời gian của Cựu Ước:
    Điều đầu tiên cần để ý khi nghiên cứu Cựu Ước là trình tự thời gian. Nếu chúng ta không sắp xếp những hiểu biết về những sự việc diễn ra trong Cựu Ước theo một trình tự thời gian rỏ ràng thì những câu chuyện Cựu Ước chỉ là một khối lượng thông tin hổn độn mà không có một mối liên hệ rõ rệt nào giữa chúng với nhau và giữa những sự kiện diễn ra trong Cựu Ước với lịch sử của nhân loại. Dù không phải là một văn kiện lịch sử, nhưng những sự kiện trong Cựu Ước không phải là huyền thoại mà là những sự kiện lịch sử có thật về những con người có thật sống trong một giai đoạn lịch sử của nhân loại. Do đó, việc xác định những câu chuyện Cựu Ước trong bối cảnh và trình tự lịch sử nhân loại rất quan trọng trong việc khẳng định tính xác thật của Cựu Ước.
    Các học giả thường chia thời kỳ cổ đại ra làm ba thời kỳ khác nhau, dựa trên đặc tính của những dụng cụ sinh hoạt thông thường hàng ngày trong thời kỳ đó: thời kỳ Đồ Đá, thời kỳ Đồ Đồng, và thời kỳ Đồ Sắt. Thời kỳ Đồ Đá được kể là thời kỳ tiền sử cho đến khoảng 3500 năm trước Công Nguyên. Thời kỳ Đồ Đồng bắt đầu cuối thời kỳ Đồ Đá và kéo dài cho đến khoảng thế kỷ thứ 11 hay 12 trước Công Nguyên. Thời kỳ đồ sắt bắt đầu từ khoảng năm 1200 trước Công Nguyên cho đến đế quốc Hy-lạp của A-lec-xan Đại Đế như đã nói ở trên. Thời kỳ Đồ Sắt này là thời kỳ xuất hiện những đế quốc lớn, và những sử gia đã dùng những từ ngữ cụ thể hơn để chỉ về những khoảng thời gian nhỏ hơn trong đó có sự hiện diện các đế quốc này, thí dụ như thời kỳ “A-si-ri,” “Ba-tư,” hay “Hy-lạp,” v.v...
    Phần chính yếu của Cựu Ước là những sự kiện xoay quanh dân tộc Y-sơ-ra-ên. “Câu chuyện” của dân tộc Y-sơ-ra-ên có thể nói là bắt đầu từ một nhân vật nổi tiếng của Kinh Thánh là Áp-ra-ham, là người sống vào khoảng gần cuối thời kỳ Đồ Đồng. Chứng cớ Cựu Ước cho thấy những tư tưởng, những nét văn hóa, và những nếp sinh hoạt của những xã hội vào khoảng trước sau thời gian của Áp-ra-ham là dấu vết của một thời kỳ văn hóa đã tồn tại trước đó rất lâu, có thể là cuối thời kỳ Đồ Đá, khi con người xa xưa bắt đầu từ bỏ nếp sống du mục và săn bắn để quần tụ với nhau, thành lập những làng mạc, thành phố, và bắt đầu một xã hội nông nghiệp. Sự chuyển từ nếp sống du mục sang nếp sống nông nghiệp là một sự thay đổi lớn lao của nhân loại về nhiều phương diện. Kể từ đây, con người phải học cách sống chung với nhau để cùng sinh tồn, và cũng từ đây nhân loại bắt đầu kinh nghiệm những xung đột lớn lao mang tầm cỡ chủng tộc và quốc gia. Có người cho rằng sự thay đổi này chính là khởi nguồn của nền văn minh hiện nay. Các học giả tin rằng sự thay đổi này đầu tiên xảy ra ở những “vùng đất của Kinh Thánh,” trãi dài từ bờ Địa Trung Hải (xứ Pa-lét-tin và Thổ Nhĩ Kỳ) tiến về hướng Đông cho tới Ba-tư (Iran ngày nay).
    b. Những đặc tính địa lý nhân văn vùng Cận Đông Cổ
    Nói về phương diện địa lý, từ ngữ “Cận Đông” thời cổ chỉ về một khu vực rộng lớn hơn vùng “Cận Đông” hay “Trung Đông” của chúng ta ngày nay. Nó bao gồm lãnh thổ của Ai-cập, toàn xứ Pa-lét-tin và Sy-ri ở bờ phía Đông của Địa Trung Hải, vùng Lưỡng Hà ở Trung Á (Mesopotamia) giữa sông Ti-rơ và sông Ơ-phơ-rát ở Ba-by-lon (Iraq ngày nay), Ba-tư (Iran ngày nay), và cả vùng đất của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay. Nó bao gồm luôn cả vùng bán đảo Ả-rập. Chúng ta cũng không thể không kể đến một số bộ lạc và dân tộc thường xuyên tấn công hay thiên cư hẳn xuống khu vực “Cận Đông” từ những vùng đất mãi tận phía Nam của nước Nga ngày nay. Vùng Cận Đông Cổ cũng có những quan hệ với một nền văn hóa phát triển dọc bờ sông Indus của Ấn-độ vào thời bấy giờ.
