• Cựu Ước Giản Lượt

    Cựu Ước Giản Lượt
    THỜI BAN SƠ
    Kinh Thánh là sách bán chạy nhất thế giới, vì là thông điệp cần thiết cho mọi người được in hơn 1800 ngôn ngữ cho 95/o dân thế giới.
    A. TẠI SAO CẦN NGHIÊN CỰU ƯỚC ?
    1. Giá trị Cựu Ước: Bao trùm nhiều lãnh vực văn chương, lịch sử, tôn giáo:
    . DoThái giáo, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo đều thấy nguồn gốc mình trong đó.
    . Thu hút học giả uyên bác cũng như người thấp kém nhất
    2. Cựu Ước cống hiến bối cảnh lịch sử để hiểu Tân Ước
    . Tân Ước trích dẫn và đề cập đến Cựu Ước hơn 500 lần (Chúa Jesus).
    . Trình bày liên hệ giữa Người với Thượng Đế để ta tin cậy,vâng phục Chúa.
    3. Xao lãng Cựu Ước hơn Tân Ước (xem Cựu Ước là luập pháp) là sai lầm :
    . Hồng ân Thượng Đế hành động suốt lịch sử loài người (
    SaSt 3:15, 21).
    . Thượng Đế bất biến, không chỉ Công chính (phán xét) mà còn Yêu thương
    . Sđ Phaolô trích dẫn Cựu Ước và gọi Thượng Đế là Cha thương xót (
    IICo 2Cr 1:3).
    B. LỊCH SỬ THỜI CỰU ƯỚC
    Phần lớn nằm trong 17 sách đầu (Từ Sáng thế ký đến Êxơtê).
    1. Bố Cục: a. Kỷ nguyên sơ khai: Từ Ađam đến Tharê
    b. Lịch sử tuyển dân: Từ Ápraham(2000) đến Nêhêmi (450).
    ( Thi ca và Tiên tri: Phản ảnh văn hóa, chính trị,kinh tế ).
    2. Chủ đích: Thượng Đế Mặc khải chính Ngài cho loài người qua Cựu Ước .
    3. Nội dung: Là sách Thánh, tiên báo về Chúa Jesus (
    LuLc 24:44 ) là Sấm ngôn của Thượng Đế (RoRm 3:2) . Là Thánh sử ghi lại những Biến cố Tự nhiên được hướng dẫn bằng hoạt động Siêu nhiên của Thượng Đế.
    C. KỶ NGUYÊN SƠ KHAI
    1. Kinh Thánh:
    SaSt 1:1-11:32.
    2. Thời gian: Từ nguyên thủy đến 2000 TC.
    . Thời gian lâu hơn cả phần còn lại của Cựu Ước (Ápraham-Malachi).
    . Rất quan trọng cho cả ngũ kinh, cần thiết để hiểu cả Thánh Kinh.
    . Sáng thế ký là Sách dẫn nhập của Môise cho Ngũ Kinh. Có lẽ Môise dựa vào những nguồn tài liệu thành văn cùng truyền khẩu để viết lịch sử Ysơraên nhưng phần Kỷ nguyên sơ khai phải do chính Đức Chúa Trời mặc khải.
    I. CÂU CHUYỆN SÁNG TẠO
    1:1-2:25
    Câu chuyện nguồn gốc vũ trụ tuy giản dị nhưng sâu sắc, khẳng định Thượng Đế tạo dựng nên muôn loài từ chỗ trống không (ex-nihilo).
    1. Một Kế hoạch Thiên Thượng:
    . Mục đích và trật tự sự sáng tạo được nêu lên cách rõ ràng và cao điểm của kỳ công sáng tạo là con người, một cá nhân có trách nhiệm . Nhìn chung, khoa địa chất học hiện đại cũng trình bày thứ tự giống như Kinh Thánh.
    .
    1:2 có 2 quan điểm giải thích: Quan niệm 1 cho biết câu 1,2 nói về tạo dựng nguyên thủy, những câu sau nói về sự phục hồi - Quan niệm 2 cho rằng câu 2 mô tả giai đoạn sơ khởi trong trình tự sáng tạo.
    . Thời gian sáng tạo là 6 ngày nhưng mỗi ngày dài bao lâu không có nói vì thế theo quan niệm 2 mỗi ngày rất dài (cả nguyên đại) còn quan niệm 1 sự phục hồi chỉ cần mỗi ngày 24 giờ.
    2. Thượng Đế, Đấng Sáng tạo và Nuôi dưỡng:
    . Phần đầu câu chuyện dùng từ “Thượng Đế” ( Elohim số nhiều ) là Đấng sáng tạo vũ trụ vạn vật.
    . Phần sau dùng từ “Thượng Đế Giêhôva” nói lên Ngài tương quan với con người như một Đấng yêu thương, chăm sóc, và con người dù được tạo dựng sau cùng lại là trung tâm của sân khấu kể từ
    2:4b.
    3. Tương quan giữa con người và tạo vật:
    . Con người là một hữu thể rất thông minh và có trách nhiệm, khác biệt và cao quý hơn các thú vật. Ađam được đặc quyền đặt tên cho thú vật, cai trị chúng và trồng giữ vườn Êđen. Thượng Đế tạo nên Êva để làm bạn đời của Ađam. Ngài yêu thương chăm sóc họ, ban cho họ được tương giao với Ngài và dự bị vườn Êđen cho họ an hưởng.
    II. SỰ SA NGÃ VÀ HẬU QUẢ
    SaSt 3:1-6:10
    Là biến cố quan trọng phải được hiểu theo nghĩa đen (
    ITi1Tm 2:13, 14).
    1. Ađam Êva bất tuân, bị đuổi ra:
    . Vấn đề lớn là sự bất tuân chống nghịch vì nghe theo lời kẻ cám dỗ mà nghi ngờ Thựơng Đế ( về Tình yêu, Quyền năng và Lời Ngài ).
    2 . Sự thương xót đi trước sự phán xét: Chúa hứa Hậu tự người nữ sẽ giày đạp đầu con rắn (
    SaSt 3:15 ) trước khi tuyên bố rủa sả và Chúa ban bộ đồ da (ngụ ý sự cứu chuộc cần đổ máu) trứơc khi Ngài đuổi họ ra khỏi Êđen.
    3. Niềm hy vọng được cứu chuộc: Tin cậy lời Chúa, Êva đã bày tỏ hy vọng khi sinh Cain, thất vọng vì Cain bà lại tiếp tục hy vọng khi sinh Sết và con người bắt đầu cầu khẩn Đức Giêhôva (
    4:26 ). Laméc cũng ấp ủ hy vọng được giải cứu khi nói về NôÊ (5:28-30 ).
    4. Án mạng đầu tiên: Có thể Cain đã đi ngược lại chỉ thị dâng sinh tế,nhưng chắc chắn là Cain đã không biết làm điều lành, không kính sợ Chúa và không quản trị nổi tội ác và không có một chút tình yêu !
    5. Dòng dõi vô đạo của Cain: Cain xây thành, dân cư sống bằng chăn nuôi. Dần dần nghệ thuật phát triển, khoa học luyện kim hình thành và con người tự tạo cảm tưởng an ninh giả tạo. (LêMéc)
    . Dòng dõi Cain không nhìn nhận hay nói gì về Thượng Đế.
    5. Dòng dõi đạo hạnh của Sết: Sết làm niềm hy vọng của Ađam Êva hồi phục. Đến đời Ênót người ta bắt đầu quay về cùng Thượng Đế. Rồi Hênóc, bậc đạo hạnh được sinh ra, sống tương giao với Thượng Đế mật thiết và không thấy sự chết. Và NôÊ là niềm hy vọng của Laméc về sự giải cứu khỏi sự rủa sả tại vườn Êđen.
    III. CƠN HỒNG THỦY : SỰ PHÁN XÉT của THƯỢNG ĐẾ
    1. Tình trạng loài người: Dùng những phú bẩm của Thượng Đế cho mình vào lạc thú, không đếm xỉa gì đến Ngài: Hủ bại, bạo động khiến hành vi con người đầy gian ác.
    2. Thương xót đi trước phán xét: Thượng Đế dùng NôÊ cảnh cáo trước về sự hủy diệt trong 124 năm. Ngài bảo đảm sẽ lập giao ước với ông và dòng dõi ông. Ngài bảo NôÊ đóng tàu để được an toàn.
    3. Hình phạt: Đại hồng thủy là cuộc phán xét nghiêm khắc và toàn diện với mục đích tiêu diệt nhân loại tội lỗi và gây dựng nhân loại mới với những người đạo hạnh còn lại.
    IV. KHỞI ĐẦU MỚI CỦA CON NGƯỜI
    SaSt 8:20-11:32
    1. Giao Ước của Thượng Đế với NôÊ: Hành động đầu tiên của NôÊ khi ra khỏi tàu là thờ phượng Thượng Đế bằng sự dâng sinh tế.
    . Cái mống là dấu hiệu giao ước Thượng Đế, bảo đảm con người không bị tuyệt diệt bằng nước lụt nữa.
    . Sau khi nhận giao ước, Nô Ê và các con được lệnh tái lập dân số và làm chủ trái đất cùng được giết súc vật làm đồ ăn . Nhưng hành động bất kính của Cham đã khiến Canaan bị rủa sả.
    2. Tháp Babên: Con người cứ ở nguyên một chỗ, chống lại lệnh Thượng Đế bảo phân tán ra khắp đất và vì kiêu căng họ xây tháp Babên. Nhưng Thựơng Đế chận đứng khiến họ phải tản mác khắp đất.
    3. Con cái NôÊ tản lạc: Con cháu Gia phết đi về hướng Tâybannha, Hắc hải và biển Caspian. Con Cháu Cham đi về hướng Nam đến Phi châu. Dòng dõi Sem chiếm vùng Bắc vịnh Batư.
    4. Dòng Thiên Sai ( Messianic ): Ký sự thu hẹp lại dòng dõi Sem. Sau 10 đời thì tập trung vào Tharê. Cao điểm ký sự là lúc Ápram được kêu gọi và đổi tên thành Ápraham, tổ phụ dân Do Thái. Qua đó lời hứa về Đấng Cứu thế được thành tựu.
    CÁC VỊ THÁNH TỔ
    Kinh Thánh: Sáng 12-50
    Thời gian: Khoảng 2000-1600. TC
    Các thánh tổ sống giữa các nền văn hóa Cận Đông đầu thiên niên kỷ thứ 2 TC. Bắt đầu với Ápraham di cư từ thung lũng Ơphơrát đến Palestine trong “vành đai phì nhiêu”(Giữa Nil,Tigơrơ và Ơphơrát). Vào thời kỳ nầy đã có các Kim tự tháp ở Aicập và Bộ luật thương mãi xã hội tại vùng Lưỡng Hà (Mêsôpôtami).
    I. ÁPRAHAM
    Ápraham là thánh tổ cho cả Do Thái giáo lẫn Hồi giáo, là gương sáng đức tin cho Cơ Đốc giáo.
    1. Bối Cảnh Lịch sử: Ápraham sinh ra trong một gia đình và xã hội thờ hình tượng. Vâng theo tiếng gọi Thượng Đế, ông bỏ Charan đi đến Palestine khoảng 400 dặm. Trạm đầu tiên là Sichem tại cây sồi Mamrê, ông dựng một bàn thờ cho Chúa (vẫn còn thấy cây sồi vùng đó). 25 năm đầu trước khi có Ysác (12-20) được ghi rõ hơn 75 năm sau (21-25)
    2. Sự Thịnh vượng: Ápraham rất giàu có (
    12:5, 24:10 đoàn 10 lạc đà đi hỏi vợ cho con ) và thế lực lớn lao (14:14 huy động 318 gia nhân đi cứu Lót). Các tù trưởng địa phương công nhận ông là vương hầu, lập giao ước với ông (21:32, 23:6).
    3. Phong tục và văn hóa: Trong quan điểm Êdíptô là nơi lý tưởng như Êđen, ông đã đi Êdíptô khi bị đói kém bày tỏ sự thiếu đức tin và sa sút thuộc linh và đã bị tống xuất cách nhục nhã mang theo Aga, nguồn họa cho gia đình.
    Luật Nuzu quy định việc thừa kế dành cho đầy tớ nếu chủ không con (
    15:2) Phong tục bấy giờ cũng cho cưới nàng hầu có con làm kẻ kế tự (16:2) nên Ápraham đã tự ý giúp đỡ Thượng Đế làm thành lời Chúa hứa ! Chúa bác bỏ và xác quyết lời hứa về Sara và Ysác và lập phép cắt bì làm dấu chứng. Một lần nữa Ápraham lại sa sút , nói dối trước Abimêléc nhưng được Chúa can thiệp. Khi Sara chết, Éprôn buộc ông phải mua cả hang đá Mặcbêla lẫn cánh đồng vì luật Hêtít cho miễn thuế nếu chỉ làm chủ cái hang đá.
    4. Một người có đức tin: Dù có lúc yếu đuối nhưng thật ra Ápraham đã vựơt lên trình độ tôn giáo đương thời để tin một mình Chúa (Độc thần). Ông đã lập tức vâng lời Chúa ngay từ buổi đầu. Đi đâu ông cũng lập bàn thờ.
    Vì thế Chúa đã hứa với ông sáu điều: Dân lớn - Ban phước - Nổi danh - Nguồn phước - Bênh vực ( ban phước hoặc rủa sả ai chúc phườc hoặc rủa sả ông ) - Các chi tộc sẽ nhờ ông được phước (thiêng liêng, ứng nghiệm trong Chúa Jesus).
    5. Giao ước với Ápraham: Càng ngày ông hiểu rõ hơn về lời Chúa hứa cho mình nhất là khi gặp khủng hoảng: Tranh chấp đất đai của Lót (
    13:8) xác nhận Chúa chọn cho ông điều tốt nhất. Không nhận phần thưởng vua Sôđôm xác nhận Chúa đã chu cấp mọi sự. Chờ đợi 25 năm xác nhận Chúa sẽ làm ứng nghiệm mọi lời Chúa phán hứa. Giao ước được mở rộng và xác nhận khi Ápraham 99 tuổi và phép cắt bì xác nhận lời hứa và giao ước dù Ysác chưa ra đời.
    6. Người bạn của Thượng Đế: Chúa bày tỏ kế hoạch về Sôđôm Gômôrơ cho ông. Ông cầu nguyện, lý luận với Chúa: Chúa không làm điều phải, điều công bình sao, Chúa không thương xót sao ? Chúa tỏ ra “Thương xót đi trước công bình”và Ngài cứu Lót và gia đình vì cớ Ápraham (
    19:29).
    7. Chịu thử nghiệm: Khi Chúa bảo dâng Ysác, Ápraham vâng lời bày tỏ đức tin Chúa có thể khiến Ysác sống lại. Ông trả lời Ysác bằng một lời tiên tri bày tỏ sự tin cậy phó thác bảo rằng Chúa sẽ dự bị của lễ (Trước hết là chiên đực và sau cùng là Đức Chúa Jesus, chiên con của Đức Chúa Trời).
    II. DÒNG DÕI ÁPRAHAM
    1. Ysác: Người con lời hứa với việc cưới vợ bày tỏ sự Chúa đáp lời cầu nguyện, hướng dẫn người đầy tớ của Ápraham. Cuộc đời Ysác khá bình lặng sống hòa bình với mọi người, được Chúa ban phước vì cớ Ápraham (
    26:24).
    2. Các con khác: Íchmaên là tổ phụ dân Ảrạp, Mađian là tổ phụ dân Mađian . . . . . Các con nầy được cho của cải để đi khỏi sản nghiệp Ápraham.
    III. HAI ANH EM SINH ĐÔI
    Học về cuộc đời Êsau-Giacốp vừa thú vị vừa thất vọng:
    . Giacốp lợi dụng mua quyền trưởng nam của Êsau, toa rập với mẹ để lừa Ysác cướp lời chúc phước.
    . Êsau thiếu đức tin, thiếu ý thức giá trị chân thật, coi thường quyền trưởng nam, bất cần tiêu chuẩn của cha mẹ trong hôn nhân, là người phàm tục.
    1. Cuộc phiêu lưu của Giacốp: Dù nhận lời chúc phước, Giacốp phải trải qua nhiều nỗi truân chuyên để tôi luyện đức tin: Đi Mêsôpôtami tìm vợ, dọc đường nằm mơ và hứa thờ phụng Chúa với điều kiện. Phục vụ Laban bị Laban gạt và sau nầy bị chính các con gạt !
    2. Trở về Canaan: Được Chúa hướng dẫn, Giacốp trở về Canaan nhưng phải trốn đi và vì Rachên lấy mất mấy tượng thần nên Laban toan làm dữ, vì theo luật Nuzu, con rễ có tượng thần nhà vợ được quyền chia gia tài nhà vợ. Bởi sự can thiệp của Chúa, Laban đành kết ước vơí Giacốp nhưng khôn khéo không cho Giacốp qua đòi gia tài. Đến rạch Giabốc , nghe tin Êsau đem 400 gia nhân đi đến, Giacốp sắp xếp khôn khéo để gặp Êsau. Nhưng đêm đó, ông vật lộn cùng Thiên sứ và được đổi tên thành “Ysơraên”: Người cùng cai trị với Thựơng Đế, linh hồn được giải cứu, đời sống được biến đổi . Sau khi phải lìa Sichem, Giacốp đến Bêtên, loại trừ hết thần tượng và lập bàn thờ thờ phượng Chúa như ông đã hứa nguyện. Cuối cùng định cư tại nhà cha ở Hếprôn.
    IV. CUỘC ĐỜI GIÔSÉP
    Giôsép là con Rachên, là niềm vui và hãnh diện của Giacốp nên Giacốp may cho Giôsép chiếc áo dài nhiều màu dấu hiệu của trưởng tộc. Các anh ghen ghét vì chiếc áo, vì Giôsép mách cha chuyện xấu của họ và nhất là vì những giấc mơ tiên tri của Giôsép. Các anh bán Giôsép qua Aicập và gạt cha là Giôsép đã bị thú dữ phân thây
    1. Nô lệ tại Aicập: Trong mọi cảnh ngộ Giôsép luôn tôn vinh Thượng Đế: Không chịu phạm tội - Cho biết nhờ Chúa mà giải mộng - Khẳng định Thượng Đế tể trị mọi sự đã báo trước sẽ làm ứng nghiệm - Nói với các anh rằng chính Chúa đem mình qua Aicập - Trấn an các anh khi Giacốp chết rằng Chúa mới là Đấng đoán xét.
    . Trước khi qua đời Giôsép nói lên lòng tin cậy Chúa làm thành lời hứa bằng việc xin đem hài cốt mình về Canaan.
    2. Cứu tinh của gia đình: Lòng trung kiên, tôn vinh Chúa trong mọi lúc của Giôsép đã được Chúa ban thưởng bằng sự thăng tiến, Ngài tôn cao ông từ nhà Phôtipha đến khi bị tù và tại cung điện Pharaôn. Tuy nhiên sau khi giải mộng cho hai quan, Giôsép phải học bài học chờ đợi chương trình Thựơng Đế suốt hai năm trong tù. Sau đó Giôsép được làm Thủ Tướng Aicập và đưa gia đình đến miền đất Gôsen màu mỡ.
    Lời chúc tiên tri của Giacốp được dùng làm kết luận cho thời đại các thánh tổ.
    MỘT QUỐC GIA THÁNH
    Kinh Thánh: Xuất Ai cập ký, Lêvi ký
    Thời gian: 1600-1400
    I. DẪN NHẬP
    . Thánh sử mang kích thước mới từ sách Xuất Aicập. Con cháu các thánh tổ sinh sôi đông đúc. Pharaôn mới lên ghét số dân đông nầy đày đọa, bắt họ làm nô lệ nhưng Môise đã lãnh đạo và giải phóng dân sự thành 1 dân tộc độc lập tiến vào chinh phục Canaan
    . Công cuộc giải phóng quan trọng vượt bực , chiếm phần còn lại của ngũ kinh ( 4 sách ) tức 1/6 toàn bộ Cựu Ước. Theo Bố cục:
    1. Ysơraên làm nô lệ : 400 năm .
    XuXh 1:1-2:25
    2. Từ Ai Cập đến Sinai : < 01 năm .
    3:1-18:27
    3. Đóng trại tại Sinai : Độ 1 năm .
    19:1-40:38; Le 1:1-27:34;; Dan Ds 1:1-10:36
    4. Lang thang trong samạc: Độ 38 năm .
    10:1-21:34
    5. Đóng trại ngoài Canaan: Độ 01 năm .
    22:1-36:13; PhuDnl 1:1-34:12
    . Aicập là 1 trong những trung tâm văn minh lớn nhất bấy giờ. Vương quốc thành lập từ thế kỷ 16 TC sau khi đánh đuổi Hysok. Thủ lãnh nổi tiếng là Thutmose III được sánh với Alịchsơn đại đế. . .
    II. TỪ NÔ LỆ TRỞ THÀNH MỘT DÂN TỘC
    A. Ysơraên tại AiCập (
    XuXh 1:1-13:19 )
    1. Người Ysơraên bị áp bức: Dân Ysơraên phát triển đông đúc tại Gôsen trong mấy trăm năm, nhưng triều đại 18, Tân Vương có chính sách:
    a. Lao dịch: Bắt dân Ysơraên xây thành Ramse và Phithom (
    1:11 )
    b. Thủ tiêu: Chỉ dụ Giết con trai mới sanh (
    1:15-22 )
    c. Đày đọa thêm: Không cung cấp rơm rạ làm gạch (
    5:5-19 )
    2. Chuẩn bị lãnh tụ: Môise ra đời trong thời kỳ đen tối đó nhưng:
    a. Vào cung: Làm con nuôi công chúa, hấp thu kiến thức Aicập.
    b. Vào Samạc: Đến Mađian, cưới Sêphôra. 40 năm được Chúa huấn luyện, thuộc lòng điạ thế đồng vắng. Được Chúa kêu gọi nên dù biết rõ khả năng Aicập, tính nết Pharaôn và tình trạng vô vọng của Ysơraên, ông đã trở về Aicập làm theo điều Chúa truyền dạy.
    3. Cuộc chạm trán: Với 10 phép lạ (tai họa) liên tiếp Môise đã:
    . Thách thức quyền uy của Pharaôn . Chứng tỏ quyền năng Đức Chúa Trời cho người Ysơraên và Aicập thấy với quyền kiểm soát mức độ, thời gian và phân biệt đối tượng
    . Nhắm vào các thần của Aicập
    4. Cuộc Vượt qua (
    12:27: Đức Giêhôva vượt qua nhà dân Ysơraên) khiến:
    . Người Aicập biết sự phán xét của Thượng Đế giết con trai đầu lòng họ.
    . Người Ysơraên biết quyền năng cứu chuộc khi bôi huyết, ăn thịt chiên. .
    B. Từ AiCập đến Sinai:Phép lạ giải cứu (
    13:20-15:21 )
    1. Không theo lộ trình ngắn nhất (Dọc Địa Trung Hải): Vì sợ dân thấy trận mạc, trở lòng. ( Tốt nhất chứ không phải ngắn nhất ).
    2. Theo đường đến Hồng Hải: Để họ tiếp tục kinh nghiệm giải cứu và thấy sự can thiệp của Thượng Đế bảo vệ, nuôi sống họ. (Trụ mây Trụ lửa để bảo vệ và hướng dẫn họ).
    III. LUẬT PHÁP CHO DÂN THÁNH
    Tôn giáo Ysơraên là tôn giáo mặc khải, không du nhập và khác hẳn tôn giáo của các dân tộc ngoại bang.
    A. Giao Ước MÔISE.
    1. Mục đích: Để dân Ysơraên làm dân thánh cho Ngài (
    19:3-24:8 )
    2. Nôi dung: . Quan trọng nhất là 10 điều răn ( Thập giới ) với điểm nổi bật là Chủ nghĩa Độc Thần, không cho dân Ysơraên thờ hình tượng.
    . Triển khai thành những quy tắc hướng dẫn cư xử. Nhiều điều phổ thông ở Aicập, Canaan lại bị cấm đoán (anh chị em lấy nhau, dâm dục, cúng tế trẻ con. . ). Nhắc nhở về bổn phận đối với kẻ nghèo. . .
    B. Đền Tạm: Ysơraên chỉ có một thánh điện (khác Aicập nhiều đền thờ), giao cho Bếtsalêên và Ôhôliáp xây cất, dân sự góp công, góp của.
    . Kích thước : 13,5m x 4,5m gồm nơi Thánh và nơi Chí Thánh. Bên ngoài về phía đông là khu thờ phượng có Bàn thờ của lễ thiêu và Thùng rửa bằng đồng .
    . Nơi Thánh : Từ trái qua: Chân đèn, Bàn thờ xông hương (trước màn) và Bàn Bánh trần thiết (trưng bày cho các Thầy tế lễ).
    . Hòm Giao Ước ở nơi Chí Thánh bên trong sẽ để 10 điều răn, hộp đựng Mana và Cây gậy trổ hoa của Arôn. Bên trên có nắp Thi Ân có 2 tượng chêrubin. Mỗi năm một lần Thầy tế lễ Thựơng phẩm rưới huyết sinh tế lên nắp thi ân trong ngày Đại lễ Chuộc Tội.
    C. Chức Tư Tế ( Thầy Tế Lễ )
    . Thời Thánh Tổ, Gia Trưởng là người dâng sinh tế .
    . Chi tộc Lêvi được chọn thay các con đầu lòng dân Ysơraên để giúp việc các Tế Sư.
    . Arôn làm Thượng Tế, các con Arôn làm phụ tá.
    . Tế Sư phải thánh thiện để làm ba công tác: Dâng Sinh Tế, Dạy Luật pháp cho dân và Phục vụ trong đền tạm.
    D. Sinh Tế. Việc dâng sinh tế có từ sau khi người bị đuổi khỏi Eđen.
    . Có Bốn Lễ vật phải đổ máu:
    1. Của Lễ Thiêu: Thiêu hủy toàn thể, nói lên sự tận hiến.
    2. Của lễ Hòa bình: Lễ vật tự nguyện. Tế sư và người dâng cùng ăn một phần con sinh nói lên sự giao hảo giữa người và Thượng Đế.
    3. Của lễ chuộc tội: Khi vô tình phạm tội mình không biết.
    4. Của lễ chuộc lầm lỗi: Khi xâm phạm quyền lợi người khác và phải đền bù nếu được (
    CoCl 2:13).
    . Lễ vật ngũ cốc: Tượng trưng bông trái công lao con người (dâng kèm).
    E. Các Lễ Hội và Mùa Màng
    Nhằm nhắc nhở dân Ysơraên rằng họ là dân thánh của Đức Chúa Trời
    1. Ngày Sabát: (ngày Nghỉ, ngày Thánh) nhắc họ nhớ Đức Chúa Trời sáng tạo và Giải phóng họ ra khỏi Aicập.
    2. Ngày trăng mới và Lễ Thổi kèn: Mỗi đầu tháng có 1 hồi kèn . Lễ Thổi kèn đầu tháng Bảy mở màn nhiều lễ Tôn giáo (Đại lễ chuộc tội, Lễ Lều tạm, Lễ Mùa màng).
    3. Năm Sabát: Năm thứ bảy phải để đất nghỉ, không gieo hạt. Phải xóa nợ và phóng thích nô lệ để nhớ sự giải phóng khỏi Aicập.
    4. Năm hân hỉ: Sau năm sabát tứ bảy là năm hân hỉ. Năm tự do,hoàn trả sản nghiệp, phóng thích nô lệ, đất nghỉ ngơi.
    5. Lễ Vượt qua và Bánh không men: Nhắc sự giải phóng khỏi Aicập. Sau Lễ Vượt Qua (14 tháng Nisan tháng đầu tôn giáo) là một tuần ăn bánh không men.
    6. Lễ Các Tuần (Ngũ tuần): Ngày 50 sau Lễ Vượt Qua. Dâng của lễ bằng hạt lúa hoặc bột (Lễ Đầu Mùa) nhận Thượng Đế là Đấng ban bánh ăn hằng ngày.
    7. Đại Lễ chuộc Tội: Long trọng nhất trong năm (10. 7)
    LeLv 23:27.
    8. Lễ Đền Tạm: Vào cuối mùa gặt (Lễ Mùa Gặt) chấm dứt năm tôn giáo. Sống trong lều nhắc ngày sống trong lều tạm tại đồng vắng.
    Dân sự cần Vâng phục và Tin cậy để duy trì giao ước.
    HƯỚNG VỀ CANAAN
    Kinh Thánh: Dân số ký. Phục Truyền
    Thời gian : Khoảng 1600 - 1400
    Dân Ysơraên đóng tại Sinai gần một năm, nhận thêm nhiều huấn thị. Sau 11 ngày đi bộ, họ đến Cađe, phái 12 thám tử và rồi nổi loạn. Ba mươi tám năm sau mới đến đồng bằng Môáp và Môise từ biệt họ.
    I. TỔ CHỨC DÂN YSƠRAÊN
    1. Tu bộ: Tu bộ trước khi rời Sinai với con số gần giống lúc rời Aicập. Lúc ấy họ đếm được 603. 550 (
    38:26) không kể đàn bà con nít và người Lêvi. Sau gần 40 năm, thế hệ nầy đã ngã xuống và 601. 730 người khác thay thế (Dan Ds 26:51).
    2. Thứ tự di hành: Luật pháp và Trật tự rất cần thiết cho dân Chúa. Người Lêvi thay các con đầu lòng để chăm sóc đền tạm. Khi ở thì đền tạm ở giữa, người Lêvi bao quanh. Khi đi thì người Lêvi khiêng đền tạm đi giữa 6 chi tộc phía trước và 6 chi tộc phía sau.
    3. Khánh thành đền tạm: Môise khánh thành đền tạm vào năm thứ hai. Ông dâng tế lễ, trình diện Arôn và người Lêvi biệt riêng họ và chúc phước cho dân sự. Môise cũng tổ chức Lễ Vượt qua thứ hai đánh dấu đệ nhất chu niên dân tộc được giải phóng và bắt buộc mọi người phải tham dự dù là khách trú.
    4. Thẳng tiến về Canaan: Ngày 20. 2 họ nhổ trại tiến về Canaan. Chúa hướng dẫn họ bằng trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm. Như thế sự hướng dẫn thiên thượng kết hợp hài hòa với nhu cầu tổ chức.
    II. CUỘC LANG THANG TRONG SA MẠC
    1. Lằm bằm: Sau việc dân sự lằm bằm về Mana, 70 trưởng lão được chỉ định phụ giúp Môise và Chúa ban chim cút cho dân nhưng vì bội thực họ bị chết như một trận dịch. Cả Arôn và Miriam cũng lằm bằm về Môise !
    2. Khủng hoảng tại Cađe: 12 thám tử đi do thám lúc dân sự đóng trại tại Cađe. Họ đồng tình báo cáo đất đai màu mở, dân cư hùng cường nhưng trong khi 10 người quả quyết không đánh được thì Giôsuê và Calép tin rằng họ sẽ chiến thắng với sự trợ giúp thiên thượng. Dân chúng bị giao động rồi nổi loạn, đòi ném đá hai người và chọn lãnh tụ khác thay Môise Chúa định tiêu diệt dân sự nhưng Môise cầu thay và Chúa nhậm lời: Ngài ân xá cho họ nhưng họ phải chết trong đồng vắng vì không có lòng tin.
    3. Những năm lang thang: Hai nhóm nổi loạn cấu kết nhau: Côrê và đám Lêvi ủng hộ phủ nhận quyền tôn giáo của Arôn, còn Đathan và Abiram muốn thay Môise làm lãnh tụ chính trị vì là dòng Rubên. Chúa bênh vực Môise Arôn khi đất nuốt Gia đình Đathan, Abiram với Côrê, hơn 14. 000 người khác bị tiêu diệt và ngôi vị Arôn được xác nhận bằng cây gậy đâm chồi.
    4. Trên đường đến đồng bằng Môáp Sau độ 38 năm dân sự đến đồng bằng Môáp. Môise trái lệnh Chúa đập hòn đá thay vì ra lệnh khiến nước phun ra nên không được vào Canaan. Biến cố rắn đồng nhấn mạnh hành động đơn sơ của đức tin đã được Chúa Jesus áp dụng về điều kiện được cứu rỗi. Dân sự tiếp tục đi vòng Êđôm (vì Êđôm không cho đi ngang qua) và Môáp. Họ được lệnh không đánh Môáp nhưng rồi cũng phải đánh Sihôn vua Hếpbôn và Óc vua Basan và chiếm giữ đất của họ.
    III. HUẤN LÊNH TIẾN VÀO CANAAN
    1. Balaam và Balác: Vua Balác rất lo ngại khi Ysơraên đóng trại phía bắc xứ ông nên thuyết phục tiên tri Balaam rủa sả Ysơraên. Ham lộc cao, bổng hậu nên Bala am ra đi. Nhưng con lừa bật tiếng nói và thiên sứ cảnh cáo nên Balaam phải bốn lần chúc phước Ysơraên. Về sau Balaam bày mưu dân Môáp cám dỗ Ysơraên phạm tội gian dâm và thờ hình tượng khiến Ysơraên bị phán xét. Tuy nhiên Chúa không để dân Ngài bị rủa sả; và Balaam bị giết chung với dân Mađian.
    2. Quyết định và Chỉ thị: Môise miễn cưỡng cho phép chi tộc Rubên, Gát và phân nửa Manase định cư phía đông Giôđanh là vùng cỏ tốt, nhưng bắt họ hứa tham dự cuộc chinh phục Canaan. Có ba thành ẩn náu trong khu nầy. Kế hoạch quan trọng nhất là chỉ định Giôsuê làm lãnh tụ mới. Giôsuê có khả năng chỉ huy quân sự (đẩy lui Amaléc) và có đức tin (khi đi do thám).
    IV. HỒI TƯỞNG VÀ TRIỂN VỌNG
    1. Diễn từ thứ nhất: Môise ôn lại Lịch Sử Ysơraên. Nhắc nhở về thế hệ lằm bằm phản loạn đã không được vào đất hứa và chỉ rõ điều kiện để được ơn Chúa là Tuân giữ Luật pháp và hết lòng sống cho Ngài.
    2. Diễn từ thứ hai: Môise nhắc nhở về Luật Pháp và lưu ý họ là dân tộc về Giao Ước: Căn bản cho lối sống là Mười điều răn và bí quyết giữ mình làm dân Thánh là Chân thành kính yêu Chúa, vâng phục Ngài; dẹp bỏ thần tượng.
    Môise cũng dạy về trách nhiệm dân sự, xã hội và gia đình và kết luận bằng lời chúc phước và rủa sả mà dân sự phải ghi nhớ khi vào đất hứa.
    3. Từ biệt: Môise trao quyền chỉ huy cho Giôsuê và công tác dạy dỗ cho các tế sư. Môise cũng trao một bản chép luật pháp (lưu giữ trong hòm giao ước và đem đọc cho công chúng bảy năm một lần). Sau khi nhắc lại thời sơ lập Ysơraên, Môise chúc phước cho mỗi chi tộc. Trước khi qua đời, Môise lên đỉnh núi Nêbô để nhìn vào miền đất hưá.
    LÀM CHỦ ĐẤT HỨA
    Kinh Thánh : Giôsuê,Quanxét,Rutơ
    Thời gian : Khoảng 1400-1100
    I. TÌNH TRẠNG XÃ HỘI CANAAN
    1. Chính trị: Dân Canaan sống thành các Tiểu Quốc có tường thành bao bọc nằm trên vị trí cao rất kiên cố vì thế chinh phục Canaan dường như giấc mơ!
    2. Tôn giáo: Dân Canaan thờ Đa thần: El là thần chính gọi là “Thần bò cha”. Vợ của El là Asêra. Trong các con có Thần chính là Baanh (nghĩa là Chúa) là Thần cai quản các thần khác, luôn cả trời đất và sự sinh sản. Các thần nầy thật tàn bạo vô luân, thể hiện qua cách thờ phượng như hiến tế trẻ em, hành dâm và dùng rắn trong nghi lễ. Môise đã cảnh cáo trước về điều nầy.
    3. Thời kỳ ân huệ: Trước khi phán xét, Chúa đã cho họ một thời kỳ ân huệ khi các thánh tổ sống giữa họ, làm gương cho họ về sự thờ phượng Đấng chơn thật. Sau 4 thế kỷ, họ càng ngày càng tồi tệ và sự gian ác đã trọn, chín muồi cho cuộc phán xét nên Chúa cho dân Ysơraên tiến vào chiếm lấy xứ.
    II. GIÔ SUÊ LÃNH ĐẠO CUỘC CHINH PHỤC
    1. Chuẩn bị: Giôsuê được học tập kinh nghiệm và được huấn luyện bởi Môise :
    . Tại Rêphiđim, Giôsuê cầm quân đẩy lui Amaléc nhờ sự cầu thay của Môise.
    . Tại Cađe, được cử làm thám tử, tận mắt thấy đất hứa và bày tỏ Đức tin.
    . Từ Aicập đến biên giới Canaan, Giôsuê chứng kiến quyền năng Thượng Đế.
    . Tận mắt chứng kiến một thế hệ vùi thây trong samạc vì không tin.
    2. Tiến vào Canaan: Chúa bảo đảm với Giôsuê sẽ thành công nếu cẩn thận làm theo mọi điều trong sách Luật pháp do Môise truyền lại. Sự bảo đảm gia tăng khi hai thám tử báo cáo tâm trạng dân Canaan. Phép lạ vượt sông Giôđanh cho thế hệ mới nhận biết Chúa đang hành động. Họ được lệnh dựng 12 tảng đá kỷ niệm ở gần sông và ở Ghinh Ganh để nhắc thế hệ sau biến cố vĩ đại nầy.
    3. Bốn biến cố : Có 4 biến cố khiến dân sự biết rằng họ đã vào đất hứa :
    a. Dựng hai đài đá kỷ niệm sự giải phóng chắc chắn của Chúa.
    b. Giữ Lễ Vượt qua nhắc lại sự Giải phóng khỏi xứ Aicập.
    c. Giữ Lễ Cắt Bì nhận biết họ là dân thánh thuộc về giao ước của Chúa.
    d. Mana ngưng để họ sống nhờ vào hoa màu của đất hứa.
    4. Ba Chiến dịch quan trọng: Qua khải tượng, Chúa nhắc Giôsuê nhớ rằng ông chỉ là đầy tớ dưới quyền của Chúa là Tư lệnh quân đội Đức Giêhôva.
    a. Chiến dịch miền Trung: Nhắm vào Giêricô và Ahi ( Giêricô chiến thắng nhờ quyền năng siêu nhiên của Chúa, Ahi chiến thắng nhờ Vâng lời Chúa loại trừ tội lỗi Acan và áp dụng chiến thuật quân sự do Chúa chỉ dạy ) . Sau đó dân sự tập trung giữa Êbanh và Garixim để nghe đọc Luật pháp Môise (Môise dặn).
    b. Chiến dịch miền Nam: Đánh bại liên quân Amôrít nhưng phạm sai lầm không cầu hỏi ý Chúa nên kết ước với Gabaôn. Một lần nữa Chúa bày tỏ quyền năng bằng cách khiến mưa đá và kéo dài ngày để ban chiến thắng lớn tại Gabaôn. Tuy nhiên còn Ghêxe và Giêrusalem chưa bị chiếm.
    c. Chiến dịch miền Bắc: Ghi vắn tắt với trận thắng tại vùng hồ Mêrôm, san bằng thành phố Hátsô ( có 40. 000 dân theo khảo cổ ).
    Tổng kết có 31 vua bị đánh bại trong cuộc chinh phục Canaan.
    5. Chia đất: Giôsuê cho bắt thăm chia xứ cho các chi tộc để tiếp tục đánh chiếm cho mình, 6 thành được chỉ định làm thành ẩn náu (mỗi bên Giôđanh 3 thành) Lêvi được chia 48 thành rải rác khắp xứ để lo việc tôn giáo. Silô là trung tâm tôn giáo có đền tạm tại đó. Sau đó Giôsuê tập hợp dân sự tại Sichem kêu gọi họ kính sợ Chúa và phục sự Ngài cách thành tâm, trung tín.
    III. CÁC QUAN XÉT
    1. Tình hình tổng quát: Dân Canaan vẫn còn một số thành kiên cố khắp nơi Trong vòng hai hay ba thế kỷ từng hồi từng lúc có những quan xét giải phóng và lãnh đạo dân sự. Hầu hết đều có tính địa phương nên có thể trùng nhau.
    2. Chu kỳ bốn điểm: Cứ lặp đi lặp lại: Tội lỗi ( liên kết dân bổn xứ đưa tới bội đạo, thờ hình tượng ) Đau buồn ( Bị Chúa phạt cho quân thù xâm chiếm ) Khẩn cầu ( Họ ăn năn, kêu xin Chúa ) Cứu rỗi ( Ban quan xét giải cứu họ )
    3. Các dân tộc áp bức và các quan xét: Ốtniên (Mêsôbôtami). Êhút (Môáp). Samga (Philitin). Đêbôra và Barác (Canaan). Ghêđêôn (Mađian). Thôla và Giairơ. Giépthê (Ammôn). Iếpsan, Êlôn, Ápđôn. Samsôn (Philitin).
    4. Tình trạng vô tổ chức: Tình trạng dân sự có thể tóm lại trong câu “Ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải”.
    THỜI KỲ CHUYỂN TIẾP
    Kinh Thánh : I. Samuên
    Thời gian : 1100 - 1000
    I. DÂN PHILITIN
    1. Vị Trí: Dân Philitin định cư ở đồng bằng ven biển Tây Nam của Ysơraên. Họ cai trị ít nhất năm thành là Áchcalôn, Áchđốt, Écrôn, Gaxa và Gát. Họ bắt đầu lấn lướt Ysơraên từ thời Samsôn và vì thiếu lãnh đạo tập trung nên Ysơraên không thể đẩy lui quân thù nầy.
    2. Ưu thế: Do nắm giữ bí quyết đúc đồ sắt (Dù trước 1200. TC dân Hêtít ở Tiểu Á đã biết đúc sắt). Dân Ysơraên phải lệ thuộc người Philitin để có gươm giáo và các dụng cụ nông nghiệp.
    3. Chiến sự: Kinh Thánh ghi cuộc chiến đấu giữa hai dân tộc qua nhiều thế hệ và mãi đến thời Đavít năm 1000. TC, thế lực Philitin mới bị bẻ gãy.
    II. HÊLI, THẦY TẾ LỄ KIÊM QUAN XÉT
    Silô, nơi dựng đền tạm vẫn là trung tâm tôn giáo. Là Thượng Tế, Hêli lãnh đạo dân sự cả về tôn giáo lẫn chính trị. Tuy nhiên Kinh Thánh tập trung vào Samuên, từ vòng tay người mẹ kính sợ Chúa đã nghe tiếng kêu gọi của Chúa từ ấu thơ, chiến thắng những áp lực vô đạo biệt mình cho chức vụ thánh.
    1. Sự Bội đạo: Tình trạng tôn giáo xuống tới mức thấp nhất vì Hêli không dạy dỗ hai con là Hópni và Phinêa kính sợ Chúa mà lại giao chức vụ tư tế cho họ. Họ là người “gian tà, chẳng nhận biết Đức Giêhôva” bóc lột người dâng tế, đòi chia phần trước khi dâng tế lễ, làm uế tục đền thánh với sự dâm ô.
    2. Sự phán xét: Chúa đã hai lần cảnh cáo Hêli: Tiên tri vô danh trách Hêli tôn trọng con hơn Chúa và Samuên thuật lại lời Chúa phán trong đêm.
    Hêli không sửa đổi và phán xét đã đến, ảnh hưởng đến cả dân tộc: Ysơraên đại bại, Hòm giao ước bị cướp, hai con Hêli chết, nghe tin Hêli ngã xuống chết. Dâu Hêli trước khi chết đặt tên con là Ycabốt (thiếu vinh hiển).
    III. SAMUÊN TIÊN TRI THẦY TẾ LÊ và QUAN XÉT
    1. Lãnh đạo kiến hiệu: Samuên lập bàn thờ tại Rama và thường đi tuần hành khắp Ysơraên để thi hành nhiệm vụ tư tế và giáo dục dân sự. Toàn dân đều nhận biết Samuên đã được Chúa lập làm tiên tri giữa họ.
    2. Thờ phượng: Dù hòm giao ước đã được trả nhưng còn ở nhà Abinađáp. Sự thờ phượng theo tôn giáo Canaan dần dần bị loại trừ.
    Hai mươi năm sau, Samuên triệu tập dân sự tại Míchba để kiêng ăn, cầu nguyện và dâng tế lễ thì quân Philitin tấn công. Samuên cầu nguyện, dâng của lễ thì Chúa khiến sấm sét làm Philitin bỏ chạy. Từ đó Philitin không còn khiêu chiến nữa suốt đời Samuên. Ông đặt tên nơi đó là ÊbênÊxe (Đức Giêhôva đã cứu giúp chúng tôi cho đến bây giờ).
    3. Xin ban một vua: Trước sự bất xứng của hai con trai Samuên, dân sự xin một vua. Samuên cảnh cáo họ về việc xin vua là từ chối thần quyền nhưng cuối cùng phải miễn cưỡng chọn một vua cho họ theo sự hướng dẫn của Chúa.
    IV. SAULƠ VỊ VUA ĐẦU TIÊN
    1. Được xức dầu: Saulơ được xức dầu cách cá nhân rồi sau được tôn vương trong cuộc họp tại Míchba và được giao trách nhiệm “quản trị cơ nghiệp của Chúa”.
    2. Lên ngôi vua: Cuộc giải phóng Giabe trong Galaát khỏi Ammôn đã đưa Saulơ chính thức làm vua tại Ghinh ganh nhưng Samuên cảnh cáo dân sự và Saulơ phải tuân theo luật pháp Môise nếu muốn được hưng thịnh. Lời Samuên được xác nhận bằng cơn mưa và sấm sét đang mùa gặt (tháng 5,6) khiến dân sự sợ hãi nhưng Samuên hứa sẽ “chẳng phạm tội cùng Chúa mà thôi cầu nguyện cho họ”.
    3. Thành công: Saulơ đạt nhiều chiến thắng quân sự, đánh đuổi Philitin, đánh bại Amaléc và nhiều dân khác. Saulơ lập đồn Ghibêa làm thủ đô.
    4. Nhược điểm: Dù được toàn dân hoan nghênh và Samuên cầu thay, Saulơ đã phạm nhiều sai lầm: Tự động dâng tế lễ mà không đợi Samuên. Không hoàn toàn vâng lời Chúa tuyệt diệt Amaléc và vì không ăn năn, Saulơ đã đánh mất ngôi nước vì không ý thức trọng trách thiêng liêng đã đươc giao phó với lời cảnh cáo “sự vâng lời tốt hơn của tế lễ”.
    V. ĐAVÍT NỔI DANH KHẮP NƯỚC
    1. Đavít được xức dầu: Saulơ không hề hay biết. Qua việc nầy Samuên học được rằng con người xem bề ngoài nhưng Chúa nhìn thấy trong lòng.
    2. Chuẩn bị: Đavít được chuẩn bị kỹ lưỡng từ thời niên thiếu: Học sử dụng nhạc khí để ca ngợi Chúa, Phát triển thể lực và tâm trí thông minh của người chăn dân sự cùng lòng nhờ cậy Chúa khi đối đầu với sư tử và gấu khi chăn chiên. Đavít đã bắt đầu nổi tiếng và được mời vào cung gãy đàn cho Saulơ.
    3. Xuất hiện: Vâng lời Cha đi tiếp tế cho các anh, Đavít nghe Gôliát thách thức. Đavít với đức tin, nhơn danh Chúa ra đi đối đầu Gôliát và chiến thắng vẻ vang nổi tiếng khắp nước và được ở luôn trong triều để phục vụ Saulơ.
    4. Chạy trốn: Saulơ ganh tỵ tìm cách gài bẫy Đavít nhưng không thành công nên quyết định tiêu diệt Đavít. Nhờ Giônathan, Đavít thoát chết, chạy trốn nhưng Saulơ đuổi theo. Hai lần Đavít có thể giết Saulơ nhưng ông không làm vì xem Saulơ là người được Chúa xức dầu và giao sự báo thù cho Chúa.
    5. Lánh nạn: Đavít lánh sang Philitin được Akích cho ở tại Xiếclác và tin dùng nhờ nối dối ! Trong khi đó Saulơ bị Philitin tấn công. Quá sợ hãi vì không còn ai đế cầu vấn, ông đã đi cầu bà bóng và ngã chết chung với các con mình trên núi Ghinhbôa vì đã không học bài học vâng lời Chúa, tuân theo luật pháp Ngài để chu toàn sứ mạng thiêng liêng Chúa giao.
    ĐAVÍT TRỊ VÌ
    Kinh Thánh : II. Samuên, I. Sử Ký
    Thời Gian : Khoảng 1011-971 TC
    DẪN NHẬP
    1. Đavít là vị vua nổi bật nhất trong cả lịc sử Ysơraên được I. Sử Ký ghi lại như vị vua đầu tiên chứ không phải Saulơ.
    2. Về phương diện chính trị và tôn giáo , Đavít là nhà lãnh đạo lỗi lạc:
    . Về chính trị Đavít thống nhất đất nước và mở rộng bờ cõi nhờ những chiến thắng quân sự và chính sách ngoại giao khôn khéo.
    . Về Tôn giáo, Đavít tổ chức sự thờ phượng trong đền tạm và chuẩn bị chu đáo cho việc xây đền thờ.
    I. VUA GIUĐA
    1. Nhà Saulơ : Ysơraên lâm vào mạt vận khi Saulơ và ba con chết. Tổng binh Ápne lập lại trật tự vừa đủ để đưa Íchbôsết làm vua tại Galaát trong 2 năm.
    2. Vua Đavít : Đavít từ xứ Philitin trở về Hếprôn được các thủ lãnh Giuđa xức dầu tôn làm vua. Các chi tộc còn lại thấy Đavít không thù hận gì nhà Saulơ nên đàm phán thống nhất (Tuy nhiên Ápne và Íchbôsết đều bị giết mà Đavít không đồng ý). Sau 7 năm rưỡi làm vua Giuđa, Đavít được xức dầu làm vua cả Ysơraên và không có một hành động trả thù nào với nhà Saulơ.
    II. GIÊRUSALEM, THỦ ĐÔ CỦA QUỐC GIA
    1. Phản ứng của Philitin : Khi Đavít làm vua cả Ysơraên, Philitin mới cảnh giác nhưng hai lần công công họ đã bị thảm bại trước Đavít.
    2. Chiếm Giêrusalem : Giêrusalem (trước là Giêbu) là thành trì của dân Giêbusít còn sót. Đavít chiếm Siôn và ra lệnh đánh giết dân Giêbusít. Giôáp xung phong thành công được phong tư lệnh (Tổng Binh). Vị trí Đavít chiếm là Ophel sau được gọi là thành Đavít, hay thành Siôn.
    3. Tổ chức quốc gia : Đavít phong vương tước cho những người trung thành theo vua. Ký khế ước với dân Phênixi mua vật liệu xây cung điện tại Giêrusalem. Giêrusalem thành trung tâm tôn giáo: Hòm giao ước được rước về, sự thờ phượng được thiết lập. Đavít muốn xây đền thờ nhưng Chúa hoãn lại và chỉ định cho con ông xây vì mặc dầu được Chúa yêu, Đavít lại là người chuyên chinh chiến. Tuy nhiên lời hứa Chúa cho Đavít thật lớn lao về ngôi nước, hậu tự và sự thương xót của Chúa cho dòng dõi ông.
    4. Triều đại Đavít được tồn tại nhờ liên hệ với Chúa Jesus với lời hứa về Đấng Thiên sai trong dòng Vua Đavít.
    III. THỊNH VƯỢNG VÀ THANH THẾ
    1. Lãnh thổ: Bờ cõi được mở rộng từ sông cái Aicập và vịnh Aqaba đến vùng sông Ơphơrát và đến đầu thế kỷ thứ 10 vương quốc Ysơraên đứng hàng đầu trong Vành đai phì nhiêu.
    2. Cách mạng Kinh Tế: Người Philitin không còn độc quyền về sắt. Có lẽ Đavít đã học được cả cách dụng binh lẫn cách sản xuất khí giới lúc ở Philitin. Sa mạc Araba từ biển chết đến vịnh Aqaba rất giàu quặng sắt và đồng và Đavít đã chiếm Êđôm, lập đồn khắp xứ để kiểm soát nguồn tài nguyên nầy.
    3. Quân sự: Ngoài Philitin và Êđôm, Đavít còn chinh phục Môáp, Amaléc, bắt triều cống vàng và bạc, đánh bại Ammmôn và Aram, Kiểm soát con đường giao thương qua Đamách và các trục lộ khác. Nhưng với Phênixi thì lập thương ước vì họ có ngành giao thương hàng hải rất thịnh vượng.
    4. Đối với nhà Saulơ: Rất độ lượng, không những cấp dưỡng mà còn cấp nhà cho Mêphibôsết ở tại Giêrusalem. Mêphibôsết cũng được biệt đãi trong cơn đói kém trừng phạt Ysơraên vì Saulơ muốn tận diệt Gabaôn. Đavít cũng cho chuyển hài cốt Saulơ và Giônathan về nghĩa trang gia tộc ở Bêngiamin.
    5. Đối với Chúa: Đavít không bao giờ quên rằng Chúa đã ban cho vua thắng trận và thịnh vượng. Vua làm nhiều bài thơ cảm tạ ca ngợi Chúa, điển hình là Thi Thiên 18 (II. Sa 22).
    IV. TỘI LỖI TRONG HOÀNG GIA
    Kinh Thánh không che giấu tội lỗi các lãnh tụ nhưng tuyên bố sự phán xét của Chúa và lòng thương xót của Ngài dành cho kẻ thật lòng ăn năn.
    1. Đa Thê: Rất thông thường và còn là biểu tượng của quyền quý, ngoài ra cũng bao hàm dụng ý chính trị (Cưới Micanh và Maaca), nhưng Cựu Ước có cảnh cáo về việc nầy (
    PhuDnl 17:17). Đavít phải gánh hậu quả của việc nầy.
    2. Bátsêba: Việc Đavít thông dâm với Bátsêba và giết Uri trót lọt hoàn hảo đối với con người. Nhưng Chúa biết rõ và vì vua lãnh một sự ủy thác thiêng liêng, Chúa đã sai Nathan đến chỉ tội lỗi vua. Đavít ăn năn thống hối như thi thiên 32 và 51 mô tả. Chúa tha tội chết cho Đavít nhưng hậu quả tội lỗi nầy thật trầm trọng: Đứa con tội lỗi bị Chúa đánh chết , Amnôn vô luân vì Đavít đã làm gương xấu và Ápsalôm giết Amnôn, Ápsalôm dấy binh làm loạn và bị Giôáp giết làm Đavít than khóc khiến Giôáp phải trách và cảnh cáo vua, Sêba dấy loạn và sau nầy Ađônigia bị Salômôn giết, Chúa quả đã tha thứ Đavít nhưng vua phải gánh chịu những hậu quả (
    IISa 2Sm 12:5-6).
    V. HỒI TƯỞNG VÀ TRIỂN VỌNG
    1. Chuẩn bị xây đền thờ: Đavít đã vẽ kiểu chi tiết và sắp đặt tỉ mỉ cho việc xây đền thờ, cả việc lao công trong nước và ngoại quốc và chi tiết thờ phượng trong đền thờ mới cũng được hoạch định cẩn thận. Vua cũng nhờ người Phênixi cung cấp vật liệu để xây đền thờ.
    2. Kiểm tra quân số: Có lẽ Đavít kiêu hãnh về sức mạnh quân sự và các thành tích nên bị phạt còn dân sự bị phạt vì theo Ápsalôm và Sêba làm loạn. Tiên tri Gát tuyên bố hình phạt và vua chọn “sa vào tay Đức Giêhôva”. Đavít đã mua sân đạp lúa của Arauna người Giêbusít để lập bàn thờ dâng tế lễ và Chúa ngừng tai họa dịch hạch. Địa điểm nầy trên núi Môria là nơi Ápraham dâng Ysác cũng là nơi xây đền thờ (sau nầy Salômôn sát nhập vào thủ đô).
    Tóm lại, bảy năm rữơi đầu tại Hếprôn là thời gian chuẩn bị và nội chiến. Thập niên kế là mở rộng vương quốc và chọn Giêrusalem làm thủ đô. Thập niên thứ ba là Tội lỗi và hậu quả. Thập niên cuối Đavít tập trung vào sửa soạn xây đền thờ. Trước khi qua đời, Đavít lập Salômôn kế vị, khuyên Salômôn vâng phục luật pháp Chúa và nhận biết trách nhiệm mình trước mặt Ngài. Đavít nói tiên tri về vương quốc sẽ tồn tại mãi mãi qua Đấng Thiên Sai.
    VƯƠNG QUỐC SALÔMÔN
    Kinh Thánh:I. Vua 1-11, II. Sử 1-9
    Thời gian : Khoảng 971-931 TC
    Thời đại vàng son của Salômôn được mô tả bằng hai chữ Hòa bình và Thịnh vượng. Ông thừa hưởng những kết quả của vua cha để lại. Bốn mươi năm cai trị được ghi lại theo đề mục. Thập niên đầu chú trọng vào việc xây cất và cung hiến đền thờ.
    I. SALÔMÔN LÊN NGÔI
    1. Đăng quang: Gặp trở ngại vì Ađônigia được Giôáp và Thượng Tế Abiatha xức dầu làm vua nhưng Nathan và Bátsêba tâu với Đavít nên Salômôn được xức dầu làm vua tại phía đông núi Ôphen và tổ chức lễ đăng quang.
    . Đavít vạch cho dân sự thấy trách nhiệm họ với Salômôn và nhắc nhở Salômôn trách nhiệm vâng giữ luật pháp Môise.
    . Củng cố ngai vàng, Salômôn xử tử Ađônigia vì xin cưới Abisác, xử tử Giôáp và đày Abia tha đến Anatốt (ứng nghiệm lời tiên tri cho nhà Hêli).
    2. Khôn ngoan: Lên ngôi mới hai mươi mấy tuổi, Salômôn cảm thấy cần sự khôn ngoan lãnh đạo quốc gia. Chúa nhậm lời hứa ban khôn ngoan và nếu vua vâng phục Ngài, Ngài còn ban giàu có, tôn trọng và sống lâu. Sự khôn ngoan của Salômôn là một nhân tố gây nhiều thán phục.
    3. Tổ chức:
    . Về tư pháp, Vua là quan án chung thẩm.
    . Thuế vụ: Cả nước chia làm 12 khu vực để đánh thuế, và mỗi tháng luân phiên nhau cung cấp cho chính phủ trung ương.
    . Quân đội tăng cường 1400 chiến xa. 12000 kỵ binh.
    . Tổ chức giỏi, quản trị khéo, đất nước Ysơraên phồn vinh và tiến bộ.

