• CHÚ GIẢI I CÔ-RINH-TÔ VÀ II CÔ RINH TÔ

     Chú Giải I và II Cô-rinh-tô
    Tác giả: C. K. Barrett

    Giới Thiệu Khóa Trình#
    ĐƠN VỊ MỘT: DẪN NHẬP VÀO VIỆC CHÚ GIẢI KINH THÁNH VÀI CÔRINHTÔ.
    1 Dẫn nhập vào việc chú giải Kinh thánh, phần 1
    2 Dẫn nhập vào việc chú giải Kinh thánh, phần 2
    3 Dẫn nhập vào 1Côrinhtô
    ĐƠN VỊ HAI : PHAOLÔ TRẢ LỜI VỀ NHỮNG TIN TỨC ĐẾN TỪ CÔRINHTÔ
    4 Sự khôn ngoan và sự chia rẽ ở Côrinhtô, phần 1
    5 Sự khôn ngoan và sự chia rẽ ở Côrinhtô, phần 2
    6 Tội loạn luân, việc kiện tụng và kỷ luật của Hội thánh
    7 Sự sống lại về phần thân xác của Cơ đốc nhân
    ĐƠN VỊ BA : PHAOLÔ TRẢ LỜI LÁ THƠ CỦA NGƯỜI CÔRINHTÔ.
    8 Hôn nhân và những vấn đề liên quan
    9 Thực phẩm cúng tế cho thần tượng, phần 1
    10 Thực phẩm cúng tế cho thần tượng, phần 2
    ĐƠN VỊ BỐN : NHỮNG VẤN ĐỀ KHI HỘI THÁNH NHÓM LẠI
    11 Việc trùm đầu của phụ nữ
    12 Tiệc Thánh
    13 Các ân tứ thuộc linh và tình yêu thương
    14 Thứ tự khi nhóm lại
    ĐƠN VỊ NĂM: 2CÔRINHTÔ
    15 Phaolô lại viết cho người Côrinhtô
    Bản giải nghĩa thuật ngữ

    Thế giới kỳ diệu của thơ Côrinhtô
    Xin chúc mừng các bạn đến với thế giới kỳ diệu của thơ Côrinhtô! Các bạn đang sửa soạn bước vào một cuộc hành trình hào hứng nghiên cứu 2 thơ tín của Phaolô gởi cho Hội thánh tại Côrinhtô. Mặc dầu đây là 2 lá thư được gởi cho cùng một Hội thánh và cùng được viết bởi Phaolô nhưng chúng rất khác nhau.
    Côrinhtô thứ I là một lá thư rất độc đáo của Phaolô. Mặc dầu nhiều vấn đề xảy ra trong Hội thánh là do những sai lầm về mặt thần học, nhưng chính hậu quả về mặt luân lý của những sai lầm đó là điều mà Phaolô muốn sửa lại. Do đó mặc dù có thể tìm thấy những giáo lý thần học trong ICôrinhtô, nhưng đó là những thần học được áp dụng vào thực tế trong bối cảnh đức tin mới mẻ của các Cơ đốc nhân bị thử thách một cách nghiêm trọng bởi những sự xâm lấn tế nhị từ khung cảnh ngoại đạo chung quanh. Ở Galati Phúc âm đã bị đe dọa vì những sự dạy dỗ của Do Thái giáo. Ở Côrinhtô Phúc âm cũng bị đe dọa. Ở đây sự xâm hãm đến từ phía những người ngoại giáo. Hiện Phúc âm còn có thể tồn tại khi những người tân tín hữu vẫn tiếp tục suy nghĩ và hành động như những bạn bè chưa tin Chúa của họ?
    Chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng sứ điệp của thơ tín này vẫn còn thời gian tính. Bởi vì ở bất cứ nơi nào Phúc âm được rao giảng, những người nghe theo Phúc âm và quyết định tin nhận Đấng Christ đều phải tiếp tục sống trong môi trường cũ của họ. Mặc dầu họ đã là công dân của thiên quốc, dòng dõi của một dân tộc mới, dân tộc của Thượng đế! Và họ không được tiếp tục suy nghĩ hoặc hành động giống những người chung quanh. Nhưng họ có giữ được hay không? Nếp sống của những Cơ đốc nhân khác với nếp sống của những người chưa tin Chúa thế nào? những quan điểm của người Cơ đốc khác biệt ra sao? Phải chăng Cơ đốc nhân chối bỏ cả nền văn hóa cũng như nếp sống của người chung quanh và những điều gì trong nếp sống của chúng ta chỉ có tính chất văn hóa? Còn những điều nào có tính chất luân lý và thần học nữa? Thơ ICôrinhtô giúp chúng ta trả lời những câu hỏi này.
    Tuy nhiên thơ IICôrinhtô lại không giống ICôrinhtô. Mặc dù có một vài điểm ( quả thật là rất ít ) được nhắc lại, nhưng vấn đề chính trong thơ IICôrinhtô tập trung vào vấn đề: "Thẩm quyền sứ đồ của Phaolô mà một số người không muốn chấp nhận. Thơ tín này là thơ có tính chất tiểu sử tự thuật nhiều nhất trong các thơ của Phaolô. Như một học giả đã nói: " Ở đây, chúng ta thấy một mảng đời của Phaolô với những góc cạnh còn nguyên chưa mài giũa - chân thật, không cắt xén, đầy phức tạp nhưng vô cùng thú vị."
    Vì không thể nghiên cứu đầy đủ cả 2 lá thư này trong một khóa trình, chúng ta sẽ chỉ tập trung vào ICôrinhtô - Bởi vì lá thơ đề cập đến rất nhiều vấn đề, nên đây là trường hợp rất tốt để học hỏi về công việc giải nghĩa Kinh thánh. Chúng ta sẽ dành thời giờ để học về điều đó. Khi nghiên cứu IICôrinhtô, các bạn có thể đem áp dụng những điều đã học được và tự các bạn sẽ giải nghĩa phần lớn thơ tín đó. Sách hướng dẫn học tập sẽ giúp đỡ bạn thực hiện điều này.
    Vậy, hãy chuẩn bị tinh thần. Hãy có một tấm lòng tha thiết cầu nguyện và một tâm trí sẵn sàng suy nghĩ. Nếu bạn cẩn thận làm theo những chỉ dẫn trong sách hướng dẫn học tập, một thế giới đầy hào hứng sẽ mở ra trước mắt bạn. Thế giới kỳ lạ của thơ Côrinhtô!
    Mô tả Khóa Trình
    Côrinhtô (C.A 1113 - Tín chỉ ba giờ )
    Thơ tín Côrinhtô là một khóa trình trong chương trình cử nhân nhằm nghiên cứu thơ ICôrinhtô một cách cặn kẻ từng vấn đề một và nghiên cứu tổng quát thơ IICôrinhtô. Thơ ICôrinhtô cũng được dùng như một điển hình của phương pháp giải kinh sẽ được áp dụng trong việc giải nghĩa các thư tín khác trong Tân ước.
    Khóa trình sẽ được bắt đầu bằng một bài học về phương pháp chú giải Kinh thánh. Tiếp theo, sau phần giới thiệu tổng quát về bối cảnh, những phân đoạn chính trong ICôrinhtô sẽ được lần lượt khảo sát liên hệ đến các nan đề trong Hội thánh, các giải pháp được đưa ra trong ICôrinhtô và ý nghĩa của những phần giới thiệu khái quát thơ IICôrinhtô bạn sẽ áp dụng những điều đó học hỏi được trong ICôrinhtô vào một đoạn văn tiêu biểu trong 2Côrinhtô.
    Mục tiêu của khóa trình.
    Khi hoàn tất khóa trình này bạn sẽ có thể:
    1. Ghi nhận bản chất của những nan đề được trình bày trong ICôrinhtô và giải thích những giải pháp do Phaolô đưa ra.
    2. Giải thích bản chất của những khó khăn liên quan đến việc chú giải một số đoạn trong ICôrinhtô và bênh vực cách giải quyết mà bạn tán thành.
    3. Chọn lựa một sách chú giải Kinh thánh tốt cho các sách khác trong Tân ước qua phương pháp đánh giá đã học được trong khóa trình này.
    4. Chứng tỏ những kỹ năng giải Kinh căn bản khi áp dụng những phương pháp học được trong ICôrinhtô vào những phân đoạn tiêu biểu của 2Côrinhtô.
    5. Cân nhắc những câu trả lời của Phaolô về những nan đề cụ thể trong Hội thánh Côrinhtô và áp dụng những câu trả lời đó vào những nan đề tương tự trong Hội thánh của bạn.
    6. Áp dụng những nguyên tắc trong 1Côrinhtô và 2Côrinhtô vào đời sống và chức vụ của bạn.
    Sách giáo khoa và sách hướng dẫn học tập.
    Bạn sẽ dùng quyển thơ tín Côrinhtô: Sách hướng dẫn học tập của Gordon D. Fee cùng với sách giáo khoa kèm theo:
    1. Chú giải thơ tín 1Côrinhtô của C.K.BARRETT.
    2. Kinh thánh Tân ước.
    Chú ý: Chỉ đọc sách của Barrett trong trường hợp bạn được yêu cầu đọc mà thôi. Đây không phải là sách giáo khoa theo ý nghĩa thông thường. Đây là sách chú giải Kinh thánh. Một trong những mục tiêu của khóa trình này là hướng dẫn bạn biết khi nào cần phải sử dụng sách chú giải Kinh thánh và sử dụng như thế nào.
    Thời gian học tập.
    Thời gian thực tế bạn cần để nghiên cứu mỗi bài tùy thuộc nơi khả năng học hỏi của bạn trước khi bạn bắt đầu khóa trình này. Các bài học được soạn để có thể học từ 7 đến 10 tiếng. Tuy nhiên điểm then chốt trong việc tự học không phải là tự cẩn thận từng bước sao cho có thể nắm được nội dung của bài học trước khi bước sang phần khác. Hãy dành đủ thời gian để đạt được những mục tiêu đề ra bởi tác giả của sách hướng dẫn học tập cũng như các mục tiêu của riêng bạn.
    Tập tài liệu học viên
    Bạn hãy dành thời gian đọc lại những chỉ dẫn và khảo sát các ấn chỉ khác trong tập tài liệu học viên. Lưu ý rằng một số ấn chỉ được dành cho bạn để lưu giữ và một số ấn chỉ bạn phải nộp lại cho giảng viên ICI cùng với bài kiểm tra đánh giá tiến bộ từng phần.
    Bạn hãy nhớ hoàn tất và nộp những biểu mẫu có ghi những nhận định và tường trình của bạn về việc học tập.
    Sách hướng dẫn tự học này gồm có 5 phần:
    Đơn Vị
    1
    2
    3
    4
    5
    Bố cục của bài học và phương pháp học tập:
    Mỗi bài học gồm có các phần: 1/ Tựa đề, 2/ Dàn bài, 3/ Mục tiêu của bài học, 4/ Các sinh họat học tập, 5/ Từ ngữ quan trọng , 6/ Triển khai bài học bao gồm các câu hỏi nghiên cứu, 7/ Phần giải đáp, 8/ Bài tự kiểm tra
    Phần dàn bài và mục tiêu của bài học sẽ đem đến cho bạn một cái nhìn khái quát về chủ đề, giúp bạn tập trung chú ý vào những điểm quan trọng nhất và giúp bạn biết nên chú ý vào những phần nào hầu đạt được kết quả tốt nhất.
    Phần triển khai bài học là rất quan trọng, đặc biệt đối với bài 4 đến 14. Trong phần lớn những bài học này, trước hết bạn sẽ được hướng dẫn nghiên cứu đoạn văn Kinh thánh được trích dẫn hầu khám phá ra vấn đề mà Phaolô đang giải quyết. Bước thứ hai, bạn sẽ được hướng dẫn khảo sát từng phần của đoạn Kinh thánh. Điều quan trọng ở đây là học tập để theo được dòng tư tưởng của Phaolô. Bạn cũng sẽ học tập để nêu lên những câu hỏi thiết yếu về bối cảnh. Bước thứ ba, bạn sẽ học để đặt các câu hỏi về mặt nội dung, và về ý nghĩa của các từ ngữ và các câu văn. Bạn sẽ được dạy cách sử dụng sách chú giải của Barrett. Bước thứ tư, bạn sẽ được hướng dẫn để áp dụng vào thời đại hiện nay. Những điều đó có ý nghĩa gì đối với chúng ta hôm nay? Các tài liệu bạn có trong tay chỉ là những gợi ý, không phải là quyết định tối hậu đòi hỏi bạn phải vâng theo. Bạn sẽ học tập để tự mình nêu lên những câu hỏi.
    Ý nghĩa của bài học 1 và 2 là cố gắng trình bày cho bạn một phương pháp học tập. Do đó, về nhiều khía cạnh, đây là những bài học quan trọng nhất. Nhưng chúng tôi không đòi hỏi bạn phải nắm được toàn bộ phương pháp trong 2 bài học. Bài 1 và 2 chỉ mới giới thiệu về các phương pháp, chúng định nghĩa và mô tả các phương pháp này. Bạn sẽ thực sự học về các phương pháp đó qua việc áp dụng chúng vào những bài học kế tiếp.
    Chú ý: Trong suốt các bài học sẽ có những câu hỏi và các bài tập. Đừng xem trước phần giải đáp cho đến khi bạn đã tự trả lời các câu hỏi. Trong nhiều trường hợp bạn sẽ phải ghi chép câu trả lời trong sổ tay của bạn bởi vì không có đủ chỗ trong sách hướng dẫn học tập.
    Bạn nên nghiên cứu các bài học từng phần một. Thông thường, trước khi xong phần khác bạn sẽ được yêu cầu ôn lại phần vừa học. Hãy nhớ thực hiện điều đó. Mỗi phần thường cũng được kết thúc bằng các câu hỏi ôn tập. Khi gặp những câu hỏi ôn tập bạn nên: 1/ Xem lại cẩn thận phần bạn đang học, 2/ Trả lời các câu hỏi ôn tập theo trí nhớ của bạn, không cần xem trong sách hướng dẫn học tập; 3/ So lại với phần giải đáp và 4/ Nếu có những sai sót khi trả lời các câu hỏi ôn tập thì hãy xem lại phần đó một lần nữa trước khi bước qua phần khác.
    Phương pháp học tập.
    Bạn nhớ đọc cẩn thận những điều gợi ý về phương pháp học tập trong tập tài liệu học viên. Những phương pháp này sẽ giúp bạn học để chuẩn bị cho bài kiểm tra tiến bộ từng phần cũng như bài thi cuối khóa. Nghiên cứu kỹ lưỡng các phương pháp học tập là điều rất quan trọng để đạt được kết quả mỷ mãn nhất từ khóa trình này.
    Các phương thức theo học khóa trình này.
    Bạn có thể học khóa trình này độc lập hoặc theo lớp học: Vì ICI cung cấp khóa trình này cho nhu cầu tự học nên sách hướng dẫn học tập được soạn cho mục đích này. Sách hướng dẫn học tập, sách chú giải Kinh thánh và Kinh thánh Tân ước là các tài liệu chính của khóa trình. Tất cả các bài làm đều có thể được gởi cho chúng tôi qua bưu điện ngoại trừ bài thi cuối khóa sẽ được nôỳp cho giám thị.
    Bạn cũng có thể ghi danh học khóa trình này tại một trường Kinh thánh hoặc trong chương trình ICI mở rộng. Những chương trình này có thể bao gồm các bài tập tại lớp kèm theo tự học. Đầu bài tại trường theo nhóm thì việc làm các bài tập trong sách hướng dẫn học tập sẽ giúp đáp ứng những yêu cầu của khóa trình.
    Nếu bạn không học theo phương pháp đại học thì có thể học với một giảng viên. Trong trường hợp này giảng viên sẽ là người đưa ra những chỉ dẫn. Những chỉ dẫn này có thể giống hay khác với cách chỉ dẫn hoặc đề nghị trong sách hướng dẫn học tập này. Những chỉ dẫn của giảng viên cần được coi trọng hơn. Bạn cần tuân theo những chỉ dẫn đó. Cũng có thể bạn muốn sử dụng khóa trình trong các nhóm học Kinh thánh tại tư gia, trong lớp học Kinh thánh tại Hội thánh hoặc học với các sinh viên ở đại học. Bạn sẽ thấy rằng cả đề tài học tập lẫn phương pháp học tập của tài liệu này đều rất thích hợp cho những mục đích đó. Sách hướng dẫn học tập này là sự trợ giúp quý báu cho cả học viên lẫn giảng viên.
    Tín chỉ của khóa trình này: 3 giờ
    Khóa trình này nằm trong chương trình cử nhân. Hoàn tất khóa trình này bạn có thể thi lấy chứng chỉ 3 giờ với ICI hoặc bất cứ tổ chức nào khác. Mọi học viên theo học chương trình ICI sau khi đã hoàn tất mỹ mãn khóa trình này đều nhận được tín chỉ. Tuy nhiên bạn có thể học khóa trình này mà không thi lấy tín chỉ. Trong trường hợp này bạn không cần phải dự thi hoặc làm các bài tập. Dù học tập trong bất cứ hình thức nào, sách giáo khoa và sách hướng dẫn học tập này sẽ đem lại nhiều ích lợi cho đời sống của bạn.
    Thi lấy tín chỉ.
    Để được cấp tín chỉ của ICI cho khóa trình này bạn phải thi đậu kỳ thi cuối khóa. Bài thi này phải được làm với sự giám sát của một giám thị được ICI chấp nhận. Giảng viên của bạn sẽ nói rõ chi tiết về điều này.
    Nếu bạn đang học khóa trình này để lấy tín chỉ của một tổ chức khác, bạn vẫn có thể nhận được tín chỉ của ICI nếu thi đậu kỳ thi cuối khóa. Vì các bài tập trong sách hướng dẫn học tập này được soạn để giúp bạn chuẩn bị cho kỳ thi cuối khóa nên bạn cần làm đầy đủ những bài tập đó cùng với các bài tập do giảng viên đề ra cho bạn.
    Bất kể bạn học khóa trình này theo phương pháp nào, nếu bạn đậu kỳ thi cuối khóa bạn sẽ được cấp tín chỉ.
    Thứ hạng của khóa trình.
    Thứ hạng của bạn sẽ căn cứ 20% trên bài thi cuối khóa và 30% trên dự án được đề cập trong bài 15. Từ 90 đến 100 điểm sẽ được xếp hạng A (xuất sắc); 80 đến 89 điểm hạng B (trên trung bình); 70 đến 79 điểm hạng C (trung bình ); 60 đến 69 điểm hạng D (dưới trung bình); 0 đến 59 điểm hạng U (không đủ tiêu chuẩn).
    Các bài kiểm tra tiến bộ từng phần.
    Nếu theo học chương trình hàm thụ của ICI, bạn sẽ nhận được tập tài liệu học viên có kèm những bài kiểm tra tiến bộ từng phần. Những chỉ dẫn trong bài kiểm tra được trình bày trong sách hướng dẫn học tập và trong tập tài liệu học viên.
    Dầu cho điểm của bạn về các câu hỏi trong bài học, về các bài tự kiểm tra và về bài kiểm tra tiến bộ từng phần không được trình vào điểm xếp hạng của khóa trình nhưng bạn cũng nên giữ các câu trả lời của bạn để giảng viên chấm bài và có những đề nghị về việc học của bạn. Sau đó bạn có thể xem lại tài liệu trong sách hướng dẫn học tập, hay sách giáo khoa về những điểm bạn còn thấy là khó hiểu.
    Bài thi cuối khóa.
    Bài thi cuối khóa sẽ bao gồm tất cả những điểm trong 4 bài kiểm tra tiến bộ từng phần và bài khảo sát khái quát 2 Côrinhtô (bài 15).
    Tác giả sách hướng dẫn học tập.
    Tác giả của sách hướng dẫn học tập là tiến sĩ Gordon D.Fee, giáo sĩ môn Kinh thánh Tân ước tại Southern California college (CostaMesa, California , USA) tại Wheaton college (Wheaton Illinois, USA) và tại thần học viện Gordon - conwell (South Hamilton Massachusserrs, USA) Tiến sĩ Fee đã giảng dạy 1 và 2 Côrinhtô trong nhiều năm và hiện đang làm việc để chuẩn bị xuất bản tác phẩm giải kinh quan trọng về 1Côrinhtô.
    Ông cũng có nhiều kinh nghiệm thực tế trong việc áp dụng sứ điệp của các thư tín này vào các sinh hoạt của Hội thánh. Ông là mục sư chính thức của Hội thánh ngũ tuần và đã từng là quản nhiệm Hội thánh trong 4 năm. Ông thường có dịp chia xẻ lời Chúa tại các hội đồng bồi linh, các hội nghị và các trường đại học.
    Lãnh vực chính của tiến sĩ Fee là phê bình bản văn Tân ước và chú giải Kinh thánh. Ông là một học giả nổi tiếng trên thế giới về những lãnh vực này. Bản luận án tiến sĩ của ông nhan đề "Papirus Bodmer 2: Các liên hệ về bản văn và các đặc tính trong cách sao chép" (Papirus Bodmer 2, its textual relationships and seribal characteristic) đã được đăng trong tạp chí Studies and document (1968). Ông cũng đóng góp bài vở cho các tạp chí Jouraal of biblical litrature, new testament studies, Novum Testsmentum, Biblica, và the Expositoey times cũng như góp phần trong một số tuyển tập các bài phê bình nhận định khác.
    Tiến sĩ Fee có bằng cử nhân văn chương và cao học văn chương của đại học Seattle Pacific (1956, 1958). Ông nhận bằng tiến sĩ tại đại học University of Southern CaliforniaLos Angeles (1966). Sự có mặt của tiến sĩ Fee, một học giả xuất chúng trong ban giảng huấn của ICI đã góp phần quan trọng vào chương trình nghiên cứu Kinh thánh của ICI.
    Giảng viên ICI
    Giảng viên ICI của bạn sẽ rất vui được giúp bạn bất cứ điều gì có thể được. Hãy nêu những thắc mắc cho giảng viên của bạn càng sớm càng tốt để có nhiều thì giờ chuẩn bị. Nếu bạn có thân hữu cùng muốn theo học khóa trình này. Hãy xin giảng viên của bạn xếp đặt riêng cho việc học theo nhóm.
    Cầu xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bạn bắt đầu nghiên cứu về thơ Côrinhtô . Ước mong rằng khóa trình này sẽ giúp ích cho đời sống và chức vụ của bạn cũng như giúp bạn hoàn thành nhiệm vụ của mình trong thân thể Đấng Christ.
    Hình ảnh minh họa.
    Bởi vì Kinh thánh dạy dỗ chúng ta về cả các thực tại của lịch sử cũng như thực tại thuộc linh trường cửu, nên chúng tôi đã chọn cách minh họa bằng những bức ảnh để có thể nối liền quá khứ nơi hiện tại (thành phố Côrinhtô trong thời đại Phaolô và thành phố Brussels trong thời đại hiện nay). Qua hình ảnh chúng tôi muốn nêu lên một gợi ý rằng không có nhiều khác biệt giữa các Cơ đốc nhân tại thành Côrinhtô và các Cơ đốc nhân thời nay khi họ đứng trước những vấn đề luân lý và đạo đức. Hy vọng rằng điều này sẽ giúp bạn hiểu được những chân lý đó và áp dụng vào đời sống và xã hội của bạn.
    Chúng tôi đã chọn thành phố Brussel làm tiêu biểu cho thời đại chúng ta. Cả Brussels và Côrinhtô đều có những đặc tính giống nhau: là trung tâm thương mại quốc tế, một đô thị sầm uất, một ngã tư trên trục lộ giao thông, và một thị trường buôn bán. Cả Côrinhtô và Brussels đều có những vấn đề về việc tôn thờ rất phổ biến trên khắp thế giới.

    Dẫn Nhập Vào Môn Chú Giải Kinh Thánh - Phần 1
    Người ta thường nói rằng: " Không cần phải chú giải Kinh thánh, chỉ cần đọc và làm theo mà thôi. Điều này đúng trong một mức độ nào đó. Nhưng mặt khác câu nói trên cũng rất sai lầm bởi vì ai ai cũng tìm hiểu ý nghĩa điều mình đọc. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta đọc một bài văn (bao gồm cả chính bài này) chúng ta sẽ cố gắng tìm hiểu điều tác giả muốn nói. " Cố gắng tìm hiểu" ấy chính là ý nghĩa của việc chú giải. Vì Kinh thánh là lời của Đức Chúa Trời chúng ta học tập để có thể giải nghĩa Kinh thánh cách đúng đắn. Đây chính là mục đích của bài học: nhằm giúp đỡ bạn học tập phương pháp chú giải Kinh thánh trong khi tìm hiểu ý nghĩa của 2 Côrinhtô."
    Với tư cách là người giảng dạy lời Chúa bạn sẽ thu đạt được nhiều lợi ích từ bài học này, không những học được phương pháp để tự mình giải nghĩa Kinh thánh nhưng bạn còn biết cách đánh giá những sự giải nghĩa do người khác đưa ra.
    Đức Chúa Trời dạy qua các thư tín.
    Bản chất của thư tín.
    Hình thức của thư tín.
    Tiến trình giải nghĩa các sách thư tín.
    Việc giải kinh (Exegesis): Điểm xuất phát
    Định nghĩa.
    Tầm quan trọng
    Học tập cách thực hiện việc giải kinh.
    Bối cảnh lịch sử.
    Bối cảnh văn chương.
    Tầm quan trọng của đoạn văn
    Học tập theo dõi cách lập luận
    Những vấn đề về nội dung
    Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể:
    * Giải nghĩa cách thức chú giải các thư tín trong Tân ước.
    * Phân biệt giữa việc giải Kinh (exegesis) và khoa giải kinh (hermeneuties) trong việc áp dụng những chân lý trong các thư tín.
    * Đánh giá cao vai trò của các thư tín trong việc đưa ra các câu trả lời cho nan đề.
    1. Nghiên cứu bài học từng phần một. Hoàn tất cả các bài tập. Sau đó hãy soát lại các câu trả lời của bạn. Nếu câu trả lời của bạn không đúng hãy ôn lại bài học để xem bạn chưa hiểu điều nào.
    2. Trong phạm vi bài học này, bạn sẽ được yêu cầu đọc 1Côrinhtô từ đầu đến cuối. Hãy cố gắng dành thời giờ để có thể đọc một lần trọn cả thư tín.
    3. Làm bài tự kiểm tra cuối bài học và soát lại các câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên. Ôn lại những điều bạn chưa trả lời đúng.
    Việc hiểu ý nghĩa của những từ ngữ quan trọng được liệt kê ở phần đầu mỗi bài học sẽ giúp ích rất nhiều khi bạn nghiên cứu bài học. Bạn sẽ tìm thấy định nghĩa ở cuối sách hướng dẫn học tập này. Nếu chưa hiểu bạn có thể tra cứu ngay bây giờ hoặc khi gặp từ ngữ đó trong bài học. Nhiều từ ngữ trong 2 bài học đầu đã quen thuộc đối với bạn, nhưng ở đây chúng được dùng với ý nghĩa đặc biệt. Vì vậy, bạn đừng vội lướt qua những từ ngữ này.
    Cách lập luận.
    Nội dung
    Bối cảnh
    Việc giải Kinh
    Theo văn hóa Hy lạp
    Khoa giải kinh
    Nhân cơ hội đặc biệt
    xuất phát từ cơ hội đặc biệt
    ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN DẠY QUA CÁC THƠ TÍN
    Kinh thánh đã được định nghĩa là lời của Đức Chúa Trời được trình bày trong ngôn ngữ của con người trong lịch sử. Chính bản chất lưỡng diện này của Kinh thánh đã khiến nó trở nên vô cùng sống động và thú vị. Vì Kinh Thánh là lời của Đức Chúa Trời nên chúng ta phải chăm chú lắng nghe và làm theo Kinh Thánh. Và bởi vì Đức Chúa Trời đã quyết định truyền phán lời của Ngài qua những con người cụ thể, trong những hoàn cảnh cụ thể, về những biến cố lịch sử cụ thể, nên chúng ta phải học tập để biết giải nghĩa Kinh thánh. Một trong những điều quan trọng liên quan đến khía cạnh nhân bản của Kinh thánh ấy là Kinh thánh được viết trong nhiều hình thức văn chương khác nhau. Điều này phản ảnh tầm vóc to lớn của sự mặc khải của Đức Chúa Trời và việc Ngài sẵn sàng sử dụng hầu như mọi hình thức ngôn ngữ và văn chương để truyền đạt tình yêu và ý định của Ngài cho chúng ta. Do đó, chúng ta có đủ mọi thể loại: lịch sử tường thuật, sử ký, luật pháp, kịch, thơ văn, châm ngôn, lời tiên tri, dự ngôn, chuyện kể, thơ tín, các sách Phúc âm và các sách Khải huyền.
    Nói một cách khác, Kinh thánh không phải chỉ là một tập hợp những lời phán dạy của Chúa - dường như Đức Chúa Trời từ trên trời nhìn xuống chúng ta và phán: " Này, các ngươi hãy học những chân lý này: 1/ Ta chính là Đức Chúa Trời, ngoài ta ra không có Chúa nào khác. 2/ Ta là tạo hóa của mọi loài, và là Đấng tạo dựng nhân loại...... Không phải thế đâu mặc dầu những lời phán dạy như thế là có thật và chúng ta có thể tìm thấy những lời phán như vậy trong Kinh thánh. ( lời lẽ có thể khác đôi chút! ). Nếu Kinh thánh được chép như vậy thì có lẽ dễ cho chúng ta hiểu hơn. Nhưng hãy để ý xem thế nào Đức Chúa Trời đã quyết định phán, dạy chúng ta qua Con Một của Ngài tức là ngôi Lời hằng sống - Chính Đức Chúa Trời đã mặc lấy hình thể con người và sống như một người trên thế gian này để chúng ta có thể nhận biết Đức Chúa Trời thực sự như thế nào. Cũng một thể ấy Ngài đã quyết định ban cho chúng ta lời thành văn của Ngài xuyên qua tất cả các phương cách thông thường của con người ngõ hầu chúng ta có thể nghe được tiếng phán của Ngài trong chính ngôn ngữ của chúng ta.
    Thay vì nghĩ rằng phương pháp truyền đạt của Đức Chúa Trời như thế là khó hiểu thì ngược lại chúng ta phải hân hoan vui mừng. Bởi vì điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời có thể tiếp tục phán dạy chúng ta qua hoàn cảnh sống cụ thể của chúng ta. Mặt khác, những hình thức văn chương phong phú của Kinh thánh cũng có nghĩa là chúng ta phải học tập để giải nghĩa Kinh thánh, lưu ý đến bản chất hay thể loại của các đoạn văn Kinh thánh. Mỗi thể loại văn chương có những quy luật đặc thù riêng và điều này cũng đúng với các thơ tín.
    1 Đọc kỹ những câu phát biểu dưới đây. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trả lời sai:
    a) Kinh thánh là lời Đức Chúa Trời nhưng được viết ra bởi tác giả là những con người và đề cập những hoàn cảnh cụ thể trong đời sống.
    b) Kinh thánh về căn bản là một tuyển tập các lời dạy dỗ mà Đức Chúa Trời đã tuyên phán và truyền cho các tác giả là con người ghi chép lại.
    c) Kinh thánh được cấu tạo bởi nhiều thể loại văn chương khác nhau.
    d) Kinh thánh là lời của Đức Chúa Trời và chúng ta cần phải tìm hiểu và chú giải cũng như vâng theo Kinh thánh.
    Bản chất của các thư tín
    Điều quan trọng nhất cần phải biết về các thơ tín ấy là chúng thực sự là những lá thư. Và những lá thư là những tài liệu nghĩa là chúng phát xuất từ những hoàn cảnh đặc biệt, của người nhận hay người gởi thơ. Trong Tân ước, phần lớn các thư tín xuất phát từ hoàn cảnh của người nhận. Điều này có nghĩa là người nhận thơ tín có một hành động nào đó hay đưa ra những câu hỏi khiến người viết thơ phải trả lời. Điều này rất đúng với những thơ tín gởi cho các Hội thánh. Thường thường một vài cách cư xử không chính đáng cần phải điều chỉnh lại, hoặc một giáo lý lầm lạc cần sửa chữa, hoặc một hiểu lầm cần giải thích thêm gợi lên nhu cầu viết thơ.
    Các thơ tín trong Tân ước là những bức thư bình thường.
    Bởi vì sứ đồ Phaolô quyết định viết một lá thơ (chứ không phải là bài nghị luận chẳng hạn) nên ông đã tuân theo các hình thức thông thường của một lá thư thời đó. Cũng giống như ngày nay các lá thơ có một hình thức chung (ngày tháng, chào hỏi, nội dung của thơ, phần cuối thơ và chữ ký), thời đó những lá thơ cũng có hình thức chung. (Người ta đã tìm thấy hàng ngàn bức thơ cổ và tất cả những bức thơ đó đều giống với những thơ tín trong Tân ước) .
    2. Xem ICo1Cr 1:1-916:19-24. So sánh với RoRm 1:1-1016:19-24, Phi Pl 1:1-64:21-23, ITe1Tx 1:1-35:25-28. Hãy liệt kê trong sổ tay của bạn các yếu tố chung trong những đoạn này (có 5 yếu tố).
    Bạn sẽ nhận thấy rằng một trong những yếu tố đó là lời cảm tạ Chúa. Đây là yếu tố thỉnh thoảng có sự khác biệt trong các thơ tín thời xưa. Hãy chú ý đến những sự khác biệt về những lời cảm tạ trong các thơ tín Tân ước sau đây: IICo 2Cr 1:3-7, GaGl 1:1-3, Eph Ep 1:3-10, IPhi 1Pr 1:3-9IIIGi 3Ga 1:2
    3. Ba trong số các thơ tín kể trên có bao gồm lời chúc phước hay tôn vinh. Đó là những thơ tín nào?
    ......
    Phần lớn những khó khăn trong việc giải nghĩa các thơ tín là do tính chất xuất phát từ một hoàn cảnh đặc biệt của chúng. Chúng ta có những câu trả lời nhưng lại không luôn luôn biết các câu hỏi hay các vấn đề là gì, hoặc ngay cả chúng ta không biết là có vấn đề nào hay không. Cũng giống như chúng ta được nghe một câu chuyện qua một đầu dây điện thoại và cố gắng hình dung ra ai là người ở đầu dây kia và người đó đang nói về điều gì. Như các bạn đã từng kinh nghiệm, trong một vài trường hợp người ta dễ hình dung ra câu chuyện hơn trong các trường hợp khác. Điều này cũng đúng với các bức thơ của Phaolô.
    Tiến trình giải nghĩa các thơ tín.
    Thông thường chúng ta phải tuân theo 3 bước sau đây trong việc giải nghĩa các thơ tín (Lưu ý những bước tiến này sẽ được giải thích trong phần kế tiếp và sẽ được minh họa trong những bài học sắp tới. Ở đây chỉ liệt kê các bước mà thôi).
    Bước 1: Chúng ta phải cố gắng tái tạo hoàn cảnh mà Phaolô muốn đề cập đến. Khi nói tái tạo, tôi không có ý nói rằng bạn phải viết ra hoặc phải hình dung ra tất cả mọi sự. Chúng ta phải cố gắng tìm hiểu hoàn cảnh nào đã đưa đến việc viết lá thơ - Có nghĩa là điều gì đã thúc giục tác giả viết lá thơ.
    Bước 2: Chúng ta phải giải nghĩa thơ tín của Phaolô như là một lời giải đáp cho một vấn đề hay một sự trả lời cho các câu hỏi mà chúng ta đã cố gắng hình dung ra. Điều đó có nghĩa là chúng ta hỏi: Phaolô đã muốn nói gì ở thời điểm đó?. Đây là bước rất quan trọng vì đó chính là lời của Đức Chúa Trời cho những người trong thời đại đó.
    Bước 3: Sau đó chúng ta phải hỏi: Điều đó có ý nghĩa gì đối với thời đại ngày nay? Tức là lời của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là gì?
    Chúng ta sẽ gặp khó khăn nếu chúng ta bắt đầu ở bước 3. Khi làm như vậy, chúng ta sẽ hoàn toàn không hiểu được ý nghĩa của lời Chúa. Đây là lý do tại sao bước 1 và 2 là rất quan trọng. Như các bạn đã thấy, Đức Chúa Trời đã dùng các thơ tín để dạy dỗ những điều liên quan đến các nhu cầu đặc biệt của con người. Nhu cầu cụ thể của chúng ta ngày nay có thể khác với nhu cầu của những người thời trước, nhưng Chúa vẫn có thể phán dạy chúng ta như Ngài đã phán dạy họ. Nhưng trước hết chúng ta cần phải biết Đức Chúa Trời đã phán điều gì và đặc biệt là những người tiếp nhận thơ tín là ai?
    4. Xem lại các bước tiến một lần nữa và bằng từ ngữ riêng của bạn hãy liệt kê và giải thích 3 bước. Soát lại câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập.
    Việc giải kinh: Điểm xuất phát
    Chúng ta sẽ tìm hiểu 2 thuật ngữ dễ lẫn lộn được dùng nhiều lần trong các bài học. Việc giải kinh và khoa giải kinh. Như David đã viết: "Quả thật việc giải kinh và khoa giải kinh sẽ theo đuổi chúng ta mọi ngày trong suốt cuộc sống". Ít nhất chúng cũng theo đuổi chúng ta nếu chúng ta muốn trở thành một người nghiên cứu và giảng dạy lời Chúa tốt. Vậy ý nghĩa của 2 thuật ngữ đó như thế nào?
    Định nghĩa.
    Bạn có thể tìm thấy các định nghĩa dưới đây trong 1 tự điển:
    Việc giải kinh: Việc giải thích hay chú giải cặn kẻ một bản văn Kinh thánh.
    Khoa giải kinh: Môn học về các phương pháp chú giải Kinh thánh.
    Qua những định nghĩa trên, khoa giải kinh bao gồm một công việc rộng lớn hơn. Nó bao gồm tất cả các lãnh vực và các nguyên tắc của phương pháp chú giải và bao gồm cả việc giải kinh (exegesis ) nữa. Trong khóa trình này, tôi sẽ dùng thuật ngữ khoa giải kinh một cách đặc biệt. Hãy cẩn thận lưu ý những sự giải nghĩa dưới đây vì đây là ý những nghĩa của những thuật ngữ vào trong suốt khóa trình.
    Việc giải kinh: Bản văn đã có ý nghĩa gì vào thời nó được viết ra? Lưu ý chữ "đã" nói về quá khứ. Việc giải kinh luôn luôn liên quan đến quá khứ và hoàn cảnh lúc đó. Trong khóa trình này, nó liên hệ đến Phaolô và những người ở Côrinhtô - Phaolô muốn nói điều gì? Phaolô muốn những người ở Côrinhtô hiểu điều gì? Trên hết mọi điều bạn phải hiểu qui luật sau đây: ý nghĩa thực sự của bản văn là điều mà tác giả chủ yếu muốn nói và điều mà độc giả thời đó đã hiểu khi đọc đoạn văn đó. Tôi không có ý nói rằng họ luôn luôn hiểu được ý nghĩa của bản văn, nhưng ý nghĩa thực sự của bản văn chính là điều mà họ đáng phải hiểu.
    Khoa giải kinh: Đoạn văn có ý nghĩa gì trong thời đại ngày nay. Nó được khởi đầu với việc giải kinh nhưng nó đặc biệt quan tâm đến hiện tại và hoàn cảnh ngày nay. Lời của Đức Chúa Trời dành cho mọi thời đại và mọi hoàn cảnh là gì - Ngài đang muốn nói điều gì với chúng ta? Quy luật ở đây là bản văn không thể chứa đựng một ý nghĩa nào cho chúng ta khác hơn là ý nghĩa đối với người thời đại đó. Hoàn cảnh của chúng ta có thể thay đổi nhưng điều Chúa muốn nói với chúng ta không khác với những gì Ngài đã nói với họ.
    5. Hãy ghi nhớ những định nghĩa này và hãy xem lại 3 bước tiến trong việc chú giải các thư tín. Hãy ghi vào khoảng trống chỉ việc giải kinh hay khoa giải kinh cho phù hợp với từng bước tiến.
    Bước 1 ......
    Bước 2 ......
    Bước 3 ......
    Tầm quan trọng
    Trong giai đoạn này, những sự phân biệt sau đây xem ra có vẻ không quan trọng. Nhưng thực sự chúng vô cùng quan trọng. Bởi vì kết luận có tính chất khoa giải kinh của chúng ta phải đặt nền tảng trên việc giải kinh chính xác. Hầu hết những sai lầm trong việc chú giải Kinh thánh và các sự chia rẻ trong Cơ đốc giáo đều là hiệu quả của những kết luận có tính chất khoa giải kinh. Tức là bắt đầu bằng bước 3 - trước khi thực hiện việc giải kinh.
    Chẳng hạn những người Mormons tin vào nghi lễ làm báp têm cho những người chết dựa trên ICo1Cr 15:29. Nhưng đây là một kết luận có tính chất khoa giải kinh thật sai lầm. Có nghĩa là họ đã bắt đầu từ bước 3 mà không thực hiện việc giải kinh trước. Phaolô không hề dạy dỗ về phép báptêm cho những người chết. Đó chỉ là điều mà những người Côrinhtô thi hành. Nhưng chúng ta hoàn toàn không biết ý nghĩa của việc đó, tại sao họ làm việc đó và làm việc đó cho ai. Phaolô chỉ nhân việc họ thực hành các nghi lễ đó mà lý luận rằng rất dại dột nếu không tin vào sự sống lại của thân thể trong tương lai (xem câu 12 -19).
    Cũng vậy, có một số Cơ đốc nhân tin rằng 13:10: " Song lúc sự trọn lành đã đến thì sự chưa được trọn lành sẽ bị bỏ". Có nghĩa là các ân tứ thuộc linh đã chấm dứt vào cuối thế kỷ thứ nhất. "Sự trọn lành" được giải nghĩa là việc hoàn tất kinh Tân ước. Có nghĩa là khi sách Tân ước được hoàn tất thì không còn cần "các ân tứ của sự khải thị" nữa. "Nhưng đó không phải là ý nghĩa của câu này bởi vì đó không phải là chủ ý của Phaolô. Người Côrinhtô đã không hiểu câu này với ý nghĩa như vậy. Vấn đề là: một đoạn văn Kinh thánh không thể có một ý nghĩa nào trong hiện tại khác hơn là ý nghĩa vào thời điểm nó đã được viết ra.
    Đây là lý do tại sao cần phải thực hiện việc giải kinh trước - Bởi vì ý nghĩa của một đoạn Kinh thánh đối với chúng ta ngày nay căn cứ vào ý nghĩa của đoạn văn đó đối với những người trong thời kỳ nó đã được viết ra. Trong phần tiếp theo của bài học chúng tôi muốn giải nghĩa thế nào là việc giải kinh xác đáng. Nhưng trước khi làm điều đó, chúng ta sẽ làm một vài bài tập để giúp phân biệt giữa câu phát biểu có tính chất việc giải kinh và có tính chất "Khoa giải kinh". Trong các bài tập này vấn đề chính không phải là các câu phát biểu đúng hay sai. Điểm quan trọng ở đây là câu phát biểu đó có tính chất nào.
    Hãy đọc cẩn thận và cho biết những câu phát biểu dưới đây có tính chất việc giải kinh hay có tính chất khoa giải kinh? Khoanh tròn mẫu tự trước các câu phát biểu có tính chất việc giải kinh .
    6. 3:9 "Vả chúng ta là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời".
    a) Câu này có nghĩa là những mục sư là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời.
    b) Câu này có nghĩa là Phaolô và Apôlô là những bạn cùng làm việc cho Đức Chúa Trời.
    7. 6:20 " Vậy hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời"
    a) Câu này có nghĩa là những tín đồ ở Côrinhtô không được liên hệ với các địa điểm ở đền miếu bởi vì thân thể của họ thuộc về Đức Chúa Trời.
    b) Câu này có nghĩa là các Cơ đốc nhân không nên hút thuốc lá"
    8. 16:2. "Cứ ngày đầu tuần lễ mỗi người trong anh em khá tùy sức mình chắt lót được bao nhiêu thì để dành tại nhà mình".
    a) Câu này có nghĩa là những tín đồ ở Côrinhtô phải dành dụm tiền bạc mỗi tuần để dâng hiến giúp đỡ cho những tín đồ nghèo thiếu ở Giêrusalem.
    b) Câu này có nghĩa là các Cơ đốc nhân nên dâng 1/10 một cách đều đặn
    Học tập để thực hiện việc giải kinh.
    Việc giải kinh ở mức độ cao đòi hỏi kiến thức về rất nhiều điều mà chúng tôi không đòi hỏi các bạn phải có: Các ngôn ngữ dùng trong Kinh thánh đặc biệt là tiếng Hylạp; văn hóa Do Thái và văn hóa Hylạp; đây là bản văn nguyên thủy; và việc sử dụng các phương tiện khác: văn phạm, bảng đối chiếu từ, Kinh thánh phù dẫn, từ điển...... Tuy nhiên bạn vẫn có thể học tập để thực hiện việc giải kinh chính xác mặc dầu bạn không có những kiến thức và khả năng nêu trên. Nhưng muốn được như vậy, bạn phải học tập để thực hành những điều có thể được với khả năng riêng của bạn và bạn cũng phải học tập để biết khi nào cần tham khảo các tác phẩm của những người khác. Chìa khóa dẫn đến việc giải kinh chính xác là đọc và nghiên cứu bản văn Kinh thánh thật cẩn thận và biết nêu lên những câu hỏi chính đáng. Hai điều này liên quan đến bước 1 và bước 3 đã nói ở trên. Trong bước 1 phải đọc bản văn một cách thật cẩn thận và trong bước 2 cần phải nêu lên những câu hỏi chính đáng về bản văn. Có 2 loại câu hỏi căn bản: Câu hỏi về bối cảnh và về nội dung. Cả 2 loại câu hỏi này đều vô cùng quan trọng để có được việc giải kinh chính xác.
    Tái tạo hoàn cảnh
    Hãy xem lại 3 bước tiến trong việc giải nghĩa các thư tín. Bước 1 đòi hỏi chúng ta phải cố gắng tái tạo hoàn cảnh Phaolô đã viết các thư tín. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải cố gắng tìm hiểu bối cảnh lịch sử của bức thơ. Điều gì đã xảy ra tại Côrinhtô? Điều gì đã đưa đến việc viết lá thơ hoặc một phần của bức thư này? Những lối cư xử nào Phaolô đã đề cập đến? Đây là những câu hỏi mà chúng ta cần phải trả lời, vậy chúng ta phải làm gì?
    Thứ nhất, tìm hiểu càng nhiều càng tốt về thành phố Côrinhtô và dân cư ở đó. Chúng ta sẽ làm việc này trong bài 3. Còn bây giờ, bạn cần biết rằng bạn có thể tìm được những thông tin về điều này trong phần tiểu dẫn quyển chú giải thơ Côrinhtô của BARRETT (trang 1-4) Nếu có thể sử dụng thư viện, bạn nên tra cứu đề mục về thành Côrinhtô trong một cuốn Thánh kinh tự điển, chẳng hạn như quyển Thánh kinh tự điển của nhà xuất bản Zondervan.
    Thứ nhì, xem qua toàn bộ bức thơ trong một lần.
    9. Đọc toàn bộ 1Côrinhtô trước khi nghiên cứu thêm các phần khác trong bài học. Khi đọc, hãy ghi chép trong sổ tay của bạn 2 điểm sau đây.
    a Tất cả những điều bạn ghi nhận được liên quan đến độc giả của bức thơ, chẳng hạn họ là người Do Thái hay Hylạp, những vấn đề và những cách cư xử của họ như thế nào v.v......
    b Thái độ của Phaolô ra sao.
    Thứ ba, khi chúng ta nghiên cứu từng phần của1Côrinhtô, các bạn cần phải đọc lại toàn bộ phân đoạn đó. Thực tế là kể từ bài 4, công việc đầu tiên của bạn trong mỗi bài học được phân loại như sau: a) Đọc phân đoạn này của thơ 1Côrinhtô ít nhất 2 lần: b) Liệt kê tất cả những điều liên quan đến độc giả cũng như các vấn đề của họ; c) Liệt kê những từ ngữ then chốt và những câu văn được lập đi lập lại có kiên quan đến ý chính của đề tài; và d) Tóm lược các ý tưởng theo từng đoạn; và giải nghĩa một cách vắn tắt ý tưởng của từng đoạn liên quan đến cách lập luận chung như thế nào.
    Bạn sẽ nhận thấy rằng đôi khi chính Phaolô nói cho chúng ta biết vấn đề là gì (thí dụ 1:10-12, 6:1); nhưng khi ông không cho ta biết về điều đó (đặc biệt trong 7:1-16:24 khi ông trả lời lá thơ của họ). Trong cả 2 trường hợp, bạn hãy học tập để có thể tìm ra và liệt kê tất cả những gợi ý.
    Đến đây chúng ta sẽ dành thời gian để thực tập. Nhưng vì bài học này đã khá dài, tôi sẽ nhắc lại phần này nhiều lần trong các bài học sắp tới.
    10. Bài tập tùy chọn. Nếu bạn muốn thực tập thì hãy có gắng tái tạo bối cảnh lịch sử của phân đoạn 6:1-11 và hơi khá hơn một chút là 8:1-13. Lưu ý rằng mục tiêu của bạn cần phải càng cụ thể càng tốt!
    Bối cảnh văn chương.
    Đến đây chúng ta qua bước 2 của việc giải nghĩa các thơ tín. Phaolô muốn nói điều gì? ở bước nầy chúng ta có 2 câu hỏi mang tính chất việc giải kinh: 1/ Những câu hỏi về bối cảnh văn chương và 2/ những câu hỏi liên quan đến nội dung
    Bối cảnh văn chương.
    Bối cảnh văn chương được phân biệt với bối cảnh lịch sử như sau:
    Bối cảnh lịch sử liên quan đến bước 1, ở bước đó chúng ta muốn biết về độc giả của bức thơ, họ là ai, những vấn đề của họ là gì và những nguyên nhân nào đã khiến bức thơ được viết ra. Bối cảnh văn chương liên quan đến bước 2, ở đây chúng ta tìm hiểu về tác giả bức thơ và câu trả lời của ông. Chúng ta muốn theo sát hoặc tóm lược cách lập luận của Phaolô từng bước 1. (Từ ngữ lập luận trong khóa trình này không có nghĩa là tranh luận; nhưng muốn nói về dòng tư tưởng hay diễn biến trong cách lập luận của tác giả. Phần kế tiếp của bài học được soạn để chỉ cho bạn biết phải làm điều này như thế nào.
    Tầm quan trọng của đoạn văn.
    Điều rất quan trọng cần phải học ở đây là trong phần lớn các thơ tín, Phaolô trình bày sự biện luận của ông, chứ không chỉ viết những câu văn độc lập. Những ngoại lệ duy nhất được tìm thấy ở những phân đoạn trong đó Phaolô đưa ra những lời kêu gọi có tính chất đạo đức chẳng hạn như RoRm 12:1-21ITe1Tx 5:12-23. Ngoài ra hầu hết nội dung đều là văn biện luận. Đây là lý do chúng ta cần phải sử dụng một bản dịch Kinh thánh được công nhận. Vài bản dịch, như bản King James chẳng hạn, người đọc rất khó theo dõi cách lập luận bởi vì chúng liệt kê mỗi câu văn thành một đoạn riêng biệt.
    11 Chúng ta sẽ xem xét về việc phiên dịch Kinh thánh trong những bài học tới. Ở đây, chúng ta chỉ xem sự khác biệt giữa bản NIV và bản King James về Rôma là như thế nào.
    Bạn hãy mở cả 2 bản dịch NIV và King James ra và so sánh xem việc xếp đặt câu và đoạn trong 2 bản dịch Kinh thánh đó như thế nào. Bạn có thể thấy rằng bản NIV được phân đoạn rất rõ ràng, trong khi bản King James không được phân đoạn ra.
    Do đó hãy suy nghĩ theo từng đoạn văn! Tại sao vậy? Bởi vì một đoạn văn là một đơn vị căn bản bao gồm một ý tưởng đầy đủ. Khi suy nghĩ theo từng đoạn, bạn sẽ không cố gắng tìm hiểu ý nghĩa của từng chữ hay từng nhóm chữ. Nhưng bạn sẽ tìm hiểu lý luận của tác giả diễn tiến như thế nào.
    Học tập để theo dõi cách lập luận.
    Nhưng suy nghĩ theo từng đoạn văn là như thế nào. Đây chính là vấn đề. Bạn sẽ không có thể học được điều đó một sớm một chiều. Tuy nhiên, bạn không cần phải quá lo lắng về điểm này. Đây chính là điều chúng tôi muốn giúp đỡ bạn trong suốt giai đoạn này là làm sao để nêu lên những câu hỏi xác đáng. Câu hỏi quan trọng nhất mà bạn cần phải học để nêu lên về bất cứ đoạn văn nào là câu này: điểm then chốt là gì?
    Chúng ta có ý gì khi nêu câu hỏi điểm then chốt là gì? chúng ta muốn biết mỗi đoạn văn đóng góp vào việc lập luận như thế nào -mục đích của Phaolô khi viết đoạn văn đó là gì? Có nghĩa là, Phaolô muốn nói gì trong đoạn văn này và điều quan trọng hơn là tại sao ông lại nói điều đó ở chỗ này? Sau khi nói điều đó rồi, ông sẽ nói điều gì nữa? Và chúng ta luôn luôn phải lưu tâm đến vấn đề. Đoạn văn này đã giúp cho việc giải đáp các vấn đề như thế nào?
    Chúng ta sẽ làm rõ hơn những điều này bằng cách nghiên cứu một số những đoạn văn trong một thơ tín khác chẳng hạn như thơ tín cho người Philíp.
    12 Xem Phi Pl 1:27, 2:23. Khúc Kinh thánh này chia làm mấy đoạn?......
    Diễn biến của lý luận (đại khái) đại khái như thế này: Cơ hội: Phaolô đang ở trong tù (1:13, 17) và Hội thánh Philíp đã nhờ Êphápra đem quà đến cho Phaolô (4:14-18). Sau đó Êphápra bị bệnh và Hội Thánh nghe biết về việc đó đã rất buồn bã (2:25-30). Nhưng Đức Chúa Trời đã chữa lành cho Êphápra. Kế đó Phaolô sai Êphápra trở về với Hội thánh (2:25-30) mang theo lá thơ của Phaolô nhằm mục đích: 1) cho Hội thánh biết tin tức về Phaolô (1:12-26); 2) cám ơn Hội thánh về món quà (4:10, 14-19) và 3) khuyến khích họ sống trong tinh thần hiệp một (1:27, 2:17, 4:2-3) và xa lánh những giáo lý sai lầm chịu ảnh hưởng của Do Thái giáo (3:1, 4:1).
    Phaolô vừa kết thúc phần nói về những điều xảy ra cho ông ở trong tù. Phần tiếp theo là những lời kêu gọi. Bạn hãy lưu ý rằng ông không còn nói về chính mình như trong câu 12 -26.
    13 Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn
    a Những nhóm chữ trong 1:12-26 chứng tỏ rằng Phaolô là đề tài của đoạn văn này (thí dụ " điều đã xảy đến cho tôi" "sẽ làm ích cho sự rỗi tôi".
    b Những nhóm chữ trong 1:27-30 chứng tỏ rằng những người thành Philíp là chủ đề của đoạn văn này.
    Vậy thì điểm then chốt của mỗi đoạn văn là gì?
    * 1:27-30. Những lời kêu gọi được bắt đầu ở đoạn này. Điểm then chốt có thể là điều chúng ta đọc thấy trong câu 27. Họ nên " đứng vững trong cùng một tâm trí ". Đây là lời kêu gọi nhằm đến sự hiệp một. Đặc biệt trong hoàn cảnh họ đối diện với sự bắt bớ (Ghi chú: Nếu chúng ta chọn câu 27 là điểm then chốt của đoạn văn này thì chúng ta phải đặt tiếp câu hỏi " Chủ đích của câu 28-30 là gì, và việc nhấn mạnh đến sự bắt bớ và sự thử thách nói lên điều gì? " Hãy chú ý cách tôi đã trả lời những câu hỏi này ở phần trên).
    2:1-4. Đoạn văn này liên hệ đến sự hiệp một như thế nào? ý tưởng chủ yếu là gì? Trước hết, Phaolô nhắc lại lời kêu gọi (câu 1:2 đến đây chúng ta chắc được rằng đã phân tích đúng đoạn văn trước). Nhưng ý tưởng chủ yếu ở đây là các tín đồ cần có thái độ khiêm nhường để Hội thánh được hiệp một.
    14 Chúng ta thử phân tích 2:5-11. Ý tưởng chủ yếu ở đây là gì? Tại sao Phaolô lại trưng dẫn bài thơ thánh về sự hạ mình và tôn cao của Đấng Christ?
    ......
    (bạn sẽ nhận ra rằng khi bạn đặt câu hỏi như thế này thì ý tưởng chính của đoạn văn không nhằm dạy chúng ta một điều gì mới về Đấng Christ. Phaolô nhắc lại những chân lý vĩ đại này về Đấng Christ để kêu gọi người Philíp hãy trở nên giống Chúa Jesus chứ không phải chỉ biết về Ngài mà thôi)
    2:12-13 ý tưởng chính yếu ở đây là gì? Rõ ràng đây là câu kết luận. Hãy chú ý chữ "vậy nên". Noi theo gương của Đấng Christ, họ sẽ vâng theo lời dạy của Phaolô. Về điều gì? Về việc giữ sự hiệp một là điều cần phải có sự khiêm nhường.
    Bạn có thể thấy rằng rất dễ hiểu được ý nghĩa của một đoạn Kinh thánh một khi bạn biết cách đặt câu hỏi xác đáng. Và bạn cũng sẽ rất hứng thú khi hiểu được những nội dung của các thơ tín trong Tân ước. Đây chính là điều chúng ta sẽ tiếp tục thực hiện khi học 1Côrinhtô. Và đây cũng chính là điều bạn có thể làm được. Bạn không cần đến sách chú giải hoặc giáo sư mới có thể làm được điều này.
    Vấn đề nội dung.
    Theo dõi diễn tiến trong cách lập luận mà thôi thì chưa đủ. Sau đây chúng ta sẽ bước vào những vấn đề liên quan đến những điểm cụ thể trong nội dung. Nhưng nên nhớ rằng chuyên gia không phải là người có nhiều năng lực hơn bạn. Chuyên gia chỉ là người có nhiều cơ hội học tập hơn các bạn. Nếu bạn biết tiếng Hylạp và đã nghiên cứu các tác phẩm Hylạp cổ và bộ sách Talmud của người Do Thái thì bạn cũng có thể làm việc này. Có thể bạn đã được học tập tiếng Hylạp. Tuy nhiên đa số các sinh viên học khóa trình này có thể chưa được học tiếng Hy lạp đầy đủ để có thể trở thành một người chuyên môn. Vấn đề quan trọng là biết được bạn có thể làm điều gì và hãy làm điều đó.
    Chúng ta sẽ nghiên cứu các câu hỏi về "nội dung" một cách chi tiết hơn trong bài học tiếp theo, khi các bạn sẽ được học về cách đánh giá một sách chú giải Kinh thánh.
    Ở đây tôi chỉ nêu lên một thí dụ. Xem ICo1Cr 2:1 trong bản NIV. Lưu ý chữ (b) sau "Đức Chúa Trời". chữ (b) liên quan đến ghi chú ở cuối trang: "Một số thủ bản chép: loan báo cho anh em mầu nhiệm của Đức Chúa Trời". Đây là một sự khác biệt về bản văn. Có bản chép Martyrion (Lời chứng) , có bản chép Mystérion (mầu nhiệm). Chữ nào là đúng với nguyên bản hơn?
    Một sách chú giải Kinh thánh tốt sẽ bàn luận về điểm này và đưa ra những lý do về cách sử dụng của 2 chữ này.
    Cũng xem 2:13 và đọc phần chú thích. Ở đây có sự khác biệt về văn phạm. Một sách chú giải tốt cũng sẽ đưa ra ý kiến về điều này.
    Các vấn đề nội dung liên quan đến bản văn, ý nghĩa của từ ngữ, những điểm về văn phạm và nền tảng của các ý tưởng. Các bạn cần học để nêu lên các câu hỏi và thường khi các bạn cần đến một sách chú giải Kinh thánh tốt để giúp bạn tìm ra những câu trả lời. Chúng ta sắp kết thúc bài 1. Đến đây chắc các bạn thấy rằng việc giải kinh vừa là niềm vui nhưng cũng là một công việc vất vả. Là niềm vui bởi vì bạn học để có thể tự khám phá ý nghĩa của Kinh thánh; là công việc vất vả bởi vì bạn phải nghiên cứ và tìm hiểu để có thể giải nghĩa được Kinh thánh.
    Trước khi làm bài tự kiểm tra, hãy xem lại các tựa đề của các phần trong bài học hoặc xem lại dàn bài của bài học. Để kiểm tra xem bạn có nhớ được ý tưởng chính trong mỗi phần không. Sau khi đã làm bài kiểm tra hãy ôn lại những phần trong bài học mà bạn chưa nắm vững.
    Sau khi ôn lại bài học, hãy làm bài tự kiểm tra dưới đây: Sau đó hãy soát lại các câu trả lời của bạn so với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên. Xem lại câu bạn đã trả lời sai.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    BỔ TÚC PHẦN CÒN THIẾU. Điền thêm những chữ hay nhóm chữ để câu phát biểu trở thành đúng.
    1 Điểm đặc sắc nhất về các thơ tín Tân ước là chúng......, có nghĩa là chúng đã được viết do một tình huống cụ thể.
    2 Trong CoCl 4:16, Phaolô có nói đến lá thơ gởi cho Hội thánh tại Laođixê. Giả sử như bức thư này được tìm thấy, hãy viết vào phần để trống 3 câu văn mà bạn nghĩ là sẽ có trong phần mở đầu lá thơ.
    a......
    b......
    c......
    3 Nêu lên 3 bước phải làm trong việc giải nghĩa các thơ tín của Phaolô
    a......
    b......
    c......
    4 Sự khác biệt giữa việc giải kinh và khoa giải kinh như được dùng trong giáo trình này là việc giải kinh liên quan với "thời gian và bối cảnh trong quá khứ trong khi khoa giải kinh liên quan đến......
    5 Nêu lên 2 loại bối cảnh mà bạn cần chú ý khi giải nghĩa các thơ tín và cho biết mỗi loại liên quan đến điều gì.
    a......
    b......
    CÂU TRẮC NGHIỆM: Chỉ có một câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng.
    6 Nếu Phaolô viết thơ cho Hội thánh ngày nay, ông sẽ dùng lời chào thăm như thế nào?
    a ) Thưa anh em thân mến trong Đấng Christ
    b ) Kính thưa quý vị
    c ) Kính thưa quý vị hữu trách
    d ) Gởi các thánh đồ tại thành phố
    7 Hùng đang sửa soạn dạy một bài học Kinh thánh về ICo1Cr 7:1-40. Việc trước tiên Hùng nên làm là:
    a ) Đọc trong cuốn đề mục hôn nhân trong Thánh Kinh phù dẫn để tìm ra các đoạn Kinh thánh khác liên quan đến hôn nhân.
    b ) Tìm hiểu từ ngữ "không kết hôn" (7:1) tìm tài liệu chú giải Kinh thánh để xem từ ngữ này có nghĩa gì trong đoạn này.
    c ) Đọc cả đoạn này một vài lần và liệt kê những yếu tố đã dẫn đến việc viết lá thơ và ghi nhận cách diễn biến trong ý tưởng.
    d) Đọc trong Thánh Kinh tự điển về những phong tục cưới hỏi trong thế giới cổ đại.
    LỰA CHỌN GIỮA 2 ĐIỀU: Cho biết những câu nào thuộc về việc giải kinh và câu nào thuộc về khoa giải kinh?
    Viết chữ V vào khoảng trống trước câu trả lời nếu thuộc về giải kinh.
    Viết chữ K vào khoảng trống trước câu trả lời nếu thuộc về khoa giải kinh.
    ......8 Phaolô dạy chúng ta nên giữ thái độ tôn kính hơn nữa khi dự tiệc thánh.
    ......9 Những tín đồ tại Philíp cần phải cảnh giác về những giáo lý sai lầm của người Giuđa.
    ......10 Hội thánh không nên vào sổ những người góa bụa bất cứ người nào dưới 60 tuổi.
    ......11 Cơ đốc nhân không nên kết hôn với người chưa tin bởi vì Phaolô đã dạy "chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin"
    ......12 Hội thánh nên khuyến khích các tín đồ thực hiện tình yêu thương và lòng hiếu khách.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1 Câu đúng là b
    2 Mặc dầu bạn có thể diễn tả bằng những từ ngữ khác, nhưng đây là những yếu tố chung
    a Tên của tác giả bức thơ (Phaolô)
    b Tên của người nhận (Hội thánh tại Côrinhtô)
    c Lời chào thăm (Ân điển và bình an)
    d Lời cảm tạ ("Tôi cảm tạ Đức Chúa Trời tôi")
    e Lời chào cuối thơ và lời từ giã.
    3 2Côrinhtô, Êphêsô, 1 Phierơ
    4 Trình bày 3 bước tiến bằng từ ngữ riêng của bạn.
    5 Bước một : việc giải kinh
    Bước hai : việc giải kinh
    Bước ba : khoa giải kinh
    6 b) Điều này có nghĩa là Phaolô và Apôlô là bạn cùng hầu việc Đức Chúa Trời
    7 a) Câu này có nghĩa là người Côrinhtô không được liên hệ với phường đĩ điếm ở các đền miếu bởi vì thân thể họ thuộc về Đức Chúa Trời.
    8 a) Câu này có nghĩa là người Côrinhtô nên thường xuyên dành dụm tiền bạc để dâng hiến giúp cho những người nghèo tại Giêrusalem.
    9 a) Ngoài những người ngoại bang ( 1 số ít là người Do Thái) ; họ ưa thích sự khôn ngoan và tri thức; họ kiêu căng và tự mãn; họ có nhiều nan đề ( chia rẻ, tham dục, kiện tụng tại toà do loạn luân, những vấn đề về hôn nhân, thờ phượng, sử dụng ân tứ tiếng mới, ăn của cúng hình tượng, sự sống lại của thân thể v.v......).
    b ) Phaolô quở trách (4:8-21, 5:2, 6:1-8) kêu gọi (4:14-17, 16:10-11) khuyến khích (16:12 6:18-20......). Bạn có thể nêu lên các điểm khác nhưng phải được chứng minh trong Kinh thánh.
    10. Bạn tự phân tích lấy.
    11. Không cần trả lời câu hỏi này.
    12. Có 4 đoạn ( ghi chú : Bài thơ thánh trong Thi Tv 2:6-12 được chia ra nhiều phân
    đoạn, nhưng cả bài thơ đó chỉ tính là một đoạn)
    13. a. Thì điều này sẽ trở nên ích cho sự rỗi tôi; việc chi tôi cũng chẳng thở than cả; Trong mình tôi; Đấng Christ là sự sống của tôi, và sự chết là điều ích lợi cho tôi vậy. Tôi cứ sống trong xác thịt là ích lợi cho công khó tôi; nhưng tôi cứ ở trong xác thịt; tôi biết chắc rằng tôi sẽ cứ còn lại và ở với hết thảy anh em.
    b. Anh em phải ăn ở một cách xứng đáng, anh em một lòng đứng vững; đồng tâm chống cự vì đức tin; chúng nó phải hư mất, còn anh em được cứu rỗi. Anh em phải chịu cùng một cuộc chiến tranh như anh em đã thấy ở nơi tôi.
    14. Bạn nên trả lời như sau : Vì Chúa Jesus qua việc mặc lấy thân xác loài người và hy sinh chịu chết là gương mẫu cao cả nhất về sự khiêm nhường mà Phaolô muốn họ phải noi theo.

    Dẫn nhập vào Môn Chú Giải Kinh Thánh - Phần 2
    Trong bài trước các bạn đã nhận thấy tầm quan trọng của việc giải kinh đối với những người nghiên cứu và giảng dạy lời Chúa. Việc học biết việc giải kinh là gì và cách thực hiện việc giải kinh như thế nào không những giúp chúng ta tránh giải nghĩa sai Kinh Thánh - gán cho Đức Chúa Trời điều Ngài không hề phán bảo - mà còn giúp chúng ta nhìn ra những sai lầm của người khác khi họ giải nghĩa một đoạn văn Kinh Thánh thiếu cẩn thận.
    Bài học này sẽ tiếp tục với những chỉ dẫn về khoa giải kinh đã bắt đầu trong bài 1. Các bạn sẽ học biết đánh giá và sử dụng 2 công cụ quan trọng nhất trong việc giải kinh: Một bản dịch Kinh Thánh và một sách chú giải Kinh Thánh có phẩm chất tốt. Sau đó chúng ta sẽ bước sang phần thú vị hơn tức là những vấn đề liên quan đến khoa giải kinh. Chúng ta muốn biết không những về những điều Đức Chúa Trời đã phán dạy trong thời trước mà còn là những điều Ngài muốn phán dạy chúng ta ngày hôm nay nữa. Trong bài này chúng ta sẽ nghiên cứu những quy tắc của việc ứng dụng lời Chúa.
    Với tư cách một người học hỏi và giảng dạy Kinh Thánh chúng ta cũng muốn tìm hiểu điều Chúa dạy cho chính đời sống chúng ta. Mục đích của việc nghiên cứu không phải chỉ là tìm tri thức nhưng là để làm theo lời Chúa. Nhưng trước hết cần phải biết Chúa muốn chúng ta làm gì. Có một điều chắc chúng ta đã biết đó là Đức Chúa Trời không muốn chúng ta kiêu ngạo nghĩ rằng chúng ta hiểu biết Kinh Thánh hơn những người khác. Tình yêu thương vẫn là điều quan trọng nhất.
    Chọn một bản dịch Kinh Thánh tốt
    Vấn đề về bản văn
    Vấn đề về ngôn ngữ
    Chọn lựa một sách chú giải Kinh Thánh tốt
    Các tiêu chuẩn để chọn lựa
    Đánh giá sách chú giải Kinh Thánh của BARRETT.
    Từ việc giải kinh đến khoa giải kinh.
    Những trường hợp về các sắc thái tương đồng .
    Vấn đề liên quan đến văn hóa và những điều tuyệt đối.
    Vấn đề liên quan đến ý nghĩa sâu nhiệm hơn.
    Khi hoàn tất bài học nầy, bạn sẽ có thể:
    * Giải thích những tiêu chẩn dùng để đánh giá một bản dịch Kinh Thánh.
    * Trình bày những tiêu chuẩn cần thiết để đánh giá một sách chú giải Kinh Thánh.
    * Phân biệt giữa việc áp dụng các nguyên tắc của khoa giải kinh cách đúng đắn và cách không đúng đắn.
    * Nhìn nhận rõ ràng rằng người chú giải Kinh Thánh cần phải thực sự khiêm tốn trước mặt Chúa.
    1. Ôn lại bài 1. Lưu ý đặc biệt đến những phần nói về việc sử dụng các bản dịch Kinh Thánh, các sách chú giải Kinh Thánh và các nguyên tắc của khoa giải kinh.
    2. Xem bản liệt kê những từ ngữ quan trọng (sẽ có nhiều thuật ngữ chuyên môn được dùng trong bài này). Bạn không cần phải tra cứu bảng giải nghĩa thuật ngữ - ngay bây giờ, nhưng cần nhận biết những từ ngữ phải tra cứu khi gặp những từ ngữ đó trong bài học.
    3. Nghiên cứu bài học từng phần một. Đọc những phần chỉ định phải đọc và làm những bài tập trong bài học. Sau đó soát lại những câu trả lời của bạn. Nếu bạn trả lời chưa đúng, hãy xem lại phần đó và tìm hiểu tại sao sai.
    4. Làm bài tự kiểm tra ở cuối bài học và so sánh câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên. Xem lại những câu bạn trả lời chưa đúng.
    Có nhiều nghĩa
    Những sắc thái tương đồng
    Văn hóa
    Chuyển ngữ linh hoạt
    Thuộc về văn phạm
    Khoảng cách lịch sử
    LỰA CHỌN MỘT BẢN DỊCH KINH THÁNH TỐT
    Việc lựa chọn và sử dụng một bản Kinh Thánh tốt là điều quan trọng trong công việc giải kinh. Chúng ta đã nói đền điều này trong bài 1 khi đề cập đến ý nghĩa của đoạn văn. Nhưng còn có những lý do quan trọng khác cho việc sử dụng một bản dịch Kinh thánh tốt.
    Kinh Thánh Tân Ước được viết bằng tiếng Hy lạp. Do đó việc giải kinh phải dựa trên bản văn Hy lạp. Nếu như bạn không biết tiếng Hy lạp thì có nghĩa là bạn phải dựa vào những người hiểu biết tiếng Hy lạp và dịch Kinh Thánh tiếng Hy Lạp sang ngôn ngữ của bạn. Nhưng điều đó cũng có nghĩa là bạn đã dính líu đến việc chú giải Kinh Thánh bởi vì mỗi bản dịch Kinh Thánh đều căn cứ vào sự chú giải riêng của tác giả bản dịch. Đây không hẳn là điều tệ hại và cũng không có nghĩa là chúng ta sẽ không nắm rõ được ý nghĩa thực sự của Kinh Thánh. Các bản dịch Kinh Thánh là cần thiết. Không thể không có việc dịch Kinh Thánh. Nhưng nếu bạn làm công việc giải kinh thì bạn cần phải biết một số điều về việc dịch thuật Kinh Thánh và các nguyên tắc của việc dịch thuật.
    Có 2 điều mà một dịch giải phải lựa chọn khi chuyển ngữ thơ ICôrinhtô của Phaolô từ tiếng Hy Lạp của thời đại Phaolô sang ngôn ngữ mà bạn đang sử dụng: Đó là việc chọn lựa bản văn và việc chọn lựa từ ngữ và văn phạm.
    Vấn đề về bản văn
    Mối quan tâm đầu tiên của dịch giả là bản văn ông sử dụng càng-gần với bản văn nguyên thủy do Phaolô viết ra bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Có nghĩa là dịch giả muốn biết chắc rằng ông đang dịch chính những chữ mà Phaolô viết cho người Côrinhtô. Điều này khá dễ dàng, điều ông cần phải làm là tìm một bản Tân Ước tiếng Hy Lạp và bắt đầu dịch.
    Nhưng 1 người dịch Kinh Thánh chuyên môn sẽ cần biết nhiều điều rõ hơn. Ông cần biết 3 điều sau đây về bản văn do chính tay Phaolô viết: 1) Bản văn nguyên thủy ngày nay không còn nữa, 2) Trải qua 1450 năm những bản chép tay (gọi là thủ bản) đã được chép ra dựa vào những thủ bản có trước và 3) hiện nay còn lưu trữ hơn 600 thủ bản 2 Côrinhtô nhưng không có thủ bản nào hoàn toàn giống thủ bản nào.
    Tuy nhiên người phiên dịch Kinh Thánh không thất vọng bởi vì họ cũng có kiến thức về môn phê bình bản văn. Đây là thuật ngữ chuyên môn để chỉ một ngành khoa học liên quan đến việc nghiên cứu các thủ bản, tìm ra những lầm lỗi và thiếu sót trong các thủ bản cũng như xác định xem đâu là bản văn nguyên thủy của Phaolô trong trường hợp các thủ bản có sự khác biệt.
    1 Xem lại phần bài học phía trên. Khoanh tròn chữ Đ nếu là Đúng và chữ S nếu là Sai đối với câu phát biểu dưới đây:
    Đ - S Môn phê bình bản văn là một ngành khoa học nhằm cố gắng xác định đâu là những từ ngữ chính xác trong bản văn nguyên thủy của một tác phẩm thời xưa.
    2 Nêu lên 3 yếu tố khiến cho việc phê bình bản văn đối với 1Côrinhtô trở nên cần thiết.
    a ......
    b ......
    c ......
    Mục tiêu của tôi trong bài học này không phải là hướng dẫn các bạn thực hiện việc phê bình bản văn. Tôi chỉ muốn trình bày để bạn hiểu tại sao những nhà phiên dịch và chú giải Kinh Thánh cần phải làm công việc phê bình bản văn. Tôi cũng muốn bạn có thể hiểu cách khái quát việc phê bình bản văn là gì. Đề nghị bạn đặc biệt lưu ý đến những điểm sau đây:
    Điểm thứ nhất: Phê bình bản văn là môn khoa học được tiến hành với những quy luật rất khắc khe. Sau đây là 2 loại chứng cớ mà một nhà phê bình bản văn phải xét đến trước khi quyết định:
    Trước tiên là các thủ bản. Sau nhiều năm trường nghiên cứu cẩn thận, các học giả đã nhận ra rằng các thủ bản có niên hiệu cổ, đặc biệt là các thủ bản xuất xứ từ Ai Cập thường tốt hơn các thủ bản khác. Không phải mọi trường hợp đều đúng như vậy bởi vì không có thủ bản nào có thể gọi là tuyệt đối hoàn hảo. Nhưng đây có thể nói là quy luật chung.
    Sau đó là chứng cớ nội tại. Điều này liên quan đến việc tìm ra các lỗi lầm khi sao chép. Ở đây có một quy luật căn bản. Khi nào hai hay nhiều thủ bản có sự khác biệt trong bản văn (gọi là dị bản) thì dị bản nào giải thích rõ nhất lý do tại sao đã có những dị bản khác sẽ được coi là sát với nguyên bản hơn.
    Chúng ta có thể minh họa về quy luật này qua ICo1Cr 11:29. Ở đây có sự khác biệt giữa bản King James và bản NIV. Bản King James chép: "Kẻ ăn và uống cách không xứng đáng......". Còn bản NIV chép: "Bất cứ ai ăn hoặc uống......".
    Vấn đề ở đây là: Phải chăng những dịch giả của bản King James đã dùng 1 bản Kinh Thánh tiếng Hy Lạp trong đó chữ "cách không xứng đáng" đã được thêm vào hay phải chăng chỉ "cách không xứng đáng" đã có trong nguyên bản do Phaolô viết nhưng bởi một lý do nào đó đã bị bỏ sót trong bản Kinh Thánh tiếng Hy Lạp được các dịch giả bản NIV sử dụng? Câu trả lời trong trường hợp này rất rõ ràng:
    Từ ngữ "cách không xứng đáng" chỉ có ở trong các thủ bản sau này mà dịch giả của bản Kinh James đã sử dụng nhưng không hề có trong các thủ bản xưa hơn (mà những dịch giả NIV sử dụng).
    Sự xuất hiện của từ ngữ này trong các thủ bản sau này có thể được giải thích là một sự thêm vào dựa theo câu 27. Ở câu 27 mọi thủ bản đều có chép "cách không xứng đáng". Không thể có lý do chính đáng nào cắt nghĩa cho việc bỏ sót "cách không xứng đáng" ở câu 29 trong các thủ bản cổ hơn nếu như nó vốn có trong cổ bản nguyên thủy.
    3. Bài tập này nhằm giúp bạn bắt đầu tìm hiểu bản văn. Nghiên cứu thượng hạ văn của những câu trích dẫn dưới đây. Bạn có thể giải thích lý do dẫn đến các điểm khác biệt so với nguyên bản không?
    a 11:24 b 6:20 c 3:5
    Nguyên bản : Ngài bẻ bánh và phán: "Này là thân thể ta".
    Dị bản: Ngài bẻ bánh và phán: "Hãy cầm lấy và ăn, này là thân thể ta".
    Nguyên bản: "Vậy hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời"
    Dị bản: “Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời, và cũng làm sáng
    danh Chúa bởi tâm linh anh em vốn thuộc về Đức Chúa Trời".
    Nguyên bản: “Thế thì, Apôlô và Phaolô là ai?"
    Dị bản: "Thế thì, Phaolô là ai và Apôlô là ai?".
    Chúng ta có thể thấy rằng những yếu tố sau đây đã góp phần tạo nên các sự khác biệt so với nguyên bản, sự cẩu thả, sự giải thích thêm của những người sao chép thủ bản và sự cố gắng hòa hợp những phần Kinh Thánh khác lại với nhau.
    Điểm thứ nhì: mặt dầu khoa phê bình bản văn là khoa học nhưng nó không phải là khoa học chính xác bởi vì nó liên quan đến rất nhiều yếu tố thay đổi có tính chất con người. Một số người đã từng nêu câu hỏi rằng thế thì Kinh Thánh chính xác đến mức nào? Câu trả lời là: chúng ta có thể chắc chắn về nguyên bản Tân Ước hơn bất cứ tác phẩm nào của thời cổ đại (nghĩa là bất cứ tác phẩm nào được sao chép bằng tay).
    Tuy nhiên vẫn có một số điểm khác biệt mà các học giả chưa thể thống nhất với nhau. Những điểm này không ảnh hưởng đến một giáo lý quan trọng nào mà chỉ tạo nên sự khác biệt trong cách dịch và chú giải thôi. Lý do của điều này là cả hai cách hiểu đều có số thủ bản ủng hộ đồng đều và dị bản nào cũng có thể giải thích cho dị bản kia. Hãy lấy 13:3 làm thí dụ.
    Bản NIV: lại bỏ thân mình để chịu đốt.
    Lề chú: bỏ thân mình để tôi có thể khoe khoang.
    Trong tiếng Hy Lạp 2 từ này chỉ khác có một mẫu tự Kauchèsòmai và Kauthèsòmai. Người thư ký nào đã chép sai? Rất khó có thể trả lời. Bản Kinh Thánh Hy Lạp của lối dùng chữ Kauchèsòmai (để có thể khoe khoang); trong khi cả bản NIV và BARRETT đều dịch là "để chịu đốt". Những bản dịch Kinh Thánh đầy đủ đều có ghi chú ngoài lề về những điều này. Như thế chứng tỏ tác giả không dứt khoát chọn lựa chữ nào.
    4 Xem sách chú giải của BARRETT (trang 301 đến 302) - lý do chính ông nêu lên khi chọn chữ "để chịu đốt" là gì?
    ......
    Những người dịch Kinh Thánh phải chọn lựa một bản văn Hy Lạp để dịch. Điều này giải thích một trong những lý do tại sao đôi khi các bản dịch khác biệt nhau (và tại sao những người dịch Kinh Thánh cũng phải làm công việc chú giải nữa). Với tư cách người đã từng nhiều năm làm việc trong ngành phê bình bản văn, tôi xin xác nhận điều này: chúng ta có thể không luôn luôn biết chắc điểm khác biệt nào là nguyên bản nhưng chúng ta có thể biết chắc một trong những điểm khác biệt đó là nguyên bản Kinh Thánh. Kinh Thánh Tân Ước được lưu truyền bởi rất nhiều thủ bản cổ nên hầu như không thể có một chữ nào bị bỏ sót.
    Bản dịch Kinh Thánh được dùng rộng rãi nhất trong những dân tộc nói tiếng Anh là bản King James. Tuy nhiên thủ bản Hy Lạp duy nhất mà những người dịch Kinh Thánh tiếng Anh năm 1611 có trong tay là thủ bản có niên hiệu rất trễ. Tất cả các lầm lỗi trải qua hơn 1000 năm sao chép đều dồn lại trong thủ bản này. Có rất ít sai sót có thể ảnh hưởng đến giáo lý (thường chúng ta vẫn nghĩ là có thể có nhiều sai sót như vậy), nhưng những sai sót đó thường dẫn đến những cách hiểu khác nhau. Đây là lý do tại sao bạn nên dùng bất cứ bản dịch Kinh Thánh mới nào hơn là dùng bản King James. Phải chọn lựa bản dịch nào giữa các bản dịch mới sẽ dẫn chúng ta đến một sự chọn lựa khác mà những người dịch Kinh Thánh phải quyết định.
    5. Lưu ý những sự khác biệt giữa bản NIV và bản King James trong những câu Kinh Thánh dưới đây.
    Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn những khác biệt nào là kết quả của việc sử dụng những bản văn Hy Lạp khác nhau khi dịch thuật.
    1:14, 23, 3:3, 5:4, 9:20, 10:23.
    Vấn đề về ngôn ngữ
    Nguyên tắc dịch thuật liên hệ đến hai sự chọn lựa khác đó là chọn lựa về từ ngữ và về văn phạm. Điều này liên hệ đến việc chuyển những từ ngữ và ý tưởng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác.
    Nguyên tắc dịch thuật
    Trong phần này, các bạn cần phải hiểu các thuật ngữ chuyên môn sau đây:
    Ngôn ngữ nguyên bản: Ngôn ngữ gốc được dịch ra ngôn ngữ khác: đối với Tân Ước thì đó là tiếng Hy Lạp.
    Ngôn ngữ của bản dịch: Ngôn ngữ được dịch từ nguyên bản (ở đây là Anh ngữ).
    Khoảng cách lịch sử: Bản văn thời cổ, người dịch thuật phải quyết định chuyển những ý tưởng và từ ngữ nào cho hợp với thời đại và giữ nguyên những ý tưởng và từ ngữ nào như trong quá khứ. Thí dụ: có nên dịch đèn dầu thành đèn pin trong những nền văn hóa mà đèn pin được dùng với công dụng của đèn dầu ngày xưa? Có nên dịch "cái hôn thánh" thành bắt tay trong các nền văn hóa mà việc hôn nhau trước mặt người khác là một vấp phạm không?
    Bây giờ hãy xem 3 thuật ngữ trên được áp dụng vào các nguyên tắc dịch thuật căn bản sau đây:
    Dịch sát nghĩa: là cố gắng theo sát bao nhiêu có thể ngôn ngữ của nguyên bản nhưng vẫn có ý nghĩa trong ngôn ngữ chuyển dịch. Một bản dịch sát nghĩa sẽ cố giữ khoảng cách lịch sử.
    Dịch thoáng: là cố gắng chuyển những ý tưởng từ ngôn ngữ này sang ngôn ngữ khác nhưng không quan tâm nhiều đến việc sử dụng các từ ngữ sát với nguyên bản. Một bản dịch thông thường cố gắng loại bỏ khoảng cách lịch sử càng nhiều càng tốt.
    Chuyển ngữ linh hoạt: cố gắng dịch chính xác bao nhiêu có thể. Những dịch giả theo đường lối chuyển ngữ linh hoạt nhìn nhận rằng các ngôn ngữ có những cách diễn tả khác nhau (các thành ngữ), do đó họ cố gắng chuyển ngữ bằng cách dùng các thành ngữ văn phạm tương đương khi dịch thuật. Một bản dịch theo cách chuyển ngữ linh hoạt sẽ tôn trọng khoảng cách lịch sử ở những điểm có liên quan đến lịch sử nhưng chuyển những yếu tố về ngôn ngữ, văn phạm, bút pháp cho sát với thời đại.
    6. Đọc 2 câu phát biểu dưới đây và làm những bài tập bằng cách viết Jorden hoặc Young vào khoảng trống.
    Clarenie Jorden đã dịch Kinh Thánh Tân Ước cho những người Mỹ sống ở vùng hẻo lánh miền Nam nước Mỹ thường được gọi là bản dịch Cottonpatch. Ông dịch Côrinhtô thành Atlanta và Rôma thành Washington DC.
    Robert Young xuất bản một bản dịch Kinh Thánh năm 1862 trong đó ông dịch 5:1 như sau: "Rõ ràng là có sự dâm loạn giữa vòng anh em và dâm loạn như thế cả thế giới cũng chưa nghe nói tới đến nỗi con lấy vợ của cha mình!".
    a Bản dịch nào là bản dịch thoáng?......
    b Bản dịch nào là bản dịch sát nghĩa?......
    c Bản dịch nào đã hoàn toàn loại bỏ khoảng cách lịch sử?......
    Trong bài này, chúng ta không thể dành nhiều thì giờ nói về các nguyên tắc dịch thuật. Do đó tôi xin đặt một số bản dịch Kinh Thánh Anh ngữ trên thước đo về khoảng cách lịch sử. Biểu đồ sau đây sẽ cho thấy các bản dịch đứng ở mức độ nào khi nói về khoảng cách lịch sử.
    Bản dịch tốt nhất là một trong những bản dịch ở phần giữa của biểu đồ, đó là những bản dịch theo cách chuyển ngữ linh hoạt. Một bản dịch sát nghĩa thường có giá trị như một nền tảng thứ nhì; nó sẽ giúp chúng ta nắm được ý nghĩa sát với bản văn Hy Lạp. Một bản dịch thoáng cũng có thể hữu ích trong việc gợi ý cho các bạn về những ý nghĩa khả dĩ có của bản văn Kinh Thánh. Tuy nhiên, nguyên tắc dịch thuật tốt nhất là cách chuyển ngữ linh hoạt. Đây là lý do chúng tôi sử dụng bản NIV trong khóa trình này.
    Việc dịch từ ngữ và văn phạm
    Vấn đề thực sự của một bản dịch sát nghĩa là nó duy trì khoảng cách ở những điểm không cần thiết - liên quan đến ngôn ngữ về văn phạm. Điều này có nghĩa là những người dịch thuật có khuynh hướng sử dụng từ ngữ và thành ngữ xa lạ với cách nói trong ngôn ngữ được dịch ra. Tương tự như việc dịch Marson Blanche trong tiếng Pháp ra House white trong tiếng Anh. Một vấn đề khác nữa là việc dịch sát nghĩa đen khiến câu văn trong tiếng Anh có thể dễ lẫn lộn mặc dù trong nguyên văn trong nguyên bản Hy Lạp ý nghĩa rất rõ ràng.
    Chẳng hạn trong IICo 2Cr 5:16 từ ngữ Hy Lạp Ratasarka có thể được dịch theo nghĩa đen "theo xác thịt" (như bản Kinh James và NASB đã dịch). Nhưng cách nói như vậy là không thông dụng trong tiếng Anh, hơn nữa câu văn này có thể có nhiều nghĩa dễ lẫn lộn. Trong khi đó nguyên bản Hy Lạp của câu này có nghĩa rất rõ ràng. Do đó bản NIV đã dịch cách chính xác là "vậy nên từ nay trở đi (vì chúng ta đã sống lại trong một đời sống mới, câu 14) chúng ta không còn xét đoán ai theo quan niệm của người đời nữa".
    7. Bạn có thể nhận ra trong những câu dưới đây, câu nào được dịch thuật theo cách chuyển ngữ linh hoạt?
    a ICo1Cr 13:12
    1) Hiện nay chúng ta trông gương cách mờ nhạt.
    2) Hiện nay chúng ta chỉ có 1 cái nhìn bị giới hạn.
    b 4:21
    1) Hay là tôi sẽ đến cùng anh em với roi vọt hoặc với tình yêu thương và sự mềm mại?
    2) Tôi sẽ đến cùng anh em với sự trách phạt hay với tình yêu thương và sự dịu dàng?
    c 16:1
    1) Về việc quyên góp để giúp đỡ con cái Chúa.
    2) Về việc góp tiền cho thánh đồ.
    Nếu có thể được bạn nên dùng nhiều bản dịch Kinh Thánh trong khi học tập. Trong những bài kế tiếp, khi bạn được yêu cầu phải đọc các phần trong 1Côrinhtô thì bạn nên đọc trong nhiều bản dịch khác nhau. Khi đọc các bản dịch khác nhau như vậy, những điểm khác biệt sẽ làm nổi bật những điểm mà bạn cần đặt câu hỏi.
    Thí dụ bạn hãy đọc 4 bản dịch khác nhau của 7:36.
    KJV - "Nếu có ai tưởng chẳng nên cho gái đồng trinh lỡ thì......"
    NASB - "Nếu có ai tưởng chẳng nên đối xử không phải với con gái đồng trinh của mình".
    NEB - "Nếu người nào có vị hôn thê còn trinh tiết và nghĩ rằng mình đối xử với bạn mình không thích đáng......"
    Bảng King James theo sát nghĩa đen nhưng lại dùng chữ gái đồng trinh thiếu ý nghĩa chính xác. Những bản khác đã giải nghĩa từ ngữ này, và đó là điều cần làm. Nhưng bản dịch nào đúng hơn? Theo tôi bản NIV đúng hơn. Nhưng làm thế nào chúng ta có thể đi đến quyết định đó? Ở điểm này chúng ta phải cần đến một sách chú giải tốt. Do đó tới đây chúng ta sẽ quay sang vấn đề chọn lựa và sử dụng sách chú giải Kinh Thánh tốt.
    VIỆC LỰA CHỌN MỘT SÁCH CHÚ GIẢI TỐT
    Tôi xin phép lặp lại: Các bạn không bắt đầu việc nghiên cứu Kinh Thánh bằng cách đọc sách chú giải! Bạn nên xem sách chú giải sau khi đã tự mình nghiên cứu. Bạn chỉ tham khảo sách chú giải để tìm câu trả lời cho những câu hỏi đã gợi lên trong quá trình nghiên cứu.
    Những mục tiêu để chọn lựa
    Giả sử chúng ta đang nghiên cứu 1Côrinhtô ở đoạn 11. Chúng ta đọc thấy trong câu 10. Bởi đó, vì cớ các thiên sứ, đờn bà phải có dấu hiệu trên đầu chỉ về quyền phép mình nương cậy". Những chữ "vì cớ các thiên sứ" có thể có nghĩa gì? Một sách chú giải tốt sẽ giúp chúng ta hiểu đúng ý nghĩa. Vậy thì sách chú giải nào được gọi là tốt?.
    Có ít nhất là 7 tiêu chuẩn được dùng để lựa chọn một sách chú giải tốt. Những tiêu chuẩn này có các khía cạnh khác nhau và có tầm quan trọng khác nhau. Nhưng tất cả các tiêu chuẩn này hợp lại ở điểm quan trọng sau: Sách chú giải đó có giúp bạn hiểu được điều Phaolô muốn nói hay không? Hai tiêu chuẩn đầu tiên là những thông tin mà bạn cần biết trước tiên về một sách chú giải Kinh Thánh:
    1. Sách chú giải đó có tính chất việc giải kinh đúng nguyên tắc hay chỉ là giải kinh trong khi giảng, hoặc là một sự kết hợp giữa hai điều trên. Nên nhớ rằng điều bạn thực sự cần tìm hiểu trong một sách chú giải là việc giải kinh. Nếu sách chú giải cũng đưa ra những gợi ý có tính cách khoa giải kinh nữa thì điều đó cũng tốt. Nhưng điều bạn cần là câu trả lời cho những câu hỏi của bạn và những câu hỏi của bạn về mặt nội dung thì chủ yếu có liên quan đến việc giải kinh.
    2. Sách chú giải đó căn cứ trên bản văn Hy Lạp hay một bản dịch từ tiếng Hy Lạp? Không hẳn là không tốt khi một sách chú giải được căn cứ trên một bản dịch nếu như tác giả hiểu rõ bản văn Hy Lạp - và sử dụng sự hiểu biết của ông như là nền tảng thực sự cho việc giải kinh.
    3. Tác giả có nêu lên tất cả những ý nghĩa có thể có của bản văn, lượng định các ý nghĩa đó và đưa ra những lý do tại sao ông chọn lựa một trong những ý nghĩa đó? Thí dụ: Bằng cách tham khảo nhiều bản dịch khác nhau bạn có thể biết rằng có ít nhất 3 cách giải nghĩa của 7:36. Một sách chú giải sẽ không thực sự có ích lợi gì cho bạn nếu như tác giả không bàn luận về 3 cách giải nghĩa đó, đưa ra những lý luận ủng hộ hay chống lại các cách giải nghĩa nêu trên và sau đó giải thích tại sao tác giả chọn lựa theo một cách. Đây chính là tiêu chuẩn quan trọng nhất.
    4. Tác giả có bàn luận về các vấn đề liên quan đến sự phê bình bản văn không? Bạn đã học về sự quan trọng của điều này trong phần đầu của bài học này.
    5. Tác giả có bàn luận về bối cảnh lịch sử liên quan đến những ý tưởng trong bản văn ở những điểm quan trọng không? Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về điều này trong phần sau khi chúng ta bàn về sách chú giải của BARRETT.
    6. Tác giả có cho biết những sách tham khảo khác để bạn có thể nghiên cứu thêm nếu cần?
    7. Phần dẫn nhập của sách chú giải có cung cấp cho bạn đầy đủ tư liệu về bối cảnh lịch sử hầu bạn có thể biết hoàn cảnh dẫn đến việc viết lá thơ hay không?
    8 Xem lại phần trên để chắc rằng bạn đã nắm được 7 tiêu chuẩn . Bằng từ ngữ riêng của bạn, hãy liệt kê 7 tiêu chuẩn để chọn lựa sách chú giải Kinh Thánh và cho biết đâu là tiêu chuẩn quan trọng nhất.
    Đánh giá sách chú giải của Barrett
    Bây giờ chúng ta đem áp dụng các tiêu chuẩn trên vào sách chú giải của Barrett để xem đây có phải là một sách chú giải tốt không.
    Điểm thứ nhất, đây là một sách chú giải có tính chất của việc giải kinh. Bạn sẽ nhận ra điều này khi chúng ta tiếp tục bài học và như thế chúng ta không cần bàn về tiêu chuẩn này ở đây.
    9. Xem phần lời tựa trong sách của Barrett. Đây là một sách chú giải dựa trên bản văn Hy Lạp hay dựa trên một bản dịch?......
    10. Đọc các trang 182 đến 184 (Bàn về 7:36) và trang 253 đến 254 (về 11:10). Liệt kê những ý nghĩa khác nhau được Barrett đã cập đến.
    a 7:36 ......
    b 11:10 ......
    Ở phần đầu của bài học, chúng ta đã ghi nhận rằng Barrett có bàn luận đến những vấn đề về phê bình bản văn. Những thí dụ có thể được tìm thấy ở trang 62 đến 63 (về 2:1) trang 273 (về 11:29).
    11. Cũng liên quan đến 2 câu Kinh Thánh được nói đến trong bài tập số 10 ở trên, hãy ghi lại trong sổ tay của bạn những cách thức Barrett đã đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn 5 và 6.
    a Bối cảnh lịch sử
    b Bản liệt kê sách tham khảo
    Chúng ta sẽ xét xem Barrett có phù hợp với tiêu chuẩn 7 hay không trong bài học 3.
    Trước khi kết thúc phần này, tôi xin phép nhấn mạnh 2 điều này:
    1. Bạn không cần phải đồng ý với kết luận của tác giả là sách chú giải có ích lợi . Có khi bạn có thể nghĩ rằng một trong những ý nghĩa mà tác giả đã loại bỏ là có lý hơn. Trong trường hợp bạn cần phải đưa ra những lý do xác đáng cho ý kiến của bạn (chẳng hạn theo bạn ý nghĩa đó phù hợp với bối cảnh hơn). Cuối cùng, có thể bạn cũng muốn tham khảo các tài liệu chú giải nếu thuận tiện.
    2. Bạn cũng có thể xem xét các tài liệu chú giải về những sách khác của Tân Ước trong cùng một cách thức như vậy. Hãy lựa chọn một đoạn văn có vấn đề khó khăn (thí dụ ITi1Tm 2:15 hay IPhi 1Pr 3:19). Rồi hãy thử xem tài liệu đó có thể giúp bạn hiểu rõ ý nghĩa như thế nào, đưa ra những ý nghĩa khác nhau thế nào và đề nghị việc lựa chọn ý nghĩa đúng nhất.
    TỪ VIỆC GIẢI KINH ĐẾN KHOA GIẢI KINH
    Bây giờ chúng ta sang phần cuối cùng trong 2 bài học này - Từ việc tìm hiểu ý nghĩa của bản văn trong thời đại trước đến ý nghĩa của bản văn trong thời đại ngày nay. Sau khi chúng ta đã biết được ý nghĩa của Lời Chúa đối với người Côrinhtô, chúng ta cần đặt câu hỏi rằng những quy luật nào sẽ giúp chúng ta áp dụng Lời Chúa vào hoàn cảnh hiện tại của chúng ta.
    Những trường hợp liên quan đến các sắc thái tương đồng
    Trước hết tôi xin nhấn mạnh rằng đối với đại đa số các trường hợp thì khoa giải kinh không có vấn đề phức tạp. Bởi vì sự khác biệt giữa thế kỷ thứ nhất và thế kỷ XX không đến nỗi nhiều lắm . Lý do của điều này có liên quan đến quan niệm về các sắc thái tương đồng. Điều này có nghĩa là mặc dù nền văn hóa và khung cảnh lịch sử có khác biệt, nhiều vấn đề cụ thể vẫn có cùng một ý nghĩa trong cả hai thời đại.
    Lấy một thí dụ trong bài học một chúng ta đã theo dõi diễn tiến các ý tưởng trong Phi Pl 1:27-2:13. Mặc dù chúng ta chưa thực hiện việc giải kinh một cách đầy đủ, chúng ta vẫn có thể thấy được ý nghĩa của khúc Kinh Thánh này. Các tín đồ trong Hội Thánh cần phải sống trong sự yêu thương và sự khiêm nhường theo gương Đấng Christ là điều cần thiết để có thể hiệp một. Dầu cho hoàn cảnh lịch sử của chúng ta khác với thời đại trước, ngày nay vẫn có các Hội thánh, vẫn có những con người trong Hội thánh, những con người đó vẫn cần sống trong sự hiệp một với nhau và vẫn cần học tập để trở nên khiêm tốn. Sau hết, nói một cách thành thực thì vấn đề thực sự của chúng ta đối với khúc Kinh Thánh đó không phải là tìm hiểu ý nghĩa nhưng là vâng theo sự dạy dỗ trong đó, nhưng yếu tố vẫn còn tồn tại trong thế kỷ XX này được gọi là những sắc thái tương đồng.
    Xin nhắc lại: Phần lớn các thơ tín đều có những sắc thái tương đồng giữa thế kỷ thứ I và thế kỷ XX. Một khi chúng ta đã thực hiện việc giải kinh tốt, việc áp dụng vào cuộc sống hiện tại sẽ trở nên dễ dàng.
    Nhưng cũng có nhiều trường hợp mà bối cảnh văn hóa và lịch sử có nhiều khác biệt đến nỗi các sắc thái không còn tương đồng nữa.
    Chúng ta có thể nói đến một trường hợp điển hình, IITi 2Tm 4:13 "Khi con đến, hãy đem áo choàng mà ta để lại tại nhà Cabút thành Trô ách ". Ở đây không có các sắc thái tương đồng, qua nhận xét bình thường dùng Kinh Thánh cũng có thể thấy rằng câu Kinh Thánh này chỉ có sắc thái riêng biệt của thời trước. Chúng ta không thể đến gặp Phaolô. Cả nhà Cabút và áo choàng của Phaolô đều đã không còn nữa. Cũng khó tìm được một ý nghĩa nào trong câu Kinh Thánh này ngoại trừ ý tưởng rằng ngay cả một vị sứ đồ cũng có những lo lắng về cuộc sống thường ngày.
    12. Xem lại phần trước của bài học, và trả lời câu hỏi sau đây. Những vấn đề nào trong Tân Ước có những sắc thái tương đồng trong thế kỷ XX đối với mọi Cơ đốc nhân trong mọi nền văn hóa? (Khoanh tròn mẫu tự).
    a) Việc ăn đồ cúng cho các thần tượng
    b) Hôn nhân là liên hệ gia đình
    c) Việc đối xử với nô lệ
    d) Việc bố thí tiền bạc cho người nghèo
    e) Việc chào nhau bằng cái hôn thánh
    f ) Việc liên hệ tình dục trong các đền miếu
    Vấn đề liên quan đến văn hóa và đâu là những giá trị đạo đức tuyệt đối
    Hai thí dụ được nêu lên ở trên (trong PhiLíp và 2Timôthê tương đối dễ giải quyết bởi vì chúng hoặc là có những sắc thái tương đồng hoặc là không. Nhưng vấn đề trở nên khó khăn đối với những đoạn Kinh Thánh vừa có những sắc thái tương đồng vừa không tương đồng. Có nghĩa là một số đoạn văn Kinh Thánh trong đó có những yếu tố mang sắc thái tương đồng hoặc có những đặc tính bất biến nhưng lại có những yếu tố dường như gắn chặt với nền văn hóa của thế kỷ thứ nhất . Vấn đề ở đây là không phải mọi Cơ đốc nhân đều đồng ý được với nhau điều gì thuộc về văn hóa và điều gì không thuộc về văn hóa, cũng như họ không thể đồng ý về những quy luật để giải nghĩa những đoạn Kinh Thánh đó. Tôi xin nêu lên 2 đoạn văn Kinh Thánh để làm thí dụ trong đó bao gồm 2 loại vấn đề khác nhau.
    1. Trong CoCl 4:1 Phaolô viết: "Hỡi người làm chủ, hãy lấy đều công bình, chánh trực đãi tôi tớ mình". Đối với phần lớn các nền văn hóa ngày nay, vấn đề nô lệ không còn nữa. Vậy thì chúng ta sẽ nghĩ gì trước một mạng lệnh như vậy? Một số người có thể cho rằng chúng ta nên coi những khúc Kinh Thánh đó chỉ có giá trị trong thế kỷ thứ 1. Dĩ nhiên không nhất thiết chúng ta phải sở hữu các nô lệ thì mới phải học tập câu Kinh Thánh đó.
    Trái lại tôi nghĩ rằng câu Kinh Thánh đó vẫn có ý nghĩa đối với chúng ta, nhưng nó cần được dịch bằng những từ ngữ thích hợp. Chẳng hạn, ngày nay chúng ta không còn có các chủ nô và nô lệ nhưng chúng ta có thể có những hình thức tương đồng thí dụ như ông chủ và người làm công. Nhưng có điều cần lưu ý ở đây là chúng ta phải chắc chắn rằng có sự tương đồng thực sự giữa 2 hoàn cảnh.
    2. Trong ICo1Cr 16:20, Phaolô viết cho những người ở Côrinhtô là "hãy lấy cái hôn thánh mà chào nhau". Điều nầy có thích hợp cho mọi thời đại không. Vấn đề ở đây hơi khác với vấn đề về chủ nô và nô lệ . Bởi vì việc lấy cái hôn thánh mà chào nhau có thể được thực hiện trong tất cả các nền văn hóa ở mọi thời đại.Tuy nhiên, mệnh lệnh này xuất hiện 4 lần trong Tân Ước (RoRm 16:16, IICo 2Cr 13:12, ITe1Tx 5:26, IPhi 1Pr 5:14) và cả 4 lần đó đều là lời chào cuối thơ được sử dụng bởi các Cơ đốc nhân.
    Vấn đề đặt ra cho chúng ta là các Cơ đốc nhân ngày nay có cần phải chào nhau như thế không? Hay đây chỉ là vấn đề tùy ý, có thể làm và có thể không. Chúng ta có thể áp dụng một hình thức tương tự như bắt tay hay choàng vai nhau như trong văn hóa La mã? Hoặc chúng ta kết luận rằng cách thức này chỉ áp dụng cho những tín đồ thế kỷ thứ I thôi?
    Các bạn cũng cần biết là những lập trường kể trên đều được ủng hộ bởi các Cơ đốc nhân rất nhiệt thành, và không thể có quy luật nào có thể thỏa mãn tất cả mọi người. Do đó, thay vì đưa ra những quy luật, tôi chỉ nêu lên một vài gợi ý chung.
    1. Chúng ta cần xác định xem khúc Kinh Thánh chúng ta đang giải nghĩa đó có thực sự liên quan đến vấn đề đạo đức hay luân lý không hoặc chỉ là vấn đề về tập quán và văn hóa. Những vấn đề thực sự liên quan đến luân lý như tình yêu thương, sự nhơn từ, lòng thương xót, sự rộng lượng, sự thành thật...... là điều không thể tùy nghi lựa chọn được. Vâng theo những mạng lệnh đó là thể hiện đầy đủ Tin lành trong đời sống chúng ta. Nhưng những vấn đề liên quan đến y phục, đồ ăn, thức uống, sự giải trí, chào hỏi, giữ ngày tháng...... chỉ liên quan đến tập quán và do đó có thể khác nhau tùy theo nền văn hóa. Trên hết mọi sự, Phúc âm của Chúa không nên biến thành một bộ luật.
    2. Một số Cơ Đốc Nhân xem những vấn đề thuộc về văn hóa là quan trọng trong khi đối với một số Cơ đốc nhân khác thì điều đó không quan trọng. Do đó, các Cơ đốc nhân từ những nền văn hóa khác nhau nên sống trong tình yêu thương và tránh xét đoán hoặc coi thường người khác.
    3. Chúng ta cần phải có thái độ khiêm tốn và yêu thương nếu chúng ta muốn trở nên những người giảng dạy Lời Chúa cách trung tín. Chúng ta có thể hiểu một câu Kinh Thánh theo cách giải nghĩa của chúng ta nhưng không được nghĩ rằng đó là ý nghĩa duy nhất cho mọi Cơ đốc nhân. Điều đó có nghĩa là nếu chúng ta cho rằng lấy cái hôn thánh chào nhau là thuộc về văn hóa và thuộc về thế kỷ thứ I, thì tình yêu thương không cho phép tôi bắt buộc người khác phải có suy nghĩ giống như tôi trong khi họ tin tưởng rằng cần phải làm đúng lời Kinh Thánh trong hoàn cảnh hiện nay.
    Tôi không muốn đi vào chi tiết ở đây bởi vì chúng ta sẽ gặp lại những vấn đề này trong các bài học kế tiếp. Trong bài học dẫn nhập này chúng ta chỉ mới làm quen với những loại vấn đề mà sau này chúng ta sẽ gặp phải.
    13. Trong ITi1Tm 2:9 Phaolô dạy rằng phụ nữ không được gióc tóc. Cách áp dụng đúng nhất trong Hội thánh ngày nay là coi đó như:
    a) Một gương mẫu có tính chất văn hóa về cách phục sức giản dị và chuyển hóa thành một biểu hiện tương xứng của sự giản dị theo văn hóa của chúng ta.
    b) Một chân lý vĩnh cữu trong Lời Chúa và có nghĩa là phụ nữ không bao giờ được gióc tóc.
    c) Một vấn đề chỉ liên quan đến thế kỷ thứ nhất và những phụ nữ trong Hội thánh của Timôthê.
    d) Một tiêu chuẩn về cách phục sức để căn cứ vào đó xét đoán các kiểu để tóc hiện thời.
    Vấn đề về những ý nghĩa "sâu nhiệm hơn"
    Trước khi kết thúc bài học này, chúng ta cũng cần nói vài điều về một vấn đề khác có tính chất khoa giải kinh. Các bạn còn nhớ trong bài một ở phần có tựa đề "Việc giải kinh: điểm xuất phát", chúng ta đã nhấn mạnh rằng một đoạn Kinh Thánh chỉ có ý nghĩa mà tác giả định nói. Nhưng bởi vì Đức Chúa Trời muốn phán dạy qua Phaolô, nên có thể nào Ngài định phán dạy những ý nghĩa "sâu nhiệm hơn điều Phaolô tự ý thức không?
    Những câu hỏi được đặt ra đối với những ý nghĩa "sâu nhiệm hơn". Câu trả lời là có thể như vậy. Điều này rõ ràng là đúng đối với những lời có tính chất tiên tri. Nhưng đem áp dụng điều này vào các thư tín thì có khó khăn bởi vì không có những hạn chế cụ thể. Chúng ta cần phải tuân theo các nguyên tắc của việc giải kinh chính xác và hết sức cẩn thận khi suy nghĩ về các ý nghĩa "sâu xa hơn".
    Ý tưởng chính ở đây là Kinh Thánh được công nhận là Lời Đức Chúa Trời. Một vài giáo phái Cơ đốc có những văn phòng có nhiệm vụ quyết định xem đâu là "ý nghĩa đầy đủ hơn" mà Chúa muốn phán dạy. Các giáo hội cải chính không có những cơ cấu này. Chúng ta cần được hướng dẫn bởi những người có thẩm quyền hơn trong việc tìm hiểu ý nghĩa nguyên thủy của bản văn Kinh Thánh.
    Đây cũng chính là lý do khiến người ta giải nghĩa ICo1Cr 13:10 "khi sự trọn vẹn đến" là chỉ về kinh điển Tân Ước và cho rằng các ân tứ thuộc linh không còn xuất hiện trong Hội thánh sau thế kỷ đầu tiên. Quả thực việc giải kinh như thế là rất sai lầm. Nhưng nếu nói rằng câu Kinh Thánh này có "một ý nghĩa sâu xa hơn" một ý nghĩa vượt qua điều Phaolô định nói thì có nghĩa là sự giải nghĩa nào cũng có thể đúng. Nhưng không thể như thế được. Bạn không thể giải nghĩa lời Kinh Thánh vượt qua ý nghĩa thực sự mà Kinh Thánh muốn nói.
    Tôi cần nói một ý tưởng cuối cùng: Sự hiểu biết ít ỏi có thể đồng nghĩa với phá hoại. Chúng ta không học tập để thực hiện việc giải kinh hay áp dụng khoa giải kinh để chúng ta có thể phê bình người khác hay tỏ ra "khôn ngoan" hơn người khác. Chúng ta học những điều này trước hết là để làm theo lời Kinh Thánh.
    14. Giả sử bạn dự một buổi thờ phượng và nghe một diễn giả quen biết giải nghĩa sai một đoạn Kinh Thánh hoặc cho rằng đọan Kinh Thánh đó có một ý nghĩa mà theo sự hiểu biết của bạn là không đúng. Thái độ đúng đắn nhất của bạn sẽ là:
    a) Đến gặp người đó sau buổi nhóm và cho người đó biết rằng đã giải nghĩa sai khúc Kinh Thánh cũng như trình bày cho người đó ý nghĩa chính xác của đoạn Kinh Thánh đó là gì.
    b) Nên bỏ qua việc đó bởi vì đó không phải là chuyện của bạn.
    c) Đứng dậy vào cuối buổi nhóm và trình bày cho mọi người tham dự buổi nhóm đó ý nghĩa thực sự của khúc Kinh Thánh.
    d) Đến gặp người đó sau buổi nhóm và cùng nhau thảo luận về khúc Kinh Thánh cũng như trình bày cách giải nghĩa của bạn như một ý kiến.
    Đến đây chúng ta chấm dứt bài học 2. Trước khi làm bài tự kiểm tra dưới đây, bạn nên ôn lại bài học cẩn thận. Cố gắng nhớ lại một số điểm trong mỗi phần của bài học. Tuy nhiên, tôi tin rằng các bạn không nhớ hết chi tiết.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    Viết chữ Đ vào khoảng trống trước những câu trả lời đúng. Viết chữ S nếu sai.
    ...... 1 Một trong những lý do khiến một người dịch Kinh Thánh cần phải biết khoa phê bình bản văn là bởi vì người đó phải lựa chọn một thủ bản Hy Lạp không có sai lỗi và dịch thủ bản đó.
    ...... 2 Quy luật chính trong khoa phê bình bản văn là dị bản nào giải nghĩa tốt nhất lý do tại sao có các dị bản khác thì đó có thể là bản thì đó có thể là bản văn nguyên thủy Phao lô đã viết.
    ...... 3 Những người dịch Kinh Thánh thường ghi chú một cách dịch khác ở bên lề bản văn là vì họ không hoàn toàn chắc được về bản văn nguyên thủy.
    ...... 4 Bản dịch sát từng chữ là thích là thích hợp nhất cho việc giải kinh bởi vì nó không bao gồm nhiều sự giải nghĩa.
    ...... 5 Thủ bản cổ là đáng tin cậy hơn bởi vì nó tránh được những sai lỗi dồn lại sau nhiều thế kỷ sao chép.
    ...... 6 Một bản dịch tốt sẽ giữ "khoảng cách lịch sử" đối với từ ngữ và văn phạm cũng như đối với các vấn đề liên quan đến lịch sử và sự kiện.
    ...... 7 Chỉ nên sử dụng một bản dịch khi thực hiện việc giải kinh để tránh bị lầm lẫn về ý nghĩa thực sự của bản văn.
    ...... 8 Bản NIV là một điển hình tốt để cách dịch thuật dựa trên nguyên tắc chuyển linh hoạt.
    ...... 9 Một trong những tiêu chuẩn quan trọng trong việc đánh giá một sách chú giải Kinh Thánh là xét xem tác giả có sử dụng bản văn Hy Lạp hay không.
    ...... 10 Trong trường hợp có những sắc thái tương đồng giữa thế kỷ thứ I và thế kỷ thứ XX, công việc chính của chúng ta là thực hiện việc giải kinh chính xác, sau đó việc áp dụng sẽ trở nên dễ dàng.
    ...... 11 Nguyên tắc hay nhất liên quan đến khoa giải kinh có thể áp dụng vào những vấn đề có tính chất văn hóa là tìm ra nguyên tắc và áp dụng nó vào những tình trạng tương tự trong các nền văn hóa khác nhau.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. Đúng
    2. Dưới đây có thể là những lý do của các khác biệt:
    a. Từ ngữ "Cầm lấy, ăn" từ Mat Mt 26:26 được thêm vào ở đây bởi vì chúng thường được dùng trong các buổi thờ phượng của Hội Thánh.
    b. Một vài thơ ký sao chép bản văn đã nới rộng tư tưởng của Phaolô để bao gồm hết các phần của con người.
    c. Trong câu 4 Phaolô được nhắc đến trước Apôlô. Một vài người sao chép câu 5 cũng theo thứ tự của câu 4.
    3. Tóm tắt những điểm chính là:
    a. Nguyên bản đã bị mất
    b. Các thủ bản Kinh Thánh đã được sao chép bằng tay xuốt 1450 năm
    c. Hiện còn lưu trữ 600 thủ bản của 1Côrinhtô nhưng không có thủ bản nào hoàn toàn giống nhau
    4. ICo1Cr 1:14 - Bản KJV thêm chữ Đức Chúa Trời
    1:23 - Bản KJV dùng chữ người Hy Lạp thay vì người dân ngoại.
    3:3 - Bản KJV thêm "và sự chia xẻ"
    5:4 - Bản KJV lập lại chữ Đấng Christ 2 lần
    9:20 - Bản KJV bỏ sót những chữ "Dầu chúng tôi chẳng ở dưới quyền luật pháp".
    10:23 - Bản KJV thêm cho tôi 2 lần
    5. Theo tác giả thì như thế câu văn sẽ có ý nghĩa hơn
    6. a Jorden
    b. Young
    c. Jorden
    7. a. 2) Ngày nay cái nhìn của chúng ta chưa đầy đủ.
    b. 2) Anh em muốn tôi đến với anh em với hình phạt hay với tình yêu thương và sự dịu dàng
    c. 1) Về việc góp tiền để giúp đỡ các con cái Chúa
    8. Xem lại trong sách hướng dẫn học tập
    9. Có căn cứ trên bản văn Hy Lạp.
    10. a. Cha đối xử với con gái còn đồng trinh. Hôn nhân có tính chất thuộc linh; hôn nhân trong đó người em lấy vợ của anh mình khi người anh qua đời; đôi nam nữ đã đính hôn.
    b. Phụ nữ cần sự bảo vệ chống lại sự tấn công của các thiên sứ ác, các thiên sứ là các giám mục; các thiên sứ canh giữ trật tự trong vũ trụ.
    11. a. Giữa vòng những điều khác, lịch sử của hôn nhân tâm linh; bối cảnh người Do Thái đối với sự hôn nhân của dòng dõi Lêvi; nguồn cho quan điểm của người Do Thái về các thiên sứ. Minh chứng của Qumran đối với các Thiên sứ.
    b. Những tiêu đề bởi J. M. Ford, W. G. Kummel, M. D. Hooker, và J. A. Fitzmyer.
    12. b) Hôn nhân và mối liên hệ trong gia đình.
    d) Cho tiền giúp đỡ người nghèo.
    (Nếu bạn bỏ sót 2 điều này, hãy xem lại câu hỏi và suy nghĩ xem những câu trả lời khác có phù hợp với mọi Cơ đốc nhân trong mọi nền văn hóa không? ).
    13. a) Một gương mẫu có tính chất văn hóa về cách phục sức khiêm tốn và chuyển điều đó sang một biểu hiện tương đồng về sự phục sức khiêm tốn theo nền văn hóa của chúng ta.
    14. Câu trả lời tốt nhất là d) nói chuyện với người đó sau buổi nhóm và cùng nhau thảo luận, đề nghị cách giải nghĩa của bạn như là một ý kiến. (Tuy nhiên, nếu không có giáo lý hoặc vấn đề quan trọng nào liên quan đến bài giảng, thì bạn có thể bỏ qua điều đó, trừ khi hoàn cảnh có vẻ thuận tiện để bạn trình bày ý kiến)

    Dẫn Nhập Vào ICôrinhtô
    Bây giờ chúng ta thật sự bắt đầu nghiên cứu 1Côrinhtô. Trong 2 bài trước chúng ta chỉ mới học về các phương pháp. Sở dĩ như vậy là vì chúng ta muốn biết Đức Chúa Trời thực sự muốn truyền dạy chúng ta điều gì qua lời của Ngài. Chúng ta muốn biết ý muốn của Ngài và vâng theo ý muốn đó. Chúng ta cũng muốn là những người học và giảng dạy lời Đức Chúa Trời cách trung tín. Để được như thế chúng ta cần biết các phương pháp nghiên cứu và giải nghĩa Kinh Thánh một cách chính xác.
    Trong bài học này chúng ra sẽ bắt đầu nghiên cứu 1Côrinhtô. Các bạn có thể nhớ lại trong bài học 1 bước thứ nhất của việc giải kinh là tìm hiểu bối cảnh lịch sử. Sứ đồ Phaolô viết thơ này gởi cho những đọc giả là ai? Họ là những người như thế nào trước khi tin Chúa? Ở tại thành Côrinhtô vẫn còn những điều gì có thể gây ảnh hưởng trên người tín đồ và niềm tin mới mẽ của họ? Chúng ta sẽ đi tìm câu trả lời cho những vấn đề đó trong bài học này. Nhưng chúng ta cũng muốn đọc lại toàn bộ bức thơ để tìm hiểu xem lý do nào đã khiến Phaolô viết bức thư này và bố cục của bức thư như thế nào. Đây là những điều chúng ta sẽ học hỏi trong bài này.
    Khi các bạn tìm hiểu về bố cục chung của bức thư, hãy so sánh thành Côrinhtô với nơi bạn đang sống. Có những vấn đề nào trong Hội Thánh của bạn hay ngoài xã hội mà sứ điệp của 1Côrinhtô đề cập đến một cách đặc biệt khác không?
    Thành phố Côrinhtô và dân cư ở đó.
    Vị trí địa dư và lịch sử
    Tình trạng luân lý, đạo đức
    Tình trạng về tôn giáo và văn hóa
    Mối liên hệ giữa Phaolô và thành Côrinhtô
    Mối liên hệ giữa Phaolô và Hội thánh
    Cơ hội viết thư
    Đại ý bức thư
    Các đặc điểm của bức thư
    Tính xác thực của bức thơ
    Ý nghĩa của thơ 1Côrinhtô.
    Khi hoàn tất bài học này, bạn sẽ có thể:
    * Mô tả vị trí địa dư và lịch sử tôn giáo của thành Côrinhtô và ý nghĩa của những điều đó đối với 1Côrinhtô.
    * Giải thích cơ hội viết thư 1Côrinhtô.
    * Tóm lược các phần chính của 1Côrinhtô và giải thích những phần đó được viết nhân cơ hội nào.
    * Thảo luận thơ 1Côrinhtô có thể giúp chúng ta hiểu về Hội thánh buổi ban đầu như thế nào?
    1. Đọc sách Barrett từ trang 1 đến 9, khi các bạn được yêu cầu đọc trong phần triển khai bài học. Không nên đọc trước khi được yêu cầu.
    2. Đọc lướt qua toàn bộ thơ 2Côrinhtô.
    3. Nghiên cứu từng phần một của bài học, tham khảo Kinh Thánh và sách của Barrett khi cần thiết. Làm tất cả các bài tập và soát lại câu trả lời của bạn.
    4. Làm bài tự kiểm tra ở cuối bài học và so sánh câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên. Xem lại những câu bạn chưa trả lời đúng.
    5. Ôn tập để chuẩn bị cho bài kiểm tra tiến bộ phần 1, làm bài kiểm tra này theo sự hướng dẫn trong tập tài liệu học viên.
    Nhân loại học
    Nữ thần Aphorodite
    Thần Apôlô
    Tính xác thực
    Tính chất địa lý tự nhiên
    Thành phố Côrinhtô và dân cư.
    Barrett 1-2
    Xem lại ba đoạn đầu của bài học 1 có tựa đề "Bối cảnh lịch sử". Chúng ta sẽ thực hiện bước 1 trong việc nghiên cứu 1 và 2 Côrinhtô.
    Có lẽ hơn bất cứ thành phố nào khác mà Phaolô gởi thơ đến, tính chất và dân cư của thành phố Côrinhtô đã có ảnh hưởng sâu sắc đến hai lá thư được viết cho Hội thánh ở đây. Barrett dành hai trang để đề cập vấn đề này nhưng hơi vắn tắt. Trong phần đầu của bài học này, tôi sẽ cố gắng bổ túc các chi tiết mà Barrett chưa đề cập tới.
    Vị trí địa dư và lịch sử
    1 Đọc hai đoạn đầu trong sách của Barrett và nghiên cứu kỹ các bản đồ kèm theo. Hai sắc thái địa dư nào gộp lại đã khiến thành Côrinhtô có vị trí đặc biệt?
    ......
    Việc thành phố Côrinhtô có vị trí chiến lược về thương mại được minh họa rõ ràng nhất qua lịch sử của nó. Sau 100 năm trong cảnh hoang tàn, đến năm 44 TC Julius đã cho tái thiết lại. Sau đó 100 năm tức là vào năm 50 SC, khi Phaolô đặt chân đến đó, thành phố Côrinhtô đã trở nên thành phố quan trọng thứ ba trong cả đế quốc La mã (Sau Rôma và Alexandria). Sự phát triển nhanh chóng như thế chỉ có thể bắt nguồn từ một điều đó là sự giàu có.
    Sự giàu có thu hút con người cũng như mật ngọt thu hút ruồi. Thành phố đã được xây dựng lại để trở thành một thuộc địa của La mã. Nhưng vị trí thuận lợi và sự giàu có của nó đã khiến nhiều người thuộc mọi chủng tộc, tôn giáo và quốc tịch - Do Thái, Hy Lạp, La mã, thương nhân, thủy thủ, nghệ sĩ và các triết gia. Côrinhtô đã trở thành một thành phố quốc tế. Điều này có nghĩa là Côrinhtô có tầm vóc và sắc thái quốc tế.
    Tính chất quốc tế của Côrinhtô cũng đã ảnh hưởng đến Hội thánh trong nhiều cách. Thí dụ trong 12:13 Phaolô lập luận rằng Hội thánh Côrinhtô chỉ là một thân thể bởi vì tất cả đều có chung một kinh nghiệm về Đức Thánh Linh. Hãy chú ý cách Phaolô cắt ngang sự lập luận của mình để nhấn mạnh đến sự khác biệt của những người đã tạo nên thân thể của Đấng Christ - Do Thái, Hy Lạp, nô lệ, tự do. Tính chất đa diện này cũng được nhận thấy trong những khía cạnh khác.
    2. Hãy liệt kê tất cả những tín đồ ở tại Côrinhtô mà chúng ta được biết tên của họ. Xem Cong Cv 18:1-8, RoRm 16:23, (Thơ Rôma được viết tại Côrinhtô) ICo1Cr 1:10-17, 16:15-17.
    ......
    Trong số những người này, có ít nhất ba người là Do Thái (Aquila, Beritsin, Cơrítbu), mặt dù họ có tên La mã. Có ba hoặc bốn người mang tên La mã nhưng có lẽ là người ngoại đến từ Rôma (Phốt - tu -na, Qua-rơ-tu, Gaiút, và Ti-tút Giút-tu) - nhiều tác giả tin rằng Gai út Ti-tút Giút-tu chỉ là họ tên của một người mà thôi. Những người khác có tên Hy Lạp (Stê-pha-na, A-chai-cơ, Ê-rát-).
    Không những có nhiều dân tộc khác nhau "Do Thái và Hy Lạp" nhưng cũng có nhiều giai cấp nữa "nô lệ và tự do". Như thế có nghĩa là Hội thánh tại Côrinhtô gồm nhiều thành phần xã hội khác nhau.
    3. Xem lại những đoạn Kinh Thánh trong bài tập 2 và xem thêm 1:26-29, 6:9-11, 7:17-24, 11:20-22, 33-34. Hãy liệt kê những nghề nghiệp và vị trí xã hội khác nhau trong Hội thánh Côrinhtô.
    Điểm cuối cùng liên quan đến lịch sử và địa lý của thành phố Côrinhtô cần nói đến là: Sự kiện thành phố mới được xây dựng lại chưa được 100 năm nhưng đã trở thành một trung tâm thương mại quan trọng đã khiến những người dân ở Côrinhtô có một tinh thần độc lập và cá nhân chủ nghĩa. Họ không cảm thấy phải trung thành với truyền thống trong quá khứ và họ cũng không có những mối liên hệ gia tộc bền vững. Tiền bạc đã khiến họ có thể tự do làm bất cứ điều gì họ mong muốn. Nói cho cùng, họ sống theo kiểu "mạnh ai nấy sống".
    Hãy ngừng lại ở đây và xem lại một lần nữa toàn bộ thơ 1Côrinhtô. Hãy lưu ý đến những vấn đề mà Phaolô nói đến phản ánh tinh thần độc lập và cá nhân chủ nghĩa trong một tập thể đa dạng.
    Bạn có nghĩ rằng những thái độ chia bè đảng, tự mãn mặc dù có những trường hợp phạm tội trầm trọng, thựa kiện anh em tại tòa án, mong ước không lập gia đình, ăn uống trong các đền miếu bất chấp điều đó có thể phá hủy đức tin của người khác, không chịu trùm khăn trong giờ thờ phượng và sự nhấn mạnh quá đáng vào ân tứ nói tiếng mới đến nỗi gây xâu xé trong Hội thánh. Tất cả đều là biểu hiện - của tinh thần "mạnh ai nấy sống" hay không? Theo tôi thì đúng là như vậy.
    Tình trạng đạo đức
    Thành phố cổ Côrinhtô nổi tiếng về luân lý đồi bại đến nỗi động từ Corinthiazo có nghĩa là "phạm tội tà dâm". Hàng ngàn gái điếm ở các đền miếu sẵn sàng dâng hiến cho thần Apodithe (nữ thần tình ái). Có đền thờ ở trên đỉnh đồi Acrocorinth.
    Thành phố Côrinhtô được xây cất lại cũng không kém phần nổi tiếng như thành Côrinhtô cổ. Tại viện bảo tàng ở Côrinhtô ngày nay có một phòng chứa đựng đủ thứ đồ vật được các nhà khảo cổ tìm thấy gần đền thờ Asclepius, vị thần chữa bệnh (Chú ý đền thờ Asclepion trên bản đồ của thành phố). Thời đó người ta thường làm những vật bằng đất sét giống các phần thân thể bị bệnh mà họ muốn vị thần chữa lành cho. Trên một bức tường của viện bảo tàng có treo đầy những tượng bằng đất sét có hình dáng các bộ phận sinh dục. Đấy là một bằng chứng cho thấy các bệnh da liễu đã lan tràn như thế nào.
    4. Thái độ buông thả về tính dục cũng được thấy trong Hội Thánh ở Côrinhtô. Bạn hãy trưng dẫn ba đoạn Kinh Thánh trong 1 và 2Côrinhtô nói đến vấn đề này.
    ......
    Có nhiều tôn giáo nhưng sa đọa.
    Có vẻ như bạn sống trong một nền văn hóa mà mọi người đều theo một tôn giáo nhưng tôn giáo của họ không có ảnh hưởng bao nhiêu trên đời sống đạo đức của họ. Điều nầy rất đúng đối với Côrinhtô - Nhà văn Hy Lạp Pausanius được Barrett trưng dẫn đã mô tả Côrinhtô một cách chi tiết trong cuốn sách của ông tựa đề "Mô tả về Hy Lạp" (Discription of Greece). Ông đã cho biết rằng ở Côrinhtô có ít nhất là 26 đền miếu của đủ mọi thần thánh.
    5. Xem 8:5-6. Phaolô đã dùng hai từ ngữ nào để gọi các vị thần của người Côrinhtô?
    ......
    Hai từ ngữ này để chỉ về hai loại tôn giáo khác nhau ở Côrinhtô. Các vị "thần" có nguồn gốc Hy Lạp và La mã chẳng hạn thần Giêus và thần Bẹtma (Cong Cv 14:12). Ở Côrinhtô các đền thờ lớn là của thần Apôlô và thần Aprôdite. Đền thờ của Apôlô ở trung tâm của thành phố (xem bản đồ): đền thờ của Apôdite ở trên đỉnh đồi Acrôcôrin. Vào thời đại Tân Ước việc thờ cúng các tà giáo đông phương có liên quan đến sự sinh sản. Việc ăn uống và liên hệ phái tính đã trở thành một phần trong nghi lễ tôn giáo của họ.
    Còn từ ngữ "Chúa" để nói về các vị thần trong các tôn giáo huyền bí. Những tôn giáo này xuất phát từ đông phương và lan tràn rộng rãi trong thời Tân Ước. Chúng có những tên gọi như Iris, Ôsêris, Xi-bê-lê, sêrephin và Miphas. Những tôn giáo này rất phổ biến bởi vì chúng đem lại cho (người ta những kinh nghiệm thỏa mãn) chính họ có cảm tưởng là được thỏa mãn.
    6. Xem ICo1Cr 8:10, 10:7-8, 19-2112:2-3 Có thể tìm thấy trong những đoạn Kinh Thánh này những đặc tính nào của việc thờ phượng của người ngoại đạo?
    ......
    Chúng ta sẽ thấy hoàn cảnh tôn giáo ở Côrinhtô có tầm quan trọng thế nào khi chúng ta đọc các đoạn Kinh Thánh khác trong 1Côrinhtô (đặc biệt 6:12-20, 8-10 12:1-3).
    Đặc điểm cuối cùng của Côrinhtô cần được nói đến là sự giàu có của thành phố cho phép dân chúng có thể có được bất cứ điều gì họ muốn. Thành phố của họ tràn ngập những nghệ thuật và triết lý. Nhưng rất ít người thật sự suy nghĩ nhiều về các triết thuyết. Có nghĩa là họ không hề quan tâm tìm hiểu chân lý nhưng chỉ thích nghe những sự hùng biện. Họ thích thú với những ngôn từ dầu cho những ngôn từ đó chẳng có nội dung bao nhiêu.
    Bởi vậy, đường xá của thành phố có nhan nhãn các triết gia đến từ những miền khác nhau. Họ nói về sự khôn ngoan và sống bởi những đồng tiền moi từ túi những người thích nịnh hót. Trong ITe1Tx 2:1-12 Phaolô đã phải chứng minh rằng ông không giống như các triết gia phiêu lưu đó.
    7. Xem ICo1Cr 1:13-2:5. Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn càng nhiều chi tiết càng tốt chứng minh rằng người Côrinhtô ưa chuộng ngôn từ và sự khôn ngoan.
    Tới đây chúng ta hãy duyệt lại để thử xem chúng ta đã góp thêm với Barrett những chi tiết nào về Côrinhtô và dân cư ở đó. Các bạn cũng hãy nhận định xem: 1) Có bao nhiều phần trong những điều bạn vừa học xuất phát từ 1Côrinhtô, 2) Điều này quan trọng thế nào đối với sự hiểu biết của chúng ta về thơ Côrinhtô.
    Khi nghiên cứu 2Côrinhtô, các bạn không cần thực hiện điều này nữa. Nhưng khi nghiên cứu các thơ khác của Phaolô, bạn vẫn phải thực hiện việc tìm hiểu này. Bạn có thể tìm thấy những chi tiết trong chính các đoạn văn Kinh Thánh, trong một sách chú giải Kinh Thánh đầy đủ và trong Thánh Kinh tự điển.
    Phaolô và thành Côrinhtô
    Barrett 3-11 (Bạn không cần đọc cho tới khi được chỉ định đọc).
    Nhưng đã trình bày trong bài một, chúng ta phải cố gắng hết sức tìm hiểu xem những thơ tín trong Tân Ước đã được viết nhân cơ hội nào. Đối với 1 Côrinhtô chúng ta phải tìm hiểu mối liên hệ giữa Phaolô và Hội Thánh qua đó hiểu được lý do ông đã viết lá thơ này.
    Mối liên hệ giữa Phaolô và Hội thánh
    Chúng ta cần tìm hiểu về mối liên hệ của Phaolô với Hội thánh trước khi ông viết 1Côrinhtô. Phần chính yếu của công việc này là thu thập các tin tức. Do đó, tôi muốn các bạn hãy tự khám phá ra các tin tức này qua một loạt bài tập sau đây:
    8. Xem Công 18 và Barrett trang 3-5
    a Theo Barrett thì Phaolô đến thành Côrinhtô vào năm nào?......
    b Phaolô đã hầu việc Chúa ở đó bao lâu? ......
    c Ai là những người đã tôn Phaolô là giáo sư ở Côrinhtô. ......
    9. Có phải 1Côrinhtô là lá thư đầu tiên Phaolô viết cho Hội thánh sau khi ông rời khỏi thành phố không? Tại sao bạn khẳng định như vậy (có nghĩa là bạn phải bênh vực câu trả lời của bạn dựa vào những chi tiết trong 1 Côrinhtô).
    ......
    10. Phaolô đã viết 1 Côrinhtô ở đâu? Chi tiết nào trong thơ 1 Côrinhtô chứng minh điều đó? ......
    11. Theo thời điểm Barrett đưa ra thì có điều gì không được hoàn toàn chắc chắn, Phaolô đã viết 1 Côrinhtô bao lâu sau khi ông rời thành phố này?
    ......
    12. Xem 16:12. Căn cứ vào câu này chúng ta có thể biết chắc rằng (Khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu đúng).
    a) Phaolô với Apôlô là một đe dọa đối với chức vụ của ông trong Hội thánh.
    b) Apôlô suy nghĩ theo cách riêng của ông và không chịu nghe theo ý kiến của Phaolô.
    c) Phaolô không nghĩ rằng Apôlô phải chịu trách nhiệm về sự chia rẽ tại Côrinhtô.
    d) Apôlô vẫn có mặt tại Côrinhtô khi Phaolô viết 1 Côrinhtô.
    Những tin tức kể trên sẽ rất hữu ích cho việc tìm hiểu 1 Côrinhtô. Trước khi bước sang phần khác, hãy chắc chắn rằng bạn đã ghi nhận những tin tức này theo thứ tự thời gian.
    Ghi chú: Tôi có một số lý do khi đưa ra bài tập cuối cùng. Tôi muốn bạn suy nghĩ trước về mối liên hệ giữa Phaolô và Apôlô. Tôi cũng muốn giúp bạn thấy những suy diễn nào chúng ta có thể rút ra được từ một đoạn văn Kinh Thánh.
    Cơ hội viết 1Côrinhtô:
    Barrett 6 -11.
    Bây giờ chúng ta nói đến các sự kiện đã đưa đến việc Phaolô viết 1Côrinhtô. Tôi không quan tâm nhiều đến việc các bạn nắm được các chi tiết trong việc tái tạo bối cảnh do Hukd hay Montefiorel đã nêu lên. Barrett chỉ đưa ra các chi tiết này nhằm giới thiệu những công việc thú vị và gần đây nhất của các học giả nhằm tái tạo hoàn cảnh một cách chính xác hơn. Nhưng cả hai sự trình bày của Hukd và Montefiore đều có vẻ đã đi xa hơn điều các bằng chứng cho phép xác định. Như Barrett đã nói có lẽ chúng ta phải bằng lòng chấp nhận sự thiếu hiểu biết của chúng ta". Sự thiếu hiểu biết này chỉ có nghĩa là chúng ta không thể biết hết mọi chi tiết một cách hoàn toàn chính xác. Nhưng chúng ta có thể biết rõ điều gì đã khiến Phaolô viết lá thư này.
    13. Xem 1:10-127:1. Hai sự kiện nào đã thúc đẩy Phaolô viết 1 Côrinhtô?
    ......
    14. Xem 16:15-18. Những người này rõ ràng là một phái đoàn chính thức được Hội thánh sai đi. Theo bạn thì họ có vai trò gì trong các sự kiện được nói đến trong bài tập 13?
    ......
    Đến đây chúng ta thực sự phải làm việc. Chúng ta đã biết rằng 1 Côrinhtô là sự trả lời cho những điều Phaolô đã nghe và phúc đáp lá thơ mà người Côrinhtô đã gởi cho Phaolô, nhưng có rất nhiều đề mục riêng biệt trong lá thư này. Điều gì là câu trả lời của Phaolô đối với những tin tức đến từ Côrinhtô? Và điều gì là sự phúc đáp đối với lá thư của họ?
    Để trả lời cho 2 câu hỏi trên, chúng ta sẽ làm 2 việc: 1) Thực hiện việc giải kinh đối với từng đoạn riêng biệt khi chúng ta nghiên cứu các đoạn đó 2) Tóm lược lá thư hầu có thể nhận ra các phần của nó.
    Nếu như 1 Côrinhtô không dài quá tôi đã đề nghị các bạn đọc toàn bộ lá thơ này nhiều lần và xác định các phần chính của lá thơ. Nhưng vì 1 Côrinhtô khá dài nên tôi sẽ hướng dẫn các bạn từng phần một. Và điều này sẽ được coi như một kiểu mẫu theo đó các bạn sẽ nghiên cứu các thơ tín khác.
    Dàn ý
    Chúng ta sẽ bắt đầu ở điểm phân cách 2 đoạn chính của thơ. Ở đây câu 7:1 là một điểm mốc đặc biệt. Phaolô trả lời "những vấn đề anh em viết thơ hỏi". Chúng ta có thể cho rằng từ đoạn 6 đến đoạn 1 là những câu trả lời cho những tin tức đến từ Côrinhtô.
    15. Phaolô đã trả lời cho bao nhiêu vấn đề tất cả? ......
    Làm thế nào chúng ta chắc được rằng câu trả lời của chúng ta là đúng? Điều gì giúp ta nhận ra các vấn đề, qua câu dẫn ý hay đề tài chính trong từng đoạn hoặc cả hai? Sau câu 1:11 lần thứ nhì chúng ta nhận thấy từ ngữ "có tin đồn rằng" là ở trong câu 5:1. Câu này rõ ràng khởi đầu một phân đoạn mới bởi vì việc loạn luân trước đó chưa hề được nhắc tới. Cũng hãy ghi nhận thể nào câu 6:1 bắt đầu một phân đoạn hoàn toàn mới mặc dù không có từ ngữ "có tin rằng". Bởi vì 6:12-20 lại nhắc đến việc loạn luân nên một số tác giả cho rằng đoạn này là mối tiếp nối 5:1-13. Nhưng chúng ta sẽ chứng minh qua việc giải kinh là không phải như vậy. Như thế chúng ta có ba vấn đề riêng biệt trong đoạn 5 và 6. Nhưng còn từ đoạn 1 đến đoạn 4 thì thế nào? Mặc dù dường như Phaolô thay đổi đề tài nhiều lần trong phần này nhưng thực ra tất cả đều thuộc về một phần của bức thư. Chúng ta có thể quả quyết điều này bởi vì Phaolô và Apôlô được thường xuyên nhắc đến trong suốt phần này (Xem 1:10-12, 3:4-5, 22, 4:6).
    Như thế chúng ta có thể có một dàn bài như sau:
    I. Phaolô trả lời cho các tin tức đến từ Côrinhtô 1:10-6:20 1:10- 4:21 5:1-13 6:1-11 6:12-20
    Còn phần sau của bức thơ ra sao? Những dấu hiệu để nhận ra các phân đoạn cũng vẫn là các câu giới thiệu đề tài và ý chính của đề tài. Hãy lưu ý cách Phaolô bắt đầu câu 7:1 "Luận đến các điều anh em hỏi trong thơ". Hai chữ đầu tiên trong bản văn Hy Lạp Peri de (có nghĩa là bây giờ nói về). Trong suốt phần còn lại của lá thơ Phaolô thường bắt đầu một phân đoạn với từ ngữ "Bây giờ nói đến". Dường như là ông đang đề cập đến từng vấn đề trong lá thơ người Côrinhtô gởi cho ông - "Luận đến điều này ...... luận đến điều kia".
    16. Xem qua đoạn 7-16 và liệt kê những câu bắt đầu bằng từ ngữ: "Luận đến......".
    ......
    Nếu chúng ta xem những từ ngữ này như những dấu hiệu đánh dấu các phân đoạn chính trong Côrinhtô từ đoạn 7 đến đoạn 16 thì chúng ta sẽ thấy rằng ba đề mục không được bắt đầu bằng những từ ngữ này (11:2-16, 17-34, 15:1-58). Trong 11:18 Phaolô lại nhắc đến "nghe nói". Chúng ta có thể chắc rằng vấn đề dự tiệc thánh không thể do người Côrinhtô nêu lên với Phaolô. Vậy thì tại sao nó được nhắc đến ở đây? Có thể là bởi vì nó thuộc về một phân đoạn lớn hơn liên quan đến việc thờ phượng.
    Về hai phân đoạn cuối cùng 11:2-1615:1-58. Không ai có thể trả lời dứt khoát được. Các học giả cũng không thống nhất về cả hai đoạn này. Do đó chúng ta sẽ không vội đưa ra quyết định nào về hai đoạn này ngay bây giờ. Như thế chúng ta có thể đưa dàn bài như sau:
    II. Phaolô phúc đáp lá thơ do người Côrinhtô gởi đến 7:1-15:58 7:1-24 7:25-40 8:1-11:1 11:2-16 11:17-34 12:1-14:40 15:1-58
    Đoạn 16 đề cập đến vấn đề rất quan trọng đối với 2 Côrinhtô. Do đó chúng ta sẽ nói về đoạn 16 khi nghiên cứu 2 Côrinhtô.
    Trong các thơ tín của Phaolô chỉ có một lần khác ông đề cập đến một vấn đề độc lập với nội dung của cả bức thơ, đó là trong ITe1Tx 4:1-5:28. Trong các thơ tín khác, phần lớn đều có hình thức một sự biện luận dài. Mặc dù đôi khi sự biện luận đó chia làm nhiều phần khác nhau. Để tìm ra các phân đoạn chính trong các thơ tín khác bạn cần tuân theo phương pháp chúng ta sẽ dùng trong bài 4 khi nghiên cứu ICo1Cr 1:1-4:21.
    Trước khi bước sang phần cuối của bài học, hãy chắc rằng bạn nhớ rõ dàn bài của phần đã học. Ôn lại bài học cho đến khi bạn có thể hoàn thành mục tiêu 5.
    17. Cho biết những đề tài dưới đây được nói đến trong các đoạn nào của 1 Côrinhtô và cho biết những đề tài đó bắt nguồn từ hoàn cảnh nào? Do Phaolô nghe tin tức về người Côrinhtô hay do lá thư họ gởi đến? (Ghi chép trong sổ tay của bạn).
    a. Đồ ăn được dâng cúng cho thần tượng ......
    b. Thái độ đối với hôn nhân ......
    c. Việc loạn luân ......
    d. Tiệc thánh ......
    e. Sự chia rẽ trong Hội thánh. ......
    Liên quan đến chính bức thơ
    Barrett 11-27
    Phân biệt tính xác thực và tính nhất quán
    Từ trang 11 đến 17. Barrett đề cập đến hai vấn đề cuối cùng của phần dẫn nhập. Tính xác thực liênd quan đến quyền tác giả, nghĩa là lá thơ đó có thực sự được viết bởi Phaolô hay không. Tính nhất quán có liên quan đến sự thống nhất của bức thư trong hình thức hiện tại của nó. Đó là một lá thơ của Phaolô hay là một tập hợp nhiều lá thư của ông gởi cho người Côrinhtô?
    18. Barrett đã đề cập đến vấn đề về tính xác thực một cách ngắn gọn trong trang 11. Hãy đọc phần đó một cách cẩn thận. Sau đó đóng sách lại và khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu đúng.
    a. Không có tác giả quan trọng nào đặt nghi vấn về tính xác thực của 1 Côrinhtô.
    b. 1 Côrinhtô được trưng dẫn lần đầu tiên bởi Ignatius ở Antiốt năm 112.
    c. Chỉ có thơ Rôma là được công nhận sớm hơn và được sử dụng rộng rãi hơn 1 Côrinhtô.
    Bây giờ bạn hãy xem Barrett từ trang 12 đến 17. Đây cũng là phần sẽ đem lại cho bạn các thông tin quan trọng. Điều bạn cần biết là có nhiều tác giả thắc mắc về tính nhất quán của 1 Côrinhtô. Vấn đề này càng trầm trọng hơn đối với 2 Côrinhtô.
    Cả tôi và Barrett cùng nhận thấy rằng những đề nghị mà các học giả đưa ra đều không đứng vững. Những phần quan trọng trong sách Barrett cần ghi nhớ là đoạn đầu của trang 14 và đoạn đầu trang 17. Tôi tin rằng chúng ta có thể thấy rằng ý nghĩa của 1 Côrinhtô rất mạch lạc. Do đó chúng ta sẽ không nhắc đến vấn đề này trong bất cứ bài học nào về Côrintô.
    Sự đóng góp của 1 Côrinhtô
    Barrett 17-27
    Nhận định về sự đóng góp của 1 Côrinhtô đáng lẽ được nói đến ở phần cuối của khóa trình trong hình thức tổng hợp. Tuy nhiên nói đến sự đóng góp của 1 Côrinhtô ở đây có thể có một số ích lợi. Những bài tập sau đây được soạn để giúp các bạn phát triển khả năng đọc hiểu. Hãy đọc cẩn thận sách của Barrett và trả lời các câu hỏi dưới đây.
    19. Khi nói rằng Đấng Christ là "sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời" Phaolô muốn nói rằng (khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu đúng).
    a) Đấng Christ đã giảng dạy với sự khôn ngoan hơn bất cứ người nào khác.
    b) Ngài hoàn tất sự trông đợi về sự hiện thân của khôn ngoan trong văn chương nói về sự khôn ngoan của người Do Thái.
    c) Việc Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá như là quyền phép của Đức Chúa
    Trời để cứu vớt con người là sự khôn ngoan giấu kín của Đức Chúa Trời, bây giờ được bày tỏ để đối lập với những sự khôn ngoan giả dối của trần gian.
    d) Bởi Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời đã ban cho Phaolô sự khôn ngoan để rao giảng về Đấng Christ một cách rõ ràng.
    20. Khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu đúng.
    a) Phaolô tin rằng có sự liên tục giữa thân thể trong đời này và thân thể trong đời sau.
    b) Phaolô và những người Côrinhtô nói chung đều đồng ý rằng một trong những dấu hiệu của chức vụ sứ đồ là vị sứ đồ phải thi hành thẩm quyền của ông trên những người ông dắt đưa về với Chúa.
    21. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng về tổ chức và sự thờ phượng của Hội thánh được bày tỏ trong 1 Côrinhtô.
    a) Buổi thờ phượng được hướng dẫn bởi Mục sư và Mục sư cũng là người phát biểu nhiều nhất trong buổi thờ phương.
    b) Tiệc thánh được cử hành tách biệt khỏi giờ thờ phượng và được chủ tọa bởi các trưởng lão.
    c) Đã có những tiên tri và giáo sư lưu hành trừ Hội thánh khác.
    d) Chúng ta không thấy dấu vết nào về tổ chức trong thơ 1 Côrinhtô, ít nhất là sự tổ chức có tính chính thức.
    Đến đây chúng ta sắp kết thúc bài 3. Mục tiêu của bài học này là giúp bạn tìm hiểu tổng quát về lá thơ trước khi chúng ta đi vào từng phần một. Những độc giả của bức thư là người thế nào? Hoàn cảnh nào đã đưa đến việc Phaolô viết lá thơ này? Bức thơ nói đến điều gì? Cũng giống như trong bài trước, chúng ta sẽ ôn lại bài học kỹ lưỡng sau đó các bạn sẽ làm bài tự kiểm tra. Nếu bạn có sai sót gì khi làm bài kiểm tra, hãy ôn lại bài đó để bảo đảm rằng bạn đã hiểu được phần này trước khi bước sang phần khác.
    Đến đây cũng kết thúc đơn vị một. Bạn nên ôn lại bài để sửa soạn làm bài đánh giá tiến bộ đơn vị 1 theo các hướng dẫn được định ra trong tập tài liệu học viên. Sau khi ôn bạn có thể làm bài tự kiểm tra. Sau đó soát lại câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên. Soạn lại những phần bạn chưa trả lời đúng.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng.
    1. Tính chất đặc biệt nhất của dân cư thành Côrinhtô vào thời của Phaolô là
    a) đa số là người La mã.
    b) họ có tính chất dân cư của một thành phố quốc tế.
    c) Có rất ít nô lệ ở Côrinhtô
    d) Những người Do Thái đã bị trục xuất khỏi thành phố
    2. Sự chia rẽ trong Hội thánh ở Côrinhtô: Dường như là phản ảnh của
    a) Sự giàu có của thành phố
    b) Sự căng thẳng giữa người Do Thái và ngoại bang trong Hội thánh
    c) Tinh thần độc lập của dân cư thành phố
    d) Thái độ khác nhau của dân chúng đối với vấn đề đạo đức.
    CHỌN LỰA GIỮA ĐÚNG VÀ SAI. Viết Đ trước câu trả lời đúng. Viết S trước câu trả lời sai.
    ......3 Sự kiện có nhiều đền miếu tại Côrinhtô trong thời của Phaolô chứng minh rằng thành phố không suy đồi như thành phố cổ.
    ......4 Tình trạng đạo đức của thành phố đã ảnh hưởng đến Hội thánh.
    ......5 Dân cư thành Côrinhtô thờ phượng các vị thần của họ qua việc ăn và uống trước các vị thần.
    ......6 Ở Côrinhtô triết lý là những thứ được nêu rao giữa chợ.
    ......7 Thơ 1 Côrinhtô là lá thư đầu tiên Phaolô gởi cho Hội thánh ở Côrinhtô.
    ......8 Mặc dù 1 Côrinhtô chủ yếu đề cập đến những vấn đề về cách cư xử, trong đó vẫn có nhiều giáo lý về thần học chúng ta cần học tập.
    ......9 Người đến thành Côrinhtô sau Phaolô và hoạt động như một giáo sư trong Hội thánh tại Côrinhtô là Apôlô.
    ......10 Khi nói đến tính chất nhất quán của một thơ tín có nghĩa là đặt vấn đề "ai đã thực sự viết lá thơ đó".
    LỰA CHỌN GIỮA 2 ĐIỀU. Trong 1Côrinhtô, Phaolô đề cập đến nhiều vấn đề. Ông đã đề cập đến những vấn đề dưới đây bởi vì ông được nghe tin tức hay do lá thơ người Côrinhtô gởi đến.
    Viết chữ tin tức trước điều Phaolô nghe qua tin tức.
    Viết chữ lá thư vào khoảng trống trước điều Phaolô biết qua lá thơ.
    11 Việc thưa kiện......
    12 Việc dự tiệc thánh ......
    13 Ân tứ thuộc linh ......
    14 Thái độ đối với hôn nhân ......
    15 Vấn đề tà dâm ......
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. Vị trí chiến lược trên eo đất đem lại tầm quan trọng về thương mại ; các tường thành đem lại tầm quan trọng về quân sự .
    2. A-qui-la, Bê-rít- sin, Ti-ti-u, Giút-tu, Cơ-rít-bu, Gai-ut, Êrát, Qua-rơ-tu, Cô-lô-ê, Sê-pha-na, Phốt-tu-na, A-chai-cơ
    3. Có một số người giàu có : cai nhà hội, một người ( Gai - út ) có nhà rộng rãi đủ để Hội thánh nhóm lại, một người làm quan kho bạc, những người có nhiều đồ ăn và nhà riêng : Đa số là người nghèo: " không có nhiều người khôn ngoan", " chẳng nhiều kẻ quyền thế, sang trọng" nhiều người là nô lệ. Một số đã sống rất thấp kém.
    4. Xem ICo1Cr 5:1-13, 6:9, 12-20, 10:8, IICo 2Cr IICo12:21
    5. " Nhiều thần nhiều Chúa"
    6. Ăn uống, việc dâm dục và có lẽ cả sự khoái lạc, mê man.
    7. Lời lẽ khôn ngoan thế gian (ICo1Cr 1:17), người khôn ngoan, thầy thông giáo, người biện luận (1:20), người khôn ngoan theo xác thịt (1:26), lời cao xa hay khôn ngoan sáng (2:1), diễn thuyết khéo léo (2:4).
    8. a 50 S.C
    b 18 tháng
    c Abôlô và có lẽ Phireơ
    9. Không, 5:9 nhắc đến một lá thơ khác
    10. Êphêsô ; 1Côrinhtô 16:816:19
    ( Êphêsô là thư phủ của cõi A - si )
    11. Khoảng 2 năm rưỡi ( ông rời đó và tháng 9 năm 51 S.C và viết thư khoảng mùa xuân năm 54).
    12 c) Phaolô không cho rằng Abôlô có trách nhiệm về sự chia rẽ ở Côrinhtô.
    13. Người nhà Cơ- lô- ê báo cáo; lá thơ của người Côrinhtô.
    14 Chúng ta không biết chắc nhưng có lẽ họ đã đem bức thơ đến và dĩ nhiên họ cũng có thể nói cho Phaolô biết về việc đã xảy ra.
    15. Bốn
    16. 7:1, 25, 8:1, 12:1, 16:1, 12 ( Bạn có liệt kê 7:2516:12 không ? Nhiều người không nhắc đến. Nếu bạn có liệt kê thì bạn đã có nhận xét rất tốt).
    17. a 8 - 10 thơ
    b 7 thơ
    c 5 nghe nói
    d 11 thơ
    e 1-4 nghe nói
    18. a Đúng
    b Sai, Clement ở Rôma trưng dẫn thơ tín Côrinhtô, trong thơ ông viết năm 95 S.C
    c Sai. Côrinhtô được trưng dẫn rất sớm và sử dụng rộng rãi hơn bất cứ sách nào khác trong Tân ước.
    19. c) Việc Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá như là quyền phép của Đức Chúa Trời để cứu vớt con người là sự khôn ngoan giấu kín của Đức Chúa Trời, bây giờ được bày tỏ để đối lập với sự khôn ngoan giả dối.
    20 a Đúng
    b Sai. Phaolô tin vào sự nhân từ hơn là quyền hành.
    21. d) Thực sự không thấy dấu vết nào về tổ chức trong thơ tín này.


    Sự Khôn Ngoan Và Chia Rẽ Tại Hội Thánh Côrinhtô. Phần 1
    Trong bài học trước chúng ta đã thấy những sắc thái của thành phố có gây ảnh hưởng thế nào trên Hội thánh tại đó. Không những Hội thánh có mặt tại Côrinhtô nhưng những yếu tố phức tạp của Côrinhtô như đạo đức, tôn giáo, luân lý đều ảnh hưởng sâu xa đến Hội thánh! Ngoài ra chúng ta cũng ghi nhận tinh thần độc lập và cá nhân chủ nghĩa của dân cư tại thành phố. Chúng ta cũng nói đến sự hiện diện của các triết gia du hành đây đó tại Côrinhtô. Những tình trạng nêu trên đều có liên quan trực tiếp đến bài học này. Hãy tưởng tượng bạn và tôi đang có mặt ở Êphêsô khi người nhà của Clêôpa đến thông báo cho chúng ta biết về tình trạng chia rẽ của Hội thánh Côrinhtô. Khi đó bạn sẽ phản ứng thế nào ? Phần tôi chắc chắn sẽ đi thẳng vào vấn đề và nói với những người ở Côrinhtô rằng họ phải chấm dứt việc đó.
    Tình trạng đó là thiếu tình yêu thương và Hội thánh của Chúa không được phép chia rẽ. Quả thực Phaolô đã nói với những người ở Côrinhtô phải chấm dứt điều đó. Nhưng qua sự chia rẽ của họ Phaolô có thể thấy vấn đề sâu xa hơn. Họ đã hiểu lầm bản chất của sự cứu rỗi và đã quên lãng sứ điệp về thập tự giá. Đây chính là nội dung của bài học, Thập tự giá là sự khôn ngoan và quyền năng của Đức Chúa Trời.
    Khi làm chứng cho những thân hữu chưa tin Chúa, các Cơ đốc nhân thường bị cám dỗ thử tìm những cách thức trình bày để sứ điệp của Phúc âm trở nên dễ chấp nhận hơn đối với những người chưa tin Chúa. Nhưng Đức Chúa Trời đã bày tỏ ân điển cứu rỗi của Ngài cho nhân loại qua thập tự giá. Chính chúng ta cần phải được nhắc nhở luôn luôn về thập tự giá. Nếu chúng ta muốn trở thành những chứng nhân hiệu quả cho tình yêu của Ngài.
    Bản chất của vấn đề .
    Câu trả lời của Phaolô, phần 1
    Bản chất của sự khôn ngoan thiên thượng
    Nguồn gốc của sự khôn ngoan thiên thượng
    Một số câu hỏi về nội dung.
    Quan niệm của Phaolô về thập tự giá
    Vài ý kiến về khoa giải kinh.
    Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể.
    * Giải thích bản chất của vấn đề mà Phaolô phải trả lời trong ICo1Cr 1:10, 4:21.
    * Theo dõi lý luận của Phaolô khi bênh vực sự khôn ngoan thiên thượng.
    * Giải thích cách Phaolô so sánh sự khôn ngoan của con người với quyền năng của thập tự giá.
    * Tóm tắt quan điểm của người Côrinhtô và của Phaolô về sự khôn ngoan và áp dụng sự dạy dỗ của lời Chúa vào Hội thánh của bạn.
    1. Xem sách của Barrett trang 40 đến 82
    2. Đọc 1:10, 4:21.
    3. Nghiên cứu bài học từng phần một
    4. Làm bài tự kiểm tra ở phần cuối bài học theo sự hướng dẫn đã nêu lên trong bài 1 và bài 2.
    Xác thịt
    phép ẩn dụ
    Những câu hỏi có tính chất hùng biện.
    Sophia, (tiếng Hylạp nghĩa là khôn ngoan)
    sự khôn ngoan
    BẢN CHẤT CỦA VẤN ĐỀ:
    1:10- 4:21
    Vấn đề đầu tiên mà Phaolô đề cập đến trong 1Côrinhtô bao gồm đoạn 1 đến 4. Vì đề tài quá dài không thể gói trọn trong một bài này chúng ta sẽ tìm hiểu bản chất của vấn đề. Sau đó chúng ta sẽ đề cập đến phần đầu trong lời giải đáp của Phaolô (1:10-3:4). Sang bài 5 chúng ta sẽ nghiên cứu phần thứ nhì ở câu trả lời của Phaolô (3:5, 4:21) Chúng ta sẽ kết thúc bài 5 bằng việc thảo luận về các tín lý sai lầm của người Côrinhtô như được phản ảnh trong câu trả lời của Phaolô.
    Các bạn sẽ thấy rằng chúng ta đã bỏ qua phần chào hỏi và cảm tạ (1:1-9). Tôi đã làm như vậy không phải vì phần nầy không quan trọng nhưng bởi vì thời gian và khuôn khổ không cho phép. Một điều ngộ nghĩnh là bạn đếm được bao nhiêu điều Phaolô cảm tạ trong câu 4 đến 7 thì cũng là bấy nhiêu vấn đề mà Phaolô phải giải quyết trong Hội thánh. Quả là Phaolô có đức tin nơi Chúa vững vàng biết bao! Ông đã có thể vui mừng về những điều Chúa đã làm cả khi các tín đồ không phải lúc nào cũng vâng phục và hiểu biết. Sau nữa, những điều đó cũng chính là những điều tốt lành mà họ đã coi thường.
    1 Xem 1:104:21 từ đầu đến cuối ít nhất 2 lần. Lần đầu chỉ xem qua. Lần hai hãy ghi chép trong sổ tay của bạn những nhận xét về 3 điều sau đây.
    a Những vấn đề trong Hội thánh.
    b Thái độ của người Côrinhtô đối với Phaolô
    c Những từ ngữ then chốt và những câu được lập lại giúp xác định đề tài.
    Vấn đề được nói đến trong IICo 2Cr 1:10-4:21 có lẽ là vấn đề quan trọng nhất trong cả bức thơ. Phaolô cảm thấy rất bức xúc về vấn đề này đến nỗi ông đã đề cập đến ngay ở phần đầu bức thơ và mở đầu bằng một lời kêu gọi (ICo1Cr 1:10). Những bản chất của vấn đề cũng rất phức tạp như các bạn có thể nhận thấy được trong Kinh thánh, Phaolô mở đầu bằng một lời kêu gọi hiệp một trong Hội thánh (1:10-13). Nhưng kế đó Phaolô lại chuyển sang việc nhắc nhở đến sự giảng dạy của Phaolô và sự tin đạo của người Côrinhtô (1:18, 2:5). Trong đó Phaolô nhấn mạnh đến từ ngữ khôn ngoan.
    2 Sự khôn ngoan hay khôn ngoan là từ ngữ đáng nằm trong danh sách các từ ngữ then chốt trong bài tập một. Hai từ ngữ này đã xuất hiện bao nhiêu lần trong đoạn 1 đến 3? ......
    Phaolô sử dụng từ ngữ (khôn ngoan) và (sự khôn ngoan). Tất cả 45 lần trong các thơ tín của ông. Sự kiện 2 từ ngữ này xuất hiện 26 lần trong Côrinhtô 1:3 là một dấu hiệu quan trọng giúp chúng ta hiểu được phần nào vấn đề.
    Nhưng điều này liên quan thế nào với sự chia rẽ ? Phaolô trở lại đề tài trong 3:3 và kết thúc vấn đề này ở cuối đoạn. Sang đoạn 4:1. Phaolô chuyển sang một lời kêu gọi cá nhân. Một người ở Côrinhtô đã xét đoán Phaolô (4:3) họ lên mình kiêu ngạo bởi vì Phaolô không đến Côrinhtô nữa (4:18). Do đó ông một lần kêu gọi họ hãy bắt chước ông (4:16 cùng một từ ngữ Hy lạp được dùng trong 1:10).Điểm khó khăn của chúng ta là vấn đề của người Côrinhtô có 3 khía cạnh, nhưng chúng ta không hiểu rõ 3 khía cạnh liên hệ với nhau như thế nào.
    Chúng ta thử xem xét 3 khía cạnh đó để xem chúng ta có thể tìm ra một giải pháp nào không.
    1. Sự chia rẽ giữa các tín đồ. Điểm nổi bật và rõ ràng nhất ấy là sự chia rẽ giữa các tín đồ (1:10). Nhưng "Sự phân rẽ" có thể có nghĩa rằng có nhiều ý kiến khác nhau giữa những người Côrinhtô. Ở đây có vẻ trầm trọng hơn như vậy. Hãy xem 1:43:3. Bạn có đề cập đến 2 câu này trong câu trả lời của bạn ở bài tập 1 không ? Trong trường hợp này sự chia rẽ có nghĩa là tranh cãi và ganh gổ giữa vòng các tín đồ.
    Tại sao có sự tranh cãi? Hãy xem kỹ những câu 1:12, 3:3-4, 6-9 21-22; 4:6. Đây cũng là những câu bạn cần liệt kê khi cần trả lời câu hỏi 1. Những câu Kinh thánh này cho chúng ta thấy rõ rằng: 1/ Việc tranh cãi đã được thực hiện nhân danh các lãnh tụ của từng nhóm ; 2/ Các tín đồ tỏ ra "khoe khoang" (3:21) hoặc sanh lòng kiêu ngạo theo phe người này nghịch cùng kẻ khác" (4:6) .
    Nhưng tại sao họ lại tranh cãi và "khoe mình" như vậy ? Phải chăng điều đó chỉ xuất phát từ sở thích cá nhân ? Thường điều này không dẫn đến sự tranh cãi công khai. Bây giờ chúng ta hãy xem xét những yếu tố khác nữa của vấn đề.
    2. Sự khôn ngoan giả. Như đã nói đến ở trên sự khôn ngoan là từ ngữ then chốt trong lý luận của Phaolô bởi vì Phaolô thông thường sử dụng từ ngữ này để mô tả về Đấng Christ nên chúng ta có thể chắc rằng sẽ dễ Phaolô sử dụng từ ngữ này nhiều lần ở đây là vì là tử ngữ mà người Côrinhtô đã dùng. Điều này có nghĩa là họ đã tranh cãi với nhau về sự khôn ngoan. Trong 3:18 Phaolô đại ý nói : " Nếu có ai trong vòng anh em tưởng mình khôn ngoan theo cách đời này......? Hầu như tất cả những từ ngữ trong 1:17 đến 2:5 có tính chất hùng biện và thuyết phục đều có liên quan tới vấn đề này.
    3. Thái độ đối với Phaolô. Điều này liên quan đến khía cạnh thứ 3 của vấn đề. Trong bài tập các bạn được yêu cầu liệt kê những câu Kinh thánh nói về thái độ của người Côrinhtô đối với Phaolô. Hãy xem lại bản liệt kê này và suy nghĩ về những điều được liệt kê trong mối liên hệ với sự tranh cãi và chia rẽ ở Hội thánh Côrinhtô.
    3 Câu phát biểu nào trình bày rõ nhất những điều đã xảy ra tại Hội thánh Côrinhtô ?
    a) Một số người đã hâm mộ Apôlô hơn Phaolô
    b) Apôlô và Phierơ đã đến Hội thánh và khiến một số người chống đối lại Phaolô.
    c) Diện mạo và việc ăn nói thiếu hùng biện của Phaolô đã khiến một số người không muốn chấp nhận rằng Phaolô là người thành lập Hội thánh Côrinhtô.
    d) Một số người trong Hội thánh không những chỉ hâm mộ Apôlô nhưng còn chống lại Phaolô.
    Có nhiều bằng chứng cho thấy rằng có một số người trong Hội thánh đã có thái độ chống đối lại Phaolô. Trong 4:3 Phaolô viết : "Về phần tôi hoặc bị anh em xử đoán hoặc bị toà án nào của loài người xử đoán tôi chẳng lấy làm quan hệ gì" và trong 4:18 ông viết "Có mấy người lên mình kiêu ngạo ngờ tôi chẳng còn đến cùng anh em nữa".
    Lý do họ phê bình Phaolô cũng dễ hiểu. Phaolô đã không giảng với những lời lẽ khôn ngoan (1:17, 2:1), ông đã không nói với họ như người thuộc linh nhưng chỉ cho họ uống sữa (3:1-2).
    4 Xem lại phần mới học.
    a Dùng từ ngữ riêng của bạn giải thích 3 khía cạnh của vấn đề, ghi chép trong sổ tay của bạn.
    b Cố gắng hình dung ra mối liên hệ giũa 3 khía cạnh vấn đề. Hãy trình bày điều đó trong một bài tiểu luận trước khi xem phần giải đáp.
    Hãy lưu ý rằng cho tới điểm này chúng ta có thể chắc chắn về việc tái dựng lại vấn đề cả 3 khía cạnh của vấn đề đều xuất hiện rõ rệt trong bản văn nếu chúng ta đọc rõ rệt nhưng chúng liên hệ thế nào với nhau mới chỉ là giả thuyết. Tuy nhiên việc tái dựng vấn đề của chúng ta phải được thực hiện thế nào để 1:13-4:21 sẽ là câu trả lời cho vấn đề mà chúng ta vừa tái dựng lại.
    Ở mức độ nào đó, thì việc tái dựng vấn đề có khá dễ dàng. Đã có sự tranh chấp trong Hội Thánh. Đã xuất hiện tình trạng bè nhóm và 1 số người đã có thái độ chống đối lại Phaolô . Tất cả những điều đó đã xảy ra sau khi Phaolô và có lẽ cả Phierơ đã đến thăm Hội Thánh. Vấn đề khó khăn đối với chúng ta là đề tài về sự khôn ngoan có liên hệ ra sao với vấn đề và tại sao một số tín đồ lại chống đối Phaolô.
    Dường như có 2 điều đã xảy ra. Thứ nhất, những người đó đã nghĩ rằng niềm tin của họ là một thể khôn ngoan mới (new sophia) đồng nghĩa với triết học. Rõ ràng là Phaolô Apôlô rồi đến Phierơ lần lượt đến ghé thăm và dạy dỗ tại Hội thánh. Chẳng phải họ cũng là một loại triết gia du hành đây đó hay sao? Vì vậy những tín đồ Côrinhtô đã cho rằng đức tin chẳng qua cũng chỉ là một thứ khôn ngoan khác. Có thể nói là sự khôn ngoan đích thực. Nhưng chẳng qua cũng chỉ là một thứ triết lý.
    Thứ hai, một khi họ đã nhìn đức tin như vậy thì họ cũng sẽ bắt đầu xét đoán các lãnh đạo của họ trong cùng một cách thức, tức là trên một bình diện hoàn toàn con người. Phaolô đã viết thư gởi cho Hội thánh (5:9), nhưng một số tín đồ đã không nhìn nhận thần quyền sứ đồ của ông. Rõ ràng họ đã lý luận thế này: Phaolô đã ra đi và dường như sẽ không quay trở lại (4:18); hơn nữa Phaolô cũng phải tự mình làm việc mưu sinh điều đó tỏ ra rằng Phaolô không có đầy đủ quyền hạn của một sứ đồ, (9:11-18) và dầu sao thì Phaolô cũng thiếu lời lẽ hùng biện và khôn ngoan như Apôlô. Thế là việc cho rằng đức tin Cơ đốc giáo chẳng qua chỉ là một loại hiền triết, họ cũng bắt đầu xét đoán các lãnh đạo trong Hội thánh hoàn toàn trên bình diện con người.
    Hãy chú ý điều này. Điều chúng ta vừa làm được gọi là việc tái dựng. Nó được căn cứ trên bản văn Kinh thánh nhưng phần nào đi xa hơn chính các sự kiện thực sự được tường thuật. Việc tái dựng sự kiện có thể được điều chỉnh lại. Điều đó có nghĩa là khi lần lượt xem xét các câu trả lời, chúng ta có thể thấy những lý do cần phải thay đổi việc tái dựng của chúng ta. Cũng nhớ một điều là tôi có nhiều thuận lợi hơn các bạn trong vấn đề này. Tôi đã có nhiều năm kinh nghiệm về việc này. Tuy nhiên chính các bạn cũng có thể làm công việc trên khi các bạn học để sống với lời Chúa và lắng nghe tiếng Chúa.
    Trước khi tiếp tục bài học, hãy chắc rằng bạn có thể ghi nhận và xác định 3 khía cạnh của vấn đề xảy ra tại Côrinhtô và giải thích mối liên hệ giữa các khía cạnh đó.
    5 Bài tập ôn: Câu phát biểu nào dưới đây giải thích tốt nhất mối liên hệ giúp 3 khía cạnh của vấn đề trong 1:10, 4:21.
    a) Một số tín đồ đã cho rằng đức tin của họ chỉ là một thế khôn ngoan khác. Họ nghĩ rằng Apôlô hùng biện hơn Phaolô vì thế họ muốn Apôlô trở lại để dạy dỗ thay cho Phaolô. Do đó Hội Thánh bị chia rẽ.
    b) Hội Thánh chia rẽ bởi một số là người Do Thái và một số khác là dân ngoại. Tín đồ Do Thái ưa thích Phierơ và tín đồ dân ngoại ưa thích Apôlô. Nhưng cả người Do Thái lẫn dân ngoại đều chống đối lại Phaolô vì ông đã cho họ uống sữa thay vì nói về khôn ngoan của Phúc Âm.
    c) Bởi vì những giáo sư trong Hội thánh cũng là những triết gia lưu hành đây đó nên những tín đồ Côrinhtô nghĩ rằng đức tin của họ cũng là một thứ triết lý khôn ngoan và xét đoán các lãnh đạo trong Hội thánh bình diện hoàn toàn con người . Một số tín đồ chống đối Phaolô bởi vì họ nghĩ rằng Phaolô không hùng biện hoặc khôn ngoan và họ phủ nhận quyền bính của ông đối với họ.
    d) Phaolô đã không thể trở lại Hội thánh. Trong khi đó Apôlô và Phierơ đã đến thăm Hội thánh. Một số tín đồ ưa chuộng lời giảng dạy khôn ngoan của các giáo sư này vì thế họ đã gây chia rẽ trong Hội thánh bằng cách chống lại Phaolô.
    Tôi muốn nói thêm một điểm nữa ở đây: Dường như những người Côrinhtô đã bắt đầu triển khai một thứ giáo lý sai lầm. Có rất nhiều bằng chứng về điều này trong suốt lá thơ. Chúng ta cũng sẽ cố gắng tái dựng lại giáo lý sai lầm này. Chúng ta sẽ nói đến điều này ở cuối bài học. Tuy nhiên các bạn hãy lưu ý về việc này khi chúng ta tiếp tục nghiên cứu thơ Côrinhtô.
    CÂU TRẢ LỜI CỦA PHAO LÔ, PHẦN 1
    Phaolô phải giải quyết hai quan niệm sai lầm của người Côrinhtô. Thứ nhất là họ hiểu lầm về bản chất của đức tin. Phaolô đồng ý rằng đó là sự khôn ngoan, nhưng không phải là sự khôn ngoan theo nghĩa thông thường. Đó không phải là triết lý theo tư tưởng con người. Thứ nhì, họ đã có suy nghĩ sai lầm về vai trò của các giáo sư trong vấn đề đức tin. Hãy chú ý cách Phaolô trả lời cho vấn đề thứ nhất trong 1:13-2:16. Sau đó Phaolô sẽ trả lời cho phần thứ hai trong 3:5, 4:21. Phân đoạn 3:2-4 được dùng như đoạn chuyển ý giữa 2 phần:
    Bản chất của sự khôn ngoan thiên thượng
    1:13, 2:5
    6 Xem lại phần " học tập để theo dõi cách lập luận" trong bài 1. Sau dó đọc lại ICôrinhtô 1:13, 2:5 và trả lời những câu hỏi sau đây.
    a Liệt kê các phân đoạn ( Bạn không nhất thiết phải theo bản NIV nhưng nếu muốn thay đổi bạn phải đưa ra lý do xác đáng).
    b Hãy theo dõi cách lập luận bằng cách nêu lên cách vắn tắt những điểm chính của mỗi đoạn.
    Phaolô nhận ra rằng lý do quan trọng nhất gây nên sự tranh chấp và chia rẽ trong Hội thánh Côrinhtô là do sự hiểu biết sai lạc về bản chất của Phúc âm. Do suy nghĩ rằng Phúc Âm là một thứ khôn ngoan, một hình thức mới của sự khôn ngoan người Côrinhtô đã suy luận về Phúc Âm một cách hoàn toàn nhân bản. Phaolô bác bỏ điều đó. Sự cứu rỗi hoàn toàn là công việc của Đức Chúa Trời; con người không can dự gì vào đó cả. Đức Chúa Trời đã khởi xướng và hoạch định sự cứu rỗi; cũng chính Ngài khiến sự cứu rỗi hành động trong mỗi đời sống của con người. Phaolô đã lập luận rằng chính kinh nghiệm về sự cứu rỗi của người Côrinhtô hoàn toàn tương phản với điều họ nói và cách họ sống. Chúng ta hãy thử xem Phaolô trình bày ý tưởng của ông như thế nào.
    1:13-17; trong một vài khía cạnh thì đây là phân đoạn khó nhất trong cả phần này. Chúng ta có thể hiểu vai trò của phân đoạn này trong lập luận của Phaolô. Phaolô cố gắng chuyển từ vấn đề chia rẽ trong Hội thánh sang việc giải quyết những quan điểm sai lầm của người Côrinhtô về Phúc âm. Nhưng còn việc Phaolô nói về phép báptêm có vai trò gì trong lập luận thì chúng ta không rõ. Từ những đoạn Kinh Thánh khác ( Chẳng hạn RoRm 6:1-4CoCl 2:12), chúng ta thấy rằng Phaolô rất coi trọng phép báptêm. Do đó chắc chắn là ông không hề có ý hạ thấp vai trò của phép báptêm trong phân đoạn này.
    Có vẽ rõ ràng như ở ý chính của phân đoạn này là chỉ cho người Ccôrinhtô thấy họ sai lầm thế nào khi nhận là "môn đồ của Phaolô" Phaolô không phải là Đấng cứu rỗi họ, và Apôlô hay Phierơ cũng không cứu rỗi được ai. Chỉ có Đấng Christ mới là Đấng Cưú Thế như thế Phaolô bắt đầu bằng cách so sánh giữa điều ông không thể làm ( ngay cả cái chết của ông cũng không thể cứu rỗi ai) và điều này ông có thể làm tức là rao giảng Phúc âm. Và tiếp theo ông dùng câu cuối cùng trong phân đoạn này để bắt đầu so sánh giữa sự khôn ngoan thiên thượng và khôn ngoan của con người.
    Trước khi chúng ta bước sang phân đoạn khác, tôi muốn các bạn hãy chú ý cẩn thận đến một trong những kỹ thuật Phaolô dùng khi lập luận.
    7 Đọc lại câu 13 . Hãy viết lại câu hỏi của Phaolô thành một câu văn có cùng một ý nghĩa.
    Hãy xem cách đặt câu hỏi của Phaolô có ý nghĩa mạnh mẽ hơn câu văn của bạn hay của tôi như thế nào ! Những câu hỏi như vậy được gọi là câu hỏi có tính cách hùng biện. Những câu hỏi có tính cách hùng biện là câu hỏi không cần phải có câu trả lời bởi vì câu trả lời đã nằm sẵn trong câu hỏi. Ở điểm này thì câu trả lời cho những câu hỏi đó là thế này " Dĩ nhiên là không, ai cũng rõ như vậy". Đây là một cách lý luận rất có hiệu quả và Phaolô thường dùng cách này.
    8 Đọc 3 phân đoạn tiếp theo cách cẩn thận trong mỗi phân đoạn Phaolô nhắc lại kinh nghiệm về sự cứu rỗi của họ như là bằng chứng rằng sự cứu rỗi là công việc của Đức Chúa Trời từ khởi đầu đến kết thúc. Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn những kinh nghiệm là gì. Hãy chắc rằng câu trả lời của bạn có cho biết các kinh nghiệm gì chứng minh cho sự cứu rỗi là công việc của Đức Chúa Trời như thế nào.
    a 1:18-25 c 2:1-5
    b 1:26-31
    1:18-25 Đây là phân đoạn quan trọng nhất trong cả lá thơ Icôtinhtô. Chúng ta sẽ bàn luận kỹ hơn về đoạn này ở phần sau. Bây giờ chúng ta chỉ trả lời câu hỏi căn bản về văn cảnh hay mạch văn: Tư tưởng chính của Phaolô ở đây là gì?
    9 Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời diễn tả đúng nhất ý tưởng của Phaolô trong phân đoạn này.
    a) Thập tự giá đối lập với bất cứ điều gì được thực hiện nhân danh sự khôn ngoan.
    b) Phaolô cố gắng giải thích tại sao người Do Thái và người Hylạp gặp khó khăn trong việc hiểu ý nghĩa của thập tự giá.
    c) Thập tự giá là điều khó hiểu đối với những người khôn ngoan thông sáng.
    d) Người Do Thái chối bỏ thập tự giá bởi vì họ thấy đó là một sự yếu đuối.
    Ý tưởng chính của phân đoạn này tương đối dễ nhận ra. Tôi có thể tạm diễn tả tư tưởng của Phúc âm như sau: "Vậy thì anh em cho rằng Phúc âm chỉ là một thứ khôn ngoan hay sao? làm sao có thể như thế được. Ai nhận là khôn ngoan mà lại chọn lựa Thập tự giá và Đấng Cứu Thế bị đóng đinh như là phương cách cứu rỗi nhân loại?" Rõ ràng là Thập tự giá trái ngược với bất cứ điều gì con người thực hiện nhân danh sự khôn ngoan. Như thế thập tự giá với tư cách là biểu tượng của Phúc âm đã chứng minh rõ rằng sự cứu rỗi là công việc của Đức Chúa Trời chứ không phải của con người.
    Trong phân đoạn này Phaolô nhắc họ về tất cả những điều đó và cũng một lần nữa nhấn mạnh ý nghĩa căn bản của thập tự giá. Dường như người Côrinhtô cho rằng sứ điệp của Thập tự giá chỉ là " sữa" mà thôi. Nhưng đối với Phaolô thì thập tự giá vừa là "sữa" vừa là "đồ ăn đặc".
    1:26-31 Trong đoạn này Phaolô lập luận một cách đanh thép. Phaolô tiếp tục nhắc lại kinh nghiệm của họ về sự cứu rỗi như là một bằng chứng rằng sự cứu chuộc không đặt nền tảng trên sự khôn ngoan. Tôi có thể diễn tả theo từ ngữ của tôi như sau: " Như thế anh em cho rằng Phúc âm là một thứ khôn ngoan hay sao? Làm sao lại có thể như vậy được . Ai muốn tỏ ra khôn ngoan mà lại chọn lựa anh em để trở nên những con dân của Đức Chúa Trời?"
    Dường như nói vậy thì không được lịch sự, nhưng rõ ràng đó là ý tưởng của Phaolô. Tuy nhiên ông trình bày ý tưởng này một cách tích cực bằng cách nhấn mạnh đến lý do khiến Đức Chúa Trời chọn lựa thập tự giá và chọn lựa người Côrinhtô để trở nên con cái của Ngài. Lý do đó chính là Ngài muốn loại bỏ cơ hội con người có thể tự khoe mình hoặc hãnh diện về những phương pháp và thành quả của mình. Như thế Đấng Christ và thập tự giá chính là sự khôn ngoan của Thượng đế, tức là sự khôn ngoan đã khiến những người như người Côrinhtô cũng như chúng ta được xưng công nghĩa trước mặt Thượng Đế, được có một đời sống thánh khiết và được giải thoát khỏi gông cùm của tội lỗi. Bởi vì chính Thượng Đế thực hiện điều đó nên họ có thể hoàn toàn đặt niềm tin nơi Ngài.
    10 Đọc lời bình luận của Barrett về câu 6 (trang 56 -57). Hãy viết lại theo từ ngữ của bạn về việc Đức Chúa Trời lựa chọn những sự chẳng ra gì mà Phaolô nói đến.
    2:1-5 Việc phân đoạn trong Kinh thánh của chúng ta ở chỗ này không được chính xác. Các bạn có thể nhận ra đoạn này tiếp dòng tư tưởng từ các đoạn trước. Phaolô vẫn tiếp tục nhắc lại các kinh nghiệm của họ trong quá khứ như những bằng chứng về sự cứu rỗi là công việc của Đức Chúa Trời. Sau đó ông nhắc đến sự rao giảng của ông khi ở thành Côrinhtô. Người Côrinhtô cho rằng sự rao giảng của ông thiếu quyền phép bởi vì ông không rao giảng với sự hùng biện và những lời lẽ khôn ngoan.
    Một lần nữa tôi lại xin phép diễn dịch lời của Phaolô như sau: " Như thế anh em cho rằng Phúc âm là một thứ khôn ngoan hay sao? Làm sao có thể như thế được? Có ai tự cho mình là khôn ngoan lại đến rao giảng giữa anh em như tôi đã làm?" Ông chấp nhận rằng bộ dạng và lời rao giảng của ông thiếu sự hùng biện của các triết gia du hành, nhưng những lời rao giảng của ông đã đem đến sự cứu rỗi. Chính sự hiện diện của họ là bằng chứng hùng hồn rằng lời Phaolô rao giảng chính là lời Thượng đế chứ không phải của riêng ông. Và đây chính là lý do: " Hầu cho anh em chớ lập đức tin mình trên sự khôn ngoan loài người bèn là trên quyền phép Đức Chúa Trời".
    Bây giờ đề nghị các bạn đọc lại phần trên của bài học và ICôrinhtô 1:13, 2:5. Dò lại các câu trả lời của bạn trong bài tập 6 với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên. Kết quả thế nào? Hãy đóng sách lại và cố nhớ tiến trình lý luận của Phaolô. Nếu các bạn có thắc mắc nào về nội dung, hãy đọc phần chú giải về câu đó trong sách của Barrett.
    11 Bài tập ôn. Hãy tìm xem trong những đoạn Kinh thánh dưới đây Phaolô đã nêu lên 3 điều gì có tính chất đối lập với sự khôn ngoan của con người và là bằng chứng rõ ràng rằng sự cứu rỗi không đặt nền tảng trên sự khôn ngoan của con người?
    a 1:18-25 ......
    b 1:26-31......
    c 2:1-5......
    Nguồn gốc của sự khôn ngoan thiên thượng
    2:6, 3:4
    Đây là một phân đoạn khó đặc biệt đối với những nhà giải kinh. Nhiều học giả đã bị cám dỗ cho rằng đoạn văn này đã lạc khỏi đề tài. Trong một khía cạnh nào đó cũng có thật vậy. Nhưng nếu quả thực lạc đề thì có nghĩa phân đoạn này tách xa khỏi ý tưởng chính, tức là Phaolô tách khỏi dòng tư tưởng chính để bàn đến một vấn đề riêng nào đó. Hơn thế nữa, có những phần khó cụ thể trong phần này. Chẳng hạn Phaolô mô tả sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời trong đoạn này liên hệ thế nào với Phúc âm rao giảng về Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá? và đâu là ý nghĩa của một loạt những tương phản mà ông nêu lên trong phân đoạn này?
    Riêng tôi không nghĩ rằng 2:6-16 là thực sự lạc đề. Ngược lại đây là những câu văn được viết kỹ lưởng để trình bày một điểm then chốt trong lập luận của Phaolô. Một mặt nhấn mạnh rằng Phúc âm mà ông rao giảng không phải là hình thức khôn ngoan nào khác của con người. Mặt khác ông cũng xác định rằng Phúc âm ông rao giảng chính là sự khôn ngoan đích thực của Thượng Đế. Cũng qua đoạn văn này ông giải quyết vấn đề người Côrinhtô cho rằng ông chỉ cho họ uống "sữa". Như thế phân đoạn này là câu trả lời cho tất cả những vấn đề trên.
    12 Xem 2:6, 3:4 cách cẩn thận. Sau đó hãy liệt kê 2 danh sách:
    a Tất cả những chữ hay từ ngữ mà Phaolô dùng để mô tả bản chất của sự khôn ngoan Thượng Đế.
    b Những sự so sánh giữa những hạng người mà Phaolô đề cập đến trong phân đoạn này.
    Trong phân đoạn tiếp theo chúng ta cũng sẽ có một số vấn đề nội dung cần phải nêu lên nếu như chúng ta muốn hiểu được lập luận trong phân đoạn này.
    2:6-10. Từ ngữ " dầu vậy" mà Phaolô dùng để bắt đầu phân đoạn này là một dấu hiệu cho thấy ông sẽ quảng diễn những điều ông vừa nói ở trên. Trái với việc loại bỏ sự khôn ngoan trong 2:4-5, ở đây Phaolô lại nói rằng ông " giảng sự khôn ngoan cho những kẻ trọn vẹn".
    Phaolô nêu lên sự tương phản giữa " chúng tôi" tức là Phaolô và những Cơ đốc nhân "trưởng thành" với các lãnh tụ của đời này bất luận họ là ai. Ở đây chúng ta cần ghi nhận sự khôn ngoan của Thượng Đế là một " Mầu nhiệm và được " giấu kín" khỏi các lãnh tụ đời này. Họ không thể nào hiểu được điều đó. Nhưng sự khôn ngoan của Thượng Đế lại không bị che giấu đối với Phaolô và những Cơ đốc nhân. Bởi vì Đức Thánh Linh đã mặc khải cho họ (2:10).
    Ý chính của phân đoạn này đại khái như sau: Mặc dù Phaolô không rao giảng sự khôn ngoan theo quan điểm của con người nhưng điều ông rao giảng lại chính là sự khôn ngoan. Lý do khiến " các lãnh tụ" không nhận ra đó là sự khôn ngoan là bởi vì họ không có Đức Thánh Linh. Nhưng : "chúng ta" nhận thấy đó chính là sự khôn ngoan bởi vì chúng ta có Đức Thánh Linh.
    Những điều này xem ra không có gì khác với điều Phaolô đã nói trong 1:18, 2:5. Vậy tại sao ông nhắc lại ở đây? Dường như ông không có ý nói rằng có một sự khôn ngoan nào dành cho các Cơ đốc nhân " trưởng thành" khác hơn là thập tự giá. Không thể như vậy, sự khôn ngoan duy nhất mà Phaolô rao giảng đặt trọng tâm nơi thập tự giá. Chúng ta có thể thấy rõ điều đó trong suốt ICôrinhtô và nhất là trong IICôrinhtô. Ý tưởng chính của Phaolô ở đây liên quan đến nguồn gốc khiến chúng ta có thể nhận ra Thập tự giá là sự khôn ngoan. Nguồn gốc chính là Đức Thánh Linh. Đây chính là điểm mà Phaolô sẽ nói rõ hơn trong phân đoạn kế tiếp.
    2:10-16 Nếu sự giải nghĩa của chúng ta đối với 2:6-10 là đúng thì, chúng ta sẽ có thể hiểu được điều Phaolô nói trong đoạn kế tiếp một cách tương đối dễ dàng.
    13 Bằng lời lẽ riêng của bạn hãy trình bày ý tưởng chính của phân đoạn này. Bạn cũng hãy nêu lên mối liên hệ giữa ý chính của phân đoạn với phân đoạn tiếp.
    Phaolô bắt đầu nói rõ hơn về điểm ông đã nêu lên trong phân đoạn trước. Tức là các lãnh tụ đời này không thể hiểu được sự khôn ngoan của Thượng Đế, nhưng các Cơ đốc nhân thì có thể hiểu được bởi vì họ có Đức Thánh Linh. Thứ nhất Phaolô giải thích rằng chỉ có Đức Thánh Linh là Đấng có thể biết được các ý tưởng của Thượng Đế ( câu 10-11). Thứ hai ông nhấn mạnh các Cơ đốc nhân đã được nhận lãnh Đức Thánh Linh là Đấng có thể hiểu được ý tưởng của Đức Chúa Trời. Đó chính lý do tại sao họ có thể hiểu được ý tưởng của Ngài ( Câu 12 đến 13). Thứ ba, Phaolô lập lại quan điểm của ông về những người chưa tin nhận Chúa. Những người này không thể biết ý tưởng của Thượng Đế bởi vì họ không có Đức Thánh Linh (Câu 14). Cuối cùng, ông dường như muốn nói một điều về cá nhân ông. Ông cũng là người có Đức Thánh Linh. Vì thế ông không ở dưới sự xét đoán của bất cứ ai trong trần gian này (Câu 15).
    Vậy tất cả những điều trên có ý nghĩa gì? Rõ ràng nhằm để nhấn mạnh điều Phaolô đã nói đến ở phần trên về sự khôn ngoan của trần gian và sự khôn ngoan thiên thượng. Thế gian đã xem thập tự giá như là sự rồ dại (1:18-152:14) là bởi vì thế gian không có Đức Thánh Linh. Do đó sự tương phản chính là giữa Cơ đốc nhân và những người không tin Chúa, giữa những người có Đức Thánh Linh và người không có Thánh Linh. Ngoài ra Phaolô cũng nêu rõ lập trường của ông. Chính ông có Đức Thánh Linh. Vì thế, những người "đoán xét" Phaolô đứng về phía của những người không có Đức Thánh Linh.
    Ý tưởng cuối cùng của Phaolô giúp chúng ta dễ hiểu phân đoạn kế tiếp. Nhưng trước khi bước qua phần khác chúng ta hãy ôn lại.
    14 Câu hỏi ôn tập. Những sự tương phản căn bản Phaolô nói đến trong 2:6-16 là tương phản giữa:
    a) Cơ đốc nhân thuộc linh và Cơ đốc nhân xác thịt
    b) Cơ Đốc nhân và những người chưa tin Chúa
    c) Phaolô và những người Côrinhtô
    d) Quyền phép của tà linh và Đức Thánh Linh
    3:1-4 Rõ ràng là Phaolô sử dụng phân đoạn này để chuyển sang việc bàn luận về các giáo sư. Cũng dễ dàng thấy rằng sự tương phản ở đây là giữa 2 loại Cơ đốc nhân thuộc linh và xác thịt. Câu hỏi là tại sao ông lại nói đến điều này ở đây? Ông muốn nói gì với những người Côrinhtô qua phân đoạn này?
    Phaolô coi những người ở Côrinhtô như " còn là người thế gian" (Câu 3). Hơn nữa, từ ngữ "chỉ là con đỏ" trong câu 1 dùng để so sánh với " những người trọn vẹn" (trong 2:6;). Nhưng Phaolô cẩn thận không nói rằng những người này không có Đức Thánh Linh. Chắc chắn đó là điều không thể nói về một Cơ Đốc Nhân. Tuy nhiên trong đoạn trước ông đã nói đến sự tương phản giữa Cơ Đốc nhân và những người không tin Chúa. Vậy thì ở đây ý ông muốn nói gì? Ông muốn nói rằng những người Côrinhtô " Há chẳng phải là người cũng như kẻ khác sao?" Nghĩa là họ có Đức Thánh Linh nhưng họ lại cư xử giống như người không có Đức Thánh Linh. Bằng chứng họ là những người "thế gian" chính là sự hiện diện của ghen ghét và tranh cạnh giữa vòng họ.
    Có một nghi vấn ở đây phải chăng Phaolô ngụ ý gì khi dùng chữ " sữa" và " đồ ăn cứng". Tức là "sữa" không phải là sứ điệp về thập tự giá và " đồ ăn cứng" tượng trưng cho những chân lý "sâu nhiệm hơn". Nhưng từ ngữ này thực ra chỉ là một phần trong hình ảnh ẩn dụ về con đỏ và người trưởng thành. Nếu như lời rao giảng của Phaolô không phải là " đồ ăn cứng" đối với họ là bởi vì họ đã quay lại với quan điểm trần gian về thập tự giá. Mục sư Barrett đã nêu lên (trang 81) sự khác biệt về hình thức hơn là về nội dung.
    Điểm cuối cùng trong tiến trình lập luận của Phaolô đã rõ. Và chúng ta có thể thấy toàn bộ cách lập luận của Phaolô. Phaolô bắt đầu với sự chia rẽ trong Hội thánh (1:10-12), qua đó Phaolô nhận định rằng những người Côrinhtô đã lạc mất Phúc âm. Bây giờ Phaolô nói rằng họ đã cư xử như người thế gian (lạc mất điểm chính của thập tự giá) bởi vì đã có sự chia rẽ. Phaolô không phải là " đồ ăn uống" đôÔi với họ là bởi vì họ đã quay lại với quan điểm trần gian về thập tự giá. Mục sư Barrett đã nêu lên (trang 81) Ở đây nói đến sự khác biệt về hình thức hơn là về nội dung.
    MỘT VÀI VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG
    2:6-9
    Trong phần lớn các bài học bạn sẽ có dịp bàn về một số vấn đề nội dung. Chúng ta sẽ bàn đến những vấn đề này để các bạn thấy rằng việc giải quyết những vấn đề thuộc về bối cảnh không phải là tất cả nhiệm vụ của việc giải kinh và cũng để các bạn học cách sử dụng sách chú giải Kinh Thánh. Trong bài học này chúng ta sẽ tìm hiểu về những vấn đề trong 2:6-9. Chúng ta sẽ làm việc đó qua các bài tập.
    1. Ai là những lãnh tụ của thời đại này? Trong khi thực hiện việc giải kinh ở phần trên tôi đã nêu lên rằng những lãnh tụ của đời này là những kẻ có quyền hành và ảnh hưởng trong xã hội. Về những quan điểm khác, bạn có thể đọc trong sách chú giải của Barrett về câu 6 và 8 ( trang 70 và 72).
    15 Theo Barrett thì từ ngữ " lãnh tụ của thời đại này" nghĩa là gì?
    Tôi tin rằng cũng "lãnh tụ" đó là những con người bởi vì "sự đóng đinh" là do họ thực hiện (câu 8). Dường như từ này có phần áp dụng cho con người nhiều hơn. Và sự tương phản được nói đến trong phân đoạn kế tiếp liên hệ rất mật thiết với phân đoạn này rõ ràng là sự tương phản giữa con người, chứ không phải giữa các tín đồ và quyền lực của ma quỷ. Một vài học giả cho rằng Phaolô có thể nói đến cả 2 nghĩa cùng một lúc. Nhưng theo tôi thì sự tương phản chính yếu là giữa các Cơ đốc nhân, những người có Đức Thánh Linh và những kẻ không tin Chúa tức là những người không có Thánh Linh.
    2. Từ ngữ mầu nhiệm có nghĩa là gì? Từ ngữ mầu nhiệm là từ ngữ rất quan trọng trong thần học của Phaolô.
    16 Hãy đọc cẩn thận sự chú giải của Barrett về câu 7 ( trang 70 -71). Theo Phaolô thì chữ mầu nhiệm có nghĩa.
    a) Một điều vượt quá sự hiểu biết của con người
    b) Một điều bí mật về tôn giáo mà chỉ những người được soi sáng mới biết.
    c) Một sự thật mà Đức Chúa Trời đã biết từ lâu nhưng đến nay Ngài mới mặc khải ra.
    d) Một điều kỳ lạ hay huyền bí
    3.Trong câu 9 Phaolô trưng dẫn câu Kinh thánh nào? Một trong những nan đề thường được nhắc đến nhất về các tác phẩm của Phaolô xuất hiện trong phân đoạn này. Ông trưng dẫn một câu Kinh Thánh trong Cựu ước nhưng chúng ta không tìm thấy câu này trong Cựu ước với cùng một hình thức như vậy.
    17 Đọc sách chú giải của Barrett về câu này ( trang 72 đến 73). Barrett đã nêu lên 4 cách giải thích nào? Hai cách giải thích nào Barrett nghĩ là hợp lý nhất?
    Một số vấn đề có tầm quan trọng hơn những vấn đề khác. Nhưng việc tìm hiểu ở đây cốt đưa ra thí dụ về những câu hỏi bạn cần nêu lên về bản văn. Nếu sách chú giải không trả lời câu hỏi của bạn thì có thể là vấn đề chỉ liên quan đến ý nghĩa của từ ngữ. Trong trường hợp đó cần sử dụng một phương tiện khác thí dụ như các sách tự điển tiếng Hylạp.
    Quan niệm của Phaolô về thập tự giá
    1:8-25
    Trong mỗi bài học chúng ta sẽ tìm hiểu một khía cạnh đặc biệt trong câu trả lời của Phaolô cách cặn kẽ hơn so với khi chúng ta thực hiện việc giải kinh có tính chất bối cảnh. Trong phần này chúng ta sẽ làm 2 việc : 1/ Thực hiện việc giải kinh cách chi tiết hơn đối với phân đoạn và 2/ Sắp xếp nó vào hệ thống thần học chung của Phaolô.
    18 Xem lại việc giải kinh của 1:18-25 trong bài học này. Đọc sách Barrett trang 51-66. Dùng từ ngữ riêng của bạn để giải thích lý do tại sao những con người có lòng vị kỷ thì thập tự giá là một điều hổ nhục.
    Chắc các bạn còn nhớ bối cảnh của sự việc những người Côrinhtô đã căn cứ vào những tiêu chuẩn của con người trần tục mà xét đoán Phaolô và sự giảng dạy của ông. Có nghĩa là họ cũng xét đoán nội dung của lời giảng dạy từ quan điểm sai lầm của họ.
    Dĩ nhiên đối với Phaolô điều đó có nghĩa là họ đang phủ nhận chính địa vị được cứu rỗi của họ. Bởi vì địa vị của họ được đặt nền tảng trên lời rao giảng về Đấng Christ chịu đóng đinh trên thập tự giá chứ không trên quan điểm của trần gian về sự khôn ngoan. Để làm sáng tỏ điều này Phaolô đã nhắc những người Côrinhtô nhớ lại sứ điệp về thập tự giá. Ông đã nhắc lại điều đó bằng ngòi bút xuất sắc của ông.
    Phaolô bắt đầu câu trả lời của ông bằng cách nói rằng ông không rao giảng " bằng bài diễn thuyết khéo léo của sự khôn ngoan". Bởi vì ông không muốn thập tự giá trở nên hư không. Chính kinh nghiệm cứu rỗi của ông đã dạy ông 2 điều: 1/ Sự khôn ngoan của trần gian hoàn toàn đối lập với thập tự giá và 2/ Thập tự giá là nơi Thượng Đế đã lựa chọn để bày tỏ quyền năng cứu chuộc và ân điển kỳ diệu đối với con người. Đây chính là 2 điểm căn bản mà Phaolô nói đến trong phân đoạn này.
    Chân lý chứa đựng trong quan điểm của Phaolô trước tiên được bày tỏ qua 2 thái độ căn bản của con người đối với sứ điệp về thập tự giá đối với " kẻ hư mất" thì thập tự giá là ngu dại và hổ nhục, còn đối với "những kẻ đuợc cứu chuộc" thì đó là sự khôn ngoan và quyền phép của Thượng Đế. Trong câu 19 Phaolô tuyên bố rằng qua thập tự giá Thượng Đế đã thực hiện điều Ngài từng tuyên bố tức là hủy diệt và loại bỏ sự khôn ngoan của trần gian.
    19 Xem EsIs 29:15-21, 40:12-14, 25, Giop G 38:1-7 đây chỉ là 3 phân đoạn Kinh thánh trong rất nhiều phân đoạn khác tương tự như vậy. Bằng từ ngữ riêng của bạn hãy cho biết đề tài chung của 3 đoạn Kinh thánh này là gì ?
    ......
    Sự ngu dại tột cùng của nhân loại là việc họ cứ tái diễn những nổ lực chứng tỏ là họ khôn ngoan hơn Thượng Đế. Nhưng Phaolô tuyên bố rằng kế hoạch của Thượng Đế đã được bày tỏ trước mắt chúng ta một cách hoàn toàn khác hẳn. Và ông thách thức những kẻ khôn ngoan tức là những triết gia Hylạp và những học giả Do Thái hãy mở mắt ra xem thể nào Đức Chúa Trời đã biến sự khôn ngoan con người trở thành điên dại.
    Phao Lô nói rằng vì cớ sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời mà con người không thề dùng sự khôn ngoan của mình để nhận biết Thượng Đế. Nếu như con người có thể làm điều đó thì có lẽ con người đã tôn thờ chính mình là loài thọ tạo thay vì thờ lạy Đấng tạo hóa. Vì thế Thượng Đế đã quyết định lựa chọn thập tự giá làm phương tiện cứu vớt nhân loại. Qua đó, Thượng Đế muốn đoan chắc rằng sự cứu rỗi sẽ không bao giờ là điều mà con người có thể khoe mình bởi vì không một người nào tự nhiên là khôn ngoan lại thực hiện công việc như vậy và Phaolô cũng hiểu rõ ràng theo lý luận của con người thì chẳng có Thượng Đế khôn ngoan nào lại thực hiện sự cứu rỗi như vậy.
    Trong các câu 22 - 25 Phaolô đề cập tới những phương cách mà con người khôn ngoan đã có thể thực hiện bằng cách nào?. Bởi quyền năng hoặc bởi sự khôn ngoan. " Người Giuđa đòi phép lạ". Đây rõ ràng ám chỉ đến sự trông đợi về Đấng Mêsia cứu người Do Thái. Chắc bạn có thể nhớ trong các sách Phúc âm thể nào người Do Thái liên tục đòi hỏi Chúa Jesus phải chứng minh địa vị Mêsia của Ngài bằng các phép lạ " Người Gờ rét tìm sự khôn ngoan". Chính sứ giả của người Hylạp là Hêrôdotu đã viết : " Mọi người Hylạp đều náo nức tìm học bất cứ điều gì".
    Qua việc đòi hỏi phép lạ và sự khôn ngoan, con người đã tự chứng tỏ họ là những kẻ thờ lạy hình tượng. Qua cách đó con người đã tự cho mình là người có thẩm quyền xét đoán Thượng Đế qua việc đòi hỏi: 1/ Thượng Đế phải chứng tỏ cho con người biết quyền lực của Ngài. 2/ Thượng Đế phải tuân theo những tiêu chuẩn con người đặt ra về việc Thượng Đế phải hành động như thế nào 3/ Thượng Đế phải hành động trong quyền năng, và là quyền năng theo quan niệm của con người và 4/ Thượng Đế phải hành động một cách khôn ngoan, và là sự khôn ngoan theo quan niệm của con người. Như thế con người muốn nói với Thượng Đế: " Nếu Ngài muốn tôi tin nơi Ngài thì Ngài phải hành động theo cách thức của tôi. Ngài phải làm theo những quan niệm của tôi". Đó chính là sự thờ lạy hình tượng!
    Nhưng khoan đã, nếu người Do Thái sẽ tin vào phép lạ và người Hylạp đáp ứng với sự khôn ngoan thì chúng ta hãy thi hành nhiều phép lạ và bày tỏ mọi sự khôn ngoan. Đức Chúa Trời có dư dật cả hai. Không, Phao Lô nói rằng, chỉ rao giảng cho họ về thập tự giá, một hành động được thiết lập như là sự vấp phạm đối với những kẻ tìm kiếm phép lạ và như là sự điên dại đối với những người tìm kiếm sự khôn ngoan.
    Hãy xem xét lý luận của họ về vấn đề này: Một Thượng Đế là một Đấng yếu đuối đến nỗi bị kẻ thù của mình giết chết, là Đấng đã không ra lệnh cho mặt đất há ra nuốt những kẻ thù nghịch, là Đấng đã không bước xuống khỏi thập tự giá và hành động như một Thượng Đế quyền năng thì ai cần đến một Thượng Đế như vậy? Sự yếu đuối như thế trong Thượng Đế là cớ vấp phạm cho những kẻ tìm kiếm phép lạ. Đối với người Do Thái, Đấng Mêsi chịu đóng đinh trên thập tự giá là một điều hoàn toàn mâu thuẫn chẳng khác gì " Nước đá nóng". Và đối với những kẻ tìm kiếm sự khôn ngoan thì câu chuyện về một Đấng Cứu Thế được sinh ra trong một gia đình nông dân Do Thái và chịu đóng đinh như một tên tội phạm là hoàn toàn điên dại. Làm sao một Thượng Đế khôn ngoan có thể can dự vào những chuyện điên dại như vậy?
    Thế thì Phaolô đã làm gì? Liệu ông có thay đổi sứ điệp cho thích ứng với các thính giả không? Không bao giờ, ông đã cứ rao giảng về thập tự giá, bởi vì qua thập tự giá Thượng Đế đã bày tỏ quyền năng và sự khôn ngoan thực sự. Thập tự giá đã khiến con người trở thành hoàn toàn bất lực không còn hy vọng điều gì nơi chính mình hay với mưu luận của mình để rồi chỉ còn trông vào một điều mà thôi. Tức là tin cậy nơi Thượng Đế là Đấng Cứu chuộc và ban sự sống cho con người. Và những ai làm như vậy đều thấy rằng Thượng Đế là Đấng đáng tin cậy. Nhưng như thế có nghĩa là họ phải chấm dứt những chương trình, quan điểm và phương cách riêng của họ để tự cứu mình. Barrett đã tóm tắt một cách rất ý nghĩa: " Điều Đức Chúa Trời đã thi hành trong Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá là một điều hoàn toàn trái ngược với quan điểm của con người về sự khôn ngoan và quyền năng nhưng lại đem đến những thành quả mà sự khôn ngoan và năng lực của con người không thể đạt được. Nó đã đem đến sự thật về Thượng Đế (và về con người), nó đã giải phóng con người khỏi gông cùm tội lỗi"
    20 Ôn lại phần vừa học. Hãy ghi chép tóm tắt sổ tay của bạn 3 quan niệm về Thập tự giá.
    a của người Do Thái
    b của người Hylạp
    c của Phaolô
    Một vài ý kiến có tính chất khoa giải kinh.
    Bạn sẽ không gặp khó khăn nào trong việc áp dụng những điều Kinh thánh phán dạy những người thời xưa vào tình hình hiện nay. Bạn không cần phải đối diện với người Do Thái hay người Hylạp như Phaolô, và bạn cũng không cần phải sống trong hoàn cảnh giống như những người Côrinhtô. Chỉ cần thay đổi khung cảnh và bạn sẽ thấy là ý nghĩa vẫn y nguyên. Tôi xin phép nêu lời đề nghị về hai điểm.
    Thứ nhất nhân loại ngày nay vẫn tiếp tục tôn thờ sự khôn ngoan và năng lực của họ. Điều này xảy ra khắp nơi trên thế giới. Con người vẫn coi thập tự giá là điên dại và là cớ vấp phạm. Thập tự giá nói lên rằng con người phải từ bỏ ý tưởng riêng của họ và tin cậy nơi Thượng Đế là Đấng sẽ cứu vớt họ. Thập tự giá cũng có nghĩa rằng chúng ta phải chấp nhận sự phán xét của Thượng Đế đối với chúng ta như là tội nhân đã vi phạm luật pháp của Ngài. Thập tự giá cũng nêu lên ý nghĩa chúng ta phải nhìn nhận địa vị bất lực của mình và cần đến sự tha thứ của Thượng Đế. Cũng có nghĩa chúng ta phải tin rằng Thượng Đế đón nhận chúng ta trong điều kiện của Ngài chứ không phải theo điều kiện của chúng ta. Tất cả những điều này là sự vấp phạm đối với con người thời đại ngày nay cũng như đối với con người trong thời đại Phaolô.
    Nhưng tin vui là quyền năng của thập tự giá vẫn hành động. Khi con người đặt lòng tin cậy nơi Thượng Đế thay vì nơi mưu định riêng của mình, họ khám phá ra rằng thập tự giá chính là quyền phép của Đức Chúa Trời. Họ vẫn thấy rằng " Giêxu Christ đã trở nên sự khôn ngoan, sự công bình, sự nên thánh và sự cứu chuộc cho chúng ta". (ICo1Cr 1:29)
    Thứ hai, vì cớ những câu 2:6-3:4 nên đã có một sự tranh luận kéo dài trong Hội Thánh về những người đã là Cơ đốc nhân nhưng vẫn còn sống trong xác thịt. Căn cứ vào 3:1-4 điều này là có thật đối với tín đồ Côrinhtô. Họ đúng là những tín đồ xác thịt.
    Nhưng nên nhớ rõ điều này: Sống như một tín đồ xác thịt không phải là một sự tùy ý lựa chọn của Cơ đốc nhân. Phaolô không cho rằng người Côrinhtô sống theo xác thịt như họ đang sống là điều phải lẽ. Ý chính trong toàn bộ phân đoạn này là họ nên chấm dứt đời sống ấy! Vậy chúng ta có sự nghịch lý. Vâng, có những Cơ Đốc Nhân sống theo thế gian, nhưng bạn không được trở thành một Cơ Đốc Nhân sống theo thế gian. Đây là một cách nói khác của những lời Phao Lô trình bày, "Hãy trở nên như chính bạn. Bạn là một Cơ đốc nhân bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Nào hãy chổi dậy và trở nên như con người ấy bởi ân điển của Chúa." Cơ đốc nhân không phải là người hoàn hảo; nhưng là người đang tiến đến mục tiêu trở nên giống như Đấng Christ.
    21 Xem lại phần trên về vấn đề khoa giải kinh. Suy nghĩ kỹ thí dụ thứ nhất tôi đưa ra. Khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu về điều bạn phải chuyển đổi từ hoàn cảnh của Phaolô sang hoàn cảnh của bạn.
    a) Người Do Thái đòi Chúa Jesus làm phép lạ để chứng minh Ngài là Đấng Mêsi.
    b) Con người phải từ bỏ ý định riêng hầu có thể được cứu rỗi.
    c) Lòng thương xót, thứ tha của Thượng Đế như được bày tỏ qua thập tự giá.
    d) Những đòi hỏi của con người rằng Đức Chúa Trời phải hành động theo sự khôn ngoan và năng lực của con người.
    Đến đây kết thúc bài học 4. Tôi mong bạn không những học được ý nghĩa của bài học và phương pháp để học bài này nhưng tôi cũng mong bạn hiểu được chủ đích của bài nữa. Tôi có cách để trắc nghiệm lại sự hiểu biết của bạn về chủ đích của bài học. Nhưng về việc bạn có làm theo những điều bạn học hay không thì tôi không thể theo dõi được. Làm theo những điều bạn học là điều quan trọng hơn hết.
    Hãy ôn lại bài học. Xem lại những đề mục chính trong phần dàn bài. Thử xem bạn có thể nhớ được những ý chính hay không. Sau đó hãy làm bài tự kiểm tra. Khi làm xong hãy so sánh những câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    BỔ TÚC PHẦN CÒN THIẾU. Điền vào những từ ngữ cần thiết để câu phát triển trở thành đúng. Nếu cần bạn có thể tham khảo Kinh thánh về những đề tài này.
    1 Liệt kê và trình bày tóm tắt 3 khía cạnh của vấn đề mà Phaolô trả lời trong ICôrinhtô 1:10, 4:21.
    a ......
    b ......
    c ......
    2 Ba phân đoạn trong 1:18, 2:5 chứng tỏ rằng Phúc âm không phải là một thứ triết gia khôn ngoan mới trong 3 cách thức nào?
    a 1:18-25 ......
    b 1:26-31 ......
    c 2:1-5 ......
    CÂU TRẮC NGHIỆM. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng.
    3 Theo ICôrinhtô 2:6-16, điểm khác biệt căn bản giữa Cơ đốc nhân và người chưa tin Chúa là Cơ đốc nhân.
    a) Có sự khôn ngoan thiên thượng
    b) Đáp ứng lại sứ điệp của thập tự giá
    c) Được lựa chọn bởi Đức Chúa Trời.
    d) Có Đức Thánh Linh.
    4 Câu phát biểu nào giải thích đúng nhất mối liên hệ giữa triết lý khôn ngoan và vấn đề trong ICôrinhtô 1:10, 4:21
    a) Một số tín đồ Côrinhtô đã bắt đầu suy nghĩ rằng họ khôn ngoan hơn Phaolô.
    b) Một số tín đồ bắt đầu suy nghĩ rằng đức tin của họ chẳng qua chỉ là thứ triết lý khôn ngoan và họ bắt đầu xét đoán các lãnh đạo Hội thánh dựa trên nền tảng này.
    c) Những tín đồ Côrinhtô. Bắt đầu so sánh niềm tin mới mẻ của họ với các triết lý khôn ngoan. Họ cho rằng Phúc âm không phù hợp với lý trí
    d) Apôlô đã ghé thăm Hội thánh và rao giảng Phúc âm như là triết lý khôn ngoan đích thực của Thượng Đế và một số tín đồ đã nghĩ rằng phaolô không có triết lý khôn ngoan.
    CHỌN LỰA GIỮA ĐÚNG VÀ SAI. Viết Đ vào khoảng trống trước câu trả lời đúng, viết S nếu câu trả lời sai.
    ......5 Tình trạng chia rẽ tại Hội thánh Côrinhtô về căn bản là do một số tín đồ không thể sống hòa hợp với những người khác trong Hội thánh.
    ......6 Phaolô bắt đầu giải quyết vấn đề chia rẽ trong Hội thánh bằng cách nhắc lại sứ điệp về thập tự giá bởi vì ông muốn nhắc lại cho người Côrinhtô nhớ rằng sự cứu rỗi của họ đặt nền tảng trên sứ điệp hoàn toàn trái ngược với sự khôn ngoan của con người.
    ......7 Sở dĩ Phaolô nói rằng ông đã không làm báptêm cho nhiều người tín đồ Côrinhtô ấy là vì ông coi phép báptêm là không quan trọng lắm.
    ......8 Cho rằng " các lãnh tụ đời này ám chỉ đến những con người hơn là quyền lực của ma quỷ là vì sự tương phản trong 2:6, 3:4 là giữa Cơ đốc nhân và những người không tin Chúa.
    ......9 Sở dĩ Phaolô gọi những người Côrinhtô là những Cơ đốc Nhân "thuộc thế gian" trong 3:1-4 là vì họ chống đối lại Phaolô.
    ......10 Theo Phaolô sở dĩ Đức Chúa Trời đã lựa chọn thập tự giá "và những kẻ chẳng ra gì" trong Côrinhtô là vì Ngài muốn loại bỏ sự khoe khoang của con người trước mặt " Thượng Đế".
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. a So sánh câu trả lời của bạn với ý trong sách hướng dẫn học tập.
    b Bạn nên chú ý đến những câu 1:123:4 cho thấy có những người Côrinhtô chống đối Phaolô. Bạn có thể kể ra những câu 1:17, 2:1, 3-44:1-15, 18.
    c Bạn có thể kể ra các từ ngữ : sự khôn ngoan, sự điên dại; khoe mình, thuộc linh.
    2. 27 (1:19, 20, 25, 26, 27, 2:4, 3:18, 18, 19, 20, 1:17, 19, 20, 21, 21, 22, 24, 25, 30, 2:1,5, 6, 6,7, 7, 13, 3:19).
    3. d) Một số người trong Hội thánh. Không những chỉ ưa chuộng Abôlô mà còn chống đối Phaolô.
    4. a So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập.
    b. Số bài tiểu luận của bạn với bài của tôi trong sách hướng dẫn học tập. Nếu có nhiều khác nhau, bạn cần soát lại xem những điều bạn nêu lên có thực sự phù hợp với ý tưởng của Phaolô không?
    5. c) Bởi vì các giáo sư của họ cũng là những người du hành nên người Côrinhtô bắt đầu nghĩ là đức tin của họ cũng là một thứ triết lý khôn ngoan và xét đoán các lãnh tụ trong Hội thánh theo tiêu chuẩn con người. Một số người chống đối Phaolô vì họ cho rằng ông không hùng biện và khôn ngoan. Họ cũng không nhận quyền sứ đồ của ông.
    6. a Có thể chia các đoạn như sau 1:13-17, 1:18-25, 1:26-31, 2:1-5
    b So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập.
    7. Bạn có thể làm nhiều cách tùy theo bạn hiểu ý nghĩa của câu hỏi thứ nhất ra sao. Chẳng hạn, Đấng Christ không thể bị chia xé giữa anh em; hoặc Đấng Christ bị chia xé vì sự tranh chấp của ann em. Đối với 2 câu hỏi kế tiếp bạn có thể viết lại như sau: Phaolô không chịu đóng đinh vì anh em, anh em cũng không chịu Báptêm nhân danh Phaolô. v.v
    8. a. Sứ điệp thập tự giá là điều điên dại theo cách nhìn của con người, con người không thể sáng tạo ra điều này.
    b. Việc lựa chọn tín đồ ở Côrinhtô là những người " chẳng ra gì", do đó đức tin Cơ đốc không thể dựa trên khôn ngoan của con người.
    c. Thiếu nét hùng biện hoặc khôn ngoan trong sự rao giảng của Phao Lô; sự cứu rỗi không tùy thuộc vào sự hùng biện hoặc khôn ngoan của con người.
    Câu trả lời của bạn có giống với câu trả lời của tôi không? Bạn nên lưu ý rằng những gì mà chúng ta đã làm trong phần bài tập này là tìm kiếm điểm chính trong mỗi phân đoạn!)
    9. a. Thập tự giá đối lập với tất cả mọi điều được thực hiện nhân danh sự khôn ngoan.
    10. 1) Tiêu chuẫn của Đức Chúa Trời khác với tiêu chuẩn của thế gian.
    2 ) Đức Chúa Trời đang triệt họ các tiêu chuẩn của thế gian.
    11.a 1:18-25 Sứ điệp thập tự giá
    b 1:26-31 Các hạng người cấu tạo nên Hội thánh Côrinhtô.
    c 2:1-5 Nội dung và phương pháp rao giảng của Phaolô.
    12. a Lưu ý đặc biệt đến những điểm này: nó được dành cho người " trưởng thành" (2:6) nó là điều " mầu nhiệm" và " kín giấu" (2:7) nó được mặc khải bởi Đức
    Thánh Linh (2:13) nó dành cho người " có tâm trí của Đấng Christ" (2:15).
    b. Giữa người " trưởng thành" và " con đỏ" (2:6, 3:1) " Chúng tôi" và " lãnh tụ của đời này" (2:6-8) " người không có Đức Thánh Linh" và " người có tánh thiêng liêng" (2:14 -15)" " người thiêng liêng" và " người xác thịt" (3:1-4).
    13. Hãy kiểm tra câu trả lời của bạn với câu trả lời của sách hướng dẫn học tập.
    14. b Cơ đốc nhân và người chưa tin Chúa
    15. Những "kẻ cai trị" là những sức mạnh siêu nhiên (ma quỷ vv......) tức là kẻ kiểm soát những sự kiện trong thời đại này. Sự lý luận của ông có căn cơ vì cớ ông sử dụng một từ ngữ tương tự trong IICo 2Cr 4:4 để ám chỉ Satan; Dường như ông cũng thêm vào trong Eph Ep 2:2
    16. c. Một chân lý Đức Chúa Trời đã biết nhưng đến nay Ngài mới mặc khải ra.
    17. Barrett đề nghị những cách giải nghĩa về 1Côrinhtô ICo1Cr 2:9 như sau : 1) Phaolô trưng dẫn sách khải huyền của Êli, 2) Phaolô dùng ý tưởng truyền thống mô tả phước hạnh của thời tương lai, 3) trưng dẫn Kinh thánh theo trí nhớ và không chính
    xác, 4) dùng một bản văn Cựu ước khác với bản văn hiện có. Barrett cho rằng cách 3) hay 4) có vẻ hợp lý hơn.
    18. So câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập. Cần bao gồm ý tưởng thập tự giá đối lập với những điều con người muốn Đức Chúa Trời phải thi hành.
    19. Bạn cần nói đến đề tài về sự ngu dại, của những con người tưởng rằng họ có thể khám phá được đường lối của Thượng Đế.
    20. So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập và sách Barret.
    21. a Người do Thái đòi Chúa Jesus phải làm phép lạ chứng minh Ngài là Đấng Mê - si
    Sự Khôn Ngoan Và Chia Rẽ Tại Hội Thánh Côrinhtô. Phần 2
    Tình hình ở Hội thánh Côrinhtô không được tốt đẹp. Hội thánh bị chia thành những bè nhóm theo tên của những người lãnh đạo. Họ đã biến đổi Phúc âm thành một triết lý khôn ngoan một sự khôn ngoan " Thiên Thượng", nhưng chẳng qua cũng chỉ là một triết lý khôn ngoan. Và còn nhiều vấn đề khác nữa. Như chúng ta đã thấy trong bài học vừa qua, vấn đề ở đây trước tiên là vấn đề có tính cách thần học. Người Côrinhtô đã làm lạc mất nền tảng của Phúc âm với thập tự giá "xấu xa" ngay tại cốt lõi của Phúc Âm ấy.
    Như vẫn thường xảy ra, một sự sai lầm về giáo lý cuối cùng rồi sẽ biểu hiện thành thái độ cụ thể. Và thế là chúng ta bước sang phần 2 trong câu trả lời của Phaolô. Việc người Côrinhtô chia phe phái theo các lãnh tụ họ ưa thích chứng tỏ rằng họ hiểu lầm về vai trò của các lãnh đạo trong Hội thánh. Các bạn sẽ cảm thấy thú vị khi tìm hiểu cách Phaolô giải quyết 2 vấn đề này. Một mặt Phaolô chỉ cho họ thấy rằng những lãnh đạo của Hội Thánh là những tôi tớ, chứ không phải người cầm quyền. Mặt khác, Phaolô lại thuyết phục họ nhìn nhận quyền sứ đồ của ông.
    Nan đề của chúng ta là hầu hết chúng ta, đặc biệt là các Mục sư và giáo sư, rất ưa thích phần quyền hành. Nhưng đôi khi chúng ta lại không chịu hiểu rằng người lãnh đạo cũng là người tôi tớ. Vì Phaolô có thẩm quyền của một sứ đồ nên chúng ta càng phải bắt chước ông trong thái độ phục vụ của người tôi tớ. Nói theo nghĩa bóng, dấu hiệu thật của một môn đồ Chúa Jesus là rửa và lau chân cho những người khác.
    Câu trả lời của Phaolô phần 2
    Hội thánh và các lãnh đạo
    Hội thánh và các sứ đồ
    Một số vấn đề về nội dung
    Hội thánh với tư cách là một cộng đồng có Đức Thánh Linh.
    Một số ý kiến có tính cách khoa giải kinh.
    Những quan điểm thần học sai lầm của người Côrinhtô.
    Khi hoàn tất bài học này bạn sẽ có thể :
    * Thảo luận về vấn đề mấu chốt Phaolô nhận ra qua thái độ của người Côrinhtô đối với các lãnh đạo trong Hội thánh
    * Bảo vệ những lý luận Phaolô đưa ra nhằm bênh vực quyền sứ đồ của ông như được trình bày trong bài học.
    * Giải thích tại sao câu 3:16 " Anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời" được hiểu về cả Hội thánh như là một cộng đồng chứ không hiểu về một cá nhân.
    * Định nghĩa " việc áp dụng mở rộng" và đưa ra những thí dụ về các sai lầm nó đã gây ra.
    * Giải thích về những quan niệm thần học sai lầm của người Côrinhtô.
    1. Đọc ICôrinhtô 3:5, 4:21
    2. Đọc sách Barrett trang 82 - 119
    3. Nghiên cứu bài học từng phần một.
    4. Làm bài tự kiểm tra ở cuối bài học.
    đã bắt đầu - nhưng chưa hoàn tất
    sự nhiệt thành, sốt sắng
    lai thế học.
    ( sự ) áp dụng mở rộng
    Ngộ đạo
    Ngộ đạo thuyết
    Điều trớ trêu
    Sự trả lời của Phaolô, phần 2
    3:5, 4:21
    Bởi vì bài này là phần tiếp theo của bài học 4 nên bạn hãy thực hiện 2 điều sau đây : 1/ Ôn lại phần " Bản chất của vấn đề" trong bài 4; 2/ Ôn lại câu trả lời của Phaolô đối với vấn đề 1:13, 3:4. Nếu cảm thấy cần bạn cũng có thể ôn lại bài học 1 ở phần " bối cảnh văn chương"
    Hội thánh và các lãnh đạo
    3:5-23
    1. Xem ICôrinhtô 3:5-23. Khi đọc bạn hãy chú ý đến từng phân đoạn. Trong mỗi phân đoạn Phaolô đề cập ý tưởng chính nào? Hãy viết ra tựa đề của mỗi phân đoạn theo ý chính của từng phân đoạn.
    3:5-9 Bạn có thể nhớ lại rằng trong 3:1-4 Phaolô đã đưa lập luận của ông đến điểm kết thúc. Bởi vì những ai có Đức Thánh Linh đều có sự hiểu biết về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời và việc Đấng Christ bị đóng đinh trên thập tự giá nên những người ở Côrinhtô cũng đáng phải hiểu điều đó. Thế nhưng họ đã cư xử dường như là sự hy sinh của Chúa trên thập tự giá chưa hề xảy ra. Họ đã tranh cãi và chia phe lập đảng theo các lãnhn đạo. Như thế, họ sống như những người chẳng biết Chúa.
    Việc lập luận tiến đến một điểm rất quan trọng. Những người Côrinhtô đã nói rằng : " Tôi thuộc về phe Apôlô". Họ đã cư xử dường như sự cứu rỗi đó được thực hiện bởi các sứ đồ.
    2. Sau khi Phaolô bác bỏ nền tảng của thái độ này, ông đã trả lời vấn đề như sau: làm sao họ lại có thể có thái độ như thế đối với những giáo sư của họ? Tóm lại, câu trả lời căn bản của Phaolô, đối với vấn đề này là ......
    3. Từ câu 6 đến 9 Phaolô nhấn mạnh đến 2 khía cạnh về những người tôi tớ. Bằng từ ngữ riêng của bạn hãy nêu lên 2 khía cạnh này. Lưu ý rằng câu 6 và 8 đề cập đến một khía cạnh; câu 7 và 9 nói đến khía cạnh khác.
    Phaolô nhấn mạnh rằng các giáo sư phải được xem là những đầy tớ bằng cách nhấn mạnh rằng mọi sự đều là của Đức Chúa Trời. Hãy lưu ý câu 5 : " y theo Chúa đã ban cho mọi người"; và câu 6 : "Song Đức Chúa Trời là Đấng làm cho lớn lên". Đặc biệt chú ý đến câu 9 : " Chúng tôi là bạn cùng làm việc với Đức Chúa Trời".
    Phaolô cũng nhấn mạnh rằng : " kẻ trồng người tưới đều bằng nhau". Mỗi người nhận lãnh công việc riêng của mình. Để làm sáng tỏ điều này Phaolô đã dùng một ví dụ trong việc trồng trọt.
    4. Thí dụ của Phaolô có 4 yếu tố ( 6- 9). Phaolô muốn ám chỉ đến ai khi ông dùng những từ ngữ dưới đây.
    a. Người trồng......
    b. kẻ tưới......
    c. đồng ruộng ......
    d. chủ ruộng ......
    5. Như vậy Phaolô muốn nói rõ điểm này. Các lãnh đạo trong Hội thánh không phải là ......đối với Hội thánh; nhưng chỉ là những tôi tớ mà thôi.
    Với tư cách là những tôi tớ, mỗi người đều có công việc riêng; tuy nhiên tất cả đều hướng đến một mục đích. Và cả Hội thánh lẫn những tôi tớ đều thuộc về Đức Chúa Trời. Hai phân đoạn tiếp theo chỉ nhầm để nói rõ thêm 2 ý tưởng chính trong phân đoạn này.
    3:10-15 Phân đoạn này và phân đoạn kế tiếp (3:16-17) đã bị diễn giải sai và do đó đưa đến việc áp dụng sai hơn bất cứ phân đoạn này khác trong ICôrinhtô. Lý do của sự sai lầm này là do việc giải kinh căn cứ vào văn cảnh đã không được thực hiện đúng đắn. Ngoài ra cũng là do không chịu tìm hiểu đâu là ý chính của phân đoạn này.
    Trước hết hãy lưu ý rằng Phaolô đã nhắc đến ẩn dụ trong câu 9 : Hội thánh là nhà của Đức Chúa Trời và tiếp tục nêu lên một sự so sánh mới Tức là so sánh về cách kiến trúc. Cũng hãy lưu ý rằng các chi tiết vẫn y nguyên. Chỉ có những so sánh là được thay đổi. Như thế chúng ta sẽ có : 1/ Người trồng và người lập nền ám chỉ về Phaolô. 2/ Kẻ tưới và kẻ xây trên nền đó ám chỉ về Apôlô và những giáo sư khác ; 3/ Đồng ruộng và tòa nhà ám chỉ về Hội thánh; 4/ Người chủ ám chỉ về Đức Chúa Trời.
    6. Theo như các chi tiết được nêu trên, bạn hãy đọc câu 10 và trả lời những câu hỏi dưới đây:
    a. Phaolô đang ngỏ lời với những ai ? ......
    b. Điều gì đang được xây cất ? ......
    c. Ý chính của Phaolô là gì ? ......
    Theo mạch văn cụ thể này Phaolô nêu lên ý quan trọng rằng những kẻ đến sau ông và muốn gây dựng Hội thánh tại Côrinhtô phải làm điều đó một cách cẩn trọng. Trước tiên Phaolô nhắc lại điều đã được nói đến, đó là chẳng ai có thể lập một nền khác. Qua đó ông muốn nhắc lại sứ điệp về thập tự giá trong 1:18- 2:5. Thế rồi Phaolô tiếp tục nói đến 2 đề tài khác nữa trong phân đoạn thứ nhất (3:5-9), cụ thể là mỗi người sẽ nhận phần thưởng tùy theo công việc của mình. Ông nói rõ hơn điểm này bằng cách tiếp tục dùng ngôn ngữ, hình ảnh và sự so sánh ý tưởng của ông là người ta có thể xây dựng tốt nhưng cũng có thể xây dựng không tốt. Đức Chúa Trời sẽ dùng lửa để thử nghiệm công việc của mỗi người. Nếu một người gây dựng tốt thì Hội thánh mà người đó gây dựng sẽ tồn tại và sẽ được lãnh phần thưởng. Còn nếu ai xây dựng cách không tốt, công việc người đó sẽ bị tiêu hủy nhưng chính người đó vẫn được cứu.
    Chúng ta cần phải học tập để khi chú giải Kinh thánh chúng ta sẽ không áp dụng sự so sánh một cách gò ép tức là gán cho chúng những ý nghĩa mà tác giả không định như vậy. Ông dùng rất nhiều ngôn ngữ của phép ẩn dụ. Gỗ, cỏ khô, rơm rạ không ám chỉ đến những điều đặc biệt, chúng chỉ ám chỉ đến những vật liệu xây cất bình thường. Ý tưởng chính ở đây là : Hãy xây cất cho tốt! Bạn cũng có thể nhận thấy rằng đoạn văn này không có liên quan gì đến cá nhân người tín đồ và cách người đó gây dựng nếp sống Cơ Đốc nhân, điều này cũng đúng với phân đoạn kế tiếp trong đó Phaolô ngỏ lời với toàn thể Hội thánh về trách nhiệm của họ tại thành phố Côrinhtô.
    3:16-17 Trong nhiều khía cạnh, đây là đoạn văn quan trọng nhất trong toàn bộ lập luận của Phaolô. Ít nhất đây cũng là đoạn văn chủ yếu của lập luận trong đoạn 3. Do đó chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn phân đoạn này. Ở đây chúng ta chỉ muốn nhận định vai trò của đoạn văn này trong lập luận chung.
    Trong phân đoạn này Phaolô quay trở lui và nó chọn ra 2 đề tài gộp chung lại trong phân đoạn này. Trước tiên ông nêu lên hình ảnh trong câu 9 mô tả Hội thánh như là nhà của Đức Chúa Trời. Ông muốn nói rằng Hội thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô. Hội thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời bởi vì Đức Thánh Linh ngự giữa họ.
    Kế đó, Phaolô nhắc lại vấn đề chia rẽ trong Hội thánh và cột điều này vào chủ đề thứ nhất : Vì Hội thánh là rất quan trọng đối với Đức Chúa Trời nên Ngài sẽ hủy diệt người nào phá hoại Hội thánh.
    Ý tưởng ở đây rất rõ ràng: Bởi sự phân rẽ họ xua đuổi Đức Thánh Linh khỏi Hội thánh, như điều họ đang làm. Đó là họ đang phá hoại Hội thánh tức đền thờ của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô. Và bởi vì Đức Chúa Trời xem Hội thánh là rất quan trọng nên Ngài sẽ đoán phạt những kẻ chịu trách nhiệm phá hoại Hội thánh.
    7. Trước khi chúng ta tiếp tục, hãy chắc rằng các bạn hiểu rõ ý tưởng trong 3:16-17. Khoanh tròn mẫu tự trước câu giải nghĩa đúng nhất về câu 3:16 " Anh em há chẳng biết mình là đền thờ của Đức Chúa Trời".
    a) Thân thể của tín đồ là đền thờ của Đức Thánh Linh giống như 6:20.
    b ) Người tín đồ là đền thờ của Đức Thánh Linh.
    c) Hội thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời trong thế gian này
    d) Hội thánh tại Côrinhtô là đền thờ của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô.
    3:18-23 Trong phân đoạn này Phaolô đem 2 yếu tố trong vấn đề của người Côrinhtô đến câu nói cuối cùng của họ đó là chủ đề hai mặt về sự khôn ngoan và sự chia rẽ.
    Phần thứ nhất của lời kết luận trở về với chủ đề của sự khôn ngoan và nhắc lại ý chính của 1:18-31. Nhưng người Côrinhtô đã bị lừa dối trong vấn đề khôn ngoan. Sự khôn ngoan đích thực có nghĩa là trở nên : dại dột" cùng một cách như Đức Chúa Trời vậy. Qua việc nghĩ rằng họ khôn ngoan đủ để trở thành phe đảng theo một lãnh tụ nào đó, những người Côrinhtô đã nhập bọn chung với thế gian ngu dại.
    "Vậy chớ ai khoe mình về loài người (3:21). Hành động dại dột này phải được chấm dứt. Với lý luận đanh thép, Phaolô đã hoàn toàn bắt phục họ. Điều Phaolô nói rất khó để dịch một cách đầy đủ nhưng tôi chắc rằng người Côrinhtô có thể hiểu được. Người Côrinhtô nói rằng họ thuộc về Phaolô, nhưng Phaolô nói ngược lại : không phải họ thuộc về Phaolô nhưng Phaolô thuộc về họ. Có nghĩa là thay vì nghĩ rằng Phaolô là "lãnh tụ" thì hãy coi Phaolô như " người tôi tớ". Đức Chúa Trời đã ban cho Hội thánh những tôi tớ phục vụ như là những phước hạnh dành cho Hội thánh.
    Thế rồi tư tưởng của Phaolô đi xa hơn. Sau khi đã nhấn mạnh ý tưởng trên, bây giờ ông kết luận với một ý nghĩa thần học sâu sắc hơn. Chúa Cứu Thế đã đến trong trần gian và khiến mọi sự đều thuộc về Ngài bao gồm cả thế giới sự sống, sự chết, hiện tại và tương lai. Và trong Đấng Christ cũng như trong Hội thánh là cộng đồng mới mà Ngài thiết lập, Đức Chúa Trời đã phục hồi quyền cai trị của nhân loại trên thế giới. Họ không phải là những người sở hữu mọi sự nhưng đúng hơn họ là người cai trị trên mọi sự. Cho dù là thế gian, sự sống sự chết, hiện tại hay tương lai cũng không thể chế ngự con dân của Đức Chúa Trời. Trong Đấng Christ người tín đồ có quyền tự do trên tất cả mọi sự đó.
    Ý tưởng của Phaolô thật là mạnh mẽ. Điều Đức Chúa Trời đã làm trong Chúa Cứu Thế có những chiều kích bao la trong cả thế giới. Do đó sự chia rẽ nhỏ nhen vì có những người lãnh đạo trở nên thật là vô lý! Bạn có thể kết thúc việc nghiên cứu phân đoạn này bằng cách đọc sách Barrett trang 95 và 96
    8. Xem lại bài học này cho đến khi bạn có thể theo dõi cách lập luận trong mỗi phân đoạn. Sau đó hãy điền vào những câu dưới đây.
    a. Trong 3:5-9 Phaolô ngỏ lời nói ......và dạy họ cách đối xử như thế nào với
    b. Trong 3:10-15 Phaolô ngỏ lời với ......và khuyên họ nên cẩn thận khi xây dựng.
    c. Trong 3:16-17 Phaolô nói với......rằng họ là ......của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô
    d. Trong 3:18-23 Phaolô kết thúc lý luận của ông bằng cách vạch ra sự ngu dại của ......và ......
    Hội thánh và các sứ đồ
    4:1-21
    Phaolô đã kết thúc lý luận của ông một cách rất thích đáng. Vậy tại sao ông còn tiếp tục nói nữa? Rõ ràng là đối với Phaolô vấn đề chưa hoàn toàn kết thúc. Bạn có thể nhớ lại rằng người Côrinhtô tỏ ra rất vui vẻ với triết lý khôn ngoan và sự tranh cãi của họ có màu sắc bài bản giáo lý của Phaolô.
    9. Xem lại 1:10, 3:23. Hãy liệt kê những đoạn văn hàm chứa những lời phê bình của người Côrinhtô. Về Phalô và chi biết những nhận xét của bạn về những đoạn đó. Hãy so sánh câu trả lời của bạn với câu trả lời của tôi trước khi bạn tiếp tục bài học.
    Vấn đề Phaolô phải đối diện ở đây là làm sao có thể bênh vực quyền sứ đồ của ông đối với Hội thánh mà vẫn không gây tổn thương đến sự hiệp nhất giữa ông và Apôlô. Cách Phaolô thực hiện điều này quả là tài tình.
    10. Xem 4:1-21 ít nhất ba lần. Nếu có thể được, hãy đọc đoạn này trong 3 bản dịch khác nhau. Hãy tóm tắt ý mỗi đoạn về Phaolô và về người Côrinhtô.
    Trước khi chúng ta tiếp tục thực hiện việc giải kinh đối với đoạn Kinh thánh này, tôi muốn nhắc lại một lần nữa điều chúng ta sẽ thực hiện. Bạn có hiểu lý do tôi đưa ra 2 bài tập ở trên không? Bài tập 9 có mục đích để bạn thấy rõ rằng 4:1-21 thực sự thuộc về đoạn 1 -3 khi làm bài tập 10 bạn sẽ có thể hiểu toàn bộ đoạn 4 nói về điều gì. Chỉ cần đọc đoạn này bạn sẽ có thể thấy được ý nghĩa. Mục đích của tôi là giúp bạn học cách đọc với sự tập trung.
    4:1-5 phân đoạn này được dùng để nêu lên những áp dụng về những điều đã nói ở trên và như một đoạn chuyển ý dẫn đến một phân đoạn khác.
    11. Đọc qua phân đoạn này một lần nữa
    a. Những từ ngữ nào diễn tả ý chính của phân đoạn? ......
    b. Liệt kê tất cả những từ ngữ liên quan đến đề tài. ......
    Chúng ta sẽ theo dõi lập luận của phân đoạn này. Phaolô bắt đầu bằng cách nhắc lại ý tưởng ông đã nói ở trên (xem 3:5-9). Các sứ đồ cũng là những tôi tớ hay người quản gia. Người quản gia là người chịa trách nhiệm sắp xếp mọi việc trong nhà của người chủ. Trong câu 2, Phaolô nói rằng điều mà người chủ trông mong nơi người quản gia ấy là sự trung tín. Nhưng Phaolô nói tiếp : "về phần tôi hoặc bị anh em xử đoán hoặc bị tòa án của loài người xử đoán tôi chẳng lấy làm quan hệ gì. Chính tôi cũng chẳng xử đoán mình nữa" (4:3).
    Như thế phải chăng Phaolô không quan tâm đến suy nghĩ của người khác hoặc tiếng lương tâm của ông? Không phải vậy! Điều Phaolô muốn nói là chỉ có chủ nhà mới là người duy nhất có thẩm quyền xét đoán người quản gia. Phaolô là tôi tớ của Đức Chúa Trời nên họ không có quyền xét đoán ông. Sau đó ông kết luận với một lời nhắc nhở nhẹ nhàng rằng thật ra ngày phán xét sẽ đến.
    Như thế trong phân đoạn này Phaolô đã đem điều ông nói về vai trò của các lãnh đạo trong Hội thánh áp dụng vào sự phê phán của người Côrinhtô đối với ông. Sau đó ông sẽ tiếp tục sự áp dụng một cách rất cá nhân. Ngoài ra ông cũng sẽ trình bày đề tài của ông trong một cách thức sẽ nhắc cho họ nhớ lại giáo lý về thập tự giá.
    4:6-13 Mặc dù bản NIV chia phần này ra làm 2 phân đoạn nhưng tôi sẽ giải nghĩa chúng cùng một lượt như Barrett đã làm. Điều này Phaolô muốn nói đến trong phân đoạn này khá rõ ràng. Còn tại sao ông nói đến điều này thì cần phải tìm hiểu nhiều hơn.
    Phaolô bài bác tính kiêu ngạo của người Côrinhtô. Từ ngữ Kinh thánh dịch là " khoe mình" cũng được dùng trong 5:28:1. Các bạn hãy đọc những đoạn đó. Từ ngữ này có nghĩa là " khoe mình". Vậy là họ đã khoe mình, so sánh người tôi tớ này với người tôi tớ khác. Tuy nhiên Phaolô đã hỏi họ một câu thật quyết liệt : "Điều gì ngươi có mà ngươi chưa nhận lãnh?" Làm thế nào một người chẳng có điều khác ngoài ân sủng được Đức Chúa Trời ban cho lại có thể khoe mình về điều họ có. Tuy nhiên, họ là những người đó. Đó là điều mà Phao Lô công kích.
    Hãy chú ý cách Phaolô bẻ bác sự kiêu ngạo của họ. Bằng cách cho họ thấy bản chất của chức vụ sứ đồ. Ông đã làm điều này bằng cách vạch rõ sự tương phản giữa ông và người Côrinhtô. Ý tưởng của ông muốn nêu lên ở đây là rất cần thiết trong mối quan hệ giữa Phaolô và Hội thánh Côrinhtô. Điều này có thể được thấy trong bài tập sau đây.
    12. Xem ICo1Cr 4:10-13, IICo 2Cr 6:4-1011:23-28. Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn những dấu hiệu của một vị sứ đồ. Gạch dưới những dấu hiệu được lập đi lập lại.
    Tại sao Phaolô nhắc đến điều đó ở đây ! Lý do chính là vì vấn đề thần học và điều đó nhắc lại ICo1Cr 1:18-3:4. Những người Côrinhtô đã quên đạo thập tự giá, thay vào đó họ đã có những thần học sai lầm mà chúng ta có thể gọi là giáo lý về sự vinh quang. Chúng ta sẽ nói kỹ hơn về giáo lý này trong phần cuối của bài học.
    Ở đây chúng ta chỉ cần ghi nhận rằng Phaolô đang áp dụng giáo lý về thập tự giá vào đời sống thường ngày. Nó hoàn toàn tương phản với quan niệm của người Côrinhtô về nếp sống Cơ đốc. Đối với Phaolô, người hầu việc Chúa là tôi tớ của Chúa cứu thế Jesus điều đó có nghĩa là phải đi theo con đường của thập tự giá như lời một bài Thánh ca : " Con đường Cứu Chúa đã đi, phần tôi người đầy tớ của Ngài lẽ nào lại chẳng noi theo?
    Ấy chính là bởi vì Phaolô đã không sống theo điều họ mong đợi cho nên họ đã chống đối ông. Ông yếu đuối, ông không ăn nói hùng biện, ông không nhận trợ cấp tài chính và ông đã không có vẻ hoặc hành động như 1 sứ đồ thường làm theo cái nhìn của họ. Hãy chú ý câu 8 -10 thật là mỉa mai. Có nghĩa là tất cả những điều Phaolô nói ở đây đều đúng theo mắt họ. Nhưng thực tế không phải như vậy. Rồi trong câu 11 -13 Phaolô nói thêm chi tiết về sự yếu đuối của ông với tư cách đầy tớ của Đấng Christ.
    Quan niệm của Phaolô về chức vụ và sự hầu việc Chúa phù hợp với sự dạy dỗ của Chúa Jesus. Hãy đọc những đoạn Kinh thánh sau đây và ghi nhận những điểm tương đồng (Mat Mt 23:8-11, Mac Mc 10:42-45, LuLc 6:20-31GiGa 13:1-17. Có phải Chúa Jesus từng giảng dạy về sự khiêm nhường và thái độ phục vụ như một người tôi tớ không ? Quả đúng như vậy.
    Như thế Phaolô đã liên kết các yếu tố của vấn đề lại với nhau và trả lời chúng qua giáo lý về thập tự giá. Sự yếu đuối của Đức Chúa Trời thì mạnh mẽ hơn người ta và khiến sự khôn ngoan con người trở nên ngu dại. Sự phân chia bè nhóm theo các lãnh đạo là bắt nguồn từ cái nhìn cũ kỹ của trần gian và cũng là ngu dại. Việc họ chống đối lại Phaolô cũng là do những quan niệm sai lầm đó. Nếp sống của một vị sứ đồ như Phaolô phản ảnh chân thật Phúc âm mà ông rao giảng. Người đời có thể cho là ông điên dại nhưng ông sống trong hành động của Đức Thánh Linh và thi hành công việc của Đức Chúa Trời trong thế giới này.
    4:14-21 Bây giờ Phaolô đi đến ý tưởng cuối cùng. Từ đầu thư đến giờ Phaolô đã điều chỉnh lại những thái độ sai lầm bắt nguồn từ những giáo lý không đúng đắn. Ông cũng nhấn mạnh chức vụ phục vụ và bình đẳng của ông với những người hầu việc Chúa khác. Nhưng Phaolô có thẩm quyền gì để viết một lá thơ như vậy? Tại sao những người ở Côrinhtô nghe theo Phaolô ? Chính vì thế ông phải tái xác định thẩm quyền sứ đồ của ông, Tức là thẩm quyền đã chấn chỉnh những sai lầm trong Hội thánh.
    13. Đọc cẩn thận 4:14 -21.
    a. Những ẩn dụ gì được dùng trong phân đoạn này?......
    b. Liệt kê tất cả những từ ngữ liên quan đến phép ẩn dụ ở đây?......
    Sứ đồ Phaolô đã sáng lập Hội thánh Côrinhtô. Như vậy ông là cha của họ trong cùng một cách thức như ông đã từng nói trước đó rằng ông đã " trồng" họ và " đặt nền móng". Hình ảnh này rất phù hợp với những điều ông muốn nói với họ trong phần kết luận này. Ông không muốn làm họ phải hổ thẹn mặc dù đáng ra họ phải biết hổ thẹn. Thay vào đó ông đã nhắc nhở họ như một người Cha khuyên bảo con cái mình. Ông khuyên giục họ. Ông không ra lệnh hoặc bắt buộc họ phải vâng theo sự khuyên giục của ông nhưng hãy bắt chước " Cha thuộc linh của họ". Có nghĩa là họ sẽ noi theo Phaolô trên con đường thập tự giá. Và để nhắc nhở điều đó ông đã sai Timôthê đến để nhắc lại đuờng lối của ông trong Chúa Jesus Christ.
    Nhưng có một số con cái đã cư xử ngược lại. Họ giống như những đứa con phản loạn chống lại cha mẹ. Họ đã tuyên bố bừa bãi và gây nên những tổn thương bởi lời nói của họ. Nhưng lại không có quyền năng để hỗ trợ cho lời nói : Những người này tưởng rằng Phaolô sẽ không còn đến với họ nữa và như thế việc gì phải nghĩ đến Phaolô nữa. Nhưng Phaolô nói rằng ông sẽ trở lại cùng Hội thánh. Vậy ông sẽ trở lại trong thái độ nào. Trong sự sửa phạt hay trong tình yêu thương và sự nhu mì. Họ sẽ phải chọn lựa giữa con đường của thập tự giá và con đường của sự kiêu ngạo dựa trên khôn ngoan của người đời.
    14. Ôn lại phần bài học trong sách hướng dẫn học tập về phân đoạn 4:1-21. Hãy soát lại câu trả lời của bạn về bài tập số 10 và sửa lại các câu trả lời của bạn nếu cần thiết. Sau đó hãy khoanh tròn mẫu tự đứng trước câu trình bày đúng nhất ý tưởng của mỗi phân đoạn.
    a. 4:1-5
    1) Người Côrinhtô nên coi Phaolô và Apôlô như là những quản gia trong nhà Đức ChúaTrời
    2) Người Côrinhtô không nên xét đoán Phaolô bởi vì họ không thể xét đoán tôi tớ của một người khác.
    b 4:6 -13
    1) Người Côrinhtô nên tra xem Kinh thánh và họ sẽ không có thái độ khoe khoang về sứđồ này và gièm chê sứ đồ khác.
    2) Người Côrinhtô không nên khoe khoang về người tôi tớ Chúa này khi so sánh với người tôi tớ Chúa khác bởi vì tất cả các tôi tớ Chúa và những người Côrinhtô đều phải đi con đường của thập tự giá.
    c 4:14 -21
    1) Phaolô sẽ trở lại Côrinhtô và tái xác định thẩm quyền sứ đồ của ông
    2) Người Côrinhtô nên bắt chước Phaolô như con cái bắt chước cha mẹ mình nếu không những kẻ chống nghịch sẽ " phải chịu roi vọt".

    MỘT SỐ VẤN ĐỀ NỘI DUNG
    6:1-7:40
    Trong phần này chúng sẽ tìm hiểu cách vắn tắt hai vấn đề liên quan đến việc giải kinh trong 4:6-7 mà ở phần chúng ta đã lướt qua.
    4:6 khi đọc phân đoạn này 3 lần theo yêu cầu của bài tập số 10, bạn có dịp so sánh nhiều bản dịch khác nhau như tôi đã đề nghị trong bài học 2 không ? Nếu đã làm như vậy, rất có thể bạn đã nhận ra vấn đề ở đây. Hãy đọc cẩn thận cách dịch của phần đầu câu 6. Tất cả đều bắt đầu như thế này: "Hầu cho anh em học đòi chúng tôi". Nhưng hãy xem những phần tiếp theo là gì:
    Bản King James " ......trong chúng ta chớ suy nghĩ về con người vượt qua lời đã chép"
    NIV "......từ chúng tôi ý nghĩa của câu nói, "Chớ vượt quá lời đã chép"
    RSV ......vì cớ chúng tôi hãy sống theo Lời Kinh Thánh
    TEV "......Lời này có nghĩa gì "Hãy quan sát những qui luật đúng đắn"
    Philips "...... từ những điều tôi đã nói ở trên.
    15. Đọc sách Barrett bình luận về 4:6 (trang 1ô -107) và hãy trả lời những câu hỏi sau vào vở của bạn.
    a. Tại sao Barrett cho rằng đây là một câu trích dẫn.
    b. Liệt kê những cách giải nghĩa khác nhau về ý nghĩa của câu " vượt qua điều đã chép"
    Các bạn sẽ thấy rằng các bản dịch có điều khác nhau. Rất khó để đoán định Phaolô muốn nói gì ở đây. Điều có thể chắc chắn được là " Chớ vượt qua điều đã chép" là một câu trích dẫn. Rất có thể câu này ngụ ý đến Kinh Cựu ước, nhưng cũng có thể đó chỉ là một câu ngạn ngữ thông dụng lúc bấy giờ. Dù thế nào đi nữa, điều mà Phaolô muốn họ học nhưng được nói rõ trong câu kế tiếp " Chỗ sinh lòng" kiêu ngạo theo phe người này nghịch cùng kẻ khác".
    4:7 vấn đề ở đây liên quan đến ý nghĩa của câu hỏi thứ nhất mà Phaolô nêu lên " Ai phân biệt ngươi với kẻ khác?"
    16. Xem sách Barrett trang 107 -108 và suy nghĩ về câu hỏi nêu trên.
    a. Bằng từ ngữ riêng của bạn, hãy viết ra 2 câu trả lời mà rất có thể Phaolô có trong ý tưởng của ông.
    ......
    b. Bạn nghĩ câu trả lời nào đúng hơn tại sao? ......
    Theo văn cảnh tôi nghĩ rằng Phaolô tìm cách loại bỏ sự phân biệt giữa vòng các Cơ đốc nhân. Ông có nói đến sự khác biệt trong vai trò của các Cơ đốc nhân trong các đoạn 12 -14. Nhưng ở đây ông muốn những người Côrinhtô nhìn thấy họ đều bình đẳng với nhau trong thập tự giá. Hai câu hỏi kế tiếp dường như đã xác định ý nghĩa này. Cả 2 câu hỏi này đều trông đợi một câu trả lời phủ định. Tất cả chúng ta đều là những kẻ nhận lãnh ân sủng của Đức Chúa Trời.
    HỘI THÁNH NHƯ LÀ MỘT CỘNG ĐỒNG CỦA ĐỨC THÁNH LINH
    3:16-17
    Barrett 90-92
    Xem lại việc giải kinh của ICôrinhtô 3:16-17 trong phần trước của bài học này. Bạn để ý sẽ thấy tôi nghĩ phân đoạn này là khúc quan trọng của đoạn 3. Trong phần này của bài học tôi sẽ trình bày tại sao.
    Chúng ta phải nhấn mạnh lần nữa rằng Phaolô không nói về các Cơ đốc nhân riêng rẽ. Trong 6:19 Phaolô dùng hình ảnh này áp dụng cho Cơ đốc nhân cách riêng nhưng điều đó hoàn toàn khác với chỗ này. Ở đây cả văn cảnh và nội dung của đoạn văn đầu cho thấy rằng Phaolô muốn nói Hội thánh chính là đền thờ của Đức Chúa Trời. Trong IICo 2Cr 6:16-18 Phaolô lại sử dụng hình ảnh này với cùng một cách thức để truyền cho người Côrinhtô không được thờ lạy hình tượng.
    17. Đây không phải là hình ảnh duy nhất Phaolô dùng để nói về Hội thánh. Hãy đọc những phân đoạn Kinh thánh sau đây và ghi nhận những hình ảnh được sử dụng :
    a ICo1Cr 3:9 ......
    b Eph Ep 2:19-21 ......
    c ICo1Cr 5:22-23 ......
    Việc Phaolô sử dụng hình ảnh về đền thờ đặc biệt thích hợp ở đây. Thứ nhất ông đã sử dụng ám dụ " Toà nhà" trong phân đoạn trước việc dùng hình ảnh đền thờ ở đây là một sự bổ sung tự nhiên. Thứ hai, đây là hình ảnh phổ biến trong sự trông đợi của người Do Thái về Đấng Mêsia. Người Do Thái đang trông đợi sự phục hồi đền thờ trong thời cuối cùng. Phaolô chỉ đơn giản áp dụng hình ảnh này cho dân tộc mới của Đức Chúa Trời thay vì áp dụng vào một tòa nhà vật chất. Thứ ba và là điều quan trọng nhất, đền thờ là nơi Đức Chúa Trời cư ngụ. Điều khiến Hội thánh trở nên đền thờ ấy là sự kiện Đức Chúa Trời hằng sống cư ngụ giữa Hội thánh bởi Thánh Linh của Ngài. Như vậy Phaolô xem Hội thánh như một cộng đoàn của Đức Thánh Linh, nơi có Đức Thánh Linh cư trú khi Hội thánh nhóm lại nhân danh Chúa.
    Khi Phaolô nói rằng Hội thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô thì bạn phải hiểu rằng ông không muốn nói đến 2 tòa nhà vật chất. Thực ra Hội thánh ở Côrinhtô đã nhóm lại tại nhà của Titius Justus (Cong Cv 18:7). Phaolô không nói về căn nhà này, ông muốn nói về Hội thánh tức là cộng đoàn của những người tin Chúa Jesus tại Côrinhtô. Họ chính là đền thờ của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô, hoàn toàn tương phản với những đền miếu của các vị thần khác tại Côrinhtô. Nói theo cách của tôi thì Hội thánh chính là phương cách Đức Chúa Trời bày tỏ sự hiện diện của Ngài tại thành phố Côrinhtô. Hội thánh chính là phương thế duy nhất để Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho người ngoại đạo tại Côrinhtô. Đây chính là nơi Đức Chúa Trời tạo dựng nên một dân tộc mới cho Ngài và cũng là nơi duy nhất thể hiện sự cứu rỗi của Ngài.
    Điều này giải nghĩa tại sao Đức Thánh Linh đã cảm thúc Phaolô sử dụng những từ ngữ rất mạnh mẽ trong câu 17. Những tín đồ tại Côrinhtô đang dường như phá hoại điều vô cùng quý báu đối với Đức Chúa Trời. " Thánh" trong câu 17 không chỉ có nghĩa là sự thánh khiết về mặt đạo đức, nhưng nó còn có nghĩa là được biệt riêng để trở nên điều quý báu đối với Đức Chúa Trời. Thế nên, sự phá hoại Hội thánh bởi sự chia rẽ của họ đã gây tổn hại cho chính nghĩa của Đức Chúa Trời. Nó gây thiệt hại cho đền thờ duy nhất của Đức Chúa Trời hằng sống tại thành Côrinhtô và Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt những ai phá hoại đền thờ của Ngài. Nhận thức được Hội thánh là cộng đoàn của Đức Thánh Linh sẽ là điều đặc biệt quan trọng giúp chúng ta hiểu các đoạn khác trong 2 thơ Côrinhtô. Chúng ta sẽ trở lại điều này trong những trường hợp khác.
    18. Ôn lại phần này. Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn những điều sau đây.
    a. Cho biết 3 lý do giải thích hình ảnh về đền thờ là thích hợp ở đây:
    b. Cho biết điều gì khiến Hội thánh trở nên đền thờ của Đức Chúa Trời.
    MỘT VÀI Ý KIẾN CÓ TÍNH CÁCH GIẢI KINH
    Trước khi học phần này, bạn hãy ôn lại cẩn thận phần nói về "từ việc giải kinh đến khoa giải kinh" trong bài 2.
    Định nghĩa việc " áp dụng mở rộng". Ở đây tôi muốn nói đến một nguyên tắc về khoa giải kinh. Nó có liên quan đến việc " áp dụng mở rộng: và liên hệ mật thiết với vấn đề " ý nghĩa sâu xa hơn"
    Việc áp dụng mở rộng có nghĩa là gán cho đoạn văn Kinh thánh một ý nghĩa, hoặc mở rộng việc áp dụng đoạn Kinh thánh đó đến nỗi vượt quá ý định của tác giả.
    Thí dụ ICo1Cr 3:10-15 nói với những người có trách nhiệm xây dựng Hội thánh tại Côrinhtô trên nền tảng là Đấng Christ mà Phaolô đã thiết lập khoa giải kinh chính xác đòi hỏi rằng đây cũng phải là ý nghĩa của đoạn văn trong thời đại ngày nay. Có nghĩa là qua đoạn văn này lời của Chúa vẫn muốn nhắc nhở những người lãnh đạo Hội thánh địa phương. Việc "áp dụng mở rộng" đối với đoạn văn Kinh thánh này có thể xảy ra trong 2 cách. Một cách thì đúng và cách kia thì hoàn toàn sai. Cách áp dụng đúng là hiểu rằng đoạn văn Kinh thánh này ngỏ lời nói tất cả những người tại Hội thánh địa phương có trách nhiệm gây dựng chẳng hạn như chấp sự, trưởng lão, giáo viên trường Chúa nhật...... Bạn có thể hiểu tại sao Phaolô không nhắc đến giáo viên trường Chúa Nhật bởi vì thời đó chưa có trường Chúa nhật. Nhưng việc áp dụng vẫn đúng bởi vì các tình huống đều có sự tương đồng và những lời kêu gọi trong đoạn này thích hợp với tất cả những ai làm việc để xây dựng Hội thánh gồm luôn cả những giáo sư trường Kinh thánh!
    Tuy nhiên sự áp dụng thứ hai thì hoàn toàn sai lầm. Chẳng hạn, việc đem áp dụng đoạn văn này vào đời sống cá nhân tín đồ và việc gây dựng đời sống tin kính của cá nhân tín đồ đặt nền tảng trên Đấng Christ thì hoàn toàn lạc khỏi ý tưởng chính của đoạn văn. Cũng vậy, hiểu 3:16-17 có ý kêu gọi Cơ đốc nhân ngày nay đừng làm gì gây tổn hại cho thân thể của họ là hoàn toàn sai trong khi cách áp dụng. Tại sao chúng ta lại nói như vậy khi cả hai sự giải nghĩa đều đúng với Kinh thánh? Có nghĩa là chúng vẫn phản ảnh chân lý được đề cập đến trong những đoạn khác của Kinh thánh. Vậy tại sao việc áp dụng những ý nghĩa đó ở đây lại không đúng? Đây là 4 lý do giải thích tại sao việc áp dụng như vậy là sai?
    1. Quy luật đầu tiên của khoa giải kinh là một đoạn văn Kinh thánh không thể có những ý nghĩa là tác giả của nó không muốn nói như vậy vào thời đại của ông. Bởi vì Phaolô định nói về các cá nhân tín đồ trong đoạn văn này nên nó không thể có ý nghĩa đó đối với chúng ta ngày hôm nay.
    2. Bởi vì cả 2 đoạn Kinh thánh này bàn đến những vấn đề có những sắc thái tương đáng với hoàn cảnh thời nay nên không cần phải tìm kiếm những bối cảnh nào khác để áp dụng 2 đoạn văn này chẳng hạn, ngày nay chúng ta vẫn có các Hội thánh, các lãnh đạo trong Hội thánh và ngày nay chúng ta vẫn phải cẩn thận trong cách gây dựng Hội thánh. Đây chính là ý nghĩa của đoạn văn này chứ không phải là việc gây dựng đời sống cá nhân tín đồ.
    3. Trong trường hợp việc " áp dụng mở rộng" vẫn phù hợp với chân lý được mặc khải trong những phần Kinh thánh khác, hãy sử dụng những đoạn văn Kinh thánh đó để dạy chân lý này chứ không nên cương giải Kinh thánh. Thí dụ 6:20 có nói đến thân thể của tín đồ là đền thờ của Đức Thánh Linh. Tuy nhiên trong trường hợp việc áp dụng lại không được tìm thấy ở đâu trong Kinh thánh thì bạn sẽ gặp khó khăn lớn. Bởi vì như thế bạn đã gán cho Đức Chúa Trời điều mà Ngài không hề phán dạy.
    4. Cuối cùng lý do quan trọng nhất khiến chúng ta không thể gán cho những đoạn văn này ý nghĩa mà chúng không hề muốn nói, ấy là chân lý được nêu lên trong đoạn văn này là vô cùng quan trọng đối với chúng ta ngày nay. Thí dụ 3:16-17 là một đoạn văn Kinh thánh rất quan trọng nói về ý nghĩa của Hội thánh địa phương. Hội thánh địa phương chính là đền thờ của Đức Chúa Trời, là cộng đồng của những người tin Chúa có Đức Thánh Linh ngự trị. Như thế Hội thánh là thánh khiết đối với Đức Chúa Trời. Hội thánh chính là sự biểu hiện của Đức Chúa Trời ở địa phương mà Hội thánh tồn tại. Hội thánh phải là nơi mà những tâm hồn muốn tìm kiếm Chúa có thể gặp được Ngài, nơi những tội nhân tìm được sự tha thứ, nơi những người có tấm lòng tan vỡ tìm được sự chữa lành và là nơi những người cô đơn tìm thấy tình yêu thương. Ai phá hoại Hội thánh, tức là làm cho Hội thánh không còn đầy đủ chức năng đó nữa, sẽ phải chịu sự đoán phạt của Đức Chúa Trời.
    Như thế việc " áp dụng mở rộng" là đúng khi việc áp dụng đó liên hệ đến những hoàn cảnh có sự tương đồng. Việc áp dụng sẽ là sai lầm khi chúng ta gán cho đoạn văn Kinh thánh ý nghĩa hoàn toàn khác với ý nghĩa nguyên thủy của nó.
    19. Ôn lại phần bài học nói về khoa giải kinh. Khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu trình bày đúng nhất ý nghĩa của 3:16-17 đối với Hội thánh ngày nay. Đây là lời Đức Chúa Trời dành cho :
    a) Hội thánh địa phương với tư cách là một cộng đoàn của Đức Thánh Linh ở địa phương mà Hội thánh tồn tại
    b) Hội thánh toàn cầu không nên chia rẽ thành các giáo phái.
    c) Những tổ chức Cơ đốc quốc tế không nên phá hoại Hội thánh địa phương bằng cách áp dụng những yếu tố ngoại lai trên Hội thánh.
    20. Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn:
    a. Định nghĩa việc "áp dụng mở rộng"
    b. Nêu thí dụ về việc " áp dụng mở rộng" sai
    c. Nêu lên bốn lý do khiến không thể chấp nhận việc " áp dụng mở rộng" sai.
    THẦN HỌC SAI LẦM CỦA NGƯỜI CÔRINHTÔ
    Trong khi thực hiện việc giải kinh phân đoạn 4:6-13 chúng ta đã ghi nhận rằng người Côrinhtô đã thay thế " giáo lý thập tự giá" của Phaolô bằng " giáo lý về sự vinh hiển". Việc này cần giải thích rõ ràng hơn và tôi muốn làm điều đó trong phần bài học này bởi vì giáo lý này ẩn tàng phía sau rất nhiều vấn đề ở Côrinhtô. Tuy nhiên vấn đề này rất phức tạp và cần có sự giải thích về bối cảnh gây nên vấn đề này.
    Ghi chú: Tôi xin giải thích đôi chút về điều tôi thực hiện trong bài học này bởi vì nó có thể hơi khác một chút. Sách chú giải của Barrett có một bài tập về vấn đề này. Nhưng trong bài tập đó có nhiều điều hơi khó hiểu. Bởi vậy tôi muốn giải thích cặn kẽ thêm về bối cảnh vấn đề. Hãy đọc kỹ phần này có lẽ bạn muốn đọc lại và tham khảo những khúc Kinh thánh có liên quan. Nhưng khoan làm như vậy đã. Hãy đọc một lần và cố tìm hiểu ý nghĩa. Sau này tôi sẽ yêu cầu các bạn ôn lại bằng cách xem lại sách Barrett trong ánh sáng những điều tôi đã giải nghĩa. Bài tập cuối cùng nhằm giúp đỡ các bạn nhớ lại những ý tưởng chính.
    21. Xem phần bình luận về 4:8-10 trong sách của Barrett nhằm trang 108 - 111. Tìm hiểu ý nghĩa từ ngữ " giáo lý về thời sau rốt" " ngộ đạo thuyết" và " sự sốt sắng" trong phần giải nghĩa các thuật ngữ ở cuối tài liệu học tập. Nơi trang 109 Barrett trình bày điều ông cho là vấn đề thực sự ở Côrinhtô. Hãy ghi chép lời Barrett trưng dẫn của Wendland. Đây là điều chúng ta sẽ cố gắng giải thích ở đây.
    Trước hết các bạn cần biết rằng nền tảng thần học của toàn bộ Tân ước có liên quan đến thời sau rốt, Thần học về thời sau rốt có liên quan đến ngày cùng tận khi Đức Chúa Trời chấm dứt thời đại này hầu hết người Do Thái trong thời đại của Chúa Jesus đều chịu ảnh hưởng của giáo lý về thời sau rốt. Điều này có nghĩa là họ cho rằng họ đang sống trong thời đại cuối cùng khi Đức Chúa Trời sẽ bước vào lịch sử và đưa mọi sự đến chỗ kết thúc để khởi đầu "một thời đại mới". Thời sau rốt được gọi là " Eschaton" trong tiếng Hylạp.
    HI VỌNG VỀ THỜI KỲ SAU RỐT
    Ngày cuối cùng:
    Thời đại nầy (Thời đại của Satan)
    Tội lỗi, Bệnh tật, Quỉ ám, Linh gian ác khống chế
    Những Cơ đốc nhân của Hội thánh đầu tiên thừa hưởng cách nhìn có tính cách thời sau rốt này từ người Do thái. Họ đã có cái nhìn như vậy bởi vì đối với họ biến cố Chúa Jesus đến trần gian, chịu chết, sống lại và sai Thánh Linh đến tất cả đều liên quan đến hy vọng của họ về chung kết của thế giới.
    Sự chung kết của thế giới cũng là một sự khởi đầu mới - Sự khởi đầu của thời kỳ thuộc về Đức Chúa Trời, thời của Đấng Mêsia, thời đại cũng được nói đến như " vương quốc của Đức Chúa Trời", có nghĩa là thời trị vì của Đức Chúa Trời. Thời đại mới này là thời đại của sự công nghĩa (EsIs 11:4-5), khi đó con người sẽ sống trong hòa bình (EsIs 2:2-4). Đó cũng là thời của sự tuôn đổ đầy dẫy Đức Thánh Linh (Gio Ge 2:28-30) tức là thời kỳ mà giao ước mới được Giêrêmi đề cập đến sẽ được ban bố (Gie Gr 31:31-34, 32:38-40), tội lỗi và bệnh tật sẽ không còn nữa (33:6-8), và ngay cả những tạo vật trong thế giới cũng sẽ vui mừng trong thời đại mới (EsIs 11:6-9).
    Do đó khi Giăng Báptít công bố thời cuối cùng đã gần kề và xức dầu cho Đấng Mêsi thì niềm hy vọng về cõi lai thế đạt đến điểm cao nhất của nó. Đấng Mêsi sắp xuất hiện, tức là Đấng đánh dấu sự khởi đầu của thời đại mới trong Đức Thánh Linh (LuLc 3:7-17).
    Chắc bạn đã biết rõ câu chuyện Chúa Jesus đã đến công bố vương quốc của Đức Chúa Trời đã gần kề đánh dấu bằng chức vụ của Ngài (Mac Mc 1:14-15, LuLc 17:20-21). Ngài đã xua đuổi ma quỷ, thực hiện các phép lạ, tiếp đón những tội nhân và kẻ hoang đàng với sự nhơn từ. Tất cả những điều đó báo hiệu rằng thời cuối cùng đã bắt đầu (LuLc 11:20 Mat Mt 11:2-6 LuLc 4:21 15:1-2). Mọi người đều chăm chú vào Chúa Jesus để xem Ngài có thực sự là Đấng phải đến không.
    Phải chăng Ngài đến và đem lại thời kỳ của Đấng Mêsia với tất cả vinh quang của nó? Nhưng thật bất ngờ khi Chúa Jesus bị đóng đinh trên thập tự giá khiến mọi ánh sáng hy vọng tắt ngúm.
    Nhưng không phải như vậy! Đó là một sự tiếp diễn vinh hiển. Vào ngày thứ ba sau khi chết Ngài đã sống lại từ trong kẻ chết và hiện ra cho các môn đồ. Các môn đồ tin rằng Ngài" Phục hồi nước Ysơraên" (Cong Cv 2:16). Nhưng Ngài không làm như vậy mà trở về cùng Đức Chúa Cha và tuôn đổ Thánh Linh một cách dư dật. Chính ở điểm này sự hiểu lầm bắt đầu. Cả đối với thời đầu tiên cũng như đối với chúng ta. Chúa Jesus công bố nước Trời đã đến qua sự xuất hiện của Ngài. Sự giáng lâm của Thánh Linh một cách dư dật và đầy quyền phép kèm theo những dấu kỳ phép lạ và việc thiết lập giao ước mới là những dấu hiệu cho biết thời đại mới đã bắt đầu. Tuy nhiên thời chung kết của đời này vẫn chưa xảy ra. Làm thế nào Hội thánh đầu tiên có thể dung hòa được những điểm này?
    Ngay từ đầu, với bài giảng của Phierơ trong Công vụ đoạn 3 Hội thánh đã nhận ra rằng Chúa Jesus đã giáng thế không phải để dắt đưa chúng ta đến điểm chung kết của mọi sự nhưng là sự khởi đầu của thời kỳ sau rốt. Nhờ thế Hội thánh đi đến chỗ nhận ra rằng qua sự chết, sự sống lại của Chúa Jesus và sự tuôn đổ Thánh Linh, những phước hạnh và ân tứ của thời tương lai đã xuất hiện. Do đó, trong một ý nghĩa có thể nói là thời cuối cùng đã đến rồi. Nhưng trong khía cạnh khác thì cuối cùng vẫn chưa hoàn tất. Như vậy là thời cuối cùng đã bắt đầu nhưng lại chưa hoàn tất. Vậy nên, những tín đồ đầu tiên tự nhận mình là những người ở vào thời kỳ cuối cùng. Họ là những người " ở giữa các thời đại". Có nghĩa là giữa thời điểm bắt đầu của thời cuối cùng và ngày kết thúc của mọi sự. Ở chung quanh bàn tiệc thánh, Hội thánh đầu tiên luôn nhắc nhở ý niệm về thời buổi cuối cùng qua việc tuyên bố " sự chết của Chúa cho đến khi Ngài trở lại". (ICo1Cr 11:2, 6).
    QUAN ĐIỂM CƠ ĐỐC GIÁO VỀ THỜI CÙNG TẬN
    Thời cuối cùng:
    Đã khởi đầu
    Đã hoàn thành
    THỜI HIỆN ĐẠI: đang đi qua
    THỜI SẼ ĐẾN: vĩnh cửu
    Công nghĩa ...... Công nghĩa trọn vẹn
    Bình an ...... Bình an hoàn toàn
    Khang kiện ......không bệnh tật, chết chóc
    Đức Thánh Linh ......đầy dẫy viên mãn

    Nhưng Cơ đốc nhân đầu tiên là những người đã kinh nghiệm sự tha thứ nhưng không và dư dật của Đức Chúa Trời nhưng họ vẫn chưa phải là những người trọn vẹn (Phi Pl 3:7-14). Họ là những người đã chết cho quá khứ (ICo1Cr 3:22) nhưng họ vẫn còn phải trãi qua cái chết (Phi Pl 3:20-22). Họ là người đã sống trong Đức Thánh Linh, nhưng họ vẫn còn phải sống trong thế giới và vẫn còn có thể bị ma quỷ cám dỗ (GaGl 5:16-26). Họ là những người đã được xưng công nghĩa và thoát khỏi sự định tội (RoRm 8:1), nhưng họ vẫn còn phải trãi qua sự phán xét trong tương lai (IICo 2Cr 5:10). Họ là " dân tộc tương lai" của Đức Chúa Trời. Họ là những người sẽ hưởng phần vinh quang trong tương lai. Họ đã nếm biết những phước hạnh và sống trong ánh sáng của phước hạnh tương lai nhưng họ vẫn phải sống trong niềm hy vọng nơi những phước hạnh và giá trị đó giữa một thế giới cũ.
    Nan đề đối với họ cũng như đối với chúng ta là không phải tất cả mọi người đều có thể sống trong sự giằng co giữa tình trạng vừa đã bắt đầu nhưng lại chưa hòan tất. Một số người không thể nhìn thấy rằng mọi sự đã thay đổi. Thế gian và tội lỗi vẫn còn đó. Ma quỷ cũng vẫn còn hiện diện và hành động cách mạnh mẽ trong thế giới này. Thế nên một số người chỉ nhìn thấy những điều chưa hoàn tất. Họ vẫn có lòng trông đợi Đức Chúa Trời hành động để đem lại thời chung kết nhưng lại ít có hy vọng nơi Ngài trong thời hiện tại. Theo họ, việc chữa lành của thân thể và một đời sống đầy đẫy Đức Thánh Linh đều thuộc về thời cuối cùng và chưa có trong hiện tại.
    Bây giờ chúng ta đến sai lầm của người Côrinhtô : Một số người khác lại nhấn mạnh rằng mọi sự đã hoàn tất. Đến nỗi họ dường như phủ nhận sự hiện hữu của thế giới. Họ nhìn Chúa Jesus như là Đấng vinh hiển chứ không phải Đấng chịu thương khó. Họ tin rằng điều duy nhất có thể đem lại vinh quang cho Đức Chúa Trời là các dấu kỳ và phép lạ. Bởi vì Chúa là Đấng chữa lành nên Ngài phải chữa lành tất cả mọi người. Con người không còn từng trãi yếu đuối, hay đói khát nữa.
    Đến đây bạn có thể hiểu được câu nói của Phaolô trong ICo1Cr 4:8-10 " Anh em được no đủ, được giàu có rồi. Anh em đã khởi sự cai trị; thật mong cho anh em được cai trị hầu cho chúng tôi cũng cai trị với anh em !". Chúng ta có thể gọi sai lầm này là " nhấn mạnh quá đáng vào điều đã hoàn tất". Điều này có nghĩa là họ đã nhấn mạnh quá đáng như thể là mọi việc đã thành tựu cả.
    Ngoài sự kiện đó WENDLAND còn ghi nhận 2 yếu tố khác đó là ngộ đạo thuyết và sự cuồng nhiệt cả 2 yếu tố này kết hợp tạo thành thần học của người Côrinhtô về sự vinh hiển. Ngộ đạo thuyết có nghĩa là họ đã đạt đến " sự giác ngộ" Nhưng điều đó cũng có nghĩa là họ đã chấp nhận quan điểm của ngộ đạo thuyết thế giới vật chất là không thiêng liêng trong bài học 6 và 7 chúng ta sẽ nghiên cứu xem điều này ảnh hưởng đến sự suy nghĩ của họ như thế nào.
    Đối với những người Côrinhtô thời đó, tín đồ thuộc linh là một người luôn luôn sống trong tình trạng cuồng nhiệt đầy cảm xúc. Nói tiếng mới có nghĩa là nói những thứ tiếng của các thiên sứ, nói ngôn ngữ của Thiên Đàng. Do đó, họ xét đoán những người theo họ dường như không thuộc linh trong quan niệm của họ. Ông không phải là người có tài hùng biện, ông không giảng dạy sự khôn ngoan và ông có thân thể yếu đuối. Rõ ràng ông không phải là một vị sứ đồ đem vinh quang lại cho Đấng Christ. Để đối chọi lại tất cả những điều này, Phaolô một lần nữa nhắc lại giáo lý về thập tự giá. Ông đã từng biết quyền phép của sự sống lại nhưng cũng hiểu được sự thông công trong sự thương khó của Đấng Christ. Cuộc sống trong thế giới này có nghĩa là sống trong sự giằng co giữa điều đã bắt đầu nhưng chưa kết thúc. Như thế người tín đồ của Đấng Christ sẽ không tìm kiếm sự vinh hiển bằng cách trốn tránh thập tự giá. Người đó thấy rằng vinh quang thực sự cũng như quyền phép và ân điển của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua thập tự giá. Và điều này đã trở thành đề tài chủ yếu của Phaolô trong suốt thơ IICôrinhtô. Những người Côrinhtô đã không thể hiểu được điều này. Nhưng Phaolô nhắc đi nhắc lại rằng cuộc sống một Cơ đốc nhân là cuộc sống giằng co giữa điều đã bắt đầu nhưng chưa hoàn tất. Và như thế có nghĩa là phải bước đi con đường của thập tự giá. Xem IICo 2Cr 4:7-18, 6:3-1011:16, 12:10.
    22. Xem sách Barrett trang 108-111. Hãy điền phần còn thiếu trong các câu phát biểu dưới đây:
    a. Lý do chính đưa đến giáo lý sai lầm của người Côrinhtô là họ không thể sống trong sự giằng co giữa ......và......
    b. Họ đã nhấn mạnh đến......
    c. Theo ý kiến của Wendland, những người Côrinhtô đã hiểu lầm ý nghĩa của Tin Lành và đức tin do đó đã thay đổi Tin Lành và đức tin thành......và ......
    d. Điều này đã khiến họ phê phán......bởi vì ông có quá nhiều......
    e. Họ đã ưu thích đường lối của ......hơn là đường lối của......
    Đến đây kết thúc bài học 5. Hãy ôn lại bài học cho đến khi bạn có thể nhớ được những điểm chính trong dàn bài. Sau khi đã ôn bài và chắc rằng đã nắm được ý chính của bài học, bạn hãy làm bài tự kiểm tra để xem có điểm nào bạn chưa hiểu rõ không.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    1 Xếp cho phù hợp. Trong đoạn ICo1Cr 3:5-9 3:10-15 Phaolô cố gắng giúp những người Côrinhtô có cái nhìn đúng đắn hơn về những người lãnh đạo. Hãy xếp những câu Kinh thánh bên tay phải sao cho phù hợp với những câu phát biểu bên phía trái.
    ......a Dùng việc so sánh với ngôi nhà để diễn tả quan niệm của ông.
    ......b Ngõ lời với các lãnh đạo Hội thánh và khuyên họ. Chú ý đến cách gây dựng Hội thánh tại Côrinhtô
    ......c Nêu lên quan điểm rằng cả Hội thánh cũng như các lãnh đạo đều thuộc về Chúa.
    ......d Nêu lên ý tưởng rằng các lãnh đạo đều giống nhau, chỉ có các công việc là khác nhau và họ sẽ lãnh nhận phần thưởng riêng của mỗi người.
    ......e Dùng hình ảnh về đồng ruộng để trình bày quan điểm của ông.
    Câu trắc nghiệm Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng nhất.
    2. Trong 3:16-17 Phaolô dạy rằng " Nếu ai phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ hủy diệt người đó". Đền thờ của Đức Chúa Trời chỉ về.
    a) Đền thờ tại Giêrusalem
    b) Nhà thờ vật chất tại thành Côrinhtô
    c) Hội thánh là tập thể các người tin Chúa
    d) Thân thể của cá nhân mỗi tín đồ
    3. Phaolô kết luật đoạn 1-4 bằng cách dùng hình ảnh về.
    a) Cha con
    b) Thầy trò
    c) Chủ tớ
    d) Nông dân và đồng ruộng
    4. Cách giải nghĩa đúng nhất về câu 4:6 " chỗ vượt qua đều đã chép" là:
    a) Đây có lẽ là một lỗi lầm về dịch thuật trong bảng NIV bắt nguồn từ phỏng định rằng đây là điều Phaolô đã nói đến trong phần trước khi ông trả lời những vấn đề về sự khôn ngoan và sự chia rẽ.
    b) Câu này dường như ám chỉ về những câu Kinh thánh Cựu ước mà Phaolô trưng dẫn trong đoạn 1-3.
    c) Đây rất có thể là một sai lầm trong bản văn Kinh thánh : những câu này vốn là một lề chú được đưa vào nội dung Kinh thánh.
    d) Câu này muốn ám chỉ đến Cựu ước và có ý dạy phải sống theo Kinh thánh.
    5. Trong khoa giải kinh, " việc áp dụng mở rộng" ám chỉ về:
    a) gán cho bản văn Kinh thánh một ý nghĩa thứ 2 khác hơn là ý nghĩa nguyên thủy.
    b) Việc nới rộng ý nghĩa của bản văn cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.
    c) Tìm một ý nghĩa sâu xa, đầy đủ hơn cho bản văn Kinh thánh.
    d) Việc ngụ ngôn hòa ý nghĩa bản văn
    6. Trong những câu cuối của đoạn 3 ( Câu 18 -23). Phaolô viết rằng " mọi sự đều thuộc về anh em". Câu phát biểu nào trình bày rõ nhất ý nghĩa của điều Phaolô nói.
    a) Phaolô cho rằng người Côrinhtô có cái nhìn hẹp hòi và ông cố gắng trình bày để họ thấy rằng với tư cách là một Cơ đốc nhân họ có quyền sở hữu cả thế giới.
    b) Người Côrinhtô cần nhận ra rằng trong Đấng Christ mọi người lãnh đạo đều thuộc về họ hơn là chia phe lập đảng theo đuôi các lãnh đạo là những người cũng chỉ là những tôi tớ.
    7. Khoanh tròn mẫu tự trước câu phát biểu đúng nói về giáo lý sai lầm của người Côrinhtô.
    a) Họ nhấn mạnh vào những điều chưa hoàn tất và quên lãng những điều đã bắt đầu nói.
    b) Họ tự nghĩ rằng họ đã " được giác ngộ"
    c) Họ đã thay thế giáo lý về thập tự giá bằng giáo lý về sự vinh quang.
    d) Họ là những người rất lý trí và coi thường cảm xúc thuộc linh.
    e) Họ cho rằng những đau khổ Phaolô phải chịu là bằng chứng rằng ông chưa là người trọn vẹn.
    f) Họ nhấn mạnh đến sự kiện là các Cơ đốc nhân có thể sống trong trạng thái giằng co giữa sự yếu đuối trong hiện tại nhưng vẫn kinh nghiệm niềm vui mừng trong Đấng Christ.
    Bổ túc. Điều thêm vào những câu sau đây cho đầy đủ ý nghĩa.
    8. Phaolô dùng từ ngữ nào để mô tả vai trò của các lãnh đạo Hôị thánh?
    Họ là......
    9. Có những điểm khác biệt quan trọng nào giữa hy vọng về thời sau rốt của người Do Thái vào thời Giăng Báptit và sự hy vọng về thời sau rốt của các Cơ đốc nhân?
    a. Người DoThái......
    b. Cơ đốc nhân......
    Chọn giữa đúng và sai. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước câu trả lời đúng. Viết chữ S trước câu phát biểu sai.
    ......10. Qua sự so sánh việc xây dựng bằng vật liệu vàng hoặc gỗ v.v.. Phaolô khuyên nhũ người Côrinhtô phải xây dựng đời sống của họ trong sự thánh khiết và sự công nghĩa cũng như không sống theo đời này.
    ......11. Trong 4:1-5 Phaolô dùng hình ảnh của người tôi tớ nhắc nhở rằng những người phục vụ trong Hội thánh ở vị trí lãnh đạo phải trung tín bởi vì họ sẽ bị Đức Chúa Trời phán xét trong ngày cuối cùng.
    ......12. Khi Phaolô viết : " Người há có điều chi mà chẳng đã nhận lãnh sao ?" (4:7). Ông muốn phê phán người Côrinhtô về thái độ "khoe mình" theo phe người này nghịch cùng kẻ khác
    ......13. Những dấu hiệu của một sứ đồ được Phaolô nêu lên trong ICo1Cr 4:18-13 là để chứng minh cho người Côrinhtô thấy rằng Phaolô đích thưa là sứ đồ và là đầy tớ trung tín của Chúa Jesus Christ.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. Câu trả lời của bạn, câu trả lời của tôi đại khái như sau :
    3:5-9 Vai trò của các lãnh đạo trong Hội thánh của Đức Chúa Trời.
    3:10-15 Kêu gọi các lãnh đạo cẩn thận trong việc gây dựng Hội thánh.
    3:16-17 Kêu gọi khác để phá hoại Hội thánh về các đền thờ của Đức Chúa Trời tại Côrinhtô.
    2. Các tôi tớ
    3. Bạn có thể dùng những từ ngữ khác, nhưng câu trả lời của bạn phải bao gồm 2 yếu tố sau đây:
    1) Họ đều có chung một cứu cánh nhưng mỗi người có công việc riêng và mỗi người sẽ nhận phần thưởng riêng.
    2) Tất cả mọi sự: Hội thánh, các tôi tớ, sự tăng trưởng đều thuộc về Đức Chúa Trời.
    4. a. Apôlô
    5 Người cai trị.
    b. Phaolô
    c. Hội Thánh
    d. Đức Chúa Trời
    6. a. Phaolô ngỏ lời với những người có nhiệm vụ gây dựng Hội thánh.
    b. Hội thánh được gây dựng
    c. Những ai lo việc gây dựng Hội thánh hãy cẩn thận trong việc đó.
    7. d) Hội thánh địa phương tại Côrinhtô là đền thờ của Đức Chúa Trời ( ý tưởng về sự thánh khiết cá nhân không phải là đề tài ở đây).
    8. a Hội thánh, các lãnh đạo
    b. Các lãnh đạo, Hội thánh
    c. Hội thánh, đền thờ
    d. Sự khôn ngoan thế gian, sự chia rẽ bè đảng.
    9. 1:10-12 Sự chia rẽ bè đảng là một dấu hiệu; " thuộc về phe Apôlô" có thể có nghĩa là chống lại Phaolô.
    1:17, 2:1-5 Hai đoạn Kinh thánh này gợi ý rằng những người Côrinhtô cho là Phaolô thiếu sự khôn ngoan và tài hùng biện của các triết gia.
    2:5 " Người thiêng liêng" thì không bị ai xử đoán.
    10 Soát lại câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập và sách của Barrett sau khi bạn đã học xong phần này của bài học.
    Bản NIV " Ý nghĩa của câu "đừng vượt qua những điều đã chép".
    11. a. Xét đoán
    b. Xét đoán; tòa án của loài người; lương tâm trong sạch; không có điều gì đáng tội; hãy đợi giờ Chúa đến; chính Chúa sẽ tỏ mọi sự ra ánh sáng; bày ra những toan định trong lòng người.
    12. Soát lại câu trả lời của bạn với Kinh thánh. Những từ ngữ được nhắc đến nhiều lần là " làm việc khó nhọc" và " chịu đói khát"; " Bị đánh đập", " bị tù đày"
    " đêm thao thức không ngủ"; " nguy hiểm"; " bị sỉ nhục"
    13. a. Cha và con cái
    b Hỡi các con yêu dấu; Cha ; tôi đã dùng Tin Lành mà đang sanh ra anh
    em; hãy bắt chước tôi; cầm roi mà đến; yêu thương và ý nhu mì.
    14. a. 2) Người Côrinhtô không được xét đoán bởi vì họ không thề xét đoán tôi tớ của người khác.
    b. Người Côrinhtô không nên kiêu ngạo theo phe người này nghịch cùng kẻ khác bởi vì cả những tôi tớ và người Côrinhtô đều phải đi con đường của thập tự giá.
    15. a. Việc sử dụng mạo từ trong tiếng Hylạp chứng tỏ rằng câu này là một câu trưng dẫn.
    b. Câu này ám chỉ đến một câu châm ngôn đương thời đó; câu này ám chỉ một câu Kinh thánh Cựu ước trong ICo1Cr 1:1- 3 có lẽ có sự sai lạc về văn bản.
    16. a Có thể hiểu là " không ai cả"; hoặc có thể hiểu là " Đức Chúa Trời".
    b. Không có câu trả lời chính xác cho câu hỏi này. Tuy nhiên câu trả lời của bạn phải có bằng chứng trong văn bản. Theo tôi có thể hiểu là " không ai cả".
    17. a. Đồng ruộng, tòa nhà
    b. Tòa nhà
    c. Gia đình
    18. a. Bởi vì : 1) Phaolô vừa nhắc đến hình ảnh về tòa nhà ; 2) Hình ảnh này bắt nguồn từ Hy vọng của người Do Thái về Đấng Mêsi và 3) Đền thờ là nơi "Thần linh" cư ngụ
    b. Sự hiện diện của Đức Thánh Linh
    19. a. Hội thánh địa phương là cộng đoàn của Đức Thánh Linh trong địa phương mà Hội thánh tồn tại
    20. So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập.
    21. Câu trả lời ở trang 109 trong sách của Barrett
    22. a. Đã bắt đầu, nhưng chưa hoàn tất
    b. Đã bắt đầu
    c. Ngộ đạo thuyết, sự sốt sắng cuồng nhiệt
    d. Phaolô, sự yếu đuối
    c. Sự vinh quang, thập tự giá

    Tội Loạn Luân, Kiện Tụng Và Kỷ Luật Của Hội Thánh.
    Trong hai bài trước chúng ta đã có cái nhìn rõ ràng hơn về nan đề cơ bản của Hội Thánh tại Cô rinh tô và chúng ta cũng có thể xác định một cách tạm thời những gì chứa đựng trong thần học của Hội Thánh Cô rinh tô. Thật dễ cho chúng ta bị ảnh hưởng bởi những giáo lý thần học đó, ngay cả ở thời đại ngày nay. Do chúng nhấn mạnh đến một khía cạnh của lẽ thật, chúng ta rất dễ lầm với toàn bộ lẽ thật. Nhưng bất cứ thần học nào che khuất thập tự giá của Đấng Christ đều phi Kinh Thánh.
    Trong bài học này các bạn sẽ thấy thế nào một vài phương tiện của thần học này được biểu lộ qua một số vấn đề. Sự thiếu tôn trọng thân thể và một thần học quá nhấn mạnh vào "việc đã rồi" có thể gây những tác động kỳ lạ đến quan điểm của con người và đời sống trong thân xác nầy. Phao Lô bàn đến ba điểm khác nhau trong phần này, nhưng cả ba điểm được kết hợp trong một ý tưởng. Những tín hữu tại Hội Thánh Cô rinh tô vẫn còn rất cần đến "sữa" (3:2), bởi vì họ vẫn chưa được trưởng thành. Phao Lô nói rằng ông không muốn làm cho họ bị hổ thẹn (4:14) nhưng đã có những điều xảy ra thật đáng cho họ phải hổ thẹn sâu xa.
    Bài học này cũng sẽ liên hệ đến những kỷ luật của Hội Thánh. Nhưng các bạn sẽ thấy Phao Lô đã đau đớn như thế nào. Đối với ông, các kỷ luật của Hội Thánh là để cứu vớt chứ không phải để xét đoán. Đây là một lãnh vực mà nhiều người trong chúng ta phải chú ý cẩn thận. Bài học sẽ giúp chúng ta nhạy bén hơn đối với nhu cầu nâng đỡ những người vấp ngã, ngay cả nếu dùng đến các biện pháp kỷ luật.
    Trường hợp loạn luân
    Vấn đề
    Câu trả lời của Phao Lô.
    Câu hỏi trong việc kỷ luật Hội Thánh.
    Trường hợp kiện cáo
    Vấn đề
    Câu trả lời của Phao Lô
    Một vài ý kiến liên quan đến khoa giải kinh.
    Trường hợp thông dâm
    Vấn đề
    Câu trả lời của Phao Lô
    Khi hoàn tất bài học bạn sẽ có thể:
    * Giải thích tại sao những hành động vô luân trắng trợn lại được bỏ qua một cách hiển nhiên như vậy tại Hội Thánh Cô rinh Tô .
    * Truy nguồn gốc những cuộc tranh luận mà Phao Lô dùng để tấn công vấn đề một tín hữu kiện cáo người khác.
    * Nhận diện được những vấn đề trong Hội Thánh ngày nay so với những vấn đề trong 6:1-11 nơi mà tín đồ kiện cáo lẫn nhau và xác định xem Phao Lô có thể sử dụng lời công kích tương tự đối với vấn đề trả thù như vậy không, nếu ông phải viết thư cho tín hữu ngày nay.
    * Lập danh sách những lý luận mà Hội Thánh Cô rinh tô dùng để bảo vệ việc thông dâm.
    * Giải thích tại sao triết lý chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa ngộ đạo đã góp phần vào việc chấp nhận sự thông dâm tại Hội Thánh Cô rinh tô.
    1. Đọc 5:1-6:20 Nghiên cứu đoạn Kinh Thánh đã cho ở phần đầu của các phân đoạn.
    2. Đọc Sách Giải Nghĩa Barret trang 119-153 khi bạn được hướng dẫn làm như vậy trong phần khai triển bài học.
    3. Nghiên cứu bài học từng phần một.
    4. Làm bài tự kiểm tra ở cuối bài và so sánh phần trả lời của bạn với phần trả lời trong mục trả lời.
    Chủ nghĩa bất định (antinomianism)
    Chủ nghĩa khổ hạnh (asceticism)
    Luân lý, đạo đức (bema)
    Dứt phép thông công (excommunication)
    Thuyết ngộ đạo (gnosticism)
    Trường hợp tội loạn luân
    5:1-13
    Hoan nghinh bạn trở lại với thơ I Cô rinh tô. Nếu bạn có vắng mặt trong một thời gian ngắn, có lẽ bạn muốn ôn lại ngắn gọn từ đoạn 1 đến đoạn 4. Đây là bài học duy nhất trong phần nghiên cứu của bạn mà chúng ta sẽ theo dõi câu trả lời của Phao Lô cho nhiều vấn đề trong cùng một bài học. Vì thế, tôi sẽ giải luận bài học nầy theo một cách hơi khác với bài 4 và 5. Chúng ta sẽ phân tích từng vấn đề một cách độc lập và sẽ nghiên cứu:
    - Vấn đề
    - Câu trả lời của Phao Lô
    - Vài ý kiến liên quan đến khoa giải kinh
    Trong mỗi trường hợp chúng ta sẽ phải phân tích một cách ngắn gọn hơn bài 4 và 5. Những phần riêng rẽ nào liên quan đến các câu hỏi nội dung sẽ được bỏ qua. Đối với các câu hỏi đặc biệt quyết định đến sự hiểu biết của chúng ta về đoạn Kinh Thánh, chúng ta sẽ dành thì giờ để thảo luận ngay tại điểm đó.
    Rõ ràng từ 5:1 Phao Lô đã chuyển sang một vấn đề hoàn toàn mới. Ông bắt đầu : "Nghe nói rằng" . Và điều ông nghe đã làm ông choáng váng.
    Vấn đề
    1 Đọc I Côrinhtô 5:1-3 hai lần, Sau đó đọc sách Barret trang 120-122
    a Vấn đề Phao Lô đưa ra có hai mặt. Đó là gì?
    ......
    b Cụm từ "sống với vợ của Cha mình" có thể mang ý nghĩa gì?
    ......
    Phao Lô rất kinh khủng. Một tín đồ đang "sống với vợ của Cha mình". Nhưng điều đó có nghĩa gì? Chúng ta hãy ghi nhận một số điều về cụm từ này.
    Trước nhất, động từ "sống với" (living with) theo nghĩa đen có nghĩa là "có" (to have) nhưng nó có nghĩa là một quan hệ lâu dài có liên quan đến quan hệ tình dục. Vì vậy, người đàn ông ở đây không có một chuyện yêu đương vô tình vì anh ta đang "ăn ở" với vợ của Cha mình.
    Thứ nhì, "vợ của Cha mình" dĩ nhiên có thể có nghĩa là mẹ ruột của anh ta. Nhưng điều này hầu như hoàn toàn không đúng. Nếu vậy hẳn Phao Lô đã dùng từ "mẹ" và Hội Thánh Cô rinh tô chắc đã không thể chấp nhận việc ấy. Vì vậy, chắc chắn Phao Lô có ý nói đến "mẹ kế của anh ta".
    Thứ ba, người đàn bà ấy không được nhắc đến trong phần kỷ luật đối với người phạm tội, vì vậy chắc bà ta không phải là thành viên trong Hội Thánh.
    Thứ tư, mối quan hệ này bị cả người Do Thái lẫn dân ngoại xem là loạn luân. Đối với người Do Thái, xin xem LeLv 18:820:11. Lưu ý sự khác biệt giữa "mẹ" và "vợ của Cha" trong LeLv 18:7, 8. Học viện La mã của Gaius, mà Barret đã trích dẫn, cấm đàn ông quan hệ tình dục với bà gia, mẹ kế, con dâu hoặc con riêng của vợ. Điều bị cấm trong các điều luật ở đây là cấm cha và con có quan hệ tình dục với cùng một người đàn bà. Có thể thấy được điều kinh khủng ấy trong phần trích dẫn của Cicero, mà chúng tôi sẽ dịch ra cho các bạn. Đó là trường hợp một người đàn bà lấy con rễ của mình. "Ôi ! cứ nghĩ đến tội lỗi của người đàn bà là không thể tin được, trường hợp cá biệt này chưa từng có".
    Chừng đó cũng đã quá tệ rồi, nhưng đó chỉ mới là một mặt của vấn đề mà Phao Lô đưa ra. Mặt kia, theo một cách nào đó , thậm chí còn nhục nhã xấu xa hơn đối với ông. Hội Thánh Côrinhtô còn tự hào nữa. Điều này có thể có một trong hai ý nghĩa:
    1/ Họ tự hào vì tình huống đó. Nếu vậy, có thể mang ý nghĩa là họ kiêu ngạo về sự khoan dung của họ. Có lẽ họ đã khoe khoang như thể đó là một ví dụ về sự tự do "thuộc linh" hoặc 2/ Họ vẫn kiêu ngạo mặt dù tội lỗi trắng trợn đó xảy ra giữa vòng họ. Sự "tự cao" của họ đã làm mờ mắt họ, khiến họ không thấy tình trạng thực của mình.
    Dẫu Phao Lô có ý gì đi nữa, rõ ràng rằng sự kiêu ngạo của họ đã khiến họ không làm gì cả. Phao Lô nghe về tình trạng ấy và đã làm điều gì đó.
    2 Xem lại câu trả lời của bạn trong bài tập 1. Nếu bạn trả lời sai hoặc nếu câu trả lời của bạn chưa đầy đủ, hãy sửa lại theo sách hướng dẫn học tập.
    Câu trả lời của Phao Lô
    3 Đọc ICo1Cr 5:1-13 một lần nữa và trả lời trong sổ tay của bạn .
    a Cách giải quyết của Phao Lô là gì?
    b Lập danh sách những lần ông nói về điều đó bằng những cách khác nhau. Chỉ ra câu và cụm từ.
    c Bây giờ hãy liệt kê những phân đoạn. Chủ điểm của mỗi đoạn là gì? Đối với một phân đoạn 2 và 3, phải chắc chắn rằng bạn nêu lên được mối liên hệ của chúng đối với phân đoạn trước đó.
    Cách giải quyết của Phao Lô rất rõ ràng. Không ít hơn năm lần ông đã bảo họ hãy khai trừ người đàn ông ấy ra khỏi Hội Thánh. Nhưng điều không rõ lắm ở đây là tính chất của sự dứt phép thông công và các ẩn dụ mà ông dùng để minh họa.
    5:1-5 Chủ điểm của phân đoạn này cũng dễ nhìn biết. Ông chỉ đơn giản đưa ra hai mặt của vấn đề và bảo họ phải làm gì đối với nó. Thay vì ngẩng đầu lên tự hào, lẽ ra họ phải đau khổ dường như người đàn ông ấy đã chết. Vì vậy trái với những người đáng lẽ phải làm gì đó nhưng lại không làm, Phao Lô đã hành động . Ông thiết lập một tòa án, và đưa ra lời tuyên án. Người đàn ông ấy phải bị khai trừ khỏi Hội Thánh . Nhưng Phao Lô không thể thực hiện lời tuyên án ấy một mình, vì vậy ông kêu gọi Hội Thánh nhóm họp lại và thực hiện lời tuyên án của ông.
    Nhìn chung những điều ấy dường như đã rõ ràng. nhưng chi tiết thì hoàn toàn không rõ, vì vậy chúng ta sẽ trở lại với phân đoạn này trong phần kế của bài học.
    5:6-8 Phân đoạn này không rõ ràng vì Phao Lô thay đổi các ẩn dụ ít nhất là hai lần. Ông bắt đầu với một câu châm ngôn đơn giản mà ông đã dùng ở một nơi khác (GaGl 5:9). Chủ điểm ở đây là ảnh hưởng của sự việc dường như nhỏ bé lại có thể lan rộng đến khi nó thống trị hoàn toàn. Ở đây , "một chút men" liên hệ đến người đàn ông loạn luân, người mà bằng một cách nào đó đã ảnh hưởng đến toàn thể cộng đồng (làm dậy cả đống bột).
    Nhưng việc đề cập đến men nhắc Phao Lô nhớ lại Lễ Vượt Qua (Nếu việc tái dựng của Barret là đúng, thì bức thư này có lẽ đã được viết vào dịp Lễ Vượt Qua hoặc Lễ Phục Sinh. Xem ICo1Cr 16:8. Ở đây Phao Lô xem Hội Thánh như dân Ysơraên của Đức Chúa Trời. Bởi vì Đấng Christ là Chiên Con của Lễ Vượt Qua, đã hy sinh, Hội Thánh phải kỷ niệm buổi tiệc bằng bánh không men, mà không có sự hiện diện của người anh em phạm tội loạn luân. Có lẽ "bữa tiệc" mà Phao Lô nghĩ đến ở đây là bàn tiệc của Cứu Chúa.
    Mặc dầu có sự pha trộn của các ẩn dụ, ý tưởng ở đây có vẻ rõ ràng. Bởi vì Đấng Christ đã chết thế cho họ, họ phải sống cuộc sống mới không có "hiểm độc và gian ác". Vì vậy người đàn ông loạn luân ấy phải bị khai trừ ra khỏi Hội Thánh để Hội Thánh như một cộng đồng thực sự bởi ân điển của Đức Chúa Trời có thể trở nên "bột nhồi mới không men". Việc cho phép người đàn ông ấy tiếp tục ở trong Hội Thánh sẽ làm hư hỏng toàn thể cộng đồng.
    Bây giờ chúng ta chuyển sang một khái niệm mới có liên quan đến một vài quan niệm đặc biệt. Những nhà ngữ pháp dùng thuật ngữ "Chỉ định" (indicative) để mô tả một động từ xác định một sự việc đang tồn tại . thí dụ như những câu bắt đầu "Tôi là......" (I am) "Họ thì......" (They are..) hoặc "Đó là......" (It is..) Những nhà ngữ pháp cũng nói đến những câu mệnh lệnh hoặc yêu cầu một hành động nào đó. Thí dụ như "Anh phải......" (You must) "Các ngươi sẽ.." (Thou shall......" hoặc "Anh hãy đem đến......" (You bring......).
    Đọc sách Barret nói về đoạn 5:7 trang 127-128, và bạn sẽ thấy ông ta bình luận về nhiều câu ở thể chỉ định và mệnh lệnh trong thư của Phao Lô. Lưu ý trong câu 7, Phao Lô nói chủ yếu rằng bởi vì anh em là bánh không men, anh em phải làm cho mình sạch men cũ đi. Đây là nền tảng của Phúc Âm. Các bạn được sạch vì Đức Chúa Trời thanh tẩy bạn và bây giờ bạn sẽ vâng lời Ngài vì bạn yêu Ngài. Bạn có thấy mối liên hệ giữa câu chỉ định và câu mệnh lệnh ở phân đoạn nầy không? (ở đây thể chỉ định dẫn đến thể mệnh lệnh).
    Ngược lại, triết lý của vô định thuyết (artinomianism) hoặc chủ nghĩa tự do là "Tôi được cứu rỗi bởi ân điển nên dầu tôi có làm gì cũng không quan trọng. Không có gì bắt buộc tôi cả. Điều này thể hiện qua việc loạn luân trong đoạn 5:1. (Ở đây chỉ có thể chỉ định mà không có thể mệnh lệnh).
    Mặc khác, triết lý của chủ nghĩa luật pháp được người Giu đa dùng để biện hộ trong thơ Ga la ti, cho rằng "Tôi phải làm những việc tốt để được Đức Chúa Trời tiếp nhận" (Ở đây thể mệnh lệnh dẫn đến thể chỉ định).
    4 Nghiên cứu ba sơ đồ sau đây và gọi tên chúng hoặc là Phúc Âm của Đấng Christ, hoặc là chủ nghĩa tự do hoặc chủ nghĩa luật pháp.
    5:9-13 Phao Lô hơi đi ra ngoài đề một chút, nhưng cũng không ra ngoài điểm chính. Ông dùng trường hợp người đàn ông loạn luân để giải thích một việc hiểu lầm trong lá thư trước. Kế đó ông đưa ra lời giải thích cho bối cảnh hiện tại. Chủ điểm ở đây khá rõ ràng. Cơ Đốc Nhân phải sống trong thế gian với thực trạng của nó. Nhưng trong Hội Thánh thì vấn đề khác hẳn. Bởi vì họ thuộc về Đức Chúa Trời nên phải có sự trong sạch trong Hội Thánh.
    Phaolô tranh luận về: 1) Các liên hệ tự do bên ngoài Hội Thánh. Đây chỉ là nói chung, bởi vì đương nhiên có một số liên hệ bị hoàn toàn nghiêm cấm. (6:12-20, 10:14-22) 2) Kỷ luật nghiêm minh cho Hội Thánh. Câu 12 và 13 đưa ra nền tảng cho điều ấy. Đức Chúa Trời sẽ đoán xét những người ngoài Hội Thánh nhưng tín đồ phải đoán xét những người ở trong Hội Thánh.
    5 Bây giờ hãy trở lại kiểm tra câu trả lời của bạn ở bài tập 3, phần c. Bạn có làm tốt hơn các bài tập trong lúc chúng ta tiếp tục bài học không? Để ôn lại, hãy khoanh tròn các câu đúng sau đây.
    a Chủ điểm của đoạn 5:6-8 là dạy Hội Thánh Cô rinh tô về mối liên hệ giữa thể chỉ định và thể mệnh lệnh.
    b Chủ điểm của đoạn 5:1-5 là dạy Hội Thánh về nhu cầu và tính chất của việc rút phép thông công.
    Lý do của việc nêu lên các câu trong bài tập ở trên là để giúp bạn phân biệt giữa : 1) Chủ điểm của phân đoạn là gì? và 2) Chúng ta có thể học được điều gì từ phân đoạn ấy ngay cả khi đó không phải là chủ điểm. Bây giờ hãy hướng sự chú ý của chúng ta đến đoạn 5:3-5 để xem chúng ta có thể học được gì về kỷ luật của Hội Thánh.
    Vấn đề về kỷ luật Hội Thánh
    5:3-5
    Như tôi đã nói trước đây, chủ điểm của đoạn 5:1-5 đã rõ ràng, nhưng bản chất của vấn đề thật sự khó hơn nhiều. Ngoài ra, có nhiều người gặp khó khăn trong việc liên hệ khúc Kinh Thánh này với Hội Thánh ngày nay.
    6. Phần khác về nan đề của chúng ta đốivới các khúc Kinh Thánh về kỷ luật hội Thánh là có những phần dường như mâu thuẩn với điều Phao Lô đã nói. Đọc lại đoạn 4:3-55:12. Viết câu trả lời của bạn vào sổ tay.
    a Điều mâu thuẩn rõ ràng là gì?
    b Làm thế nào để hòa hợp những câu nói đó.
    Tôi sẽ bàn về những vấn đề trên và về quan niệm của Phao Lô về kỷ luật Hội Thánh bằng cách đưa ra ba nhận xét có tính chất khoa giải kinh trong đoạn 5. Mỗi nhận xét cũng sẽ được hổ trợ bằng cách phân tích khúc Kinh Thánh cẩn thận.
    Trước hết, kỷ luật Hội Thánh sẽ không được thực hiện bởi một người hay một ít người, đó là công việc của cộng đoàn của Đức Thánh Linh.
    7. Đọc sách của Barret, trang 123-127. Khoanh tròn câu trả lời đúng. Theo Barret, kỷ luật ấy sẽ được thực hiện do:
    a) Một mình Phao Lô
    b) Phao Lô và Hội Thánh
    c) Hội Thánh
    d) Người lãnh đạo của Hội Thánh
    Câu 3-5 là câu dài và khó nhất trong bản văn tiếng Hy lạp của Phao Lô. Có hai quyết định quan trọng có tính chất giải kinh phải được thực hiện mà sẽ ảnh hưởng đến việc giải nghĩa khúc Kinh Thánh này.
    1. Động từ "phó cho" là một động từ nguyên mẫu trong tiếng Hy lạp, với chủ từ không được biểu lộ. Phao Lô có ý muốn nói hoặc là: "Tôi đã quyết định...... phó cho"hoặc "Tôi đã thông qua phán quyết là...... anh em (chúng ta) phải phó......" Bản NASB chọn nghĩa thứ nhất, bản NIV và Barret chọn nghĩa thứ hai. Như bạn có thể nhận xét từ phần thảo luận của Barret, toàn bộ văn cảnh ủng hộ nghĩa thứ hai. Hội Thánh không chỉ đơn giản thiết lập tòa án cho Phao Lô hành động, nhưng mục đích của việc nhóm lại với sự hiện diện của quyền năng của Chúa Jesus, là để cho họ thực hiện kỷ luật ấy trong bối cảnh của toàn thể cộng đồng.
    2. Điều này còn được xác nhận thêm bằng cụm từ "Khi anh em nhóm lại trong danh của Chúa Jesus". Một lần nữa cụm từ "trong danh Chúa Jesus" có thể đi chung với những động từ khác như, "Tôi đã tuyên án, hoặc "Kẻ phạm tội đó" hoặc "Phải phó cho". Nhưng qua các bức thư của Phao Lô và Mat Mt 18:20 cho thấy rằng "nhóm hiệp trong danh Đức Chúa Jesus " là một thuật ngữ đặc biệt để chỉ về việc Hội Thánh nhóm lại để thờ phượng, nơi họ trông đợi Cứu Chúa hiện diện bởi quyền năng của Thánh Linh Ngài.
    Hoàn toàn chính xác rằng trong những buổi nhóm lại như thế, nơi mà "quyền năng của Chúa Jesus hiện diện" họ phải thực hiện kỷ luật ấy. Đó là điều không thể được thực hiện một mình bởi Phao Lô cũng như một nhóm các nhà lãnh đạo. Kỷ luật của Hội Thánh phải được thực hiện ở giữa cộng đồng, trong sự hiện diện quyền năng của Đấng Christ.
    Thứ nhì, mặc dầu kỷ luật Hội Thánh có thể có một loạt ảnh hưởng đến người bị kỷ luật, lý do chủ yếu là để cứu chuộc. Ở đây các bạn tham chiếu sách Barret trang 123-127 và xin đọc một cách cẩn thận. Tôi sẽ đưa ra lời nhận xét về hai câu trong phân đoạn này.
    "Phó người ấy cho quỉ Satan" nghĩa là loại người đó ra khỏi phạm vi ảnh hưởng của Đức Thánh Linh, vì cộng đồng Cơ Đốc được xem như đền thờ của Đức Chúa Trời và người ấy bị trả lại trong phạm vi ảnh hưởng của Satan. Phao Lô đã sử dụng cùng ngôn ngữ đó trong ITi1Tm 1:20. Phao Lô xem cuộc sống bao gồm hai phạm vi ảnh hưởng, vì vậy rời khỏi phạm vi của Đức Thánh Linh cũng có nghĩa là trở về nơi mà Satan vẫn còn nắm quyền cai trị, như sẽ được minh họa bằng hình vẽ sau:
    ĐỨC THÁNH LINH - SA TAN
    8 Từ "Xác thịt" trong đoạn 5:5 có thể có hai ý nghĩa gì?
    ......
    Phao Lô đưa ra hai ý nghĩa cho từ "Xác thịt". Trong RoRm 7:5, 8:3-4 và trong GaGl 5:16-19 ông nói về xác thịt khi liên hệ đến bản chất tội lỗi của chúng ta. Trong khi đó trong ICo1Cr 11:29-30IICo 2Cr 12:7 ông có ý nói xác thịt là thân thể vật lý của chúng ta.
    Ý nghĩa của "hủy hoại phần xác thịt" thật khó xác định, bạn có thể thấy sự khác nhau giữa bản NIV và bản Barrett. Tôi chọn bản NIV trong trường hợp này, bởi vì trong phần chú dẫn ở ITi1Tm 1:20 Phao Lô không ám chỉ xác chết, nhưng chỉ nói rằng "hầu cho họ học biết đừng phạm thượng nữa". Điều này cho thấy dường như phương diện Cứu chuộc của kỷ luật không chỉ cho ngày sau rốt mà còn tác động đến hiện tại
    Trong bất cứ trường hợp nào,lý do của việc áp dụng kỷ luật không những chỉ vì sự trong sạch của Hội Thánh (câu 6-8) mà còn vì người đàn ông ấy có thể "được cứu trong ngày của Đức Chúa Jesus". Có phải điều ấy có nghĩa là bị trả lại vào phạm vi ảnh hưởng của Satan khiến anh ta rất kinh sợ đến nỗi anh ta sẽ ăn năn để trở về trong cộng đồng của Đức Thánh Linh? Chúng ta không thể biết chắc, nhưng tôi thì nghĩ như vậy. Nếu quan điểm này là đúng, người ta có thể chắc chắn rằng Hội Thánh địa phương phải thật là một cộng đồng cứu chuộc đầy quyền năng trước khi áp dụng hình thức kỷ luật đó.
    Thứ ba, kỷ luật của Hội Thánh chỉ để dành cho "tội lỗi" thật sự ảnh hưởng đến sức sống của Hội Thánh trong thế gian; không được nhầm lẫn nó với tinh thần lên án hoặc phê phán lẫn nhau. Lưu ý danh sách của Phao Lô trong đoạn ICo1Cr 5:11, Phao Lô đã không đề nghị rằng những người thể ấy cần dùng đến kỷ luật Hội Thánh theo nghĩa "phó cho quỉ Satan". Cũng lưu ý rằng Phao Lô không kêu gọi hình thức kỷ luật đó đối với người đàn ông kiện cáo anh em mình. Nhưng có những tội lỗi ảnh hưởng đến sức sống trong cộng đồng của Đức Thánh Linh và trên hết, Phao Lô đang nói về những người buông mình để sống trong tội lỗi dường ấy; như là người đàn ông trong khúc Kinh Thánh chúng ta đang học. Những người cố chấp phạm những tội như vậy, thật sự đã tự loại mình ra khỏi cộng đồng của Đức Thánh Linh .
    Bây giờ hãy trở lại câu hỏi trong bài tập 6. Chúng ta làm thế nào để hòa hợp (câu) 5:12 "Há chẳng phải anh em nên đoán xét những người ở trong sao?" với 4:3-5 "Vậy chớ xét đoán sớm quá, hãy đợi Chúa đến?" Câu trả lời là đoạn 4:3-5 nói về sự phê bình, chỉ trích cá nhân một sự xét đoán mang tính chất cá nhân riêng tư, được thực hiện bằng tinh thần "phê phán". Điều nầy không bao giờ được cho phép, dẫu là bởi Chúa Jesus (Mat Mt 18:15-17) hoặc bởi Phao Lô (ITi1Tm 5:19-20).
    Nếu muốn áp dụng khúc Kinh Thánh nầy như là nền tảng hành động cho Hội Thánh của thế kỷ hai mươi, chúng ta phải tiến hành một cách cẩn thận. Trong bất cứ trường hợp nào, đó phải là công việc của cộng đồng, nơi có sự hiện diện của Thánh Linh và quyền năng của Chúa Jesus; và phải trong tinh thần cứu vớt. Kỷ luật của Hội Thánh trong tay một số ít người luôn luôn kéo theo mối nguy hiểm là những người thi hành kỷ luật ấy có thể lạm dụng nó quá mức! Và nếu có trường hợp ấy xảy ra họ cần ăn năn và kinh nghiệm lại ân điển tha thứ của Đức Chúa Trời.
    9 Hãy ôn lại phần bàn về kỷ luật Hội Thánh. Khoanh tròn câu trả lời đúng nhất cho tình huống sau: Một tân tín hữu đi với một vài người bạn cũ và bị cám dỗ uống rượu say mèm. Nếu là một Mục Sư bạn phải làm gì?
    a) Kêu gọi Hội Thánh nhóm lại, và đưa lên nền tảng của việc nhắc đến kẻ say sưa trong đoạn ICo1Cr 5:11, thực hiện kỷ luật đã được đề nghị trong 5:3-5.
    b) Triệu tập những trưởng lão trong Hội Thánh và nêu tội lỗi của người ấy để quyết định hành động cho phù hợp.
    c) Gặp riêng người ấy như là anh hoặc chị trong Chúa, giúp đỡ anh ta kinh nghiệm được sự tha thứ của Đức Chúa Trời và tình yêu thương của thân thể.
    d) Không làm gì cả vì điều ấy không liên quan đến bạn.
    TRƯỜNG HỢP KIỆN CÁO
    Kinh Thánh: 6:1-11
    10 Đọc 6:1-20 một cách cẩn thận. Đừng xem trước câu trả lời cho đến khi bạn tự làm xong bài tập này.
    a Chủ đề chi phối cuộc thảo luận trong đoạn 6:1-8 là gì?
    b Chủ đề của đoạn 6:12-20? Liệt kê những từ hoặc cụm từ liên quan đến chủ đề ấy.
    c Hãy nêu những câu trong đó có hai từ hoặc hai chủ đề đã được nhắc đến trong đoạn 5.
    Trong 6:1-20, Phao Lô đã đeo đuổi hai vấn đề hoàn toàn không liên quan đến nhau. Tuy nhiên, cả hai vấn đề ấy phát xuất từ cuộc thảo luận về người đàn ông loạn luân trong đoạn 5. Trong đoạn 6:1-11 dường như Phao Lô nói rằng "Trong khi chúng ta nói về vấn đề xét đoán......". Điều này được suy luận từ việc ông mới vừa nhắc đến" người tham lam trong đoạn 5:11. Kế đó trong đoạn 6:12-20 dường như ông tiếp tục "nào hãy trở lại nói thêm về vấn đề ô uế, gian dâm".
    Vấn đề
    Phao Lô rất bực mình sự kiện tụng giữa vòng tín hữu đến nỗi ông sử dụng những câu hỏi như "sao dám......" "Anh em há chẳng biết rằng......?"và "Anh em chẳng đủ khả năng.." Nhưng qua những câu hỏi này ông đã đưa ra nền tảng cho câu trả lời . Trong trường hợp này, vấn đề quá rõ ràng nên chúng ta không cần một bài tập đặc biệt nào. Một anh em, chúng ta tạm gọi là anh A, đã cư xử sai trái với một anh em khác, tạm gọi là ông B, có thể là A đã lừa dối B như thế nào đó. Và ông B đã đưa ông A ra tòa để lấy tiền lại.
    Có hai điều làm Phao Lô đau buồn về việc ấy. Thứ nhất, việc đưa ra luật pháp là điều hoàn toàn không cần thiết. Và ông cũng có những lời rất nặng dành cho ông A. Thứ nhì, ông B không nên đem vấn đề ra giữa nơi công cộng. Những việc như vậy đáng lẽ chỉ nên phân xử giữa cộng đồng của Đức Thánh Linh. Vì vậy ông có những lời rất nặng cho ông B.
    Cũng lưu ý rằng toàn bộ sự việc được viết cho Hội Thánh như là một khối trọn vẹn. Những vấn đề giữa các tín hữu với nhau vậy không phải là vấn đề riêng tư giữa các cá nhân có liên quan. Trở nên một Cơ Đốc Nhân có nghĩa là trở thành một thành viên của dân sự mới của Đức Chúa Trời, một cộng đồng của Đức Thánh Linh trong thời sau rốt. Vì vậy Phao Lô có những lời rất mạnh cho Hội Thánh.
    Trước khi đi đến câu trả lời, chúng ta cần ghi nhận một vài khía cạnh quan trọng của vấn đề. Cụm từ được định nghĩa là "có sự đối nghịch cùng người khác" (6:1) là một thuật ngữ Hy lạp có nghĩa là thưa kiện một người khác trước pháp luật. Do đó điều này không chỉ tranh chấp riêng tư. Ông B đã kiện sự việc ra tòa án công cộng. Bây giờ hãy trở lại bản đồ của Cô rinh tô trong phần đầu của bài 3. Bạn có biết vị trí của "Bema" ở đâu không? Bema là nơi mà những hoạt động như vậy được diễn ra ngay giữa phiên chợ! Bây giờ bạn có hiểu vì sao Phao Lô rất buồn.
    11 Giải thích bằng ngôn ngữ của bạn những khía cạnh khác nhau của vấn đề trong 6:1-11. Lưu ý nếu bạn đã làm bài tập 10 trong bài 1, bạn có thể muốn quay lại kiểm tra để so sánh với phần bạn mới làm xong.
    Câu trả lời của Phao Lô
    12. Đọc 6:1-11 một lần nữa. suy nghĩ cẩn thận và ghi nhận các phân đoạn đóng góp như thế nào cho câu trả lời. Mặc dầu cả ba phân đoạn được viết cho Hội Thánh và hai người kiện cáo nhau, hãy chỉ rõ nhân vật nào là trọng tâm của từng phân đoạn.
    a Đoạn 6:1-6 viết cho ......
    b 6:7-8 viết cho......
    c 6:9-11 viết cho......
    6:1-6 Lời của Phao Lô cho Hội Thánh gồm hai phần; Trong câu 2-4, bằng một loạt câu hỏi, ông đưa ra nền tảng thần học cho câu trả lời về vấn đề kỳ cục này. Trong câu 5 và 6, ông cố làm cho họ hổ thẹn để họ nhận thức được điều gì đang xảy ra giữa vòng họ.
    Nền tảng thần học cho câu trả lời của Phao Lô có liên quan đến quan niệm về thời sau rốt. (Xin ôn lại vắn tắt phần về thời cuối cùng trong Tân Ước ở bài 5) Tại sao các Cơ Đốc Nhân không được đem những việc kiện tụng ra phân xử ở Bema?. Có phải vì những người không tin kính không thể xét đoán một cách công bằng? ( Xem Cong Cv 16:35-40, 18:12-17, 25:10-12) Có phải vì Cơ Đốc Nhân không liên quan gì đến thế gian không? Phao Lô đã trả lời "không" (đoạn 5:9). Vậy thì, tại sao? Vì Hội Thánh là một cộng đồng của thời cuối cùng mà cuộc sống của họ trong hiện tại đã bắt đầu hoàn toàn được quyết định bởi tương lai chưa hoàn tất nên Cơ Đốc Nhân không được đem việc kiện tụng ra Bema để phân xử.
    Phao Lô tranh luận từ hai giả định có tính chất thời sau cùng mà chúng ta không được rõ . Dân sự của Đức Chúa Trời sẽ tham dự vào sự phán xét sau cùng đối với thế gian và thiên sứ (các thiên sứ sa ngã chắc chắn đã được nhắc đến ở đây). Dựa trên thực tế của sự phán xét sau cùng Phao Lô nêu lên hai quan điểm: 1) Tính chất nhỏ nhen của việc kiện tụng . (Bạn có thể tưởng tượng ông B đã suy nghĩ như thế nào không?) 2) Tính chất ngắn ngủi, chóng qua của phiên tòa hiện tại.
    13. Đọc sách Barrett, trang 137 bàn về đoạn 6:4. Giải thích ý nghĩa của cụm từ "kẻ không kể ra chi......" qua bản Barrett và bản NIV.
    a Theo bản Barrett có nghĩa là ......
    b Theo bản NIV có nghĩa là ......
    Cách giải thích của Barrett được ưa chuộng hơn bản NIV trong bối cảnh này, vì Josephus có bằng chứng rằng từ "Kathizete" trong một văn cảnh có tính pháp luật có nghĩa là "yêu cầu một cuộc xử đoán theo luật lệ".Đó chính là điều đang xảy ra ở đây. Tuy nhiên Phao Lô không xem phiên tòa của người ngoại đạo là "không ra chi" vì họ vô đạo đức, hoặc không công bình. Phiên tòa bị xem là "không ra chi" là căn cứ vào thực tại về cuộc phán xét sau cùng. Phao Lô nói như vậy bởi vì tín hữu sẽ xét đoán các thiên sứ, thể nào những công việc hằng ngày lại đem ra trước những người không tin là kẻ không dự phần gì trong Hội Thánh, và sẽ chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời.
    Trong câu 5-6 Phao Lô tiếp tục đưa ra câu hỏi. Bạn có nhớ rằng trong đoạn 4:8-13, Phao Lô đã cố gắng không làm họ hổ thẹn? Vậy mà bây giờ ông đang làm việc đó! Đối với một nhóm tín hữu là những người tự khoe mình là khôn ngoan, Phao Lô hỏi: "Trong vòng anh em chẳng có một kẻ khôn ngoan nào phân xử được giữa anh em mình hay sao?"Câu hỏi này là một đòn tấn công trực tiếp vào sự kiêu hãnh của họ.
    6:7-8 Sau khi quở trách toàn thể Hội Thánh vì đã để việc ấy xảy ra; Phao Lô quay sang ông B- ít nhất ông đã làm việc ấy trong câu 7. Với hai câu hỏi, đơn giản nhưng sâu sắc, ông kêu gọi ông B vâng theo nguyên tắc không báo thù của Chúa Jesus.
    Chúa Jesus không những dạy rằng Cơ Đốc Nhân không nên báo thù , nhưng chính Ngài đã sống đúng như vậy. Trong Mat Mt 5:38-42LuLc 6:27-35 Chúa Jesus đã phán một cách mạnh mẽ về nhu cầu quan tâm đến người khác và không trả thù. Kế đó trong 9:51-56 Chúa quở trách các môn đồ vì họ muốn xin lửa từ trên trời đổ xuống trên dân thành Samari. Trong 23:33-38 Ngài đã cầu xin Đức Chúa Trời tha thứ cho những kẻ giết Ngài. Họ đã nhổ vào mặt Ngài và đấm Ngài, nhưng Ngài đã không trả thù. (Mat Mt 26:67-68 và các chú dẫn).
    Phao Lô dạy đạo lý này bằng cách xử dụng thể mệnh lệnh trong những thư tín khác. Trong RoRm 12:17-21 ông ra lệnh "Chớ trả thù ai", trước đó, trong ITe1Tx 5:15 ông đã yêu cầu "Hãy giữ, chớ có ai lấy ác báo ác cho kẻ khác".
    Rõ ràng rằng trở nên một tín đồ không làm cho cuộc sống dễ dàng hơn! nhưng một lần nữa câu trả lời này đặt nền tảng trên giáo lý về thời sau cùng. Cơ Đốc Nhân có thể chịu đựng sự gian trá trong cuộc sống hiện tại, bởi vì họ đang hướng đến tương lai vinh hiển. Họ đã được giải phóng khỏi sự thống trị hà khắc của lòng ích kỷ trong thế giới hiện tại. Họ được tự do để sống yêu thương là đặc tính của cuộc sống mới sắp tới. Họ được tự do để sống như vậy vì trong Đấng Christ họ đã chết và đã sống lại để sống cuộc sống mới (RoRm 6:1-12, IICo 2Cr 5:14-17) Do đó họ được tự do để chịu khổ dưới tay của kẻ thù mà vẫn yêu thương họ, như Đấng Christ đã làm. Bây giờ Phao Lô hỏi: "Sao chẳng chịu sự trái lẽ là hơn?" "Sao chẳng đành sự gian lận là hơn" (ICo1Cr 6:7) Ông B được kêu gọi để noi theo Đấng Christ.
    6:9-11. Thật không dễ hiểu đoạn văn này nếu mới coi sơ qua. Thình lình Phao Lô dường như đổi hướng, khi ông nêu lên thực tế là kẻ gian ác sẽ không được thừa hưởng nước thiên đàng. Sau đó ông đưa ra điển hình một số kẻ gian ác và kết luận bằng nhận xét rằng một vài tín hữu ở Cô rinh tô trước kia cũng thế, nhưng bây giờ không còn như vậy nữa. Điều này có liên quan gì đến sự kiện cáo?
    Câu trả lời nằm trong bản văn tiếng Hy lạp. Trong câu 8 cuối cùng Phao Lô khuyên dạy người gây ra toàn bộ vấn đề: Ông A. Hành động của cả hai người đều là một sự thất bại cho Hội Thánh, Vì vậy bây giờ ông quay sang ông A "Anh em...... gian lận và làm ra sự trái lẽ". Trong tiếng Hy lạp từ đó là "adikeo" nguyên nghĩa là "đối xử với người khác không công bằng" hoặc "làm điều ác" Trong câu 8 Phao Lô nói: "Anh em đã đối xử không công bằng với anh em mình" và trong câu 9 ông nói "anh em chẳng biết những kẻ không công bình chẳng bao giờ được hưởng nước Đức Chúa Trời sao?"
    Tuy nhiên Phao Lô không loại ông A ra khỏi nước thiên đàng. Chủ điểm của phân đoạn dường như cảnh cáo toàn Hội Thánh là họ phải sống cuộc đời mới trong Đấng Christ. Những người vẫn còn sống trong ảnh hưởng của Satan sẽ không có phần gì với Đức Chúa Trời. Chủ điểm hình như là "Đừng giống như họ" Nhưng hãy nhận xét thế nào Phao Lô đã nêu bật được chủ điểm ấy bằng cách một lần nữa nhấn mạnh vào thể chỉ định và thể mệnh lệnh. "Anh em đã từng như vậy" "nhưng anh em không còn như vậy nữa" "Anh em đã được sạch" (thể chỉ định) "Vậy, đừng giống như họ" (thể mệnh lệnh). Ông đã diễn tả mệnh lệnh nầy bằng một lời cảnh cáo.
    14. Bây giờ hãy ôn lại toàn bộ phần bài học về sự kiện cáo. Ghi nhớ câu trả lời của Phao Lô cho Hội Thánh là: 1) Hội Thánh sẽ tham dự vào sự phán xét cuối cùng trong tương lai vì vậy họ phải có khả năng giải quyết được trường hợp ở hiện tại; 2) Ông cố làm cho họ hổ thẹn bằng cách xử dụng chính việc họ tự hào về việc khôn ngoan của họ.
    a Câu trả lời của Phao Lô cho ông A là?......
    b Câu trả lời của Phao Lô cho ông B là?......
    MỘT VÀI Ý KIẾN CÓ TÍNH CHẤT KHOA GIẢI KINH
    Chúng ta không thể dành nhiều thời gian vào khoa giải kinh (hermeneutics) trong phần này. Ở đây chúng ta có một trường hợp rõ ràng về những yếu tố tương đồng ngay cả nếu các phiên tòa có thể thay đổi đáng kể trong các nền văn hóa hiện đại. Đạo thập tự giá, là đạo không báo thù, vẫn còn hiệu lực. Trong Đấng Christ chúng ta được tự do khỏi sự hà khắc của tính ích kỷ, với đặc điểm của nó là bảo vệ quyền lợi của chúng ta trong thế giới hiện tại. Chúng ta không vâng theo quan điểm này. Thật ra đó chính là một quan điểm không thể chịu đựng được, quá quắt từ lập trường cũ kỹ, của loài người. Nhưng trong Đấng Christ chúng ta được tự do khỏi quan điểm đó. Đây là nguyên tắc của nước Đức Chúa trời, Vì chúng ta ở dưới luật pháp của Đức Chúa Trời nên chúng ta phải sống theo nguyên tắc của nước thiên đàng. Đây là đặc ân vinh hiển của tình môn đệ.
    Nói cho vui cứ thử xem bạn có thể trả lời câu hỏi của Phao Lô trong câu 7 mà không bắt đầu câu trả lời của bạn bằng chữ nhưng không . Thí dụ như "Nhưng ông có biết ông ta đã làm hại gì tôi không.." Sự cứu chuộc trong Đấng Christ đã cất đi những chữ nhưng như thế ra khỏi đời sống của chúng ta.
    TRƯỜNG HỢP THÔNG DÂM
    ICo1Cr 6:12-20
    Bây giờ Phao Lô đúc kết vấn đề với chủ đề đoán xét ở trong tâm trí câu 9-11, đúc kết cuộc tranh luận chống lại việc kiện cáo, bây giờ được sử dụng như một phương tiện thuận lợi để trở lại nói thêm vài điều về sự gian dâm.
    15. Đọc 6:12-20 và so sánh với 5:1-3. Rõ ràng rằng cả hai phân đoạn đều liên quan đến sự gian dâm. Nhưng có sự khác nhau giữa hai khúc Kinh Thánh. Hãy nhận diện ít nhất hai điều khác nhau.
    a. Đoạn 5:1-3 nói về......và......
    b. Đoạn 6:12-20 nói về......và......
    Vấn đề
    Cũng như hai vấn đề trước đây, vấn đề và câu trả lời lần này cũng căn bản rõ ràng. Một vài tín hữu tại Cô rinh tô đang tranh luận về, hoặc thật sự có dính líu đến, việc quan hệ tính dục với gái mãi dâm. Nhưng làm sao họ có quan điểm vô luân ấy được? Câu trả lời của Phao Lô cho chúng ta khá nhiều chìa khóa cho việc dựng lại sự biện hộ của họ. Ở đây chúng ta có thể chắc chắn rằng điều ấy có liên quan đến thần học sai lầm của họ trong trường hợp này là sự ngộ nhận về thân thể vật lý.
    Chìa khóa nền tảng nằm trong câu 12 và 13. Bạn có thấy các phần của những câu này kèm theo dấu ngoặc kép trong bản NIV? Điều đó có nghĩa là các dịch giả cho rằng những câu này là quan điểm của người Cô rinh tô, được phép trích dẫn nhưng giảm nhẹ bớt.
    Chúng ta hãy đọc những nhận xét của Barrett cho hai trích dẫn của Phao Lô mà ông thảo luận trong trang 144-147. Nhận xét hai quan điểm mà các trích dẫn này nêu ra: 1) "Mọi sự đều có phép làm" mô tả chủ nghĩa tự do (đây là một từ khác đồng nghĩa với chủ nghĩa bất định (antinomianism) và có nghĩa là tự do để làm bất cứ điều gì mình muốn) những người theo chủ nghĩa tự do phóng đãng đã xem sự tự do như sự tùy tiện, và 2) "Đồ ăn vì bụng, bụng vì đồ ăn" phản ánh chủ nghĩa ngộ đạo, ở đây có nghĩa là có một cái nhìn hạ thấp về thế giới vật chất này, bao gồm cả thân thể con người.
    Quan điểm của tín hữu tại Cô rinh tô rõ ràng là như thế này: "Đấng Christ đã đem chúng ta đến sự tự do. Chính Phao Lô đã nói rằng trong Đấng Christ chúng ta được tự do khỏi luật pháp. Vì vậy, là Cơ Đốc Nhân chúng ta được phép làm mọi việc. Hơn nữa, chúng ta biết rằng cả bao tử và đồ ăn đều thuộc về thế giới này và sẽ qua đi, vấn đề chúng ta ăn uống gì không liên quan đến Đức Chúa Trời. vì điều đó đúng với bao tử và đồ ăn, chắc chắn nó cũng đúng với thân thể và quan hệ tình dục." Có lẽ họ không nghĩ đúng y như thế. Nhưng chỉ có sự diễn tả lại như vậy mới làm cho câu trả lời của Phao Lô có ý nghĩa.
    Tất cả những điều đó cho thấy rằng không phải đơn giản chỉ là vấn đề tính dục nói chung mà là liên hệ tính dục tại đền miếu. Như chúng ta sẽ thấy trong bài 9, họ tranh luận về đặc quyền tham dự các buổi tiệc ở những đền miếu và ở đây họ cũng tranh luận về quyền tham dự các "sinh hoạt" khác nữa. Thần học sai lầm của họ đã dẫn dắt họ đi sai lạc một lần nữa.
    16 Trước khi tiếp tục xem câu trả lời của Phao Lô, hãy ôn lại vấn đề. Viết câu trả lời vào chỗ trống.
    a. Vấn đề trong 6:12-20 là sự kết hợp giữa ...... và......
    b. Họ đã biến sự tự do của Cơ Đốc Nhân thành ......
    c. Họ thêm vào đấy quan điểm sai lầm về ......của con người mà họ nghĩ là chỉ để dành cho sự hủy diệt
    d. Họ có lẽ đã tranh luận về quyền tham dự ...... tại đền miếu.
    Câu trả lời của Phao Lô
    Lưu ý: Trong phần này tôi sẽ không tiếp tục theo dõi từng phân đoạn như trước đây vì toàn bộ phần Kinh Thánh này là một cuộc tranh luận dài chống lại thần học sai lầm của họ. Vì vậy, chúng ta sẽ bàn về cách Phao Lô trả lời về chủ nghĩa tự do và chủ nghĩa ngộ đạo. Ông trả lời chủ nghĩa tự do trong câu 12, và chỉ ra những sự sai trật trong quan điểm ngộ đạo về thân thể con người trong những câu còn lại.
    Câu trả lời của PhaoLô cho vấn đề cũng rõ ràng. Trả lời cho câu hỏi : "Có nên lấy chi thể của Đấng Christ mà thành chi thể của điếm đĩ chăng?" (6:15) ông kêu lên "không bao giờ!" "Hãy tránh sự dâm dục"Ông nói trong câu 18. Nhưng quan điểm của họ bắt nguồn từ thần học sai lầm và lập luận không đúng. Vậy ông trả lời cho điều ấy ra sao? Chúng ta cần ghi nhận rằng trong cả hai trường hợp ông đều dẫn chứng tiền đề của họ. Tiền đề mà ông có thể cũng đồng ý trong một bối cảnh khác. Nhưng ở đây ông hoàn toàn bác bỏ lập luận của họ, vì họ đã hiểu lầm tiền đề và đưa đến kết luận không đúng.
    6:12 Quan điểm đầu tiên mà Phao Lô phê phán mạnh mẽ là chủ nghĩa tự do của họ, quan điểm cho rằng con người được tự do làm bất cứ điều gì mình muốn.
    17. Đọc những nhận xét của Barrett trang 145-146. Bạn có thể nhận ra hai quan điểm mà Phao Lô nêu lên không?
    Phẩm chất thứ nhất là một điểm rất quan trọng khác đối với Phao Lô và một lần nữa nó liên hệ đến thần học về ân điển của ông. Một người theo luật pháp hỏi rằng "Điều gì được phép làm? Luật pháp bảo tôi phải làm gì để được đẹp lòng Đức Chúa Trời, và tôi có thể làm gì để cứ ở trong ân hụê của Ngài?" Một người theo chủ nghĩa tự do không đặt câu hỏi, anh ta tuyên bố "Bởi vì chúng ta không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời trên nền tảng của luật pháp, do đó không có luật pháp nào cả, và điều gì cũng đúng hết". Nhưng Phao Lô nói: "Vấn đề không phải là điều gì được phép, điều gì đúng nhưng là điều gì có ích!" Đây là đạo lý được đặt nền tảng trên một nguyên tắc mới hoàn toàn, lòng biết ơn đáp lại ân điển thiên thượng, chứ không phải là sự tranh giành ích kỷ đặc quyền hay sự tự do.
    Phẩm chất thứ hai nêu lên một điểm khác. Barrett nói rằng điểm này hay cách đặc biệt: "Sự tự do của Cơ Đốc Nhân không phải là sự tùy tiện, vì sự tùy tiện còn tệ hơn sự tự do" Sự tùy tiện có nghĩa là khiến một người một lần nữa làm nô lệ cho tình dục và tính ích kỷ của chính mình. Đấng Christ đã giải phóng chúng ta khỏi những điều này cách rõ ràng. Vì thế, Sự tùy tiện còn tệ hại hơn sự tự do. Nó là sự nô lệ.
    6:13-20 Phần còn lại của câu trả lời của Phao Lô tấn công vào quan điểm của ngộ đạo thuyết về thân thể con người. Có thể thấy điều này qua bài tập sau:
    18 Từ ngữ "thân thể" xuất hiện bao nhiêu lần trong 6:13-20 dẫn chứng.
    ......
    Phao Lô tấn công quan điểm ngộ đạo về thân thể theo ba cách. Thứ nhất, trong câu 13 và 14 ông chỉ ra họ đã hiểu lầm giáo lý Cơ Đốc về thân thể. Ông bắt đầu bằng sự đồng ý với tiền đề của họ về bao tử và thức ăn như chúng ta sẽ biết trong bài 9, đối với Phao Lô thức ăn không phải là vấn đề quan trọng. Thức ăn và bao tử chỉ thuộc về thế giới hiện tại. Nhưng thân thể là một vấn đề hoàn toàn khác. Thân thể thuộc về Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể chắc chắn về điều đó vì thân thể không phải dành cho sự hủy diệt mà dành cho sự sống lại. Đó là chủ điểm của câu 14.
    Đằng sau lời tuyên bố của Phao Lô trong câu 13-14 là thần học Cơ Đốc về sự sáng tạo. Đức Chúa Trời đã tạo dựng thế giới vật chất này và tuyên bố rằng nó là tốt lành. Ngài cũng tạo nên con người, một bổn thể gồm thân thể và tâm linh hiệp nhất. Nhưng thân thể con người phải chịu đau khổ do ảnh hưởng của sự sa ngã. Do đó bây giờ nó bị hủy hoại và dành cho sự chết. Nhưng trong thập tự giá và sự sống lại của Đấng Christ toàn thể con người đã được cứu chuộc. Trong chính bản văn này, nơi Phao Lô đề cập về thân thể, ông nói: "Anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi" (6:20) Cả thân thể và tâm linh được dành cho sự vinh hiển. Thân thể thuộc về Đấng Christ, vì vậy Ngài sẽ khiến nó sống lại. Chúng ta sẽ đi sâu vào chi tiết của thần học này trong bài kế, khi chúng ta học đến 15:1-58.
    Thứ nhì, trong câu 15-17 ông vạch ra rằng họ đã hiểu sai về tính chất thật sự của quan hệ tính dục. Khi một người đàn ông và đàn bà kết hợp với nhau trong quan hệ tính dục, họ trở nên một trong thân thể. Đây là chủ điểm của SaSt 2:24. Nhưng tín hữu và điếm đĩ thuộc về hai phạm vi hoàn toàn khác nhau (Thánh Linh và Satan) Vì vậy, tín hữu, người đã nên một với Cứu Chúa của mình trong Thánh Linh, không thể nên một trong thân xác với người ở trong phạm vi của Satan. Điều đó sẽ khiến "chi thể của Đấng Christ"trở nên một phần của thế gian. Một lần nữa, điều này phản ánh thần học về sự sáng tạo và sự cứu chuộc đã phác thảo ở phân đoạn trước (Đừng cố gắng áp dụng nguyên tắc này cho tín hữu đã lập gia đình với người ngoại, Phao Lô có vài lời về quan hệ như vậy trong đoạn kế tiếp).
    Thứ ba, Phao Lô tái áp dụng thần học về đền thờ đối với thân thể. Bởi vì Thánh Linh của Đức Chúa Trời hằng sống ngự trong tín hữu nên anh ta, cũng như Hội Thánh , là đền thờ của Đức Chúa Trời. Nghĩa là, tín hữu là đền thờ nơi Đức Chúa Trời ngự. Vì vậy anh ta không thể đem đền thờ của Chúa kếp hợp với các đền thờ khác.
    Vậy Phao Lô đã đối lại với thần học sai lầm đã dẫn họ đến việc đòi hỏi quyền được đi đến điếm đĩ. Nhưng lưu ý rằng ông không bắt đầu với từ "không". Thay vì vậy ông đưa ra chủ điểm là sự dâm dục đơn giản không thể hòa hợp được với cuộc sống trong Đấng Christ.
    Chúng ta đã đi đến phần kết thúc của bài 6. Sẽ không có những ý kiến có tính chất khoa giải kinh cho đoạn ICo1Cr 6:12-20 vì chúng sẽ được nói đến trong bài tiếp theo. Hãy ôn lại bài học thật kỹ. Cố gắng nghĩ ra tính chất của vấn đề và câu trả lời của Phao Lô cho mỗi phần . Sau đó hãy làm bài tự kiểm tra. Khi làm xong, hãy so sánh câu trả lời của bạn với phần trả lời trong sách.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    BỔ TÚC. Điền vào những câu dưới đây cho đầy đủ ý nghĩa:
    1. Viết ra hai phần của vấn đề trong đoạn 5:1-13. Phải cụ thể, rõ ràng.
    a......
    b......
    2. Viết ra tính chất của vấn đề kiện cáo trong đoạn 6:1-11 trong mối liên hệ với
    a Hội Thánh......
    b Ông A, người đã đối xử tệ với ông B......
    c Ông B, người bị đối xử sai trái......
    XẾP CHO PHÙ HỢP. Xem xét biểu đồ của mối liên hệ giữa thể chỉ định và thể mệnh lệnh.
    3. Điền câu trả lời đúng (theo số bên phải sơ đồ) vào chỗ trống bên dưới sơ đồ.
    CÂU TRẮC NGHIỆM: Chỉ có một câu trả lời đúng cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn câu trả lời đúng.
    4. Chủ đề chính của phân đoạn từ 5:1-5 là:
    a) Dạy Hội thánh về tính chất và nhu cầu của sự rút pháp thông công.
    b) Thúc đẩy Hội thánh hành động chống lại người đàn ông loạn luân.
    5. Chủ đề chính của phân đoạn 5:6-8 là :
    a) Dạy Hội thánh về mối liên hệ giữa thể chỉ định đối với thể mệnh lệnh trong luân lý Cơ đốc.
    b) Giải thích cho Hội thánh, bằng các ẩn dụ, tại sao họ phải rút phép thông công người đàn ông loạn luân.
    6. Chủ nghĩa chính của phân đoạn 5:9-13 là :
    a) Giải thích sự khác nhau trong những mối liên hệ mà Cơ đốc nhân có thế có với người ngoại đạo và người phạm tội.
    b) Giải tỏa sự hiểu lầm trong lá thư trước của Phao Lô bằng cách giải thích rằng họ có thể giao tiếp tự do với người ngoại đạo, nhưng không được giao tiếp với những tín hữu giống như người đàn ông loạn luân, người cứ tiếp tục sống như người ngoại.
    7. Chủ đề chính của đoạn 6:1-6 là:
    a) Nêu lên rằng dựa trên nền tảng của thực tại có tính chất thời sau cùng, Hội Thánh phải có khả năng giải quyết những lời phàn nàn của tín hữu với nhau trong cộng đồng Cơ Đốc
    b) Nêu lên sự thật là Cơ Đốc Nhân sẽ tham dự vào sự phán xét cuối cùng đối với thế gian và thiên sứ.
    8. Trường hợp loạn luân có lẽ là liên hệ giữa một thành viên trong Hội Thánh với:
    a) Mẹ của anh ta.
    b) Mẹ kế của anh ta.
    c) Chị , em của anh ta.
    d) Bà gia.
    9. Chỉ ra câu nào KHÔNG ĐÚNG với quan điểm của Phao Lô về kỷ luật Hội Thánh trong I Cô rinh tô 5:1-15
    a) Đó là công việc của toàn bộ thân thể như là một cộng đồng của Đức Thánh Linh.
    b) Điều đó chỉ được thực hiện khi có sự hiện diện của một sứ đồ.
    c) Mục đích cốt yếu là để cứu vớt.
    d) Điều đó chỉ dành cho những tội thật sự ảnh hưởng đến tư cách của Hội Thánh trong thế gian.
    10. Vài tín hữu ở Cô rinh tô đòi hỏi quyền tham dự sinh hoạt tính dục tại đền miếu (6:12-20) vì họ đã hiểu sai giáo lý Cơ Đốc về:
    a) Bản chất của sự tự do và bản chất của thân thể.
    b) Bản chất của sự tự do và sự sống lại của Chúa Jesus.
    c) Chủ nghĩa ngộ đạo và bản chất của quan hệ tình dục.
    d) Bản chất của thân thể và sự vô luân của việc mãi dâm.
    CHỌN GIỮA ĐÚNG VÀ SAI. Viết chữ Đ trước câu trả lời đúng- chữ S trước câu trả lời sai.
    ......11. Phao Lô đề nghị rằng người đàn ông loạn luân phải bị khiển trách cách riêng tư bởi lãnh đạo của hội trách trước khi tội của anh ta bị đem ra trước Hội Thánh.
    ......12. Phao Lô lên án hành động cho cả hai bên trong trường hợp kiện cáo ở đoạn 6:1-11.
    ......13. Phao Lô muốn Hội Thánh đoán xét giữa hai tín đồ trong 6:1-11 bởi vì ông nghĩ rằng sự đoán xét của người La mã thì "ít được coi trọng" hơn một Cơ Đốc Nhân tầm thường nhất.
    ......14. Một phần của câu trả lời của Phao Lô cho vấn đề dâm dục trong 6:12-20 là lý luận rằng thân thể của tín hữu là đền thờ của Đức Thánh Linh và vì vậy không thể kết hợp với đĩ điếm.
    ......15. Câu trả lời của Phao Lô cho luân lý tự do của người Cô rinh tô trong 6:12-20 là tuyên bố rằng mặc dầu Đấng Christ đã giải phóng họ khỏi tội lỗi, họ vẫn không được miễn trừ đối với những yêu cầu luân lý của luật pháp.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. Kiểm tra câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập.
    2. Không cần trả lời
    3. a. Họ phải rút phép thông công người đàn ông ấy
    b. (câu 2) Đừng làm bạn với người đàn ông phạm tội ấy
    ( câu 5) Phó người ấy cho quỷ Satan
    4. a. Chủ nghĩa luật pháp
    b. Phúc âm Cơ đốc
    c. Chủ nghĩa tự do
    5. a. Sai .Điều này có trong phân đoạn nhưng không phải là chủ điểm ý chính của Phao Lô là giải thích tại sao họ phải loại người đàn ông loạn luân ra khỏi cộng đồng_vì sự trong sạch của Hội Thánh.
    b. Sai. Một lần nữa điều này có xuất hiện nhưng ý của Phao Lô là bảo họ thực hiện lời tuyên án dứt phép thông công mà ông đưa ra.
    6 a. 4:3-5 " Đừng xét đoán"
    5:1, 2 " Xét đoán kẻ ở trong". Trong cả hai trường hợp người bị xét đoán " là người "ở trong" Hội thánh.
    b. Câu trả lời của bạn. Kiểm tra với sách hướng dẫn học tập.
    7. b. Phao Lô và Hội Thánh cùng thực hiện (xem bản dịch "chúng ta nên").
    (Câu 7 ) Làm cho mình sạch men cũ
    ( câu 11) Không nên ăn chung với người thế ấy
    ( câu 13) Trích dẫn PhuDnl 17:7,. Hãy trừ bỏ kẻ gian ác khỏi anh em.
    c. Câu trả lời của bạn
    8. Bản chất tội lỗi, thân thể vật lý.
    9. c. Gặp riêng người ấy, như một anh em trong Chúa, giúp đỡ anh ta kinh nghiệm được sự tha thứ
    của Đức Chúa Trời và tình yêu thương của thân thể.
    10. a. Xét đoán và lên án, sự đối nghịch với người khác, về việc lên án, xét đoán thế gian, xét đoán các thiên sứ, được chỉ định như người đoán xét, xét đoán một việc đối nghịch lẫn nhau, đưa ra pháp luật kiện cáo.
    b. Sự dâm dục, thân thể không phải dành cho sự dâm dục, điếm đĩ, người kết hiệp với một điếm đĩ, sự dâm dục, tội tà dâm (bạn có thể đưa ra từ thân thể như là chủ đề chính. Nếu vậy bạn cũng không xa đề nhưng hãy lưu ý chủ đề thật sự là sự dâm dục xảy ra trong thân thể)
    c. Sự đoán xét 5:3, 12, 13 Sự dâm dục 5:1, 9, 11
    11. Câu trả lời của bạn
    12. a. Hội thánh
    b. Ông B - người thưa kiện
    c. Ông A - người lừa gạt
    13. a. Tòa án của người ngoại
    b. Các tín hữu
    14. a. Anh ta không nên sống như người sai trái không biết ăn năn tội.
    b. Ông ta không nên báo thù, ông ta nên tha thứ
    15. a. Loạn luân, một trường hợp
    b. sự mãi dâm, chỉ dẫn chung.
    16. a. Chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa ngộ đạo
    b. Sự tùy tiện
    c. Thân thể
    d. Sự mãi dâm
    17. Câu trả lời của bạn
    18. Tám lần (6:13, 13, 15, 16, 18, 19, 19, 20)

    Sự Sống Lại Trong Thân Thể Của Cơ Đốc Nhân.
    Bạn có thể tự hỏi vì sao một số Cơ Đốc Nhân có thể tranh luận như các tín hữu ở Côrinhtô đã làm trong bài học trước đây. Đã có điều gì sai trật ? Họ đã hiểu sai bản chất thật của đức tin Cơ Đốc.
    Chúng ta sẽ nghiên cứu 15:1-58 ngay trong bài này, bởi vì cũng Thần học sai lầm này đã gây ảnh hưởng xấu ở đây. Rõ ràng quan điểm của tín hữu ở Côrinhtô rất giống với quan điểm của Hy-mê-nê và Phi-lết "họ xây bỏ lẽ thật, nói rằng sự sống lại đã đến rồi, mà phá đổ đức tin của một vài người cách như vậy" (IITi 2Tm 2:18 ). Một người khó có thể vui mừng khi một người khác đang sai trật. Nhưng trong trường hợp này, bởi sự quan phòng của Đức Chúa Trời những lầm lỗi của người Côrinhtô đã được biến nên điều tốt lành. Vì nhờ đó chúng ta có đoạn Kinh Thánh kỳ diệu này.
    Có lúc chúng ta không thấy được ý chính của một đoạn Kinh Thánh do phân tích quá nhiều. Tuy nhiên, đừng để điều đó xảy ra ở đây. Khi kết thúc bài học, bạn hãy đọc ICo1Cr 15:50-58 lớn tiếng. Sau đó đọc lại lần nữa- rồi một lần nữa- cho đến khi lòng bạn được cảm động. Đây là tương lai vinh hiển đang chờ đợi chúng ta.
    Vấn đề
    Lời giải đáp của Phao Lô
    Sự sống lại của Đấng Christ
    Sự sống lại của kẻ chết
    Sự sống lại của thân thể
    Vài câu hỏi về nội dung
    Quan niệm của Phao Lô về sự sống lại của thân thể
    Một vài đề nghị có tính cách khoa giải kinh
    Khi học xong bài này, bạn sẽ có thể:
    * Giải thích ý tưởng về sự sống lại của thân thể có tầm quan trọng thế nào khiến Phao Lô phải viết 15:1-58.
    * Theo dõi trình tự câu trả lời của Phao Lô đối với quan điểm sai lầm về sự sống lại của thân thể.
    * Trình bày những cuộc tranh luận chống lại niềm tin vào sự bất diệt của linh hồn.
    * Giải thích vì sao niềm tin vào sự sống lại của thân thể là một phần rất quan trọng trong đức tin của chúng ta.
    1. Đọc 15:1-58
    2. Đọc sách Barrett, trang 334-385 . Khi bạn được yêu cầu làm như vậy
    3. Nghiên cứu bài học, từng phần một
    4. Làm bài tập tự kiểm tra ở cuối bài
    5. Hãy ôn tập cho bài đánh giá tiến bộ 2, theo như chỉ dẫn trong tập tài liệu học viên. Khi làm bài đánh giá nầy, hãy tuân theo các hướng dẫn một cách cẩn thận.
    Lý luận dựa trên kinh nghiệm (ad hominen)
    Giáo lý dành cho người mới tin Chúa (didache)
    Trái đầu mùa (firstfruit)
    Lời truyền giảng ban đầu (kerygma)
    Làm thay
    VẤN ĐỀ #
    15:1-58
    Đây sẽ là bài học duy nhất trong đó chúng ta sẽ nghiên cứu một đề tài không theo thứ tự trong ICôrinhtô . Chúng ta làm như vậy cho thuận tiện vì vấn đề Thần học ở đây cũng chính là điều đã gây nên vấn đề trong đoạn 6:12-20 mà bạn vừa mới học xong. Và cũng vì đây là câu trả lời cho một điều Phaolô được nghe nói chớ không phải câu trả lời cho lá thư của họ.
    LƯU Ý : Đoạn 15 khác biệt một cách có ý nghĩa so với tất cả những vấn đề khác mà Phaolô trả lời trong ICôrinhtô. Trái với những vấn đề khác, vấn đề ở đây hoàn toàn liên quan đến Thần học, chớ không liên quan đến hành vi cư xử. Trong tất cả những phần khác của lá thư, các vấn đề nêu ra đều liên hệ đến hành vi. Như các bạn đã biết, các vấn đề liên hệ đến hành vi đều phát sinh từ Thần học sai lầm, vì vậy chúng ta cũng bàn đến một vài Thần học. Nhưng ở đây chúng ta chỉ có Thần học mà thôi. Do đó chúng ta sẽ thấy Phao Lô sử dụng một cách tranh luận hơi khác. Ngay cả ở đây, chúng ta sẽ có thể theo dõi cuộc tranh luận từng phân đoạn một. Và câu trả lời của Phaolô cũng như trước, được đưa ra để đáp ứng một tình huống đặt biệt có điều gì đó sai trật ở Hội Thánh Côrinhtô.
    1 Đọc 15:1-58 hai lần. Khi đọc lần thứ nhất, hãy tìm những gợi ý cho biết vấn đề là gì.
    a Khi đọc lần thứ hai, hãy liệt kê những ý tưởng và cụm từ được lập đi, lập lại.
    b Bằng ngôn ngữ của bạn, hãy cho biết vấn đề ở đây là gì ?
    c Hãy đọc lướt đoạn Kinh Thánh một lần và nhận định những phân đoạn chính (ba phân đoạn). Theo bạn mỗi phân đoạn liên hệ như thế nào đến vấn đề.
    Đây là một trường hợp nữa mà chúng ta có thể biết chắc vấn đề là gì. Trong câu 12 Phao Lô hỏi, "Sao trong anh em có kẻ nói rằng những kẻ chết chẳng sống lại ?". Chúng ta sẽ đặt những câu hỏi "Thế nào? (How), Cái gì?(What), Tại sao?(Why) để nghiên cứu câu này. Đó là làm thế nào Phao Lô biết được vấn đề đó? Bản chất của vấn đề là gì? Tại sao một vấn đề như vậy có thể xảy ra?.
    Thế nào? Chúng ta không hỏi làm thế nào Phaolô biết được vấn đề này để khám phá vấn đề là gì hoặc lời giải đáp là gì? Tuy nhiên trong bài 3, phần thảo luận về "Dàn bài" cho ta ghi nhận rằng đây là một trong hai phần mà các học giả đã không thể đồng ý với nhau rằng đây là vấn đề Phaolô nghe nói lại hay được viết trong một lá thư. Một cách vắn tắt, tôi nghĩ là Phaolô biết được việc ấy do được tường thuật lại. Vì 1) Cụm từ "Luận đến" thường được thấy trong những phần giải đáp cho lá thư của họ không xuất hiện ở đây. 2) Mệnh đề "Sao trong anh em có kẻ nói rằng" trong câu 12, nghe có vẻ như là câu trả lời cho một việc nói miệng hơn là trả lời cho một lá thư. Dẫu thế nào đi nữa, vẫn có sự tranh luận về vấn đề ấy, và lời giải đáp cho câu hỏi làm thế nào Phaolô nghe được vấn đề đó không quan trọng lắm đối với sự hiểu biết của chúng ta về đoạn Kinh Thánh nầy.
    Là gì ? Đây là một câu hỏi thật sự quan trọng, bởi vì ICôrinhtô 15 chính là lời giải đáp. Vậy vấn đề này là gì? Rõ ràng nó liên quan đến "Sự sống lại của người chết". Một vài tín hữu đã nói rằng "không có sự sống lại". Điều ấy có nghĩa gì?.
    2 Khoanh tròn câu trả lời đúng
    a Vấn đề sự sống lại của người chết trong Côrinhtô liên quan đến việc một số tín hữu phủ nhận sự sống lại của Đấng Christ.
    Nếu bạn không làm được bài tập trên, đọc lại 15:1-28 và hãy tự hỏi sự sống lại của Đấng Christ đóng vai trò gì trong lập luận.
    Mặc dầu Phaolô bắt đầu cuộc thảo luận của ông về sự sống lại bằng việc xác nhận lại sự thật về sự phục sinh của Đấng Christ. Đây không phải là vấn đề chính. Xuyên suốt cả đoạn, Phaolô không hề nhắc đến việc tín hữu tại Côrinhtô không tin vào việc Chúa Jêsus sống lại từ cõi chết. Thật ra ông tái xác nhận điều ngược lại. Trong câu 1 ông nhắc họ về Phúc âm mà ông đã rao giảng, mà họ đã nhận lấy. Và trong câu 11 ông lập lại: "Nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại......" (câu 14,15,17). Do đó toàn bộ cuộc tranh luận dựa trên sự kiện là họ có đức tin nơi sự sống lại của Đấng Christ. Họ tin rằng Chúa Jêsus đã từ kẻ chết sống lại.
    Kế đó, vấn đề được tìm thấy qua hai cụm từ mà chúng ta đã biết khi trả lời cho bài tập 1 - Sự sống lại của người chết và của thân thể. Từ những điều bạn đã học trong bài 6, bạn có thể thấy vấn đề sẽ là gì? Nhưng chúng ta hãy nghiên cứu vấn đề kỹ hơn để không phải chỉ là phỏng đoán.
    Vấn đề là một vài tín hữu Côrinhtô phủ nhận sự sống lại trong tương lai của tín đồ. Lưu ý rằng đây là điểm chính làm nền tảng cho cả lập luận trong 15:12.
    3. Đọc lại 15:12-34. Ba lần Phaolô tranh luận với giả thuyết của họ bằng câu "Nếu người chết chẳng sống lại......".Qua ba câu Kinh Thánh sau hãy viết tiếp những câu nói của Phaolô bắt đầu bằng "Nếu người chết chẳng sống lại" :
    a 15:16 ......
    b 15:29......
    c 15:32......
    Rõ ràng từ lập luận của Phaolô chúng ta thấy rõ vấn đề chính là một số người đã phủ nhận sự sống lại trong tương lai. Vậy làm thế nào việc thảo luận về sự sống lại của thân thể trong câu 35-58 ăn khớp ở đây. Kinh nghiệm từ bài 6 dạy chúng ta rằng đây chính là lý do tại sao vấn đề nẩy sinh.
    Tại sao? Thật khó cho chúng ta ở thế kỷ 20 nầy tưởng tượng thế nào Cơ Đốc Nhân đã có thể không tin vào sự sống lại trong tương lai. Hiển nhiên là điều này được nói đến trong suốt Kinh Thánh Tân ước. Nhưng, đó chính là một phần của vấn đề. Tín hữu Côrinhtô đâu có Kinh Thánh Tân ước lúc đó. Thật ra ICôrinhtô là một trong những văn bản được viết ra sớm nhất trong các sách Tân ước.
    Hơn nữa mặc dầu giáo lý về sự sống lại đã được phát triển đầy đủ trong một bộ phận của Do Thái giáo vào thời của Đấng Christ, nhưng đã không có giáo lý như vậy trong xã hội của người Hy-Lạp. Một số người Hy-Lạp tin vào "sự bất diệt của linh hồn" nhưng không tin vào sự sống lại của thân thể. Ý tưởng về một thân thể sống lại đã không được chấp nhận đối với người Hy-Lạp. Đối với nhiều người Hy-Lạp, đặt biệt là những người có quan điểm ngộ đạo về thế giới vật chất, sự chết là sự giải thoát. Theo họ, nó có nghĩa là sự kết thúc của cuộc sống trong thân thể vật chất. Do vậy, ai lại muốn sống lại làm gì, nghĩa là sẽ sống trong thân thể nấy một lần nữa?
    Chúng ta cũng không biết chắc vào thời Hội Thánh ban đầu những tín hữu đầu tiên có được dạy đầy đủ giáo lý Cơ Đốc không. Và ngay cả nếu những người qui đạo sớm nhất đã được dạy rất nhiều điều, chưa chắc là những người qui đạo sau đó đã được dạy tất cả mọi điều. Có thể chắc chắn rằng sự phục sinh của Đấng Christ là một trong những điều được dạy trước hết. Phao Lô đã nói như vậy trong 15:1-11.
    Nhưng việc họ có được dạy về sự sống lại của thân thể hay không thì không rõ lắm. Hãy nhớ rằng các thơ tín chỉ thường được viết để điều chỉnh lại các hiểu biết sai trật, các lầm lỗi hoặc để soi sáng thêm một vài lẽ thật đã được hiểu phần nào. Qua lá thư trước của Phao Lô, I Têsalônica, chúng ta có chứng cớ rõ ràng rằng sự sống lại của thân thể đã không được tất cả mọi người hiểu rõ.
    4. Đọc cẩn thận ITe1Tx 4:13-18. Theo bạn câu nào diễn tả đúng nhất chủ điểm của phân đoạn. ( Khoanh tròn câu đó).
    a) Vài tín hữu Têsalônica không biết chắc về những biến cố trong tương lai vì vậy lần đầu tiên Phao Lô dạy họ về sự cất lên của Hội Thánh.
    b) Vài tín hữu Têsalônica không biết rõ về thứ tự của sự sống lại và Phaolô dạy họ rằng người sống không có lợi thế gì hơn người chết.
    c) Vài tín hữu Têsalônica đã chết trước khi Chúa tái lâm và những người còn sống không biết việc gì sẽ xảy ra đối với họ , nên Phaolô dạy họ lần đầu về sự sống lại của người chết.
    d) Vài tín hữu Têsalônica phủ nhận việc sống lại của thân thể của tín đồ do đó Phao Lô sửa lại sai lầm ấy bằng cách tái xác nhận sự sống lại.
    Nghiên cứu kỹ câu 12 và 14 của ITe1Tx 4:12, 14. Phaolô nói rằng người Têsalônica không biết về "người đã ngủ" và đó là lý do tại sao họ buồn rầu. Nhưng ông tiếp tục bảo đảm với họ rằng "những người chết trong Đấng Christ sẽ sống lại" (câu 16) bởi vì Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết (câu 14).
    Có thể rằng tín hữu Têsalônica đã không được dạy giáo lý này bởi vì đơn giản là họ không mong rằng có ai trong số họ chết trước khi Chúa tái lâm. Nhưng một khi đã có người chết, họ cần biết về sự sống lại. Trong bất cứ trường hợp nào, chúng ta có thể giả định rằng giáo lý về sự sống lại của thân thể cũng không phải là điều đầu tiên mà tín hữu Côrinhtô đã nghe. Và khi họ đã nghe điều ấy, vài người trong số họ đã phản đối sứ điệp. Tại sao?
    Có lẽ họ chống lại sứ điệp về sự sống lại của thân thể vì hai lý do giáo lý sai lầm của họ về ngày rau rốt và quan niệm ngộ đạo của họ về thân thể.
    Hãy trở lại đọc phần "Thần học sai lầm của người Côrinhtô" trong bài 5 và "Trường hợp thông dâm" trong bài 6. Bạn đã biết tại sao quan niệm ngộ đạo của họ về thân thể có thể đã khiến họ phủ nhận việc sống lại của thân thể. Nhưng nhận thức sai của họ về ngày sau rốt đã đóng vai trò gì trong việc phủ nhận ấy?
    5. Hãy cho biết theo bạn tại sao nhận thức sai của họ về ngày sau rốt có thể đã khiến họ chối bỏ sự sống lại của thân thể. Hãy xem lời dạy của Phaolô trong RoRm 6:1-4, CoCl 2:12, 3:1-4Eph Ep 2:6. Cố gắng tự làm bài trước khi xem phần trả lời.
    Trong IITi 2Tm 2:17-18 Phaolô cảnh cáo Timôthê về Hy- mê-nê và Phi-lết, những người đã dạy "sự sống lại đã đến rồi". Dường như đây cũng là vấn đề của Hội Thánh Côrinhtô. Nhưng làm sao họ có thể nói rằng sự sống lại đã đến khi họ vẫn còn đang sống trong thân thể?. Việc tái dựng sau đây có vẻ hợp lý nhất.
    Chúng ta đã ghi nhận nhiều lần rằng tín hữu Côrinhtô có quan điểm ngộ đạo về thân thể. Điều này có thể hiểu được vì đây là quan điểm mà họ có khi còn là người ngoại đạo. Vấn đề của họ là họ cố gắng đem quan điểm ấy vào đức tin Cơ Đốc. Có thể họ đã làm điều ấy qua nhận thức sai về ngày sau rốt. Khi họ nghe giáo lý về sự phục sinh lần đầu tiên, họ chỉ đơn giản thuộc linh hóa nó. Bởi vì họ tin rằng họ đã chết và đã sống lại trong Đấng Christ, cái chết chính là điều sẽ hoàn tất sự sống lại. Nhưng nó cũng là sự chấm dứt của thân thể để tâm linh có thể trở về với Đức Chúa Trời mãi mãi. Do đó đối với họ sự phục sinh đã xảy ra.
    Sau đó họ nghe Phao Lô, hoặc người khác, quả quyết rằng sự sống lại chưa đến. Nói cách khác đó là việc sẽ xảy ra trong tương lai và đó là sự sống lại trong thân thể của kẻ chết. Họ không chấp nhận điều ấy. Nó có vẻ vật chất quá. Vì thế một số người trong vòng họ đã nói : "không có sự sống lại của người chết" (ICo1Cr 15:12 ).
    Bây giờ hãy xem Phaolô giải đáp như thế nào. Nhưng trước đó hãy ôn lại phần này đến khi bạn chắc rằng mình đã nắm được mục tiêu 1.
    6. Bài tập ôn : Trả lời ngắn gọn những câu hỏi sau:
    a. Làm thế nào Phaolô nghe được vấn đề đó ? ......
    b. Vấn đề đó là gì ? ......
    c. Tại sao một vấn đề như vậy có thể xảy ra ? ......
    LỜI GIẢI ĐÁP CỦA PHAOLÔ
    Kinh Thánh: 15:1-58
    Chúng ta đã biết rằng mỗi phần chính trong I Côrinhtô có một chủ đề nổi bật. Tiêu đề theo bản NIV diễn tả chính xác chủ đề của từng phần "sự phục sinh của Đấng Christ" (15:1-11) ; "sự sống lại của kẻ chết" (15:12-34) và "sự sống lại của thân thể" (15:35-58)
    Trong bài tập 1, bạn phải nêu lên "Mỗi phần chínnh liên quan thể nào đến vấn đề ?". Bây giờ chúng ta hãy nghiên cứu câu hỏi này trước khi đi vào chi tiết của lập luận trong từng phần.
    Vấn đề chính thứ nhất mà Phaolô tranh luận là : Có một sự sống lại trong tuơng lai của Cơ Đốc Nhân. Ông dùng một loạt các lập luận khác nhau trong đoạn 15:12-34. Nền tảng chính của lập luận là một điều mà cả Phao Lô lẫn Hội Thánh Côrinhtô đều công nhận đó là sự phục sinh của Đấng Christ. Đây là lý do ông bắt đầu với chủ đề nầy trong 15:1-11. Sự phục sinh của Đấng Christ là nền tảng chung và ông sẽ tranh luận dựa trên nền tảng ấy. Sau cùng ông tranh luận về sự sống lại của thân thể, đó là có sự nối tiếp thật sự giữa hiện tại và tương lai của tín hữu, đó cũng chính là chủ điểm của 15:35-58. Ở đây sự sống lại của Đấng Christ là nền tảng cho cuộc tranh luận.
    Hãy bảo đảm rằng chúng ta hiểu rõ điều nầy trước khi tiếp tục nghiên cứu các phần chính. Ôn lại phần nầy và nhớ đừng xem trước sách hướng dẫn khi bạn trả lời bài tập 7.
    7 Hãy ghi chép trong sổ tay của bạn.
    a Lập danh sách những phần chính trong câu trả lời của Phaolô trong ICôrinhtô 15 và đặt tiêu đề cho mỗi phần.
    b Trình bày ngắn gọn vai trò của mỗi phần trong câu trả lời.
    Bạn đã trả lời bài tập này ra sao? Quan trọng hơn bạn đã làm bài tập 1 tốt không ?. Nếu câu trả lời của bạn cho bài tập 7 khác biệt nhiều so với bài tập 1, cố gắng tìm hiểu tại sao. Hãy nhớ rằng mục tiêu chính của khóa học nầy là giúp bạn tự làm các việc này một mình. Có lẽ bạn cần ôn lại phần suy nghĩ theo từng đoạn trong bài tập 1. Ghi nhớ: Câu hỏi quan trọng nhất là "Chủ điểm là gì ?" câu hỏi về nội dung của mỗi phân đoạn dĩ nhiên cũng liên hệ chặt chẽ. Nhưng câu hỏi trước tiên là: "Tại sao nội dung đó lại nằm ở vị trí này của lập luận?".
    Sự phục sinh của Đấng Christ
    Kinh Thánh: 15:1-11
    Chúng ta vừa ghi nhận rằng chủ điểm của phần này là tái xác nhận điểm chung của Phaolô và tín đồ tại Côrinhtô - Đó là niềm tin của họ vào sự phục sinh của Đấng Christ. Trong trường hợp nầy, niềm tin chung đó chính là trọng tâm của Phúc âm. Không có sự sống lại của người chết, như Phao Lô đã tranh luận trong câu 12-20, không những không có sự phục sinh của Đấng Christ mà đức tin của Cơ Đốc Nhân cũng ra vô ích. Như đã ghi nhận, Phaolô tái xác nhận niềm tin chung đó vì nó sẽ là nền tảng cho phần còn lại của cuộc tranh luận.
    Trước khi đi xa hơn, hãy tìm hiểu một từ có lẽ mới đến với bạn : Kerygma. Thuật ngữ Kerygma liên hệ đến sứ điệp Phúc âm căn bản cho người chưa được cứu, nó tương phản với từ didache là thuật ngữ nói về nội dung việc dạy đạo cho tín đồ. Kerygma là sứ điệp căn bản của tất cả những người truyền giảng Phúc âm thời Tân ước.
    8. Trong việc tái xác nhận sự sống lại, Phao Lô đã sử dụng nội dung căn bản của Kerygma, sứ điệp Cơ Đốc đầu tiên. Thuật ngữ của việc truyền giảng thuở ban đầu là Kerygma. Hãy viết ra ba yếu tố của Kerygma mà Phao Lô đưa ra ở đây.
    a ......
    b ......
    c ......
    Bản chất của Kerygma là điều thú vị đặt biệt đối với các học giả; vì đó là những căn bản sớm nhất mà chúng ta có trong Tân ước. Tôi chỉ gợi lên sự chú ý của bạn thôi. Bạn có thể tham khảo đoạn nói về điều ấy trong sách Barrett trang 337-341. Mối quan tâm của chúng ta ở đây chính là cách lập luận. Nói cách khác, tại sao Phaolô đề cập đến Kerygma ở đây.
    9. Đọc 15:1-11. Mặc dầu để cho thuận tiện, khúc Kinh Thánh này đã được chia làm ba phân đoạn theo bản NIV thực ra nó là một lập luận dài. Vì vậy thay vì theo dõi lập luận theo từng phân đoạn, trong bài tập này bạn hãy làm như sau :
    a. Liệt kê những điểm nhấn mạnh đặt biệt phản ánh mối quan tâm của Phaolô trong suốt đoạn Kinh Thánh.
    b. Theo bạn Phaolô đang làm gì trong câu 9-11 ?
    Khi đọc đoạn này bạn sẽ nhận thấy có hai điểm nhấn mạnh đặt biệt :
    Thứ nhất, Phaolô nhắc họ hai lần về Phúc âm mà ông đã rao giảng và Phúc âm mà họ đã nhận lấy, bao gồm việc sống lại của Đấng Christ. Ông nói điều đó trong câu 1-3 và nói lại trong câu 11. Cùng lúc đó ông nhấn mạnh rằng điều đó không chỉ là niềm tin của riêng ông mà là niềm tin chung của Hội Thánh. Đó là, " Điều mà chính tôi đã nhận lãnh"(câu 3) và "dầu tôi, dầu các người khác, đó là điều chúng tôi giảng dạy"(câu 11). Thứ nhì ông nhấn mạnh sự kiện Đấng phục sinh đã được nhiều người trông thấy. Hãy lưu ý ông thêm từ được chôn vào Kerygma. Đây có lẽ không phải là điểm chính trong sự dạy đạo ban đầu vì nó không xuất hiện ở những chỗ khác trong Tân ước (RoRm 6:1-4 là một ngoại lệ). Nhưng điều đó được nhắc đến ở đây vì Phaolô đang cố nhấn mạnh về sự chết của Đấng Christ ; chính là Đấng Christ đã chết, đã được chôn và đã hiện ra cho nhiều người xem thấy. Ông đề cập đến sáu lần Chúa phục sinh hiện ra, kể cả kinh nghiệm cá nhân của ông trên đường Đa mách. Ông nói trong câu 6 "phần nhiều họ hiện đang còn sống" do đó có thể kiểm tra những lời chứng của họ ở đây có một sự tuyên bố mạnh mẽ về thực tế Chúa sống lại. Dĩ nhiên việc này là để chuẩn bị cho lập luận trong đoạn kế tiếp.
    Câu 9-11 hơi ra ngoài đề. Nhưng Phaolô chẳng làm gì mà không có mục đích ! Bạn có nhớ vấn đề về chức vụ sứ đồ của ông trong đoạn 1-4 không? Ông cũng phải nói về việc ấy trong đoạn 9- dầu chúng ta chưa nghiên cứu đến phần đó. Trong khi Phaolô nhắc đến việc trông thấy Chúa phục sinh, ông một lần nữa dùng nó để bảo vệ chức vụ sứ đồ của mình. Ở đây ông nhấn mạnh việc Chúa đã thương xót kêu gọi ông vào chức vụ sứ đồ, mặc dầu ông là người không ra gì.
    10. Để ôn lại phần này, hãy trả lời những câu hỏi sau (khoanh tròn câu trả lời đúng)
    a. Trong câu 1-11 Phao Lô nhấn mạnh đến Kerygma để chứng minh rằng sự giảng dạy của ông cũng giống như của các sứ đồ khác.
    b. Điểm chính của 15:1-11 là tái xác nhận sự phục sinh của Đấng Christ như là nền tảng cho cuộc tranh luận sau đó của ông.
    c. Phao Lô nhấn mạnh đến sáu lần hiện ra của Chúa phục sinh vì có một Cơ Đốc Nhân nghi ngờ sự phục sinh của Đấng Christ.
    Sự sống lại của kẻ chết
    15:12-34
    Trong phần này chúng ta sẽ nghiên cứu lập luận thứ nhất của Phaolô; tức là lập luận về sự sống lại trong tương lai của tín hữu. Câu 12 được dùng như là một sự chuyển tiếp. Vì sự sống lại của Đấng Christ là điều mà chúng tôi rao giảng . Phaolô hỏi: "Sao trong anh em có kẻ nói rằng những kẻ chết chẳng sống lại?" (Không có sự sống lại trong tương lai của tín hữu )
    11. Đọc đoạn 15:12-34 hai lần . Phần này được chia thành ba phân đoạn rõ ràng, mỗi đoạn đóng góp vào lập luận chung theo một cách đặc biệt. Liệt kê những câu Kinh Thánh thuộc về mỗi đoạn và nêu lên chủ điểm của Phaolô trong mỗi lập luận.
    12-19: Cuộc tranh luận trong phần này phát xuất trực tiếp từ sự tái xác nhận đã thực hiện trong 15:1-11 do cách lý luận "nếu......thì" lập luận trở nên rất phức tạp. Tuy nhiên khi mọi chi tiết trong phân đoạn đã được chọn lọc, Phaolô nêu lên chủ điểm là đối với Cơ Đốc Nhân phủ nhận tương lai của họ cũng có nghĩa là phủ nhận quá khứ của họ Đối với Phaolô nếu một người nói rằng không có sự sống lại (của tín hữu), như thế có nghĩa là cũng không có sự sống lại của (Đấng Christ).
    12. Đọc câu 14. Hai điều gì mà Phao Lô nói rằng sẽ là vô ích nếu không có sự sống lại của tín hữu.
    ......và......
    Hai thực tế "sự giảng dạy của Phaolô" và "đức tin của họ" tranh luận cho sự tồn tại của bản thân Hội Thánh Côrinhtô, vì Hội Thánh đã được thiết lập do lời giảng của Phao Lô. Bạn có thể nhớ lại trong 1:182:5 Phaolô đã biện bác rằng "sự giảng dạy của ông" và "sự tồn tại của họ" chứng minh rằng thập tự giá của Đấng Christ là sự khôn ngoan và quyền năng của lời Đức Chúa Trời .
    Sự lô gíc trong lập luận thứ nhất của Phao Lô là như thế này. Nếu không có sự sống lại thì đã không có Hội Thánh Côrinhtô - bởi vì sự tồn tại của Hội Thánh đặc nền tảng trên sự sống lại (của Đấng Christ) mà Hội Thánh thật sự tồn tại; vì thế, tất phải có sự sống lại của kẻ chết, nhưng Phaolô phải chỉ ra tại sao sự sống lại trong tương lai là hệ quả tất yếu của sự phục sinh của Đấng Christ. Đó cũng là điểm chính của phân đoạn tiếp theo .
    Đoạn 15:20-28 qua phân đoạn này chúng ta có thể thấy rằng Phaolô suy nghĩ hoàn toàn theo giáo lý về thời sau rốt. Đối với ông cũng như hầu hết người Do Thái, sự phục sinh của người chết thuộc vào thời kỳ sau rốt. Đó là biến cố trọng đại của tương lai, sự kiện sống lại của Đấng Christ đã xảy ra có nghĩa là tương lai đã được đặt ở tình trạng khởi động. Và điều đã được đặt ở tình trạng khởi động sẽ được vận hành cho đến lúc đạt đến đích hoàn toàn.
    13. Để thực hiện phần biện luận này Phaolô sử dụng một ẩn dụ và một sự so sánh.
    a. Ẩn dụ với Đấng Christ như ......
    b. Sự so sánh giữa ...... và......
    14. Bạn có thể xem giải thích về ẩn dụ trong sách Barrette (trang 350-351). Viết ra định nghĩa của Barrette về ẩn dụ đó.
    ......
    Ẩn dụ trái đầu mùa là một hình ảnh ý nghĩa trong việc hình dung thực tế về ngày sau rốt của hiện tại và tương lai. Trái đầu mùa là việc đã xảy ra, là sự hứa hẹn của bó lúa chín đầu tiên, rằng mùa gặt cho toàn thể cánh đồng sẽ đến. Vì vậy sự sống lại của Đấng Christ là trái đầu mùa bảo đảm chắc chắn rằng "Có rất nhiều người cũng sẽ sống lại".
    Chúng ta cần ghi nhận thêm rằng Phaolô cũng sử dụng một ẩn dụ rất tương tự khác để mô tả một thực tế khác về ngày sau rốt đối với Cơ Đốc Nhân, đó là sự giáng lâm của Đức Thánh Linh.
    15. Đọc IICo 2Cr 1:22Eph Ep 1:14
    a. Phaolô đang sử dụng ẩn dụ gì? ......
    b. Ẩn dụ ấy có nghĩa gì? ......
    Sự so sánh mà Phaolô sử dụng trong lý luận của ông hơi phức tạp, nhưng nó cũng nêu lên cùng một chủ điểm. Trong Ađam có điều gì đó đã phát động đó là tội lỗi và sự chết. Toàn thể nhân loại phải chịu phục dưới tội lỗi và sự chết. Nhưng đó không phải là ý định của Đức Chúa Trời cho loài người. Vì vậy trong Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã phát động sự sống và sự sống lại. Những người tin cậy nơi sự chết và sự sống lại của Ngài là thành viên của cộng đồng nhân loại mới, đang hướng về sự hoàn thành của ý định thiên thượng.
    Phaolô sẽ trở lại với sự so sánh này trong phần kế. Bây giờ ông quay lại với ẩn dụ về trái đầu mùa và trong câu 23-28 ông giải thích thứ tự những việc sẽ xảy đến. Nhưng điểm chính là sự sống lại của Đấng Christ đã khởi động công việc của Đức Chúa Trời mà sau cùng sẽ được kết thúc "hầu cho muôn vật phục Ngài, và Đức Chúa Trời làm muôn sự trong muôn sự" (câu 28).
    Đoạn 15:29-34. Trong câu 20-28 Phaolô đã nêu lên điểm chính trong lập luận của ông. Sự sống lại của Đấng Christ là sự khởi đầu của công việc của Đức Chúa Trời cho ngày sau rốt sẽ kết thúc bằng ssự sống lại của tín hữu. Bây giờ ông kết luận bằng một loại lập luận ad hominem (một biện luận ad hominem là một biện luận dựa trên những kinh nghiệm và cảm xúc của một người hơn là những lý lẽ của người ấy). Phaolô đã kêu gọi sự hiểu biết của họ. Bây giờ ông chỉ đơn giản nêu lên một số việc làm của họ và của ông sẽ trở nên kỳ cục, nếu không có sự sống lại.
    16. Đọc đoạn 15:29-34 cẩn thận. Ba lập luận nào của Phaolô có thể viết lại như sau: "Nếu không có sự sống lại trong tương lai thì......
    a ......
    b ......
    c ......
    Lập luận cuối cùng có thể diễn ý là nếu không có sự sống lại của tín đồ thì có nghĩa là không có tương lai. Không có tương lai nghĩa là không có mục đích. Vì vậy, chúng ta hãy sống cho hôm nay và thụ hưởng những gì có thể vì cuộc sống không có nghĩa gì cả. Câu 33-34 tỏ ý rằng đó là cách mà một số người đang sống.
    17. Chúng ta sẽ nghiên cứu chi tiết hơn câu 29 trong phần . "Một số vấn đề về nội dung". Bây giờ hãy ôn lại phần trong 15:12-34. Kiểm tra câu trả lời của bạn cho bài tập 11. Viết lại câu trả lời của bạn trong ánh sáng của việc thảo luận trong sách hướng dẫn học tập và qua việc đọc sách Barrett.
    Sự sống lại của thân thể
    15:35-38
    Sự biện bác của Phaolô không dừng ở đây. Hãy ôn lại bản chất của sai lầm của Hội Thánh Côrinhtô. Bạn thấy rằng cho đến lúc này Phaolô chưa thật sự giải quyết vấn đề của họ. Chắc chắn rằng họ không phản đối sự thật rằng có một tương lai đang chờ đón Cơ Đốc Nhân. Vấn đề của họ là tính chất của tương lai đó. Không nghi ngờ gì nữa, đây chính là điều họ thật sự phản đối.
    Nhưng sự phản đối của họ về sự sống lại của thân thể của tín đồ có nghĩa là họ đã không hiểu ý nghĩa thật sự của sự sống lại của Đấng Christ. Do đó Phaolô giải luận về điều đó trước tiên trong 15:12-34. Đó không những chỉ đơn giản là một tương lai đang chờ đợi Cơ Đốc Nhân nhưng đó chính là tương lai mà Đấng Christ là trái dầu mùa. Sau khi đưa ra luận điểm đó. Phaolô quay sang trả lời những phản đối của họ.
    18. Đọc 15:35-58 hai lần. Trả lời những câu hỏi sau:
    a. Câu 35 đóng vai trò gì trong lập luận.
    b. Nhận diện các phân đoạn và chỉ ra chúng đóng góp như thế nào vào lập luận chung.
    Trong câu 35 Phaolô nêu lên một câu hỏi mà bây giờ ông sẽ trả lời "Làm sao người chết sống lại được" có người đã hỏi thế. Hoặc nói cách khác "Họ sẽ sống lại với thân thể nào?" Phaolô trả lời "Hỡi kẻ dại kia" (câu 36) ngụ ý rằng câu trả lời rất rõ ràng đối với người chịu suy nghĩ. Tuy nhiên, ông dùng phần còn lại của đoạn Kinh Thánh để giải thích điều rõ ràng ấy. Chúng ta sẽ mãi biết ơn điều ông đã làm. Chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ hơn câu trả lời này trong một phần sắp tới của bài học. Bây giờ, chúng ta sẽ phác thảo qua lập luận của Phaolô.
    15:35-41 trong phân đoạn này Phaolô nêu ra luận điểm chính của ông bằng cách sử dụng một sự so sánh. Sự biện luận của ông đi từ điều đã biết đến điều chưa biết. Trong đoạn đầu này ông đưa ra hai luận điểm về "điều đã biết" luận điểm thứ nhất được xây dựng từ sự so sánh với một hột giống. Lập luận của ông là sự chết không có nghĩa là kết thúc sự tồn tại, nhưng có nghĩa là một sự thay đổi. Bạn không trồng một cây với hình thể đầy đủ của tương lai cây sẽ mọc lên thông qua sự chết của hạt giống. Lập luận thứ nhì là sự chơi chữ đối với từ ngữ hình thể như nó được sử dụng trong xã hội Hy lạp. Luận điểm của ông là mỗi loài xác thịt và thân thể đã được Chúa dựng nên phù hợp với mục đích của Ngài cho loài ấy, và mỗi thân thể đều thích hợp với sự tồn tại của chủng loại của mình.
    15:42-44 Trong phân đoạn này Phaolô chỉ đơn giản ứng dụng hai luận điểm mà ông mới vừa nêu ra. Câu 42-44 phù hợp với câu 36 tương tự như hột giống thân thể loài người cũng như vậy. Nếu gieo một hạt giống xuống, nó sẽ sống lại với một hình thức khác. Kế đó trong câu 44 ông ứng dụng luận điểm của câu 38-41. Có các loại hình thể khác nhau . Một loại thì phù hợp với sự tồn tại trong hiện tại, "thân thể thiên nhiên", và loại kia phù hợp với sự tồn tại mới, "thân thể thuộc linh".
    15:45-49. Ứng dụng sau cùng của Phaolô, hai hình thể cho hai loại tồn tại, được minh họa rõ hơn qua việc trở lại với việc so sánh giữa Ađam và Christ. Luận điểm của ông là tín hữu, người đã dự phần thân thể với người thứ nhất, Ađam, sẽ dự phần thân thể với người thứ hai, Đấng Christ.
    15:50-58 Trong khúc Kinh Thánh vinh diệu này, Phaolô đưa lập luận của ông đến kết luận đắc thắng. Luận điểm của ông là không một ai trong hình thể hiện tại hoặc là trong "thịt và huyết" (người sống) hoặc "sự hay hư nát" (người chết) cơ thể vào nước thiên đàng. Bởi vì "tất cả chúng ta đều sẽ được biến hóa" (câu 51) nghĩa là chúng ta sẽ được biến đổi với thân thể mới để phù hợp với cuộc sống trong thời kỳ mới. Tất cả những điều đó đều có thể thực hiện được nhờ sự chết và sự sống lại của Đấng Christ.
    Kế đó ông thốt ra lời cảm tạ Đức Chúa Trời (câu 57) vì chiến thắng này sở dĩ có được là nhờ Đấng Christ. Nhưng trước khi kết thúc ông hô hào hãy đứng vững vàng và làm công việc Chúa "vì công khó của anh em trong Chúa chẳng phải là vô ích đâu" (câu 58). Chắc chắn sẽ có một tương lai vinh hiển.
    19. Ôn lại phần lập luận của Phaolô trong 15:35-58. Kiểm tra câu trả lời của bạn trong bài tập 18 với sách hướng dẫn học tập. Điền vào chỗ trống những câu sau:
    a. Trong câu 15:35-58 Phaolô đã đề cập đến vấn đề về bản chất của ......
    b. Trong câu 36-41 ông lập luận dựa trên việc so sánh với...... ......để nêu lên luận điểm rằng chết không có nghĩa...... mà có nghĩa là......
    c. Sau đó ông lý luận rằng Đức Chúa Trời đã tạo dựng muôn loài với các......khác nhau.
    d. Ông ứng dụng những sự so sánh trên vào sự tồn tại của Cơ Đốc Nhân bằng cách lý luận rằng bởi vì chúng ta hết thảy đều dự phần vào thân thể......của......, do vậy chúng ta cũng sẽ dự phần vào thân thể......của......
    Bây giờ hãy ôn lại phần giải luận cho toàn bộ đoạn Kinh Thánh. Trước khi tiếp tục phần kế, phải chắc chắn rằng bạn có thể nắm vững mục tiêu 2.
    VÀI VẤN ĐỀ VỀ NỘI DUNG
    Có nhiều vấn đề quan trọng có tính chất giải kinh trong đoạn nầy. Vào vấn đề liên quan đến việc lựa chọn văn bản như câu 15:4715:49 (xem phần chú thích ở cuối trang trong sách Barrett trang 369) những vấn đề khác liên quan đến ý nghĩa của từ, hoặc cụm từ như "thịt và huyết" trong 15:50 (xem sách Barrett trang 379). Bạn vẫn có thể tìm thấy một số vấn đề nữa mà bạn muốn tham khảo trong sách Barrett.
    Bây giờ chúng ta sẽ nghiên cứu 15:29 một cách chi tiết hơn.
    20. Đọc sách Barrette, trang 362-364. Hãy ghi nhận có bao nhiêu cách giải quyết được đề nghị. Khoanh tròn câu trả lời đúng.
    a. Theo Barrett, người Côrinhtô có lẽ đã không nghĩ việc làm báp tem là để xá tội cho người khác, nghĩa là, vì cớ người chết, nhưng theo một nghĩa nào đó là vì cớ những người sống.
    b. Theo Barrett, người Côrinhtô hầu như thật sự làm báp tem vì cớ người đã chết.
    Tôi nghĩ rằng chỉ có một điều có thể chắc chắn về câu Kinh Thánh này là vài tín hữu đã thật sự thực hành loại báp têm đó. Phaolô không trình bày một giả thuyết ông không nói đến những điều người ngoại đang làm. Nhưng tình trạng không chắc chắn bao trùm trên tất cả các yếu tố khác ở đây. Ai đã làm việc đó? Tại sao họ làm việc đó? Họ làm việc đó cho ai? Họ nghĩ điều đó có ảnh hưởng gì cho những người được họ làm báp têm cho?
    Đó là những câu hỏi mà chúng ta không có câu trả lời chắc chắn. Qua sách Barrett bạn có thể thấy rõ rằng các học giả cũng không biết chắc việc gì đang xảy ra. Tất cả chúng ta chỉ đang đưa ra những suy đoán.
    Nhưng chúng ta không cần phải biết rõ vì chủ điểm của Phaolô cũng khá rõ ràng. Cho dù việc gì đã xảy ra, khi họ làm "báp tem cho người chết" hành động của họ không có nghĩa gì cả nếu không có sự sống lại. Phaolô không chấp nhận, cũng không phản đối và không thiết lập làm việc đó. Nó đã có sẵn và ông biện luận dựa trên việc làm ấy; và đó là những gì mà chúng ta có thể nói một cách chắc chắn.
    QUAN NIỆM CỦA PHAO LÔ VỀ SỰ SỐNG LẠI CỦA THÂN THỂ.
    Trong phần này chúng ta sẽ ôn lại ngắn gọn câu trả lời của Phaolô cho câu hỏi ấy "họ sẽ lấy xác nào mà trở lại" (15:35) 15:35-58 lần đầu tiên Phaolô bàn về vấn đền này. Ông nhắc đến nó một lần nữa trong một bối cảnh khác ở IICo 2Cr 4:7-5:10.
    21. Đọc 4:7-5:10 cẩn thận. Ba ẩn dụ nào mà Phaolô dùng để mô tả mối quan hệ giữa thân thể hiện tại và thân thể trong tương lai.
    ......và......
    Tính chất tạm thời, chóng qua của thân thể cũ kỹ này được nhấn mạnh trong ẩn dụ "nhà tạm" (5:1) và bình bằng đất (4:7) những điều đó tương phản với tính chất vĩnh cửu của thân thể mới, đó là "nhà đời đời trên trời" (5:1) một ẩn dụ khác được dùng trong đoạn 5:2-4 là mặc áo. Từ Hy Lạp mà Phaolô sử dụng ở đây là mặc áo thêm như là mặc thêm áo khoác phía ngoài quần áo đã mặc sẵn. Dĩ nhiên các ẩn dụ không nên bị gán cho các nghĩa mà chúng không có. Hãy đơn giản để nêu bật hai chủ điểm: chúng ta sẽ có thân thể mới và thân thể đó là bất diệt.
    Phaolô nói về vấn đề đó một lần nữa. Trong Phi Pl 3:20-21 Phaolô lập lại điều ông đã nói trong I Côrinhtô, "Ngài sẽ biến hóa thân thể hèn mạc của chúng ta giống như thân thể vinh hiển Ngài".
    Sự dạy dỗ của Phaolô về sự sống lại của thân thể đến từ sự tranh đấu của ông với hai thực tế.
    Thứ nhất, có một lẽ thật mà chúng ta đã ghi nhận trong bài 6. Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người như một tổng thể gồm thân thể và tâm linh hiệp một. Sự cứu chuộc, vì thế, bao gồm không chỉ riêng cho tâm linh thôi. Theo Phaolô, chính là qua sự tồn tại của thân thể mà có một sự tiếp nối cần thiết giữa hiện tại và tương lai. Những giáo lý như sự bất tử của linh hồn hoặc sự phục sinh về phần thuộc linh đều là ngoại giáo và hoàn toàn xa lạ đối với Phaolô. Trong bản tín điều của Cơ Đốc Nhân có một câu khẳng định "chúng tôi tin vào sự sống lại của thân thể".
    Như chúng ta đã ghi nhận trong bài 6,, một sự xác nhận như vậy liên kết chặt chẽ với giáo lý Kinh Thánh về sự sáng tạo và sự cứu chuộc. Đối với Phaolô sự xác nhận trên được khẳng định thêm bằng thực tế sống lại của chính thân thể Đấng Christ. Ngài đã chết, đã được chôn, nhưng Ngài đã sống lại và nhiều người đã thấy Ngài. Vì vậy, trong ICo1Cr 15:20 Phaolô xác nhận Ngài là "trái đầu mùa của những kẻ ngủ trong Đấng Christ". Chính là vì được định sẵn cho sự sống lại nên Phaolô đã xác định trước đó rằng thân thể trong tình trạng tồn tại hiện nay là vì Đức Chúa Trời.
    Thứ hai, có một sự thật khác là thân thể hiện tại thì hay hư nát. Nó sẽ bị hư hoại và cuối cùng sẽ chết. Một thân thể như vậy sẽ không hưởng được sự vinh hiển đời đời. Câu trả lời cho vấn đề vì vậy trở nên rất đơn giản. Thân thể hiện tại sẽ được biến đổi. Nó sẽ trở nên một thân thể thuộc linh. Dĩ nhiên Phaolô ý thức rõ rằng đó là những từ ngữ khó hiểu. Vì thế ông gọi đó là "Sự mầu nhiệm" (15:51) Ông cố gắng giải thích bản chất của điều đó. Với ông đó là một thực tế vượt quá sự giải thích hiện tại.
    Vậy tín đồ sẽ sống lại với thân thể nào? Câu trả lời là: cũng là thân thể này nhưng đã được biến đổi. Chính là thân thể hiện tại, hay hư nát này sẽ sống lại, nhưng nó sẽ được biến đổi phù hợp với những điều kiện mới của cõi đời đời. Điều hay chết sẽ biến thành điều vĩnh cửu.
    22. Ôn lại phần này và phần bài học trong bài 6 về 6:13-20. Trả lời những câu hỏi sau.
    a. Giải thích tại sao giáo lý "sự bất tử của linh hồn" không phải là giáo lý Cơ Đốc.
    b. Giải thích câu sau, thân thể được sống lại cũng chính là thân thể chúng ta đang có hiện nay nhưng đã được biến đổi.
    MỘT VÀI Ý KIẾN CÓ TÍNH CHẤT KHOA GIẢI KINH
    Trong phần cuối của bài 7, tôi muốn nhận xét ngắn gọn về hai vấn đề có tính chất khoa giải kinh.
    Trong bài 1 chúng ta đã ghi nhận rằng giáo phái Mormon mắc phải một sai lầm trầm trọng trong việc dùng 15:29 để chứng minh việc làm báp tem cho người chết. Không một ai biết người Côrinhtô đã làm gì, vì vậy chúng ta làm sao thực hiện điều chúng ta không biết rõ vào thế kỷ thứ 20? Điều này dẫn dắt tôi đến việc đề nghị một qui luật của khoa giải kinh. Khi việc giải luận khúc Kinh Thánh quá khó khăn đến nỗi có nhiều lựa chọn khác nhau về ý nghĩa, thì bạn không bao giờ nêu rõ đoán chọn lựa theo ý bạn. Ở những chỗ như vậy chúng ta phải cho rằng Đức Chúa Trời không cần chúng ta phải biết rõ: nếu không hẳn Ngài đã cho phép nó được bày tỏ rõ ràng.
    Nhưng Phaolô đã dạy gì về thân thể? Trong 6:19-20 ông nói rằng thân thể là đền thờ của Đức Thánh Linh, và yêu cầu "Hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời. Trong IICo 2Cr 4:7-18 ông dường như nói rằng thân thể chỉ là trần tục và trong ICo1Cr 9:27 ông nói về việc "đối đãi thân thể cách nghiêm khắc "và" bắt nó phải phục". Vậy tín hữu ở thế kỷ 20 phải đối xử với thân thể mình như thế nào trong lúc "hiện tại"?
    Vấn đề thực sự nằm ở chỗ chúng ta sẽ làm gì với lời kêu gọi "Hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời" (6:20) có nên áp dụng điều đó vào việc lạm dụng thân thể như: hút thuốt, mê ăn uống, hay thất bại trong việc sắp xếp giờ ngủ và việc tập thể dục cách đúng đắn......? Trong nguyên văn việc làm sáng danh Đức Chúa Trời được áp dụng đối với việc gian dâm. Đương nhiên là điều ngăn cấm này vẫn còn có hiệu lực. Nhưng đối với những việc lạm dụng trên thì sao?
    Một cách cá nhân tôi không nghĩ rằng Phaolô đã đề cập đến những vấn đề trên. "Tôn vinh Chúa qua thân thể bạn" (6:20) có nghĩa là "Tôn vinh Chúa trong thân thể hiện tại của bạn" mặc khác, thực tế là thân thể hiện tại được dành cho sự vinh hiển phải khiến chúng ta đối đãi nó với sự trân trọng. Người ta có thể hành động hoàn toàn theo nghĩa ngược lại. Một số người đối đãi với thân thể một cách kỳ cục. Một số "tôn vinh" thân thể bằng cách chiều theo sự ham muốn của nó. Theo tôi toàn thể bức tranh trong bức thơ của Phaolô nói lên rằng thân thể là một đầy tớ tốt nhưng lại là một ông chủ xấu. Chúng ta phải tôn trọng nó vì nó thuộc về Đức Chúa Trời và được dành cho sự sống lại. Nhưng, chúng ta không nên tự đề ra các nguyên tắc cho mình rồi cố gắng bắt người khác phải sống theo những nguyên tắc đó.
    23. Phaolô cũng có cùng một thái độ như vậy trong CoCl 2:16-23RoRm 14:1-23. Đọc những phần Kinh Thánh trên và khoanh tròn câu trả lời đúng.
    a. Phaolô dạy rằng qui định về đồ ăn và thức uống thì cần thiết vì thân thể thuộc về Đức Chúa Trời.
    b. Phaolô dạy rằng một người có thể có những qui định riêng về đồ ăn thức uống nhưng không nên ép người khác phải làm như mình.
    Bài 7 kết thúc ở đây. Cũng như những bài trước hãy ôn lại thật kỹ bài học, sau đó làm bài tự kiểm tra. Một tin hay là bạn đã gần học được nữa khóa học. Tôi hy vọng là bạn cảm thấy được khuyến khích bởi những gì đã học. Nhưng tôi cũng cầu nguyện cho bạn tiếp tục nhận biết sự khiêm nhường đích thực đang khi bạn theo đuổi khóa học này.
    Bạn nên ôn tập cho phần đánh giá tiến bộ đơn vị 2, theo như hướng dẫn trong tâp tài liệu học viên. Lấy phần đánh giá tiến bộ đơn vị 2 và phần trả lời ra khỏi tập tài liệu học viên. Làm theo các hướng dẫn khi bạn điền vào các câu trả lời. Gởi chúng ngay lập tức cho người hướng dẫn ICI của bạn. Bạn sẽ nhận được phiếu điểm sau đó. Tuy nhiên đừng chờ cho đến khi nhận được phiếu điểm mới bắt đầu học bài 8. Hãy bắt đầu ngay khi bạn có thể.
    Bài Tự Trắc Nghiệm
    1. XẾP CHO PHÙ HỢP: Trong I Côrinhtô 15 Phaolô giải quyết các hiểu lầm, hoặc sai trật liên quan đến sự sống lại của thân thể. Những nhóm người nào đã có những quan điểm nào? Hãy ráp tên các nhóm người ở bên phải vào chỗ trống phía bên trái cho phù hợp với quan điểm của họ. Điền vào chỗ trống.
    ......a Linh hồn thì bất tử ; không có sự sống lại của thân thể.
    ......b Tín hữu là một người mới trong Đấng Christ, vì vậy sự sống lại đã xảy ra . Chỉ có tâm linh là vĩnh cửu.
    ......c Thân thể là xấu xa gian ác và chỉ thuộc về hiện tại.
    TRẢ LỜI NGẮN: Hoàn tất các bài tập sau bằng cách điền những từ hoặc cụm từ thích hợp.
    2. Đặt đề tựa cho ba phần chính của đoạn 15
    a ICo1Cr 15:1-11......
    b 15:12-34......
    c 15:35-38......
    3. Loại tranh luận Phao Lô dùng trong 15:29-34 được gọi là gì?
    ......
    CÂU TRẮC NGHIỆM. Chỉ có một sự lựa chọn đúng cho mỗi câu. Khoanh tròn câu trả lời đúng.
    4. Vấn đề mà Phaolô phải giải quyết trong 15:1-58 là:
    a) Sự phủ nhận sự phục sinh của Đấng Christ .
    b) Sự phủ nhận sự sống lại trong tương lai của thân thể Cơ Đốc Nhân.
    c) phủ nhận sự bất tử của linh hồn.
    d) Một sự xác nhận về việc làm báp tem cho người chết
    5. Sự dạy dỗ của Phaolô về sự sống lại của thân thể đến từ sự tranh đấu của ông với hai thực tế nào? Khoanh tròn hai câu trả lời đúng.
    a) Sự bất tử của linh hồn
    b) Khái niệm về sự phục sinh về mặt thuộc linh
    c) Tính chất vĩnh cửu của thế giới vật chất
    d) Tính chất toàn bộ của con người bao gồm thân thể và tâm linh kết hợp.
    e) Tính chất hư hoại của thân thể hiện tại.
    f) Sự không thể được của sự sống lại của người không tin Chúa.
    CHỌN GIỮA ĐÚNG VÀ SAI.Viết chữ Đ vào chỗ trống trước câu trả lời đúng. Viết chữ S trước câu trả lời sai.
    ......6. Chủ điểm của 15:1-11 là tái xác nhận giáo lý Kerggma mà một số tín hữu Côrinhtô bắt đầu nghi ngờ.
    ......7. Điểm chính mà Phao Lô nêu lên trong 15:12-19 là nếu người Côrinh tô phủ nhận quá khứ của họ có nghĩa họ phủ nhận tương lai của họ.
    ......8. Phaolô xem sự phục sinh của Đấng Christ như "trái đầu mùa" . Điều đó có nghĩa là Đức Chúa Trời bảo đảm cho một "mùa thu hoạch toàn bộ" của sự sống lại trong tương lai của tín hữu.
    ......9. Chủ điểm của lập luận trong 15:29-34 là làm cho người Côrinhtô xấu hổ vì họ làm báp tem cho người chết.
    ......10. Mặc dầu Phaolô tin vào sự sống lại của thân thể, ông cũng tin rằng thân thể được sống lại sẽ không ở trong tình trạng thịt và huyết như trước.
    ......11. Phaolô xử dụng sự so sánh giữa Ađam và Đấng Christ trong I Côrinhtô 15 để chỉ ra rằng vì chúng ta hết thảy đều thừa hưởng bản chất tội lỗi từ Ađam, chúng ta cũng sẽ thừa hưởng cuộc sống mới qua Đấng Christ.
    ......12. Trong vấn đề "làm báp tem vì người chết" trong đoạn 15:29 cách giải quyết tốt nhất là Phaolô đã đưa ra lý luận có tính cách giả thuyết dựa trên cơ sở các việc làm phổ biến của người ngoại.
    ......13. Một trong những bài học chúng ta có thể rút ra từ sự dạy dỗ trong I Côrinhtô đoạn 15 là chúng ta nên đối đãi với thên thể một cách trân trọng vì nó được dành cho sự phục sinh.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. a. Đó là "sự sống lại". Bạn có nhận ra từ "thân thể" trong 5:35-57 ? những cụm từ khác là "Đấng Christ đã sống lại" "sự sống lại của người chết" Bạn có ghi nhận là có sự khác nhau giữa hai cụm từ cuối không?
    b. So sánh với sách hướng dẫn học tập khi học xong phần này.
    c. So sánh với sách hướng dẫn học tập
    2. Sai - Để có câu trả lời đúng, tiếp tục đọc trong sách hướng dẫn học tập
    3. a. Thì Đấng Christ cũng không sống lại
    b. Thì việc làm của những người làm báp tem cho người chết là kỳ quặt
    c. Thì chúng ta có lẽ chỉ nên ăn, uống và quên tương lai đi.
    4. c) Vài tín hữu Têsalônica đã chết trước khi Chúa đến lần thứ hai và những người sống không biết việc gì sẽ xảy ra với họ, nên Phaolô dạy họ lần đầu về sự sống lại của người chết.
    5. So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập.
    6. a. Qua sự tường thuật lại
    b. Phủ nhận việc sống lại của người chết
    c. Có lẽ họ đã không nghe giảng về giáo lý đó. Khi họ đã nghe điều ấy họ đã chối bỏ nó hoặc thuộc linh hóa nó như là đã xảy ra rồi. Quan điểm ngộ đạo về thân thể và nhận lịnh sai về việc xảy ra trong ngày sau rốt đã gây nên vấn đề đó.
    7. a. Xem lại phân đoạn đầu tiên trong phần "câu trả lời của Phaolô" trong sách hướng dẫn học tậỳp.
    b. Xem lại phân đoạn thứ ba trong phần "Câu trả lời của Phaolô"
    8. a. Đấng Christ đã chết vì tội lỗi chúng ta theo như Kinh Thánh
    b. Ngài đã được chôn
    c. Đến ngày thứ ba Ngài đã từ kẻ chết sống lại
    9. Câu trả lời của bạn. So sánh với sách hướng dẫn nghiên cứu khi bạn học xong phần này.
    10. a. Sai. Ông nhấn mạnh đến Keggma để chỉ ra rằng cả ông và tín hữu Cô rinh tô
    đều tin nơi sự sống lại của Đấng Christ như là một nền tảng chung
    b. Đúng
    c. Sai. Họ nghi ngờ về sự sống lại của thân thể
    11. Câu trả lời của bạn. So sánh với sách hướng dẫn học tập khi bạn theo dõi bài học.
    12. Sự giảng dạy của chúng tôi, đức tin của bạn.
    13. a. Trái đầu mùa
    b. Đấng Christ- Ađam
    14. "Phaolô (lệ thuộc vào Kinh Thánh Cựu Ước đã sử dụng từ này để miêu tả phần đầu của mùa gặt là phần báo trước và hứa hẹn một mùa gặt cho toàn thể cánh đồng"
    15. a.Tiền cọc hoặc của cầm cho một món đồ nào đó
    b. Tiền cọc hoặc của cầm là sự cam kết người mua sẽ trả hết số tiền. Nó cho người mua cái quyền được sở hữu vật đó . Thánh Linh là của cầm đến từ Đức Chúa Trời và chúng ta sẽ thừa kế. toàn bộ trong tương lai.
    16. a. Việc làm Báp tem cho người chết sẽ không có ý nghĩa gì
    b. Phaolô là người dại dột vì đã sống trong sự nguy hiểm liên tục
    c. Nền tảng đạo đức sụp đổ
    17. Không cần câu trả lời
    18. a. Nó đóng vai trò như là một sự chuyển tiếp của lập luận và nêu lên những câu hỏi mà Phaolô sẽ trả lời ngay sau đó
    b. So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập
    19. a. Sự sống lại của thân thể
    b. Hột giống, sự kết thúc, sự thay đổi
    c. Các hình thể
    d. Tự nhiên, Ađam, thuộc linh, Christ
    20. a. Sai. Họ thật sự nghĩ rằng việc làm báp tem đó là thay cho người chết
    b. Đúng
    21. Nhà tạm, bình bằng đất, quần áo.
    22. a. So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập. Có phải bao gồm sự kiện là giáo lý về sự sáng tạo, sự cứu chuộc và sự sống lại của Đấng Christ, chỉ ra rằng toàn thể con người- thân thể -linh hồn và tâm linh- sẽ sống mãi khi thân thể hay hư nát sẽ biến thành "không hề hư nát" trong ngày phục sinh vinh hiển hầu đến
    b. So sánh câu trả lời của bạn với sách hướng dẫn học tập
    23. a. Sai. Xem CoCl 2:162:20-23
    b. Đúng. Xem RoRm 14:1-23

    Hôn Nhân Và Những Vấn Đề Liên Quan.
    Trong đơn vị trước chúng ta thấy thế nào thần học sai lầm của người Côrinhtô đã khiến một số người làm ô uế thân thể của họ. Nhưng thần học sai lầm này cũng có thể gây tác động trong chiều hướng khác, đó là một số người đã từ chối những nhu cầu của thân xác. Rõ ràng là quan điểm ngộ đạo về thân thể và giáo lý cực đoan về ngày sau rốt đã khiến họ nêu lên những câu hỏi trong lá thơ gởi cho Phaolô.
    Nói theo ngôn ngữ của Shakespeare là " Lập gia đình hay không lập gia đình, đó chính là vấn đề." Như các bạn sẽ thấy trong bài này, Phaolô đã bị hiểu lầm rất nhiều. Và sự hiểu lầm này đã gây nên một vài băn khoăn đối với những người trẻ. Tại sao Phaolô đã nói về hôn nhân rất cao đẹp trong Êphêsô 5 mà ở đây ông lại cho rằng hôn nhân không cao trọng bằng độc thân? Chúng ta sẽ cố gắng trả lời cho những câu hỏi này. Bạn có thể cảm thấy thích thú với đề tài này nhiều hay ít tùy theo tình trạng hôn nhân của bạn. Nhưng chắc chắn rằng bạn sẽ có dịp hướng dẫn những người muốn biết về ý nghĩa của khúc Kinh thánh này và cách áp dụng lời Chúa vào đời sống của họ.
    Cấu trúc của phân đoạn Kinh thánh này
    Đối với những người đã lập gia đình.
    Những vấn đề
    Câu trả lời của Phaolô
    Nguyên tắc căn bản
    Đối với những người chưa từng lập gia đình
    Vấn đề
    Câu trả lời của Phaolô
    Một vài ý kiến có tính cách khoa giải kinh
    Khi hoàn tất bài này bạn sẽ có thể:
    * Ghi nhận 3 nhóm người được nói đến trong Icôrinhtô 7
    * Xác định quan niệm của Phaolô về tình yêu trong hôn nhân
    * Bảo vệ câu phát biểu : " Phaolô cho phép lập gia đình"
    * Bảo vệ câu phát biểu: " Phaolô xác nhận tình trạng độc thân"
    * Hướng dẫn người khác về thái độ đối với việc ly dị như được trình bày trong ICo1Cr 7:1-40.
    1. Đọc 7:1-40
    2. Xem sách Barrett trang 153 - 187
    3. nghiên cứu bài học từng phần một. Thực hiện việc đọc tài liệu và làm bài tập theo yêu cầu.
    4. Làm bài tự kiểm tra và so sánh câu trả lời của bạn với phần giải đáp trong tập tài liệu học viên.
    Độc thân
    Bản Bảy mươi
    Uyển ngữ
    CẤU TRÚC CỦA ĐOẠN VĂN
    7:1- 40
    Từ khi nghiên cứu ICôrinhtô đến giờ, chúng ta đã thấy Phaolô trả lời về những vấn đề ông được nghe nói đến. Trong bài này và những bài kế tiếp chúng ta sẽ tìm hiểu về những câu trả lời của Phaolô đối với những câu hỏi trong thơ của người Côrinhtô gởi cho ông. Tuy nhiên chúng ta không được biết nhiều về lá thơ của họ. Có nhiều khó khăn trong việc tái dựng lại vấn đề. Nhưng để có thể hiểu được câu trả lời của Phaolô chúng ta vẫn phải tái dựng lại những vấn đề đã xảy ra trong Hội thánh.
    1. Đọc 7:12, 26, 40. So sánh với những câu 9:1-6 11:2, 1614:37-38. Theo bạn khúc Kinh thánh này nói lên những gì về thái độ trong bức thư của người Côrinhtô. Có thân thiện không? Phải chăng họ chỉ hỏi ý kiến Phaolô về một số vấn đề ?
    Tôi cho rằng người Côrinhtô có lẽ muốn hỏi Phaolô về một vài vấn đề (chẳng hạn như việc cưới gả của những thiếu nữ đồng trinh ).Lời lẽ chung trong lá thơ của họ cho thấy rằng họ có vẻ tự khen ngợi mình và hơi khó chịu. Họ khoe khoang rằng họ " giữ các thói quen" thế nhưng một số người ở Côrinhtô lại vi phạm luật lệ. Chúng ta đã từng thấy thái độ này xuất hiện trong Hội thánh. Ở đây chúng ta lại thấy thái độ này một lần nữa. Bây giờ chúng ta hãy tìm hiểu về " Các điều hỏi trong thơ anh em".
    Đoạn 7 của Icôrinhtô đầy dẫy với những nan đề nổi tiếng về vấn đề giải kinh. Một trong những nan đề này có liên hệ với cách giải nghĩa theo truyền thống. Câu trả lời của Phaolô dường như không có thứ tự rõ ràng. Một số nhà giải kinh cho rằng Phaolô đã bắt đầu với việc hôn nhân, rồi chuyển sang vấn đề ly dị và cuối cùng lại nói về việc hôn nhân. Trong ánh sáng của việc giải kinh được trình bày trong bài này, các bạn sẽ thấy rằng cách giải nghĩa như trên là hoàn toàn sai lầm. Sở dĩ sai lầm bởi vì cách giải nghĩa này đã không thấy rằng Phaolô đang trả lời cho hai vấn đề hoàn toàn khác nhau trong lá thơ của người Côrinhtô. Có nghĩa là cách giải nghĩa theo truyền thống đã không chú ý đến từ ngữ "về những kẻ đồng thân" ở đoạn 7:25 vốn khởi đầu cho một đề tài mới.
    Do đó, chúng ta cần nghiên cứu cấu trúc của cả phân đoạn trước khi xem xét từng phần một.
    2. Đọc 1Côrinhtô 7 hai lần. Khi đọc hãy chú ý đến những điểm gợi ý cho biết ý chính của mỗi phân đoạn. Hãy nêu lên những từ ngữ hay ý tưởng chủ yếu trong 7:25-40 nhưng không xuất hiện hoặc ít xuất hiện trong 7:1-24.
    Điểm gợi ý đầu tiên về cấu trúc của đoạn này là từ ngữ " đồng trinh" được lập lại nhiều lần trong 7:25-40 nhưng không thấy xuất hiện trong 7:1-24. Chúng ta sẽ bàn kỹ về từ ngữ này thực hiện việc giải kinh. Bây giờ bạn chỉ nên chú ý hai điều :
    1. Khi Phaolô biết "về những kẻ "đồng trinh" có nghĩa là ông chưa hề bàn về vấn đề này. Đây là một đề tài mới lần đầu tiên được nói đến.
    2. Căn cứ vào sự trình bày của Phaolô và ý nghĩa của từ ngữ " đồng trinh" trong tiếng Hylạp thì " những kẻ đồng trinh" là những phụ nữ chưa từng lập gia đình. Do đó, rất có thể rằng trong 7:25-40 Phaolô lần đầu tiên bàn về vấn đề " cưới gả"
    Đó là điểm gợi ý thứ nhất, vậy 7:1-24 nói về điều gì? chúng ta sẽ trả lời câu hỏi này bằng cách thực hiện việc giải kinh trong phần kế tiếp. Ở đây tôi muốn nói sơ qua trước về việc giải kinh với gợi ý rằng mọi chi tiết trong 7:1-16 đều liên quan đến người đã có gia đình hoặc đã từng lập gia đình. Chỉ có một ngoại lệ là câu 8-9; nhưng ngay đối với cả những câu này sẽ có nhiều ý nghĩa hơn nếu được hiểu là nói với những người đã từng lập gia đình nhưng hiện thời không sống cuộc sống gia đình.
    Sau khi đã có cái nhìn khái quát về cả đoạn Kinh thánh này, bây giờ chúng ta hãy thực hiện việc giải kinh của từng phân đoạn. Nhưng trước khi làm điều đó, hãy ôn lại phần nói về cấu trúc.
    3. Điền vào chỗ trống cho đầy đủ ý nghĩa :
    a 7:25-40 bàn về vấn đề liên quan đến ......và họ có nên ......hay không.
    b Còn đoạn 7:1-24 nói với những người đã ...... ......
    NHỮNG NGƯỜI ĐÃ LẬP GIA ĐÌNH
    7:1-24
    Trong bài này chúng ta sẽ bàn về một số vấn đề nội dung. Do đó, bài học này được dùng như một minh họa cho thấy mối liên hệ chặt chẽ giữa những vấn đề về bối cảnh và những vấn đề về nội dung.
    Các vấn đề
    Vấn đề thứ nhất mà chúng ta gặp phải khi tái dựng những điều người Côrinhtô hỏi hay viết trong lá thơ của họ xuất hiện trong câu 1.
    4. Đọc 7:1, xem sách Barrett trang 153 -155. Nêu lên hai khác biệt chính giữa sách Barrett và bản NIV.
    a. Barrett ......
    b. NIV ......
    Trong câu này có hai vấn đề quan trọng có tính chất giải kinh mà chúng ta phải giải quyết.
    Vấn đề thứ nhất là ý nghĩa của từ ngữ Hylạp haptesthai gynaikos vốn có nghĩa đen là " đụng đến đàn bà" . Chúng ta có thể chắc chắn về từ này mặc dầu cả Barrett lẫn NIV đều không dịch đúng. Từ ngữ này xuất hiện trong tám tác phẩm cổ bao gồm Plato, Aristotle, Plutarch, Josephus và Marcus Aurelius cũng như trong SaSt 20:6ChCn 6:29 trong bản Bảy mươi. Những văn phẩm này được viết từ thế kỷ thứ tư trước Chúa giáng sanh đến thế kỷ thứ II sau Chúa giáng sanh. Trong tất cả mọi trường hợp từ ngữ này là một cách nói văn hoa thay cho "liên hệ tính dục".
    Vấn đề ở đây là không có trường hợp nào từ ngữ này được dùng với nghĩa "lập gia đình". Hơn nữa, văn cảnh trực tiếp (ICo1Cr 7:2-6) rõ ràng đề cập đến việc liên hệ giới tính trong hôn nhân chứ không nói về việc lập gia đình. Do đó, " đụng đến đàn bà" chắc chắn có nghĩa là có liên hệ tính dục.
    Vấn đề thứ hai là : Ai tuyên bố điều này? đây là lập trường của Phaolô hay là lập trường của người Côrinhtô? Barrett đã rất đúng về điểm này. Bởi vì Phaolô nói hoàn toàn ngược lại trong các câu 3 - 5, câu tuyên bố này phải được hiểu là lập trường của người Côrinhtô . Chúng ta đã từng nhận thấy rằng cách hiểu như vậy là đúng nhất đối với 6:12-13, và chúng ta cũng sẽ lại thấy như vậy đối với 8:1-4.
    Nếu sự giải nghĩa như vậy là đúng thì chúng ta có thể thấy rất nhiều ý nghĩa về những điều người Côrinhtô viết trong thơ của họ và về câu trả lời của Phaolô trong ICôrinhtô 7 .
    5. Ôn lại phần nói về 7:1
    a. Nêu lên hai lý do giải nghĩa " đụng đến đàn bà" là "liên hệ tính dục".
    ......
    b. Nêu lên hai lý do xác định rằng câu " đàn ông không đụng đàn bà là hay hơn" là một câu được trích dẫn từ lá thơ của người Côrinhtô.
    ......
    Nhưng tại sao người Côrinhtô là có lập trường " Đàn ông không đụng đến đàn bà là hay hơn"? Họ có ý gì khi nói như vậy trong bức thơ của họ? câu trả lời cho vấn đề này chắc chắn có liên quan đến quan điểm có tính chất ngộ đạo về thân xác. Hãy đọc lại sách Barrett trang 144 - 145. Lưu ý rằng chính quan điểm này đã dẫn đến cả chủ nghĩa tự do lẫn chủ nghĩa khắc kỷ . (Chủ nghĩa khắc kỷ chủ trương tiết chế hoàn toàn đặc biệt là đối với các nhu cầu của thể xác ) những người theo chủ nghĩa tự do tuyên bố : "Thân xác là xấu xa vậy hãy nuông chìu nó.". Những người theo chủ nghĩa khắc kỷ tuyên bố : " Thân xác là xấu xa, hãy từ chối nó." .
    Rõ ràng là quan điểm có tính chất ngộ đạo của người Côrinhtô đối với thân thể đã tạo nên vấn đề. Chúng ta đặt câu hỏi: "Họ đã nói những gì trong bức thư của họ? và tại sao?"
    Câu trả lời hợp lý nhất là đã có một số người Côrinhtô bênh vực cho việc từ chối mọi liên hệ tính dục ngay cả trong trường hợp đã lập gia đình. Có lẽ họ tưởng rằng Phaolô đứng về phía họ trong vấn đề này. Ông là người ở độc thân ( xem 7:89:4-15). Chắc chắn ông cũng không có ý sẽ lập gia đình và trong một lá thơ trước ông đã dạy họ không được liên hệ với tội lỗi về mặt tính dục. Căn cứ vào những sự kiện này thì dường như người Côrinhtô muốn nói rằng vì thân thể là tội lỗi nên đàn ông không đụng đến đàn bà là hay hơn. Tại sao những người đã lập gia đình không thể sống một cách "thiêng liêng" hơn và kiêng cử những liên hệ tính dục? Và nếu như họ không kiêng cử được thì có lẽ họ nên ly dị. Dầu sao chắc chắn một tín đồ cũng phải ly dị nếu vợ hay chồng người đó là người ngoại, nếu không có nghĩa là người đó có liên hệ tính dục với một người "bất khiết".
    Dĩ nhiên, tất cả những điều này là do tôi tái dựng. Nhưng rất có thể việc tái dựng này tiêu biểu cho những điều người Côrinhtô đã thực sự phát biểu. Và hoặc là những người theo phái khắc kỷ hoặc là những đối thủ của họ trong Hội thánh đã muốn Phaolô đưa ra phán quyết của ông về vấn đề này.
    6. Trước khi nghiên cứu câu trả lời của Phaolô, hãy chắc rằng bạn có thể hoàn tất mục tiêu 2. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đúng .
    a. 7:1 nên được dịch là : " Đàn ông không cưới vợ là hay hơn."
    b. Vấn đề trong 7:1-16 là có một số người Côrinhtô muốn bênh vực ý kiến rằng các tín đồ không nên lập gia đình.
    Câu trả lời của Phaolô
    7:1-16
    7. Đọc 7:1-16 hai lần và suy nghĩ về vấn đề trong khi đọc.
    a. Có bao nhiêu vấn đề khác nhau mà Phaolô muốn bàn đến?
    b. Liệt kê những vấn đề này và dùng từ ngữ riêng của bạn giải thích ý chính của mỗi vấn đề.
    Ghi chú : Điều tôi sẽ thực hiện đối với phân đoạn Kinh thánh này có hơi khác với điều tôi đã thực hiện trong những bài trước. Chúng ta cần phải hiểu được những câu này thì mới có thể nắm được ý tưởng của cả đoạn Kinh thánh. Do đó tôi sẽ phân tích những câu này cặn kẽ hơn bình thường. Tôi cũng đề cập luôn đến quan điểm của Phaolô mà trong các bài khác được tách ra thành một phần riêng. Trong trường hợp này sẽ là quan điểm của Phaolô về tình yêu trong hôn nhân. Như thế, điều các bạn có ở đây là một thí dụ về việc một học giả phải thực hiện việc giải kinh như thế nào. Đây cũng chính là công việc tìm ẩn phía sau mọi công việc giải kinh mà tôi thực hiện trong khóa trình này. Sẽ không có các bài tập trong phần này nhưng sẽ có một bài tập ở khúc cuối để bạn có thể tự đánh giá mức độ hiểu biết của mình.
    7:1-7 phân đoạn này đề cập trực tiếp đến vấn đề. Trong câu 1 Phaolô trưng dẫn lời lẽ trong thơ của người Côrinhtô. Hãy ôn lại việc giải kinh của 6:12 trong bài 6. Chắc bạn nhớ rằng khi Phaolô trưng dẫn lập trường của người Côrinhtô, dầu phần nào có đồng ý với họ ông vẫn điều chỉnh lại một cách rất mạnh mẽ. Điều đó cũng đúng ở đây. Phaolô thực sự có mong muốn sự trinh khiết. Nhưng đó là sự trinh khiết dành cho người độc thân, chứ không phải cho người đã lập gia đình.
    Do đó, trong câu 2 - 6 ông cương quyết sửa lại lập trường của họ. Oạng lập luận rằng sự trinh khiết trong hôn nhân là hoàn toàn không phù hợp với quan điểm Cơ Đốc giáo về hôn nhân.
    Câu 2 thường được giải nghĩa như là một ý tưởng ủng hộ cho quan điểm rằng hôn nhân là điều Phaolô xem là không tốt bằng độc thân . Bản NIV hiểu theo nghĩa này. Phaolô được hiểu là chống lại việc lập gia đình. Tuy nhiên nếu một người không có ơn ở độc thân ( câu 7 ) thì người đó cần phải lập gia đình. Do đó Phaolô cho hôn nhân là một sự nhượng bộ ( câu 6 ) để tránh cám dỗ về sự dâm dục ( câu 2, 5). Cách giải nghĩa này đã khiến bản NIV dịch câu 1 với từ " Lập gia đình" bất chấp sự kiện không đủ chứng cớ để hiểu từ ngữ theo nghĩa này.
    Nhưng cách giải nghĩa như thế tỏ ra là sai lầm vì 3 lý do : 1) Nó lạc khỏi ý chính trong câu 1; 2) nó không phù hợp với sự kiện các câu 3- 5 là trọng tâm của phân đoạn chứ không phải là một ý tưởng phụ; 3) quan trọng hơn hết, nó giải nghĩa sai một số ý tưởng then chốt trong các câu 2, 5 và 6.
    Trong câu 2 có ba chi tiết cho thấy rằng Phaolô muốn nói đến việc duy trì mối liên hệ phái tính tốt đẹp trong hôn nhân:
    1. Không có bằng chứng nào rằng từ ngữ echein gynaika,("có vợ" ) có thể được hiểu là "Lập gia đình. Ngược lại có rất nhiều bằng chứng, bao gồm cả cách Phaolô sử dụng từ này trong 5:17:29, cho thấy rằng từ ngừ này có nghĩa là " Có gia đình" hay " Có liên hệ phái tính".
    2. Giải nghĩa câu 2 theo ý " Lập gia đình" hàm ý rằng Phaolô ủng hộ việc " mọi người đàn ông" và " mọi đờn bà" nên lập gia đình. Nhưng như thế là mâu thuẫn với điều ông nói ở chỗ khác trong phân đoạn này. Hơn nữa, sẽ phù hợp hơn nếu những từ này được hiểu về " mọi người đàn ông và đàn bà" đã lập gia đình trong Hội thánh. Như thế Phaolô muốn nói rằng mọi người đ