    Trong khu vực Cận Đông Cổ, những chủng tộc khác nhau sống bên cạnh nhau. Nhóm chủng tộc lớn nhất được gọi là Semitic. Sự phân chia này chủ yếu là dựa vào loại ngôn ngữ mà những người trong nhóm chủng tộc này sử dụng. Nhóm chủng tộc này gồm có người A-kha-đi (A-si-ri và Ba-by-lon), người Ả-rập, người A-ram, người Ca-na-an, người Mô-áp, người Ê-đôm, người Am-môn, và người Hê-bơ-rơ. Những nhóm chủng tộc khác không phải là Semitic. Những nhóm quan trọng gồm có người Su-mê, người Hu-rơ, và người Hê-tít. Dù chúng ta có thể xác định hầu hết các nhóm chủng tộc trong một khu vực cư ngụ nào đó, nhưng điều này không phải là hoàn toàn cố định vì những nhóm chủng tộc này thường hay phải di cư vì lý do chiến tranh hoặc vì để tìm một vùng đất sống tốt hơn. Do đó chúng ta thấy sự có mặt của người Hê-tít trong xứ Pa-lét-tin trong khi về phương diện nhân chủng học thì nơi định cư nguyên thủy của họ là ở vùng cao nguyên A-na-to-lia (thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay).
    Như vậy ở vùng Cận Đông Cổ có nhiều nhóm chủng tộc khác nhau nói những ngôn ngữ khác nhau. Trong mỗi nhóm ngôn ngữ lại có sự phân chia thành những nhánh ngôn ngữ khác nhau nhỏ hơn. Đối với sự nghiên cứu Cựu Ước, nhóm ngôn ngữ Semitic là quan trọng nhất vì phần lớn Cựu Ước được viết bằng tiếng Hy-bá-lai (Hê-bơ-rơ). Một vài đoạn nhỏ trong sách Ê-xơ-ra và Đa-ni-ên được viết bằng tiếng A-ram. Hê-bơ-rơ là ngôn ngữ rất gần với ngôn ngữ của người Ca-na-an và ngôn ngữ Sy-ri. Ngôn ngữ của những láng giềng nhỏ của Y-sơ-ra-ên như Ê-đôm, Mô-áp, và Am-môn được xem như là thổ ngữ của nhóm ngôn ngữ Hê-bơ-rơ.
    Những đặc tính về phong thổ nơi những chủng tộc khác nhau sinh sống cũng rất đa dạng. Ai-cập và vùng Lưỡng Hà (Mesopotamia) là những vùng đất nằm trong lưu vực của những dòng sông lớn. Giữa chúng là những vùng đất sa mạc thuộc Ả-rập và Sy-ri. Phía Bắc và phía Đông vùng Cận Đông này là những rặng núi cao ngăn cách các nước với nhau. Những vùng sa mạc cũng tạo thành những biên giới tự nhiên. Trong gần suốt cả lịch sử của Ai-cập, chính những sa mạc Phi-châu bao chung quanh nó đã giúp cho quốc gia này tránh được những sự xâm lược từ bên ngoài. Đất đai màu mỡ dành cho nông nghiệp thì thật là hiếm hoi vì phần lớn vùng Cận Đông là sa mạc. Dân cư sống tập trung trong một dãi đất nông nghiệp có hình như lưỡi liềm bắt đầu từ lưu vực sông Nile thuộc Ai-cập, hướng về phía Bắc để trãi qua dọc bờ biển của xứ Pa-lét-tin, vắt ngang qua phía Bắc của Sy-ri, rồi từ đó đổi qua hướng Đông Nam để đi xuống những vùng lưu vực của những dòng sông thuộc Lưỡng Ha,ø và tiếp tục kéo dài cho đến vịnh Ba-tư. Chính sự màu mỡ của vùng đất hình lưỡi liềm này đã là động cơ thúc đẩy những bộ tộc ở vùng núi cao tiến xuống phía đồng bằng xâm chiếm những vùng đất để định cư.
    Hình thái địa lý của vùng Pa-lét-tin khá độc đáo. Mảnh đất này được tạo thành bởi bốn dải địa hình dài và hẹp, chạy theo hướng Bắc-Nam, nằm song song kế cận với nhau. Từ Tây sang Đông gồm có: (1) Một dải đồng bằng dọc bờ biển, hẹp ở phía Bắc và nở rộng ở phía Nam; (2) một dải đồi thấp giáp lưng với dải đồng bằng; (3) vùng núi cao gồm những dải núi chạy từ Bắc xuống Nam như xương sống của xứ Pa-lét-tin (thành phố Giê-ru-sa-lem tọa lạc trên vùng núi cao này); và (4) một dải đất màu mỡ thuộc lưu vực sông Giô-đanh, là vùng đất thấp nhất trên thế giới, chạy từ Bắc xuống phía Nam và chỉ bị gián đoạn hai lần bởi hồ Ga-li-lê ở phía Bắc và biển Chết ở phía Nam (sông Giô-đanh là sợi dây nối liền hồ Ga-li-lê với biển Chết). Pa-lét-tin không có những biên giới thiên nhiên bảo vệ như những vùng khác. Dải đất dọc bờ biển đã trở thành một “xa lộ” tự nhiên giúp cho những thương nhân, những người hành hương, những du khách, và cả những đoàn quân xâm lăng di chuyển qua lại giữa những thành phố lớn của Ai-cập và Lưỡng Hà thật dễ dàng. Chính việc trở thành một huyết mạch lưu thông quốc tế này đã dẫn đến việc hình thành một nền văn chương thật cao mà Cựu Ước chính là một bằng chứng điển hình. Các tác giả Kinh Thánh hình như biết rất rõ về những niềm tin tôn giáo cũng như những tác phẩm văn chương của những dân tộc chung quanh, nhưng có lẽ một phần cũng chính nhờ sự uyên bác này mà họ đã tạo thành những áng văn và những tư tưởng độc đáo mà không ai có thể sánh bằng trong thời cổ đại.
    2. Ai-cập (Ê-díp-tô)
    Câu chuyện nổi tiếng nhất của Cựu Ước có lẽ là câu chuyện đào thoát ra khỏi Ê-díp-tô của dân Y-sơ-ra-ên. Do đó, việc nghiên cứu Cựu Ước và lịch sử của dân tộc Y-sơ-ra-ên có một mối liên hệ mật thiết với những kiến thức về lịch sử của Ai-cập.
    Đời sống của dân cư Ai-cập tập trung vào một dải đất hẹp chạy theo hướng Nam-Bắc dọc theo dòng sông Ni-lơ (Nile), dài khoảng 4000 dặm từ trung tâm lục địa Phi-châu cho đến bờ Địa Trung Hải. Bên ngoài dải đất trồng trọt chật hẹp này là những sa mạc mênh mông, được điểm xuyết bởi những ốc đảo rãi rác. Mỗi năm ở Ai-cập được chia ra hai mùa rỏ rệt: “mùa gieo trồng” và “mùa chờ đợi” khi phần lớn đất đai nông nghiệp chìm trong nước lụt do những trận mưa lớn vào mùa Thu. Trong mùa chờ đợi này, các Pha-ra-ôn trưng dụng các nông dân đang ở không vào việc thực hiện các công trình xây dựng to lớn.
    Vào thời kỳ khởi thủy, Ai-cập đươcï chia ra là Thượng Ai-cập (vùng ở trung tâm Phi-châu) và Hạ Ai-cập (vùng hạ lưu sông Nile ở bờ Địa Trung Hải). Vào khoảng năm 3000 trước Công Nguyên, một vị vua của Thượng Ai-cập là Menes chinh phục vùng Hạ Ai-cập và thống nhất hai vùng thành một vương quốc duy nhất (nhưng các Pha-ra-ôn vẫn tiếp tục dùng hai vương hiệu, đội hai vương miện khác nhau tượng trưng cho sự cai trị hai vùng khác nhau.
    Về phương diện chủng tộc, người Ai-cập được xem là người châu Phi, nhưng vẻ ngoài của họ thì lại gần với những chủng tộc Semitic ở phía Bắc hơn. Họ cũng thích trao đổi mậu dịch và giao lưu văn hóa với những chủng tộc ở Pa-lét-tin, Li-ban, Sy-ri, v.v... hơn là những láng giềng Phi-châu ở phía Nam.
    Từ thời gian năm 3000 trước Công Nguyên cho đến thời gian vua Đa-vít của Y-sơ-ra-ên (khoảng năm 1000 trước Công Nguyên), lịch sử của Ai-cập được chia ra làm 3 giai đoạn: Cựu Vương Quốc (3000 – 2200), Trung Vương Quốc (2000 – 1750), và Tân Vương Quốc (1550 – 1150). Giữa những giai đoạn này là những thời kỳ rối loạn. Thời kỳ từ năm 2200 đến năm 2000 là thời kỳ nội chiến. Từ 1750 đến 1550 là thời kỳ vương quốc bị thống trị bởi thế lực ngoại xâm từ Á-châu (dân Hyksos). Từ thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên, các sử gia đã chia lịch sử Ai-cập ra 30 triều đại để tiện việc nghiên cứu.
    Triều đại 19 bắt đầu vào khoảng năm 1300 trước Công Nguyên dưới sự cai trị của hai Pha-ra-ôn Sethi I và Ramesses II. Các học giả tin rằng triều đại này là bối cảnh của Xuất-ê-díp-tô Ký đoạn 1 khi dân Y-sơ-ra-ên bị bạc đãi và đưa xuống hàng nô-lệ. Sethi I được cho là vị Pha-ra-ôn đã nô-lệ-hóa dân Y-sơ-ra-ên, và Ramesses II là vị Pha-ra-ôn trong thời kỳ của cuộc đào thoát của dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập. Từ triều đại thứ 20 trở về sau, Ai-cập không còn duy trì được vị trí của một vương quốc hùng mạnh mà đã suy yếu một cách nhanh chóng. Ai-cập chỉ còn đủ sức để chống trả lại những cuộc xâm lăng của những “dân tộc biển” đến từ Thổ-nhĩ-kỳ, Hy-lạp, và những đảo quốc như Chíp-rơ, Cờ-rết. Thất bại trong việc xâm lăng Ai-cập, những nhóm “dân tộc biển” này quay ngược lại để định cư dọc bờ biển xứ Pa-lét-tin và được gọi là dân Phi-li-tin trong Cựu Ước.
    Ai-cập rơi vào sự thống trị của dân A-syri trong vài năm sau năm 663. Đến năm 525, Ai-cập lại bị xâm chiếm bởi đế quốc Ba-tư và trở thành một tỉnh của đế quốc này. Năm 332, Ai-cập lại bị khuất phục bởi quân đội của đế quốc Hy-lạp, và A-lec-xan Đại Đế xưng mình là Pha-ra-ôn của Ai-cập. Dưới thời đế quốc La-mã, Ai-cập trở thành trung tâm nông nghiệp và văn hóa chính ở phía Đông của đế quốc này.