    II. CHƯƠNG TRÌNH XÂY CẤT
    1. Tầm quan trọng: Đền thờ Salômôn xây cất là cao điểm của lịch sử tôn giáo, là thể hiện niềm ước vọng của Đavít.
    2. Sửa soạn: Qua hiệp ước với Hiram, vua Tyrơ, Salômôn có nguồn cung cấp nguyên liệu phong phú. Người Phênixi tiến bộ về kiến trúc, cung cấp cả vật liệu lẫn kỹ thuật được trả công bằng lúa, dầu và rượu.
    3. Đền thờ: Rộng gấp đôi đền tạm Môise với nghệ thuật kiến trúc cơ bản là của Phênixi, đền thờ được xây trong bảy năm trên núi Môria phía bắc Siôn tồn tại đến 586 TC bị Nêbucát nếtsa hủy phá. Được xây lại năm 520-515 TC và bị triệt hạ năm 70. SC. Từ thế kỷ thứ bảy, một đền thờ Hồi giáo đã được xây trên địa điểm nầy.
    III. CUNG HIẾN ĐỀN THỜ
    1. Tầm quan trọng: Là biến cố trọng đại hơn hết từ khi dân sự rời Sinai. Không còn trụ mây lơ lững trên đền tạm nhưng vinh quang Chúa đầy dẫy đền thờ. Lễ Cung hiến đúng vào Lễ Lều Tạm.
    2. Tổ chức: Salômôn là nhân vật chính, đại diện toàn dân (là Tôi tớ Chúa, là Nước tư tế của Ngài).
    3. Công trình khác: Salômôn còn xây cung điện trong mười ba năm, cung cho công chúa Pharaôn, và xây nhiều thành như Mêghiđô trên khắp nước để duy trì quân đội hùng hậu.
    IV. BANG GIAO QUỐC TẾ
    1. Thủ đô kỷ nghệ: Duy trì sự kiểm soát Êđôm và lập trung tâm luyện sắt và đồng ở Êxion Ghêbe và với sự trợ giúp của các kỷ sư Phênixi, thành phố nầy trở nên thủ đô kỷ nghệ của Palestine.
    2. Thương mại: Nhờ kiểm soát kỷ nghệ kim khí, Ysơraên có lợi thế trong việc buôn bán. Salômôn đóng tàu đem sắt, đồng đến Yemen, Êthiôpi và mua vàng bạc, ngà voi và khỉ. Mậu dịch với Phênixi đem lại nhiều của cải. Salômôn cũng được cung cấp ngựa chiến và chiến xa của người Hêtít qua người Aram. Salômôn còn có những đoàn lạc đà buôn hương liệu. Nhờ sự khôn ngoan được truyền tụng và được lân bang kính nể Salômôn nhận được nhiều phẩm vật.
    V. BỘI ĐẠO VÀ QUA ĐỜI
    1. Nhận định: Chương cuối thật bi đát và thất vọng (
    IVua 1V 11:1-43): Vua kết thúc
    cuộc đời như dân Dothái trong sa mạc. Vua đã phạm điều răn đầu tiên và tẻ tách khỏi con đường tận hiến cho Chúa.
    2. Các bà vợ ngoại bang: Theo phong tục, Salômôn dùng hôn nhân củng cố liên minh với ngoại bang. Các bà vợ khiến ông trở lòng lìa bỏ Chúa, cho phép thờ hình tựơng xung quanh đền thờ Chúa mãi đến đời Giôsia mới bị dỡ bỏ đi.
    3. Sự phán xét và thù nghịch: Sự sụp đổ đã mở màn ngay khi Salômôn còn sống nhưng vì cớ Đavít nên sự chia xé hoãn lại đến sau đời Salômôn. Ba kẻ thù là Hađát người Êđôm, Rêxôn ở Đamách và Giêrôbôam, người được Ahigia trao cho 10 mảnh áo tơi để chỉ rằng sẽ cai trị 10 chi tộc. Kết cuộc thật đau buồn vì người khôn ngoan nhất đã trở nên kẻ ngu dại nhất vì không vâng phục, không trung thành phục vụ Thượng Đế.
    VƯƠNG QUỐC MIỀN BẮC
    Kinh Thánh: I. Vua 12 - II. Vua 17
    Thời gian : Khoảng 931 - 722. TC
    Sau cái chết của Salômôn, 10 chi phái nổi lên chống nghịch nhà Đavít, thành lập vương quốc phía Bắc với sự lãnh đạo của Giêrôbôam , lấy tên là Vương quốc Ysơraên (dù đó là tên chỉ cả dòng dõi Giacốp).
    Về phía đông bắc giáp với nước Syri (Aram) vừa tuyên bố độc lập với sự lãnh đạo của Rêxon lấy Đamách làm thủ đô. Về phía nam giáp với Vương quốc Giuđa do Rôbôam lãnh đạo 2 chi phái còn lại là Giuđa và Bêngiamin vẫn tiếp tục lấy Giêrusalem làm thủ đô.
    Vương quốc Ysơraên kéo dài hai thế kỷ nhưng các gia đình các triều đại thường thay đổi luôn.
    I. TRIỀU ĐẠI GIÊRÔBÔAM
    1. Lên ngôi: Giêrôbôam là người quản trị có tài được Salômôn giao xây tường thành Giêrusalem với tên là Milô. Tiên tri Ahigia trao cho Giêrôbôam 10 mảnh áo tơi báo cho ông biết sẽ cai trị 10 chi phái. Bị Salômôn nghi ngờ, ông phải tạm lánh qua Aicập. Khi các trưởng lão Ysơraên nổi dậy chống Rôbôam, Giêrôbôam trở về Sichem và được tôn làm vua vương quốc miền Bắc và cai trị trong 22 năm nhưng không có nội chiến đẩm máu với Giuđa.
    2. Khuynh hướng tôn giáo: Sợ dân sự xuống Giêrusalem thờ phượng sẽ thay đổi lòng trung thành chính trị nên ông đã thiết lập việc thờ các con bò vàng ở Bêtên và Đan, tự chỉ định các thầy tế lễ, thay đổi các ngày lễ, tự dâng tế lễ.
    3. Bị hai tiên tri cảnh cáo: Một tiên tri vô danh từ Giuđa lên đã rủa sả bàn thờ khiến Giêrôbôam chùng bớt lòng sốt sắng phát động thờ hình tượng và đây là một bài học nhắc nhở về sự vâng phục Chúa tuyệt đối dù là sứ giả Chúa.
    Tiên tri Ahigia thông báo cho vợ Giêrôbôam là không những con vua sẽ chết mà triều đại vua sẽ chấm dứt vì không vâng theo mạng lệnh Chúa. Kết quả, khi Giêrôbôam chết, con ông là Nađáp làm vua 2 năm rồi bị Baêsa ám sát.
    II. TRIỀU ĐẠI BAÊSA
    1. Baêsa: Thuộc chi phái Ysaca, lên ngôi vua, lấy Tiệcsa làm thủ đô, tận diệt nhà Giêrôbôam và tiến đánh Giuđa, dự định củng cố Rama đe dọa Giuđa. Nhưng Asa, vua Giuđa hối lộ Bênhađát để vua nầy tấn công Baêsa nên Baêsa không gây chiến với Giuđa nữa. Baêsa cai trị 24 năm.
    . Tiên tri Giêhu: Sốt sắng truyền đứ điệp của Chúa, nhắc nhở Baêsa phải phục vụ Chúa và cảnh cáo vua nhưng vua cứ theo Giêrôbôam thờ hình tượng.
    2. Êla: Con trai Baêsa cai trị chưa đầy 2 năm thì bị Ximri ám sát lúc vua đang say. Ximri tận diệt nhà Baêsa như lời Giêhu cảnh cáo. Ximri cai trị 7 ngày.
    III. TRIỀU ĐẠI ÔMRI
    1. Vua Ômri :
    a. Lên ngôi: Ômri là Tổng binh, khi Êla bị giết thì dân sự tôn Ômri làm vua trở về đánh Tiệcsa. Ximri tự tử. Nhưng phải 6 năm sau khi Típni chết thì Ômri mới hoàn toàn nắm quyền cai trị Ysơraên.
    b. Đối nội: 12 năm cai trị tóm tắt trong 8 câu KT (
    IVua 1V 16:21-28) nhưng rất có ý nghĩa. Ômri xây thành Samari tây bắc Sichem (cách Sichem 12 km) thành thủ đô bất khả xâm phạm trong hơn một thế kỷ rưỡi.
    c. Đối ngoại: Ômri khống chế Môáp bắt họ phải đóng thuế, lấy lại đất Syri chiếm thời Baêsa. Liên kết với Phênixi bằng cách cứơi Giêsabên cho con trai vua là Aháp đem lợi ích thương mại lớn nhưng tai hại lớn về tôn giáo ! Ômri tạo tiếng tăm quốc tế khiến người Asyri gọi Ysơraên là Đất của Ômri.
    2. Aháp và Giêsabên:
    a. Đối ngoại: Aháp mở rộng ảnh hưởng chính trị và thương mại trong 22 năm trị vì. Kết thân với Giuđa bằng cách gả Athali cho Giôram con vua Giôsaphát để chống Syri. Đánh thuế gia súc nặng trên Môáp.
    b. Đối nội: Xây dựng và củng cố nhiều thành lủy như Giêricô và cũng phung phí tiền xây một cung điện bằng ngà (
    22:39).
    c. Tôn giáo: Phát động thờ Baanh, xây đền thờ Baanh, đem hàng trăm tiên tri Baanh vào Ysơraên nên Aháp nổi tiếng là vua tội lỗi nhất Ysơraên
    Tiên tri Êli: Sau ba năm rưỡi hạn hán đã thách thức sự thờ thần Baanh và giám sát việc trừ diệt tiên tri Baanh. Nhưng sau đó bỏ chạy đến đồng vắng Sinai nhận ba mệnh lệnh của Chúa và trở về tuyển mộ Êlisê. Êli đối đầu với Aháp lần cuối tại vườn nho Nabốt: Quở trách nặng nề và tuyên bố trừng phạt. Dù Aháp ăn năn nhưng sự sụp đổ của nhà Ômri chỉ hoãn lại thôi.
    d. Chiến tranh với Syri: Aháp thường chiến tranh với Syri hơn là hợp tác. Aháp thuyết phục Giôsaphát liên minh đánh Syri, không nghe lời Michê cảnh cáo nên bị tử thương, ứng nghiệm lời tiên tri Êli (
    21:19).
    3. Achaxia: Con Aháp làm vua chỉ 1 năm. Không dẹp được cuộc nổi loạn của Môáp và thất bại trong cuộc thủy chiến chung với Giôsaphát tại vịnh Aqaba. Tiên tri Êli đối đầu lần cuối với nhà Ômri khi tuyên bố Achaxia sẽ chết.
    4. Giôram: Con trai Aháp cai trị 12 năm, kết thúc triều đại Ômri. Giôram thường tranh chiến với Syri và sau khi Giôram chết, Syri chế ngự vùng Palestine.
    Êli và Êlisê: Hai vị tiên tri nầy thiết lập trường huấn luyện tiên tri khắp xứ Ysơraên. Êli được cất lên trời đầu triều vua Giôram. Êlisê rất gần gủi với Giôram. Êlisê được nổi tiếng cả Ysơraên lẫn Giuđa, Êđôm và cả ở Syri (chữa bệnh cho Naaman, đối đầu quân Syri). Ngay tại Đamách, Êlisê cũng được nhìn nhận là “Người của Đức Chúa Trời”(
    IIVua 2V 8:7). Êlisê qua Đamách báo cho Haxaên biết sẽ làm vua Syri và sai đồ đệ đến xức dầu cho Giêhu làm vua Ysơraên. Vì thế Tổng Binh Giêhu xưng vương và tận diệt nhà Ômri đúng như lời tiên tri Êli đã nói và giết luôn cả Achaxia vua Giuđa.
    IV. TRIỀU ĐẠI GIÊHU
    Cai trị Ysơraên gần một thế kỷ, lâu hơn bất cứ triều đại nào khác. Khiến Ysơraên từ yếu trở nên vương quốc hùng mạnh và uy tín quốc tế đến cao điểm vào thời Giêrôbôam đệ nhị.
    1. Giê Hu: Cuộc cách mạng đẩm máu đã đưa Giêhu lên ngôi. Giêhu tiêu diệt nhà Ômri, tiêu diệt sự thờ Baanh làm trong sạch chính trị và tôn giáo nhưng vẫn còn để lại tượng bò vàng tại Bêtên và Đan !
    2. Giôacha: Haxaên lợi dụng Giêhu chết nên xâm lấn Ysơraên. Giôacha bất lực, không chống nổi cả Êđôm, Môáp, Philitin. Dù Giôacha tạm thời quay lại cùng Chúa, nhờ Chúa giải cứu khỏi ngoại bang nhưng vẫn còn để hình tượng.
    3. Giô Ách: Ysơraên lại hồi sinh và thành công nhờ Haxaên chết, Syri suy yếu . Ysơraên xây dựng lực lượng quân sự hùng mạnh chiếm được nhiều đất khiến Bênhađát II lui về thế thủ. Bị Amaxia thách đố, Giôách đánh chiếm Giuđa, đạp đổ một phần tường thành Giêrusalem, cướp đồ đạc và bắt tù binh.
    Giôách đã đến thăm Êlisê lúc tiên tri sắp chết và được lời hứa thắng Syri , nhưng Giôách vẫn không từ bỏ thờ hình tượng !
    4. Giêrôbôam II: Vua xuất sắc của dòng họ Giêhu cai trị 41 năm (12 năm chung với Giôách). Khi Syri bị Asyri đe dọa, Giêrôbôam lấy lại tới biên giới đông bắc. Tường thành Samari được làm rộng ra, thành phố được củng cố. Đất Ysơraên thái bình và thịnh vượng nhất của thời kỳ sau Salômôn nhưng tôn giáo lại suy đồi khiến Amốt và Ôsê đã phải cảnh cáo.
    5. Xachari: Lên ngôi được 6 tháng thì bị Salum giết, ứng nghiệm lời tiên tri.
    V. CÁC VUA CUỐI CÙNG 753-723 . TC
    Ba thập niên nầy đánh dấu sự suy đồi và sụp đổ trong thời gian rất ngắn của Ysơraên trước sự bành trướng của đê quốc Asyri.
    1. Mênahem và Phêcahia: Salum chiếm ngôi một tháng thì bị Mênahem giết. Mênahem và con là Phêcahia phải triều cống Asyri để khỏi bị xâm lăng.
    2. Phêca 739-731. TC: Có lẽ là lãnh đạo phong trào chống Asyri và ám sát Phêcahia. Liên minh với Rêxin vua Syri để chống Asyri, xâm lấn Giuđa nhưng thất bại. Tiếclác Philêse thắng Syri, giết Rêxin nên dân Ysơraên giết Phêca và tôn Ôsê làm tay sai cho vua Asyri.
    3. Ôsê vị vua cuối cùng Vương quốc miền Bắc: Ôsê dựa vào Aicập chấm dứt triều cống Asyri khi Sanhmanase nối ngôi Tiếclácphilêse. Năm 726 TC, vua Asyri bao vây Samari trong 3 năm. Ôsê đầu hàng và vương quốc miền Bắc chấm dứt: 28000 người Ysơraên bị bắt làm phu tù phân tán khắp Batư và đưa dân Babylôn qua Samari và Samari bị biến thành một tỉnh của Asyri.
    Sau 2 thế kỷ tồn tại, vương quốc Ysơraên vẫn cứ đi theo đường người sáng lập vương quốc là Giêrôbôam thờ hình tượng, vi phạm điều răn thứ nhất. Các tiên tri cảnh cáo nhưng họ không chịu nghe để trở về phụng sự Chúa nên cuối cùng họ đã mất nước, bị đày đi làm phu tù.
    VƯƠNG QUỐC GIU ĐA
    Từ Rôbôam đến Giôtham
    Kinh Thánh:
    IVua 1V 12:1-IIVua 15:38; IISu 2Sb 10:1-27:9
    Thời gian : Từ 931 đến 735 TC
    Chỉ có hai chi phái còn trung thành với nhà Đavít là Giuđa và Bêngiamin tạo thành Vương quốc Giuđa do 20 vua thuộc dòng họ Đavít kế tục nhau cai trị trong 345 năm trừ một ngoại lệ (khi Athali cướp ngôi). 12 vua đầu cai trị đồng thời với vương quốc miền Bắc. Có 4 vị vua tài ba là Giôsaphát - Ôxia - Êxêchia và Giôsia.
    I. CÁC VỊ VUA ĐẦU TIÊN
    1. Rôbôam và Abigiam: Sau cái chết của Salômôn vào năm 931, Rôbôam lên ngôi phải đương đầu với sự phản loạn và phân chia vương quốc bởi Giêrôbôam ở phía bắc và Rêxôn ở Đamách cùng Hađát ở Êđôm.
    a. Nguyên nhân chia rẽ: Kinh Thánh đưa ra 2 nguyên nhân: Sự chống đối về thuế quá cao và sự bội đạo, thờ hình tượng của Salômôn khiến Chúa đoán phạt.
    b. Đối đầu: Rôbôam triệu tập quân đội đàn áp nổi loạn thì chỉ có 2 chi phái hưởng ứng và Chúa sai tiên tri Sêmagia khuyên can Rôbôam. Sêmagia cũng bảo đảm với Rôbôam rằng dân tộc sẽ không bị tiêu diệt dù Sisắc vua Aicập đã lùng xét Giêrusalem, cướp đi một số tài sản trong kho đền thờ
    c. Tôn giáo: Rôbôam bắt đầu với lòng tin kính Chúa nhưng chẳng bao lâu lại đi thờ hình tượng. 17 năm của Rôbôam và 3 năm của Abigiam đều bội đạo: Thờ hình tượng song song với sự thờ phượng trong đền thờ dù tiên tri Yđô đã cảnh cáo họ.
    2. Sự cải cách của Asa: 41 năm cai trị của Asa dọn đường cho phục hưng tôn giáo dưới thời Giôsaphát.
    a. Về Tôn giáo: Asa kêu gọi dân chúng giữ luật pháp Môise, Dẹp bỏ sự thờ hình tương khắp xứ (theo lời tiên tri Axaria) đập nát, thiêu hủy tượng Asêra cách chức thái hậu Maaca.
    b. Về Quân sự: Asa nhờ Chúa đẩy lui được quân Êthiôpi nhưng lại hối lộ Bênhađát khi Baêsa xây Rama. Dù Baêsa rút lui nhưng tiên tri Hanani quở trách vua nặng nề. Tiếc thay vua bắt nhốt tiên tri rồi bị bịnh và chết.
    II. TRIỀU ĐẠI GIÔSAPHÁT
    1. Tôn giáo: Lên ngôi lúc 35 tuổi, chịu ảnh hưởng các lãnh đạo tôn giáo, Giôsaphát tổ chức tôn giáo chặc chẽ, phái người Lêvi đi khắp xứ dạy luật pháp Chúa cho dân sự.
    2. Quân sự: Đây là thời thái bình. Dân Philitin và dân Ảrập triều cống cho vua. Vua xây đồn lũy và vựa lẫm khắp xứ với 5 tướng lãnh tại Giêrusalem.
    3. Đời sống đức tin: Khi Môáp và Êđôm tấn công thì vua công bố một ngày kiêng ăn cầu nguyện và vua hướng dẫn cầu nguyện tại sân đền thờ. Kết quả Giahaxiên bảo đảm họ sẽ thắng trận mà không cần phải đánh. Chiến thắng lớn đến nổi thu góp chiến lợi phẩm suốt ba ngày khiến các dân đều sợ hãi.
    4. Thất bại: Liên hiệp với triều đại Ômri: Cưới Athali con gái Aháp cho Giôram con trai vua. Dù an ninh được bảo đảm nhưng bị ít nhất 4 tiên tri quở trách:
    a. Michê: Giôsaphát không yên tâm với 400 tiên tri Aháp nên Michê được mời đến nói lời Chúa dặn nói. Giôsaphát thoát chết trong đường tơ kẻ tóc.
    b. Giêhu: Thua trận trở về bị Giêhu quở: “Vua nên giúp đở kẻ hung ác và thương mến kẻ ghét Đức Giêhôva sao ?”(
    IISu 2Sb 19:2).
    c. Êliêse: Liên kết với Achaxia con Aháp đóng tàu buôn ở Êxiôn Ghêbe thì theo lời tiên tri Êliêse những tàu buôn này đều bị đắm (
    20:35-37).
    d. Êlisê: Đời Giôram, Êlisê báo tin chiến thắng Môáp nhưng cũng cho Giôsa phát biết là đã liên kết với những vua vô đạo, không kính sợ Chúa.
    5. Hậu quả: Suốt một thập niên hậu quả sự liên hiệp với kẻ tội ác thật tai hại:
    a. Giôram: Lên ngôi giết 6 em ruột và đi theo đường tội ác của Aháp là cha vợ vua, thờ hình tựơng, bị Êli quở trách và bị chết vì bệnh nan y.
    b. Achaxia con trai Giôram cai trị chưa đầy 1 năm đi theo con đường Aháp, khi đi thăm Giôram, cậu mình thì bị Giêhu giết khi Giêhu tận diệt nhà Omri.
    c. Athali: Thấy con mình chết, Athali bèn giết dòng họ vua Giuđa và lên nắm chính quyền cai trị trong 6 năm đầy kinh hoàng.

    III. THỜI ĐẠI ÔXIA ( AXARIA )
    1. Giô Ách: Con trai Achaxia được cứu thoát và được đưa lên ngôi lúc 7 tuổi:
    . Thập niên đầu: Chịu ảnh hưởng Giêhôgiađa, khôi phục thờ phượng Chúa.
    . Sau khi Giêhôgiađa chết, sự bội đạo lan tràn đến nổi khi Xachari con trai Giêhôgiađa cảnh cáo dân sự thì vua ra lệnh ném đá tại hành lang đền thờ.
    . Kết quả bị Syri xâm chiếm và GiôÁch bị bầy tôi giết chết và vua đã cho phép bội đạo lan tràn và dung túng việc đổ máu vô tội.
    2. Amaxia: Con trai GiôÁch làm vua 29 năm. Khi Haxaên chết, Amaxia phát triển lực lượng quân sự chiến thắng Êđôm và đem các thần Êđôm về thờ ! Amaxia lại còn hăm dọa tiên tri Chúa và thách thức Giôách vua Ysơraên nên bị Giôách đánh, phá tường thành Giêrusalem và bắt tù binh.
    3. Ôxia tức Axaria: Khi Amaxia bị phản thần giết, cả dân Giuđa lập Ôxia làm vua lúc 16 tuổi phục hồi vương quốc Giuđa, xây lại tường thành Giêrusalem.
    a. Đối ngoại: Hợp tác thân thiện với Giêrôbôam vua Ysơraên. Nhưng đánh chiếm Philitin, Êđôm, Ammmôn mở rộng biên giới tận vịnh Aqaba.
    b. Đối nội: Đào giếng khắp xứ, dựng tháp canh bảo vệ hầm ép nho. Khai thác mỏ đồng, mỏ sắt như thời Salômôn.
    c. Bí quyết: Hết lòng nương cậy Chúa, được tiên tri Xachari hướng dẫn vua có thái độ khiêm nhường, thiện lành đối với Chúa.
    Tuy nhiên khi lên tột đỉnh thành công, Ôxia kiêu ngạo tự ý vào đền thờ và dâng hương. Khi chống lại các thầy tế lễ can ngăn vua bị phung và bị đuổi khỏi hoàng cung và Giôtham nắm quyền suốt những năm còn lại của Ôxia.
    4. Giôtham: Hoàn toàn nắm quyền khi Ôxia chết. Đây cũng là năm Êsai được gọi làm tiên tri ở Giêrusalem. Giôtham tiếp tục chính sách chống nghịch Asyri. Năm năm sau Giôtham chết, một đảng thân Asyri đưa Acha lên ngôi.
    VƯƠNG QUỐC GIU ĐA
    ( Sau khi Ysơraên tan rã )
    Kinh Thánh:
    IIVua 2V 16:1-25:30, IISu 2Sb 28:1-36:23
    Thời gian : Khoảng 735 đến 586. TC
    I. VUA ACHA
    1. Bối cảnh: Asyri sắp càn quét Ysơraên thì Acha được nhóm thân Asyri đưa lên làm vua Giuđa. Phêca vua Ysơraên liên minh với Rêxin vua Syri chống Asyri. Họ đánh chiếm Giuđa bắt hàng ngàn tù binh nhưng bị Tiên tri Ôđết cảnh cáo nên phải thả các tù binh.
    2. Lời cảnh cáo của tiên tri Êsai:
    a. Lời tiên tri: Êsai khuyên Acha hãy đặt lòng tin nơi Chúa vì hai vua phương Bắc sẽ bị truất phế (
    EsIs 7:1-9:20).
    b. Đáp ứng: Gạt bỏ lời tiên tri và chống lại Êsai, Acha đã cầu viện vua Asyri là Tiếclác Philêse và vua Asyri đánh tan liên minh miền bắc, bắt họ triều cống và Ôsê, vị vua cuối cùng Ysơraên được đưa lên ngôi. Acha còn đến gặp vua Asyri tại Đamách cùng cúng tế tà thần và hứa trung thành với vua.
    c. Lời cảnh cáo: Êsai cảnh cáo Acha rằng Asyri sẽ tràn qua Giuđa như dao cạo trong tay Chúa (
    7:20) như nước sông mạnh (8:7).
    3. Tiếp tục con đường bội đạo:
    a. Thờ hình tượng khả ố nhất: Acha đo kích thước bàn thờ ở Đamách bắt thầy tế lễ Uri làm và đặt trong đền thờ Chúa. Acha còn hướng dẫn thờ tà thần, đưa con mình qua lửa và đem kho báu đền thờ dâng cho vua Asyri.
    b. Kết quả: Lời cảnh cáo của tiên tri Êsai được ứng nghiệm: Khi Êđôm, Philitin xâm chiếm Giuđa, Acha cầu cứu Asyri, vua Asyri đến hà hiếp thêm chứ không tiếp cứu. Acha chết không được chôn trong lăng tẩm các vua.
    II. ÊXÊCHIA, VỤ VUA CÔNG CHÍNH
    1. Bối cảnh: Lên ngôi năm 716. TC lúc Samari đã sụp đổ (722. TC). Trong 22 năm cai trị đã đảo ngược mọi đường lối chính trị và tôn giáo của vua cha.
    2. Tôn giáo: Nhận thức Ysơraên bị lưu đày là do bội ước và bất tuân mạng lệnh Chúa nên Êxêchia đặt lòng tin nơi Chúa và tiến hành cải cách:
    a. Dọn sạch: Dọn sạch đền thờ, dẹp bỏ thần tượng, hủy bỏ con rắn đồng Môise thanh tẩy dụng cụ đền thơ.
    b. Tổ chức: Bắt đầu dâng tế lễ và lập ban hát lễ. Gửi thư mời các chi tộc phía Bắc dự Lễ Vượt qua vui mừng cả thể.
    3. Chính trị Quân sự:
    a. Đối ngoại Êxêchia chịu thuận phục Asyri như thời Acha để tránh sự xâm lấn của Satgôn II khi vua nầy đánh chiếm Áchđốt.
    b. Đối nội Êxêchia xây cất phòng thủ, tổ chức quân đội, đào đường hầm dẫn nước từ suối Ghihôn đến ao Silôê dài 590m ngừa việc bị vây hãm, mở rộng tường thành Giêrusalem bao luôn ao Silôê. Dù làm hết sức nhưng không ỷ lại sức người mà công khai bày tỏ sự nương cậy Đức Chúa Trời (
    IISu 2Sb 32:8).
    4. Chiến sự:
    a. Lần thứ nhất: Năm 701 Sanchêríp lấy một số tài sản triều cống còn đòi chiếm Giêrusalem, khoe khoang rằng đã chiếm 46 thành kiên cố. Được Êsai khuyến khích, Êxêchia chỉ tin cậy sự giải cứu của Chúa. Kết quả Sanchêríp phải rút quân vì được tin có loạn tại Babylôn. Ý thức quyền năng Chúa, các nước láng giềng dâng lễ vật cho Êxêchia và chúc mừng Êxêchia khỏi bệnh, trong số ấy có sứ giả của Mêrôđa Balađan ở Babylôn được vua chỉ cho kho báu Giêrusalem và Êsai nói tiên tri về đoán phạt tương lai.
    b. Lần thứ nhì: Sanchêríp gửi tối hậu thư đòi Êxêchia đầu hàng. Nhưng kinh nghiệm sự giải cứu lần trước, hưởng bình an thạnh vượng nên vua yên lặng trình dâng bức thư trước Chúa khi cầu nguyện tại đền thờ. Êsai lại tiên báo sự bảo vệ của Chúa và đạo quân Asyri bị tiêu diệt (1 thiên sứ giết 185000).
    III. CÁC VUA TIỀN NHIÊM CỦA GIÔSIA
    1. Manase: Cai trị 55 năm, đi ngược lại vua cha tạo sự bội đạo khủng khiếp.
    a. Tôn giáo: Thờ Baanh tương đương thời Aháp, thờ tinh tú, chiêm tinh, bói khoa, thờ Molóc của Ammôn, tế trẻ con tại trũng Hinôm. Công khai chống đối Chúa bằng cách lập bàn thờ thiên binh trong sân đền thờ, đặt tượng Asêra ngay trong đền thờ. Làm đổ máu nhiều người vô tội (có lẽ có cả Êsai).
    b. Hình phạt: Asyri bành trướng đến tận Thibê Aicập. Manase bị cùm dẫn đến Babylôn có lẽ vào thập niên cuối của triều đại ông (
    33:11).
    c. Ăn năn: Manase hết lòng hạ mình ăn năn kêu xin Chúa. Chúa nhậm lời đem vua trở về Giêrusalem. Nhìn biết Giêhôva là Đức Chúa Trời, Manase đã dẹp bỏ tất cả hình tượng, sửa sang bàn thờ, dâng của lễ và dạy dân sự phục vụ Chúa và qua đời bình an.
    2. Amôn: Phát động lan tràn việc thờ hình tượng vì sự huấn luyện trong thời gian đầu đã ảnh hưởng sâu đậm trên Amôn hơn thời gian sửa sai ngắn ngủi.
    Kết quả Amôn bị tôi tớ giết sau 2 năm trị vì nhưng đã để lại ảnh hưởng bội đạo sâu đậm trên dân sự.
    IV. VUA GIÔSIA
    1. Bối cảnh: 31 năm trị vì của Giôsia có những thay đổi lớn lao: Đế quốc Asyri
    tan rã khi Asuabaniban chết và thủ đô Ninive bị tàn phá, nhường chỗ cho đế quốc Mêđi và Babylôn. Trong nước Giôsia đã đem lại cải cách tôn giáo.
    2. Cải chánh tôn giáo:
    a. Lên ngôi:Chỉ mới 8 tuổi, được các thầy giáo và các thầy tế lễ kính sợ Chúa dạy dỗ nên hết lòng tìm kiếm Chúa khi được 16 tuổi.
    b. Cải cách: Trùng tu đền thờ thì tìm được cuốn sách luật pháp của Chúa. Giô sia dẹp bỏ thần tượng khắp xứ, tổ chức Lễ Vượt qua trọng thể chưa từng có.
    3. Các Tiên tri:
    a. Nữ Tiên tri Hunđa: Xác định lời cảnh cáo về hình phạt nhưng tuyên bố sẽ không xãy đến trong đời Giôsia vì vua hạ mình ăn năn trước mặt Chúa và bà khuyên vua tuân giữ luật pháp Chúa.
    b. Tiên tri Giêrêmi: Chắc đã cộng tác chặt chẽ với Giôsia trong giai đoạn sau vì Giêrêmi bắt đầu chức vụ năm 627. TC còn cuốn sách tìm ra năm 621. TC.
    4. Cái chết bất ngờ: Giôsia phạm lỗi lầm là đem quân chận vua Nêcô của Aicập và không chịu nghe lời Nêcô nhơn danh Chúa mà nói nên bị tử thương lúc 39 tuổi. Giêrêmi đặt bài ai ca than khóc Giôsia (
    35:25).
    V. CÁC VUA CUỐI CÙNG GIUĐA
    1. Giôacha: Cai trị ba tháng thì Nêcô thắng trận trở về bắt làm tù binh và đặt Giêhôgiakim lên ngôi. Giôacha chết tại Aicập như lời tiên tri Giêrêmi.
    2. Giêhôgiakim: Thần phục Aicập đến 605 TC khi Nêcô bị đánh bại trong trận Cạtkêmít và quân Babylôn chiếm Giuđa bắt nhiều tù binh (có Đaniên). Năm 598. Giêhôgiakim chống Babylôn nên Nêbucátnếtsa đánh Giêrusalem, Giêhôgiakim chết.
    3. Giêhôgiakin: Lên ngôi ba tháng thì đầu hàng và bị bắt làm tù binh với nhân viên triều đình trong đó có cả tiên tri Êxêchiên.
    4. Sêđêkia: Con út Giôsia được Babylôn đưa lên, thần phục Babylôn trong 11 năm. Sêđêkia liên kết Aicập chống Babylôn nên quân Babylôn bao vây Giêrusalem ba năm, tàn phá thành, đốt đền thờ ra tro, bắt phu tù, giết các con Sêđêkia trước mắt ông rồi móc mắt và đem ông qua Babylôn.
    Chức vụ Giêrêmi:
    a. Sứ giả trung tín: Phục vụ Chúa suốt 40 năm cho đến ngày chứng kiến sự tan rã của vương quốc Đavít và sách Ca Thương diễn tả nỗi niềm của ông khi chứng kiến thủ đô yêu quý bị tàn phá.
    b. Bị Bắt bớ: Thời Giêhôgiakim, sách của Giêrêmi bị vua đốt. Suýt bị dân chúng giết nếu không có Ahicam khi ông tuyên bố sự tàn phá đền thờ. Bị bỏ sống với tầng lớp dân hạ cấp ông phải chịu khổ và bắt bớ thường xuyên. Bị giam cầm, quăng vào hầm bị dân chúng từ bỏ nhưng được Chúa bảo vệ.
    c. Sứ điệp: Chống lại các tiên tri giả ở Giêrusalem, khuyên vua thần phục Babylôn, tiên tri về tàn phá Giêrusalem và tiên tri về sự hồi hương sau 70 năm lưu đày.
    SAU LƯU ĐÀY
    Kinh Thánh:Exơra. Êxơtê. Nêhêmi
    Thời gian: Khoảng 539 - 425. TC
    Sự lưu đày của dân DoThái đã được các tiên tri Êsai, Michê, Giêrêmi và nhiều tiên tri báo trước về sự đoán phạt của Chúa trên quốc gia tội lỗi.
    Các tiên tri cũng báo trước ngày khôi phục nhất là Giêrêmi báo thời gian lưu đày là 70 năm và Êsai cho biết Siru sẽ được Chúa dùng cho dân sự trở về.
    I. TÁI LẬP GIÊRUSALEM
    1. Trở về tổ quốc (
    Exo Er 1:1-3:12): Khi Siru của Batư chiến thắng Babylôn, vua ra sắc dụ cho phép người DoThái trở về quê hương (khác với Asyri: phân tán).
    . Năm 538. TC 11 người lãnh đạo hàng ngàn người DoThái trở về mang những vật dụng mà Nêbucátnếtsa đã lấy từ đền thờ cùng với giấy phép của Siru.
    . Lãnh tụ nổi bật là Xôrôbabên dòng vua Đavít và Thầy tế lễ Giêhôsua (Giêsua).
    2. Ổn định ở Giêrusalem (
    3:1-4:24): Về đến nơi họ liền:
    a. Dựng bàn thờ và lập lại sự thờ phượng, dâng tế lễ như Môise đã dạy.
    b. Giữ Lễ Lều Tạm ngày 15. 7 vui mừng và lập kế hoạch xây đền thờ.
    c. Bắt đầu xây đền thờ tháng 2 năm 537. TC với buổi lễ đặt nền trong tiếng khóc và niềm vui tràn ngập. Người Samari xin đóng góp bị khước từ nên tức giận chống phá và công việc ngưng lại mãi đến năm 520.
    3. Đền thờ Mới (
    5:1-6:22):
    a. Về chính quyền: Vua Đariút lên ngôi cho phép dân DoThái tiếp tục xây cất, cấm Táttênai cản trở nhưng phải cung cấp tiền thuế hoàng gia vùng Syri cho
    dân DoThái xây cất đền thờ.
    b. Về Giáo quyền: Tiên tri Aghê và Xachari khuyấy động dân sự và Xôrôbabên cùng Giêhôsua phát động công tác xây đền thờ.
    c. Kết quả: Sau năm năm, đền thờ hoàn tất (515) về lễ cung hiến tổ chức long trọng sau 70 năm lưu đày ( 586-515. TC )
    II. CÂU CHUYỆN ÊXƠTÊ
    1. Người DoThái trong triều đình Batư (1-2): Khi Xácxe hay Asuêru (485) phế bỏ Vảthi thì Êxơtê được chọn làm hoàng hậu Batư. Mạcđôchê kháp phá âm mưu giết vua của hai lính thị vệ nên được sử ghi công cứu mạng vua.
    2. Hiểm họa cho dân DoThái (3-5): Haman: Được thăng chức tể tướng thấy Mạcđôchê không cúi lạy mình nên tức giận nhờ tay vua diệt dân DoThái.
    Mạcđôchê: Kêu gọi toàn dân DoThái kiêng ăn cầu nguyện và khuyến cáo Êxơ tê rằng Chúa đưa bà vào cung cho giờ phút lịch sử nầy (
    EtEt 4:14).
    Êxơtê: Xin dân sự kiêng ăn cầu nguyện cho bà ra mắt vua và bà đã thành công mời vua và Haman dự tiệc và trình bày lời cầu khẩn vào ngày thứ hai.
    3. Chiến thắng của dân DoThái ( 6-10 ):
    a. Mạcđôchê được tôn vinh: Sau bữa tiệc đầu tiên vua không ngủ được, truyền đọc sử ký biết Mạcđôchê cứu mạng mà chưa được ban thưởng. Haman vẽ nghi lễ dành cho người được vua tôn trọng không ngờ chính ông phải đi tung hô Mạcđôchê là người ông đã dựng sẵn cây mộc hình cho ngày xử tội !
    b. DoThái chiến thắng: Khi biết Haman âm mưu hại hoàng hậu, vua tức giận treo Haman lên chính cây mộc hình ông dành cho Mạcđôchê . Người DoThái được quyền tự vệ và đã ăn mừng chiến thắng trong ngày lễ Phurim đầu tiên.
    III. EXƠRA NHÀ CẢI CÁCH
    1. Từ Babylôn đến Giêrusalem (7-8):
    Thỉnh cầu: Exơra là một thầy dạy luật đã thỉnh cầu vua Ạttaxétxe và được phép lãnh đạo dân DoThái trở về Giuđa.
    Chuẩn bị : Thật rầm rộ: Hoàng tộc đóng góp, dâng chúng tự nguyện dâng hiến, vật dụng thánh được trao trả và các tỉnh trưởng bên kia sông Ơphơrát được lệnh cung cấp lương thực tiền bạc vì sợ cơn giận của Chúa trên vua.
    Trở về: Ngại xin vua cấp lính, Exơra hiệp dân lại cầu nguyện kiêng ăn xin Chúa phò trợ và sau ba tháng rưỡi họ đến Giêrusalem ( năm 457. TC ).
    2. Cải cách (9-10):
    Nan đề: Nhiều người DoThái lập gia đình với dân ngoại kể cả người lãnh đạo tôn giáo !
    Giải quyết: Exơra kêu gọi một cuộc họp công khai tại đền thờ cảnh cáo về tội lỗi nghiêm trọng nầy, Điều tra thành phần phạm tội trong ba tháng, Dâng tế lễ chuộc tội cho phạm nhân và họ phải hứa từ bỏ hôn nhân dị chủng đi ngược lời Chúa của họ.
    IV. TỔNG TRẤN NÊHÊMI
    1. Chỉ thị của Ạttaxétxe (
    NeNe 1:1-2:8): Dù là quan dâng rượu cho vua BaTư nhưng Nêhêmi rất quan tâm, đau buồn nghĩ đến tình trạng dân sự tại quê nhà.
    . Sau khi cầu nguyện ăn năn tội của dân sự, ông thỉnh cầu vua khi vua hỏi thăm tình trạng sức khoẻ của ông.
    2. Sứ mệnh về Giêrusalem: (
    2:9-6:19) Về đến nơi Nêhêmi đã:
    . Khảo sát vào ban đêm để đánh giá tình hình.
    . Tổ chức xây lại tường thành. Gặp sự chống đối của dân Ảrạp, Ammmôn, Ách đốt do Ghêsem, Tôbigia và Sanbalát lãnh đạo.
    . Đối đầu chống đối bằng cầu nguyện và khẩn trương tổ chức bảo vệ cùng khẩn trương làm việc từ sáng sớm đến chiều tối để hoàn thành bức tường.
    . Công bố chính sách kinh tế chấm dứt cho vay nặng lãi. Ông làm gương bằng việc không nhận lương suốt 12 năm phục vụ.
    . Tổ chức cung hiến tường thành Giêrusalem với hai đoàn người đi về đền thờ tổ chức đại lễ tạ ơn với ca đoàn và ban nhạc.
    . Mạnh dạn xử lý những vi phạm trong thời gian ông vắng mặt trở về Batư.
    . Cải tổ việc giữ ngày Sabát, giải quyết hôn nhân với dân ngoại. . .
    Kết thúc bằng lời cầu nguyện: Đức Chúa Trời con ôi, xin hãy nhớ đến con và làm ơn cho con.
    Mục lục
    7 Cựu Ước Giản Lược
    Tác giả: Huang Sabin
    Có thể dùng sách này vào những trường hợp nào?
    Sáng Thế Ký
    Xuất Ê-díp-tô Ký
    Lê Vi Ký
    Dân Số Ký
    Phục Truyền Luật Lệ Ký
    Giô-suê
    Các Quan Xét
    Ru-tơ
    1Sa-mu-ên
    2Sa-mu-ên
    1Các Vua
    2Các Vua
    1Sử Ký
    2Sử Ký
    Ê-xơ-ra
    Nê-hê-mi
    Ê-xơ-tê
    Gióp
    Thi Thiên
    Châm Ngôn
    Truyền Đạo
    Nhã Ca
    Ê-sai
    Giê-rê-mi
    Ca Thương
    Ê-xê-chi-ên
    Đa-ni-ên
    Ô-sê
    Giô-ên
    A-mốt
    Áp-đia
    Giô-na
    Mi-chê
    Na-hum
    Ha-ba-cúc
    Sô-phô-ni
    A-ghê
    Xa-cha-ri
    Ma-la-chi
    Ghi chú dành cho giao viên và người giảng dạy
    Danh mục độc giả
    Có thể dùng sách này vào những trường hợp nào?
    NHIỀU người tưởng rằng Kinh Thánh Cựu Ước là phần dành cho người tin Chúa lâu năm. Nhiều người khác dù thừa hiểu tầm quan trọng của Kinh Thánh Cựu Ước, lại không thèm ngó ngàng tới vì cho rằng Cựu Ước khó hiểu và chán ngắt.
    Trong giới dạy Kinh Thánh Cựu Ước có người thấy chỉ có thể quanh quẩn giảng giải bối cảnh và nội dung của sách rồi tổng hợp sứ điệp này cùng những bài học chính của sách chớ khó lòng tiến xa hơn.
    Do đó quyển sách này được biên soạn nhằm chứng minh rằng Kinh Thánh Cựu Ước thật ra:
    (1) Rất lý thú.
    (2) Rất thực tế.
    (3) Rất dễ hiểu.
    • Nếu là người phục vụ trong tư cách tín hữu bạn có thể dùng sách này làm sách nghiên cứu bồi linh trong 39 ngày hoặc 39 tuần.
    • Nếu đang hướng dẫn người khác học Kinh Thánh, bạn có thể giúp học viên nắm vững Kinh Thánh Cựu Ước.
    • Nếu mới bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh, nhờ sách này bạn có thể gặt hái được những hiểu biết căn bản về Kinh Thánh Cựu Ước.
    • Nếu đã có vốn liếng nhiều về Kinh Thánh, nhờ sách này bạn có thể tập tành nghiên cứu Kinh Thánh theo chủ đề và có hệ thống.
    • Nếu đang dạy lớp Kinh Thánh Chúa Nhật, bạn có thể dựa vào sách này mà soạn 39 bài dạy để dùng trong 39 Chúa Nhật.
    • Nếu đang làm mục sư, bạn có thể dùng sách này làm tư liệu để soạn 39 bài giảng.
    • Nếu đang dạy trong trường Kinh Thánh, bạn có thể dùng sách này làm sách giáo khoa đại cương.
    • Nếu đang làm truyền giáo, giáo sĩ, bạn có thể chuyển ngữ sách này và cải biên cho thích hợp với đối tượng độc giả tại những nơi thiếu sách giáo khoa về Cựu Ước. Nếu không định tuần tự nghiên cứu trọn bộ Cựu Ước, bạn có thể chọn ra những sách đáp ứng những vấn đề trong thực tế của bạn. Ở cuối sách, trong bảng mục lục có liệt kê “đối tượng” mà sách này phục vụ.
    Thí dụ bạn thấy mình đang trăm phần ngậm đắng nuốt cay mà chẳng hiểu vì lý do gì, bạn nên và cần đọc sách Gióp. Hoặc nếu bạn đang gánh vác công việc nhà Chúa nhưng vừa không thấy kết quả gì cả vừa phải đối đầu với những chống đối, bạn nên đọc sách Nê-hê-mi. Hoặc nếu bạn thuộc thành phần thiểu số đang bị bắt bớ chắc chắn sách Ê-xơ-tê đáp ứng hoàn cảnh của bạn.
    Mỗi chương trong sách này khảo sát một cách súc tích và rành mạch một quyển sách trong Cựu Ước. Mỗi chương gồm 4 phần:
    Tản mạn.
    Thâm nhập.
    Trọng tâm.
    Thực hành.
    Tản mạn: Phần dẫn nhập giúp độc giả nắm bắt chủ đề của sách.
    Thâm nhập: Tóm lược nội dung sách, nhưng vẫn đặc biệt chú trọng đến đề cương (có nêu đề phụ), nhằm tránh vướng mắc vào quá nhiều tiểu tiết.
    Trọng tâm: Gói gọn bài học chính trong 1, 2 câu ngắn. Học thuộc lòng phần trọng tâm là việc quan trọng vì chúng ta cần thường xuyên ôn lại để nhờ đó mà đời sống của chúng ta được thay đổi.
    Thực hành: Nêu ra đường hướng áp dụng các bài học chính. Nhớ là cần dành thời gian suy ngẫm cầu nguyện và xin Đức Chúa Trời hướng dẫn bạn tìm ra cách áp dụng những bài học này vào đời sống của mình một cách cụ thể.
    Nếu sử dụng sách này vào việc dạy hoặc giảng, hẳn nhiên là bạn muốn soạn lại phần Tản mạn và phần Trọng tâm cho phù hợp với trình độ và nhu cầu của học viên hoặc của hội chúng. Xin xem trang Đôi Lời Với Giáo Viên và Giảng Viên ở trang áp chót sách về những gợi ý giúp bạn thực hiện việc này.


    SÁNG THẾ KÝ
    Tác giả: Ông Môi-se.
    Thời kỳ hình thành sách: Sau biến cố xuất hành.
    Mục đích: Dạy cho dân Đức Chúa Trời biết rằng họ là tuyển dân của Ngài.
    Đối tượng: Người cần đặt nền móng cho niềm tin Cơ Đốc.
    Tản mạn
    Thế giới này chìm đắm trong đau thương khốn khó - Thế mà chúng ta lại đang sống trong thế giới này - Vì sao? Có thể đưa ra hai câu giải đáp cho vấn đề này. Câu giải đáp thứ nhất là: Chúng ta hiện diện trên địa cầu này là do tình cờ. Câu trả lời này dựa vào sách của ông Charles Darwin: “Nguồn Gốc Của Các Chủng Loại” (The Origin of the Species) . Lần đầu tiên đọc sách này, ông Karl Marx, cha đẻ của chủ nghĩa cộng sản tỏ ra vui mừng vô hạn. Ông nhận biết rằng thuyết tiến hóa đem lại căn bản khoa học để ông xây dựng học thuyết vô thần của mình.
    Câu trả lời thứ hai nằm trong Sáng Thế Ký. Tác giả là ông Môi-se quả quyết rằng con người được dựng nên theo ý muốn của Đức Chúa Trời chớ không phải do ngẫu nhiên may rủi.
    Do ngẫu nhiên hoặc do chủ ý sáng tạo của Đức Chúa Trời? Thủy tổ là con vượn hoặc ông A-đam? Chỉ một trong hai khả năng này mà thôi, chớ không thể cả hai. Không có Sáng Thế Ký thì toàn bộ Kinh Thánh Cựu Ước tan rã vì thiếu cơ sở. Chính vì vậy mà trong thế kỷ vừa qua người không tin Chúa tập trung mọi nỗ lực bài bác Sáng Thế Ký. Không thông qua Sáng Thế Ký, chúng ta không hiểu các sách Phúc Âm. Ngày nay Hội Phiên Dịch Kinh Thánh chuyển ngữ Sáng Thế Ký trước các sách Phúc Âm trong Tân Ước. Trước tiên con người phải nhận biết Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo rồi mới nhận biết Ngài là Đấng Cứu Chuộc. Con người phải hiểu lý do Đức Chúa Trời tạo dựng nên họ rồi họ mới có thể hiểu lý do Ngài cứu chuộc họ.
    Như vậy, vì sao Đức Chúa Trời lại tạo dựng con người? Phải chăng để con người làm tôi tớ cho Ngài? Sáng Thế Ký có dạy như thế không? Đừng vội buông sách, tiếp tục tìm hiểu, rồi bạn sẽ rõ…
    Thâm nhập
    Ông Môi-se viết sách Sáng Thế cho người Do Thái trong thời gian họ đi quanh quẩn trong sa mạc sau khi thoát ra khỏi xứ Ai Cập. Ông phải viết để bày tỏ cho họ biết về mối liên hệ đặc biệt giữa họ với Đức Chúa Trời. Không những Ngài là Đấng Cứu Chuộc họ mà còn là Đấng tạo dựng nên họ nữa. Tuy nhiên, Ngài dựng nên họ để làm gì? Phải chăng để đày ải hành hạ họ, làm cho họ đau đớn khốn khổ? Không phải đâu, mà là để ban phước hạnh cho họ. Nhưng sao Ngài lại chọn người Do Thái để ban phước? Câu trả lời là câu chìa khóa của sách này:
    SaSt 12:1-3 (Sáng Thế Ký một - hai, một - hai - ba thật là dễ nhớ!) Đức Chúa Trời phán với ông Áp-ra-ham: “Ta sẽ ban phước cho ngươi… và các chi tộc trên thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước”. (Xem SaSt 18:18 22:18). Về sau Đức Chúa Trời cũng lặp lại lời hứa này với ông Y-sác là con trai (SaSt 26:4) và với ông Gia-cốp là cháu nội của ông Áp-ra-ham (SaSt 28:14). Đức Chúa Trời chọn người Do Thái để ban phước cho bao người khác.
    I. Đầu tiên hưởng phước hạnh (1-2)
    Đức Chúa Trời dựng nên muôn loài, rồi Ngài chúc phước cho tất cả (
    SaSt Sa1:22). Ngài dựng nên người nam và người nữ rồi Ngài chúc phước cho cả hai (SaSt Sa1:28). Sáng Thế Ký không mở đầu với dòng dõi dân Hê-bơ-rơ mà với nhân loại, loài người. Không phải Đức Chúa Trời chỉ quan tâm chúc phước cho người Do Thái mà thôi -Ngài luôn luôn mang nặng ưu tư đối với toàn thể nhân loại. Đáng buồn là người Do Thái thường quên đi điểm này nên sinh ra tự thị tự mãn. Mong sao hội thánh của Chúa không bao giờ rơi vào lỗi lầm này.
    II. Mất quyền hưởng phước hạnh (3-5)
    Ông A-đam và bà Ê-va không vâng lời Đức Chúa Trời nên ăn trái của cây biết điều thiện và điều ác. Vì vậy họ đánh mất phước hạnh và bị rủa sả (
    SaSt 3:16-19). Con cháu của họ và hậu duệ của các thế hệ về sau càng dấn sâu vào con đường tội ác đến nỗi Đức Chúa Trời quyết định là không dung thứ cho họ nữa.
    III. Ưu tiên hưởng phước hạnh (6-9)
    Đức Chúa Trời gây ra một trận lụt làm cho tất cả dân cư trên địa cầu đều chết chìm. Nhưng một ông kia tên là Nô-ê được Đức Chúa Trời ưu đãi (
    SaSt 6:8). Ngài bảo ông Nô-ê đóng một con tàu. Rồi ông đưa vợ, ba người con trai, cùng với ba con dâu, tổng cộng tám người vào tàu, cùng với các loài thú và các loài chim, mỗi loài một cặp. Tất cả đều sống sót qua trận lụt. Họ sống sót nhờ họ tin Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài. Đức Chúa Trời chúc phước cho ông Nô-ê và các con trai và bảo họ lo tăng số dân cho địa cầu (SaSt 9:1).
    IV. Đối tượng hưởng phước hạnh (10-11)
    Một lần nữa loài người tỏ ra bất phục tòng Đức Chúa Trời. Họ nỗ lực xây một cái tháp tại Ba-bên để biểu dương và làm biểu tượng cho năng lực và sự hợp nhất của họ. Đức Chúa Trời đem đến sự rối loạn giữa vòng loài người bằng cách làm cho họ nói đủ thứ ngôn ngữ khác nhau. Thế là loài người tản mác khắp địa cầu, hợp quần theo từng nhóm người cùng một ngôn ngữ. Những nhóm nhỏ này sản sinh ra tất cả các giống người trên địa cầu ngày nay. Các giống người này sản sinh ra những đối tượng mà Đức Chúa Trời muốn ban phước…
    V. Bền tâm chờ phước hạnh (12-24)
    Một lần nữa, Đức Chúa Trời chọn một người làm công cụ cho Ngài để Ngài ban phước cho nhân loại. Đó là ông Áp-ra-ham. Ngài hứa với ông ba điều lớn lao: một vùng đất (rất rộng), một dân tộc (rất đông) và một danh rất nổi tiếng (
    SaSt Sa12:1-2). Thông qua ba điều này, Đức Chúa Trời chúc phước cho ông Áp-ra-ham và khiến ông trở thành một nguồn phước cho các dân tộc trên địa cầu (SaSt Sa12:3). Đức Chúa Trời thử ngiệm đức tin của ông Áp-ra-ham nhiều lần. Đôi lúc đức tin ông bị nao núng. Nhưng qua hầu hết mọi trường hợp ông đều vững tin nơi Đức Chúa Trời, do đó ông được kể là công chính (SaSt Sa15:6). Nhờ tin Đức Chúa Trời như vậy ông trở nên nguồn phước cho người khác. Một trường hợp cụ thể là khi ông giải thoát gia đình của ông Lót, là cháu gọi bằng bác, khỏi hoàn cảnh hiểm nguy, ông nhất định không lấy tiền công hoặc tiền thưởng (SaSt Sa14:1-24). Khi nào ông tỏ ra trung tín tin cậy Ngài thì Ngài đều ban phước cho ông (SaSt Sa14:19-20). Ông lập bàn thờ tại nhiều nơi trong xứ thánh (SaSt Sa12:7-8); 13:18 22:9) để chứng tỏ lòng ông tin chắc rằng rồi đây Đức Chúa Trời sẽ ban xứ đó lẫn phước hạnh cho ông.
    VI. Mắc mưu vì phước hạnh (25-26)
    Phải chờ đợi lâu năm ông Áp-ra-ham mới có được một mụn con. Rốt cuộc khi ông đã già nua Đức Chúa Trời ban cho ông một cậu con trai tên là Y-sác. Rồi ông Y-sác cũng tin rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho ông con trai nối dõi dù bà Rê-be-ca bị hiếm muộn. (
    SaSt 25:21). Có lẽ nhờ lòng tin kính của ông mà Đức Chúa Trời ban cho ông hai cậu con trai sinh đôi. Ê-sau được sinh ra trước là con trưởng nam, người có quyền thừa kế gia sản và nhận phước hạnh dành cho người con nối dõi. Nhưng khi lớn khôn ông Ê-sau bán quyền trưởng nam cho em là Gia-cốp với cái giá là một tô súp đậu. Như vậy ông tỏ ý xem rẻ rúng quyền trưởng nam (SaSt 25:34). Về sau ông Gia-cốp lại gạt cha mình để phỗng tay trên phước hạnh đáng lẽ dành cho ông Ê-sau. Ông dọn mời cha một món ăn mà cha ưa thích nhất với mục đích là cha sẽ chúc phước đặc biệt cho mình. Khi cha ăn xong (SaSt 27:19), vì cớ già nua và mù lòa nên ông Y-sác tưởng Gia-cốp là Ê-sau, nên đã chúc phước lành cho Gia-cốp. Như vậy ông Y-sác bị gạt trong việc chúc phước cho con nối dõi. Thay vì chúc phước cho ông Ê-sau thì lại chúc phước cho ông Gia-cốp (SaSt 27:27-29).
    VII. Lừa đảo vì phước hạnh (27-36)
    Khi phát hiện ra chuyện lừa đảo của ông Gia-cốp, ông Ê-sau tức giận đến nỗi muốn giết em mình. Thế là ông Gia-cốp trốn ra ngoại quốc lánh nạn. Ở tại nhà cậu La-ban và làm công cho cậu.
    Thông qua ông Gia-cốp Đức Chúa Trời ban phước cho gia đình ông La-ban. Nhưng ông La-ban lại mưu mô quỷ quyệt hơn cả ông Gia-cốp. Ông La-ban hứa gả Ra-chên là thứ nữ nếu ông Gia-cốp chịu làm công trong bảy năm. Nhưng đến đêm tân hôn, ông La-ban tráo trưởng nữ vào chỗ thứ nữ, khiến cho ông Gia-cốp ăn nằm với Lê-a thay vì Ra-chên (
    SaSt 29:23). Sau đó, ông La-ban gả luôn Ra-chên cho ông Gia-cốp với điều kiện là bảy năm làm công nữa. Trong thời gian hai mươi năm ông Gia-cốp sinh sống tại nhà ông La-ban. Đức Chúa Trời dần dà thay đổi ông Gia-cốp từ một người ích kỷ trở nên một công cụ đem phước hạnh cho những người khác. Để đánh dấu cho sự biến đổi này Đức Chúa Trời đặt cho ông một tên mới - I-xơ-ra-ên - trong cuộc hành trình về quê hương của ông.
    VIII. Tha thứ vì phước hạnh (37-50)
    Qua hai người vợ, bà Lê-a và bà Ra-chên và hai nàng hầu là bà Bi-la và bà Xíp-ba, ông Gia-cốp có mười hai người con trai. Từ mười hai người này sản sinh ra mười hai chi phái I-xơ-ra-ên. Ông Giô-sép là con trai cưng nhất của ông Gia-cốp. Khi còn trẻ ông này ngây thơ, ăn nói vô tư khiến cho các anh càng thêm tị hiềm thù ghét. Họ âm mưu với nhau để trừ khử ông và bán ông cho đoàn lái buôn nô lệ trong khi đoàn này đang trên đường đi qua Ai Cập (
    SaSt 37:28). Tại Ai Cập, Đức Chúa Trời đặc biệt ban cho ông Giô-sép khả năng hiểu các điềm chiêm bao. Khi Pha-ra-ôn thấy chiêm bao mà không một ai có thể giải nghĩa, ông Giô-sép được triệu đến. Ông giải nghĩa chính xác điềm chiêm bao, tức là sắp tới sẽ có bảy năm được mùa, rồi tiếp theo là bảy năm mất mùa. Pha-ra-ôn cử ông Giô-sép đặc trách công tác thu gom nông phẩm trong bảy năm được mùa để chuẩn bị cho bảy năm mất mùa tiếp theo. Khi nạn đói diễn ra trong bảy năm này, các anh em của ông Giô-sép đi đến Ai Cập để tìm mua thực phẩm. Trong một buổi gặp gỡ đầy xúc động ông Giô-sép tiết lộ gốc gác của mình cho các anh em và tha thứ cho họ về hành vi tàn nhẫn năm xưa (SaSt 50:20). Như vậy ông Giô-sép đã trở nên nguồn phước chẳng những cho đại gia đình của mình, mà còn cho toàn thể nhân dân Ai Cập cùng các dân tộc láng giềng nữa. Sách Sáng Thế kết thúc với lời ông Gia-cốp chúc phước cho ông Giô-sép (SaSt 48:15 49:25-26) cho mười hai chi phái (SaSt 49:28), cho hai con trai của ông Giô-sép (SaSt 48:16,20) và cho cả Pha-ra-ôn nữa.
    Trọng tâm
    Đức Chúa Trời tạo dựng nên bạn để ban phước lành cho bạn; và chọn bạn để bạn làm nguồn phước cho thế giới.
    Thực hành
    Nhiều người dành thời gian dài củng cố mối liên hệ giữa họ với Đức Chúa Trời. Chúng ta trông mong Đức Chúa Trời ban phước cho mình đến độ quên rằng chúng ta phải là nguồn phước cho người khác. Chúng ta nghe Đức Chúa Trời phán rằng: “Ta sẽ ban phước cho con” mà không nghe câu kế tiếp là “để thông qua con ta sẽ ban phước cho nhiều người khác”.
    Lắm Cơ Đốc nhân đánh võng từ thái cực này qua thái cực nọ. Họ bận rộn túi bụi vì vương quốc của Đức Chúa Trời đến nỗi không còn thời gian để gặp vua của vương quốc. Họ muốn làm nguồn phước cho người khác đến độ quên rằng trước tiên họ phải kinh nghiệm phước hạnh của Đức Chúa Trời dành cho họ.
    Phước hạnh của Đức Chúa Trời gồm những gì? Không như những phước hạnh mà ông Áp-ra-ham được hưởng, phước hạnh dành cho chúng ta phần lớn nằm trong lãnh vực thuộc linh. Đức Chúa Trời hứa cho chúng ta một đời sống sung mãn (
    GiGa 10:10) niềm vui, lòng bình an và tình yêu thương (GaGl 5:22). Ngay cả thành phần trọn thời gian phục vụ trong hội thánh, cũng có thể bị cuốn hút vào tình trạng lo lắng (trái ngược với lòng bình an), âu sầu (trái ngược với niềm vui) và cay đắng (trái ngược với tình yêu thương). Sự sống sung mãn là chính Chúa Giê-xu (GiGa 14:6). Hằng ngày chúng ta cần thấm đẫm trong mối liên hệ với Ngài. Ông Áp-ra-ham, ‘cha đẻ của trung gian đem phước hạnh’ đã hiểu chân lý này. Ông Gia-cơ diễn đạt điều này như sau: “Ông Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, nên ông được kể là công nghĩa; và được gọi là bạn của Đức Chúa Trời” (Gia Gc 2:23 so sánh SaSt 15:6).
    Nhưng phải chăng chúng ta cũng là nguồn phước cho người khác? Cho những người phân nửa địa cầu phía bên kia? Thử viết thư khích lệ họ, nên chăng? Hoặc gởi cho họ một gói quà tỏ lòng quan tâm cứu giúp, nên chăng? Hoặc đem biếu hàng xóm một món ăn ngon, được không? Chúng ta cần gieo tình yêu thương, sự bình an và niềm vui của Chúa Giê-xu cho mọi người chung quanh chúng ta. Bạn có là nguồn phước cho mọi người chung quanh chưa? Họ có thể nhận định như vậy chưa?
    SÁNG THẾ K Ý
    Ý chính : Thời khai nguyên của phước hạnh.
    Chủ đề chính : Phước hạnh.
    Cụm từ chính : “…các dân thế gian đều sẽ nhờ dòng dõi ngươi mà được phước.” (6 lần)
    Câu chính : “Hãy ra khỏi… đến xứ mà Ta sẽ chỉ cho. Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn; Ta sẽ ban phước cho ngươi, cùng làm nổi danh ngươi, và ngươi sẽ thành một nguồn phước. Các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước.” (
    SaSt 12:1-3).
    Bài học chính : Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta để ban phước cho chúng ta. Đức Chúa Trời chọn chúng ta để chúng ta làm nguồn phước cho thế giới.


    XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ
    Tác giả: Ông Môi-se.
    Thời kỳ hình thành sách: Sau cuộc xuất hành.
    Mục đích: Để nhắc nhở dân I-xơ-ra-ên về quyền năng của Đức Chúa Trời trước khi họ đánh chiếm Đất Hứa.
    Đối tượng: Người mới được cứu.
    Tản mạn
    Một sinh viên trường Thần học còn non trẻ trong niềm tin Cơ Đốc ngồi đọc Xuất Ê-díp-tô Ký ở một đầu cái ghế dài. Một người phái phóng khoáng và là giáo sư của anh ta ngồi ở đầu kia.
    Đang đọc anh ta reo lên: “Vinh danh Chúa! Vinh danh Chúa!”
    Vị giáo sư già nua hỏi: “Anh tôn vinh Chúa về chuyện gì đấy?”
    Anh sinh viên trả lời: “Dạ, tôi đang đọc chuyện ông Môi-se đưa dân I-xơ-ra-ên qua Biển Đỏ.”
    Vị giáo sư nói tiếp: “Những sao chép bị lầm lẫn, khiến cho bản chuyển ngữ cũng bị ảnh hưởng - bộ anh không biết sao? Trong chuyện đó phải đổi từ ‘Biển Đỏ’ thành biển sậy. Dân I-xơ-ra-ên đã lội qua sông sâu chỉ độ hai mươi phân thôi. Có gì mà lạ lùng rối rít thế.”
    “Dạ” anh sinh viên nhẹ nhàng đáp, rồi tiếp tục đọc, một lát anh lại reo lên: “Vinh danh Chúa!”
    “Sao? Có gì mà phải ca ngợi Đức Chúa Trời nữa đây! Trong sách đó chẳng có phép lạ nào đâu. Tưởng đâu anh hiểu rõ ý tôi rồi chớ!”
    “Không có phép lạ sao được? Đức Chúa Trời làm cho toàn bộ quân sĩ Ai Cập chết chìm trong biển chỉ sâu độ hai mươi phân mà không phải phép lạ sao? Hay quá! Vinh danh Chúa!”
    Dù sao anh sinh viên trẻ tuổi này cũng đúng ít nhất ở một điểm. Sự kiện Đức Chúa Trời giải phóng dân I-xơ-ra-ên cũng đủ khiến chúng ta tôn vinh Ngài. Cốt lõi trong cuộc xuất hành không phải chỉ là chuyện xiềng xích nô lệ hoặc công cuộc giải phóng. Trọng tâm cũng không hẳn chỉ là sự cứu chuộc, dù rằng rõ ràng đó là những chủ đề quan trọng trong sách. Nhưng các chủ đề đó không thể lý giải phần thứ hai của Xuất Ê-díp-tô Ký, vì phần này tập trung xoay quanh con người trong khi sách này tập trung viết về Đức Chúa Trời (
    XuXh 34:6-7). Như vậy muốn hiểu Xuất Ê-díp-tô Ký, thì mấu chốt là phải tìm ra chủ đề chính của sách. Chủ đề chính là gì?
    Thâm nhập
    Chủ đề chính của Xuất Ê-díp-tô Ký là thờ phượng. Lấy đâu ra chủ đề này? Trong cụm từ chính của sách. Phần đầu trong ba phần chính của sách lập lại cụm từ này đến 7 lần.
    I. Mười tai vạ (1-14)
    Sau trận đói, ông Gia-cốp và những người Do Thái thuộc mười mấy thế hệ nối tiếp lưu ngụ tại Ai Cập suốt 400 năm. Khi dân Do Thái gia tăng đông đảo, dân Ai Cập lo ngại và tìm cách diệt trừ họ. Trong nỗi thống khổ họ cầu cứu Đức Chúa Trời nên Ngài dấy lên một vị cứu tinh để giải phóng họ khỏi Ai Cập. Đó là ông Môi-se. Nhưng thoạt đầu ông Môi-se hành động hấp tấp. Vừa thấy một người Ai Cập đánh đập một người Do Thái là ông giết ngay người Ai Cập rồi chôn giấu xác chết. Khi chuyện bị bại lộ ông chạy trốn để cứu mạng. Ông lo lẩn tránh người ta và lo việc chăn cừu trong thời gian suốt bốn mươi năm.
    Một ngày nọ, Đức Chúa Trời hiện ra với ông từ một bụi gai đang cháy và giao cho ông công tác giải phóng dân Do Thái khỏi Ai Cập. Khi ông Môi-se yết kiến Pha-ra-ôn và yêu cầu vua buông tha cho dân Do Thái ra đi, thì Pha-ra-ôn nổi giận. Hậu quả là Đức Chúa Trời lần lượt giáng mười tai vạ xuống trên Ai Cập cho đến chừng Pha-ra-ôn phải chấp thuận. Sau mỗi tai vạ, ông Môi-se trở lại yết kiến Pha-ra-ôn và đưa ra yêu cầu: “Hãy tha cho dân Ta đi…”
    Chủ đề chính của sách này được gói ghém trong lời yêu cầu của Đức Chúa Trời đưa ra cho Pha-ra-ôn sau khi tai vạ thứ bảy chấm dứt. Dân Do Thái được giải thoát khỏi ách nô lệ và nỗi thống khổ để làm gì? “Để chúng nó hầu việc Ta.” Đây là cụm từ chính trong sách. Dân Do Thái được Giải phóng để Thờ phượng .
    “Hãy tha cho dân Ta đi” là cụm từ tóm gọn phần thứ nhất của Xuất Ê-díp-tô Ký. “Để chúng nó hầu việc Ta” lý giải phần thứ hai và phần thứ ba của sách.
    II. Mười Thánh Luật (Mười Điều Răn) (15-24) .
    Sau khi chứng kiến Đức Chúa Trời làm phép lạ mở đường đi khô ráo xuyên qua lòng Biển Đỏ để dân Do Thái thoát khỏi quân binh Ai Cập, ông Môi-se và bà Mi-ri-am (cũng như anh sinh viên trẻ nọ trong câu chuyện tản mạn) lớn tiếng ca ngợi tôn vinh Đức Chúa Trời. Chương 15 có ghi lại bài ca mà họ sáng tác.
    Khó tin nhưng có thật là chuyện dân sự cằn nhằn bất mãn sau khi đã chứng kiến bao nhiêu là phép lạ. Họ than van bất mãn vì không có lương thực và nước. Thế là Đức Chúa Trời cung cấp ma-na từ trời rơi xuống và cho nước chảy ra từ vầng đá. Những việc lạ đó nhằm chứng tỏ cho họ biết rằng Đức Giê-hô-va thật sự là Đức Chúa Trời của họ (
    XuXh 16:1217:7).
    Rồi trong một buổi lễ lạ kỳ, Đức Chúa Trời lập giao ước với dân I-xơ-ra-ên. Người ta gọi giao ước này là Giao Ước Môi-se hoặc Giao Ước Si-nai vì giao ước được lập thông qua ông Môi-se tại núi Si-nai. Đây là một giao ước có điều kiện, điều kiện yêu cầu là họ phải vâng phục Đức Chúa Trời (
    XuXh 19:6). Như vậy Mười Điều Răn là mười điều khoản, mười tiết luật trong bản giao ước này. Ông Phao-lô thường đề cập đến trong Tân Ước (RoRm 2:12; ICo1Cr 9:9; GaGl 2:16…) luật của Môi-se. Luật đó được tóm tắt trong Mười Điều Răn. Phần còn lại của Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê-vi Ký và một phần Dân-số Ký và Phục Truyền Luật Lệ Ký đều nhằm diễn giải Mười Điều Răn này. Nếu dân sự tuân thủ những luật này thì Đức Chúa Trời hứa rằng họ sẽ “là một dân làm thầy tế lễ, và một dân thánh” (XuXh 19:6). Một dân tộc làm thầy tế lễ và một dân thánh có nhiệm vụ gì? Dĩ nhiên là thờ phượng và phục vụ Đức Chúa Trời. Họ được giải cứu để thờ phượng Ngài. Mười Điều Răn là Bản Luật lệ về sự thờ phượng . Luật pháp cung cấp cho họ những lời chỉ dẫn về cách thức họ có thể thờ phượng Đức Chúa Trời.
    III. Mười trang thiết bị thiết yếu trong trung tâm thờ phượng (25-40)
    Nhưng dân sự phục vụ Đức Chúa Trời ở đâu? Ở nơi Ngài sẽ chỉ định. Nơi đó là một cái lều gọi là Đền Tạm. Hầu hết phần cuối của sách trình bày sơ đồ và công tác chế tạo cái đền đặc biệt này.
    Có 10 món đồ thiết yếu trong sự hình thành Đền Tạm này:
    -Vách ngăn bằng vải
    -Bàn thờ dâng của lễ bằng đồng
    -Chậu chứa nước tắm rửa bằng đồng
    -Mái phủ nhiều lớp của Đền Tạm
    -Bàn đặt bánh trần thiết
    -Chân đèn bằng vàng
    -Bàn thờ xông hương
    -Tấm màn phân cách nơi Chí Thánh và Nơi Thánh
    -Hòm Giao Ước
    -Nắp Thi Ân cũng dùng làm nắp đậy Hòm Giao Ước.
    Sách xác định rõ cho chúng ta mục đích của Đền Tạm. Đức Chúa Trời truyền phán với ông Môi-se rằng: ‘Họ sẽ làm cho Ta một đền thánh và Ta sẽ ở giữa họ’ (
    XuXh 25:8; 29:46). Đền Tạm là trung tâm thờ phượng .
    Nhưng trong thời gian ông Môi-se lưu lại trên núi để nhận những chỉ thị và chỉ dẫn về việc dựng Đền Tạm, dân sự ở dưới núi lại đúc tượng một con bò bằng vàng và thờ lạy. Khi xuống núi và thấy cảnh đó, ông Môi-se ném bể tan tành hai bảng đá mà Đức Chúa Trời đã đích thân khắc Mười Điều Răn. Cử chỉ đó có ý bày tỏ việc hủy giao ước (giữa họ với Đức Chúa Trời). Đức Chúa Trời giáng một trận dịch giết chết 23.000 người. Dầu vậy Ngài không tiêu diệt toàn dân vì cớ ông Môi-se đã cầu thay cho họ. Sau đó, Đức Chúa Trời tái lập giao ước và ban cho họ hai bảng đá khác có khắc Mười Điều Răn. Một lần nữa Đức Chúa Trời nhấn mạnh rằng họ không được phép thờ một ‘thần nào khác’ (
    XuXh 34:14). Sách kết thúc với quang cảnh ánh hào quang vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự đầy dẫy Đền Tạm vừa được dựng lên.
    Trọng tâm
    Chúng ta được cứu chuộc để thờ phượng Đức Chúa Trời.
    Thực hành
    Ngày nay, tại nhiều nhà thờ, hội chúng hát nhiều bài ca của các tác giả đương đại với những nội dung ướt át lãng mạn kiểu tân thời: “Nguyện dâng trọn đời con chỉ để thờ phượng Chúa yêu dấu” và “Lòng con mong luôn được vào chiêm ngưỡng Chúa Giê-xu và đến tôn thờ Ngài”. Dầu vậy những môi miệng hát lên những câu ca này lại thường bỏ nhóm họp vào ngày Chúa Nhật sau đó.
    Sao lại có thể xảy ra chuyện như thế? Có lẽ vì họ không hiểu thờ phượng thật sự có nghĩa ra sao. Có người trả lời rằng họ thật sự đang thờ phượng Đức Chúa Trời khi họ có ‘xúc động lâng lâng ấm áp’. Sự thật là dù thật tâm thờ phượng, đôi khi người ta có cảm xúc kỳ diệu tương tự, đôi khi chẳng có gì cả. Như vậy thờ phượng thật là sao?
    Trước tiên, sự thờ phượng thật tập trung vào Đức Chúa Trời. Cả hai, Mười Điều Răn và Đền Tạm đều được sắp xếp với chủ ý tập trung tâm hồn của người ta vào sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Chúng ta thật sự thờ phượng Đức Chúa Trời khi Ngài hài lòng. Chúng ta không phải là đối tượng hoặc là khán thính giả, mà chính Đức Chúa Trời là đối tượng của sự thờ phượng. Không phải chúng ta có mặt tại một buổi thờ phượng để ngắm nhìn một cuộc biểu diễn. Chính chúng ta là người biểu diễn. Diễn viên phải đến đúng giờ và đã chuẩn bị sẵn sàng đầy đủ. Chúng ta thật sự thờ phượng trong khi chúng ta tham gia. Chúng ta dâng lên cho Ngài sự ca ngợi thông qua môi miệng, hành động lắng nghe thông qua đôi tai cùng tâm hồn và tinh thần sẵn sàng vâng lời. Việc dâng tiền biểu tượng về thái độ của chúng ta phục tùng quyền cai trị của Ngài như người thuê đất sẵn sàng đóng tiền cho chủ đất. Chúng ta có bổn phận tham gia vào mọi tiết mục trong giờ thờ phượng.
    Thứ hai, thờ phượng và phục vụ luôn luôn phải đi đôi. Nguyên ngữ Hi-bá-lai dùng cùng một từ khi nói về hai việc này. Ông Phao-lô diễn tả như sau: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em” (
    RoRm 12:1). Trong thời Cựu Ước, khi thầy tế lễ đâm con dao vào cổ con sinh, ông ta thật sự đang thực hiện sự thờ phượng Đức Chúa Trời vì đó là việc Đức Chúa Trời muốn ông thực hiện đúng vào thời điểm đó. Cũng vậy, khi người tiếp tân đón người đến nhà thờ, khi nhạc sĩ tấu bài nhạc, khi người lãnh nhiệm vụ chuẩn bị bánh và nước lo thực hiện việc đó một cách chu đáo, thì tất cả những người này đang thực sự thờ phượng Đức Chúa Trời, dù là họ có cảm thấy lâng lâng hay không.
    Thứ ba, sự thờ phượng dành cho những người đã được cứu. Đức Chúa Trời không ban Mười Điều Răn và Đền Tạm cho người chưa được cứu. Ngài chỉ ban cho họ sau khi họ đã được giải cứu khỏi cảnh nô lệ ở Ai Cập. Chúng ta không thể nào thật sự thờ phượng Đức Chúa Trời cho đến chừng nào chúng ta được giải phóng khỏi xiềng xích của tội lỗi. Nếu bạn chưa hề tin Chúa Giê-xu là Cứu Chúa riêng cho bạn, thì sao bạn không tin Chúa ngay giờ này đi?
    Nhưng nếu bạn đã được cứu thì bạn được cứu là để thờ phượng Ngài. Thử quyết định không bỏ qua một buổi thờ phượng nào cả trong trọn một năm tới xem sao. Sao không quyết định tham gia vào buổi thờ phượng dưới một hình thức nào đó trong một tiết mục hoặc công việc nào đó? (Thí dụ phụ trách giàn âm thanh, ban đàn, ban hát...) Ước mong chúng ta đặt buổi thờ phượng vào vị trí tối ưu tiên trong sinh hoạt gia đình và trong sinh hoạt hội thánh của chúng ta.
    XUẤT Ê-DÍP-TÔ KÝ
    Ýchính: Thoát ra để tôn vinh
    Chủ đề chính: Thờ phượng
    Cụm từ chính: “Hãy tha cho dân Ta đi… để chúng nó hầu việc ta” (7 lần)
    Câu chính: “Hãy cho con Ta đi, để nó phụng sự Ta” (
    XuXh 4:23)
    Bài học chính: Đức Chúa Trời cứu chuộc bạn để bạn thờ phượng Ngài. Chúng ta được cứu chuộc để thờ phượng Đức Chúa Trời.


    LÊ-VI KÝ
    Tác giả: Ông Môi-se.
    Thời kỳ hình thành sách: Tại núi Si-nai.
    Mục đích: Để kêu gọi dân của Đức Chúa Trời biết giữ mình tách riêng khỏi các dân khác khi họ tiến vào xứ thánh.
    Đối tượng: Người được cứu chuộc, cần nhận thức về địa vị khác biệt của mình.
    Tản mạn
    Năm 1973, chuyến bay 401 của hãng At-lantic Southeastern Airlines sắp sửa đáp xuống sân bay Miami, Florida, Mỹ. Nhưng phi công không rõ bộ bánh xe có bung ra hay chưa. Bởi vì thưởng thường hễ các bánh xe bung ra thì trong buồng lái có ba bóng đèn hiệu sẽ sáng lên. Lúc đó, một trong ba bóng đèn hiệu vẫn không sáng. Vả lại về đêm trời tối quá nên đài kiểm soát không lưu cũng không nhìn thấy gì để xác nhận giùm họ.
    Toàn bộ tổ lái, viên trưởng và phó phi công lẫn viên kỹ sư lo chúi mũi tìm hiểu nguyên nhân nên sơ hở trong việc cầm lái. Máy bay đâm xuống Everglades, một vùng đầm lầy rộng lớn ngoại vi phi trường Miami. Toàn bộ hành khách lẫn phi hành đoàn trên máy bay đều tử nạn. Cuộc điều tra cho thấy là bộ bánh xe dưới lòng máy bay có bung ra rồi. Chỉ tại cái bóng đèn bị đứt giây. Ngoài ra chẳng có trục trặc nào khác cả. Toàn bộ máy bay tan tành chỉ vì một cái bóng đèn bé tí đáng giá vài Mỹ kim.
    Có những tội lỗi tưởng chừng vô nghĩa, vô hại, tựa như mảnh bụi của thủy tinh vỡ, nhưng đối với Đức Chúa Trời, tội lỗi ‘tí teo’ đó chẳng khác gì mảnh bụi thủy tinh vỡ rơi vướng trong mắt Ngài. Tội lỗi ‘nhỏ’ kéo theo hậu quả lớn. Lê-vi Ký chép về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và thái độ không dung dưỡng của Ngài đối với tội lỗi.
    Thâm nhập
    Ông Môi-se viết Lê-vi Ký cho người Do Thái khi họ còn ở trong sa mạc. Ông giúp cho họ hiểu bản tánh của Đức Chúa Trời là Đấng đã sáng tạo và giải cứu họ (Sáng Thế Ký và Xuất Ê-díp-tô Ký). Sự thánh khiết là bản tánh bày tỏ nhiều nhất về Đức Chúa Trời, và cũng là chủ đề của Lê-vi Ký. Sách dùng đến 87 lần từ ‘thánh khiết’ dưới các dạng khác nhau.
    Thánh khiết là gì? Đa số Cơ Đốc nhân biết rằng họ phải nên thánh, nhưng lại không biết giải nghĩa nên thánh là gì (giải nghĩa thánh khiết là biệt riêng ra thì chẳng làm sáng tỏ gì hơn). Như vậy thánh khiết là gì? Là trọn vẹn. Trọn vẹn là chuẩn mực mà Đức Chúa Trời yêu cầu nơi chúng ta. Trong bài giảng trên núi Chúa Giê-xu đưa ra yêu cầu này đối với thính giả của Ngài: “Thế thì các ngươi hãy nên trọn vẹn, như Cha các ngươi ở trên trời là trọn vẹn”(
    Mat Mt 5:48). Phải chăng Chúa Giê-xu dạy điều mới mẻ? Xin so sánh với câu chìa khoá của Lê-vi Ký: “Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; Ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh, thì sẽ được thánh. Các ngươi chớ vì một con nào của loại côn trùng trên mặt đất mà làm lây ô uế cho thân mình. Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng làm Đức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi phải nên thánh, vì Ta là thánh.” (LeLv 11:44-45).
    Có lẽ trong lòng của bạn bùng lên một ý phản bác: “Còn khuya mình mới trở nên trọn vẹn được, làm sao mà trọn vẹn được cơ chứ! Chắc thánh khiết có nghĩa khác đấy thôi”. Đúng vậy, tự thân mình, chúng ta chẳng bao giờ trở nên trọn vẹn ‘trên đất’ này được. Lê-vi Ký dạy chúng ta phương cách trở nên trọn vẹn.
    I. Cách nào để trở nên thánh khiết? (1-10)
    Đức Chúa Trời cho biết phương cách trở nên thánh khiết là dâng của lễ trọn vẹn (Chương 1-7) thông qua một thầy tế lễ trọn vẹn (Chương 8-10). Vì cớ chúng ta là người tội lỗi, chúng ta chỉ có thể trở nên thánh khiết sau khi chúng ta đã được giải tội bằng những của lễ hoàn toàn không bị tì vết hư hỏng nào (
    1:3 2:1...) do thầy tế lễ tuyển chọn của Đức Chúa Trời dâng lên (LeLv 1:5; 2:2…). Chính vì vậy mà chúng ta cần đến Chúa Giê-xu. Ngài là thầy tế lễ trọn vẹn. Ngài đã dâng lên một của lễ trọn vẹn (chính mình Ngài). Đây là sứ điệp của thư Hê-bơ-rơ. Sứ điệp của thư này đặt cơ sở trên sứ điệp của Lê-vi Ký. Tự thân chúng ta không thể trở nên thánh khiết. Nếu thật sự hiểu phương cách khiến cho chúng ta được nên thánh thì chẳng ai trong chúng ta còn dám có thái độ tự phụ tự mãn ‘Tôi thánh khiết hơn người’. Rất tiếc là nhiều Cơ Đốc nhân lại giống như người Do Thái trong thời Cựu Ước, họ không hiểu rõ điều này. Không thể tự sức mình giành giật lấy hoặc đạt đến sự thánh khiết nhưng Đức Chúa Trời đã ‘mua’ sự thánh khiết, đã sắm ‘sự thánh khiết’ cho chúng ta.
    II. Những gì phải trở nên thánh khiết? (11-15)
    Phần thứ hai của sách có thể xem là phần ‘Tinh sạch và Ô uế’. Phần này dùng đến 157 lần hai từ đó (‘tinh sạch’ và ‘ô uế’) trong khi ba phần kia của sách chỉ dùng đến 37 lần thôi. Mọi thứ từ thực phẩm đến áo quần, đều được phân loại ‘tinh sạch’ hoặc ‘ô uế’. Thật vậy, ngay cả những đồ vật mà họ đụng đến cũng được phân loại. Mọi thứ đều phải trở nên thánh khiết. Không phải chỉ thánh khiết trong một số lãnh vực của cuộc sống nhưng chúng ta phải thánh khiết trong mọi lãnh vực.
    III. Những ai phải trở nên thánh khiết? (16-22)
    Phần thứ ba mở đầu với ngày chuộc tội (Chương 16-17). Ai là người cần trở nên thánh khiết và cần được tẩy khỏi tội lỗi và mọi điều ô uế? Mọi người kể cả thầy tế lễ thượng phẩm (
    LeLv 16:6). Những chương sau (18-22) đề ra nhưng luật lệ về sự ô uế của các nhóm người khác (chớ không nói đến đồ vật nữa). Trở nên thánh khiết là một mạng lịnh, mạng lịnh dành cho mọi người chớ không phải riêng ai.
    IV. Khi nào phải trở nên thánh khiết? (23-37)
    Dân sự phải thánh khiết vào thời gian nào? Suốt năm. Mấy chương này mô tả những ngày thánh (ngày nghỉ) trong năm theo lịch của người Do Thái. Cần nhớ là vào những ngày đó người ta phải dâng thêm những của lễ khác ngoài những của lễ dậng hằng ngày (
    XuXh 29:38-42). Ngày lễ là ngày thánh càng triệt để hơn nữa. Ngày Chuộc Tội là ngày thánh hơn cả - ngày nào cũng là ngày thánh cả. Hôm nay đây cũng là ngày thánh, chẳng có thời gian nào dành cho tội lỗi cả.
    Như vậy chúng ta đã có câu trả lời cho 4 cột: Cách nào? , Những gì? ,Những ai? và Khi nào? trong vấn đề thánh khiết. Dầu vậy chúng ta bỏ sót chưa trả lời một câu hỏi rất quan trọng: Vì sao chúng ta phải trở nên thánh khiết? Câu trả lời nằm trong câu chìa khoá phần hai. “Vì Ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vốn là thánh”, sách lập lại câu này đến 5 lần (
    LeLv 11:44-45; 19:2; 20:7,26 cũng xem 21:8,15; 22:9,16,32). Sứ đồ Phi-e-rơ cũng trích dẫn câu này trong thư của mình (). Cụm từ này cũng nằm trong bảng tổng lược ý chính trong sách. Cụm từ “Ta, Giê-hô-va” được dùng đến 48 lần rải rác trong phần thứ hai, ba và bốn của sách (Chương 11-27). Phần thứ nhất trình bày mạng lịnh phải thánh khiết. Phần thứ 2,3,4 trình bày lý do phải thánh khiết. Lý do là Đức Chúa Trời mà chúng ta thờ lạy là Đức Chúa Trời thánh khiết.
    (Chú ý là câu chìa khoá: “Hãy nên thánh, vì…” là một mạng lệnh chớ không phải là một đề nghị, mạng lệnh này không miễn trừ ai. Người nào không thánh khiết thì không có phần gì với Ngài cả.)
    Trọng tâm
    Thánh khiết là một mạng lệnh đối với mọi người chứ không phải là sự lựa chọn của một số người.
    Thực hành
    Khi nghe Đức Chúa Trời phán “Hãy nên thánh” một số Cơ Đốc nhân hiểu rằng: “Tất cả các mục sư, các lãnh đạo hội thánh, các cán sự phục vụ trọn thời gian và các Cơ Đốc nhân thành tâm thiện ý hãy nỗ lực trở nên càng thánh càng tốt.” Đa số trong chúng ta tự loại mình ra, cho rằng mình không thuộc lớp người buộc lòng phải sống thánh khiết. Chúng ta tiếp tục sống bất khiết, ‘uốn cong luật pháp’ và phân bua rằng: “Đức Chúa Trời sẽ sẵn sàng tha thứ cho tôi và thông cảm cho nỗi yếu đuối của tôi.” Chúng ta không muốn bạn hàng, bạn cùng sở, bạn đồng công và hàng xóm láng giềng liệt chúng ta vào hạng ‘người thánh thiện’. Hội thánh đang hết sức cần một làn sóng tìm cầu sự thánh khiết. Đừng bao giờ định nghĩa thánh khiết ở chuẩn mực thấp hơn là sự trọn vẹn. Trọn vẹn phải luôn luôn là mục tiêu của chúng ta dù chẳng bao giờ chúng ta có thể đạt mức trọn vẹn khi còn ở trên đời này. Nhưng chúng ta luôn luôn được kể là thánh khiết khi chúng ta xưng tội mình và để huyết của Chúa Giê-xu tẩy sạch chúng ta. Cuộc sống hằng ngày của chúng ta phải phản ánh địa vị của chúng ta ở bên Đấng Cứu Thế. Đừng bao giờ vin vào cớ chúng ta bất toàn để hạ chuẩn mực của Đức Chúa Trời xuống.
    LeLv 19:1-37 trình bày cho chúng ta Mười Điều Răn theo lối nói diễn ý. Thông qua chương này chúng ta có điều răn thứ hai: yêu thương người lân cận như mình (LeLv 19:18 so sánh LuLc 20:27). Một đời sống thánh khiết được biểu lộ qua mối liên hệ giữa chúng ta với người khác. Chúng ta không được phép trộm cắp, nói dối hoặc lừa gạt người khác (câu 11), gian lận người khác (câu 13) đối xử bất công hoặc thiên vị (câu 15), tìm cách trả thù hoặc ôm ấp mối hận thù (câu 18),… Nếu chúng ta có dính dáng đến những tội đó thì chúng ta nên xưng nhận và xin Đức Chúa Trời khiến cho chúng ta trở nên thánh khiết trở lại. Đừng sao chép phần mềm của người ta cũng đừng sao băng bài hát của người khác mà không có phép. Yêu thương người lân cận như mình. Đừng lê la đây đó, phổ biến những điều chúng ta nghe đồn về người khác. Ý chính xác gói gọn việc này là vu khống, ngồi lê đôi mách (LeLv 19:16). Yêu thương người lân cận như mình. Rồi trong khi chúng ta học tập loại trừ tội lỗi, thậm chí cả những tội ‘bé tí tẹo’ ra khỏi đời sống của mình và trong mối liên hệ với người khác, thì chúng ta có thể duy trì địa vị thánh khiết của chúng ta bên Đức Chúa Trời. Chúng ta được thánh khiết thông qua của lễ của Đấng Cứu Thế. Chúng ta duy trì tình trạng thánh khiết của mình thông qua một đời sống thánh khiết nhờ sức của Đức Thánh Linh. Không phải chúng ta giành được sự thánh khiết nhờ sống thánh khiết, vì chúng ta hoàn toàn bất lực trong việc này. Một cuộc sống thánh khiết chẳng bao giờ giúp chúng ta đạt đến một đời sống thánh khiết. Nhưng phải luôn luôn sống thánh khiết để duy trì đời sống thánh khiết.
    Bạn nên thánh đến mức nào? Thánh 30%? 40%? Thật tình tôi không mong là bạn nghĩ như thế. Bạn nên thánh 100% hoặc chẳng thánh gì cả. Bạn đạt được sự thánh khiết nhờ huyết của Chúa Giê-xu Cứu Thế. Vì vậy bạn thánh 100%. Nên giờ đây hãy sống một cuộc sống phản ánh địa vị đó. “Hãy nên thánh” không phải là một đề nghị mà là một mạng lệnh.
    LÊ-VI KÝ
    Ý chính: Thầy tế lễ (và) các ngày lễ.
    Chủ đề chính: Thánh khiết.
    Cụm từ chính: ‘Hãy nên thánh, vì Ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vốn là Thánh’ (5 lần.)
    Câu chính: “Vì Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi; Ta là thánh, nên các ngươi phải nên thánh, thì sẽ được thánh. Các ngươi chớ vì một con nào của loại côn trùng trên mặt đất mà làm lây ô uế cho thân mình. Vì Ta là Đức Giê-hô-va, Đấng đã đem các ngươi ra khỏi xứ Ê-díp-tô đặng làm Đức Chúa Trời của các ngươi; các ngươi phải nên thánh, vì Ta là thánh.” (
    LeLv 11:44-45 )
    Bài học chính: Hãy thánh khiết là một mạng lệnh dành cho mọi người chớ không phải điều một số người lựa chọn.


    DÂN-SỐ KÝ
    Tác giả: Ông Môi-se Thời kỳ hình thành sách: Trong sa mạc
    Mục đích: Để dân sự biết rằng họ sẽ bị hình phạt đích đáng nếu không vâng lời Đức Chúa Trời dù họ là con cái, là dân riêng của Ngài.
    Đối tượng: Thế hệ thứ hai trong đức tin cần biết luật pháp của Chúa và biện pháp kỷ luật của Ngài.
    Tản mạn
    Một thanh niên kia vào tu tại một tu viện. Các tân tòng trong dòng tu này phải hứa nguyện câm lặng. Trong thời gian 20 năm tu luyện đầu tiên, họ được phép nói hai tiếng sau một đợt 10 năm.
    Cuối đợt 10 năm, chàng tu sinh này đến gặp vị viện trưởng.
    Ông hỏi: “Sau khi tu ở đây được 10 năm, anh muốn nói hai tiếng nào?”
    Anh trả lời: “Thức ăn dở”
    Cuối đợt 10 năm thứ hai, anh ta đến gặp vị viện trưởng một lần nữa.
    Ông này hỏi: “Sao, lần này anh muốn nói hai tiếng nào?”
    Anh ta trả lời: “Giường tệ”
    Cuối đợt 10 năm thứ ba, anh ta đến gặp vị viện trưởng lần thứ ba.
    Ông này nói: “Hy vọng lần này anh có ý kiến sáng sủa hơn.”
    Anh ta đáp: “Rút lui”.
    Ông viện trưởng nhận xét: “Có gì lạ đâu! Từ khi vào đây anh chẳng nói gì ngoài ra than phiền”.
    Dân-số Ký ghi lại những câu chuyện xảy ra sau khi dân Do Thái tiếp nhận Mười Điều Răn. Họ than phiền về mọi thứ: từ chuyện không có thức ăn hợp khẩu, đến chuyện ông Môi-se được chọn làm lãnh tụ.
    Khi Đức Chúa Trời đã truyền ra một mạng lịnh, chúng ta chỉ có thể thuận phục hoặc than phiền.
    Nào, chúng ta tìm hiểu xem người I-xơ-ra-ên đã xử sự ra sao?
    Thâm nhập
    Ông Môi-se viết sách này để nhắc lại những hậu quả sẽ xảy ra khi dân sự bất phục tùng ý muốn của Đức Chúa Trời. Dù là con cái của chính Ngài - tức là tuyển dân của Ngài - Ngài cũng không dung thứ nếu họ bất phục tùng. Khi con cái của chúng ta có lỗi chúng ta cũng phải đánh đòn chúng nó, huống chi là Đức Chúa Trời. Nhưng thoạt đầu họ không phải là những người chống nghịch, không vâng lời. Thật ra họ rất phục tùng.
    I. Kiên trì khi vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời (1-10)
    Dân tộc I-xơ-ra-ên mới được khai sinh lưu ngụ tại chân núi Si-nai, để chuẩn bị cho cuộc hành trình tiến về Đất Hứa. Đó là thời gian xảy ra những chuyện có ghi trong mười chương đầu của sách Dân Số. Theo sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, họ thực hiện một cuộc kiểm tra dân số, sắp xếp đội ngũ tiến quân, biệt riêng dòng Lê-vi và lập thầy tế lễ, và kỷ niệm ngày Vượt Qua đầu tiên. Phần này không ghi lại một tội lỗi nào hoặc một lời than phiền nào hoặc một thái độ chống đối nào. Kết quả ra sao? Lòng ưu ái của Đức Chúa Trời ngự trên họ dưới hình thức trụ mây ngự trên Đền Tạm (
    9:15-23).
    Cụm từ chính của toàn bộ sách này là ‘theo mạng (lệnh) của Đức Giê-hô-va’ . Chú ý là từ ‘mạng (lệnh)’ ở dạng số ít. Sách dùng cụm từ này đến 17 lần, nhiều lần nhất so với các sách khác trong Kinh Thánh. Từ ‘mạng (lệnh)’ trong sách Dân Số chỉ về yêu cầu cụ thể mà Đức Chúa Trời truyền cho dân sự để họ làm theo ý muốn của Ngài chớ không chỉ về những điều luật tổng quát. Trong các sách khác nhất là sách Phục Truyền ‘các mạng lệnh’ ở dạng số nhiều chỉ về những điều luật, những luật lệ đó.
    Câu chìa khoá của phần đầu sách này lập lại cụm từ chính đến ba lần: “Dân I-xơ-ra-ên hạ trại và ra đi tùy theo mạng (lệnh) Đức Giê-hô-va; họ theo chương trình của Đức Giê-hô-va, tùy mạng (lệnh) Ngài đã cậy Môi-se mà truyền cho.” (
    9:23) Như vậy căn cứ vào nội dung phần sách này thì chúng ta thấy dân I-xơ-ra-ên hoàn toàn kiên trì làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời. Nhưng theo nội dung của phần hai thì họ đã đổi khác.
    II. Kính sợ khi vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời (11-19)
    Diễn biến chính trong phần hai là sự kiện phái một đoàn trinh thám gồm 12 người vào Đất Hứa. Họ trở về với những tin mừng và bản tường trình đen tối. Tin mừng là đất đai vô cùng màu mỡ đúng như lời Đức Chúa Trời đã phán. Bản tường trình đen tối là vì cư dân thuộc giống dân khổng lồ, còn người I-xơ-ra-ên thì chẳng khác gì cào cào so với họ. Thế là ai nấy than van rền rĩ, mong ước được chết trong sa mạc thay vì chết trong tay dân đó (
    14:2). Thế là Đức Chúa Trời làm trọn điều họ mong ước (14:28). Về sau, ngoại trừ ông Ca-lép và ông Giô-suê, là hai người sẵn sàng làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, mọi người đều chết dần chết mòn trong sa mạc. Dĩ nhiên, ngay lúc đó Đức Chúa Trời dung tha họ vì ông Môi-se cầu thay (14:20). Nhưng giá đau thương mà họ phải trả cho bài học này là sự bất phục tùng đem lại hậu quả nghiêm trọng. Câu chìa khoá của phần này là lời tuyên án của Đức Chúa Trời dành cho dân I-xơ-ra-ên thuộc thế hệ thứ nhất: “Các ngươi... thì chẳng hề được vào xứ” (14:29-30 bản NIV có thêm ý nhấn mạnh.)
    III. Không tin khi vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời (20-25)
    Chương 20 là mốc buồn thảm nhất của sách này vì chương này ghi lại chuyện ông A-rôn và bà Mi-ri-am qua đời. (Cả hai là chị và anh ruột của ông Môi-se và cùng với ông Môi-se lãnh đạo dân I-xơ-ra-ên). Bản thân ông Môi-se cũng phạm tội với Đức Chúa Trời khi ông không hoàn toàn làm theo sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời là nói với vầng đá. Ông Môi-se đã đập vầng đá hai lần để khiến vầng đá tuôn nước ra như ông đã làm trong lần trước
    XuXh 17:6). Đương nhiên dòng nước vẫn tuôn ra, nhưng Đức Chúa Trời vẫn tuyên án hình phạt ông Môi-se. Ông sẽ chẳng bao giờ được vào Đất Hứa mà còn sống. (Về sau, Đức Chúa Trời đặc biệt cho phép ông Môi-se được vào xứ khi ông và ông Ê-li hiện ra trên núi hóa hình, bàn bạc với Chúa Giê-xu.)
    Ngược lại diễn biến chính thứ hai của phần này là chuyện ông Ba-la-am, một tiên tri ngoại đạo triệt để vâng lời Đức Chúa Trời. Khi người ta thuê ông đi rủa sả dân I-xơ-ra-ên, ông Ba-la-am trả lời rằng: “Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối, cũng chẳng phải là con loài người đặng hối cải. Điều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đã phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao? Nầy, tôi đã lãnh mạng chúc phước; Ngài đã ban phước, tôi chẳng cãi đâu” (
    23:19-20). Hai câu này giữ vai trò chủ chốt trong phần này, mà cũng là đầu mối giúp chúng ta hiểu toàn bộ sách này. Không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì không thể nào tránh khỏi hậu quả.
    IV. Khẳng khái khi vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời .
    Trong phần thứ tư này người I-xơ-ra-ên thuộc Thế hệ Thứ hai đã chứng kiến và học tập kinh nghiệm của Thế hệ Thứ nhất. Vì vậy sau khi toàn bộ thế hệ này qua đời, họ liên tục gặt hái thắng lợi. Tương tự như phần thứ nhất phần này hoàn toàn vắng bóng những sự than phiền lẫn nổi loạn, chỉ có thái độ và hành động vâng lời mà thôi. Đặc biệt lần này có ghi hành động của chị em nhà Xê-lô-phát bày tỏ niềm tin mãnh liệt đối với lô đất mà gia đình của họ được phép nhận tại Đất Hứa trong tương lai. Việc làm của họ tiêu biểu cho tinh thần và đức tin của toàn bộ thế hệ thứ hai, và cho thấy tin tưởng nơi lời của Đức Chúa Trời có nghĩa là gì? (Xem chương 27 và 36).
    Diễn biến chính trong phần thứ tư này là công cuộc tiến chiếm vùng đất phía đông sông Giô-đanh, thường gọi là vùng đất phía bên kia sông Giô-đanh (ngày nay vùng này mang tên là ‘Gioóc-đan’ (Jordan)). Sau khi chinh phục dân Ma-đi-an là cư dân tại vùng, giới tướng lãnh của quân đội I-xơ-ra-ên phúc trình với ông Môi-se như sau: “Những kẻ tôi tớ ông đã dựng sổ chiến sĩ, là người ở dưới quyền chúng tôi, và không thiếu một tên” (
    31:49). Bản NIV có hàm ý nhấn mạnh. Trong chương 14, khi họ không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời thì không một người nào còn sống sót. Nhưng trong chương 31, khi họ vâng phục Đức Chúa Trời thì không một người nào tử trận cả.
    Hầu hết mọi người đều biết Kinh Thánh dạy rằng vâng lời dẫn đến phước hạnh còn không vâng lời sẽ bị kỷ luật, nhưng nhiều Cơ Đốc nhân vẫn tìm cách ‘tự xoay xở rồi tránh né hậu quả’ -chẳng khác gì tinh thần lang chạ xả láng trong phương diện tình dục với niềm tin tưởng rằng chẳng bao giờ mình bị nhiễm AIDS. Nhưng hậu quả sẽ ra sao khi sự thật là hễ lang chạ xả láng hoặc quan hệ tình dục với phường điếm đĩ thì luôn luôn là mắc bịnh AIDS. Có lẽ số người lang chạ xả láng hoặc quan hệ tình dục với phường điếm đĩ sẽ giảm hẳn (Nhưng dù sự thật có nghiêm trọng đến đâu người ta vẫn tiếp tục ăn nằm với điếm đĩ). Cũng vậy, Cơ Đốc nhân phải nhận biết rằng ‘Không vâng lời dẫn đến bị kỷ luật’. Đó là chuyện đương nhiên, chắc chắn chớ không phải chuyện may rủi. Không ngoại trừ một ai cả dù là ông Môi-se cũng vậy. Không vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời luôn luôn phải lãnh hậu quả nghiêm trọng.
    Trọng tâm
    Cần xác định rằng “vâng lời dẫn đến phước hạnh còn không vâng phục sẽ bị kỷ luật” là lời chắc chắn như đinh đóng cột chớ chẳng phải một câu nói bâng quơ dựa vào chuyện may rủi.
    Thực hành
    Đa số trong chúng ta đều dễ dàng nhất trí với những lời dạy bảo có tính cách chung chung tổng quát của Đức Chúa Trời. Khi nghe mục sư giảng và khuyến giục chúng ta Đức Chúa Trời và người lân cận của mình thì trong thâm tâm chúng ta đồng ý với ông. Nhưng chúng ta có làm theo lời dạy bảo của Đức Chúa Trời trong những vấn đề cụ thể và chi tiết không? Vì sao sau hai mươi thế kỷ chúng ta vẫn chưa hoàn toàn tuân thủ mạng lệnh cụ thể về việc làm chứng về Ngài cho đến tận những nơi thâm sơn cùng cốc. Chẳng qua là chúng ta lo thiết lập và xây dựng những vương quốc tí hon riêng của mình thay vì nỗ lực mở rộng biên cương vương quốc của Đức Chúa Trời. Vì sao vẫn còn quá đông phụ nữ gánh vác công tác thay cho nam giới trong địa hạt truyền giáo hải ngoại? Chẳng lẽ trong hội thánh của chúng ta đầy dẫy các đấng nam nhi nhắm mắt bịt tai đối với lời kêu gọi của Đức Chúa Trời? Phải chăng vì thế mà hội thánh của chúng ta đang chết dần chết mòn?
    Có lẽ đã đến lúc chúng ta phải nộp đơn xin nhập học tại thần học viện hoặc nộp đơn cho một hội truyền giáo để xin đi truyền giáo. Có lẽ đã đến lúc phải thôi đừng than phiền hội thánh để bắt đầu tuân theo lời kêu gọi của Đức Chúa Trời và phục vụ Ngài. Nếu lỡ ra chúng ta chưa nghe tiếng kêu gọi đi truyền giáo ở hải ngoại, chẳng lẽ chúng ta cũng chưa nhận được lệnh bước sang nhà hàng xóm mà làm chứng? Có thể hàng xóm của bạn dư sức ăn tươi nuốt sống Cơ Đốc nhân đấy, nhưng chúng ta đã được lệnh là sang thăm người đó và chinh phục người đó cho Chúa Cứu Thế.
    DÂN-SỐ KÝ
    Ý chính: Hành trình đến sông Giô-đanh
    Chủ đề chính: Ý muốn của Đức Chúa Trời
    Cụm từ chính: ‘mạng (lệnh) của Đức Giê-hô-va’ (20 lần)
    Câu chính: “Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối, cũng chẳng phải là con loài người đặng hối cải. Điều Ngài đã nói, Ngài há sẽ chẳng làm ư? Điều Ngài đã phán, Ngài há sẽ chẳng làm ứng nghiệm sao? Nầy, tôi đã lãnh mạng chúc phước; Ngài đã ban phước, tôi chẳng cãi đâu.” (
    Dan Ds 23:19-20)
    Bài học chính: Câu nói: ‘Vâng lời đem đến phước hạnh còn không vâng phục đem đến sự hoảng loạn’ không phải là một câu nói bâng quơ, cầu may mà làmột câu nói chắc chắn như đinh đóng cột.


    PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ
    Tác giả: Ông Môi-se.
    Thời kỳ hình thành sách: Thời gian ở tại đồng bằng Mô-áp.
    Mục đích: Khuyến cáo người I-xơ-ra-ên thuộc thế hệ thứ hai đừng đi vào vết xe đổ của thế hệ trước.
    Đối tượng: Những người sắp phải đối đầu với cuộc thách thức thuộc linh.
    Tản mạn
    Cáo và sói nhờ sư tử dạy mình cách săn bắt mồi. Sau một ngày trời tung hoành, xác hươu, nai chất thành đống. Sư tử bảo cáo chia chiến lợi phẩm ra. Cáo chia làm ba phần bằng nhau.
    Sư tử hỏi : “Chia làm ba phần như vậy là sao?”
    Cáo trả lời: “Một phần dành cho sư tử, một phần dành cho sói và một phần dành cho cáo”.
    Chẳng nói chẳng rằng sư tử quơ chân tát cáo một cú tưởng nát thân cáo luôn. Xong sư tử bảo sói chia phần.
    Sói trả lời: “Ủa, chia rồi đó mà. Một phần dành cho sư tử dùng bữa trưa, một phần dành cho sư tử dùng bữa tối, một phần cho sư tử dùng điểm tâm sáng mai.”
    Sư tử hỏi: “Sói học khôn ở đâu vậy?”
    Sói trả lời: “Học từ cú đập của sư tử mới đập cho cáo đó.”
    Trong Phục Truyền Luật Lệ Ký ông Môi-se nhắc nhở dân I-xơ-ra-ên về những lỗi lầm mà cha ông họ đã phạm bốn mươi năm về trước. Có lúc chúng ta phải trả giá rất đắt cho bài học kinh nghiệm của mình. Có lúc chúng ta học từ kinh nghiệm của người đi trước mà chẳng phải trả giá gì cả.
    Thâm nhập
    Ông Môi-se giảng ba bài cho người I-xơ-ra-ên khi họ sắp tiến vào chinh phục Đất Hứa. Ba bài giảng đó trở thành Phục Truyền Luật Lệ Ký ngày nay. Bài giảng thứ hai, dài nhất, gồm hai phần. Do đó có thể chia sách ra làm bốn phần: bài giảng thứ nhất, hai phần của bài giảng thứ hai và bài giảng thứ ba. Chìa khóa để hiểu bốn phần này là nắm vững chủ đề kép lồng trong toàn bộ bốn phần này. Chủ đề kép này là: Kính mến Đức Chúa Trời và vâng theo mạng lệnh của Ngài .
    I. Nghe lời của Đức Chúa Trời (1-4).
    Trong bài giảng thứ nhất, ông Môi-se ôn lại lịch sử của dân I-xơ-ra-ên. Ông nhắc lại tội lỗi mà họ đã phạm trong quá khứ rồi khuyến cáo họ đừng tái phạm. Trong phần mở đầu của bài giảng thứ nhất, ông bảo họ rằng gốc rễ của vấn đề nằm ở chỗ họ nghe mạng lịnh của Đức Chúa Trời (
    1:43). Đến cuối bài giảng ông khuyên họ lắng nghe luật pháp của Đức Chúa Trời (4:1) .
    Nhóm từ chính của sách này là ‘hết lòng, hết linh hồn’, được dùng đến chín lần trong sách. Còn câu chìa khóa của bài giảng thứ nhất (tức là phần thứ nhất) là “Tìm cầu Giê-hô-va Đức Chúa Trời… hết lòng tìm cầu …” (
    4:29). Tiếp theo chúng ta sẽ thấy hết năm câu chìa khóa (câu chìa khóa của mỗi bài giảng và câu chìa khóa của toàn bộ sách) đều có cụm từ ‘hết lòng hết ý’.
    II. Hiểu lời của Đức Chúa Trời ( 5-11)
    Câu chìa khóa của phần hai là:“hết lòng hết ý kính mến và phục sự Giê-hô-va...” (
    10:12,11:13). Trong khi phần thứ nhất ôn lại lịch sử dân I-xơ-ra-ên, phần thứ hai hướng về Đức Chúa Trời của I-xơ-ra-ên. Trong phần thứ nhất ông Môi-se bảo họ lắng nghe lời của Đức Chúa Trời. Còn trong phần thứ hai ông bảo họ hãy hiểu Ngài (9:6).
    Phần này xác định lại Mười Điều Răn. Vì vậy mà sách có tên là Phục Truyền Luật Lệ Ký, nghĩa là ban hành ‘luật pháp lần thứ hai’. Thật ra trong sách này ông Môi-se không ban hành một bộ luật nào khác. Trái lại ông giảng giải luật pháp (được chép trong Xuất Ê-díp-tô Ký, Lê Vi Ký, Dân-số Ký) mà ông đã truyền dạy cho thế hệ thứ nhất, là những người rời khỏi xứ Ai Cập khi xưa.
    III. Nắm vững lời của Đức Chúa Trời (12-26)
    Có thể xem phần thứ ba là phần ‘khai trừ sự gian ác’ vì cụm từ này (‘diệt kẻ hung ác’, ‘cất kẻ hung ác’, ‘cất sự ác’, ‘trừ sự ác’) chỉ được dùng trong phần này (9 lần). Một cụm từ đặc thù khác của phần này nữa là “nghe và sợ”. Ông Môi-se dùng cụm từ này để kết thúc những trường hợp điển hình cho thấy khi Đức Chúa Trời thi hành kỷ luật cách kinh hoàng trên dân của Ngài khi họ không vâng phục. Như vậy, phần này chứa những lời cảnh báo về sự không vâng lời Đức Chúa Trời. Trong khi phần một và phần hai nhìn lại quá khứ (ôn lại lịch sư) và nhìn lên thì phần này kêu gọi nhìn ra .
    Câu chìa khóa của phần thứ ba nằm trong lời thách thức ở phần kết (ba phần kia cũng áp dụng cùng một kiểu như vậy). Câu chìa khóa là “hết lòng hết ý mà làm theo (luật pháp)”, “và ngươi sẽ gìn giữ hết các điều răn Ngài” (
    26:16, 18)
    IV. Vâng theo lời của Đức Chúa Trời (27-34)
    Trong khi phần thứ nhất tập trung nói về công tác của Đức Chúa Trời giao phó còn phần thứ hai và thứ ba tập trung nói về mạng lệnh của Đức Chúa Trời , thì phần thứ tư chắc chắn phải tập trung nói về giao ước của Đức Chúa Trời. Bài giảng và những lời chỉ dẫn cuối cùng này khuyên giục dân hãy nhìn tới cuộc sống đầy phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho họ trong tương lai nếu họ chịu vâng lời Đức Giê-hô-va. Rồi ông căn dặn họ là khi vừa vào đến Đất Hứa họ phải lo tái lập giao ước với Đức Chúa Trời.
    Câu chìa khóa của phần cuối này là “hết lòng hết ý vâng theo tiếng phán của Ngài” (
    30:2). Bốn câu chìa khóa của bốn phần dạy chúng ta:
    1) Lắng nghe Đức Chúa Trời.
    2) Phục vụ Ngài.
    3) Vâng theo luật pháp của Ngài.
    4) Vâng theo tiếng phán của Ngài.
    Tổng hợp những ý này lại chúng ta có câu chìa khóa cho toàn bộ Phục Truyền: “Ngươi phải hết lòng, hết ý, kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (
    6:5). Phần ba (13:3) lẫn phần bốn (30:6,16) đều nhắc lại mạng lịnh này. Vâng lời Đức Chúa Trời vì yêu thương kính mến Ngài mới là vâng lời thật sự.
    Trọng tâm
    Sự vâng lời thật sự đặt cơ sở trên lòng yêu thương kính mến chứ không ở trên luật pháp.
    Thực hành
    Bốn phần trong sách này đại để tương ứng với bốn loại đất trong ẩn dụ của Chúa Giê-xu (
    Mat Mt 13:3-9,18-23). Không phải chỉ lắng nghe lời của Đức Chúa Trời là đủ. Chúng ta phải hiểu, phải thấu triệt và phải sống thể hiện lời của Ngài nữa. Như thế mới là vâng lời thật.
    Trong cuộc sống của Chúa Giê-xu có một trường hợp điển hình minh họa rất sát về vấn đề này. Khi Sa-tan cám dỗ Ngài tại sa mạc, cả ba lần Ngài đều trưng dân Kinh Thánh trích từ phần thứ hai của Phục Truyền (
    8:3 6:166:13). Phần thứ hai của Phục Truyền là đầu mối cho phép hiểu thấu đáo luật pháp của Đức Chúa Trời. Sự vâng lời thật là hình thức bày tỏ lòng yêu thương kính mến Đức Chúa Trời của chúng ta. Khi trong lòng chúng ta yêu thương kính mến Đức Chúa Trời và chúng ta bày tỏ ra ngoài bằng cách vâng theo lời của Ngài, đó là sự vâng lời thật. Khi ở tại sa mạc Chúa Giê-xu đã bày tỏ tinh thần vâng lời thật sự này. Không một người nào nhìn thấy Ngài khi Ngài bị cám dỗ. Chúa Giê-xu bị cám dỗ trong một hoàn cảnh như vậy bao hàm ý gì? Sự kiện cám dỗ đó là một cuộc thử nghiệm xem Ngài có vâng theo lời của Đức Chúa Trời hay không? Dù chung quanh chẳng có ai hiện diện và dòm ngó cả. Nếu chỉ vâng theo lời của Đức Chúa Trời trong những lúc có người dòm ngó và nhìn thấy thì đó là vâng lời vì luật pháp chứ không phải phát xuất từ lòng yêu thương kính mến.
    Tiếp theo sau Ma-thi-ơ 4 và chuyện Chúa Giê-xu bị cám dỗ tại sa mạc là gì? Dĩ nhiên là Bài Giảng Trên Núi (
    Mat Mt 5:1-7:29). Thế sứ điệp của Chúa Giê-xu trong Bài Giảng Trên Núi ra sao? Ngài giảng dạy và giãi bày luật pháp chính xác và thấu đáo! Kỳ diệu quá phải không? Cuộc thử nghiệm mà Chúa Giê-xu đã nếm trải trong Mat Mt 4:1-25 làm cho Ngài có đủ điều kiện để giải nghĩa chính xác và áp dụng đúng đắn luật pháp trong bài giảng ở Mat Mt 5:1-7:29!
    Vâng lời Đức Chúa Trời vì luật pháp là làm giống như người Pha-ri-si. Vâng lời Đức Chúa Trời vì lòng yêu thương kính mến Đức Chúa Trời là làm giống như Chúa Giê-xu.
    Phải chăng chúng ta nghe nhiều mà không ứng dụng lời của Đức Chúa Trời vào đời sống của chúng ta? Hoặc là chúng ta nghe, hiểu, hiểu kỹ và thực hành theo lời của Đức Chúa Trời? Nếu lúc nào chúng ta cũng tìm đủ lý do để khỏi vâng theo mạng lịnh của Đức Chúa Trời thì chúng ta giống như những người Pha-ri-si, là những người không thật sự hiểu luật pháp của Đức Chúa Trời chi cả. Khi thật sự hiểu mạng lịnh của Đức Chúa Trời thì tất cả chúng ta đều trở nên những người đi thêm dặm thứ hai trong vấn đề vâng lời Ngài, tức là chúng ta sẵn sàng làm vượt yêu cầu. Đức Chúa Trời truyền cho bạn mạng lịnh gì? Phải chăng là mạng lịnh hãy yêu thương người láng giềng khó ưa? Phải chăng là hãy vận dụng những ân tứ thuộc linh mà Ngài đã ban cho bạn? Phải chăng là hãy có lòng hiếu khách? Hoặc hãy kiềm chế miệng lưỡi lại? Hoặc hãy triệt để thật thà, liêm khiết trong mọi việc? Hoặc hãy tha thứ cho người lường gạt và gây thiệt hại cho bạn? Hoặc hãy thờ lạy một mình Đức Chúa Trời mà thôi, ngoài Ngài ra không thờ lạy người nào hoặc thần nào hoặc một thứ nào khác? Rồi khi chúng ta làm theo mạng lịnh của Chúa, phải chăng chỉ vì thiên hạ đang nhìn chúng ta? Khi không có người nào nhìn thấy (ngoại trừ Đức Chúa Trời) chúng ta có vâng lời Ngài không?
    Chúng ta vâng lời vì chúng ta chủ trương làm theo luật pháp hoặc vì chúng ta yêu thương kính mến Đức Chúa Trời?
    PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ
    Ý chính: Ôn lại (rồi) tái lập.
    Chủ đề chính: Đức Chúa Trời nhân từ, nhân ái.
    Cụm từ chính: Hết lòng, hết ý, kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời. (9 lần)
    Câu chính: “Hỡi I-xơ-ra-ên hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai. Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.” (
    PhuDnl 6:4-5)
    Bài học chính: Sự vâng lời thật sự căn cứ trên sự yêu thương chớ không phải trên chủ trương theo luật pháp.


    GIÔ-SUÊ
    Tác giả: không rõ (Giô-suê?)
    Thời kỳ hình thành sách: Sau cuộc chinh phục Đất Hứa
    Mục đích: Để dạy dân I-xơ-ra-ên rằng an ninh của họ tùy thuộc vào mức độ đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời.
    Đối tượng: Những người cần biết bí quyết đắc thắng trong cuộc chiến đấu thuộc linh.
    Tản mạn
    Người phụ nữ đã qua đời vì chứng loét bao tử và lủng bao tử. Bác sĩ ngỡ ngàng kinh ngạc. Ông có kê toa cho bà thuốc kháng a-xít (nhai nát trước khi uống nước). Những viên thuốc này nhằm bão hòa chất a-xít trong bao tử. Vì bà bị thấp khớp nên ông phải trị bằng một thứ thuốc khác. Lâu nay bà vẫn quả quyết với bác sĩ rằng bà dùng đầy đủ mọi thứ thuốc mà ông viết trong toa. Thế mà nay bà chết vì loét bao tử mà loét bao tử là do dùng thuốc trị phong thấp. Vì sao những viên kháng a-xít kia lại không bão hòa chất a-xít trong thuốc trị phong thấp?
    Cuộc giải phẫu pháp y đã trả lời cho bác sĩ. Thay vì nhai thuốc kháng a-xít trước khi uống nước, bà uống nguyên viên luôn. Bà chết vì không hoàn toàn làm đúng theo lời chỉ dẫn.
    Sách Giô-suê cho chúng ta một số những trường hợp điển hình chứng minh rằng thành công hoặc thất bại thường tùy thuộc vào mức độ chúng ta có triệt để tuân thủ những chỉ dạy của Đức Chúa Trời không.
    Thâm nhập
    Có thể chia sách Giô-suê làm hai phần bằng nhau. Mười hai chương đầu mô tả những diễn biến trong thời gian bảy năm kể từ khi ông Môi-se chuyển quyền lãnh đạo cho ông Giô-suê. Mười hai chương cuối mô tả những chuyện xảy ra (thời gian không rõ bao lâu) trong thời gian ông Giô-suê đã cao tuổi (
    13:1). Phần thứ nhất lại có thể chia làm hai phần nữa, và phần thứ hai của sách cũng vậy. Rốt cuộc, sách này gồm 4 phần.
    I. Triệt để thực thi giao ước (1-5)
    Phần thứ nhất ghi chuyện dân I-xơ-ra-ên chuẩn bị đầy đủ mọi phương diện cho chuyến đi qua sông Giô-đanh. Câu chìa khóa của toàn bộ sách nằm trong phần này. Đức Chúa Trời tỏ cho ông Giô-suê biết rằng ‘bí quyết’ thắng lợi là làm mọi việc đúng theo luật pháp (1:8). Thật vậy, trong phần đầu, dân I-xơ-ra-ên có vâng lời Đức Chúa Trời. Họ bày tỏ một thái độ quyết tâm triệt để thực thi giao ước giữa họ với Đức Chúa Trời. Họ chịu lễ cắt bì vì đây là một dấu chứng của giao ước (
    5:2-9). Họ cũng kỷ niệm lễ Vượt Qua (5:1-11) và dùng đá không qua đẽo gọt mà lập một bàn thờ kỷ niệm việc Đức Chúa Trời chận nước sông Giô-đanh cho họ đi bộ ngang qua sông (4:20-24).
    Chuyện bà Ra-háp giấu hai thám tử cũng nằm trong phần này (
    2:1-22). Câu chuyện này minh họa việc Đức Chúa Trời ban phước cho mọi người đặt trọn niềm tin nơi Ngài. Phần này kết thúc với chuyện ‘Đại Tướng’ của Đức Chúa Trời vạn quân hiển hiện với ông Giô-suê (5:13-15). Trước khi bắt đầu cuộc chiến, ông Giô-suê phải hoàn toàn qui phục Đức Chúa Trời.
    II. Triệt để thực hiện công tác (6-12)
    Chuyện tường thành Giê-ri-cô đổ ập xuống mở màn cho 3 đợt hành quân chinh phục xứ. Nhưng tiếp liền sau đó là câu chuyện buồn thảm về sự thất bại vì tội lỗi của một người: ông A-can. Rõ ràng đây là bài học về sự vâng lời triệt để là điều kiện thiết yếu. Sau đó dân I-xơ-ra-ên không còn thua trận nữa vì họ đã học thấu đáo bài học đó. Ông Giô-suê hoàn tất công tác chinh phục tất cả những thành lũy chính trong Đất Hứa, còn tại những khu dân cư không có tường thành bảo vệ thì ông để lại cho từng chi phái tự xoay sở về sau. Khi chiến dịch quân sự ở miền trung, miền bắc và miền nam kết thúc, sách ghi rằng: “Giô-suê làm theo phàm điều gì Đức Giê-hô-va phán dặn Môi-se, Giô-suê không bỏ sót gì hết.” (
    11:15)
    III. Triệt để tin cậy (13-19)
    Phần thứ ba ghi lại đầy đủ chi tiết về ba cuộc phân chia đất đai và định cư dân trong xứ. Hai chi phái rưỡi đầu tiên định cư bên vùng đất phía đông sông Giô-đanh. Về sau người ta gọi vùng này là vùng bên kia sông Giô-đanh hoặc đơn giản là Jordan ngày nay. Hai chi phái rưỡi khác nhận vùng đất nay là vùng Bờ Tây (cuộc tranh chấp hiện nay xoay quanh vấn đề ai có quyền sở hữu vùng đất này - người Do Thái hoặc người Palestine?) Chót hết, vùng đất còn lại được chia cho bảy chi phái.
    Trong cuộc phân chia đất đai, ông Ca-lép được đặc biệt đề cập đến. Vì sao? Vì ông “trung thành vâng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của I-xơ-ra-ên” (
    14:14). Rõ ràng là đức tin của ông Ca-lép cũng đã nảy nở nơi Ạc-sa, con gái của ông (15:17-19). Bà Ạc-sa là vợ của ông Ốt-ni-ên, là người tin kính Chúa và cũng là vị quan xét đầu tiên (Cac Tl 3:9-10). Dường như chính ông Giô-suê cũng học được tính khiêm nhu của ông Môi-se (Dan Ds Dan12:3). Phần sách thứ nhất ghi ông Ca-lép được lãnh phần đất đầu tiên, còn ông Giô-suê là người nhận cuối cùng (19:49-50). Như vậy ông Giô-suê hoàn tất công tác mà Đức Chúa Trời giao cho ông.
    IV. Triệt để tôn thờ (20-24)
    Dầu vậy, ông Giô-suê còn phải làm một việc. Tương tự như ông Môi-se đã làm khi xưa, ông Giô-suê giã từ dân sự qua một bài giảng. Ông khuyến giục họ trọn lòng tôn thờ kính sợ Đức Chúa Trời. Ba lần ông kêu gọi họ. Ba lần họ tuyên hứa vâng phục Đức Chúa Trời. Dầu vậy họ chưa nghe kỹ lời ông nói. Ông không chỉ kêu gọi họ kính sợ Đức Chúa Trời, mà ông còn kêu gọi họ loại bỏ hình tượng (
    24:14,20,23). Cả ba lần họ hứa nguyện đi theo Đức Chúa Trời, nhưng đối với vấn đề trừ bỏ hình tượng thì họ không hứa gì cả. Họ muốn đi theo Đức Chúa Trời, nhưng không triệt để. Xem ra ông Giô-suê nhận thấy tinh thần này. Chính vì vậy mà ông kêu gọi họ đến ba lần chớ không phải một lần. Với giọng khá bi quan (và châm chọc) ông kêu gọi họ chọn đối tượng họ sẽ thờ phượng. Chúng ta thường hiểu sai lệch lời kêu gọi này (24:15). Ông Giô-suê bảo họ chọn hoặc loạt hình tượng mà họ đã bỏ lại tại Ai Cập, hoặc loạt hình tượng trước mắt họ tại Ca-na-an, chớ ông không kêu gọi họ chọn hoặc Đức Chúa Trời hoặc hình tượng. Vì trong thâm tâm họ dự định chỉ vâng phục Đức Chúa Trời đến một mức độ nào đó thôi, cho nên chẳng bao lâu sau đó họ rơi vào một thế kẹt.
    Trọng tâm
    Không triệt để vâng phục Đức Chúa Trời là bất vâng phục Đức Chúa Trời.
    Thực hành
    Phải chăng Chúa Giê-xu phải là Chúa của chúng ta trước rồi Ngài mới là Đấng Cứu Chuộc chúng ta? Sách Giô-suê không trả lời rành mạch câu hỏi này. Nhưng sách cho thấy rõ rằng vâng phục triệt để là một mạng lịnh phải tuân hành chớ không phải một câu nói màu mè bâng quơ. Nếu không triệt để vâng phục, chúng ta sẽ lâm vào cảnh rắc rối nghiêm trọng. Thật là dại dột nếu chúng ta vâng phục nửa vời dù vẫn được cứu.
    Đừng tự lừa dối mình. Chắc bạn cho rằng mình có vâng lời Đức Chúa Trời. Nhưng bạn có vâng lời cách triệt để chưa? Những khoản chúng ta vâng lời không thể bù trừ cho những khoản chúng ta chưa vâng lời. Chúng ta có ăn gian chủ của chúng ta trong những điều nhỏ nhặt nhất? Chúng ta có lừa và dối bạn đời của mình trong những điều nhỏ nhặt nhất? Hoặc biết đâu bạn đang ăn gian với chính Đức Chúa Trời trong những điều nhỏ nhặt nhất?
    Không thể viện cớ chúng ta đang vâng lời Đức Chúa Trời mà dính dấp vào những chuyện gian dối nhỏ nhặt. Có lẽ chúng ta đang xây dựng một nhà thờ nguy nga đồ sộ cho Đức Chúa Trời. Nhưng trong khi làm việc đó chúng ta có tuân thủ mọi luật lệ trong ngành xây dựng không? Có thể chúng ta đang làm nhạc trưởng trong hội thánh, nhưng chúng ta đem bản nhạc của người ta đi sao chụp thay vì phải mua. Có thể chúng ta đang chuyên cần lo truyền bá đạo của Chúa, nhưng chúng ta có hoàn toàn chân thật khi làm chứng cho người khác không?
    Thời buổi này hoàn toàn sống theo lời của Đức Chúa Trời không phải là chuyện vẻ vang gì, trước kia cũng vậy mà sau này cũng vậy thôi. Thành phần không muốn hoàn toàn sống theo lời của Đức Chúa Trời sẽ lên án là bạn là người theo luật pháp chủ nghĩa, vị luật pháp. Sự thể như thế thì sao đây? Có lẽ nhiều người không muốn sống theo lời của Đức Chúa Trời nhưng chúng ta hãy nói như ông Giô-suê: “Nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va” (
    24:15c).
    GIÔ-SUÊ
    Ý chính: Giao chiến rồi ổn định
    Chủ đề chính: Quyền hành của Chúa
    Cụm từ chính: ‘trong sách luật pháp.’ (12 lần)
    Câu chính: “Quyển sách luật pháp này chớ xa miệng ngươi, hãy suy gẫm ngày và đêm, hầu cho cẩn thận làm theo mọi điều đã chép ở trong; vì như vậy ngươi mới được may mắn trong con đường mình, và mới được phước.” (
    Gios Gs 1:8)
    Bài học chính: Không triệt để vâng phục Đức Chúa Trời là bất vâng phục Ngài.


    CÁC QUAN XÉT
    Tác giả: Kh ông r õ (Sa-mu- ên?)
    Thời kỳ hình thành sách: Trong thời kỳ vương quốc còn hiệp nhất
    Mục đích: Để chứng minh cho dân sự thấy rõ rằng họ cần có sự lãnh đạo của Đức chúa trời.
    Đối tượng: Những người sống trong một xã hội bị băng hoại về mặt đạo đức.
    Tản mạn
    Một ông kia, người trong một nước ở bán đảo Scandinavie, được công ty của mình phái đi làm việc ở xứ nhiệt đới. Lúc rãnh rỗi ông giải trí bằng môn nhiếp ảnh, thế nên ông đem theo máy chụp hình hiệu Leica cùng với một lô các ống kính loại đắt tiền. Ông biết là máy ảnh không chịu ẩm nên ông gói kỹ các món phụ tùng vào ngăn kéo mát mẻ kín đáo nhất trong tủ, hoàn toàn không có ánh sáng mặt trời rọi vào.
    Công việc làm ông bận rộn lâu ngày nên ông không có cơ hội sờ đến máy ảnh. Mấy tháng sau khi có dịp mở máy ảnh ra, ông rất đỗi kinh hoàng khi phát hiện ra rằng có những sợi li ti như tơ nhện bên trong các ống kính. Ông đem máy ảnh ra tiệm và tìm hiểu xem vì sao lại xảy ra tình trạng tệ hại như thế. Thoạt đầu chủ tiệm nhiếp ảnh bông đùa rằng tại nhện giăng lưới trong ngăn kéo. Nhưng thật ra, những sợi tơ bên trong ống kính là những sợi nấm. Vì không khí nhiệt đới có độ ẩm cao nên bên trong lăng kính bị mốc. Còn cần một yếu tố nữa. Có lẽ bạn cũng đoán ra rồi. Đó là bóng tối! Các loại nấm, meo mốc chỉ có thể phát triển mạnh trong môi trường không có ánh sáng.
    Cũng vậy, tội lỗi phát triển trong bóng tối. Sách Các Quan Xét ghi lại lịch sử của dân I-xơ-ra-ên trong thời kỳ tăm tối. Trong thời đó, người ta thử sống tránh xa ánh sáng của sự hiện diện của Đức Chúa Trời. “Ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải…” (
    21:25) là một câu nhận định rất chính xác về thời kỳ đó. Do đó không có gì đáng ngạc nhiên khi đọc về những tội lỗi kinh khủng mà dân I-xơ-ra-ên đã phạm trong thời kỳ đó.
    Thâm nhập
    Chủ đề của sách này là ‘tội lỗi’ . Ai ai cũng có thể thấy khi lật từng trang sách này. Dầu vậy, sách không mở đầu bằng những cảnh tượng tội lỗi đâu. Trái lại, buổi đầu họ vẫn tuân thủ mạng lịnh của Đức Chúa Trời.
    I. Căn nguyên của tội lỗi (1-2)
    Sau khi ông Giô-suê qua đời, các chi phái I-xơ-ra-ên tiếp tục chiến thắng người Ca-na-an nơi trận tiền, bách chiến bách thắng (
    1:1-18). Rồi đến một thời điểm tình hình xoay trở trái nghịch. Binh sĩ trong chi phái Giu-đa không thể đánh đuổi cư dân ở đồng bằng được vì họ có chiến xa bằng sắt (1:19). Sáu chi phái khác cũng không thể đánh đuổi người Ca-na-an còn lại trên phần đất của mình do ông Giô-suê chừa lại cho họ (1:21-36).
    Nhưng vì sao Đức Chúa Trời cho phép một số người Ca-na-an còn tồn tại? Câu nhận định của tác giả cho thấy rõ: “Đức Chúa Trời dùng người Ca-na-an để thử nghiệm người xem I-xơ-ra-ên có tiếp tục đi trong đường lối Ngài không” (
    2:22). Họ phải chọn giữa điều tốt hoặc điều xấu, giữa vâng phục hoặc không vâng phục. Họ không đánh đuổi người Ca-na-an được không phải vì người Ca-na-an có chiến xa bằng sắt mà vì họ không vâng phục Đức Chúa Trời. Do đó, tiêu đề của phần thứ nhất là căn nguyên của tội lỗi .
    II. Chu trình của tội lỗi (3-16)
    Phần thứ hai ghi lại bảy chu trình của tội lỗi đã diễn ra trong thời các quan xét dài khoảng 400 năm. Mỗi chu trình mở đầu với câu chìa khóa (và là câu đánh dấu phân đoạn) trong phần này: “Dân I-xơ-ra-ên lại làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va.” (Thí dụ xem 3:12). Trong phần trước cũng có chép về một chu trình tội lỗi (
    2:10-19). Họ xây bo Đức Chúa Trời và cúng thờ thần của dân Ca-na-an. Do đó cơn giận của Đức Chúa Trời nổi phừng cùng họ và phó họ cho quân thù đàn áp bức hại. Khi không chịu đựng nổi nữa, khi đã học xong bài học, họ tỏ lòng ăn năn hối lỗi quay về với Đức Chúa Trời. Thế là Đức Chúa Trời dấy lên các vị quan xét để giải cứu họ. Nhưng chẳng bao lâu họ lại chạy theo các thần Ca-na-an. Phần thứ hai ghi đầy đủ chi tiết của bảy chu trình đó lẫn mười ba vị quan xét của dân I-xơ-ra-ên (nếu cũng kể bà Đê-bô-ra và ông Ba-rác là quan xét.)
    Đa số chúng ta đều biết một trong những nhiệm vụ của quan xét là giải phóng dân I-xơ-ra-ên khỏi quân thù đang áp bức họ. Trong khi thi hành công tác đó họ dạy dân I-xơ-ra-ên làm thế nào để vâng lời Đức Chúa Trời và làm điều thiện (
    2:22). Nhưng chúng ta cũng phải nhớ thêm rằng quan xét có nhiệm vụ khác nữa. Đó là duy trì công lý và xử lý các vụ tranh chấp (4:5). Không phải tất cả các vị quan xét đều trung tín thi hành công tác này. Nhưng ít ra họ cũng phải phân xử giữa phải và trái. Đây là vấn đề nan giải đối với dân sự, họ không biết phân biệt giữa điều phải và điều trái.
    III. Cụ thể về tội lỗi
    Phần thứ ba nêu ra rõ ràng và đầy đủ chi tiết. Ai nấy làm theo ý mình “lấy làm phải” (
    17:6; 21:25). Không có tiêu chuẩn khách quan để xác định phải trái. Thật ra có một tiêu chuẩn tức là lời của Đức Chúa Trời, nhưng xem ra chẳng ai lưu tâm đến. Hai trường hợp cụ thể phạm tội cực kỳ đồi bại và táo tợn minh họa cho tình trạng suy thoái của dân sự. Tội lỗi dẫn đến cuộc nội chiến tàn khốc giữa các chi phái. Mỉa mai một điều là trong khi họ không thể diệt trừ người Ca-na-an, thì họ lại thành công trong nỗ lực hình phạt chi phái Bên-gia-min, đến nỗi suýt tận diệt toàn bộ chi phái này. Họ hành động như thế vì cớ muốn “loại trừ sự gian ác khỏi dân I-xơ-ra-ên” (20:13)!
    Họ có nhận biết ai là kẻ thù của mình không? Họ có nhận thức được thế nào là phải, thế nào là trái không? Dường như không. Trong khi họ làm điều “theo ý mình lấy làm phải” thì lại là “làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va” . Lưu ý là họ không mảy may nhận thấy việc họ đang đeo đuổi là sai. Thời nay cũng vậy: không mấy ai làm những chuyện tội lỗi lại ngờ rằng họ thực sự đang gây tội ác và là những con người đáng tội. Họ có khuynh hướng đo mức độ công nghĩa của mình so với chuẩn mực do người khác đề ra chứ không phải do Đức Chúa Trời đề ra. Rồi sau đó họ lại thắc mắc vì sao mọi chuyện tan hoang rã rời và vì sao Đức Chúa Trời để cho những khó khăn trục trặc như thế tràn vào cuộc sống của họ. Họ chẳng bao giờ nhận thấy có ‘người Ca-na-an’ hiện diện trong đời sống của họ, chớ nói chi đến chuyện họ nhận biết rằng Đức Chúa Trời dùng những ‘người Ca-na-an’ đó nhằm thử nghiệm họ, xem họ vâng phục Ngài đến mức nào (
    2:22).
    Trọng tâm
    Chúng ta cần xác định rõ ràng về tội lỗi, một nhóm người phát hiện ra tội lỗi, một Đấng Cứu Thế giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi.
    Thực hành
    Đa số chúng ta là những con người thuộc về bóng tối. Chúng ta không thích, không muốn chịu trách nhiệm. Chúng ta tránh né những người truy cứu trách nhiệm nơi chúng ta. Như ông Ghê-đê-ôn từng trốn tránh người Ma-đi-an (
    6:11), chúng ta cũng thường tránh những người xét nét, xử đoán chúng ta như vậy, vì họ sẽ chiếu rọi ánh sáng vào đời sống của chúng ta, rồi bao nhiêu đồi bại, suy thoái sẽ lộ rõ thôi. Chúng ta chỉ muốn tự mình ấn định tiêu chuẩn trong trắng thánh sạch và hành động theo quan điểm của mình về điều phải điều trái. Nào có ai cần đến quan xét để chỉ rõ cho chúng ta thấy những điều sai quấy trong đời sống đâu? Họ không có khả năng nhận biết là nguyên cả cây xà đang vướng trong mắt họ thì làm sao họ có thể gỡ cái dằm trong mắt của chúng ta được?
    Dầu vậy, chúng ta cần mục sư và các lãnh đạo trong hội thánh nhiều hơn là họ cần chúng ta. Chúng ta cần họ lôi tội lỗi của chúng ta ra ánh sáng cũng như cần họ giúp chúng ta tháo gỡ bao nhiêu là nan đề và giải toả cho chúng ta những bức vách chèn ép. Chúng ta cần tìm các quan xét trong cuộc sống của chúng ta, những người mà chúng ta có thể khai trình, là những người có thể nhắc nhở chúng ta về quan điểm của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi trong đời sống của chúng ta. Bất cứ ai cũng có thể làm quan xét cho chúng ta, có thể là tổ trưởng tổ tế bào, có thể là một người bạn hoặc ngay chính người phối ngẫu. Chúng ta cần họ khi chúng ta gặp rắc rối. Nhưng chúng ta cũng cần họ khi chưa gặp rắc rối.
    Vị quan xét cao quý nhất dĩ nhiên là Đức Thánh Linh. Dầu vậy có lúc chúng ta dám bóp nghẹt sự thôi thúc của Ngài. Tôi nhận thấy rằng cầu nguyện với Ngài nhiều lần trong ngày thì y như là giơ cặp kính ra trước ánh sáng. Chắc hẳn những người không cần đeo kính không thể nào ngờ rằng kính mắt lại dơ bẩn đến thế. Lý do là khi đeo kính người ta không còn nhìn thấy tình trạng dơ bẩn của kính nữa. Phải gỡ kính xuống và giơ kính ra trước ánh sáng. Hằng ngày nhiều lần chúng ta cần cầu xin Thánh Linh: “tra xét con và biết lòng con, xin xem thử con có lối ác nào chăng?” (Thi
    139:23-24). Khi chúng ta quên cầu nguyện như vậy, chúng ta phó mặc mình cho những khó khăn nghiêm trọng.
    Nhưng mỗi người đều cần chịu trách nhiệm với một người khác hoặc với một nhóm người. Ngay cả mục sư truyền đạo cũng cần có ‘quan xét’ trong đời sống của mình. Các doanh nhân khởi sự phát tài cũng cần chịu trách nhiệm với một người khác. Nhiều doanh nhân Cơ Đốc sinh nguội lạnh chỉ vì không chịu trách nhiệm với ai cả. Vợ chồng phải chịu trách nhiệm đối với nhau đã đành mà còn cần chịu trách nhiệm đối với người khác nữa, tốt nhất là đối với một cặp vợ chồng lớn tuổi hơn. Thanh thiếu niên phải chịu trách nhiệm đối với cha mẹ mình dù ghét chuyện đó đến đâu chăng nữa. Còn mỗi công nhân, nhân viên, người làm công đều phải chịu trách nhiệm với cấp trên của mình. Nên liệt kê ra giấy một số quan điểm của bạn căn cứ trên lời của Đức Chúa Trời đối với cuộc sống lứa đôi của mình, đối với đời sống thuộc linh của mình, đối với việc mưu sinh hiện tại hoặc ngành bạn đang kinh doanh, hoặc tổ ấm mà bạn dự định xây dựng. Tìm chọn một người dày dạn kinh nghiệm để nhờ làm cố vấn rồi trao cho người đó một bản ghi những quan điểm và những lời hứa nguyện của bạn.
    Thật ra chúng ta cần đến vài ‘quan xét’ cho đời sống của mình, có lẽ mỗi lĩnh vực cần một người. Tuy nhiên, bạn và tôi, chúng ta đều biết rõ rằng mở rộng cánh cửa cuộc đời cho người ta vào xem xét đời sống riêng tư lẫn đời sống thuộc linh là chuyện nhột nhạt vô cùng. Khi tiếp chuyện với mục sư hoặc lãnh đạo hội thánh, chúng ta mong họ cứ hàn huyên về chuyện ‘thời sự’ và đừng có dò la hỏi về đời sống riêng tư và thuộc linh của chúng ta. Thật vậy, có người cảm thấy lúng túng ngượng nghịu khi phải tiếp chuyện với lãnh đạo của hội thánh đến nỗi họ không muốn lãnh đạo hội thánh biết danh tánh của họ. Chúng ta bỏ chỗ nhóm cũ đến nhóm ở những hội thánh đông đúc để được chìm trong đám đông. Đáng buồn là thường có những người nhất định chọn ngồi ở cuối phòng nhóm, đến trễ về sớm, không chịu tham gia một nhóm tế bào nào hoặc một nhóm nhỏ nào khác. Sống và sinh hoạt ngoài rìa như vậy là rất nguy hiểm cho đời sống thuộc linh của mình vì không muốn ai làm quan xét trên đời sống của mình cả. Họ không bao giờ muốn làm một phần tử trong tổ chức hội thánh nên họ chẳng bao giờ thật sự thuộc về một hội thánh địa phương nào cả.
    Bạn có một vài vị ‘quan xét’ tin kính Chúa trong đời sống của mình không? Nếu không thì chắc chắn là chẳng bao lâu tội lỗi sẽ chế ngự bạn. Ấy thế mà khi sự việc xảy đến bạn vẫn không nhận biết. Tất cả chúng ta đều cần có định nghĩa rõ ràng về tội lỗi, có vài người giỏi ‘phát hiện’ tội lỗi và một Đấng Cứu Thế vĩ đại giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi.
    CÁC QUAN XÉT
    Ý chính: Chu trình (của) tội lỗi
    Chủ đề chính: Tội lỗi
    Cụm từ chính: Dân I-xơ-ra-ên (lại) làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va (8 lần)
    Câu chính: “Đương lúc đó, không có vua trong I-xơ-ra-ên; ai nấy làm theo ý mình lấy làm phải.” (
    Cac Tl 21:25)
    Bài học chính: Chúng ta cần xác định rõ tội lỗi là gì, cần vài người giỏi phát hiện tội lỗi, và cần một Đấng Cứu Thế vĩ đại giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi.


    RU-TƠ
    Tác giả: Kh ông r õ (ông Sa-mu- ên?)
    Thời kỳ h ình th ành s ách: trong thời gian vương quốc còn thống nhất.
    Mục đích: Để phổ hệ ông Đa-vít với các tổ tiên của ông là những người trung thành với giao ước.
    Đối tượng: Những người cần thấy một nhân vật sống làm gương mẫu về lòng yêu mến và trung thành với giao ước của Đức Chúa Trời.
    Tản mạn
    Người Trung Hoa yêu thích nhất hai loại hoa: hoa mận và hoa sen. Hoa mận không nở vào mùa xuân mà vào mùa đông, không nở khi môi trường ấm áp êm ả mà nở trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Hoa sen không được vun trồng chăm chút trong vườn hoa diễm lệ nhưng mọc và nở ở ao hồ và ven sông bùn lầy.
    Hai loại hoa này không phải là hoa xinh đẹp nhất trong các loại hoa. Có nhiều loại hoa đẹp đẽ hơn, nhưng sao người Trung Hoa lại yêu thích hai loại hoa này nhất? Vì lý do nào? Vì hoa có thể nở đẹp đẽ dù hoàn cảnh bất lợi, khắc nghiệt. Vẻ đẹp phát sinh từ những hoàn cảnh như thế thật là đáng cho người ta trân trọng ngưỡng mộ hơn.
    Hai loại hoa này minh họa chính xác về cô Ru-tơ - cô sống trong thời kỳ hắc ám của các quan xét, là thời kỳ băng hoại về mặt đạo đức lẫn thuộc linh. Dầu vậy, từ bối cảnh đen tối đó xuất phát một phụ nữ diễm lệ với sức mạnh đạo đức lớn lao. Trong khi ai nấy đều bất trung vô tín, cô Ru-tơ chứng tỏ một lòng trung thành với người khác và với Đức Chúa Trời. Vẻ đẹp nơi cô càng tăng bội phần vì cô sống trong một thời kỳ đạo đức suy đồi và xã hội băng hoại.
    Thâm nhập
    Chủ đề chính của sách này là ‘phước hạnh’ , cùng một chủ đề với sách Sáng Thế. Sáng Thế Ký nói về phước hạnh dành cho người Do Thái, còn ở đây nói về phước hạnh của Đức Chúa Trời ban cho qua một người ngoại bang. Trong Sáng Thế Ký, Đức Chúa Trời hứa ban phước qua một người nam là ông A-đam. Còn trong sách này Đức Chúa Trời ban hạnh phước qua một người nữ là cô Ru-tơ. Trong Sáng Thế Ký, Đức Chúa Trời là Đấng chủ động lập giao ước (
    SaSt 2:1-3). Trong sách Ru-tơ, chính cô Ru-tơ chủ động lập giao ước (Ru R 1:16-17).
    I. Quyết định trở nên nguồn phước (1)
    Câu chuyện mở đầu trong bầu không khí ảm đạm. Bà Na-ô-mi, chồng và hai con trai bỏ xứ Giu-đa di cư qua xứ Mô-áp để tránh nạn đói. Trong khi ở tại Mô-áp, chồng cùng hai con trai lần lượt qua đời. Còn lại một mình bà phải gánh trách nhiệm về hai cô con dâu người Mô-áp. Bà cay đắng đổ lỗi cho Đức Chúa Trời (4 lần trong
    1:20-21), rồi quyết định hồi hương.
    Bà phải thuyết phục nhiều lần một cô con dâu mới chịu quay về nhà cha mẹ ruột trong xứ Mô-áp. Nhưng cô Ru-tơ khăng khăng ở lại với bà và quyết định làm nguồn phước cho bà (
    1:16-17). Lời hứa nguyện của cô đối với bà Na-ô-mi là một trong những lời bộc lộ đẹp đẽ nhất trong Kinh Thánh về lòng yêu thương.
    II. Nỗ lực trở nên nguồn phước (2)
    Trong chương 2 cô Ru-tơ bươn chải làm lụng cực nhọc ngoài đồng để trở nên nguồn phước. Cũng như bà Na-ô-mi, cô Ru-tơ là goá phụ, không có con để nương tựa nhờ cậy. Cô hoàn toàn không có một tài sản nào cả ngoài tuổi trẻ và năng lực. Cô đã bỏ quê hương, nền văn hoá và chỗ đứng của mình trong lòng dân tộc để nhận vị trí một người ngoại quốc đáng khinh dể tại Giu-đa - số là người Do Thái ghét người Mô-áp vì họ là dân ngoại bang thờ hình tượng. Dầu vậy, cô Ru-tơ thử phiêu lưu chấp nhận bất trắc, ra đồng mót lúa của người Giu-đa. Đây là một công việc nhiều nguy hiểm bất trắc vì không có ai bảo vệ binh vực cho cô cả. Cô là một phụ nữ ngoại quốc sống trong một nước thù địch và vô đạo đức.
    Như thể do ngẫu nhiên tình cờ, cô đi vào mót trong đồng ruộng thuộc quyền sở hữu của ông Bô-ô. Cô làm việc không biết mệt vì tình yêu thương đối với bà gia. Chẳng bao lâu dân làng đều thán phục và nể trọng cô vì nỗ lực đó. Ông Bô-ô cũng biết chuyện nên quyết làm nguồn phước đặc biệt cho cô và cho bà Na-ô-mi. Ông bảo thợ gặt cố tình bỏ sót vài gié lúa cho cô mót và coi chừng đừng để ai quấy phá cô.
    Điểm chủ chốt của sách nằm trong việc bà Na-ô-mi nghe nói ông Bô-ô quan tâm đến cô Ru-tơ. Ở đây bà phản ứng khác hẳn -điều bà nói trong chương 1, bà reo lên rằng: “Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho người, vì Ngài không dứt làm ơn cho kẻ sống và kẻ chết!” (
    2:20).
    III. Hi sinh trở nên nguồn phước (3)
    Bà Na-ô-mi vạch ra một chương trình hành động để ‘kiếm’ cho cô Ru-tơ một tấm chồng. Cô Ru-tơ luôn luôn là người hoàn toàn vâng phục nên nhất trí với chương trình này. Đêm hôm đó cô Ru-tơ phải lẻn vào vựa lúa ngoài đồng nơi ông Bô-ô nằm ngủ (vào mùa gặt, chủ ruộng thường ngủ lại ngoài đồng ruộng trong vựa lúa). Rồi khi ông Bô-ô phát hiện thì cô xin ông bảo vệ cô. Cô dạn dĩ thực hiện việc đó cho thấy cô không phải là hạng người yếu hèn. Cô có lòng can đảm. Khi đáp lời cô, ông Bô-ô khen ngợi tinh thần hi sinh của cô. Xem ra ông Bô-ô lớn tuổi hơn cô nhiều. Ông khen ngợi cô là không tìm cách thu hút những người đàn ông trẻ tuổi hơn. Ông bảo cô yên tâm để ông sắp xếp mọi chuyện. Rồi ông bảo cô kín đáo rời khỏi vựa lúa sau khi tặng cô một số lượng lớn lúa mạch. Đến giai đoạn này chúng ta có thể kết luận cách an toàn rằng giữa ông Bô-ô và cô Ru-tơ không phải chỉ có lực thu hút lẫn nhau mà còn là một sức thu hút rất mạnh!
    IV. Được chọn trở nên nguồn phước (4)
    Nhưng câu chuyện gặp trở ngại bất ngờ trong chương cuối vì có một nhân vật xen vào giữa ông Bô-ô và cô Ru-tơ. Ông này mới là người bà con gần nhất của bà Na-ô-mi. Nhưng ông ta không hề được nêu danh, mà chỉ được gọi là ông ‘paloni almoni’ (trong Hi-bá-lai có nghĩa là ông ‘có tên gì gì đó’). Ông đó đồng ý chuộc đất đai của bà Na-ô-mi và thanh toán hết nợ nần cho bà. Nghe đến đây chắc tim ông Bô-ô muốn rụng luôn! Nhưng ông nhanh nhẩu nhắc ông đó rằng nếu muốn chuộc đất đai của bà Na-ô-mi thì ông cũng phải làm trọn một bổn phận khác đối với người bà con gần nhất, đó là sinh con cho bà Na-ô-mi, có nghĩa là phải lấy cô Ru-tơ. Thế là ông ‘tên gì gì đó’ lập tức rút lui còn ông Bô-ô thở phào nhẹ nhõm. Rốt cuộc cô Ru-tơ vẫn thuộc về ông.
    Sách kết thúc với sự kiện Đức Chúa Trời ban cho ông Bô-ô và cô Ru-tơ một bé trai kháu khỉnh. Về sau bé trai này trở nên ông cố của vua Đa-vít. Rồi về sau Đấng Mê-si là chính Chúa Giê-xu ra đời trong dòng họ này. Đức Chúa Trời đã chọn cô Ru-tơ không những để làm nguồn phước cho bà gia Na-ô-mi mà còn là nguồn phước cho toàn thể nhân loại.
    Sách còn ghi lại nhiều phước hạnh nữa. Đám thợ gặt, bà Na-ô-mi, các trưởng lão đều chúc phước cho ông Bô-ô (
    2:4,19,20; 4:11). Ông Bô-ô chúc phước cho cô Ru-tơ (3:10), còn giới phụ nữ trong làng ca ngợi Đức Chúa Trời và chúc phước cho bà Na-ô-mi (4:14). Những lời chúc phước này có vẻ như những lời trao đổi thân tình ở mặt nổi. Nhưng Đức Chúa Trời làm thành những lời chúc đó vì những lời chúc đó nhằm đem phước hạnh đến cho nhiều người khác. Đời sống của cô Ru-tơ nổi bật một cách khác thường. Cô nghèo nàn hơn mọi người nghèo. Dầu vậy cô vẫn có thể làm nguồn phước cho nhiều người khác. Cô ‘chỉ’ là một góa phụ, dầu vậy cô vẫn đem phước hạnh đến cho bà Na-ô-mi cũng là một góa phụ.
    Trọng tâm
    Không cần phải giàu có mà vẫn có thể làm nguồn phước cho người khác.
    Thực hành
    Về mặt vật chất, cô Ru-tơ hoàn toàn trắng tay. Nhưng cô có tuổi trẻ, sức khỏe và tâm hồn cao thượng. Cũng như cô, bạn có thể vận dụng khả năng sẵn có, có thể chịu khó nhọc và với lòng tin tưởng mạnh mẽ bạn có thể biến những điều đó thành kho báu của cuộc đời. Còn ngược lại, ông ‘tên gì gì đó’ mãi mãi vẫn là một người vô danh tiểu tốt - dù ông ta có địa vị, có ưu thế, và có thế lực. Tất cả chỉ vì ông không chịu trả giá.
    Không có một chi tiết nào trong sách gợi ý cô Ru-tơ là một người có nhan sắc. Nhưng chúng ta dám chắc chắn rằng cô là một người đẹp. Cái đẹp của cô phát xuất từ tâm hồn, cô là một ‘phụ nữ tài đức’ (
    3:11). Chính cụm từ này cũng được dùng để mô tả người phụ nữ trong ChCn 31:1-31 (ChCn 31:10). Có thể ví cô Ru-tơ với một cái máy điều hoà không khí. Cô có ảnh hưởng trên hoàn cảnh chung quanh mình. Cô đem niềm vui đến cho người chung quanh mình. Còn có thể ví bà Na-ô-mi với cái nhiệt kế. Nhiệt độ thuộc linh của bà lên xuống tùy theo cảnh ngộ.
    Nhiều Cơ Đốc nhân cũng chẳng khác gì bà Na-ô-mi. Họ sẵn sàng làm nguồn phước cho người khác khi Đức Chúa Trời ban phước cho họ. Câu nói cửa miệng của họ là: “Để khi nào nền kinh tế của tôi ổn định thì tôi sẽ giúp đỡ người khác.” Hoặc: “Để con cái tôi lớn chút đã rồi tôi sẽ giúp hội thánh phục vụ người khác.” Có người cũng thường nói: “Tôi chỉ là một người nội trợ nghèo nàn thôi, tôi chẳng làm gì được.” Hoặc: “Tôi chỉ là một sinh viên non trẻ”. Cũng có đôi người nói: “Tôi chỉ là một người ngoại quốc” v.v… Thật ra chúng ta có vô số lý do để khỏi phải làm nguồn phước cho người khác. Thực tế là dù nghèo khổ đến đâu, dù kém may mắn đến đâu, dù bị kỳ thị đến đâu, BẠN vẫn có thể trở nên nguồn phước cho gia đình của mình, cho bạn đồng công, cho bạn bè, cho thuộc viên trong hội thánh, cho dân tộc đất nước của bạn hoặc cho toàn thể nhân loại chẳng kém gì cô Ru-tơ.
    Biết đâu chừng bạn đang muốn làm một con người ‘tên gì gì đó’ vì bạn không chịu trả giá!
    RU-TƠ
    Ý chính: Trở về (ươm) tình yêu
    Chủ đề chính: Phước hạnh
    Cụm từ chính: ‘Đức Giê-hô-va ban phước’ (4 lần)
    Câu chính: “Na-ô-mi đáp cùng dâu mình rằng: Nguyện Đức Giê-hô-va ban phước cho người, vì Ngài không dứt làm ơn cho kẻ sống và kẻ chết!” (
    Ru R 2:20)
    Bài học chính: Không nhất thiết phải giàu có mới làm được nguồn phước.


    I SA-MU-ÊN
    Tác giả: Kh ông r õ (Ông Sa-mu- ên? Ông Na-than? Ông G át?)
    Thời kỳ h ình th ành s ách: Trong thời gian vương quốc chia đôi.
    Mục đích: Để chứng minh rằng người lãnh đạo phải là người Đức Chúa trời chọn.
    Đối tượng: Người sống trong thời kỳ xáo trộn khủng hoảng, muốn hiểu biết vai trò Đức Chúa trời trong lịch sử.
    Tản mạn
    Thời gian gần đây bạn có gặp người Phi-li-tin nào không? Chắc là không. Nếu thế chúng ta học được gì trong sách 1Sa-mu-ên đây vì sách này viết nhiều về người Phi-li-tin (sách này nhắc đến từ Phi-li-tin nhiều lần hơn bất cứ sách nào khác trong Kinh Thánh.) Từ ‘Philistine’ là một từ cổ tương ứng với từ tình thế khắc nghiệt hoặc bức bách thời hiện đại. Chắc chắn cuộc đời của bạn trong thời gian gần đây có lần đã rơi vào những cảnh ngộ này. Vậy là bạn hiểu vì sao chúng ta cần học sách này. Ai ai cũng đều cần học tập cách tháo gỡ những cảnh ngộ bức bách này. Chẳng một ai, trong khi tinh thần còn minh mẫn lại cả gan rước vào thân những chuyện khó khăn hoặc trù liệu cho bản thân những cảnh ngộ bức bách khắc nghiệt. Vấn đề không phải là chúng ta có đối phó với những cảnh ngộ đó hoặc không. Nhưng vấn đề là chúng ta sẽ đối phó với cảnh ngộ đó như thế nào .
    Tiếp theo đây chúng ta sẽ khảo cứu xem bốn nhân vật chính của sách này đối phó với áp lực của người Phi-li-tin ra sao.
    Thâm nhập
    Hai nhân vật chính (ông Sa-mu-ên và vua Sau-lơ) và hai nhân vật hỗ trợ (ông Hê-li và ông Đa-vít) tạo ra khung sườn chính của sách. Ông Hê-li và vua Sau-lơ bị loại bỏ. Ông Sa-mu-ên và ông Đa-vít được tuyển chọn. Ông Hê-li đi vào đời trong vai một vị tiên tri tin kính Chúa, nhưng kết cuộc ông chết thảm vì ông đã tỏ ra nhu nhược khi dung dưỡng tội lỗi của hai con trai của mình. Ông là mẫu người ‘xưa kia vốn là’ .
    Ông Sa-mu-ên là một vị tiên tri tin kính Chúa. Niềm tin và nếp sống vâng lời Đức Chúa Trời của ông là gương sáng cho mọi người. Ông là mẫu người ‘rõ ràng là’ ngoại hạng của Đức Chúa Trời.
    Vua Sau-lơ ‘ước sao là’ một người vĩ đại. Vua có quyền hành, uy thế và danh vọng. Nhưng vua cũng thất bại và chết thảm.
    Ông Đa-vít là mẫu người ‘lẽ ra phải là’ . Trong nhiều trường hợp ông tỏ ra mình là một người tin kính chân thành. Nhưng khi học đến sách 2Sa-mu-ên, chúng ta sẽ thấy ông là mẫu người ‘lẽ ra phải là’ tin kính Chúa hơn nữa.
    I. Tình thế khắc nghiệt dẫn đến sự kiệt quệ .
    Tình thế khắc nghiệt của ông Hê-li là ông bỏ mặc cho hai con trai của mình phạm tội ghê tởm và kinh dị trong khi họ làm thầy tế lễ cho Đức Chúa Trời và phục vụ trước Hòm Giao Ước. Vì cớ đó mà Đức Chúa Trời cho người Phi-li-tin cướp được Hòm Giao Ước và giết chết hai con trai của ông. Khi ông Hê-li nhận được tin này ông té ngửa, gãy cổ và chết ngay tại chỗ.
    Tác giả có nêu nguyên nhân khiến ông gãy cổ: quá mập (
    4:18). Tác giả dùng từ ‘nặng nề’ , cùng một dạng với từ ‘đáng kính’ trong tiếng Hi-bá-lai. Lẽ ra ông đáng được tôn kính, trọng vọng, nhưng không, ông chỉ được cái quá phục phịch.
    Câu chìa khoá của sách này cho ta biết ‘bí quyết khắc phục tình thế khắc nghiệt’ là: “Ai tôn kính Ta, Ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ Ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại.” (
    1Sa 2:30). Vì ông Hê-li để cho Hòm Giao Ước của Đức Chúa Trời bị khinh dể trước mặt các con trai của ông và trước mặt người Phi-li-tin nên mạng sống của ông kết thúc cách bất chợt. Ông chẳng hề biết rằng bí quyết khắc phục tình thế khắc nghiệt là tôn trọng Đức Chúa Trời. Phản ứng của ông trước tình thế khó khăn khắc nghiệt là tình trạng tê liệt.
    Lưu ý là từ dùng để chỉ “cái ghế” mà ông đang ngồi (
    4:18) cũng có nghĩa là ‘cái ngai’. Ông Hê-li té khỏi ‘ngai’ của mình và chết bất đắc kỳ tử. Hàm ý của tác giả khi dùng từ có hai ý như thế này sẽ sáng tỏ hơn khi chúng ta phát hiện ra là hai sách Sa-mu-ên và hai sách Các Vua đều tập trung xoay quanh chủ đề Đa-vít và ngôi vua.
    II. Tình thế khắc nghiệt dẫn đến sự khẩn nguyện (5-7)
    Ông Sa-mu-ên là một người thường cầu nguyện. Thân mẫu của ông cầu nguyện xin Chúa ban cho bà một người con trai ngay cả khi ông chưa chào đời (
    1:15). Tên riêng của ông có nghĩa là ‘được Đức Chúa Trời nhậm’ (1:20). Ông đối phó với mọi tình thế ngặt nghèo và mọi áp lực thù địch bằng lời cầu nguyện (7:5; 8:6). Ông nổi tiếng với câu tuyên bố: “Còn ta đây, cũng chẳng phạm tội cùng Đức Giê-hô-va mà thôi cầu nguyện cho các ngươi...” (12:23).
    Ông Sa-mu-ên thận trọng tránh làm ô danh Đức Chúa Trời. Trước khi về hưu ông thách thức mọi người lên tiếng tố cáo ông nếu ông có phạm tội ăn bớt ăn xén, trộm cắp hoặc tham nhũng của ai (
    12:3). Vì cớ đó mà ai nấy đều nhận định ông là người đáng kính nể (9:6). Ông là vị quan xét cuối cùng của I-xơ-ra-ên nhưng ông cũng là một ông tướng cầm quân ra trận (7:5-15). Ông thực sự phải đối diện với nhiều tình thế khó khăn khắc nghiệt nhưng ông luôn luôn đắc thắng. Trong suốt cuộc đời của ông, người Phi-li-tin không còn quấy phá dân I-xơ-ra-ên nữa (7:13).
    III. Tình thế khó khăn khắc nghiệt dẫn đến sự kinh hoảng (8-15).
    Đáng lẽ vua Sau-lơ phải chờ ông Sa-mu-ên đến bảy ngày vì trước khi bắt đầu giao chiến với quân Phi-li-tin ông Sa-mu-ên phải dâng của lễ cho Đức Chúa Trời. Nhưng trong thời gian chờ đợi, binh sĩ I-xơ-ra-ên đào ngũ. Sáu ngày trôi qua rồi mà ông Sa-mu-ên vẫn chưa đến. Do đó vua Sau-lơ bất tuân luật pháp của Đức Chúa Trời cứ tiến hành cuộc dâng tế lễ (
    13:7-12). Trong lúc đang dâng của lễ thì ông Sa-mu-ên đến, thấy rõ tội lỗi của vua, nên khiển trách vua. Về sau vua phạm tội trầm trọng hơn khi không vâng lời Đức Chúa Trời lần thứ hai (15:9-23). Tuy nhiên, Đức Chúa Trời phán rằng vì cớ tội phạm lần thứ nhất này mà Ngài đem ngôi nước cho người khác (13:13-14).
    Vua Sau-lơ đối phó với tình thế khó khăn khắc nghiệt trong tinh thần hoảng loạn. Để làm nổi bật tình trạng kém đức tin của vua Sau-lơ, tác giả đặt trường hợp vua Sau-lơ phạm tội lần thứ nhất sát bên cạnh chiến công của hoàng tử Giô-na-than (Chương 13 và 14). Vua Sau-lơ hoảng hốt khi bên cạnh mình còn có 600 binh sĩ (
    14:2) trong khi Giô-na-than đơn phương độc chiếc với mỗi một người vác binh khí đã có thể tạo một tình trạng hoảng loạn đâm sâu vào hàng ngũ của quân Phi-li-tin. Ông tâm sự với người vác binh khí rằng: “Đức Giê-hô-va khiến cho số ít người được thắng cũng như số đông người vậy” (14:6). So sánh với số 300 binh sĩ mà ông Ghê-đê-ôn được phép dùng (Cac Tl 7:8).
    Vua Sau-lơ không thể xoay sở trong những tình thế khắc nghiệt vì vua không tôn trọng Đức Chúa Trời. Vua quan tâm đến uy tín danh dự của mình nhiều hơn. Sau khi chiến thắng người A-ma-léc vua cho dựng một đài để tôn vinh mình (
    15:12). Ngay cả khi ông Sa-mu-ên khiển trách vua về tội lỗi vua phạm lần thứ hai, vua vẫn nói với ông Sa-mu-ên rằng: “… xin hãy tôn trọng tôi trước mặt các trưởng lão của dân sự tôi và trước mặt I-xơ-ra-ên …” (15:30). Nhưng ngay cả khi ông Sau-lơ chưa lên làm vua có nhiều người đã coi thường ông (10:27).
    IV. Tình thế khắc nghiệt dẫn đến sự kiên cường(16-31)
    Trong đời sống của ông Đa-vít, tình thế khắc nghiệt sản sinh quyền năng. Câu chuyện minh họa rất sát về điều này dĩ nhiên là chuyện ông đối đầu với ông Gô-li-át, một người Phi-li-tin khổng lồ. Trong khi những người khác nhận định về ông Gô-li-át rằng: “Làm sao giết nổi gã khổng lồ đó được!” thì Đa-vít lại nghĩ rằng: “Làm sao mà bắn hụt cái thân hình khổng lồ đó được!” Trong trận chiến này ông hết sức tôn vinh Đức Chúa Trời (
    17:45-47). Gô-li-át khinh thường ông (17:42), nhưng kết cuộc ông chém đầu Gô-li-át.
    Chính ông Đa-vít tự nhận mình xuất thân là người nghèo nàn, không danh giá (
    18:23) nhưng trong thực tế người ta hết sức tôn trọng ông (22:14). Về sau chúng ta thấy ông hết lòng muốn tôn vinh Đức Chúa Trời như thế nào. Ông nhảy múa trước công chúng, trên mình chỉ có bộ đồ lót, chỉ vì ông vui mừng vô vùng khi làm vinh hiển danh của Đức Chúa Trời. Nhưng vợ ông, bà Mi-canh lại chê bai ông về hành vi này. Còn dân chúng lại càng tỏ lòng ngưỡng mộ ông hơn nữa (2Sa 6:22).
    Trọng tâm
    “Bí quyết” của năng lực nhằm khắc phục tình thế khắc nghiệt nằm ở chỗ biết tôn vinh Đức Chúa Trời.
    Thực hành
    Thời nay người ta thảo luận nhiều về phương cách phát huy lòng tự hào đích thực. Sách này có câu trả lời: Hãy tôn trọng Đức Chúa Trời thì bạn sẽ được tôn trọng. Một khi Đức Chúa Trời đánh giá cao bạn thì tưởng tượng xem niềm tự hào của bạn sẽ đến mức nào.
    Vua Sau-lơ là một người cao ráo lịch sự, nhưng dường như vua không tự hào về mình cho lắm (
    15:17). Nhưng vua thèm được người khác tôn trọng mình (15:24,30). Có lẽ vua chết trong nỗi bất mãn và vỡ mộng. Vua bị Đức Chúa Trời đánh giá thấp (2:30), bị những người khác coi thường (10:27), nhưng vua vẫn tự hào về mình (15:12). Vua chết đơn độc tại chiến địa. Người Phi-li-tin đem thi thể trần truồng, cụt đầu của vua ra bêu riếu để chứng tỏ cho sự chiến thắng của họ (31:1-9). Quá thảm! Dường như hễ ai cứ chăm bẵm lo xây dựng uy tín của mình sẽ bị thất bại. Nhưng hễ ai luôn luôn công nhận Đức Chúa Trời và qui vinh hiển cho Ngài thì chung cuộc sẽ được tôn trọng.
    Chúng ta tỏ lòng tôn trọng Đức Chúa Trời bằng cách nào? Bằng cách tin cậy vào sự cầu nguyện và quyền năng của Đức Chúa Trời. Chúng ta nỗ lực thực hiện những việc tưởng chừng bất khả thi cho Đức Chúa Trời không phải vì chúng ta có khả năng thực hiện mà vì cớ đó là những việc cần phải làm. Chúng ta trông chờ Đức Chúa Trời, chớ không phải trông chờ người ta tôn trọng mình. Chúng ta khắc phục tình thế khắc nghiệt, không phải trong tình trạng kiệt quệ (bất động, hoạt động quá ít) hoặc kinh hoảng (hoạt động quá độ). Trái lại chúng ta cần đối phó với những khó khăn khổng lồ trong cuộc sống với niềm tin chắc là uy danh của Đức Chúa Trời quan trọng hơn chính mạng sống của chúng ta nữa.
    Vì sao Đức Chúa Trời cho phép cuộc đời có những vấn đề khó khăn và những áp lực khắc nghiệt? Vì qua những cảnh ngộ đó, chúng ta mới học tập cầu nguyện và có thêm năng lực. Trong những cuộc khủng hoảng trong cuộc đời, đức tin của chúng ta nơi Đức Chúa Trời và dũng khí của chúng ta mới lộ ra. Vào những lúc đó, những người yêu mến và kính sợ Đức Chúa Trời mới đạt được những thành quả lớn lao nhất và thành công ở mức cao nhất.
    Trong tuần này bạn sẽ đối diện ra sao với những vấn đề khó khăn và những tình thế khắc nghiệt trong cuộc sống của bạn? Trong môi trường sống của bạn có nhiều áp lực buộc bạn phải ăn gian, nói dối, phải hòa đồng và hoà hoãn không? Cần hết sức thận trọng, phải ý thức rõ ràng cách bạn đối phó. Phải chăng bạn đối phó trong tình trạng kiệt quệ hoặc kinh hoảng? Phải chăng bạn đối phó bằng sự khẩn nguyện và kiên cường? Trên hết mọi sự, cần nhớ tôn vinh Đức Chúa Trời, chớ không tôn vinh chính mình.
    I SA-MU-ÊN
    Ý chính: Ông Sa-mu-ên và vua Sau-lơ.
    Chủ đề chính: Tình thế khắc nghiệt
    Cụm từ chính: ‘Đấng chịu xức dầu’ ‘Người chịu xức dầu’ (14 lần)
    Câu chính: “Bởi cớ đó Giê-hô-va Đức Chúa Trời của I-xơ-ra-ên phán như vầy: Vì phàm ai tôn kính Ta, Ta sẽ làm cho được tôn trọng, còn ai khinh bỉ Ta, tất sẽ bị khinh bỉ lại.” ()
    Bài học chính: ‘Bí quyết’ của năng lực nhằm khắc phục tình thế khắc nghiệt nằm ở chỗ biết tôn vinh Đức Chúa Trời.


    IISA-MU-ÊN
    Tác giả: Không rõ (ông Sa-mu-ên, ông Na-than, ông Gát?)
    Thời kỳ hình thành sách: Trong thời gian vương quốc bị chia đôi
    Mục đích: Nhằm chứng tỏ người lãnh đạo phải là người Đức Chúa Trời chọn
    Đối tượng: Những người sống trong tình cảnh khó khăn, rối loạn và muốn tìm hiểu vai trò của Đức Chúa Trời trong lịch sử con người
    Tản mạn
    Để mừng đám cưới của chúng tôi, có người (nay chúng tôi không nhớ rõ là ai) tặng chúng tôi một tấm sơn mài hết sức đẹp. Có lẽ các bạn có lần đã nhìn thấy tấm sơn mài loại này. Trên tấm sơn mài có ghi câu: “Chúa Cứu Thế là chủ của gia đình này, là khách vô hình dự mỗi bữa ăn, là Đấng yên lặng nghe mọi lời nói.” Hồi đó chúng tôi không biết phải xử trí ra sao đối với tấm sơn mài đó. Vì sao? Vì một từ trong phần thứ hai: “…là khách vô hình dự mỗi bữa ăn.” Câu này không đúng với Kinh Thánh. Chúa Cứu Thế không phải là khách. Ngài là chủ nhà, chủ mời tại mỗi bữa ăn. Chúng ta vừa là tôi tớ vừa là khách mời của Ngài. Chúng tôi cám ơn người bạn đã tặng chúng tôi tấm sơn mài đó. Người đó làm với ý tốt. Người đầu tiên nghĩ ra và viết ra câu đó cũng có ý tốt. Có lẽ người đó mô tả Chúa là khách vì chắc chắn không để cho Chúa phải rửa chén bát sau khi ăn! Nhưng chúng ta phải nhớ rằng nếu Chúa Cứu Thế thật sự là Chủ trong gia đình của chúng ta thì Ngài cũng phải là chủ nhà, chủ tiệc nữa - Ngài là Chủ của chúng ta, là Thầy và là Chúa của chúng ta.
    Trên lý thuyết, khi công nhận Chúa Cứu Thế là Chúa là Chủ của tôi thì chẳng có gì là khó khăn. Nhưng trong thực tế, thử đoán xem ai là chủ trong cuộc đời của tôi? Dĩ nhiên tôi làm chủ chớ ai nữa. Nhưng cũng trong thực tế một người không thể nào có hai chủ. Tục ngữ Trung Hoa cũng có câu: “Không thể có hai con cọp trên cùng một ngọn núi”. Ai đang ngự trên ngai trong cuộc đời của bạn? Sách 2Sa-mu-ên ghi lại câu chuyện của một người tên là Đa-vít đã khởi đầu đặt Đức Chúa Trời trên ngai trong cuộc đời của ông. Nhưng chúng ta thử tìm hiểu xem điều gì xảy ra với ông liền sau đó.
    Thâm nhập
    Rõ ràng ông Đa-vít là nhân vật chính (dĩ nhiên ngoài Đức Chúa Trời) trong sách này. Toàn sách viết về cuộc đời, những tội lỗi và những thành công của ông.
    Chủ đề chính là ‘được Đức Chúa Trời xức dầu’ (11 lần). Nội dung chính của sách được chia làm ba phần chính như sau:
    (i) Ông Đa-vít thành công.
    (ii) Ông Đa-vít bị trừng phạt (hình phạt).
    (iii) Ông Đa-vít gặp thách thức (nan đề).
    I. Đức Chúa Trời xức dầu lập ông Đa-vít làm vua (1-9)
    Phần thứ nhất ghi lại sự kiện ông Đa-vít thành công trong việc thống nhất hai miền nam bắc. Đức Chúa Trời lập ông Đa-vít làm vua trên toàn thể I-xơ-ra-ên và ông cai trị suốt bốn mươi năm. Ông Đa-vít cai trị trên Giu-đa ở miền nam suốt bảy năm đầu, trên cả miền nam lẫn miền bắc suốt ba mươi ba năm tiếp theo (
    5:1-5).
    Đức Chúa Trời hoàn toàn điều khiển cuộc đời của ông Đa-vít trong giai đoạn thứ nhất này. Ngài đã chọn ông làm vua I-xơ-ra-ên trong lúc ông còn đi chăn chiên nơi đồng cỏ. Ông phục vụ trong vai trò một vị vua chăn ‘dân’ dưới sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, là vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa (
    5:2; 7:7-8). Trước khi làm bất cứ việc gì ông đều cầu hỏi ý Chúa (2:1; 5:19, 23). Cụ thể là ông cầu hỏi ý Chúa để xem Ngài có cho phép ông xây một Đền Thờ tại Giê-ru-sa-lem hay không? Thế nhưng Đức Chúa Trời đáp rằng Ngài sẽ lập triều đại và vương quốc của ông bền vững (7:16).
    II. Đức Chúa Trời thi hành kỷ luật (10-20)
    Trong phần thứ nhất vua Đa-vít lên nắm quyền và được hưng thịnh. Nhưng đến phần thứ hai, quyền lực của vua bắt đầu suy sụp. Phần này ghi lại chuyện vua Đa-vít thông dâm với bà Bát-sê-ba. Chương 10 cho biết bối cảnh vua Đa-vít phạm tội. Chương 11 mô tả vua phạm tội tà dâm với bà Bát-sê-ba. Chương 12-20 ghi lại những vấn đề nảy sinh giữa vòng các con trai của vua. Đó là những hậu quả gián tiếp và trực tiếp của tội tà dâm mà vua đã phạm.
    Vua Đa-vít phạm tội khi vua đẩy Đức Chúa Trời khỏi ngai lòng và bắt đầu đưa bản ngã lên. Vì là vua nên vua cho rằng vua có thể làm mọi điều theo ý mình. Nhưng vua quên rằng vua chỉ là một vị vua chăn ‘dân’. Nhìn thấy vợ đẹp của người khác là vua liền chiếm hữu nàng một cách dễ dàng. (Có thể nói rằng bài học đạo đức từ câu chuyện này là: Hãy thận trọng đối với người phụ nữ ở bên cạnh mình!)
    Tiên tri Na-than nhắc nhở vua rằng vua chỉ là một vị vua chăn chiên (
    12:2), rồi ông vạch trần tội lỗi của vua ra. Dù chưa hiểu chủ ý của tiên tri Na-than trong câu chuyện này, vua vội vàng lên án rằng người phạm tội trong câu chuyện phải bồi thường thiệt hại gấp 4 lần. Có lẽ vì thế mà bốn con trai của vua (con trai mà bà Bát-sê-ba sinh do tội tà dâm, Am-môn, Áp-sa-lôm và A-đô-ni-gia) chết đúng theo bản án này (12:6; so sánh XuXh 22:1).
    III. Đức Chúa Trời bảo vệ người được xức dầu (21-24)
    Phần thứ ba ghi lại các chuyện dưới triều vua Đa-vít nhưng không theo thứ tự thời gian. Phần lớn các biến cố này nằm trong giai đoạn 1 và 2.
    Phần thứ ba tường thuật những rắc rối mà vua phải đương đầu. Nạn đói (Chương 21) và nạn dịch (Chương 24) xảy ra vì cớ tội lỗi. Trong phần cuối sách vua Đa-vít ra lệnh kiểm tra dân số để có thể tự hào về tầm cỡ của vương quốc mà mình cai trị. Đức Chúa Trời không hài lòng việc này nên Ngài cho ông chọn một trong ba hình phạt: hoặc nạn đói khắp xứ kéo dài trong bảy năm, hoặc thất trận bị quân thù truy đuổi trong ba tháng, hoặc nạn dịch hoành hành trong dân chúng suốt ba ngày. Dầu là một nhà quân sự tài ba nhưng vua không chọn ba tháng bị quân thù truy đuổi. Ông đã chọn ba ngày bị bệnh dịch hoành hành để giao phó chính mình vào tay Đức Chúa Trời vì lòng thương xót của Ngài bao la vô cùng (
    24:14)
    Trong phần thứ nhất khi vua nhớ rằng vua là một vị vua chăn chiên thì mọi sự đều tốt đẹp. Nhưng trong phần thứ hai, khi quên điều này thì vua bắt đầu lợi dụng bầy chiên (
    12:2). Hậu quả là tai họa giáng trên cá nhân vua cũng như trên vương quốc. May mắn thay, đến cuối đời vua đặt Đức Chúa Trời lên ngai lòng vua trở lại. Vua nhớ rằng mình chỉ là một người chăn dắt dân mà thôi (24:17).
    Rõ ràng, chủ đề sách 1Sa-mu-ên và 2Sa-mu-ên có liên quan với nhau vì thật ra trong bản Kinh Thánh nguyên ngữ Hi-bá-lai thì 1Sa-mu-ên và 2Sa-mu-ên chỉ là một sách. Chủ đề của 1Sa-mu-ên là ‘kính sợ Đức Chúa Trời’ còn chủ đề của 2Sa-mu-ên là ‘vương quyền của Đức Chúa Trời’ (tức là Đức Chúa Trời là Chúa, là Chủ). Mở đầu sách 1Sa-mu-ên là bài ca của bà An-ne. Còn kết thúc của sách 2Sa-mu-ên là bài ca của vua Đa-vít (
    2Sa 22:1-51). Cả hai bài ca này đều ví Đức Chúa Trời như Vầng Đá (1Sa 2:2; 2Sa 22:2, 32, 47). Bởi sự hà hơi của Thánh Linh bà An-ne đã nói tiên tri thật rõ ràng rằng Đức Chúa Trời sẽ lập vua của Ngài (1Sa 2:8,10).
    Vì thế dân I-xơ-ra-ên phạm tội không phải vì họ xin một vị vua nhưng vì họ muốn có một vị vua như các dân tộc khác (
    1Sa 8:20). Và thật ra bởi vì họ từ chối Đức Chúa Trời là vị vua vĩ đại của họ (10:19). Do đó, ngôi vua trở thành chủ đề rất quan trọng của 2Sa-mu-ên. Trong 1Sa-mu-ên, dân I-xơ-ra-ên chối bỏ Đức Chúa Trời là Đấng tể trị cao cả của họ. Còn trong 2Sa-mu-ên, với tư cách là người chăn, là đại diện của dân sự, vua Đa-vít có nhìn nhận Đức Chúa Trời là vua không? Đôi lúc vua Đa-vít nhìn nhận Đức Chúa Trời là vua nhưng cũng có những lúc vua chối bỏ Ngài.
    Câu Kinh Thánh chìa khoá của 2Sa-mu-ên nằm trong bài ca của vua Đa-vít ở phần kết của sách (
    2Sa 22:26-28). Ba câu Kinh Thánh này tương ứng với 3 phần chính của sách 2Sa-mu-ên. “Người hay thương xót Chúa sẽ thương xót lại; đối cùng người trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại.” (22:26) là lời tóm tắt thích hợp của phần thứ nhất. Đây là phần ghi lại việc vua Đa-vít qui phục vương quyền của Đức Chúa Trời (chú ý là các câu chìa khóa của 1Sa-mu-ên và của 2Sa-mu-ên có dạng giống nhau.) Câu tiếp theo: “Còn đối cùng kẻ trái nghịch, Chúa sẽ tỏ mình nhặt nhiệm lại” (22:27b) tương ứng với cách Đức Chúa Trời sửa phạt vua Đa-vít trong phần hai.
    Đức Chúa Trời đã tha thứ tội tà dâm mà vua phạm với bà Bát-sê-ba (
    12:13). Tuy nhiên, vua phải gánh chịu hậu quả của tội lỗi mình. Gươm sẽ không tha gia đình vua (12:10), các cung phi sẽ bị bắt và bị làm nhục trước mắt mọi người I-xơ-ra-ên (12:11được ứng nghiệm trong 16:21-22). Phần thứ ba được tóm lược bằng câu Kinh Thánh sau đây: “Vì Chúa cứu dân bị khốn khổ; nhưng mắt Chúa coi chừng kẻ kiêu căng đặng làm chúng nó bị hạ xuống.” (22:28)
    Trong phần cuối, vua Đa-vít trở nên kiêu hãnh và bị Đức Chúa Trời hạ nhục. Nhưng khi vua đầu phục Đức Chúa Trời thì Ngài tiếp tục bảo vệ ông.
    Trọng tâm
    Hễ ai đặt Đức Chúa Trời lên ngai trong cuộc đời của mình và cứ để Đức Chúa Trời ngự tại đó thì người ấy sẽ nhận được mão miện từ nơi Ngài.
    Thực hành
    Cả hai sách 1Sa-mu-ên và 2Sa-mu-ên đều viết về vương quyền của Đức Chúa Trời . Nhưng 1Sa-mu-ên nhằm kêu gọi đầu phục vương quyền của Đức Chúa Trời cách hoàn toàn còn 2Sa-mu-ên kêu gọi đầu phục vương quyền của Ngài cách thường xuyên .
    Có thể có trường hợp chủ nhân và các nhân viên phục vụ đều ăn mặc trang phục giống nhau trong một bữa tiệc. Nhưng căn cứ vào cách cư xử của họ chúng ta không thể nào nhầm lẫn một nhân viên phục vụ với chủ nhân.
    Khi chúng ta hành động độc lập khỏi Đức Chúa Trời tức là chúng ta cư xử như người chủ thay vì một người đầy tớ. Chúng ta đòi hỏi người khác đối xử đặc biệt với mình, chúng ta nuông chiều, dễ dãi với chính mình, chúng ta hành động như người ở trên luật pháp hoặc trên những người khác. Khi chúng ta xử sự như vậy tức là chúng ta đặt cái tôi của mình vào ngai của Đức Chúa Trời. Chỉ khi nào Đức Chúa Trời chiếm vị trí đặc biệt trong lòng chúng ta thì chúng ta mới là người đặc biệt. Khi người ta gọi chúng ta là “ông” hoặc “Ngài” hoặc “chủ” thì chúng ta cảm thấy hài lòng. Nhưng chúng ta quên rằng trang phục không thể làm chúng ta trở thành một người chủ ở buổi tiệc được. Người làm chủ công ty (của chúng ta) cũng như người làm đầu gia đình của chúng ta không phải là chúng ta nhưng là Chúa. Hội thánh không thuộc về chúng ta nhưng thuộc về Chúa. Có thể lắm hôm qua Đức Chúa Trời còn là Chúa của bạn, phải không? Có thể lắm hôm nay Đức Chúa Trời vẫn là Chúa của bạn. Còn ngày mai thì sao? Ngài vẫn luôn là Chúa của bạn chứ? Cần thận trọng, đừng chỉ giao du với những người luôn tán thành và bỏ mặc chúng ta làm mọi điều mà chúng ta muốn. Nhưng chúng ta cần có những người sẵn sàng bày tỏ ý kiến của họ và phê bình chúng ta. Đó là cách để kiểm soát chúng ta khi chúng ta tỏ ra độc đoán.
    Bên cạnh đó, chúng ta có thể thực hiện phương cách bắt buộc tự đánh giá mỗi năm một lần. Hoặc cách khác là nhờ một nhóm tín đồ ở hội thánh khác đến kiểm soát sổ sách của hội thánh, của công ty bạn và thẩm tra đời sống của bạn trong lãnh vực tài chính, luật pháp yêu cầu kiểm toán hàng năm. Còn trong lãnh vực thuộc linh dường như chưa ai nghĩ đến việc này. Lạ lùng chưa?
    II SA-MU-ÊN
    Ý chính: Vua Đa-vít (bắt đầu) suy sụp
    Chủ đề chính: Ngôi vua
    Cụm từ chính: ‘Người được Đức Giê-hô-va lựa chọn’. ‘Người chịu xức dầu của Đức Giê-hô-va’. (12 lần)
    Câu chính: “Kẻ hay thương xót, Chúa sẽ thương xót lại; Đối cùng kẻ trọn vẹn, Chúa sẽ tỏ mình trọn vẹn lại. Đối cùng kẻ tinh sạch, Chúa sẽ tỏ mình tinh sạch lại; còn đối cùng kẻ trái nghịch, Chúa sẽ tỏ mình nhặt nhiệm lại. Vì Chúa cứu dân bị khốn khổ; nhưng mắt Chúa coi chừng kẻ kiêu căng đặng làm chúng nó bị hạ xuống.” (
    IISa 2Sm 22:26-28)
    Bài học chính: Chỉ khi nào bạn đặt Đức Chúa Trời trên ngai trongcuộc đời của bạn và cứ để Đức Chúa Trời ngự tại đó thì bạn sẽ nhận được mão miện từ nơi Ngài.


    ICÁC VUA
    Tác giả: Kh ông r õ (Giê-rê-mi?)
    Thời kỳ hình thành sách: Trong thời kỳ lưu đày
    Mục đích: Nhằm giải thích cho tuyển dân của Đức Chúa Trời hiểu lý do khiến họ bị lưu đày
    Đối tượng: Những người phạm tội và đang từng trải sự sửa phạt của Đức Chúa Trời
    Tản mạn
    Giữa thời trị vì của nữ hoàng Elizabeth I và nữ hoàng Elizabeth II, giữa thời vua Charles I và vua Charles II đã diễn ra một biến chuyển. Ông Oliver Cromwell là người tạo nên biến chuyển đó. Ông Cromwell đã vĩnh viễn thay đổi diện mạo của chế độ quân chủ ở nước Anh. Ông đã chuyển giao thực quyền của đế chế Anh từ ngôi vua sang quốc hội (lúc ấy quốc hội Anh đã tồn tại). Kể từ thời Cromwell tất cả các vua và nữ hoàng của nước Anh chỉ còn là biểu tượng của thời kỳ đã qua. Những ‘bậc cầm quyền’ này không còn cai trị đất nước nữa. Hoạt động của họ chỉ là điều nhắc nhở về một quá khứ vinh quang và là biểu tượng về sự hiệp nhất của đất nước.
    Đa số chúng ta đều sống trong các nước cộng hoà nên đối với chúng ta ngôi vua không có ý nghĩa cho lắm. Còn một số người vẫn sống trong những quốc gia còn vua hoặc nữ hoàng. Nhưng các vị vua hoặc nữ hoàng này nắm giữ rất ít thực quyền. Chúng ta không biết cần cai trị một vương quốc như thế nào. Nhưng Đức Chúa Trời là vua của vương quốc Ngài. Hội thánh không phải có tính cách dân chủ. Hội thánh đã, đang và sẽ không bao giờ có tính cách dân chủ. Đối với nhiều Cơ Đốc nhân, cương vị làm đầu của Đức Chúa Trời chỉ mang tính chất tượng trưng. Đúng vậy, đôi lúc chúng ta xin Đức Chúa Trời phê chuẩn các kế hoạch của chúng ta . Nhưng chúng ta không chờ đợi Ngài chỉ dẫn chúng ta thực hiện chương trình của Ngài .
    Hai sách Các Vua 1 và 2 tập trung vào ngôi vua của I-xơ-ra-ên. Và ngôi vua này có một đặc điểm - Đức Chúa Trời hứa rằng chỉ bảo tồn ngôi vua khi mà vị vua ngồi trên ngai nhìn nhận còn có một ngai vua khác cao hơn ngai của mình. Ngai cao cả đó thuộc về Vua trên muôn vua và Chúa trên muôn chúa.
    Đa số các vua của I-xơ-ra-ên (bắt đầu từ Sa-lô-môn) đều thất bại trong việc này. Họ tìm cách cướp luôn cả quyền hành của Đức Chúa Trời và hạ Ngài xuống vị trí tượng trưng dù vẫn mang danh là đứng đầu. Liền sau đó thảm hoạ liên tục xảy ra. Chẳng những bản thân và gia đình phải gánh chịu hậu quả từ các hành động của họ, nhưng vì địa vị của họ mà cả quốc gia I-xơ-ra-ên đều phải chịu khốn khổ. Họ đã trả giá rất đắt cho bài học này: một khi tiếng nói của thế gian trở nên bùi tai hơn là tiếng của Đức Chúa Trời thì cuộc đời luôn luôn chuốc lấy sự tan nát.
    Thâm nhập
    Vương quyền của Đức Chúa Trời là chủ đề chung của các sách 2Sa-mu-ên đến hai sách Các Vua. Nhưng trong 1Các Vua, vương quyền của Đức Chúa Trời được trình bày qua hình ảnh ngôi nước nhà Đa-vít. Cụm từ chính của sách này là “người ngồi trên ngôi I-xơ-ra-ên” (
    2:4; 8:25; 9:5). Đức Chúa Trời hứa cùng vua Đa-vít rằng sẽ chẳng hề thiếu người (nghĩa là con trai) ngồi trên ngôi I-xơ-ra-ên. Nhưng đây là một lời hứa có điều kiện. Ấy là vua phải trung thành với Đức Chúa Trời bằng cách cẩn thận “đi trong đường lối Ngài, gìn giữ luật pháp và điều răn Ngài”. Và tác giả muốn chúng ta ghi nhớ điều kiện này vì ông đã nhắc đến năm lần trong sách (2: 3-4; 3:14 8:25; 9:4-6; 11:38).
    I. Lời hứa dành cho triều đại Đa-vít (1-10)
    Lời Đức Chúa Trời hứa với vua Đa-vít thường được nhắc đến như Giao Ước Cho Dòng Dõi Đa-vít. Trong
    2Sa 7:8-16 vua Đa-vít là người đầu tiên nhận giao ước đó. Trong phần thứ nhất của sách 1Các Vua, giao ước đó được nhắc lại bốn lần cho vua Sa-lô-môn (con trai của Đa-vít) hoặc do chính Sa-lô-môn nhắc đến (2:3-4; 3:14; 8:25; 9:4-6). Mười chương đầu của sách 1Các Vua ghi lại cuộc đời của vua Sa-lô-môn, chỉ trong phần này từ ‘ngai’ được dùng 29 lần. Cung điện và ngai của vua Sa-lô-môn được mô tả thật chi tiết. Thời gian đầu vua Sa-lô-môn cai trị rất tốt. Ông học theo gương của vua cha trong việc cai trị đất nước. Đức Chúa Trời ban phước cho vua. Ngài mở rộng lãnh thổ của vua. Sự khôn ngoan và giàu có của vua lừng lẫy khắp nơi. Đức Chúa Trời giữ lời hứa của Ngài với vua Sa-lô-môn và Đa-vít, cha vua.
    II. Thất bại của triều đại Đa-vít (11-16)
    Nhưng vì cớ hưng thịnh mà vua Sa-lô-môn quên vị vua cao cả cai trị trên ngôi của vua. Nhiều người cho rằng những rắc rối của vua Sa-lô-môn là vua đã cưới nhiều người vợ ngoại quốc. Nhưng đó chỉ là một phần của vấn đề. Còn nan đề chính là vì yêu thương các bà vợ (
    11:1) nên vua bắt đầu nghe lời họ quyến dụ rồi lòng vua chối bỏ Đức Chúa Trời (11:3). Có lẽ các bà vợ đã ‘quấy rầy’ vua Sa-lô-môn quá nhiều đến nỗi cuối cùng vua phải xây cho mỗi bà vợ ngoại quốc một miếu thờ thần của họ (11:7-8). Thật là chuyện khó tin bởi vì chính vua đã xây Đền Thờ Giê-ru-sa-lem nguy nga tráng lệ cho Đức Chúa Trời. Vì vua Sa-lô-môn đã phạm tội nên Đức Chúa Trời bắt đầu trừng phạt I-xơ-ra-ên và sau đó vương quốc bị tách làm hai nước (11:11-13).
    Rô-bô-am, con trai của vua Sa-lô-môn tiếp tục phạm tội như cha mình. Vua Sa-lô-môn nghe lời quyến dụ của các hoàng hậu còn vua Rô-bô-am nghe theo lời của bạn bè. Thoạt đầu, vua Rô-bô-am hỏi ý kiến ban tham vấn uyên bác và kính sợ Đức Chúa Trời của vua cha, nhưng vua không nghe theo lời khuyên của họ. Vua chỉ nghe theo nhóm người trẻ đồng trang lứa và thân cận với vua. Kết quả vua đánh thuế cao hơn, dân chúng phải làm việc nặng nề hơn và họ chống đối đến mức đất nước mấp mé bên bờ vực nội chiến (Chương 12). Dầu cuộc chiến không diễn ra nhưng vương quốc vẫn bị tách đôi.
    Sau khi vương quốc bị chia đôi, triều đại Đa-vít tiếp tục cai trị miền nam. Có một số vị vua tốt, nghe theo lời các tiên tri của Đức Chúa Trời và giữ lời giao ước của nhà Đa-vít. Nhưng đa số đều là các vị vua gian ác chỉ nghe theo lời các công chức và triều thần không tin kính Đức Chúa Trời. Còn tất cả các vua cai trị miền bắc đều là những vị vua xấu xa, độc ác. Các triều đại nhanh chóng chấm dứt và triều đại khác thay chỗ qua những cuộc đảo chính. Khi vị vua nào không nhìn nhận Đức Chúa Trời là Chúa của mình thì Đức Chúa Trời sai một tiên tri đến cảnh cáo tình trạng kém khôn ngoan của vua ấy. Các tiên tri này nói theo lệnh của Đức Chúa Trời nên lời cảnh cáo của họ vô cùng nghiêm trọng. Nếu vua nào không hoàn toàn vâng theo thì bị giết ngay (ứng nghiệm
    13:26tt; 20:35tt; 22:27tt). Cụm từ “lời của Đức Giê-hô-va” là đặc điểm nổi bật trong sách này (6:11; 12:22; 13:1, 9, 17…)
    III. Nguy cơ đe dọa triều đại Đa-vít (17-22)
    Phần cuối sách 1Các Vua không ghi lại cuộc đời của các vua nhưng chép về cuộc đời của ông Ê-li, một ‘đại tiên tri’. Các thiếu nhi trung tín học Trường Chúa Nhật đều biết chuyện tiên tri Ê-li tiến hành cuộc thử nghiệm thuộc linh để chống lại 450 tiên tri của thần Ba-anh. Nhưng có lẽ các em không hiểu vì sao ‘đại tiên tri’ này lại có liên quan đến ‘cuộc thử nghiệm vĩ đại’ này. Nguyên nhân dẫn đến cuộc thử nghiệm này là vương quốc I-xơ-ra-ên và Giu-đa đang đối diện với một nguy cơ nghiêm trọng phát xuất từ bà Giê-sa-bên, một hoàng hậu người Ca-na-an gian ác. Ông A-háp, vua I-xơ-ra-ên đã phạm một tội kinh khủng khi cưới người tín đồ cuồng nhiệt của thần Ba-anh. Có 450 tiên tri giả đang phục vụ bà. Bà Giê-sa-bên nổi danh về lòng độc ác và tham vọng. Không những bà muốn xóa bỏ sự thờ phượng Đức Giê-hô-va ở miền bắc mà còn muốn lập sự thờ lạy thần Ba-anh trên toàn miền nam. Bà lập ra một kế hoạch kép. Thứ nhất, bà sẽ giết cách có hệ thống tất cả các tiên tri và thầy tế lễ của Đức Giê-hô-va ở miền Bắc (
    18:4 tt).
    Thứ hai, bà Giê-sa-bên gả công chúa A-tha-li cho ông Giô-ram là hoàng tử của miền nam. Về sau bà A-tha-li tiến hành theo kế hoạch của mẹ mình nhằm xóa bỏ vương triều Đa-vít. Nhưng Đức Chúa Trời không cho phép điều này xảy ra vì Ngài đã hứa rằng sẽ chẳng thiếu người ngồi trên ngai Đa-vít. Vì thế Ngài dấy lên một thầy tế lễ tin kính và dùng ‘con gái của Đa-vít’ để cứu hoàng tử thuộc dòng dõi vua Đa-vít (xem 2Vua 11:1-21;).
    Chúng ta hãy trở lại phần cuối 1Các Vua. Sách kết thúc bằng hình ảnh của hai vị vua khước từ lời tiên tri của Đức Chúa Trời mà chỉ tập trung vào điều mà họ muốn nghe. Ông A-háp, vua I-xơ-ra-ên muốn ông Giô-sa-phát, vua Giu-đa, giúp vua đánh quân Sy-ri. Vua Giô-sa-phát muốn cầu hỏi ý kiến tiên tri của Đức Chúa Trời. Nhưng vua A-háp muốn nghe theo triều thần của vua gồm 400 vị tiên tri (có lẽ họ thay thế cho 450 tiên tri của thần Ba-anh đã bị Ê-li giết). Các tiên tri này luôn báo điều lành cho vua. Chỉ có tiên tri Mi-chê kính sợ Đức Chúa Trời và không chìu theo ý vua. Vua A-háp nói rằng ông ghét hỏi ý kiến ông Mi-chê bởi vì “người chẳng nói tiên tri lành về việc của tôi bèn là nói tiên tri dữ” (
    22:8,18). Nhưng vua Giô-sa-phát cho người mời ông Mi-chê đến trước mặt vua. Ông Mi-chê (với giọng đầy mỉa mai) bắt đầu nói tiên tri rằng họ sẽ thắng trong trận chiến chống quân Sy-ri. Nhưng vua A-háp cật vấn lại bằng những lời coi như mỉa mai nhất trong Kinh Thánh. Vua nói với Mi-chê rằng “Biết bao lần ta đã lấy lời thề buộc ngươi chỉ khá nói chân thật với ta nhân danh Đức Giê-hô-va” (22:16). Thế là ông Mi-chê nghiêm chỉnh báo cho hai vua điều mà ông đã nhận từ Đức Chúa Trời. Cách ông Mi-chê mở đầu lời tiên tri có ý nghĩa rất quan trọng “Tôi thấy Đức Giê-hô-va ngự trên ngôi Ngài” (22:19). Rồi ông tiếp tục cảnh cáo hai vua không nên ra trận để đánh quân Sy-ri. Hai vị vua đang ngồi trên ngai (22:10) đương nhiên là phải hiểu ý quan trọng mà ông Mi-chê nói: họ chỉ là hai vua chư hầu, họ phải luôn đầu phục Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn chúa. Nhưng vua A-háp từ chối nghe theo lời tiên tri của ông Mi-chê, dầu vua biết rằng điều đó đến từ Đức Chúa Trời. Vua ra lệnh giam ông Mi-chê trong tù rồi ra trận. Trong trận chiến đó vua bị giết đúng như lời tiên tri đã báo trước (22:37-38).
    Trong sách Giô-suê, dân sự theo một Đức Chúa Trời duy nhất, nhưng họ không hoàn toàn vâng lời Ngài. Trong 2Sa-mu-ên, Đa-vít theo Chúa nhưng không đặt Ngài làm chủ cuộc đời mình cách trọn vẹn. Ở đây, trong 1Các Vua, dân sự theo Đức Chúa Trời nhưng đồng thời họ cũng theo các thần khác. Sách 1Các Vua ghi lại chuyện điển hình. Vua Sa-lô-môn xây Đền Thờ ở Giê-ru-sa-lem. Nhưng ông cũng xây miếu thờ các thần ngoại giáo (
    14:4-8). Vua Rô-bô-am cầu vấn ý kiến các trưởng lão khôn ngoan và kính sợ Đức Chúa Trời. Nhưng ông cũng nghe theo lời của nhóm người trẻ ngu dại (12:6-11). Dân sự thờ phượng Đức Chúa Trời đồng thời họ cũng thờ thần Ba-anh. Vì vậy ông Ê-li thách thức họ qua câu Kinh Thánh chính của sách này: “Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn.” (18:21) Nhưng dân sự không trả lời ông. Lòng chúng ta phải trọn lành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời (8:61so sánh với 2:4). Vấn đề của vua Sa-lô-môn là vua không hoàn toàn trung thành với Đức Chúa Trời (11:4). Chỉ có ông A-sa là một vị vua tốt, kính sợ Chúa, được chọn để đề cập đến cách đặc biệt. Suốt đời lòng ông luôn trọn lành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời (15:14trái ngược với 15:3).
    Trọng tâm
    Đức Chúa Trời là vua hoặc ban chấp hành đang cai trị đời sống của bạn?
    Thực hành
    Đối với bạn Đức Chúa Trời là nhân vật rất quan trọng hoặc là Đấng quan trọng nhất? Trong cuộc sống bạn chỉ lắng nghe tiếng của Đức Chúa Trời hoặc vừa nghe tiếng Ngài vừa nghe các cố vấn khác? Bạn muốn lắng nghe “những tiên tri” nói lẽ thật của Đức Chúa Trời hoặc bạn chỉ muốn lắng nghe “các tiên tri” mà bạn thích? Trong suốt tuần, chúng ta thờ phượng chỉ một mình Đức Chúa Trời hoặc đồng thời chúng ta cũng thông đồng với các thần tượng? Chúng ta đang ăn cái bánh dành cho mình mà còn muốn có thêm nữa phải không? Có phải chúng ta vừa phục vụ Chúa vừa phục vụ Ma-môn không?
    Đa số chúng ta gặp khó ở khâu nghe. Điều Đức Chúa Trời phán và điều chúng ta nghe thường là hai điều hoàn toàn khác nhau. Khi Đức Chúa Trời bảo rằng chúng ta phải vâng lời và đặt Ngài ngự trên ngai của đời sống chúng ta thì chúng ta thưa: “Dạ, con đã làm điều đó rồi ạ”. Nếu chúng ta đã áp dụng bài học rồi thì còn gì nữa đâu mà vận dụng vào cuộc sống, đúng không?
    Không đúng! Sai! Chúng ta chưa vận dụng bài học đó. Trong một mức độ nào đó thì đúng. Chúng ta đã đặt Đức Chúa Trời trên ngai cuộc đời của mình. Nhưng chúng ta đặt Chúa vào loại ngai nào? Chúng ta đặt Ngài làm đầu một cách tượng trưng như các vua I-xơ-ra-ên và Giu-đa đã làm, phải không? Hoặc là đối với chúng ta, Ngài chỉ là hình ảnh tượng trưng như kiểu nữ hoàng Elizabeth II đối với nước Anh. Ai đang cai trị cuộc đời của chúng ta? Đức Chúa Trời là vua hoặc ban chấp hành này ban trị sự kia? Khi chúng ta muốn mua một ngôi nhà, thay đổi việc làm hoặc tìm người bạn đời của mình thì Chúa có quyền quyết định không? Khi lãnh đạo hội thánh, chúng ta có tra xem lời của Ngài không? Đối với bạn, Đức Chúa Trời là vua ở mức độ nào?
    I CÁC VUA
    Ý chính: Sa-lô-môn (nguyên nhân) rạn nứt, phân chia
    Chủ đề chính: Triều đại vua Đa-vít
    Cụm từ chính: ‘Người ngồi trên ngôi I-xơ-ra-ên’ (3 lần)
    Câu chính: “Đoạn Ê-li đến trước mặt dân sự mà nói rằng: Các ngươi đi giẹo hai bên cho đến chừng nào? Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài; nếu Ba-anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn. Song dân sự không đáp một lời.” (
    IVua 1V 18:2)
    Bài học chính: Đức Chúa Trời là vua hoặc ban trị sự, ban chấp hành đang cai trị cuộc đời của bạn?


    IICÁC VUA
    Tác giả: Kh ông r õ (Gi ê-r ê-mi?)
    Thời kỳ hình thành sách: Trong thời kỳ lưư đày
    Mục đích: Nhằm giải thhích cho những người trong tuyển dân của Đức Chúa Trời đang sống cảnh lưư đày.
    Đối tượng: Những người phạm tội và đang gánh chịu sự hình phạt của Đức Chúa Trời.
    Tản mạn
    Thuở tôi còn bé, cha mẹ tôi sống trong một căn hộ nhỏ hẹp với bầy con đông. Dần dà việc làm ăn của cha tôi càng ngày càng khấm khá nên chúng tôi dọn đến những ngôi nhà rộng rãi hơn. Rồi khi tôi lớn, các anh chị tôi lập gia đình và ra riêng thì ngôi nhà của chúng tôi vẫn chật chội như trước. Có vẻ như chúng tôi chẳng bao giờ có đủ chỗ để cất đồ đạc. Nhiều lần tôi cố gắng dọn dẹp cho ngôi nhà được ngăn nắp, gọn gàng. Nhưng sau mỗi lần nỗ lực dọn dẹp, nhà cửa trông vẫn ngổn ngang như trước. Một lần kia, trong thời gian cha mẹ tôi đi nghỉ mát dài ngày ở nước ngoài, tôi lại ra tay dọn dẹp nhà cửa. Lần này, sau khi dọn xong tính ra đồ đạc tôi đã liệng chất đầy sáu xe. Lần này ngôi nhà trông khác hẳn. Còn nhiều khoảng trống trong tủ lẫn trên nóc tủ.
    Tôi chợt nghĩ: muốn dọn dẹp, sắp xếp lại đồ đạc trong nhà, bạn phải loại bỏ rác rến và đồ đạc vô dụng. Trong đời sống tâm linh của chúng ta cũng vậy. Chúng ta tưởng đâu rằng cứ gia tăng những điều tốt việc lành chúng ta sẽ thiêng liêng hơn. Nhưng không thể được vì không có chỗ. Vậy đó, chúng ta lo sắp xếp lại đời sống mình nhưng không chịu vứt bỏ rác rến (nghĩa là những điều vụn vặt vô giá trị) nên rốt cuộc chúng ta chỉ sắp xếp rác lại. Kết quả ra sao? Toàn là những đống rác ngăn nắp và gọn gàng!
    Sách 2Các Vua viết về dòng dõi các vua không chịu vứt bỏ rác rến trong chính cuộc đời và vương quốc của họ. Vì vậy kết quả ra sao? Bạn đoán được mà: một vương quốc có tổ chức tốt nhưng đầy dẫy tội lỗi. Nhưng Đức Chúa Trời vẫn là chủ của ngôi nhà, còn họ chỉ là người thuê nhà mà thôi. Vì họ không chịu loại bỏ rác khỏi đời sống mình nên cuối cùng Đức Chúa Trời loại bỏ họ.
    Thâm nhập
    Sách 2Các Vua gồm 3 phần. Cuối mỗi phần tác giả đều dùng cùng một cụm từ để mô tả số phận của tuyển dân Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời ‘từ bỏ chúng nó khỏi trước mặt Ngài’ (
    13:23; 17:18,20,23; 23:2724:3,20). Nghĩa đen của cụm từ này là Đức Chúa Trời loại bỏ họ “khỏi trước mặt Ngài”. Nhưng vì sao Đức Chúa Trời phải loại bỏ họ? Bởi vì họ đã làm “điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va”. Sách lập lại cụm từ này đến hai mươi mốt lần. Đức Chúa Trời trừ bỏ tuyển dân khỏi trước mặt Ngài bởi vì Ngài rất ghét tội lỗi. Trong khi đó họ cứ phạm tội và vẫn không chịu loại bỏ hình tượng khỏi cuộc sống của mình.
    I. Loại bỏ các trụ thờ (1-13)
    Thật sai lầm khi nghĩ rằng trong cuộc sống của chúng ta nếu có hình tượng thì chỉ có một dạng một loại. Thật ra hình tượng nằm dưới nhiều dạng, nhiều loại. Dân I-xơ-ra-ên có 3 nhóm hình tượng chính. Phần sách thứ nhất tập trung vào ‘các hình tượng Ba-anh’ (
    3:2; 10:26-27). (Bản New International Version dùng từ “các vầng đá thiêng” để chỉ về các hình tượng này). Đặc biệt vương quốc I-xơ-ra-ên rất dễ bị lôi cuốn vào sự thờ phượng hình tượng Ba-anh (17:10).
    Phần thứ nhất không viết nhiều về các vua I-xơ-ra-ên nhưng chủ yếu viết về cuộc đời của ‘đại tiên tri’ Ê-li-sê, là người nối nghiệp tiên tri Ê-li. Về sau ông Giê-hu tiếp tục gánh công tác trừ diệt hình tượng Ba-anh khỏi nước I-xơ-ra-ên (
    10:28). Tuy nhiên, hình tượng các thần khác vẫn tồn tại (13:6).
    Dầu vậy vì sao Đức Chúa Trời không loại bỏ dân I-xơ-ra-ên sớm hơn? Vì Ngài giàu lòng thương xót, Ngài muốn ban ân huệ cho họ; ngoài ra, vì cớ giao ước mà Ngài đã lập với ông Áp-ra-ham (
    11:23).
    II. Loại bỏ các tượng bò bằng vàng (14-17)
    Mặc dù sự thờ phượng Ba-anh kể như hoàn toàn bị xóa bỏ nhưng sự thờ lạy tượng bò bằng vàng (
    10:29; 17:16) và sự thờ phượng tại các nơi cao (12:3; 14:4; 15:4,35; 16:4; 17:9-11, 29-32) vẫn thịnh hành khắp nơi. Thật ra tình trạng ngày càng trở nên tồi tệ hơn cho đến khi Đức Chúa Trời không thể tiếp tục ban ân huệ nữa. Ngài để cho vương quốc I-xơ-ra-ên ở miền bắc rơi vào cảnh lưu đày. Trước đây, Đức Chúa Trời đã cảnh cáo họ về việc này (1Vua 14:15-16). Nhưng họ cứ miệt mài thờ hình tượng. Vì vậy cuối phần hai của sách, tác giả lập lại ba lần rằng Đức Chúa Trời phải trục xuất dân I-xơ-ra-ên khỏi trước mặt Ngài (17:18,20,23).
    III. Loại bỏ ‘các thần’ khác (18-25)
    Vương quốc Giu-đa ở miền nam tiếp tục thờ hình tượng. Các tượng bò bằng vàng ở miền bắc đã bị phá hủy nên dân chúng miền nam tìm “các thần khác” để thờ lạy (
    17:29-38; 18:34-35; 19:12,18; 22:17; 23:24). Họ tiếp tục tìm đồng ruộng (21:3,7; 23:4-7) và các nơi cao (21:3 trái ngược với 23:5) làm nơi thờ lạy “các thần khác” này. Giống như (những người láng giềng ở) miền bắc, tình trạng thờ hình tượng của người Giu-đa ngày càng tồi tệ hơn. Một lần nữa, Đức Chúa Trời chờ cho đến khi sự thờ lạy hình tượng trở thành một phần quan trọng trong cuộc sống của họ rồi Ngài hành động và đưa họ vào chốn lưu đày. Tương tự phần trước, tác giả cũng lập lại ba lần việc Đức Chúa Trời phải trừ bỏ dân Giu-đa khỏi trước mặt Ngài (23:27; 24:3,20).
    Thành phần những người đầu tiên đọc sách này là dân Do Thái từ nước Giu-đa bị lưu đày sang Ba-by-lôn. Họ nhìn lại lịch sử để tìm hiểu vì sao mình bị lưu đày. Đây là lý do khiến tác giả lập lại nhiều lần vấn đề Đức Chúa Trời loại trừ dân sự khỏi trước mặt Ngài. Tác giả muốn dân sự biết rằng họ bị lưu đày không phải vì Đức Chúa Trời không đủ quyền năng để bảo vệ họ, cũng không phải bốc đồng hủy bỏ giao ước. Nhưng họ bị lưu đày vì cớ họ đã thờ hình tượng.
    Trong sách Các Quan Xét, dân sự là ‘những tội nhân giản đơn’. Họ bỏ Đức Chúa Trời để thờ hình tượng (
    Cac Tl 2:13). Nhưng trong thời 2Các Vua, họ trở nên ‘những tội nhân khôn lanh’. Họ không đơn giản bỏ Đức Chúa Trời để thờ hình tượng. Nhưng họ lý luận: Sao không thờ cả Đức Chúa Trời lẫn hình tượng để nhận phước lành từ cả đôi bên? Câu Kinh Thánh chính của 2Các Vua ghi rõ: “Các dân tộc ấy kính sợ Đức Giê-hô-va và cũng hầu việc những hình tượng chạm của mình” (17:41. Xem thêm 17:32-33). Có lẽ bạn thắc mắc: “Sao có thể làm như thế được?” Điều đó không những có thể mà còn là chuẩn của những tín hữu lõi đời ngày nay.
    Trọng tâm
    Hãy loại bỏ các hình tượng của bạn! Đừng sắp xếp lại làm gì!!!
    Thực hành
    Ngày nay việc thờ hình tượng cũng lan tràn chẳng kém gì thời vương quốc bị chia đôi. Lần cuối mà bạn nghe một bài giảng chống lại sự thờ hình tượng là khi nào?
    Vì sao ngày nay Cơ Đốc nhân không công nhận họ phạm tội thờ hình tượng? Vì họ cho rằng các thuộc viên của hội thánh chỉ là ‘những tội nhân giản đơn’ như dân I-xơ-ra-ên trong thời Các Quan Xét. Nhưng trong thế giới hiện đại, tội lỗi cũng tiến bộ chứ! Các thuộc viên của hội thánh có thể là ‘những tội nhân khôn lanh’ hơn cả dân chúng trong thời 2Các Vua. Ngày nay, ‘các tội nhân khôn lanh’ thường trấn an lương tâm và tiếp tục phạm tội bằng cách chỉ công nhận một định nghĩa về tội lỗi trong cuộc sống của mình: họ cho rằng chỉ khi nào theo chủ nghĩa vật chất mới là thờ hình tượng. Đúng phần nào thôi. Theo chủ nghĩa vật chất là có sự tham lam, mà tham lam là thờ hình tượng (
    CoCl 3:5). Nhưng không phải chỉ có tánh tham lam mới là thờ thần tượng. Đặc điểm của xã hội hiện đại là sự lựa chọn. Có hàng trăm loại dầu gội đầu cho bạn chọn thì cũng có hàng nghìn thần tượng cho bạn chọn. Một số Cơ Đốc nhân tự hào là họ không thể phạm tội thờ thần tượng vì họ không chạy theo vật chất. Dầu vậy có thể họ thờ thần tượng bản ngã. Dầu vậy họ thờ các thần tượng của xác thịt: mê ăn uống, ma túy, rượu, thuốc lá, hình ảnh khiêu dâm, thủ dâm.
    Bất cứ điều gì cũng có thể trở thành thần tượng. Ngay cả con rắn đồng mà ông Môi-se đã đúc ra trong đồng vắng cũng trở thành thần tượng. Thậm chí dân sự còn đặt tên cho nó là Nê-hu-tan (
    18:4). Cái ti vi có thể trở thành hình tượng của tôi. Câu lạc bộ bóng đá có thể trở thành hình tượng của bạn. Nghề nghiệp hoặc ngôi nhà đẹp có thể trở thành hình tượng của anh ta hoặc cô ta. Nhưng cũng có những loại hình tượng tinh tế hơn. Tri thức của Kinh Thánh có thể trở thành hình tượng nếu tôi xem việc trau giồi tri thức Kinh Thánh quan trọng hơn việc nhận biết chính Đức Chúa Trời. Thời khoá biểu có thể trở thành hình tượng nếu cuộc sống của bạn lệ thuộc vào thời khoá biểu thay vì để thời khoá biểu phục vụ bạn. Nếu bạn cho rằng phải đem theo máy vi tính xách tay khi đi nghỉ hè thì hoá ra bạn can tội mang theo một hình tượng nhỏ trong cặp hoặc trong giỏ của mình.
    Cũng cần thận trọng để hội thánh không trở thành hình tượng của chúng ta. Những sinh hoạt thuộc linh như hát trong ca đoàn cũng có thể trở thành hình tượng. Cung cách ‘thiêng liêng’ mà chúng ta khoác vào khi thực hiện mọi việc trong hội thánh cũng có cơ nguy trở thành hình tượng. Trong thời Tân Ước, tục lệ truyền thống đã từng trở thành hình tượng của người Do Thái.
    Làm sao có thể nhận biết một điều đã trở thành hình tượng của bạn? Thử loại bỏ điều đó (dù là nhất thời thôi) khỏi đời sống của bạn. Bạn có thể khăng khăng rằng đối với bạn điều đó không phải là hình tượng. Nhưng nếu thiếu điều đó bạn không thể sống được thì điều đó là hình tượng! Như vậy, bây giờ bạn nhận ra trong đời sống của bạn có bao nhiêu hình tượng rồi chứ!
    Tiết chế là phương cách hữu hiệu nhằm chữa bệnh thờ hình tượng. Hãy tập tiết chế không chỉ đối với thức ăn nhưng ngay cả đối với việc xem ti vi, đá bóng, tình dục, máy vi tính xách tay, ngay cả điện thoại nữa (nên thận trọng - thậm chí tiết chế cũng có thể trở thành một loại hình tượng!) Nếu tiết chế không có hiệu quả thì chuyển sang cách khác triệt để hơn. Vua Ê-xê-chia phải phá hủy con rắn đồng Nê-hu-tan, chỉ là một di vật vô giá trị mà nó đã trở thành đối tượng thờ tụng. Chúng ta phải loại bỏ các hình tượng khỏi đời sống của mình, nếu không Đức Chúa Trời sẽ loại bỏ chúng ta trước mặt Ngài.
    IICÁC VUA
    Ý chính: Vương quốc (rơi vào) lưu đày
    Chủ đề chính: Thờ lạy hình tượng
    Cụm từ chính: ‘làm điều ác trước mặt Đức Giê-hô-va’ (21 lần) ‘điều thiện trước mặt Đức Giê-hô-va’ (8 lần)
    Câu chính: “Như vậy, các dân tộc ấy kính sợ Đức Giê-hô-va và cũng hầu việc những hình tượng chạm của mình; tổ phụ chúng nó làm thế nào, thì con cái cháu chắt chúng nó cũng hãy còn làm thế ấy cho đến ngày nay.” (II Vua 17:41;)
    Bài học chính: Hãy loại bỏ các tượng thần của bạn. Đừng sắp xếp lại làm gì?


    ISỬ KÝ
    Tác giả: Không rõ (ông E-x ơ-ra?)
    Thời kỳ hình thành sách: Ngay sau thời lưu đày
    Mục đích: Nhằm khơi dậy nơi những người bị lưu đày niềm hy vọng là họ sẽ trở về vì Đức Chúa Trời không từ bỏ họ.
    Đối tượng: Những người gánh chịu sự sửa phạt của Đức Chúa Trời cần nhận biết rằng Đức Chúa Trời vẫn có một chương trình cho đời sống họ.
    Tản mạn
    Ông Thomas Hobson là một nhà chăn nuôi ngựa người Anh sống trong thế kỷ XVII. Khách hàng nào đến chuồng ngựa của ông cũng được tự do chọn lựa ngựa - miễn là con ngựa được chọn phải là con ở gần cửa ra vào nhất. Về sau người ta gọi sự ‘tự do lựa chọn’ giả đó là sự lựa chọn của Hobson.
    Còn trong thế kỷ này, ông Henry Ford cập nhật chủ trương của ông Thomas Hobson. Con người nổi tiếng vì là người đầu tiên sản xuất xe hơi hàng loạt có lần nói rằng: “Bạn có thể chọn một chiếc xe Ford màu nào cũng được tùy ý bạn - miễn là nó màu đen!”
    Trong mối quan hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời, chúng ta thường tìm cách cho phép Ngài lựa chọn theo kiểu của ông Hobson. Chúng ta cho Chúa biết là Ngài nên đáp lời cầu nguyện của chúng ta như thế nào. Chúng ta trình với Chúa những điều chúng ta xem là quan trọng cần bàn thảo. Chúng ta sắp xếp hết những vấn đề cần bàn thảo giữa chúng ta với Ngài.
    Nhưng Đức Chúa Trời nghĩ gì? Ngài hoạch định điều gì? Chương trình của Ngài là gì? Ngài muốn chúng ta làm gì? Làm sao chúng ta có thể biết những điều này? Chúng ta có thể tìm biết chương trình của Đức Chúa Trời qua sách 1Sử Ký - một trong những sách trong Kinh Thánh Cựu Ước ít có người quan tâm nhất. ít có người đọc nhất. Nếu bạn muốn biết hoạt động của Đức Chúa Trời trong thế giới này, bạn hãy đọc sách 1Sử Ký.
    Thâm nhập
    Có thể xem hai sách Sử Ký là một sách lược khảo thời Cựu Ước. Trong bộ nguyên ngữ Hi-bá-lai người ta ghép hai quyển này thành một sách và đặt ở cuối bộ Kinh Thánh của người Do Thái. Vị trí cuối bộ Kinh Thánh là vô cùng quan trọng. Trong khi biên tập, tác giả cung cấp cho chúng ta một bản tường thuật tổng quát về toàn bộ lịch sử của tuyển dân Đức Chúa Trời rồi còn đưa ra những lời bình luận về một số chi tiết. Những lời bình luận này cho phép chúng ta thấy lịch sử loài người qua cái nhìn của Đức Chúa Trời. Đấy chính là những lời diễn giải và chú thích của Đức Chúa Trời về những diễn biến đã xảy ra trong cuộc sống của tuyển dân của Ngài. Những lời ấy bày tỏ cho chúng ta biết điều mà Đức Chúa Trời xem là quan trọng.
    I. Mười hai chi phái I-xơ-ra-ên (1-10)
    Tác giả viết 10 chương đầu của 1Sử Ký theo kiểu một quyển sổ niên giám điện thoại! Có những bảng danh sách dài dằng dặc liệt kê các chi họ I-xơ-ra-ên. Đối với Đức Chúa Trời, mỗi tên riêng trong các bảng liệt kê này đều quan trọng. Mỗi tên riêng tiêu biểu cho một người trung tín theo Ngài hoặc bất trung với Ngài.
    Cụm từ chính trong phần thứ nhất của sách là ‘không trung thành với Giê-hô-va Đức Chúa Trời’. Cụm từ này mô tả sự kiện hai chi phái Ru-bên, Gát và phân nửa chi phái Ma-na-se bị lưu đày vì cớ tội tà dâm thuộc linh (tức là tội thờ hình tượng (
    5:25). Về sau người Giu-đa cũng bị lưu đày vì lòng bất trung của họ (9:1). Sau-lơ, một vị vua bất trung cũng bị giết vì vua không vâng lời Đức Chúa Trời (10:13). Tên tuổi của những người bất trung này được ghi lại trong sử sách. Họ nổi danh không phải nhờ lòng tin kính Đức Chúa Trời mà vì cớ tội lỗi của họ. Đây là lời cảnh cáo dành cho những người Do Thái hồi hương từ các nước lưu đày cũng như dành cho tất cả các độc giả ngày nay. Đừng như họ nếu bạn không muốn cùng chung số phận với họ.
    II. Triều đại vua Đa-vít (11-21)
    Trong phần thứ nhất, điều mà Đức Chúa Trời xem quan trọng là các chi phái. Trong phần thứ hai, điều quan trọng là ngôi vua. Vì vua Sau-lơ bất trung với Đức Chúa Trời nên vua Đa-vít lên ngôi thay thế. Chương 17 là chương chính của phần 2 này. Chương đó ghi lại việc Đức Chúa Trời lập giao ước với vua Đa-vít (xem thêm 2Sa-mu-ên chương 7). Vua Đa-vít muốn làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời (
    16:2,8,10,29,35) bằng cách xây một Đền Thờ cho Ngài (17:1). Thế nhưng Đức Chúa Trời phán với vua rằng Ngài sẽ làm cho vua nổi danh (17:8), và Ngài dựng cho vua một nhà (17:10). Dĩ nhiên đây không phải là nhà theo nghĩa đen, nhưng là một triều đại. Nhà ấy bao gồm những người kế vị vua (17:11), là những người lập thành triều đại Đa-vít (17:12,14).
    Phần thứ hai là bảng liệt kê các danh sách tạo nên nhà (tức là dân tộc) I-xơ-ra-ên. Trong phần thứ hai, vua Đa-vít quan tâm đến danh Đức Chúa Trời hơn. Vì thế vua muốn xây nhà cho Đức Chúa Trời. Trong phần thứ nhất, Đức Chúa Trời quyết định chuyển giao quyền trưởng nam của chi phái Ru-bên cho chi phái Giu-đa (
    5:1). Trong phần thứ hai, Đức Chúa Trời quyết định chuyển ngôi vua của Sau-lơ qua cho Đa-vít (12:23). Trong phần một, cuộc đời của vua Sau-lơ tiêu biểu cho những sự thất bại lớn lao của dân I-xơ-ra-ên. Trong phần hai, cuộc đời của vua Đa-vít tiêu biểu cho các vị anh hùng vĩ đại của dân tộc I-xơ-ra-ên (Chương 11, 12).
    III. Đền Thờ của Đức Chúa Trời (22-29)
    Phần thứ ba tiếp tục chủ đề vua Đa-vít muốn làm vinh hiển danh Đức Chúa Trời bằng cách xây Đền Thờ cho Ngài (
    22:7, 8, 10, 19; 29:16). Nhưng vì cớ vua Đa-vít làm đổ máu nhiều trong các cuộc chiến tranh (22:8-10) nên Đức Chúa Trời quyết định chuyển việc xây dựng Đền Thờ cho Sa-lô-môn, con trai của vua. Trong phần thứ nhất, gia đình vua Sau-lơ chết (10:6). Trong phần thứ ba, nhà A-bi-na-đáp bị rủa sả (13:7) và nhà Ô-bết - Ê-đôm được ban phước (13:14). Trong phần thứ ba, nhà Đức Chúa Trời được xây dựng (22:2,6,7,8,10,11; 28:2,3,6). Trong phần một, dân tộc là điều quan trọng đối với Đức Chúa Trời. Trong phần hai, triều đại Đa-vít là quan trọng đối với Ngài. Trong phần thứ ba, điều quan trọng đối với Đức Chúa Trời là Đền Thờ của Ngài. Khi dân sự từ các xứ lưu đày trở về, các chi phái ở miền bắc không còn nữa. Đền Thờ bị hủy phá tan tành. Dù người Giu-đa vẫn còn vua thuộc dòng dõi Đa-vít (2Vua 25:27-30) nhưng vua không còn ngồi trên ngai. Trước thực trạng đó ưu tiên hàng đầu của dân sự là trung thành với Đức Chúa Trời để rồi Ngài tái lập cho họ ba điều ấy.
    Như vậy mười hai chi tộc I-xơ-ra-ên, triều vua Đa-vít và Đền Thờ Giê-ru-sa-lem quan trọng như thế nào? Vô cùng quan trọng. Hãy chú ý đến sự kiện Kinh Thánh Cựu Ước thường nhắc đến ba vấn đề này chung với nhau (ví dụ
    Thi Tv 122:1-5). Trong Kinh Thánh Tân Ước cũng vậy. Khi Đức Chúa Trời phục hồi quyền cai trị tuyệt đối của Ngài trên toàn thế giới thì sẽ có dấu hiệu phục hồi mười hai đại tộc I-xơ-ra-ên (KhKh 21:12), lập lại ngai vua Giu-đa (KhKh 21:5, 22:3) và chính Đức Chúa Trời trở thành Đền Thờ mới (KhKh 21:22).
    Trong cuối thế kỷ này, nhiều biến cố liên quan đến dân Do Thái đã đưa các học giả Kinh Thánh đến kết luận rằng chúng ta đang sống trong thời kỳ cuối cùng. Có thể là như vậy. Tuy nhiên, vẫn còn những lời tiên tri chưa được ứng nghiệm. Hiện nay, I-xơ-ra-ên đã trở thành một quốc gia nhưng mười hai chi tộc vẫn còn ‘tản lạc’. Dân I-xơ-ra-ên đã trở về vùng đất của họ. Nhưng họ không có vua, tức là ngôi vua. Họ đã giành lại thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng Đền Thờ không còn nữa. Người ta xây một ngôi đền Hồi giáo ngay trên nền của Đền Thờ mà vua Sa-lô-môn đã xây dựng. Trong quá khứ đã có những nỗ lực và chắc chắn trong tương lai sẽ có những nỗ lực để lập lại Các Chi Tộc, Ngai Vua và Đền Thờ. Cho đến nay, tất cả mọi cố gắng đều thất bại. Chúa Giê-xu có thể trở lại ngay hôm nay. Hãy tỉnh thức khi Đức Chúa Trời bắt đầu lập lại Các Chi Tộc, Đền Thờ và Ngôi vua. Ngày cuối cùng của thế giới đã gần rồi.
    Thế là bạn hiểu sứ điệp của 1Sử Ký quan trọng đến thế nào rồi. Đức Chúa Trời hoàn toàn điều khiển lịch sử thế giới để thực hiện chương trình của Ngài và thiết lập vương quốc của Ngài. Nhờ nghiên cứu 1Sử Ký mà chúng ta không còn xem con người là trung tâm của vũ trụ nữa. Nhờ đó chúng ta sẽ chú tâm đến các công việc trong chương trình của Đức Chúa Trời hơn thay vì chỉ miệt mài với những việc thường nhật của mình. Nhờ đó chúng ta sẽ không bị sa lầy trong những vấn đề của gia đình và hội thánh chúng ta. Đồng thời chúng ta cũng sẽ chú tâm vào những việc thật sự lớn lao mà hiện nay Đức Chúa Trời đang thực hiện trong vương quốc của Ngài. Đức Chúa Trời, Vua, đang tái lập Vương Quốc của Ngài. Còn tất cả chúng ta đều được đặc ân dự phần.
    Câu Kinh Thánh chính của sách này là một lời cầu nguyện của vua Đa-vít. Tuy nhiên, mỗi Cơ Đốc nhân chúng ta đều có thể áp dụng lời cầu nguyện này: “Nguyện điều ấy được vững chắc, và Danh Chúa được tôn vinh đời đời, để người ta nói rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của I-xơ-ra-ên, tức là Đức Chúa Trời cho I-xơ-ra-ên; còn nhà Đa-vít, là tôi tớ Chúa, được đứng vững trước mặt Chúa!” (
    1Su 17:24).
    Trọng tâm
    Chúng ta hãy làm việc để xây dựng Danh Đức Chúa Trời và cầu nguyện để Đức Chúa Trời xây dựng gia đình của chúng ta.
    Thực hành
    Đa số Cơ Đốc nhân đảo lộn thứ tự ưu tiên của những công việc trong đời sống của mình. Chúng ta làm việc tích cực hàng giờ để tạo tiếng tốt cho bản thân; hoặc chăm chỉ làm việc để xây một mái ấm cho gia đình; hoặc nỗ lực giúp con cái thành công trong cuộc sống. Rồi chúng ta và con cái dâng cho Đức Chúa Trời thì giờ, sức lực, tiền bạc còn thừa. Những nỗ lực đó hoàn toàn vô ích. Chúng ta có thể thật sự thành công bằng một phương cách tốt hơn nhiều - đó là trước hết lo làm vinh danh Đức Chúa Trời và lập vương quốc của Ngài rồi cầu nguyện xin Ngài xây dựng mái ấm gia đình cho chúng ta. Chúng ta cần tham gia và giúp đỡ con cái Ngài tham gia vào việc thiết lập vương quốc của Đức Chúa Trời trên toàn cầu. Một cách cụ thể, chúng ta hãy nhớ cầu thay cho dân Do Thái, tuyển dân của Đức Chúa Trời, và cầu nguyện cho Giê-ru-sa-lem được hoà bình. Chúng ta cần phải làm hết sức vì Chúa Cứu Thế có thể trở lại bất kỳ lúc nào. Chúng ta hãy sốt sắng làm việc cho Đức Chúa Trời.
    Nhưng khoan, thử xét lại xem động cơ nào khiến chúng ta phục vụ Chúa. Có thể chúng ta làm công việc của Đức Chúa Trời nhưng không làm cho Đức Chúa Trời. Vậy động cơ khiến chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời phải xuất phát từ tấm lòng chân thật muốn làm vinh hiển danh Ngài, “vì Đức Giê-hô-va dò xét tấm lòng và phân biệt các ý tưởng” (
    28:9). Chúng ta sốt sắng tham gia vào ban hát, tham gia chứng đạo, dạy đạo và phục vụ Chúa Cứu Thế. Nhưng Đức Chúa Trời biết rõ chúng ta làm việc nhằm mục đích lập danh và lập một ‘triều đại’ cho bản thân chúng ta trong hội thánh.
    Thảm hại biết bao nếu chúng ta bỏ trọn cuộc đời để thực hiện thành công những điều sai. Cách duy nhất để tránh sự sai lầm này là luôn luôn cầu nguyện và tìm hiểu chương trình của Đức Chúa Trời thay vì nỗ lực tự sắp xếp chương trình. Chúng ta có thể tìm hiểu chương trình của Đức Chúa Trời bằng cách nghiên cứu Kinh Thánh từng trang một từ đầu đến cuối thay vì bỏ qua phần khó mà chỉ đọc những phân đoạn Kinh Thánh dễ hiểu và hấp dẫn. Khi học Kinh Thánh chúng ta cần chuyên tâm học những vấn đề khó - còn tìm tòi những chuyện dễ dàng, học cách nhẹ nhàng, thoải mái thì có thể chúng ta vui thích trong giây lát. Nhưng đừng bao giờ tập trung vào những phần phụ đến mức chúng ta bỏ qua “những điều quan trọng hơn trong luật pháp” (
    Mat Mt 23:23). Qua việc đọc và học Kinh Thánh, bạn có thể nhận ra chương trình của Đức Chúa Trời dành cho bạn ngày hôm nay không?
    I SỬ KÝ
    Ý chính: Hậu tự (của) Đa-vít
    Chủ đề chính: Nhà Đa-vít
    Cụm từ chính: ‘cất Đền cho danh Ta’ (14 lần)
    Câu chính: “Nguyện điều ấy được vững chắc, và Danh Chúa được tôn vinh đời đời, để người ta nói rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân, là Đức Chúa Trời của I-xơ-ra-ên, tức là Đức Chúa Trời cho I-xơ-ra-ên; còn nhà Đa-vít, là tôi tớ Chúa, được đứng vững trước mặt Chúa!” (
    1Su 17:24)
    Bài học chính: Chúng ta hãy làm việc để xây dựng nhà Đức Chúa Trời và cầu nguyện để Đức Chúa Trời xây dựng gia đình của chúng ta.


    IISỬ KÝ
    Tác giả: Không rõ (ông E-xơ-ra).
    Thời kỳ hình thành sách: Ngay sau thời kỳ lưu đày
    Mục đích: Nhằm khơi dậy niềm hy vọng nơi những người trở về chốn lưu đày khi biết rằng đức chúa trời không từ bỏ họ.
    Đối tượng: Những người gánh chịu sự sửa phạt của Đức Chúa Trời cần nhận biết rằng Ngài vẫn có một chương trình dành cho đời sống họ.
    Tản mạn
    Vị Mục sư ngẫm nghĩ và thầm tự hào. Ông cảm thấy dường như ông vừa giảng xong một bài hay nhất trong cuộc đời mình. Ông hồi tưởng hình ảnh ông đứng trước hội chúng đông đảo, múa may hai tay thật mạnh mẽ để nhấn mạnh các luận điểm. Ông cảm thấy rất thỏa lòng khi giảng xong. Ngồi trên xe, ông cầu nguyện trước khi lái xe về nhà. Ông cúi đầu xuống và sững sờ trong giây lát khi thấy rằng ông đã đứng giảng với cái quần chưa cài dây kéo!
    Đức Chúa Trời biết cách giữ tôi tớ Ngài trong tinh thần khiêm nhu. Sách IISử Ký dạy chúng ta cách sống gần gũi với Đức Chúa Trời từ đầu đến cuối. Sách nghiên cứu về cuộc đời của những người thành công và thất bại trong vương quốc của Đức Chúa Trời. Tác giả cho chúng ta thấy nếp sống của họ và giúp chúng ta học tập cách sống thành công, chớ không phải thất bại, trước mặt Đức Chúa Trời.
    Thâm nhập
    Về mặt nội dung, hai sách Sử Ký ghi lại những biến cố tương tự như hai sách Các Vua. Nhưng hai sách này tập trung vào vương quyền của Đức Chúa Trời, còn hai sách Sử Ký tập trung vào nhà của Đức Chúa Trời. Trong lịch sử, tác giả dùng hình ảnh dân I-xơ-ra-ên và Đền Thờ để chỉ về nhà của Đức Chúa Trời, còn trong sách 2Sử Ký tác giả nói về nhà của Đức Chúa Trời qua hình ảnh Đền Thờ tại Giê-ru-sa-lem.
    I. Xây dựng Đền Thờ (1-9)
    Phần thứ nhất không đặt nặng việc trị vì của vua Sa-lô-môn mà tập trung viết về vua Sa-lô-môn xây dựng Đền Thờ. Ngoài ra việc vua cung hiến Đền Thờ sau khi xây dựng xong là sự kiện có ý nghĩa nhất trong phần một này. Sau khi dời hòm giao ước và các khí dụng thánh ra khỏi đền tạm và chuyển vào Đền Thờ mới (Chương 5), vua Sa-lô-môn cầu nguyện với Đức Chúa Trời rồi chúc phước cho dân chúng (Chương 6). Ngay lúc ấy, vinh quang của Đức Chúa Trời giáng xuống đầy dẫy Đền Thờ và Ngài lập lại giao ước Đa-vít với vua (Chương 7).
    Trong một phương diện, lời Đức Chúa Trời hứa với vua Đa-vít là lời hứa vô điều kiện: Nhà Đa-vít sẽ không bao giờ tuyệt tự, tức dòng dõi Đa-vít luôn có để cai trị dân I-xơ-ra-ên và dòng dõi vua không bao giờ bị tiêu diệt. Nhưng theo một phương diện khác, giao ước này có điều kiện: Nếu con trai của vua vâng lời Đức Chúa Trời cùng trung thành với Ngài thì con trai ấy sẽ ngồi trên ngai I-xơ-ra-ên. Còn ngược lại, nếu con cái vua không vâng phục và bất trung với Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ truất phế họ (
    7:17-18). Khi dân sự bất tuân, Đức Chúa Trời cho hạn hán xảy ra trên xứ để cảnh báo họ (7:13). Câu Kinh Thánh chính của sách này gói ghém một giải pháp: “…và nhược bằng dân sự Ta, là dân gọi bằng danh Ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt Ta và trở lại, bỏ con đường tà, thì Ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (so sánh 34:27).
    II. Làm ô uế Đền Thờ (10-27)
    Phần thứ hai nêu ra một số trường hợp cụ thể về những con người không tự hạ mình trong lịch sử của dân Giu-đa. Hạn hán và chiến tranh xảy ra trong xứ vì cớ tội lỗi của họ. Đền Thờ tại Giê-ru-sa-lem cũng được dùng như một nhiệt kế đo nhiệt độ thuộc linh của dân Giu-đa. Vua Sa-lô-môn xây dựng Đền Thờ này khi vua tin cậy rằng Đức Chúa Trời là Đấng cho đất nước được thái bình (
    IISu 2Sb 22:9-10,17-19). Trái lại ông Ba-ê-sa, vua của vương quốc I-xơ-ra-ên ở miền Bắc, phải ngưng ngay công tác xây đồn luỹ ở Ra-ma khi vua bị quân thù tấn công (IISu 2Sb 16:5). Một số vị vua gian ác lấy đi vàng bạc trong Đền Thờ và bỏ mặc Đền Thờ trong tình trạng hư nát (12:9; 16:2-3). Một vị vua nhân đức lo sửa chữa Đền Thờ để thờ phượng Đức Chúa Trời (15:18; 24:14). Trong ISử Ký lòng trung thành của các vua đối với Đức Chúa Trời được thử nghiệm qua công tác xây dựng nhà của Đức Chúa Trời. Còn trong 2Sử Ký, tấm lòng của họ đối với Đức Chúa Trời được thử nghiệm qua việc tu bổ nhà của Ngài.
    Khi một vị vua gian ác làm điều xấu xa tội lỗi, toàn dân phải chịu khốn khổ dưới sự hình phạt của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời luôn sẵn lòng phục hồi họ với điều kiện họ phải hạ mình xuống trước mặt Ngài. Vua Rô-bô-am con trai của vua Sa-lô-môn, người gây ra cảnh đất nước chia đôi là một trường hợp điển hình về điều này. Dù là một vị vua gian ác, nhưng rốt cuộc Đức Chúa Trời ban phước cho vua vì vua hạ mình xuống trước mặt Ngài (
    12:12).
    III. Phá hủy Đền Thờ (28-36)
    Điểm khác biệt rõ rệt giữa I Sử Ký và hai sách Các Vua là: hai sách Các Vua mô tả các vua theo một hướng nhất định: hoặc hoàn toàn tốt, hoặc hoàn toàn xấu. Còn IISử Ký nêu ra các chi tiết bày tỏ những biến đổi trong lòng họ. Dĩ nhiên, điều quan trọng là Đức Chúa Trời luôn phục hồi họ nếu họ ăn năn, hạ mình xuống trước mặt Ngài. Có những vị vua gian ác, xấu xa nhưng biết hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời và được phục hồi. Đó là Rô-bô-am (
    12:6-7,12), một số người trong chi phái A-se (30:11) và Ma-na-se, vị vua gian ác nhất trong lịch sử dân Giu-đa (33:12,19).
    Trái lại, có những vị vua lúc đầu nhân đức sau trở thành xấu xa chẳng hạn như vua Giô-ách (
    24:22), vua A-ma-xia (25:19,27), vua Ô-xia (26:16) và vua Ê-xê-chia (32:25-26). Nan đề chính của họ là gì? Kiêu ngạo. Và Đức Chúa Trời bảo họ làm gì? Hạ mình xuống trước mặt Ngài (7:14).
    Tác giả đặc biệt viết về những vị vua tiêu biểu: Giô-tham, một vị vua nhân đức hiếm có. Vua trở nên cường thịnh vì sống chính trực trước mặt Đức Chúa Trời (
    27:6). Đối lập với vua Giô-tham là Xê-đê-kia, một vị vua gian ác. Ngay cả khi Đức Chúa Trời sửa phạt vua, vua vẫn không chịu hạ mình xuống trước mặt Ngài (36:12). Những người không chịu ăn năn đều bị Đức Chúa Trời hạ nhục trước mặt người ta (28:19). Trong phần cuối lịch sử của dân Giu-đa, Đức Chúa Trời nhận định rằng tình trạng tội lỗi của họ trở nên tồi tệ “chẳng còn phương chữa được” (36:16). Cuối cùng, Đức Chúa Trời thi hành phán quyết của Ngài và đưa họ vào chốn lưu đày.
    Tuy nhiên sách không kết thúc trong tuyệt vọng mà là hy vọng. Si-ru, hoàng đế xứ Ba Tư , ban sắc lệnh cho dân Giu-đa trở về Giê-ru-sa-lem và xây dựng lại Đền Thờ (
    36:22-23). Đức Chúa Trời sửa phạt chớ không từ bỏ tuyển dân của Ngài.
    Ông Winston Churchill nói rằng: “Thành công không phải là chung cuộc; thất bại không phải là đòn chí mạng. Chỉ can đảm là điều đáng kể” (“Success is never final; Failure is never fatal; It is courage that counts”).
    Sứ điệp trong 2Sử Ký cũng tương tự như vậy. Tuy nhiên, điều đáng kể trong 2Sử Ký không phải là can đảm mà là lòng khiêm nhu.
    Trọng tâm
    Thành công không phải là chung cuộc; thất bại không phải là đòn chí mạng; tự hạ mình mới là đáng kể.
    Thực hành
    Thành công và thất bại là hai điều khó xử lý nhất trong cuộc sống. Thành công khiến chúng ta kiêu ngạo. Còn thất bại khiến chúng ta nản lòng và bỏ cuộc. Để tránh tình trạng này, chúng ta cần học tập khiêm nhu. Khi thành công, cần hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời và tự nhủ chúng ta chỉ thành công nhờ ơn phước Chúa ban cho mà thôi. Khi thất bại, cần nhận biết Đức Chúa Trời cho phép thất bại xảy đến trong đời sống chúng ta nhằm hạ chúng ta xuống để sau đó Ngài có thể phục hồi chúng ta. Có thể Đức Chúa Trời phải hình phạt chúng ta khi chúng ta phạm tội. Nhưng một khi chúng ta còn sống, Ngài sẽ ban cho chúng ta cơ hội để được phục hồi.
    Chúng ta cần nhận biết rằng có những sự việc lẫn con người mà Đức Chúa Trời đưa đến trong đời sống chúng ta để giữ chúng ta khiêm nhường. Đôi khi Ngài đưa đến một vấn đề rắc rối, đôi lúc Ngài đưa đến một người. Cũng có khi Ngài đưa đến một điều bất lợi hoặc bệnh tật. Đối với chúng ta có lẽ những lời phê bình gay gắt và những con người khắt khe là khó chấp nhận nhất. Có khi chúng ta cho rằng họ là ‘sứ giả của Sa-tan’ được sai đến để ‘cho một cái giằm xóc vào thịt chúng ta’ (
    IICo 2Cr 12:7). Nhưng Đức Chúa Trời có thể sử dụng ngay cả ‘sứ giả của Sa-tan’ để giữ chúng ta khiêm tốn. Có những lúc chúng ta cần cẩn thận lắng nghe những điều mà ‘kẻ thù’ thuộc loại này nói về chúng ta hơn là lắng nghe bạn bè. Bạn bè của chúng ta thường khen ngợi chúng ta, rồi chúng ta tin lời họ và nghĩ rằng chúng ta thật tuyệt vời. Rắc rối một điều là thông thường những lời giáo huấn giữ chúng ta tinh thần khiêm tốn lại phát xuất từ môi miệng của ‘kẻ thù’ chúng ta, là những người không khi nào ủng hộ chúng ta cả. Đây là nhưng ‘tấm kính chiếu hậu’ của Đức Chúa Trời trong cuộc sống chúng ta để giúp chúng ta loại bỏ những ‘điểm mù’ của mình. Kẻ thù tồi tệ nhất của bạn có thể hoá thành tiên tri của Đức Chúa Trời.


    E-XƠ-RA
    Tác giả: Không rõ (E-xơ-ra?)
    Thời kỳ hình thành sách: sau thời kỳ lưu đày
    Mục đích: Nhằm khích lệ người Do thái trở về lập quốc
    Đối tượng: Những người muốn biết phương cách nhận lại ân huệ của Đức Chúa Trời.
    Tản mạn
    Một ông kia phạm tội tà dâm, li dị vợ, bỏ gia đình và hội thánh. Giờ đây, ông quay về nói rằng ông thật lòng ăn năn và muốn trở về với hội thánh. Ông công nhận rằng ngoại tình là tội lỗi và công nhận ông hoàn toàn sai khi li dị vợ cũ cùng bỏ rơi gia đình cũ. Nhưng bà vợ thứ hai đang mang thai nên ông không thể bỏ bà ấy. Dầu vậy ông và bà ấy muốn trở thành thành viên của hội thánh bạn
    Giả sử bạn đang lãnh đạo một hội thánh. Bạn nghi rằng người đàn ông này không thật lòng ăn năn. Bạn phải làm gì? Ông đã xưng nhận tội lỗi rồi. Nhưng nếu bạn chấp nhận cho ông ta gia nhập vào hội thánh thì có công bằng đối với người vợ trước của ông không?
    Chúng ta có thể tìm thấy lời giải đáp cho câu hỏi khó này trong sách E-xơ-ra. Câu giải đáp này phát xuất từ số vốn hiểu biết đúng mức về lòng ăn năn.
    Thâm nhập
    Tương tự sách Sử Ký, sách E-xơ-ra được viết cho thành phần những người vừa trải qua sự sửa phạt của Đức Chúa Trời và cần nối lại mối tương giao với Ngài. Sách 2Sử Ký dạy rằng họ phải tự hạ mình xuống. Còn sách E-xơ-ra dạy họ phải ăn năn. Thế nào là ăn năn thật? Dường như các tín hữu thời nay cảm thấy bối rối về vấn đề này. Vì vậy sách E-xơ-ra giúp chúng ta hiểu rõ sự ăn năn theo quan điểm của Đức Chúa Trời.
    I. Dân sự tái thiết Đền Thờ (1-6)
    Phần thứ nhất chép về đợt hồi hương đầu tiên của dân sự từ chốn lưu đày. (Có tất cả ba đợt hồi hương). Phần này tập trung kêu gọi dân sự Đức Chúa Trời tham gia tái thiết Đền Thờ. Tác giả ghi lại những khó khăn mà dân sự phải đối diện và những kỳ công của các đầy tớ trung thành của Đức Chúa Trời. Nhưng sang phần hai, ông E-xơ-ra lãnh đạo công tác phục hồi dân của Đức Chúa Trời. Trong lúc dân sự tái thiết Đền Thờ, có một nhóm người đến xin được ‘đồng công cộng tác’ với họ. Nhưng ông Xô-rô-ba-bên và các trưởng tộc của dân I-xơ-ra-ên từ khước. Vì thế, nhóm người này tìm mọi cách ngăn cản công việc của Đức Chúa Trời (Chương 4).
    Những người không thật lòng ăn năn cũng giống như vậy. Họ quan tâm đến công việc của bản thân họ hơn là công việc của Đức Chúa Trời. Nếu họ không thể thành công, họ cũng không muốn người khác thành công. Họ thích là cho mọi người đau khổ thay vì học tập mang lấy gánh nặng cho người khác.
    Tuy vậy nhờ tiên tri A-ghê và tiên tri Xa-cha-ri khuyến giục dân sự nên rốt cuộc dân sự hoàn tất công tác tái thiết Đền Thờ tại Giê-ru-sa-lem.
    II. Dân sự trở về với Đền Thờ (7-10)
    Giữa chương 6 và chương 7 của sách E-xơ-ra có một thời gian khoảng chừng sáu mươi năm. Phần thứ hai ghi lại đợt hồi hương thứ hai do chính ông E-xơ-ra cầm đầu. Ông E-xơ-ra là thầy tế lễ và chức vụ của ông chủ yếu tập trung vào việc lập lại mối tương giao giữa dân sự với Đức Chúa Trời. Tiến trình phục hồi này chưa xong trong khi công tác tái thiết Đền Thờ đã kết thúc. Tám mươi năm sau đợt hồi hương thứ nhất trong xứ vẫn còn nhiều tội lỗi. Nhiều độc giả còn xa lạ với Kinh Thánh Cựu Ước có thể nghĩ rằng trong thời lưu đày có lẽ dân Do Thái học xong các bài học về tội lỗi. Nhưng thực tế không phải là như vậy. Trong thời kỳ lưu đày, dân sự nhận được vài bài học thuộc linh. Nhưng họ vẫn phải chiến đấu với nhiều tội lỗi tương tự như những tội lỗi mà cha ông họ đã phạm trong thời trước.
    Trong lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời, ông E-xơ-ra thưa rằng Đức Chúa Trời đã ban cho dân Do Thái “một phần dư lại” nguyên văn là một “cây cọc của trại” trong Nơi Thánh Ngài (
    9:8). Đức Chúa Trời không ban cho họ toàn bộ cái trại mà chỉ một cây cọc của cái trại thôi. Dân sự mới bước vào giai đoạn đầu của sự phục hồi. Còn xa lắm mới đến giai đoạn kết thúc. Cây cọc của cái trại chỉ là một điểm tựa để tiến đến sự phục hồi.
    Ăn năn là một tiến trình chớ không phải chỉ một lần quyết tâm là đủ. Ăn năn bao gồm quyết tâm lẫn tiến trình phục hồi. Quyết tâm chỉ là điểm tựa để tiến đến sự phục hồi. Nhưng nhiều người lại biến ăn năn thành một chiếc ghế bành. Cần dựng lại toàn bộ cái trại bắt đầu từng phần một. Ngay cả sau khi ăn năn, phần lớn đời sống chúng ta vẫn còn trong tình trạng bất ổn. Tình trạng này là kết quả của những năm tháng phạm tội và thờ ơ đối với Chúa.
    Chúng ta đừng ngây thơ nghĩ rằng chỉ cần một quyết định là toàn bộ cuộc sống của chúng ta sẽ trở lại bình thường. Khi chúng ta xưng nhận tội lỗi mình thì Đức Chúa Trời tha thứ cho chúng ta nhờ Chúa Cứu Thế. Tuy nhiên, hậu quả của các tội lỗi mà chúng ta đã phạm trong quá khứ vẫn còn đó. Vì vậy chúng ta cần khép mình vào một chương trình học tập cầu nguyện và học Kinh Thánh để học lại những phương cách mới giúp chúng ta chống lại tội lỗi và sự cám dỗ.
    Trọng tâm
    ăn năn bao gồm cả quyết tâm lẫn tiến trình phục hồi.
    Thực hành
    Bạn có cho con người ‘ăn năn hối cải’ gia nhập hội thánh của bạn không? Tôi sẽ chấp nhận nếu nơi ông ấy có những dấu hiệu bày tỏ lòng khiêm nhu. Một trong những dấu hiệu ấy là ông ta chấp nhận một thời gian thử nghiệm. Trong suốt thời gian này ông tham gia (chứ không phải chỉ tham dự) vào chương trình học tập làm môn đệ của Chúa. Chương trình này hoàn toàn không nhằm phạt ông ta, nhưng nhằm xác định rằng ông không đối xử với người vợ sau như đã đối xử với người vợ trước. Ông cần tìm hiểu nguyên nhân đã khiến ông phạm tội tà dâm khi trước và học tập phương cách giúp ông chiến thắng sự cám dỗ trong tương lai. Nếu ông ta không thường xuyên hoặc không nhiệt tình tham gia chương trình này, hoặc ông không làm trọn nhiệm vụ của mình thì người lãnh đạo hội thánh có quyền dứt phép thông công ông. Ngược lại, nếu trong thời gian ông ta tham gia chương này, nếu lãnh đạo hội thánh nhận thấy ông thật lòng ăn năn thì nên tiếp nhận ông làm thuộc viên của hội thánh đồng thời cho phép ông dự tiệc thánh.
    Ông ta có thể phản ứng theo một trong ba cách. Thứ nhất, ông rút lại ý định của mình đối với hội thánh, thậm chí có thể ông nổi giận với hội thánh. Nếu ông hành động như thế, chắc chắn là ông chưa thật lòng ăn năn. Nếu khi đó hội thánh bạn loại bỏ ông thì không ai có thể lên án hội thánh bạn đã làm điều sai vì đó là quyết định của ông ta. Thứ hai, có thể ông ta chấp thuận tham gia chương trình môn đệ hóa, nhưng không có quyết tâm theo trọn chương trình này. Rồi ông lại phạm tội một lần nữa. Như vậy ông chưa ăn năn thật. Ông chỉ muốn hưởng những quyền lợi của một thuộc viên trong hội thánh nhưng ông không có mối thông công đúng đắn với Đức Chúa Trời. Thứ ba, ông theo trọn chương trình và thật sự trở về với Đức Chúa Trời và hội thánh. Rồi đây hội thánh bạn sẽ nhận được phần thưởng ân điển Đức Chúa Trời.
    E-XƠ-RA
    Ý chính: ĐỀN THỜ (và) DÂN SỰ
    Chủ đề chính: Nhà Đức Chúa Trời
    Cụm từ chính: ‘Đền (đền thờ, nhà) của Đức Chúa Trời’ (33 lần)
    Câu chính: “Song bây giờ, Giê-hô-va Đức Chúa Trời của chúng tôi tạm làm ơn cho chúng tôi, để một phần dư lại của chúng tôi thoát khỏi, và ban cho chúng tôi một cái đinh ở trong chỗ thánh nầy; hầu cho Đức Chúa Trời chúng tôi soi sáng con mắt chúng tôi và khiến cho chúng tôi ở giữa sự nô lệ mình được dấy lên một chút.” (
    Exo Er 9:8)
    Bài học chính: Sự ăn năn bao gồm cả quyết tâm lẫn tiến trình phục hồi.


    NÊ-HÊ-MI
    Tác giả: Không rõ (ông E-xơ-ra và ông Nê-hê-mi?)
    Thời kỳ hình thành sách: Sau thời kỳ lưu đày
    Mục đích: Nhằm nhắc Đức Chúa Trời nhớ đến những việc làm của người trung thành với Ngài
    Đối tượng: Những người làm công việc Chúa, đang gặp chống nghịch và thu gặt được ít kết quả.
    Tản mạn
    Vào mùa hè năm 1990, bức tường Berlin cuối cùng đã bị phá đổ. Sự kiện này đem lại một niềm vui lớn cho cả Đông Đức lẫn Tây Đức. Thế thì vì sao chúng ta lại nghiên cứu sách Nê-hê-mi - một quyển sách chép về việc xây dựng tường thành? Chẳng phải chúng ta nên cổ vũ cho việc phá đổ những bức tường ngăn cách? (
    Eph Ep 2:14). Chuyện ở đây là chuyện khác. Trong sách Nê-hê-mi, tường thành Giê-ru-sa-lem đổ nát là điều sỉ nhục đối với dân sự của Đức Chúa Trời (2:17so sánh 5:9). Vì thế xây dựng tường thành Giê-ru-sa-lem là làm công việc Đức Chúa Trời. Mặc dầu đây là một công tác thuộc thể, nhưng không kém phần vinh dự so với công tác của ông E-xơ-ra là phục hồi đời sống thuộc linh cho dân sự của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời thấy thật cần và đúng khi dành trọn một sách trong Kinh Thánh cho tất cả những người thực hiện các công tác kém màu sắc ‘thuộc linh’ và ‘hấp dẫn’, chẳng hạn như: sửa chữa hoặc lái xe tải, đánh máy, giữ sổ sách kế toán, sửa mái nhà dột… Tất cả đều làm việc vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Sách Nê-hê-mi bày tỏ điều Đức Chúa Trời nghĩ về những người như thế cùng các công việc mà họ đảm nhận.
    Thâm nhập
    Những sự việc trong sách này diễn ra sau thời kỳ lưu đày tại Ba-by-lôn. Dưới sự hướng dẫn của ông Xô-rô-ba-bên và ông E-xơ-ra, những người Do Thái hồi hương trong lần thứ nhất và lần thứ nhì bắt tay vào công tác tái thiết Đền Thờ. Nhưng các tường thành Giê-ru-sa-lem vẫn còn trong tình trạng đổ nát. Ông Nê-hê-mi cưu mang thực trạng này. Ngoài ông ra, hình như chỉ có một số ít người khác quan tâm đến việc này. Có lẽ họ không nhận thấy tầm quan trọng của công tác thuộc thể đó. Có lẽ họ không hiểu rằng tái thiết tường thành là làm việc cho Đức Chúa Trời. Nhưng ông Nê-hê-mi nhận biết điều đó. Vì vậy, ‘làm công việc của Đức Chúa Trời’ trở thành mục đích của cuộc đời ông và cũng là chủ đề của sách này.
    I. Công cuộc tái thiết tường thành (1-7)
    Trong phần thứ nhất của sách, làm công việc của Đức Chúa Trời là tái thiết lại tường thành Giê-ru-sa-lem. Đây là công việc thuộc thể nặng nhọc. Nhưng ông Nê-hê-mi nhận biết rằng công việc này cũng có liên quan đến cuộc chiến thuộc linh.
    Cầu nguyện là ‘bí quyết’ đưa ông Nê-hê-mi đến thành công. Trong nửa phần đầu của sách, ông cầu nguyện tám lần. Trong nửa phần thứ hai của sách, ông cầu nguyện bốn lần nữa. Chắc chắn đời sống của ông là một đời sống cầu nguyện. Ông Nê-hê-mi gặp những trở ngại lớn và nhiều cuộc chống đối thuộc linh. Nhưng ông đương đầu với cơn khủng hoảng bằng sự cầu nguyện - và cuối cùng ông chiến thắng.
    II. Phục hồi luật pháp (8-13)
    Trong phần sách thứ nhất, làm công việc của Đức Chúa Trời liên quan đến công tác tái thiết tường thành. Còn phần sách thứ hai tập trung vào việc phục hồi luật pháp của Đức Chúa Trời trong đời sống của dân sự. Nếu đời sống tâm linh của cư dân trong thành phố đang bất ổn thì việc xây bức tường vững chắc bao quanh thành phố có ích gì? Do đó, phần công tác của ông E-xơ-ra là đốc thúc dân sự cam kết sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời. Một lần nữa, cầu nguyện là ‘bí quyết’ giúp hai ông thành công (
    8:6; 9:3, 5-38).
    Nhưng nếu nói rằng chỉ cần cầu nguyện là bảo đảm thành công thì chúng ta lại đơn giản hoá vấn đề. Chúng ta phải cầu nguyện về vấn đề gì? Ông Nê-hê-mi đã cầu nguyện về vấn đề gì?
    Ông cầu nguyện về hai vấn đề sau đây:
    Thứ nhất , ông cầu xin Đức Chúa Trời nhớ lại tất cả những việc mà kẻ thù nghịch ông đã làm (
    6:14; 13:29). Trong phần sách thứ nhất, ông phải đương đầu với sự khó khăn lớn nhất khi kẻ thù ngăn cản chống nghịch công việc của ông. Nhưng nhờ cầu nguyện ông không phản ứng quá gay gắt và không trả thù kẻ chống nghịch ông. Khi làm công việc Đức Chúa Trời, chúng ta mắc phải rắc rối to là vì đôi khi chúng ta lo tự vệ và mải mê tấn công ‘kẻ thù’ đến mức chúng ta không còn đủ sức để thực hiện công việc thật sự hữu ích.
    Điều thứ hai , ông Nê-hê-mi cầu xin Đức Chúa Trời nhớ lại tất cả những việc mà ông đã làm (5 lần). Trong phần thứ nhất ông Nê-hê-mi cầu xin Đức Chúa Trời nhớ lại việc ông đã thực hiện cho dân sự, tức là tái thiết tường thành (
    5:19). Sang phần thứ hai, ông cầu xin Đức Chúa Trời nhớ lại việc ông đã thực hiện cho Ngài, tức là phục hồi luật pháp (13:14, xem thêm 13:22,31). Trong phần một, ông gặp khó khăn từ phía quân thù. Còn trong phần hai ông gặp khó khăn từ chính đồng bào của ông.
    Chúng ta hãy thẳng thắn công nhận điều này. Làm công việc Đức Chúa Trời đôi lúc rất dễ nản lòng và mất tinh thần. Giống như ông Nê-hê-mi, kết quả của những công việc mà ông đã thực hiện dường như không bền vững. Dân sự Đức Chúa Trời có khuynh hướng quay về với lối sống tội lỗi cũ (
    13:7,10,15,23).
    Điều gì kềm giữ ông Nê-hê-mi lại, không cho ông bỏ cuộc, từ chức để nghỉ ngơi hoặc trở vào thần học viện mong kiếm bằng cấp cao hơn? Ông cầu nguyện và cầu xin Đức Chúa Trời nhớ đến việc ông đã làm. Đức Chúa Trời có nhớ đến ông không? Đức Chúa Trời không chỉ nhớ đến ông Nê-hê-mi mà Ngài còn nhớ đến nhiều người khác nữa. Nhìn vào bảng danh sách dân sự trong Chương 7 và Chương 10 đến Chương 12 chúng ta thấy tên ông Nê-hê-mi đứng đầu (
    10:1).
    Trọng tâm
    Hãy tiếp tục làm công việc Đức Chúa Trời, và cầu xin Ngài, chứ không phải xin người ta nhớ đến việc bạn đã thực hiện.
    Thực hành
    Trong hội thánh, có rất nhiều người trước kia từng phục vụ Chúa, nhưng giờ đây, một nỗi sợ ám ảnh họ khiến họ không tham gia công tác nữa. Nào ai dám chê trách họ? Sự chống đối và kết quả kém là hai nguyên nhân khiến ai ai cũng nản lòng. Chính vì vậy mà có rất nhiều câu trong Kinh Thánh nhắc nhở người phục vụ Đức Chúa Trời đừng nản chí, ngã lòng (
    Thi Tv 90:17; ICo1Cr 15:58; IICo 2Cr 4:1; GaGl 6:9; HeDt 6:10; 12:3,13). Trong quân đội của Đức Chúa Trời, chúng ta không cần những người lính làm nghĩa vụ vài năm, nhưng chúng ta cần những người lính chuyên nghiệp. Chúng ta không thể nào chấp nhận tốn kém thời gian, công sức, tiền bạc huấn luyện nhiều người để một thời gian sau họ bỏ ngang công việc, không phải vì thương tật vĩnh viễn nhưng chỉ vì mệt mỏi, chán chường.
    Dưới bất kỳ hình thức nào, nếu bạn dự phần vào công tác mở mang vương quốc của Đức Chúa Trời và làm vinh hiển danh Ngài thì bạn là một người phục vụ thật của Ngài. Trong hội thánh, có những người chuyên lo các công việc thuộc linh tương tự như ông E-xơ-ra. Đừng xem những người làm công tác tương tự như ông Nê-hê-mi là kém quan trọng. Kẻ thù, và tự thân công việc thừa sức làm chúng ta nản lòng rồi.
    Trong lúc chúng ta đang bàn về kẻ thù xin tất cả những ai đang chống đối công việc của Đức Chúa Trời thận trọng. Đức Chúa Trời và tất cả các tín hữu nhớ đến danh tánh của Tô-bi-gia và San-ba-lát là những người cản trở công việc của Đức Chúa Trời. Rất có thể ông Tô-bi-gia và ông San-ba-lát không ngờ rằng chính họ là những con người xấu xa. Nhưng trước mặt Đức Chúa Trời, họ là những kẻ xấu vì họ cản trở công việc của Ngài. Những ai luôn luôn phản đối mạnh mẽ những nghi lễ và các nguyên tắc hãy thận trọng: bạn có thể trở thành một Tô-bi-gia hoặc một San-ba-lát vì bạn đang cản trở công việc của Đức Chúa Trời đang đà tiến triển.
    Còn những ai đang phải đương đầu với các Tô-bi-gia và San-ba-lát trong thế gian này, thì nên nhớ rằng Đức Chúa Trời dựa vào những kết quả gặt hái được qua công tác phục vụ của bạn để ban hào quang cho bạn. Ngài mong mỏi thấy bạn trung tín và kiên trì. Nên dành thì giờ cầu nguyện và lắng nghe Đức Chúa Trời nhắc bạn nhớ đến điều này.
    NÊ-HÊ-MI
    Ý chính: TƯỜNG THÀNH (và) LUẬT PHÁP
    Chủ đề chính: Công việc của Đức Chúa Trời
    Cụm từ chính: ‘Đức Chúa Trời ôi, xin nhớ đến tôi’ (4 lần)
    Câu chính: “Đức Chúa Trời ôi! Vì cớ điều này, xin nhớ đến tôi, và chớ bôi xóa các việc tốt lành mà tôi đã làm vìđền của Đức Chúa Trời tôi và về điều phải giữ gìn tại đó.” (Nê-hê-mi 13:14)
    Bài học chính: Hãy tiếp tục làm công việc Đức Chúa Trời, và cầu xin Ngài chứ không phải xin người ta nhớ đến việc bạn đã thực hiện.


    Ê-XƠ-TÊ
    Tác giả: Không rõ (Mạc-đô-chê?)
    Thời kỳ hình thành sách: Sau thời kỳ lưu đày
    Mục đích: Nhằm cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời luôn che chở bảo vệ dân Ngài ngay cả khi họ sống ở nơi xa xăm, hẻo lánh.
    Đối tượng: Dân Đức Chúa Trời là một thiểu số bị bắt bớ.
    Tản mạn
    Ngay trước và trong cuộc cách mạng ở Mỹ, một nhóm người có vũ trang tuyên thệ luôn luôn ở trong tư thế sẵn sàng nhập ngũ chiến đấu khi có lệnh điều quân khẩn cấp. Họ là những người nông dân bình thường, người chủ cửa hiệu và các cư dân khác trong thành phố. Để có thể làm trọn lời hứa nguyện, họ phải luyện tập cho thành thục, luôn luôn cảnh giác, và lúc nào cũng mang vũ khí bên mình. Do đó, người ta gọi họ là đội quân trừ bị ‘cấp giây’ (giây phút). Ngày nay, ở Mỹ có một loại vũ khí được đặt tên theo tên của đội quân này.
    Sách Ê-xơ-tê bày tỏ rằng trong lĩnh vực thuộc linh, Đức Chúa Trời cũng cần những nam nữ dân quân trừ bị trong đội quân của Ngài. Ngài cho phép ‘những việc ngẫu nhiên’ xảy ra để đặt dân Ngài vào đúng vị trí và đúng thời điểm. Thườn g thường dân của Đức Chúa Trời không hiểu vì sao Ngài đặt họ vào nơi đó. Năm này qua năm khác, họ sống và làm việc tương tự như láng giềng và đồng nghiệp chưa tin Chúa. Nhưng thình lình Đức Chúa Trời kêu gọi họ bắt tay vào việc. Luyện tập và trang bị đòi hỏi nhiều năm trời. Nhưng khi Đức Chúa Trời kêu gọi bạn phải sẵn sàng vào việc ngay trong thời gian ngắn. Có thể lắm Đức Chúa Trời muốn bạn bắt tay vào việc liền sau khi Ngài kêu gọi bạn.
    Thâm nhập
    Sách Ê-xơ-tê chép về câu chuyện dân Do Thái sống lưu đày tại đế quốc Ba Tư. Thời nay cũng như thời xưa người Do Thái là thiểu số bị bắt bớ. Tuy vậy một số rất ít người vẫn đạt đến được những vị trí có quyền lực lớn. Họ là dân của Đức Chúa Trời. Nhưng sao họ lại bị bắt bớ? Và họ có thể làm gì để khỏi bị diệt chủng? Sách Ê-xơ-tê sẽ trả lời cho chúng ta.
    I. Dân của Đức Chúa Trời bị bức hại (1-5)
    Năm chương đầu của sách này giải thích nguyên nhân dẫn đến việc tiêu diệt dân của Đức Chúa Trời. Ông Mạc-đô-chê, một người Do Thái tin kính Chúa và là anh họ của bà Ê-xơ-tê, khước từ tiếp nhận văn hoá của người Ba Tư vì điều đó có thể gây tổn hại đến đức tin của ông. Tể tướng Ha-man ra lệnh cho tất cả các quan chức khác trong hoàng cung đều phải cúi mình tỏ lòng tôn kính mình. Nhưng ông Mạc-đô-chê không cúi mình chào kính tể tướng Ha-man. Vì vậy tể tướng Ha-man âm mưu diệt trừ ông Mạc-đô-chê và toàn bộ dân tộc của ông Mạc-đô-chê - tức là dân Do Thái (
    3:5-6). Dường như đây cũng chính là hình ảnh mô tả cuộc sống của Cơ Đốc nhân. Thường thường là nếu bạn yêu mến Đức Chúa Trời và vâng giữ các điều răn luật lệ của Ngài thì rốt cuộc bạn sẽ bị người ta bức hại (xem Mat Mt 5:11; 2Ti 3:12).
    Nhưng vì sao Đức Chúa Trời để cho người ta bức hại dân của Ngài? Phải chăng Đức Chúa Trời cho phép điều đó xảy ra để giữ dân Ngài khỏi bị đồng hoá và khỏi mất dân tộc tính? Đức Chúa Trời đặt để chúng ta sống trong thế gian này. Trên nhiều phương diện Ngài đặt chúng ta sống trong lãnh thổ của kẻ thù nghịch. Thế gian này không phải là quê nhà của chúng ta. Nhưng đôi lúc chúng ta quên sự kiện này nên chuốc lấy khó khăn, rắc rối vì mải lo rập theo tiêu chuẩn của thế gian. Nhưng khi nào người ta không chấp nhận những việc làm công chính của chúng ta thì lúc ấy chúng ta biết chắc rằng chúng ta được nhìn nhận là dân của Đức Chúa Trời.
    Phần thứ nhất của sách không chỉ ghi lại nguyên nhân dẫn đến cuộc mưu sát mà còn ghi lại sự chuẩn bị cho dân sự Đức Chúa Trời. Mặc dầu sách này không nhắc đến danh của Đức Chúa Trời, nhưng rõ ràng có quá nhiều việc ngẫu nhiên xảy ra theo sự sắp đặt của Ngài mà người ta không giải thích được. Bà Ê-xơ-tê trở thành hoàng hậu của đế quốc Ba Tư trong hoàn cảnh khá đặc biệt. Ông Mạc-đô-chê tình cờ nghe được âm mưu sát hại vua và ông đã có thể chận đứng âm mưu ấy. Rồi có một đêm, vì mất ngủ vua truyền đem sách lịch sử đất nước ra đọc. Nhờ đó vua mới đọc đến lòng can đảm của ông Mạc-đô-chê trong việc ngăn chận âm mưu ám hại vua.
    II. Dân của Đức Chúa Trời được bảo toàn (6-10)
    Nhưng Đức Chúa Trời chuẩn bị ông Mạc-đô-chê và bà Ê-xơ-tê nhằm mục đích gì? Đức Chúa Trời muốn dùng họ để bảo toàn dân Ngài. Phần thứ hai của sách chép rất rõ ràng về điều này.
    Nhờ cứu vua khỏi bị ám hại nên ông Mạc-đô-chê được vua ban thưởng.Ông Mạc-đô-chê đã chứng tỏ rằng ông là bầy tôi trung thành. Bà Ê-xơ-tê tự tìm cơ hội để yết kiến vua. Đây là một hành động rất nguy hiểm và khác thường, vì theo luật pháp, người ta phải chờ có lệnh vua triệu đến mới được yết kiến vua. Nếu vua không chấp nhận cho bà Ê-xơ-tê yết kiến vua, chắc chắn bà sẽ bị xử tử. Nhưng một lần nữa, có vẻ như tình cờ mà vua chấp nhận lời thỉnh cầu của bà Ê-xơ-tê. Bà bày tỏ cho vua biết rằng tể tướng Ha-man và phe phái của ông mưu toan tàn sát bà và toàn bộ dân tộc của bà, tức là dân Do Thái. Vua ra lệnh treo cổ tể tướng Ha-man rồi ban sắc lệnh cho phép người Do Thái tự vệ khi bị kẻ thù tấn công.
    Đừng quên là sách còn gói ghém ý mỉa mai nữa. Phân nửa trước của sách trình bày một tình thế có vẻ như một cuộc khủng hoảng thực sự nhưng rốt cuộc biến thành cơ hội cho dân Đức Chúa Trời đắc thắng và ăn mừng. Sang phần sách thứ hai tình thế thay đổi hoàn toàn (
    9:1). Trong phần thứ nhất vua trao nhẫn cho ông Ha-man (3:10). Sang phần thứ hai, người được vua trao nhẫn là ông Mạc-đô-chê (8:2). Trong phần một ông Mạc-đô-chê khước từ cúi mình xuống trước mặt ông Ha-man (3:2). Trong phần hai, ông Ha-man phủ phục nơi chân hoàng hậu Ê-xơ-tê và cầu khẩn bà cứu mạng (7:8). Trong phần thứ nhất, ông Ha-man kiêu ngạo, khoe khoang về sự giàu có và địa vị của mình (5:11). Sang phần thứ hai, ông Ha-man bị treo cổ trên cây mộc hình mà chính ông cho dựng lên để treo ông Mạc-đô-chê (7:10). Trong phần thứ nhất, tất cả dân Do Thái đều kiêng ăn (4:3,16). Nhưng đến phần thứ hai, dân Do Thái mở tiệc ăn mừng (8:17; 9:17-22). Mở đầu sách, người ta gieo súc sắc để định ngày tàn sát dân Do Thái (3:7). Và kết thúc sách, dân Do Thái ấn định ngày lễ kỷ niệm chiến thắng của họ (9:24tt). Ngày lễ này được gọi là “Phu-rim” (số nhiều của từ ‘pur’, có nghĩa là ‘gieo súc sắc’). Vậy qua câu chuyện này chúng ta rút ra bài học rằng dầu sống trong hoàn cảnh đầy tuyệt vọng, nhưng nếu dân Đức Chúa Trời can đảm đứng về phía Ngài thì họ sẽ chiến thắng khải hoàn.
    Trọng tâm
    Cánh cửa cơ hội để bạn giúp đỡ dân Đức Chúa Trời sẽ không rộng mở cho bạn mãi mãi.
    Thực hành
    Đúng vậy, chính Đức Chúa Trời sẽ giải cứu dân của Ngài. Nhưng bạn có sẵn sàng dự phần vào chương trình của Ngài không? Đức Chúa Trời đặt chúng ta ở vị trí chiến lược, vào thời điểm chiến lược để chúng ta có thể giúp đỡ dân Ngài. Ngày nay, trên khắp thế giới, dân sự Đức Chúa Trời đang sống trong cuộc khủng hoảng. Nhiều người đang trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế. Nông dân bị đe dọa mất đất canh tác. Người thuê nhà bị đe dọa mất nơi an thân. Công nhân lâm cảnh thất nghiệp. Cơ Đốc nhân nào đang ở trong những vị trí có quyền lực hoặc đang công tác với nhau vẫn có thể thực hiện lẽ công bằng. Một số dân của Đức Chúa Trời đang sống trong cuộc khủng hoảng chính trị. Một số người đang sống trong chốn lao tù. Chúng ta cần viết bài giúp người khác quan tâm đến cảnh khốn khó của họ. Còn một số khác sống trong những gia đình bị khủng hoảng. Họ bị hành hạ, bị lạm dụng nhục nhã. Số còn lại, như dân Do Thái lâm cảnh khổ đau bởi sự bức hại về tôn giáo và chủng tộc. Trước thực trạng này, tương tự như dân Do Thái, chúng ta cần làm ba điều. Thứ nhất, chúng ta phải kiêng ăn và cầu nguyện (
    4:16). Thứ hai, chúng ta cần lên tiếng và tận dụng cơ hội mà Đức Chúa Trời ban cho chúng ta (4:14). Thứ ba, chúng ta phải sẵn sàng hành động để tìm ra một giải pháp cho dù chính mình chúng ta phải trả giá. Khi ông Mạc-đô-chê kêu gọi bà Ê-xơ-tê cứu nguy dân tộc, bà đáp ứng ngay rằng: “Nếu con phải chết thì con chết” (4:16). Chúng ta phải trang bị cho chính mình một tinh thần sẵn sàng hi sinh giống như vậy.
    Tôi thường tự hỏi rằng vì sao trong bữa ăn cuối cùng, không môn đệ nào tình nguyện rửa chân cho nhau? (
    GiGa 14:1-31) Phải chăng họ không sẵn lòng? Có lẽ vậy. Nhưng tôi nghi rằng họ chờ đợi nhau. Dĩ nhiên, tôi không dám võ đoán về điều này. Nhưng có lẽ ai nấy đều nghĩ rằng: “Tôi sẽ làm điều đó nếu không ai khác sẵn lòng làm”. Và kết quả là họ mất cơ hội phục vụ. Câu Kinh Thánh chính của sách Ê-xơ-tê chép rằng: “Vì nếu con làm thinh trong lúc này đây, dân Giu-đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác, còn con và nhà cha con đều sẽ bị hư mất; song nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà con được vị hoàng hậu sao?” (EtEt 4:14). Sứ đồ Phao-lô cũng có cùng ý tưởng đó: “Vậy, đương lúc có dịp tiện, hãy làm điều thiện cho mọi người, nhất là cho anh em chúng ta trong đức tin.” (GaGl 6:10). Đức Chúa Trời huấn luyện chúng ta trong nhiều năm để chúng ta sẵn sàng bắt tay vào việc trong giây phút Ngài kêu gọi. Bạn có sẵn sàng đáp ứng tiếng kêu gọi của Đức Chúa Trời không? Bạn có phải là quân nhân trừ bị của Đức Chúa Trời, sẵn sàng tác chiến khi Ngài cần không?
    Ê-XƠ-TÊ
    Ý chính: Đế quốc Ba Tư (và) Lễ Phu-rim
    Chủ đề chính: Dân của Đức Chúa Trời
    Cụm từ chính: ‘dân Giu-đa’ (51 lần)
    Câu chính: “Vì nếu con làm thinh trong lúc này đây, dân Giu-đa hẳn sẽ được tiếp trợ và giải cứu bởi cách khác,còn con và nhà cha con đều sẽ bị hư mất; song nào ai biết rằng chẳng phải vì cớ cơ hội hiện lúc nầy mà con được vị hoàng hậu sao?” (
    EtEt 4:14)
    Bài học chính: Cánh cửa cơ hội để bạn giúp đỡ dân sự của Đức Chúa Trời không rộng mở mãi mãi.


    GIÓP
    Tác giả: Không rõ (ông Gióp?)
    Thời kỳ hình thành sách: Không rõ (thời kỳ các tổ phụ?)
    Mục đích: Nhằm ban cho chúng ta sự khôn ngoan để hiểu ý nghĩa của những thử thách trong cuộc đời.
    Đối tượng: Dân Đức Chúa Trời đang lâm cảnh hoạn nạn mà không rõ nguyên do.
    Tản mạn
    Hơn 100 năm về trước, bốn người con của ông Horatio Spafford chết đuối trong một vụ đắm tàu ở Đại Tây Dương. Khoảng một tháng sau, chính ông Spafford đi tàu vượt Đại Tây Dương đến Châu Âu để đoàn tụ với vợ ông, là người sống sót sau vụ đắm tàu. Khi tàu đang đi vào một vùng biển nọ, viên thuyền trưởng báo cho ông Spafford biết rằng chiếc tàu chở các con ông bị đắm trong vùng biển này. Ông Spafford không ngủ được suốt đêm đó. Nhờ vậy ông viết bài thánh ca nổi tiếng ‘Tâm linh tôi, yên ninh thay’ .
    “Khi tôi được bình tịnh dòng sông chảy theo đường đời ,
    Hoặc lắm thống bi như ba đào sôi ;
    Hoàn cảnh dẫu ra sao , Christ khuyên cứ nói sắt đinh :
    ‘Linh hồn ôi , ta yên ninh , thật yên ninh’” .
    Khi lâm cảnh khổ đau hoặc tang tóc, ai ai cũng thắc mắc: Nỗi đau này nhằm mục đích gì? Đức Chúa Trời có công bằng không? Đức Chúa Trời có quan tâm không? Ngài có hiện diện không? Những câu hỏi này ám ảnh chúng ta dù chúng ta đã đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
    Kinh Thánh dành trọn một sách để giải đáp những câu hỏi này. Đó là sách Gióp, một trong những sách dài nhất của Kinh Thánh. Như vậy chứng tỏ rằng đây là những câu hỏi quan trọng, phải có lời giải đáp thật rõ ràng, cụ thể chứ không mông lung, đại khái. Hầu hết các tôn giáo đều phải đối diện với nan đề này nhưng không tìm được lời giải đáp thỏa đáng. Riêng Cơ Đốc giáo có lời giải đáp nào tốt hơn không? Chúng ta hãy tìm câu trả lời trong sách Gióp.
    Thâm nhập
    Toàn bộ năm phần của sách này cho chúng ta biết con người có thể phản ứng theo một trong năm cách giữa cơn khổ đau. Phần thứ hai, phần dài nhất, viết về cách phản ứng thứ hai và ba - đó là phản ứng của ba bạn của ông Gióp và phản ứng của chính ông Gióp. Phần này ghi lại ba lượt phát biểu của ba bạn và của ông Gióp. Từng người (trong số ba) bạn của ông Gióp lần lượt phát biểu ý kiến. Riêng trong vòng 3, có một người bạn của ông Gióp không phát biểu và ông Gióp đáp lời họ.
    Nhưng trước khi bàn luận sâu hơn vào phần này, chúng ta cùng xem xét phản ứng thứ nhất đối với nỗi khổ đau.
    I. Phản ứng thứ nhất (1-2)
    Trước tiên là phản ứng của bà Gióp. Bà bảo ông hãy “nguyền rủa Đức Chúa Trời rồi chết đi” (
    Giop G 2:9). Đây cũng là hướng quyết định của nhiều thanh niên ngày nay: nếu cuộc đời đau khổ, thà kết thúc cuộc đời cho rồi. Nhưng tự tử chẳng phải là giải pháp đâu. Trước hết, tự tử là giết chính mình, mà giết người là điều sai. Thứ hai, tự tử làm khổ người khác nhiều hơn. Thứ ba, một số người không thể tự giết mình được. Cô Joni Erickson muốn tự tử, nhưng cô ta không thể thực hiện việc đó. Cú nhảy làm cho cô ta liệt từ cổ xuống, hai cánh tay không còn cử động được nữa. Tự tử là phản ứng không thể chấp nhận được khi gặp khổ đau.
    II. Phản ứng thứ hai (3-31)
    Ăn năn là cách phản ứng thứ hai trong nỗi khổ đau. Đây là quan điểm của ba bạn của ông Gióp. Đối với họ, mọi khổ đau đều là hậu quả của tội lỗi. Do đó họ nghĩ rằng chắc ông Gióp có phạm tội nên ông mới lâm vào cảnh khổ đau. Chắc chắn hoạn nạn là kết quả của tội lỗi (
    4:7,8; 8:20; 11:4-6; 15:6; 20:4-5). Họ khuyên ông Gióp: “Hãy ăn năn đi rồi anh sẽ được phục hồi” (8:5-6; 11:13-15; 22:21-28). Nhưng ông Gióp thấy là mình không phạm một tội nào cả. Phải chăng ông có lý còn các bạn của ông sai? Đúng vậy, đau khổ thường xảy ra vì cớ tội lỗi; nhưng không phải luôn luôn là như vậy. Cả ông Gióp lẫn các bạn của ông đều không ngờ có cuộc nói chuyện giữa Đức Chúa Trời với Sa-tan. Các bạn của ông Gióp làm tôi nhớ đến nhóm Cơ Đốc nhân ‘Xác định nhu cầu rồi xin cụ thể’ (‘Name it, claim it’) hiện nay. Họ cho rằng có người triền miên khổ đau vì thiếu đức tin nơi Đức Chúa Trời - và đó là tội lỗi. Khi bạn cần họ nâng đỡ khích lệ nhất thì họ lại là người lên án bạn nhiều nhất. Trong khi phản ứng của bà Gióp là không thể chấp nhận được thì phản ứng của ba bạn của ông Gióp cũng không thể áp dụng được.
    III. Phản ứng thứ ba (3-31)
    Phản ứng thứ ba là phản ứng của chính ông Gióp. Ông kết luận rằng Đức Chúa Trời không quan tâm, chăm sóc ông. Trong nhiều khía cạnh ông Gióp suy nghĩ rất giống ông Rabbi Kushna trong quyển sách “Vì sao những điều tồi tệ lại xảy đến cho dân của Đức Chúa Trời” (Why Bad Things Happen to Good people) . Ông Rabbi Kushna giải thích rằng khi lớn khôn rồi trẻ em sẽ nhận ra rằng không phải lúc nào cha mẹ cũng có thể sửa chữa đồ chơi cho em được dù họ rất muốn. Tương tự, chúng ta phải thông cảm, chấp nhận hoàn cảnh khi Đức Chúa Trời không thể loại bỏ mọi khổ đau khỏi đời sống chúng ta. Đức Chúa Trời vẫn yêu thương chúng ta. Nhưng quyền năng Ngài có giới hạn, Ngài sẵn sàng loại bỏ khổ đau khỏi cuộc đời chúng ta nhưng không thể. Ngược lại, ông Gióp nghĩ rằng Đức Chúa Trời có quyền năng để loại bỏ khổ đau khỏi đời sống ông nhưng Ngài không sẵn lòng làm điều ấy. Ông gọi Đức Chúa Trời là Đấng Toàn năng (
    6:4). Ông không nghi ngờ về quyền tể trị cao cả của Đức Chúa Trời nhưng ông nghi ngờ về thái độ sẵn sàng giúp đỡ của Đức Chúa Trời. Cả hai ông Gióp lẫn ông Rabbi Kushna đều phản ứng sai. Kinh Thánh dạy chúng ta rất rõ ràng rằng Đức Chúa Trời vừa có năng lực vừa sẵn sàng giải thoát chúng ta khỏi nỗi khổ đau .
    Chương
    19:7 tóm tắt lời than vãn của ông Gióp. Giản lược lại thì chúng ta thấy ông than vãn về hai điều: “Đức Chúa Trời ôi, Ngài không quan tâm”, và “Đức Chúa Trời ôi, Ngài không công bằng”. Hàng ngàn năm qua, trên khắp thế giới khi gặp khổ đau, nhiều Cơ Đốc nhân cũng than vãn như vậy với Đức Chúa Trời. Cơ Đốc nhân nào kém cỏi về phần thuộc linh thì lo trấn áp tinh thần để không than vãn như thế. Còn Cơ Đốc nhân nào gần gũi với Đức Chúa Trời hơn thì dám trực diện với nan đề và nói ra những cảm nghĩ sâu xa nhất của họ đối với Đức Chúa Trời.
    Dầu vậy, ông Gióp có đôi điều đáng được công nhận. Dù ngoài miệng ông than phiền Đức Chúa Trời, nhưng sâu thẳm trong tâm hồn ông vẫn tin cậy Đức Chúa Trời. Ông nói rằng: “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài.” (
    Giop G 13:15). Và “Còn tôi, tôi biết rằng Đấng Cứu chuộc tôi vẫn sống; đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất” (19:25-27). Khi chìm ngập trong nỗi khổ đau, chúng ta thường bị cám dỗ nói quá mấu còn hơn cả ông Gióp: ‘Đức Chúa Trời ôi, Ngài không quan tâm, Ngài không công bằng’; rồi chúng ta còn thêm: ‘Đức Chúa Trời ôi, Ngài không hiện hữu”. Hễ nói như thế tức là đã bước qua lằn ranh chân thành bộc lộ cảm nghĩ của mình và bước vào con đường dẫn xuống nỗi tuyệt vọng cùng cực. Người nào chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời thì người đó là kẻ ngu dại (Thi Tv 14:1). Khi hoạn nạn khổ đau có lẽ bạn đâm nghi ngờ về quyền năng của Đức Chúa Trời và nghĩ rằng Ngài không sẵn sàng giải thoát bạn khỏi cảnh ngộ khốn đốn đó. Nhưng đừng bao giờ nghi ngờ về sự hiện hữu hoặc sự cứu rỗi của Ngài.
    Người lâm cảnh, hoạn nạn khổ đau thường mắc phải cái bẫy cám dỗ thứ hai nữa. Đó là tự xem mình là trung tâm. Ông Gióp đã mắc vào bẫy cám dỗ này. Vì khốn đốn trong cảnh hoạn nạn ông không hề ngước đầu lên để thấy rằng dầu sao các bạn của ông vẫn có chủ ý tốt. Đức Chúa Trời vẫn quan tâm, chăm sóc và vẫn tể trị trên toàn thế giới. Ngược lại có những cảnh thật là đẹp khi mà một số Cơ Đốc nhân dù đang khổ đau vẫn quan tâm chăm sóc và an ủi người khác. Bằng chứng tốt đẹp mà ai nấy cần thấy là sự kiện họ sống gần gũi với Đức Chúa Trời.
    IV. Phản ứng thứ tư (32-37)
    Cách phản ứng thứ tư là phản ứng của ông Ê-li-hu. Ông cho rằng Đức Chúa Trời dùng khổ đau để dạy chúng ta những bài học quan trọng về cuộc sống (
    33:14-19, 29-30; 36:10,15). Hầu hết các mục sư truyền đạo đều chủ trương theo hướng này.
    Họ nói rằng, sách này cho thấy khổ đau trong đời sống chúng ta nhắm đến ba mục đích sau đây:
    (1) Làm vinh hiển Danh Đức Chúa Trời.
    (2) Vô hiệu hoá sự dối trá của Sa-tan.
    (3) Tinh luyện đức tin của Cơ Đốc nhân.
    Dầu đúng 100% nhưng giải thích như thế là chưa đủ. Nỗi khổ đau dạy người ta nhiều điều hơn nữa. Nhưng vài tuần lễ là đủ cho họ tiếp thu bài. Vậy sao họ lại phải chịu khổ đau hàng mấy tháng trời, thậm chí suốt nhiều năm dài dằng dặc?
    V. Phản ứng thứ năm (38-42)
    Cuối cùng chính Đức Chúa Trời đưa ra lời giải đáp về sự khổ đau. Nhưng lời đáp của Ngài có tính cách rất huyền bí. Đức Chúa Trời nói chuyện trực tiếp với ông Gióp suốt 5 chương của sách. Nhưng Ngài không hề đề cập đến nỗi khổ đau của ông. Đức Chúa Trời không tiết lộ cuộc nói chuyện giữa Ngài với Sa-tan. Ngài cũng không giải thích nguyên nhân hoặc mục đích của nỗi đau khổ mà ông gánh chịu. Đức Chúa Trời cũng không kết luận là ông Gióp đúng hoặc sai. Dù ông Gióp quả quyết rằng mình vô tội thì Đức Chúa Trời vẫn không phán quyết đúng sai gì cả. Trái lại, Ngài ‘dồn dập chất vấn’ ông với khoảng 70 câu hỏi về thiên nhiên và các loài thú. Các câu hỏi này có vẻ như chẳng có liên quan gì đến các câu hỏi của ông. Nhưng thật ra đó là các câu giải đáp mà ông Gióp thật sự cần biết.
    Ông Gióp than phiền về hai điều chính. Thứ nhất, ông than phiền là Đức Chúa Trời ẩn mặt không đáp lời kêu cầu của ông trong cơn hoạn nạn (
    13:3,24; 19:7; 23:3-5; 30:20; 31:35). Thứ hai, ông than phiền là Đức Chúa Trời không xét lẽ công bình cho ông. Người công chính phải chịu nhiều khổ đau hoạn nạn còn kẻ ác lại được cường thạnh (9:22; 19:7; 21:9; 24:1; 27:2; 34:5). Đức Chúa Trời không quan tâm, Đức Chúa Trời không công bằng.
    Đức Chúa Trời đáp lời than vãn của ông Gióp qua hai ‘bài giảng’. Ngài giảng bài thứ nhất từ giữa một trận cuồng phong (
    38:1). Các con của ông chết trong một trận cuồng phong (1:19). Đức Chúa Trời tỏ cho ông rằng Ngài vẫn nắm quyền điều khiển trận cuồng phong ấy. Rồi Ngài nói đến thế giới tự nhiên. Ngài nhắc nhở ông rằng Ngài là Đấng tạo nên vũ trụ (38:4tt). Nếu Ngài đủ quyền năng để tạo nên vũ trụ thì Ngài cũng đủ quyền năng để kiểm soát vũ trụ. Kế tiếp, Ngài xác nhận Ngài bảo vệ, chăm sóc các thú vật mà Ngài dựng nên. Ngài cho ông Gióp biết rằng Ngài không chỉ kiểm soát thế giới sáng tạo mà còn bảo vệ, quan phòng, chăm sóc các tạo vật của Ngài nữa (38:39 đến 39:30). Đức Chúa Trời có quyền năng và luôn sẵn sàng chăm sóc, bảo vệ mọi thứ thuộc về Ngài. Ngài luôn luôn quan tâm ưu ái.
    Trong bài giảng thứ hai (
    40:6-41:34), Đức Chúa Trời trả lời vần đề thứ hai mà ông Gióp than phiền. Trước hết Đức Chúa Trời nói về sự công bình của Ngài (40:8). Ngài tỏ cho ông thấy sự hồ đồ của ông khi nhận xét về Vị Quan Tòa của thế gian (40:6-14). Trong bài giảng thứ nhất, Đức Chúa Trời bày tỏ cho ông Gióp thấy rằng ông tự cho mình là trung tâm. Trong bài giảng thứ hai, Ngài bày tỏ rằng ông Gióp là người tự phụ. Tiếp tục giảng, Ngài mô tả lại quyền năng của Ngài trên các loài thú vật (40:15). Ngài là Vị Quan Tòa quyền năng và là Đấng tể trị cao cả. Ngài có năng lực và thẩm quyền xét xử đúng đắn. Đức Chúa Trời là Đấng công bình.
    Sau khi Đức Chúa Trời phán dạy, ông Gióp đáp ứng hai điều (
    40:3-5; 42:1-6). Thứ nhất, ông công nhận mình thật bé nhỏ, tầm thường và chẳng ra gì (40:4). Thứ hai, ông công nhận rằng ông là kẻ vô tri (42:3). Với phản ứng thứ nhất, ông nhận ra rằng ông không xứng đáng được Đức Chúa Trời quan tâm và chăm sóc. Với phản ứng thứ hai, ông nhận thức rằng ông chưa thấu đáo lẽ công bình của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có quan tâm đến ông chăng? Dĩ nhiên, Ngài luôn quan tâm. Đức Chúa Trời có công bằng chăng? Dĩ nhiên, Ngài là Đấng công bằng.
    Trọng tâm
    Khi lâm cảnh khổ đau, thờ phượng Đức Chúa Trời luôn là chủ trương đúng đắn nhất.
    Thực hành
    Trong lúc trải qua cơn thử thách, chúng ta ai nấy đều có khuynh hướng hỏi “Vì sao?” thay vì hỏi “Ai?” Dù có hiểu biết chính xác nguyên nhân đằng sau sự khổ đau, chúng ta vẫn không thể xóa bỏ nỗi khổ đau khỏi đời sống của mình được. Người đang hấp hối cũng chẳng tìm được niềm an ủi nào khi biết rõ chứng ung thư này là do thuốc lá mà đương sự đã hút. Nhưng nếu chúng ta biết Ai đang ở bên cạnh chúng ta để giảm thiểu nỗi đau của chúng ta thì chúng ta sẽ cảm thấy ấm lòng hơn. Chúng ta nắm vững một điều duy nhất là không cần biết vì sao chúng ta chịu khổ đau. Chúng ta có thể nghi ngờ về quyền năng, về thái độ sẵn sàng hoặc về sự công bình của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta đừng bao giờ giơ tay chỉ chỏ Đức Chúa Trời mà nói rằng: “Ngài không hiểu, Ngài chưa từng chịu khổ như con”. Thật ra Chúa rất hiểu nỗi khổ của chúng ta vì Ngài cũng từng chịu khổ như chúng ta vậy (
    HeDt 2:17-18).
    Vậy đứng trước sự khổ đau của người khác, chúng ta phải an ủi như thế nào? Chúng ta có thể an ủi họ bằng cách nhắc nhở họ rằng Đức Chúa Trời vẫn hiện hữu và Ngài không nín lặng. Ngài vẫn quan tâm, chăm sóc họ và Ngài sẽ can thiệp cách công bằng. Người sống trong cảnh khổ đau được an ủi nhiều nhất khi chính bản thân họ kinh nghiệm quyền tể trị tối cao của Ngài. Ngài chẳng hề hứa với chúng ta rằng Ngài sẽ chữa lành mọi bệnh tật cho chúng ta. Nhưng Ngài hứa rằng ân điển Ngài sẽ nâng đỡ chúng ta. “Ân điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối.” (
    IICo 2Cr 12:9). Phép lạ ban năng lực chẳng kém gì phép lạ chữa bệnh.
    Qua sách này, chúng ta cũng nhận biết những điều chúng ta không nên làm đối với bạn bè đang gánh chịu sự thử thách. Chúng ta không nên đoán già đoán non nguyên nhân khiến họ đau khổ theo kiểu ba bạn của ông Gióp. Ngay cả khi họ hỏi chúng ta “Vì sao?”, chúng ta chỉ nên chân thành trả lời rằng: “Tôi không biết vì sao nhưng tôi biết Chúa luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn và chung chịu nỗi khổ đau với bạn...”
    GIÓP
    Ý chính: Lâm cảnh khổ đau dưới quyền tể trị cao cả của Đức Chúa Trời.
    Chủ đề chính: Sự khổ đau
    Cụm từ chính: ‘Đấng toàn năng’ hoặc ‘Đấng quyền năng’ (31 lần)
    Câu chính: “Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài; Nhưng ta sẽ binh vực tánh hạnh ta trước mặt Ngài.”(
    Giop G 13:15)
    Bài học chính: Khi lâm cảnh khổ đau, thờ phượng Đức Chúa Trời luôn là chủ trương đúng đắn nhất.


    THI THIÊN
    Tác giả: Ông Đa-vít, ông A-sáp và nhiều người khác.
    Thời kỳ hình thành sách: Từ thời ông Môi-se đến sau thời kỳ lưư đày.
    Mục đích: Nhằm cung cấp cho dân sự Đức Chúa Trời những bài thánh ca để dùng khi thờ phượng Ngài.
    Đối tượng: Dân của Đức Chúa Trời ở khắp nơi trong mọi thời đại, đặt biệt là những người đang từng trải những thăng trầm trong mối tương giao của họ với Đức Chúa Trời
    Tản mạn
    Nếu bạn vừa đọc xong sách Gióp có thể bạn sẽ cảm thấy còn thiếu điều gì đó. Có thể tâm trí của bạn chấp nhận rằng khi trải qua cảnh khổ đau, chúng ta cần học tập thờ phượng Chúa.
    Dầu vậy bạn vẫn thắc mắc: “Thờ phượng Đức Chúa Trời thật sự có giá trị gì không?” Vẫn còn thiếu một điều gì đó. Điều còn thiếu chính là sách Thi Thiên .
    Sách Thi Thiên đáp lời chúng ta cách hùng hồn là: “Đúng vậy!” Sách mở đầu (chương 1-2) và kết thúc (chương 146-150) bằng lời xác nhận rõ ràng rằng cuộc sống thờ phượng là cuộc sống duy nhất có giá trị. Hoàn toàn không phải ngẫu nhiên sách Thi Thiên được đặt sau sách Gióp.
    Vì thế, sách Gióp (tương tự sách Truyền đạo) coi như chỉ là phần đầu của một bộ sách. Sách Gióp, sách rất dài trong Kinh Thánh , nêu ra vấn nạn về sự khổ đau; sách Thi Thiên sách thi ca dài nhất trong Kinh Thánh, giải quyết vấn nạn. Không nên chỉ căn cứ vào sách Gióp trong khi tìm cách giải toả tất cả thắc mắc chung quanh vấn nạn khổ đau. Cũng không nên chỉ quẩn quanh với sách Truyền đạo để tìm kiếm ý nghĩa của đời sống.
    Sách Thi Thiên không chỉ giải đáp những thắc mắc thông qua những vấn nạn khổ đau mà thôi. Nhưng sách còn giải đáp mọi vấn đề liên quan đến toàn bộ cuộc sống. Ca ngợi Đức Chúa Trời và kính sợ Ngài trong mọi hoàn cảnh chính là ‘bí quyết’ cho trọn đời sống.
    Thâm nhập
    Khi đọc về cuộc đời của ông Môi-se, ông Đa-vít và nhiều nhân vật khác trong Kinh Thánh, chúng ta lầm tưởng rằng họ không phải đương đầu với sự giằng co nào trong nội tâm. Thật ra, họ phải đương đầu với nhiều vấn đề trong cuộc sống. Cho nên giờ đây ước gì chúng ta biết họ xử lý các vấn đề đó như thế nào? Vậy đâu là bí quyết của họ? Chẳng lẽ họ không hề ghen tị, không hề nản lòng, không hề thất vọng sao? Chẳng lẽ họ không một lần nào cầu mong cho tất cả thù địch của họ phải chết thê thảm đó sao? Các vị anh hùng trong Cựu Ước đều là những nhân vật nổi danh in trên giấy cứng để quảng cáo hay họ cũng là những người thật như chúng ta? Ước chi chúng ta có một quyển sách ghi lại những tình cảm, những cảm xúc của họ trong khi họ trải qua những thử thách như thế. Tuyệt diệu biết bao nếu chúng ta có thể nhìn thấu tâm can của họ để khám phá ra bí quyết nào khiến họ sống đắc thắng như vậy.
    Thật ra Thi Thiên chính là quyển sách mà chúng ta ao ước. Dầu hầu hết các Thi Thiên đều do ông Đa-vít viết, tuy vậy cũng có các Thi Thiên do các vị thánh khác viết. Tương tự như tấm thiệp chúc mừng, coi như ít nhất là có một Thi Thiên viết về một cảnh ngộ hoặc một cuộc đấu tranh trong cuộc sống của con người. Một số Thi Thiên dành cho những người cảm thấy chán nản thất vọng. Thí dụ, như Thi Thiên 4 dành cho người mất ngủ. Thi Thiên 7 dành cho những người cảm thấy Đức Chúa Trời không bảo vệ họ khỏi kẻ thù nghịch. Trái lại, các Thi Thiên khác dành cho những người cảm thấy mình đang bay bổng, vui sướng. Thí dụ, như Thi Thiên 23 bộc lộ ý nghĩa và tình cảm của người kinh nghiệm sự bảo vệ, chăm sóc của Chúa. Thi Thiên 92 thích hợp với những người thờ phượng Đức Chúa Trời trong ngày Chúa nhật.
    Dựa theo hướng nhận xét trên đây chúng ta có thể chia các Thi Thiên thành hai phần chính. Thi Thiên 1-89 chủ yếu mô tả kinh nghiệm của những người từng trải các cuộc phấn đấu trong đời sống họ. Thi Thiên 90 -150 chủ yếu tập trung mô tả niềm vui của người sống vượt lên trên cảnh ngộ.
    Phần thứ nhất chủ yếu viết về con người cầu nguyện với Đức Chúa Trời. Phần thứ hai chủ yếu viết về con người ca ngợi Đức Chúa Trời. Phần thứ nhất dành cho người “thành khẩn, cầu xin” Đức Chúa Trời cứu giúp. Còn trong phần hai, tác giả Thi Thiên “tạ ơn” Đức Chúa Trời vì Ngài đã nhậm lời cầu nguyện của ông.
    Chi tiết hơn nữa, sách Thi Thiên được chia làm năm quyển riêng biệt (
    1:1-41:11; 42:1-72:20; 73:1-89:51; 90:1-106:48; 107:1-150:6). Một số học giả nhận thấy chủ đề của năm sách này tương ứng chủ đề của năm sách luật pháp (từ Sáng Thế Ký đến Phục Truyền Luật Lệ Ký). Nhưng rõ ràng dù tóm tắt hoặc phân loại năm sách Thi-thiên theo hướng nào thì vẫn là có vẻ gượng ép.
    Vì nội dung của nhiều Thi-thiên không phải là một quyển sách dùng để đọc theo thứ tự bài đầu đến bài cuối như kiểu người ta hát Thánh ca theo thứ tự bài đầu đến bài cuối. Dĩ nhiên, nếu bạn muốn đọc như vậy thì tuỳ ý bạn. Tôi chỉ muốn nói rằng người biên tập không trù liệu cho độc giả hướng đọc Thi Thiên theo cách đó. Vì thế, Thi Thiên sẽ được sử dụng theo một hướng khác hẳn các sách khác trong Cựu Ước.
    Giờ đây chúng ta cùng nghiên cứu hai Thi Thiên tiêu biểu chuẩn cho hai phần chính của sách.
    I. Lời cầu nguyện với Đức Chúa Trời - Thi Thiên 22 (1-89)
    Thi Tv 22:1-31 ghi lại cảm xúc của ông Đa-vít khi ông trải qua nỗi đau đớn và thống khổ tột độ. Không phải hoàn cảnh (câu 4-13), cũng không phải bịnh tật khiến ông thấy khổ cùng cực (câu 14-18), nhưng vì ông cảm thấy Đức Chúa Trời đã lìa bỏ ông (câu 1-2). Phần thứ hai của Thi Thiên này ghi lại lời ông ca ngợi Đức Chúa Trời (câu 23-31). Ông không chỉ ca ngợi Đức Chúa Trời mà còn khuyên người khác hãy ca ngợi Ngài (câu 23). Khi đọc Thi Thiên này, có thể chúng ta thấy dường như thiếu một điều gì đó chuyển tiếp giữa hai phần. Phải chăng ai đó đã ghép phần đầu và phần cuối Thi Thiên với nhau và bỏ sót phần giữa là phần chép về việc Đức Chúa Trời đáp lời và giải cứu ông Đa-vít. Thật sự có phải như vậy không?
    Thật ra Thi Thiên chẳng thiếu phần nào cả. Phần giữa vẫn còn đó (câu 19-21). Nhưng không theo như chúng ta mong đợi tức là không nói đến việc Đức Chúa Trời đáp lời ông Đa-vít và cũng chẳng có ý nói là Ngài đã giải cứu ông. Thế nhưng chúng ta có thể tìm thấy trong phần này bí quyết để đương đầu với những thử thách trong cuộc đời.
    Sau khi trút đổ mọi tâm tư ý tưởng cho Đức Chúa Trời. Ông Đa-vít bắt dầu cầu nguyện với Ngài (câu 19-21). Ông không cho phép cảm xúc điều khiển ông nữa. Dầu ông cảm thấy Đức Chúa Trời không đáp ứng lời ông kêu cầu (câu 2), nhưng ông vẫn biết rằng Ngài có nghe lời kêu cứu của ông (câu 21,24). Dù trong câu 1 ông có hỏi Chúa: “Nhân sao Ngài đứng xa, không giúp đỡ tôi?” trong câu 19, ông vẫn cầu nguyện với Ngài rằng: “Chớ đứng xa tôi… hãy mau mau đến giúp đỡ tôi”. Mới nghe tưởng chừng chẳng có gì khác lạ cả nhưng thật ra có chuyện lạ thường. Cứ tiếp tục cầu nguyện với Đức Chúa Trời mặc dù cảm thấy Đức Chúa Trời đã từ bỏ mình là một việc hoàn toàn khác thường. Ông Đa-vít cứ cầu nguyện với Đức Chúa Trời dầu ông cảm thấy Ngài không lắng nghe lời cầu xin. Tuy nhiên, trong lời cầu nguyện ông không chỉ dẫn Đức Chúa Trời cách cứu ông. Lắm người muốn Đức Chúa Trời cứu giúp họ theo cách của họ. Vì thế họ trình bày phương cách với đầy đủ chi tiết mà Đức Chúa Trời phải áp dụng để giải quyết nan đề của họ. Nhưng tác giả Thi Thiên không làm như vậy, ông chỉ cầu xin những điều cần yếu nhất cho đời sống ông để ông có thể tiếp tục ca ngợi Đức Chúa Trời (câu 22).
    Khi ông Đa-vít bắt đầu cầu nguyện, nội tâm ông liền có sự thay đổi. Sự cầu nguyện không đưa Đức Chúa Trời đến gần chúng ta hơn nhưng đem chúng ta đến gần Chúa hơn. Quyền năng và sự cứu giúp của Đức Chúa Trời vẫn không thay đổi. Nhưng ông Đa-vít lại tin chắc rằng quyền năng và sự sẵn sàng cứu giúp của Đức Chúa Trời có gia tăng khi ông cầu nguyện. Do đó ông kêu lên: “Tôi sẽ rao truyền danh Chúa cho anh em tôi, và ngợi khen Chúa giữa hội chúng” (câu 22. Xem thêm
    HeDt 2:12). Quyết tâm ca ngợi Đức Chúa Trời trong mọi lúc, mọi hoàn cảnh của cuộc sống đã dẫn dắt ông viết tiếp nửa phần sau của Thi Thiên này - ca ngợi Đức Chúa Trời (câu 23-31).
    Thi Thiên 22 cũng tiên tri về sự chết của Đấng Cứu thế trên thập tự giá. Vì tội lỗi của nhân loại, trong khoảnh khắc ngắn ngủi, Đức Chúa Trời đã quay mặt khỏi Con yêu dấu của Ngài. Bởi đó, chúng ta có thể chắc chắn rằng chúng ta không bao giờ bị phân cách khỏi Ngài. Ngay cả khi Chúa Giê-xu khi bị treo trên thập tự giá Ngài cũng phải hỏi: “Vì sao?” (
    Mat Mt 27:46). Môi miệng Ngài đã thốt lên câu hỏi của mọi thời đại: “Vì sao con người phải chịu khổ đau?” “Vì cớ tội lỗi”. Tất cả chúng ta đều biết câu trả lời rồi. Nhưng biết như vậy vẫn chưa đủ. Chúng ta còn cần nhận biết Đức Chúa Trời một cách thân thiết và tin cậy Ngài hoàn toàn như con cái tin cậy cha mẹ mình vậy.
    Trong cuộc sống thực tế, niềm tin cậy của tác giả Thi Thiên từng bị chao đảo dữ dội. Nhưng ông không bao giờ từ bỏ Chúa. Ngay cả khi ông chất vấn Đức Chúa Trời, ông cũng không gào lên: “Đức Chúa Trời ôi, Đức Chúa Trời ôi” nhưng ông thưa rằng: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi…” (câu 1-2). Ông tin chắc Đức Chúa Trời là Đấng thánh khiết (câu 3) và từ sự thánh khiết toả ra các đặc tính khác như quyền năng, yêu thương, công bình và nhân ái. Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta không phải do chúng ta đáng được giải cứu, cũng không phải vì cớ chúng ta cầu xin Ngài. Đức Chúa Trời giải cứu chúng ta vì Ngài là Đức Chúa Trời thánh khiết đáng được ca ngợi. Nhưng cho đến khi kết thúc Thi Thiên này, ông Đa-vít vẫn chưa được nhìn thấy sự giải cứu của Đức Chúa Trời. Nhờ những sách khác trong Kinh Thánh chúng ta biết Đức Chúa Trời thật sự có giải cứu ông. Tuy thế, ông vẫn ca ngợi Đức Chúa Trời và tìm cách đắc thắng giữa cảnh đời khổ đau.
    II. Ca ngợi Đức Chúa Trời -Thi Thiên 145 (90-150)
    Thế nhưng sau khi được giải cứu, ông Đa-vít làm gì? Có lẽ bạn sẽ nói rằng: “Đương nhiên, ông tiếp tục ca ngợi Đức Chúa Trời”. Tuy nhiên không thể kết luận cách vội vã như thế. Nhiều người từ bỏ Đức Chúa Trời trong thời vất vả, khó khăn; ngược lại một số người khác lại quên Đức Chúa Trời ngay khi giàu sang, thịnh vượng. Còn một số khác lại sa ngã trong giai đoạn hòa bình, vui sướng. Chúng ta cần học tập ca ngợi Đức Chúa Trời khi gặp thử thách cũng như khi chiến thắng khải hoàn. Có lẽ cả hai bài học này đều khó như nhau. Một số người cảm thấy vô cùng khó khăn khi phải “khẩn xin” Đức Chúa Trời cứu giúp. Còn một số người khác lạ không bao giờ nhớ “tạ ơn” Đức Chúa Trời.
    Khác với những con người này, ông Đa-vít không hề cảm thấy khó khăn khi phải “khẩn xin” Đức Chúa Trời cứu giúp. Đồng thời ông luôn nhớ “tạ ơn” Ngài. Sau khi được Đức Chúa Trời giải cứu, ông Đa-vít viết Thi Thiên 145 để tỏ lòng biết ơn Đức Chúa Trời và ca ngợi Ngài (câu 19). Thi Thiên gồm có ba khổ thơ. Sau quyết định tiên khởi là ca ngợi Đức Chúa Trời, ông Đa-vít mở đầu với lời ca ngợi các công trình của Ngài (câu 3-7). Tiếp đến ông ca ngợi vương quốc của Ngài, là vương quốc được thiết lập bởi các bản tính của Ngài (câu 8-13). Rồi ông ca ngợi chính Đức Chúa Trời vì chỉ một mình Ngài có thể làm thỏa mãn sự khát khao sâu kín nhất trong linh hồn nhân loại (câu 14-20). Ông kết thúc Thi Thiên bằng một quyết định ca ngợi Chúa (câu 21). Trong khổ thơ thứ nhất, ông Đa-vít nhớ rằng chính Đức Chúa Trời, chớ không phải ông, đáng được ca ngợi về những việc mà Ngài đã làm. Trong khổ thơ thứ hai, ông tự hạ mình xuống trước vương quyền của Đức Chúa Trời. Trong khổ thơ thứ ba, ông nhìn nhận rằng nếu muốn sống thỏa nguyện, ông phải hoàn toàn tin cậy nơi Đức Chúa Trời. Ông mở đầu Thi Thiên bằng sự quyết tâm ca ngợi Đức Chúa Trời. Và ông kết thúc Thi Thiên với lời khuyên mọi tạo vật hãy ca ngợi Ngài. Ông không chỉ muốn chính ông ca ngợi Đức Chúa Trời mà ông còn muốn mọi tạo vật chúc tụng danh thánh của Ngài mãi mãi (câu 21).
    Khi lâm cảnh khổ đau tột độ cũng như khi vui sướng tràn dâng, ông Đa-vít đều thưa với Chúa rằng: “Tôi sẽ chúc tụng Chúa” (
    22:22; 145:2). Ông tập trung toàn bộ cuộc sống vào việc ca ngợi Đức Chúa Trời. Trong lúc phiền não, đau đớn, ông phủ phục trước mặt Đức Chúa Trời (22:29). Trong lúc vui mừng ông nhận biết rằng chính Đức Chúa Trời sẽ nâng những người đã phủ phục trước mặt Ngài (145:14). Cả những người khốn khổ, thấp hèn (22:26) lẫn những người giàu có, cao sang (22:29) đều phải thờ phượng Đức Chúa Trời. Tất cả đều thờ phượng Ngài không phải chỉ vì Ngài giải cứu mà còn vì Ngài là Đấng thánh khiết (22:3; 145:21) và công bình (22:31; 145:17).
    Trọng tâm
    Người tin kính Chúa luôn luôn ca ngợi Đức Chúa Trời khi bình an, thịnh vượng cũng như khi nghèo nàn hoặc bị bách hại.
    [cd Thực hành
    Có lẽ bạn không còn cách nào để lý giải cảnh khổ đau của mình (ông Gióp). Cũng có thể bạn không biết lý giải cuộc sống trên đời này ra làm sao (Truyền-đạo). Nhưng bạn luôn luôn có lý do để ca ngợi Đức Chúa Trời (Thi Thiên). Vì khi bạn bắt đầu ca ngợi Đức Chúa Trời, bạn sẽ nhận biết nguyên nhân của mọi nỗi khổ đau trong cuộc sống và cũng nhận biết ý nghĩa của cuộc sống nữa.
    Nhưng chúng ta phải thận trọng, đừng bao giờ xem việc ca ngợi Đức Chúa Trời như một liệu pháp chữa trị khổ đau hoặc nản lòng thất vọng. Trong thực tế, đúng là ca ngợi Đức Chúa Trời có tác dụng như liệu pháp rất hiệu nghiệm. Nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta ca ngợi Ngài vì Ngài là Đức Chúa Trời đáng được ca ngợi. Tuy nhiên, không phải khi chúng ta bắt đầu ca ngợi Đức Chúa Trời thì lúc ấy Ngài mới trở nên Đấng đáng được ca ngợi. Chúng ta phải ca ngợi Đức Chúa Trời vì Ngài là Đấng đáng tôn vinh thờ phượng. Và thật ra, ca ngợi Đức Chúa
    Trời không phải là một việc làm theo đề nghị mà là theo mệnh lệnh buộc chúng ta phải tuân theo.
    Khi sống trong cảnh khốn khó, buồn phiền, chúng ta không muốn ca ngợi Chúa. Nhưng khi sống giàu sang, vui sướng chúng ta lại quên ca ngợi Ngài. Chúng ta phải ca ngợi Đức Chúa Trời mỗi ngày. Chúng ta phải ca ngợi Ngài đời đời, mãi mãi (
    Thi Tv 145:2). Nếu thật sự bạn cảm thấy không thể nào ca ngợi Chúa, thì hãy đọc một Thi Thiên (xem Eph Ep 5:19-20).
    THI THIÊN
    Ý chính: CẦU NGUYỆN (trong) CA NGỢI
    Chủ đề chính: Ca ngợi
    Cụm từ chính: ‘Ca ngợi Đức Giê-hô-va’ (31 lần)
    Câu chính: “ Ha-lê-lu-gia! Tôi sẽ hết lòng ngợi khen Đức Giê-hô-va. Trong đám người ngay thẳng và tại hội chúng.” (
    Thi Tv 111:1)
    Bài học chính: Người tin kính Đức Chúa Trời luôn ca ngợi Ngài khi bình an, thịnh vượng cũng như khi nghèo nàn hoặc bị bách hại.


    CHÂM NGÔN
    Tác giả: Ông Sa-lô-môn và nhiều người khác.
    Thời kỳ hình thành sách: Thời kỳ vương quốc còn thống nhất và đã bị chia đôi.
    Mục đích: Nhằm chỉ dẫn chúng ta nghệ thuật sống thành công.
    Đối tượng: Dân của Đức Chúa Trời sống ở mọi nơi trong mọi thời đại cần khôn ngoan để tránh những cạm bẫy trong cuộc đời.
    Tản mạn
    Điều bí hiểm về bẫy mìn ấy là chúng ta không biết chỗ người ta đặt bẫy cho đến lúc chúng ta đạp trúng mìn. Không ai gài một cái bẫy rồi giương bảng cảnh báo: BẪY ĐẶT NƠI ĐÂY! THẬN TRỌNG! DỪNG LẠI! NGUY HIỂM!
    Nhưng trong cuộc sống đầy dẫy ‘cạm bẫy’. Một số bẫy có thể làm cho bạn vướng vào nhiều chuyện nghiêm trọng. Một số bẫy khác có thể giáng xuống bạn những đòn chí tử. Làm một Cơ Đốc nhân tốt không có nghĩa là bạn trở thành ngu ngơ như nhiều người nghĩ. Trái lại, phải khôn ngoan mới làm một Cơ Đốc nhân tốt được. Vậy, thế nào là khôn ngoan? Là nhận ra những cạm bẫy trong cuộc sống, đồng thời biết cách tránh bẫy. Thời nay, lắm người không muốn biết việc họ sắp làm là đúng hoặc sai, phải hoặc trái. Họ chỉ muốn biết làm việc đó là khôn ngoan hoặc ngu dại. Thật ra, làm điều đúng luôn là khôn ngoan; còn làm điều sai luôn là ngu dại.
    Sách Châm ngôn dạy chúng ta phương cách trở nên người đứng đắn và khôn ngoan. Sách Châm ngôn tương tự như một bản sơ đồ vạch rõ cạm bẫy nằm ở những nơi nào. Có người gọi sách này là ‘Phương Cách Đắc Thắng Trong Thế Gian Tội Lỗi’ . Phụ đề này rất thích hợp cho sách Châm ngôn.
    Thâm nhập
    SỰ KHÔN NGOAN rõ ràng không thể nào nhầm lẫn được là chủ đề của sách Châm ngôn. Tác giả là vua Sa-lô-môn, một trong những người khôn ngoan nhất trên đời này (
    1Vua 4:30). Nhưng khôn ngoan không có nghĩa là chỉ cần biết điều đúng và tốt, mà còn phải biết sống theo những điều đó nữa. Theo triết lý sống của người Hê-bơ-rơ thì khôn ngoan là một điều thực tiễn, tức là ‘nghệ thuật sống’ . Vì thế, khôn ngoan là biết học tập từ sai lầm của người khác, là lắng nghe người khác để không sa vào những cạm bẫy trong cuộc sống.
    Nhưng phần đông chúng ta không tin vào kinh nghiệm của người khác. Chúng ta muốn chính tay mình sờ vào bếp lò rồi mới chịu tin là lò nóng. Chúng ta biết thế nào là đúng, là phải. Sao chúng ta không làm theo điều đúng, điều phải? Thế thì, đâu là bí quyết để được khôn ngoan?
    I. Châm ngôn về sự khôn ngoan (1-9)
    Có thể tìm thấy bí quyết của sự khôn ngoan trong lời mở đầu và lời kết của phần một trong sách này: “Kính sợ Đức Giê-hô-va ấy là khởi đầu sự khôn ngoan” (
    1:79:10, lập lại trong 15:33).
    Trong suốt phần một, trái ngược với khôn ngoan là ngu dại. Sự khôn ngoan được nhân cách hoá thành một phụ nữ tin kính, còn sự ngu dại được nhân cách hóa thành một dâm phụ. Sự khôn ngoan đem đến ơn cứu rỗi cho con người (Chương 1-4), còn sự ngu dại chỉ làm cho con người bị lên án (Chương 5). Sự khôn ngoan đem lại sự giàu có (Chương 8), còn sự ngu dại kết thúc trong nghèo nàn (Chương 6). Sự khôn ngoan tìm đến sự sống (Chương 9), nhưng sự ngu dại dẫn đến sự chết (Chương 7). Vì thế, chúng ta cũng có thể đặt đầu đề cho phần này là “Giá Trị Của Sự Khôn Ngoan”.
    II. Nguyên tắc của sự khôn ngoan (10-30)
    Trong khi phần một trình bày về sự khôn ngoan và ngu dại qua những lời giáo huấn, phần hai mô tả cụ thể và chi tiết các tánh tốt và tánh xấu. Phần một nhấn mạnh lý do khiến chúng ta phải làm theo sự khôn ngoan, còn phần hai nhấn mạnh những điều được xem là khôn ngoan.
    Phần hai gồm 3 phân đoạn. Hầu như toàn bộ phân đoạn 1 (Chương 10-15) là một bảng liệt kê những câu đối ý nhau. Tác giả dùng từ ‘nhưng’ để mô tả tính cách trái ngược giữa khôn ngoan và ngu dại. Hầu hết phân đoạn 2 (Chương 16-22) gồm các câu châm ngôn với ý tứ tổng hợp. Tác giả dùng từ ‘và’ để nhấn mạnh tầm quan trọng của việc làm theo sự khôn ngoan và tránh xa sự ngu dại. (Trong văn thơ Hi-bá-lai, khi từ ‘và’ nối 2 vế trong một câu thì thông thường vế thứ 2 tương tự với vế thứ 1 về mặt cấu trúc và ngữ pháp lẫn về mặt ý nghĩa và nội dung). Trong phân đoạn 3 (Chương 23-30), các câu cách ngôn được gom lại với nhau theo chủ đề. Nhờ đó sự khôn ngoan và sự ngu dại được mô tả cách chi tiết hơn.
    III. Những con người khôn ngoan (31)
    Nếu phần hai viết về những điều được xem là khôn ngoan, thì phần ba viết về người được xem là khôn ngoan. Sách mở đầu và kết thúc với lời mô tả về người phụ nữ. Mở đầu sách là những lời khôn ngoan của một người cha răn dạy con trai mình (
    1:8,15), và kết thúc sách là lời khuyên dạy khôn ngoan của một người mẹ tin kính Chúa (31:1).
    Nhưng làm sao tổng hợp tất cả những châm ngôn và nguyên tắc này nơi cùng một mẫu người? Chương cuối mô tả người phụ nữ tin kính giải tỏa thắc mắc này. Người phụ nữ ấy được mô tả là một người nữ đức hạnh (
    31:10). Chính cụm từ này được dùng để mô tả bà Ru-tơ (Ru-tơ 3:11). Bà là một người làm mẫu về cách ứng dụng 30 chương đầu của sách Châm ngôn. Vì thế, chương cuối cùng được xem như là phần ỨNG DỤNG của sách. Còn phần thứ nhất dùng làm phần TẢN MẠN. Phần thứ 2 với 3 phân đoạn tạo thành 3 điểm chính cho phần THÂM NHẬP của bài giảng. Thế Trọng tâm là gì?
    Trọng tâm
    “Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan”.
    Thực hành
    Làm sao sự kính sợ Đức Giê-hô-va có thể dẫn đến sự khôn ngoan? Mối liên hệ giữa sự kính sợ Chúa với sự khôn ngoan thật là khó hiểu. Mối liên hệ ấy trở nên rõ nghĩa và dễ hiểu khi bạn nghiên cứu định nghĩa dưới đây về ‘sự kính sợ Đức Chúa Trời’. Kính sợ Đức Chúa Trời là triệt để chú trọng đến ý nghĩ và ý kiến của Đức Chúa Trời đối với chúng ta . Một cậu bé yêu thương và kính sợ cha thường sợ làm những điều có thể khiến cha cậu ta bất bình hoặc buồn lòng. Cả hai trạng thái tình cảm yêu thương lẫn kính sợ trong cậu ta bổ sung cho nhau chớ không mâu thuẫn với nhau. Dầu cha có mặt hoặc vắng mặt, cậu bé đều hành xử theo một cung cách làm cha cậu hài lòng (
    IICo 2Cr 5:9-11). Vì thế, kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự khôn ngoan.
    Chúng ta cần phải thừa nhận rằng đa số chúng ta đều muốn người khác nhận thấy chúng ta là người tốt. Mất mặt là một trong những điều mất mát tồi tệ nhất trong cuộc sống. Muốn được người khác yêu thích tôn trọng, đánh giá cao là một năng lực cơ bản có sức thôi thúc mạnh mẽ trong tất cả mọi người. Sự ham muốn này mạnh đến nỗi có thể khiến chúng ta nói dối, gian lận, trộm cắp và thậm chí giết người nữa. Trong cuộc sống chúng ta không thể nào hoàn toàn vô tình trước cảm nghĩ của người khác đối với chúng ta; tuy nhiên chúng ta có thể bận tâm nhiều hơn đến cảm nghĩ của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Tâm trạng kính sợ Đức Chúa Trời như vậy là khởi đầu của sự khôn ngoan.
    Phải chăng bạn bận tâm đến cảm nghĩ của người khác đối với bạn nhiều hơn là bận tâm về cảm nghĩ của Đức Chúa Trời đối với bạn? Vua Sau-lơ đã làm như vậy và vua đã thất bại. Dứt khoát vua không phải là một người vô thần. Vua tin Đức Chúa Trời nhưng ông lại sợ người ta. Vì vậy, ông nghe theo tiếng nói của họ (). Trái lại, nếu bạn quan tâm đến cảm nghĩ của Đức Chúa Trời đối với bạn hơn là cảm nghĩ của người khác thì sự cám dỗ sẽ chẳng còn ảnh hưởng hoặc tác dụng gì trên đời sống bạn cả.
    CHÂM NGÔN
    Ý chính: Đường lối (của sự) khôn ngoan
    Chủ đề chính: Sự khôn ngoan
    Cụm từ chính: ‘Kính sợ Đức Giê-hô-va’ (17 lần)
    Câu chính: “Kính sợ Đức Giê-hô-va, ấy là khởi đầu sự khôn ngoan; Sự nhìn biết Đấng Thánh, đó là sự thông sáng.” (
    ChCn 9:10)
    Bài học chính: Bí quyết giúp bạn tránh khỏi những cạm bẫy trong cuộc sống là quan tâm đến ý kiến của Đức ChúaTrời đối với bạn thay vì bận tâm với ý kiến của người khác đối với bạn.


    TRUYỀN ĐẠO
    Tác giả: Vua Sa-lô-môn
    Thời kỳ hình thành sách: Cuối thời kỳ vương quốc còn thống nhất.
    Mục đích: Nhằm tìm biết ý nghĩa thật của một cuộc sống có vẻ như rỗng tuếch, vô nghĩa.
    Đối tượng: Những người tìm kiếm ý nghĩa của cuộc sống.
    Tản mạn
    “Cuộc đời thật khốn nạn!” Xin lỗi khi phải nói như thế, nhưng đó là cách mà nhiều người tổng kết về cuộc đời. Anh của tôi là một trong những người đó. Anh kể rằng anh vốn là một Cơ Đốc nhân, nhưng khi thấy những điều nghịch lý trong cuộc sống, anh từ bỏ niềm tin nơi Đức Chúa Trời. Trường hợp của chú chúng tôi là một trường hợp điển hình cho nghịch lý này. Ông vốn là một hiệu trưởng của một trường phổ thông trung học được nhiều người kính mến, là một trưởng lão được kính trọng của một hội thánh địa phương tương đối lớn. Ông là một người cha yêu thương con và là một người kính sợ Đức Chúa Trời. Chỉ một vài tháng trước khi ông nghỉ hưu và nhận lương hưu, ông đột ngột qua đời trong một cơn đau tim. Đúng theo nghĩa đen ông đã làm việc đến chết.
    Hiện giờ, anh tôi là một người nghiện thuốc lá. Anh tin rằng người không hút thuốc vẫn có khả năng mắc bệnh ung thư và anh cũng thấy một số người hút thuốc nhưng vẫn sống đến độ tuổi từ 90 đến 100, và nếu anh mắc bệnh ung thư, thì có sao đâu? Mọi người đều qua đời không lúc này thì lúc khác, đúng không?
    Không một Cơ Đốc nhân nào được miễn trừ khỏi những điều vô cùng nghịch lý trong cuộc sống. Lạ thay, có cặp vợ chồng Cơ Đốc nhân tin kính chờ đợi trong nhiều năm mà không có một mụn con nào cả, trong khi đó một số cặp chưa được trang bị đầy đủ để nuôi dạy con thì lại đậu thai ngay trong đêm tân hôn! Có những Cơ Đốc nhân thật thà, trung thực lại bị quên lãng, xếp xó trong những lần xét thăng cấp trong khi đó những người chỉ có khả năng gây ấn tượng tốt với chủ lại được thăng tiến nhanh chóng trước những Cơ Đốc nhân này. Chúng ta phải thừa nhận rằng Cơ Đốc nhân không được miễn trừ khỏi sự chết, bệnh tật, tai họa - và vi-rút máy vi tính! Chỉ một con ruồi là có thể làm hôi thối bình đầy dầu thơm quý giá, đắt tiền. Sự chết, bệnh tật, tai họa là những điều có thật trong cuộc sống của mỗi người. Chỉ một tai họa xảy ra là có thể phá hủy cuộc sống yên bình của toàn bộ một gia đình. Dường như anh tôi có nhiều lý cớ vững chãi để củng cố cho kết luận của anh. Có phải vậy không?
    Có thể nào tìm và hiểu được ý nghĩa của cuộc sống trong thế giới vô nghĩa này không? Có nên để cho sự vô nghĩa của cuộc sống làm cho chúng ta chán nản và thất vọng? Đây là những vấn đề đáng lo ngại. Có thể chúng ta nhận ra rằng cuộc sống thực sự là vô nghĩa. Nhưng chúng ta không cần phải lãng phí cuộc đời mình để tìm kiếm lời giải đáp đối với những vấn đề rắc rối ấy. Vua Sa-lô-môn, một trong những người khôn ngoan nhất từng sống trên đất, đã tìm tòi giùm chúng ta, và vua cũng đã ghi lại những lời đúc kết trong sách Truyền-đạo.
    Thâm nhập
    Nội dung của hai phần lớn trong sách có trùng lặp. Vì thế phần giải luận sau đây được lược giản tối đa. Nhưng trước khi bàn đến nội dung của sách, chúng ta cần xem xét tác giả (tức là vua Sa-lô-môn) có cái nhìn bi quan hoặc lạc quan về cuộc sống. Phần luận giải không dựa trên quan điểm bi quan hay lạc quan. Vua Sa-lô-môn có cái nhìn thực tiễn: cuộc sống đầy dẫy nghịch lý cùng thất vọng - và không ai được miễn trừ khỏi điều này.
    I. Bằng cớ về sự hư không (1-6)
    Trong phần đầu của sách này, tác giả chứng minh rằng cuộc sống là hư ảo. Trong lời mở đầu sách ông ghi lại những nỗ lực của ông trong việc tìm kiếm sự thỏa mãn hài lòng đối với cuộc sống (Chương 1 và 2). Công cuộc tìm kiếm này kết thúc trong sự vô nghĩa nhưng bản thân ông không nản lòng, thất vọng. Ông thấy Đức Chúa Trời vẫn đang điều động cuộc sống của ông (
    2:24). Trong chương 3, ông quan sát và thấy rằng Đức Chúa Trời ấn định cho mọi sự việc một thời điểm, khoảng thời lượng. Nhưng ông không thể hiểu được công việc Ngài làm. Vì thế, ông kết luận rằng điều hay nhất cho con người là cứ vui vẻ làm việc lành và thụ hưởng công khó của mình (3:12-13). Trong chương 4 và 5 ông ghi lại cuộc sống vô nghĩa của những người chung quanh ông. Một lần nữa ông kết luận rằng con người có thể vui hưởng những điều đơn giản nhỏ nhặt trong cuộc sống vì cớ chính Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta (5:18). Rồi trong chương 6 ông nhận thấy những điều vô cùng nghịch lý trong cuộc sống. Có người giàu sụ qua đời, không có con thừa hưởng của cải (6:2). Còn có người con đàn cháu đống nhưng khi chết chẳng được chôn cất tươm tất (6:3). Con người suốt đời làm lụng nuôi thân, thế mà cái đói chẳng bao giờ buông tha (6:7). Ông kết thúc phần này với nhiều câu hỏi về cuộc sống mà xem ra không có lời giải đáp.
    II. Chỉ dẫn về một cuộc sống hư không (7-12)
    Như vậy thì chúng ta nên sống như thế nào? Phần thứ 2 của sách giải đáp cho chúng ta. Chúng ta cần tiếp tục sống một cuộc đời phù hợp với niềm tin của chúng ta về những điều khôn ngoan và tốt lành. Mặc dù một chút tội lỗi có ảnh hưởng tai hại đến nhiều việc tốt (
    10:1), nhưng trong thực tế nhiều điều tốt vẫn còn lại. Mặc dù con người khôn ngoan có giới hạn (8:17) nhưng vẫn còn hơn là chẳng có chút khôn ngoan nào (9:13-18). Dù rằng có nhiều nghịch lý trong cuộc sống, cuộc sống vẫn còn nhiều phần thưởng cho chúng ta vui sướng thụ hưởng (8:15; 9:9).
    Nhiều phân đoạn Kinh Thánh trong sách này có vẻ mâu thuẫn nhau và nặng tính cách hoài nghi. Nhưng tìm hiểu cho sâu cho sát thì không phải vậy, không mâu thuẫn nhau cũng chẳng hoài nghi. Muốn hiểu những phân đoạn này thì phải hiểu ý của tác giả đối với vấn đề dại dột. Ông có những nhận định về người dại (khoảng 20 lần). Sự dại dột ở đây không phải là ngu ngốc, đần độn mà là chủ trương quá mấu, quá đáng, cực đoan. Chẳng hạn như khổ công làm giàu là dại dột (
    4:4,6). Lười biếng làm việc cũng là ngu dại (4:5). Ngay cả người khôn cũng không nên tỏ ra mình khôn ngoan quá (7:16). Thậm chí công bình quá cũng là dại dột (7:15,17). Khi tác giả nói rằng ngày chết hơn ngày sinh (7:1, xem thêm 4:2) là ông muốn chỉ trích lối sống chỉ nghĩ đến sung sướng hiện tại (7:4). Còn tác giả nói con chó sống hơn con sư tử chết (9:4) là nhằm công kích triết lý sống của chủ nghĩa hoài nghi cực đoan (9:5-6). Kẻ nào nói rằng chẳng có Đức Chúa Trời (Thi Tv 14:1) ấy là kẻ ngu dại. Kẻ ấy sẽ rơi vào tình trạng tuyệt vọng cùng cực, hoặc ngược lại rơi vào thái cực sống theo chủ nghĩa khoái lạc. Vì thế khi tác giả khuyên chúng ta cứ ăn uống và vui vẻ lên, ông ngụ ý khuyên chúng ta sống một cuộc sống điều độ điểm xuyết đôi chút xa hoa (9:7-9). Điều vua Sa-lô-môn nói ở đây không mâu thuẫn với điều Chúa Giê-xu phán dạy trong Tân Ước (LuLc 12:19, xem thêm LuLc 15:23).
    Như vậy sách Truyền đạo chuyển tải sứ điệp gì? Để hiểu điều này chúng ta cần nhận biết rằng không phải chỉ có một mà có đến ba chủ đề xuyên suốt sách này. Đương nhiên! Chủ đề thứ nhất là cuộc sống hư không hoặc cuộc sống vô nghĩa . Kính sợ Đức Chúa Trời là chủ đề thứ 2 . Trong sách này tác giả ghi lại hai lần lời khuyên dạy hãy kính sợ Đức Chúa Trời (
    3:14; 8:12). Chúng ta có thể tìm thấy chủ đề thứ 3 trong 5 ‘kết luận’ về cuộc sống ghi rải rác trong các chương sách (2:23-24; 3:12-13; 5:17-18; 8:159:7-9). Trong tất cả các phân đoạn này, ông đề cập đến 4 điều: ‘Hưởng thụ công khó của mình’ , ‘ăn uống’ , ‘những ngày của đời mình’ , và ‘phần thưởng từ Đức Chúa Trời’ . Chúng ta có thể tóm tắt tất cả những cụm từ này như sau: Tự do vui hưởng cuộc sống .
    Tổng hợp ba chủ đề trên với nhau, chúng ta sẽ tìm được bài học chính của sách này. Cả ba chủ đề: Cuộc Sống Vô Nghĩa, sự Kính Sợ Đức Chúa Trời và sự Tự Do vui hưởng cuộc sống được đề cập chung trong hai phân đoạn Kinh Thánh: một phân đoạn thuộc phần thứ nhất (3:11,14) và phân đoạn còn lại thuộc phần thứ hai (8:10-17). Giờ đây, chúng ta dõi theo lập luận trong chương 8. Câu 10 và 11 đưa ra một ví dụ về sự Vô Nghĩa trong cuộc sống. Tuy nhiên Kính Sợ Đức Chúa Trời vẫn tốt hơn từ bỏ Ngài (8:12-13). Do đó, dầu trong cuộc sống vẫn còn những điều làm chúng ta Nản Lòng , Thất Vọng (
    8:14), nhưng chúng ta vẫn được Tự Do ăn uống, thụ hưởng vui sướng và làm việc trong những ngày của đời mình (8:15). Khi tác giả nói loài người không thể hiểu được công việc của Đức Chúa Trời (8:16-17), ông hàm ý rằng chúng ta hãy để cho Chúa Giê-hô-va giải quyết các vấn đề phi lý trong cuộc sống. Lẽ ra, sự vô nghĩa của cuộc sống phải khiến chúng ta tin cậy nơi Đức Chúa Trời. (Xem sự dạy dỗ tương tự trong Tân Ước, sách RoRm 8:20). Nhưng thực tế lại trái ngược: những điều vô nghĩa xảy ra trên thế gian này lại dẫn chúng ta đến kết luận rằng chắc hẳn có một Đức Chúa Trời, nhưng Ngài không hiện hữu trong thế giới vô nghĩa này. Vì Ngài vốn là Đấng khôn ngoan, nên Ngài phải tạo nên những điều có ý nghĩa. Đúng ra, sự hỗn loạn trong thế giới mà chúng ta đang sống phải khiến chúng ta tin cậy nơi Đức Chúa Trời là Đấng sẽ tạo ra một trật tự mới trong tương lai.
    Làm sao con người có thể sống một cuộc sống tự do trong một thế giới vô nghĩa? Nhờ kính sợ Đức Chúa Trời. Vì thế kính sợ Đức Chúa Trời là nguyên tố chính trong phương trình cuộc sống. Kính sợ Đức Chúa Trời là yếu tố khiến chúng ta sống trong thế giới vô nghĩa mà không nản lòng , thất vọng . Do đó, vua Sa-lô-môn tổng kết ở cuối sách này rằng: “Nếu bạn không thể nhớ mọi điều tôi đã trình bày thì nên ghi nhớ điều này: hãy kính sợ Đức Chúa Trời! ” (
    12:13-diễn dịch ). Nhưng nếu thật sự không có Đức Chúa Trời thì anh của tôi nói đúng: Cuộc đời thật khốn nạn!
    Trọng tâm
    Cuộc sống vô nghĩa khiến chúng ta kính sợ Đức Chúa Trời . Việc kính sợ Đức Chúa Trời cho phép chúng ta được Tự do vui hưởng cuộc sống .
    HOẶC:
    Đừng để sự nản lòng ,thất vọng trong cuộc sống khiến chúng ta từ bỏ Đức Chúa Trời .
    Khi từ bỏ Đức Chúa Trời chúng ta sẽ rơi vào một cuộc sống cực kỳ rồ dại .
    Thực hành
    Không phải toàn bộ cuộc sống đều như thể sa mạc nắng cháy, vì còn có rất nhiều ốc đảo phì nhiêu nơi đó nữa. Muốn tìm thấy các ốc đảo đó chúng ta phải tin rằng có một Đức Chúa Trời là Đấng đã tạo nên chúng. Chúng ta phải kính sợ Đức Chúa Trời và tin cậy Ngài. Điều này nghe có vẻ cũ rích thậm chí đến mức rỗng tuếch. Nhưng đây là một trong những lẽ thật sâu thẳm nhất: cuộc sống trong sa mạc của trần gian sẽ thúc đẩy chúng ta tìm kiếm ốc đảo của Đức Chúa Trời. Làm sao biết rằng Đức Chúa Trời không phải là một ảo ảnh? Vì con người khát khao tìm kiếm Ngài. Trong khi toàn bộ nhân loại đều biết khát thì làm sao lại không có cái gọi là nước được?
    Vậy, điều vô nghĩa mà bạn đang đối diện trong cuộc sống là điều gì? Phải chăng bạn không thể tìm được một tấm chồng dầu bạn đã cầu nguyện suốt nhiều năm? Có phải bạn vẫn mong đợi một mụn con? Hoặc giả bạn vẫn khao khát được thăng quan tiến chức? Hoặc giả bạn cứ tiếp tục chất vấn Đức Chúa Trời là cớ sao người mà bạn yêu quý lại qua đời? Chúng ta cứ muốn chất vấn Đức Chúa Trời “Vì sao?” Khi chúng ta đối diện với những câu hỏi như thế thì điều vô cùng nguy hiểm là chúng ta nghĩ rằng mình có thể phát hiện đường lối làm việc của Đức Chúa Trời. Nhưng chúng ta không thể hiểu được công việc của Ngài (
    8:17). Thật là vô vọng khi cứ chờ đợi cho được một giải đáp. Rồi nguy hại biết bao khi vì cớ không nhận được lời giải đáp về thắc mắc của mình, chúng ta sinh ra thái quá, sống cách rồ dại, sống phóng túng hoặc tích lũy một tài sản đồ sộ, lo trau dồi tri thức thật nhiều, miệt mài trong việc làm ăn hoặc các hoạt động khác, hoặc chìm đắm vào tâm trạng chán nản tuyệt vọng. Chúng ta muốn làm những chuyện điên dại như: buông trôi công việc hoặc lao vào con đường học vấn tìm thêm bằng cấp mà không có một mục đích nào cả, hoặc khổ công làm giàu, hoặc khép mình trong một cuộc sống ẩn dật, hoặc kết hôn với bất cứ chàng trai, cô gái nào xuất hiện trong đời sống của chúng ta mà không cần biết rõ người ấy là ai cả, hoặc thậm chí chúng ta tất bật với những sinh hoạt tôn giáo.
    DỪNG LẠI NGAY! Biết đâu bạn không còn kính sợ Đức Chúa Trời nữa. Một người thật sự kính sợ Chúa luôn thực hiện phần việc của mình và để Đức Chúa Trời thực hiện phần của Ngài là chăm lo phần còn lại của thế giới. Nếu không có Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào chịu đựng nổi cuộc sống. Hoặc chúng ta nổi điên, hoặc sinh bấn loạn, hoặc chúng ta lãnh đạm, thờ ơ đối với mọi sự. Chỉ có sự kính sợ Đức Chúa Trời mới cho phép chúng ta sống quân bình để hưởng thụ công khó mình và những niềm vui khiêm tốn trong cuộc sống. Kính sợ Đức Chúa Trời và cứ luôn giữ lòng kính sợ Ngài là lời giải đáp đúng đắn duy nhất cho cuộc sống. Không một điều nào khác có thể thay thế cho sự kính sợ Ngài được.
    Nhưng ý nghĩa của cuộc sống là gì? Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời trong những sách khác của Kinh Thánh. Sách Truyền đạo không giải đáp mọi vấn đề trong cuộc sống cho chúng ta. Cứ truy tìm cho được một lời giải đáp trong sách Truyền đạo là vô lý như thể đuổi theo luồng gió thoảng. Sách Truyền đạo chỉ là phần mở đầu, chớ không phải phần kết dù sách được viết trong giai đoạn cuối của đời sống của một người. Sách Truyền đạo chủ yếu cho chúng ta biết điều nào không có ích, điều nào không đem lại ý nghĩa cho cuộc sống. Các sách khác trong Kinh Thánh dạy chúng ta về những điều hữu ích, những điều đem lại ý nghĩa cho cuộc sống. Cứ như thể sách Truyền đạo đứng ở đầu đường giương lên mũi tên chỉ lối cho chúng ta dõi theo bằng một loạt câu hỏi. Mũi tên ấy hướng đến Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế. Ngài là Đấng đem lại ý nghĩa cho cuộc sống của chúng ta. Ngài là Con đường - Chân lý - và Nguồn sống (
    GiGa 14:6).
    TRUYỀN ĐẠO
    Ý chính: HƯ KHÔNG
    Chủ đề chính: Cuộc sống
    Cụm từ chính: ‘Hư không của sự hư không, thảy đều hư không’ (8 lần)
    Câu chính: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết này: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi.” (
    TrGv 12:13)
    Bài học chính: Cuộc sống vô nghĩa khiến chúng ta kính sợ Đức Chúa Trời; sự kính sợ Đức Chúa Trời cho phép chúng ta được tự do thụ hưởng cuộc sống.


    NHÃ CA
    Tác giả: Vua Sa-lô-môn
    Thời kỳ hình thành sách: Cuối thời kỳ vương quốc còn thống nhất.
    Mục đích: Vui mừng đón nhận món quà tình yêu trong hôn nhân.
    Đối tượng: Những người yêu nhau và tất cả những người cùng đến mừng ngày cưới của họ.
    Tản mạn
    Có người đặt vấn đề như sau: phụ nữ Cơ Đốc mua nội y gợi tình có phải là sai không? Vì sao?
    Có lẽ nội y gợi tình là chuyện riêng tư của cá nhân. Nhưng phần đông chúng ta đều nhất trí rằng tình dục là một điều lành mạnh, tốt đẹp mà Đức Chúa Trời đã tạo nên cho các đôi vợ chồng tận hưởng. Đáng tiếc là các Cơ Đốc nhân chúng ta thường ngại đá động đến vấn đề tính dục. Nhưng nếu các Cơ Đốc nhân không dạy về tình yêu và tình dục cho giới thanh thiếu niên một cách lành mạnh thì họ học chuyện đó với ai? Chẳng lẽ học nơi đám thanh thiếu niên chỉ hiểu mơ hồ và lệch lạc về vấn đề này? Thực tế là hội thánh không lên tiếng giáo dục giới tính nên thường thường thanh thiếu niên hiểu rằng tình dục là tội lỗi.
    Khi sinh hoạt tình dục một cách ích kỷ thì nó biến thành sự ham muốn, hiếp dâm, khiêu dâm. Đừng bao giờ để tình dục chiếm vị trí trung tâm. Phải luôn luôn giữ tình dục ở vị trí phụ mà thôi. Nếu đúng vậy thì đâu là chủ đề chính của sách Nhã Ca?
    Thâm nhập
    Chủ đề của sách là tình yêu. Trong sách này, từ ‘tình yêu ’ xuất hiện khoảng 60 lần qua những từ ngữ khác nhau. Phần thứ nhất viết về tình yêu giữa chàng Sa-lô-môn và nàng Su-la-mít trước ngày cưới. Phần thứ hai viết về tình yêu của họ trong ngày thành hôn và trong đêm tân hôn. Phần thứ ba chép về tình yêu mà họ dành cho nhau sau ‘tuần trăng mật’.
    I. Người yêu tìm hiểu nhau (1:1-3:5)
    Có thể xem phần thứ nhất như phiên khúc thứ nhất của một bài ca. Phiên khúc này mô tả hai người yêu nhau. Họ khát khao nhau nhưng trong mối liên hệ của họ còn có một yếu tố chưa được đáp ứng (
    3:1-4). Họ quan tâm đến tình yêu nhiều hơn quan tâm đến nhau.
    Từ ‘tình yêu’ được dùng 11 lần trong khi từ ‘người yêu’ chỉ có 9 lần. Lời khuyên dạy xuất hiện ở cuối phần một là: “Chớ làm tỉnh thức ái tình cho đến khi nó (tức là ái tình) muốn” (
    3:5). Đó là câu Kinh Thánh trong bản chuyển ngữ theo từng từ. Bản New American Standard Bible dịch câu này như sau: “…ngươi chớ kinh động, chớ làm tỉnh thức ái tình của ta cho đến khi nàng muốn.” Câu Kinh Thánh này đề cập đến ái tình của chàng Sa-lô-môn và ước muốn của nàng Su-la-mít. Nhưng theo bản Kinh Thánh nguyên ngữ, câu Kinh Thánh này không có từ ‘của ta’ , còn từ ‘nàng’ thực ra là từ ‘nó’ . Xem ra sự khác nhau giữa các câu Kinh Thánh này là không đáng kể. Tuy nhiên câu Kinh Thánh nguyên ngữ có ý nghĩa rõ ràng hơn: ái tình chẳng khác gì một bông hoa, phải nở đúng thời điểm của nó. Nếu người ta thử vạch cánh hoa cho nụ hoa nở ra, họ sẽ làm hư hại bông hoa ấy.
    II. Tình yêu thăng hoa (3:6-5:8)
    Phần thứ hai gồm có hai phần nhỏ. Phần thứ nhất mô tả ngày cưới của chàng và nàng (
    3:6-11). Phân đoạn Kinh Thánh này mô tả ngày thành hôn thật rõ ràng (3:11). Phần thứ hai mô tả đêm tân hôn của họ (4:1-5:1). Chúng ta biết đây là đêm tân hôn bởi đầu nàng vẫn đội lúp (4:1-3), chàng vẫn gọi nàng là tân phụ của chàng (6 lần và chỉ nhắc đến trong phần hai này). Đồng thời cũng có sự mô tả kín đáo, tế nhị sinh hoạt tình dục của họ: nàng chỉ mở vườn đóng kín cho riêng chàng (4:12-16).
    Tình dục chiếm vị trí quan trọng trong phần giữa này. Cả hai từ ‘tình yêu’ và ‘người yêu’ chỉ được dùng hai lần. Tình dục là điều thật sự lành mạnh và do Đức Chúa Trời ban cho, nhưng con người chỉ được thụ hưởng điều đó trong giới hạn của hôn nhân. Lò sưởi đúng là nơi nhóm lửa để sưởi ấm căn phòng. Bằng không thì lò sưởi dùng để làm gì? Chúng ta cần chú ý rằng ở đây không đề cập đến trẻ sơ sinh hoặc con cái. Dường như tác giả không ủng hộ chủ trương tình dục tạo giống nòi (tức là tình dục chỉ nhằm mục đích sinh con đẻ cái).
    Tình yêu của đôi vợ chồng đề cập đến trong phần hai này là một tình yêu nồng cháy. Nhưng tình yêu của họ không phải chỉ cháy bỏng, nhưng nó còn bị từ chối (
    5:2-7). Tình yêu, ngay cả tình yêu giữa vợ chồng, nếu chỉ tập trung vào tình dục thì đó là một tình yêu chưa trưởng thành. Không có gì đáng ngạc nhiên khi tình yêu ấy đưa đôi vợ chồng đến chỗ cãi nhau ngay trong tuần trăng mật.
    Phần thứ nhất kết thúc bằng một lời khuyên (
    3:5). Còn phần thứ hai kết thúc bằng một lời kêu gọi. Một lần nữa, nàng nói cùng các cô gái Giê-ru-sa-lem (và các độc giả của sách này) rằng: “Nếu gặp lương nhơn ta, khá nói rằng ta có bệnh vì ái tình” (5:8)
    Ở đây, nàng Su-la-mít muốn chàng biết rằng nàng rất thương nhớ chàng (nàng bệnh tương tư vì chàng). Đoá hoa tình yêu của nàng đã nở. Không thể nào ép các cánh hoa lại để tạo thành nụ hoa được nữa. Nỗ lực biến bông hoa trở thành nụ hoa chỉ làm hư hại bông hoa mà thôi.
    III. Người yêu tìm hiểu nhau (5:9-8:14)
    Trong phiên khúc thứ ba, tác giả trở lại và lập lại những điều đã được đề cập trong phần thứ nhất. Nàng ví thân thể mình như vườn nho (
    1:6; 8:2) đã nứt đọt, trổ hoa (2:13;6:11; 7:12). Chàng ngồi dưới gốc cây táo (2:3; 8:5) vì cớ họ khao khát những trái cây ngon ngọt của nhau (2:5; 7:8). Nàng cảm thấy yên tâm trong vòng tay của chàng (2:6; 8:3). Chàng chăn bầy mình giữa đám hoa huệ (2:16; 6:2-3). Chàng và nàng khẳng định rằng họ thuộc về nhau (2:16; 6:3; 7:10). Nàng cũng nhắc đến con hoàng dương hoặc con nai đồng nội (2:7; 8:14), nhà mẹ nàng (3:4; 8:2) và người nữ (tức là người yêu) từ sa mạc về kinh đô (3:6; 8:5).
    Vậy mọi chi tiết này nhằm nói về điều gì? Phải tiếp tục tìm hiểu nhau chứ không nên kết thúc với hôn nhân. Hầu hết các cuộc hôn nhân thường dẫn đến bi kịch vì khi tuần trăng mật kết thúc vợ chồng không còn tìm hiểu nhau nữa. Tuy nhiên, tình yêu thật sự trưởng thành trong phần ba. Giờ đây chàng và nàng quan tâm đến nhau nhiều hơn là quan tâm đến tình yêu. Từ ‘tình yêu’, ‘ái tình’ chỉ được nhắc đến 7 lần trong khi từ ‘người yêu’ hoặc ‘người yêu dấu’ được nhắc đến 18 lần.
    Tương tự phần thứ nhất, kết thúc phần thứ ba là lời khuyên dành cho các con gái Giê-ru-sa-lem (
    8:4). Đa số các bản Anh ngữ đều dịch câu Kinh Thánh này tương tự như câu kết của phần một (3:5). Nhưng câu Kinh Thánh trong nguyên ngữ có một sự khác biệt tinh tế so với những câu trong bản Kinh Thánh Anh ngữ. Nếu chuyển ngữ theo từng từ, câu Kinh Thánh này sẽ như sau: “Vì sao ngươi kinh động và làm tỉnh thức ái tình khi nó (đã) muốn (rồi)?” Ở đây câu Kinh Thánh được diễn đạt dưới hình thức câu hỏi. Hoa đã nở rồi. Các cánh hoa đã tàn héo (cãi nhau) để rồi trái có thể lớn lên (tình yêu đạt đến mức trưởng thành). Thông thường cha mẹ và bạn bè luôn luôn dành nhiều thiện chí để giúp đỡ cuộc sống của vợ chồng mới cưới nhưng hoá ra tai hại nhiều hơn là hữu ích. Chúng ta cần thận trọng và bén nhạy đối với các nhu cầu riêng tư của họ. Hãy cứ để cho họ tự giải quyết các vấn đề riêng tư ấy để qua đó tình yêu của họ dần dần lớn lên và trưởng thành. Kết thúc sách là một lời tóm tắt về tình yêu. Hầu như những người học sách này đều đồng ý rằng chúng ta có thể tìm thấy câu Kinh Thánh chính của sách trong lời kết “Nước nhiều không tưới tắt được ái tình; các sông chẳng nhận chìm nó được; nếu người nào đem hết tài sản nhà mình, đặng mua lấy ái tình, ắt người ta sẽ khinh dể nó đến đều.” (8:7). Tình yêu có một sức mạnh mãnh liệt. Tình yêu có tính cách tự nguyện chớ không thể ép buộc. Nếu ép buộc tình yêu, đó là một hành động cưỡng hiếp. Tình yêu rất quý báu. Đó là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Vì thế, chúng ta cần phải tôn trọng tình yêu.
    Trọng tâm
    Tình yêu ví như một bông hoa, nở đúng thời điểm phải nở.
    Thực hành
    Thấy một người đang yêu ai nấy đều thương. Nhưng đôi khi thương kiểu đó hoá ra là xen vào chuyện thiên hạ. Không nên mai mối một cách nông nổi nhưng phải khéo léo tế nhị và cầu nguyện nhiều. Chỉ khi nào đôi nam nữ cần đến sự ủng hộ, khích lệ thì chúng ta mới ủng hộ, khích lệ. Bằng không hành động của chúng ta gây lúng túng, ngại ngùng, đồng thời có thể bóp nghẹt tình yêu khiến tình yêu không thể nảy nở như chúng ta mong muốn.
    Về phần các bạn thanh niên (đặc biệt là các bạn trai!) bạn phải thận trọng. Nếu bạn không có ý định hoặc không thể kết hôn với người ta thì đừng bao giờ khơi dậy tình yêu nơi người ta. Một phần trong chúng ta chết khi tình yêu chết trong chúng ta. Một khi tình yêu nở hoa, nó phải kết quả, không thì nó chết. Mỗi thanh niên, mỗi thiếu nữ đều là một nụ hoa sẵn sàng nở. Do đó chúng ta phải đối xử với nhau, tôn trọng nhau như thể nâng niu một nụ hoa mong manh và dễ bị tổn thương vậy. Nhưng sự thể sẽ ra sao khi tình yêu của chàng và nàng phát triển ở tiến độ khác nhau? Chúng ta đừng nên cố gắng thúc đẩy hoặc giảm mức độ tình yêu trong người khác vì điều đó sẽ phá hủy tình yêu. Nhưng chúng ta có thể đều đặn bước đi trên con đường tình yêu để cùng song hành với người bạn đời của mình. Chúng ta cần phải thừa nhận rằng: một số người trong chúng ta ví như những lò vi-ba nhanh chóng nóng lên và nhanh chóng nguội. Còn một số người khác ví như những bếp than nóng lên rất chậm và giữ được độ nóng trong một thời gian dài. Dù bạn là ai bạn vẫn phải học tập thích ứng với những nhu cần của người bạn đời của bạn - và giữ cho tình yêu của bạn luôn ấm áp. Nếu bạn tôn trọng tình yêu - tình yêu của bạn vẫn ấm áp. Còn nếu bạn bỏ mặc tình yêu - nó sẽ nguội lạnh đi.
    Cho đến đây, vẫn chưa có chi tiết nào về Chúa Cứu Thế và hội thánh. Có nhiều lý do. Trư