• BÀI HỌC 5 Từ Công Tác Giải Kinh Đến Bài Giảng

    BÀI HỌC 5

    Từ Công Tác Giải Kinh Đến Bài Giảng

    A.  Giới thiệu bài học
    Mục đích bài học: Giúp học viên biết được những bước và kỷ thuật căn bản trong quá trình giải nghĩa một đoạn kinh văn và áp dụng kết quả của việc giải kinh vào việc xây dựng một bài giảng.
    B. Nội dung bài học:
    Trong suốt thời kỳ thụ huấn trong chủng viện, hầu hết các sinh viên chủng viện đều phải viết tối thiểu một hai bài giải kinh để thỏa mãn yêu cầu của những lớp nghiên cứu về Kinh Thánh.  Nhưng có một nan đề là ít người biết áp dụng những kết quả của công việc giải kinh vào việc soạn một bài giảng giải kinh một cách có hệ thống và hiệu quả.  Bài học này là nhằm giúp các học viên, nhất là các học viên sẽ gánh trách nhiệm làm người rao giảng lời Chúa trên bục giảng, biết làm thế nào để xây dựng một bài giảng dựa trên những kết quả gặt hái được trong quá trình giải kinh.  Nhìn về hình thức bề ngoài, không nhất thiết là bài giảng nào cũng phải là một bài “giảng giải kinh.”  Ngày nay, có nhiều cách để truyền đạt sứ điệp của Chúa đến cho con cái Chúa.  Tùy theo mức độ của việc sử dụng những chi tiết giải kinh vào bài giảng ít hay nhiều mà ta (về mặt hình thức) có thể xem  đó có phải là một bài giảng giải kinh hay không.  Nhưng tựu trung, một bài giảng phải là một bài giảng, không phải là một bài nói chuyện hay thuyết trình.  Điều này có nghĩa là bài giảng phải trung thành với lời Chúa, và như vậy phải đặt nền tảng trên lời Chúa.  Cho nên dù bài giảng không mang nặng tính giải kinh, nó cũng phải sử dụng ít nhiều những kết quả của công việc giải kinh.  Nếu các học viên biết cách áp dụng việc giải kinh vào việc xây dựng bài giảng một cách có hệ thống, họ sẽ tự tin và hiệu quả hơn trên bục giảng.
    Về phương diện tiến trình, công việc giải kinh để dùng vào một bài giảng cũng không khác gì mấy so với việc giải kinh để viết một bài giải kinh để nộp cho giáo sư trong lớp giải kinh, nhưng (may mắn thay) về phương diện thời gian thì ngắn hơn và về phương diện mục tiêu thì đơn giản hơn.  Do đó, bài học này sẽ điểm lại những bước cần thiết đã học qua trong bài học trước và, quan trọng hơn, là sẽ nhấn mạnh đến phần áp dụng, nghĩa là sẽ đưa ra những lời khuyên về việc điểm nào cần giữ lại trong bài giảng và điểm nào có thể lướt qua. 
    Tuy ở trên chúng ta nói rằng việc giải kinh để làm bài và giải kinh để giảng không khác gì nhau, nhưng vì tính áp dụng của việc giải kinh để giảng cho nên những bước giải kinh trong bài học trước có thể được điều chỉnh khá nhiều để đáp ứng được nhu cầu thực tế.  Việc giải kinh để giảng không cần thiết phải cặn kẻ đến từng chi tiết như gỉai kinh để làm bài.  Nhưng điều này không có nghĩa là nó không đầy đủ hoặc nông cạn.  Những trang sau đây sẽ là một bản hướng dẫn ngắn hơn so với bài trước với mục đích là giúp các mục sư rút ra từ những đoạn kinh văn những điều thiết yếu nhất liên quan đến việc giải nghĩa và áp dụng.  “Sản phẩm” cuối cùng—bài giảng—có thể và phải được xây dựng trên những kết quả thỏa đáng và đáng tin cậy của việc nghiên cứu Kinh Thánh một cách trung tín.  Là một phần của sự thờ phượng Chúa, bài giảng không nên “bọc” cho sự nghiên cứu hời hợt một cái áo choàng của sự sôi nổi, nghĩa là che dấu sự hiểu biết nông cạn của mình về đoạn kinh văn đang giảng bằng hình thức ồn ào náo nhiệt bên ngoài.  Bài giảng nên và “có quyền được” sống động, gây thích thú cho người nghe giảng, nhưng mặt khác nó phải trung thành với lời hằng sống của Đức Chúa Trời.
    Nói một cách trung bình, phần hướng dẫn dưới đây là dành cho các mục sư, truyền đạo có khoảng từ 10 tiếng đồng hồ trở lên mỗi tuần để chuẩn bị bài giảng (5 tiếng đồng hồ cho việc giải kinh và 5 dành cho việc viết bài giảng).  Tuy nhiên các vị “bận rộn” hơn có thể điều chỉnh lại để thích hợp với thời khóa biểu của mình.  Ngoài ra, thời gian dành cho việc viết bài giảng còn tùy theo khả năng của mỗi người, không thể nào ấn định một cách cứng nhắc được.
    Một điều cần lưu ý nữa là hiệu quả của việc áp dụng kết quả của công trình giải kinh vào bài giảng tùy thuộc vào việc chúng ta có thực tập thường xuyên hay không.  Khi học viên trở nên quen thuộc với những bước cần tiến hành trong quá trình giải kinh, họ sẽ đạt đến mức độ mà ở đó họ sẽ tự biết phải đào sâu hơn ở bước nào, bước nào có thể lướt qua, và bước nào có thể bỏ qua.  Nên nhớ rằng những hướng dẫn ở đây chỉ là sự bắt đầu, và không phải là một công thức bất di bất dịch, lúc nào cũng phải bám sát theo.  Kinh nghiệm sẽ làm phong phú hơn cho việc áp dụng.[1]
    I. Tiến Trình Giải Kinh Cho Bài Giảng
    Công tác “giảng” có thể được định nghĩa một cách đơn giản và ngắn gọn là việc đưa người nghe của thời đại hôm nay đối diện với Lời Chúa mà qua tay của các tác giả đã được chép ra cách đây hàng ngàn năm.  Công tác của sự giải kinh là “khai quật” ý nghĩa của Lời đó, càng gần với ý nghĩa và dự định nguyên thủy càng tốt.  Người gánh trách nhiệm rao giảng Lời Chúa một mặt cần phải lĩnh hội được Lời Chúa (đến mức tối đa mà Chúa ban ơn cho mình, do sự soi sáng của Thánh Linh và sau khi đã tiến hành một quá trình giải kinh cẩn thận), một mặt khác cần phải hiểu rõ những thính giả của ngày hôm nay, những người mà một lần nữa sứ điệp của Chúa qua bài giảng sẽ trở thành Lời Sống cho họ.  Nhìn từ góc độ niềm tin, “giảng” không phải là công việc của con người, tuy rằng “con người” của người giảng đóng một vai trò quan trọng trong việc này.  Người giảng là “phát ngôn viên” của Đức Chúa Trời, cho nên việc nghiên cứu Lời Chúa và soạn bài giảng để rao giảng sứ điệp của Đức Chúa Trời phải ở trong sự soi sáng và hướng dẫn của Đức Thánh Linh.  Sự cầu nguyện dĩ nhiên phải là cái xương sống cho mọi công việc từ chuẩn bị, nghiên cứu, soạn bài, và rao ra lời Chúa.  Tuy nhiên, vì bài học của chúng ta có tính chuyên môn cho nên trong những chương sau đây chúng ta sẽ bắt tay vào công việc nghiên cứu chuyên môn, với một điều tin tưởng là tất cả chúng ta đều đã chuẩn bị trước hết bằng sự cầu nguyện. 
    Về phương diện chuyên môn, một câu hỏi cần đặt ra là “chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu?”  Dĩ nhiên, khởi điểm là sự chọn lựa đoạn kinh văn mà chúng ta sẽ giảng.  Nhưng điều gì hướng dẫn sự chọn lựa đó?  Có thể có hai cách: (1) Có thể sự chọn lựa đến trong khi chúng ta đang nghiên cứu một sách nào đó trong Kinh Thánh và nhận ra một đoạn kinh văn có thể đáp ứng được một nhu cầu thuộc linh nào đó của hội thánh; hoặc (2) chúng ta nhận thấy có một nhu cầu thuộc linh cụ thể nào đó và tìm kiếm trong Kinh Thánh những đoạn kinh văn có thể đáp ứng được nhu cầu đó.  Vì bài học của chúng ta nằm trong lãnh vực lý thuyết cho nên phần hướng dẫn sau đây sẽ theo cách thứ nhất, có nghĩa là chúng ta sẽ chọn lựa một đoạn kinh văn làm thí dụ và sẽ để cho đoạn kinh văn này “ấn định” phương hướng của bài giảng của chúng ta.  Tuy nhiên trong thực tế, chúng ta cần lưu ý rằng cái nhược điểm và thậm chí là “nguy cơ” của việc giảng một loạt bài liên tục dựa trên một sách nào đó trong Kinh Thánh (nghĩa là để đoạn kinh văn “ấn định” bài giảng) là bài giảng của chúng ta rất có thể sẽ trở thành một bài giải kinh thuần túy, về phương diện thần học và học Kinh Thánh thì “bay bỗng” nhưng về phương diện thực tế thì ít liên quan gì đến những băn khoăn trăn trở của tín hữu, là những người đang cần nghe những lời an ủi, khích lệ, cổ võ trên con đường đức tin khi họ phải đối diện với những nan đề trong cuộc sống hàng ngày.  Những bài giảng như vậy giống như sự giải thích mà không có mục đích, những thông tin mà không có trọng điểm.  Những “bài giảng” (thực ra là bài giải kinh) như vậy có thể rất tốt cho lớp học Kinh Thánh hoặc Trường Chúa Nhật, nhưng nó không phải là một bài giảng thực sự.  Công tác giảng phải được xây trên một nền tảng giải kinh vững chắc, nhưng không phải là một sự trình bày của một quá trình giải kinh.  Hãy thử tưởng tượng thái độ của con cái Chúa khi mỗi buổi sáng Chúa Nhật đến phần giảng luận thì mục sư tuyên bố “hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục nghiên cứu đoạn ... của sách ...”  Nếu chúng ta muốn một bài giảng chứa đựng nhiều chi tiết giải kinh thực sự đóng vai trò của một bài giảng đúng mức, những chi tiết giải kinh này phải là những chi tiết được ứng dụng có mục tiêu rõ ràng.  Nói tóm lại, có hai thái cực cần nên tránh: (1) Bài giảng chỉ là những “cảm xúc” của chúng ta về một đoạn kinh văn mà không được dựa trên một sự giải kinh cẩn thận và (2) bài giảng chỉ là một bài giải kinh thuần túy, phần lớn là nhằm phô trương sự “uyên bác” của chúng ta về kiến thức Kinh Thánh nhưng “nói” rất ít về những nhu cầu tâm linh thiết thực của tín hữu.
    Do đó, khi tiến hành quá trình giải kinh để dùng cho bài giảng, chúng ta cần phải chú ý tập trung vào hai điểm.  Thứ nhất, chúng ta cần nghiên cứu để biết càng nhiều càng tốt về đoạn kinh văn được chọn, ý chính của cả đoạn, và những chi tiết giải kinh trong đoạn văn đó hợp cùng nhau như thế nào để ủng hộ và làm nổi bật ý chính đó (khi làm như vậy thì chúng ta sẽ nhận ra rằng không phải chi tiết giải kinh nào cũng cần phải được sử dụng trong bài giảng).  Thứ hai, luôn nghĩ về phương diện ứng dụng của đoạn kinh văn; những chi tiết nào không cần thiết cho việc ứng dụng có thể bỏ qua. 
    Trong phần hướng dẫn những bước giải kinh cho bài giảng sau đây, chúng ta sẽ sử dụng minh họa từ hai đoạn kinh văn: Mác 9: 49 – 51[2] và 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24.  Đoạn thứ nhất là câu nói rất khó hiểu của Chúa Giê-xu.  Chúng ta nghiên cứu đoạn này để nắm vững cách đương đầu với những đoạn văn khó.  Đoạn thứ hai là đoạn nói về chế độ nô lệ.  Chúng ta tìm hiểu đoạn này để biết cách áp dụng một sứ điệp Kinh Thánh được viết ra thời xa xưa vào hoàn cảnh chúng ta hôm nay. 
    1.  Giai đoạn bắt đầu
    a.  Khảo sát văn cảnh tổng quát
    Đừng quá nôn nóng tìm kiếm ý nghĩa của đoạn văn mà chúng ta sẽ giảng đến nỗi quên việc để ra một ít thời gian để có được một cảm giác tổng quát về văn cảnh chung quanh và việc đoạn kinh văn được chọn sẽ phù hợp vào văn cảnh đó như thế nào.  Nên nhớ rằng đoạn kinh văn mà chúng ta sẽ giảng chỉ là một phần của một bức tranh lớn hơn, và các tác giả không bao giờ có ý định để cho đoạn kinh văn này được hiểu một cách riêng lẻ, hoàn toàn độc lập với những đoạn văn khác chung quanh.
    Do đó, chúng ta cần phải có thói quen đọc đoạn văn sẽ giảng trong một văn cảnh lớn hơn, nghĩa là không chỉ đọc riêng đoạn văn sẽ giảng mà nên đọc thêm nhiều đoạn trước và sau đoạn kinh văn được chọn.  Độ rộng của việc đọc này thì không thể nào được xác định bởi một công thức cứng nhắc, nhưng kinh nghiệm lâu ngày sẽ cho chúng ta biết đọc đến đâu là vừa đủ.  Điểm chính là chúng ta cần biết rõ mối quan hệ của đoạn văn được chọn và văn cảnh chung quanh.
    Sau khi đọc qua những đoạn này, chúng ta cần đọc lại một lần nữa.  Sau đó, chúng ta sẽ đọc cùng những đoạn này nhưng trong một hay nhiều bản dịch khác.  Nếu đoạn văn được chọn nằm trong một sách ngắn, ví dụ như sách tiên tri Giô-na hoặc thư tín Phi-líp, cố gắng đọc hết cả sách.  Để ý về luồng biện luận của tác giả và đoạn văn được chọn sẽ hòa vào luồng biện luận đó như thế nào.  Nếu gặp những sách dài hơn thì đọc đi đọc lại phần mà trong đó có đoạn văn của chúng ta (ví dụ như chúng ta sẽ đọc 1 Phi-e-rơ 1: 1 – 3: 22 trong đó có chứa đoạn kinh văn của chúng ta là 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24).  Thường thì chúng ta có thể nhờ vào sách giải kinh để xác định biên giới của việc đọc này.  Sau khi đã đọc kỷ như vậy, chúng ta có thể dễ dàng hình dung việc gì xảy ra trước đoạn văn đang khảo sát và việc gì sẽ đi tiếp theo sau.
    b.  Đọc kỷ đoạn văn sẽ giảng
    Sau khi đã có một khái niệm tổng quát nhưng rõ ràng về văn cảnh chung quanh, bêy giờ chúng ta sẽ đọc kỷ đoạn kinh văn sẽ giảng.  Đọc đi đọc lại cho đến khi chúng ta nắm được nội dung căn bản của đoạn văn.  Nếu có thể được, đọc lớn tiếng và rõ ràng.  Cố gắng đặt mình vào chổ của tín hữu khi họ nghe Lời Chúa được tuyên đọc vào sáng Chúa Nhật để có một cảm nhận gần với thực tế.  Việc “thực tập” như vậy có thể xem như là tạm đủ khi chúng ta còn nhớ được những điều thiết yếu trong đoạn văn này khi chúng ta đi qua năm bước tiếp theo sau đây.  Trong những lần đọc đầu tiên, chúng ta nên dùng bản dịch Kinh Thánh mà chúng ta quen dùng trong hội thánh.  Sau đó, chúng ta có thể đọc đoạn văn này trong những bản dịch khác và ghi lại những điểm khác nhau quan trọng giữa các bản dịch.  Cần chú ý là có những sự khác nhau chỉ là sự khác nhau trong cách diễn đạt về ngôn ngữ, nhưng cũng có thể có những sự khác nhau dẫn đến những vấn đề giải kinh quan trọng.  Trong trường hợp sau, cũng nên lưu ý là không phải vấn đề giải kinh nào “được khám phá” ở đây cũng đều phải đi vào bài giảng.  Chỉ chọn lựa những vấn đề nào liên quan đến chủ đề chính của bài giảng.  Chúng ta sẽ có vô số cơ hội để trở lại những vấn đề chưa được đề cập đến trong những bài giảng khác. 
    Việc đọc kỷ đoạn văn từ nhiều góc độ khác nhau như vậy cũng có thể đưa tới việc là chúng ta phải điều chỉnh biên giới của đoạn văn sẽ giảng.  Việc chia đoạn, chia câu, tiểu đề của từng đoạn mà chúng ta thấy trong các bản dịch hiện nay chỉ là công việc do các học giả sau này mà không nằm trong bản văn nguyên thủy.[3]  Tuy chúng rất ích lợi cho việc nghiên cứu, nhất là việc tra tìm địa chỉ, nhưng đôi khi lại “buộc” chúng ta vào một lối suy nghĩ được ấn định trước.  Hãy đọc một cách thoải mái và tự do, đừng để bị ràng buộc bởi những điều nói trên.  Tiêu chuẩn để xác định biên giới của đoạn văn là ý tưởng căn bản do các tác giả dự định truyền đạt trong đoạn văn, không phải là những con số hoặc những dòng chữ được thêm vào sau này, dù rằng sau đó chúng ta có thể đi đến một kết quả tương tự như việc chia câu chia đoạn trong bản dịch ta có.  Thử bắt đầu vài câu trước đoạn văn định chọn và dừng lại ở vài câu sau khi đoạn văn kết thúc.  Sau khi đã thử di chuyển điểm đầu và điểm cuối cho đến khi đã xác định được một “đơn vị văn chương hoàn chỉnh” (self-contained literary unit), nghĩa là một đoạn văn chứa đầy đủ những yếu tố của một chủ đề chính mà chúng ta muốn giảng, thì đây chính là đoạn văn mà chúng ta sẽ giảng.  Thao tác này rất uyển chuyển và sẽ trở nên dễ dàng với kinh nghiệm lâu ngày. 
    Sau đây là một vài thí dụ để minh họa.  Khi đọc 1 Phi-e-rơ 1: 1 – 3: 12, chúng ta sẽ dễ dàng thấy 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24 là một đơn vị văn chương hoàn chỉnh và sẽ là nền tảng vững chắc của một bài giảng.  Trường hợp của Mác 9: 49 – 51 thì hơi phức tạp hơn.  Chúng ta rất dễ dàng nhận thấy đây cũng là một đơn vị văn chương hoàn chỉnh, trong đó các câu văn được liên kết với nhau bằng chữ “muối.”  Nhưng khi chúng ta để ý thì lại nhận thấy rằng liên từ “vì” ở đầu câu 49 lại nối đoạn văn này với phần đi trước đó (từ 42 đến 48, nói về cám dỗ và tội lỗi),[4] vì thế chúng ta có thể bao gồm luôn các câu 42 - 48 khi thực hiện công việc giải kinh, tuy rằng khi giảng thì chúng ta sẽ chỉ tập trung vào phần 49 – 51 mà thôi (xin lưu ý đọc phần cước chú, rất quan trọng).
    c.  Lập một bảng liệt kê những điểm khác nhau quan trọng
    Trong khi đọc kỷ đoạn văn và trong quá trình so sánh các bản dịch khác nhau, chúng ta cần ghi lại một bản liệt kê những điểm khác nhau quan trọng về : bản văn, ngữ vựng, văn phạm, và văn phong.  Bản liệt kê này không nên dài dòng mà chỉ bao gồm những điểm thực sự quan trọng.  Ví dụ, bản liệt kê của Mác 9: 42 – 51 có thể gồm những “vấn đề” về bản văn trong các câu 42, 44, 46, 49.  Về ngữ vựng, bản này có thể liệt kê những chữ như “làm cho . . . phải sa vào tội lỗi, địa ngục, nước Đức Chúa Trời, muối, v.v...”  Về văn phong, có thể ghi chú tầm quan trọng về phương diện hùng biện của chữ “vì” ở đầu câu 49.
    Việc bao nhiêu điểm trong bản liệt kê này sẽ đi vào bài giảng là một vấn đề chọn lựa cá nhân.  Nền tảng của sự chọn lựa này vẫn là việc chúng ta hiểu đoạn kinh văn này như thế nào và chúng ta muốn nhấn mạnh về điều gì. 
    d.  Phân tích cấu trúc
    Khi đã ghi chú mọi chi tiết cần thiết trong đoạn văn, chúng ta cần làm một cuộc phân tích cấu trúc cuả toàn thể đoạn văn và dòng lý luận của tác giả.  Việc phân tích cấu trúc này còn có thể giúp chúng ta “phát hiện” những điểm đã vô tình bỏ qua trong khi lập một bản ghi chú như ở trên.
    Một trong những điểm bất lợi của những người không đọc được Kinh Thánh trong ngôn ngữ nguyên bản là chúng ta không “thưởng thức” được sự tinh tế trong văn chương nguyên tác (cũng giống như người ngoại quốc không thể lĩnh hội và thưởng thức được sự tinh tế trong văn chương Việt Nam).  Hình thái văn chương, hơi hướng, và sự tinh tế của đoạn văn cũng giúp chúng ta rất nhiều trong việc phân tích cấu trúc của nó.  Tuy nhiên, dù không có được lợi thế của người đọc được Kinh Thánh trong nguyên văn, chúng ta vẫn có thể phân tích cấu trúc một cách tương đối chính xác dựa trên “ý nghĩa.”
    Hãy thử xem xét thí dụ 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24.  Dòng văn cho chúng ta thấy chẳng những ý chính của đoạn văn (từ 18 – 20, là sự hô hào cổ võ “hãy để Chúa đoán xét” khi chịu khổ một cách bất công) mà còn giúp chúng ta thấy thí dụ của chính Chúa Giê-xu được dùng để củng cố sự hô hào đó (21 – 24).  Phần “thí dụ củng cố” này có hai phần: (1) Đấng Christ chịu khổ cho anh em; (2) Đấng Christ để một tấm gương cho anh em noi theo.  Phân tích xa hơn thì chúng ta sẽ thấy 4 mệnh đề liên hệ ở 22 – 23 được dùng để giải thích cho “tấm gương” của Chúa.  Hai mệnh đề đầu ở 22 và 23a được dùng để tô điểm cho tấm gương hy sinh của Chúa; hai mệnh đề sau diễn tả sự chịu khổ của Chúa.  Nếu tinh ý thì chúng ta sẽ nhận thấy đoạn văn này là một bản tóm lược của Ê-sai 53. 
    Về phương diện thực hành, việc phân tích cấu trúc như trên có thể được thực hiện bằng nhiều cách từ việc viết ra thành một dàn bài cho đến việc dùng bút màu để đánh dấu.  Nhưng lợi ích quan trọng nhất của cấu trúc này là sẽ giúp chúng ta có một “bức hình” thật rõ ràng về đoạn văn trong ý nghĩ khi đang đứng giảng trước hội chúng.
    e.  Danh mục những điểm cần đem vào bài giảng
    Tương tự như việc đã làm trong mục c, ở đây chúng ta sẽ lập một bản liệt kê những điểm mà chúng ta dự định sẽ đem vào trong bài giảng.  Bản này sẽ rộng hơn, đầy đủ hơn, và sẽ bao gồm cả bản liệt kê ở trên.  Hãy ghi xuống tất cả những điểm giải kinh quan trọng mà bạn đã thu lượm được do sự quan sát trong suốt quá trình giải kinh từ đầu cho đến bây giờ, và cả trong những bước tiếp theo sau đây.  Luôn luôn đặt một tờ giấy bên cạnh và ghi chép ngay những chi tiết hoặc ý mới phát hiện được. 
    Tuy nhiên, như chúng ta đã đề cập đến ở trên, không phải điểm nào cũng phải đi vào bài giảng.  Ở đây, chúng ta cần lập một bản liệt kê thật đầy đủ, đến mức tối đa mà chúng ta có thể làm được để yên tâm rằng chúng ta không “bỏ sót” điều gì, nhưng cần nhớ rằng sau đó chúng tasẽ phải cắt bớt đi những điểm không liên quan đến hoặc không cần thiết cho chủ đề chính khi chúng ta thực sự bắt tay vào việc soạn bài giảng.  Phương châm của chúng ta là “khi liệt kê thì tối đa, nhưng khi sử dụng thì vừa đủ.”  Việc lược bớt chi tiết lại càng cần thiết khi chúng ta không muốn bám quá cứng nhắc vào một dàn bài giảng giải kinh nặng nề.  Giới hạn thời gian của một bài giảng không cho phép chúng ta đề cập đến mọi chi tiết, dù rằng hội chúng cũng sẽ được lợi ích nhiều khi biết đến những chi tiết mà chúng ta bỏ qua ở đây.  Hãy để dịp khác.  Nếu quả thật những chi tiết này thực sự quan trọng trong việc làm nổi bật chủ đề chính hoặc nếu chúng ta muốn “khai thác triệt để” một đoạn kinh văn có quá nhiều sự dạy dỗ quí báu, chúng ta luôn luôn có thể “chia” bài giảng ra làm hai hay ba bài ngắn hơn để giảng trong nhiều Chúa Nhật kế tiếp nhau.
    Nên nhớ rằng bản liệt kê ở đây không phải là dàn bài của bài giảng.  Nó cũng giống như một đống gỗ (vật liệu) sẽ được dùng để dựng nên sườn nhà (dàn bài), nhưng tự bản thân đống gỗ không phải là sườn nhà.  Bản liệt kê chỉ đơn giản là một bản ghi chép sơ bộ của những sự quan sát, những ý tưởng, những chi tiết quan trọng thu lượm được trong khi giải kinh mà chúng ta nghĩ rằng hội chúng cần được nghe và sẽ được lợi ích thuộc linh khi biết đến.  Tất cả những vật liệu này sẽ được chọn lọc và sắp xếp có trình tự để có thể trở thành một dàn bài khả dụng.
    2.  Phân Tích Nội Dung           
    Việc phân tích nội dung này gồm bốn khía cạnh: bản văn, văn phạm, ngữ học, và lịch sử văn hóa. 
    a. Phân tích những chi tiết về bản văn
    Bây giờ là lúc sử dụng những ghi chú về sự khác nhau trong bản văn giữa những bản dịch khác nhau mà chúng ta đã liệt kê ra trong phần 1.c ở trên.  Chỉ cần chú ý những điểm mà có thể đưa tới những vấn đề giải kinh quan trọng.  Việc quyết định điểm nào là quan trọng và điểm nào chỉ là thứ yếu là một vấn đề mang tính chủ quan.  Ý chính của đoạn văn nên đóng vai trò của một “trọng tài” trong sự phán đoán này.  Những sách giải kinh do các tác giả uy tín được dịch sang tiếng Việt là trợ thủ đắc lực trong việc này.  Tuy nhiên, đừng để họ “lái” chúng ta.  Nếu có thể được, cần đối chiếu vài sách giải kinh khác nhau.  Suy cho cùng, chúng ta vẫn là những người đưa ra quyết định sau cùng. 
      Câu hỏi “nên dùng đến mức nào những chi tiết giải kinh về việc phê bình bản văn trong bài giảng?” là một câu hỏi khó trả lời.  Sự lạm dụng việc phê bình bản văn có thể gây “khó chịu” cho một số tín hữu vì việc này hình như “làm giảm uy tín” của Kinh Thánh đối với họ.  Chỉ sử dụng thật hạn chế, khi nào thật cần thiết, và luôn với mục đích là làm sáng tỏ hơn ý nghĩa của đoạn kinh văn.  Cần ghi nhớ một định luật sau đây:      Không nên làm công việc phê bình bản văn trên bục với mục đích là để “chê” một bản dịch nào đó hoặc để chứng tỏ sự “uyên bác” của mình.  Tránh cách nói “trong bản dịch A thì đọc là . . . nhưng trong bản dịch B thì lại là . . . Tôi thấy rằng bản dịch B thì chính xác hơn vì . . .”  Cần tìm cách diễn đạt thích hợp để nói lên được ý là “chữ này ở trong bản B làm rõ hơn chữ được dùng trong bản A.  Cả hai bản này cho chúng ta hiểu rõ hơn về chữ này đó là . . .” 
    Khi đã chọn lựa ý nghĩa của một chữ hoặc một câu nào mà mình tin là chính xác nhất dựa theo ý chính của đoạn văn, chúng ta cũng không cần phải giải thích trình tự và lập luận tại sao chúng ta đi đến quyết định này.  Hội chúng không cần nghe những trình tự giải kinh rườm rà này.  Điều họ cần nghe là làm thế nào những chữ trong bản dịch khác có thể làm sáng tỏ một chữ, một câu tối nghĩa trong bản văn họ đang đọc.  Nếu thật cần thiết, hãy kết hợp lý luận này vào quá trình giải nghĩa đoạn văn đó một cách thật tự nhiên.
    b.  Lưu ý những điểm văn phạm quan trọng
    Để ý đến những điểm văn phạm bất thường hay không rõ ràng mà chúng có thể có tầm ảnh hưởng quan trọng đến việc giải nghĩa của đoạn kinh văn.  Cần tham chiếu sách giải kinh khi thực hiện công việc này với tinh thần được đề cập đến ở trên.
    Là người rao giảng lời Chúa, chúng ta cần biết rõ mối liên quan giữa văn phạm (được sử dụng bởi tác giả) và sứ điệp của Chúa trong đoạn văn này, nhưng thường thì chúng ta cũng không cần đề cập đến quá trình giải nghĩa văn phạm máy móc trong bài giảng, chỉ trừ khi sự giải thích rõ ràng một điểm văn phạm nào đó có thể đem lại một ý nghĩa thuộc linh quan trọng.  Thí dụ, chữ  “vì” trong 1 Phi-e-rơ 2: 24 có thể được giải thích là một liên từ được dùng để nối “nhân” và “quả” giữa câu 24 và những gì đi trước đó.  Nhìn dưới góc độ văn phạm này thì sự “lành bịnh” ở cuối câu 23 là một ẩn dụ nói về sự “cứu rỗi của linh hồn” được đề cập đến trong câu 24 chứ tác giả không có ý chỉ nói về sự chữa lành thân thể.  Tương tự như vậy, vai trò văn phạm của chữ “vì” trong Mác 9: 49 ảnh hưởng lớn đến sự giải nghĩa của tiểu đoạn 49 – 51, tuy rằng sự giải thích văn phạm cho chữ “vì” ở đây phức tạp hơn.  Chắc chắn là Mác đã muốn dùng chữ này để nối kết 49 – 51 với những điều nói trước đó, nhưng điều nào?  Có lẽ phải đợi đến sau khi chúng ta đã cung cấp một sự giải nghĩa rõ ràng về 42 – 48 và 49 – 51 thì chúng ta mới có thể xác định được mối lienâ hệ nhân quả nào.  Tất cả những giải thích văn phạm như những thí dụ trên có thể rất có ích cho bài giảng và tín hữu, với điều kiện là chúng ta đừng bao giờ biến giờ giảng luận thành một giờ học văn phạm.
    c.  Lập danh mục những từ ngữ quan trọng và giải thích chúng
    Tiếp tục sử dụng kết quả của phần 1.c và 1.e ở trên (và cả những khám phá mới sau đó).  Suy gẫm và chọn lựa những từ ngữ nào mà chúng ta thấy sự giải thích của chúng sẽ đóng góp vào nội dung và chủ đề chính của bài giảng.  Cũng cần sắp xếp và phân bổ những sự giải thích này để chúng xuất hiện đúng lúc đúng chỗ trong bài giảng của chúng ta.  Vì chúng ta không thông hiểu tiếng Hy-bá-lai và Hy-lạp, sách giải nghĩa Kinh Thánh là một trợ thủ quan trọng ở đây.
    Thí dụ, từ 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24, chúng ta có thể lập một danh mục gồm các từ ngữ sau: tôi tớ (18), khó tánh (18), chịu khốn nạn (19), được kêu gọi (21), gương (21), Đấng Chăn Chiên (24) Giám Mục (24), v.v...  Chữ “tôi tớ” ở câu 18 trong nguyên văn Hy-lạp là oi-kê-tai, có nghĩa là những nô lệ làm việc trong nhà vào thời bấy giờ.  Nếu chúng ta hiểu đây là những người nô lệ thì đọan văn sẽ có một “âm hưởng” hơi khác hơn so với khi chúng ta đọc là tôi tớ (thường thì chữ tôi tớ được hiểu theo nghĩa hiện đại của chúng ta hôm nay).  Sự giải thích từ ngữ ở đây có ích lợi ở chổ sẽ làm tăng cường độ của sự chịu khổ và tình thương của Chúa đối với những người ở trong cảnh khốn cùng như những người nô lệ này.  Tương tự như vậy, chữ “những lằn đòn” ở câu 23 (trong Hy-lạp là mô-lô-ph, nghĩa đen là những vết bầm đen do bị đánh đòn mà những người nô lệ thường được nếm mùi) làm cho tín hữu liên tưởng đến sự liên hệ giữa những ngọn roi Chúa chịu và những lằn đòn giáng trên thân những người nô lệ và, chính từ liên hệ này, hiểu được tình thương của Chúa dành cho những người chịu đối đãi một cách bất công.
    Đôi khi, có những từ ngữ mà chúng ta phải tìm hiểu ý nghĩa của chúng trong bối cảnh lịch sử văn hóa rộng lớn hơn để có thể hiểu được ý nghĩa của chúng mà tác giả muốn nói lên trong đoạn kinh văn mà chúng ta đang giảng.  Chữ “muối” trong Mác 9: 49- 51 là một thí dụ.  Một cuộc “nghiên cứu” nho nhỏ sẽ cho chúng ta thấy ba cách dùng muối trong xã hội người Do-thái vào thời xưa đều được ngụ ý nói đến trong tiểu đoạn này: muối dùng trong sinh tế, muối dùng để nêm nếm hoặc bảo tồn thức ăn, và muối là một dấu hiệu chỉ sự ràng buộc có tính giao ước.  Tương tự như vậy, luôn luôn có những từ ngữ mà chính đoạn văn chúng ta đang khảo sát không đủ để giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa đích thực của những chữ này.  Thí dụ, nếu muốn rõ nghĩa chữ “địa ngục” (trong tiếng Hy-lạp là ghê-hê-na), chúng ta cần làm một cuộc nghiên cứu về việc  “địa ngục” được hiểu như thế nào trong nền văn hóa của vùng Cận Đông vào thời bấy giờ, thay vì gán ép ý nghĩa chữ “địa ngục” trong nền văn hóa Việt Nam đương thời của chúng ta (có lẽ xuất phát từ một khái niệm rất Phật giáo) vào chữ “địa ngục” trong đoạn kinh văn đang khảo sát.   
    Những sự giải thích từ ngữ như vậy thật là bổ ích cho tín hữu trong giờ giảng luận.  Tuy nhiên, cũng như ở trên, chúng ta cần vừa đủ, và không nên làm cho bài giảng trở nên nặng nề với sự thông hiểu về ngữ vựng của chúng ta.  Không nên có tham vọng là giải thích hết tất cả các chữ khó trong khuôn khổ của một bài giảng.  Luôn luôn có dịp khác.  Cần tập trung vào những chữ liên quan đến chủ đề chính.
    3.  Trả lời những câu hỏi về bối cảnh (lịch sử/văn hóa, văn chương, v.v...)
    Việc nghiên cứu nội dung qua những bước trên chỉ là phân nữa của công việc giải kinh cho bài giảng của chúng ta.  Những bước tiếp theo sẽ là sự nghiên cứu về bối cảnh của đoạn kinh văn chúng ta sẽ giảng.  Có hai loại bối cảnh quan trọng mà chúng ta cần để ý: bối cảnh lịch sử/văn hóa và bối cảnh văn chương. 
    a.  Bối cảnh lịch sử/văn hóa
    Bối cảnh lịch sử/văn hóa cho chúng ta biết tổng quát về môi trường lịch sử/văn hóa chung quanh đoạn kinh văn cũng như nguyên cớ mà tác giả viết nên đoạn kinh văn chúng ta đang nghiên cứu.  Thí dụ, khi nghiên cứu các thư tín 1 & 2 Cô-rinh-tô, một sự hiểu biết chung về thành phố Cô-rinh, hoàn cảnh lịch sử vào thời bấy giờ, thành phần cấu tạo của Hội Thánh Cô-rinh cũng rất ích lợi cho chúng ta hiểu được bút pháp cũng như cốt lõi của sứ điệp do sứ đồ Phao-lô.  Đi sâu hơn vào nội dung, chúng ta sẽ khám phá ra những nan đề của Hội Thánh Cô-rinh và nguyên nhân nào đã thúc đẩy Phao-lô viết những lá thư này.  Dùng tất cả những tư liệu mà chúng ta có thể sưu tập được như sách giải nghĩa Kinh Thánh, tự điển Kinh Thánh, v.v... để tìm hiểu bối cảnh này.
    Thường thì những chi tiết về bối cảnh văn hóa lịch sử rất quan trọng trong việc giải nghĩa một đoạn kinh văn, và kinh nghiệm cho thấy thì hầu như phần giải thích của một đoạn kinh văn nào cũng cần sự có mặt của những chi tiết này, nhất là những đoạn kinh văn mang tính lịch sử rõ rệt.  Nhưng cũng như những lưu ý ở trên, chúng ta chỉ sử dụng trong bài giảng khi nào việc này cần thiết cho việc làm sáng tỏ thêm ý nghĩa đoạn văn và đừng để cho những chi tiết lịch sử như vậy choán hết không gian của bài giảng.
    b.  Nội dung văn chương
    Bây giờ là lúc chúng ta phải trả lời những câu hỏi quan trọng nhất của toàn bộ công tác giải kinh: điểm chính của đoạn kinh văn này là gì? Đoạn kinh văn này sẽ phù hợp thế nào với toàn bộ sách hay cả phần sách này? Tại sao đoạn văn này rơi vào ngay chỗ này trong toàn bộ dòng văn của tác giả? 
    Để trả lời những câu hỏi này, chúng ta cần xác định rõ: (1) tính logic và nội dung của đoạn văn; (2) một sự giải thích việc nội dung này đóng góp như thế nào vào toàn bộ luận cứ của tác giả.  Thường các sách giải nghĩa Kinh Thánh ít khi đi sâu vào chỗ này, trừ một số sách giải nghĩa mang tính chất là bài giảng mẫu (như bộ giải nghĩa của Barclay).  Nhưng trong trường hợp sử dụng những sách giải nghĩa mà có vẻ như muốn “giảng thay” cho chúng ta, cố gắng đừng để thu hút vào luồng lập luận của tác giả và nên tự mình tiến hành công việc này, dành phần “đối thoại” giữa chúng ta với các học giả cho giai đoạn sau.   Nhưng chúng ta không thể nào tự thỏa mãn về kết quả giải kinh của chúng ta cho đến khi có thể trả lời những câu hỏi “tại sao?” hay “cái gì?” một cách thật tự tin.  Dĩ nhiên, sẽ có những lúc chúng ta không thể trả lời một cách rõ ràng, nhưng nếu muốn cho một bài giảng thật trung thực với mục đích của Kinh Thánh, đây là những tiêu điểm mà bài giảng phải chú ý nhắm vào.
    Thí dụ, bài giảng đặt nền tảng trên 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24 nên tập trung vào điểm chính là sự kêu gọi “hãy để Đức Chúa Trời là Đấng đoán xử khi chịu khổ một cách bất công,” mặc dù về cách làm nổi bật điểm chính đó và việc kết hợp sự hùng biện của Phi-e-rơ vào việc ủng hộ điểm chính đó thì có thể không mục sư nào giống mục sư nào.  Chúng ta cũng có thể chỉ giảng từ tiểu đoạn 21 – 24 để nói về Chúa Giê-xu như là tấm gương sáng và Chúa Cứu Thế, nhưng dù như vậy chúng ta cũng phải đặt 21 – 24 vào trong bối cảnh văn chương lớn hơn của 18 – 24.
    4.  Đối chiếu với những kết quả nghiên cứu của các học giả
    Từ đầu đến bây giờ, kết quả của quá trình giải kinh được ghi lại trên giấy có thể được xem là “tác phẩm” của chúng ta, mặc dù có những lúc chúng ta cần sử dụng những sách giải kinh hoặc tài liệu hổ trợ khi đương đầu với những vấn đề về lịch sử, văn hóa, ngôn ngữ, v.v...  Nói tóm lại, đây là sự hiểu biết của chúng ta về đoạn kinh văn với sự hổ trợ của các tài liệu thứ cấp khi cần thiết nhưng không phải là một bản sao lại (photocopy) của những điều mà các học giả khác đã viết ra.  Khi đã có một sự hiểu biết riêng của chúng ta rồi, thì đây là lúc mà chúng ta có thể so sánh nó với sự hiểu biết của các nhà giải nghĩa Kinh Thánh khác.  Đây không phải là một việc nhất thiết phải làm; theo kinh nghiệm riêng tư của người soạn bài này thì có những bài giảng hoàn toàn không dựa vào một sách giải kinh nào nhưng lại rất được ơn (dĩ nhiên là phải dùng những tài liệu khác để hổ trợ về phương diện lịch sử, văn hóa).  Tuy nhiên, việc tham khảo các sách giải kinh cũng giúp cho chúng ta để tránh việc bỏ sót những điểm quan trọng và có thể dẫn đến một cuộc “đối thoại tích cực” giữa chúng ta với tác giả về một điểm nào đó để từ đó chúng ta có thể rút ra những kết luận chính xác hơn.  Khi bắt đầu làm việc này, thường thì tiếng nói của các học giả sẽ “nặng ký” hơn của chúng ta, nhưng càng về sau chúng ta lại càng “nghe” được tiếng của mình rõ hơn mà không phải lúc nào cũng để cho các vị ấy “xỏ mũi.”
    a.  Tham khảo các sách giải kinh
    Chúng ta không cần phải tránh né các sách giải nghĩa Kinh Thánh nhưng cũng không để các sách giải nghĩa này “lái” chúng ta.  Vấn đề là sử dụng chúng đúng cách.  Muốn không để chúng “lái” chúng ta thì tốt nhất là đừng đọc ngay từ lúc mới bắt đầu khởi sự công việc giải kinh.  Chỉ đọc đúng lúc, khi có những nhu cầu kỷ thuật phát sinh như chi tiết lịch sử hoặc hình thái văn chương.  Mục đích của việc “đọc hạn chế” này là để cho chúng ta được thực hiện công việc giải kinh một cách tự do và độc lập, không phải làm việc này theo một lối mòn mà người khác đã vạch sẵn cho chúng ta.  Nếu chúng ta bắt đầu công tác giải kinh bằng việc đọc ngay những sách giải kinh (để rồi chịu ảnh hưởng nặng nề của chúng trong suốt cả quá trình giải kinh) thì bài giảng của chúng ta chẳng qua là giảng ra từ kết quả công việc của người khác chứ không thật sự là bài giảng của mình.  Trong trường hợp này, đoạn kinh văn được giảng chẳng bao giờ “thấm” vào chúng ta vì chúng ta chưa bao giờ thực sự “vật lộn” với nó.  Nói tóm lại là chúng ta chỉ nên tham khảo các sách giải nghĩa một cách rộng rãi sau khi đã đi qua các bước trên một cách nghiêm túc.
    Như vậy, trong tiến trình giải kinh nghiêm túc thì đây là thời điểm hợp lý để chúng ta tham khảo các sách giải nghĩa Kinh Thánh.  Nếu có thể được, hãy cố gắng có được tối thiểu hai hay ba bộ giải nghĩa Kinh Thánh trong thư viện của bạn (bạn nào đọc được tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức thì thật có lợi thế lớn).  Có ít nhất ba lý do để chúng ta đọc các sách giải nghĩa ở thời điểm này: (1) Chúng ta muốn biết những học giả giải quyết như thế nào về những điểm khó khăn trong đoạn kinh văn mà chúng ta gặp phải trong khi tiến hành các bước trên; (2) Chúng ta cần so sánh ý kiến của mình với ý kiến của các vị đó (ít nhất là hai sách) để thử xem ý kiến nào là thuyết phục nhất và từ đó có thể điều chỉnh lại ý kiến của mình; (3) Chúng ta cần được “nhắc nhở” về những điểm quan trọng mà chúng ta có thể bỏ sót trong các bước trên.
    b.  Đọc thêm những nguồn tài liệu phụ
    Ngoài các sách giải nghĩa Kinh Thánh, chúng ta cũng cần tham khảo các nguồn tài liệu phụ đáng tin cậy về lịch sử, văn hóa, tôn giáo, văn chương, v.v... có liên quan đến thời đại chung quanh đoạn kinh văn của chúng ta.  Sự phong phú của các nguồn tài liệu này tùy thuộc vào điều kiện và khả năng sưu tập của từng người.  Điều quan trọng là các tài liệu này phải đáng tin cậy và chức năng của chúng là để giúp đỡ, ủng hộ cho sự hiểu rõ thêm sứ điệp của Kinh Thánh, không phải là để bài bác Kinh Thánh.  Kinh nghiệm sẽ cho chúng ta sự phán đoán chính xác trong khi sưu tập những tài liệu phụ này.  Thực ra thì các tác giả của các sách giải nghĩa cũng đã sử dụng nhiều nguồn tài liệu phụ như vậy, cho nên nếu chúng ta không sưu tầm được những nguồn tài liệu này thì có thể tạm bằng lòng với những điều mà các nhà giải kinh cung cấp trong tác phẩm của họ.  Tuy nhiên, nếu việc nghiên cứu những tài liệu phụ này có thể mở rộng tầm mắt của chúng ta thì sự sưu tập này cũng là việc nên làm.[5]       
    5.  Bối cảnh Kinh Thánh và Thần Học
    Trước khi đi đến bước áp dụng những hiểu biết thu lượm được vào việc soạn bài giảng, chúng ta cần xem xét đoạn kinh văn này có mối quan hệ như thế nào đối với những nơi khác trong Kinh Thánh (liên quan đến cùng một chủ đề) và toàn bộ nền tảng thần học Cơ Đốc Giáo.
    a.  Bối cảnh Kinh Thánh
    Đến đây, chúng ta cần phải trả lời một số những câu hỏi để thấy được vai trò của đoạn kinh văn này trong toàn bộ bối cảnh của Kinh Thánh.  Những câu hỏi này có thể là: “Có đoạn kinh văn nào khác trong Kinh Thánh nói về chủ đề đang được đề cập đến trong đoạn văn chúng ta dự định giảng hay không?” “Đoạn văn chúng ta sẽ giảng là độc nhất hay là một trong những đoạn kinh văn trong Kinh Thánh cùng nói về chủ đề này?” “Nếu là một trong những đoạn văn tương tự như nhau thì những đoạn kinh văn khác có soi sáng gì thêm cho đoạn văn chúng ta đang chọn?” “Đoạn kinh văn này đóng vai trò gì trong cấu trúc của toàn bộ Kinh Thánh?” “Đoạn kinh văn này sẽ gây dựng đức tin cho tín hữu về phương diện nào?”
    Thí dụ, khi nghiên cứu 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24, có thể chúng ta cần phân tích một cách ngắn gọn những đoạn kinh văn có cùng chủ đề trong các thư tín của Phao-lô như Ê-phê-sô 6: 5 – 9; Cô-lô-se 3: 22 – 4: 1, 1 Ti-mô-thê 6: 1 – 2, Tít 2: 9 – 10.  Trong những sự phân tích như vậy, có thể chúng ta sẽ có được những ý mới từ nhận định là Ê-phê-sô và Cô-lô-se nói về người chủ là Cơ-đốc-nhân còn những đoạn khác thì nói về người chủ là người ngoại còn “tôi tớ” (hay nô lệ) là Cơ-đốc-nhân.
    b.  Bối cảnh thần học
    Tương tự như trên, chúng ta cần trả lời một số câu hỏi để thấy được tầm quan trọng và sự đóng góp của đoạn kinh văn sẽ giảng vào toàn bộ nền thần học Cơ-đốc.    Những câu hỏi này có thể là: Đoạn kinh văn này soi sáng, củng cố thêm cho lẽ đạo hoặc quan điểm thần học nào của hội thánh? Tầm quan trọng của nó đối với toàn bộ nền thần học của hội thánh?  Đoạn kinh văn này có đưa ra những thách thức gì cho một số chủ trương thần học của hội thánh hiện nay?  Nếu có những thách thức như vậy thì chúng ta có thể giải thích như thế nào? Những thách thức này lớn hay nhỏ?  Giả sử nếu đoạn kinh văn này “có vẻ” như “đối lập” với nền thần học Cơ-đốc nói chung thì có biện pháp nào để dung hòa hay không?  Những vấn đề thần học trong đoạn kinh văn này là hiển nhiên hay chỉ ngấm ngầm?  Đoạn văn này sẽ đóng góp như thế nào trong việc giúp cho tín hữu suy nghĩ một cách “thần học” hơn?
    Chúng ta có thể lấy 1 Phi-e-rơ 2: 18 – 24 làm một ví dụ.  Vấn đề giai cấp, chủ tớ, nô lệ là những vấn đề hết sức nóng bỏng hiện nay.  Đoạn kinh văn này sẽ ủng hộ hay thách thức như thế nào đối với lập trường thần học hiện hành của giáo hội là một vấn đề quan trọng.  Cần phải rất cẩn thận khi “đụng” vào những vấn đề tế nhị như vậy, nhưng mặt khác chúng ta cũng không nên lúc nào cũng tránh né những vấn đề hóc búa về mặt thần học như vậy.  Điều thiết yếu là chúng ta cần bày tỏ sự thành thật đồng thời trung tín với niềm tin của chúng ta và chủ trương thần học của giáo hội trong đó chúng ta đang hầu việc Chúa về một vấn đề cụ thể nào đó.  Có thể có những vấn đề chưa được giải quyết dứt khoát, và nếu có những giải pháp nào đó thì không phải tất cả mọi hệ phái Tin Lành đều đồng ý với nhau.[6]  Điều quan trọng là chúng ta trung tín với chủ trương thần học của chúng ta, trong khi không cần phải đả kích những chủ trương thần học khác không giống như chúng ta.  Tín hữu cần thấy một lập trường thần học vững chắc nơi vị mục sư của mình.
    Cũng như đối với những phần khác, vừa đủ là phương châm của chúng ta.  Không phải đoạn kinh văn nào cũng “đụng” đến những vấn đề thần học, và không phải tất cả mọi vấn đề thần học của một đoạn kinh văn, nếu có, đề cần phải được đề cập tới trong bài giảng.  Thường thì các tín hữu ít thích nghe những bài giảng “quá thần học,” cho nên chúng ta nên tìm cách khéo léo để “bọc” những đề tài thần học bằng những hình thức nhẹ nhàng hơn.
    6.  Phần áp dụng
    Có thể chúng ta đã luôn nghĩ về khía cạnh áp dụng vào bài giảng của tất cả những điều hiểu biết của chúng ta về đoạn kinh văn trong suốt quá trình giải kinh từ đầu cho đến giờ.  Nhưng đây mới là thời điểm để chúng ta thực sự tập trung vào việc áp dụng đó.
    a.  Bản liệt kê những vấn đề thiết thực
    Từ những ghi chép ở trong những bước trước, chọn lựa những vấn đề thực sự có ý nghĩa đối với đời sống của hội chúng.  Những vấn đề này có thể là hiển nhiên trong đoạn kinh văn, nhưng có khi là ngấm ngầm hay được suy diễn từ đoạn kinh văn một cách hợp lý.  Chúng ta nên bắt đầu bằng một bản liệt kê thật rộng rãi, nhưng cần phải loại từ từ những điểm thứ yếu.  Điều chúng ta cần là một bài giảng thật bén nhọn, mạnh mẽ, và đi thẳng vào vấn đề. 
    b.  Suy nghĩ về bản chất và lãnh vực áp dụng của những vấn đề
    Đến đây, chúng ta cần sắp xếp (bằng cách hình dung trong đầu hay ghi trên giấy) những vấn đề đã chọn lựa tùy theo bản chất của chúng.  Có thể sắp xếp theo hình thức nhóm: nhóm cung cấp thông tin trực tiếp, nhóm liên quan đến việc gây dựng đức tin, nhóm liên quan đến lời khuyên về hành động.  Trong khi những sự sắp xếp này thường có tính cách không tự nhiên và khá tùy nghi, chúng cũng rất ích lợi trong việc dẫn chúng ta đến những sự áp dụng chính xác và cụ thể để đáp ứng nhu cầu của tín hữu.  Việc này còn giúp chúng ta tránh được tình trạng áp dụng một cách mơ hồ hay chung chung mà tình trạng này đôi khi còn có nghĩa là không áp dụng được gì cả.
    c.  Nhận dạng thính giả và xác định loại áp dụng
    Một trong những điều quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự thành công của việc áp dụng là chúng ta phải “biết” thính giả của chúng ta và họ có liên quan như thế nào đối với đoạn kinh văn này.  Một bài giảng mà không “biết” thính giả thì khác nào “đánh gió hay chạy bá vơ.” 
    Trước hết cần phải xác định được những vấn đề trình bày trong đoạn kinh văn này là nhắm vào cá nhân hay cả một cộng đồng hay là cả hai.  Nếu những vấn đề để giảng nhắm vào cá nhân, thì những cá nhân này là ai? Tín hữu hay người chưa biết Chúa? Người lớn hay trẻ em?  Thuộc thành phần “trí thức” hay bình thường? Thuộc giới “khá giả” hay thuộc thành phần lao động tay lấm chân bùn?  Nếu những vấn đề này nhắm vào cả một cộng đồng, thì cộng đồng này là gì? Hội thánh? Quốc gia? Cộng đồng các tôi tớ Chúa hay cộng đồng tín hữu nói chung? Một tầng lớp xã hội hay nghành nghề chuyên môn nào đó?  Sự thành công của bài giảng tùy thuộc vào việc người giảng có nối kết những vấn đề của đoạn kinh văn vào đúng đối tượng hay không.
    II.  Di chuyển từ kết quả giải kinh đến việc soạn bài giảng
    Tất cả những gì chúng ta gặt hái được cho đến bây giờ chưa phải là bài giảng thực sự.  Nó chỉ là sự hiểu biết về nội dung, sự dạy dỗ của đoạn kinh văn trong ý định nguyên thủy của tác giả, và hìng dáng của sự liên hệ giữa những điều dạy dỗ này với thính giả hôm nay.  Công việc giải kinh từ đầu đến giờ tuy dài dòng nhưng thật ra là giai đoạn dễ dàng hơn so với việc soạn bài giảng thực sự.  Công việc giải kinh là công việc mang tính chuyên môn, và hơi có phần máy móc, trong khi công việc soạn bài giảng là một nghệ thuật, đòi hỏi sự sáng tạo và một trí tưởng tượng phong phú.  Không gì có thể thay thế cho khả năng suy nghĩ và sáng tạo của người giảng, và Chúa ban món quà này cho mỗi người một cách khác nhau.  Câu hỏi là: Làm thế nào để chuyển tải những thành quả gặt hái được trong khi nghiên cứu đoạn kinh văn vào một bài giảng có trọng tâm và mục đích rỏ ràng?  Câu trả lời là: không thể có một luật lệ cứng nhắc cho việc này, cũng như không thể có luật lệ cho nghệ thuật.  Bài giảng của bạn tùy thuộc vào con người của bạn và ân tứ “nghệ thuật” mà Chúa ban cho bạn.  Điểm quan trọng là bài giảng phải là bài giảng của bạn, dựa trên công trình giải kinh của bạn, và rao giảng ra cho thính giả của bạn.  Vì lý do đó cho nên những bước sau đây không phải là một công thức mà chỉ là những gợi ý và những lưu ý hầu hổ trợ cho công việc soạn bài giảng của bạn.
    1. Dành thì giờ cầu nguyện và suy gẫm
    Việc “giảng” không chỉ đơn giản là công việc của trí tuệ và nghiên cứu, mà nó còn là công việc của tấm lòng và sự cầu nguyện.  Với một tâm trí “đầy ắp” những điều về đoạn văn sẽ giảng , ý nghĩa của nó, và những ý nghĩ về phương hướng áp dụng, bạn cần biệt riêng thì giờ để suy gẫm cẩn thận đoạn kinh văn trong tinh thần cầu nguyện.  Những điều dạy dỗ trong đoạn kinh văn này có ý nghĩa như thế nào với chính bản thân bạn? Chúng đáp ứng những nhu cầu tâm linh của riêng bạn như thế nào?  Chính bạn phải đáp ứng với Lời Chúa trước khi hy vọng người khác sẽ đáp ứng với Lời Chúa.  Thật khó mà truyền đạt sứ điệp của Chúa với một tinh thần nóng nảy, sốt sắng khi chính mình lại không “hấp thụ được” bài giảng.
    Khi chính mình đã hấp thụ được sứ điệp của bài giảng, hãy suy gẫm một lần nữa, nhưng lần này với câu hỏi là đoạn kinh văn này sẽ đáp ứng nhu cầu gì của hội thánh nói chung và từng đối tượng nói riêng.  Với sự hổ trợ của Đức Thánh Linh, bài giảng này sẽ khích lệ, cổ vũ cho tín hữu như thế nào? 
    Cần nên nhớ rằng sự chuẩn bị bài giảng mà thiếu sự đối diện riêng tư giữa người giảng và Lời Chúa sẽ đưa đến một bài giảng thiếu sự thần cảm của Thánh Linh.  Những bài giảng được giảng bởi những người giảng không chịu để thì giờ ngồi yên lặng chiêm nghiệm sự vinh quang của Chúa và Lời Ngài sẽ mang lại rất ít kết quả.
    2.  Thu thập chất liệu cho dàn bài của bài giảng
    Dùng hết tất cả những kết quả thu lượm được trong tiến trình giải kinh để làm ba việc sau:
    a.  Liệt kê những điểm chính
    Liệt kê ra điểm chính hay những điểm chính mà bạn muốn rao giảng.  Những điểm này là điểm tập trung của bài giảng; nếu không thì bạn sẽ không đo lường được bạn sẽ gặt hái được kết quả gì.  Cố gắng đặt mình vào vị trí của thính giả để tập trung vào việc tìm những điểm hội chúng cần được nghe thay vì vào những điểm bạn muốn nói.  Kinh nghiệm nhận được khi bạn “nghe” bài giảng cho chính mình như trong mục II.1 rất ích lợi ở đây.  Điều bạn thấy có ý nghĩa và ích lợi nhất cho riêng bạn khi “đối diện” với sứ điệp của Chúa trong bài giảng này có thể cũng là điều có ý nghĩa và ích lợi cho hội chúng.
    b.  Xác định mục đích của bài giảng
    Bạn cần xác định mục đích của bài giảng một cách rõ ràng.  Đây là một bài giảng có tính cách giúp cho tín hữu biết thêm về một giáo lý hay một khía cạnh của đức tin Cơ-đốc? Đây là một bài giảng nhằm kêu gọi, cổ vũ tinh thần hầu việc Chúa? Đây là một bài giảng nhằm đem lại một sự thay đổi trong hành vi, cách cư xử, đạo đức theo như nếp sống Cơ-đốc Nhân?  Việc xác định mục đích rõ ràng sẽ giúp chúng ta biết chọn “âm hưởng” của bài giảng một cách thích hợp.
    c.  Lường trước sự đáp ứng
    Cố gắng hình dung ra sự đáp ứng mà bài giảng có thể nhận được sau khi hội chúng nghe bài giảng.  Có thể xem mục c này là cái “quả” của cái “nhân” là mục b ở trên.  Bạn mong đợi một sự thay đổi về cách cư xử hay trong suy nghĩ hay cả hai?  Bạn đang cổ võ khích lệ cho một tinh thần hầu việc Chúa nào đó?  Bạn đang kêu gọi hội thánh ăn năn?  Hay bạn đang để bài giảng vừa kêu gọi ăn năn vừa khích lệ? 
    Bài giảng cần phải “nhắm” vào những mục tiêu nhâát định, là sự đáp ứng của người nghe trước Lời Chúa.  Nếu bài giảng không “nhắm” thì không trúng mục tiêu.
    3.  Quyết định về sự mở đầu và kết luận
    Việc khai triển thân bài giảng phần lớn tùy thuộc vào việc bạn dự định mở đầu và kết thúc như thế nào.  Phần kết luận nên tập trung vào mục 2.b và 2.c ở trên.  Về phần mở đầu, thường thì một bài giảng “tốt” thường bắt đầu bằng một trong hai cách sau: (1) Bắt đầu từ chính đoạn kinh văn, nhưng cố gắng “kể lại” (trong đó có kèm theo những chi tiết giải kinh) đoạn văn bằng một ngôn ngữ dễ hiểu nhưng có thể gây hứng thú hầu tránh sự nhàm chán cho thính giả; (2) Bắt đầu theo cách lung khởi, có thể là một câu chuyện ngụ ngôn hay có thật hoặc một sự việc “nóng hổi” nào đó, để thu hút sự chú ý của thính giả nhưng sau đó sẽ đưa phần nhập đề này vào chính đoạn kinh văn.  Nhưng đây chỉ là vài cách; bạn có thể khám phá ra vo âsố cách để mở đầu bài giảng khi đã có nhiều kinh nghiệm giảng sau này.
    4.  Viết dàn bài
    Đến giai đoạn này thì chắc chắn một dàn bài cho bài giảng đã bắt đầu lộ diện (ít nhất là trong tư duy của bạn).  Lại một lần nữa, chúng ta cần khẳng định là không có một luật lệ cứng nhắc nào cho việc lập dàn bài.  Nhưng ở đây chúng ta cần để ý những “cảnh báo” có ích sau đây.
    Thứ nhất, dàn bài của bài giảng không cần phải bám theo “dàn bài” cấu trúc của đoạn văn mà chúng ta đã có được trong giai đoạn phân tích cấu trúc ở mục I.1.d ở trên.  Dàn bài thực sự của bài giảng cần “chạm” vào đoạn kinh văn ở một số điểm để làm sao chúng ta đi đến phần kết luận như đã nói ở II.2.b&c.  Việc chọn lựa điểm nào là tùy vào phán đoán của người giảng, điều quan trọng là những điểm này phải có đủ sức mạnh để đưa đến một kết luận như mong muốn.
    Thứ hai, lưu ý này liên quan đến điều vừa nói ở trên, đó là không cần phải bao gồm tất cả những điểm khám phá được trong đoạn kinh văn vào dàn bài.  Cần phải chọn lựa theo như gợi ý ở trên.
    Thứ ba, quyết định chi tiết giải kinh nào khám phá được ở trên đi vào bài giảng, chi tiết nào cầnï gát lại.  Phân bổ những chi tiết giải kinh này vào dàn bài một cách hợp lý.  Mục đích của những chi tiết này phải là làm tăng sức mạnh của những ý chính trong dàn bài.  Việc phân bố những vấn đề giải kinh vào bài giảng có hai chức năng quan trọng: (1) giúp cho bài giảng được “nâng lên” bởi thẩm quyền của Lời Chúa như Lời này đã được chép ra vào lúc nguyên thủy và (2) làm cho Lời Chúa lại một lần nữa trở thành sống động khi Lời này tương tác với những vấn đề của ngày hôm nay.
    5.  Viết bài giảng
    Giai đoạn cuối cùng là viết bài giảng ra trên giấy.  Như đã đề cập đến ở trên, đây là một việc tùy thuộc vào ân tứ Chúa ban cho người giảng.  Việc thêm da thịt (chất liệu của thân bài) vào bộ khung (dàn bài) là một nghệ thuật, hoàn toàn có tính cách cá nhân cho nên không thể bị gò bó bởi một công thức nào.  Tuy nhiên, trong khi sử dụng những lời văn để lập luận và giải thích điểm muốn giảng, cần nên sử dụng những thí dụ minh họa hợp tình hợp lý[7] để làm sáng tỏ điểm mình muốn nói.  Một câu chuyện minh họa tốt thường được nhớ lâu hơn những lời văn hoa bóng bẩy mà chúng ta dùng để trau chuốt bài giảng.  Việc đặt những thí dụ minh họa một cách cân đối trong thân bài giảng cũng giúp cho thính giả có những giây phút được “xả hơi” khi phải theo dõi những vấn đề thần học đạo đức khá nặng nề, tuy nhiên cũng đừng nên lạm dụng việc này vì rất có thể câu chuyện không còn là minh họa mà chỉ là giải trí.
         
    C. Bài Làm
    I.  Tiểu luận: (viết tối thiểu là 1 trang, tối đa là 2 trang, font 12, dòng đơn)
    Thử nghiên cứu đoạn kinh văn quen thuộc là Giăng 21: 15 – 19.  Áp dụng hướng dẫn trong bài phần I để phân tích cấu trúc (mục 1.d), so sánh bản văn (mục 2.a), những điểm văn phạm quan trọng (mục 2.b), những từ ngữ quan trọng (mục 2.c). 
    II.  Thảo Luận:
    Những ưu khuyết điểm của “giảng giải kinh”?  
                         
     

         
        

             


    [1] Học viên có thể tìm đọc thêm “Phương Pháp Giảng Giải Kinh” của Giáo Sư Tô Văn Út (2006), nhất là phần ứng dụng.  Về chi tiết thì những bước đề nghị ở đây và trong “Phương Pháp Giảng Giải Kinh” có khác nhau đôi chút, nhưng tựu trung thì cũng rất gần với nhau.
    [2] Bản truyền thống 1926 thì có đến câu 51, trong khi đó bản dịch mới 2002 của Hội Kinh Thánh Việt Nam thì chỉ có đến câu 50 vì câu 50 và 51 của bản truyền thống được gồm vào trong một câu 50 của bản dịch mới vì bản dịch này bám sát vào nguyên bản tiếng Hy-lạp.  Tuy nhiên, vì đa số chúng ta sẽ dùng bản truyền thống để tuyên đọc trong hội thánh, nên những phần minh họa sau sẽ kể đến câu 51.
    [3] Như đã có đề cập đến trong bài trước, các sách trong Kinh Thánh được các tác giả viết liên tục từ đầu đến cuối, không có phân câu phân đoạn, và không có tiểu đề như bản dịch Kinh Thánh của chúng ta hiện nay.
    [4] Tiểu đoạn này bắt đầu từ câu 42 hay 43?  Đây là một trường hợp điển hình để nhắc chúng ta đừng quá lệ thuộc vào việc chia câu đoạn của các học giả trước đây mà chính chúng ta ở trình độ này phải đọc như những “học giả” thực thụ để xác định việc này.  Bản truyền thống thì có đến câu 51 và bao gồm các câu từ 33 đến 51 dưới một tiêu đề duy nhất “Sự Cao Trọng Thật.  Các Gương Xấu.  Muối.”  Nhưng khi đọc kỷ nội dungthì chúng ta thấy nguyên phân đoạn này có 4 chủ đề nhỏ hơn: Sự Cao Trọng Thật,Thuận Và Nghịch Với Chúa, Cám Dỗ, và Muối.  Sự xuống hàng ở cuối câu 42 cũng không hợp lý vì nó có thể làm cho chúng ta nghĩ rằng câu 42 thuộc về tiểu đoạn 38 – 42, trong khi nội dung cho thấy nó nên thuộc về chủ đề “Cám Dỗ,” có nghĩa là nó thuộc về tiểu đoạn 42 – 48, và sự xuống hàng nên ở cuối câu 41.  Nhìn chung, nếu cả phân đoạn này (33 – 51) được chia ra làm 4 phần 33 – 37, 38 – 41, 42 – 48, và 49 – 51với những tiểu đề thì có vẻ hợp lý hơn.  Bản dịch mới 2002 thì dựa theo bản NIV trong việc chia tiểu đoạn và ghi tiểu đề nên có thể thuận tiện hơn để giúp nêu rõ những ý nhỏ trong cả phân đoạn.  Trường hợp Mác 9: 33 – 51 ở đây là một thí dụ tốt đế nói lên tầm quan trọng và sự lý thú của công tác giải kinh chúng ta đang làm, ít nhất là việc đọc kỷ bản văn.      
    [5] Một thất lợi lớn cho những nhà nghiên cứu Kinh Thánh trong tiếng Việt là sự dịch thuật các tài liệu phụ như trên ra tiếng Việt còn rất hạn chế và thường bị giới hạn vì sự chọn lựa tác phẩm để dịch còn tùy thuộc rất nhiều vào quan điểm thần học của người dịch.
    [6] Tưởng cũng cần biết rằng có nhiều hệ phái Tin Lành, và tất cả các hệ phái Tin Lành đều có chung một niềm tin vào Ba Ngôi Đức Chúa Trời.  Nhưng về những phương diện thực tiển hơn như “sống đạo” hay “hành đạo” thì các hệ phái Tin Lành không phải lúc nào cũng có những chủ trương thần học giống nhau.  Ngay trong một hệ phái thì cũng có thể có những chủ trương thần học khác nhau, và những chủ trương thần học này cũng có thể thay đổi theo thời gian và hoàn cảnh.  Thí dụ, nhiều hệ phái Tin Lành đã “tách ra” vì vấn đề giải phóng nô lệ ở Mỹ trong thời kỳ nội chiến dưới thời tổng thống Abraham Lincoln, và những chủ trương thần học của những hệ phái này về vấn đề nô lệ cũng đã thay đổi theo thời gian.  Vào thời kỳ hội thánh của những thế kỷ đầu tiên, có một trường hợp lý thú nhưng cũng đáng buồn là trường hợp của gíam mục Anathasius của Alexandria (295 – 373).  Ông là người đề xướng và ủng hộ chủ trương thần học “Đức Chúa Trời Ba Ngôi,” nhưng “giáo hội” hết khen ngợi ông là “chính thống” thì lại lên án là “tà giáo” cho đến sáu lần (và ông phải bị lưu đày năm lần), mặc dù lập trường hần học của ông trước sau như một.
    [7] Có nhiều vị dùng những thí dụ “đâm ngang hông” không dính líu gì đến điểm muốn nói.  Đây là một sự làm mất thời gian vô ích vì còn nhiều điều phải đề cập đến trong bài giảng.
  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels