• Bình An Trong Thượng Đế

    Mục Lục
    7 Bình An Trong Thượng Đế
    Tác giả: Billy Graham
    Tựa
    Phần một: VẤN ĐỀ
    1. Tìm kiếm
    2. Kinh Thánh
    3. Thượng Đế
    4. Tội lỗi
    5. Ma quỉ
    6. Nỗi tuyệt vọng vì cô đơn
    7. Điều gì xảy ra sau khi chết?
    Phần hai: GIẢI PHÁP
    8. Lý do Chúa Giê-xu đến
    9. Bắt đầu thế nào và bắt đầu ở đâu?
    10. Ăn năn là gì?
    11. Đức tin là gì?
    12. Cũ và mới
    13. Làm thế nào để biết chắc?
    Phần ba: KẾT QUẢ
    14. Kẻ thù của Cơ Đốc nhân
    15. Những quy luật của đời sống
    16. Cơ Đốc nhân và Hội Thánh
    17. Cơ Đốc nhân và Xã hội
    18. Hy vọng cho tương lai
    19. Sự bình an
    20. Đời sau


    Tựa
    Suốt ba thập kỷ từ sau ngày quyển ‘Bình An Trong Thượng Đế’được viết ra, thế giới này vốn luôn dàn trận chờ tranh chiến với nhau dường như đã mất đi vĩnh viễn sự thanh thản mà nó vẫn nắm lỏng lẻo trong tay. Lần đầu tiên trong lịch sử, dưới hình thức một trận chiến tranh nguyên tử sẽ xảy ra có thể tiêu hủy mọi sự, cả một thế hệ thanh niên phải sống trong kinh hoàng trước khi họ kịp lớn lên, điều có thể lý giải phần nào con số thê thảm những người vừa đạt đến tuyệt đỉnh tuổi thanh xuân đầy hứa hẹn, lại tìm nhiều cách thức khác nhau để từ bỏ cuộc sống. Họ đã trở thành một thế hệ những nhà nghệ sĩ trốn đời. Trong lúc tôi viết mấy dòng này, thì nhiều cuộc xung đột vũ trang đang bùng nổ khắp nơi trên địa cầu, và tiếng súng đang vang rền trên nhiều đường phố của những đô thị lớn. Kể từ khi quyển sách này được viết ra, một vị tổng thống Hoa-kỳ, một ông bộ trưởng tư pháp, một lãnh tụ nhân quyền, một vị tổng thống của Ai-cập và một ngôi sao nhạc rock lừng danh đã bị ám sát. Một vị tổng thống khác đã bị mưu sát. Tại nhiều nơi, nhiều người đã bị bắt làm con tin, và một phi cơ phản lực chở hành khách của Triều-tiên đã bị bắn hạ. Nhiều cuộc chiến tranh đã xảy ra. Cả khi quay về dưới mái ấm gia đình, chúng ta cũng không tìm được sự bình an nội tâm, đơn giản chỉ vì phần nhiều mái ấm của chúng ta giờ đây không tồn tại nữa, và gần phân nửa tổng số những đôi tân hôn đã kết thúc bằng ly dị. Cuộc chiến cứ ngày càng lan tràn khắp thế giới nói chung đó vốn chỉ là phản ảnh của cuộc xung đột đang hoành hành trong lòng của từng cá nhân.
    Nhiều triệu người đã được đọc quyển sách này trong ấn bản đầu tiên. Nó được dịch ra hơn ba mươi thứ tiếng. Nhiều người viết thư kể lại chính cuộc đời của họ hay của một ai khác đó đã chịu ảnh hưởng của nó; đây là cuốn sách tôn giáo đã phổ biến và được nhiều người của thế giới Đông phương đọc nhất. Một viên chức hải quan gặp quyển ‘Bình An Trong Thượng Đế’trong hành lý của một Cơ Đốc nhân đến thăm đất nước của ông ta. Người du khách bảo rằng mình rất vui lòng tặng cho ông ta, nhưng rất tiếc ông đã hứa tặng cho một bạn thân trong xứ ấy rồi. Viên chức nọ nói: “Thế ông có vui lòng đợi cho tôi đọc xong quyển sách này không?” Vậy là ông bạn của chúng ta ngồi chờ, nửa giờ, rồi một giờ, hai giờ. Cuối cùng, chẳng nói chẳng rằng, quyển sách được trả vào vali, và ông bạn của chúng ta được chào từ biệt. Khi đọc lại, tôi đã vô cùng kinh ngạc khi thấy nguyên tác quả rất thích hợp, tuy có vài chi tiết cần cập nhật hóa.’
    Cũng như nguyên tác, quyển ‘Bình An Trong Thượng Đế’hiệu đính này chỉ ra con đường - con đường duy nhất - dẫn tới sự bình an cá nhân đích thực trong thế giới đang khủng hoảng này. Từ ngày được xuất bản ba mươi mốt năm trước đây, nhiều triệu độc giả trong và ngoài nước đã theo dõi các bước đi rõ ràng và đơn giản của nó để tự mình khám phá ra cuộc đời làm cách mạng mới mẻ từng được một người vô danh tại xứ Ga-li-lê đề nghị. Trong số đó có những người có tên trong danh sách các tử tội, và có cả một trong số các con rể của tôi nữa.
    Có một nữ phóng viên đến tham dự Chiến dịch truyền giảng Phúc Âm của chúng tôi tại Bristol, Anh quốc, được hỏi chẳng hay cô có gia nhập một Hội Thánh nào trước khi đến Bristol không; cô trả lời: “Vâng, có. Tôi là một Cơ Đốc nhân. Tôi đã nhờ ông Billy Graham mà ăn năn quy đạo hồi năm 1954”. Bấy giờ, cô là một bé gái mười tuổi, học sinh nội trú. Một ngày nọ, cô bé đến một hàng bán sách cũ, trên bàn có một số sách, cô để ý đến quyển ‘Bình An Trong Thượng Đế,’ và tức khắc bị cuốn hút. Cô trả sáu xu để mua - là tất cả số tiền cô có lúc ấy - và khi về phòng học của mình trong trường, cô bắt đầu đọc nó suốt đêm bằng chiếc đèn bấm. Kết quả là cô đã tin nhận Chúa Cứu Thế sau khi đọc quyển sách ấy. Tuy từng lớn lên trong Hội Thánh, nhưng chưa hề có ai giải thích cho cô bức thông điệp đơn sơ của Phúc Âm, và bảo cô phải đáp lại tiếng kêu gọi của Chúa Cứu Thế như thế nào.
    Tôi khẩn nguyện rằng ấn bản được hiệu đính này sẽ đến với những bàn tay và những tấm lòng đang lạc lõng trong thế giới điên đảo nhưng có rất nhiều người đang trông tìm một lối thoát này, vì tôi ý thức rằng hiện nay - hơn cả lúc sách này mới được viết ra - đang có rất nhiều người cả nam lẫn nữ và nhiều thanh thiếu niên ở khắp mọi nơi, đang khao khát tìm cầu sự bình an trong Thượng Đế.
    Tôi tri ân sâu xa tất cả những ai đã góp ý với tôi khi chuẩn bị ấn bản mới này. Nhất là tôi xin cảm ơn nhà tôi - bà Ruth - đã dành nhiều thì giờ để sửa chữa; trưởng nữ của tôi là GiGi Tchividjian; và cô thư ký Stephanie Wills. Nguyện Thượng Đế dùng quyển sách này để chạm đến tấm lòng của triệu triệu người thuộc thế hệ mới hiện nay.
    BILLY GRAHAM
    TÌM KIẾM
    Các ngươi sẽ tìm ta, và gặp được, khi các ngươi tìm kiếm ta hết lòng.
    Gie 29:13.
    NGAY từ khi mới sanh ra bạn đã bắt đầu Công Cuộc Tìm Kiếm Lớn Lao. Có lẽ phải mất nhiều năm bạn mới ý thức được điều đó, mới thấy rõ rằng bạn đang luôn luôn tìm kiếm - tìm kiếm điều bạn chưa từng có - tìm kiếm một điều quan trọng hơn bất cứ điều gì khác trong đời. Đôi khi bạn cố quên điều này và chỉ nghĩ đến những việc khác, dành thì giờ và tâm trí vào công việc hiện tại mà thôi. Cũng có lúc bạn tưởng mình được giải thoát khỏi nhu cầu tìm kiếm điều không tên đó. Đôi lúc bạn hầu như quên lãng cuộc tìm kiếm này để rồi phải nhớ lại - bạn phải luôn luôn quay về với công cuộc tìm kiếm của mình.
    Trong những phút cô đơn nhất của cuộc đời, bạn để ý quan sát những người xung quanh và tự hỏi không biết họ có tìm kiếm gì không? - Tìm điều họ không thể diễn tả nhưng biết là rất cần. Vài người tỏ ra sung sướng và không nặng gánh lo âu như bạn. Một số khác dường như đã toại nguyện trong hôn nhân gia đình. Lại có người đã đi khắp đó đây để tìm tiền tài và danh vọng. Có người cứ ở quê nhà mà vẫn thành đạt và khi nhìn họ, có thể bạn nghĩ: “Những người này không cần bận tâm gì về cuộc Tìm Kiếm Lớn Lao. Họ đã tìm thấy đường đi của họ rồi. Họ biết họ muốn gì và đã đạt tới đích. Chỉ có ta mới theo một con đường chẳng đưa tới đâu. Chỉ có ta mới thắc mắc, mới tìm kiếm và vấp ngã bên con đường tối tăm và tuyệt vọng không một lối thoát”.
    Tiếng kêu của nhân loại.
    Nhưng bạn không cô độc đâu. Toàn thể nhân loại đang cùng đi với bạn vì cũng đang tìm kiếm như bạn. Toàn thể nhân loại đang tìm một lời giải đáp cho tình trạng hỗn loạn, đạo đức suy đồi và thuộc linh trống rỗng đang đè nén thế giới. Toàn thể nhân loại đang kêu gào một sự hướng dẫn, an ủi và bình an.
    Có người nói là chúng ta đang sống trong “kỷ nguyên lo âu”. Các sử gia đã chứng minh rằng trong suốt lịch sử nhân loại, không lúc nào con người có nhiều sợ hãi và bất an như ngày nay. Tất cả những gì chúng ta thường nương cậy dường như đã bị cuốn đi. Chúng ta nói chuyện về hòa bình nhưng phải đương đầu với chiến tranh. Chúng ta phác họa những kế hoạch an ninh chu đáo nhưng không thấy an ninh đâu cả. Chúng ta cố bám víu vào bèo bọt trôi qua, nhưng cho dù nắm được, bọt bèo cũng biến mất.
    Từ bao thế hệ, chúng ta đã chạy như bị ma đuổi từ ngõ cụt này qua ngõ cụt khác. Mỗi lần, chúng ta đều tự nhủ: “Đường này đúng đây, chắc sẽ đưa chúng ta đến nơi đến chốn”. Nhưng lần nào chúng ta cũng lầm.
    [td Nẻo đường tự do của chính trị.
    Một trong những đường lối trước tiên chúng ta chọn ấy là “tự do chính trị”. Chúng ta nghĩ nếu con người được tự do chính trị thì thế giới sẽ hạnh phúc. Chúng ta chọn lấy những nhà lãnh đạo chính phủ, rồi chúng ta sẽ có một chính phủ làm cho cuộc đời đáng sống. Kết quả là chúng ta đã đạt được tự do chính trị nhưng không sao thực hiện được một thế giới tốt đẹp hơn. Hằng ngày báo chí tường thuật những vụ tham nhũng ở cấp bậc lãnh đạo, sự thiên vị, lợi dụng và giả nhân giả nghĩa chẳng những không kém đi, mà đôi khi còn vượt xa sự chuyên chế của vua chúa ngày xưa. Tự do chính trị là một điều quý báu và quan trọng nhưng không đủ đem lại cho chúng ta thế giới mà chúng ta ao ước.
    Có một đường lối khác đầy hứa hẹn được nhiều người hoàn toàn tin tưởng có tên là con đường “giáo dục”. Họ cho rằng tự do chính trị đi đôi với một nền giáo dục sẽ giải quyết được vấn đề, và tất cả chúng ta, chạy như điên trên con đường giáo dục. Trong một thời gian dài, con đường này có vẻ sáng sủa, và chúng ta hăm hở bước đi đầy hi vọng; nhưng nó đã đưa chúng ta đến đâu? Quý vị đã thừa biết câu trả lời. Chúng ta là những người hiểu biết nhất trong lịch sử văn minh - và cũng là những người khốn khổ nhất. Các học sinh trung học của chúng ta biết nhiều về những định luật vật lý của vũ trụ hơn cả nhà khoa học tài ba nhất trong thời Aristotle. Nhưng dù đầu óc chúng ta đầy ắp kiến thức, con tim chúng ta vẫn trống rỗng.
    Đường lối sáng sủa và hấp dẫn nhất là con đường mang tên “mức sống cao hơn”. Hầu hết mọi người đều cho rằng có thể trông mong con đường này đưa mình vào thế giới tốt đẹp và hạnh phúc hơn. Con đường được xem như chắc chắn nhất. Đó là con đường “nhấn nút thì có ngay”, đầy những quảng cáo lộng lẫy màu sắc trong các tạp chí, những xe hơi đời mới bóng nhoáng, những hàng dài tủ lạnh và máy giặt tự động, những con gà giò ngon lành trong những lò nướng tối tân. Lần này thì nhất định chúng ta trúng số độc đắc. Những con đường kia có thể sai lầm, nhưng con đường này thì chắc đúng rồi!
    Vâng, quý vị hãy nhìn quanh xem sao. Ngay chính giờ phút này của lịch sử, tại một vài quốc gia, tự do chính trị đã tiến đến một trình độ mà các quốc gia khác của thế giới văn minh chưa thể hiện được. Một vài quốc gia đã có một hệ thống giáo dục phổ cập tiến bộ nhất, và các quốc gia đó được trong và ngoài nước ca ngợi về mức sống cao của họ. Chúng ta dùng từ “lối sống văn minh” để chỉ một nền kinh tế hào nhoáng tận dụng điện lực và máy tự động. Lối sống ấy có thực sự làm chúng ta sung sướng không? Có đem đến cho chúng ta niềm vui và lẽ sống chúng ta đang tìm kiếm không?
    Không. Trong khi chúng ta tự mãn tự kiêu là đã thực hiện được rất nhiều điều mà những thế hệ trước chỉ mơ tưởng; trong khi chúng ta vượt qua các đại dương chỉ mất vài giờ thay vì hàng tháng; trong khi chúng ta đã tìm ra những phương thuốc thần diệu diệt trừ một số bệnh nan y; trong khi chúng ta xây dựng những tòa nhà chọc trời khiến tháp Ba-bên trở thành như một ổ mối; trong khi ngày càng hiểu biết nhiều hơn về những bí mật kỳ diệu dưới đáy biển và thám hiểm không gian càng lúc càng xa, chúng ta có làm vơi đi cảm giác trống rỗng trong lòng chúng ta được mảy may nào không? Tất cả những tiến bộ tối tân kỳ diệu đó có đem lại cho chúng ta một cảm giác mãn nguyện nào không? Có giúp chúng ta giải thích tại sao chúng ta có mặt trên thế gian này; có chỉ cho chúng ta biết những gì chúng ta cần phải học hỏi không?
    Hay là cái cảm giác trống rỗng ghê gớm kia vẫn cứ tồn tại? Mọi khám phá mới về sự bao la của vũ trụ có an ủi được bạn không hay chỉ làm cho bạn cảm thấy cô độc và bơ vơ hơn bao giờ hết? Đâu là liều thuốc giải độc đối với sự sợ hãi, thù ghét và hư hoại của con người? Ở ống nghiệm hay viễn vọng kính?
    Sự quyến rũ của khoa học.
    Chúng ta không chối cãi khoa học đã đem lại nhiều điều mà con người cho rằng mình đang cần. Nhưng cũng chính khoa học đã tặng cho chúng ta món quà kinh khiếp nhất. Đời sống và tương lai của mỗi sinh vật trên hành tinh này đều bị đe dọa bởi món quà khoa học đó. Nó sừng sững như bóng tối đằng sau những tư tưởng cảnh giác của chúng ta, lù lù như con ma ghê gớm ám ảnh giấc mơ con em chúng ta. Không muốn nghĩ đến nó, chúng ta cố cho rằng chúng ta chưa hề nhận được món quà đó, rằng đó chỉ là chuyện bịa, và một buổi sáng kia khi thức dậy chúng ta thấy rằng bom khinh khí thật sự chưa được phát minh và bom nguyên tử không bao giờ có. Nhưng các nhật báo cho chúng ta biết ngược lại.
    Lẽ dĩ nhiên nhiều người đang theo đuổi những con đường khác. Có những con đường của danh vọng và phú quý, lạc thú và quyền uy. Nhưng không có con đường nào đưa chúng ta thoát khỏi sự sa lầy. Chúng ta bị sa vào mạng lưới của chính tư tưởng chúng ta, một cách quá khéo léo, quá trọn vẹn đến nỗi không còn trông thấy căn nguyên hay phương thuốc chữa trị chứng bệnh đã làm chúng ta thống khổ.
    Nếu quả thật bệnh nào thuốc ấy thì chúng ta phải mau mau tìm thuốc. Thì giờ như tên bay và nếu có con đường nào đưa đến ánh sáng, nếu có lối nào tìm về đời sống thuộc linh lành mạnh, chúng ta không được phép chậm trễ một phút giây.
    Đi tìm các giải pháp.
    Trong cơn khủng hoảng này, có nhiều người đang vùng vẫy, nhưng càng giãy giụa, họ càng thấy các cố gắng không nâng họ lên mà chỉ dìm họ chìm sâu xuống. Trong những năm 80 tỷ lệ tự sát đã theo tốc độ của hỏa tiễn. Với trẻ em từ 10-14 tuổi, mỗi năm mức độ tự sát đã tăng gấp ba lần. Tạp chí ‘Lãnh đạo’ (Leadership) ước lượng hằng năm khoảng nửa triệu người muốn tự tử - và 50.000 người đã thành công. Trong năm 1981, số người chết vì tự tử nhiều hơn số người bị giết.
    Năm ngoái, hàng ngàn người Mỹ - mà phần đông là thanh thiếu niên - vì không tìm được cả những câu giải đáp sai lầm, nên đành chọn việc đi lang thang vào sâu hơn trong khu rừng nhân tạo mà chúng ta gọi là nền văn minh.
    Trong hơn hai thập kỷ qua tốc độ ly dị đã leo thang, cứ hai hôn lễ được kết thúc bằng một vụ ly dị. Từ năm 1900 đến nay, tỷ lệ ly dị đã tăng 100 phần trăm!
    Chúng ta thì tiêu cả gia tài để “nhận nuôi” những búp bê bằng vải nhồi bông, trong khi con cái chúng ta lại sa vào tệ nạn lạm dụng trẻ con hay chịu đựng sự tàn nhẫn khủng khiếp của việc dùng con nít cho các phim ảnh khiêu dâm. Chúng ta nghe nói về chuyện phá thai, thuê người làm mẹ, ngân hàng tinh dịch và vân vân. Các gia đình của chúng ta đang gặp những câu đố nát óc thuộc đủ loại lạm dụng và thác loạn.
    Vậy bạn sẽ hỏi: “Chúng ta đang ở đâu? Bây giờ chúng ta đang ở trong tình trạng nào và đang đi về đâu?” Tôi xin nói để bạn biết chúng ta ở đâu và chúng ta là ai. Chúng ta là những người đầu óc đầy ắp kiến thức, nhưng tâm hồn trống rỗng.
    Chúng ta than phiền thanh niên ngày nay đã lạc hướng, mất hào hứng, thiếu thiện chí làm việc và tiến bộ. Mỗi ngày, tôi nghe phụ huynh than van không biết con em họ làm sao ấy! Chúng không muốn cố gắng mà chỉ muốn cái gì có sẵn. Phụ huynh không ý thức rằng con cái mình được giáo dục đầy đủ và được nuôi dưỡng chu đáo nhưng thật sự tâm hồn chúng trống rỗng. Chúng không được thấm nhuần tinh thần xem công việc là một niềm vui. Chúng không có quyết tâm xem tiến bộ là một lạc thú. Tại sao chúng lại trống rỗng như vậy? Chính vì chúng không biết mình từ đâu đến, tại sao ở đây hoặc đang đi về đâu?
    Thanh niên ngày nay cần được hướng dẫn để có một cái nhìn thông suốt vào tương lai. Họ đang tìm những mẫu người để noi theo, tìm những khuôn mẫu nhằm vào một chủ đích.
    Chúng giống như những chiếc xe hơi mới mẻ lộng lẫy, chế tạo tinh vi, nhưng trong bình không có xăng, bề ngoài hào nhoáng nhưng bên trong chẳng có năng lực và chúng ở không như thế cho đến lúc bị rỉ sét vì buồn chán.
    Bầu không khí buồn chán.
    Số người buồn chán hiện nay trên thế giới có lẽ nhiều hơn bất cứ lúc nào khác. Chúng ta biết thế và chúng ta có quá nhiều trò vui. Dân chúng trống rỗng đến nỗi không thể tự giải khuây. Họ phải mướn người khác làm cho họ vui, chọc cho họ cười, gây cho họ cảm giác được ấm cúng, hạnh phúc và dễ chịu trong giây phút để quên đi cảm giác trống rỗng ghê rợn của sự lạc lõng và cô độc.
    Bạn có thể cho rằng buồn chán là một vấn đề nhỏ nhặt. Ai cũng có lúc buồn chán và đó là điều tự nhiên. Nhưng tôi xin kể lại bạn nghe vài điều về sự buồn chán. Một sự kiện nguy hiểm đang xâm chiếm tâm trí mọi người. Trong số các tạo phẩm của Thượng Đế, con người là vật thọ tạo duy nhất biết buồn chán mặc dù trong sở thú chúng ta từng thấy những con vật trông có vẻ rất buồn! Ngoài con người, không có sinh vật nào biết buồn chán với chính mình hoặc với ngoại cảnh. Điều này rất quan trọng vì Tạo Hóa chẳng bao giờ làm việc gì không có mục đích và nếu Ngài làm cho con người biết buồn chán cũng chính vì có một mục đích.
    Buồn chán là một trong những phương cách chắc chắn nhất để đo lường sự trống rỗng nội tâm của bạn! Nó đo thực trạng trống rỗng ấy chính xác như một hàn thử biểu. Người chán nản sinh hoạt trong một khoảng chân không. Nội tâm họ là một khoảng chân không và thiên nhiên luôn luôn chống lại chân không. Một trong những định luật bất dịch của vũ trụ là tất cả những khoảng chân không phải được lấp đầy và lấp đầy ngay.
    Những con người trống rỗng.
    Chúng ta không cần trở lại thời xưa mới biết được những gì đã xảy ra cho một quốc gia của những người có tâm hồn trống rỗng. Chúng ta không cần nhìn xa hơn lịch sử cận đại của các nước Đức, Ý và Nga mới thấy được tốc độ kinh khủng của thiên nhiên lấp bằng những khoảng chân không nội tâm đó. Những chủ nghĩa chính trị sai lầm tràn ngập cách dễ dàng tâm trí những người có trạng thái trống rỗng. Nhưng những chủ nghĩa đó không có chỗ đứng trong tâm hồn một người đầy dẫy Thánh Linh của Thượng Đế. Thiên nhiên ghét sự trống không, nhưng chính cá nhân chúng ta phải tự định đoạt xem nên lấy gì lấp đầy khoảng chân không trong nội tâm chúng ta.
    Ngày nay chúng ta đang sống trong tình trạng của những người có tâm hồn trống rỗng. Chúng ta tưởng mình sống đầy đủ bằng các tiện nghi khoa học và giáo dục, với một đời sống cao đẹp, nhiều lạc thú hơn nhiều điều cần thiết khác nữa, nhưng rốt cuộc tâm hồn của chúng ta vẫn trống rỗng. Tại sao tâm hồn chúng ta trống rỗng như thế? Vì Đấng Sáng Tạo đã dựng nên chúng ta cho chính Ngài; chúng ta sẽ không bao giờ tìm thấy sự trọn vẹn và đầy đủ nếu cứ ở ngoài Ngài.
    Trong một bài trả lời phỏng vấn gần đây trên tờ Nhật báo ‘Trưởng lão’(Presbyterian Journal, số ngày 2 tháng 11, 1983), nhà báo Công giáo lừng danh Michael Novak nói về tình trạng của chúng ta như sau: “Xã hội chủ nghĩa là một hệ thống dành cho các thánh nhơn... Chủ nghĩa dân chủ tư bản... là một hệ thống dành cho các tội nhơn”. Chính vì lý do ấy mà ông nhận thấy rằng xã hội chủ nghĩa chẳng làm gì được cho thế giới này.
    Chúa Giê-xu phán: “Người ta sống không phải chỉ nhờ cơm, nhờ bánh!” (Lu 4:4), nhưng chúng ta không lưu tâm đến Lời Ngài. Chúng ta cứ tiếp tục ngấu nghiến đủ các loại thức ăn cho thỏa thích đến nỗi mang bệnh.
    Chúng ta không thể chịu đựng sự trống rỗng ghê gớm của chính chúng ta, cũng không thể nhìn con đường vắng vẻ điêu tàn trước mặt. Chúng ta mệt mỏi tuyệt vọng vì hờn ghét, tham muốn, đam mê mà chúng ta biết đầy dẫy trong chúng ta, nhưng không có cách nào loại bỏ để thay vào những thứ tốt hơn.
    Thời gian là trọng yếu. Các công cụ hủy diệt toàn cầu nằm trong tầm tay chúng ta. Chúng ta không thể tiếp tục đi mãi trên những con đường lầm lạc nữa, không thể mạo hiểm trong những con đường xa lạ nữa, và cũng không thể đi lạc vào những ngõ cụt nào khác. Chúng ta không còn có thì giờ để làm điều đó! Vì thế hệ chúng ta đã thực hiện xong những gì các thế hệ trước chỉ mới cố gắng hoặc mơ ước thực hiện trong những lúc cuồng nhiệt của bạo quyền. Chúng ta đã hoàn thành một vũ khí hủy diệt toàn thể. Chúng ta đang chứng kiến sự điên cuồng cực điểm của con người. Trận chiến tranh hạt nhân thiêu hủy tất cả đang lơ lửng trên đầu chúng ta!
    Ma quỉ hẳn thích thú cười khi một số người thông minh nhất trên thế giới này đã say mê làm việc trong nhiều năm đặng hoàn thành điều kinh khiếp đó! Phá vỡ nguyên tử! Phân chia và chinh phục! Tách rời, phá hủy, đập nát, chà đạp, nghiền vụn! Ma quỉ đã làm xong công việc của nó với bàn tay hăm hở của con người. Chúng ta thấy trước mắt kiệt tác của Sa-tan; sự quỷ quyệt của nó khi bắt chước những lưỡi lửa thiên thượng. Nhưng hai đàng vô cùng khác biệt! Đó là sự khác biệt giữa Thiên đàng và Địa ngục!
    Một thế giới nghịch thường và hỗn độn.
    Chúng ta đang sống trong một thế giới nghịch thường và hỗn độn. Nhưng điều chắc chắn là sự hỗn độn này là một sự hỗn độn có kế hoạch - kế hoạch của Sa-tan. Kinh Thánh nói rằng Sa-tan là kẻ đại bịp, là nguyên nhân của sự tự lừa dối và cũng là nguồn gốc của bao lường gạt giữa các quốc gia. Nó đã làm chúng ta tin rằng mọi sự đều tốt đẹp hơn trong khi thật ra mọi sự đều tồi tệ.
    Tất cả chúng ta đều nhìn nhận rằng thế giới đã hoàn toàn thay đổi từ đầu thế kỷ này. Chúng ta nhận thức được nhịp độ gia tăng của những thay đổi đó, của tinh thần cách mạng đang quét sạch những tập tục, của tốc độ xáo trộn và thay đổi ngôn ngữ, thời trang, phong tục, gia cư cùng những lề lối sinh hoạt và những cảm nghĩ của chúng ta.
    Chỉ mới vài năm gần đây, trẻ con vẫn còn thích ra bến cảng xem tàu cập bến. Ngày nay chúng đã chán phi cơ trực thăng và máy bay phản lực. Ngày xưa chúng ta từng ngạc nhiên về phát minh máy điện báo, thì nay lại cho vô tuyến truyền hình là điều tự nhiên. Cách đây không lâu, nhiều bệnh tật của con người bị coi là nan y, ngày nay chúng ta có nhiều thứ thuốc công hiệu chữa được nhiều căn bệnh ngặt nghèo. Không ai còn nghi ngờ gì về những điều chúng ta đã thực hiện.
    Nhưng với tất cả những tiến bộ đó, con người vẫn chưa giải quyết được nan đề căn bản của mình. Chúng ta có thể xây những tòa nhà cao nhất, đóng những con tàu chạy nhanh nhất, dựng những cây cầu dài nhất - nhưng vẫn không thể tự cai trị hay cùng chung sống trong bình đẳng và hòa hợp.
    Chúng ta có thể thiết lập những trường phái lớn về nghệ thuật và âm nhạc, có thể tìm ra những sinh tố mới và bổ hơn nhưng những âu lo của chúng ta vẫn còn đó. Những khốn khổ này vẫn là các âu lo cố hữu của con người, càng ngày càng lớn hơn và nhiều hơn. Mối ưu tư ấy có thể xuất hiện dưới nhiều hình thái mới. Chúng có thể làm cho chúng ta đau đớn và lo buồn nhiều hơn; nhưng tựu trung chúng ta vẫn đang đối diện với những sự cám dỗ và thử thách mà loài người luôn phải đương đầu.
    Sau phút bi thảm trong vườn Ê-đen (còn gọi là Vườn Địa - đàng, chỗ ở ban đầu của thủy tổ loài người) khi đã chối bỏ ý Chúa để hành động theo ý riêng, con người bị ray rứt bởi những âu lo tương tự. Nguyên nhân của những vấn đề này đã được trình bày trong các chương đầu của sách Sáng-Thế Ký (sách đầu tiên trong Kinh Thánh) . Những hoàn cảnh ghê gớm tạo ra các vấn đề này đã được trình bày trong chương đầu của sách La-mã (thư tín của Phao-lô gởi cho người La-mã) . Và Phúc Âm của Chúa Cứu Thế Giê-xu ban cho chúng ta phương cách trị liệu.
    Chính bản chất hư hoại và tội lỗi của con người đã khiến con người tràn đầy hận thù, đố kỵ, tham lam và ghen ghét. Sự rủa sả tội lỗi giáng trên thể xác nên con người luôn luôn bị sự chết ám ảnh. Tài năng của con người có thể biến đổi tất cả, ngoại trừ chính mính. Dù lớn tiếng cho mình là văn minh tiến bộ, con người vẫn ở trong trạng thái ban sơ.
    Tội lỗi vẫn y nguyên.
    Chính tội lỗi không thay đổi, dù con người có cố gắng hết sức để biến cải nó. Chúng ta đã cố khoác cho nó những danh từ mỹ miều. Chúng ta đã dán những nhãn hiệu mới lên chai thuốc độc cũ. Chúng ta đã cố quét vôi trắng lên ngôi nhà cũ và cho đó là nhà mới.
    Chúng ta đã tìm cách gọi tội lỗi là “sai lầm”, là “vấp váp” hay “thiếu nhận xét”. Nhưng tội lỗi vẫn là tội lỗi. Dù cố xoa dịu lương tâm, chúng ta vẫn biết con người là tội nhân; và hậu quả của tội lỗi vẫn là bệnh tật, chán chường, bất mãn, tuyệt vọng và chết chóc.
    Sự buồn rầu cũng chẳng thay đổi. Sự buồn rầu bắt đầu từ khi A-đam và Ê-va (tổ loài người) nhìn cái xác không hồn của con mình là A-bên bị giết cách thê thảm. Từ đó sự buồn rầu đã trở thành từ ngữ phổ thông của con người. Không ai thoát khỏi nó, và mọi người đều biết nó. Đến nỗi các bạn đến an ủi Gióp (người được Kinh Thánh mô tả là rất trọn vẹn và ngay thẳng) đã coi sự buồn rầu như là một mục đích của đời sống. Họ đã nói: “Nhưng loài người sinh ra để bị khốn khó, như lằn lửa bay chớp lên không” (Giop 5:7).
    Sự chết vẫn thế. Con người đã cố gắng thay đổi bộ mặt của nó. Chúng ta đã thay đổi danh từ “phu chôn xác” bằng “đạo tỳ”. Chúng ta để xác chết vào “quan tài” thay vì cho vào “hòm”. Chúng ta có “nhà vĩnh biệt” thay vì “nhà xác” và “nghĩa trang” thay vì “gò mả”. Chúng ta cố giảm bớt sự đau buồn của tang lễ. Nhưng cho dù chúng ta có thay đổi danh từ hoặc bày đặt nghi thức đi nữa, thực tế lạnh lùng và tàn nhẫn của sự chết vẫn không thay đổi trong suốt lịch sử loài người. Một người bạn đang chiến đấu với bịnh ung thư vào thời kỳ cuối cùng, gần đây đã thư cho tôi: “Tôi chợt hiểu không phải là giai đoạn cuối cùng bệnh ung thư nhưng là giai đoạn cuối cùng của đời sống!”
    Đời sống thực sự của con người gồm ba sự kiện: quá khứ đầy dẫy tội lỗi; hiện tại tràn ngập khổ đau và tương lai sự chết đang chờ đợi.
    Kinh Thánh dạy: “Như đã định, mỗi người chỉ chết một lần” (He 9:27), đối với người thường, tư tưởng này dường như sống sượng và tuyệt vọng. Trong nỗ lực tránh né Lời Chúa, con người đã xây dựng hàng chục hàng trăm triết lý và tôn giáo. Nhiều nhà triết học và tâm lý học ngày nay vẫn còn cố tìm cách tạo ra cảm tưởng cho rằng con đường của Chúa Giê-xu không phải là con đường duy nhất. Nhưng hễ ai đã thử đi tất cả những con đường khác đều thấy chúng không đưa đến đâu cả mà chỉ dẫn tới vực sâu.
    Chúa Cứu Thế đến để đem lại cho chúng ta lời giải đáp đối với ba vấn đề: tội lỗi, buồn rầu và chết chóc. Chính Chúa Cứu Thế Giê-xu và chỉ một mình Ngài là Đấng thủy chung không hề thay đổi “hôm qua, ngày nay và cho đến muôn đời” (13:8). Như Henry F. Lyte, tác giả một bài thánh ca, đã viết: “Tôi thấy sự đổi thay và hư nát vây quanh; còn Ngài, Đấng bất biến vẫn ở với tôi.”
    Tất cả mọi sự đều có thể thay đổi, nhưng Chúa Cứu Thế không hề thay đổi. Chúa Cứu Thế đứng vững và bình tĩnh trong biển cả đam mê cuồng loạn của con người. Ngài vẫn sẵn sàng đón nhận, ban phước hạnh cùng bình an cho những ai sớm quay về với Ngài. Chúng ta đang sống trong thời ân điển tức thời kỳ Thượng Đế hứa là bất cứ ai muốn cũng có thể đến đón nhận Con Ngài. Nhưng thời kỳ này sẽ không tiếp diễn mãi mãi. Chính lúc này chúng ta cũng đang sống tạm bợ mà thôi.
    KINH THÁNH
    Trời đất sẽ tiêu tan, nhưng Lời ta vẫn còn mãi mãi.
    Mat 24:35
    THỜI GIỜ gần hết. Phút giây sẽ điểm vào nửa đêm. Nhân loại sắp lao mình vào chỗ chết. Chúng ta sẽ quay về đường nào đây? Còn có uy quyền nào không? Có đường lối nào chúng ta có thể theo không? Có ánh sáng nào xuyên thấu bóng tối địa phủ không? Liệu chúng ta có thể tìm ra chìa khóa mật mã cho những vấn đề nan giải của chúng ta chăng? Có nguồn uy quyền nào để chúng ta nương tựa? Có phải Tạo hóa hay năng lực vô danh nào đó chỉ đặt để chúng ta nơi đây mà không mảy may cho biết chúng ta từ đâu đến, tại sao ở đây, và sẽ về đâu?
    Câu trả lời là không. Chúng ta có một cuốn mật mã. Chúng ta có một chìa khóa. Chúng ta có nguồn tài liệu căn cội đầy quyền uy. Chúng ta tìm thấy những điều đó trong cuốn sách lịch sử cổ xưa gọi là Kinh Thánh. Sách này lưu truyền đến chúng ta qua các thời đại, qua tay nhiều người, xuất hiện dưới nhiều hình thức - và sống còn qua bao cuộc tấn công. Sự phá hoại man rợ hay sự thông thái văn minh chẳng động đến Kinh Thánh được. Lửa thiêu đốt hay tiếng cười của chủ nghĩa hoài nghi cũng chẳng hủy diệt được Kinh Thánh. Qua nhiều thời đại đen tối của con người, những lời hứa vinh hiển của Kinh Thánh vẫn còn tồn tại, bất biến.
    Trụ sở Thánh Kinh Hội Anh quốc và Hải ngoại vốn tọa lạc trên phố Giê-ru-sa-lem, là một trong những đường phố chính của thủ đô Ba-lan hồi Đệ nhị thế chiến. Lúc người Đức bắt đầu ném bom thành phố ấy, vợ của ông giám đốc vào kho sách, đem khoảng 2000 quyển Kinh Thánh xuống gian nhà hầm. Bà bị kẹt trong trận ném bom ấy và về sau bị người Đức bắt đưa vào một trại tù binh. Bà tìm cách vượt ngục, sau khi chiến tranh kết thúc, bà đã tìm lại được 2000 quyển Kinh Thánh ấy và đem phân phát cho người có cần. Thủ đô Warsaw bị san bằng, nhưng trên phố Giê-ru-sa-lem, bức tường của trụ sở Thánh Kinh Hội và Hải ngoại vẫn còn đứng sừng sững. Trên đó có câu Kinh Thánh được sơn bằng chữ thật to: “TRỜI ĐẤT SẼ TIÊU TAN, NHƯNG LỜI TA VẪN CÒN MÃI MÃI”.
    Giờ đây, khi chúng ta đang tiến đến gần thời gian được coi như là giờ quyết định mới mẻ của lịch sử thế giới, chúng ta nên xem xét lại quyển sách bất diệt của sự khôn ngoan và lời tiên tri. Chúng ta hãy tìm hiểu tại sao quyển sách đặc biệt này đã đứng vững trước mọi thử thách và là nguồn gốc vững vàng của đức tin và sức mạnh thiêng liêng cho con người.
    Kinh Thánh vượt xa một áng văn hay.
    Có người cho rằng Kinh Thánh chính là lịch sử của Y-sơ-ra-ên (Do-thái). Nhiều người khác công nhận Kinh Thánh nêu lên những nguyên tắc đạo đức chánh đáng chưa từng có. Những điều này tuy quan trọng nhưng chỉ có tính cách phụ thuộc đối với chủ đề thật của Kinh Thánh là công trình cứu chuộc của Thượng Đế thể hiện trong Chúa Cứu Thế Giê-xu. Tờ ‘Diễn Đàn Quốc tế ‘(International Herald Tribune) số ra ngày 30 tháng sáu 1983, giới thiệu nên đọc Kinh Thánh như đọc một tác phẩm văn chương, bởi vì “Bản Kinh Thánh Anh văn là một áng văn hay”. Những ai đọc Kinh Thánh như đọc một áng văn tuyệt tác, một tập thơ hay, hoặc một đoạn sử hấp dẫn mà bỏ qua chuyện cứu rỗi, tức là bỏ sót ý nghĩa và sứ điệp thật sự của Kinh Thánh.
    Thượng Đế khiến Kinh Thánh được viết ra chính là để bày tỏ kế hoạch cứu chuộc của Ngài dành cho con người. Thượng Đế cũng khiến Kinh Thánh được viết ra để làm sáng tỏ những luật pháp vĩnh cửu của Ngài, hầu cho các con cái Ngài nhận được sự khôn ngoan tối thượng của Ngài làm chỉ nam và tình yêu cao cả của Ngài làm nguồn an ủi trong lúc bước đi trên đường đời. Vì không có Kinh Thánh, thế giới này hẳn sẽ thành một nơi tối tăm kinh khiếp, không có bảng chỉ đường hay một ánh đèn soi lối.
    Ta có thể thấy ngay Kinh Thánh là sách duy nhất chứa đựng mặc khải của Thượng Đế. Có nhiều kinh của các tôn giáo khác nhau: kinh Koran của Hồi giáo, kinh Phật của Phật giáo, kinh Zendavosta của Bái hỏa giáo và kinh Vệ-đà của Bà-la-môn. Nhờ bản dịch đáng tin cậy chúng ta có thể đọc và phân định giá trị của những kinh sách này, và biết ngay tất cả những kinh sách đó đều được khai triển theo chiều hướng sai lầm. Tất cả đều mở đầu với vài tia sáng chân thật rồi kết thúc trong tối tăm mờ mịt. Thoạt nhìn ai ai cũng thấy Kinh Thánh có sự khác biệt hoàn toàn. Đó là cuốn sách duy nhất cống hiến sự cứu chuộc cho con người và chỉ lối cho họ thoát khỏi những hoàn cảnh khó khăn.
    Phải mất một ngàn sáu trăm năm mới hoàn tất việc biên soạn Kinh Thánh. Đó là công trình của hơn ba mươi người được Thượng Đế chọn để chép Lời Ngài. Đa số những người này sống trong nhiều thế hệ khác nhau và họ không ghi lại những điều họ nghĩ hay kỳ vọng. Họ đã hành động như một phương tiện của Thượng Đế, để viết theo điều Ngài phán dạy. Bởi sự soi dẫn thiên thượng, họ nhận thức được những chân lý cao cả không dời đổi và ghi lại cho những người khác cũng có thể biết và hiểu như họ.
    Trong khoảng một ngàn sáu trăm năm đó, nhiều nhân vật thuộc các thời đại khác nhau, nói những ngôn ngữ khác nhau và sống trong những quốc gia khác nhau đã chép nên sáu mươi sáu sách trong Kinh Thánh về các vấn đề khác nhau, nhưng nội dung chỉ có một sứ điệp. Thượng Đế đã phán với từng người bằng chính ngôn ngữ của họ, ngay trong thời đại của họ, nhưng trong mọi trường hợp sứ điệp của Ngài vẫn giống nhau. Khi những nhà học giả uyên thâm sưu tập những bản thảo xưa bằng tiếng Do-thái, Ai Cập và Hy-lạp rồi dịch ra bằng ngôn ngữ hiện đại, họ thấy những lời hứa của Thượng Đế vẫn không thay đổi. Sứ điệp cao cả của Ngài gởi cho con người vẫn bất biến. Ngày nay, khi đọc những giòng chữ vượt thời gian này, chúng ta thấy rằng những quy luật xử thế mới mẻ và đầy ý nghĩa cho thế hệ này, cũng giống như cho thế hệ của Chúa Giê-xu. John Prokin nói: “Kinh Thánh là quyển sách đáp ứng những nan đề của đời sống, của định mệnh cho những ai chịu suy nghĩ; là lời giải đáp của Thượng Đế cho lòng tìm kiếm chân thành”.
    Quyển sách bán chạy nhất thế giới.
    Vì vậy Kinh Thánh luôn luôn là sách bán chạy nhất thế giới. Không sách nào có thể sánh kịp sự khôn ngoan sâu sắc, vẻ đẹp thơ mộng và sự chính xác của sử liệu hay lời tiên tri trong Kinh Thánh. Những người bài bác Kinh Thánh cho rằng Kinh Thánh đầy dẫy ngụy tạo, giả tưởng và những lời hứa suông, chỉ tìm thấy khó khăn trong chính họ chứ không ở trong Kinh Thánh. Các công cuộc nghiên cứu uyên bác và công phu cho thấy sở dĩ có những mâu thuẫn bề ngoài là do dịch thuật không đúng chứ không do sự bất nhất thiên thượng. Cần sửa đổi chính con người chứ không phải Kinh Thánh. Có người đã nói: “Kinh Thánh không cần phải viết lại nhưng cần đọc lại”.
    Tuy nhiên nhiều gia đình và nhiều người được gọi là có học thường hay chế giễu Kinh Thánh và cho đó là một vật vô dụng chứ không phải là lời sống động của Thượng Đế. Khi được mục sư hỏi trong Kinh Thánh có gì, một bé gái đã hãnh diện trả lời là bé biết mọi điều ở trong đó và liệt kê: “Có hình bạn trai của chị, có phiếu mua dầu thơm của mẹ, có nhúm tóc của đứa em trai, có giấy mua đồng hồ của bố!” Nhiều gia đình dùng Kinh Thánh làm chỗ cất giấu thư cũ và hoa ép, và hoàn toàn quên lãng sự giúp đỡ và bảo đảm mà Thượng Đế muốn Kinh Thánh mang lại cho họ.
    Ngày nay thái độ này đã thay đổi và đang thay đổi nhanh chóng! Những sự giả tạo và tô điểm vô nghĩa của đời sống đang bị lột bỏ. Những lời hứa hão mà người ta đã lập với nhau bây giờ chỉ còn là những sai lầm sờ sờ trước mắt. Nếu chúng ta lo sợ nhìn quanh để tìm xem cái gì thật, đúng và vững bền thì một lần nữa chúng ta lại phải quay về với Kinh Thánh, quyển sách cổ xưa đã từng ban sự an ủi, khích lệ và sự cứu rỗi cho hàng triệu người trong những thế kỷ qua. Có lần nhà tôi bảo: “Nếu con cái chúng ta lớn lên trong một gia đình tin kính và hạnh phúc luôn vững tin Kinh Thánh là Lời của Thượng Đế chắc chắn không lực lượng hỏa ngục nào có thể lay chuyển chúng được”. Tôi tạ ơn Chúa vì lòng tin kính của bà đã ảnh hưởng trên cuộc đời các con chúng tôi.
    Thật vậy, người ta đang “tái khám phá” Kinh Thánh. Người ta đang đi tìm các bản Kinh Thánh cũ hoặc mua những quyển mới, và nhận thấy rằng những từ quen thuộc suýt bị mai một mang một ý nghĩa mới mẻ khiến họ có cảm tưởng Kinh Thánh chỉ mới viết ngày hôm qua. Điều này xảy ra là vì Kinh Thánh bao hàm tất cả những tri thức mà con người cần có để thỏa mãn sự khao khát của tâm hồn và giải quyết những vấn đề của mình. Đó là bản họa đồ xây cất của vị Kiến Trúc Sư Lỗi Lạc, và chỉ bằng cách theo đúng chỉ dẫn của họa đồ đó chúng ta mới có thể xây đắp được đời sống mà chúng ta đang tìm kiếm.
    Chân lý sẽ giải phóng chúng ta.
    Mỗi quốc gia đều có một bản hiến pháp. Bản hiến pháp này được quốc hội soạn thảo và phê chuẩn theo nguyện vọng nhân dân. Những người đã soạn thảo hiến pháp đều biết họ đã viết ra một tài liệu căn bản cho chính phủ dân chủ; họ nhận thức rằng con người chỉ có thể sống tự do và độc lập nếu mỗi người đều biết luật pháp. Người dân phải biết những quyền lợi, đặc ân và giới hạn của mình. Họ được bình đẳng trước tòa án, trước sự xét xử công minh của các vị thẩm phán là những người tôn trọng luật pháp trong mọi trường hợp.
    Người ta nhận thấy rằng nếu người dân biết luật pháp và sống theo luật pháp, họ có thể hiểu biết đúng vai trò của mình. Người dân có những quyền hạn và trách nhiệm hiến định. Nếu một người vi phạm hiến pháp, người khác sẽ bị ảnh hưởng. Nhiều cử tri đã nhận thấy rằng chỉ vì sử dụng lá phiếu không thận trọng, họ đã đưa những người họ không thích vào trong các cơ sở chính quyền cũng như cơ quan dân cử.
    Quốc gia chúng ta càng trưởng thành và thịnh vượng trong khuôn khổ của hiến pháp thể nào thì Cơ Đốc giáo cũng đã nẩy nở và bành trướng theo những luật định trong Kinh Thánh thể ấy. Nếu hiến pháp được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi người thể nào thì Kinh Thánh cũng là Hiến pháp tối cao cho toàn thể nhân loại thể ấy. Các luật lệ của Kinh Thánh được áp dụng bình đẳng cho tất cả những ai sống trong ảnh hưởng Kinh Thánh, không có ngoại lệ hoặc sự phân biệt nào.
    Hiến pháp là luật pháp tối cao của quốc gia thể nào thì Kinh Thánh là luật pháp tối cao của Thượng Đế thể ấy. Chính trong Kinh Thánh, Thượng Đế trình bày những luật lệ thiêng liêng của Ngài. Chính trong Kinh Thánh Thượng Đế đã lập những lời hứa vĩnh cửu. Chính trong Kinh Thánh Thượng Đế đã khải thị kế hoạch cứu chuộc nhân loại của Ngài.
    Trong tất cả những kỳ quan của thiên nhiên, chúng ta đều thấy định luật của Thượng Đế. Ai đã từng ngắm nhìn các vì sao trong một đêm thanh vắng mà không thầm kinh ngạc trước sự vinh quang trong công trình tuyệt diệu của Thượng Đế? Ai đã không cảm thấy tim mình rào rạt niềm vui khi thấy tất cả mọi tạo vật bừng lên sức sống và sinh lực mới trong mùa xuân? Chúng ta thấy rõ quyền năng của Thượng Đế và kế hoạch chi tiết vô tận của Ngài trong thiên nhiên, nhưng thiên nhiên không cho chúng ta biết gì về tình yêu thương và ân điển của Ngài. Chúng ta không tìm ra lời hứa cho sự cứu chuộc cá nhân chúng ta trong thiên nhiên.
    Trong thâm tâm, chúng ta cảm biết sự hiện diện của Thượng Đế và sự khác biệt giữa điều thiện và điều ác; nhưng đó chỉ là một sứ điệp gián đoạn, không rõ ràng và bao quát như những bài học trong Kinh Thánh. Chỉ trong Kinh Thánh chúng ta mới tìm được sứ điệp rõ ràng không nhầm lẫn mà Cơ Đốc giáo chân chính dùng làm căn bản.
    Tất cả những giáo lý Cơ Đốc (do chữ Chúa Cứu Thế, Christian, Christianity, có nghĩa là của Chúa Cứu Thế Giê-xu hay là thuộc về Cứu Chúa Giê-xu) đều được trình bày trong Kinh Thánh và người Cơ Đốc chân chính không phủ nhận phần nào cũng không cố thêm điều gì vào Lời Thượng Đế. Trong khi hiến pháp có thể bị tu chính, thì Kinh Thánh không cần sửa đổi bao giờ. Chúng tôi tin quyết rằng những nhà soạn thảo Kinh Thánh đã được Thánh Linh hướng dẫn cả trong tư tưởng lẫn ngôn từ. Một môn đồ của Chúa Giê-xu là Phê-rơ đã nói: “Vì không có lời tiên tri nào trong Thánh Kinh do các tiên tri tự nghĩ ra, nhưng chính Chúa Thánh Linh đã cảm ứng họ nói ra lời của Thượng Đế” (IIPhi 1:21).
    Sứ đồ Phao-lô (khi trước có tên là Sau-lơ, là một người sùng đạo Do-thái thường hay bắt bớ các Cơ Đốc nhân. Sau đó ông được Chúa kêu gọi và trở nên nhà truyền giáo danh tiếng nhất) cũng đã viết: “Cả Kinh Thánh đều được Thượng Đế cảm ứng, có ích cho việc dạy dỗ, khiển trách, sửa trị, đào luyện con người theo sự công chính. Nhờ đó, người của Thượng Đế được thành thục, có khả năng làm mọi việc lành” (IITi 3:1617).
    Khi viết ra những sứ điệp chân chính các trước giả Kinh Thánh không bao giờ cố ý thêm bớt các thực tại của cuộc đời. Tội lỗi của người lớn kẻ nhỏ được phô bày, những sự yếu đuối của bản tính con người được nhìn nhận và đời sống vào thời Kinh Thánh đã được tường trình một cách trung thực. Điều lạ lùng là những nét sinh hoạt và nguyên do hành động của những người đã sống trong thời quá xa xôi như vậy vẫn có một phong vị vô cùng mới mẻ! Khi chúng ta đọc, các trang Kinh Thánh giống như những tấm gương đặt trước tâm trí chúng ta, phản chiếu những sự kiêu hãnh và thành kiến, thất bại và tủi nhục, tội lỗi và đau khổ của chính chúng ta.
    Chân lý vượt thời gian. Từ thời đại này qua thời đại khác, từ dân tộc này đến dân tộc khác, từ địa phương này đến địa phương khác. Chân lý vẫn không biến đổi. Tư tưởng con người có thể khác nhau, tập quán con người có thể thay đổi, các tiêu chuẩn đạo đức có thể biến thiên, nhưng chân lý siêu việt lớn lao vẫn tồn tại vĩnh viễn với thời gian.
    Sứ điệp của Chúa Cứu Thế Giê-xu là Kinh Thánh, truyện tích về sự cứu rỗi. Những học giả Kinh Thánh uyên thâm đã tìm thấy truyện Chúa Cứu Thế Giê-xu ngay từ lúc khởi đầu Cựu Ước vì Ngài là chủ đề đích thực của Cựu Ước lẫn Tân Ước.
    Chúa Giê-xu là sứ điệp đời đời của Kinh Thánh, là câu chuyện về sự sống, sự bình an, sự vĩnh cửu và Thiên đàng. Kinh Thánh không có một mục đích ẩn giấu nào cả. Kinh Thánh không cần phải giải thích một cách đặc biệt. Kinh Thánh có một sứ điệp duy nhất, trong sáng và mạnh mẽ cho mọi người, sứ điệp của Chúa Cứu Thế đề nghị hòa thuận với Thượng Đế.
    Một ngày kia, Chúa Giê-xu và các môn đồ quây quần cùng nhau trên một ngọn núi gần Ca-bê-nam (một thành phố nhỏ phía Tây Bắc hồ Ga-li-lê) . Có lẽ Phê-rơ ngồi một bên và Giăng (một môn đồ của Chúa Giê-xu, là người đã viết sách Phúc Âm thứ tư, ba thơ tín và sách Khải-thị) ngồi bên kia. Chắc hẳn Chúa Giê-xu đã im lặng và trìu mến nhìn các môn đồ trung tín của Ngài, như một người cha nhìn con cái trong gia đình - yêu thương từng đứa con một, mỗi đứa vì một lý do đặc biệt, khiến ai nấy đều cảm thấy mình được biệt riêng trong sự âu yếm. Chắc chắn đó là cách Chúa Giê-xu yêu thương các môn đồ Ngài.
    Các môn đồ chắc đã vô cùng kính cẩn trước cái nhìn bình tĩnh và yêu thương của Chúa. Chắc họ đã ý thức được một sự êm đềm trong tâm tư, một linh cảm về vấn đề trọng đại sẽ được bày tỏ, vấn đề họ phải ghi nhớ, phải truyền rao cho những người khác trên khắp thế gian chưa được hưởng đặc ân trực tiếp nghe Lời Ngài phán như họ đã hưởng.
    Vì chính trên ngọn núi này, đứng dưới những cây ô-li-ve xanh, Chúa Giê-xu đã rao truyền một bài giảng vĩ đại nhất mà tai người chưa từng nghe, Ngài đã giải thích về tinh hoa của đời sống Cơ Đốc. Khi Ngài phán xong, một sự im lặng thiêng liêng đã giáng trên các thính giả, họ “ngạc nhiên về lời dạy của Chúa. Vì Ngài giảng dạy đầy uy quyền, khác hẳn các thầy dạy luật Do-thái” (Mat 7:2829).
    Thật vậy, Ngài đã dạy với quyền uy, quyền uy của chính Thượng Đế. Những luật lệ Ngài trình bày chính là luật lệ của Thượng Đế, những luật lệ mà mỗi Cơ Đốc nhân có lòng mong mỏi được cứu phải noi theo.
    Bạn và Kinh Thánh.
    Nếu bạn chưa có Kinh Thánh, hãy mua ngay một quyển - quyển nào thích hợp với bạn nhất, vừa cầm tay nhất, cỡ chữ dễ đọc nhất, và tự tìm lấy lý do tại sao quyển sách duy nhất ấy đã sống mãi với thời gian. Hãy tự tìm hiểu tại sao Kinh Thánh lại đáp ứng mọi nhu cầu của con người, tại sao Kinh Thánh lại giúp cho nhân loại đức tin và sức mạnh để tiến bộ.
    Nếu bạn chưa hề đọc Kinh Thánh, có lẽ bạn nên làm quen với Kinh Thánh bằng cách đọc sách Phúc Âm Giăng. Sách này được coi là một trong những sách uyên thâm nhất của Kinh Thánh mà cũng là sách rõ ràng nhất. Sách được viết ra với mục đích khẳng định là bày tỏ phương cách và lý do của sự cứu rỗi nhân loại, hầu thỏa mãn những vấn đề của lý trí cũng như những sự ao ước của con tim.
    Sau khi đọc xong sách Giăng, bạn có thể làm quen với Phúc Âm do Mác, (tác giả sách Phúc Âm thứ hai trong Kinh Thánh) Lưu-ca (Bác sĩ, đã từng đi truyền giáo với Phao-lô, là tác giả sách Phúc Âm thứ ba trong Kinh Thánh) và Mã-thi (trước là người thâu thuế, sau là môn đồ Chúa Giê-xu, là tác giả sách Phúc Âm thứ nhất trong Kinh Thánh) xem các tác giả có các đức tính và lối hành văn rất khác nhau này đã trình bày cùng một câu chuyện về sự cứu chuộc qua Chúa Giê-xu như thế nào. Bạn sẽ ý thức được chân lý đầy quyền lực và phổ cập nằm trong giáo lý Phúc Âm và sẽ cảm xúc được điều mà Phao-lô muốn bày tỏ khi ông nói: “Hôm qua, ngày nay và cho đến muôn đời, Chúa Cứu Thế Giê-xu không bao giờ thay đổi” (He13:8).’
    Khi đã đọc xong các sách Phúc Âm, bạn hãy đọc Tân Ước một mạch từ đầu chí cuối theo thứ tự các sách. Thực hiện được điều đó, bạn sẽ cảm thấy một sự vui thích lạ lùng trong việc đọc Kinh Thánh và có thể nhận rằng Kinh Thánh là một nguồn cảm xúc, là sự chỉ bảo, dẫn dắt thực tiễn, là kho tàng quý báu các lời khuyến cáo hợp lý, và việc đọc Kinh Thánh sẽ trở thành một phần trong đời sống hằng ngày của bạn.
    Hiểu biết Kinh Thánh là điều thiết yếu để đạt được một đời sống dồi dào và ý nghĩa. Vì lời lẽ của sách này có thể lấp bằng những khiếm khuyết, nối lại những sự gián đoạn, làm cho những màu sắc nhạt phai của đời sống chúng ta trở thành sáng chói như ngọc ngà châu báu. Hãy tập thói quen giải quyết mọi vấn đề của bạn theo Kinh Thánh. Trong những trang Kinh Thánh bạn sẽ tìm thấy lời giải đáp chính xác.
    Nhưng trên hết, Kinh Thánh là sự bày tỏ về phẩm tính của Thượng Đế. Các triết gia của mọi thời đại đã thắc mắc về vấn đề Đấng Tối Cao. Đấng đó là ai? Đấng đó là gì? Ngài ở đâu? Nếu có, làm thể nào tôi biết được Đấng ấy? Những câu hỏi này và hàng ngàn câu hỏi khác nữa về Thượng Đế đã được bày tỏ trong quyển sách thiêng liêng mà chúng ta gọi là Kinh Thánh.
    Có lần một Cơ Đốc nhân hỏi: “Ông có biết một quyển sách nào để ông có thể gối đầu khi hấp hối không?” Joseph Cook đáp: “Có chứ, đó là quyển Kinh Thánh mà ông cần đọc khi còn sống. Trên đời này, chỉ có duy nhất một Quyển Sách như thế mà thôi”.

    THƯỢNG ĐẾ
    Nếu dò xét, có thể tìm thấy Thượng Đế không?
    Giop 11:7
    THƯỢNG ĐẾ là ai? Ngài như thế nào? Làm thế nào chúng ta biết chắc có Thượng Đế? Ngài có từ bao giờ? Chúng ta có thể biết được Ngài không?
    Ai ai cũng hỏi những câu trên đây - hỏi người khác, hoặc tự hỏi mình, vì khi chiêm ngưỡng thế giới quanh ta, chúng ta không thể không ngạc nhiên về sự sáng tạo. Hằng ngày chúng ta trông thấy phép lạ của sự sống và huyền nhiệm của sự chết, vẻ đẹp của cây cối trổ hoa và sự huy hoàng của khung trời đầy ánh sao, nét hùng vĩ của núi non và sự mênh mông của biển cả. Ai đã dựng nên những điều ấy? Ai đã nghĩ ra định luật về trọng lực để ràng buộc mọi vật vào vị trí thích đáng của chúng? Ai đã truyền lịnh cho ngày và đêm vận chuyển đều đặn theo thời tiết?
    Chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất là tất cả những việc này và những việc khác là công trình của Đấng Tạo Hóa Chí Cao. Phải có một người vẽ kiểu đồng hồ như thế nào thì cũng phải có một Đấng Tối Cao phác họa vũ trụ chính xác thể ấy. Chúng ta gọi Đấng đó là Thượng Đế. Toàn thể nhân loại đã quen thuộc với danh hiệu này. Từ lúc thơ ấu, chúng ta đã gọi tên Thượng Đế. Kinh Thánh tuyên bố rằng Thượng Đế mà chúng ta nói đến, Thượng Đế mà chúng ta ca ngợi, Thượng Đế nguồn ban ân phước, chính là Thượng Đế tạo dựng nên thế giới này và đặt chúng ta vào đó.
    Một người vốn rất khôn ngoan là Benjamin Franklin đã nói: “Tôi sống đã khá lâu, càng sống lâu, tôi càng thấy thêm nhiều bằng chứng mạnh mẽ rằng Thượng Đế điều khiển các công việc của loài người”. Blaise Pascal, một người khôn ngoan viết: “Nếu con người không được tạo ra vì Thượng Đế, thì tại sao chỉ khi được ở trong Thượng Đế con người mới tìm thấy hạnh phúc? Nếu con người đã được tạo ra vì Thượng Đế, tại sao con người chống lại Thượng Đế?” Đây là nan đề của chúng ta.
    Nhưng bạn hỏi “Ngài là ai? Ngài ở đâu?” Tất cả chúng ta đều biết danh Ngài. Chúng ta kêu cầu Ngài trong những giờ khó khăn, thử thách nghiêm trọng nhất. Lắm người trong chúng ta luôn luôn suy tư đến Ngài trong những giờ phút chúng ta thức tỉnh. Kẻ khác nói rằng họ không tin Ngài và Ngài không thực hữu. Có kẻ lại nói rằng “Hãy giải thích cho tôi biết Thượng Đế, may ra tôi sẽ tiếp nhận Ngài”.
    Đối với những ai đã quan tâm đến ý nghĩa của lịch sử thế giới mà còn thắc mắc: “Thượng Đế như thế nào?” thì câu trả lời rất giản dị là: Thượng Đế chính là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Chúa Giê-xu đã đến cho nhân loại được thấy Thượng Đế và trở thành Đấng Cứu Chuộc chúng ta thế nào, thì cũng vậy, khi Ngài đã trở về trời rồi, Ngài cũng sai Đức Thánh Linh đến ngự trong lòng kẻ tin Ngài, giúp họ sống sao cho thế gian vô tín cũng được nhìn thấy Chúa Cứu Thế.
    Nếu đó là điều bạn cảm thấy, nếu trọn đời bạn đã nghe về Ngài và nói đến Ngài nhưng vẫn còn chờ đợi người nào giải thích về Ngài cho mình rõ, rồi bạn mới có thể đặt lòng tin nơi Ngài và chỉ một mình Ngài mà thôi, thì chúng ta hãy tìm xem Kinh Thánh đã trình bày cụ thể về Ngài như thế nào.
    Thượng Đế như thế nào?
    Trong giai đoạn quyết định này của lịch sử thế giới, mọi người đều phải tìm cách giải đáp câu hỏi này: “Thượng Đế là ai?” Ai ai cũng nêu câu hỏi ấy và tìm cách xác định câu trả lời. Mọi người phải biết chắc, không chút nghi ngờ rằng Thượng Đế là ai. Và Ngài có khả năng thực hiện những gì? Kinh Thánh chép: “Vì sự thật về Thượng Đế đã được giãi bày cho họ, chính Thượng Đế đã tỏ cho họ biết” (Ro 1:19).
    Căn nguyên của mọi vấn đề làm chúng ta lo âu chính là vì thiếu hiểu biết về Thượng Đế và không chịu vâng lời Ngài. Chính vì con người không biết rõ kế hoạch của Thượng Đế nên thế giới bị xáo trộn. Chính vì con người không bằng lòng học biết và vâng giữ luật pháp của Thượng Đế mà linh hồn chúng ta đầy gánh nặng. Vì vậy chúng ta hãy học hỏi về Ngài càng nhiều càng tốt.
    Chúng ta sẽ tìm đâu được sự hiểu biết này? Trong chúng ta ai có thể tỏ cho biết chân lý? Tất cả chúng ta chẳng phải là những tạo vật hữu hạn sao? Thượng Đế liệu có chỉ định người nào trên đất này với thẩm quyền tối hậu để nói về Ngài không? Không có ai cả! Người duy nhất có thể làm điều đó, đã sống cách đây hai ngàn năm, và đã bị chúng ta đóng đinh trên cây thập tự! Vậy làm thế nào chúng ta học hỏi được?
    Chúng ta hỏi những học giả uyên bác, họ có thể cho chúng ta biết Thượng Đế là hiện thân của mọi vật trong cõi thiên nhiên và đời sống; tất cả mọi sinh vật đồng nhất với Thượng Đế; chính sự sống là biểu tượng của hữu thể thiên thượng của Ngài. Họ sẽ nói bạn có thể nhìn thấy Thượng Đế trong giọt nước vô cùng li ti cũng như trong khung trời bao la rộng lớn.
    Hỏi một triết gia thì ông ta sẽ bảo Thượng Đế là năng lực nguyên thủy và bất di dịch đằng sau mọi tạo vật; Ngài là động cơ chính yếu làm cho thế giới chuyển vận; Ngài là quyền năng vô thủy vô chung. Ông ta sẽ nói sự sống và vẻ đẹp chúng ta thấy là biểu tượng của quyền năng lưu ra từ động cơ đó theo một mạch kín.
    Nếu hỏi nữa, bạn sẽ được biết Thượng Đế là Đấng Tuyệt Đối, là mọi sự trong mọi sự, và không ai có thể hiểu biết nhiều hơn về Ngài. Có nhiều định nghĩa khác nhau về Thượng Đế. Tiến sĩ Akbar Haqq bảo rằng thoạt tiên trong ý niệm về Thượng Đế tất cả mọi người đều theo độc thần chủ nghĩa. Mỗi quốc gia, mỗi chủng tộc, mỗi gia đình, mỗi cá nhân đều cố giải thích Đấng Cao Cả ở đằng sau vũ trụ. Trải mọi thời đại nhân loại đã cố gắng tìm kiếm Đấng Tạo Hóa mà họ không biết, chỉ thấy công trình của Ngài. Trong những lời giải thích trên đây, lời giải thích nào là đúng? Chúng ta phải chấp nhận lý thuyết nào trong những lý thuyết vừa kể? Trong số những vị tự nhận là có thẩm quyền này, chúng ta phải tin theo vị nào?
    Như chúng ta đã thấy trong chương trước, Thượng Đế đã tự bày tỏ về chính mình Ngài trong quyển sách chúng ta gọi là Kinh Thánh. Nếu chúng ta tin Kinh Thánh có sự mặc khải về Thượng Đế, thì tâm trí chúng ta có thể được thỏa mãn hoàn toàn và tâm hồn chúng ta đã tìm được lời giải đáp chính xác, chúng ta đang trên đường hiểu biết và nhận thức bản chất chân thật của Thượng Đế.
    Trong Kinh Thánh, Thượng Đế tự bày tỏ về chính mình Ngài hằng trăm cách; nếu chúng ta đọc Kinh Thánh chăm chú và đều đặn như đọc nhật báo, chúng ta sẽ quen biết và thành thạo về Thượng Đế như chúng ta biết rành rẽ về các nhân vật trong giới kịch trường.
    Một hạt kim cương có nhiều mặt như thế nào thì Thượng Đế cũng có vô vàn phương diện để tự khải thị chính Ngài cho chúng ta thể ấy; dù viết bao nhiêu pho sách vẫn chưa đủ. Vì vậy, với số trang có hạn, chúng ta chỉ có thể đề cập đến bốn phương diện khải thị của Thượng Đế được xem là có ý nghĩa hơn hết, chúng ta đáng phải luôn luôn khắc ghi vào tâm trí.
    Thượng Đế là Thần Linh.
    Thứ nhất: Kinh Thánh tuyên bố rằng Thượng Đế là Thần Linh. Chúa Giê-xu, khi trò chuyện với người đàn bà bên giếng thành Si-kha (một thành phố Sa-ma-ri, ở giữa nước Do-thái) đã tuyên bố tỏ tường rằng: “Thượng Đế là Thần Linh” (Gi 4:24).
    Bạn nghĩ gì khi nghe đến tiếng Thần? Hình ảnh nào hiện ra trong trí bạn? Có phải bạn có cảm tưởng đó là một đám hơi tỏa bềnh bồng lơ lửng ngang bầu trời? Thần có phải là nhân vật làm cho trẻ con sợ hãi không? Hay Thần là một cái gì không có, vô hình dạng? Phải chăng đó là điều Chúa Giê-xu muốn nói khi Ngài phán: “Thượng Đế là Thần Linh?”
    Muốn biết “thần linh” thực sự là gì và Chúa Giê-xu định bày tỏ điều gì khi Ngài dùng chữ đặc biệt đó, chúng ta lại phải mở Kinh Thánh xem Lời Chúa Cứu Thế phán sau khi sống lại: “Hãy rờ đến ta và xem, vì thần linh đâu có thịt xương như ta” (Lu 24:39). Do đó chúng ta có thể biết chắc rằng thần không có thân thể. Thần là phản diện của thân thể. Tuy nhiên, thần có thân vị và quyền năng. Điều này khó hiểu đối với chúng ta, vì chúng ta muốn tìm hiểu thần bằng trí óc hữu hạn, trói buộc trong thân thể.
    Là con người bị tước bỏ cái nhìn vô hạn mà khởi thủy Thượng Đế đã ban cho nhân loại, chúng ta không thể hiểu được sự vinh hiển và vĩ đại của Thần Linh vốn cách xa chúng ta. Khi nghe tiếng “thần” lập tức chúng ta cố thu hẹp “thần” theo tầm vóc của chúng ta, và làm cho “thần” thích hợp với phạm vi nhỏ bé của tâm trí mình. Điều này giống như việc giải thích đại dương mênh mông hùng vĩ, đáng sợ, cho một người chưa bao giờ thấy nguồn nước nào lớn hơn một vũng bùn! Làm thế nào người đó có thể quan niệm được biển cả không bến bờ? Chỉ thấy cái ao nông cạn sình lầy như thế, làm sao người đó có thể dò thấu những vực sâu không đáy, sự sống huyền bí, năng lực đột khởi, sự lôi cuốn không ngừng và sự dữ dội kinh hoàng của bão tố đại dương hoặc vẻ đẹp tuyệt vời của biển cả yên lặng? Chỉ thấy vũng bùn thì làm sao người đó biết được những điều bạn đang nói đến? Bạn sẽ dùng lời lẽ thuyết phục nào để mô tả hùng lực của biển cả? Làm sao bạn có thể khiến người ấy tin rằng thật có một kỳ quan như vậy?
    So với ví dụ trên, để hiểu điều Chúa Giê-xu bày tỏ khi Ngài phán: “Thượng Đế là Thần Linh” quả là điều vô cùng khó khăn đối với chúng ta. Chúa Giê-xu biết rõ điều đó! Trí óc Ngài không bị giới hạn như trí óc chúng ta. Mắt Ngài không chăm chú vào vũng bùn của đời sống. Ngài biết rõ phạm vi vô hạn của Thần, và Ngài ngự đến để giúp chúng ta hiểu biết phần nào về công việc kỳ diệu, sự an ủi và sự bình an của Thần.
    Chúng ta biết rằng thần linh không bị giới hạn trong thân thể. Thần Linh không bị hao mòn hoặc biến đổi như thân thể. Kinh Thánh tuyên bố rõ rằng Thượng Đế chính là Thần Linh, Ngài không bị giới hạn bởi thân thể, hình dạng, địa giới. Mắt trần chỉ chăm xem vật chất, tuyệt đối không thể đo lường hay không thể nhận Ngài. Kinh Thánh cho chúng ta biết Thượng Đế không bị giới hạn nên Ngài có thể đồng thời ở khắp mọi nơi, nghe mọi lời, thấy mọi vật và biết mọi điều.
    Vì chúng ta không thể có quyền năng đó, nên chúng ta tìm cách giới hạn Thượng Đế như chính chúng ta bị giới hạn. Chúng ta cố phủ nhận rằng Thượng Đế không có quyền năng thực hiện những điều chúng ta không thể làm được. Chúng ta tìm cách nói rằng vì chúng ta không thể ở khắp mọi nơi cùng một lúc nên Thượng Đế cũng thế! Chúng ta giống như người kia sau khi nghe nói về biển, bèn tìm đến bờ biển, lội xuống nước, lấy tay vốc nước và nói: “A, tôi đã chinh phục được biển cả rồi! Tôi đã nắm lấy được đại dương trong tay, và làm chủ đại dương!”. Đúng là người này đã sở hữu một phần của đại dương, nhưng cùng một lúc, biết bao nhiêu người trên bờ biển khác cũng đã lội xuống nước và cho rằng họ cũng làm chủ vài giọt nước biển vậy. Hàng triệu người trên thế gian có thể đi xuống biển, dùng tay hứng lấy nước biển. Họ có thể hứng bao nhiêu nước tùy thích, tùy nhu cầu, nhưng biển vẫn không thay đổi. Cảnh hùng vĩ và sức mạnh của biển vẫn thế, sự sống dưới đáy biển không sao dò được, chẳng biến cải chút nào, mặc dầu biển cả đã thỏa mãn nhu cầu của mọi người tiếp xúc với nó.
    Thượng Đế cũng vậy. Ngài ở mọi nơi cùng một lúc, chú ý đến những lời cầu nguyện của mọi người nhơn danh Chúa Cứu Thế, thực hiện những điều kỳ diệu, ràng buộc các vì sao vào vị trí của chúng, khiến cây mọc vươn lên qua lòng đất và cá lội giữa biển khơi. Thượng Đế không bị giới hạn. Sự thông sáng Ngài vô tận. Sức mạnh Ngài vô biên. Lòng yêu thương Ngài không bờ bến. Sự khoan thứ Ngài vô hạn định.
    Nếu bạn đang tìm cách giới hạn Thượng Đế, xin hãy dừng lại! Đừng thử hạn chế chính Ngài hoặc những công trình của Ngài vào một địa điểm hay một không gian duy nhất. Bạn sẽ không bao giờ đủ can đảm thay đổi sự vận hành của mặt trăng, chặn đứng không cho quả đất xoay quanh trục của nó. Như vậy, tìm cách giới hạn Thượng Đế là Đấng Sáng Tạo và Kiểm Soát tất cả những kỳ quan đó, quả là điên rồ cùng cực biết bao!
    Tôi nhớ ơn mẹ tôi đời đời vì nhiều điều, song có một ân phước bền vững hơn hết mà mẹ tôi đã truyền vào đời sống tôi, ấy là lúc lên mười mẹ dạy rằng “Thượng Đế là Thần Linh, vô thủy, vô chung, đời đời và không thay đổi”. Định nghĩa này về Thượng Đế đã gắn liền với tôi trong suốt cuộc sống và nếu người nào nhận thức được rằng “Thượng Đế là Thần Linh, vô thủy, vô chung, đời đời, bất biến” người ấy sẽ thắng được sự cám dỗ muốn hạn chế Ngài, thắng được mọi ý tưởng hoài nghi về khả năng của Ngài làm những việc mà chính bạn không thể làm được.
    Sở dĩ người ta nghi ngờ Kinh Thánh không phải chính là lời của Thượng Đế vì không chịu thừa nhận Ngài làm được bất cứ việc gì mà họ chẳng làm được. Nếu bạn chưa tin chắc Kinh Thánh do Thượng Đế soi dẫn, hãy trở về đọc Kinh Thánh. Hãy đọc Kinh Thánh giống như một người suốt đời chỉ thấy vũng bùn và bây giờ lần đầu tiên đứng đối diện với đại dương. Có lẽ bây giờ bạn mới cảm biết lần đầu tiên về quyền năng vô hạn của Thượng Đế. Có lẽ bây giờ bạn mới hiểu Ngài thật là Đấng nào. Vì nếu Thượng Đế là Thần Linh như Chúa Giê-xu đã tuyên bố thì các vấn đề thiên hựu, quyền cao cả của Thượng Đế trong công việc loài người, và sự soi dẫn những người chép Kinh Thánh không còn là những thắc mắc nữa. Một khi bạn hiểu được Thượng Đế thực sự là ai, thì mọi việc được an bài.
    Thượng Đế là một Thân vị.
    Thứ hai: Kinh Thánh bày tỏ rằng Thượng Đế là một Thân vị. Trong suốt Kinh Thánh có những câu: “Thượng Đế yêu thương”, “Thượng Đế phán”, “Thượng Đế hành động”. Thượng Đế có mọi đặc tính mà chúng ta cho rằng một thân vị phải có. Thân vị phải có cảm giác, suy nghĩ, ước ao, mong muốn và có thể bày tỏ cá tính của mình.
    Trên thế gian này, chúng ta giới hạn cá tính vào thân thể. Trí óc hữu hạn của chúng ta không thể nhìn thấy được cá tính nào không biểu lộ qua thịt và xương. Chúng ta biết rằng cá tính của mình sẽ không luôn luôn mặc lấy thân thể, vì lúc chết, cá tính mình sẽ rời bỏ thân thể để tiến về những mục đích đang đợi chờ. Chúng ta biết tất cả những điều đó - tuy rất khó cho chúng ta chấp nhận như vậy.
    Giá như chúng ta đều nhận biết rằng cá tính không sao đồng nhất với vật thể, thì đó quả là một mặc khải kỳ diệu! Thượng Đế không bị hạn chế bởi một thân thể, tuy nhiên Ngài vẫn là một thân vị. Ngài cảm giác, suy nghĩ, yêu thương, tha thứ và chia xẻ những vấn đề rắc rối và nỗi lo buồn chúng ta gặp phải.
    Thượng Đế Thánh Khiết và Công Chính.
    Thứ ba: Kinh Thánh tuyên bố rằng Thượng Đế không những chỉ là Thần, là Thân vị, mà còn là Đấng Thánh Khiết và Công Nghĩa. Thượng Đế đã bày tỏ rằng Ngài là Thượng Đế Chí Thánh. Ngài hoàn toàn trọn lành và tuyệt đối về mọi phương diện. Ngài thánh khiết không thể dung chịu cuộc sống tội lỗi. Ngài là Thượng Đế Chí Thánh và Trọn Lành.
    Giá như chúng ta có thể thấy hình ảnh chân thật về sự công nghĩa và oai nghiêm của Ngài thì cuộc sống cá nhân và quốc gia của chúng ta sẽ thay đổi biết bao! Giá như chúng ta có dịp nhận biết vực sâu bao la chia cách người không công nghĩa với sự công nghĩa hoàn hảo của Thượng Đế, thì thế giới sẽ biến cải trong đầu hôm sớm mai! Kinh Thánh tuyên bố rằng Ngài là Sự Sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm, và Ngài là Đấng Tối Cao không khuyết điểm, không tì vết.
    Đây cũng là một ý niệm mà loài người bất toàn không thể hiểu được. Vì đầy dẫy tội lỗi và yếu hèn, chúng ta khó có thể tưởng tượng nổi sự thánh khiết tuyệt vời của Thượng Đế - nhưng nếu muốn hiểu biết Kinh Thánh và được lợi ích nhờ Kinh Thánh thì chúng ta phải nhìn nhận sự thánh khiết của Ngài.
    Từ đầu chí cuối Kinh Thánh nhấn mạnh đến vực sâu chia cách con người bất toàn với Thượng Đế Trọn Lành. Chúng ta thấy điều đó trong việc phân chia nơi đền tạm và đền thờ của dân Do-thái thành nơi thánh và nơi chí thánh. Điều đó cũng được bày tỏ trong của tế lễ mà tội nhân phải cung hiến nếu muốn đến gần Thượng Đế. Ý niệm này được nhấn mạnh trong việc thiết lập một chức tế lễ đặc biệt để làm trung gian giữa Thượng Đế và dân Do-thái, trong các luật lệ của sách Lê-Vi Ký liên quan đến sự ô uế. Chúng ta thấy điều này trong các lễ hội của dân Do-thái và trong sự cô lập của họ ở xứ này. Sự thánh khiết của Thượng Đế chi phối mọi nguyên tắc khác của Ngài.
    Kinh Thánh tuyên bố rằng vương quyền của Thượng Đế được thiết lập trên căn bản thánh khiết của Ngài. Vì Thượng Đế là Đấng chí thánh và con người là kẻ ô uế nên có một khoảng cách rộng lớn giữa Thượng Đế và tội nhân không chịu ăn năn. Kinh Thánh cho chúng ta biết những sự bất kính của chúng ta ngăn cách chúng ta với Thượng Đế - ngăn cách hoàn toàn, đến nỗi chúng ta không thấy mặt Ngài và Ngài sẽ không nghe tiếng chúng ta kêu cầu Ngài. Tác giả Thi-Thiên nói: “Nếu lòng tôi có chú về tội ác, ắt Chúa chẳng nghe tôi” (Thi 66:18). Tác giả lại nói: “Mắt Thượng Đế đoái xem người công bình, lỗ tai Ngài nghe tiếng kêu cầu của họ... Thượng Đế... làm thỏa nguyện mọi người kính sợ Ngài, cũng nghe tiếng kêu cầu của họ và giải cứu cho” (34:15145:1819).
    Thượng Đế quá tinh khiết nên không thể nhìn xem tội ác mà khen chuộng được. Ngài quá thánh thiện nên không thể giao thiệp với tội lỗi. Trước khi tội lỗi xen vào trong nhân loại, Thượng Đế và con người có sự thông công với nhau. Giờ đây sự thông công ấy đã bị gián đoạn; và ngoài Chúa Cứu Thế Giê-xu ra không còn một sự giao thông nào giữa Thượng Đế và con người. Chỉ bởi Chúa Cứu Thế Giê-xu, con người mới có thể tái lập sự thông công với Thượng Đế. Người ta nói mọi con đường đều dẫn đến Thượng Đế. Nhưng Chúa Giê-xu nói: “Ta là Con đường, Chân lý và Nguồn sống. Nếu không nhờ ta, không ai được đến với Cha” (Gi 14:6). Ngài cũng phán: “Ta là cái cửa, ai vào cửa này sẽ được cứu rỗi, tự do đi lại và tìm gặp đồng cỏ xanh tươi” (10:9).
    Con người vốn là một tội nhân, không thể thay đổi địa vị của mình, không thể dùng miệng lưỡi tội lỗi mà kêu nài đến tai thánh khiết của Thượng Đế. Nếu Thượng Đế không vì lòng thương xót vô hạn mà sai Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu xuống thế gian, để bắc cây cầu qua vực sâu này thì con người chắc phải bị hư mất đời đời.
    Sự thánh khiết của Thượng Đế cho chúng ta thấy lý do khiến Chúa Cứu Thế phải chịu chết. Sự thánh khiết đòi hỏi tội lỗi phải bị trừng trị đúng mức; nhưng vì lòng yêu thương, Ngài đã sắm sẵn Chúa Cứu Thế Giê-xu để trả giá cho tội lỗi và ban sự cứu rỗi cho con người. Vì Thượng Đế chúng ta thờ phượng là Thượng Đế thánh khiết, trong sạch, công bình, nên Ngài đã sai Con Một của Ngài đến để giúp chúng ta có thể đến gần Ngài. Nhưng nếu chúng ta không quan tâm đến ơn cứu giúp của Thượng Đế đã ban cho, nếu không chịu vâng theo luật pháp Ngài đã ban hành, thì chúng ta không thể cầu xin Ngài thương xót khi án phạt xứng đáng giáng trên mình.
    Thượng Đế là tình yêu.
    Thứ tư: Thượng Đế là tình yêu. Cũng như các đặc tính khác của Thượng Đế, nhiều người không đọc Kinh Thánh không thể hiểu được ý nghĩa câu: “Thượng Đế chính là tình yêu” (IGi4:8).
    Chính chúng ta đã không thật biết mình muốn nói gì khi dùng hai chữ tình yêu. Trong ngôn ngữ của chúng ta, danh từ này đã bị lạm dụng nhiều hơn cả. Chúng ta dùng danh từ tình yêu để diễn tả những mối liên hệ hèn mạt cũng như cao quý hơn hết của con người. Chúng ta nói mình “yêu” nghệ thuật, “yêu” văn chương, “yêu” du lịch, “yêu” sô-cô-la, “yêu” chiếc xe mới, thậm chí chúng ta nói rằng chúng ta “yêu thương” kẻ lân cận. Nhưng phần nhiều chúng ta chỉ nói mà không làm. Thảo nào chúng ta không có một ý niệm chính xác về điều Kinh Thánh muốn nói khi chép: “Thượng Đế là tình yêu”.
    Chúng ta đừng lầm lạc suy nghĩ rằng vì Thượng Đế là tình yêu nên mọi việc sẽ diễn ra êm đềm, đẹp đẽ, hạnh phúc và sẽ không bị trừng phạt về tội lỗi mình. Sự thánh khiết của Thượng Đế đòi hỏi mọi tội lỗi phải bị trừng phạt, nhưng tình yêu của Ngài sắm sẵn kế hoạch và phương pháp để cứu chuộc con người tội lỗi. Tình yêu của Thượng Đế đã chuẩn bị thập tự giá để nhờ đó con người được tha tội và thanh sạch. Chính tình yêu của Thượng Đế đã đưa Chúa Giê-xu đến thập tự giá!
    Chớ bao giờ nghi ngờ tình yêu vĩ đại của Thượng Đế, vì yêu là một phần bất diệt của Ngài, cũng như sự thánh khiết của Ngài vậy. Dù tội lỗi của bạn có đen tối đến thế nào chăng nữa, Thượng Đế vẫn yêu bạn. Nếu không bởi tình yêu của Thượng Đế, chẳng một người nào trong chúng ta có cơ hội được hưởng phước cứu rỗi trong đời sau. Nhưng Thượng Đế là tình yêu, và Ngài yêu chúng ta mãi mãi. “Nhưng Thượng Đế đã chứng tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thay chúng ta là người tội lỗi” (Ro 5:8).
    Ngôn ngữ của loài người có thể bày tỏ đến mức nào thì các lời hứa về sự yêu thương và tha thứ của Thượng Đế cũng thiết thực, chắc chắn và tích cực chừng ấy. Nhưng điều đó chẳng khác nào diễn tả đại dương, vì nếu thật sự chưa thấy đại dương, thì không thể hiểu được vẻ đẹp toàn vẹn của đại dương được. Tình yêu thương của Thượng Đế cũng vậy. Nếu bạn chưa thật sự tiếp nhận và nếm trải tình yêu thương ấy, nếu bạn chưa thật sự được hòa hợp với Thượng Đế, không ai có thể diễn tả cho bạn rõ những điều kỳ diệu của tình yêu thương ấy.
    Đây không phải là điều bạn có thể thực hiện bằng tâm trí. Trí não giới hạn của bạn không thể hiểu thấu những gì vĩ đại như tình yêu của Thượng Đế. Trí não bạn khó có thể giải thích được tại sao một con bò cái đen có thể ăn cỏ xanh và cho sữa trắng - nhưng bạn lại uống sữa và được bổ dưỡng cách dễ dàng. Trí não bạn không thể lý luận suốt cả những tiến trình tinh tế của một hạt giống nhỏ và dẹp khi đem gieo xuống đất, trở thành một đám dây sinh ra những trái dưa hấu đỏ và ngọt, nhưng bạn lại ăn và thưởng thức hương vị của chúng một cách dễ dàng! Trí não bạn không thể giải thích điện lực tạo ra ánh sáng cho bạn đọc sách ngay lúc này đây, nhưng bạn biết rằng có điện và điện đã giúp bạn đọc sách!
    Bạn phải tiếp nhận Thượng Đế bằng đức tin - đức tin trong Con Ngài là Chúa Cứu Thế Giê-xu. Khi điều này xảy ra, bạn không còn nghi ngờ gì nữa. Bạn khỏi cần tự vấn rằng Thượng Đế có ở trong lòng mình hay không, vì chính bạn biết được điều đó.
    Khi người ta hỏi tôi làm sao biết chắc Thượng Đế thật sự là ai, tôi liên tưởng đến một cậu bé thả diều. Hôm đó trời rất đẹp, rất tiện thả diều, gió hiu hiu và trên trời những cụm mây lớn trôi nhanh. Diều lên cao, cao mãi cho đến khi bị mây che.
    Một người hỏi cậu bé: “Em đang làm gì đó?”
    Em trả lời: “Dạ, đang thả diều”.
    Người kia nói: “Em thả diều thật à? Làm sao em biết chắc là em đang thả diều? Em đâu có trông thấy nó.”
    Cậu bé đáp: “Thưa không! tuy em không trông thấy diều, nhưng lúc nào em cũng cảm thấy dây giựt, và như vậy em biết chắc rằng diều còn đang bay”.
    Đừng mong ai khác chỉ cho mình thấy Thượng Đế. Hãy tự tìm kiếm Ngài, và nhờ sự rung động ấm áp trên đường tơ lòng bạn, bạn sẽ biết rằng chắc chắn Ngài hiện hữu.

    TỘI LỖI
    Vì mọi người đều phạm tội, không còn phản chiếu vinh quang Thượng Đế.
    Ro 3:23
    NẾU Thượng Đế là Đấng công nghĩa và yêu thương tại sao lại có quá nhiều tội ác, đau khổ và sầu thảm như vậy? Tại sao lại có thù oán? Tại sao chúng ta lại tạo nên những hình tượng giả dối? Tại sao chúng ta lại tôn thờ chiến tranh, tham lam và ích kỷ? Tại sao nhân loại do Thượng Đế dựng nên theo hình ảnh Ngài lại đắm chìm trong bại hoại đến nỗi Ngài phải ban Mười Điều Răn (căn bản luật pháp mà Thượng Đế đã ban cho dân Do-thái khi họ ra khỏi Ai-cập để trở về quê hương mình) và buộc họ phải vâng giữ? Tại sao Thượng Đế ban chính Con Một của Ngài để cứu chuộc chúng ta? Tại sao các vật thọ tạo của Thượng Đế lại đầy dẫy tham dục và tội ác?
    Muốn hiểu điều này, muốn thấy rõ tại sao nước này chống nghịch nước kia, tại sao nhiều gia đình phân ly, tại sao báo chí tràn ngập những bài tường thuật các hành động dã man, điên cuồng, tàn bạo và căm thù, chúng ta phải trở lại từ lúc ban đầu. Chúng ta phải trở lại truyện tích A-đam trong vườn Ê-đen, trở lại chương đầu của sách Sáng-Thế Ký.
    Có người cho rằng truyện tích quen thuộc về sự sáng tạo chỉ là một huyền thoại. Họ nói rằng đó chỉ là một cách đơn giản để giải thích cho trẻ con một vấn đề không sao giải đáp được. Nhưng không phải thế. Kinh Thánh cho chúng ta biết tường tận những việc đã xảy ra lúc khai thiên lập địa và tại sao từ đó đến nay con người vẫn cứ liên tục đi trên con đường tự tiêu diệt?
    Thượng Đế đã sáng tạo thế giới này như một toàn thể trọn vẹn. Con người đã dẹp bỏ thế giới đẹp đẽ, hòa hợp Ngài đã sáng tạo - thế giới trọn vẹn mà chúng ta đang khao khát tìm gặp lại, thế giới mà tất cả chúng ta đang tìm kiếm.
    Trong thế giới trọn vẹn đó, Thượng Đế đã đặt một người trọn vẹn. A-đam vốn là trọn vẹn vì chẳng có việc gì Thượng Đế làm lại không trọn vẹn, và Ngài đã ban cho người trọn vẹn ấy một ân tứ quý báu hơn hết, là sự tự do. Thượng Đế ban cho con người quyền tự do lựa chọn.
    Một bạn thân của chúng tôi, tiến sĩ M. L. Scott, nhà truyền đạo lừng danh người da đen, kể lại câu chuyện về người bạn của ông. Cậu con trai của ông này đã vào Đại học, nhân dịp về thăm nhà, đầy phấn khởi về số kiến thức vừa mới thâu thập được. Một chiều nọ, cậu ta trịnh trọng nói: “Ba à, bây giờ con đã vào đại học rồi, nên không còn tin chắc là con có thể đồng ý với loại đức tin đơn sơ, ấu trĩ của ba vào Kinh Thánh nữa”.
    Bạn tôi sững người, nhìn con mình không chớp mắt. Cuối cùng, ông ta nói: “Con ơi, đó là quyền tự do của con - quyền tự do khủng khiếp của con”. Đó chính là điều mà Thượng Đế đã ban cho A-đam - quyền tự do cho ông lựa chọn. Quyền tự do khủng khiếp của ông.
    Con người đầu tiên không phải là kẻ sống trong hang cốc, trong rừng rú, gầm gừ, hục hặc, gào thét, cố khắc phục những hiểm nghèo nơi sơn lâm và ác thú trong đồng nội. Lúc mới được dựng nên, A-đam đã trưởng thành, với tất cả mọi khả năng của trí óc và thân thể phát triển đầy đủ. Ông đồng đi với Thượng Đế và được tương giao với Ngài. Theo ý chỉ của Thượng Đế, ông đã được dự trù sẽ làm vua trên mặt đất và trị vì .
    Đó mới là địa vị đích thực của A-đam khi sống trong vườn Ê-đen; một người trọn vẹn đầu tiên, một loài thọ tạo duy nhất trên mặt đất được Thượng Đế ban cho ân tứ vô giá, tức là quyền tự do. A-đam được tự do hoàn toàn - tự do lựa chọn hay chối bỏ, tự do vâng theo hoặc chống trả mạng lịnh của Thượng Đế, tự do làm cho chính mình sung sướng hay khốn cùng. Không phải có tự do là đời sống được thỏa mãn, nhưng chính hành động sử dụng sự tự do mới xác định là chúng ta sẽ có bình an trong lòng và bình an với Thượng Đế hay không?
    Trọng tâm của vấn đề.
    Đây chính là trọng tâm của vấn đề, vì khi được tự do, con người đứng trước hai ngả đường. Nếu chỉ có một con đường để theo thì quyền tự do trở nên vô nghĩa. Tự do hàm ý một sự lựa chọn, một quyền quyết định đường lối hành động cá nhân.
    Tất cả chúng ta đều biết, người ta sở dĩ lương thiện không phải vì tự do chọn lựa điều đó, song vì họ chưa có dịp để làm quấy. Tiến sĩ Manfred Gutzke từng nói: “Các ông già ơi, chớ tưởng rằng các ông đã gần kề với cái chết mà các ông trở thành người khá hơn đâu”. Tất cả chúng ta đều biết có những người tự hào là mình nhân đức, nhưng thật ra do hoàn cảnh và lề lối sinh hoạt bên ngoài đã giữ họ khỏi thành ra xấu xa. Chúng ta không thể khoe khoang đã chống lại sức cám dỗ khi không phải đương đầu với một sự cám dỗ nào cả!
    Thượng Đế không để cho A-đam gặp trở ngại này. Ngài ban cho A-đam quyền tự do lựa chọn và cơ hội để hành xử quyền đó. Vì Thượng Đế không làm việc gì bất toàn nên Ngài đã đặt A-đam trong một khung cảnh trọn vẹn để ông chứng tỏ mình sẽ hầu việc Thượng Đế hay không.
    Khi sống trong vườn Ê-đen, A-đam không có tội lỗi, và tình trạng vô tội của ông không chỗ chê trách. Cả vũ trụ ở trước mặt ông. Cả lịch sử trinh nguyên của loài người đang trải ra dưới tay ông như một tấm giấy da vĩ đại, hết sức tinh khiết, đợi chờ ông quyết định con đường cho các thế hệ tương lai.
    Thượng Đế đã hoàn tất công trình của Ngài. Ngài đã dựng nên một khu vườn trên mặt đất, đầy đủ mọi thứ cần thiết cho con người. Ngài đã dựng nên một người trọn vẹn, giống như Ngài. Ngài đã ban cho con người trí óc và linh hồn cùng quyền tự do trọn vẹn để sử dụng trí óc và linh hồn tùy thích. Sau đó, với tư cách một người Cha vô cùng khôn ngoan, Thượng Đế chờ xem con mình lựa chọn như thế nào.
    Sự lựa chọn của loài người.
    Đó là một sự thử nghiệm! Đó là lúc A-đam dùng ý chí tự do để lựa chọn đường ngay hay đường quấy, lựa chọn theo ý muốn của mình chứ không phải lựa chọn vì chỉ có một con đường duy nhất cho mình noi theo!
    A-đam đã lựa chọn. Ông gánh chịu kết quả của sự chọn lựa đó và ấn định tiêu chuẩn cho toàn thể nhân loại phải theo. “Do tội của A-đam, mọi người bị kết án” (Ro 5:18). Phao-lô cũng nói: “Vì A-đam, tội lỗi đã thâm nhập thế gian, đem theo sự chết. Do đó, mọi người đều phải chết, vì mọi người đều phạm tội” (Ro 5:12).
    A-đam là nguồn gốc của nhân loại. A-đam xuất hiện như dòng suối từ lòng đất vọt lên, trong trẻo như pha lê và được quyền tự do lựa chọn để trở thành một con sông chảy qua những cánh đồng đẹp xanh tươi, màu mỡ hoặc thành ngọn thác bùn lầy, luôn luôn xối vào những vầng đá, cọ xát vào vách núi sâu thẳm, không có ánh sáng mặt trời, lạnh lẽo cùng khốn, không thể làm vùng đất chung quanh được tươi vui, kết quả.
    Không thể đổ lỗi cho Thượng Đế về tình trạng rối loạn bi thảm mà thế giới mắc phải bấy lâu nay. Lầm lỗi hoàn toàn do A-đam là người được Thượng Đế cho quyền lựa chọn, song đã quyết định nghe theo những lời lừa dối của ma quỉ, chứ không nghe theo chân lý của Thượng Đế! Từ ngày ấy đến nay, lịch sử nhân loại chính là câu chuyện về sự nổ lực hoài công của con người nhằm dành lại địa vị đã mất do sự sa ngã của A-đam!
    Bạn có thể nói: “Thế thì thật bất công! Tại sao ngày nay chúng ta lại phải chịu khổ vì sự phạm tội từ buổi xa xưa của con người đầu tiên? Tại sao trong những năm sau đó loài người đã không hồi tỉnh? Tại sao chúng ta phải bị trừng phạt trọn đời sống chúng ta?”. Ngày nay, có một tư tưởng khá thịnh hành, cho rằng người ta có thể cải thiện con người bằng cách cải tiến môi trường sinh sống của họ. Điều đáng ngạc nhiên là phải thừa nhận rằng loài người đã phạm tội đầu tiên ngay trong môi trường sinh sống toàn hảo hồi đó.
    Chúng ta hãy trở lại truyện tích của con sông - Con sông lạnh lẽo và tối tăm, chảy trong đáy thung lũng sâu thẳm và ảm đạm. Tại sao con sông này không chảy ngược lại những cánh đồng ấm áp tươi đẹp phía trên kia? Tại sao con sông không giã từ đường lối sầu muộn để trở thành dòng nước hân hoan sủi bọt như khi mới từ lòng đất vụt phun lên?
    Con sông không làm được điều đó vì nó không thể làm. Tự nó không có năng lực để làm điều gì khác hơn từ trước đến nay. Một khi nó đã chảy theo sườn dốc xuống chỗ tối tăm thì không còn có thể tự đưa mình trở lại vùng đất sáng sủa ấm áp trên cao. Phương tiện để đi lên vốn có, đường lối mở sẵn, nhưng con sông không hiểu cách sử dụng. Điều này làm tôi nhớ lại sông Dương Tử bên Trung-hoa (nay gọi là Hoàng Giang). Sông này đưa phù sa ra biển xa đến mấy dặm, biến biển xanh thành vàng đục. Nó không thể nào làm khác hơn.
    Luôn luôn có sẵn một phép lạ thần kỳ để đưa con sông nhân loại ra khỏi cảnh khốn cùng để nó nằm trong thung lũng ấm áp của sự bình an, nhưng con sông không thấy hoặc không chú tâm tới. Nhân loại cảm thấy không thể làm gì hơn là cứ tiếp tục con đường ngoằn ngoèo của mình cho đến khi biến mất trong lòng biển diệt vong.
    Truyện tích của con sông chính là truyện tích của loài người từ thuở A-đam, quanh co, ngoằn ngoèo, càng ngày càng lao vào chốn tối tăm ghê rợn. Mặc dầu cất tiếng kêu la cầu cứu, chúng ta vẫn dụng tâm chọn lựa con đường quấy như A-đam đã chọn ngày xưa. Trong cơn tuyệt vọng, chúng ta trở lại chống nghịch Thượng Đế và đổ lỗi cho Ngài về hoàn cảnh tiến thoái lưỡng nan của chúng ta. Chúng ta hoài nghi sự khôn ngoan và phán đoán của Ngài. Chúng ta bắt bẻ tình yêu thương và lòng nhân từ của Ngài.
    Chúng ta quên rằng A-đam là đầu của nhân loại, cũng như tổng thống là đầu chính phủ trong một nước. Khi tổng thống hành động, chính là dân chúng hành động qua tổng thống. Khi tổng thống quyết định, quyết định đó là của toàn dân.
    A-đam ở địa vị làm đầu nhân loại. Khi A-đam thất bại, bị sa ngã trong cám dỗ, thì các thế hệ chưa ra đời cũng sa ngã theo A-đam, vì Kinh Thánh tuyên bố rằng các hậu quả do tội lỗi của A-đam sẽ giáng trên mỗi người thuộc dòng dõi ông. Tất cả chúng ta đều biết quá rõ về sự thật đắng cay trong Sa 3:17-19, diễn tả tấn bi kịch do chính hành động của A-đam đã gây nên: “Đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi sẽ bị khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn. Đất sẽ sanh chông gai và cây tật lê, và ngươi sẽ ăn rau của đồng ruộng; ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi”.
    Và Thượng Đế phán với Ê-va rằng: “Ta sẽ thêm điều cực khổ bội phần trong cơn thai nghén; ngươi sẽ chịu đau đớn trong khi sanh con, sự dục vọng ngươi phải xu hướng về chồng và chồng sẽ cai trị ngươi” (Sa 3:16)
    Nói cách khác, vì nguyên tội của A-đam, mặt đất trước kia chỉ sanh ra cây cối đẹp đẽ, bổ dưỡng, thì nay sanh ra cây tốt lẫn cây xấu. Trước kia người đàn ông chỉ cần đi dạo trong vườn và đưa tay hái lấy đồ ăn, không cần quần áo che thân và nơi ẩn trú, bây giờ phải làm việc cực nhọc suốt đời mình để cung ứng nhu cầu cho chính mình và gia đình. Còn người đàn bà trước kia không phải lo lắng gì cả, bây giờ mang nặng sự buồn rầu và đau khổ. Cả người nam và người nữ phải chịu án tử hình về phần tâm linh cùng thể xác. Sự chết gồm ba giai đoạn: 1) Sự chết tức khắc về mặt thuộc linh; 2) Khởi điểm của sự chết thuộc thể (ngay phút đầu tiên chúng ta được sanh ra đời, là chúng ta bắt đầu chết); 3) Sự chết đời đời tối hậu.
    Tội lỗi chen vào.
    Do A-đam, tội lỗi đi vào nhân loại, và từ đó đến nay, nhân loại đã hoài công cố gắng dứt bỏ tội lỗi. Kinh Thánh dạy rằng Thượng Đế đã cảnh cáo A-đam trước khi ông phạm tội, rằng nếu ông ăn trái cây biết điều thiện và điều ác, chắc chắn ông phải chết. Kinh Thánh cũng cho chúng ta biết rằng Thượng Đế đã chỉ thị cho A-đam và Ê-va phải sanh con cháu cho đầy dẫy mặt đất. Mặc dầu đã được tạo dựng theo hình ảnh Thượng Đế, sau khi sa ngã, A-đam và Ê-va trái lại đã sanh con theo chính hình ảnh họ. Hậu quả là Ca-in và A-bên đã mang chứng bệnh chết người là tội lỗi mà họ thừa hưởng nơi cha mẹ và từ đó lưu truyền cho những người thuộc các thế hệ kế tiếp. Chúng ta tất cả đều là kẻ có tội theo di truyền, nên dù cố gắng, chúng ta vẫn không thể tránh được căn bệnh di truyền này.
    Chúng ta đã vận dụng hết mọi cách để tái lập địa vị ban đầu mà A-đam đã đánh mất. Chúng ta đã cố gắng trong lãnh vực giáo dục, triết lý, tôn giáo, chánh quyền để vứt bỏ cái ách sa đọa và tội lỗi. Với trí óc bị tội lỗi giới hạn, chúng ta tìm cách thực hiện những điều Thượng Đế đã định cho con người làm với một khải tượng sáng suốt chỉ có thể từ trên cao mà đến. Các động lực thúc đẩy chúng ta thật đáng ca ngợi, nhưng tất cả những cố gắng đó đều còn rất xa mới đạt tới tiêu chuẩn. Tất cả những kiến thức và phát minh của chúng ta, tất cả những sự phát triển và kế hoạch đầy tham vọng của chúng ta chỉ giúp chúng ta tiến lên một chút, rồi lại lùi xuống khởi điểm. Vì chúng ta đang phạm cùng một tội mà A-đam đã phạm, cố gắng tự đưa mình lên bằng chính quyền hạn và năng lực của mình, thay vì vâng giữ luật pháp của Thượng Đế.
    Trước khi cho rằng Thượng Đế bất công và vô lý vì đã để mặc tội lỗi bao trùm thế gian, chúng ta hãy xem xét tình hình một cách kỹ lưỡng hơn. Thượng Đế trong tình thương xót vô hạn đã sai Con Ngài xuống đời bày tỏ cho chúng ta biết con đường để thoát khỏi những khó khăn. Ngài đã sai Con Ngài ngự đến, để từng trải những cám dỗ mà A-đam đã gặp và để chiến thắng những cám dỗ đó. Sa-tan đã cám dỗ Chúa Giê-xu như đã cám dỗ A-đam. Sa-tan đã hứa ban cho Chúa Giê-xu quyền lực và vinh quang nếu Ngài chịu chối bỏ Thượng Đế, như đã hứa với A-đam qua Ê-va.
    Sự chọn lựa của Chúa Giê-xu.
    Khác biệt lớn lao là Chúa Giê-xu đã chống lại sự cám dỗ! Khi ma quỉ chỉ cho Ngài thấy tất cả những ngôi vương bá của thế gian và hứa cho Ngài mọi vinh quang đó nếu Ngài chịu theo nó thay vì theo Thượng Đế, thì Chúa Giê-xu yêu dấu của chúng ta phán: “Lui đi Sa-tan! Vì Thánh Kinh dạy: Ngươi chỉ thờ lạy Chúa là Thượng Đế ngươi, và chỉ phục vụ Ngài mà thôi” (Mat 4:10). Ngài hoàn toàn chiến thắng ma quỉ cám dỗ, để tỏ cho các dân tộc thuộc các thế hệ kế tiếp thấy bản chất vô tội của Ngài.
    Với sự hèn yếu và bản chất hư hỏng, chúng ta đã chứng minh mình là con cái thật của A-đam và đã trung thành đi theo bước chân của ông. Chúng ta có thể rủa sả A-đam nhưng chúng ta vẫn bắt chước ông!
    Không có một ngày nào chúng ta không đương đầu với thử thách mà A-đam đã gặp. Không ngày nào chúng ta không có cơ hội để chọn lựa, hoặc lời hứa xảo trá của ma quỉ hoặc lời vững chắc của Thượng Đế. Mỗi ngày chúng ta đều có dịp di chuyển chính chúng ta và người khác đến gần thêm ngôi vườn sự sống đẹp đẽ mà A-đam đã đánh mất.
    Chúng ta nóng lòng mong ước một ngày mai không còn thất vọng, bệnh tật, chết chóc nhưng nếu chúng ta vẫn còn là những con cháu hư hoại của A-đam, giấc mơ này không thể nào thành sự thật. Phải làm một điều gì để giải quyết tội lỗi của chúng ta. Trong những chương kế tiếp, chúng ta sẽ thấy điều Thượng Đế đã làm để đối phó với vấn đề căn bản đó của loài người.
    Từ khởi nguyên đến giây phút hiện tại, sự tìm kiếm quyền lực phi nhân, và quyết định hành xử quyền tự do lựa chọn vào những mục đích cá nhân vị kỷ đã đưa con người đến bờ vực phán xét. Tàn tích của nhiều nền văn minh rải rác trên mặt địa cầu là những chứng tích im lặng về sự bất lực của con người nhằm xây dựng một thế giới bền vững bất cần Thượng Đế. Mỗi ngày mỗi có thêm những cảnh đổ nát mới, những nỗi khốn cùng mới, song con người vẫn cứ lao mình trên con đường tai hại.
    Trong khi ấy, với sự hiểu biết và thương xót vô bờ bến, Thượng Đế đã chú tâm, chờ đợi với sự kiên nhẫn và lòng trắc ẩn mà loài người không hiểu thấu được. Ngài đợi chờ để ban sự cứu rỗi và sự bình an cho mọi người đến nhận ơn thương xót của Ngài. Hai con đường mà Thượng Đế đặt trước mặt A-đam vẫn còn ở trước mặt chúng ta. Chúng ta vẫn còn có tự do để lựa chọn. Chúng ta đang sống trong thời kỳ ân điển, và Thượng Đế còn cầm giữ sự hình phạt mà đúng ra chúng ta đáng phải chịu.
    Chính sự hiện hữu của tội lỗi đã ngăn trở con người hưởng phước hạnh. Chính vì tội lỗi mà con người không bao giờ có khả năng đạt tới lý tưởng hằng mơ ước. Mỗi một kế hoạch, mỗi một nền văn minh con người xây dựng rốt cuộc đều thất bại và rơi vào lãng quên, vì những công trình của con người xây dựng trên sự bất nghĩa. Những cảnh điêu tàn quanh chúng ta ngày nay là bằng chứng hùng hồn về tội lỗi ngập tràn thế giới.
    Nhân và quả.
    Con người hình như không còn thấy công lệ nhân quả luôn luôn tác động trên mọi giai tầng của vũ trụ này. Hậu quả thì rõ ràng nhưng nguyên nhân sâu kín và chủ yếu lại dường như kém hiển nhiên. Có lẽ chính ảnh hưởng xấu xa của triết lý hiện đại về sự tiến bộ làm lu mờ khải tượng của con người. Có lẽ vì quá say mê với lý thuyết nhân tạo mà con người cố bám lấy niềm tin là nhân loại đang tiến bộ từ từ nhưng chắc chắn đạt đến chỗ trọn vẹn cuối cùng.
    Thậm chí nhiều triết gia luận rằng tấn thảm kịch của thế giới ngày nay chỉ là một việc ngẫu nhiên trong tiến trình đi lên; họ viện dẫn những thời kỳ khác trong lịch sử nhân loại có những triển vọng dường như ảm đạm và hậu quả dường như cũng vô vọng như thế. Các triết gia tìm cách cho rằng tình trạng buồn thảm chúng ta đang trải qua chỉ là cơn đau đớn lâm bồn của một ngày tốt đẹp hơn! Rằng con người vẫn còn là những đứa trẻ mò mẫm và vấp ngã trong ấu trĩ viện của cuộc sống, và còn phải mất hàng mấy thế kỷ nữa mới trở nên trưởng thành, có ý thức.
    Nhưng Kinh Thánh vạch rõ điều mà khoa tự nhiên học hình như không muốn chấp nhận - rằng thiên nhiên đồng thời khải thị về một Đấng Tạo Hóa và một kẻ phá hoại. Con người đổ lỗi cho Tạo Hóa về việc làm của kẻ phá hoại. Con người quên rằng thế giới của chúng ta không còn như lúc mới được Thượng Đế sáng tạo, nó đã bị suy đồi. Thượng Đế đã sáng tạo thế giới tốt đẹp. Tội lỗi làm hư hỏng thế giới. Thượng Đế đã dựng con người vô tội, nhưng tội lỗi đã xâm nhập, biến họ thành hư xấu. Mỗi một sự thể hiện của điều ác là hậu quả của tội lỗi căn bản. Tội lỗi đã không thay đổi từ lúc nó mới nhập vào nhân loại. Tội lỗi có thể tự biểu hiện bằng nhiều cách khác nhau, tội lỗi đã khiến một người Phi-châu dã man núp dọc theo con đường mòn trong rừng sâu, tay cầm giáo đón chờ nạn nhân của hắn, và một phi công có học thức, được huấn luyện đầy đủ lái một phản lực cơ cũng trên khu rừng rậm ấy, sẵn sàng ném bom xuống làng mạc không có gì khả nghi.
    Hai người trên cách nhau hàng thế kỷ văn hóa. Có thể nói rằng người này “tiến bộ” hơn người kia bội phần, một người có tất cả lợi điểm của một nền văn minh nhân tạo, trong khi người kia ở trong “cổ sơ” - Tuy nhiên, có phải do đó mà họ thật sự khác nhau chăng? Phải chăng cả hai đều bị thúc đẩy bởi sự lo sợ và bất tín nhiệm người đồng loại? Phải chăng cả hai đều có lòng vị kỷ muốn thực hiện mục đích của mình bằng bất cứ giá nào, mặc cho kẻ đồng loại gánh chịu hậu quả? Một quả bom có kém dã man hay tàn bạo hoặc văn minh hơn một ngọn giáo trần trụi không? Liệu chúng ta có thể tìm được giải pháp cho các vấn đề nan giải của người “cổ sơ” nhất và “tiến bộ” nhất đang hăng hái muốn giết kẻ đồng loại hơn là yêu mến họ chăng?
    Tất cả nỗi buồn rầu, lo lắng, hung bạo, bi thảm, đau lòng, thương tâm và hổ nhục trong lịch sử loài người đều được tóm tắt trong chữ: “Tội lỗi”! Thật vậy, tội lỗi đã được phổ biến rộng rãi và đã khiến mọi người say mê. Các chương trình T.V. trình chiếu sự đồi bại của giới giàu có. Bìa các tạp chí in những hình ảnh vô luân đồi trụy. Tội lỗi vốn ở giữa chúng ta.
    Không ai thích kẻ khác bảo mình là người có tội, dù rằng cha mẹ và tổ tiên họ là những người phạm tội trước! Nhưng Kinh Thánh đã chép: “Không phân biệt một ai, vì mọi người đều phạm tội, không còn phản chiếu vinh quang Thượng Đế“ (Ro 3:2223). Kinh Thánh tuyên bố rằng mỗi một người trên thế gian là một tội nhân trước mặt Thượng Đế. Mỗi khi nghe người ta tự loại mình ra khỏi lời tuyên bố mạnh mẽ đó, tôi bỗng nhớ đến câu chuyện một viên chức trong Hội thánh, một ngày kia, đàm đạo với vị mục sư về tội lỗi.
    Ông nói: “Thưa mục sư, tín hữu chúng tôi ước mong ông sẽ không nói quá nhiều hay quá rõ ràng về tội lỗi như vậy. Chúng tôi cảm thấy, nếu các con cái chúng tôi nghe ông giảng luận về vấn đề này nhiều quá, chúng sẽ càng trở nên kẻ phạm tội. Tại sao không gọi đó là một sự “sai lầm” hay nói rằng lớp trẻ chúng ta thường phạm tội vì “kém nhận xét”? Dầu sao, chúng tôi mong ông đừng nói đến tội lỗi quá rõ ràng như vậy”.
    Mục sư bèn đi lấy một lọ thuốc độc trên cái kệ cao trao cho ông ta xem. Trên chai có ghi chữ to tướng: “Thuốc độc, chớ đụng đến!” Rồi mục sư hỏi: “Ông muốn tôi làm sao? Ông muốn tôi nên gỡ bỏ cái nhãn ghi rõ ràng thuốc độc này mà dán nhãn hiệu khác đề là “dầu bạc hà” không? Ông há chẳng thấy rằng càng làm cho nhãn hiệu dễ nghe bao nhiêu thì càng làm cho thuốc độc trở nên nguy hiểm bấy nhiêu sao?”
    Tội lỗi - chính tội lỗi có từ thượng cổ, đã gây cho A-đam sa ngã - là điều mà tất cả chúng ta đang gánh chịu đau khổ ngày nay; và nếu chúng ta cố khoác cho nó một lớp nhãn lòe loẹt, hấp dẫn hơn, không những nó không tốt hơn mà lại còn làm cho chúng ta thiệt hại bội phần. Chúng ta không cần một danh từ mới cho tội lỗi. Điều chúng ta cần là tìm xem danh từ chúng ta hiện có nghĩa là gì! Vì mặc dầu tội lỗi hiển nhiên thịnh hành trong thế giới ngày nay, vẫn còn có hằng hà sa số người hoàn toàn chẳng biết gì về ý nghĩa thật của nó. Chính ý niệm sai lạc, thiển cận về tội lỗi đã ngăn cản rất nhiều người hối cải quay về cùng Thượng Đế. Chính sự hiểu biết khiếm khuyết về tội lỗi đã khiến nhiều Cơ Đốc nhân không sống đời sống thật của Chúa Cứu Thế.
    Một bản Thánh ca cũ có câu: “Không phải mọi người nói về nước Thiên đàng đều được đi đến Thiên đàng”. Đối với tội lỗi cũng vậy. Không phải ai ai nói đến tội lỗi cũng đều nhận biết rõ ràng tội lỗi là gì. Điều tuyệt đối hệ trọng là chúng ta phải ý thức được quan điểm của Kinh Thánh về tội lỗi.
    Chúng ta có thể có ý nghĩ xem thường tội lỗi, và cho nó là một “sự yếu đuối của con người”. Chúng ta có thể tìm cách gọi nó là điều nhỏ nhặt, nhưng Thượng Đế gọi nó là một thảm kịch. Chúng ta muốn bỏ qua và coi nó là một việc tình cờ nhưng Thượng Đế tuyên bố đó là một điều ghê tởm. Con người tìm cách tự bào chữa cho tội lỗi của mình, nhưng Thượng Đế tìm cách thuyết phục con người về tội lỗi và cứu con người thoát khỏi điều đó. Tội lỗi không là một món đồ chơi thích thú, tội lỗi là điều kinh khiếp phải lánh xa! Vậy hãy học biết điều gì cấu thành tội lỗi trước mặt Thượng Đế.
    Tấn sĩ Richard Beal định nghĩa tội lỗi bằng 5 danh từ:
    Thứ nhất: tội lỗi là ‘sự bất chấp luật pháp’, sự vi phạm luật pháp của Thượng Đế (IGi 3:4). Thượng Đế đã thiết lập một lằn ranh giữa điều thiện và điều ác, và mỗi khi chúng ta vượt qua ranh của bên kia biên giới, mỗi khi chúng ta xâm nhập vùng cấm địa của tội ác, thì chúng ta đã vi phạm luật pháp. Khi nào chúng ta không vâng giữ Mười Điều Răn, hoặc đi trái với nguyên tắc của Bài Giảng Trên Núi (bài giảng của Chúa Giê-xu, được ghi chép trong Kinh Thánh Mat 5:1-7:29) chúng ta đã vi phạm luật pháp của Thượng Đế và có tội.’
    Nếu bạn xét từng điều một trong Mười Điều Răn, bạn sẽ thấy hiện nay nhân loại đang cố ý, chẳng những vi phạm, mà còn hô hào mọi người vi phạm nữa. Điều răn chớ thờ hình tượng nghĩa là chớ để bất cứ sự việc gì trước Thượng Đế, điều răn hãy nhớ giữ ngày nghỉ làm ngày thánh (các tay chơi dã cầu và túc cầu chuyên nghiệp sẽ làm gì nếu các Cơ Đốc nhân không chịu xem họ thi đấu ngày Chúa nhật?), điều răn hãy hiếu kính cha mẹ (các quyển sách ‘Mommie Dearest’ phơi trần tội lỗi của các bậc làm cha làm mẹ), điều răn chớ tham lam và chớ tà dâm - dường như mọi người đang hè nhau nỗ lực để cố ý vi phạm từng điều răn một. Và không những chỉ thế mà thôi, dường như thiên hạ còn cố ý biến chúng thành hấp dẫn khi làm như vậy nữa.
    Gia-cơ (em trai của Chúa Giê-xu, tác giả sách Gia-cơ trong Kinh Thánh) nói rõ rằng chúng ta đều phạm tội, ông viết: “Chính những tư tưởng, dục vọng xấu xa trong con người thôi thúc, tạo ra sự cám dỗ. Tư tưởng xấu xa sẽ biến thành hành động tội lỗi; tội lỗi phát triển đem lại cái chết” (Gia 1:14-15). Chính vì tất cả chúng ta đều vi phạm luật pháp của Thượng Đế, không vâng giữ các điều răn của Ngài, nên chúng ta hết thảy bị liệt vào hàng tội nhân.
    Thứ hai: Kinh Thánh mô tả tội lỗi là ‘gian tà’. Gian tà là đi lệch ra ngoài con đường chánh, dù hành động đó có bị ngăn cấm rõ rệt hay không. Sự gian tà liên quan đến những nguyên do thúc đẩy nội tâm của chúng ta, những gì chúng ta cố che giấu loài người và Thượng Đế. Đó là những điều sai quấy bắt nguồn từ bản tính hư hoại của chính chúng ta hơn là từ những hành động xấu xa đôi khi do áp lực của hoàn cảnh khiến chúng ta vấp phạm.
    Chúa Giê-xu đã diễn tả sự hư hoại nội tâm này khi Ngài phán: “Vì từ bên trong, từ tâm hồn con người, sinh ra những tư tưởng ác, như gian dâm, trộm cắp, giết người, ngoại tình, tham lam, độc ác, lừa dối, phóng đãng, ganh ghét, phỉ báng, kiêu căng, dại dột. Chính những thứ xấu xa từ bên trong mới làm con người dơ bẩn” (Mac 7:21-23).
    Thứ ba: Kinh Thánh giải thích tội lỗi là không đạt tới mục tiêu đã đặt. Chúa Cứu Thế là mục tiêu của Thượng Đế. Đối tượng và cứu cánh của cả đời người là sống theo đời sống Chúa Cứu Thế. Ngài đã đến để chỉ cho chúng ta biết con người có thể thực hiện điều gì trên mặt đất này; nếu không noi theo gương Ngài, chúng ta sẽ không đạt tới mục tiêu và không hội đủ tiêu chuẩn thiên thượng.
    Thứ tư: Tội lỗi là một hình thức ‘xâm phạm’, tức là lấy ý riêng xen vào quyền uy thiên thượng. Tội lỗi không chỉ là điều tiêu cực, không chỉ là sự thiếu tình thương yêu đối với Thượng Đế. Tội lỗi là sự lựa chọn tích cực, ưa thích bản ngã thay vì Thượng Đế, là quy tụ tình thương vào chính bản thân mình, chớ không hết lòng vươn đến Thượng Đế. Tính vị kỷ và duy ngã là những dấu hiệu của tội lỗi, cũng như trộm cắp và sát nhân vậy. Có lẽ đây là hình thức tinh vi và tai hại nhất của tội lỗi, vì với hình thức này nhãn hiệu trên lọ thuốc độc rất dễ bị coi thường. Những ai chỉ nghĩ đến mình, hoàn toàn chú trọng vào chính bản thân, những ai chỉ nhìn thấy và bảo vệ quyền lợi riêng - những người ấy là tội nhân không khác gì kẻ say rượu, đàng điếm.
    Chúa Giê-xu phán: “Nếu một người chiếm được cả thế giới nhưng mất linh hồn thì có ích lợi gì?” (8:36). Tư tưởng này nếu diễn tả bằng ngôn ngữ hiện đại, có thể được trình bày như sau: “Nếu một người bị ung độc tàn phá cơ thể không hưởng thụ được cơ nghiệp rộng lớn của mình thì có ích gì chăng?”. Một nhà độc tài sẽ được lợi gì nếu ông ta chinh phục được cả bán cầu nhưng phải thường xuyên sợ hãi viên đạn kẻ thù hoặc lưỡi dao thích khách? Bậc làm cha mẹ được lợi gì khi nuôi nấng con cái bằng cách kỷ luật nghiêm khắc, để rồi về sau bị chúng ruồng bỏ, phải sống cô đơn trong tuổi già? Quả thật, tội lỗi của chính bản ngã vị kỷ là một tội lỗi chết người.
    Thứ năm: Tội lỗi là ‘sự vô tín’. Vô tín là tội lỗi vì đó là sự phỉ báng chân lý của Thượng Đế: “Ai tin Con Thượng Đế đều biết Lời chứng của Thượng Đế là thật. Không tin Con Thượng Đế cũng như bảo Thượng Đế là nói dối, vì cho Lời Thượng Đế phán về Con Ngài không đúng sự thật” (IGi 5:10).
    Sự vô tín đã đóng cửa Thiên đàng và mở cửa Địa ngục. Sự vô tín đã chối bỏ Kinh Thánh và không công nhận Chúa Cứu Thế là Cứu Chúa. Sự vô tín làm con người bịt tai đối với Phúc Âm và chối bỏ những phép lạ của Chúa Cứu Thế.
    Tội lỗi dẫn đến án phạt là sự chết, và không ai có khả năng tự cứu mình thoát khỏi án phạt ấy hay tẩy sạch sự hư hoại của tội lỗi ra khỏi lòng mình. Thiên sứ và con người không chuộc được tội. Chỉ trong Chúa Cứu Thế mới có phương thuốc trị tội lỗi. Chỉ có Chúa Cứu Thế mới có thể cứu tội nhân ra khỏi số phận đau thương đang chờ đợi. “Vì tiền công của tội lỗi là sự chết” (Ro 6:23). “Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết” (Exe 18:4). “Chẳng có người nào chuộc được anh em mình, hoặc đóng giá chuộc người nơi Thượng Đế” (Thi 49:7). “Hoặc vàng hoặc bạc của chúng nó đều không thể giải cứu chúng nó trong ngày thạnh nộ của Thượng Đế” (So 1:18).
    Phương dược duy nhất.
    Phương pháp duy nhất để cứu con người ra khỏi tội lỗi đã thực hiện trên ngọn đồi hình sọ vắng vẻ hoang vu; một tên cướp bị treo trên cây thập tự, một kẻ giết người trên cây thập tự khác và ở chính giữa là một Người đội vương miện bằng gai. Máu chảy từ tay chân Người, trào ra nơi hông Người, tuôn từng giọt trên mắt Người, trong khi có những kẻ đứng trước mặt Người an nhiên cười cợt và chế nhạo. Người chịu cực hình đó là ai? Người mà những kẻ khác tìm cách sỉ nhục và giết chết đó là ai? Chính là Con của Thượng Đế, Hoàng tử của Hòa bình, Sứ giả từ trời xuống thế gian bị tội lỗi dày vò. Trước mặt Ngài, các thiên sứ cúi đầu che mặt. Vậy mà Ngài bị treo trên thập tự tàn bạo, máu huyết tuôn chảy và bị mọi người ruồng bỏ.
    Điều gì đã đưa Ngài đến chỗ kinh khiếp này? Ai đã áp dụng hình phạt ghê tởm đó cho Đấng đến trần gian để dạy chúng ta về tình yêu thương? Chính bạn và tôi, vì do tội lỗi của bạn và của tôi mà Chúa Giê-xu phải bị đóng đinh trên cây thập tự. Trong phút giây bất diệt đó, nhân loại đã nếm trải mức độ đen tối nhất của tội lỗi, và đụng đến tột cùng sự ô uế nó. Thảo nào mặt trời cũng không chịu nổi, phải che mặt đi!
    Như Charles Wesley nói:
    Tại sao tôi lại có thể thích thú gây đau đớn cho Ngài’ ‘Làm đổ huyết Cứu Chúa, Đấng đã chịu chết thay tôi? Thật là tình yêu thương lạ lùng!
    Tại sao Ngài là Thượng Đế tôi, lại chịu chết thay tôi?’
    Nhưng trên thập tự giá, tội lỗi đã bị thất bại. Nhát búa đóng đinh Chúa Cứu Thế vào cây thập tự cũng là nhát búa mở toang cửa ngục cho con người được tự do. Đại tác phẩm tủi nhục và thù hằn của tội lỗi đã trở thành kiệt tác của lòng nhân từ và tha thứ. Qua sự chết của Chiên Con Thượng Đế trên thập tự giá, đối với những ai tin đến Chúa Cứu Thế thì tội lỗi đã bị đóng đinh vào đó rồi. Sự chết của Ngài là nền tảng của niềm hy vọng chúng ta, là lời hứa cho chúng ta được toàn thắng! Trên cây gỗ, Chúa Cứu Thế mang những tội lỗi đã xiềng xích chúng ta vào chính thân thể Ngài. Ngài đã chết vì cớ chúng ta và đã sống lại. Ngài chứng minh rằng tất cả những lời hứa của Thượng Đế đối với con người là thật. Nếu hôm nay bạn tiếp nhận Chúa Cứu Thế bằng đức tin thì bạn có thể phá tan xiềng xích của tội lỗi, và được an toàn, tự do vì biết rằng qua tình yêu của Chúa Cứu Thế, linh hồn bạn được tẩy sạch và được cứu khỏi án phạt.

    MA QUỈ
    Vì chúng ta không chiến đấu với người trần gian nhưng với quyền lực vô hình đang thống trị thế giới tối tăm và với các tà linh trên trời.
    Eph 6:12
    TRONG mọi biến cố ngày nay, ta thấy ẩn tàng một nguyên tắc của ma quỉ. Kinh Thánh chép: “Con rắn xưa, có tên là Quỉ vương hay Sa-tan, là Kẻ lừa dối cả thế giới” (Kh 12:9). Chúng ta biết rằng ma quỉ đang âm mưu gây xáo trộn cho mọi người, mọi quốc gia. Đâu đâu ta cũng thấy công trình xảo quyệt của nó.
    Trong khi hy vọng rằng nền hòa bình thế giới đã gần kề, hầu như chúng ta đang sống trên bờ vực của trận chiến Ha-ma- ghê-đôn. Từ năm 1945 đến 1979 có hàng trăm cuộc chiến lớn nhỏ là nguyên nhân của 12, 13 triệu cái chết. Chính vì Sa-tan nhất quyết muốn cho dòng dõi tối tăm sầu thảm của nhân loại cứ tiếp tục trên con đường xao động của mình cho đến lúc tận cùng thời gian. Thắng được A-đam trong vườn Địa đàng, Sa-tan tin chắc có thể giành giựt được linh hồn con cháu của người.
    Trong thế giới hiện đại, không có người nào biết suy nghĩ mà không từng thắc mắc về sự hiện hữu của ma quỉ. Ma quỉ có thật, không thể chối cãi. Chúng ta thấy quyền lực và ảnh hưởng của nó khắp mọi nơi. Vấn đề không phải có ma quỉ hay không nhưng là vì sao ma quỉ thành hình và thành hình như thế nào.
    Qua truyện tích A-đam và Ê-va chúng ta biết rằng ma quỉ đã có mặt trên địa cầu trước khi Thượng Đế dựng nên con người đầu tiên. Lúc ấy đã có điều ác rồi; nếu không, Thượng Đế đã không dựng nên một cây biết điều thiện và điều ác, và nếu con người không cần được bảo vệ đối với điều ác thì không cần và không thể có cây ấy.
    Phải chăng Thượng Đế tạo ra điều ác?
    Ở đây chúng ta đối diện với một sự mầu nhiệm lớn lao nhất, ý nghĩa nhất trong tất cả các sự mầu nhiệm, một câu hỏi khó trả lời nhất trong tất cả các câu hỏi. Tại sao Thượng Đế là Đấng toàn năng, toàn khiết và toàn ái lại sáng tạo nên điều ác hay cho phép Sa-tan tạo nên điều ác? Tại sao A-đam phải bị cám dỗ? Tại sao Thượng Đế lại không giết chết ma quỉ khi nó nhập vào thân thể con rắn để truyền những ác tưởng cho Ê-va?
    Kinh Thánh đã cho chúng ta vài gợi ý về câu trả lời. Nhưng Kinh Thánh cũng nói rõ rằng con người không nhất thiết phải biết lời giải đáp trọn vẹn cho đến khi Thượng Đế cho phép ma quỉ và tất cả những phương lược của nó hoàn thành kế hoạch lớn lao của chính Ngài.
    Trước khi A-đam bị sa ngã, và rất lâu trước khi A-đam có mặt trên thế gian, hình như vũ trụ của Thượng Đế được chia ra làm nhiều vùng ảnh hưởng, mỗi vùng ở dưới sự trông nom và kiểm soát của một thiên sứ hay một hoàng tử của thiên đàng, tất cả đều chịu trách nhiệm trực tiếp với Thượng Đế. Sứ đồ Phao-lô cho chúng ta biết về “ngôi vua hay chủ tịch nhà nước, chính quyền hay các nhà lãnh đạo” thuộc thế giới hữu hình lẫn vô hình (Co 1:16Eph 1:21). Kinh Thánh thường đề cập đến thiên sứ và thiên sứ trưởng, chứng minh rằng giữa họ có một trật tự đã được thiết lập, một số thiên sứ này có quyền lực hơn các thiên sứ kia.
    Ma quỉ chắc phải là hoàng tử của Thiên Đàng có quyền lực như đã nói ở trên và có lẽ địa cầu được giao cho nó phụ trách đặc biệt như một tỉnh vậy. Mang tên là Lu-xi-phe có nghĩa là “người cầm đuốc” chắc nó phải gần gũi với Thượng Đế - gần đến nỗi sự tham muốn nhập vào lòng và nó nhất định không chịu làm hoàng tử thân yêu của Ngài, nhưng muốn được đặt ngang hàng với chính Ngài! Lu-xi-phe không phải là đối thủ của Thượng Đế, nhưng là đối thủ của Mi-ca-ên hay Gáp-ri-ên; nó không phải là một vị thần bị sa ngã mà là một thiên sứ đã sa ngã. Chính bấy giờ sự rạn nứt mới xảy ra trong vũ trụ. Chính lúc ấy vũ trụ vốn hoàn hảo và điều hòa theo ý Thượng Đế - đã bị phân rẽ, và một phần của vũ trụ chống nghịch lại Thượng Đế. Ma quỉ đã làm nhục Thượng Đế và cố thiết lập quyền uy của nó. Nó từ bỏ địa vị của mình trong chính quyền của Thượng Đế và hạ xuống những tầng trời thấp hơn, tự xưng mình sẽ giống như Đấng Tối Cao tức là Thượng Đế. Nó đã được Thượng Đế đặt vào ngôi vị hoàng tử của thế gian này; và Thượng Đế chưa truất phế nó ra khỏi địa vị đó, mặc dù căn bản công nghĩa của sự truất phế đó đã được xây dựng bằng sự chết của Chúa Cứu Thế. Và từ ấy đến nay, ma quỉ vẫn tiếp tục tranh chấp với Thượng Đế trên mặt đất.
    Vương quốc của ma quỉ.
    Là một hoàng thân quyền uy với vạn thiên sứ dưới tay, ma quỉ đã thiết lập một vương quốc trên thế gian. Chính quyền lực và địa vị của nó tại nơi này là những lý do đích thực để Kinh Thánh được viết ra. Nếu Sa-tan không làm nhục Thượng Đế và tìm cách thách thức năng lực và quyền uy của Ngài thì câu chuyện A-đam trong vườn Địa đàng đã khác hẳn. Nếu Sa-tan không đứng ra chống đối Thượng Đế thì Ngài đã không cần ban Mười Điều Răn cho loài người, cũng không cần sai Con Ngài lên thập tự giá.
    Chúa Giê-xu và các sứ đồ Ngài đều biết rõ về ma quỉ. Mã-thi ghi chép cuộc đàm thoại thực sự giữa Chúa Giê-xu và ma quỉ (Mat 4:1-10). Ma quỉ là một sự kiện có thật đối với các thầy Biệt-lập (những người giữ đạo Do-thái một cách nghiêm nhặt về hình thức, họ thường bắt bớ các Cơ Đốc nhân), đến nỗi họ đã thực sự lên án Chúa Giê-xu là ma quỉ! (Mat 12:24). Chúa Giê-xu không nghi ngờ gì về sự hiện hữu của ma quỉ và quyền năng hành động của nó trên mặt đất.
    Sức mạnh của ma quỉ được mô tả trong sách Giu-đe câu 9: “Đến như Mi-ca-ên, là một trong những vị thiên sứ lớn nhất, khi tranh luận với quỉ vương về thi hài Mai-sen, cũng chẳng nặng lời tố cáo mà chỉ nói: “Cầu Thượng Đế khiển trách ngươi.”
    Ngày nay vị cách của ma quỉ bị lẫn lộn mơ hồ, phần lớn là hậu quả của những bức hí họa rất quen thuộc thời trung cổ về ma quỉ. Muốn bớt sợ ma quỉ, người ta tìm cách chế nhạo nó, mô tả nó như nhân vật ngu ngốc, thô lỗ, có sừng và đuôi dài, tay cầm cái đinh ba, với cái nhìn đầy tham muốn đần độn, rồi họ tự nhủ: “Ai lại đi sợ một khuôn mặt kỳ dị như thế này?”
    Sự thật, ma quỉ là một nhân vật cực kỳ thông minh, một thần linh mạnh mẽ có năng khiếu và rất mưu lược. Chúng ta quên rằng rất có thể ma quỉ là thiên sứ vĩ đại và cao trọng nhất trong tất cả thiên sứ của Thượng Đế. Ma quỉ vốn là một hình ảnh cao cả đã quyết định dùng những điều phú bẩm thiên thượng vào những mục đích riêng tư thay vì dùng vào mục đích của Thượng Đế. Lối biện luận của ma quỉ rất khôn khéo, các kế hoạch của nó rất thần tình, và lý luận của nó hầu như không thể bác bẻ được. Kẻ thù mạnh mẽ của Thượng Đế không phải là một nhân vật vụng về có sừng và đuôi; đó là một hoàng tử có vóc dáng kiêu kỳ oai vệ, có mánh khóe xảo quyệt, có khả năng lợi dụng mọi cơ hội xảy đến, và xoay chuyển mọi hoàn cảnh để làm lợi cho chính nó.
    Ma quỉ có đủ khả năng để tạo nên một tiên tri giả mà Kinh Thánh đã báo trước. Bên trên sự phá sản của lòng vô tín và sự xao xuyến của đức tin, ma quỉ sẽ hoàn thành kiệt tác của nó, là vị vua giả. Nó sẽ thiết lập một tôn giáo không có Đấng Cứu chuộc. Nó sẽ xây dựng một giáo hội không có Chúa Cứu Thế; nó sẽ hướng dẫn thờ phượng không có Kinh Thánh.
    Sứ đồ Phao-lô đã dự đoán điều này khi ông nói: “Tôi sợ anh em suy tư lầm lạc, mất lòng trong sạch chuyên nhất với Chúa Cứu Thế, như Ê-va ngày xưa bị Con Rắn dùng quỷ kế lừa gạt. Vì nếu có người đến tuyên truyền một thần linh khác với Chúa Giê-xu chúng tôi đã truyền giảng, hoặc một tinh thần khác với Thánh Linh anh em đã nhận... anh em cũng sẵn sàng hưởng ứng! Họ là sứ đồ giả hiệu, công nhân gian trá, mạo làm sứ giả của Chúa Cứu Thế” (IICo 11:3413).
    Ma quỉ và Kẻ chống đối Chúa Cứu Thế.
    Chúng ta biết rằng kẻ chống đối Chúa Cứu Thế sẽ xuất hiện và tìm cách đánh lừa tâm trí loài người. Thì giờ đã đến gần, sân khấu đã bố trí xong - nỗi rối loạn, hoảng hốt và sự sợ hãi đầy dẫy khắp nơi. Các dấu hiệu của tiên tri giả đang lan tràn khắp nơi, và nhiều người có thể là chứng nhân sống của giờ phút kinh dị, lúc màn cuối cùng của tấn bi kịch trải suốt bao thời đại chúng ta. Rất có thể điều này sẽ xảy ra trong thời đại của chúng ta vì cớ các biến cố gia tăng tốc độ biến chuyển; đâu đâu chúng ta cũng thấy con người lựa chọn một cách có ý thức hay vô ý thức - hoặc theo đường lối của ma quỉ, hoặc theo đường lối của Thượng Đế.
    Đó sẽ là một trận tử chiến theo nghĩa thật của nó - một trận chiến không cho phép dung tha hay nhân nhượng. Giai đoạn nhân bản của cuộc chiến bắt đầu trong vườn Ê-đen khi ma quỉ cám dỗ loài người lánh xa Thượng Đế, lôi cuốn hằng tỉ người hiếu chiến, mỗi người hành động theo ý riêng mình. “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy, Thượng Đế đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên Người” (Es 53:6). Điều này sẽ tiếp diễn cho đến tận thế, khi một trong hai thế lực - thế lực của điều thiện và điều ác - chiến thắng, đưa Vua Thật hay vua giả lên ngôi.
    Vào giờ phút này của lịch sử, có hai Tam-vị-nhất-thể mạnh mẽ đối đầu nhau. Tam-vị-nhất-thể của Thượng Đế (Đức Cha, Đức Con và Đức Thánh Linh) và Tam-vị-nhất-thể giả hiệu mà Sa-tan muốn chúng ta thờ phượng. Tam-vị-nhất-thể của tội ác (ma quỉ, kẻ chống đối Chúa Cứu Thế, và tiên tri giả) được diễn tả trong Khải thị: “Tôi thấy có ba tà linh giống như ếch nhái ra từ miệng con rồng, miệng con thú và miệng tiên tri giả” .
    Dù thức hay ngủ, không giây phút nào đời sống bạn không có hai thế lực đó; không có cơ hội nào mà bạn không thể quyết định chọn lựa đi theo thế lực này hay thế lực kia. Ma quỉ luôn đứng bên này để cám dỗ, nịnh hót, đe dọa, dỗ dành bạn. Và bên kia bạn luôn có Chúa Giê-xu, Đấng toàn ái, tha thứ tất cả, chờ đợi bạn quay trở về với Ngài, yêu cầu Ngài giúp đỡ, chờ đợi để ban cho bạn quyền năng siêu nhiên chống lại ma quỉ. Bạn phải đứng về phía bên này hoặc phía bên kia. Không hề có vùng-đất-không-người ở giữa, để bạn có thể ẩn trốn.
    Trong những lúc bạn lo sợ bối rối nhất, lúc bạn cảm thấy mình bất lực trước móng vuốt các biến cố bạn không sao kiểm soát được, trong khi sự chán nản và thất vọng tràn ngập lòng bạn, chính những lúc đó ma quỉ lợi dụng những nhược điểm của bạn để đẩy bạn đi xa vào con đường A-đam đã theo.
    Những lúc nguy hiểm này hãy nhớ rằng Chúa Cứu Thế không bỏ rơi bạn. Ngài không để bạn trong thế vô phương chống đỡ. Ngài đã chiến thắng Sa-tan trong giờ phút bị cám dỗ và thử thách, nên Ngài hứa rằng bạn cũng thế, có thể chiến thắng kẻ cám dỗ hằng ngày. Hãy nhớ rằng “Các con đã thuộc về Thượng Đế và chiến thắng những kẻ chống nghịch Chúa Cứu Thế, vì trong các con có Đấng mạnh mẽ hơn thần linh ở trong thế gian” (IGi 4:4).
    Kinh Thánh cũng nhắc đi nhắc lại nhiều lần cho chúng ta biết về tình thương của Thượng Đế. Kinh Thánh luôn luôn cảnh cáo về việc ma quỉ sẽ xen vào giữa chúng ta và Thượng Đế, tìm cơ hội dỗ dành để đưa linh hồn con người vào cạm bẫy. “Hãy cẩn thận, canh phòng đối phó cuộc tiến công của Sa-tan, tên đại tử thù của anh em. Nó lảng vảng quanh anh em như sư tử gầm thét tìm mồi, chực vồ được người nào là xé xác ngay” (IPhi 5:8). Kinh Thánh mô tả một thứ ma quỉ có cá tính con người, kiểm soát một đạo binh gồm nhiều tà thần đang tìm cách thống trị và kiểm soát tất cả mọi sinh hoạt của nhân loại. “Bạo chúa của đế quốc không gian, hiện đang hoạt động trong lòng người chống nghịch Thượng Đế” (Eph 2:2).
    Đừng nghi ngờ sự hiện hữu của ma quỉ.
    Đừng bao giờ nghi ngờ về sự hiện diện của ma quỉ! Ma quỉ có cá tính và rất thật. Nó rất khôn ngoan! Nếu các bạn còn thắc mắc về cá tính của ma quỉ, hãy nhìn trang nhất của tờ nhật báo hôm nay. Nếu bạn cần chứng minh cụ thể, hãy đón nghe chương trình phát thanh hoặc đón xem chương trình truyền hình. Những người đầu óc bình thường không bị móng vuốt của ác tật lại có thể hành động như thế sao? Có thể nào những tấm lòng chỉ chứa tình yêu thương và nhân hậu của Thượng Đế lại có thể quan niệm và thực hành những việc tàn bạo và gian manh mà báo chí tường thuật mỗi ngày? Có thể nào những người có giáo dục, thông minh và ý chí lương thiện ngồi quanh bàn hội nghị quốc tế lại hoàn toàn không hiểu biết nhu cầu và mục tiêu của nhau nếu sự suy tư của họ không bị mây mờ cố ý che phủ và làm hư hoại?
    Mỗi lần tôi nghe một người “sáng suốt” của thời đại chúng ta phủ nhận sự hiển nhiên của một thứ ma quỉ có cá tính, được cá nhân hóa chỉ huy một đạo binh ác thần, tôi bỗng nhớ tới bài thơ sau đây của Alfred J. Hough!
    Con người bây giờ không tin ở ma quỉ như cha ông họ; Họ đã mở toang cửa của giáo điều rộng rãi nhất để cho vua của họ đi qua. Vì thế giới cho rằng ngày hôm nay người ta không còn tìm thấy được trên mặt đất hay trong không gian một dấu chân nào hay một tên lửa nào từ chân mày của ma quỉ phát ra. Ai rình rập bước chân của vị thánh đồ cực nhọc và đào hố cho người sụp chân? Ai gieo cỏ dại trong đồng khi Thượng Đế gieo lúa mì? Người ta cho rằng ma quỉ không làm việc ấy, và dĩ nhiên, điều đó có thật; Nhưng ai đang thực hiện công việc mà chỉ có ma quỉ mới có thể làm? Người ta nói rằng ma quỉ ngày nay không đi đây đi đó như một con sư tử gầm thét. Nhưng chúng ta sẽ qui trách nhiệm cho ai về những xáo trộn triền miên trong gia đình, trong quốc gia, và cả đến những nơi hẻo lánh nhất của địa cầu. Nếu người ta đồng thanh cho rằng không biết ma quỉ chốn nào mà tìm? Có ai chịu tiến lên trước, cúi chào và cho biết tại sao những sự bịp bợm và bạo hành lại xảy ra hằng ngày. Chúng tôi rất muốn biết! Người ta đã chấp nhận khá chắc chắn rằng ma quỉ không có mặt và dĩ nhiên ma quỉ đã đi rồi; Nhưng những người dân thường muốn biết ai đang tiếp tục điều hành công việc ấy?
    Quả thật, ai là người chịu trách nhiệm về sự đê hèn, kinh khiếp và thống khổ xảy ra chung quanh chúng ta? Nếu tội ác không phải là một năng lực mạnh mẽ thì làm thế nào chúng ta xác định được những sự đau khổ mà tất cả chúng ta đều từng trải? Nếu vì những phát minh được cho là khoa học mà chúng ta không tin vào quyền năng siêu phàm của Sa-tan thì nền giáo dục mới đã thực sự ngăn trở đầu óc ta.
    George Galloway đã tóm lược các kết quả đáng nghi ngờ của nền giáo dục hiện nay như sau: “Nói chung trí thức tân tiến ngày nay loại bỏ lý thuyết cho rằng trong vũ trụ có một năng lực hay nguyên lý, hữu ngã hay vô ngã vĩnh viễn chống đối Thượng Đế”.
    Khối óc tân tiến có thể loại bỏ nó thật, nhưng điều này không làm cho chính nguyên lý tội ác biến thể. Tâm trí hiện đại có thể gạt bỏ nó, nhưng việc ấy không khiến cho nguyên lý của điều ác tự nhiên biến mất. Có lần Martin Luther được hỏi làm thế nào để thắng hơn Sa-tan, ông đáp: “À, khi nó tới, gõ cửa lòng tôi và hỏi: ở trong đó?“thì Chúa Giê-xu yêu dấu của tôi sẽ ra cửa và nói: “Đây là chỗ thường trú của Martin Luther nhưng hắn đã dọn nhà đi rồi. Bây giờ thì ta ở đây“. Khi ma quỉ thấy dấu đinh trên đôi bàn tay Ngài, thấy bên sườn bị đâm, nó bèn lập tức bỏ chạy”.
    Tội lỗi là điều chắc chắn.
    Tội lỗi quả là một sự kiện ghê tởm! Nó là một lực quá lớn thách thức tất cả những điều thiện con người có thể cố gắng thực hiện. Nó như một bóng tối luôn sẵn sàng bao phủ bất cứ ánh sáng nào từ trên cao muốn đến với ta. Tất cả chúng ta đều rõ và thấy điều này. Ai cũng ý thức điều đó trong mỗi một hành động của mình. Muốn gọi nó là gì thì gọi, chúng ta đều biết về sự thực hữu hiển nhiên của nó “Vì chúng ta không chiến đấu với người trần gian nhưng với quyền lực vô hình đang thống trị thế giới tối tăm này và với các tà linh trên trời” (Eph 6:12).
    Những người phủ nhận sự hiện hữu của ma quỉ và đồng bọn nó làm sao giải thích được tốc độ bành trướng của tội ác đây? Làm sao có thể cắt nghĩa những chướng ngại không cùng, nằm trên con đường của người công nghĩa? Làm sao có thể chối cãi được rằng tàn phá và tai họa thì xảy ra rất nhanh chóng, trong khi kiến thiết và trùng tu lại tiến hành chậm chạp một cách khó nhọc?
    Nếu bạn thổi vào không khí một điều gian dối, hay thốt ra một lời vu oan - bạn sẽ thấy lời nói như được phép thuật mang đi đến những chân trời góc bể xa xôi nhất. Nhưng nếu bạn nói sự thật, thực hiện một việc gì quảng đại và lương thiện - bạn sẽ thấy lập tức có những lực vô hình ra tay cố che đậy ánh sáng và niềm hy vọng nhỏ bé ấy.
    Cách đây 30 năm khi quyển sách này được viết ra lần đầu không ai tính chuyện xây cất nhà thờ cho ma quỉ, hoặc lập nên các tòa giảng để truyền rao lời của nó. Thế nhưng ngày nay đã có. Lời nói của ma quỉ ở khắp mọi nơi và rất nhiều trường hợp lời nói của ma quỉ được diễn dịch thành những hành động tuyệt vọng. Nếu không có một năng lực vô hình nào đang hành động làm hư hoại tâm linh và làm méo mó tư tưởng con người, bạn làm sao giải thích được lòng hăm hở của con người muốn nghe những gì đê hèn, hạ cấp, xấu xa, và làm ngơ trước những gì đẹp đẽ, tinh sạch, thuần khiết? Người ta chỉ cần lắng nghe những lời phạm thượng đê tiện, cũng đủ biết là Sa-tan vẫn còn sống và mạnh giỏi trên thế gian này.
    Trong chúng ta có người nào, dù chỉ một người thôi, lại từ chối một trái chín ngon để lựa lấy một trái thúi có sâu bọ và có mùi hôi vì hư nát, nếu chúng ta không bị một mãnh lực lớn lao và quỉ quái bắt buộc phải chọn lựa như vậy? Thế nhưng, đó chính là điều tất cả chúng ta vẫn thường làm. Chúng ta luôn luôn bỏ qua những kinh nghiệm phong phú, đẹp đẽ và cao quý để đi tìm cái hào nhoáng rẻ tiền và hạ cấp. Những điều này là công trình của ma quỉ, và chúng đầy dẫy khắp nơi!
    Cuộc chiến đấu giữa thiện và ác.
    Những điều chúng ta chứng kiến trên thế gian chỉ là phản ảnh những cuộc tranh đấu rộng lớn hơn giữa thiện và ác trong thế giới vô hình. Chúng ta thường cho rằng hành tinh của chúng ta là trung tâm điểm của vũ trụ và chúng ta chú trọng quá nhiều vào những biến cố của thế gian. Niềm kiêu hãnh ngông cuồng khiến chúng ta chỉ nhìn nhận và ghi nhớ những gì hiển hiện trước mắt phàm của chúng ta mà thôi. Nhưng có một cuộc tranh đấu vô cùng lớn lao đang diễn ra trong thế giới mà mắt chúng ta không thể thấy được.
    Những nhà thông thái thời xưa đã biết rõ điều này. Họ hiểu rằng có nhiều điều mắt người không thể phân biệt được và tai người không nghe được. Con người ngày nay thích cho rằng họ “sáng tạo” truyền thanh truyền hình và máy điện toán, và họ có khả năng truyền qua không gian những âm thanh nghe được và những hình ảnh thấy được. Thực ra, những làn sóng đó vẫn từng có mà loài người không biết, và có những kỳ quan khác trong không gian lớn lao hơn nhiều mà con người không bao giờ biết đến mảy may. Những kỳ quan này vẫn còn đó và những đấng tiên tri ngày xưa đã biết - dẫu chỉ biết sơ sài về phạm vi của nó hay chỉ nghe âm vang hết sức yếu ớt của trận chiến dữ dội giữa các tinh cầu.
    Một trong những giá mà A-đam phải trả vì đã nghe lời ma quỉ là không còn khả năng nhìn thấy được những tầm vóc thuộc linh. A-đam đã khiến cho chính mình và cho cả thảy nhân loại mất đi khả năng nghe, thấy và hiểu biết những gì không có tính cách vật chất tầm thường. A-đam đã tự ngăn cách mình bên ngoài vòng những kỳ quan và sự rạng rỡ của thế giới vô hình. A-đam đã mất quyền tiên tri thật, mất khả năng nhìn về tương lai để nhờ đó có thể hiểu biết và thực hiện công việc của hiện tại. A-đam đã mất giác quan của sự liên tục, của sự hòa đồng với vũ trụ và mọi sinh vật. A-đam đã tự ngăn cách chính mình với Thượng Đế và trở thành một người xa lạ trong thế giới của Ngài. Ông đã thật sự “chết trong sự gian ác và tội lỗi mình”. Ông đã khiến mình bị “vong thân”, xa cách Thượng Đế.
    G. Cambell Morgan nói: “Khoảng cách giữa chúng ta với Thượng Đế là việc chúng ta không thể biết được và lãnh hội được cái thật gần. Đó là khoảng cách của người mù với ánh hào quang của bức tranh ngay trước mặt anh ta. Đó là khoảng cách giữa người điếc với vẻ đẹp của âm thanh bản giao hưởng đang vang lên quanh anh. Đó là khoảng cách giữa người vô cảm giác với tất cả sự hoạt động của đời sống mà anh ta đang sống”.
    Nhưng nếu thảm kịch hay sự đau ốm đến với chúng ta, nếu chúng ta đau khổ vì hậu quả tội lỗi của chính chúng ta thì chúng ta lại lập tức trách móc Thượng Đế về điều đó! Chúng ta tỏ ra kiên nhẫn và hiểu biết đối với máy vô tuyến truyền hình khi chúng không hoạt động như ý, nhưng chúng ta vội trách cứ Thượng Đế và vũ trụ của Ngài khi chúng ta có một hình ảnh méo mó về vũ trụ đó.
    Nếu có người nào khác phát đạt trong công việc, nếu người nào đó chúng ta cho là không xứng đáng thành công trong khi chúng ta thất bại, thì chúng ta sẽ gào lên cho rằng Thượng Đế bất công. Chúng ta đòi phải giải thích tại sao Thượng Đế cho phép những điều bất công như thế xảy ra! Chúng ta đã quên sự kiện rằng Thượng Đế giống như một đài phát hình vô tuyến trung ương vĩ đại, luôn luôn phát ra hình ảnh hoàn hảo của tình thương và sự công nghĩa, và máy thu hình hỏng chính là chúng ta.
    Điều ác dưới mắt chúng ta.
    Chính tội ác và sự méo mó trong chúng ta đã không cho chúng ta thấy và nếm trải thế giới toàn thiện của Thượng Đế. Chính tội lỗi chúng ta đã làm mờ hình ảnh, đã khiến chúng ta thay vì làm con cái thánh khiết của Thượng Đế, lại trở thành con cái của sự độc ác. Phao-lô đã lên tiếng thay cho tất cả chúng ta khi ông phát biểu: “Tôi chẳng làm điều mình muốn, lại làm điều xấu mình không muốn” (Ro 7:19). Phao-lô đã nhận biết kẻ thù ghê gớm, kẻ đối nghịch của tất cả nhân loại và ông đã kêu lên: “Thật bất hạnh cho tôi! Ai sẽ cứu tôi thoát ách nô lệ của thể xác tội lỗi hư hoại này? Tạ ân Thương Đế, tôi được giải cứu nhờ Chúa Cứu Thế Giê-xu, Chúa chúng ta” (7:2425).
    Đối với Phao-lô, có hai thế lực đối nghịch rất rõ rệt và ông đã nhận biết sâu sắc là mình đã bị giằng xé giữa hai từ lực đó. Sức mạnh của điều thiện lôi kéo tâm trí ông hướng về phía Thượng Đế, trong khi sức mạnh của tội ác cố lôi kéo thân thể ông xuống chỗ chết chóc và diệt vong.
    Bạn cũng đang bị mắc vào hai mãnh lực đó: sự sống và sự chết. Hãy chọn lấy con đường của Thượng Đế vì đó là sự sống. Nếu bạn chọn con đường của Sa-tan tức là bạn chọn con đường của sự chết.

    NỖI TUYỆT VỌNG VÌ CÔ ĐƠN
    Tôi bị chúng quên đi như kẻ chết mà lòng không còn nhớ đến.
    Tôi giống như một cái bình bể nát
    Thi 31:12
    SAU khi phu quân của Nữ hoàng Victoria qua đời, bà nói: “Chẳng còn ai để gọi tôi là Victoria nữa”. Tuy là một nữ hoàng, bà vẫn biết rõ cô đơn có nghĩa gì.
    Vào sinh nhật thứ sáu mươi lăm của mình, H. G. Wells nói: “Tôi đã sáu mươi lăm tuổi, đang cô đơn, lòng không hề bình an”.
    Isadora Duncan, nữ vũ công nhạc kịch lừng danh, từng khiêu vũ trước mặt các bậc đế vương của Âu châu, và được cho là nữ vũ công tài ba nhất của mọi thời đại, nói: “Tôi chưa bao giờ phải ở một mình, nhưng lòng tôi đau đớn, mắt tôi đẫm lệ, tay tôi run rẩy vì mong được sự bình an và niềm vui mà tôi chẳng bao giờ tìm thấy”. Rồi bà nói tiếp rằng, dầu đang sống giữa nhiều triệu người ái mộ mình, thật ra, bà là một người vô cùng cô đơn.
    Mấy năm trước đây, một minh tinh trẻ đẹp của Hollywood, là người dường như có đầy đủ tất cả những gì một thiếu nữ có thể mơ ước, đã tự kết liễu đời mình. Cô ghi một lời ngắn ngủi, vô cùng đơn giản để nhắn lại với mọi người rằng cô ta cô đơn đến mức không thể nào chịu đựng nổi nữa.
    Tác giả Thi-thiên nói: “Tôi giống như con chàng bè nơi rừng vắng, khác nào chim mèo ở chốn bỏ hoang. Tôi thao thức, tôi giống như chim sẻ hiu quạnh trên mái nhà” (Thi 102:67).
    Ông lại nói: “Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; tôi mong chờ người an ủi, song nào có gặp” (Thi 69:20)
    Nỗi cô đơn của nơi hoang vắng.
    Trước hết, có nỗi cô đơn do vắng vẻ. Tôi cảm nhận nỗi cô đơn của đại dương khi chẳng còn tiếng động nào khác hơn là tiếng rì rào dọc theo một bờ biển lởm chởm những tảng đá. Tôi từng cảm thấy nỗi cô đơn trên một cánh đồng cỏ, thỉnh thoảng mới vang lên tiếng tru não nuột của một con chó sói. Tôi cảm thấy nỗi cô đơn của những rặng núi nhấp nhô, chỉ nghe tiếng gió thở dài.
    Người lính canh vì nhiệm vụ phải đứng một mình trong trạm gác; hàng ngàn người sống trong các bệnh viện tâm thần; và những người bị biệt giam trong các lao xá, các trại tập trung, vốn biết rõ ý nghĩa của nỗi cô đơn và nơi hoang vắng.
    Louis Zamperini, vận động viên lừng danh trên đường chạy Thế vận hội từng kể lại nỗi cô đơn khủng khiếp của mình giữa cảnh vắng vẻ, khi anh phải lênh đênh bốn mươi ngày trên một chiếc bè cứu sinh, trong trận Thế chiến thứ hai.
    Trong quyển sách rất hấp dẫn, quyển ‘Cô Đơn’(Alone), Đô đốc Richard E. Byrd kể lại thời gian ông sống đầy hoang mang, não lòng trong bóng tối. Ông phải nằm trong một nhà lều thật sự bị chôn vùi trong dải đất băng giá bao phủ Nam cực. Ông đã phải chịu đựng năm tháng tại đó. Ngày cũng tối đen như đêm. Trong vòng một trăm dặm,chẳng có một sinh vật bất cứ thuộc loại nào sinh sống cả. Cái lạnh gay gắt đến nỗi ông có thể nghe thấy hơi thở của mình đông cứng lại khi gió thổi nó bay ngang tai ông.
    Ông nói: “Ban đêm, trước khi tắt đèn, tôi đã tập thành thói quen thảo kế hoạch cho công việc ngày hôm sau”. Để duy trì sức khỏe, ông buộc phải làm như vậy. Ông tiếp: “Thật là kỳ diệu khi có thể phân chia thời gian như vậy. Nó đòi hỏi tôi phải có một ý thức hết sức phi thường để tự ra lịnh cho chính mình; vì nếu không hoạt động liên tục, các ngày sống ở đó sẽ trở thành vô mục đích; mà nếu vô mục đích, chắc chắn chúng sẽ kết thúc bằng sự tan rã - như những ngày như thế bao giờ cũng kết thúc như vậy”.
    Nỗi cô đơn giữa xã hội.
    Rất có thể bạn cho rằng sống trong vùng đất hoang vu băng giá như thế, Richard Byrd đã là người cô đơn nhất trong toàn thể mọi người. Nhưng nỗi cô đơn giữa xã hội còn tệ hại hơn cả nỗi cô đơn nơi hoang vắng, vì trong nhiều thành phố lớn, còn có sự cô đơn tệ hại hơn thế nữa.
    Những con người khốn khổ sống trong một căn nhà thuê chật hẹp, chẳng bao giờ nhận được một lá thư, nghe một lời khích lệ, được một bạn thân nắm chặt bàn tay; cũng như nhà lãnh tụ xã hội mà tiền bạc dư thừa có thể mua tất cả mọi sự ngoại trừ tình yêu thương và hạnh phúc - đều biết rõ nỗi cô đơn mà ít người có thể cảm thông được.
    Có nỗi cô đơn của những người sống đầu đường xó chợ, trên vỉa hè hay dưới những mái lều bằng giấy bồi, vơ vét thức ăn thừa trong hộp - đó là một nỗi cô đơn có một không hai.
    Một chương trình truyền hình mới đây cho thấy cảnh cô đơn não lòng của một số người già bị bỏ mặc trong những nhà dưỡng lão đổ nát. Thế ngồi vô mục đích, đôi mắt thất thần của họ đã ám ảnh tôi. Họ là những người chết mà hãy còn sống. Thế nhưng ở phần hậu cảnh, có một cụ già bị bỏ rơi ngồi bên chiếc dương cầm cũ cũng bị bỏ đi, chỉ một ngón tay vào bài thánh ca nhan đề “Chúng ta có một bạn hiền, là Chúa Giê-xu”.
    Trong sách Gi 5:1-47, chúng ta đọc câu chuyện về Chúa Giê-xu; một hôm, Ngài đang đi qua các đường phố hẹp của Giê-ru-sa-lem, đến Cửa Chiên, gần ao Bê-tết-đa, Ngài thấy một đám rất đông người, ngồi chờ nước động. Bỗng Ngài chú ý một người dường như đang gặp khó khăn khổ sở hơn tất cả, Ngài dịu dàng hỏi người ấy: “Bạn có muốn lành bệnh không?” Người bại liệt đã tuyệt vọng ấy ngẩng đầu lên và nói: “Thưa ông, chẳng có ai giúp tôi, để khi nước động, thì ném tôi xuống ao”. Bạn hãy nghĩ xem, suốt ba mươi tám năm mỏi mòn chờ đợi, con người đau khổ này bị xô đẩy, chen lấn, đấm đá bởi cả một đám đông tại Giê-ru-sa-lem, cuối cùng, đã nói với Chúa Giê-xu: “Thưa ông, tôi chẳng có ai đưa tôi xuống ao cả”. Ông ta hoàn toàn không có bạn.
    Bạn có thể có được một người bạn, còn thân thiết hơn cả anh em ruột nữa. Chúa Giê-xu có thể giúp bạn có một đời sống vui vẻ, mãn nguyện và vẻ vang. Ở khắp nơi trên thế giới, có triệu triệu người nam lẫn người nữ đang yêu mến và phục vụ Chúa Giê-xu. Ngay lúc tin nhận Ngài, bạn sẽ trở thành thân thiết với họ, hơn cả với bà con thân thuộc của bạn nữa.
    Tại Hoa-kỳ, không có một thành phố nào mà không có một Hội thánh ấm cúng để bạn có thể đến và gặp được những con người tuyệt diệu nhất nước Mỹ. Trong tất cả các cộng đồng tại Hoa-kỳ đều có một màng lưới khổng lồ các Cơ Đốc nhân chân chính đang hoạt động. Ngay lúc bạn siết chặt bàn tay họ, bạn biết chắc rằng mình đã có được những người bạn thân.
    Nhưng trước hết, bạn phải ăn năn tội, dâng trọn tấm lòng và cuộc đời bạn cho Chúa Cứu Thế. Hãy để Ngài tha thứ các tội lỗi quá khứ của bạn, rồi Ngài sẽ nhận bạn vào gia đình Ngài; Ngài sẽ dẫn bạn đến cạnh lò sưởi, để bạn cảm nhận được hơi ấm của ngọn lửa. Nếu hôm nay bạn cô đơn, tôi nài xin bạn hãy đến ngay với Chúa Cứu Thế để biết rõ tình bạn mà Ngài sẽ đem đến cho bạn.
    Nỗi cô đơn do đau khổ.
    Thứ ba, có nỗi cô đơn do đau khổ. Mấy năm trước đây, một thính giả nghe chương trình phát thanh của chúng tôi viết thư cho chúng tôi kể rằng, từ năm năm rồi, bà ta bị chứng sưng khớp xương làm cho bại liệt, phải ngồi một chỗ. Suốt năm năm trường mỏi mòn đau đớn, bà không thể nào vươn vai hay nằm duỗi dài ra được. Nhưng bà viết: “Tôi đã sống một mình trong nhiều ngày, nhưng chưa bao giờ bị cô đơn”. Tại sao vậy? Chính Chúa Cứu Thế đã tạo ra chỗ khác nhau đó. Với Chúa Cứu Thế là Cứu Chúa và là người Bạn chung thủy, thì chính bạn, dù sống một mình, bạn cũng sẽ chẳng bao giờ bị cô đơn.
    Nếu hôm nay bạn đang nằm trên giường của một bệnh viện, bị cô đơn và đau khổ, bạn nên tin chắc rằng Chúa Cứu Thế có thể ban cho bạn ân điển và sức lực của Ngài. Trong lúc nằm đó, bạn vẫn có thể hữu ích cho Ngài. Bạn có thể biết được phần nào về chức vụ cầu thay, là một trong những chức vụ quan trọng nhất trên đất này, khi bạn cầu nguyện cho nhiều người khác.
    Nỗi cô đơn do âu sầu.
    Thứ tư, có nỗi cô đơn do âu sầu. Trong chương 11 của sách Giăng, chúng ta đọc thấy trường hợp của Ma-ri và Mặc-thê. Anh trai của họ là Lã-xa vừa qua đời. Chúa Giê-xu vẫn chưa đến. Họ chỉ còn biết đứng bên thi hài anh mình mà khóc.
    Có lẽ đối với bạn, cuộc đời cũng là một nghĩa địa mênh mông toàn những mồ mả. Có lẽ bạn hiện đứng trong phòng bệnh để chờ đợi một người thân thiết nhất đang nằm ngoài tầm tay mình. Bạn đang khát khao được một ai đó làm bạn với mình.
    Bạn đang cần ai đó, có bàn tay mạnh sức đến với bạn, giúp lau khô những giọt lệ, đưa nụ cười nở lại trên gương mặt, để ban cho bạn niềm vui trong cảnh âu lo sầu muộn. Chúa Giê-xu có thể làm chính điều đó đấy. Kinh Thánh chép: “Hãy trao mọi lo âu cho Chúa, vì Ngài luôn luôn chăm sóc anh em” (IPhi 5:7). Đức Chúa Trời yêu thương con cái Ngài. Nếu bạn sẵn sàng tin cậy và dâng phó chính bạn cho Ngài, thì Ngài có thể gánh lấy nỗi sầu muộn của bạn.
    Nỗi cô đơn do tội lỗi.
    Thứ năm, có nỗi cô đơn do tội lỗi. Trong Gi 13:1-38, chúng ta thấy câu chuyện về Bữa Tiệc Tối Cuối Cùng. Chúa Giê-xu đã nói tiên tri về sự phản bội của Giu-đa. Các môn đệ ngây thơ của Ngài đã kinh ngạc nhìn nhau. Giăng hỏi: “Thưa Chúa, người đó là ai?” Chúa Giê-xu đáp: “Người lấy miếng bánh ta sắp nhúng đây”. Chúa nhúng một miếng bánh, rồi trao cho Giu-đa Ích-ca-ri-ốt, con trai Si-môn; và chúng ta được biết là quỉ Sa-tan đã nhập vào Giu-đa. Chúa Giê-xu bảo ông ta: “Việc con làm, hãy làm cho nhanh”. Kinh Thánh chép: “Lấy miếng bánh xong, Giu-đa vội vã ra đi trong đêm tối”. Giu-đa đi ra - xa khỏi sự hiện diện của Chúa Cứu Thế - và lúc ấy là đêm tối.
    Có lẽ bạn nghĩ rằng mình đã biết được niềm vui và sự bình an vì đã được sanh ra trong gia đình Thượng Đế. Bạn từng nếm trải mối thông công ngọt ngào với những người thuộc về Ngài. Bạn đã được hưởng trọn vẹn hạnh phúc và toại nguyện vì Chúa Cứu Thế hiện diện với bạn, nhưng rồi bạn lại phạm tội. Bạn đã xa lìa sự hiện diện của Chúa Cứu Thế, và nhận thấy bây giờ là đêm tối. Bạn không còn thông công được cả với các Cơ Đốc nhân lẫn với các tội nhân, và chắc chắn bạn không có thể thông công được với Chúa Cứu Thế. Có lẽ chẳng còn có nỗi cô đơn nào cay đắng hơn nỗi cô đơn của một Cơ Đốc nhân sa ngã.
    Thế nhưng, vẫn có sự tha thứ dành cho bạn. Nếu bạn xưng tội của mình và lìa bỏ nó, thì sự thông công giữa bạn với Chúa Cứu Thế được phục hồi. “Nhưng nếu chúng ta thú tội với Chúa, Ngài sẽ giữ lời hứa tha thứ chúng ta và tẩy sạch tất cả lỗi lầm chúng ta, đúng theo bản tánh công chính của Ngài” (IGi 1:9)
    Có lẽ bạn bảo rằng mình đã phạm tội suốt một thời gian dài lắm rồi - rất có thể đúng như vậy. Kinh Thánh bảo rằng khi phạm tội thì người ta cảm thấy vui thích đến một mức độ nào đó. Tuy nhiên, nó vốn ngắn ngủi và vô cùng tai hại. Có lẽ bạn đã được đọc bản tường trình của bác sĩ Kinsey hay một công trình nghiên cứu nào đó, và rất hài lòng khi được biết rằng có rất nhiều tội nhơn cũng xấu xa y như bạn - hoặc có khi còn tồi tệ hơn cả bạn nữa kia. Bạn không cô đơn. Không. Bạn vẫn nằm trong số đông. Hẳn bạn sẽ hỏi, thế thì nỗi cô đơn do tội lỗim đến từ đâu? Hiện nay, có thể bạn là một người trong đám đông, nhưng sẽ có một ngày, từng người trong các bạn sẽ phải ứng hầu một mình trước mặt Thượng Đế Toàn Năng, để chịu sự phán xét của Ngài. Bấy giờ sẽ là tuyệt đỉnh nỗi cô đơn của bạn trên quả đất này, nhưng mới chỉ là phần dự báo cho nỗi cô đơn của hỏa ngục mà thôi.
    Vì đối với tất cả những ai trải qua nẻo đường tội lỗi, thì có một vực sâu của đêm tối bao phủ, cách ly, cô lập họ khỏi tất cả những gì là tình bạn, là sự thông công đẹp đẽ, chân thực. Tội lỗi bao giờ cũng là tối tăm. Tội lỗi luôn luôn là tối tăm. Giu-đa bị cô đơn vì ông ta đã phạm tội. Trong Os 4:17, Thượng Đế phán: “Ép-ra-im mê thần tượng; hãy để mặc nó (cô đơn một mình)”. Vì có lòng tham và tội thờ hình tượng của dân Ép-ra-im mà Thượng Đế phán rằng: “Chớ có giao du, bè bạn với chúng nó. Cứ để mặc chúng nó trong cô đơn”. “Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy” (Es 53:6). Ở đây, một lần nữa, chúng ta thấy nỗi cô đơn do tội lỗi gây ra.
    Một tiếng đồng hồ trước khi đấu súng với Alexander Hamilton, Aaron Burr ngồi trong thư viện của ông ta tại Richmond Hill, New York, viết cho con gái mình, rằng: “Có một nhà hiền triết đã nói: Kẻ nào tưởng chỉ có một mình trong nỗi cô đơn, thì thật ngu dại”. Ngay trước tiếng súng định mạng nổ vang, và hành động đẫm máu được thực hiện, ông đã cảm nhận được nỗi cô đơn do tội lỗi mình gây ra. Chỉ trong vài giờ nữa, ông sẽ trở thành kẻ trốn chạy để xa lánh sự ghê tởm bất ngờ và sâu xa của đồng bào ông. Sự nghiệp chính trị của ông bị tiêu ma vĩnh viễn, và các tham vọng lớn lao của ông cũng tan tành.
    Trong thành phố cũng như ở vùng quê, có hàng ngàn người cô đơn, mang nặng những gánh âu lo phiền muộn, đau khổ và thất vọng hết sức khó chịu của mình; nhưng linh hồn cô đơn nhất vẫn là kẻ mà cuộc sống đang đắm chìm trong tội lỗi. Tôi muốn nói với bạn rằng mỗi một tội mà bạn cố ý bám chặt vào, đều là một năng lực vô cùng mạnh mẽ khiến cho bạn bị cô đơn. Càng cao tuổi bao nhiêu, bạn sẽ càng bị cô đơn bấy nhiêu. Tôi nài khuyên bạn hãy đến dưới chân thập tự giá và xưng nhận rằng mình là một tội nhân, rồi hãy từ bỏ các tội lỗi của mình đi.
    Chúa Cứu Thế có thể ban quyền năng cho bạn để bạn chiến thắng tất cả các tội lỗi và thói xấu trong đời sống bạn. Ngài có thể cắt đứt mọi dây trói buộc, đập tan mọi xiềng xích gông cùm của tội lỗi; nhưng chính bạn, phải ăn năn hối cải, xưng tội và hạ mình đầu phục Ngài trước đã. Ngay giờ này, mọi việc đều có thể được thu xếp, để bạn có thể kinh nghiệm được sự bình an, niềm vui và sự thông công kết bạn với Chúa Cứu Thế.
    Nỗi cô đơn của Chúa Cứu Thế.
    Sau cùng, có nỗi cô đơn của Chúa Cứu Thế. Hàng ngàn người đang chen chúc nhau chung quanh Ngài. Niềm vui lớn của ngày Lễ Vượt-qua lan tràn khắp nơi, nhưng Chúa Giê-xu là người “đã bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm, bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi người ra gì. Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Thượng Đế đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi của chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác của chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Chúa đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Es 53:3-6).
    Chúa Giê-xu rất cô đơn. Ngài đã đến với dân mình, nhưng dân Ngài đã không tiếp nhận. “Nhưng mọi việc xảy ra đây đều làm ứng nghiệm lời các nhà tiên tri trong Thánh Kinh. Khi ấy, tất cả các môn đệ đều bỏ chạy.” (Mat 26:56). Đám đông vừa tung hô: “Hô-sa-na”, thì ngay trong ngày hôm đó, họ cũng đã hò hét: “Đóng đinh nó vào cây thập tự! Đóng đinh nó vào cây thập tự!” Bây giờ, cả đến mười hai môn đệ trung thành với Ngài cũng từ bỏ Ngài.
    Và cuối cùng, chúng ta còn nghe Ngài kêu lên: “Thượng Đế ơi! Thượng Đế ơi! Sao Ngài lìa bỏ Con?” (Mac 15:34). Chẳng những Ngài đã bị bạn bè là loài người lìa bỏ, mà giờ đây, vào giây phút cô đơn tuyệt vọng - vì đang gánh tội lỗi của chúng ta trong thân thể Ngài trên thập tự giá - Ngài cũng bị cả Thượng Đế bỏ rơi nữa! Sở dĩ Chúa Giê-xu phải gánh chịu sự thống khổ và phán xét của hỏa ngục như vậy, chính là vì bạn và vì tôi.
    Hỏa ngục, chính là sự phân cách với Thượng Đế. Hỏa ngục là nơi vắng vẻ, quạnh hiu nhất trong vũ trụ này. Chúa Giê-xu đã nhận lấy sự đau khổ đó là vì bạn, thay cho bạn. Nhưng Thượng Đế phán: Hãy ăn năn, hối cải, tin Chúa Cứu Thế, nhận Chúa Cứu Thế thì bạn sẽ chẳng bao giờ còn phải chịu sầu muộn, cô đơn, và chịu sự hình phạt của hỏa ngục.
    “Vì tất cả những người kêu cầu Danh Chúa đều được cứu rỗi” (Ro 10:13)
    ĐIỀU GÌ XẢY RA SAU KHI CHẾT?
    Chỉ còn một bước cách tôi và sự chết mà thôi.
    ISa 20:3
    NGƯỜI ta thường nghe nói rằng cả cuộc đời chỉ là để chuẩn bị cho cái chết.
    Tác giả Thi-thiên nói: “Ai là người sống mà sẽ chẳng thấy sự chết” (Thi 89:48).
    Có thể coi ngày nay là một thời đại tự do tư tưởng của thực nghiệm cấp tiến. Chúng ta đã cố tìm cách thay đổi thế giới và những định luật chi phối nó bằng kiến thức, khoa học, phát minh, khám phá, triết học và tư tưởng duy vật. Chúng ta đã cố đặt lên ngôi những vị thần giả hiệu, tiền tài, danh vọng, và sự khôn ngoan của con người; nhưng dù chúng ta có cố gắng đến đâu chăng nữa, cuối cùng vẫn là: “Theo thông lệ mỗi người chỉ chết một lần rồi bị Chúa xét xử” (He 9:27).
    Giữa cuộc sống, chúng ta thấy sự chết khắp mọi nơi. Tiếng rú của xe cứu thương, đèn hiệu ở những nhà xác, nghĩa địa chúng ta thường đi qua, chiếc xe tang lách mình giữa những dòng xe, tất cả nhắc nhở chúng ta rằng tử thần có thể gọi chúng ta bất cứ lúc nào. Không ai trong chúng ta biết chắc lúc nào việc đó xảy ra nhưng chúng ta biết rõ là nó có thể đến bất cứ lúc nào.
    Có người đã nói: “Điều chắc chắn duy nhất về đời sống, là sự chết”. Oscar Wilde nói: “Từ nay trở đi, con người có thể thắng mọi sự để tồn tại - ngoại trừ sự chết”. Các sách đề cập sự chết và trạng thái hấp hối đã được tung ra rất nhiều mấy lúc gần đây - cũng như có nhiều sách của những người tự xưng là đã trải qua sự chết rồi sống lại kể về nó. Thay vì tìm phương cách phục hòa với Thượng Đế, người đời lại mở nhiều lớp học để dạy về tình trạng hấp hối và phương pháp đối diện với cái chết - chấp nhận đó là một thành phần bình thường của đời sống. Thật vậy, cả nhân loại đang xếp hàng ngồi chờ chết, đang thọ án tử hình. Chúng ta sẽ chết cách nào hay bao giờ sẽ chết, thì không phải là vấn đề chính yếu, mà vấn đề là sau khi chết, chúng ta sẽ đi đâu?
    Mỗi năm có hằng trăm ngàn người bước lên xe và không ngờ rằng đó là chuyến đi cuối cùng của họ. Dù đã áp dụng và tăng cường tất cả các biện pháp an ninh, hằng trăm ngàn người khác vẫn chết vì tai nạn tại nhà, khi đầu óc họ không hề có một ý nghĩ gì về sự chết. Vì sự chết không ngừng rình rập con người, và mặc dù y khoa và những kỹ sư khai chiến liên miên với nó, rốt cục, sự chết vẫn luôn luôn chiến thắng.
    Nhờ cuộc chiến trường kỳ của khoa học, giờ đây chúng ta kéo dài cuộc sống thêm vài năm nữa, nhưng sự chết vẫn sừng sững ở cuối đường, và tuổi thọ trung bình của một người không quá xa điều Kinh Thánh ghi nhận là bảy mươi năm.
    Bệnh đau tim vẫn cướp đi quá nhiều người giữa thời xuân xanh. Bệnh ung thư vẫn giáng nỗi đau đớn vào cơ thể hàng vạn người. Bệnh lao, hoại huyết, tê liệt, sưng phổi vẫn hoành hành, mặc dù sự nghiên cứu y khoa đã giảm thiểu rất nhiều số nạn nhân hằng năm. Ung thư da và Liệt kháng (AIDS hay SIDA) là hai chứng bệnh của thập kỷ 80. Chúng đang lộng hành trên thế giới và được báo động là đã hiện diện trên tất cả các đại lục. Nhưng dù thống kê tình trạng có lạc quan đến đâu, tuổi thọ chúng ta từ năm 1900 đến nay có gia tăng bao nhiêu, hay những con số ghi nhận các vụ giết người, tự tử và những hình thức chết bất đắc kỳ tử khác có thế nào đi nữa, sự kiện không tránh được là cái chết vẫn không thay đổi - vẫn là kinh nghiệm cuối cùng của chúng ta trên quả đất!
    Cuộc chiến đấu suốt đời.
    Từ lúc một hài nhi ra đời, cuộc chiến chống tử thần bắt đầu. Người mẹ dành nhiều năm chăm chú vào sự bảo vệ đời sống của đứa trẻ. Bà chăm sóc thức ăn, quần áo, môi trường sinh hoạt, khám sức khỏe, tiêm chủng, nhưng dù có chăm sóc và yêu thương đến đâu, đứa trẻ cũng đã bắt đầu chết dần.
    Không bao lâu, những dấu hiệu hiển nhiên của sự suy nhược trở nên rõ rệt. Nha sĩ sẽ xem xét những chiếc răng hư của chúng ta. Kính mắt sẽ được dùng đến để hỗ trợ thị giác đang suy yếu. Da mặt sẽ nhăn và trễ xuống với thời gian, đôi vai chúng ta sẽ khòm, bước đi chúng ta sẽ chậm lại và kém vững vàng. Xương cốt cũng dễ gãy hơn khi sức lực chúng ta giảm sút và chúng ta cứ tiến dần về sự chết mà không hay biết.
    Sự bảo hiểm sức khoẻ và bệnh viện được đem áp dụng để giúp chúng ta chịu đựng nhẹ nhàng. Người ta đóng bảo hiểm nhân thọ để dự phòng những chi phí cuối cùng và chúng ta sẽ chợt nhận ra rằng trọn cả cuộc đời chúng ta là một trận chiến vĩ đại và không bao giờ dứt với sự chết. Chúng ta sẽ nhận thấy rằng tất cả chúng ta đang dự một cuộc đua, điều chúng ta hy vọng nhiều nhất trong đó là được một ít thì giờ nữa, và thắng kẻ đối địch được chừng nào hay chừng nấy, nhưng cuối cùng ta biết là sự chết sẽ luôn luôn chiến thắng!
    Kẻ thù của chúng ta là gì mà bí mật như vậy - bí mật như chính sự sống. Vì chúng ta thấy sự sống đầy dẫy chung quanh ta, trong cây cỏ, muông thú cũng như trong con người, chúng ta không thể tạo ra cũng không thể giải thích được. Chúng ta cũng không thể giải thích được sự chết mặc dù chúng ta ý thức là có sự chết cũng như có sự sống vậy. Tuy nhiên chúng ta ít muốn đề cập đến sự chết hay suy xét về tầm quan trọng của nó! Khi sự sống xuất hiện và khi một đứa trẻ ra đời, chúng ta vui mừng. Khi sự sống ra đi và một người qua đời, chúng ta cố quên càng sớm càng tốt.
    Ngày nay có hơn bốn tỷ người sống trên hành tinh này. Hầu hết đều sẽ chết trong vòng một trăm năm. Thân thể họ sẽ không còn cảm giác gì. Nhưng còn linh hồn họ - phần quan yếu và vĩnh cửu của sự sống? Đây mới là chỗ huyền nhiệm. Cái gì mất đi khi con người chết? Và cái mất đi sẽ về đâu?
    Tại sao loài người chối bỏ Thượng Đế?
    Mấy năm trước đây có một ký giả qua đời tại Denver thuộc tiểu bang Colorado. Giữa tang lễ, tang gia nghe tiếng ông nói đã được ghi âm như sau: “Đây là tang lễ của tôi. Tôi là một người vô thần và có thái độ này trong nhiều năm rồi. Tôi tuyệt đối khinh miệt sự vô nghĩa của thần học. Các tu sĩ là những người có tinh thần khiếp nhược. Các phép lạ là sản phẩm của tưởng tượng. Nếu bốn phóng viên được phái đi dự một cuộc hành hình và viết bài tường thuật một cách méo mó như những sứ đồ trong Kinh Thánh đã làm thì phải đuổi họ ngay lập tức. Tôi không muốn nghe bài hát tôn giáo. Đám tang này phải được cử hành một cách hoàn toàn hợp lý”.
    Hãy đối chiếu đoạn văn trên với bài thơ đẹp đẽ về cái chết, mà Alfred Lord Tennyson đã mô tả trong ‘In Memorian: “Ngón tay của Thượng Đế chạm đến anh ta, và anh ta ngủ”.
    Mỗi thời đại đều sản sinh những hạng người vì chống nghịch Thượng Đế nên đã cố tình chế nhạo và gièm pha Hội thánh, Kinh Thánh và Chúa Cứu Thế Giê-xu. Họ la lối để chống lại tiếng nói của Thượng Đế nhưng không nêu được một bằng chứng hiển nhiên nào. Lịch sử cho thấy có nhiều George Bernard Shaw, nhiều Robert Ingersoll, nhiều B. F. Shinner và nhiều triết gia, đã tìm đủ lý lẽ mong hủy diệt sự khiếp sợ trước cái chết.
    Hãy nghe nhà nhân chủng học nói về cái chết trong rừng sâu. Tại đó không có sự “vô lý của thần học” vì không ai nghe nói về Chúa Cứu Thế Giê-xu. Vậy sự chết tại đây là cái gì? Trong một vài bộ lạc, người già bị đem bỏ vào bụi cho thú dữ ăn. Như thế tránh cho người trẻ phải chứng kiến sự chết. Trong một bộ lạc khác, người chết bị lột hết quần áo và thân thể bị sơn trắng. Giờ này qua giờ khác, những tiếng than khóc và gào thét báo cho thế giới biết là một linh hồn sắp lìa khỏi xác. Sự chết ngoài vòng ảnh hưởng Cơ Đốc giáo mang đầy vẻ ghê gớm và tuyệt vọng. Chẳng hạn với những người Hồi giáo thì người ta trông mong được chết trước hạn kỳ, vì người Hồi giáo tin rằng có nhiều thú vui đang chờ đợi người tận trung - nếu họ chết trong lúc tàn sát những kẻ bất trung hay đang chiến đấu vì đạo của mình.
    Hãy so sánh với cái chết của một Cơ Đốc nhân. Khi Chúa Cứu Thế xuống thế gian, Ngài đã đem lại một hướng nhìn mới đối với sự chết. Con người luôn luôn xem sự chết như kẻ thù, nhưng Chúa Giê-xu phán là Ngài đã chinh phục được sự chết và đã trừ khử được nọc của nó. Cứu Chúa Giê-xu là Nhà Đại Hiện Thực khi Ngài khuyến cáo con người hãy chuẩn bị cho sự chết, chắc chắn thế nào cũng xảy đến. Chúa Giê-xu phán chớ lo lắng về sự chết của thể xác, nhưng nên lo lắng về cái chết vĩnh viễn của linh hồn thì hơn.
    Tôi nghĩ đến bà Helen Morken, chờ chết, chồng và con cái vây quanh để hát thánh ca trong bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày. Thật ra, bà đang ca hát trước mặt Chúa. Và tôi nghĩ đến các thánh đồ của Thượng Đế mà Alexander Smellie đã mô tả trong quyển sách của ông nhan đề ‘Những nhân vật của giao ước’. Ông kể về các vĩ nhân có đức tin đã chịu chết trong “các giai đoạn tàn sát” tại Tô-cách-lan, khi những cuộc xử tử là một cái gì rất lý thú. Bấy giờ chưa có ghế điện, chẳng có tiểu đội xử bắn, chẳng có thuốc mê tiêm vào khiến cho kẻ chết càng bị ít đau đớn càng hay. Ấy là thời kỳ của cực hình tra tấn - rút móng tay, đánh gãy ống quyển, treo cổ và sau đó là phân thây. Vì lý do ấy mà mỗi người được Smellie mô tả đều kinh sợ cái chết. Thế nhưng, khi phải chết họ đều chết trong niềm vui xuất thần!
    Kinh Thánh cho biết có hai sự chết: một là sự chết vật chất và sự chết kia là sự chết đời đời. Chúa Giê-xu cảnh cáo rằng chúng ta phải sợ cái chết thứ nhì gấp bội cái chết thứ nhất. Ngài gọi sự chết thứ nhì là địa ngục, là sự chia cách đối với Thượng Đế. Ngài phán rằng cái chết của thể xác bạn chẳng có nghĩa gì so với một linh hồn bị cố tình phân rẽ đời đời với Thượng Đế.
    Cái chết của một thánh đồ.
    Những lời trăn trối cuối cùng của những người đang hấp hối là những tài liệu nghiên cứu rất tốt cho những ai muốn tìm thực tế khi đối diện với cái chết.
    Matthew Henry: “Tội lỗi cay đắng. Tôi ca ngợi Thượng Đế vì được sự hậu thuẫn từ bên trong”.
    Martin Luther: “Chúa chúng ta là Thượng Đế, Đấng ban sự cứu rỗi: Thượng Đế là Chúa, nhờ đó chúng ta thoát chết”.
    John Knox: “Hãy sống trong Chúa Giê-xu, thì xác thịt chẳng còn sợ chết”.
    John Wesley: “Điều tốt nhất là Thượng Đế ở cùng chúng ta. Xin tạm biệt! Xin tạm biệt!”.
    Richard Baxter: “Tôi đau, nhưng bình an. Tôi được bình an”.
    William Carey, giáo sĩ: “Khi tôi đã đi rồi, hãy nói ít về tiến sĩ Carey, mà nói nhiều về Chúa Cứu Thế của tiến sĩ Carey”.
    Adoniram Judson: “Tôi không mệt mỏi vì công việc của tôi, cũng không mệt mỏi vì thế gian; nhưng khi Chúa Giê-xu gọi tôi về, tôi sẽ đi với niềm vui của một cậu bé được giải thoát khỏi trường học”.
    Nhưng người Cơ Đốc đã xưng nhận tội lỗi mình và nhờ đức tin tiếp nhận Chúa Giê-xu là Đấng Cứu Thế thật khác biết bao.
    Tấn sĩ Effie Jane Wheeler từng dạy Anh ngữ và văn chương nhiều năm tại trường đại học mà tôi theo học. Bà nổi tiếng về sự tin kính cũng như sự hiểu biết về những đề tài bà giảng dạy. Tháng 5 năm 1949, vào ngày Lễ Chiến sĩ trận vong của Hoa-kỳ, bà viết cho viện trưởng Tấn sĩ Edman các đồng nghiệp và các cựu sinh viên bức thơ sau đây:
    “Tôi cảm ơn quý vị đã dành rất nhiều phút giây để đọc bức thư này trong nhà thờ vì trước khi quý vị đi nghỉ hè tôi muốn quý vị biết sự thật về tôi như tôi vừa biết hôm thứ sáu. Đến phút chót bác sĩ đã cho tôi biết kết quả thật sự về bệnh chứng của tôi sau nhiều tuần đau ốm, đó là bị ung thư không thể giải phẫu được. Nếu là một Cơ Đốc nhân, chắc ông ta đã không ngần ngại hoặc bị dao động như thế, vì ông thừa biết như quý vị và tôi rằng, khi chúng ta sống trong ý muốn và hiện diện của Chúa, chúng ta tiếp nhận sự sống hay sự chết như nhau. Nếu Chúa muốn tôi sớm đến với Ngài, tôi sẽ vui vẻ ra đi. Xin quý vị chớ buồn tí nào vì tôi. Tôi không nói lên lời từ giã lạnh lùng nhưng xin gửi lời nồng nhiệt hẹn tái ngộ quý vị, trong đất lành nơi mà may ra tôi sẽ được phép đứng bên vén màn đón quý vị vào. Với lòng tràn đầy yêu thương gởi đến mỗi bạn. Ký tên: Effie Jane Wheeler”.
    Đúng hai tuần sau khi viết bức thư trên, Tấn sĩ Wheeler đã đi vào sự hiện diện của Chúa, Đấng đã giữ lời hứa trừ khử nọc độc của sự chết.
    Đang khi tôi viết chương sách này, tôi nhận được cùng một lúc bốn bức thư. Một bức là của một nữ thánh đồ chín mươi bốn tuổi, đang nóng lòng muốn được về với Chúa; một bức là của một phụ nữ trong khám tù tử hình, từ khi trở thành Cơ Đốc nhân sáu năm trước đây cho đến nay, vẫn có thể nhìn thấy phía sau ngày hành quyết đang đến gần, là sự vinh hiển đang trải trước mặt mình; và hai bức thư khác của những phụ nữ mà chồng họ đã qua đời sau nhiều năm sau khi họ chung sống (một bà chỉ ít lâu nữa là cử hành lễ kỷ niệm ngày cưới của họ, lần thứ bốn mươi chín). Mỗi người đều nhìn xa hơn cái chết để thấy vinh hiển trước mặt mình.
    Nhân vật D. L. Moody đã nói trước lúc lâm chung: “Đây là chiến thắng của tôi, hôm nay là ngày đăng quang của tôi! Thật là quang vinh!”.
    Kinh Thánh dạy rằng bạn là một linh hồn bất tử. Linh hồn bạn vĩnh cửu và sẽ sống đời đời. Nói cách khác, con người thật sự của bạn - phần biết suy tư, cảm xúc, mơ mộng, ao ước; cái cá tính, bản ngã của bạn - sẽ không bao giờ chết. Kinh Thánh dạy rằng linh hồn sẽ sống mãi mãi ở một trong hai nơi - thiên đàng hay địa ngục. Nếu bạn không phải là một Cơ Đốc nhân và bạn chưa bao giờ được sanh lại, thì Kinh Thánh dạy rằng linh hồn đi ngay đến một nơi Chúa Giê-xu gọi là Âm phủ, ở đó bạn sẽ chờ đợi sự phán xét của Thượng Đế.
    Một đề tài chẳng ai ưa.
    Tôi biết rằng đề tài Địa ngục không phải là điều thích thú cho lắm. Đề tài này rất ít người ưa, thường gây tranh luận và hiểu lầm. Tuy nhiên, trong những chiến dịch truyền giảng của tôi ở nhiều nơi, tôi đều dành một tối để thảo luận đề tài trên. Do sự trình bày của tôi, trong nhiều ngày liên tiếp, các nhật báo đăng nhiều thư độc giả tranh luận những điểm đồng y và không đồng ý, vì Kinh Thánh hầu như cũng đề cập đến vấn đề này không kém bất cứ vấn đề nào khác. Lúc thảo luận với sinh viên các đại học đường, tôi luôn luôn bị đặt câu hỏi sau đây “Địa ngục như thế nào? Có lửa ở Địa ngục không?” và những câu hỏi tương tự. Vì là người giảng đạo, tôi có bổn phận phải giải đáp. Tôi không thể làm ngơ, dù những lời tôi nói khiến một số người khó chịu và lo âu. Tôi cho rằng đây là chỗ khó chấp nhận nhất trong tất cả mọi giáo huấn của Cơ Đốc giáo.
    Có người cho rằng mọi người chắc sẽ được cứu, Thượng Đế là Thượng Đế của tình yêu nên Ngài sẽ không bắt ai phải xuống Địa ngục. Họ cho rằng những từ ngữ đời đời, bất diệt thật ra không có nghĩa là vĩnh viễn. Tuy nhiên, chính từ ngữ nói về sự xa cách vĩnh viễn đối với Thượng Đế cũng được dùng để chỉ tính cách vô tận của Thiên đàng. Có người đã nói: “Sự công bình đòi hỏi chúng ta phải quan niệm giá trị thời gian của niềm vui nơi người công nghĩa và sự hình phạt nơi người độc ác bằng nhau, vì nguyên văn Hy-lạp đã dùng cùng một từ ngữ để chỉ thời gian của hai trường hợp”.
    Nhiều người khác cho rằng sau khi chết những người nào chối từ không nhận lấy kế hoạch cứu chuộc của Thượng Đế thì phải bị tiêu diệt, không bao giờ tồn tại nữa. Nghiên cứu từng trang Kinh Thánh tôi không thể tìm thấy một bằng chứng nào hậu thuẫn cho quan điểm này. Kinh Thánh dạy rằng dù được cứu hay bị hư mất, linh hồn và bản thể vẫn hiện hữu đời đời một cách ý thức.
    Cũng có những người khác cho rằng sau khi chết vẫn còn có thể có sự cứu rỗi, rằng Thượng Đế vẫn còn dành một cơ hội thứ hai. Nếu điều này đúng thì sao Kinh Thánh không hề gợi ý, mà Kinh Thánh luôn luôn cảnh cáo rằng: “Giờ đây là kỳ thuận tiện, hiện nay là ngày cứu rỗi” (IICo 6:2).
    Kinh Thánh nói gì?
    Có thể trích dẫn hàng chục đoạn Kinh Thánh để chứng minh sự kiện là Kinh Thánh dạy rằng có một Địa ngục cho tất cả những ai nhất định và cố ý không tiếp nhận Chúa Cứu Thế làm Chúa và Đấng Cứu rỗi.
    “Con bị đốt trong lò lửa này, đau đớn quá" (Lu 16:24).
    “Ta sẽ sai thiên sứ tập họp những kẻ gây ra tội lỗi và người gian ác lại, ném chúng vào lò lửa là nơi đầy tiếng than khóc và nghiến răng” (Mat 13:41-42).
    “Cũng vậy, trong ngày tận thế, thiên sứ sẽ đến chia rẽ người gian ác với người công chính, ném người gian ác vào lò lửa, là nơi khóc lóc và nghiến răng" (13:4950).
    “Ta cũng sẽ bảo nhóm người bên trái: Những người gian ác đáng nguyền rủa kia! Đi ngay vào lò lửa không hề tắt dành cho Sa-tan và các quỉ sứ” (Mat 25:41).
    “Người sẽ sảy lúa thật sạch, đem trữ vào kho và đốt rơm rác trong lò lửa chẳng hề tắt” (3:12).
    “Chúa sẽ báo ứng những người không muốn biết Thượng Đế và khước từ Phúc Âm của Chúa Giê-xu chúng ta. Họ sẽ bị hình phạt đời đời trong Địa ngục, vĩnh viễn xa cách mặt Chúa, không còn thấy vinh quang và quyền năng Ngài” (IITe 1:8-9).
    “Đều phải uống chén rượu hình phạt nguyên chất của Thượng Đế. Họ phải chịu khổ hình trong lửa và diêm sinh trước mặt các thiên sứ thánh và Chiên Con. Khói lửa bốc lên nghi ngút vô tận. Những người thờ lạy con thú và tượng nó cùng những ai mang dấu hiệu con thú, ngày đêm chịu khổ hình không ngớt” (Kh 14:10-11).
    “Tử vong và Âm phủ bị quăng xuống hồ lửa. Vào hồ lửa, là chết lần thứ hai. Người nào không có tên trong Sách Sự Sống phải bị quăng xuống hồ lửa” (20:14-15).
    “Còn những kẻ hèn nhát, vô tín, hư hỏng, sát nhân, gian dâm, tà thuật, thờ thần tượng và dối trá đều phải vào hồ lửa diêm sinh. Đó là sự chết lần thứ hai” (21:8).
    Thế nhưng tôi lại nghe có người bảo: “Tôi không tin có Địa ngục, tôn giáo của tôi là Bài Giảng Trên Núi của Chúa”.
    Vâng, chúng ta hãy cùng xem một đoạn trong Bài Giảng Trên Núi: “Nếu mắt bên phải gây cho các con phạm tội, cứ móc quăng đi, vì thà chột mắt còn hơn cả thân thể bị ném vào hỏa ngục. Nếu tay phải gây cho các con phạm tội, cứ cắt bỏ đi, vì thà cụt tay còn hơn cả thân thể bị sa vào hỏa ngục” (Mat 5:29-30).
    Ở đây Chúa Giê-xu dạy tỏ tường rằng có một Địa ngục. Đúng ra, Chúa Giê-xu đã kể nhiều chuyện và cho những ví dụ về vấn đề này cùng luôn luôn cảnh cáo loài người về sự dại dột sống cuộc đời tội lỗi và giả dối trên mặt đất.
    Hỏa ngục ngay trên trần gian.
    Việc người ác phải chịu một cảnh địa ngục nào đó trên mặt đất là một điều chắc chắn. Kinh Thánh chép: “Phải biết rằng tội chắc sẽ phải đổ lại trên các ngươi” (Dan 32:23). Kinh Thánh cũng chép: “Gieo gì gặt nấy” (Ga 6:7). Tuy nhiên, quanh chúng ta có bằng chứng là một số người ác hình như được thịnh đạt và người công bình bị đau khổ vì sự công nghĩa của họ. Kinh Thánh dạy rằng rồi đây sẽ có một thời kỳ đoán định và sự công bình sẽ được thực hiện. Có ai đó đã nói rằng: “Chúng ta không bị hình phạt vì cớ tội lỗi chúng ta, mà bởi tội lỗi chúng ta”. Cả hai trường hợp đều đúng cả.
    Liệu Thượng Đế yêu thương có xô đẩy người ta xuống Địa ngục không? Câu trả lời là - Có! Vì Ngài công bình nhưng Ngài không cố ý làm điều đó. Con người tự kết tội mình bằng cách từ chối con đường cứu rỗi của Thượng Đế. Bởi tình yêu và sự thương xót, Thượng Đế đã ban cho con người một lối thoát, một con đường cứu rỗi, một niềm hy vọng đợi chờ những điều tốt đẹp hơn. Con người, trong sự mù quáng, ngu độn, cứng đầu, vị kỷ và yêu thích sự vui thú tội lỗi, từ chối phương cách giản dị của Thượng Đế giúp họ thoát ra nỗi đau đớn cùng cực của sự đọa đày vĩnh viễn.
    Giả sử tôi bị ốm và cho mời bác sĩ. Bác sĩ cho tôi một toa thuốc. Nhưng sau khi suy nghĩ lại, tôi quyết định làm ngơ không nghe lời khuyên của bác sĩ và từ chối uống thuốc. Vài ngày sau, bác sĩ trở lại, ông ta thấy bệnh trạng của tôi tồi tệ hơn trước. Có thể nào tôi chê trách bác sĩ hay đổ trách nhiệm cho ông ta? Bác sĩ đã biên toa cho tôi, đã cho tôi biết phương thuốc trị bệnh, nhưng tôi đã từ chối.
    Cũng một lẽ ấy, Thượng Đế đã cho biết phương thuốc đối với bệnh tật của nhân loại. Phương thuốc đó là đức tin cá nhân và sự xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu. Phương thuốc đó là phải sanh lại, chúng ta sẽ thảo luận điều này trong một chương khác. Nếu cố tình chối bỏ phương thuốc đó, chúng ta phải gánh chịu hậu quả và không thể oán trách Thượng Đế. Nếu chúng ta chối từ phương thuốc của Thượng Đế, thì đó là lỗi của Ngài hay sao?
    Người không tin đời sống vẫn còn sau khi chết, không tin người ta có thể lên thiên đàng hay xuống hỏa ngục, không chịu tin vào những gì Thượng Đế phán dạy trong Kinh Thánh về thiên đàng và hỏa ngục, sẽ có ngày thức dậy trong đời sau để nhận thấy là mình đã sai lầm, đã bị mất tất cả. Tạp chí ‘Dân chúng’(People) có trích đăng câu nói của Lem Banker, tay cờ bạc đứng hàng đầu nước Mỹ, bảo rằng: “Đừng bao giờ đánh cuộc bạn được bao nhiêu mà chỉ đánh cuộc xem bạn có thể bị thua bao nhiêu mà thôi”. Bạn có thể trả nổi sự thua thiệt, mất mát, nếu bạn bị mất đi linh hồn đời đời của mình không?
    Có người khác hỏi rằng “Địa ngục có tính chất như thế nào?” Trong Kinh Thánh có bốn danh từ được dùng để chỉ Địa ngục. Danh từ thứ nhất là Sheol nghĩa là “trạng thái vô hình”, được dùng ba mươi mốt lần, là Địa ngục trong Cựu Ước. Những hình dung từ buồn rầu, đau đớn và hủy diệt có liên hệ với danh từ này.
    Danh từ thứ nhì là ‘Hades’ của tiếng Hy-lạp, được dùng mười lần trong Tân Ước, đồng nghĩa như chữ Sheol trong Cựu Ước. Sự phán xét và đau khổ luôn có liên hệ đến danh từ này.
    Danh từ thứ ba là ‘Tartarus’ chỉ được dùng một lần trong IIPhi 2:4, khi nói đến các thiên sứ bất phục tòng bị quăng xuống Tartarus. Danh từ này chỉ chỗ phán xét như nhà tù, xà lim, nơi có sự tối tăm ghê gớm.
    Danh từ thứ tư là ‘Gehenne’, được dùng mười một lần và dịch là “Địa ngục” ở Tân Ước. Đó là hình ảnh Chúa Giê-xu dùng để mô tả thung lũng Hin-nôm, một chỗ ở ngoài thành Giê-ru-sa-lem, nơi đầy rác rưởi và cặn bã cháy hoài không dứt.
    Nhiều người khác hỏi: “Kinh Thánh dạy về lửa Địa ngục có theo nghĩa đen không?”. Nhiều người khác hỏi: “Kinh Thánh có dạy về lửa theo nghĩa đen trong hỏa ngục không?” Nếu đó không phải là lửa theo nghĩa đen, thì nó còn là một cái gì tệ hại hơn nữa. Chắc chắn Chúa Giê-xu không hề thêm thắt gì đâu. Dĩ nhiên Kinh Thánh đã nhiều lần dùng chữ lửa theo nghĩa bóng. Tuy nhiên, Thượng Đế có một thứ lửa đốt cháy mà không hề tàn.
    Khi Mai-sen thấy bụi gai cháy, ông lấy làm lạ vì bụi gai không bị thiêu tàn. Ba thanh niên Do-thái bị quăng vào lò lửa vì một lòng trung tín với Thượng Đế; trong lò lửa họ không bị cháy vì Chúa gìn giữ và cứu giúp họ; đúng hơn không có một sợi tóc nào của họ bị sém (Da 3:1-30).
    Mặt khác, Kinh Thánh nói về lưỡi chúng ta “bị lửa địa ngục đốt cháy” (Gia 3:6) mỗi khi chúng ta nói xấu người bên cạnh. Điều này không có nghĩa là mỗi khi chúng ta nói xấu láng giềng thì bị lửa thiêu đốt theo nghĩa đen. Nhưng dù nghĩa đen hay nghĩa bóng, việc đó không ảnh hưởng đến thực tại. Nếu không thực sự có lửa, thì Thượng Đế đã dùng một ngôn ngữ tượng trưng để chỉ một cái gì khác có thể còn đáng ghê sợ hơn nữa.
    Cách biệt với Thượng Đế.
    Điều chính yếu, Địa ngục là sự phân cách với Thượng Đế. Đó là sự chết thứ hai được mô tả như một sự lưu đày vĩnh viễn có ý thức, khỏi những gì gọi là sáng láng, vui thú, đẹp đẽ, công nghĩa và hạnh phúc. Kinh Thánh có nhiều chỗ mô tả cách ghê rợn về tình trạng khủng khiếp mà linh hồn sẽ gặp phải sau khi qua đời.
    Điều lạ lùng là loài người chuẩn bị cho mọi việc ngoại trừ sự chết. Chúng ta chuẩn bị để học hỏi. Chúng ta chuẩn bị để làm việc. Chúng ta chuẩn bị cho nghề nghiệp. Chúng ta chuẩn bị cho hôn nhân. Chúng ta chuẩn bị cho tuổi già. Chúng ta chuẩn bị cho mọi sự trừ phút giây chúng ta đều phải chết. Tuy nhiên Kinh Thánh chép mọi người chúng ta ai cũng phải chết một lần.
    Sự chết là một biến cố mà mọi người cho là không tự nhiên nếu xảy ra cho mình, nhưng xảy ra cho người khác là điều tự nhiên. Sự chết đồng hóa tất cả mọi người thành một đẳng cấp. Nó tước đoạt bạc triệu của người giàu và manh áo rách của người nghèo. Nó làm nguội lạnh sự tham lam hà tiện và nguôi ngoai lửa dục vọng đam mê. Mọi người đều không muốn biết đến cái chết, tuy nhiên tất cả đều phải đương đầu với nó - từ hoàng tử đến gã nông dân, người điên rồ và bậc hiền triết, kẻ giết người và thánh nhân. Sự chết không giới hạn tuổi, không thiên vị. Đó là điều mà tất cả mọi người sợ hãi.
    Khi tuổi đã về chiều, Daniel Webster đã kể lại chuyện ông đi dự nhóm tại một nhà thờ miền quê. Vị mục sư là một người có tuổi, tánh tình giản dị, tin kính. Sau những nghi thức khai mạc, ông đứng lên đọc Kinh Thánh rồi nói một cách vô cùng đơn sơ nhưng nóng bỏng: “Thưa quí vị, chúng ta chỉ có thể chết một lần”.
    Về sau, khi bình luận về bài giảng này, Daniel Webster nói: “Dù câu nói trên có vẻ lạnh lùng và yếu ớt, ngay lúc đó, nó là những lời gây xúc động và thức tỉnh nhất mà tôi chưa bao giờ được nghe”.
    Điểm hẹn với thần chết.
    Thật rất dễ cho rằng người khác phải giữ lời hẹn gặp gỡ sự chết nhưng thật khó để nhớ rằng chúng ta cũng phải giữ lời hẹn đó. Khi chúng ta trông thấy những người lính đi ra mặt trận hay nghe tin về một tử tội hoặc đi thăm một người bạn bị thương gần chết, chúng ta ý thức được một sự nghiêm trọng nào đó đang vây quanh những người này. Sự chết hẹn gặp tất cả mọi người và kỳ hẹn chỉ là thời gian. Có những cuộc hẹn hò khác trong đời, gặp gỡ vì công việc hay du hí, chúng ta có thể bỏ qua, sai hẹn và gánh lấy hậu quả, nhưng đây là cuộc gặp gỡ không ai có thể lãng quên, không ai có thể sai hẹn. Người ta chỉ có thể gặp nó một lần, nhưng phải gặp!
    Nếu sự chết về phần xác là hậu quả duy nhất của đời sống xa cách Thượng Đế, thì sẽ không có gì để chúng ta sợ hãi quá, nhưng Kinh Thánh cảnh cáo rằng có một sự chết thứ nhì, tức là sự đày đọa vĩnh viễn cách xa Thượng Đế.
    Tuy nhiên còn có một khía cạnh sáng tỏ hơn. Khi Kinh Thánh tuyên phán Địa ngục dành cho người tội lỗi, Kinh Thánh cũng hứa hẹn Thiên đàng cho thánh đồ. Đề tài Thiên đàng dễ chấp nhận hơn đề tài Địa ngục nhiều. Nhưng Kinh Thánh đã dạy dỗ cả hai điều.
    Khi dọn đến nhà mới, bạn muốn biết rõ về cộng đồng mà bạn sắp chung sống. Nếu chuyển đến một thành phố khác, bạn muốn biết tất cả về thành phố này - những đường xe lửa, kỹ nghệ, công viên, hồ, trường học v.v... Và vì sẽ đến một nơi khác đời đời, chúng ta phải biết về nơi đó. Những chi tiết về Thiên đàng được tìm thấy trong Kinh Thánh. Do đó, chúng ta nghĩ đến và nói đến thiên đàng là điều hợp lý. Nói đến thiên đàng, thì địa cầu trở nên tồi tàn. Những mối lo âu về các vấn đề rắc rối của chúng ta trên địa cầu hình như giảm bớt đi rất nhiều nếu chúng ta có sự trông đợi sáng suốt vào tương lai. Trên một phương diện nào đó, người Cơ Đốc tìm được thiên đàng ở trên mặt đất này. Người Cơ Đốc có bình an của linh hồn, bình an của lương tâm và bình an với Thượng Đế. Giữa những khó khăn rắc rối, người Cơ Đốc có thể mỉm cười, bước đi rộn ràng, linh hồn vui vẻ và nét mặt sáng tươi.
    Có một thiên đàng.
    Nhưng Kinh Thánh cũng hứa với Cơ đốc nhân một thiên đàng trong đời sống tương lai. Khi John Quincy Adams được 94 tuổi, có người hỏi ông rằng: “Sáng nay ông thấy thế nào?” Ông trả lời: “Tốt, tốt lắm. Nhưng cái nhà tôi đang sống không được tốt mấy”. Cho dù cái nhà chúng ta đang ở có hư hoại hay yếu ớt, nếu là những người Cơ Đốc, chúng ta cũng có thể thật sự cảm thấy mạnh khỏe và vững vàng. Chúa Giê-xu đã dạy là có một thiên đàng.
    Chúng ta có thể trích dẫn nhiều phân đoạn Kinh Thánh, nhưng phân đoạn hay nhất là Gi 14:2 “Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở, nếu không, ta đã nói cho các con rồi. Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con. Khi chuẩn bị xong, ta sẽ trở lại đón các con về với ta để các con ở cùng ta mãi mãi”. Phao-lô biết chắc chắn về thiên đàng nên đã nói: “Chúng ta đầy tin tưởng, muốn rời bỏ thân xác này, để về nhà trên trời với Chúa là tốt hơn” (IICo 5:8).
    Sự trông đợi về tương lai của Cơ Đốc nhân thật khác hẳn sự trông đợi của Bob Ingersoll, người theo thuyết bất khả tri, khi ông tuyên bố trước cửa mồ anh mình: “Đời sống là một màn thưa chật hẹp giữa đỉnh cao lạnh lẽo và trơ trọi của hai cái vĩnh viễn. Chúng ta cố gắng vô ích để nhìn bên kia các đỉnh. Chúng ta kêu gào và lời đáp duy nhất là âm vang của tiếng chúng ta kêu khóc."
    Sứ đồ Phao-lô hằng nói: “Chúng ta biết”. “Chúng ta biết chắc”. “Chúng ta luôn luôn biết chắc”. Kinh Thánh nói rằng Áp-ra-ham “trông đợi một thành phố xây trên nền móng vững chắc do Thượng Đế vẽ kiểu và xây cất” (He 1:10).
    Nhiều người hỏi: “Thiên đàng có thật không?” Có! Chúa Giê-xu phán: “Ta đi chuẩn bị chỗ ở cho các con”. Kinh Thánh dạy rằng Hê-nóc và Ê-li được cất lên trời - với thân thể, theo nghĩa đen - đến một chỗ có thật như Sài-gòn, Paris hay BangKok chẳng hạn!
    Nhiều người đã hỏi: “Thiên đàng ở đâu?” Kinh Thánh không cho biết thiên đàng ở đâu. Chúng ta không rõ điều này. Nhưng bất luận thiên đàng ở đâu thì ở đó có Chúa Cứu Thế.
    Một nơi đẹp đẽ.
    Kinh Thánh dạy rằng thiên đàng là nơi đẹp đẽ. Kinh Thánh gọi đó là “thành của Thượng Đế” - “một đô thị” - “một quê hương tốt hơn” - “một sản nghiệp thừa kế” - “một vinh quang”.
    Bạn có thể hỏi: “Ở thiên đàng chúng ta có nhận ra nhau không?”. Có nhiều chỗ trong Kinh Thánh cho biết là sẽ có một cuộc hội ngộ lớn lao của những người đã ra đi từ trước.
    Có người lại hỏi: “Bạn có tin rằng trẻ con sẽ được cứu không?”. Có. Kinh Thánh bày tỏ rằng Thượng Đế không định tội trẻ con cho đến khi chúng đến tuổi nhận xét và hiểu biết. Hình như có nhiều dấu hiệu chỉ rõ ràng sự tha tội được áp dụng cho chúng khi chúng ý thức được trách nhiệm về các hành vi thiện ác của chúng.
    Kinh Thánh cũng bày tỏ rằng thiên đàng sẽ là một nơi của sự hiểu biết lớn lao về các điều mà chúng ta không bao giờ học được dưới thế gian này.
    Isaac Newton, khi lớn tuổi, đã nói với một người ca ngợi sự khôn ngoan của ông, rằng: “Tôi là một đứa bé trên bờ biển đang nhặt đây đó một hòn sỏi, một vỏ hến, nhưng đại dương vĩ đại của sự thật hãy còn nằm trước mặt tôi”.
    Thomas Edison đã có lần nói: “Tôi không biết được lấy một phần triệu của một phần trăm về bất cứ điều gì”.
    Nhiều bí mật của Thượng Đế, những sự đau lòng, những thử thách, thất vọng, những thảm kịch và sự im lặng của Thượng Đế đối với sự đau khổ sẽ được giãi bày ở đó. Eli Wiessel đã nói rằng cõi đời đời là “... nơi mà các câu hỏi và câu trả lời chỉ là một”. Còn trong Gi 16:23, Chúa Giê-xu phán: “Lúc ấy các con không còn thắc mắc hỏi han gì nữa. Ta nói quả quyết, các con nhân danh ta cầu xin điều gì, Cha cũng ban cho”. Tất cả các câu hỏi đều sẽ được giải đáp!
    Nhiều người hỏi: “Vâng, thế thì chúng ta sẽ làm gì ở thiên đàng? Chỉ ngồi đó rồi vui hưởng những khoái lạc của sự sống sao?” Không. Kinh Thánh cho biết rằng chúng ta sẽ phục sự Thượng Đế. Sẽ có công việc để chúng ta làm cho Ngài. Chúng ta sẽ để nhiều thì giờ ngợi khen Ngài. Kinh Thánh chép: “Chẳng có sự nguyền rủa nữa. Ngôi của Thượng Đế và Chiên Con sẽ ở trong thành; các tôi tớ Ngài hầu hạ Ngài” (Kh 22:3).
    Đó sẽ là thời kỳ vui mừng, hầu việc, reo cười, ca hát và ngợi khen Thượng Đế. Hãy tưởng tượng là chúng ta sẽ phục vụ Ngài mãi mãi, mà chẳng hề bị mệt mỏi!
    Vào trước hiện diện của Chúa Cứu Thế.
    Kinh Thánh dạy rằng vắng mặt trong thân thể là hiện diện với Chúa. Lúc qua đời, người Cơ Đốc đi ngay lập tức đến trước mặt Chúa Cứu Thế. Nơi đó linh hồn của người ấy sẽ chờ đợi sự sống lại tức là linh hồn và thể xác sẽ được tái hợp.
    Nhiều người hỏi: “Làm thế nào để những xác thịt đã tan rã hay hỏa thiêu có thể sống lại được?” Chỉ có Thượng Đế biết điều đó. Nhưng cơ thể mới mà chúng ta sẽ có là một cơ thể hiển vinh như cơ thể Chúa Cứu Thế. Đó là một cơ thể bất diệt. Cơ thể ấy sẽ không bao giờ biết đến nỗi buồn, đau thương, bi thảm, bệnh tật, khổ lụy hay chết chóc. Đó sẽ là một thân thể được làm nên mới, nhưng vẫn còn nhận ra được.
    Ở đây chúng ta có một hình ảnh của hai thế giới đời đời bềnh bồng trong không gian. Mỗi con cái A-đam sẽ ở trên một trong hai thế giới đó. Có rất nhiều sự mầu nhiệm bao phủ hai thế giới này, nhưng có khá đủ lời gợi ý và ám chỉ trong Kinh Thánh để cho chúng ta biết một thế giới sẽ là của thê lương và đau khổ còn thế giới kia sẽ là của ánh sáng và vinh hiển.
    Đến đây chúng ta đã biết được những vấn đề của nhân loại. Thoạt nhìn, những vấn đề này rất phức tạp; nhưng trên căn bản thì thật giản dị. Chúng ta đã thấy rằng các vấn đề đó có thể tóm lược trong hai chữ - tội lỗi. Chúng ta đã thấy rằng tương lai con người quả là vô vọng nếu không có Thượng Đế. Nhưng nếu chỉ phân tích những vấn đề của chúng ta và chỉ hiểu biết rõ ràng về kế hoạch của Thượng Đế thì cũng chưa đủ. Nếu Thượng Đế có lòng giúp đỡ con người, thì con người cũng phải thỏa mãn một số điều kiện nào đó. Trong các chương kế tiếp chúng ta sẽ nghiên cứu đến những điều kiện này.

    LÝ DO CHÚA GIÊ-XU ĐẾN
    Ta đến trần gian để tìm và cứu những người lầm lạc.
    Lu 19:10
    CHÚNG ta đã thấy tội lỗi là một sự kiện tàn phá ghê gớm nhất của vũ trụ. Nguyên nhân của tất cả mọi rắc rối, gốc rễ của mọi buồn rầu và kinh hãi của loài người đều nằm vỏn vẹn trong hai chữ - tội lỗi. Tội lỗi làm đảo lộn bản thể con người. Tội lỗi phá hoại sự hòa hợp nội tại của đời sống con người. Tội lỗi cướp đi tính cách cao trọng của con người. Tội lỗi khiến cho con người phải sa vào cạm bẫy của ma quỉ.
    Tất cả mọi rối loạn thần kinh, mọi bệnh hoạn, mọi hủy diệt, chiến tranh đều bắt nguồn từ tội lỗi. Tội lỗi làm trí óc điên cuồng và đầu độc tâm tư. Kinh Thánh mô tả tội lỗi như một bệnh tật ghê sợ gây suy nhược cần được chữa trị tận gốc. Tội lỗi là trận cuồng phong đang hoành hành, là hỏa diệm sơn đang phun lửa man dại, là một người điên trốn thoát khỏi dưỡng trí viện. Tội lỗi là tên cướp đang rình mò, là con sư tử gầm thét lúc đang săn mồi, là một lằn sét chớp xẹt xuống đất. Tội lỗi là cái máy chém, là một chứng ung thư chết người đang gặm nhấm linh hồn nhân loại, là một dòng thác lũ cuồn cuộn cuốn phăng mọi vật trên đường đi của nó.
    Nhưng, như có người đã nói: “Tội lỗi có thể cầm chân không cho bạn đến với Kinh Thánh - hoặc ngược lại, Kinh Thánh có thể cầm giữ bạn để bạn khỏi phạm tội.”
    Qua nhiều thời đại con người vì căn bệnh tội lỗi bị lạc lõng mù lòa trong bóng tối thuộc linh, mò mẫm, tìm tòi, dò xét tìm kiếm một lối thoát. Con người cần một người giúp đỡ để thoát khỏi sự bối rối tinh thần và mê hồn trận đạo lý, một người có thể cứu chuộc mình ra khỏi ngục tù ma quỉ, một người có thể mở khóa nhà giam. Con người với tâm thần đói khát và tâm linh tan vỡ đang tìm tòi và nghe ngóng một cách tuyệt vọng. Trong khi đó thì ma quỉ hài lòng về chiến thắng oai hùng của nó ở vườn Ê-đen.
    Từ những bộ lạc dã man trong rừng già đến những nền văn minh của Ai-cập, Hy-lạp và La-mã, con người đều ngơ ngác tự hỏi câu hỏi giống nhau: “Làm sao tôi thoát khỏi tình trạng này? Làm sao tôi có thể khá hơn? Tôi làm gì bây giờ? Tôi nên theo lối nào đây? Làm sao tôi trừ khử được chứng bệnh ghê gớm này? Làm sao tôi chận đứng được dòng nước lũ đang cuồn cuộn? Làm sao tôi có thể thoát ra khỏi màng lưới bao bọc tôi? Nếu có một đường lối nào, làm sao tôi tìm ra?”
    Lời đáp của Kinh Thánh.
    Chúng ta đã thấy Kinh Thánh chép rằng Thượng Đế là Thượng Đế của tình yêu. Ngài muốn làm cho con người một điều gì đó. Ngài muốn cứu rỗi con người, Ngài muốn giải thoát con người ra khỏi sự rủa sả của tội lỗi. Ngài đã làm điều đó bằng cách nào? Thượng Đế là Đấng công bình. Ngài công nghĩa và thánh thiện. Từ buổi ban đầu Ngài đã cảnh cáo con người nếu nghe theo lời ma quỉ và không vâng phục Ngài chắc sẽ bị chết mất cả về thể xác lẫn linh hồn. Con người đã tự ý trái lời Thượng Đế. Hoặc con người phải chết, hoặc Thượng Đế là Đấng dối trá, vì Thượng Đế không thể sai lời. Bản chất của Ngài không cho phép Ngài dối trá. Lời Ngài phải được tôn trọng. Do đó, khi con người bất phục tùng Ngài, con người đã bị xóa bỏ khỏi sự hiện diện của Thượng Đế. Con người đã tự chọn con đường của ma quỉ.
    Vì con người đã tuyệt vọng trong sự hư mất rồi, do đó cần có đường lối khác. Bản chất thật của con người đã bị đảo lộn. Con người đã chống đối Thượng Đế. Nhiều người còn phủ nhận sự hiện hữu của Ngài vì mù quáng bởi bệnh tật họ mắc phải.
    Ngay cả trong vườn Địa đàng, Thượng Đế đã có ý nói rằng Ngài sẽ tìm cách giải quyết vấn đề đó. Ngài đã cảnh cáo ma quỉ và hứa cùng con người: “Ta sẽ làm cho mầy cùng người nữ, dòng dõi mầy cùng dòng dõi người nữ nghịch thù nhau, người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày sẽ cắn gót chân người” (Sa 3:15). “Mầy sẽ cắn gót chân người” - Đó là một tia sáng từ trời. Đó là một lời hứa. Đó là điều con người có thể tin cậy. Thượng Đế đã hứa rằng một ngày kia Đấng Cứu Chuộc sẽ xuất hiện, một Đấng Giải Thoát sẽ đến. Thượng Đế đã ban cho con người một niềm hy vọng. Trải qua bao thế kỷ, con người đã bám lấy chút hy vọng đó.
    Nhưng không phải chỉ có thế. Còn có nhiều cơ hội khác trải qua mấy ngàn năm lịch sử, có nhiều tia sáng khác đến từ trời. Qua toàn bộ Cựu Ước, Thượng Đế hứa sẽ cứu chuộc con người nếu con người tin rằng Đấng Cứu Chuộc sẽ hiện đến. Vì vậy, Ngài đã dạy dỗ dân sự Ngài rằng con người chỉ có thể được cứu bằng sự thay thế mà thôi. Một nhân vật khác sẽ trả giá để cứu chuộc con người.
    Trở lại vườn Ê-đen.
    Đến đây, bằng tưởng tượng mời bạn cùng tôi trở lại vườn Ê-đen một lúc. Thượng Đế phán: “Một mai ngươi ăn chắc sẽ chết”. Con người đã ăn và đã chết.
    Ví thử Thượng Đế chỉ phán: “A-đam, ngươi đã phạm lỗi, nhưng đó là một sai lầm nhỏ của ngươi thôi. Ngươi được tha thứ nhưng đừng tái phạm”. Nếu vậy, Ngài là Đấng dối trá. Ngài không phải là Đấng thánh khiết hay công bình. Chính bản chất Ngài buộc Ngài phải giữ lời. Ở đây sự công bằng của Thượng Đế bị thử thách. Con người phải chết về phần thể xác lẫn phần thuộc linh. Những sự bất nghĩa chia cách con người với Thượng Đế. Do đó họ phải bị đau khổ. Con người phải trả giá cho chính tội lỗi mình. Như chúng ta đã thấy, A-đam là thủy tổ loài người. Khi A-đam phạm tội, thì tất cả chúng ta đều phạm tội. “Vì A-đam, tội lỗi đã xâm nhập thế gian, đem theo sự chết. Do đó, mọi người đều phải chết, vì mọi người đều phạm tội” (Ro 5:12).
    Vấn đề nóng bỏng sẽ là: “Làm sao Thượng Đế vừa công bình vừa xưng công nghĩa cho kẻ phạm tội được?”. Ta nên nhớ là xưng công nghĩa tức là “tẩy cho linh hồn sạch tội”. Sự xưng công nghĩa vượt xa sự tha thứ. Tội lỗi phải được gạt bỏ và làm cho trở thành như chưa bao giờ có. Con người phải được phục hồi để không còn dấu vết nhơ bẩn nào. Nói một cách khác, con người phải trở về địa vị của mình trước khi bị mất ơn.
    Từ nhiều thế kỷ nay, trong sự mù quáng của mình, con người tìm cách trở lại vườn Ê-đen - nhưng chưa hề đạt được mục đích. Con người đã thử nhiều cách, nhưng tất cả đều thất bại.
    Giáo dục là điều cần thiết nhưng không đem người ta trở lại cùng Thượng Đế. Những tôn giáo giả dối là một thứ ma túy giúp con người tránh khỏi sự khốn khổ hiện tại trong khi họ hướng về vinh quang tương lai, nhưng các tôn giáo đó sẽ không khi nào giúp con người đạt đến mục đích. Liên Hiệp Quốc có thể là một nhu cầu thực tiễn cho một thế giới con người đầy chiến tranh và chúng ta tri ân những điều mà tổ chức này có thể thực hiện trong lãnh vực bang giao quốc tế để dàn xếp những sự tranh chấp khỏi dùng bạo lực; nhưng nếu Liên Hiệp Quốc có thể đem lại một nền hòa bình lâu dài, thì con người có thể nói với Thượng Đế rằng: “Chúng tôi không còn cần Ngài nữa. Chúng tôi đã đem lại hòa bình cho trái đất này và đã tổ chức nhân loại trong sự công nghĩa”. Tất cả những toan tính này là phương thuốc tạm thời mà thế giới cần có trong khi chờ đợi vị Đại Danh Y. Quay trở về lịch sử, chúng ta thấy rằng cố gắng đầu tiên của những người biết đoàn kết đã chấm dứt bằng sự xáo trộn ngôn ngữ ở tháp Ba-bên. (do con cháu Nô-ê xây cất tại Si-nê-a sau cơn Đại hồng thủy vì kiêu ngạo muốn lên đến trời. Thượng Đế làm cho tháp đó ngã xuống và khiến cho tiếng nói khác nhau kể từ đó) Con người đã thất bại khi cố làm việc không cần Thượng Đế và họ phải gánh hậu quả.
    Câu hỏi vẫn còn: “Thượng Đế làm thế nào vừa công bình - nghĩa là chân thật đối với chính Ngài trong bản chất và trong sự thánh thiện vừa xưng công nghĩa được cho người tội lỗi?” Vì mỗi một người đều phải gánh lấy tội lỗi của chính mình, nên tất cả nhân loại không ai giúp ai được cả. Mọi người đều bị nhiễm cùng một chứng bịnh.
    Giải pháp duy nhất là phải có một người vô tội tình nguyện chịu chết thay cho con người trước mặt Thượng Đế. Người vô tội này phải gánh lấy sự xử đoán, sự hình phạt và sự chết cho con người. Nhưng tìm đâu ra được một người như vậy? Chắc chắn ở trên mặt đất này không có ai, vì Kinh Thánh phán: “Mọi người đều phạm tội” (Ro 3:23). Chỉ còn một cách là Con Một của Thượng Đế, nhân vật duy nhất trong vũ trụ có khả năng mang trên chính mình Ngài tội lỗi của thế gian. Dĩ nhiên thiên sứ Gáp-ri-ên hoặc Mi-ca-ên có thể đến và chết thay cho một người, nhưng chỉ có Con Thượng Đế là Đấng vô cùng và như thế mới có khả năng chết thay cho tất cả mọi người.
    Thượng Đế Ba Ngôi.
    Kinh Thánh dạy rằng Thượng Đế thật sự có Ba Ngôi. Đây là điều mầu nhiệm chúng ta không bao giờ hiểu thấu. Kinh Thánh không dạy là có ba Thượng Đế nhưng chỉ có một. Tuy nhiên Thượng Đế được biểu thị trong Ba Ngôi vị. Đó là Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh.
    Ngôi thứ nhì của Tam-Vị-Nhất-Thể đó là Đức Chúa Con tức là Chúa Giê-xu. Ngài đồng đẳng với Đức Chúa Cha. Ngài không là một con của Thượng Đế mà là Con Một của Ngài. Ngài là Con đời đời của Thượng Đế - Ngôi vị thứ hai trong Tam Vị Nhất Thể thánh khiết, tức là Thượng Đế biểu hiện bằng xương thịt, là Chúa Cứu Thế hằng sống.
    Kinh Thánh dạy rằng Chúa Cứu Thế hằng có đời đời. Ngài không phải là tạo vật (Gi 1:1-3). Kinh Thánh dạy rằng các từng trời do Ngài sáng tạo. Tất cả các vì tinh tú và mặt trời bừng cháy đều do Ngài dựng nên. Quả đất đã được tạo thành từ ngón tay bốc lửa của Ngài. Sự ra đời của Chúa Giê-xu chúng ta kỷ niệm không phải là khởi thủy của Ngài. Nguyên lai của Ngài được bao phủ trong sự huyền nhiệm, khi hỏi về gốc tích của Thượng Đế chúng ta đều rối trí. Kinh Thánh chỉ cho chúng ta biết “Ban đầu có Chúa Cứu Thế. Chúa Cứu Thế ở với Thượng Đế từ nguyên thủy vì Ngài là Thượng Đế ngôi hai” (1:1).
    Kinh Thánh dạy chúng ta: “Chúa Cứu Thế là hiện thân của Thượng Đế vô hình, Ngài có trước mọi vật trong vũ trụ. Chính Chúa Cứu Thế sáng tạo vạn vật, vật trên trời hay dưới đất, hữu hình hay vô hình, ngôi vua hay chủ tịch nhà nước, chính quyền hay các cấp lãnh đạo, tất cả đều do Chúa Cứu Thế tạo lập và đều đầu phục Ngài. Chúa Cứu Thế có trước vạn vật, Ngài an bài và chi phối vạn vật.” (Co 1:15-17).
    Câu sau cùng chứng tỏ rằng Ngài là Đấng kết hợp mọi vật với nhau. Nói cách khác, toàn thể vũ trụ sẽ bị tan vỡ thành hàng tỉ nguyên tử nếu không có quyền năng của Chúa Cứu Thế Giê-xu gắn chặt chúng lại với nhau. Kinh Thánh lại phán: “Ban đầu Chúa sáng tạo địa cầu này, các từng trời cũng do tay Chúa dựng nên. Trời đất sẽ tiêu tan nhưng Chúa hằng còn, vạn vật sẽ rách nát như áo cũ. Chúa sẽ cuốn chúng lại như áo dài, như chiếc áo tồi tàn, cũ mục. Nhưng Chúa vẫn còn nguyên, tuổi tác Chúa không hề cùng” (He 1:10-12).
    Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng Cứu Chuộc.
    Chúa Giê-xu cũng đã tự nói về Ngài: “Ta là An-pha và Ô-mê-ga, (hai chữ đầu và cuối trong mẫu tự Hy-lạp, có nghĩa là đầu tiên và cuối cùng) là đầu tiên và cuối cùng”. Ngài và chỉ một mình Ngài mới có quyền lực và khả năng đem con người trở về với Thượng Đế. Nhưng liệu Ngài có làm điều đó không? Nếu thế, Ngài phải đến thế gian. Ngài phải mặc lấy hình thể tôi tớ. Ngài phải trở nên giống như con người. Ngài phải hạ mình và vâng phục cho đến chết. Ngài phải tranh đấu với tội lỗi. Ngài phải đối địch và chiến thắng Sa-tan là kẻ thù của linh hồn con người. Ngài phải mua chuộc tội nhân giữa chợ nô lệ tội lỗi. Ngài phải tháo gỡ các gông xiềng và phóng thích tù nhân bằng cách trả giá - và giá đó là huyết của chính Ngài. Ngài phải là kẻ bị loài người khinh khi và ghét bỏ, phải là một người buồn rầu và quen chịu đau đớn. Ngài phải chịu Thượng Đế đánh đập và bị phân cách với Thượng Đế. Ngài phải bị thương tích vì những sự quá phạm của loài người và bị đòn vọt vì những điều bất nghĩa của họ. Ngài phải hòa giải con người với Thượng Đế. Ngài phải là Đấng Trung Gian vĩ đại của lịch sử. Ngài phải là một Đấng thay thế. Ngài phải chịu chết thay cho con người tội lỗi. Tất cả những việc này, Ngài đều làm một cách tự nguyện.
    Tạ ơn Thượng Đế - điều đó thực sự đã xảy ra! Từ các từng trời cao xa, Ngài nhìn xuống hành tinh này xoay vần trong không gian đang bị lên án, áp bức và trên đường đi đến Địa ngục. Ngài thấy bạn và tôi vật lộn dưới gánh nặng tội lỗi và bị trói buộc trong xiềng xích của nó. Chính Thượng Đế sẽ quyết định cho hồi chung cuộc. Các thiên sứ sẽ cúi đầu khiêm cung và sợ hãi khi Vua của các vua và Chúa của các chúa, Đấng có thể bởi lời phán dựng nên các thế giới trong không gian, lên xe nạm kim hoàn, đi qua các cổng ngọc, xuyên qua các từng trời thẳng đứng, và vào một đêm tối tăm xứ Giu-đê, trong khi các vì sao đồng ca và những thiên sứ tháp tùng vang lời chúc tụng, Ngài bước xuống xe, cởi bỏ hoàng bào, trở thành con người!
    Điều này cũng ví như tôi, trong khi đang đi đường, giẫm lên một ổ kiến. Tôi có thể nhìn xuống và nói với bầy kiến: “Tôi hết sức ân hận vì đã đạp lên ổ của các bạn. Tôi đã làm sập nhà các bạn. Mọi thứ đều bị xáo trộn. Ước gì tôi có thể nói với các bạn là tôi thương yêu các bạn, tôi không cố ý làm như vậy, tôi muốn giúp đỡ các bạn”.
    Nhưng bạn nói: “Điều đó vô lý, không thể như vậy được, kiến không sao hiểu được ngôn ngữ của người!”. Đúng thế! Nếu tôi có thể hóa thành kiến trong giây lát và dùng ngôn ngữ của kiến cho chúng biết tôi yêu thương chúng thì kỳ diệu biết bao!
    Đúng thế, đó là điều Chúa Cứu Thế đã thực hiện. Ngài đã đến để bày tỏ Thượng Đế cho con người, là Đấng cho chúng ta biết Thượng Đế yêu chúng ta và lưu tâm đến đời sống chúng ta. Chính Ngài là Đấng bày tỏ cho chúng ta về lòng thương xót, sự đau khổ lâu dài và ân điển của Thượng Đế. Ngài là Đấng hứa ban sự sống đời đời.
    Nhưng hơn thế nữa, Chúa Cứu Thế Giê-xu đã dự phần trong thịt và huyết để có thể chịu chết (He 2:14). Ngài đã hiện ra để cất tội lỗi thế gian đi (IGi 3:5). Chúa Cứu Thế đã đến thế gian “để phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người” (Mat 20:28). Khi đến thế gian mục đích chính của Chúa Cứu Thế là để hiến dâng đời sống Ngài làm của sinh tế vì cớ tội lỗi con người. Ngài đến để chịu chết. Bóng sự chết của Ngài, như một tấm màn tang chế phủ trên suốt cuộc sống ba mươi năm của Ngài.
    Đêm Chúa Giê-xu ra đời, Sa-tan run sợ. Nó tìm cách hạ sát trước khi Ngài giáng trần, và cố giết Ngài ngay lúc Ngài ra đời. Khi vua Hê-rốt ra lệnh giết tất cả trẻ con, mục đích duy nhất của ông là xác định Chúa Giê-xu đã chết.
    Đức Chúa Con vô tội.
    Trong suốt cuộc đời của Chúa Giê-xu trên thế gian, Ngài không hề phạm tội lấy một lần. Ngài là người duy nhất đã sống vô tội. Ngài đã có thể đứng trước mặt loài người và phán: “Anh em đã cố gắng bới lông tìm vết nhưng có ai tìm thấy một lỗi lầm nào trong đời tôi không?” (Gi 8:46). Kẻ thù ngày đêm rình rập Ngài, nhưng chúng chẳng bao giờ tìm thấy được một tội lỗi nào nơi Ngài. Ngài không mang một vết nhơ bẩn hay có điều đáng trách nào cả.
    Chúa Giê-xu đã sống một đời sống khiêm nhường. Ngài không tìm cách gây tăm tiếng. Ngài không nhận vinh dự nào của loài người. Ngài ra đời trong một chuồng chiên, được trưởng dưỡng trong một làng nhỏ là Na-xa-rét. (quê hương của Chúa Giê-xu, trong miền Ga-li-lê nước Do-thái) Ngài là một thợ mộc. Qui tụ quanh Ngài là một nhóm ngư phủ khiêm nhường làm đệ tử. Ngài sống giữa loài người như một con người. Cách Ngài hạ mình không ai có thể hạ mình như vậy được.
    Chúa Giê-xu dạy dỗ cách có thẩm quyền đến nỗi dân chúng đương thời phải nói: “Chúng tôi chưa bao giờ nghe ai giảng dạy tuyệt diệu như ông ấy!” (7:46). Mỗi một lời Ngài thốt ra là một chân lý đứng về phương diện lịch sử, khoa học và đạo đức. Không có chỗ sơ hở nào trong các quan niệm đạo đức và những lời tuyên bố của Chúa Giê-xu. Quan niệm đạo đức của Ngài hoàn toàn đúng, đúng trong thời đại Ngài sống và đúng cho mọi thời đại kế tiếp.
    Lời nói của Đấng phước hạnh này cũng nghiệm đúng về phương diện tiên tri nữa. Chúa Cứu Thế đã nói trước nhiều điều thuộc về tương lai. Bằng những câu hỏi có tính cách thử thách các luật gia cố bắt bẻ Ngài, nhưng không làm Ngài bối rối được. Những lời Ngài đối đáp với kẻ chống đối rất rõ ràng và dứt khoát. Những lời của Ngài là chắc chắn, ý nghĩa không mơ hồ, ngôn ngữ không ngập ngừng. Ngài biết điều Ngài muốn nói, nên Lời Ngài phán ra có uy lực. Ngài phán một cách giản dị làm cho người dân thường vui thỏa khi nghe Lời Ngài. Lời Ngài sâu sắc nhưng thẳng thắn, dễ hiểu và hàm súc. Lời Ngài sáng chói và bình dị khiến kẻ kích bác Ngài phải lúng túng bàng hoàng. Cách Ngài thảo luận những vấn đề trọng đại đương thời làm cho người theo dõi Lời Ngài không một chút khó khăn.
    Chúa Giê-xu chữa lành người bệnh, người què, người bại và người mù - Ngài đã chữa trị người cùi và khiến người chết sống lại. Ngài đuổi quỉ, khiến thời tiết yên lặng. Ngài đã làm ngưng bão tố, mang lại sự bình an, vui mừng và hy vọng cho hằng ngàn người Ngài dạy dỗ.
    Ngài không hề tỏ ra sợ hãi. Ngài không bao giờ vội vàng. Ngài không gặp tai nạn bất ngờ. Ngài sinh hoạt với sự phối trí và chính xác hoàn toàn. Ngài có một thái độ vững vàng tuyệt đối. Ngài không do dự hay lo lắng về công việc của Ngài. Tuy Ngài đã không chữa lành tất cả những người bệnh, không gọi tất cả những kẻ chết sống lại, không mở mắt cho tất cả những kẻ mù hay hóa bánh nuôi tất cả những kẻ đói, nhưng đến cuối đời mình Ngài đã có thể nói rằng: “Con đã làm xong công việc Cha giao cho Con.”
    Ngài đã đứng trước Phi-lát (quan tổng đốc cai trị xứ Giu-đê (Do-thái) trong thời Chúa Giê-xu) và bình tĩnh phán: “Nếu Thượng Đế không cho, ông chẳng có quyền gì trên tôi” (19:11). Ngài bảo cùng đoàn dân chúng đang kinh hãi rằng dưới quyền Ngài có nhiều đạo binh thiên sứ.
    Ngài tiến lên thập giá với một niềm trang trọng và thản nhiên, với sự tự tin và một mục đích khẳng định để thể hiện lời tiên tri viết về Ngài tám trăm năm trước: “Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng” (Es 53:7).
    Đánh bại ma quỉ.
    Ngài sống cách cao thượng, vinh hiển và với sự tiên liệu đầy đủ về sứ mạng Ngài phải thi hành. Ngài đến để cứu con người tội lỗi, để làm nguôi cơn thạnh nộ của Thượng Đế. Ngài đến để mua con người từ nơi chợ nô lệ của ma quỉ. Ngài đến để đánh bại ma quỉ vĩnh viễn. Ngài đến để chinh phục địa ngục và mộ phần. Chỉ có một phương cách để Ngài thực hiện điều đó. Chỉ một đường lối bày ra trước mặt Ngài.
    Sự chết của Ngài đã được tiên báo hằng ngàn năm trước. Thoạt tiên, như chúng ta thấy là trong vườn Ê-đen, và sau đó, sự chết của Chúa Cứu Thế được đề cập đến trong bài giảng, truyện tích và lời tiên tri trong nhiều thế kỷ trước đó. Áp-ra-ham (tổ phụ của dân Do-thái, tên này có nghĩa là “cha của nhiều dân tộc”) đã thấy trước sự chết của Ngài như chiên con bị giết. Con cháu Y-sơ-ra-ên đã biểu hiện sự chết của Ngài bằng con sinh tế. Mỗi lần huyết đổ trên một bàn thờ Do-thái, điều đó tượng trưng cho Chiên Con Thượng Đế một ngày kia phải đến để cất tội lỗi đi. Đa-vít đã báo trước về sự chết của Ngài với chi tiết qua nhiều Thi-thiên. Tiên tri Ê-sa đã dành cả những chương sách để tiên báo đầy đủ về cái chết của Chúa.
    Chúa Giê-xu phán rằng Ngài có quyền tận hiến sự sống mình khi nói: “Ta là người chăn từ ái. Người chăn từ ái sẵn lòng hy sinh tính mạng vì đàn chiên” (Gi 10:11). Ngài phán tiếp: “Tôi cũng phải bị treo lên, để bất cứ người nào tin tôi đều được sự sống vĩnh viễn” (3:14-15). Chúa Giê-xu từng đối diện với thập tự giá từ xưa trong thời gian vô hạn. Trải qua bao thời đại trước khi Ngài giáng sanh, Chúa biết rằng ngày Ngài hiến mình đang vội vàng đến. Khi Ngài được một trinh nữ sinh ra, thì sự sinh ra của Ngài bị thập tự giá làm u ám. Ngài đã mang hình hài con người để có thể chết. Từ lúc sinh ra đến khi lên thập tự, mục đích của Ngài là chịu chết.
    Chưa có ai chịu đau đớn như Ngài, có người đã mô tả: “Một đêm không ngủ trong vườn Ghết-sê-ma-nê lập loè ánh đuốc, cái hôn của kẻ phản bội, lúc bị bắt, bị xét xử trước thầy Tế lễ tối cao, chờ đợi hằng giờ tại lâu đài của viên tổng trấn La-mã, bị giải đến lâu đài của Vua Hê-rốt, cách đối xử tàn bạo của bọn lính Hê-rốt, những cảnh kinh hoàng mà các thầy trưởng tế và dân chúng thì la ó đòi đóng đinh Chúa khi Phi-lát tìm cách cứu Ngài, nào roi vọt, từng đoàn người hò hét, con đường từ Giê-ru-sa-lem đến đồi Gô-gô-tha, đầu bị mão gai, tay chân bị đinh đóng, bị hai tên trộm cướp hai bên nhiếc mắng và phỉ báng: ươi đã cứu kẻ khác, bây giờ hãy tự cứu mình đi“.”
    Đôi khi người ta hỏi tại sao Chúa Cứu Thế lại chết mau như thế, trong vòng sáu tiếng đồng hồ trên thập tự, trong khi các nạn nhân kia hấp hối trên thập tự giá đến hai ngày. Chúa Giê-xu rất yếu và mệt lả khi Ngài đến đó. Ngài đã bị đánh đập và thể xác bị kiệt quệ. Nhưng khi Chúa Cứu Thế chết, Ngài đã tự nguyện chết. Ngài đã lựa chọn đúng lúc trút hơi thở cuối cùng.
    Ở đấy Ngài đã bị treo lên, trần trụi giữa không gian. Chúng đã nhổ râu Ngài cho đến khi mặt Ngài chảy máu. Ngài đã bị phỉ nhổ cho đến khi trên mặt Ngài dính đầy nước bọt của bọn người giận dữ. Ngài không thốt lời than vãn hay kêu cứu nhưng với hai chữ “Ta khát” Ngài cho chúng ta thấy được phần nào nỗi đau đớn ghê gớm Ngài phải chịu.
    Có một thi sĩ ẩn danh đã viết:
    ‘Nhưng hơn tất cả những sự đau đớn đã dày vò Ngài Là nỗi khát vọng thiên thượng sâu xa Nỗi khát khao linh hồn người ta, Lạy Chúa yêu dấu, con là một linh hồn như thế!
    Tội nhân hay người thay thế.
    Thượng Đế đòi hỏi sự chết nơi kẻ phạm tội hay người thay thế. Chúa Cứu Thế là người thay thế kẻ có tội! Gáp-ri-ên và mười đạo binh thiên sứ bay trên ven bờ vũ trụ, gươm tuốt trần. Chỉ một cái liếc mắt từ khuôn mặt phúc hậu của Ngài thì các đoàn thiên binh sẽ quét sạch đám người ầm ĩ và giận dữ xuống địa ngục rồi. Đinh đóng không bao giờ giữ được Chúa, chỉ có những sợi dây tình thương trói buộc Ngài chặt hơn tất cả những cây đinh con người có thể chế ra. “Nhưng Thượng Đế đã chứng tỏ tình yêu thương Ngài đối với chúng ta, khi Chúa Cứu Thế chịu chết thay chúng ta là người tội lỗi” (Ro 5:8).
    Vì bạn! Vì tôi! Chúa đã mang tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ. Có người đã nói: “Hãy nhìn Ngài trên thập tự giá, đầu thánh gục nghiêng, và trong sự hãi hùng xa cách Thượng Đế, để gánh lấy tội lỗi của thế gian, và hãy nhìn xem bởi sự gánh chịu đó, Ngài đã sáng tạo nên một điều không cần cho chính Ngài nhưng để phân phát cho những người Ngài đã thế chỗ”. Trong khi chúng ta bàng hoàng trong nỗi đau khổ đó, trong khi cảm thấy bất lực không thể hiểu biết hay giải thích, và trong khi ý thức được quyền năng cùng sự oai nghiêm tràn ngập, chúng ta nghe những lời kế tiếp của Ngài: “Mọi việc đã được trọn”.
    Nhưng nỗi đau đớn thể xác của Chúa Giê-xu chỉ là một phần nhỏ trong sự đau khổ cùng cực của Ngài. Có nhiều người trước Ngài đã chịu chết. Nhiều người đã trở thành những vị tử đạo. Sự đau khổ kinh khiếp của Chúa Giê-xu là cái chết thuộc linh. Khi Thượng Đế quay lưng lại và dấu mặt đi thì Ngài đã đạt đến hậu quả cuối cùng của tội lỗi, dò tận đáy sâu thẳm của sự đau buồn đến nỗi phải kêu lên “Thượng Đế của tôi ơi! Sao Ngài lìa bỏ tôi?”. Chúa Cứu Thế đã thốt ra những lời ấy một mình trong giờ cùng cực của lịch sử loài người! Một tia sáng đã bừng lên để cho chúng ta thấy được điều Chúa đã phải chịu đựng, nhưng ánh sáng đó chói lói quá, theo lời G. Cambell Morgan thì “không mắt nào có thể nhìn nổi”. Tấn sĩ Morgan đã diễn tả rất đúng là những lời Chúa thốt ra “để con người biết rằng còn biết bao điều không thể hiểu được”.
    Đấng vốn không biết tội lỗi đã bị kể là tội lỗi vì cớ chúng ta để trong Ngài chúng ta được xưng công nghĩa đối với Thượng Đế. (Ga 3:13Mac 15:34IICo 5:21). Ngài đã trở thành kẻ có tội trên thập tự giá. Ngài là Đấng bị Thượng Đế từ bỏ. Vì Ngài không tội lỗi nên hình phạt Ngài chịu có giá trị vượt quá sự hiểu biết con người, một hình phạt không cần thiết cho chính Ngài. Nếu do sự gánh vác tội lỗi trên thân thể Ngài mà Ngài đã tạo nên một giá trị không cần thiết cho chính Ngài, thì giá trị này được tạo nên cho ai?
    Trong sự sâu thẳm của bóng tối, việc này được thực hiện ra sao, con người không bao giờ biết được. Tôi chỉ biết có một điều - là Ngài gánh chịu tội lỗi của tôi trong thân thể Ngài trên cây gỗ. Ngài đã ở vào địa vị đáng lý phải là của tôi. Những nỗi đau đớn của địa ngục, phần dành cho tôi đã được chồng chất trên Ngài để tôi có thể đi vào thiên đàng và thừa hưởng, không phải của chính tôi mà là của Ngài trọn vẹn. Tất cả mọi thể thức, mọi của lễ, mọi hình bóng và biểu tượng của Cựu Ước giờ đây đã được ứng nghiệm. Các thầy trưởng tế không còn cần phải vào nơi chí thánh mỗi năm một lần nữa. Sự hy sinh chuộc tội đã hoàn tất.
    Bây giờ thì căn bản cứu chuộc đã được đặt thành nền móng, tội nhân chỉ còn tin tưởng nơi Con là có thể tìm thấy bình an trong Thượng Đế. “Vì Thượng Đế yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Thượng Đế đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh viễn” (Gi 3:16).
    Ba điều trên thập tự giá.
    Trên thập tự giá của Chúa Cứu Thế tôi thấy ba điều:
    Thứ nhất, sự mô tả chiều sâu của tội lỗi con người. Đừng nên phiền trách dân chúng thời bấy giờ đã treo Chúa Cứu Thế lên thập tự giá. Bạn và tôi đều có tội lỗi như họ. Không phải dân chúng hay quân lính La-mã treo Ngài lên cây thập tự mà chính là tội lỗi của bạn và của tôi đã khiến Ngài phải tình nguyện chịu chết như vậy.
    Thứ nhì, trên thập tự giá, tôi thấy tình yêu thương tràn ngập của Thượng Đế. Nếu khi nào bạn nghi ngờ về tình yêu thương của Ngài, hãy nhìn lâu và nhìn kỹ cây thập tự, vì trong đó bạn sẽ nhìn thấy sự biểu lộ tình yêu thương của Thượng Đế.
    Thứ ba, trên cây thập tự có một con đường cứu rỗi duy nhất. Chúa Giê-xu phán: “Ta là Con đường, Chân lý và Nguồn sống. Nếu không nhờ ta, không ai được đến với Cha” (14:6). Không có cách nào để bạn được cứu ra khỏi tội lỗi và địa ngục, trừ khi bạn đồng hóa mình với Chúa Cứu Thế của thập tự giá. Nếu có một đường lối nào khác để cứu chuộc bạn, thì Ngài đã tìm thấy rồi. Nếu sự cải cách hay sống một đời sống đạo đức tốt đẹp có thể cứu rỗi bạn được, thì Chúa Giê-xu đã không bao giờ chịu chết. Phải có một người chịu chết thay bạn. Người ta không thích nói đến điều này. Họ không thích nghe như vậy vì sự thể sẽ làm tổn thương đến lòng kiêu hãnh của họ. Điều này gạt bỏ mọi thứ thuộc bản ngã.
    Nhiều người nói: “Tôi có thể được cứu nhờ đời sống tốt đẹp không? Theo các huấn điều của Chúa Giê-xu? Sống cuộc đời đạo đức như Chúa đã dạy?”. Cho dù bạn có thể được cứu nhờ sống cuộc sống Chúa Giê-xu đã dạy, bạn vẫn còn là một tội nhân. Bạn vẫn sẽ vấp ngã vì không có người nào từ lúc ra đời cho đến khi chết có thể sống một cuộc đời như Ngài đã dạy. Bạn đã thất bại. Bạn đã phạm tội. Bạn đã bất phục tùng. Bạn đã có tội. Như vậy bạn sẽ làm gì về tội lỗi đó. Chỉ có một việc làm thôi và việc đó là đem tội mình đến thập tự giá để cầu xin sự tha thứ.
    Ngày xưa, vua Charles đệ V vay một thương gia ở Antwerp một số tiền lớn. Đến kỳ trả nợ, nhà vua bị khánh kiệt không trả nổi. Nhà buôn thết tiệc lớn mời vua. Khi tất cả mọi quan khách đã an tọa, và trước khi thức ăn được dọn ra, thương gia cho đem một cái mâm lớn để lên bàn trước mặt mình, trên mâm có đốt lửa. Người thương gia rút trong túi ra tờ giấy nợ, bỏ vào lửa đốt cho đến khi cháy thành tro. Nhà vua ôm choàng lấy ân nhân mình mà khóc.
    Cũng một thể ấy, tất cả chúng ta đã là những kẻ bị cầm thế cho Thượng Đế. Nợ đã đến kỳ trả, nhưng chúng ta không trả nổi. Hai ngàn năm trước đây, Thượng Đế đã mời thế gian đến dự tiệc Phúc Âm và trong giờ phút hấp hối của thập tự giá, Ngài đã nắm lấy tội lỗi của bạn và tôi cho đến khi vết tích cuối cùng của tội lỗi chúng ta được thiêu hủy.
    Kinh Thánh phán: “Nếu không đổ huyết, tội lỗi chẳng bao giờ được tha thứ “ (He 9:22). Nhiều người đã nói với tôi: “Ghê tởm quá! Bộ ông tin ở một tôn giáo sát sanh hay sao?”. Nhiều người khác ngạc nhiên bảo: “Tôi không hiểu tại sao Thượng Đế đòi hỏi sự đổ huyết”. Nhiều người tự hỏi: “Tôi không hiểu sao Chúa Cứu Thế phải chịu chết thay tôi”. Ngày nay ý nghĩ về sự đổ huyết của Chúa Cứu Thế đã trở thành lỗi thời và lạc hậu trong sự rao giảng nhưng sự kiện vẫn còn đó. Còn trong Kinh Thánh. Đó chính là trọng tâm của Cơ Đốc giáo. Đặc điểm khác biệt của Cơ Đốc giáo là sự đổ huyết để chuộc tội. Không có điều này chúng ta không thể được cứu. Huyết tượng trưng cho sự chết của Chúa Cứu Thế hay chỉ bóng về sinh tế trọn vẹn của Ngài.
    Mới đây tại phòng nhập viện của bệnh viện Mayo Clinic ở Rochester, Minnesota. Trên bàn có một hộp nhỏ đựng xấp giấy viết hàng chữ đỏ giống hình một giọt máu: “Một quà tặng bằng máu”. Lúc đầu tôi tưởng đó là truyền đạo đơn, nhưng nhìn kỹ hơn tôi thấy đó là lời kêu gọi mọi người tham gia chương trình hiến máu. Máu có nghĩa là sự khác nhau giữa sống và chết đối với một bệnh nhân. Chưa hề có ai được truyền máu mà lại không nhìn giọt máu ấy bằng thái độ biết ơn. Có lẽ có người bảo rằng lấy máu của người khác là điều bất nhẫn, nhưng máu được ban tặng là điều phước hạnh.
    Máu tiêu biểu cho sự sống như Le 17:11 chép: “Vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết; ta đã ban cho các ngươi huyết... đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình” huyết của sinh tế đã chảy xuyên suốt Cựu Ước chỉ bóng hay biểu tượng cho sinh tế trọn vẹn của Chúa Cứu Thế.
    Năm điều mà huyết đem đến.
    Kinh Thánh dạy rằng: Trước hết, huyết cứu chuộc. “Anh em đã biết rõ, Thượng Đế đã trả giá rất cao để cứu chuộc anh em khỏi nếp sống lầm lạc của tổ tiên. Không phải trả giá bằng bạc vàng dễ mất, mau hư nhưng bằng huyết báu của Chúa Cứu Thế, Chiên Con vô tội không tì vết của Thượng Đế” (IPhi 1:1819). Chẳng những chúng ta được cứu chuộc khỏi tay ma quỉ, nhưng còn được cứu khỏi luật pháp nữa. Sự chết của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá đem tôi ra khỏi luật pháp. Luật pháp lên án tôi, nhưng Chúa Cứu Thế đã thỏa mãn mọi đòi hỏi. Tất cả vàng bạc và châu báu của thế gian không bao giờ có thể mua chuộc tôi. Điều gì chúng không thể làm được thì sự chết của Chúa Cứu Thế đã làm. Sự cứu chuộc nghĩa là “mua lại”. Chúng ta đã bị bán cho ma quỉ mà không thâu được lợi lộc gì cả, nhưng Chúa Cứu Thế đã cứu chuộc chúng ta và đem chúng ta trở về.
    Thứ nhì, huyết đem chúng ta lại gần. “Nhưng bây giờ anh em là người của Chúa Cứu Thế Giê-xu. Dù ngày trước cách xa Thượng Đế, ngày nay nhờ huyết Chúa Giê-xu dâng hiến, anh em được đến gần Thượng Đế” (Eph 2:13). Khi chúng ta còn là “những kẻ ngoại bang đối với cộng đồng Y-sơ-ra-ên, và xa lạ với giao ước của lời hứa, không có hy vọng, và ở trong thế gian không có Thượng Đế” thì Chúa Giê-xu đã đem chúng ta lại gần Ngài. “Vậy, người thuộc về Chúa Cứu Thế Giê-xu sẽ không bị kết tội nữa”. Người phạm tội đã được cứu chuộc không bao giờ bị Thượng Đế toàn năng đoán phạt. Chúa Cứu Thế gánh chịu sự đoán phạt của người ấy rồi.
    Thứ ba, huyết đem lại hòa bình. “Chúa Cha nhờ Chúa Cứu Thế đưa mọi loài dưới đất trên trời về giải hòa với Ngài; huyết Chúa Cứu Thế đổ ra trên cây thập tự đã tái lập hòa bình giữa Thượng Đế và nhân loại” (Co 1:20). Thế giới sẽ không bao giờ có được hòa bình cho đến lúc tìm thấy hòa bình nơi thập tự giá của Chúa Giê-xu. Bạn sẽ không bao giờ có hòa bình với Thượng Đế, an bình của lương tâm, của trí tuệ, và của linh hồn cho đến khi bạn đến đứng dưới chân thập tự giá và đồng hóa chính mình bạn với Chúa Cứu Thế bằng đức tin. Đó là bí quyết của hòa bình. Đó là sự bình an trong Thượng Đế.
    Thứ tư, huyết xưng công nghĩa. “Trước là người tội lỗi, ta còn nhờ huyết Chúa được tha thứ, nay ta sạch tội rồi, hẳn Ngài sẽ cứu chúng ta khỏi hình phạt khủng khiếp Thượng Đế dành cho thế gian” (Ro 5:9). Huyết làm thay đổi địa vị của con người trước mặt Thượng Đế. Đó là sự thay đổi từ chỗ phạm pháp bị kết án sang tha thứ và xá miễn. Tội nhân được ân xá không giống như một phạm nhân mãn án ra tù bị mất quyền công dân. Tội nhân ăn năn, được tha thứ bởi huyết Chúa Giê-xu được phục hồi trọn vẹn quyền công dân. “Ai dám kiện cáo chúng ta là người Thượng Đế lựa chọn? Vì Thượng Đế đã tha tội chúng ta. Ai dám kết án chúng ta? Vì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã chịu chết, sống lại và hiện nay ngồi bên hữu Thượng Đế đang cầu thay cho chúng ta” (8:3334).
    Thứ năm, huyết rửa sạch. “Nếu chúng ta sống trong ánh sáng như Thượng Đế, chúng ta sẽ giao hảo với nhau, và huyết của Chúa Giê-xu, Con Ngài tẩy sạch tất cả tội lỗi chúng ta” (IGi1:7). Chữ chìa khóa trong câu này là tất cả. Không phải một phần tội lỗi chúng ta mà là tất cả. Mỗi lời giả dối bạn thốt ra, mỗi việc thấp hèn ti tiện bạn đã làm, sự giả đạo đức và những ý nghĩ xấu xa của bạn - tất cả đều được sự chết của Chúa Giê-xu rửa sạch.
    “Y như tôi vốn có”
    Người ta thường kể lại cách đây nhiều năm, ở Luân-đôn, có một buổi tiếp tân qui tụ một số quan khách danh giá trong đó có Caesar Milan, một nhà truyền giáo nổi tiếng đương thời. Có một thiếu phụ đánh đàn và hát rất duyên dáng làm mọi người thật thích thú. Rất lịch sự, tế nhị, nhưng mạnh dạn, nhà truyền đạo đã đến bên cạnh thiếu phụ khi tiếng nhạc ngưng và nói: “Được nghe bà đàn đêm nay tôi nghĩ rằng tài năng của bà nếu đem phụng sự cho chính nghĩa của Chúa Cứu Thế thì công việc của Ngài sẽ được ích lợi biết bao. Thưa bà, bà biết rằng bà cũng là một người có tội trước mặt Thượng Đế như một kẻ say rượu nằm dưới mương hay một gái giang hồ trên đường phố màu hồng. Nhưng tôi xin vui mừng nói để bà rõ rằng huyết của Cứu Chúa Giê-xu, Con Ngài, có thể rửa sạch mọi tội lỗi”.
    Người thiếu phụ thốt lời trách mắng ông về những lời quá đáng trên và ông đã đáp lại: “Thưa bà, tôi không có ý làm phật lòng bà. Tôi cầu xin Thánh Linh Thượng Đế thuyết phục bà”.
    Sau buổi họp mặt mọi người ra về. Nhưng thiếu phụ đó không thể ngủ được. Khuôn mặt nhà truyền đạo xuất hiện trước mặt nàng và những lời ông nói vang trong trí. Khoảng hai giờ sáng, nàng chỗi dậy, cầm lấy giấy bút và nước mắt ràn rụa, Charlotte Elliot đã viết bài thơ nổi tiếng sau đây:
    Tuyệt nhiên không cách chi bào chữa tôi, Chỉ huyết Giê-xu đã đổ thay rồi; Ngài yêu tôi lắm, hằng khuyên tôi đến, Kính thưa Giê-xu, tôi nguyện đến liền!
    Dầu tôi như thế, Giê-xu thứ tha, Phóng thích, gội sạch, tiếp rước vô nhà; Lời Cha tuyên hứa, lòng tin quyết tiến, Kính thưa Giê-xu, tôi nguyện đến liền!
    Nhưng đây không phải là chung cuộc. Chúng ta không để cho Chúa Cứu Thế treo trên thập tự với máu chảy tuôn từ đôi tay, từ hông và bàn chân Ngài. Ngài đã được hạ xuống, chôn cất cẩn thận trong một ngôi mộ. Cửa mộ được chặn bằng một phiến đá to. Người ta cắt lính canh mộ. Trọn ngày thứ bảy, các môn đồ Chúa ngồi buồn rầu trong phòng cao. Hai môn đồ đã ra đi đến làng Em-ma-út (làng nhỏ, cách Giê-ru-sa-lem chừng 12 cây số. Sau khi sống lại Chúa Giê-xu có xuất hiện cùng hai môn đồ khi họ đang trên đường đi đến làng này) sự sợ hãi đã bao trùm lấy họ. Sáng sớm ngày Phục Sinh đầu tiên, Ma-ri, Ma-ri Mặc-lan, và Sa-lô-mê đi đến mộ để ướp xác Chúa Giê-xu. Khi tới nơi, họ sững sờ vì thấy ngôi mộ bỏ trống. Như học giả Do-thái Alfred Edershiem viết: “Không có dấu hiệu của sự hấp tấp vội vàng, nhưng tất cả đều theo thứ tự, để lại cái ấn tượng về Đấng đã vui vẻ từ bỏ những gì không phù hợp với Ngài”. Một thiên sứ đang đứng nơi đầu mộ hỏi: “Các ngươi tìm ai?” và họ trả lời: “Chúng tôi tìm Chúa Giê-xu người làng Na-xa-rét”. Thiên sứ liền báo cho họ biết tin vĩ đại nhất và vinh quang nhất mà con người chưa từng nghe. “Chúa không còn ở đây. Ngài đã sống lại rồi!”.
    Sự kiện Chúa Phục sinh.
    Toàn bộ kế hoạch của chương trình cứu chuộc của Thượng Đế căn cứ vào sự kiện lớn lao này. Không có sự sống lại thì không thể có sự cứu rỗi. Chúa Cứu Thế đã tiên đoán nhiều lần rằng Ngài sẽ sống lại. Có lần Ngài phán: “Như Giô-na đã nằm trong bụng cá ba ngày ba đêm ta sẽ vào lòng đất ba ngày ba đêm” (Mat 12:40). Đúng như lời tiên báo, Chúa đã sống lại.
    Trong việc tái lập bất cứ biến cố lịch sử nào cũng có vài qui luật về sự tập trung tài liệu của những chứng nhân đương thời về biến cố nghiên cứu. Có nhiều bằng chứng về việc Chúa Giê-xu sống lại từ kẻ chết hơn cuộc đời của nhà vua Julius Caesar hay cái chết ở tuổi 33 của A-lịch-sơn Đại đế. Điều lạ lùng là nhiều sử gia chịu chấp nhận hàng ngàn sự kiện mà họ chỉ có thể xuất trình những mẫu bằng chứng nhỏ. Nhưng trước bằng chứng tỏ tường về sự phục sinh của Chúa Giê-xu, họ lại nhìn hoài nghi và có thái độ trí thức dè dặt. Vấn đề đối với họ là họ không muốn tin. Căn cứ vào Kinh Thánh nhãn quan thuộc linh của họ bị mờ ám và họ hoàn toàn có thành kiến đến nỗi họ không thể chấp nhận sự kiện vinh quang Chúa Cứu Thế đã sống.
    Sự sống lại trước hết có nghĩa là Chúa Cứu Thế là Thượng Đế chân thật. Ngài chính là Đấng mà Ngài đã tự xưng. Chúa Cứu Thế là Thần hiện thân trong xác thịt.
    Thứ nhì, sự sống lại có nghĩa là Thượng Đế đã chấp nhận công trình cứu chuộc trên thập tự giá của Chúa Cứu Thế, một điều cần thiết cho sự cứu rỗi của chúng ta. “Chúa Cứu Thế chịu chết đền tội chúng ta, và sống lại để chứng nhận chúng ta là người công chính” (Ro 4:25).
    Thứ ba, sự sống lại bảo đảm cho nhân loại về một sự phán xét công bình. “A-đam không vâng lời Thượng Đế làm cho bao nhiêu người mắc tội; Chúa Cứu Thế vâng lời Thượng Đế nên vô số người sạch tội” (5:19).
    Thứ tư, sự sống lại cũng bảo đảm rằng thể xác chúng ta cũng sẽ được sống lại trong ngày cuối cùng. “Nhưng Chúa Cứu Thế thật đã sống lại, Ngài đã sống lại đầu tiên trong muôn triệu người sẽ sống lại” (ICo 15:20). Kinh Thánh dạy rằng là Cơ Đốc nhân, thể xác chúng ta có nằm trong mộ địa, nhưng sẽ được cất lên vào buổi sáng phục sinh vĩ đại, và sự chết sẽ bị nuốt mất trong chiến thắng. Do việc Chúa Cứu Thế sống lại, nọc độc của sự chết đã mất đi và Chúa Cứu Thế cầm chìa khóa của sự chết. Ngài phán: “Ta là Đấng sống, Ta đã chết, nhưng nay Ta sống đời đời giữ chìa khóa cõi chết và âm phủ” (Kh 1:18). Và Ngài hứa: “Vì ta sống thì các con cũng sẽ sống”.
    Thứ năm, sự sống lại có nghĩa là sự chết bị tiêu diệt. Quyền năng của sự chết đã bị bẻ gãy và niềm sợ hãi về sự chết không còn nữa. Giờ đây chúng ta có thể nói như tác giả Thi-thiên: “Dầu khi tôi đi trong trũng bóng chết, tôi sẽ chẳng sợ tai họa nào vì Chúa ở cùng tôi. Cây trượng và cây gậy của Chúa an ủi tôi” (Thi 23:4).
    Phao-lô hướng về sự chết với niềm hy vọng lớn lao, xem đó là kết quả sự sống lại của Chúa Cứu Thế, ông nói: “Đối với tôi, hễ còn sống ngày nào là còn cơ hội hiển minh Chúa Cứu Thế” (Phi 1:21). Như Velma Barfield một tử tội tại Bắc Carolina nói: “Tôi quá yêu Ngài đến nỗi khó có thể chờ đợi để được gặp Ngài”.
    Không có sự sống lại của Chúa Cứu Thế, sẽ không có hy vọng gì ở tương lai. Kinh Thánh hứa rằng một ngày kia chúng ta sẽ đối diện với Chúa Cứu Thế Phục Sinh, và chúng ta sẽ có thể giống như chính Ngài.
    BẮT ĐẦU THẾ NÀO VÀ BẮT ĐẦU Ở ĐÂU?
    Nếu các con không đổi mới, thành như em bé,
    các con sẽ chẳng được vào Nước Trời.
    Mat 18:3
    ĐẾN đây chúng ta nhận thấy rằng có một nguyên tắc thiên nhiên kéo mình xuống bình diện thú vật, làm cho lý trí mờ mịt, lương tâm chai lì và ý chí tê liệt. Chính những hành động của chúng ta kết tội chúng ta.
    Thượng Đế là Đấng Chí Thánh và Công Nghĩa, Ngài không thể dung thứ tội lỗi. Tội lỗi chia cách con người với Thượng Đế, đem sự thạnh nộ của Thượng Đế giáng trên linh hồn con người. Vì mất Thượng Đế con người mất ý thức về Ngài trên phương diện đạo đức, trí tuệ và tâm linh. Con người không gặp được Thượng Đế cho đến khi tìm ra con đường về với Ngài.
    Con đường quay về với Thượng Đế không phải là con đường trí tuệ, cũng không phải là con đường đạo đức. Bạn không thể nhờ tư tưởng tìm được Thượng Đế, vì đời sống tư tưởng và tâm trí xác thịt bạn vẫn chống nghịch Ngài. Bạn không thể biến con đường trở về với Thượng Đế thành sự thờ phượng, vì con người là kẻ bội nghịch trước mặt Thượng Đế. Bạn không thể đạo đức hóa con đường trở về với Thượng Đế, vì bản tính con người bị tội lỗi làm hư hoại.
    Con đường quay về với Thượng Đế.
    Câu hỏi tự nhiên đến với bạn sẽ là - Tôi phải làm gì? Tôi phải bắt đầu từ đâu? Tôi khởi sự chỗ nào? Đâu là con đường dẫn tôi trở về với Thượng Đế? Chỉ có ‘một con đường’ trở về với Ngài. Chúa Giê-xu phán: “Nếu các con không đổi mới, thành như em bé, các con sẽ chẳng được vào Nước Trời” (Mat 18:3). Điều có nghĩa Chúa Giê-xu không bảo trẻ con hãy trở thành môn đệ Ngài, mà dạy rằng các môn đệ Ngài hãy trở nên như trẻ con. Bằng đức tin như trẻ con, mọi người đều có hy vọng, đi từ tâm hồn ngây thơ đến thông tuệ trí thức. Như vậy, Chúa Giê-xu đòi hỏi sự biến cải. Đó là cách phải bắt đầu! Đó là khởi điểm! Bạn phải biến cải.
    Có nhiều người lầm lẫn sự biến cải với sự tuân hành luật pháp. Kinh Thánh dùng những danh từ đặc biệt để nêu rõ luật pháp của Mai-sen, và mục đích của luật pháp đã được minh thị. Luật pháp không bao giờ được xem như là một phương thuốc trị bá chứng đối với những ác tật của thế gian. Trái lại, luật pháp được xem là phương pháp chẩn đoán ác tật của thế gian, trình bày nguyên nhân của các vấn đề. Luật pháp không phải là phương cứu chữa. Kinh Thánh chép: “Chúng ta biết mọi điều luật pháp đòi hỏi đều áp dụng cho những người sống dưới luật pháp, nên chẳng ai có thể chạy tội, và cả nhân loại sẽ bị Thượng Đế xét xử “ (Ro 3:19). Luật pháp bày tỏ con người là bất nghĩa, và Kinh Thánh chép: “Chiếu theo luật pháp, chẳng ai được kể là công chính, vô tội trước mặt Thượng Đế” (3:20). Không thể nào được biến cải nhờ tuân giữ luật pháp. Kinh Thánh chép: “Vì luật pháp chỉ giúp con người biết mình có tội”. Luật pháp là tấm gương đạo đức, chỉ kết tội mà không biến cải, chỉ thách thức mà không thay đổi, chỉ lên án mà không thương xót. Không có sự sống trong luật pháp. Chỉ có sự chết, vì luật pháp tuyên án: “Ngươi sẽ chết”. Đây là “thước đo sự ngay thẳng” mà khi đặt bên cạnh nó sự bất chính của bản tánh con người sẽ nổi bật hẳn lên hết sức rõ ràng.
    Nhiều người nói rằng tôn giáo của họ là Bài Giảng Trên Núi, nhưng chưa hề có một người nào trên thế gian này sống được một đời sống xứng đáng với Bài Giảng Trên Núi. Kinh Thánh chép: “Vì mọi người đều phạm tội, không còn phản chiếu vinh quang Thượng Đế”.
    Hãy xem xét lại những động cơ thúc đẩy chính bạn trước khi bạn quả quyết và tiếp tục sống một cuộc đời không cần biến cải. Hãy can đảm và thành thật nhìn vào chính lòng mình trước khi nói rằng việc biến cải là cần thiết đối với một số người, còn với bạn thì chắc chắn không được ích lợi gì.
    Vấn đề phổ quát.
    Khi tôi giảng đạo ở Hollywood, một số người trong giới điện ảnh đã yêu cầu tôi nói cho họ nghe về những kinh nghiệm tôn giáo. Sau bài giảng của tôi là giờ thảo luận, câu hỏi đầu tiên nêu lên là: “Sự biến cải là gì?” (conversion: ăn năn quy đạo).
    Cách ít lâu sau, tôi được hân hạnh giảng cho một số lãnh tụ chính trị tại Washington. Đến lúc bắt đầu thảo luận, câu hỏi đầu tiên nêu lên vẫn là: “Sự biến cải là gì?” Trong quyển ‘Làm thế nào để được tái sinh’, tôi đã mô tả tiến trình ấy như sau:
    Sự tái sinh xảy ra nhiều cách. Dường như có thể xảy ra suốt một thời gian dài, hoặc chỉ trong khoảnh khắc. Nẻo đường người ta phải đi qua để đến điểm đó có thể thật suông sẻ hoặc hết sức vòng vèo. Cho dầu nẻo đường ấy có thể nào đi nữa, chúng ta luôn luôn thấy có Chúa Giê-xu ở đoạn cuối để đón chúng ta. Và cuộc gặp gỡ với Chúa Cứu Thế, sự tái sinh là khởi điểm cho cả một con đường mới sống dưới sự hướng dẫn, kiểm soát của Ngài. Nhiều cuộc đời được biến đổi quan trọng, nhiều cuộc hôn nhân được cải thiện tạo phấn khởi, nhiều xã hội chịu ảnh hưởng để tốt đẹp hơn - tất cả chỉ nhờ sự thay đổi đơn giản, đột ngột, có tính cách như vết dầu loang của những cá nhân biết rõ tái sinh là thế nào.
    Trong nền kinh tế hiện nay, chúng ta được nghe nói về các loại xe “tân trang”, các “mốt mới”, loại nhựa “tái sinh”, nhưng tôi không đề cập những điều đó ở đây. Có lẽ cách đơn giản nhất để vạch rõ “được tái sinh” có nghĩa gì, là nói rằng đó là việc một người được sinh ra trong gia đình Thượng Đế.
    Trong hầu hết các trường đại học mà tôi có dịp hướng dẫn thảo luận, sinh viên vẫn luôn hỏi: “Sự biến cải có nghĩa gì?”.
    Có lẽ câu hỏi này có nhiều cách trả lời hơn bất cứ câu hỏi nào khác liên hệ đến tôn giáo. Biến cải là gì? Nó liên hệ đến những gì? Nó xảy ra như thế nào? Hiệu quả của sự biến cải ra sao? Tại sao bạn phải biến cải mới được vào thiên đàng?
    Ý niệm về sự biến cải hoàn toàn không xa lạ gì ở xã hội chúng ta. Người có tài bán hàng phải biến cải được ý kiến kẻ khác đối với món hàng đặc biệt hoặc theo lối suy tư của mình. Phần chính yếu của việc quảng cáo là chuyển đổi ý thích khách hàng từ hãng này sang hãng khác. Chúng ta nghe nói đến những lãnh tụ chính trị chuyển đổi triết thuyết chính trị căn bản của họ để thừa nhận một triết thuyết chính trị khác. Trong thế chiến vừa qua, nhiều mặt hàng kỹ nghệ thời bình đã chuyển sản xuất, sang hàng phục vụ cho chiến tranh, và trong các gia đình hầu hết các bếp lò đun bằng dầu đã được cải tiến để nấu bằng than, rồi gần đây, lại được cải tiến lần nữa để dùng khí đốt. Chúng ta cũng đổi tiền của chúng ta ra tiền ngoại quốc.
    Thật ra, từ ngữ biến cải có nghĩa là “quay lại”, “đổi ý”, “quay về” hay “trở về”. Trong phạm vi tôn giáo, từ ngữ này được giải thích nhiều cách khác nhau, là “ăn năn”, “tái sanh”, “tiếp nhận ân phúc”, “từng trải tôn giáo”, hoặc “được vững lòng”.
    Tôi còn nhớ trong một buổi nhóm khai mạc chiến dịch truyền giảng, có một người nghiện rượu nặng đến nói với tôi: “Thưa ông Graham, tôi không tin chắc mọi lời ông nói có đúng sự thật hay không, nhưng tôi sẽ thử Chúa Cứu Thế của ông, nếu Ngài tác động trong tôi đôi chút đúng như ông đã nói, tôi sẽ trở lại để ký tên tin theo Ngài trọn đời!”
    Nhiều tuần sau, ông ta thuật cho tôi hay rằng ông hoàn toàn không hiểu vì sao cứ mỗi lần ông bắt đầu uống rượu thì hình như có cái gì đó ngăn cản ông. Chúa Cứu Thế đã giúp ông ta thắng thói quen xấu xa. Ông trở về với gia đình. Nói cách khác, ông đã quay lại, đổi hướng, đổi lối suy tư - ông đã biến cải!
    Bản tính của sự biến cải.
    Sự biến cải có nhiều hình thức khác nhau. Phần lớn việc thực hiện tùy thuộc ở cá nhân: sự quân bình tình cảm, môi trường chung quanh và những điều kiện, cùng nếp sống từ trước của người đó. Sự biến cải có thể theo sau một cuộc khủng hoảng lớn lao trong đời sống một người; hoặc xảy ra khi tất cả những giá trị vốn có đã bị quét sạch, khi đã bị thất vọng sâu xa, khi không tìm thấy được năng lực tinh thần mặc dù có của cải vật chất đầy đủ, hay bị mất đi đối tượcng tình cảm. Những người chỉ chú trọng vào tài chánh, công việc làm ăn, hoặc uy tín xã hội, hoặc hết lòng yêu mến một người, ắt sẽ cảm thấy mất mát ghê gớm khi điều từng làm cho đời sống mình có ý nghĩa bị phủ nhận.
    Trong những giờ phút bi thảm đó, khi bị mất hết năng lực trần thế, hoặc khi người yêu dấu đã ra đi không bao giờ trở lại, người ấy nhận thấy mình cô đơn khủng khiếp! Ngay lúc đó, Đức Thánh Linh có thể làm cho tấm khăn bịt mắt rơi xuống, và lần đầu tiên, người ấy thấy căn cơ rõ ràng. Người ấy nhận thấy chỉ có Thượng Đế là nguồn quyền năng duy nhất và là căn nguyên bền bỉ duy nhất của tình yêu thương và thân hữu.
    Hoặc nữa, sự biến cải có thể xảy ra lúc bạn lên đến tuyệt đỉnh quyền thế hay thịnh vượng, khi tất cả mọi việc đẹp đẽ và mọi ơn phước tốt lành thương xót của Thượng Đế đầy dẫy trên bạn. Lòng nhân ái của Thượng Đế có thể khiến bạn nhận biết rằng nhờ Ngài mà mình có mọi sự; như vậy, chính tấm lòng từ ái của Thượng Đế dẫn dắt bạn đến sự ăn năn. “Hay anh em coi thường lòng nhân từ, khoan dung, nhẫn nại vô biên của Chúa, đến nỗi không nhận thấy Ngài nhân từ vì chờ đợi anh em hối cải?” (Ro 2:4).
    Sự biến cải trong giờ phút đó có thể bất thần và cảm động giống như sự biến cải của Phao-lô trên con đường đi Đa-mách.
    Không phải tất cả những sự biến cải đều xảy đến đột ngột như một khải tượng chớp nhoáng của linh hồn, mà chúng ta gọi là sự biến cải trong cơn khủng hoảng. Có nhiều người chỉ được biến cải sau khi tranh chấp gay go, lâu dài với những động cơ nội tại của con người. Với một số người thì, sự biến cải xảy ra như cực điểm của một thời gian dài tiệm tiến trong niềm xác tín về nhu cầu của những người đó và trong sự khải thị kế hoạch cứu rỗi. Phương thức tiệm tiến này đưa đến việc tiếp nhận Chúa Cứu Thế làm Cứu Chúa một cách có ý thức và việc hiến dâng đời sống mình cho Ngài.
    Trong phần tự thuật tiểu sử thuộc linh của mình, C. S. Lewis mô tả từng trải ăn năn quy đạo của ông như sau:
    Bạn phải hình dung ra cảnh tôi sống cô đơn trong căn phòng tại Magdalen, đêm này sang đêm khác, cứ mỗi lần để tâm trí mình rời khỏi công việc dầu chỉ trong một giây là cảm thấy ngay Đấng mà tôi chẳng hề muốn gặp, tiến tới gần mình càng rõ ràng hơn. Điều mà tôi rất sợ, cuối cùng cũng đã đến với tôi. Trong niên khóa 1929 tại Trường cao đẳng Trinity tôi đã nhượng bộ, nhận rằng Thượng Đế là Thượng Đế và quỳ gối cầu nguyện: đêm đó, trong cả nước Anh có lẽ tôi là kẻ ăn năn quy đạo chán chường, miễn cưỡng nhất. Lúc đó tôi vẫn chưa thấy được điều bây giờ đã trở thành sáng chói, hiển nhiên nhất: thái độ khiêm hạ của một Thượng Đế khi chịu chấp nhận một kẻ ăn năn quy đạo trong những điều kiện như thế. Cuối cùng thì đứa con hoang đàng đã tự nguyện quay bước trở về nhà. Nhưng ai là người có thể tôn thờ đúng mức phần tình thương sẵn sàng mở rộng các khung cửa lớn cho một đứa con hoang đàng bị đẩy vào đó, mà còn vùng vằng, chống cự lại, lòng đầy oán hận, với đôi mắt đảo quanh đủ mọi hướng để tìm một cơ hội thoát thân như vậy? Mấy chữ "ép họ vào" đã bị những kẻ ác lạm dụng khiến chúng ta rùng mình khi nghe đến chúng; nhưng nếu được hiêểu đúng, thì chúng đã dò được chiều sâu lòng khoan dung của Thượng Đế. Sự khó chịu của Thượng Đế vốn dễ chịu hơn cái nhẹ nhàng êm dịu của loài người, và sự thúc đẩy của Ngài là sự giải phóng cho chúng ta.
    Như thế, có thể nói rằng sự biến cải là một biến cố tức thì, một cơn khủng hoảng mà người biến cải nhận được sự khải thị rõ ràng về tình yêu thương của Thượng Đế; hay có thể là sự bày tỏ tiệm tiến và tiếp sau đó là giây phút đỉnh điểm, vượt lằn ranh từ tối qua sáng, từ sự chết qua sự sống vĩnh cửu.
    Sự biến cải không phải lúc nào cũng xảy ra đúng theo lối đó. Vợ tôi chẳng hạn, nàng không nhớ đúng ngày giờ nào nàng đã trở thành Cơ Đốc nhân, nhưng nàng biết chắc trong đời mình đã có một giờ phút như vậy, giờ phút mà nàng thật sự vượt qua lằn mức. Nhiều người trẻ tuổi, lớn lên trong gia đình Cơ Đốc và được hưởng nền giáo dục trong đạo Chúa Cứu Thế, không ý thức được mình đã phó thác đời sống cho Ngài lúc nào. Nhiều người khác nhớ rất rõ thời gian họ công khai xưng nhận đức tin mình. Những lời tường thuật trong Tân Ước về sự biến cải cho thấy đa số trường hợp thuộc loại linh động, nhanh chóng.
    Biến cải theo cách nhìn của tâm lý học.
    Đã nhiều năm rồi, khoa tâm lý học không đá động tới sự biến cải và từng trải tôn giáo, nhưng trong khoảng hai mươi lăm năm gần đây, nhiều nhà tâm lý học đã nghiên cứu vấn đề biến cải. Họ trình bày rằng sự biến cải không chỉ là một từng trải của tín đồ Cơ Đốc mà cũng là điều tìm thấy ở các tôn giáo khác, và điều này không nhất thiết là một hiện tượng tôn giáo, song cũng xảy ra trong các địa hạt phi tôn giáo. Các sinh viên tâm lý học đã đồng ý rằng sự biến cải có giai đoạn: Thứ nhất, cảm thấy bối rối, khó chịu; thứ nhì, tuyệt điểm và chuyển hướng; và thứ ba, sự thanh thản yên nghỉ, vui mừng.
    Trong một bài báo “Tại sao cảm thấy khó chịu lại là tốt”, tờ ‘Nữu-ước thời báo’ (29 tháng 11 năm 1983) vạch rõ: “Ý thức phạm tội, cảm giác âu lo rằng mình bị hụt hẫng, không đạt được các tiêu chuẩn chính mình đặt ra, là người bảo vệ cho sự tốt lành thánh thiện của chúng ta. Nó cần thiết cho sự phát triển lương tâm của trẻ con, và ngăn ngừa cách ăn nết ở chống lại xã hội”. Bài báo giải thích tiếp: “Trong tuổi ấu thơ, phần lớn cách ăn nết ở tốt là do các bậc làm cha mẹ cưỡng ép đưa vào bằng nỗi sợ hãi phạm tội, sợ bị trừng phạt hay vi phạm cách ăn ở cư xử. Nhưng khi đứa trẻ lớn lên, phần ûn ngã lý tưởng“ - hình thức của gương mặt uy quyền người cha - được tiếp thu như một khuôn mẫu của cách ăn ở cư xử đúng đắn... và khi trưởng thành, người ta tìm cách tự trừng phạt khi phản bội lại khuôn mẫu ấy. Bác sĩ Gaylin nhận thấy rằng một trong những nguyên nhân gây nên cách xử sự thiếu suy nghĩ và đầy tội lỗi càng ngày càng tăng giữa vòng thanh thiếu niên ngày nay là việc thiếu mất khuôn mẫu hay uy quyền của người cha”. Chính ý thức phạm tội đó đã tạo ra lòng khao khát một cái gì tốt hơn - mà chúng ta chỉ tìm thấy trong mối liên hệ phải lẽ với Chúa Cứu Thế mà thôi.
    Các nhà tâm lý nói rằng có hai loại biến cải. Một loại có kèm theo sự cảm biết mãnh liệt về tội lỗi, và một loại kèm theo sự cảm biết mình bất toàn, cố tranh đấu cho đời sống được khoáng đạt hơn và một lòng ước ao được khải thị về phần thuộc linh. Giá trị của những cuộc nghiên cứu biến cải về mặt tâm lý đã bị đánh giá quá thấp. Chúng ta không thể gạt bỏ qua một bên và không thèm biết đến chúng. Chúng soi sáng rất nhiều, nhưng ít có cuộc nghiên cứu nào chấp nhận sự hoán cải theo Kinh Thánh là một kinh nghiệm siêu nhiên.
    Thực ra sự biến cải theo Kinh Thánh gồm ba giai đoạn - hai giai đoạn tích cực và một giai đoạn tiêu cực. Trong sự biến cải tích cực có sự ăn năn đức tin. Sự ăn năn là sự biến cải nhìn từ khởi điểm, sự quay lưng lại đối với lối sống cũ. Đức tin cho thấy đối tượng của sự biến cải, sự quay về với Thượng Đế. Giai đoạn thứ ba, tiêu cực, chúng ta có thể gọi là sự tái sinh, hoặc sinh lại, nghĩa đen là được sinh ra trong gia đình của Thượng Đế.
    Để được vào thiên đàng, Chúa Giê-xu phán rằng bạn phải biến cải. Không phải tôi nói - nhưng chính Chúa Giê-xu đã phán điều đó! Đây không phải ý kiến của con người, nhưng là ý kiến của Thượng Đế! Chúa Giê-xu phán: “Nếu các con không đổi mới, thành như em bé, các con sẽ chẳng vào được Nước Trời” (Mat 18:3).
    Sự biến cải thực gồm toàn thể trí tuệ, toàn thể tình cảm, và toàn thể ý chí. Có nhiều người đã trở lại với Chúa Cứu Thế trên phương diện trí thức. Họ tin toàn bộ Kinh Thánh. Họ tin mọi điều liên quan đến Chúa Giê-xu, nhưng họ chưa bao giờ thật sự được biến cải và quay về với Ngài. Kinh Thánh nói: “chính các quỉ cũng tin như vậy và run sợ” (Gia 2:19).
    Chỗ khác nhau giữa tin bằng trí khôn với biến cải.
    Chương thứ hai, sách Phúc Âm Giăng, có đoạn mô tả việc hằng trăm người theo Chúa Giê-xu khi Ngài mới bắt đầu thi hành chức vụ. Đoạn này chép rằng “nhiều người tin Chúa vì thấy các phép lạ Ngài làm. Nhưng Chúa không tin cậy họ vì Ngài biết rõ mọi người” (Gi 2:2324). Tại sao Chúa Giê-xu không tin cậy họ? Vì Ngài biết rằng họ tin bằng trí óc chứ không phải bằng tấm lòng.
    Có sự khác biệt rất lớn lao giữa sự biến cải bằng trí tuệ và sự biến cải toàn diện để cứu được linh hồn. Thật vậy, phải có sự biến cải trong cách suy nghĩ và trong sự tiếp nhận Chúa Cứu Thế bằng trí tuệ của bạn.
    Hằng ngàn hằng vạn người có một từng trải tình cảm theo một trạng thái nào đó mà họ cho là sự biến cải; nhưng họ không bao giờ thật sự biến cải và quay về với Chúa Cứu Thế Giê-xu. Ngài đòi hỏi nơi bạn một sự thay đổi trong lối sống - và nếu đời sống bạn không phù hợp với từng trải, thì bạn có đủ lý do để nghi ngờ từng trải của mình! Khi đến với Chúa chắc chắn những yếu tố hình thành tình cảm trong bạn sẽ thay đổi tạo nên tình cảm; sẽ có vấn đề yêu và ghét, vì bạn sẽ bắt đầu ghét tội lỗi và yêu mến sự công nghĩa. Các tình cảm mến thương của bạn sẽ trải qua một cuộc cách mạng. Sự cung kính của bạn đối với Chúa sẽ không còn giới hạn nữa. Lòng yêu mến của bạn đối với Ngài sẽ không sao tả xiết.
    Nhưng dù bạn tiếp nhận Chúa Cứu Thế bằng trí tuệ và được từng trải trong phần tình cảm, cũng vẫn chưa đủ. Phải có sự biến cải của ý chí! Phải có sự quyết định vâng phục và tuân theo Chúa Cứu Thế. Ý chí bạn phải uốn nắn theo ý muốn của Thượng Đế. Bản ngã bạn phải bị đóng đinh vào cây thập tự. Bạn chỉ còn ao ước một điều là làm đẹp lòng Ngài. Nhiều người trong chúng ta có thể đồng thanh với người phụ nữ đã viết thư cho chúng tôi liên hệ với các vấn đề ấy rằng “nhưng tôi đã không làm được việc đó một cách dễ dàng”. Vâng, không hề ai trong chúng ta lại làm được việc ấy một cách dễ dàng. Ước ao tha thiết nhất của chúng ta phải là làm đẹp lòng Ngài. Đó là một sự dấn thân trọn vẹn.
    Trong sự biến cải, khi đứng dưới chân thập tự giá, Đức Thánh Linh giúp bạn nhận biết mình là một tội nhân. Ngài sẽ hướng dẫn đức tin bạn đến với Chúa Giê-xu là Đấng đã chịu chết thay cho bạn. Bạn phải mở lòng ra mời Ngài ngự vào. Chính lúc đó, Đức Thánh Linh thực hiện điều kỳ diệu của sự tái sanh. Bạn thật sự trở thành một loài thọ tạo mới về phần đạo đức. Bản chất thiên thượng được truyền vào bạn. Bạn trở thành người dự phần vào chính sự sống của Thượng Đế. Nhờ Thánh Linh của Thượng Đế, Chúa Giê-xu ngự trị trong lòng bạn.
    Sự biến cải rất giản dị đến nỗi một em bé cũng có thể được biến cải, nhưng cũng rất sâu nhiệm đến nỗi suốt cả lịch sử, nhiều nhà thần học đã phải cân nhắc ý sâu nhiệm của nó. Thượng Đế đã khiến cho con đường cứu rỗi rõ ràng đến nỗi “ai đi trong đường đó, dầu khờ dại, cũng không lầm lạc” (Es 35:8). Chẳng ai vì thiếu khả năng hiểu biết mà bị ngăn cản không được vào Nước của Thượng Đế. Người giàu và người nghèo, người thông minh tinh tế cũng như người giản dị chất phác - tất cả đều có thể biến cải.
    Tóm lại, sự biến cải có ý nghĩa đơn giản là “thay đổi”. Khi một người đã biến cải, người ấy có thể tiếp tục yêu thích những vật mình từng yêu thích trước kia, nhưng các lý do yêu thích sẽ thay đổi. Một người đã biến cải có thể từ bỏ những vật mình từng yêu thích, có thể đoạn tuyệt những mối giao thiệp trần tục, không phải vì ghét bỏ bạn hữu mình, vì phần đông những người đó vẫn là những người đoan chính, khả ái, song vì cớ có nhiều điều hấp dẫn hơn đối với người ấy trong mối tương giao nơi tín hữu Cơ Đốc cùng một tâm chí.
    Người được biến cải sẽ yêu những điều trước kia mình ghét, và ghét những điều trước kia mình yêu. Thậm chí lòng họ đối với Thượng Đế cũng thay đổi. Trước kia, họ không nghĩ đến Thượng Đế, luôn luôn sống trong sự sợ hãi, khủng khiếp và chống nghịch Ngài, nhưng bây giờ ở trong trạng thái hoàn toàn tôn trọng, tin cậy, phục tùng và sùng kính Ngài! Họ sẽ kính sợ Thượng Đế, luôn luôn biết ơn Ngài, tin cậy, tùy thuộc Ngài, và có lòng trung thành mới mẻ đối với Ngài. Trước khi sự biến cải xảy ra có thể họ chỉ chăm thỏa mãn xác thịt. Đeo đuổi về văn hóa và trí thức hoặc sự làm giàu đã chiếm địa vị tối ưu tiên, cao cả trong đời sống họ. Giờ đây, họ quan tâm đến điều công nghĩa, lòng thánh thiện, và đời sống Cơ Đốc hơn tất cả mọi sự, vì đối với họ, chỉ có một điều thật sự quan trọng làm đẹp lòng Chúa Cứu Thế. Nói cách khác, biến cải là sự thay đổi hoàn toàn trong đời sống một cá nhân.
    Một trường hợp biến cải.
    Tôi nhớ rất rõ có một thiếu nữ tại New York đã đến Los Angeles để làm lễ thành hôn. Nàng và vị hôn phu đã gặp nhau khi cùng làm việc tại một hãng quảng cáo có nhiều uy tín ở New York, và mối tình giữa hai người được bắt đầu trong bối cảnh của những cuộc tiếp tân và tại các hộp đêm. Với tham vọng “tiến thân” chàng xin chuyển qua một chi nhánh ở tiểu bang California và hy vọng sáu tháng sau, nàng sẽ theo mình để làm lễ cưới.
    Sau khi đến Los Angeles với niềm ao ước được sống cuộc đời mới mẻ vui tươi, độ một tuần lễ, nàng khám phá ra chàng đã say mê một tiểu minh tinh màn bạc, và không đủ can đảm viết thơ cho nàng biết sự việc ấy trước khi nàng rời New York!
    Thế là nàng lâm vào tình trạng cô đơn giữa một thành phố không người quen biết - mọi chương trình sắp đặt tiêu tan, lòng kiêu hãnh bị chà đạp và tương lai thăm thẳm trước mặt, nhạt nhòa và trống rỗng. Gia đình nàng không theo đạo và trong giờ phút cấp thiết tột độ, nàng không biết quay về đâu để tìm sự an ủi, khuyên bảo hay chỉ dẫn.
    Trong khi lê chân trên những đường phố xa lạ, cố đè nén niềm tủi hờn và xúc động, nàng tới nơi chúng tôi cắm trại để truyền giảng Phúc Âm. Nàng nói rằng không biết điều gì đã khiến nàng đặt chân đến đó; nhưng nàng đã rẽ vào và ngồi âu sầu trong suốt buổi nhóm. Đêm sau nàng lại đến, và cứ thế suốt cả tuần lễ, tới khi xuyên qua cụm mây cay đắng, sầu khổ bao bọc lấy nàng, Thượng Đế cho nàng nghe tiếng phán của Ngài và nàng đã bước lên tiếp nhận ơn cứu rỗi.
    Nhờ đức tin trong Chúa Cứu Thế Giê-xu, gánh nặng của sự phạm tội và chối bỏ được cất đi, nàng đã lần lần cảm thấy tình yêu của mình đã mất chỉ là nấc thang đưa tới một tình yêu lớn lao, phong phú hơn bội phần. Nàng không còn cảm thấy tủi nhục vì phải trở về New York làm công việc cũ; lúc trở về, thay cho cuộc đời tan vỡ nàng đã tìm thấy cuộc đời phong phú hơn trước. Trong Hội thánh nàng rất hoạt động, chớ chẳng còn phí đầu óc và khả năng tổ chức của mình vào những cuộc tiếp tân bất tận.
    Trước kia nàng dùng sáng kiến để giải trí cho “nhân viên trong sở” giờ đây, nàng sử dụng nó để làm sống động các truyện trong Kinh Thánh cho giới trẻ. Trước kia nàng được huấn luyện để gây cơ sở tài chánh bây giờ, khả năng ấy để hầu việc Chúa một cách có lợi. Vị mục sư của nàng đã nói rằng các ý kiến nàng rất có giá trị trong việc tăng số người nhóm họp tại nhà thờ. Thay vì bị từ bỏ và ruồng rẫy, nàng luôn luôn được các hội viên Hội thánh tìm đến để nhờ cậy. Nhưng điều quan trọng hơn hết, cảm giác cô đơn đã biến mất, vì giờ đây nàng biết Chúa Cứu Thế Giê-xu luôn luôn bên cạnh, sẵn sàng an ủi, hướng dẫn và bảo vệ nàng.
    Tất cả mọi điều đó là kết quả do sự biến cải của nàng - tức là xây khỏi con đường thế gian ảm đạm, trống rỗng, trần tục vô phước mà nàng đã đi bấy lâu - để quay về với Chúa Giê-xu, là Chúa và Chúa Cứu Thế của nàng! Nàng đã tìm được bình an trong Chúa.

    ĂN NĂN LÀ GÌ?
    Thiên đàng sẽ vui mừng vì một tội nhân ăn năn quay về Thượng Đế,
    hơn chín mươi chín người công chính không cần phải ăn năn.
    Lu 15:7
    CHÚNG ta thấy Chúa Giê-xu đòi hỏi người ta phải biến cải; và biết rằng ba yếu tố của biến cải là ăn năn, tin nhận và tái sanh. Vấn đề có thể tranh luận là ba yếu tố này xảy ra theo thứ tự nào, nhưng nói chung người ta đồng ý rằng có lẽ cả ba xảy ra cùng một lúc. Dù ý thức hay không ý thức, ba yếu tố này cũng xảy ra đồng thời chính lúc ta biến cải.
    Nếu có thể dùng một từ ngữ để mô tả sự ăn năn, tôi sẽ dùng chữ từ bỏ. Bạn sẽ hỏi: “Từ bỏ gì?” Câu trả lời có thể gồm trong một danh từ - “tội lỗi”. Như đã thấy, Kinh Thánh dạy rằng tội lỗi là sự vi phạm luật pháp. Tội lỗi là không phục tùng quyền hành của Thượng Đế và chối bỏ tất cả bổn phận đối với Ngài. Tội lỗi là nguyên tắc xấu xa đã xâm phạm vườn Ê-đen lúc A-đam cùng Ê-va bị cám dỗ và sa ngã. Từ lúc xảy ra tai họa trong vườn Ê-đen, nọc độc của ác tật đã ảnh hưởng trên cả nhân loại, đến nỗi “mọi người đều phạm tội” và “chẳng có một người nào công chính dù chỉ một người thôi”. Tội lỗi đã hủy diệt mối tương giao giữa chúng ta với Thượng Đế; do đó, làm rối loạn sự tương giao giữa chúng ta với nhau và cả với chính mình nữa.
    Chúng ta không thể sống bình an với Thượng Đế, hoặc bình an giữa chúng ta với nhau trên đời, hoặc bình an trong lòng, cho đến khi đã giải quyết xong tội lỗi là “điều gớm ghiếc mà Thượng Đế ghét bỏ”. Chẳng những chúng ta phải từ bỏ tội lỗi, nhưng còn phải từ bỏ’ ‘các tội lỗi nữa. Chúng ta phải từ bỏ thế gian, xác thịt và ma quỉ. Không thể nào chấp nhận sự thương thuyết, điều đình, thỏa hiệp, hay do dự. Chúa Cứu Thế đòi hỏi sự từ bỏ tuyệt đối.
    Ăn năn và Đức tin.
    Đến đây, yếu tố tình yêu lại liên hệ vào vấn đề, vì khi hoàn toàn và tuyệt đối kính mến Chúa Giê-xu, bạn chẳng bao giờ muốn làm những điều Ngài khinh ghét. Một khi đầu phục Chúa Giê-xu bằng đức tin, tự nhiên bạn sẽ từ bỏ tất cả những tội lỗi của đời sống mình. Do đó, ăn năn và tin nhận đi đôi với nhau. Bạn không thể nào ăn năn thực sự mà không có đức tin cứu rỗi và không thể có đức tin cứu rỗi nếu không thật ăn năn.
    Danh từ ăn năn ngày nay đã vắng bóng cách đáng buồn trên các tòa giảng. Đó là một danh từ không phổ thông một chút nào. Bài giảng đầu tiên của Chúa Giê-xu là: “Hãy ăn năn tội lỗi, quay về Thượng Đế, vì Nước Trời gần đến” (Mat 4:17). Đó là điều Thượng Đế phán qua Con Ngài. Chúa Giê-xu đã đến với tấm lòng tràn đầy tình yêu và sự thương xót, nhưng việc đầu tiên là Ngài cảnh cáo mạnh mẽ về sự vấp phạm và tội lỗi con người. Ngài kêu gọi con người nhận thức tội lỗi của mình và từ bỏ thái độ bất kính. Ngài phán rằng phải ăn năn trước khi tiếp nhận tình yêu, ân điển và sự thương xót của Ngài. Chúa Giê-xu không chịu bào chữa cho tội ác. Ngài nhấn mạnh rằng người ta phải tự xét mình, dứt khoát quay lại và phải có một thái độ mới mẻ trước khi Ngài bày tỏ tình yêu của Thượng Đế.
    Một ngày kia, có người đến với Chúa Giê-xu và thuật cho Ngài hay rằng một số người Ga-li-lê (miền đất phía Bắc nước Do-thái> nổi loạn, bị quân La-mã đàn áp và Phi-lát đã lấy huyết của họđem trộn với của lễ. Họ cũng thuật việc một cái tháp ở Si-lô-ê (vùng đất trũng trong thành Giê-ru-sa-lem, gần cung điện của vua xứ Do-thái) bị sụp đổ đè chết nhiều người. Để trả lời, Chúa Giê-xu tuyên bố: “Anh em tưởng mấy người đó bị giết vì phạm tội nặng hơn những người Ga-li-lê khác sao? Không đâu! chính anh em cũng bị hư vong nếu không ăn năn tội lỗi, quay về Thượng Đế” (Lu 13:3). Nói cách khác, Chúa Giê-xu phán rằng dù con người có chết bởi bạo lực, tai nạn hay tự nhiên, thì số phận của họ cũng như nhau, trừ phi họ ăn năn và quay về với Thượng Đế. Nếu chẳng ăn năn, tuyệt nhiên không thể nào tin nhận được. Sự ăn năn không giới hạn nhưng mở đường cho ân điển của Thượng Đế
    Ăn năn và Ân sủng của Thượng Đế.
    Chúng ta biết rằng sự cứu rỗi căn cứ hoàn toàn trên ân điển của Thượng Đế. Chúng ta thấy rằng những của lễ, các nghi thức và việc làm theo luật pháp không hề cứu rỗi được một linh hồn nào cả. Kinh Thánh chép rằng không có ai nhờ luật pháp mà được xưng công bình trước mặt Thượng Đế. Kinh Thánh chép: “Người công chính sẽ sống bởi đức tin” (Ro 1:17). Sự cứu rỗi, tha thứ và xưng công bình hoàn toàn dựa trên công trình cứu chuộc của Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, muốn cho sự hy sinh của Chúa Cứu Thế trên thập tự giá có công hiệu đối với mọi cá nhân không phân biệt lứa tuổi, cá nhân ấy phải ăn năn tội lỗi và tiếp nhận Chúa Cứu Thế bằng đức tin.
    Giô-na đã rao giảng về sự ăn năn tại thành Ni-ni-ve, cho đến khi dân thành này hối cải. Ê-xê-chi-ên (vừa là thầy tế lễ, vừa là nhà tiên tri, ông có kiến thức và đức độ hơn người rao giảng về sự ăn năn khi ông nói: “Vậy nếu Thượng Đế nói rằng: Hỡi nhà Do-thái, ta sẽ đoán xét các ngươi mỗi người theo việc làm của nó. Hãy trở lại và xây bỏ mọi sự phạm pháp của các ngươi, vậy thì sự gian ác sẽ không trở nên cớ hư nát cho các ngươi” (Exe 18:30).
    Khi Giăng Báp-tít (người rao giảng về sự ăn năn để sửa soạn cho chức vụ của Chúa Giê-xu. Ông còn là người làm báp-tem cho Chúa Giê-xu theo lời yêu cầu của Ngài) giảng: “Phải ăn năn tội lỗi, trở về với Thượng Đế, vì Nước Trời gần đến” (Mat 3:2), thì sứ điệp của ông cũng là ăn năn.
    Tân Ước chép bảy mươi lần về sự ăn năn. Chúa Giê-xu phán: “Anh em cũng sẽ bị hư vong nếu không chịu ăn năn”. Bài giảng của Phê-rơ trong ngày lễ Ngũ-tuần là: “Anh em phải hối cải, mỗi người phải nhơn danh Chúa Giê-xu chịu báp-tem để được tha tội” (Cong 2:38). Phao-lô đã rao giảng về sự ăn năn khi nói rằng: “Tôi kêu gọi cả người Do-thái lẫn người Hy-lạp ăn năn quay về Thượng Đế và tin cậy Chúa Cứu Thế Giê-xu là Chúa chúng ta” (20:21). Kinh Thánh chép rằng Thượng Đế truyền lệnh cho loài người phải ăn năn: “Nhưng bây giờ Chúa truyền cho mọi người khắp thế giới phải ăn năn thờ phượng Ngài” (17:30). Đó là một mạng lệnh, cần phải tuân phục. Ngài phán “Hãy ăn năn, bằng không, sẽ bị hư mất!” Bạn đã ăn năn chưa? Bạn có biết chắc mình đã ăn năn chăng?
    Trong Kinh Thánh, có nhiều thí dụ về ăn năn giả. Chẳng hạn như Pha-ra-ôn từng bảo với dân Y-sơ-ra-ên, khi họ đang tìm cách rời bỏ xứ Ai-cập để vào đất hứa, rằng: “Trẫm đã phạm tội... ” (Xu 9:27). Rõ ràng, đây chỉ là một cách nói tỏ lòng hối tiếc vì bị lương tâm cắn rứt, chớ không nói lên sự ăn năn thật. Sau-lơ cũng làm như vậy trong ISa 15:2430 và 26:21. Nhưng khi vua Đa-vít nói với nhà tiên tri Na-than: “Ta đã phạm tội... ” trong IISa 12:13 và 20:1017, thì ông đã thật lòng ăn năn (Thi 51:1-19).
    Chúa Giê-xu định nghĩa sự ăn năn.
    Chúa Giê-xu dùng danh từ ăn năn với ý nghĩa gì? Tại sao danh từ ăn năn được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt Kinh Thánh? Nếu tra tự điển, bạn sẽ thấy ăn năn nghĩa là “cảm thấy buồn rầu, hay hối tiếc”. Nhưng theo nguyên văn Hy-lạp và cổ Do-thái mà Chúa Giê-xu đã dùng, thì ăn năn có nghĩa là “thay đổi hoặc quay lại”. Đó là một danh từ về quyền năng và hành động, hàm ý một cuộc cách mạng toàn diện diễn ra trong con người. Khi Kinh Thánh kêu gọi chúng ta ăn năn tội lỗi, điều đó nghĩa là chúng ta phải xây bỏ tội lỗi, phải quay lưng lại đi ngược chiều với tội lỗi và tất cả những gì tội lỗi hàm chứa.
    Chúa Giê-xu kể chuyện về người con trai hoang đàng để linh động hóa điều Ngài muốn bày tỏ qua chữ ăn năn. Khi người con trai hoang đàng đã ăn năn, chàng ta không chỉ ngồi yên và hối hận về tất cả tội lỗi mình. Chàng ta không phải là một phần tử thụ động mềm yếu. Chàng không ở nguyên chỗ cũ với đàn lợn xung quanh. Chàng đã đứng dậy ra đi, quay gót về phía khác. Chàng tìm về với cha, hạ mình xuống trước mặt cha, rồi nhận lấy phần thưởng của cha ban.
    Ngày nay có rất nhiều Cơ Đốc nhân không nhìn thấy ý nghĩa của Kinh Thánh dành cho danh từ ăn năn. Họ nghĩ rằng sự ăn năn chẳng qua là lắc đầu trước tội lỗi mình đã phạm và nói: “Chà! Tôi rất lấy làm tiếc đã hành động như vậy!”. Rồi cứ tiếp tục sống y như trước.
    Sự ăn năn thật có nghĩa là “thay đổi, quay lại, đi theo hướng mới”. Trong quá trình ăn năn, hối tiếc chưa đủ. Giu-đa (một môn đồ của Chúa Giê-xu, người đã phản Chúa>đã tỏ ra hối hận và buồn rầu nhưng không bao giờ ăn năn. Ngay cả sự sửa đổi, cải thiện cũng không đủ. Dù bạn có áp dụng cực hình nào cho cơ thể hay thử thách nào cho trí óc, điều đó cũng không thể làm cho Thượng Đế toàn năng vui lòng. Trên thập tự giá, Chúa Cứu Thế đã chuộc tội cho chúng ta. Tại đó, Ngài đã gánh lấy hình phạt của tội lỗi. Không một đau khổ nào mà chúng ta chịu đựng có thể dẫn chúng ta đến sự ăn năn.
    Ăn năn không phải chỉ là xúc động.
    Khi đề cập sự ăn năn, tôi không nói đến hạng người than khóc (những người khóc mướn) ngày xưa. Nhiều người dạy rằng muốn ăn năn bạn phải than khóc trong một thời gian nhất định mới nhận được ơn cứu rỗi. Một vị kia kể cho tôi nghe về đêm ông ta gặp Chúa Cứu Thế cách đây vài năm, trong một buổi giảng Phúc Âm nơi lều trại dựng theo lối cổ, ông đã tiến lên phía trước. Trong lúc quì gối trước bàn thờ để tìm kiếm Thượng Đế, có một nữ tín hữu đến nói: “Ông ơi hãy bền chí! Nếu ông muốn gặp Chúa hãy nắm chặt lấy Ngài!” Vài phút sau, một viên chấp sự đến vỗ vai ông và nói “Anh ơi, đừng gắng sức!”. Mấy phút sau, một nữ tín hữu khác đến nói: “Cái đêm tôi ăn năn tin Chúa, có một luồng ánh sáng chói lòa chiếu thẳng vào mặt tôi làm tôi lạnh người”. Rồi ông ta kể tiếp: “Tôi vừa cố buông tha, vừa nắm chặt, vừa tìm kiếm ánh sáng nhưng trong cơn hoang mang ấy, tôi hầu như không bao giờ đạt tới mục đích”.
    Một nhà lãnh đạo Cơ Đốc rất thông thái, có lần nói với tôi rằng lúc ông biến cải, thì vị mục sư và hội chúng chờ đợi ông biểu lộ xúc động; và chính sự chờ đợi đó hầu như ngăn trở ông đến cùng Thượng Đế.
    Trong một vài cuộc nhóm phục hưng, xúc cảm giả tạo đã ngăn trở nhiều linh hồn thành thật tìm kiếm Chúa. Nhưng loại ăn năn mà tôi đề cập đến đây là sự ăn năn thật theo Kinh Thánh dạy, liên hệ đến ba yếu tố: trí tuệ, tình cảm và ý chí.
    Ba phương diện của sự ăn năn.
    Trước hết, phải có một ý thức về tội lỗi. Kinh Thánh phán: “Vì mọi người đều đã phạm tội, không phản chiếu vinh quang Thượng Đế” (Ro 3:23). Khi tiên tri Ê-sa nhận biết tội mình, ông nói: “Khốn nạn cho tôi!... Vì tôi là người có môi dơ dáy” (Es 6:5). Khi Gióp biết chắc mình là một người tội lỗi, ông nói: “Tôi lấy làm gớm ghê tôi” (Giop 42:6). Khi Phê-rơ nhìn nhận tội lỗi, ông nói: “Con là người có tội lỗi” (Lu 5:8). Khi Phao-lô biết mình có tội, ông tự xưng mình là “nặng tội nhất” (ITi 1:15).
    Chính Thánh Linh làm cho người ta nhìn nhận tội lỗi. Đúng hơn, sự ăn năn không thể xảy ra trừ phi trước hết có sự tác động của Thánh Linh vào lòng và trí. Thánh Linh có thể dùng những lời cầu nguyện của một bà mẹ, bài giảng của mục sư, chương trình phát thanh Cơ Đốc, hình ảnh tháp chuông nhà thờ, hoặc sự qua đời của người yêu dấu, để đem lại sự nhìn nhận tội lỗi cần thiết đó. Tuy nhiên, trong vài buổi truyền giảng Phúc Âm, tôi đã thấy nhiều người đứng run rẩy vì nhận biết tội lỗi, song vẫn không ăn năn tội lỗi. Có thể nhìn nhận tội lỗi, biết mình là tội nhân, thậm chí khóc lóc về tội lỗi mình nữa, nhưng vẫn không ăn năn.
    Thứ nhì, trong sự ăn năn có tình cảm, cũng như trong mọi từng trải chân thật khác. Phao-lô nói rằng sự buồn rầu theo ý Thượng Đế sanh ra sự hối cải. Có người đã nói: “Nhiều người không thích những sự xúc động và vài nhà phê bình hoài nghi sự thành thật của những trường hợp trở lại đạo không có vẻ bình thản. Xúc cảm sai lạc rất nguy hiểm, không hiệu quả gì, song chẳng vì cớ đó mà loại bỏ tình cảm chân thành và xúc động sâu xa”.
    Tấn sĩ W. E. Sangster, một nhà truyền đạo danh tiếng thuộc Hội thánh Giám lý nước Anh, đã viết trong tác phẩm ‘Tôi Xin Giao Phó’(Let Me Commend) như sau: “Người nào hò hét trong trận túc cầu hay dã cầu, mà lại thất vọng khi nghe một người tội lỗi khóc trước thập tự giá và phàn nàn về những sự nguy hiểm của xúc cảm, thì chẳng đáng được kính trọng bao nhiêu”.
    Có lần Horace Walpole tố cáo John Wesley, vì ông đã tỏ ra cảm động cách không đẹp mắt lắm trong khi truyền giảng, thế nhưng Wesley đã đưa hàng ngàn người trở lại với Thượng Đế.
    Thứ ba, sự ăn năn liên hệ đến ý chí.
    Chỉ khi nào luận đến ý chí, thì chúng ta mới đạt đến tâm điểm của sự ăn năn. Phải có quyết định từ bỏ tội lỗi - thay đổi thái độ đối với bản ngã, đối với tội lỗi, và đối với Thượng Đế; thay đổi cảm nghĩ, ý chí, khuynh hướng và mục đích của mình.
    Chỉ Thánh Linh của Thượng Đế mới có thể ban cho bạn quyết định cần thiết để ăn năn thật. Ăn năn không phải như lời cô bé kia cầu nguyện: “Xin Chúa khiến cho con trở nên ngoan ngoãn, nhưng ngoan ngoãn đủ để khỏi bị đòn”.
    Có hằng trăm hằng ngàn người ghi tên mình trong danh sách thuộc viên Hội Thánh. Họ chỉ đến nhà thờ khi thuận tiện. Họ dâng tiền cho Hội thánh và yểm trợ mọi hoạt động của Hội thánh. Họ bắt tay vị mục sư sau giờ thờ phượng và khen ngợi bài giảng của ông. Họ có thể sử dụng ngôn ngữ của người Cơ đốc và nhiều người còn thuộc lòng khá nhiều câu Kinh Thánh, nhưng thật ra họ chưa bao giờ từng trải sự ăn năn thật. Đối với đạo, họ có một thái độ “hờ hững”. Khi gặp khó khăn họ tìm đến với Thượng Đế và cầu nguyện; song những lúc khác, họ chẳng quan tâm đến Ngài bao nhiêu. Kinh Thánh dạy rằng khi một người đến với Chúa Cứu Thế, thì có một sự biến đổi xảy ra và sự biến đổi ấy phản ánh trong đời sống, trong mọi việc người làm.
    Ăn năn đòi hỏi đầu phục.
    Trong Kinh Thánh không có một câu nào dạy rằng bạn có thể trở thành một Cơ Đốc nhân và sống theo bất cứ lối sống nào bạn muốn. Khi Chúa Cứu Thế ngự vào lòng người nào, Ngài đòi hỏi phải tôn Ngài làm Chúa và làm Chủ. Ngài đòi hỏi sự vâng phục trọn vẹn. Ngài đòi kiểm soát mọi hành động trí tuệ của bạn. Ngài đòi hỏi thân thể bạn thuận phục Ngài và chỉ một mình Ngài mà thôi. Ngài đòi hỏi những tài ba và khả năng của bạn. Ngài đòi hỏi bạn phải nhân danh Ngài trong mọi việc.
    Ngày nay, có nhiều người tự nhận là tín đồ Chúa Cứu Thế, nhưng sẵn sàng không đi nhà thờ dễ dàng hơn phải bỏ ý định mua một tủ lạnh mới. Nếu họ được chọn lựa hoặc trả góp mua một chiếc xe hơi mới, hoặc đóng góp tiền xây cất một Trường Chúa Nhật mới, ta có thể đoán trước được cách dễ dàng quyết định của nhiều người cách dễ dàng. Hàng ngàn người mang danh là Cơ Đốc nhân đã đặt vấn đề tiền bạc và vật chất lên trên những điều dạy dỗ của Chúa Cứu Thế. Chúng ta có thể dành thì giờ đi coi chiếu bóng, đá banh, hoặc tranh giải, nhưng không thể dành thì giờ cho Thượng Đế. Chúng ta để dành tiền mua một món đồ mới hay một máy vô tuyến truyền hình lớn hơn, nhưng cảm thấy không thể tiếp tục dâng một phần mười huê lợi cho công việc Chúa. Đó là một sự tôn thờ hình tượng.
    Phải có sự thay đổi! Chúng ta lên án những người ngoại đạo và những kẻ thờ hình tượng theo lối xưa, song điều khác biệt duy nhất là những thần tượng của chúng ta lại chế bằng thép mạ kền sáng bóng có máy điều hòa nhiệt độ, chớ không có mắt nạm ngọc thạch! Thay vì làm bằng vàng, mặt các hình tượng chúng ta được bọc bằng chất men sứ xài bền cả đời dễ lau chùi; và chúng ta thờ lạy nó cùng một cách và cảm thấy không có nó thì mình chẳng sống được. Chúng ta đã đến chỗ thờ lạy các đồ vật, địa vị, danh tiếng, tiền bạc, sự an toàn. Bất cứ điều gì ngăn cách giữa chúng ta với Thượng Đế, đều là thần tượng.
    Chúa Giê-xu đòi hỏi quyền làm chủ mọi vật đó. Ngài muốn bạn dâng hiến cho Ngài mọi sự, liên quan đến đời sống xã hội, đời sống gia đình và đời sống kinh doanh của bạn. Ngài phải chiếm hàng đầu trong mọi việc bạn làm, hoặc nghĩ, hoặc nói, vì khi bạn ăn năn, bạn hướng về Thượng Đế trong mọi việc.
    Chúa Giê-xu cảnh cáo rằng Ngài sẽ không tiếp nhận chúng ta vào Nước Ngài cho đến khi chúng ta sẵn sàng từ bỏ mọi sự, cho đến khi chúng ta sẵn sàng xây bỏ tất cả tội lỗi trong đời sống mình. Chớ thử làm nửa chừng. Chớ nói: “Tôi sẽ từ bỏ tội lỗi này và giữ lại tội lỗi kia. Tôi sẽ sống một phần cho Chúa Giê-xu, một phần cho những ham muốn của mình”. Chúa Giê-xu đòi hỏi chúng ta đầu phục Ngài một trăm phần trăm, và khi thực hiện được điều đó, Ngài sẽ ban thưởng gấp ngàn lần. Nhưng đừng trông mong Chúa Giê-xu ban thưởng năm trăm phần trăm vì bạn vâng phục năm mươi phần trăm! Thượng Đế không thực hiện phép lạ của Ngài theo cách đó! Ngài đòi hỏi một sự thay đổi toàn diện, một sự đầu phục trọn vẹn. Khi bạn đã quyết định từ bỏ tội lỗi, và phó dâng mọi sự cho Chúa Cứu Thế, bạn đã bước thêm bước nữa trong việc tìm bình an trong Thượng Đế.
    Tên trộm cướp ăn năn trên thập tự giá đã thưa với Chúa Giê-xu: “Thưa Chúa... xin nhớ đến con” (Lu 23:42). Người ấy dùng chữ “Chúa” hàm ý mình hoàn toàn và thật sự ăn năn quy đạo. Đó là kết quả của sự ăn năn thật.

    ĐỨC TIN LÀ GÌ ?
    Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế.
    Sự cứu rỗi là tặng phẩm của Thượng Đế, chớ không do anh em tự tạo.
    Không phải là kết quả của công đức anh em, nên chẳng ai có thể khoe khoang.
    Eph 2:89
    CHÚNG ta đã sẵn sàng đi bước kế tiếp trong việc tìm kiếm bình an trong Chúa. Bạn sẵn sàng từ bỏ quá khứ và tội lỗi của mình. Bạn đã quyết định phải có sự thay đổi trong đời sống mình. Bạn không còn xa cách Thượng Đế nữa, nhưng tiến tới để hưởng tình yêu mến, sự thương xót cùng sự che chở của Ngài. Bạn đã quyết định, đã lựa lối đi, đã ăn năn, đã chọn con đường chánh đáng, mặc dầu con đường này có vẻ khó khăn. Bạn đã chọn lấy con đường mà Mai-sen đi cách đây gần ba ngàn năm, khi ông từ bỏ quyền kế vị vua nước Ai-cập và quyết định theo Thượng Đế!
    Mai-sen được bốn mươi tuổi khi ông thực hiện quyết định lớn lao đó, khi ông kết luận rằng đức tin và chân lý kèm theo thống khổ và gian nan là tốt đẹp hơn sự giàu có, danh vọng mà thiếu tình yêu của Thượng Đế. Trong lịch sử, ít có người được kêu gọi để thực hiện một quyết định khó khăn hơn trường hợp của ông.
    Một con người của đức tin.
    Mai-sen là người học thức, giàu sang, được tôn trọng. Là con trai của công chúa Pha-ra-ôn, ông quen hưởng mọi danh dự, xa hoa, đặc quyền. Ngai vàng xứ Ai-cập giàu nhất, mạnh nhất và huy hoàng kỳ diệu nhất thời bấy giờ, ở trong tầm tay ông.
    Nhưng, Kinh Thánh chép rằng: “Bởi đức tin, khi đã khôn lớn, Mai-sen từ bỏ địa vị hoàng tử Ai-cập, tình nguyện cùng chịu áp bức với dân Chúa hơn là hưởng thụ cảnh giàu sang tội lỗi. Mai-sen xem sự sỉ nhục vì Chúa Cứu Thế cao quý hơn châu ngọc Ai-cập, vì ông trông đợi Chúa ban thưởng. Bởi đức tin, Mai-sen bỏ nước Ai-cập ra đi, không sợ nhà vua thù hận, vì ông đứng vững như thấy Chúa vô hình” (He 11:24-27). Khúc sách này nói về Mai-sen sau bốn mươi năm ông sống trong đồng vắng với Thượng Đế - chớ không phải là chàng thanh niên hung hăng đã giết người rồi chạy trốn Pha-ra-ôn vì lo sợ cho mạng sống mình.
    Xin chú ý, Kinh Thánh chép rằng Mai-sen đã “từ bỏ“ và “bỏ”. Những từ ngữ này chứng tỏ một sự ăn năn thật. Kinh Thánh lại chép, ông làm như thế “bởi đức tin!”. Đó là bước tiếp theo. Mai-sen đã quyết định điều đó không phải trong một trường hợp cảm xúc hiển nhiên mà một số nhà tâm lý học cho là cần thiết trong từng trải tôn giáo. Ông không bị sự bất mãn thúc đẩy. Không phải ông hoàn toàn không xứng đáng với địa vị của mình, hoặc không được thỏa mãn dục vọng. Ông không chọn lấy con đường của Thượng Đế để bù đắp vào những hạnh phước vì cho rằng mình đã bị thu hồi và cướp đoạt, ông cũng không vì buồn chán và hận đời mà xây qua đời sống tôn giáo. Ông không thiếu những trò hào hứng, giải trí và thú vui.
    Một trường hợp tự chọn.
    Trong trường hợp của Mai-sen, không có lý do nào như trên hay những lý do nào khác mà người ta thường nêu ra để chứng minh sự tìm kiếm Thượng Đế được xem là có giá trị. Ông không bị buộc phải chạy trốn bản tánh xác thịt và ma quỉ. Ông đã tự ý làm như thế. Mai-sen chắc chắn chẳng phải là một người có tinh thần hay ý chí yếu đuối. Ông không phải là một đứa bé bám lấy sự an toàn của một trật tự có sẵn. Ông không phải là một kẻ vô danh tiểu tốt muốn tìm danh vọng và uy tín. Ông không phải là người mà kẻ nhạo báng tôn giáo nói rằng phải là hạng người ấy thì mới cảm thấy cần sự cứu rỗi. Mai-sen có rất nhiều điều những người đó không có; nhưng do trí phán đoán chín chắn của tuổi thanh xuân, ông xây bỏ cảnh giàu có, địa vị và sự quí chuộng để chọn lấy đức tin nơi Thượng Đế.
    Mỗi lần nghe nói chỉ những người vô vọng, bất tài, không hòa mình được với cuộc đời mới cần được tôn giáo an ủi, tôi lại nghĩ đến Mai-sen.
    Tôi đã được vinh hạnh nói chuyện với hàng trăm ngàn người về những vấn đề liên quan đến đời sống thiêng liêng của họ. Tôi nhận thấy sở dĩ những người ấy lý luận đủ để cách từ chối Chúa Cứu Thế làm Chúa và Chủ của mình, không phải vì họ thấy giáo lý Cơ Đốc giáo đáng ghét trên phương diện tri thức, song vì muốn tránh những trách nhiệm và bổn phận mà đời sống Cơ Đốc đòi hỏi nơi họ. Chính tấm lòng yếu đuối của họ chớ không phải trí năng thông sáng đã ngăn cách họ với Chúa Cứu Thế. Họ không chịu đầu phục Chúa Cứu Thế và phó dâng mọi sự cho Ngài.
    Điều lý thú đáng ghi nhận là hai nhân vật đã được Thượng Đế đại dụng hơn hết trong Kinh Thánh (một vị trong Cựu Ước và một vị trong Tân Ước) đều có trình độ học vấn uyên bác, đó là Mai-sen và Phao-lô. Mai-sen đã rất thận trọng nhận định những đòi hỏi và bổn phận tôn giáo. Ông nhận thức rằng muốn nắm lấy Thượng Đế, phải hy sinh những gì mà người ta thường coi là quí báu nhất. Ông không xem xét vội vàng. Ông không có những kết luận nửa vời vì bị thúc đẩy đột ngột hay phản ứng của xúc cảm. Ông biết mình đang gặp khó khăn đến mức nào, và ông đi tới quyết định sau khi vận dụng đầy đủ năng lực tối ưu của tinh thần đã được huấn luyện hẳn hòi. Sự lựa chọn cuối cùng của ông không mang tính chất một cuộc thử nghiệm tạm thời. Ông không lấy đức tin làm biện pháp thử nghiệm. Sự lựa chọn của ông là một thái độ xác tín nghiêm túc với mục đích không đổi dời, một sự xác tín không bị những biến cố hay thử thách lâu dài lay chuyển. Ông đã cẩn thận thiêu đốt những chiếc cầu và đánh đắm những con thuyền có thể giúp ông rút lui. Tám mươi tuổi, đến bước ngoặc quan trọng, Mai-sen đã phó mình trọn vẹn cho Thượng Đế, phục tùng các mạng lệnh Ngài bất cứ lúc nào và bất cứ cảnh ngộ nào.
    Quyết định của Mai-sen khác hẳn của sử gia trứ danh Gamaliel Bradford, lúc gần qua đời, đã nói: “Tôi không dám đọc Tân Ước vì sợ khêu gợi lên một cơn bão tố lo phiền, nghi ngờ và sợ hãi, vì đã đi sai đường, đã phản bội Thượng Đế hiển nhiên”.
    Mai-sen không sợ hãi như vậy. Bạn cũng thế, sẽ chẳng phải lo sợ gì nếu bạn thật lòng bởi đức tin quay về với Chúa Cứu Thế, ngay bây giờ và mãi mãi. Đừng quay về với Ngài và nói: “Tôi sẽ thử theo Cơ Đốc giáo ít lâu. Nếu có kết quả tốt, tôi sẽ tiếp tục, bằng không, tôi vẫn còn thì giờ để chọn một lối sống khác”. Khi đến với Chúa Cứu Thế, bạn phải đốt hết mọi chiếc cầu phía sau và không bao giờ nghĩ là sẽ quay trở lại.
    ‘Lên thuyền để quay trở lại.’
    Cách đây nhiều năm, khi ngọn cờ phượng hoàng hùng dũng của quân đội La-mã rủ bóng đe dọa toàn thế giới, hoàng đế La-mã đã kéo những binh đoàn chiến sĩ gan lì lên đường chinh phục Anh quốc. Khi thấy chiến thuyền địch xuất hiện ở chân trời, hằng ngàn dân Anh đã can đảm tập trung tại các đồi cao để bảo vệ quê hương. Họ hoàn toàn ngơ ngác vì khi đổ bộ, việc đầu tiên quân La-mã làm là đốt hết chiến thuyền. Khi các chiến thuyền đã bị thiêu hủy thì phương tiện duy nhất để các chiến sĩ anh dũng đó rút lui đã bị cắt đứt. Với tinh thần cương quyết ấy, làm sao quân La-mã có thể thất bại trong công cuộc chinh phục được! Thảo nào ngôi làng nhỏ bé trên bờ sông Tibre đã làm bá chủ cả thế giới!
    Cũng một thể ấy, Chúa Cứu Thế đòi hỏi sự đầu phục và phó dâng tuyệt đối. “Chúa Giê-xu phán rằng: ai đã tra tay cầm cày, còn ngó lại đằng sau, thì không xứng đáng với Nước của Thượng Đế” (Lu 9:62).
    Đứng trước ngã rẽ cuộc đời, Mai-sen đã thực hiện một quyết định rúng động linh hồn. Trí phán đoán minh mẫn của ông đã cân nhắc mọi sự kiện ảnh hưởng đến quyết định của mình. Ông đã nhìn cẩn thận và sâu xa đến tận cuối mỗi con đường. Ông xem xét tất cả lợi hại rồi mới quyết định đặt lòng trông cậy và đức tin nơi Thượng Đế.
    Mai-sen đốt hết những chiếc cầu.
    Trước hết, ông nhìn con đường rộng rãi và sáng láng đầy thế lực và xa hoa, vui thỏa và rượu chè, dồi dào những điều thế gian cho là khoái lạc. Đó là con đường quen thuộc mà ông biết rất rõ. Ông từng đi con đường ấy suốt bốn mươi năm và biết rằng cuối cùng, nó sẽ đưa tới hủy diệt và dẫn đến địa ngục mà thôi.
    Rồi Mai-sen lại nhìn xem con đường kia, con đường hẹp hòi, khó khăn hơn. Ông thấy đau khổ, buồn phiền, tủi nhục và thất vọng. Ông thấy những khó khăn và thử thách, những buồn rầu và đau đớn, nhưng bởi đức tin ông cũng thấy những chiến thắng và phần thưởng của sự sống vĩnh cửu.
    Một người kém suy xét và ít kinh nghiệm hơn Mai-sen, có thể bị cám dỗ đi vào con đường thứ nhất. Ai-cập lúc bấy giờ là một đại cường quốc vào bậc nhất thế giới. Quốc gia này kiểm soát lưu vực sông Nile phì nhiêu, là vựa lúa của thế giới. Quân đội Ai-cập bách chiến bách thắng, các trường kỹ thuật và đại học đang đặt những nền móng cho những thế kỷ sau noi theo.
    Ít người trong chúng ta bị đòi hỏi phải từ bỏ nhiều điều vì cớ Thượng Đế như Mai-sen. Ít người trong chúng ta từng gặp nhiều cám dỗ dưới những hình thức khác nhau như vậy. Ít người trong chúng ta có những lạc thú trần gian như vậy bày ra trước mặt mình, và Kinh Thánh cũng nhìn nhận rằng trong tội lỗi có sự vui sướng, dầu chỉ là tạm bợ. Thú vui qua mau và khi tỉnh dậy, ta chẳng thư thái chút nào.
    Chọn lựa Thượng Đế, Mai-sen đã hy sinh rất nhiều, nhưng ông cũng đã hưởng được một phần thưởng vĩ đại. Đương thời Mai-sen, ít có người đại phú và thật ít người có cơ hội như ông để trở thành kẻ giàu nhất thế giới.
    Của cải trần gian.
    Ngày nay, nhiều người có thể tích lũy những gia tài khổng lồ. Năm 1923 (khi có nhiều người chủ trương tập trung tư bản) một nhóm các nhà tài chánh thành công nhất thế giới đã họp nhau tại khách sạn Edgewater Beach ở Chicago. Dù tuổi họ chưa đến ba mươi, cuộc hội họp đó đã phô trương sự giàu sang và thế lực quá mức. Cùng ngồi quanh bàn với nhau có Chủ Tịch Công ty Thép lớn nhất thế giới, Chủ Tịch Công Ty Tín dụng lớn nhất, Nhà Buôn lúa mì giàu nhất, Chủ Tịch Ngân Hàng Chứng Khoán Nữa Ước, Nhân viên trong Nội các của Tổng Thống Mỹ, Chủ tịch Ngân Hàng Giao Dịch Quốc Tế, người được coi là thương gia lớn nhất khu Wall Street; và một người khác nữa điều khiển một công ty độc quyền lớn mạnh nhất thế giới. Tổng cộng tài sản của những người đó nhiều hơn Ngân Khố Hoa-Kỳ! Thành tích về đời sống của họ được phổ biến rộng rãi vì rất hấp dẫn mỗi học sinh. Họ là những mẫu người mà nhiều người khác cố bắt chước. Họ là những người khổng lồ của nền tài chánh và kỹ nghệ Mỹ quốc!
    Năm 1923, thành tích được phổ biến rộng rãi về đời sống họ thật rất hấp dẫn và hào hứng. Nó kích thích trí tưởng tượng, xúi giục lòng ganh ghét và gợi hứng cho những người khác để cố gắng mong được như họ! Nhưng năm 1923, tiểu sử cuộc đời của họ chỉ mới được phân nửa - những chương kết thúc chưa viết xong.
    Lúc những người này ngồi trong khách sạn tại Chicago, đời sống cá nhân của họ đang ở vào địa vị mà Mai-sen đã trải qua khi đứng trước ngã ba đường. Những người này cũng thế, họ đang ở ngã ba và trước mặt mỗi người có hai con đường. Hai con đường đó có lẽ vô hình đối với họ, và họ cũng không lưu tâm tới. Chắc hẳn đó là con đường họ không chọn lựa và đến nay thì tiểu sử của họ đã viết xong. Ngày nay, chúng ta biết được những chương kết thúc. Chúng ta có thể ôn lại đời sống họ cũng như ôn lại đời sống Mai-sen, và xem thử đời sống nào có vẻ khôn ngoan nhất và tốt đẹp nhất.
    Charles Schwab, Chủ Tịch Công ty Thép, trong những ngày cuối đời mình, phải vay mượn tiền bạc mà sống, và lúc chết không một xu dính túi. Arthur Cutten, nhà đầu cơ tích trữ lúa mì lớn nhất đã vỡ nợ và chết ở hải ngoại. Richard Whitney, Chủ Tịch Ngân hàng Chứng Khoán Nữu-Ước đã thọ hình tại nhà giam Sing Sing. Albert Paul, nhân viên Nội các, được phép chết tại nhà thay vì trong khám đường. Jesse Livermore, “con gấu” của khu tài phiệt Wall Street; Leon Frazer, Chủ tịch Ngân Hàng Giao Dịch Quốc Tế và Ivon Kreuger, cầm đầu tổ chức độc quyền lớn nhất thế giới, đều tự sát!
    Những người này đều có tiền bạc, thế lực, danh vọng, uy tín, óc thông minh và học thức - nhưng tất cả đều thiếu một đặc tính làm cho đời sống có được ý nghĩa và mục đích chân chánh. Họ thiếu đặc tính duy nhất quan yếu của giáo điều và phẩm cách Cơ Đốc tức là đặc tính làm cho họ biến cải và thật được tái sanh. Họ đã từ chối không chịu tin! Hãy so sánh cuộc đời họ với đời sống của các giáo sĩ đã từ bỏ tất cả để noi theo Chúa Cứu Thế. Rất có thể họ chết đi trong đau đớn và không một xu dính túi, nhưng họ đã chết cho một điều gì đó!
    Những người này không có đức tin, hoặc nếu có thì họ đã không hành động theo đức tin. Nếu họ chịu xem đức tin nơi Chúa Cứu Thế là một trong những kho tàng quí giá thì những chương cuối cùng của đời họ sẽ khác biết bao.
    Mai-sen đã quay lưng lại với của cải trần gian.
    Hãy để ý là: Bởi đức tin, Mai-sen đã từ bỏ sự giàu sang của Ai-cập. Chính đức tin đã khiến ông biết rằng dù phải chịu đau khổ vì thiếu thốn và tủi nhục trong suốt quãng đời còn lại trên thế gian, cuối cùng, ông sẽ nhận được phần ban thưởng lớn nhất - sự sống vĩnh cửu.
    Những người như Cutten và Schwab có lẽ đã cho Mai-sen là khờ dại. Có lẽ họ đã nói: “Một con chim nắm trong tay có giá trị hơn hai con chim trong bụi”. Có lẽ họ đã lên tiếng: “Này, ông thừa biết mình có những gì tại Ai-cập. Một người có đầu óc như ông thừa biết mình có thể làm gì để vận dụng sản nghiệp và quyền lực đó. Cứ đánh ván bài là Ai-cập sẽ kiểm soát thế giới. Ông có thể loại tất cả những nước kém hơn. Ông có thể tiêu diệt tất cả những kẻ cạnh tranh và điều hành mọi việc theo đường lối mình”. Đó là điều họ có thể nói, vì đó là đường lối suy nghĩ, hoạt động, và là cách mà nhiều người trong bọn họ đã tích lũy sản nghiệp mình. Họ sẽ cười người nào nói rằng mình tin Thượng Đế hoặc mình có đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Họ có thể nói: “Đức tin không phải là một dịch vụ tốt, chẳng phải là khôn ngoan”.
    Kinh Thánh dạy rằng đức tin là con đường duy nhất để đến gần Thượng Đế. “Vì người đến gần Thượng Đế, phải tin Ngài có thật, và Ngài luôn tưởng thưởng xứng đáng cho người tìm cầu Ngài” (He 11:6b). Kinh Thánh cũng dạy rằng đức tin làm đẹp ý Thượng Đế hơn bất cứ điều gì khác. “Người không có đức tin không thể nào hài lòng Thượng Đế” (He 11:6a).
    Khắp thế giới, người ta tự hành hạ thân xác, mặc quần áo kỳ lạ, làm cho thân thể biến dạng, tự chối bỏ những nhu cầu của đời sống, dành nhiều thì giờ vào sự cầu nguyện và hy sinh, nỗ lực làm cho Thượng Đế nhìn thấy và chấp nhận họ. Tất cả những điều đó có thể rất tốt đẹp, nhưng điều lớn lao nhất chúng ta có thể làm để đẹp lòng Thượng Đế chính là tin Ngài.
    Tôi có thể đến nhà một người bạn và khen ngợi người đó, nhưng nếu sau mọi lời hoa mỹ, tôi lại bảo rằng tôi không tin tưởng anh ấy, thì mọi lời nói trước sẽ vô hiệu. Tôi chỉ đưa bạn tôi lên cao rồi hất xuống.
    Điều thiết yếu là tin
    Phương pháp cao đẹp nhất chúng ta có thể làm đẹp ý Thượng Đế chính là tin Lời Ngài. Lúc Chúa Cứu Thế phán: “Các con phải tin ta ở trong Cha và Cha ở trong ta. Nếu không, các con hãy tin công việc ta” (Gi 14:11), Ngài như có vẻ nài nỉ những người nghe Ngài giảng dạy phải có đức tin.
    Kinh Thánh tuyên bố rằng đức tin là điều tuyệt đối quan trọng. Bạn sẽ hỏi: “Nếu đức tin quan trọng như vậy, thì đức tin là gì? Đức tin có nghĩa gì? Định nghĩa đức tin ra sao? Làm sao có thể biết được là tôi có đức tin đúng đắn? Tôi phải tin đến mức nào?”
    Xin chờ một phút - xin đừng hỏi nhiều câu cùng một lúc! Tôi sẽ cố trả lời những câu hỏi trên cách tuần tự.
    Kinh Thánh nhiều lần dạy rằng chúng ta được cứu rỗi chỉ nhờ đức tin mà thôi:
    “Tin Chúa Cứu Thế Giê-xu, thì ông và cả nhà ông sẽ được cứu” (Cong 16:31).
    “Tất cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng Đế - tiếp nhận Chúa là đặt niềm tin nơi Chúa” (Gi 1:12).
    “Ai tin Chúa Cứu Thế đều được tha thứ tất cả tội lỗi và được Chúa thừa nhận là người công chính” (Cong 13:39).
    “Còn người không làm việc, nhưng tin Thượng Đế có quyền tha tội cho mình, người ấy hưởng ân huệ và được kể là công chính nhờ đức tin” (Ro 4:5).
    “Vậy, nhờ đức tin chúng ta được kể là công chính, qua trung gian Chúa Cứu Thế Giê-xu" (5:1).
    “Nhưng ta chẳng bao giờ rút lui, bỏ cuộc, để rồi bị hủy diệt. Trái lại, ta giữ vững đức tin để linh hồn được cứu rỗi” (He 10:39).
    “Vậy anh em được cứu nhờ ân phúc Thượng Đế, do đức tin nơi Chúa Cứu Thế. Đây là một tặng phẩm của Thượng Đế, chớ không do anh em” (Eph 2:8).
    Thực chất của đức tin.
    Chúng ta có thật được cứu rỗi bởi đức tin chăng? Không, chúng ta được cứu bởi ân điển, nhờ đức tin. Đức tin chỉ là môi giới, nhờ đó chúng ta nhận được ân điển của Thượng Đế ban cho. Đức tin là bàn tay giơ ra nhận lấy tặng vật của tình yêu Ngài. Trong He 11:1, chúng ta đọc: “Đức tin là thực thể của những điều ta hy vọng, là bằng chứng của những việc ta chưa thấy”. Weymouth đã diễn dịch câu trên như sau cho dễ hiểu hơn: “Vả, đức tin là sự biết chắc điều mình đang hy vọng, một sự tin quyết ở thực tại của những điều chúng ta không trông thấy”. Theo nguyên văn Hy-lạp, đức tin nghĩa là: “quy hàng, đầu phục, hoặc phó thác”. Đức tin là tin cậy hoàn toàn.
    Tôi chưa bao giờ đến Bắc cực, tuy nhiên tôi tin rằng có một nơi gọi là Bắc cực. Làm sao tôi biết được? Tôi biết vì có người nói với tôi. Tôi đã đọc về Bắc cực trong một sách lịch sử, đã thấy bản đồ Bắc cực trong một sách địa lý, và tôi tin những người viết sách đó. Tôi chấp nhận kiến thức đó bởi đức tin.
    Kinh Thánh dạy rằng: “Người ta tin Chúa nhờ nghe giảng và họ nghe khi đạo Chúa được công bố” (Ro 10:17). Chúng ta tin những điều Thượng Đế đã phán về sự cứu rỗi. Chúng ta tiếp nhận những điều đó không thắc mắc.
    Martin Luther (nhà lãnh đạo phong trào Cải Chánh, chống lại Giáo hội Công giáo La-mã (1483-1546) đã dịch thơ Hy-bá chương 11 câu 17 như sau: “Vì người (Mai-sen) níu lấy Đấng mình không thấy, dường như đã thấy Ngài vậy”.
    Đức tin không phải là một đức tính riêng biệt hay mầu nhiệm chúng ta cố đạt tới. Chúa Giê-xu phán chúng ta phải trở nên như trẻ con, và trẻ con tin cậy cha mẹ chúng thế nào thì chúng ta cũng tin cậy Thượng Đế như vậy.
    Ví dụ, tôi đang lái xe hơi với tốc độ 80 cây số một giờ, và lên tới đỉnh đồi. Tôi có cần lập tức thắng xe, ngừng lại và bước ra, nhìn xem con đường có còn tiếp tục không? Không, tôi sẽ chẳng làm thế. Tôi sẽ tin tưởng vào Ty Công Chánh địa phương. Tôi sẽ tiếp tục cuộc hành trình với một tốc độ bình thường, vững tin vì biết rằng con đường sẽ tiếp tục mãi, mặc dù tôi không thấy trước. Tôi chấp nhận điều này bởi đức tin. Đức tin cứu rỗi trong Chúa Cứu Thế cũng thế!
    Ba phương diện của đức tin.
    Ở đây, cũng như trong sự ăn năn, đức tin gồm ba điểm. Trước hết, phải biết những điều Thượng Đế đã phán. Đó là lý do tại sao việc đọc Kinh Thánh là điều rất quan trọng đối với bạn; tại sao sự hiểu biết về những điều Kinh Thánh dạy dỗ liên hệ đến sự cứu rỗi linh hồn là điều thiết yếu cho bạn. Biết mình là tội nhân và biết rằng Chúa Cứu Thế đã chịu chết vì mình, là đủ rồi. Biết được sách Giăng, chương 3 câu 16: “Vì Thượng Đế yêu thương nhân loại, đến nỗi hy sinh Con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận Con Thượng Đế đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh viễn”, thì đủ rồi. Có nhiều người chưa biết tới trình độ đó cũng đã được biến cải rồi. Nhưng đối với vấn đề như vậy, bạn biết càng rõ càng tốt, và chỉ có cuốn sách duy nhất để học biết về sự cứu rỗi là Kinh Thánh!
    Có nhiều người nói: “Tôi không hiểu mấy về Kinh Thánh, nên tôi không cố đọc”. Đó không phải là một thái độ khôn ngoan. Trong Kinh Thánh có nhiều điều tôi không hiểu. Trí óc hữu hạn của tôi không bao giờ hiểu được tất cả về sự vô hạn. Tôi không thấu đáo về vô tuyến truyền hình, nhưng tôi không từ khước vặn máy vô tuyến truyền hình. Tôi chấp nhận điều này bằng đức tin.
    Nhưng Thượng Đế không đòi hỏi chúng ta làm một điều quá sức mình. Về vấn đề biến cải, Ngài không đòi hỏi bạn phải nhảy vào bóng tối. Đức tin nơi Chúa Cứu Thế được dựa trên bằng chứng hiển nhiên nhất thế giới là Kinh Thánh. Dù không hiểu biết Kinh Thánh, bạn vẫn có thể tiếp nhận giá trị biểu kiến của những điều đó, vì Thượng Đế đã phán như vậy. Một trong những cuộc tấn công đầu tiên của ma quỉ đối với con người là làm cho con người nghi ngờ Lời của Thượng Đế: “Mà chi, Thượng Đế há có phán?” (Sa 3:1). Nếu bạn bắt đầu nghi ngờ và đặt dấu hỏi về lời Kinh Thánh, thì bạn đang gặp khó khăn. Phải biết rằng bạn là kẻ có tội. Phải biết rằng Chúa Cứu Thế đã chịu chết vì tội lỗi của bạn, và Ngài đã sống lại để xưng công nghĩa cho bạn. Sự chết, sự chôn và sống lại của Chúa Cứu Thế Giê-xu là trọng tâm của Phúc Âm. Tin và nhận thực sự ấy là điều kiện tối thiểu để được biến cải.
    Thứ nhì, tình cảm cũng liên hệ trong đức tin. Kinh Thánh chép: “Sự kính sợ Thượng Đế là khởi đầu sự tri thức” (Ch 1:7) Phao-lô nói: “Do tình yêu thương của Chúa Cứu Thế cảm thúc chúng tôi” (IICo 5:14). Mong ước, yêu thương, kính sợ đều là tình cảm. Không thể tách rời tình cảm khỏi đời sống con người. Không có người thông minh nào dám phát biểu: “Hãy vứt bỏ hết tình cảm đi”. Gạt bỏ cá tánh khỏi tình cảm sâu xa là một điều không thể hình dung. Chúng ta không thể tưởng tượng được đời sống mà không có những nét ấm áp của tình cảm. Hãy tưởng tượng chúng ta có một gia đình, trong đó mọi người chỉ hành động với một ý thức bổn phận lạnh lùng. Hãy tưởng tượng là tôi xin kết hôn với vợ tôi sau khi tôi mở đầu giải thích rằng tôi không có cảm tình gì hết với nàng.
    Tấn sĩ Sangster nói: “Hãy áp dụng cùng một nguyên tắc trên cho tôn giáo. Bạn đòi hỏi sứ giả của Thượng Đế tuyên cáo sắc chỉ của Vua là tha thứ vô điều kiện và ban phước dư dật, nhưng bạn ngăn cấm không cho phép có một sự hân hoan đi đôi với việc loan báo tin mừng đó hay sự vui vẻ tiếp nhận những tin tức ấy, thì bạn đòi hỏi một điều không thể có”.
    Một cuộc tranh đấu mãnh liệt trong tâm tư sẽ xảy ra. Trong từng trải tôn giáo, tình cảm có thể thay đổi khác nhau. Dù kềm chế hay biểu lộthì tình cảm vẫn luôn luôn có đó.
    Trong trận thế chiến thứ hai, khi Churchill đọc những bài diễn văn tuyệt tác cho dân chúng Anh, ông kêu gọi họ bằng lý luận, nhưng đồng thời, ông cũng làm cho thính giả cảm xúc. Tôi nhớ có lần nghe ông diễn thuyết tại Glasgow. Không những ông kích thích những tế bào của trí não tôi, nhưng tôi còn cảm thấy như mình đang đứng reo hò và phất cờ! Khi bạn yêu mến Chúa Giê-xu, tình cảm của bạn sẽ phải bị khuấy động lên.
    Thứ ba, và quan trọng hơn hết, là ý chí. Vấn đề này giống như ba chàng tí hon - người thứ nhất là “Trí tuệ”, người thứ nhì là “Tình cảm” và người thứ ba là “Ý chí”. Trí tuệ nói rằng Phúc Âm hợp lý. Tình cảm tạo áp lực trên ý chí và nói “Tôi cảm thấy kính mến Chúa Cứu Thế” hoặc “Tôi cảm thấy lo sợ sự phán xét”. Rồi người môi giới là ý chí làm trọng tài. Chàng ngồi đó, tay chống cằm, trầm tư mặc tưởng, cố gắng quyết định. Sự thật chính “ý chí” mới thực hiện quyết định tối hậu và lâu dài. Có người có thể có được niềm xác tín của trí tuệ và cảm xúc của tình cảm, nhưng người ấy vẫn chưa thật biến cải trở lại cùng Chúa Cứu Thế. Đức tin có chân. “Đức tin thiếu hành động là đức tin chết” (Gia 2:20).
    Một tấm gương về đức tin.
    Cách đây vài năm, tôi nghe nói có một người đẩy một chiếc xe cút-kít qua lại dòng thác Niagara trên một sợi dây cáp. Hằng ngàn người gào thét lên để tán thưởng ông ta. Ông ta chất một bao đất nặng gần một tạ đẩy qua rồi đẩy lại. Kế đó, quay về phía đám đông, ông ta hỏi: “Cóbao nhiêu người trong quý vị tin là tôi có thể đưa một người qua thác bằng cách này không?”
    Mọi người đều hoan hô! Có một người đứng ở hàng đầu tỏ vẻ rất hăng hái tin tưởng. Ông ta chỉ vào người đó và nói: “Sau chuyến này, mời anh!”
    Người đó lẩn đi ngay, không ai thấy đâu cả! Sự thực người đó không có lòng tin. Anh ta nói rằng mình tin và cũng tưởng rằng mình tin - nhưng không chịu ngồi vào chiếc xe cút-kít.
    Đối với Chúa Cứu Thế cũng vậy. Có rất nhiều người nói rằng mình tin Ngài, theo Ngài, nhưng họ không bao giờ “ngồi vào chiếc xe cút-kít của Ngài”. Thật ra họ chưa hoàn toàn phó thác mình cho Chúa Cứu Thế Giê-xu và đầu phục Ngài một trăm phần trăm.
    Có nhiều người hỏi: “Thế thì, cần phải có đức tin tới mức nào?” Chúa Giê-xu phán rằng chỉ cần có đức tin bằng “hạt cải”.
    Kẻ khác lại hỏi: “Phải có loại đức tin nào?”. Đây chẳng phải là vấn đề loại đức tin đặc biệt nào cả. Thật sự chỉ có một thứ đức tin. Đối tượng của đức tin mới đáng kể. Đối tượng đức tin của bạn là gì? Đối tượng đức tin của bạn phải là Chúa Cứu Thế. Không phải là đức tin nơi nghi thức, nơi của lễ, nơi đạo đức, nơi chính mình mà là nơi Chúa Cứu Thế!
    Đến đây Kinh Thánh dạy rằng đức tin tự biểu lộ bằng ba cách. Đức tin biểu lộ trong giáo lý - tức là điều bạn tin. Đức tin biểu lộ trong sự thờ thượng - tức là mối tương giao của bạn với Thượng Đế và với Hội thánh. Đức tin biểu lộ trong hành vi đạo đức - tức là trong lối sống và tác phong của bạn mà chúng ta sẽ thảo luận trong những chương khác.
    Kinh Thánh cũng dạy rằng đức tin không chấm dứt với sự tin cậy Chúa Cứu Thế để được cứu rỗi. Đức tin cứ tiếp tục. Đức tin tăng trưởng. Ban đầu đức tin có thể yếu kém, nhưng sẽ trở nên lớn mạnh khi bạn bắt đầu đọc Kinh Thánh, cầu nguyện, đi nhà thờ, và từng trải sự thành tín của Thượng Đế trong đời sống Cơ Đốc của bạn. Sau khi ăn năn tội lỗi và tiếp nhận Cứu Chúa Giê-xu bởi đức tin, bạn phải nhờ cậy Ngài gìn giữ, nâng đỡ mình, bổ sức và ban khả năng cho mình. Càng ngày bạn sẽ càng học biết nương cậy nơi Chúa Cứu Thế để được thỏa mãn mọi nhu cầu, đối phó với mọi hoàn cảnh, mọi thử thách. Bạn sẽ học tập đồng thanh Phao-lô mà nói rằng: “Tôi đã bị đóng đinh vào cây thập tự với Chúa Cứu Thế; hiện nay tôi sống không phải là tôi sống nữa, nhưng Chúa Cứu Thế sống trong tôi. Những ngày còn sống trong thể xác, tôi sống do niềm tin vào Con Thượng Đế. Ngài đã yêu thương tôi và dâng hiến mạng sống Ngài vì tôi” (Ga 2:20).
    Có đức tin vào Chúa Cứu Thế Giê-xu để được cứu, bạn đã bước thêm một bước trong việc tìm bình an trong Thượng Đế.
    CŨ VÀ MỚI
    Nếu không tái sinh, không ai thấy được Nước Chúa.
    Gi 3:3
    GIÁ như tôi đến nhà bạn nói chuyện tâm tình, chắc bạn sẽ quay sang tôi và thú nhận rằng: “Tôi đang bối rối, xao xuyến, không biết nghĩ sao. Tôi đã vi phạm luật pháp Thượng Đế, đã sống trái với điều răn của Ngài, đã tưởng rằng mình chẳng cần Ngài giúp đỡ. Tôi cố gắng sống theo luật lệ riêng của mình nhưng thất bại. Những bài học đắng cay mà tôi lãnh hội đều đến từ những từng trải đau khổ và bi thảm. Ước gì tôi được sanh lại! Ước gì tôi có thể quay trở về và bắt đầu mọi sự - Nếu được, tôi sẽ đi con đường khác hơn biết bao!”
    Nếu những lời này đánh trúng tâm tư bạn, nếu nó là dư âm của tư tưởng đang diễn biến trong tâm trí bạn, thì tôi xin báo cho bạn biết một tin tức tốt lành. Chúa Giê-xu phán rằng bạn có thể được sanh lại mới. Bạn có thể bắt đầu tốt đẹp hơn, theo như mình đã cầu xin. Bạn có thể từ bỏ cái tôi đáng khinh ghét và tội lỗi, và bước đi như một người mới, trong sạch, bình an vì đã được tẩy sạch hết tội lỗi.
    Một lối thoát.
    Quá khứ của bạn dù dơ bẩn đến đâu đi nữa, vẫn có một lối thoát. Một lối thoát chắc chắn, an toàn, vĩnh cửu - nhưng chỉ có một mà thôi! Bạn chỉ có thể lựa chọn một điều, chỉ có đi một lối, khác hẳn con đường đau đớn, vô phước bạn đang đi.
    Hoặc bạn có thể sống khốn khổ, bất mãn, sợ hãi, bất hạnh, ghê tởm con người của mình và cả đời mình; hoặc bạn có thể quyết định ngay bây giờ rằng mình muốn được sanh lại. Ngay bây giờ bạn có thể quyết định xóa bỏ quá khứ đầy tội lỗi và khởi sự một cách mới mẻ, vui tươi, chánh đáng. Ngay bây giờ, bạn có thể quyết định trở nên người như Chúa Giê-xu đã hứa.
    Làm sao để tôi được điều đó?
    Câu hỏi hợp lý kế tiếp mà bạn có thể đặt ra là: “Làm thế nào để tôi bắt đầu trở lại?”.
    Đó là câu hỏi mà Ni-cô-đem (một trong những lãnh tụ Do-thái giáo, người đã diện kiến Chúa Giê-xu để học đạo>đã nêu lên với Chúa Giê-xu trong một đêm cách đây gần hai ngàn năm. Tuy nhiên, sanh lại có ý nghĩa quan trọng hơn là bắt đầu lại mới, hay lật qua một “trang” mới, hoặc cải cách. Như chúng ta đã thấy, Kinh Thánh dạy rằng khi bạn sanh ra lần thứ nhất trong thế giới vật chất, thì bản chất thuộc linh bạn sanh ra trong tội lỗi. Kinh Thánh tuyên bố rằng bạn “đã chết vì tội lỗi gian ác” (Eph 2:1).
    Kinh Thánh dạy rằng bản chất hay chết và tội lỗi của bạn không sinh ra sự sống được. Vì bị chết trong tội lỗi, bạn không thể nào tạo được một đời sống công nghĩa. Nhiều người cố xây dựng một cuộc sống tốt đẹp, thánh khiết và công nghĩa, mặc dầu họ chưa được sanh lại, nhưng họ chỉ thất bại chứ không thể làm được gì cả. Một xác chết không thể tạo nên sự sống. Kinh Thánh dạy rằng: “Tội lỗi phát triển đem lại cái chết” (Gia 1:15). Tất cả chúng ta đều chết về phần thuộc linh.
    Bản chất cũ của bạn không thể hầu việc Thượng Đế. Kinh Thánh chép: “Người không có Thánh Linh không nhận lãnh được những ân tứ của Thượng Đế, chỉ coi như chuyện khờ dại” (ICo 2:14). Trong trạng thái tự nhiên, chúng ta thực sự thù nghịch với Thượng Đế. Theo Ro 8:7, chúng ta không tùng phục luật pháp của Ngài, và cũng không thể phục tùng được.
    Kinh Thánh cũng dạy rằng bản tánh cũ của chúng ta hoàn toàn hư hoại. “Từ bàn chân cho đến đỉnh đầu, chẳng có chỗ nào lành: rặt những vết thương, vít sưng cùng lằn mới, chưa rịt, chưa quấn, cũng chưa bôi dầu cho êm” (Es 1:6). Lòng của con người dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa.
    Kinh Thánh cũng dạy rằng bản chất cũ của chúng ta chính là bản ngã. Không thể nào canh tân bản ngã được, nó đã hư hoại. Kinh Thánh dạy rằng khi chúng ta được sanh lại, chúng ta cởi bỏ người cũ chớ không chắp vá lại. Bản ngã phải bị đóng đinh vào cây thập tự, chứ không được vun trồng. Chúa Giê-xu phán rằng nếu chỉ rửa bên ngoài chén dĩa, thì bên trong vẫn còn dơ bẩn như trước.
    Các ngươi phải sanh lại.
    Kinh Thánh cũng dạy rằng nếu chúng ta không từng trải sự tái sinh này, thì không thể vào được Nước Thiên đàng. Chúa Giê-xu còn nhấn mạnh hơn thế nữa: “Con người phải tái sinh!”. Vấn đề này không có gì mơ hồ. Người nào muốn vào nước của Thượng Đế phải sinh lại.
    Sự cứu rỗi không phải là việc tiến hành sửa chữa cái bản ngã cố hữu, nhưng là được Thượng Đế sáng tạo một bản ngã mới trong sự công nghĩa và thánh khiết thật sự. Sự tái sinh cũng chẳng phải là sự thay đổi bản chất hay tâm hồn. Sinh lại không phải là một sự thay đổi - đó là một sự sinh ra mới mẻ. Đó là “lần sinh thứ nhì”. “Con người phải tái sinh”.
    Thượng Đế không chấp nhận điều gì của bản chất cũ. Nó không có gì tốt lành. Bản chất cũ quá yếu đuối, không thể nào theo Chúa Cứu Thế. Phao-lô nói rằng: “Anh em không thể làm điều mình muốn” (Ga 5:17). Những người nào sống trong xác thịt không thể hầu việc Thượng Đế. Gia-cơ đã từng hỏi: “Một ngọn suối có thể vừa chảy nước ngọt vừa tuôn nước đắng không? Cây ổi có thể sinh trái cam hay cây quít sinh trái ổi không? (Gia 3:11-12).
    Thơ La-mã diễn tả con người cũ như sau: “Họng họ hôi hám thô tục; như cửa mộ bốc mùi hôi thối; lưỡi họ chuyên lừa dối, môi chứa nọc rắn hổ. Miệng phun lời nguyền rủa cay độc. Họ nhanh chân đi giết người, đến đâu cũng để lại vết điêu tàn, khốn khổ. Họ chẳng biết con đường hạnh phúc, an vui, cũng chẳng nể nang, kính sợ Thượng Đế” (Ro 3:12-18).
    Vậy bạn làm thế nào mà cải thiện, chắp vá hay thay đổi họng, lưỡi, môi, chân, mắt như thế? Đó là một việc bất năng. Chúa Giê-xu biết rằng không thể nào thay đổi, chắp vá hoặc cải biến con người cũ, nên dạy rằng bạn phải hoàn toàn sanh lại. Ngài phán: “Thể xác chỉ sanh ra thể xác... con người phải tái sinh” (Gi 3:6). Trong một chỗ khác, Kinh Thánh dạy rằng: “Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình, hay là con beo đổi được vằn nó chăng?” (Gie 13:23). Trong La-mã, Kinh Thánh lại chép: “Người sống theo xác thịt không thể nào làm Thượng Đế vui lòng” (Ro 8:8). Sứ đồ Phao-lô cũng nói: “Tôi biết chẳng có điều gì tốt trong tôi cả - tôi muốn nói về bản tính cũ của tôi” (7:18). Kinh Thánh lại chép: “Nếu không thánh hóa không ai được thấy Thượng Đế” (He 12:14).
    Sự sống phát xuất từ sự tái sinh không do sự phát triển tự nhiên và tự cố gắng mà có. Do bản chất, con người không có được sự thánh khiết Thượng Đế đòi hỏi cho vương quốc Ngài. Sự sống thánh khiết chỉ có thể bắt đầu trong sự sanh lại mới mà thôi. Muốn sống đời sống của Thượng Đế, chúng ta phải có bản thể của Ngài.
    Việc Thượng Đế làm.
    Tiếp nhận sự sống mới ví như đồng tiền. Đồng tiền có hai mặt. Tiếp nhận sự sống mới có một phương diện thiên thượng và một phương diện con người. Trong chương luận về sự biến cải, chúng ta đã thấy phương diện con người, và đã thấy mình phải làm gì. Bây giờ chúng ta hãy xem Thượng Đế làm gì.
    Sự sanh lại hoàn toàn là công việc của Thánh Linh. Bạn không thể làm gì để được sự tái sinh này. Kinh Thánh chép rằng: “Tất cả những người tiếp nhận Chúa đều được quyền làm con cái Thượng Đế - tiếp nhận Chúa là đặt niềm tin nơi Chúa. Những người ấy được chính Thượng Đế sinh thành, chứ không sinh ra theo huyết thống, hay theo tình ý loài người” (Gi 1:12-13). Nói cách khác, bạn không thể được tái sinh bởi khí huyết, nghĩa là không thể kế thừa sự tái sinh. Thượng Đế không có cháu.
    Bạn không thể thừa hưởng đức tin Cơ Đốc của cha mẹ. Bạn có thể có cha mẹ tin theo Chúa Giê-xu, nhưng không vì đó mà sinh ra đã là tín đồ của Ngài. Bạn có thể sinh ra trong một nhà để xe, nhưng không vì đó mà hóa ra một chiếc xe.
    Kinh Thánh dạy rằng bạn không thể được sanh lại do ý muốn của xác thịt. Nói cách khác, bạn không thể làm được gì hết trong vấn đề này. Bạn đã chết về phần thuộc linh. Một người đã chết thì không có sự sống để làm điều gì được.
    Bạn cũng không thể tái sinh do ý muốn của con người. Phương thức hay kế hoạch của loài người nghĩ rằng mình đương nhiên được tái sinh khi gia nhập Hội thánh hay theo vài nghi thức tôn giáo, hoặc có một vài quyết định lúc bước qua năm mới, hoặc quyên số tiền lớn cho một cơ quan từ thiện nổi tiếng. Tất cả những việc làm này đều tốt và đúng, nhưng không tạo nên sự sanh lại mới.
    Công việc của Ba Ngôi
    Chúa Giê-xu phán rằng chúng ta phải được sinh lại. Chữ được hàm ý một trạng thái thụ động. Điều đó chứng tỏ rằng phải có một nhân vật khác chủ động. Không ai có thể “tự sinh” mình ra. Ai nấy đều phải được sinh ra. Sự tái sinh mới hoàn toàn không tùy thuộc ý muốn chúng ta. Nói một cách khác, sanh lại mới là công trình thiên thượng - Chúng ta được sinh ra bởi Thượng Đế.
    Ni-cô-đem không biết phải làm thế nào cho được sanh ra lần thứ hai. Ông bối rối hỏi đi hỏi lại hai lần: “Làm cách nào?”
    Dù rằng sự sanh lại có vẻ nhiệm mầu, song chẳng vì đó mà không có thật. Chúng ta có thể không hiểu điện lực là thế nào, nhưng chúng ta biết rằng nó cung cấp ánh sáng, làm chạy máy vô tuyến truyền hình và truyền thanh. Chúng ta không hiểu trâu, bò, gà, vịt mọc lông ra sao, nhưng chúng ta biết rằng điều đó có thật. Có nhiều sự nhiệm mầu chúng ta không hiểu nổi, nhưng chúng ta chấp nhận bởi đức tin rằng chính lúc ăn năn tội lỗi và quay về tin cậy Chúa Giê-xu thì chúng ta được sanh lại.
    Sanh lại là truyền đạt sự sống thiên thượng vào linh hồn con người. Đó là phẩm chất thiên thượng được "cấy vào, rót vào" linh hồn con người, nhờ đó mà chúng ta trở thành con cái Thượng Đế. Chúng ta tiếp nhận sinh khí của Ngài. Chúa Cứu Thế bởi Thánh Linh ngự trị trong lòng chúng ta. Chúng ta được gắn bó vào Thượng Đế vĩnh cửu. Điều này có nghĩa là nếu bạn đã được sanh lại, thì Thượng Đế sống chừng nào, bạn sẽ sống chừng ấy, vì hiện nay bạn chung hưởng chính sự sống của Ngài. Mối tương giao giữa con người với Thượng Đế đã bị cắt đứt tại vườn Ê-đen đã được nối lại.
    Các kết quả của sự sanh lại.
    Khi bạn đã được sanh lại, thì sẽ có nhiều kết quả theo sau: Trước hết, nhãn quan và sự hiểu biết của bạn mở rộng. Kinh Thánh chép: “Thượng Đế đã truyền bảo ùnh sáng phải soi chiếu trong cõi tối tăm“, nên Ngài soi sáng lòng chúng tôi, giúp chúng tôi hiểu được vinh quang Thượng Đế hằng sáng rực trên khuôn mặt Chúa Cứu Thế” (IICo 4:6). Lại rằng: “Cũng xin Thượng Đế cho tâm trí anh em được sáng suốt để hiểu biết hy vọng của người được Chúa lựa chọn và cơ nghiệp vinh quang phong phú Ngài dành cho con cái Ngài” (Eph 1:18). Những điều trước kia bạn thường chế nhạo cho là điên rồ, thì bây giờ lại tiếp nhận bởi đức tin. Toàn thể tiến trình lý trí của bạn thay đổi. Thượng Đế trở thành trung tâm tư tưởng của trí tuệ bạn. Ngài đã trở thành trọng tâm. Bản ngã đã bị hạ bệ.
    Thứ nhì, tấm lòng bạn được cách mạng. Kinh Thánh chép: “Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt” (Exe 36:26).
    Tình cảm của bạn đã được thay đổi triệt để. Bản chất mới của bạn yêu mến Thượng Đế và những gì thuộc về Ngài. Bạn yêu mến những gì đẹp đẽ nhất và cao cả nhất trong đời sống. Bạn chối bỏ những gì thấp kém và hèn hạ. Bạn lập tức có một nhận định mới đối với những vấn đề xã hội chung quanh mình. Tim bạn rung động với niềm xót thương cho những người ít may mắn hơn mình.
    Thứ ba, ý chí của bạn trải qua một cuộc biến đổi lớn lao. Những quyết định của bạn cũng khác hẳn. Những lý do hành động của bạn thay đổi. Kinh Thánh chép: “Cầu xin Thượng Đế Hòa bình - Đấng đã cho Chúa Giê-xu sống lại - trang bị cho anh em mọi điều cần thiết để thi hành ý chỉ của Ngài. Cầu xin Đấng Chăn Chiên lớn chăm sóc anh em, đúng theo Giao Ước đời đời ấn chứng bằng Huyết Ngài. Cầu xin Thượng Đế thực hiện trong anh em những việc đẹp ý Ngài do quyền năng của Chúa Cứu Thế! Vinh quang muôn đời đều quy về Ngài! Thành tâm sở nguyện” (He 13:20-21).
    Bản chất mới mà bạn tiếp nhận từ Thượng Đế được uốn nắn theo ý chỉ Ngài. Bạn chỉ muốn thực hiện theo ý Thượng Đế. Bạn trung thành với Ngài cách hoàn toàn và trọn vẹn. Sẽ có những quyết định, khuynh hướng, tác phong, nguyên tắc, sinh hoạt và lựa chọn mới mẻ. Bạn tìm cách làm sáng danh Thượng Đế. Bạn tìm cách tương giao với những tín hữu trong Hội Thánh. Bạn yêu mến Kinh Thánh. Bạn ưa thích để