    3. Những dân tộc thuộc chủng tộc Semitic
    Semitic là họ chủng tộc bao gồm nhiều dân tộc trong đó có cả dân Do-thái như đã đề cập đến ở trên. Trong thời kỳ cổ xưa, họ chủng tộc này gồm một số dân tộc quan trọng như: Su-mê, Akkadian, Sy-ri, Phi-li-tin, và một số tiểu quốc dọc theo sông Giô-đanh.
    a. Dân Su-mê (Sumer)
    Nền văn minh Su-mê có thể được xem là một nền văn minh lớn đầu tiên của nhân loại xuất hiện vào khoảng đầu thời kỳ Đồ Đồng ở phía Nam của vùng Lưỡng Hà giữa hai con sông Ti-rơ và sông Ơ-phơ-rát. Nguồn gốc của dân Su-mê thì không được rõ, nhưng những truyền thống của dân tộc này cho thấy có thể họ đến từ những bộ tộc ở những vùng núi cao của Iran ngày nay. Tài liệu khảo cổ cho thấy những trung tâm “chính trị,” văn hóa, và tôn giáo của họ là những thành phố cổ như Ê-ri-đu (Eridu), U-rúc (Uruk), Ni-pơ (Nippur), và U-rơ (Ur).
    Những bảng gốm và những mảnh vụn tìm thấy cho thấy dân Su-mê đã sáng tạo ra chữ viết và một hệ thống toán học lục phân (một hệ thống dựa trên số 6 thay vì số 10 như của hệ thống thập phân chúng ta sử dụng hiện nay) vào khoảng năm 3000 trước Công Nguyên. Điều cần lưu ý là tuy được xếp vào họ chủng tộc Semitic, nhưng dân Su-mê có một hệ thống chữ viết hoàn toàn không liên quan gì đến chữ viết của những dân tộc khác trong họ Semitic. Người Su-mê có lẽ cũng đã có những phát minh quan trọng như bánh xe đẩy, bánh xe thợ gốm, những điều khoản luật pháp được tổ chức một cách có hệ thống, những bộ sưu tập về châm ngôn, ngạn ngữ. Những bảng viết tìm thấy trong những đống đổ nát cho thấy người Su-mê có những truyền thuyết, thần thoại tôn giáo, và những thiên anh hùng ca rất thú vị. Những tài liệu này cũng cho thấy xã hội người Su-mê vào thời bấy giờ cũng đã được tổ chức tương đối chặc chẽ. Xã hội được cai trị bởi một hội đồng chính quyền bao gồm những trưởng lão, giới quí tộc, hàng tăng lữ, v.v... Xã hội người Su-mê cũng có nô lệ, có lẽ là từ tù binh chiến tranh. Họ cũng đã phát triển được một nền nghệ thuật cao. Những tác phẩm nghệ thuật và những đồ trang sức bằng vàng và bạc có tính mỹ thuật rất cao tìm thấy ở những ngôi mộ hoàng gia của họ hiện vẫn đang được trưng bày ở viện bảo tàng Anh Quốc.
    b. Dân Akkad
    Chung quanh dân tộc Su-mê ở Lưỡng Hà là những dân tộc Semitic lâu đời hơn. Những dân này có mặt từ Lưỡng Hà cho đến những vùng đất phía Tây như Ả rập, Sy-ri, và Pa-lét-tin. Vào khoảng năm 2400 trước Công Nguyên, Sargon của Akkad, một thành nhỏ ở trung tâm khu vực Lưỡng Hà đã phá vỡ sức mạnh của Su-mê, sau đó bành trướng thế lực và trở thành đế quốc Akkad trãi rộng đến tận Sy-ri. Dân cư của đế quốc Akkad chịu ảnh hưởng văn hóa của người Su-mê một cách đậm nét, trừ chữ viết. Tuy nhiên đế quốc này chỉ tồn tại một thời gian ngắn.
    Chỉ trừ một khoảng thời gian ngắn chừng 100 năm (từ 2050 đến 1950) khi Su-mê giành lại được quyền thống trị vùng Lưỡng Hà, những dân tộc Semitic đã làm chủ vùng Lưỡng Hà trong thời gian 1800 năm, cho đến khi Si-ru Đại Đế của Ba-tư thành lập đế quốc Ba-tư vào thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên.
    Sau sự suy tàn của đế quốc Akkad, khu vực Lưỡng Hà dần dần phát triển thành hai vùng Nam Bắc có khuynh hướng chính trị khác nhau. Vùng phía Nam được gọi là Ba-by-lon, và vùng phía Bắc là A-sy-ri. Tuy sự phát triển về phương diện chính trị xã hội của hai vùng này đi theo hai hướng khác nhau, nhưng cư dân của hai vùng là những nhóm chủng tộc Semitic có liên hệ rất gần với nhau. Họ vẫn còn dùng chung một thứ tiếng nói và có nhiều nét văn hóa giống nhau. Trước cột mốc năm 1000 trước Công Nguyên, ta khó có thể phân định rõ ràng về quan hệ của hai nước Ba-by-lon và A-sy-ri, nhưng sau thời điểm đó ta có thể xác định là hai nước này đã bắt đầu có hai lịch sử hoàn toàn độc lập với nhau.
    c. Ba-by-lon
    Dù đã có lần trở nên một cường quốc dưới sự lãnh đạo của Ha-mu-ra-bi, nhưng Ba-by-lon chỉ thực sự trở thành một quốc gia độc lập dưới triều vua Na-bô-lát-sa và con là Nê-bu-cát-nết-xa từ năm 625 đến 562 trước Công Nguyên. Xuất phát từ hai nền văn hóa Su-mê và Akkad, Ba-by-lon vẫn mang đậm nét của những nền văn hóa này về nghệ thuật, văn chương, và khoa học. Ngôn ngữ của Ba-by-lon đã được sử dụng rộng rãi trong cả cõi Cận Đông thời bấy giờ.
    Hầu hết những sự đề cập đến Ba-by-lon trong những sự kiện Cựu Ước đều tập trung vào thời gian từ năm 700 đến 540 trước Công Nguyên. II Các Vua 18 và II Sử Ký 32 có đề cập đến việc Giu-đa bị quân dội của San-chê-ríp vây hãm. Nguyên do trực tiếp của sự vây hãm này là vì vua Ê-xê-chia hai lần hổ trợ cho một nhà cách mạng của Ba-by-lôn là Me-rô-đắc nổi dậy chống lại sự thống trị của A-sy-ri (năm 721 và 704 trước Công Nguyên). Đến năm 625 khi đế quốc A-sy-ri bắt đầu suy yếu, Ba-by-lon nhanh chóng lợi dụng tình hình để nắm quyền bá chủ và sau đó hình thành một đế quốc mới từ những gì còn sót lại của A-sy-ri, kể cả những vùng lãnh thổ A-sy-ri đã xâm chiếm trước đó. Giô-si-a là vị vua của Giu-đa đã hy vọng rằng sẽ có được độc lập dưới thời Nê-bu-cát-nết-xa, nhưng giấc mơ độc lập của dân Giu-đa đã tiêu tan khi Nê-bu-cát-nết-xa tiến về phía Tây để tiếp tục đô hộ và đòi hỏi triều cống chẳng kém gì A-sy-ri trước đó. Sự nổi dậy của Giu-đa năm 597 và năm 586 đã dẫn đến việc chấm dứt vương triều Giu-đa, sự tàn phá thành Giê-ru-sa-lem, và bắt đầu cuộc lưu đày qua Ba-by-lôn (II Các Vua 24 & 25). Cuộc lưu đày này kéo dài từ năm 586 cho đến 539, khi Đại Đế Si-ru của Ba-tư đánh bại Ba-by-lon để thành lập một đế quốc mới. Vua Si-ru đã cho những dân bị bắt làm phu tù, bao gồm cả dân Y-sơ-ra-ên, trở về quê hương.
    d. A-sy-ri
    A-sy-ri trở thành một cường quốc vào thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên và sau đó bắt đầu bành trướng về phương Bắc và phương Tây để trở thành một đế quốc. Đế quốc A-sy-ri dựa vào ba chính sách: (1) lưu đày dân cư những vùng đã chiếm; (2) đe dọa trừng phạt nặng nề những sự nổi loạn; và (3) biến những vùng đã chiếm thành một hệ thống tỉnh và đặt dưới một sự cai trị chặc chẽ. Vào thế kỷ thứ 9, vua A-sy-ri là As-su-na-si-pa và sau đó là con ông là Sa-ma-ne-se đã xâm chiếm gần hết Sy-ri rồi đến vương quốc phía Bắc của Y-sơ-ra-ên. Chính Sa-ma-ne-se đã để lại “tượng đài đen” nổi tiếng, trên đó có khắc hình vua Giê-hu-của Y-sơ-ra-ên cúi xuống để dâng lên đồ triều cống của vua chư hầu cho vua A-sy-ri.
    Từ năm 800 đến năm 750, A-sy-ri hơi suy yếu vì nội loạn và các vua bạc nhược. Nhưng từ năm 745, A-sy-ri đã hồi phục sức lực dưới thời của các vua hùng mạnh và tiếp tục bành trướng. Đế quốc A-sy-ri sau đó đã nuốt trọn Ba-by-lon, Sy-ri, vương quốc phía Bắc Y-sơ-ra-ên, Li-ban, Phi-li-tin, vương quốc Giu-đa phía Nam, Êđôm, Mô-áp, và Am-môn. Từ 745 cho đến năm 612, năm sụp đổ của thành Ni-ni-ve và cũng là năm đánh dấu sự chấm hết vĩnh viễn của thế lực của đế quốc A-sy-ri, tất cả các vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa cũng như tất cả các tiên tri đều bận tâm với mối liên hệ với A-sy-ri. Những thời điểm mang tính quyết định bao gồm sự nổi loạn của vương quốc phía Bắc Y-sơ-ra-ên và sự tiêu diệt của vương quốc này dưới tay Sa-ma-ne-se V và Sa-gôn II vào năm 722, sự xâm lăng vương quốc phía Nam Giu-đa do San-chê-ríp vào năm 701, và cuộc bạo loạn của vua Giu Đa là Giô-si-a từ 628 đến 622 trước Công Nguyên. Hiện ở viện bảo tàng Anh vẫn còn trưng bày một ký thuật bằng hình vẽ kể lại câu chuyện San-chê-ríp đã chiếm lấy thành La-ki từ tay vua Ê-xê-chia của Giu-đa vào năm 701. Sau cái chết của vua A-su-ba-ni-ban, A-sy-ri suy sụp một cách nhanh chóng và đến năm 609 thì hoàn toàn rơi vào tay của liên minh giữa Ba-by-lon và Mê-đê.
    e. Sy-ri
    Mãi cho đến những khám phá gần đây, không ai biết gì nhiều về lịch sử của Sy-ri. Những di chỉ khảo cổ gần đây cho thấy dân Ca-na-an (mà người Y-sơ-ra-ên đã gặp khi họ tiến vào xứ Pa-lét-tin) chịu ảnh hưởng nặng của hai nền văn hóa Sy-ri và Phi-ni-sơ (Li-ban của ngày nay).
    A-ram là từ ngữ chỉ về một nhóm các thành phố Sy-ri được hình thành bởi sự quần tụ lại của các bộ lạc vùng sa mạc ở Sy-ri sau năm 1300 trước Công Nguyên. Những thành phố này chịu sự tấn công của A-sy-ri một cách liên tục. Vào thế kỷ thứ 9 trước Công Nguyên, Đa-mách đã từ từ trở thành một vương quốc quan trọng dưới thời vua Bên-ha-đát và sau đó là Ha-xa-ên. Những tiểu quốc A-ram này là mục tiêu của cuộc xâm lăng bành trướng của A-sy-ri vào thế kỷ thứ 8.
    f. Dân Phi-li-tin
    Sự xuất hiện của dân Phi-li-tin trên đất Pa-lét-tin [1] gần như là cùng thời kỳ của cuộc tiến vào chinh phục “Đất Hứa” của người Y-sơ-ra-ên (khoảng năm 1200 trước Công Nguyên). Lịch sử Ai-cập ghi lại những cuộc tấn công của “dân tộc biển” từ phương Bắc (qua ngã Hy-lạp, Thổ-nhĩ-kỳ, đảo Cờ-rết). Nguồn gốc của những “dân tộc biển” này có lẽ là ở mãi tận những vùng ở phía nam nước Nga ngày nay. [1]
    Không thành công trong cuộc xâm lăng Ai-cập, những “dân tộc biển” này quay ngược trở lên xứ Pa-lét-tin và định cư tại đó. Họ thành lập năm thành liên minh chặt chẽ với nhau: Ết-rôn, Ách-đốt, Ách-kê-lôn, Ga-xa, và Gát. Đây cũng là thời kỳ của cuộc chinh phục của Giô-suê và các quan xét. Trong một thời gian khá dài, dân Phi-li-tin và Y-sơ-ra-ên sống trong hòa bình. Nhưng đến khoảng gần cuối thời kỳ các quan xét, dân Phi-li-tin bắt đầu tiến lên xâm chiếm những vùng đất cao đang được người Y-sơ-ra-ên cư ngụ. Chính những cuộc tấn công này đã đưa dân Y-sơ-ra-ên đến ý nghĩ phải có một vua để cai trị (trong thời của Sa-mu-ên). Các sách 1 & 2 Sa-mu-ên chủ yếu là câu chuyện dân Y-sơ-ra-ên đã đối đauà với dân Phi-li-tin như thế nào.
    Vua Đa-vít đã thành công trong việc chinh phục những thành của người Phi-li-tin. Nhưng sau khi vua Sa-lô-môn chết vào năm 930 trước Công Nguyên, người Phi-li-tin đã dành lại được độc lập. Họ duy trì tình trạng độc lập này cho đến cuộc xâm lăng của A-sy-ri vào thế kỷ thứ 8.
    g. Những tiểu quốc gần sông Giô-đanh
    Ngoài những vương quốc lớn kể trên, Cựu Ước còn đế cập đến một số nước nhỏ như A-mô-rít, Ê-đôm, Mô-áp, và Am-môn.
    4. Những “láng giềng” không thuộc họ chủng tộc Semitic
    a. Dân Hê-tít
    Dân Hê-tít đã xây dựng được một đế quốc lớn trên lãnh thổ của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay vào khoảng từ năm 1500 đến 1200 trước Công Nguyên. Tuy nhiên, đế quốc Hê-tít đã sụp đổ vào khoảng đầu của thời kỳ các quan xét của Y-sơ-ra-ên. Những di tích của những thành phố cổ của người Hê-tít vẫn còn cho đến ngày nay tại Thổ Nhĩ Kỳ. Văn chương tìm thấy về dân Hê-tít cho thấy họ cùng nguồn gốc với người Hy-lạp. Cựu Ước nhiều lần ghi nhận sự hiện diện của người Hê-tít giữa vòng người Ca-na-an. Có lẽ đây là những nhóm lưu vong khi những thành phố Hê-tít bị xâm chiếm.
    b. Ba-tư
    Vùng đất ở phía Đông khu vực Lưỡng Hà và thuộc Iran ngày nay là lãnh thổ của hai dân tộc lớn: Dân Mê-đê ở phía Bắc và Ba-tư ở phía Nam. Dân Mê-đê liêm minh với Ba-by-lôn để đánh A-sy-ri (614 – 609), nhưng chẳng bao lâu sau đó đã bị khuất phục bởi vua Si-ru của Ba-tư.
    Si-ru đã thành công công việc thiết lập một đế quốc trãi rộng từ Ấn-độ cho đến biên giới Hy-lạp. Trái với những đế quốc trước đây đã dùng chính sách khủng bố để cai trị như A-sy-ri và Ba-by-lon, Si-ru thành lập những tỉnh lớn và cho những nhà lãnh đạo địa phương có một phần quyền lực. Những dân tộc bị trị cũng được hưởng sự tự do về phong tục và tôn giáo. Hai thế kỷ cai trị của đế quốc Ba-tư (539 đến 333 trước Công Nguyên) là hai thế kỷ yên lặng, có lẽ vì thế mà Cựu Ước không ghi lại gì nhiều về khoảng thời gian này (ngoại trừ một số sách mà Do-thái Giáo và Giáo Hội Tin Lành không công nhận là thuộc vào hàng kinh điển).
    II. Quá Trình Kinh Điển và Cấu Trúc của Cựu Ước
    1. Một vài vấn đề về quá trình kinh điển hóa Cựu Ước
    Như đã đề cập đến ở bài 1, quyển Cựu Ước được thừa nhận bởi Do-thái Giáo và giáo hội Tin Lành chỉ có 39 sách, trong khi giáo hội Công Giáo lại sử dụng quyển Cựu Ước có đená 46 sách. Tại sao có sự khác biệt này?
    Truyền thống của người Do-thái thừa nhận 3 phần của Cựu Ước: Luật Pháp (Torah), Tiên Tri (Nebi’im), và Văn Chương (Ketubim). Vì lý do đó mà người Do-thái thường dùng chữ TaNak để chỉ về Kinh Thánh của họ (để ý tanak là chữ ghép dùng những mẫu tự đầu của ba chữ trên). Nhưng khi đối thoại với những tín hữu Cơ-đốc thì người Do-thái dùng từ ngữ “Kinh Thánh Hy-bá-lai” để phân biệt giưã Kinh Thánh của họ—Cựu Ước theo cách gọi của tín hữu Cơ Đốc—với Tân Ước của Cơ-đốc giáo. Sự phân chia Cựu Ước ra ba phần này lần đầu tiên được thấy ở sách Jesus ben Sirach vào khoảng năm 130 trước Công Nguyên. Các tác giả của các sách Tin Lành cũng có dùng đến sự phân chia này trong khi viết. Thí dụ, Phúc Âm Ma-thi-ơ dùng cụm từ “Luật Pháp và Tiên Tri” (Ma. 5: 17; 7: 12) đẻ chỉ về Cựu Ước. Tuy nhiên, cách phân chia đơn giản này có thể làm cho đọc giả khó hiểu và lẫn lộn vì kinh điển của người Do-thái xếp các sách Giô-suê, Các Quan Xét, Sa-mu-ên, và Các Vua vào nhóm các sách Tiên Tri, mặc dù các sách này rỏ ràng là bản ký thuật của công cuộc chinh phục Đất Hứa và những triều vua Y-sơ-ra-ên.
    Chính vì sự mơ hồ kể trên mà Kinh Thánh của Cơ-đốc giáo đã chia ra làm 4 phần, trong đó các sách lịch sử được tách ra thành một nhóm “Lịch Sử” riêng biệt mà không còn kể vào các sách tiên tri nữa. Đây cũng chính là sự chia nhóm mà Bản Bảy Mươi đã dùng khi các học giả thời đó dịch Cựu Ước ra tiếng Hy-lạp. Như vậy, Cựu Ước có 4 nhóm: (1) Ngũ Kinh (Torah hay Pentateuch trong tiếng Hy-lạp); (2) Lịch Sử; (3) Văn Chương; và (4) Tiên Tri.
    Để trả lời câu hỏi “tại sao có sự khác biệt về con số sách trong kinh điển của Do-thái giáo (và Tin Lành) và số sách trong kinh điển của Công Giáo?,” chúng ta cần đi ngược lại thời gian một chút.
    Từ ngữ “kinh điển” được dùng để chỉ về tập hợp những sách đã được một giáo hội công nhận chính thức là có chứa đựng mặc khải thiên thượng sau khi đã đo lường cẩn thận (theo một số tiêu chuẩn nhất định). Từ ngữ này trong tiếng Anh là “canon.” Những từ ngữ “canon” hay “kinh điển” xuất phát từ chữ qaneh trong tiếng Hy-bá-lai, là một chữ dùng để chỉ về một cái que bằng sậy dùng vào việc đo đạc.
    Khi số lượng những kinh sách được lưu truyền nhiều đến nỗi mà việc quyết định sách nào là “đạt tiêu chuẩn” và thiết yếu cho đức tin và sách nào không đủ tiêu chuẩn trở nên thật khó khăn, việc cần phải có một bộ “kinh điển” trở nên thật cần thiết. Việc thiết lập một “kinh điển” giúp cho việc xác định một luật lệ nhất định trong việc chọn lựa những tác phẩm thiết yếu cho niềm tin. “Kinh điển” đóng vai trò của một bản “hiến pháp” nhằm cung cấp những nguyên tắc thuộc linh để dựa vào đó một công đồng đức tin xác định chính mình và hành động theo đúng niềm tin của công đồng.
    Đối với Cựu Ước, quyết định cuối cùng về việc những sách nào “đạt tiêu chuẩn” để được chính thức có mặt trong Cựu Ước chỉ đạt được sau một quá trình lâu dài. Bộ kinh điển của người Do-thái—Cựu Ước—gồm có 39 sách. Tất cả được viết trong tiếng Hy-bá-lai và Aram. Tất cả đều được thảo luận, cân nhắc cẩn thận, và được chấp nhận bởi các Ra-bi (giáo sư Do-thái giáo) trong thế kỷ thứ 1 sau CÔng Nguyên. Trong khi đó, bộ kinh điển CưÏu Ước của Công Giáo thì lại có đến 46 sách. Bộ kinh điển Công Giáo có 46 sách này lần đầu tiên được giới thiệu tại những hội đồng hội thánh địa phương ở Bắc Phi vào thế kỷ thứ 4: ở Hippo năm 393, ở Carthage năm 397 và 417. Nhưng bộ kinh điển này chưa nhận được sự chấp thuận chính thức và long trọng bởi giáo hội cho mãi đến giáo hội nghị ở Trent vào tháng 4 năm 1546, mặc dù bộ kinh điển này trong thực tế đã được sử dụng trong giáo hội từ thế kỷ thứ 4.
    Việc bộ kinh điển Cựu Ước của giáo hội Công Giáo nhiều hơn bộ kinh điển của người Do-thái 7 sách phát sinh từ việc Bản Bảy Mươi (bản dịch của Cựu Ước ra tiếng Hy-lạp) có nhiều hơn 7 sách so với bộ kinh điển được chấp nhận và sử dụng bởi những người Do-thái nói tiếng Hy-bá-lai và Aram ở khu vực Pa-lét-tin. 7 sách nhiều hơn trong Bản Bảy Mươi gồm: Mắc-ca-bê 1 & 2, Judith, Tobit, Baruch, Sirach, và Khôn Ngoan của Salomon. Nguyên bản của những sách này được viết trong tiếng Hy-lạp, trừ ra sách Sirach có nguyên bản là tiếng Hy-bá-lai. Người Do-thái dùng từ ngữ “thứ kinh” (deuterocanonical) để chỉ những sách này với ngụ ý là chúng không được kể vào hàng kinh điển. Nhưng đối với Cơ-đốc nhân vào thời kỳ hội thánh đầu tiên, quyển Cựu Ước của họ không phải là quyển Cựu Ước tiến Hy-bá-lai mà là Bản Bảy Mươi trong tiếng Hy-lạp. Vì tiếng Hy-lạp được sử dụng trong toàn cõi đế quốc La-mã, Bản Bảy Mươi có 46 sách dần dần được xem như là ngang hàng với bản Cựu Ước tiến Hy-bá-lai của người Do-thái trong giáo hội thời bấy giờ. Đến thế kỷ 16, các nhà cải chánh giáo hội đòi hỏi phải trở về với bản Cựu Ước trong tiếng Hy-bá-lai có 39 sách. Kể từ đó đến nay, giáo hội Tin Lành chỉ thừa nhận và sử dụng 39 sách theo như Cựu Ước tiếng Hy-bá-lai của Do-thái giáo. Đối với 7 sách chênh lệch kể trên, giáo hội Tin Lành kể là “ẩn kinh” (apocrypha). Ngoài ra, còn có những sách hoàn toàn không được kể là kinh điển như Hê-nóc hay Sự Thăng Thiên của Môi-se mà giáo hội Tin Lành gọi là “ngụy kinh” (pseudepigrapha).
    2. Bức tranh tổng quát của Cựu Ước
    * Cựu Ước bắt đầu với Ngũ Kinh. Sáng-thế Ký mô tả sự kêu gọi và chuẩn bị đối với một dân tộc (Y-sơ-ra-ên), bắt đầu từ thời kỳ sáng tạo cho đến thời kỳ các tộc trưởng. Xuất Ê-díp-tô Ký ghi lại sự giải phóng phi thường đưa dân Y-sơ-ra-ên thoát khỏi cảnh nô lệ ở Ê-díp-tô và sự thiết lập giao ước. Lê-vi Ký mô tả những nghĩa vụ đối với giao ước đó. Dân-số Ký nói thêm về những luật lệ và ký thuật về câu chuyện của dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng. Phục Truyền Luật-lệ Ký giải thích sâu hơn và tóm lược ý nghĩa của giao ước mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với dân tộc Y-sơ-ra-ên.
    * Những sách lịch sử mô tả việc giao ước của dân Y-sơ-ra-ên đã được thể hiện thế nào trong đất hứa. Giô-suê mô tả cuộc chinh phục đất hứa. Các Quan-xét mô tả thời kỳ định cư và cuộc đấu tranh sinh tồn giữa những dân tộc khác chung quanh. Các sách 1 & 2 Sa-mu-ên mô tả quá trình dân Y-sơ-ra-ên tiến đến nền quân chủ. 2 sách 1 & 2 Các Vua ghi lại cuộc đời và mức độ mộ đạo của các vị vua kể từ Đa-vít cho đến những ngày cuối cùng của chế độ quân chủ Y-sơ-ra-ên. Theo truyền thống Do-thái, sáu sách này được gọi là “Tiền Tiên Tri” vì chúng chứa đựng những lời mang tính chất tiên tri và phán xét mạnh mẽ được truyền qua miện của nhiều vị tiên tri khác nhau. Cùng với 1 & 2 Các Vua, những sách 1 & 2 Sử Ký, Ê-xơ-ra, và Nê-hê-mi ký thuật lại những sự kiện lịch sử từ thời kỳ đầu của chế độ quân chủ Y-sơ-ra-ên cho đến tận sau thời kỳ lưu đày Ba-by-lôn. Ru-tơ là câu chuyện về một phụ nữ ngoại bang trở thành “nàng dâu” trung thành của Y-sơ-ra-ên vào tời kỳ Các Quan-xét. Ê-xơ-tê là câu chuyện một cô gái Y-sơ-ra-ên trung tín trở thành hoàng hậu trong vương triều Ba-tư vào thế kỷ thứ 5 trước Công Nguyên.
    * Những sách văn thơ chứa đựng nhiều áng văn tuyệt mỹ nói lên những suy gẫm của dân tộc Y-sơ-ra-ên về niềm tin của họ. Thi-thiên là quyển sách về sự cầu nguyện và thánh ca cho sự thờ phượng. Gióp là sự trả lời cho câu hỏi mang tính thần học về mối tương quan giữa sự đau khổ và sự toàn thiện của Đức Chúa Trời. Châm Ngôn và Truyền Đạo là bộ sưu tập những tinh hoa của một đời sống khôn ngoan theo ý muốn Đức Chúa Trời. Nhã Ca là những bài thơ tình mô tả tình yêu của Đức Chúa Trời đối với “cô dâu” của Ngài là Y-sơ-ra-ên.
    * Những sách tiên tri được chia ra làm hai phần: Đại Tiên Tri và Tiểu Tiên Tri. Việc phân chia này chủ yếu là dựa theo độ dài của sách. Ê-sai, Giê-rê-mi, và Ê-xê-chi-ên là những sách thuộc nhóm Đại Tiên Tri. Đa-ni-ên cũng thuộc nhóm này nhưng hướng nhiều về thời kỳ mạc thế (apocalyptic).


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels