• BÀI HỌC 9 Các Sách Phúc Âm Một Vài Đặc Điểm

    BÀI HỌC 9

    Các Sách Phúc Âm
    Một Vài Đặc Điểm

    A.  Giới thiệu bài học
    Mục đích bài học: Giúp học viên biết được những chủ đề chính của những sách Phúc Âm và mối liên quan giữa các sách Tin Lành Cộng Quan.
    B. Nội dung bài học:
    I.  Đại Cương
    Theo cách phân chia của các học giả Kinh Thánh thì các sách Phúc Âm được chia ra làm Các Sách Tin Lành Cộng Quan (Synoptic Gospels—gồm 3 sách Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca) và Tin Lành Giăng.  Cách phân chia này phần lớn dựa vào sự giống nhau của các sách Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca và sự khác nhau giữa 3 sách này với Giăng.  Nói chung, việc phân chia này phản ánh đúng bản chất của các sách Tin Lành Cộng Quan và Giăng vì những tư liệu trong 3 sách Tin Lành Cộng Quan đi song song với nhau trong khi những tư liệu của sách Tin Lành Giăng dường như đứng một mình.  Theo một giả thuyết hợp lý và có uy tín nhất về mối liên quan giữa 3 sách Tin Lành Cộng Quan thì Phúc Âm Mác đã được viết ra sớm nhất (và ngắn nhất), sau đó Ma-thi-ơ và Lu-ca đã dùng tư liệu của Phúc Âm Mác để viết Phúc Âm của mình, dĩ nhiên là có thêm vào những phần tài liệu riêng của mình.  Phúc Âm Giăng ra đời sau cùng, và tài liệu của Phúc Âm Giăng gần như hoàn toàn độc lập với các sách Tin Lành Cộng Quan (xin đọc kỷ chương 7 của “Nguyên Tắc Đọc và Hiểu . . .” để biết thêm chi tiết).
      Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu cách phân chia nói trên một cách quá máy móc thì cách hiểu như vậy có thể dẫn chúng ta đến một suy nghĩ là hai nhóm sách Tin Lành khác nhau này cho chúng ta hai hình ảnh khác nhau (và thậm chí có thể mâu thuẩn với nhau) về Chúa Giê-su.  Thực ra, cách phân chia và dùng thuật ngữ như vậy chỉ tương đối, phần lớn là vì sự tiện lợi cho việc so sánh, đối chiếu và bổ sung tài liệu trong lãnh vực nghiên cứu mà thôi.  Trong thực tế, chúng ta có thể xem cả 4 sách đều mang tính chất “cộng quan” vì mỗi sách đều trình bày cho chúng ta một khía cạnh về chân dung của Chúa Cứu Thế, và tất cả 4 sách này bổ sung cho nhau để chúng ta có được một hình ảnh (tương đối) rõ ràng về Ngài.  Hiểu một cách rộng rãi, “cộng quan” có nghĩa là một sách Tin Lành chỉ có thể hiểu được một cách khá rõ ràng trong ánh sáng của những sách khác.  Khi Ma-thi-ơ, Mác, và Lu-ca đứng cùng nhau để mô tả về chân dung của Chúa Giê-su, vẫn còn những câu hỏi khó trả lời.  Chính Phúc Âm Giăng đã góp phần để giải tỏa những câu hỏi này cho chúng ta.   Mỗi sách Phúc Âm được viết ra để trình bày về Tin Lành cho những nhóm độc giả khác nhau, cho nên hình ảnh của Chúa Giê-su trong những sách Phúc Âm này được trình bày hơi khác nhau.  Tuy nhiên một sự quan sát tổng thể cho chúng thấy rằng cốt lõi của Tin Mừng qua cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-su thì không có gì thay đổi giữa 4 sách Phúc Âm này.
    Hiểu thuật ngữ “cộng quan” theo ý nghĩa rộng rãi như vậy, chúng ta sẽ thấy được mỗi trước giả của 4 sách Phúc Âm đều cố gắng trình bày về Chúa Giê-su theo một chủ đề chính có ý nghĩa nhất đối với họ: Ma-thi-ơ nói về Chúa Giê-su như là Vua, Mác mô tả Ngài như là Tôi Tớ (của Đức Chúa Trời), Lu-ca viết về Ngài như là một  “con người,” và Giăng viết về Chúa như là Đức Chúa Trời (hóa thân).  Mỗi hình ảnh đều là một sự trình bày trung thực về Chúa Giê-su, nhưng không một hình ảnh nào nói hết được bản thể của Ngài.  Chắc chắn các giáo phụ có công trong việc kinh điển hóa bộ Kinh Thánh Tân Ước chúng ta đang sử dụng đã có một dụng ý rõ rệt khi đặt 4 sách Tin Lành với nhau: Chúa Giê-su là sự tổng hợp của cả bốn bức chân dung nói trên.  Trong những trang sau đây, chúng ta sẽ tìm hiểu những đặc điểm của từng sách Phúc Âm một.
    II.  Phúc Âm Mác và Những Đặc Điểm
    1. Mặc khải “bí ẩn” / Đấng Cứu Thế bí ẩn và Cơ Đốc Luận của Mác
    Như đã đề cập đến ở trên, mục đích chính của Phúc Âm Mác là sự mô tả chân dung của Chúa Giê-su như là tôi tớ của Đức Chúa Trời.  Tuy nhiên, dưới bút pháp của Mác, chân dung này được trình bày một cách độc đáo.  Trước hết, sự nhấn mạnh về căn tính của Chúa Giê-su chính là Đấng Cứu Thế (Messiah) hay Đấng Christ vẫn là một trọng điểm trong Phúc Âm Mác.  Tuy nhiên, hình ảnh của Đấng Cứu Thế này lại được giới thiệu một cách độc đáo qua một “mặc khải bí ẩn.”  Lối hành văn—thí dụ như cách ghi lại lời phán của Chúa Giê-su—trong Phúc Âm Mác làm cho đọc giả không thể nhầm lẫn được ý định của trước giả là muốn giới thiệu một “Đấng Cứu Thế bí ẩn” đến cho độc giả của mình.  Ví dụ, người đọc sẽ dễ dàng nhận ra đặc điểm này khi trước giả đề cập đến những chủ đề sau:
    ·        Nước Đức Chúa Trời:
    4: 10 – 12:  “Khi Đức Chúa Giê-su ở một mình, những kẻ xung quanh Ngài cùng mười hai sứ đồ hỏi Ngài về các lời ví dụ.  Ngài phán rằng: ‘Sự mầu nhiệm (sự bí ẩn—the secret) của nước Đức Chúa Trời đã tỏ ra cho các ngươi, nhưng về phần người ngoài thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.”
    ·        Việc đuổi quỉ:
    1: 34:  “Ngài chữa lành . . . chẳng cho phép các quỉ nói ra, vì chúng nó biết Ngài.”
    3: 12:  “Song Ngài nghiêm cấm chúng nó (tà ma) chớ tỏ cho ai biết mình”
    ·        Sự chữa bệnh:
    1: 44:  [Chúa phán với người phung] “Hãy giữ, chớ tỏ điều đó cùng ai”
    5: 43:  “Ngài cấm ngặt chúng đừng cho ai biết sự ấy”
    7: 36:  Đức Chúa Giê-su cấm chúng chớ nói điều đó cùng ai”
    ·        Các sứ đồ:
    8: 29b – 30:  “Phi-e-rơ thưa rằng ‘Thầy là Đấng Christ.’  Đức Chúa Giê-su bèn cấm ngặt môn đồ chớ nói sự mình cùng ai hết.”
    9: 9:  “Khi từ trên núi xuống, Ngài cấm môn đồ đừng nói lại với ai những điều mình đã thấy (sự hóa hình của Chúa).”
    Trong ví dụ đầu, ẩn dụ của Chúa Giê-su như là một câu đố mà lời giải hình như chỉ hé lộ cho một số ít người hiểu được.  Trong Phúc Âm Mác, những ẩn dụ của Chúa Giê-su được trình bày như là một sự tiết lộ bí hiểm về thực tại, nhưng ý nghĩa thoáng ẩn thoáng hiện của những ẩn dụ này làm cho người nghe không thể nắm bắt được một cách rõ ràng.  Đối với “những người bên trong”—những môn đồ thân cận với Ngài, nhất là các sứ đồ—những ý nghĩa này trở thành sự khôn ngoan mang tính “mật tông” (esoteric).  Tuy nhiên, dù được ban cho đặc ân này, những người này nhiều khi cũng ở trong tình trạng mơ hồ chẳng khác gì đám đông quần chúng (xem phần Sự “mù” . . . trong phần 2 dưới đây).
    Ba ví dụ sau nhằm giới thiệu Chúa Giê-su như là Đấng Cứu Thế bí ẩn.  Những câu chuyện này không phải là để giới thiệu Chúa Giê-su như là một người làm phép lạ nhưng là nằm trong ý đồ văn chương của trước giả để làm người đọc nhận ra chân dung của Đấng Cứu Thế qua một cách kỳ bí: những người được chữa lành và cả ma quỉ biết Ngài nhưng chính Ngài lại không cho họ tỏ ra (dù vậy, cũng có những kẻ không chịu giữ bí mật).  Nói chung, Mác đã rất thành công trong việc giới thiệu Đấng Cứu Thế mà qua ngòi viết của ông chân dung của Ngài chỉ được hé mở từ từ, một cách bí hiểm, và bất ngờ, nhất là qua câu chuyện về sự thương khó của Ngài.  Vì bút pháp của Mác thiên về “bí ẩn”, một số danh hiệu của Cấng Cứu Thế trong Phúc Âm này được “tái thăm viếng” và đôi khi còn được định nghĩa lại để mang một ý nghĩa mới phù hợp với lối hành văn này.
    Để xác định rằng Chúa Giê-su chính là Đấng Cứu Thế đã được báo trước trong Cựu Ước qua các tiên tri và đang được mong đợi, Mác đã dùng những danh xưng phản ánh sự mong đợi về một Đấng Cứu Thế của dân tộc Y-sơ-ra-ên trãi qua nhiều thế kỷ trước đó.  Trong cộng đồng người Do-thái vào thời bấy giờ, những danh xưng được dùng để chỉ về một Đấng Cứu Thế đang được mong chờ là những danh xưng thường được kết tinh từ những vai trò lý tưởng nhất và cao nhất trong xã hội (bao gồm cả những danh xưng bên ngoài nền văn hóa Y-sơ-ra-ên): Con của Đa-vít (một vua đến từ dòng dõi Đa-vít), Con Người—Son of Man (hình ảnh thiên thượng của vị Quan Tòa Đoán Xét trong văn chương mạt thế), Con Đức Chúa Trời—Son of God (danh xưng này còn được các hoàng đế La-mã dùng, cũng như các vị vua trong các nền văn hóa khác thường tự xưng là Thiên Tử), Chúa—Lord (một danh xưng dùng cho Đức Chúa Trời trong Thánh Kinh, nhưng về phương diện con người thì danh xưng này cũng được dùng để chỉ về các vị hoàng đế), và Đấng Được Xức Dầu—Messiah (messiah có nghĩa đen là “Đấng Được Xức Dầu” cũng như chữ Christ, và thường được dùng để chỉ về các vị vua, nghĩa là những vị được xức dầu để làm vua).  Đôi khi, còn có những vai trò khác đi theo những danh hiệu này như tiên tri, giáo sư, người đuổi quỉ, người làm phép lạ chữa bệnh, và cả ý nghĩa người tử đạo.  Mác đã dùng những danh xưng này để chỉ về Chúa Giê-su, nhưng bằng bút pháp của mình, ông đã “điều chỉnh” lại ý nghĩa của chúng một cách gián tiếp nhưng hùng hồn để mô tả về Chúa Giê-xu / Đấng Cứu Thế đang được mong đợi.
    Chúa Giê-xu đã được mô tả là Con Đức Chúa Trời trong những ký thuật chính yếu: Chúa chịu báp-têm (1:1), sự hóa hình (9:7), Chúa Giê-su trước những tòa án trong câu chuyện thương khó (14: 61, 62), và câu chuyện nơi đồi thập tự (15: 39).  Tuy nhiên, còn những danh xưng khác có liên quan đến danh xưng trên: Con Người—Son of Man.  Danh xưng này (là danh xưng được dùng bởi Đa-ni-ên để chỉ về vị quan tòa thiên thượng trong ngày phán xét cuối cùng) xuất hiện hai lần ở Mác 2: 10, 28.  Danh xưng Con Người ở đây được cân bằng bởi hai lần dùng danh xưng Con Đức Chúa Trời ở 3: 11 và 5: 7.  Hai danh xưng “Christ” và Con Người được đồng hóa trong câu chuyện Phi-e-rơ xưng Chúa Giê-su là Đấng Christ (8: 27 – 34), và hai danh xưng này được nối theo ngay sau đó bằng danh xưng Con Đức Chúa Trời trong câu chuyện hóa hình.  Hơn thế nữa, cả ba danh xưng “Christ,” “Con Đức Chúa Trời,” và “Con Người” được dùng song song trong câu chuyện Chúa đứng trước tòa công luận Do-thái (Sanhedrin), và danh xưng Con Đức Chúa Trời được dùng sau đó như là đỉnh cao của sự nhận diện Chúa Giê-su qua lời tuyên xưng từ miệng thầy đội người La-mã (15: 39).  Quá trình tiệm tiến trong bút pháp của Mác là một điểm đáng lưu ý: Một mặt ông khẳng định Chúa Giê-su chính là Đấng Christ và là Con Đức Chúa Trời, nhưng mặt khác ông đã dùng danh xưng Con Người để điều chỉnh lại và thêm vào ý nghĩa của hai danh xưng trước.  Mác nhấn mạnh ba ý nghĩa quan trọng của danh xưng Con Người: (1) thẩm quyền trên đất (2: 10, 28), (2) thẩm quyền phán xét trong ngày tận thế (8: 38; 13: 26); và (3) cần phải chịu khổ hình (8: 31; 9: 31; 10: 33 – 34).  Quan sát cách dùng những danh hiệu dành cho Chúa Giê-su trong Phúc Âm Mác và cách dùng danh xưng này để giải nghĩa cho danh xưng khác của Mác, chúng ta có thể nhận thấy ông đang nổ lực để một mặt chống lại và mặt khác điều chỉnh lại những hiểu biết sai lầm về danh xưng Đấng Christ và Con Đức Chúa Trời có lẽ đang lưu truyền trong vòng một số những hội thánh vào thời bấy giờ.  Chắc chắn những hội thánh với những hiểu biết sai lầm về Chúa Giê-su như thế đã là lý do chính để Mác viết Phúc Âm của ông.
    2.  Sự “mù tối” (blindness) của các sứ đồ
    Bên cạnh chủ đề chính là sự phác họa chân dung của Đấng Cứu Thế bí ẩn, một trong những chủ đề phụ của Mác là sự “mù tối” của các sứ đồ.  Chắc chắn là trong dụng ý của Mác, chủ đề này là để gia tăng thêm cường độ của sự bí ẩn của bức chân dung ẩn hiện của Đấng Cứu Thế. 
    Như đã đề cập đến ở trên, các sứ đồ là những người thân cận với Chúa Giê-su và là những người được ban cho sự khôn ngoan “mật tông” (esoteric wisdom).  Những người ngoài vòng thân cận này tuy nghe và thấy nhưng không thật nghethấy (4:11). Nhưng khi Mác tiếp tục kể câu chuyện Phúc Âm thì các sứ đồ lại trở nên không hiểu được những sứ điệp của Chúa Cứu Thế.  Họ bây giờ cũng chẳng khác chi những người ngoài.  Thậm chí đôi khi những người ngoài lại là những người cảm nhận được sự vĩ đại của Chúa Giê-su như câu chuyện hai người mù được “sáng mắt” (8:22-26; 10:46-52) trong khi các sứ đồ lại là những người có “lòng cứng cỏi” (6:52; 7:18; 8:15, 21), hiểu sai về Chúa Giê-su, sứ mạng của Ngài, sự phải chịu thương khó của Con Người, và bản chất của chức môn đồ thật của Chúa (*:32-33; 9:32-34; 10:35-37).  Họ đã không theo Ngài cho đến cùng trên con đường thương khó và sau đó là thập tự giá nơi Ngài đã bị đóng đinh một mình.  Chẳng những như vậy, lại còn có một trong số các sứ đồ đã phản bội Ngài.  Những người trung tín theo chân Chúa từ đầu cho đến cuối cùng lại là những người phụ nữ ở Ga-li-lê, là những người đã đứng để nhìn Chúa Giê-su bị đóng đinh từ đằng xa (15:40-41) và đã chôn cất xác Ngài (16:1-8).  Sự trung tín cho đến giờ cuối cùng của những người phụ nữ này cũng nhất quán với bức tranh mô tả về đức tin của họ trong suốt Phúc Âm Mác (5:24-34; 7:25-30; 12:41-44).  Không phải các sứ đồ mà chính là những người phụ nữ này là những người đã nhận lấy sứ điệp đầu tiên của Chúa sau phục sinh là Ngài sẽ đến Ga-li-lê để gặp các môn đồ (16:1-8).
    Trong giới học giả, có hai cách giải thích về thái độ “khó khăn” của Phúc Âm Mác đối với các sứ đồ.  Các học giả theo cách thứ nhất thì cho rằng chủ đề “sự mù tối” của các sứ đồ là nhằm phê bình giới thẩm quyền của Hội Thánh trong thời kỳ của Mác, mà Phi-e-rơ và các sứ đồ khác chỉ là những đại diện tiêu biểu của thẩm quyền này.  Tuy nhiên phần lớn các học giả theo cách giải nghĩa hiện nay thì tin rằng đây chỉ là một lời cảnh cáo cho những người “nghĩ rằng” mình theo Chúa nhưng lại không thật sự hiểu Ngài (đầu nên rốt, rốt nên đầu). Đây cũng còn là một lời kêu gọi những ai muốn theo chân Chúa Giê-su thì phải sẵn sàng để chịu bắt bớ và thậm chí tử vì đạo nữa.  Dù giải thích theo cách nào, Mác cũng có vẻ khá “khó chịu” đối với Phi-e-rơ và các sứ đồ khác, trong khi Ma-thi-ơ và Lu-ca thì có vẻ dành nhiều thiện cảm hơn cho các vị này.
    III. Phúc Âm Ma-thi-ơ
    1. Chúa Giê-su—Một Mặc Khải Mới
    Theo đại đa số những nhà giải kinh, sự kiện Phúc Âm Ma-thi-ơ chứa năm bài thuyết giảng lớn, cộng thêm 40 ngày và 40 đêm Chúa chịu cám dỗ trong đồng vắng và sự kiện bài thuyết giảng đầu tiên Chúa đã giảng từ trên núi, đã giới thiệu Chúa Giê-su như là một “Môi-se mới,” và vị “Môi-se mới” này đang ban ra một “Torah mới.”  Tối thiểu thì Ma-thi-ơ chắc chắn là có ý định tuyên bố rằng sự giảng dạy của Chúa Giê-su là một sự giải thích chân chính nhất của “Luật Pháp và Các Tiên Tri” (Cựu Ước), so với những sự giải thích sai lạc của những người Pha-ri-si và các giáo sư Do-thái giáo vào thời bấy giờ.
    Đối với Ma-thi-ơ, Chúa Giê-su không những chỉ giảng dạy một “mặc khải mới,” mà chính Ngài là “mặc khải mới” đó, có nghĩa Ngài chính là sự ứng nghiệm của những lời báo trước trong “luật pháp và các tiên tri.”  Mặc khải mới chắc chắn là có liên hệ mật thiết với mặc khải củ.  Ngay từ những dòng mở đầu, Ma-thi-ơ đã bắt chiếc cầu nối giữa hai mặc khải khi truy nguyên nguồn gốc của Chúa Giê-su từ Áp-ra-ham và Đa-vít (1:1).  Chúa Giê-su ra từ dòng dõi Áp-ra-ham, tổ phụ của dân tộc Y-sơ-ra-ên và cũng là người Đức Chúa Trời đã chọn để qua ông nhiều dân tộc được phước.  Chúa Giê-su cũng là người ra từ dòng dõi Đa-vít, vị vua vĩ đại của Y-sơ-ra-ên.  Việc xuất thân từ dòng dõi Đa-vít này đã được Ma-thi-ơ dùng để chứng thực rằng Chúa Giê-su chính là Đấng Cứu Thế đang mong đợi, là một vị Vua của Y-sơ-ra-ên ra từ dòng dõi nhà Đa-vít. 
    Như vậy việc mô tả chân dung của Chúa Giê-su như là Vua là một chủ đề không thể nhầm lẫn được trong Phúc Âm Ma-thi-ơ.  Chủ đề Vua/Đấng Cứu Thế--Con vua Đa-vít—đã được Ma-thi-ơ khai thác sâu hơn trong những ký thuật về phép lạ mà ở đó những kẻ được chữa lành đã xưng Ngài là Con Vua Đa-vít (9:27; 12:23; 15:22; 20:30; 21:9; 22:42, 45).  Danh hiệu Con vua Đa-vít trong Ma-thi-ơ cũng đồng nghĩa với Con Đức Chúa Trời, một danh hiệu dành cho Đấng Cứu Thế/vua dân Y-sơ-ra-ên (so sánh với Thi-thiên 2:7).  Danh hiệu Con Đức Chúa Trời còn được Ma-thi-ơ nhấn mạnh trong việc Chúa Giê-su được hoài thai bởi Thánh Linh và sanh bởi nữ đồng trinh Ma-ri, cũng như trong việc được gọi bởi danh xưng Em-ma-nu-ên—Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta (1:23).  Qua ngòi bút của Ma-thi-ơ, danh xưng này còn được xác nhận trong câu chuyện Chúa Giê-su chịu báp-têm và trong câu chuyện hóa hình khi chính tiếng nói của Đức Chúa Trời phán “này là con yêu dấu ta” (3:17; 17:5; so sánh với Thi-thiên 2:7; Ê-sai 42:1).
    Trong khi chủ đề “Môi-se mới” và những danh hiệu Con Vua Đa-vít và Con Đức Chúa Trời rất quan trọng trong việc xác định bản thể của Chúa Giê-su và việc liên hệ mặc khải mới với mặc khải củ, Ma-thi-ơ cũng có nhan mạnh đến những danh hiệu khác như Con Người-Son of Man—và Chúa—Lord.  Thẩm quyền của “Con Người” trong Ma-thi-ơ cũng tương tự như ở Mác, nhưng Ma-thi-ơ có vẻ nhấn mạnh hơn vào vai trò của một quan tòa thiên thượng vào ngày phán xét cuối cùng (16:27; 24:27, 30).  Như vậy, Ma-thi-ơ chú tâm đến vai trò “Con Người” trong ngày Ngài tái lâm nhiều hơn, trong khi thẩm quyền của Vua/Đấng Cứu Thế như là Con Vua Đa-vít và Con Đức Chúa Trời lại được nhấn mạnh đối với thời hiện tại.
    2.  Các sứ đồ
    Trong khi Mác nhìn các sứ đồ như là những kẻ “có lòng cứng cỏi,” Ma-thi-ơ nhìn họ với nhiều thiện cảm hơn, dù đôi khi ông cũng thấy họ như là “những kẻ yếu đức tin.”  Họ dần dần lớn lên trong đức tin và sự hiểu biết về Chúa Giê-su, và cuối cùng cũng đã được ký thác mặc khải mới.  Có vẻ như là khi Ma-thi-ơ nghĩ đến các sứ đồ, ông nghĩ về những nhân vật (trong cộng đồng Cơ-đốc) tương đương với các thầy thông giáo và những người Pha-ri-si đối với Do-thái giáo.  Ông không phủ nhận chức năng của những thầy thông giáo và Pha-ri-si (chỉ phê bình sự hiểu sai và thái độ cứng lòng của một số trong bọn họ đối với Đấng Cứu Thế).  Ở một vài chổ, ông thậm chí còn như khen ngợi chức vụ của những thầy thông giáo nói chung khi nhấn mạnh  lời Chúa phán: “Mọi thầy thông giáo đã học thông đạo về nước thiên đàng thì giống như một ngưới chủ nhà kia, đem những vật mới và cũ ở trong kho mình ra” (13: 52). 
    Một điểm đáng lưu ý là Ma-thi-ơ cẩn thận tránh đề cập đến việc các sứ đồ giảng dạy.  Ma-thi-ơ thường nói về hoạt động của Chúa Giê-su như là “công bố Nước Trời,” “chữa lành,” và “giảng dạy” (4:23; 9:35), nhưng khi các môn đồ được Chúa sai đi thì họ chỉ “chữa bệnh” và “công bố Nước Trời,” nhưng khơng bao giờ là “giảng dạy.”  Trong Phúc Âm Ma-thi-ơ, chức vụ giảng dạy cực kỳ quan trọng và đặc biệt.  Chỉ có Chúa Giê-su là có thẩm quyền giảng dạy và sự giảng dạy đó là “Torah mới,” là mặc khải đã được ứng nghiệm.  Chỉ sau khi Chúa phục sinh và chỉ sau khi được Chúa ủy quyền thì các môn đồ mới được “giảng dạy” (28:19-20—Đại Mạng Lịnh).  Tuy nhiên bản chất của sự “giảng dạy” này cũng không giống như sự giảng dạy đầy uy quyền của Chúa Giê-su mà chỉ là một sự giải nghĩa có thẩm quyền do sự ủy thác của Chúa: “và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi.”  Câu này có thể bao hàm trọn vẹn trọng điểm chính của Phúc Âm Ma-thi-ơ: Sự dạy dỗ của Chúa Giê-su chính là mặc khải mới của Đức Chúa Trời, và mặc khải này được ủy thác cho sự giải thích có thẩm quyền của các môn đồ.
    3.  Nước Thiên Đàng
    Một trong những đặc điểm nữa của Phúc Âm Ma-thi-ơ là sự nhấn mạnh về Nước Thiên Đàng (hay Nước Trời—Kingdom of Heaven).  Mác thì nói về việc Chúa Giê-su giảng dạy về Nước Đức Chúa Trời (Kingdom of God), trong khi đó thì Ma-thi-ơ nói về những sự giảng dạy của Ngài như là giảng dạy về Nước Thiên Đàng.  Một điểm đáng lưu ý nữa là Mác chỉ đề cập đến Nước Đức Chúa Trời 14 lần trong khi Ma-thi-ơ lại đề cập đến Nước Thiên Đàng nhiều đến 38 lần, chưa kể đến 16 lần đề cập đến chữ vương quốc (Kingdom). 
    Đối với Ma-thi-ơ, Nước Thiên Đàng chủ yếu là một thực tại ở tương lai.  Nhiều lần Ma-thi-ơ nhắc lại lời Chúa nhấn mạnh rằng người công chính sẽ vào Nước Trời trong tương lai (ví dụ 5:20, 7:21).  Tuy nhiên, cũng có những dấu hiệu cho thấy Ma-thi-ơ cũng tin tưởng rằng Nước Thiên Đàng được thể hiện phần nào trong Hội Thánh trên đất trong hiện tại, dù rằng Hội Thánh này vẫn còn bất toàn, vẫn còn có sự hiện diện của cả “lúa mì” và “cỏ lùng,” như trong một vài ẩn dụ.
    IV.  Phúc Âm Lu-ca
    1.  Chúa Giê-su là Đấng TiênTri, là Đấng Cứu Thế /Tôi Tớ
    Trong Phúc Âm Lu-ca, Chúa Giê-su là trung tâm của thời gian.  Một mặt, Ngài được mô tả như là sự ứng nghiệm những lời tiên tri Cựu Ước (16:29, 31), nhất là như một Đấng đầy dẫy Đức Thánh Linh, một Đấng Cứu Thế/Tôi Tớ (của Đức Chúa Trời) ra từ dòng dõi nhà Đa-vít, và một vị tiên tri mang sự cứu rỗi đến cho mọi dân tộc qua chức vụ giảng dạy và phép lạ của Ngài (4:16-43; 24:19, 27, 41).  Ngài cũng làm ứng nghiệm những lời tiên tri khi bị khước từ bởi những người Pha-ri-si, bị nguyền rủa bởi dân Do-thái, và bị giết tại Giê-ru-sa-lem nơi mà các đấng tiên tri đã bị giết (7:16, 39; 11:47-50; 13:34-35).  Sau cùng, Ngài đã làm ứng nghiệm những lời tiên tri và Thi-thiên khi Ngài được xưng tụng như là Đấng Christ, Chúa, và Con Đức Chúa Trời trong sự phục sinh và sự thăng thiên của Ngài (24:25-26, 44-53).
    Mặt khác, Chúa Giê-su được mô tả như là Con Đức Chúa Trời được hoài thai một cách lạ lùng bởi Thánh Linh và sanh bởi một nữ đồng trinh, như là một đấng đầy dẫy Đức Thánh Linh, như một nhà truyền đạo và một người làm phép lạ đi từ nơi này đến nơi khác để thi hành chức vụ, như một nhân vật siêu phàm đã xuất hiện sau khi chết và đã ngự lên thiên đàng, như là một Đấng Cứu Thế đã mang lại sự bình an và sự cứu rỗi cho toàn thể nhân loại.  Cách trình bày này của Phúc Âm Lu-ca đã phác họa chân dung của Chúa Giê-su như là một vị ân nhân vĩ đại của cả nhân loại.  Khi đọc Phúc Âm Lu-ca, ngay cả một người ngoại cũng phải nhận ra rằng Đấng Cứu Thế ra từ dân Do-thái này đã mang những đặc điểm của một Đấng Cứu Thế mà họ cũng đang ngưỡng vọng trong nền văn hóa riêng của họ.  Trong lịch sử của những nền văn minh vùng phía Đông Địa Trung Hải, đã có nhiều nhân vật tự xưng là Đấng Cưú Thế, từ những người làm phép lạ đến những triết gia lưu động cho đến những vị hoàng đế nhận là đã đem hòa bình và sự cứu rỗi đến cho nhân loại.  Phúc Âm Lu-ca đã muốn cho những dân tộc ngoại bang này nhận ra rằng Chúa Giê-su chính là Đấng Cứu Thế thật sự, không như những “Đấng Cứu Thế” đã đến với họ bằng những lời tự xưng trống rỗng và những lời hứa hảo huyền.
    Nhìn chung, bức chân dung Chúa Giê-su trong Phúc Âm Lu-ca tương phản khá nhiều với chân dung đó trong Phúc Âm Mác mà trong đó Mác đã nhấn mạnh và đồng hóa hai danh hiệu Con Đức Chúa Trời và Con Người.  Trong phần trên chúng ta đã thấy Mác muốn giới thiệu Chúa Giê-su như là Đấng Christ và Con Đức Chúa Trời và giải thích những danh hiệu này bằng cách cẩn thận dùng danh hiệu Con Người cho Chúa Giê-su.  Lối diễn đạt của Mác đã đưa đến cao điểm là sự xưng nhận Chúa Giê-su như Con Người (14: 62) và sự tuyên xưng Ngài như là Con Đức Chúa Trời do một người thuộc dân ngoại (15:39).  Tuy nhiên, chúng ta nhận thấy có một sự thay đổi trong cách nhìn của Lu-ca.  Lời tuyên bố của thầy đội trong Lu-ca chỉ đơn giản là “thật người nầy là người công bình.”  Danh xưng Christ và Con Đức Chúa Trời trong Mác 14: 61-62 được dùng trong Lu-ca 22: 67-70 cũng không còn cường độ như trong Mác (thử đọc và so sánh hai đoạn kinh văn).  Những điều này cho thấy cái nhìn của Lu-ca về Chúa Giê-su hơi khác với cái nhìn của Mác, và chính điều này cho chúng ta thấy trong khi Mác thiên về thần tánh của Chúa Giê-su khi diễn tả Ngài như là Tôi Tớ Đức Chúa Trời (với sự nhấn mạnh về nguồn gốc thiên thượng của Ngài) thì Lu-ca viết về phương diện con người của Ngài. 
    Điểm khác biệt trên còn được dễ dàng nhận ra trong ký thuật về sự thương khó và sự phục sinh của Chúa Giê-su.  Trong tất cả những lời dự báo về những sự kiện này, Mác nhấn mạnh quyền phép siêu nhiên của Chúa Giê-su khi dùng những từ ngữ như “Ngài sẽ sống lại” (ví dụ Mác 9:31; 10:34—động từ dùng ở thì chủ động), trong khi Lu-ca dùng những động từ thì thụ động “phải [được] sống lại” (ví dụ Lu-ca 9:22).  Lu-ca nhấn mạnh về sự phục sinh của Chúa Giê-su trong suốt sách Phúc Âm của ông, nhưng sự kiện này được Lu-ca diễn tả như là hành động của Đức Chúa Trời.  Nói tóm lại, chúng ta nhận ra chủ đích của Lu-ca là muốn diễn tả Chúa Giê-su như là một người.
    Còn một điểm khác biệt giữa Mác và Lu-ca mà chúng ta có thể nhận thấy trong việc hai trước giả đã diễn tả về ý nghĩa và giá trị của sự chết của Chúa Giê-su.  Đối với Mác, sự chết của Chúa Giê-su là phương pháp của sự cứu rỗi cho nhân loại, và Tin Mừng về Chúa Giê-su là lời tuyên bố rằng Thập Tự Giá của Đấng Christ đã làm cho sự cứu rỗi đó trở thành một thực tại.  Lu-ca thì chú trọng đến khía cạnh đạo đức xã hội của sự chết của Chúa Giê-su hơn là khía cạnh Cứu Thế học (soteriology).  Dưới ngòi bút và chủ định của Lu-ca, cái chết của Chúa Giê-su là một lời lên án “hành động sát nhân hơp pháp” được thực hiện bởi người Do-thái, và Phúc Âm của Ngài là một lời tuyên bố “nếu con người ăn năn và quay trở lại với Đức Chúa Trời thì họ sẽ được tha thứ tội.”  Nhiệm mạng của môn đồ, trong Lu-ca, là làm nhân chứng về sự sống lại của Chúa, khác với Mác là người đã nhấn mạnh ý nghĩa của chức vụ môn đồ có nghĩa là theo chân Chúa trên con đường đến thập tự giá.
    2.  Các sứ đồ
    Phúc Âm Mác diễn tả Chúa Giê-su như một Đấng Cứu Thế bí ẩn mà thậm chí cả các sứ đồ là những người thân cận cũng không thực sự hiểu được.  Trong Phúc Âm Ma-thi-ơ, các môn đồ thân tín, nhất là các sứ đồ, được đặt để ở một vị trí cao hơn.  Họ là những người được ủy thác một nhiệm vụ quan trọng đó là giải thích ý nghĩa của mặc khải mới—chính Chúa Giê-su và những lời giảng dạy của Ngài.  Nhưng các sứ đồ còn được đặt để ớ một vị trí cao hơn nữa trong Lu-ca.
    Vì chủ đích là diễn tả khía cạnh con người của Chúa Giê-su, Lu-ca muốn nêu bật hình ảnh của Chúa Giê-su như là một anh hùng, như một tấm gương để noi theo, dù ông vẫn không hề xem nhẹ khía cạnh thần tánh của Ngài.  Những anh hùng đức tin trong thời kỳ Hội Thánh Đầu Tiên được Lu-ca diễn tả trong Công-vụ như là những người đã học theo gương của Chúa Giê-su.  Ngụ ý sâu xa của Lu-ca là các sứ đồ cũng được dự phần một phần nào vào thần tánh của Chúa Giê-su.  Trong Công-vụ, ngụ ý này được làm rõ ràng hơn trong những câu chuyện về quyền phép của các sứ đồ: lời quở của Phi-e-rơ đã đưa A-na-nia đến cái chết (5:3-5), khăn và áo của Phao-lô cũng có quyền phép chữa bệnh và đuổi quỉ (19: 12).
    Thái độ ưu ái của Lu-ca đối với các môn đồ nói chung và các sứ đồ nói riêng còn được làm nổi bật hơn trong câu chuyện của vị tử đạo đầu tiên là Stê-phan (hay Ê-tiên).  Điều đáng kinh ngạc là sự giống nhau của câu chuyện Chúa Giê-su chịu đóng đinh (Lu-ca 23) và Stê-phan bị ném đá chết (Công-vụ 7), nhất là sự tương đồng giữa lời kêu của Chúa trên thập tự “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (Lu-ca 23: 34) và tiếng kêu của Stê-phan trước khi chết “Lạy Chúa, xin đừng đổ tội này cho họ” (Công-vụ 7:60). 
    Cách mô tả của Lu-ca về Chúa Giê-su như là một con người và về mối tương đồng giữa “con người Giê-su” với những sứ đồ và các môn đệ của Ngài có một sứ điệp ngấm ngầm nhưng không thể nhầm lẫn được cho độc giả của ông: con người cũng có khả năng dự phần vào bản chất và cơ nghiệp của Đức Chúa Trời khi học theo gương Chúa Giê-su và những anh hùng đức tin của Hội Thánh Đầu Tiên—các sứ đồ và môn đồ của Ngài.
    V.  Phúc Âm Giăng—Những Chủ Đề Thần Học
    1. Cơ-đốc luận (Christology)
    Đặc điểm đầu tiên có thể nhận ngay ra ở Phúc Âm Giăng đó là sách Phúc Âm này chứa đựng một “Thượng Cơ-đốc luận” (High Christology).  Như trong phần giới thiệu đã có đề cập qua, Giăng viết về Chúa Giê-su như là Đức Chúa Trời.  Điều này đã được khẳng định ngay từ lời mở đầu của Phúc Âm Giăng (1:1).  Giăng đặc biệt nhấn mạnh về thần tánh của Chúa Giê-su và do đó chủ đích của Giăng hoàn toàn đối lập với Lu-ca, trong khi Mác và Ma-thi-ơ thì ở chính giữa hai chủ trương này. 
    Qua cái nhìn của Giăng, mọi dự ngôn của Cựu Ước đều đã được ứng nghiệm trong Chúa Giê-su: Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng Được Chọn của Đức Chúa Trời, Đấng Được Xức Dầu, Vua Y-sơ-ra-ên, Ê-li mới, v.v... Trung tâm của Thượng Cơ-đốc luận của Giăng là sự quả quyết rằng Chúa Giê-su là “một nhân vật bí ẩn từ thiên đàng,” là Con Người, hay là Con (của Đức Chúa Cha).  Tuy nhiên, khái niệm Con Người trong Giăng không phải là khái niệm về Con Người của thời mạt thế xuất phát từ Đa-ni-ên nhưng là Con ra từ Chúa Cha ở thiên đàng, giáng thế như một đại diện của Đức Chúa Cha (8:42), lưu lại thế gian trong một thời gian (7:33), rồi lại trở về cùng Chúa Cha.  Ngài rất gần với Chúa Cha, gần như là đồng nhất (10:30), tuy nhiên vẫn ở dưới Chúa Cha (14:28) và là đại diện của Chúa Cha trong việc phán xét (5:22, 27) và ban cho sự sống đời đời (3:13-15; 6:27, 53).  Ngài hé lộ sự vinh quang của Đức Chúa Cha (13:31).  Ngài là Con Độc Sanh của Đức Chúa Cha, và đáp ứng lại với Ngài cũng tương đương như đáp ứng lại với Đức Chúa Cha.  Dân Y-sơ-ra-ên và cả các môn đồ không thề hiểu được nguyên thủy của Ngài (6:41-42; 3:11-13).  Ngài là một Đấng lạ lùng từ một thế giới khác đến.
    Phúc Âm Giăng ghi lại nhiều lời thuyết giảng của Chúa Giê-su mang tính chất tự mặc khải.  Một chủ đề chính trong những lời thuyết giảng này là lời tuyên bố “Ta là” (I Am).  Những mệnh đề “Ta là” đôi khi có bổ túc từ theo sau nhưng đôi khi không.  Những mệnh đề “Ta là” mà không có bổ túc từ theo sau có vẻ như là hình bóng phản xạ của Xuất Ê-díp-tô Ký 3: 14 (Đức Chúa Trời xưng danh “Ta Là Đấng Ta Là” hay “Ta là Đấng Tự Hữu Hằng Hữu”—I Am Who I AM) và chắc chắn là báo hiệu về sự tự mặc khải của Đức Chúa Trời.  Thêm vào đó, sự giới thiệu về Ngôi Lời, là Đấng có từ trước đời đời và cùng tham gia vào công cuộc sáng tạo, như là bản chất của Chúa Giê-su đã cho thấy rõ ràng quan điểm thần học rất cao của Giăng về Chúa Giê-su.
    2.  Nhị nguyên luận (Dualism)
    Một trong những đặc điểm dễ nhận ra ở Phúc Âm Giăng là sự sử dụng những cặp từ đối lập nhau một cách thường xuyên trong khi diễn đạt: sự sáng/sự tối tăm; sự sống/sự chết; Đức Chúa Trời/Sa-tan; trên cao/bên dưới; thiên đàng/thếgian; tâm linh/xác thịt; lẽ thật/sự giả dối; Y-sơ-ra-ên (thật)/người Do-thái; kẻ tin/kẻ không tin.  Nhị nguyên luận trong Giăng không chỉ đơn giản là một sự tương phản giữa “thế giơi hiện tại” và “thế giới hầu đến” nhưng còn là một sự tương phản giữa “thế giới thiên đàng trên cao” và “thế giới của trần gian bên dưới.”  Trong nhị nguyên luận này, con đường của thế gian là con đường tội lỗi, đi ngược lại với chương trình của Đức Chúa Trời.  Nói một cách khác, thế gian đã bị làm hư hoại bởi Sa-tan (12:31) đến nỗi nó đã đắm chìm trong sự tối tăm (8:12), và cần phải được sự cứu rỗi của một Đức Chúa Trời yêu thương, là Đấng đã phái một “nhân vật” từ thế giới khác, thế giới của ánh sáng, để mang sự cứu rỗi đến cho thế gian (3:16).
    3.  Dấu lạ và đức tin
    Trong 20: 30-31, Giăng đã viết: “Đức Chúa Giê-su đã làm trước mặt các môn đồ Ngài nhiều phép lạ khác nữa, mà không chép trong sách này.  Nhưng các việc này đã chép, để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống.”  Lời phát biểu này có thể được xem như là sự đúc kết quan điểm của Giăng về mối liên quan giữa phép lạ và “đức tin.”  Giăng đã mô tả Chúa Giê-su như là một nhân vật thiên thượng siêu phàm mà những phép lạ của Ngài đã đưa người đến niềm tin.  Phần lớn những ký thuật và sự diễn giải của Giăng về Chúa Giê-su gần như đều xoay quanh ý tưởng này.  Những phép lạ của Chúa được ký thuật lại như là nguyên nhân chính đã đưa các môn đồ đến đức tin (2:11, 25; 12:37; 20:30-31; v.v...) và như là bằng chứng để chứng minh rằng Ngài chính là Đấng Cứu Thế (2:18-22). 
    Dựa vào những quan sát như trên, chúng ta thấy dường như quan điểm của Giăng về phép lạ hơi khác với quan điểm của các sách Tin Lành Cộng Quan.  Trong các sách này, đức tin thường được kể là điều kiện cần phải có trước khi phép lạ xảy ra (ví dụ như Mác 6:5-6).  Tuy nhiên, chúng cần phải để ý rằng tuy Giăng có nói về phép lạ như là sự khởi đầu của “đức tin,” nhưng ông đã nhấn mạnh rằng “đức tin” đến do thấy phép lạ như vậy là không đủ (2:23-25; 4:48), nhất là trong sự ký thuật về cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và Ni-cô-đem về sự tái sinh “từ trên cao” bởi Thánh Linh.  Như vậy, mối liên quan giữa sự chứng kiến những phép lạ và niềm tin trong Phúc Âm Giăng thật phức tạp hơn nhiều: (a) không phải tất cả những người thấy phép lạ đã “thực sự thấy và tin”; (b) một số người “thực sự thấy” và tin, và có lẽ đã “thấy” vì lòng họ đã sẵn sàng mở ra cho đức tin thật;  (c) những người “thực sự thấy” phép lạ là những người đã thấy sâu xa hơn những hiện tượng bề mặt của phép lạ, có nghĩa là họ đã “thấy” một cách thuộc linh mà không phải chỉ thấy trước mắt Chúa đã đáp ứng một nhu cầu vật chất nào đó; (d) và có những người đã đi đến niềm tin thật mà không cần phải thấy một phép lạ nào cả: Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy (20:29).  Như vậy, trong một bức tranh lớn về mối liên hệ giữa đức tin và phép lạ thì thật ra quan điểm của Giăng cũng gần như các sách Tin Lành Cộng Quan.  Chỉ có điều là Giăng đã đi sâu hơn vào chi tiết để cho thấy có nhiều mức độ khác nhau của sự nhận thức của những người đã chứng kiến phép lạ.  Nói một cách khác, Giăng đã tinh tế nhận ra một sự tương tác nhiều mức độ và năng động giữa đức tin và sự mục kích phép lạ.  Sự nhận thức tinh tế này đã hướng dẫn ngòi bút của Giăng trong suốt cả Phúc Âm khi ông mô tả về một quá trình trưởng thành của đức tin, từ đức tin có điều kiện—thấy phép lạ—cho đến đức tin không cần điều kiện—với cao điểm là “chẳng từng thấy mà đã tin vậy.”
    4.  Mạt thế học (eschatology)
    Tư tưởng về thời kỳ mạt thế trong Giăng gắn chặt với Cơ-đốc luận của ông.  Mạt thế học—học thuyết về sự tái lâm của Đấng Cứu Thế, sự sống lại (của Cơ-đốc nhân), sự phán xét cuối cùng, sự sống đời đời, v.v...—thường được nghĩ là nói về một sự kiện tận chung vĩ đại trong tương lai vào thời kỳ cuối cùng của lịch sử thế giới.  Nhưng trong tư tưởng của Giăng, thời kỳ cuối cùng đã là một “thực tại” siêu nhiên trong hiện tại đối với những tín hữu Cơ-đốc khi họ đối diện Chúa Cứu Thế trong niềm tin hôm nay.  Người tín hữu đã được kinh nghiệm phần nào sự phục sinh qua sự phục sinh về tâm linh trong hiện tại (sau khi ăn năn và đầu phục Chúa).  Họ cũng đã bắt đầu chặng đầu tiên của sự sống đời đời ở ngay trên đất này kể từ ngày họ bắt đầu sống đời sống của niềm tin Cơ-đốc.  Cộng đồng Cơ-đốc nhân trên đất—Hội Thánh—là cái bóng và là sự báo trước của trời mới đất mới trong ngày cuối cùng. 
    Khái niệm về “mạt thế hiện tại” được nhấm mạnh rõ ràng trong 5:24: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai nghe lời ta mà tin Đấng đã sai ta, thì được sự sống đời đời, và không đến sự phán xét, song vượt khỏi sự chết mà đến sự sống.”  Tuy nhiên, khái niệm về “mạt thế tương lai” (vào cuối cùng các thời đại) cũng không thiếu trong Phúc Âm Giăng (xem 5: 28-29; 6:39-40, 44, 54; 12:48).  Ở trong những đoạn kinh văn này, Giăng đề cập đến sự kiện Chúa Giê-su sẽ tái lâm vào một thời điểm nhất định trong tương lai và sẽ đưa những Cơ-đốc nhân trở về ngôi nhà vĩnh cữu dành cho họ ở thiên đàng. 
    VI.  Kết luận
    Mỗi sách Phúc Âm trình bày một bức chân dung riêng biệt về Chúa Giê-su.  Các trước giả đã viết theo cách riêng của họ để đáp ứng trước hết là nhu cầu của cộng đồng tín hữu Cơ-đốc nơi họ đang thi hành chức vụ.  Tuy nhiên, nhìn từ góc độ của chúng ta hôm nay, không một hình ảnh nào theo sự mô tả của từng trước giả là hoàn toàn đầy đủ để mô tả về bản thể của Chúa Giê-su.  Chân dung của Ngài là sự tổng hợp tất cả các bức tranh trên.  Sự quá thiên vị về một sách Phúc Âm nào đó thường đưa đến những sự hiểu sai lạc về Chúa Giê-su, thậm chí là những tà giáo.  Trong lịch sử của Hội Thánh, đã có không ít những học thuyết sai lạc vì những sự thiên vị này, thí dụ như Cơ-đốc luận theo trường phái ebionism thì bác bỏ thần tính của Chúa Giê-su trong khi trường phái docetism thì bác bỏ nhân tính của Ngài.
    Ngày nay, chúng ta khẳng định niềm tin chính thống về Chúa Giê-su: Ngài có một thân vị (One Person) nhưng hai bản tánh (two natures).  Ngài hoàn toàn là Đức Chúa Trời và Ngài hoàn toàn là con người.  Lẽ thật này chỉ có thể hiểu được khi chúng ta có được một cái nhìn “cộng quan” về cả 4 sách Tin Lành.
    C. Bài Làm
    I.  Tiểu luận:
    Mục đích của chức vụ của Chúa Giê-su là giảng Tin Lành để người ta ăn năn, trở lại cùng Đức Chúa Trời, được tha tội, và hưởng sự sống đời đời.  Nhưng tại sao trong Mác 4: 11, 12, Chúa lại phán rằng: “nhưng về phần người ngoài, thì dùng cách thí dụ để dạy mọi sự, hầu cho họ xem thì xem mà không thấy, nghe thì nghe mà không hiểu; e họ hối cải mà được tha tội chăng.”  Hãy thử giải nghĩa đoạn Kinh văn khó hiểu này.
    II.  Thảo luận:
    Bài học 9 và 10 sẽ không có phần thảo luận để sinh viên có thể dành thì giờ viết bài thi cuối khóa. 
        
     


       
      
     

      


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels