• Cựu Ước Lược Khảo 2 Tác giả: Viện Thần Học Việt Nam

    Cựu Ước Lược Khảo 2
    Tác giả: Viện Thần Học Việt Nam
    CỰU ƯỚC LƯỢC KHẢO II
    GIÓP - MA-LA-CHI

    THI THIÊN KÊU THAN VÀ NGỢI CA
    Thi thiên 1-72
    Thời gian : khoảng năm 1050 - 950 T.C
    Về một phương diện, sách Thi thiên cũng giống như Thánh ca ngày nay. Cả hai đều là tuyển tập gồm các bài Thánh ca và Cầu nguyện được viết bởi nhiều tác giả t rải qua một thời gian dài. Cả hai đều nói lên sự ngợi ca từ tấm lòng người thờ phượng để đáp lại quyền năng và tình yêu của Thượng Đế, những lời nói hy vọng dựa trên lời hứa của Thượng Đế cho tơng lai, và những lời cầu xin Thượng Đế giải cứu mình khỏi những khó khăn trong đời sống, cả hai tuyển tập này được dùng trong giờ cầu nguyện riêng và trong cuộc thờ phượng công cộng. Thi thiên được hát trong đền t hờ (Thi Tv 100:4 - Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài) và trong Hội thánh đầu tiên (CoCl 3:16 - Hãy dùng những ca vịnh, thơ thánh, bài hát thiêng liêng ma dạy và khuyên nhau, vì oọc đầy ơn Ngài nên hãy hết lòng hát khen Đức Chúa Trời). Khi Thi thiên được hát lên (Đức Giê hô va là lớn trong Thi Tv 48:1-14) người hát nói lên sự vĩ đại của Thượng Đế, người nghe nghe được việc làmcủa Thượng Đế trong đời sống người khác, và mọi người đều thêm lòng tin cậy nơi quyền năng của Thượng Đế. Các Thi thiên nói len nỗi lo sợ và đau đớn vì bị bắt bớ, cũng như lòng tincậy và kính mến vì sự gìn giữ của Thượng Đế trong quá khứ. Những lời cầu nguyên nói lên mối tương giao mật thiết giữa Thượng Đế và mỗi người chúng ta.
    Nhiều Thi thiên được v iết thành bài hát, như đầu đề của 4:1-8 với câu "cho thầy nhạc chính, (để dùng() về đờn dây", hoặc trong đầu đề của 5:1-10 với câu "cho thầy nhạc chính, dùng về ống quyển". Thi thiên 3 có chữ "sê la" nằm ở cuối câu 2,4 và 8. Chữ này có nghĩa là "tăng lên" những không nói rõ là đàn lớn hơn hay dạo đàn giữa bài hát. Có nhiều Thi thiên khi hát cảm thấy được khích lệ (95:1,2, 9, 4-6) và nhiều Thi thiên khác lại làm phấn khởi người đàn khi nghe hội chúng hát ngợi ca Chúa (98:1,2; 108:1; 150:3-5)
    Các Thi thiên được sắp thành năm quyển (1 - 41; 42 - 72 ; 73 - 89 ; 90 - 106; 107 - 150). Người ta làm vậy để bắt chước năm sách(Ngũ kinh) của Môi se và có thể phản ảnh đến cách tuyển chọn thnáh ca và bài cầu nguyện trong tập Thánh ca của Y-sơ-ra-ên. Hầu hết các Thi thiên trong hai quyển đầu tiên tác giả là Đa-vít (3-41; 51 - 71), trong khi nh iều Thi thiên trong quyển ba là của A sáp (73 - 83). Những bài ca từng bạc (120 - 134) và các Thi thiên ngợi khen (146 - 150) đều nằm trong quyển th ứ năm. Người ta cho rằng Đa-vít là soạn giả của hai quyển đầu tiên, quyển ba và bốn của Sa lô môn hay Ê xê chia, Ê xơ ra soạn quyển thứ năm. Bài ca ngợi khen đầu tiên do Môi se viết (xuất Ai Cập 15) nhưng không được ghi trong các sách Thi thiên (90:1-17), 72 Thi thiên là của Đa-vít, 2 của Salômôn và một số lớn là của các ca sĩ Lê vi như A sáp, Hê man, Êthan, và Corê (ISu1Sb 15:16-24; 25:1-8). Đa-vít đã cắt đặt những người Lê vi này để ca hát và sử dụng nhạc cụ trong các buổi thờ phượng. Một vài Thi thiên khác được viết trong thời kỳ dân Y-sơ-ra-ên bị lưu đày qua Balylôn (Thi Tv 137:1-9). Trong Tân Ước Phi e rơ khẳng định rằng Đa-vít đã viết 16:1-11110:1-7 (Cong Cv 2:25-35) và HeDt 4:7 đã nhắc đến tên ông qua Thi Tv 95:1-11.
    BỐI CẢNH LỊCH SỬ
    Phần lớn các Thi thiên có hai bối cảnh lịch sử - bối cảnh đầu tiên là chính kinh nghiệm của tác giả khi viết Thi th iên đó (Đa-vít chăn chiên trên đồi) và bối cảnh thứ hai là khi Thi thiên đó được hát lên trong đền thờ Giê-ru-sa-lem trong ngày lễ. Cứ theo các đầu đề thì bối cảnh lịch sử đầu tiên là nguyên n hân khiến tác giả viết ra các Thi thiên. Thi thiên 3 được viết khi Đa-vít trốn khỏi Ap sa lôm, con trai người (xem IISa 2Sm 13:34; 18:33), Thi Tv 18:1-50 được Đa-vít trong ngày Đức Giê hô va giải cứu người khỏi tay Sau lơ (IISa 2Sm 21:1-22:51), Thi Tv 51:1-19 là lời cầu nguyện của Đa-vít sau khi ông phạm tôi cùng bát sê ba (IISa 2Sm 12:1-14:33). Một số Thi thiên khác không ghi rõ bối cảnh lịch sử trên các đầu đề, nhưng thấy được ý của tác giả trong nội dung của các Thi thiên ấy. Thi Tv 45:1-17 là bài hát mừng lễ cưới của vua, trong khi 27:1-3, ghi lại hình ảnh tác giả bị vây hãm bởi kẻ làm ác, kẻ cừu địch, và thù nghịch.
    Về sau khi các bài ca này được hát lại trong các buổi thờ phượng trong đền thờ hay trong Hội thánh đầu tiên không ai còn nhớ rõ hoàn cảnh của chính tác giả nữa. Tuy nhiên, họ có thể thấy được tình trạng tuyệt vọng trong các bài ca này bởi vì họ cũng có cùng một t âm trạng đó. Nhiều Thi thiên khác được viết để hát ngợi khen Thượng Đế trong đền thờ hay t rong các ngày lễ. Các Thi thiên này thường ghi lại những khó khăn chung hay những lý do để vui mừng liên quan đến mọi người trong mọi nền văn hóa.
    PHÂN LOẠI THI THIÊN
    Các Thi thiên có thể sắp thành nhiều nhóm khác nhau dưới cùng một chủ đề, cách cấu tạo, hay cách dùng. Có những Thi thiên luận về Đấng Mê sia (2:1-12; 110:1-7), luân về sự khôn ngoan (1:1-6; 73:1-28), luận về vua chúa (96:1-99:9), những bài ca về Si-ôn (46:1-11; 48:1-14), và những Thi thiên luận về lịch sử (105:1-45; 106:48). Trong chương kế chúng ta sẽ nghiên cứu nhiều loại Thi thiên khác nữa, nhưng trong chương này chúng ta chỉ xem xét hai loại Thi thiên thông dụng nhất : đó là Thi thiên Cầu nguyện và Thi thiên Ngợi ca.
    THI THIÊN KÊU THAN (Psalms of Lament)
    Dân Y-sơ-ra-ên than khóc và kêu cầu cùng Thượng Đế để được giúp đỡ về nhiều lý do. Nhiều Thi thiên đã thuật lại tình trạng của chính tác giả hay của cả nước khi bị kẻ thù tấn công. Một thành phố có thể tìm sự bảo vệ của Thượng Đế khi quân thù v ây đánh (44:4-16) hay một cá nhân như Đa-vít có thể than khóc cho tình cảnh mình khi ông chạy trốn Sau lơ ở hang động trong đồng vắng Giu đê (142:1-7). Nhiều lần khác dân chúng than khóc và ăn năn về tội lỗi của họ (51:1-19; 130:1-8) than khóc vì tật bịnh (6) hay nài xin Thượng Đế binh vực mình đối cùng kẻ ác (7;17;120), khi t han khóc, họ thường khóc lóc, kiêng ăn, quấn bao gai và ngồi trong tro (xem Gio Ge 2:12-17). Họ làm vậy không phải để yêu cầu Chúa ban phước, nhưng thật lòng muốn cầu nguyện vì họ không có thuốc men như ngày nay không có quân độ hùng mạnh hay nhân viên công lực để duy trì an ninh trật tự, và họ cũng không có tiền đẻ chống lại những người đã áp bức họ. Hy vọng duy nhất của họ là nương tựa vào Thượng Đế để được thương xót và bảo v ệ. Sách Thi thiên bao gồm sáu hay bảy bài cầu nguyện giữa cộng đồng và khoảng 50 bài cầu nguyện cá n hân.
    Hầu hất các bài cầu nguyện đề có cùng một cấu trúc tổng quát (những bài cầu nguyện của chúng ta cũng dựa theo cách cấu tạo này) tuy nhiên mỗi bài cầu nguyện đều có cái tự do riêng của nó. Cách cấu trúc một bài ai ca thường có :
    1. Lời cầu xin, lời kêu gọi Thượng Đế giúp đỡ. Phần này thường rất ngắn. Như trong Thi thiên chương 13 ghi "Đức Giê hô va ôi ! cho đến hừng nào ?" Lời xưng hô là lời xác n hận rằng người cầu nguyện hướng lòng mình về Thượng Đế để được giúp đỡ. Thật ra, Thượng Đế là nguồn tiếp trợ duy nhất cho những ai gặp khó khăn.
    2. Lời ai oán hay than vãn. Phần lớn người cầu nguyện trình bày nỗi khó khăn mà mình đang gặp. Thường thường có ba vấn đề được dâng lên : Thượng Đế không che chở họ, kẻ thù đang bắt bớ họ, và họ đang sầu khổ. Như trong Thi Tv 13:1,2 người cầu nguyện than phiền với Thượng Đế rằng "Ngài ẩn mặt cùng con cho đến bao giờ?" về hoàn cảnh của chính mình trong câu "Tôi phải lo lắng nơi linh h ồn tôi, hằng ngày buồn thảm nơi lòng tôi cho đến bao giờ ?" và về kẻ th ù mình trong cầu "kẻ thù nghịch tôi sẽ trổi hơn tôi cho đến chừng nào ?" Những lời than vãn này là những lời nói thật lòng. Họ không che giấu nỗi sầu khổ hay sự phật lòng của họ (dĩ nhiên là Chúa biết lòng họ), tuy nhiên họkhông đổ lỗi cho Thượng Đế, họ tin rằng Chúa có thể giải quyết những khó khăn của họ, họ trình bày những lời than phiền bởi vì họ tin rằng hoàn cảnh sẽ thay đổi khi Thượng Đế nghe lời than phiền của họ. Ngày nay trong lời cầu nguyện, người cầu thường không dành đủ thì giờ để trình bày những khó khăn của mình hay t hưa với Thượng Đế về cảm tưởng của họ đối với những khó khăn ấy. Những Thi thiên này khuyến khích mọi người hãy mở lòng ra với Thượng Đế, hãy t hưa rõ với Thượng Đế về cảm tưởng của họ, không ngại ngùng hay giấu giếm.
    3. Lời cầu xin hay yêu cầu Thượng đ ế giúp đỡ. Phần này thường để nài xin Thượng Đế hãy nghe lời cầu nguy ện của mình và hành động bằng cách ban sự cứu rỗi hay giải cứu mình ra khỏi những khó khăn trong cuộc sống. Như lời cầu xin trong 13:3, 4 "hỡi Giê hô va, Đức Chúa Trời con, xin hãy xem xét, nhậm lời con và làm cho mắt c on được sáng, kẻo con phải ngủ chết chăng; kẻo kẻ thù nghịch con nói rằng : Ta đã thắng hơn con". Đôi khi lời cầu xin bao gồm lời yêu cầu muốn được Thượng Đế giải cứu khỏi sự chết, t ha th ứ tội lỗi, hay đánh bại kẻ thù của họ. Lời yêu cầu là lời thừa nhận rằng người đó không thể giải quyết mọi khó khăn trong cuộc sống bằng sức riêng của mình. Khi cầu xin Thượng Đế giúp đỡ, chúng ta xưng nhận rằng chúng ta nương tựa nơi Thượng Đế và qua đức tin chúng ta an nghỉ trong cánh tay quyền năng của Ngài.
    4. Lời xưng nhận lòng tin cậy. Ngay trong những lúc người tin Chúa đối đầu với nhứng khó khăn lớn và cảm thấy quá nản lòng, cầu nguyện kêu than không phải là đắm mình trong tuyệt vọng hay ngã lòng. Sau khi lời cầu nguyện được nói lên, người ấy phải phải chuyện sự quan tâm từ các nan đề qua Thượng Đế là Đấng giải đáp cho lời nài xin. Lời xưng nhận lòng tin cậy là lời nói bày tỏ lòng tin, một cái nhìn về tương lai mong đợi thượng đế sẽ làm thành lời cầu xin của họ. Như trong 13:5 tác giả tuyên bố "nhưng tôi đã tin cậy nơi sự nhơn từ Chúa; lòng tôi khoái lạc về sự cứu rỗi của Chúa. "Bởi vì người ấy biết rằng Thượng Đế là Đấng có thể tin cậy, người ấy có niềm tin rằng sự cứu rỗi của Thượng Đế sẽ mang đến sự vui mừng lớn trong những ngày tới. Như lời của bài hát "Hãy nhìn lên Chúa Jêsus" nói :'Mọi vật ở thế gian sẽ tối mờ trong ánh sáng vinh quang và ân điển của Thượng Đế"
    5. Lời hứa nguyện ca ngợi. Nhiều bài cầu nguyện được chấm dứt với lời hứa nguyện rằng người ấy sẽ hát ca ngợi Thượng Đế khi Ngài nhậm lời cầu xin của mình. Trong 13:6 người cầu nguyện hứa rằng :"Tôi sẽ hát ngợi khen Đức Giê hô va, vì Ngài đã làm ơn cho tôi". Bài kêu than được bắt đầu bằng một nỗi sầu tư, và chấm dứt với một niềm hy vọng và sự chiến thắng, với lòng mong ước được làm sáng danh Thượng Đế và tuyên bố về ân điển của Ngài cho người khác qua lời ca t ụng.
    Một số bài kêu than không bao gồm tất cả các phần cấu trúc trên và nhiều bài khác lại có hai phần đề về lời cầu xin hoặc hai phần về lời xác nhận lòng tin cậy. Mỗi bài cầu nguyện là một lời biểu lộ cá biệt trình bày qua một số phần tử nối kết với nhau một cách độc đáo. Mọi người đều khác n hau, hoàn cảnh cũng khác nhau, và niềm hy vọng của họ cũng thay đổi tùy theo mức độ trầm trọng của sự khó khăn họ đang gặp.
    Đọc hoặc cầu nguyện thường xuyên theo các Thi th iên kêu than này sẽ giúp chúng ta cầu nguyện cách có linh nghiệm và thành thật. Thượng Đế rất quan tâm đến những khó khăn của c húng ta và HeDt 4:1-16 chép rằng Chúa Giê-xu đang ngồi bên hữu Đức Chúa Trời trên thiên đàng, nóng lòng muốn được cầu t hay cho chúng ta. Cầu nguyện là lời chứng về sự quan trọng trong mối liên hệ cá nhân với Thượng Đế, là niềm tin của chúng ta vào quyền năng biến hóa của lời c ầu nguyện, và là sự mong ước của chúng ta được nếm sự vui mừng khi lời cầu nguyện được nhậm.
    THI THIÊN NGỢI CA
    Một nhóm Thi thiên lớn khác được gọi là Thi htiên ngợi khen. Các Thi thiên này được sắp xếp theo nhiều loại khác nhau dựa trên cách cấu tạo, đề tài, hay lý do ngợi ca Chúa, một số bài hát đề cao sự ngợi ca Thương đế vì Ngài nhậm lời cầu x in của họ (phần cuối của lời cầu nguyện, người cầu nguyện thường hứa sẽ ngợi ca Thượng Đế khi Ngài đáp lời cầu xin của họ). Thi thiên chương 9 là một trong các Thi thiên ngợi ca. Thượng Đế được ngợi ca (9:1-3, 7-11, 14) bởi vì họ nhớ lại thể nào Thượng Đế đã tiêu diệt kẻ thù của họ (6, 12, 13, 15,16)
    Một nhóm Thi thiên khác đó là các bài ca đi lên từng bực được hát khi Đức Chúa Trời khách hay người đi lễ tiến vào đền thờ. Họ vui mừng vì được t hấy thành Giê-ru-sa-lem và được vô đền thờ để thờ phượng Thượng Đế (122:1-9)
    Phần lớn các bài ca đều ca t ụng sự vinh quang của Thượng Đế với những lý do tại sao Thượng Đế cần được ngợi ca. Cách cấu tạo của các bài ngợi ca này tương đối đơn giản.
    1. Lời mời ca ngợi Thượng Đế
    2. Lý do ca ngợi Thượng Đế
    Thứ tự này có thể được lập lại một phần hay hoàn toàn trong một thể thức đơn giản. 100:1-5 là một Thi thiên được viết theo cách này. 100:1-5 bắt đầu bằng lời mời ca ngợi Thượng Đế trong câu 1,2: "Hãy cất tiếng reo mừng cho Đức Giê hô va. Khá hầu việc Đức Giaê hô và cách vui mừng, hãy hát xướng mà đến trước mặt Ngài". Theo sau là những lý do ca ngợi Thượng Đế trong câu 3, "Phải biết rằng Giê hô va là Đức Chúa Trời. Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài; chúng tôi là dân sự Ngài, là bầy chiên của đồng cỏ Ngài". Thứ tự này được lập lại với lời mời ca ngợi Thượng Đế trong câu 4, "Hãy cảm tạ mà vào các cửa Ngài, hãy ngợi khen mà vào hành lang Ngài". Và lý do thứ hai để ca ngợi Thượng Đế trong câu 5, "Vì Đức Giê hô và là thiện ' sự nhơn từ Ngài hằng có mãi mãi, và sự thành tín Ngài còn đến đời đời", tuy rằng thứ tự tương đối đơn giản, nhưng Thi thiên ca ngợi này chứa đựng một giá trị cao về thần học. Người thờ phượng bi ết được sự quan trọng của việc đến đền thờ là để thờ phượng và ca ngợi Thượng Đế. Đây không phải là thói quen, một việc đáng trọng nên làm, hay vì phải vâng lời cha mẹ. Người tin ợnnnng đế hiểu tại sao Thượng được dế được ca ngợi, họ đã kinh nghiệm được ơn phước Ngài, lòng họ được thúc đẩy dâng lên lời cảm tạ. Thượng đ ế đã dựng nên họ, Thượng Đế xem họ đặc biệt thuộc về Ngài và Ngài cung cấp mọi nhu cầu cho họ. Thượng Đế là thiện đối với họ, Ngài bày tỏ tình yêu Ngài mãi mãi, Ngài làm sự thành tín Ngài qua nhiều cách. Ngài đáng được ngợi ca.
    Đôi khi bài ngợi ca nhấn mạnh về lời mời ca ngợi Thượng Đế như 148:1-5a, 7-13a. chỉ hai phần rất ngắn (5b-6 và 13b - 14) cho biết về lý do tại sao ca ngợi. Một số thi thiên khác rất ngắn trong phần lời mời ca ngợi Thượng Đế (147:1a, 7, 12) nhưng rất dài t rong phần lý do ca ngợi (147:1b-6, 8-11, 13-20). Các Thi th iên này làm trọn một trong những mục đích chính của sự hiện hữu của nhân loại trên thế gian này là vui hưởng và làm vinh hiển danh Chúa.
    Thời đó, phưong t iện di chuyển rất khó khăn nên những người sống xa thành phố Giê-ru-sa-lem chỉ có thể đến đền thờ phượng Cháu vài lần mỗi năm. Cho nên không có gì là ngạc nhiên khi thấy họ rất hăng hái và sốt sắng đi thờ phượng Chúa. Khi mọi người cùng nhau hát tônv inh Chúa, quả là một không khí khích động, khi hát, họ được nhắc lại nhiều lý do tại sao họ ca ngợi chúa. chúa là thiên (vì Ngài cho họ trúng mùa và dư dật thức ăn để dùng), Chúa luôn luôn thành tín (vì Ngài đáp lời cầu xin và làm thành lời hứa với họ), tình yêu của Chúa được nhìn th ấy (qua sự ban cho sức khỏe hay con cái trong gia đình). Ân điển Chúa không bị quên lãng hay bị coi là chuyện dĩ nhiên, đây là cơ hội để tôn vinh Chúa và khuyến khích người khác đặt niềm t in nơi Chúa.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Trong thì giờ khó khăn người tin Chúa có thể dâng mọi gánh nặng của họ cho Chúa, bởi vì Ngài luôn luôn lắng nghe và an ủi những ai đến với Ngài.
    2. Lời cầu nguyện để được giúp đỡ không hẳn chỉ chú trọng về nỗi khó khăn hay những điều mình cần. Lời cầu nguyện cũng cần được chú trọng vào khả năng đáp lại lời cầu xin của Thượng Đế, lời hứa tin cậy Chúa của người tin Chúa, và niềm mong ước tối hậu là làm vinh hiển danh Chúa vì ân điển và sự nhơn từ của Ngài.
    3. Đền thờ Chúa là nơi để ngợi khen và cảm tạ. Sự vui mừng của Chúa cần được tràn ngập trong lòng và môi miệng của những ai đã được Chúa ban phước.
    4. Thượng Đế đáng được ngợi ca vì Ngài là Thượng Đế, chúng ta là dân sự Ngài, và Ngài đã chu cấp cho chúng ta.
    GHI CHÚ
    1. C. Westermenn, The Psalms : Structure, Content and Message (Minneapolis : Augsburg, 1980) trang 29 - 45
    2. Westermann, The Psalms : Structure, Content and Message. Trang 71 - 80
    3. Westermenn, The Psalms : Structure, Content and Message. Trang 81 - 92
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Chúng ta có thể học được gì về Thi thiên qua đầu đề của chúa
    2. Những điểm tương đồng và khác biệt nào được tìm thấy giữa sách Thi thiên và Thánh ca ngày nay ?
    3. Các bài kêu th an có chung một cấu trúc nào ? Cấu trúc này khuyến khích người cầu nguyện vượt qua nỗi sợ hãi và nản lòng trong những hoàn cảnh khó khăn của họ như thế nào ?
    4. Liệt kê một số lý do tại sao loài người ca ngợi chúa trong cá Thi thiên ngợi ca như Thi thiên chương 33, 111, 135 và 145
    5. Thử viết ra và cầu nguyện một bài cầu nguyện đơn giản dựa trên một khó khăn thật sự mà quý vị đang gặp (theo cách cấu tạo ở câu trên) và một bài ngợi ca Chúa trong đó ghi lai lý do tại sao quý vị ngợi ca Chúa. nếu có khiếu về âm nhạc, quý vị có thể viết bài ngợi ca Chúa ra thành bài hát.

    CÁC CHỦ ĐỀ ĐẶC BIỆT TRONG THI THIÊN
    Thi thiên 73 - 150
    Khoảng thời gian : 150 - 500 T.C
    Để bổ túc cho Thi thiên kêu than và ngợi ca đã được nghiên cứu trong chương trước, có nhiều loại Thi thiên khác với nh ững chủ đề đặc biệt và có cùng một cấu trúc hay cùng bối cảnh đời sống Y-sơ-ra-ên. N hững Thi thiên này gồm có : Thi thiên luận về lịch sử, Thi thiên về sự nguyền rủa, Thi thiên về sự ăn năn và hối cải, Thi thiên luận về sự khôn ngoan, Thi thiên luận về vua chúa, và Thi thiên luận về Đấng Mê-si-a. Tuy các Th thiên này rất ít, nhưng chứa đựng nhiều ý tưởng thần học rất quan trọng và cho biết một vài phương diện trọng yếu về sự thờ phượng của dân Y-sơ-ra-ên.
    THI THIÊN LUẬN VỀ LỊCH SỬ
    Thi thiên luận về lịch sử khác với những Thi thiên kia vì Thi thiên này không liên quan đến một trường hợp đặc biệt nào trong đời sống của người tin Chúa cả. Thay vào đó Thi thiên này ôn lại lịch sử Y-sơ-ra-ên theo thứ tự để nhắc người nghe về tội lỗi của nước trong quá khứ, để ca ngợi Thượng Đế về lòng nhơn từ của Ngài, hoặc để khuyến khích mọi người hãy tin cậy Thượng Đế vì Ngài luôn luôn thành tín.1
    Thi Tv 78:1-72 là một Thi thiên thuật lại việc làm diệu kỳ của Thượng Đế được truyền dặn tổ phụ phải dạy lại cho con c háu mình hầu cho dòng dõi hậu lai có lòng tin cậy nơi Thượng Đế, chớ q uên các ân huệ và điều răn của Ngài, và đừng cố chấp phản nghịch như tiổ phụ mình (78:5-8). Phần thứ nhất (78:9-20) ghi lại các phép lạ của Thượng Đế trong xứ Ai cập, khi vượt qua biển đỏ, dẫn dắt họ bằng áng mây qua đồng vắng, khiến suối phun ra từ tảng đá, và sự phản nghịch của dân Y-sơ-ra-ên khi họ không có nước để uống hoặc không có thịt để ăn. Phần thứ hai (78:21-39) chép về sự thịnh nộ của Thượng Đế vì lòng không tin của dân Y-sơ-ra-ên , và cách ban thực phẩm lạ lùng của Ngài qua ma na (bánh của thiên sứ) và thịt từ chím cút. Đoạn này được chấm dứt bằng sự lập lại cơn giận của Thượng Đế t rước lòng bội nghịc và không trung tín của dân Y-sơ-ra-ên mặc dầu Ngài đã cung cấp mọ nhu cầu vật c hất cho họ. Phần thứ ba (78:40-53) chú trọng vào việc dân Y-sơ-ra-ên khi đi trong nơi đồng vắng đã quên lãng quyền năng của Thượng Đế được thi thố qua các tai họa giáng trên xứ Ai cập. Phần thứ tư (78:54-72) tóm lược sự tiến vào đất thánh và chinh phục xứ Ca na an, cùng xu hướng thờ hình tượng của dân Y-sơ-ra-ên. Vì cớ dân Y-sơ-ra-ên cứ phạm tội, nên Thượng Đế rời bỏ đền tạm của Ngài tại Si lô và sau này từ bỏ các chi phái của Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc nữa. Nhưng Thượng Đế giữ lòng trung tín với chi phái Giu đa, chọn Đa-vít làm vua và chỉ dẫn người xây cất đền thờ Giê-ru-sa-lem. Trong suốt thời gian này Thượng Đế đã dẫn dắt quốc gia và chăn giữ dân sự mà Ngài yêu. Ngoài Thi thiên này còn có một số Thi t hiên khác cùng lấy lịch sử làm chủ đề 105; 106; 135)
    THI THIÊN LUẬN VỀ SỰ NGUYỀN RỦA
    Một số Thi thiên chứa đựng lời rủa sả hay nguyền rủa nghịch cùng kẻ thù của dân Chúa một số lời rủa sả này là một phần nhỏ của lời kêu than (139:19-22) trong khi một số khác chiếm phần lớn trong Thi thiên (35; 69; 109). Các Thi thiên này đã gây khó chụi cho Cơ đốc nhân bởi vì chúng khơi động lòng thù hận, thật trái với lời của Đức Chúa Giê-xu dạy là hãy yêu kẻ thù của chúng ta (Mat Mt 5:44). Tuy một số người cho rằng những lời nói này là xấu xa, thua kém tiêu chuẩn của Cơ đốc giáo và là thành phần tiêu cực của nền đạo đức cũ xưa có tính chất giai đoạn, nhưng nếu xem cẩn thận những lời phát biểu nói lên sự phẫn nộ này thì chúng không phải bị thúc đẩy bởi ước muốn tội lội là trả thù cá nhân.
    Lời rủa sả trong 109:6-20 cho thấy rằng kẻ ác đã phỉ báng và nói nghịch cùng người lành (109:2-5). Người tin Chúa cầu nguyện xin Thượng Đế hãy đoán xét những người này bằng cách tiêu diệt họ, khiến con cái họ mồ côi cha, cất đi phần đất của họ, và loại mọi ký ức về họ ra khỏi thế gian, đó là phương cách mà chính Thượng Đế phán rằng Ngài sẽ báo trả kẻ ác về tội ác họ (109:6-20). Nơi khác, Đa-vít kêu cầu thượng đế hãy giết kẻ ác vì họ nói nghịc cùng Chúa và lấy danh Chúa mà làm chơi. Đa-vít ghét những kẻ ghét Chúa, người gớm ghiếc những kẻ dấy nghịch cùng Chúa (139:19-22). Nhưng Đa-vít không nói với giọng thù hằn cá nhân, vì trong câu kế ông xin Chúa hãy tra xét xem có lối ác hay ý tưởng báo thù nào trong lòng ông không (139:23,24). Rõ ràng Đa-vít có cùng lập trường gớm ghét tội lỗi với Thượng Đế đến nỗi ông không thể chịu được nữa; ông xin Thượng Đế hãy cất mọi điều ác đi. Loại người ngày nay không ảm thấy thoải mái về những lời cầu nguyện này, chính vì họ có khuynh hướng làm giảm tội tại Corinhtô và phó chúng cho sự chết và ưủi Sa tan (ICo1Cr 5:1-13) và ông cũng rủa sả những ai giảng một tin lành nào khác ngoài tin lành của Đấng Christ (GaGl 1:6-10). Có thể Đa-vít và Phaolô cũng ghét tội lỗi như Thượng Đế hơn nhiều người khác. Xét cho cùng thì Kinh t hánh nói rõ rằng chính Thượng Đế sẽ quăng một số người xuống địa ngục vì tội lỗi họ.2 Cả Cựu ước lẫn Tân ước đều khuyên người tin C húa hãy yêu thương kẻ lân cận mình (LeLv 19:18; Mat Mt 19:19) chớ báo thù ai (PhuDnl 32:35; HeDt 10:30), và dạy chúng ta hãy ghét và từ bỏ tội lỗi vì Thượng Đế ghét tội lỗi.
    THI THIÊN LUẬN VỀ SỰ ĂN NĂN
    Đặc điểm của người yêu mến Thượng Đế là ghét tội lỗi, lòng ước muốn của họ là từ bỏ mọi thái độ và hành động tội lỗi, và muốn ăn năn tội hầu nhận sự tha thứ của Thượng Đế. Tuy Đại lễ Chuộc tội là ngày mà toàn dân Y-sơ-ra-ên làm lễ chuộc tội cho cả quốc gia (LeLv 16:1-34) nhưng người tin Chúa trong thời Cựu ước có thể ý thức được tội lỗi của họ và nhận được sự tha thứ của Thượng Đế bất cứ lúc nào. An năn tội cũng giống như dâng lễ chuộc tội trước đền thờ. Dù sao thì cũng phải nhấn mạnh điểm này là việc dâng của lễ không quan trọng bằng một tâm thần đau thương, một tấm lòng thống hối của tội nhân (Thi Tv 51:16,17)
    Nhiều người cho rằng lời cầu nguyện ăn năn trong 51:1-1932:1-11 liên quan đến mối liên hệ tình dục t ội lỗi giữa ông và bà Bát sê ba (xem phần ghi chú nơi đầu đề của 51:1-19). trong Thi thiên 51:1-19 Đa-vít cầu xin Thượng được đế thương xót mình. Ông muốn Thượng Đế hãy xóa các sự vi phạm và rửa cho sạch hết trọi gian ác cảu ông (51:1, 2). Đa-vít nhận biết rằng liên hệ tình dục ngoài hôn n hân là phạm tội, ông đã làm đ iều ác trước mặt Chúa, và đáng bị Chúa xét đoán (51:3, 4). Nhưng Đa-vít đã từ bỏ lối sống tội lỗi và cầu xin Chúa làm ông được tinh sạch, rửa ông trắng hơn tuyết, và dựng nên trong ông được một lòng trong sạch (51:7-10). Ông không muốn Thượng Đế ruồng bỏ ông vì tội lỗi của ông; nhưng muốn Thưọng đế ban lại cho ông sự vui vẻ trong đời sống hầu ông có thể chia xẻ với người khác những điều ông học được và cảnh cáo họ về các làm lỡ của họ (51:11-13). Một khi được Thượng Đế tha thứ (bởi vì Đa-vít có lòng khiêm nhường, chứ không phải vì ông dã dâng của lễ) Đa-vít sẽ ca ngợi Thượng Đế và cất tiếng hát mừng vui (51:14-17)
    Thi thiên 32 là một dẫn chứng về sự dạy dỗ người khác của Đa-vít với chính kinh nghiệm của mình. Trước hết ông tìm cách che lấp tội lối, từ chối gọi đó là tội, nhưng lương tâm ông bị đè nặng ngày và đêm (32:3, 4). Cuối cùng ông đã xưng tội và không còn che giấu nữa. Thượng Đế nhơn từ đã tha thứ cho ông (32:4, 5) và ông vui sướng vì tội lỗi mình đã được khỏa lấp (3,2). Qua kinh nghiệm này, Đa-vít dạy dỗ dân Y-sơ-ra-ên hãy mau cầu nguyện để được tha thứ khi họ phạm tội (32:6), chớ bướng bỉnh như con la (32:9). Cứ tiếp tục phạm tội và thái độ không chịu ăn năn sẽ mang đến n hiều nỗi đau đớn, nhưng nếu xưng tội và tin cậy nơi Thượng đế về sự tha thứ thì sự vui mừng lớn sẽ đến với người ấy (32:10, 11). Dĩ nhiên lời chỉ dẫn của Đa-vít liên quan đến tầm quan trọng của sự xưng tội phù hợp với sứ điệp Tân Ước về Thượng Đế là t hành tín và công bình và Ngài sẽ tha tội nếu chúng ta xưng tội mình với Thượng Đế (IGi1Ga 1:9)
    THI THIÊN LUẬN VỀ SỰ KHÔN NGOAN
    Tuy gặp khó khăn nhỏ t rong công việc nhận diện các Thi thiên luận về sự khôn ngoan, nhưng hầu hết đồng ý rằng có một số các Thi thiên phản ảnh lời dạy dỗ của sách dạy về sự khôn ngoan (1 ; 37; 73; 112; 127; 128). Sự giống n hau trong các chủ đề (Thành công hay phá hủy, công bình hay gian ác, nỗi thống khổ của người công bình) và những câu cách ngôn, t ục ngữ hiển nhiên chứng tỏ rằng một số tác giả Thi thiên có đọc sách viết về sự khôn ngoan và lời dạy dỗ của họ đã được dùng làm lời chỉ dẫn và khích lệ dân Y-sơ-ra-ên 3
    1:1-6 so sánh đời sống người công bình (1:1-3) với kẻ ác (1:4-5). Người được Thượng Đế ban phước không nên tìm đến với người gian ác để được họ khuyên bảo, không dành thì giờ để làm những điều mà kẻ ác làm, và họ không chế riễu hay đùa bỡn về n hững điều thiêng liêng. Thay vào đó họ dành thì giờ để đọc và học lời của Thượng Đế. Bởi cớ đó, Thượng Đế ban phước trên những điều họ làm (1:1-3). Kẻ ác chẳng hành động như người công bình, cho nên họ chẳng đứng nổi trong ngày Thượng Đế đoán xét (1:4-5). Lời so sánh sau cùng nói về sự chăm sóc của Thượng Đế đối với người công bình và sự diệt vong thuộc về kẻ ác là kẻ không có Thượng Đế (1:6)
    Thi thiên 73 gần giống như sách Gióp, vì cả hải đều dằng co với một câu hỏi rằng tại sao người công bình phải chịu khổ, và tại sao vo số kẻ ác lại được t hạnh vượng. (7-12). Tuy sự thanh sạch dường như vô ích, những nỗi khốn khổ có thể làm chúng ta cay đắng và có vẻ vô nghĩa, nhưng tác giả Thi thiên nhắc nhở người tin Chúa rằng sự tận cùng của kẻ ác sẽ không vui vẻ đâu (73:13-19). Trong những lúc thử thách, loài người phải dựa trên lời hứa họ sẽ nhận được phần thưởng sau này (73:24), xây bỏ mọi ham muốn thế gian, và hướng về Thượng Đế để t hêm sức lực (73:25-28)
    THI THIÊN LUẬN VỀ VUA CHÚA
    Các Thi thiên này gồm các bài hát dùng để hát về các vị vua ở thế gian hay được hát bởi các vị vua ấy, các bài hát này cũng hát về sự trị vì của Thượng Đế. Nhóm thứ nh ất gồm các Thi thiên chương 20, 21, 45, 72, 89 và 132, cầu xin Thượng Đế bảo vệ vua ở Giê-ru-sa-lem là người đã được xức dầu và ban cho ông thắng lợi trong cuộc chiến với kẻ thù địch (20:1-9). Để đáp lại sự giải cứu của Thượng Đế và ngợi khen Ngài (21:1-13). bài hát dùng để mừng lễ cưới của một trong các vị vua Y-sơ-ra-ên được ghi lại trong 45:1-17 và các Thi thiên nói về giao ước Thượng Đế lập cùng vua Đa-vít (xem II Sa muên -16) được tìm t hấy trong 89:1-52132:1-18
    Có một nhóm thi th iên khác không kém phần quant rọng, đó là các Thi thiên ca ngợi ngôi vua của Thượng Đế (47, 93, 96-99). Đaay không phải là Thi thiên mừng ngày đăng quan của vua theo sau lễ mùa Thu mà Thượng Đế được tôn làm vua như một ố người đã nói 4. Trong chế độ thàn trị (Theocracy) khi dân Y-sơ-ra-ên bắt đầu làm dân sự của thượng đế họ hiểu rằng Thượng Đế là người quản trị và là vua của họ. Đó là lý do tại sao Ghê đê ôn từ c hối làm vua của Y-sơ-ra-ên (Cac Tl 8:23). Một điều nguy hiểm khi có vua ở thế gian là vị vua thường hay cậy vào sức riêng để trị dânt hay vì để Thượng Đế làm vị vua tối thượng (ISa1Sm 7:1-17; 12:12-15). Vị vua lớn thật đáng kính sợ chính là Thượng Đế (Thi Tv 47:2). Ngài là Vua của cả trời đất và là Đấng đáng được ngợi khen (47:6, 7). Thượng Đế là Đấng được thờ lạy vì Ngài là Vua cao cả trên hết các thần (95:3; 97:9), vì Ngài sẽ xét đoán mọi dân tộc (96:9-13) và vì Ngài trị vì th ế gian bằng quyền năng và công bình (99:4). Thượng Đế là Vua cao cả và t hánh khiết, cho nên chúng ta phải tôn thờ Ngài làm Chủ, làm Chúa, và làm Vua của đời sống chúng ta.
    THI THIÊN LUẬN VỀ ĐẤNG MÊSIA
    Có một vài trở ngại trong việc giải thích các Thi thiên nói về Đấng mêsia. Có người rất hoài nghi lời giải thích về Đấng Mê-si-a và không chấp nhận các Thi thiên này là những lời dự ngôn về sự hầu đến của Chúa Giê-xu. Họ cho rằng đây là những đoạn nói về vua Đa-vít hay một người nào đó sống trong thời Cựu ước. Một số khác công nhận các lời dẫn chứng trong Tân ước cho rằng những đoạn đó ám chỉ về Chúa Giê-xu, nhưng khi đọc đoạn đó trong Cựu ước thì lại gán cho những ý nghĩa chỉ hiểu dược sau khi Chúa Giê-xu đến trong thế gian. Cần có một biện pháp dung hòa cho hai khuynh hướng này. Người giải kinh phải chấp nhận lời chứng của Tân ước xác nhận những lời đó nói về Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si-a, nhưng phải giải thích các Thi thiên luận về Đấng Mê-si-a dựa trên căn bản những điều được tỏ ra cho Đa-vít, chứ không phải dựa trên những điều được tỏ ra hàng trăm năm sau khi các sách Tin Lành được viết ra. Các Thi thiên nói về Đa-vít không đề cập đến việ Chúa Giê-xu được sanh bởi nữ đồng trinh (điều này được nói đến 250 năm sau trong EsIs 7:14) chứng tỏ rằng Đa-vít hoàn toàn không biết về điều này.
    Thi Tv 2:1-12 và 110:1-7; là hai Thi thiên về Đấng Mesia dự ngôn rằng Thượng Đế sẽ lập con rai của Ngài được Ngài xức dầu lên làmVua trên Si-ôn. (2:6). Vua này sẽ trị vì cả thế g ian và mọi người sẽ đầu phục Ngài nếu không sẽ bị tiêu diệt (2:8-12). Lời tiên tri này nói về sự tái lâm của Đấng Christ khi Ngài đến trong quyền năng để trị vì thế giới và thành lập vương quốc của Ngài. Thi thiên 110:1-7 dự ngôn rằng Chúa của Đa-vít là vua hầu đến, t rong một ngày nào đó sẽ ngồi bên hữu Thượng Đế và trị vì cả thế giới.
    Một số nhà giải kinh đã không đồng ý với nhau về cách hiểu một số Thi thiên trong Cựu ước không nói về Đấng Mê-si-a nhưng lại được trưng dẫn trong Tân ước. Một số tin rằng các Thi thiên này được ứng nghiệm hai lần, trong khi một số khac lại cho rằng đây là một số ứng nghiệm có tính cách tiêu biểu (Typological). Trong mọi trường hợp, điều quan trọng là trước tiên học viên phải tìm hiểu xem các khúc Kinh thánh này có ý nghĩa gì đối với Đa-vít hay một ai khác trong dân Y-sơ-ra-ên .
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Thượng Đế là Đấng trực tiếp cai trị mỗi đời sống tín đồ
    2. Mặc dù loài người tội lỗi, nhưng Thượng Đế nhơn từ sẵn sàng tha th ứ cho những ai t hật lòng ăn năn.
    3. Thưọng đế ghét tội lối và sẽ xét đoán tội nhân
    4. Lối sống đẹp lòng thượng đế đã được bày tỏ qua lời của Ngài. Người công bình sẽ khôn khéo xa lánh con đường tội lỗi và bước theo đường lối của Thượng Đế.
    5. Thượng Đế là vua của cả thế giới. Ngài trị vì với đầy quyền năng và công chính. Trong ngày sau cùng Ngài sẽ chiến thắng mọi thế lực ở thế gian, và mọi người sẽ ngợi ca Ngài.
    6. Trong ngày sau cùng Thượng Đế sẽ sai Đấng Mê-si-a đến thế gian, là Đấng hiện ngồi bên hữu thượng đế, để chiến thắng mọ thế lực xấu xa và cai trị cả t hế gian.
    GHI CHÚ
    1.H.C. Leupold, Exposition of th Psalms (Grand Rapids : Baker, 1969), trang 561, 562
    2. C.S. Lewis, Reflections on the Psalms (1961), trang 31, sách này cho rằng tác giả Thi thiên đã quá nghiêm khắc trong vấn đề đúng sai. Họ cũng thừa biết sự khác biệt.
    3. W.S. Lasor, D.A. Hubbard, and F.W. Bush, Old Testament Survey (grand Rapids : Eedmans, 1982), tr. 522, 23. 4. S. Mowinckel, the Psalms in Israel's Worship (Nashville : Abingdon, 1962), ủng hộ lý thuyết này dựa t rên các nghi lễ thờ thượng căn bản của dân Ba-by-lôn.
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Tại sao việc ca hát và đọc về ân điển và sự đoán xét của Thượng Đế trong quá khứ là quan trọng ?
    2. Lúc nào là thích hợp để cầu nguyện rủa sả ? thái độ nào nên có hay nên tránh khi cầu nguyện rủa sả ?
    3. Ghi lại một vài lời nào khôn ngoan trong Thi thiên chương 37, 73, 127 và 128 mà quý vị có thể áp dụng trong cuộc sống ?
    4. Cố gắng nhớ lại lời cầu nguyện ăn năn của quý vị và so sánh lời ấy với bài cầu nguyện ăn năn của Đa-vít trong Thi t hiên 51. Quý vị có thật lòng cầu nguyện như Đa-vít đã cầu nguyện khi ông cầu xin Thượng Đế biến đổi ong không ? Hành động và tư tưởng đã được thay đổi như th ế nào trong đời sống để xác định rằng quý vị đã tìm được đ iều đó ?
    5. Lãnh vực nào trong đời sống của quý vị chứng tỏ rằng Thượng đ ế là Vua và là Đấng cai trị ? RoRm 4:1-17 đã nói gì về cuộc nội chiến trong đời sống chúng ta ? Có lãnh vực nào trong đời sống mà quý vị muốn được kiểm soát bởi quyền năng và sự trị vì của Thượng Đế. Một người phải làm gì để được thay đổi ?

    CÁC SÁCH VỀ SỰ KHÔN NGOAN
    Gióp và Truyền đạo
    Bối cảnh văn hóa của các sách về sự khôn ngoan có lẽ quant rọng hơn các bối cảnh lịch sử trong đó sách được viết ra vì các tư tưởng về sự khôn ngoan không bị ràng b uộc vào một thời điểm đặc biệt nào cả. Các sách này chỉ luận về những vấn đề căn bản, của cuộc sống (thế nào là khôn ngoan và khờ dại, sự đau khổ, cách n uôi dạy concái, sự hư không của đời sống ngoài Thượng Đế, cần kính sợ Thượng Đế) là những vấn đề mà tất cả đều phải đối diện trong mọi thời đại. Một số sách về sự khôn ngoan được viết với mục đích xây dựng (như sách Châm ngôn) cung cấp những lời chỉ dẫn để có một đời sống thành công trong cơ cấu xã hội và khuôn mẫu đạo đức của Thượng Đế. Một số sách khôn ngoan khác đặt ra các câu hỏi liên quan đến khả năng hiểu biết và sống trong phạm vi xã hội và tiêu chuẩn đạo đức thời bấy giờ (như sách Truyền đạo và Gióp). Cả hai khuynh hướng này đều công nhận Thượng Đế là Đấng tể trị th ế gian và mối liên hệ đúng đắn vơi Ngài sẽ sinh ra sự khôn ngoan thật.
    Văn phẩm nói về sự khon ngoan rất thông dụng tại Ai cập (XuXh 7:11; IVua 1V 4:30; EsIs 19:11, 12), xứ Ba-by-lôn (DaDn 1:20; 4:6, 7) và xứ Êđôm (ApOv 1:8; Giop G 2:11) như thế không nên ngạc nhiên khi thấy một phần Kinh Thánh chuyên về sự không ngoan. 1 Dường như Gióp xuất thân từ thành Ut xơ, xứ Êđôm (1:1). Salômôn, gióp và các tác giả ngoại giáo có một số kiến thức về sự khôn ngoan từ khả năng hiểu biết tự nhiên có giới hạn của họ về cuộc sống, vì Thượng Đế bày tỏ chính Ngài cho loài người qua thiên nhiên và lương tâm (RoRm 1:1-2:29). Sự khôn ngoan bao giồm sự am hiểu đúng đắn hiểu b iết về các điều luật văn hóa và đạo đức cũng như về mối liên hệ giữa nhân loại và với các sức mạnh thần linh trong thế g ian. Dĩ nhiên sự kh ông ngoan của các thần ngoại giáo không phù hợp hay không có quyền năng như sự khôn ngoan của Thượng Đế (XuXh 7:1-9:35; DaDn 2:1-5:31; ICo1Cr 1:18; 6:1-20)
    Văn phẩm vè sự khôn ngoan trong Kinh Thánh cũng rất độc đáo khi so sánh với các sách Môi se hay các sách tiên tri vì sự không ngoan không liên hệ trực tiếp với mối tương quan của Y-sơ-ra-ên trong giao ước. Thay vào đó, sự khôn ngoan trong Kinh Thánh bàn đến sự thống trị của Thượng Đế theo công bình và có trật tự trên toàn thế giới.
    GIÓP: THƯỢNG ĐẾ CÓ CAI TRỊ THẾ GIAN BẰNG SỰ CÔNG BÌNH KHÔNG?
    Gióp là người có đông con và rất giàu có với đàn gia súc giống như các vị t hánh tổ trong sách Sáng Thế ký, đây là lối sống đương thời Vua Đa-vít và vẫn còn phổ biến trong n hiều vùng hẻo lánh ở miền Cận Đông thời cổ và kéo dài mãi đến thế kỷ 19 hay 20 SC. Vì các văn phẩm về sự khôn ngoan của Y-sơ-ra-ên liên quan đến lối sống trong thời Salômôn và Ê xê chia (IVua 1V 14:1-30; 10:6,7, 23-25; ChCn 1:1; 25:1; TrGv 1:1), nên nhiều người cho rằng sách Gióp được viết vào thời đó 2
    BỐ CỤC SÁCH GIÓP
    Gióp có phục vụ Thượng Đế thật không ? Gióp 1-3
    Gióp phạm tôi hay Thượng Đế không c ông bình ? 4 - 27
    Sự khiông ngoan có thể tìm nơi đâu ? 28
    Gióp kêu nài sự vô tội của mình 29 - 31
    Ê-lihu bênh vực sự công bình của Thượng Đế 32 - 37
    Quyền năng và sự khôn ngoan của Thượng Đế được bày tỏ Giop G 38:1-42:6
    Sự phục hưng của Gióp 4-17
    Tác giả sách Gióp cho biết các tin tức liên quan đến cuộc chiến tâm linh vô hình đang diễn ra trong t hế g ian. Một số cá biến có này vẫn còn bí ẩn đối với loài người, và rất khó để họ có thể hiểu được lý do tại sao Thượng Đế lại cho phép những việc như vậy xảy ra. Điều này chứng tỏ rằng lý trí không phải là nền tảng duy nhất trong mối liên hệ giữa loài người với Thượng Đế. Mặc dù các sách về sự khôn ngoan được viết ra để giúp loài người có một kiến thức dựa trên lý trí về cuộc sống, nhưng cũng cho biết giới hạn về sự khôn ngoan của loài người hãy kính sợ Thượng Đế và đặt lòng t in cậy nơi Ngài.
    GIÓP CÓ PHỤC VỤ THƯỢNG ĐẾ THẬT LÒNG KHÔNG?
    Gióp là người công bình, kính sợ Thượng Đế và lánh mọi điều ác (1:1, 8; 2:3). Nhưng đối thủ của Thượng Đế và loài người cho rừang Gióp kính sợ Thượng Đế là vì Ngài ban phước cho ông với nhiều con cái và của cải chớ không phải vì các động cơ trong sạch. Sau khi Thượng Đế cho phép Sa tan thử Gióp bằng cách cất đi tất cả con cái và tài sản người, Gióp vẫn trung tín với Thượng Đế bởi vì ông tin rằng Thượng Đế có quyền ban cho thì Ngài cũng có quyền cất đi (1:20-22). Lần thử thách thứ hai, Thượng Đế cho phép Da tan hàh hại Gióp bằng cách khiến ông bị một chứng ung thư dảất kinh khiếp. Nhưng Gióp vẫn không phiền trách Thượng Đế, ngay khi vợ ông đề nghị rằng ông hãy phỉ báng Thượng Đế và chết đi cho xong (2:9, 10)
    GIÓP PHẠM TỘI HAY THƯỢNG ĐẾ KHÔNG CÔNG BÌNH?
    Ba người bạn của Gióp đến để an ủi và phục hồi lại con người của ông. Sau khoảng thời gian đầu để chia buồn và yên lặng, họ đã dùng các bài được diễn thuyết để đối đáp cùng Gióp. Nhưng đôi hi lời nói của người sau không trực tiếp trả lời câu hỏi của người trước. Bắt đầu loạt bài diễn thuyết là lời than khóc của Gióp về ngày sinh của mình và ước gì mình chết đi (3:1-26)
    A li pha người Thêman (Xứ Êđôm) đáp lời với ba bài diễn thuyết (4-5;15;22). Trong bài diễn thuyết thứ nhất ông khuyên Gióp hãy có lòng mạnh mẽ như ông đã từng khuyên người khác như vậy. Gióp phải đặt lòng t in cậy nơi Thượng Đế vì Ngài c hăm sóc người vô tội và đoán xét kẻ ác (4:3, 6-9). Khi loài người phạm tội, họ phải vui mừng khi được Thượng Đế quở trách họ.đây là cách Thượng đế làm để giải cứu người thoát vòng tội lỗi (5:17-20). Đây là lập luận thàn học căn bản trong lời nói của Alipha và hai người bạn khi họ đối đáp với Gióp. Alipha châm chọc lời nói trống rỗng và vô ích của Gióp (15:1-6) vì ông phủ nhận sự không ngoan của người đời và cho rằng mình có được sự khôn ngoan kín mật từ Thượng Đế (15:7-13). Alipha biết rằng Thượng Đế xét mình vô tội (20:1-20). Ông khuyên Gióp hãy ăn năn thì Thượng Đế sẽ phục hồi ông (21-30)
    Binh đát đáp lời Giốp ba lần (8,18,26) cũng cùng lập luận thần học như Ê-lipha. Nhưng có vẻ ông ít thông cảm hơn trong lời nói. Thượng Đế là công bình và Ngài không làm sai lệch sự c ông bình; nếu Gióp có lòng tìm kiếm Thượng Đế và ăn năn thì Ngài sẽ phục hồi ông (8:3-7, 20). Gióp phải chấp nhận lời khuyên theo sự khôn ngoan truyền thống này, vì kẻ xấu xa chối bỏ Thượng Đế cũng giống như cây thiếu nước (15), nhưng người công bình sẽ như cây trồng gần giòng nước (8:16-20). Số phận của kẻ ác là khốn khó và chết mất (1-21)
    Hai lần đáp lời ucả Sôpha (11,20) đầy sự hà khắc và hoàn toàn không thông cảm nỗi thống khổ về thể xác lẫn tâm linh của Gióp. Ông lạnh lùng gạt bỏ lời Gióp xưng mình là người vô tội và cho rằng Gióp nói t hế là tự phụ (11:3, 4). Ông nghĩ rằng Gióp không hiểu rõ đường lối của Thượng Đế. Nếu Gióp ăn năn thì Thượng Đế sẽ phục hồi ông lại (1-15). Sôpha hoàn toàn bác bỏ quan niệm của Gióp cho rằng Thượng Đế đôi khi khong xét đoán kẻ ác (20:4-29)
    Giữa các bài được iễn t huyết là lời than vãn của Gióp về sự hoạn nạn mình (-8) với câu hỏi tại sao Thượng Đế làm hại ông (7:11-19), và khước từ những lời khuyên vô ích của bạn ông (6:14-27). Gióp muốn chứng minh rằng ông là người công bình trước mặt Thượng Đế nhưng không thể tranh biện cùng Ngài được (9:1-2, 14-16). Làm t hế nào Gióp chứng minh rằng đôi khi Thượng Đế đối xử với kẻ ác và người thiện đều như nhau (9:22) ? Tiếc thay không ai có thể làm trọng tài để theo dõi vụ này, để phan xử xem Gióp là người công bình hay là Thượng Đế bất công với ông (10:1-7) ông tiến đến quyết định là muốn biện luận cùng Thượng Đế (13:1-19)
    Trước hết Gióp bác bỏ sự khôn ngoan theo truyền thống của bạn bởi vì mọi khôn ngoan đều thuộc về Thượng Đế (12:1-6, 13-25). Từ đó trở đi, lời đối đáp ông luôn hướng về Thượng Đế. Thượng Đế làm tàn hại đời sống ông khi ông đang sống bình yên, tấn công ông mọi phía và biến ông thành kẻ đối nghịch (16:7-17). Gióp kêu cầu một chứng n hân hay một người biện hộ ở trên trời hãy đoái xem tình cảnh của ông (16:18-22) vì bạn ông không giúp đỡ được gì cả. Chắc chắn người công bình sẽ kinh ngạc về cách mà Thượng Đế và bạn ông đã đối xử với ông (17:1-10; 19:1-12). Loài người coi ông như là một người bị xã hội ruồng bỏ, và gia đình, đầy tớ và bạn bè đều khinh miệt ông (19:13-22). Hy vọng của ông là một quyển sách đời đời sẽ ghi lại mọi việc hầu Đấng cứu chuộc có thể biện minh cho ông trong ngày cuối cùng (19:23-27)
    Trọng tâm lời biện hộ của Gióp là Thượng Đế không luôn luôn ban phước cho người công bình và xét đoán kẻ ác như bạn ông đã nói. Không, có lắm kẻ ác vẫn vui vẻ và được thạnh vượng (21:7-34; 24:1-17). Gióp muốn Thượng Đế giải thích cách phán xét của Ngài trong vụ kiện này và nói cho Gióp biết rằng tại sao ông một người vô tội, lại phải đau khổ mặc dù quyền năng và sự khôn ngoan của Thượng Đế vượt quá hiểu biết của loài người. (26:5-14), nhưng Gióp vẫn cần một lời giải thích. Ông là người vô tội (27:1-6) nhưng lại bị xét đoán. Ông cần một điều nào đó để chống lại quan niệm truyền thống cho rằng Thượng Đế chỉ xét đoán kẻ ác mà thôi. Điều này ám chỉ rằng Gióp phải là kẻ ác (27:7-23).
    SỰ KHÔN NGOAN CÓ THỂ TÌM NƠI ĐÂU?
    Tác giả sách Gióp đã lồng vào một bài thơ ngắn nói về sự khó khăn trong việc tìm kiếm sự khôn ngoan. Tuy rằng loài người đã tìm được những viên đá hay kim loại quý sâu trong lòng đất, nhưng họ có thể tìm kiếm sự khôn ngoan nơi đâu ? Sự khôn ngoan là một điều giá trị nhất nhưng lại giấu kín khỏi loài người. Thật ra, chính Thượng Đế là nguồn khôn ngoan duy nhất.
    GIÓP KÊU NÀI SỰ VÔ TỘI CỦA ÔNG
    Cuộc tranh biện giữa Gióp và các bạn ông kết thúc trong t hất bại cho cả đôi bên. Gióp chấm dứt sự biện giải của ông bằng một lời tóm tắt. Trước kia ông được Thượng Đế ban phước và ông được mọi người trong xã h ội kính trọng (29:1-25). Nhưng bây giờ ông bị người đời nhạo báng và khinh bỉ và Thượng Đế đánh đuỏi ông (30:1-31). Ông là người vô tội, chưa bao giờ vấp phạm một tội nào của dù lớn hay nhỏ (31:1-40). Thượng Đế phải giải thích cho ông biết thế nào là công bình.
    ÊLIHU BÊNH VỰC SỰ CÔNG BÌNH CỦA THƯỢNG ĐẾ
    Tuy Ê-lihu không được giới thiệu từ lúc đầu của cuộc đối thoại, nhưng bây giờ ông bênh vực việc làm công bình của Thượng Đế và bác bỏ lời phiền trách của Gióp. Sau một lời dài giới thiệu quyền ngôn luận (32:6-22), Ê-lihu bác bỏ lời than phiền của Gióp cho rằng Thượng Đế không bao giờ đáp lại lời cầu xin của loài người cả. Ngài phán trong chiêm bao, qua các bệnh tật đau đớn, và qua một Đấng Trung Bảo là người giải cứu những ai ăn năn tội lỗi mình (33:13-28). Để tái xác nhận sự công bình của Thượng Đế, Ê-lihu bác bỏ lời phiền trách của Gióp cho rằng thượng đế không cong bình khi Ngài đối xử với mọi người như nhau (34 - 35). Sau cùng ông trình bày một số khía cạnh trong thế gian chứng tỏ quyền tể trị tuyệt diệu của Thượng Đế. Một vài khía cạnh đó đã vượt quá xa sự hiểu biết của loài người đến nổi trở thành vô lý khi có người thắc mắc về bất cứ việc làm nào của Thưọng đế (36 37)
    QUYỀN NĂNG VÀ SỰ KHÔN NGOAN CỦA THƯỢNG Đ Ế ĐƯỢC BÀY TỎ
    Cuối cùng Thượng Đế đáp lời Gióp qua hai bài diễn thiyết thứ nhất, Thượng Đế thách thức Gióp hãy chỉ dạy cho Ngài kích thước của trái đất. Chính Thượng Đế là Đấng đã tạo dựng và điều khiển biển cả, ánh sáng, âm phủ và thời ti ết bởi quyền năng và sự không ngoan của Ngài (38:1-38). Ngài cũng t hông hiểu và điều khiển sư tử, nai, bò, chim đà điều, ngựa và chim ưng (39:1-30). Gióp có tìm được lỗi nào của Thượng Đế trong những điều này không ? Không, ông đã im lặng trước quyền năng và sự khôn ngoan của Thượng Đế (40:1-5)
    Trong bài diễn thuyết thứ hai, Thượng Đế đã thách thức Gióp hãy chỉ dạy cho Ngài về sự công bình (40:6-14). Nh ưng Gióp không đủ khả năng hay sự khôn ngoan ngay đến việc cầm giữ con trâu nước (bêhêmốt) và con sấu (Lêviathan), như vậy làm t hế nào ông có thẻ chỉ dạy Thượng Đế là Đấng tạo dựng nên các con t hú đó (40:15-41:34). Để trả lời, Gióp xin phép được trình với Thượng Đế về những đi ều mà ông không hiểu mà thôi. Bây g iờ mắt ông đã nhìn thấy sự bí ẩn trong các đường lối vinh hiển của Thượng Đế, ông đã hạ mình (42:1-5)
    SỰ PHỤC HƯNG CỦA GIÓP
    Thượng Đế cũng bày tỏ cho b iết rằng các bạn của Gióp sai và ông đúng. G ióp chịu đau khổ không phải vì những tội lớn lao mà ông đã làm. Ba người bạnaã thú n hận họ sai và Gióp đã cầu nguyện cho họ. Đoạn Thượng Đế cho Gióp thêm con cái và n hiều tài sản.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Thượng Đế cho phép loài người bị thử thách để họ tỏ lòng tin cậy vào ý muốn của Toọng đế trong đời sống.
    2. Thật sai lầm khi kết luận rằng mọi bệnh tật và khó khăn đến bởi tội lỗi. Đôi khi người vô tội chịu khổ và kẻ ác không bị đoán xét ngay.
    3. Bởi lẽ loài người trên thế g ian không thể thấy được trọn toàn cảnh và bị giới hạn trong sự hiểu biết về chương trình và mục đích khôn ngoan của Thượng Đế, họ không nên thắc mắc về sự công bình của Ngài.
    4. An ủi người đau khổ không thể thực hiện qua lời lên án nông cạn, nhưng bằng cách nhậnd iện nỗi khổ của họ và cầu nguyện xin Thượng Đế thương xót.
    Trong Tân ước, Giacơ nhớ lại sự nhẫn n hục của Gióp trong thời gian ông chịu khổ và khuyến khích độc giả của ông hãy kiên nhân chờ đợi lòng thương xót của Thượng Đế. Chương trình tuyệt diệu và khôn ngoan của Thượng Đế trong sự điều khiển thế gian được nh ìn dưới nhiều hình t hức trong Tân ước. Đức Chúa Giê-xu phán với các môn đồ của Ngài rằng người mù này bị mù không phải vì tại cha mẹ của người đã phạm tội. Người bị mù là để quyền năng của Thượng Đế được thể hiện qua Chúa Giê-xu , nhưng không phải ể trừng phạt tội lỗi (GiGa 9:1-3)
    TRUYỀN ĐẠO: SỰ KHÁC BIỆT GIỮA HƯ KHÔNG VÀ TỐT LÀNH
    Điệp khúc tiêu cực về đời sống hư không dưới mặt trời thường đem đến kết quả là thái độ tiêu cực về giá trị của sách Truyền đạo. Sách này có vẻ bi quan, theo định mệnh, nhạo báng, và thiếu ý nghĩa tâm linh. Nhưng quan niệm này quên đi nhiều phát biểu về những điều tốt lành mà loài người có t hể vui hưởng được. Loài người phải kính sợ Thượng Đế và nhớ rằng mọi điều tốt lành chúng ta có đều đến từ Thượng Đế. Bởi vì hai khuynh hướng này (hư không và tốt lành), điều tốt nh ất là hãy coi tác giả là một con người thực tế nhận thức rằng cuộc đời đầy thất vọng và hư không. Nhưng tác giả cũng ý thức rằng có một số giá trị giúp cho cuộc đời thêm ý nghĩa và ông khuyên độc giả hãy sáng suốt trong việc phân biệt điều nào có giá trị và điều nào là vô ích.
    BỐ CỤC SÁCH TRUYỀN ĐẠO
    Kinh nghiệm cho thấy cuộc đời đầy sự hư không TrGv 1:1-6:12
    Điệp khúc "Hư không" 1:1-11
    Mọi cố gắng là hư không 1:12-2:26
    Không ai hiểu rõ về c uộc đời và Thượng Đế 3:1-4:16
    Sự hư không của đời sóng đạo đức giả và giàu có 5:1-6:12
    Kinh nghiệm cho t hấy điều nào là tốt lành 7:1-12:7
    Những việc tốt lành và khôn ngoan 7:1-29
    Việc tốt lành là vui hưởng đời sống 8:1-9:9
    Hãy làm việc, tìm sự khôn ngoan, tránh điều ngu dại 9:10-10:20
    Hãy nhớ đến Đấng tạo hóa và kính sợ Ngài 11:1-12:7
    Người truyền đạo/ giáo sư là vua tại Giê-ru-sa-lem, con trai vua Đa v ít (1:1, 12). Người duy nhất phù hợp với sự diễn tả ày là Salômôn. Sách này viết về Salômôn chăng hay là Sa-lô-môn đến lúc nào đó đã cảm thấy và ý thức sự hư không của đường lối ông ? Nhiều người cho rằng có thể ông đã ăn năn về đường lối xấu xa của ông (IVua 1V 11:1-11) khi ông gần qua đời, nhưng Kinh T hánh không ghi lại một sự phục hưng nào ở cuối đời ông cả.
    KINH NGHIỆM CHO THẤY C UỘC ĐỜI ĐẦY SỰ HƯ KHÔNG
    Loài người được lợi chi từ các việc lao khổ của họ ? Loài người được lợi tỉ như mặt trời cứ đi vòng theo chu kỳ của nó và không bao giờ dứt, như gió hoặc sông chẳng bao giờ hoàn thành công việc của chúng. Mọi việc làm này xem như là hư không
    Dù có chuyên lòng tìm ki ếm sự khôn ngoan cũng không tìm được, chỉ thêm sầu não mà thôi (TrGv 1:12-18). Đeo đuổi lạc thú qua uống rượu, tài sản, có t hêm đầy tớ, thêm bạc vàng, hay thưởng thức ca nhạc thì sự thỏa mãn cũng không được lâu bền (2:1-11). Tuy sự khôn ngoan là điều tốt hơn, nhưng cả hai người khôn ngoan và người ngu dại đều chết và sớm bị quên mất. Đời sống và mọi việc làm của nó dường như chỉ là vô dụng, vì biết đâu có để lại cho con cháu thì chúng phá hủy cơ nghiệp đó. Cho nên điều tốt nhất cho loài người là vui hưởng những điều Thượng Đế đã ban cho. Ngài sẽ ban sự khôn ngoan và vui vẻ cho người đẹp lòng Thượng Đế, nhưng Ngài sẽ cất đi những điều mà người ngu dại phải lao khổ và chất chứa (4-26)
    Hãy sáng suốt mà nhận định rằng mỗi từng trải trong đời sống đều có thời kỳ riêng của nó : Có kỳ chiến tranh và có kỳ hòa bình, có kỳ sanh ra và có kỳ chết (3:1-8). Thượng Đế âm thầm sắp đặt mọi điều này để loài người kính sợ Ngài. Tuy rừng loài người không hoàn toàn hiểu được chương trình của Thượng Đế, họ nên vui mừng, cố gắng làm việc, và nhận biết đời sống là một ân tứ do Thượng Đế ban cho (-15). Đời sống đôi khi dường như bất công,nhưng loài người đoán xét không giỏi hơn loài thú. Thượng Đế sẽ đoán xét việc làm của mỗi người, đặc biệt những kẻ hà hiếp, có lòng ganh ghét, tham việc, quá tranh chấp, hoặc không dạy dỗ được (-16). Những đặc tính này chỉ đưa dẫn hư không, chứ không phải khôn ngoan.
    Thật vô ích khi vào nhà Đức Chúa Trời để thờ phượng mà lòng giả dối và nói những lời không trung thực, vì Thượng Đế biết việc làm của mỗi người. Trên hết mọi sự, Thượng Đế đòi hỏi mọi người kính sợ Ngài (-7). Nương cậy vào tiền bạc cũng là vô dụng, vì nó không bao giờ làm thỏa mãn và cũng không mang t heo được khi qua đời (6:9). Điều tốt nhất là vui hưởng những điều Thượng Đế ban cho. Đây là phần thưởng của Thượng Đế, và Ngài ban cho loài người khả năng để thỏa lòng với những điều họ có (6:2)
    KINH NGHIỆM CHO THẤY ĐIỀU NÀO LÀ TỐT LÀNH
    Ap dụng theo thể châm ngôn, sách Truyền đạo khuyên rằng tốt hơn là hãy suy nghĩ về cuộc đời ngăn ngủi, hãy lắng nghe người khôn ngoan nói, hãy kiên nhẫn, đừng luyến tiếc thuở tươi đẹp đã qua, và hay thỏa lòng với những điều mình có (7:1-14). Tuy rất khó hiẻu tại sao người công b ình đôi khi chịu đau khổ, người khôn ngoan sẽ kính sợ Thượng Đế và tránh được khó khăn nếu đừng thái qua trong mọi việc. Sự khôn ngoan khiến hco người khôn thêm sức mạnh để chống lại đường lối xấu xa đang xâm nhập mọi người (7:19, 20). Nhưng tiếc thay chỉ có vài người khôn ngoan, tuy ban đầu Thượng Đế tạo dựng mọi người đều công bình cả. Một cách giản dị để bày tỏ sự khôn ngoan là trung thành và tuân theo pháp luật của chính quyền. (8:1-9), mặc dù chính quyền không luôn luôn ban thưởng việc làm của người công bình (8:10-14). Tuy loài người không hiểu tại sao Thượng Đế cho phép những việc này xảy ra, nhưng họ có thể tin chắc rằng mọi đời sống đều trong tay Thượng Đế (8:16-9:1). Một ngày kia mọi người đều qua đời, nhưng trước khi ngày đó đến điều quan trọng là hãy vui sống với gia đình, hãy làm hết trách nhiệm, và xem sự khôn ngoan như là một nguồn tài nguyên lớn lao cho đời sống tốt lành (2-18). Điều này sẽ giúp cho mọi người tránh được hành động ngu dại, giống như người đào hầm để bẫy người khác, chính mình lại sa xuống đó (10:1-20)
    Loài người cần sống với đức tin (11:1-6) vui mừng, và hãy tưởng nhớ đến Đấng tạo hóa trước khi tuổi già và sự chết tới (12:1-7). Vì đời sống đầy sự hư không, nên người nào kính sợ Thượng Đế và vâng giữ điều răn Ngài sẽ học sự khôn ngoan từ những người mà Đấng chăn chiên đã cho họ gặp trong đời sống họ (12:8-14)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Người nào lúc nào cũng đeo đuổi thêm sự khôn ngoan, khoái lạc, hoặc sự giàu có là vô ích, vì không bao giờ thỏa lòng cả.
    2. Tuy loài người không hiểu hết chương trình của Thượng Đế, nhưng Ngài đang điều khiển mọi khía cạnh trong đời sống mỗi người.
    3. Loài người nên vui hưởng với thức ăn, gia đình, và việc làm mà Thượng Đế đã ban cho, đây là phần thưởng của Thượng Đế.
    4. Trên hết mọi sự, hãy kính sợ Thượng Đế và vâng giữ điều răng Ngài, hãy khôn ngoan và bước đi cách thận trọng trong thế giới xấu xa này.
    GHI CHÚ
    1. The Ancient Near East, ed.J. Pritchard (Princeton :Princeton University Press, 1969)
    Gồm một tuyển tập về sự khôn ngoan do các nhà khảo cổ tìm thấy tại xứ Ai cập và Babylon. Thật th ích thú mà ghi nhận rằng những tập sách này đề cập tới một số vấn đề căn bản trong Kin h Thánh, nhưng lời giải đáp đôi khi hơi khác nhau.
    2. J.E. Hartley, "Job", International Standard Bible Encyclopedia. Vol. II (Grand Rapids : Eerdmans, 1982) trang 1065, 1066
    3. Không biết rõ ai nói lên bài thơ tuyệt diệu trong chương 28. Nó khó có thể phù hợp với những bài diễn thuyết của Gióp. Nên nhớ rằng Gióp được g iới thiệu trong chương kế, có nghĩa là Gióp không đàm luận trong chương 28. F.I.Anderson, Job (Downers Grove : InterVarsity Press, 1976), kết lụan rằng bài thơ này là do tác giả/ người biên soạn của sách Gióp viết.
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Tại sao loài người phải chịu đau khổ ? Đưa ra vài lời đề nghị từ sách Gióp
    2. Nếu quý vị là một trong những người đến để an ủi ông Gióp và hoàn toàn không biết gì về chương 1-3, quý vị sẽ nói gì với ông Gióp ?
    3. Gióp đã học được điều gì khi Thượng Đế phán cùng ông trong chương 38 - 41 ? Xem Giop G 40:1-542:1-6
    4. Tại sao sách Truyền đạo nghĩ rằng mọi việc thảy đều hư không theo luồng gió thổi ?
    5. So sánh TrGv 4:26; 3:12-14; 5:18-20; 9:7-10 với lời khuyên của Phaolô trong Phi Pl 1:13; ITi1Tm 6:6-11; HeDt 1:1-6:20

    CÁC LỜI DẠY DỖ KHÔN NGOAN
    Châm ngôn và Nhã ca
    Nhan đề của hai sách này liên quan tới thời đại Salômôn, con trai Đa-vít, người đã làm vua tại Giê-ru-sa-lem vào khoảng thời g ian 970 - 930 TC.( ChCn 1:1; 10:1; Nha Dc 1:1; 3:7, 9, 11; 8:11, 12). Khi Salômôn lên làm vua ông xin T hượng đế ban cho ông sự khôn ngoan để đoán xét dân sự Ngài và phân biệt điều lành điều dữ (IVua 1V 12:1-33). Thượng Đế đã ban cho ông sự khôn ngoan và tấm lòng tinh tế đến đỗi trước người chẳng có ai bằng và sau người cũng chẳng có ai ngang. Nữ vương nước Sêba đã thử sự khôn ngoan của ông (IVua 1V 10:1-8) và, theo 4:32, Salômôn đã nói 3000 câu châm ngôn và viết 1005 bài ca. Điều này có nghĩa là sách Châm ngôn và Nhã ca chỉ là một phần nhỏ trong tất cả các bài viết của ông. Không ai biết sách Châm Ngôn như t hế nào trong những ngày cuối của cuộc đời Salômôn nhưng ChCn 25:1 cho thấy rằng một số lời nói chưa được chọn vào sách Châm ngôn cho đến thời kỳ của Ê-xê-chia. Lời giới thiệu của chương 30 và 31 chứng tỏ những lời của Agurơ và vua Lêmuên được tuyển vào sách này. Niên hiệu và bối cảnh lịch sử các nhân vật này không ai biết rõ nhưng nhiều người cho rằng họ đã sống sau thời kỳ của Exêchia.
    Sách Nhã ca của Salômôn bao gồm một loạt bài hát và cũng khó xác định làaã đợc viết ra vào thời gian nào. Những bài hát này có thể có liên hệ xa với những bài hát mừng lễ cưới được Ả rập dùng hàng trăm năn sau tại Sy-ri, nhưng lại liên hệ về bối cảnh văn hóa hơn là thời điểm viết ra sách này. Hãy so sánh với bài hát mừng lễ cưới trong Thi Tv 45:1-17 thì hơn. Vì không có gì chứng minh rằng những bài hát trong sách Nhã Ca được hát trong lễ cưới (phần sau Nha Dc 5:1 là những việc xảy ra sau lễ cưới) nên tốt hơn là hãy xem những bài hát này như những bài thơ tình và có thể không được dùng trong lễ cưới. 1 Nhiều người tin rằng những bài hát này được viết để mừng lễ cưới giữa Salômôn với người vợ Sulamít của ông, nhưng tác giả không phải chính nhà vua.
    Trải qua nhiều năm, đã có nhiều cuộc tranh luận về ý nghĩa của sách này. Đa số tin rằng đây là lời nói bóng về tình yêu thương của Thượng Đế đối với dân Do thái hay đối với Hội thánh của Ngài. Một sốkhác cho rằng thi ca này chỉ đơn giản là một bài tán tụng tình yêu trong cuộc sống hôn nh ân. Đúng ra cả hai ý một câu chuyện lịch sử với hai ý nghĩa. Một mặt chúng ta học b iết về tình yêu, hôn nhân, và tình dục; mặt khác thi ca này đã bày tỏ được tình yêu thương tràn ngập của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài.
    Các nhà khảo cổ đã tìm th ấy một số bài hát và những lời nói khôn ngoan trong văn chương người Sumơ (sumerians), Ba-by-lôn. Và Ai cập 2. Tuy những bài hát và lời nói khôn ngoan này thông dụng trong giới hạ lưu, nhưng những tư tưởng gần gũi với giới thượng lưu được bàn luận tới gợi ý rằng những châm ngôn này được sử dụng để dạy các thanh niên được tuyển chọn làm những người phục vụ trong cung vua (ChCn 14:35; 22:29; 23:1, 20). Dĩ nhiên, nếu ai biết các câu châm ngôn này có thể cũng đã dạy lại cho những người sống ngoài hoàng cung.
    CHÂM NGÔN
    Sự ngôn ngoan trong sách Châm ngôn được sắp đặt dưới nhiều văn thể khác nhau.
    a/ những câu đối ngẫu với ý tương phản : 'Tư tưởng người nghĩa chỉ là công bình; song mưu luận kẻ ác đều là giả dối" (ChCn 12:5)
    b/ thể so sánh thường được lấy từ cõi thiên nhiên :'Tin lành ở xứ xa đến, giống như nước mát mẻ cho người khao khát" (25:25)
    c/ chữ "hơn là " được dùg để so sánh rồi sắp hạng hành vi hay thái độ nào tốt hơn :'Thà ở nơi vắng vẻ, hơn là ở với một người đàn bà hay tranh cạnh và nóng giận" (21:19)
    d/ câu nói về số lượng :'Có ba việc lấy làm diệu kỳ cho ta, và bốn điều mà ta c hẳng biết được" (30:18)
    e/ lời khuyên về thái độ khôn ngoan :"Hãy lắng tai nghe lời kẻ khôn ngoan, khác chuyên lòng con về sự tri thức ta " (22:17)
    f/ lời ngăn cấm cảnh cáo về thái độ ngu dại :"Con chớ chịu vật vã đặng làm giàu, khá thôi nhờ cậy khôn ngoan riêng của con" (23:4)
    Tuy một số phàn trong sách Châm n gôn không kết chặt nhau như những phần khác, nhưng sách Châm ngôn có thể được phân chia như sau :
    BỐ CỤC SÁCH CHÂM NGÔN
    Mục đích của Châm ngôn ChCn 6:1-35
    Lời chỉ dẫn để được sự khôn ngoan 9:16
    Các châm ngôn của Salômôn 22:16
    Lời khuyên răn và cảnh cáo 24:34
    Các châm ngôn do Exơchia tuyển chọn 29:27
    Lời nói của Agurơ và Lêmuên 30:1-31:9
    Người vợ đức hạnh 30 - 31
    Châm ngôn không ban những luật lệ tuyệt đối về nh ững điều sẽ xảy ra, và c ũng không tiên đoán về hậu qủa của một số hành vi nào đó. Sách Châm ngôn quy tụ kinh nghiệm của hiều người để chỉ dẫn người trẻ tuổi biết những điều xảy ra trong th ế giới này. Một số đặc tính và hành động mang đến kết quả tốt và phước hành từ Thượng Đế, cho nên người khôn ngoan là người làm theo những lời đó. Một số đặc tính và hành động khác mang đến khó khăn và th ất bại, cho nên người khôn ngoan sẽ tránh những điều này hầu cho mối liên hệ giữa người đó với Thượng Đế và với người khác được đứng đắn và ngay thẳng.
    MỤC ĐÍCH CỦA CHÂM NGÔN
    Mục đích của các Châm ngôn này là để ban cho người đọc sự khôn ngoan, kiến thức, hiểu biết, hành động sáng suốt, cong minh, chân thật, dè dặt, và t hận trọng. Người nào muốn có các đặc tính này sẽ ham thích suy gẫm sáhc châm ngôn thường xuyên hơn.
    LỜI CHỈ DẪN ĐỂ ĐƯỢC KHÔN NGOAN
    Người khôn ngoan là người tránh làm bạn với người gian ác (1:8-19), không nói dối (0 - 27), tránh sự tà dâm (5:1-23; 6:20-35; 7:1-27), không b iếng nhác (-11), và chẳng gian lận (2-15). Thay vào đó loài người nên kính sợ Thượng Đế (1:7; 2:5; 3:7; 9:10). Tìm điều tri thức nơi Thượng Đế (2:6), hết lòng tin cậy Thượng Đế (3:5), nhận lãnh điều sửa phạt của Thượng Đế (3:11, 12), tôn kính Thượng Đế với tài vật của họ (3:9), giữ lòng c ông bình và chân thật với mọi người (2:7, 8;), chẳng từ chối làm lành cho người cùng t úng (3:19), sắp đặt các đồi núi, thiết lập các ngôi sao và từng trời, đặt ranh g iới cho các đại dương và hài lòng với những việc Ngài làm (9:22-31). Ngài am tường mọi hoạt động trong thế gian và Ngài đang điều khiển nó, cho nên người khôn ngoan sẽ kính sợ Thượng Đế và nhận lãnh lời chỉ dẫn của Ngài cho đời sống.
    CÁCH CHÂM NGÔN CỦA SALÔMÔN
    Tuy phần này ít đề tài hơn, nhưng nhiều chủ đề khác nhau được nhấn mạnh trong nhưng câu đối ngẫu. Thượng Đế kiểm soát mọi sinh hoạt của loài người vì Ngài chăm sóc người công bình khi họ gặp khó khăn (10:3), Ngài ban phước lành và sự giàu có (10:6, 22) và làm đời người được dài thêm (10:27). Mắt Thượng Đế nhìn thấy mọi v iệc loài người làm (15:3), Ngài biết được cả các ý đồ và động cơ của họ (16:2; 17:3; 21:2), cho nên Thượng Đế sẽ đánh đổ nhà kẻ kiêu ngạo (15:25). Tuy loài người toan định tương lai, nhưng Thượng Đế sẽ đáp lời họ và chỉ dẫn các bước họ theo ý muốn Ngài (1,4,9,33 19:21). Sự thắng trận trong cheién tranh đến từ Thượng Đế (21:31) và Ngài sẽ trả ác cho kẻ làm ác (20:22)
    Người khôn ngoan không hành động như người ngu dại, sẽ xa lánh điều xấu xa, không nói xấu, không lười biếng, không kiêu ngạo, không lừa dối, không hung dữ, và không nóng giận, nhưng sẽ kính sợ Thượng Đế và bước đi trong đường lối Ngài để đời sống được lâu dài và phước hạnh (14:2, 26, 27; 15:16; 33:1; 19:23; 22:4). Sự khôn ngoan thật sẽ đưa dẫn người vào sẽ tương giao mật thiết với Thượng Đế và mối tương quan xã hội tốt đẹp với người khác
    LỜI KHUYÊN RĂN VÀ CẢNH CÁO
    Phần này, có nhiều điểm tương tự trong sách Ai cập "Lời khuyên dạy của Amenemope" (Admonitions of Amenemope), giống như một bộ luật hơn là châm ngôn. Nhiều đoạn được bắt đầu bằng chữ :'Chớ..." và chúng cảnh cáo là chớ bóc lột kẻ nghèo (22:22), chớ làm bạn với người hay giận (22:24), chớ tập trung vào việc làm giàu (23:4), chớ tha sửa phạt trẻ thơ (23:13), chớ thèm muốn cuộc sống của kẻ tội lỗi (23:17; 24:1, 19), và cũng chớ vui mừng khi kẻ ác sa ngã (27). Trong hầu hết mọi trường hợp, lý do thường được đưa ra để giải thích tại sao hành động như thế là thiếu khôn ngoan (23 - "Vì Thượng Đế sẽ binh vực duyên cớ họ" 24:18 "Kẻ e Thượng Đế thấy điều đó, mà chẳng đẹp lòng"
    Người khôn ngoan sẽ t in cậy Thượng Đế (22:19) ước ao được đi theo con đường khôn ngoan (2-7), kính trọng bậc cầm quyền (24:21), không thiên vị trong việc xét đoán (24:23) và siêng năng làm việc (20-34)
    CÁC CHÂM NGÔN DO EXÊCHIA TUYỂN CHỌN
    Các châm ngôn khác do Ê-xê-chia tuyển chọn trong phần này tương đối có tổ chức hơn. "Lời nói phải thì káhc nào trái bình bát bằng vàng có cẩn bạc" (25:11). Nếu kẻ thù nghịch con có đói, hãy cho nó ăn... Vì như vậy con chất than cháy đỏ trên đầu nó" (21,22). "hãy đạp với kẻ ngu si tùy sự ngu dại nó, kẻo nó khôn ngoan theo mắt nó chăng " (26:5). "Kẻ ngu muội làm lại việc ngu dại mình, khác nào con chó đã mửa ra, rồi liếm lại kẻ ngu dại cũng sẽ trở về với sự ngu dại" (26:11). Các câu này và nhiều câu so sánh khác là những lời khuyên quý báu cho những ai thật lòng muốn được khôn ngoan như Salômôn. Ai có mắt hãy đọc và sẽ được sáng.
    LỜI NÓI CỦA AGURƠ VÀ LÊMUÊN
    Người khôn ngoan Agurơ nhìn nhận rằng ông không hiểu tất cả mọi việc Thượng Đế làm (30:2-4) nhưng ao ước được Thượng Đế dạy cho sự khôn ngoan và gìn giữ ông khỏi sự lừa dối (30:8, 9). Đoạn ông trình bày một số lời nói khôn ngoan với những con số liên quan đến thái độ lạ lùng của loài người và thú vật (30:10-33). Vua Lê muên nói lời cảnh cáo nghịch cùng sự xấu xa do uống rượu quá độ (3-9).
    NGƯỜI VỢ ĐỨC HẠNH
    Đoạn cuối của sách truyền đạo là bài thơ chiết cú mô tả đức hạnh, cần mẫn, khéo léo, khôn ngoan, hiếu thảo, rộng lượng, và vẻ đẹp bên trong của người phụ nữ có lòng khôn ngoan và kính sợ Thượng Đế. Nàng là người phụ nữ vẹn toàn và là món quà kỳ diệu từ Thượng Đế.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Kính sợ Thượng Đế là bước đầu để được khôn ngoan
    2. Thượng Đế tạo dựng nên thế gian này và điều khiển nó theo nguyên tắc khôn ngoan của Ngài.
    3. Người ngu muội sẽ chối bỏ Thượng Đế và đường lối Ngài, nhưng người khôn ngoan sẽ tin cậy Thượng Đế và vui hưởng ơn phước Ngài.
    4. Thượng đ ế đã đặt ra các tiêu chuẩn để điều hành trong mối tương quan thích đáng giữa loài người. Người khôn ngoan sẽ học và làm theo.
    NHÃ CA
    Sách Nhã ca không giống các sách nào khác trong Cựu ước. Nó không phải là bài giảng luận như các sách tiên tri, nhưng là một cuỗi các câu đối thoại giữa một người nam và một người nữ, là bài hợp xướng của các con gái Giê-ru-sa-lem và một người nữ, và là những lời đối thoại trong chiêm bao. Vì nước Do Thái, giao ước, và hoạt động của Thượng Đế đối với loài người không là đề tài chính trong các cuộc thảo luận này, nên từ xưa người Do Thái đã tranh luận về việc sáp nhập sách này vào bộ Kinh Thánh. Người khác lại phật lòng vì sách hầu như chỉ có sự chú tâm đầy dục vọng vào vẻ đẹp của cơ thể con người. Bởi vậy, lời giải thích "thánh khiết hơn" cho rằng sách này là một truyện nói bóng về tình yêu thương giữa Thượng Đế và Y-sơ-ra-ên, hay với người tin Chúa, tình yêu thương giữa Đấng Christ và Hội thánh. Điều này đã đưa đến những lời giải thích quá đáng không còn liên quan tới ý nghĩa lịch sử hay văn phạm của sách.
    Trong khi đa số chỉ tìm thấy hai nhân vật trong chuyện t ình này, nhưng một số khác lại tin rằng có một tình yêu tay ba trong sáhc. Salômôn cố toan dụ dỗ một thôn nữ kiều diễm, nhưng nàng quyết giữ lòng chung thủy với tình n hân mình là gã chăn chiên. Vở kịch diễn tả được tình trạng căng thẳng đang gia tăng vì lòng trung thành trái nghịch nhau. 3. Vì sự hiện diện của gã chăn chiên không được rõ ràng trong câu chuyện này, nên lời giải thích trên không được ưa thích lắm.
    Vì địa vị quan trọng của tình yêu trong mối liên hệ giữa người nam và người nữ, chúng ta không nên quá ngạc nhiên khi thấy Kinh Thánh thảo luận về đề tài này. Nơi khác, Kinh Thánh đã kết án sự thác loạn trong liên hệ tình dục của dân thành Sođôm và Gômorơ (SaSt 19:1-38), có một bộ luật dài về sự tinh sạch và tinh dục (LeLv 15:1-33; 18:1-30; 20:1-27) kết án Đa-vít về tội ông đã phạm cùng bà Bát sê ba (IISa 2Sm 11:1-12:31) ghê tởm tệ mãi dâm tại đền thờ thần Ba-anh (IVua 1V 14:1-31; IIVua 2V 23:7), cảnh cáo người trai trẻ nên xa lánh dâm phụ (ChCn 7:1-27). Trong những bài hát này, chúng ta thấy được sự mô tả tích cực về tình yêu và tình dục.
    BỐ CỤC SÁCH NHÃ CA
    Cách biểu lộ t ình yêu cho nhau Nha Dc 1:1-2:7
    Gặp nhau nơi thôn quê 2:8-3:5
    Đám cưới 5:1
    Tân phụ thương nhớ người yêu mình 6:9
    Sự đảm bảo về t ình yêu của hôn phu 8:4
    Lời quả quyết sau cùng về tình yêu 14
    Sơ lược những điều xảy ra trong từng bối cảnh sẽ giúp người đọc dễ hiểu hơn về diễn tiến và cách biểu lộ tình yêu của người được yêu
    CÁCH BIỂU LỘ T ÌNH YÊU CHO NHAU
    Người nữ ao ước được ở bên vua trong phòng chàng (,3) nhưng vì lòng khiêm nhường nàng không xem mình là xinh đẹp (-7). Salômôn cho nàng b iết về sắc đẹp của nàng (-10,15) đoạn nàng suy nghĩ (1:12-14) và khen ngợi Salômôn và nhà người (6-17). Nàng vẫn còn nghĩ rằng mình chỉ là một cô gái tầm thường, như bông huệ của trũng (2:1), nhưng vì cớ Salômôn mà nàng đau thương tư (-6)
    GẶP NHAU NƠI THÔNG QUÊ
    Ngày kia Salômôn đến làng quê của nàng và gặp nhau (1:8, 9). Trời đang tiết Xuân, Salômôn gọi nàng hãy đến và ở bên ông (2:10-14). Khi Salômon ra về, nàng đã chiêm bao về người, đi tìm chàng ban đêm, và cuối cùng nàng tìm được người yêu (-5). Nàng không t hể chịu đựng nổi nếu xa vắng chàng.
    ĐÁM CƯỚI
    Một bức tranh vĩ đại về một đám cưới với quân lính khiêng kiệu vua để chuẩn bị cho ngày cưới (-11). Salômôn khen tặng về sự đẹp đẽ của tân phụ mình (4:1-6) và ước ao được đi xa với nàng để được thám hiểm về tình yêu và lạc thú nơi vườn nàng (-15). Nàng đón nhận tình yêu của chàng và chàng đã bước vào vườn tình ái (6, 5:1)
    TÂN PHỤ THƯƠNG NHỚ NGƯỜI YÊU MÌNH
    Salômôn tái xác nhận về vẻ đẹp của tân phụ và t ình yêu sâu đậm mà ông dành cho nàng (-10). Nàng ao ước được mang chàng đi xa vào nơi thôn quê (và xa khỏi việc làm), có thể trở về nhà nàng, để hai người có thể tận hưởng tình yêu cho nhau (1, 8:3)
    LỜI QUẢ QUYẾT SAU CÙNG VỀ TÌNH YÊU
    Hai người cùng ra đi và tình yêu được sống dậy tại một nơi g ần nhà nàng (,6). Nàng mô tảvề mãnh lực của tình yêu cảu sự cao quý của nó (8:6, 7). Tuy trước kia nàng chỉ là một cô gái thơ ngây còn trong trắng và chưa biết đến đàn ông (8:8, 9), nhưng giờ đây nàng đã tìm được Salômôn và sẵn sàng dâng chính mình hco chàng (8:10-12)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Tình yêu được bày tỏ qua sự nhận thức được vẻ đẹp (thể xác và tinh thần) của người yêu và đưa tới kết quả là lời hứa nguyện hết lòng làm tròn bổn phận cho nhau.
    2. Tình yêu có thể ban cho, nhưng không thể bắt buộc hay mua bán
    3. Giữ lòng trong trắng trước hôn nhân là điều thiết yếu, nếu không sẽ khiến cho tình yêu trong hôn nhân thiếu vững bền.
    GHI CHÚ
    1. G.L.Carr, The Song of Solomon (Downers Grove : InterVarsity, 1984) trang 26 - 32, thảo luận về sách Nhã Ca được giải thích qua nhiều cách khác nhau.
    2. G.L.Carr "The Love Poetry Genre in the Old Testament and the Ancient Near East", The Joural of the Evangelical Theological Society 25 (1982), trang 489 - 98
    3. F. Delitzsch, Commentary on the Song of Songs and Ecclesiastic (London : T & T. Clark, 1985)
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. ChCn 2:1-7:27 nói gì về mối liên hệ tình dục ngoài hôn nhân ?
    2. Dùng Kinh Thánh đối chiếu (Bible Concordance) l iệt kê những câu Kinh Thánh trong sách Châm ngôn tương quan đến một trong những chữ sau đây : lười biếng (Lazy/laziness); cái lưỡi (tongue); sửa phạt (discipline); sợ hãi (fear). Sau đó, viết một đoạn văn ngắn (a brief paragraph) về đề tài đó mà quý vị muốn chia xẻ với người khác.
    3. Nếu loài người kính sợ Thượng Đế, thì có ảnh hưởng gì đến lối sống hằng ngày của họ ?
    4. Quý vị định nghĩa tình yêu như thế nào ? Những đặc tính nào của tình yêu được tìm thấy trong sách Nhã Ca?
    5. Làm thế nào tình yêu giữa hai người có thể giúp chúng ta hiểu được phần nào về tình yêu của Thượng Đế đối với chúng ta ? Tình yêu của chúng ta đối với Thượng Đế phải có những đặc điểm nào ?
    6. Sách Nhã Ca được giải thích theo mấy cách ?

    THÔNG HIỂU VÀ GIẢI THÍCH CÁC SÁCH TIÊN TRI
    Kinh thánh : PhuDnl 1:1-5:33; 18:14-22; IVua 1V 16:1-46; Gie Gr 23:9-40; Exe Ed 1:22-3:21; MiMk 3:5-8
    CÁC LOẠI SÁCH TIÊN TRI
    Khi nói đến sách tiên tri, loài người thường nghĩ đến một số cá nhân như Ê-sai hoặc Đaniên vì họ đã viết những sách tiên tri quan trọng trong Kinh T hánh. Dĩ nhiên Ê-sai và Đaniên là hai nhân vật then chốt mà Thượng Đế dùng để rao truyền sứ điệp của Ngài, nhưng còn nhiều người nữa (nam và nữ ) trong dân Do Thái có khả năng nói tiên tri nhưng không được viết thành sách (tên của một số người ấy cũng không được biết đến)
    Vì Môi se gặp quá nhiều khó khăn với dân DO Thái kh họ còn lang thang trong đồng vắng, nên Thượng Đế khuyên ông hãy cha xẻ gánh nặng với bảy mươi vị trưởng lão Y-sơ-ra-ên (Dan Ds 11:10-17). Sau khi bảy mươi bị trưởng lao Y-sơ-ra-ên dâng đời sống họ cho Thượng Đế, Ngài đã sai Thần của Ngài ngự trên họ và họ nói tiên tri. Vì những vị này chỉ nói tiên tri một lần, nên họ không được xem là những vị ti ên tri chính thức.
    Một số đấng tiên tri như Samuên, Gierêmi, và Êxêchiên cũng như thầy tế lễ, cho nên họ đã thi hành hai chức vụ khác nhau trong xã hội Do Thái. Một số thầy tế lễ Lê vi đã nói tiên tri khi họ hát ca ngợi Thượng Đế và sử dụng nhạc vụ trong đền thờ (ISu1Sb 25:1-5). Một ố tiên tri hác như Gát và Nathan (còn được gọi là đấng tiên k iến) mặc dù không giữ chức vụ trong đền thờ nhưng đã nhiều lần rao truyền sứ điệp của Thượng đ ế và thi hành chức vụ với tư cách là một nhà cố vấn đạo đức và chính trị cho vua Đa-vít (ISa1Sm 12:1-15; 24:11; ISu1Sb 21:9). Một vài t iên tri như Ê-li sê đã làm phép lạ (IIVua 2V 4:1-44) nhưng hầu hết không có quyền phép như Ê li sê. Một số tiên tri thờ phượng theo nhóm hoặc đoàn dưới thời Samuên (ISa1Sm 10:5). Sau này các con trai của những tiên tri ở tại Bê-tên và Giêri cô trong thời Ê-li-sê cùng sống và học với nhau (IIVua 2V 18:1-37). Hầu hết các tiên tri viết vào thời sau đã ghi lại những việc làm của họ và không đề cập đến những v iệc làm của các nhà tiên tri khác chung quanh họ.
    Miriam là nữ tiên tri đầu tiên và hát trong ban hát ca ngợi Thượng Đế (XuXh 15:20), Đêbora vừa là nữ tiên tri vừa là quan xét của dân Y-sơ-ra-ên (Cac Tl 4:4), và Hunđa là nữ tiên tri dưới thời vua Giôsia và là người nhận diện quyển sách tìm được trong đền thờ là sách luật pháp của Môi se (IIVua 2V 24:20)
    Những thí dụ này cho th ấy rằng Thượng Đế đã dùng nhiều người khác nhau có những lai lịch khác nhau để rao truyền sứ điệp của Ngài trong nhiều thời điểm khác nhau. Sự khác biệt này là cần thiết để lời của Thượng Đế ảnh hưởng đến mọi khía cạnh trong xã hội Y-sơ-ra-ên . nhưng sự khác biệt này cũng gây nhiều trở ngại vì một số người đã gặp khó khăn trong việc phân biệt giữa tiên tri thật và tiên tri giả .1
    SỰ HIỆP NHẤT GIỮA CÁC TIÊN TRI
    Yếu tố chính trong việc nhận diện các tiên tri không phải dựa trên chức vụ hay gia đình, cũng không dựa trên việc họ viết sách hay không viết sách. Điểm chính là : Thần của Thượng Đế có ngự trong n hững người này và phán qua họ không ?
    Theo tiếng Hêbơrơ, chữ tiên tri (prophet) có nghĩa là phát ngôn viên của Thượng Đế, trong khi chữ tiên ki ến (seer) ám chỉ những người thông suốt ý chỉ của Thượng Đế. Tuy các tiên tri thần Ba-anh và các thầy bói khác tuyên bố rằng họ ban phát ý muốn của các vị thần của họ (Gie Gr 23:13-22), họ có thể nhận diện được qua đời sống đạo đức của họ và họ ghét tội lỗi (MiMk 3:8), họ chỉ thờ phượng Thượng Đế của Y-sơ-ra-ên mà thôi (PhuDnl 13:1-5), và họ can đảm rao truyền sứ điệp của Thượng Đế bởi sự thúc giục của Thánh Linh ngự trong lòng họ (MiMk 3:8)
    CÁCH CÁC TIÊN TRI ĐÓN NHẬN SỨ ĐIỆP
    Các t iên tri là sứ giả của Thượng Đế, ban phát lời của Ngài về sự phán xét cũng như về sự phấn khởi và hy vọng. Cách đón nhận sứ điệp của Thượng Đế thường được che giấu phần nào trong màn bí mật. Một số t iên tri diễn tả sự "kêu gọi" của họ vào chức vụ khi họ thấy khải tượng của Thượng Đế và được sự thúc giục của Đức Thánh Linh ở bên trong (EsIs 6:1-13; Exe Ed 1:1-3:27), nhưng hầu hếtg các đấng tiên tri không kinh ngihệm được sự kêu gọi đặc biệt. Điều kiện chính yếu của một tiên tri là sự hiện diện Thần của Thượng Đế và sự đón nh ận sứ điệp của Ngài. Qua việc làm của Đức Thánh Linh trong trí và lòng của đấng tiên tri, họ nghe t iếng phán của Thượng Đế và nhìn thấy khải tượng hay chiêm bao. Sau khi đón nhận lẽ th ật, đấng tiên tri uốn nắn và diễn đạt nó bằng ngôn ngữ và văn hóa thời bấy giờ thành sứ điệp để rao truyền cho dân sự. Đấng tiên tri đã dùng dự thông hiểu Kinh Thánh, các tập quán trong nền văn hóa, và cách diễn tả riêng để trình bày sứ điệp của Thượng Đế, nhưng không thay đổi hay là làm hư hỏng sứ điệp. Thượng Đế bày tỏ chính Ngài cho các tiên tri bằng những phương cách họ có thể hiểu được để họ truyền đạt lẽ thật của Ngài qua cách mà đa số dân Do Thái hiểu được.
    CÁCH TRUYỀN ĐẠT SỨ ĐIỆP TIÊN TRI
    Có lúc các tiên tri rao truyền sứ điệp của họ bằng lời nói, nhưng trong lúc khác thì họ dùng thí dụ vì lẽ dân Y-sơ-ra-ên cứng lòng đã không chịu nghe họ nữa (Exe Ed 4:1-5:17). Đôi khi sứ điệp nguyên thủy được khắc ghi trên bảng đá (EsIs 8:1; HaKb 2:2) nhưng thường các sứ điệp sau này mới được thâu trữ hay viết thành cuốn. Gie Gr 36:2 cho th ấy sứ điệp của Giêrêmi trong khoảng thời gian từ 627 - 605 TC. Không được ghi lại và mãi đến năm 605 TC. Mới được Barút (Baruch) ghi chép lại. Đa số các đấng tiên tri thích sắp xếp sứ điệp của mình theo thứ tự thời gian, nhưng số khác như Gierêmi và Đaniên thích sắp xếp sách của họ theo đề tài.
    Muốn cho dân Y-sơ-ra-ên hiểu rằng họ rao truyền sứ điệp của Thượng Đế, các tiên tri thường bắt đàu hay chấm dứt sứ điệp với câu :"Đức Giêhôva phán như vậy; Đức Giêhôva phán; lời phán của chính Đức Chúa Trời; Đức Giêhova đến với ta và phán". Những lời này cho dân sự biết rằng các đấng tiên tri không nói sứ điệp của chính họ, nhưng của chính Thượng Đế. Như vậy bày tỏ được uy quyền đàng sau lời nói của các tiên tri và khuyên người nghe hãy nghiêm chỉnh lắng nghe những lời đó.
    Tiên tri A-mốt và Ô-sê rao truyền sứ điệp của Thượng Đế cho vương quốc Y-sơ-ra-ên miền Bắc, Giô-na ban sứ điệp về sự đoán phạt của Thượng Đế cho nước lân bang A-si-ri, và Đaniên làm chứng cho dân Ba-by-lôn và các vua Ba tư, nhưng hầu hết các t iên tri viết ra sách đã giảng cho người Giu đa. Trong hầu hết mọi trường hợp, ân điển sâu xa và không đáng được hưởng của Thượng Đế được biểu lộ. Thượng Đế không chỉ cảnh cáo các dân tộc này về sự đoán xét hầu đến, nhưng còn kêu gọi họ hãy ăn năn tội lỗi để có thể tránh được sự đoán xét của Ngài (ngay đến các dân tộc vô thần, kẻ thù của Y-sơ-ra-ên, cũng được kêu gọi ăn năn)
    SỨ ĐIỆP CỦA CÁC TIÊN TRI
    Vì các tiên tri sống trong nhiều nước khác nhau và rao truyền sứ điệp của họ qua hàng trăm năm, cho nên cho nhiều đề tài khác nhau được đề cập đến. Vì tình trạng chính trị, xã hội, và tôn giao thay đổi, nên sứ điệp phải có để rao truyền cho phù hợp với nhu cầu người nghe. A-mốt nhấn mạnh về sự bất công trong xã hội Y-sơ-ra-ên trong khi Ô-sê nhắm vào sự căm ghét của Thượng Đế đối với việc dân Y-sơ-ra-ên thờ lạy th ần Ba-anh. Ap đia lên án dân thành Êđôm về lòng kiêu ngạo của họ và sự bất công mà họ đã đối xử với dân Y-sơ-ra-ên khi thành Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, trong khi đó Habacucu thắc mắc tại sao Thượng Đế cho phép kẻ ác được hưng t hạnh tại Giê-ru-sa-lem và tại sao Ngài dùng sự gian ác của Ba-by-lôn để đoán xét một nước công bình hơn. Mỗi đấng t iên tri đều có nét đặc thù riêng, nhưng mỗi người đều có sứ điệp riêng của Thượng Đế để ban phát cho người nghe.
    Sứ điệp của các tiên tri có cùng mục đích là hiểu biết về Thượng Đế và đặc tính của Ngài. Các tiên tri cương quyết kêu gọi mọi người chỉ thờ phượng Thượng Đế cảu Y-sơ-ra-ên mà thôi. Họ cứ lên án tội lỗi và khuyên mọi người ăn năn. Sứ điệp của họ thường xuyên nh ắc nhở dân Y-sơ-ra-ên nhớ lại ân điển của Thượng Đế đối với dân Ngài kh iNgài giải cứu họ ra khỏi xứ Ai cập ( AmAm 3:1, 2; 9:7),tình yêu sâu đậm của Ngài đối với họ khi Ngài lập giao ước với họ tai núi Si nai (Gie Gr 11:1-13), và Ngài yêu cầu họ chỉ thờ phượng một mình Ngài thôi (10:1-16). Nếu dân chúng nhận biết tội lỗi của họ ăn năn với Thượng Đế, và từ bỏ con đường xấu xa của họ, thì Thượng Đế sẽ ban phước cho họ (3:12-14). Nếu dânchúng không đáp lại ân điển và sự cảnh cáo của Thượng Đế, thì sự rủa sả sẽ giáng trên cả q uốc gia (PhuDnl 27:1-28:68) và họ sẽ bị tiêu diệt.
    Tuy các tiên tri rao truyền nhiều sứ điệp về sự đoán phạt và tiêu di ệt, nhưng họ cũng thấy sự hòa bình, công chính, và phước hạnh sẽ đến một ngày nào đó trong tương lai. Thượng Đế sẽ tha thứ tội lỗi của họ và ban cho họ một tấm lòng mới (Exe Ed 34:25-31) qua sự chết của tôi tớ Ngài (EsIs 53:1-12). Ngài sẽ ban cho họ một giao ước mới (Gie Gr 31:31-34), Thần của Ngài sẽ biến đổi họ (Gio Ge 2:28, 29) và đất sẽ đượm hoa màu (AmAm 9:15). Nhánh công bình của Đa-vít, vua đời đời của Y-sơ-ra-ên, sẽ cai trị làm vua tại Giê-ru-sa-lem (EsIs 9:1-7; Gie Gr 23:5-7). Các nước gian ác trên đất sẽ bị phán xét và quyền t hống trị của Thượng Đế sẽ được thiết lập khi uy quyền được ban cho Con ngài (DaDn 7:9-14). Đoạn mọi nước sẽ đổ về Giê-ru-sa-lem để nghe Thượng Đế dạy về luật pháp Ngài và vĩnh viễn chấm dứt chiến tranh (EsIs 2:1-4). Trời mới và đất mới sẽ được dựng nên (65:17) và linh hồn kẻ đã chết sẽ sống lại (25:8; DaDn 12:1, 2).
    Qua các sứ điệp này,các đấng tiên tri hy vọng thuyết phục được dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa từ bỏ con đường ích kỷ của họ và dâng đời sống để phục vụ thượng đế. Tuy dân ngoại giáo tại Ni-ni-ve đáp lại sứ điệp của Giô-na và đoàn người lưu đày đáp lại lời thách thức của Aghê và Malachi trong việc xây dựng lại đền thờ Giê-ru-sa-lem, nhưng hầu hết các tiên tri không nhận được một sự đáp lời tích cực nào cả. Những người này không thể tha thứ được vì họ đã nghe lời của lẽ thật, nhưng họ cứ sống trong suy đồi và từ chối không vâng phục ý chỉ của Thượng Đế.
    GIẢI THÍCH LỜI TIÊN TRI
    Thường có nhiều cách giải nghĩa lời tiên tri được tìm thấy trong các sách giải Kinh và thần học vì ý nghĩa của một vài câu không được rõ lắm. Một trong những khó khăn có liên quan đến ngôn ngữ của sách đó. Nguồn gốc thơ văn của lời tiên tri và cách dùng ngôn ngữ biểu tượng (Symbolic language) đã làm cho sự giải nghĩa thêm khó khăn. Sự khó khăn trong việc giải nghĩa cũng có thể xuất phát từ việc người đọc không hiểu rõ bói cảnh lịch sử trong thời đấng tiên tri rao truyền sứ điệp. Sau hết là sự khác nhau về ý kiến vì mọi người đến với sứ điệp bằng nhiêu quan điểm thần học khác nhau, đặc biệt khi nó liên quan đến những lời dự ngôn về Đấng Mê-si-a và sự thiết lập vương quốc của Thượng Đế.
    Những nguyên tắc giải thích trung thực rất cần thiết để chống lại các giáo lý sai lầm hoặc các lời chỉ dẫn sai lạc bởi sự suy đoán bừa bài. Mục đích chính là tìm hiểu Thượng Đế phán gì với mỗi tiên tri. Nó được thực hiện qua sự sưu tầm về lịch sử và văn tự trong ý nghĩa của sứ điệp đó. Sưu tầm về chiều sâu đòi hỏi kiến thức về ngôn ngữ Hibalai (Hebrew) và thông hiểu rộng rãi về lịch sử Y-sơ-ra-ên. Tuy nhiên, hiện nay có nhiều bản dịch Kinh Thánh tiếng Hibalai (Hebrew), sách giải kinh và nhiều tài liệu Kinh Thánh khác nữa (Study Bibles and Concordances) sẵn sàng giúp đỡ những ai muốn làm sáng tỏ các đoạn khó hiểu.3
    Khi nghiên cứu một sách t iên tri, hãy bắt đầu bằng cách đọc qua một lần trọn sách đó (dĩ nhiên không đọc xong một lần đối với những sách dài hơn). Điều này sẽ giúp có sự hiểu biết căn bản về ý nghĩa tổng quát của sách và tránh được lời kết luận sai lầm vì chưa thấy hết những gì sách đề cập đến. Sau đó, hãy tìmhiểu về bối cảnh lịch sử của sách qua các tài liệu KinH Thánh (Study Resources). Hãy đặt câu hỏi : Lời tiên tri được giản tại Y-sơ-ra-ên hay Giu-đa ? Ai đang làm vua thời đó (thường được cho biết ở các câu đầu của mỗi sách) ? Khuynh hướng chính trị, xã hội, và tình trạng tôn giáo thời bấy giờ như thế nào ?
    Kế đến, hãy chia sách theo đề tài để nắm vững phần bố cục của sứ điệp. Đấng tiên tri giảng về các vấn đề nào ? Theo dõi sự tranh nhận lời của Thượng được đế và làm theo. Những sứ điệp ngắn đã kết hợp với nhau thành toàn bộ sách như thế nào ? Sứ điệp nào liên quan đến tình trạng hiện tại của dân chúng khi đấng tiên tri rao truyền sứ điệp và sứ điệp nào liên quan đến những việc sẽ xảy ra trong tương lai ?
    Bây giờ hãy nghiên cứu từng đoạn từng khúc chi tiết hơn. Những câu thơ hay biểu tượng khó hiểu trong một câu có thể so sánh với hai bản dịch khác nhau, hoặc ý nghĩa của một chữ có thể tham khảo bằng cách dùng tài liệu đối chiếu (concordance) để tìm hiểu chữ đó. Những chữ tượng trưng cho tư tưởng ngoài văn hóa của chúng ta thường là những chữ khó hiểu. Thí dụ, "người chăn" (shepherd) tượng trưng cho sự trị vì của vua (IISa 2Sm 5:2; Exe Ed 34:1-31), "Những con bò cái của Ba san" (Cows of Basan) ám chỉ hạng người phụ nữ giàu có Sa-ma-ri hách dịch và cực kỳ giàu có (AmAm 4:1, 2) và "các núi đồi cất tiếng hát" (Dinging hills) là hình ảnh về sự vui mừng (EsIs 44:23)
    Những lời tiên tri nói về các biến cố trong tương lai là những sứ điệp rất khó hiểu nhất. Lời tiên tri của Ahigia về Giorôbôam khi ông xé chiếc áo tơi thành mười hai miếng (IVua 1V 11:29-32) và lời tiên tri này được ứng nghiệm một thời gian ngắn sau đó kh mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên bị chia t hành hai nước (15:1-20:43). Tiên tri Ahigia biết chuyện gì sẽ xảy ra nhưng ông không cho biết mọi chi tiết của sự việc và cũng không cho biết ngày rõ ràng. Một trường hợp tương tự, Ê-sai nói với Ê-xê-chia rằng Thượng Đế sẽ giải cứu vua khỏi tay vua A-si-ri Sanchêrip (IIVua 2V 19:20-34) nhưng ông không nói xảy ra khi nào hay xảy ra như thế nào. Giống như các thí dụ này, hầu hết các lời tiên tri không cho biết rõ mọi chi tiết những việc sẽ xảy ra và cũng không cho biết rõ ngày khi Thượng Đế hoàn thành lời hứa của Ngài. Người của đức tin cần biết Thượng Đế sẽ làm gì, nhưng đức tin luôn luôn tin cậy nơi Thợng đế vào nhiều việc không thấy và không hiểu được.
    Khi thấy được lời tiên tri về Đấng Mê-si-a, người giải thích nên thận trọng không nên đọc những điều đã được ứng nghiệm trong Tân ước trước khi đọc Cựu ước. Tuy tiên tri Ê-sai biết rằng Đấng Mê-si-a sẽ được sanh bởi nữ đồng trinh (EsIs 7:14), nhưng ông không biết Ngài sẽ được sanh tại đâu và sanh như thế nào. Thượng Đế bày tỏ cho Mi-chê biết rằng Đấng Mê-si-a sẽ được sanh tại Bếtlêhem (MiMk 5:2) nhưng không nói gì về việc kiểm tra dân số đã đưa Mari và Giô sép từ Naxarét đến Bếtlêhem.
    Còn gặp nhiều khó khăn hơn khi cố gắng đặt các sứ điệp Cựu ưóc vào trong các đoạn nói về cơn đại nạn (tribulation) và ngàn năm bình an (millennium) trong Tân ước. Vì Thượng Đế không nói gì với các tiên tri trong Cựu ước về sự khác biệt giữa thiên đàng và ngàn năm bình an (chỉ nói đến một lần trong Khải huyền 20),nên rất khó để biết được một lời tiên tri ám chỉ về thời điểm khi trời mới và đất mới được thành lập hay ám chỉ về những sách Khải Huyền nói về một ngàn năm bình an. Vì những điều gì sẽ xảy ra quan trọng hơn là xảy ra vào thời gian nào, nên người tin Chúa phải tin rằng Thượng Đế sẽ làm tròn ý muốn Ngài. Đức Chúa Giê-xu phán rằng chúng ta và thiên sứ không cần biết ngày và giờ mà Thượng Đế đã định lấy (Cong Cv 1:7; Mat Mt 24:36). Tuy nhiên, các biến cố trong KinH Thánh không phải là không hoàn toàn xảy ra theo thứ tự thời gian, nếu cẩn thận tra cứu và so sánh lời tiên tri thì thấy cơn đại nạn của Đấng Mê-si-a sẽ xảy ra trước sự vinh hiển của Ngài (Ê-sai 53) và cũng sẽ xảy ra như vậy trong ngày sau cùng.
    Những lời tiên tri này là nguồn hy vọng cho tương lai và là lời cảnh cáo để sẵn sàng cho ngày của Chúa. chúng khuyến khích người tin Chúa hãy tin cậy vào quyền tể trị của Thượng Đế và chơng trình của Ngài đối với thế gian mặc dù tội ác, chiến tranh, bắt bớ, và thiên tai càng ngày sẽ càng tệ hơn trong tương lai. Lời tiên tri trong Cựu ước cung câp cá tin tức căn bản về những điều Thượng Đế sẽ thực hiện trong tương lai, nhưng để dễ hiểu rõ và đầy đủ hơn những điều liên quan đến các đề tài này người tin Chúa phải đọc lời nói của Chúa Giê-xu trong 24:1-20, của Phaolô trong II Tesalonica, và cảu Giăng trong sách Khải huyền. Tuy nhiên vẫn còn nhiều "những lời này đã đóng lại và đóng án cho đến kỳ cuối cùng..... Phước thay cho kẻ đợi...." (DaDn 12:9, 12)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Thượng Đế bày tỏ ý chỉ Ngài cho các đấng tiên tri qua sự ban cho của thánh Linh Ngài.
    2. Sứ điệp của Thượng Đế được rao truyền cách trung tín bởi các tiên tri với những lời nói đầy ý nghĩa và có thể áp dụng được cho những người nghe đến.
    3. thượng đế tuần tự (không phải tất cả trong một lần) bày tỏ những tin tức liên quan đến tương lai
    4. Chương trình tương lai của thượng đế là chắc chắn nhưng ngày và giờ xảy ra chỉ một mình Ngài biết mà thôi.
    5. Vương quốc của Thượng Đế sẽ được thiết lập; cho nên, người tin chúa đặt hy vọng và hướng về tương lai được để được thờ phượng dưới ngai của thượng đế.
    GHI CHU
    1. Gary V.Smith, "Prophecy, False", International Standard Bible Encyclopedia Vol. III
    (Grand Rapids : Eerdmans, 1986) trang 984 - 86
    2. Smith, "Prophet, Prophecy", International Standard Bible Encyclopedia Vol .III
    (Grand Rapids : Eerdmans, 1986) trang 997 -1001.
    3. Có hai quyển sách giúp ích rất nhiều cho những ai muốn phát triển khả năng giải nghĩa Kinh Thánh của mình : W.C.Kaiser, Toward an Exegetical Theology (Grand Rapids : Baker, 1981) hoặc H.A.Virkler, Hermeneutics : Principle and Processes of Biblical Interpretation (Grand Rapids : Baker, 1981)
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Sự khác biệt nhiều giữa các tiên tri có những ưu điểm và khuyết điểm nào ? Sự khác biệt giữa các con cái Chúa ngày nay giúp ích gì cho việc rao truyền lời Chúa ?
    2. Lời tiên tri trong Cựu ước đã hiểu gì về :
    a) Thượng Đế
    b) Tội lỗi
    c) Sự ăn năn
    d) Sự phán xét ? Tân ước đã hiểu khác về các vấn đề này như thế nào ?
    3. Ghi lại một vài lý dao tại sao loài người có sự hiểu biết khác nhau về lời tiên tri ? Viết lời giải thích của quý vị về EsIs 4:2, và so sánh nó với lời giải thích của người khác để khám phá tại sao lại có sự khác nhau trong lời giải thích ?
    4. Sách nào đã giúp quý vị tìm được ý nghĩa lịch sử và văn tự của câu Kinh Thánh ? Sách nào có thể giúp ích th êm cho quý vị ?
    5. Quý vị đang dùng phương pháp từng bước nào (Step by step method) để nghiên cứu các sách trong Kinh Thánh ? Trong phương pháp đó, bước nào dễ nhất và bước nào khó nhất ?

    CÁC TIÊN TRI ĐẦU TIÊN TỪ Y-SƠ-RA-ÊN
    Giô-na, A mốt, Ô-sê
    Khoảng thời gian : Giô-na 790 - 80 TC ; A-mốt 765 - 60 TC ; Ô-sê 755 - 25 TC.
    Một thời gian ngắn sau khi Salômôn qua đời (913 TC , xem IVua 1V 11:1-12:33), vương quốc hùng mạnh do Đa-vít thành lập bị chia thành hai nước Y-sơ-ra-ên (gồm mười chi phái miền Bắc) và Giu-đa (hai chi phái miền Nam). Gierôbôam I, vua mới của vương quốc miền Bắc Y-sơ-ra-ên , thành lập chính phủ và quân đội riêng cho ông, xây đền thờ mới tại Bê-tên (gần biên giới phía Nam) và tại Đan (gần biên giới phía Bắc), và chọn những người không thuộc chi phía Lê vi làm thầy tế lễ để dâng của lễ cho hai con bò vàng trên bàn thờ trong các đền thờ này. Hai con bò này tượng trưng cho thần đã đem họ ra khỏi xứ Ê-díp-tô (12:25-33), nhưng hai con bò vàng sớm bị lẫn lộn với thần Ba-anh của dân Ca-na-an, là thần của sự sinh sản và mưa, cũng được tượng trưng bằng con bò con. Thời gian trước dân Y-sơ-ra-ên cũng đã dự phần trong v iệc thời lạy ngoại thần Ba-anh. Tuy thượng đế đã dấy tiên tri Ê-li và Ê-li-sê lên đế đánh bại và tiêu di ệt tôn giáo Ba-anh này trong thời vua A-háp và Giê-sa-bên (17:19-18:46; IIVua 2V 1:1-18), nhưng nó vẫn ti ếp tục lừa gạt dân Y-sơ-ra-ên thêm nhiều năm nữa khi A-mốt và Ô-sê rao truyền sứ điệp cho Y-sơ-ra-ên.
    Bởi tội lỗi của nước miền Bắc, thượng đế đã nổi giận và sai Ha-xa-ên và Bê-ha-dát vua đến đánh bại chúng (13:4, 22, 23; 14:25). Vì kẻ thù bị đánh bại, nên Y-sơ-ra-ên có cơ hội trở nên hùng mạnh và phồn thịnh dưới sự lãnh đạo của Giê-rô-bô-am II (793 - 753 TC). A-mốt, người đã nói tiên tri trong thời hưng thịnh đó, thấy sự giàu sang của họ đem lại một sự an toàn giả dối (AmAm 6:1-7), và đã cảnh cáo những kẻ làm giàu bằng cách hiếp đáp người nghèo khó (2:6-8; 3:10; 5:10-12). Ô-sê tiếp tục chức vụ của ông đến sau đời trị vì của Giê-rô-bô-am, khi hàng loạt các vua nhu nhược liên tục cai trị Y-sơ-ra-ên bằng sự áp bức và ám sát (IIVua 2V 15:1-38). Điều này đã cho phép vua A-si-ri là Tiếc-la-Phi-lê-se buộc Y-sơ-ra-ên phải triều cống (15:19, 29; 16:9). Vương quốc miền Bắc Y-sơ-ra-ên cuối cùng đã bị bắt làm phu tù tại A-si-ri khoảng năm 722/721 TC, chỉ vài năm sau lời tiên đoán của Ô-sê.
    GIÔ-NA LÒNG THƯƠNG XÓT LỚN LAO CỦA THƯỢNG ĐẾ
    Tiên tri Giô-na có hai sứ điệp để loan báo cho hai nước khác nhau : Y-sơ-ra-ên và A-si-ri. Kinh thánh nói rất ít về sứ điệp của ông đối với Y-sơ-ra-ên và không ghi rõ ông đã nói gì. Kinh Thánh cho biết ông đã rao truyền lời Chúa trong những năm đầu của đời vua Giê-rô-bô-am II với lời hứa sự chiến thắng quân sự sẽ vào tay Y-sơ-ra-ên (14:25). Lời tiên tri của Giô-na đã được ứng nghiệm trong đời vua Giê-rô-bô-am, nhưng dân Y-sơ-ra-ên không tiếp tục thờ phượng Thượng Đế sau khi được giải cứu họ ra khỏi tay kẻ t hù.
    Sách Giô-na miêu tả chức vụ tiên tri của ông đối với A-si-ri tại Ni-ni-ve trong những năm đầu của đời vua Giê-rô-bô-am II.
    BỐ CỤC SÁCH GIÔNA
    Lòng thương xót của Thượng Đế đối với Giô-na Gion Gn 1:1-2:10
    Giô-na từ chối sứ mạng của Thượng Đế -16
    Giô-na quay về với Thượng Đế để được giải cứu 1:17-2:10
    Lòng thương xót của Thượng Đế đối với Ni-ni-ve 3:1-4:11
    Ni-ni-ve quay về với Thượng Đế để được giải cứu 3:1-9
    Giô-na phủ nhận lòng thương xót của Thượng Đế đối với Ni-ni-ve 3:10-4:11
    Sách Giô-na là một sách độc nhất khi so sánh với các tiên tri khác, vì nó chứa đựng vỏn vẹn một câu ngắn từ lời rao giảng của ông (3:4). Sách cho biết các tiên tri là những con người thật và bất toàn. Đôi khi họ gặp khó khăn trong việc rao báo cho người khác về sự gớm ghét tội lỗi của Thượng Đế. Giô-na đã vất vả mới học được bài học là Thượng Đế không muốn ai bị hư mất cả; Ngài muốn mọi người đều hiểu biết lẽ thật và ăn năn (ITi1Tm 2:4; IIPhi 2Pr 3:9)
    LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THƯỢNG ĐẾ VỚI GIÔNA
    Sau khi nhận sứ mạng nơi Thượng Đế để đi đến Ni-ni-ve là thủ đô của đế quốc A-si-ri, Giô-na từ chối sự kêu gọi của Thượng Đế đối với đời sống ông. Không suy xét, Giô-na nghĩ rằng ông có thể trốn chạy Thượng đ ế được (1:3), ông cũng muốn tránh những rắc rối mà ông có thể gặp khi rao giảng cho một thành phố vô đạo và tội lỗi như Ni-ni-ve, và ông muốn đảm bảo rằng Thượng Đế sẽ tiêu diệt đế quốc A-si-ri bằng cách đừng báo cho họ biết về sự phán xét sắp đến của Ngài (4:2). Sau khi Giô-na đáp tàu đi Tarêsi, Thượng Đế không loại bỏ ông nhưng mang ông đến một nơi mà ông tự ý lựa chọn đi hầu việc Ngài tại Ni-ni-ve (3:3). Sau trận bão lớn và cuộc bắt thăm, Giô-na nhận tội và chấp nhận sự trừng phạt là chết dưới lòng biển. Bởi lòng thương xót, Thượng Đế làm biển yên lặng cho các thủy thủ (1:15) và sai một con cá lớn đến nuốt Giô-na, cứu ông khỏi chết (1:17). Vì vậy, những thủy thủ vô thần rất kính sợ Thượng Đế và dâng của lễ cho Ngài trong khi đó thì Giô-na cầu nguyện xin Thượng Đế giúp đỡ trong bụng cá (2:1, 7). Giô-na trước kia không muốn Thượng Đế tỏ lòng thương xót đến một dân tộc không xứng đáng như A-si-ri tại Ni-ni-ve, giờ đây Giô-na cũng nhận biết ra lòng thương xót không đáng được hưởng mà Thượng Đế đã ban cho ông (2:9) nên ông đã vâng lời Ngài trong lần kêu gọi thứ hai (3:1)
    LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA THƯỢNG ĐẾ ĐỐI VỚI NINIVE
    Giô-na dạn dĩ loan báo sứ điệp tiêu diệt trên các đường phố Ni-ni-ve (3:4).1 Giô-na rất ngạc nhiên khi thấy vua và dân chúng thành Ni-ni-ve tin vào Thượng Đế, sấp mình xuống ăn năn về đường lối xấu của họ và kêu cầu sự thương xót của Ngài (3:5-9). Thượng Đế, trong quyền tể trị, đã thương xót Ni-ni-ve và không tiêu diệt họ.
    Mỉa mai thay, Giô-na không chấp nhận sự giải cứu của Thượng Đế đối với Ni-ni-ve và giận dữ với Ngài (4:1-2).2 Mặc dù Giô-na đoái tiếc một dây leo đã che nắng cho ông dưới sức nóng của sa mạc ở ngoại ô Ni-ni-ve, nhưng ông không muốn Thượng Đế thương xót dân thành đó. Điều này cho thấy tình thương bao la của Thượng Đế và sự nguy hại của một tình thương nông cạn của loài người đối với người chẳng tin.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Câu chuyện này cho thấy Thượng Đế dùng những người đã ti n Ngài thực hiện chương trình rao truyền về v iệc Thượng Đế gớm ghét t ội lỗi và bản ân điển của Ngài cho những ai ăn năn và trở về cùng Ngài bởi đức tin
    2. Mặc dù sứ giả của Thượng Đế có t hể bác bỏ ý chỉ Ngài, nhưng chương trình của Thượng Đế sữ không bị bỏ dỡ. Qua sự điều khiển của Thượng Đế trong mọi biến cố, người phục vụ Thượng Đế sẽ kinh ngiệm sự sửa trị của Ngài để đưa họ đến sự vâng lời.
    3. Vì không ai có thể trốn chạy khỏi Thượng Đế được, nên mỗi người hay trung tín làm theo ý chỉ Thượng Đế và rao truyền sứ điệp mà Ngài đã ban cho họ.
    4. Giới hạn lòng thương xót của Thượng Đế đối với dân thuộc giao ước của Ngài mà thôi là một sự hiểu lầm lớn lao về tình thương của Ngài và sẽ đưa đến tình trạng hiểu sai ý chỉ của Thượng Đế cho người tin Chúa.
    Đức Chúa Giê-xu trưng dẫn sách Giô-na trong Mat Mt 12:38-41. Ngài so sánh ba ngày Giô-na ở trong bụng cá là ba ngày Chúa sẽ ở th ế gian sau khi chết. Ngài cũng phán rằng sự ăn năn của dân thành Ni-ni-ve sẽ kết án người Pha-ri-si khi họ chối bỏ sứ điệp của Ngài, một sứ điệp lớn hơn của Giô-na.
    A-MỐT THƯỢNG ĐẾ SẼ TIÊU DIỆT Y-SƠ-RA-ÊN
    A-mốt sống bằng nghề trồng cây ăn trái của quản lý bọn chăn gia súc 3 tại một làng nhỏ ở Thêcôa cách Bếtlehem 6 dặm về phía Nam (AmAm 1:1). Thượng Đế bảo ông hãy đi lên vương quốc Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc và cảnh cáo họ rằng sự phán xét của Ngài sẽ không dung tha họ nữa (7:8, 14, 15). Tuy A-mốt không được huấn luyện trong trường tiên tri trong thời ông, nhưng ông đã mạnh dạn kết án thầy tế lễ cả tại đền thờ Bê-tên (7:10-17) và sự không tin của người nghe. Vì Thượng Đế đã phán cùng ông, nên ông biết trách nhiệm của ông là đi chia xẻ sứ điệp.
    Lời tiên tri của Giô-na được rao truyền hai năm trước cơn động đất lớn (khoảng năm 760 TC ). Ôxi-a, vua Giu-đa, và Giê-rô-bô-am II, vua Y-sơ-ra-ên, đang có quân lính rất hùng mạnh và bọn thượng lưu giàu có đang lãnh đạo quốc gia bằng bạo lực và bức hiếp. Dân chúng thực hiện các nghi lễ thờ phượng tại đền thờ Bê-tên, nhưng lòng họ không hướng về Thượng Đế (Gion Gn 4:6-13). A-mốt đã tuyên bố một lời không thể hiểu được : Thượng Đế sẽ tiêu diệt chính dân sự Ngài, vương quốc Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc.
    BỐ CỤC SÁCH A-MỐT
    Lời tiên tri nghịch cùng các nước AmAm 1:1-2:16
    Lời tiên tri nghịch cùng sáu nước lân cận 1:3-2:3
    Lời tiên tri nghịch cùng Giu-đa và Y-sơ-ra-ên 2:4-16
    Xác nhận sự phán xét của Thượng Đế trên Y-sơ-ra-ên 3:1-6:14
    Lý do về sự phán xét của Thượng Đế 3:1-4:13
    Than khóc vì Y-sơ-ra-ên suy vong 5:1-6:14
    Sự hiện thấy và lời khuyên về sự cuối cùng của Y-sơ-ra-ên 9:15
    Năm sự hiện th ấy về sự tiêu diệt của Thượng Đế 9:10
    Thượng Đế sẽ mang lại sự phục hưng sau kỳ phán xét 9:11-15
    Khả năng rao giảng của A-mốt được bày tỏ trong lời chỉ trích nghiêm khắc những kẻ làm giàu bằng sự bức hiếp người khác, trong lời nhạo báng những người không t hật sự thờ phượng Thượng Đế, và trong lời than vãn về những người mù quáng tin vào những lời hứa hão huyền. Ông dùng những hình ảnh quen thuộc với một gã chăn chiên (2:13 - cái xe đầy những lúa bó 3:12 - kẻ chăn chiên cứu thoát chiên khỏi họng sư tử 9:9 - sàng lúa mì ); những sự hiểu biết về lịch sử thế giới (1:3-2:3) và những lời châm biếm chua cay của ông chứng tỏ rằng ông là người am hiểu những chuyện đang xảy ra trong thế giới của ông.
    LỜI TIÊN TRI CÙNG CÁC NƯỚC
    Trước khi binh sĩ ra trận chiến đấu, đấng tiên tri hay thầy tế lễ thường cầu vấn Thượng Đế xin Ngài chúc phước và cho họ được thắng (Cac Tl 20:18, 16-18). Thông thường, những lời tiên tri này cho biết Thượng Đế sẽ tiêu diệt kẻ thù và cho họ thắng trận. Điều này giúp cho binh sĩ vững lòng chiến đấu. Lời tiên tri của A-mốt trong chương 1 và 2 đều dựa theo cách này (dĩ nhiên là được nói trước một trận chiến lớn). Ông mô tả cảnh tàn sát dã man (mổ bụng đàn bà chửa - 1:13) là đặc tính của các nước lân cận Y-sơ-ra-ên và tin rằng Thượng Đế sẽ tiêu diệt các nước này vì tội lỗi của họ (1:3-2:3). Nhưng thay vì chấm dứt lời t iên tri bằng tin sự giải cứu sẽ đến với Y-sơ-ra-ên, A-mốt làm ngạc nhiên người nghe bằng cách loan báo rằng tình trạng Y-sơ-ra-ên còn tệ hơn các nước khác nữa và họ sẽ bị tiêu diệt. Kẻ giàu có và nhiều thế lực trong Y-sơ-ra-ên bán kẻ nghèo làm nô lệ lấy một món tiền thế lực trong Y-sơ-ra-ên bán kẻ nghèo làm nô lệ lấy một món t iền nhỏ và hãm hiếp đầy tớ mình (2:6-8). Họ quên rằng Thượng Đế ghét sự bức hiếp và đã từng giải cứu họ ra khỏi Ai cập nhiều năm trước (2:9, 10) không đước bắt ai làm nô lệ nữa.
    XÁC NHẬN SỰ PHÁN XÉT CỦA THƯỢNG ĐẾ TRÊN Y-SƠ-RA-ÊN
    Hầu hết dân Y-sơ-ra-ên đều chối bỏ lời tiên tri của A mốt. Họ là tuyển dân của Thượng Đế; họ được giải cứu từ Ai cập; Thượng Đế yêu thương họ (3:1, 2). Nhưng A-mốt tuyên bố rằng đặc quyền của sự tuyển chọn gắn liền với trách nhiệm phải trung tín vâng lời chớ không phải là Thượng Đế tự động ban phước. Chuyện hiển nhiên : nếu sư tử gầm thét là nó đang vồ mồi; nếu một nưóc phạm tội thì nước đó sẽ bị án phạt của Thượng Đế (3:3-7). Sứ điệp của Thượng Đế qua A-mốt là tiếng gầm thét của Ngài; Ngài sẵn sàng chụp lấy con mồi Y-sơ-ra-ên (3:8). Tội lỗi họ là gì ? Bạo lực, không biết phân b iệt giữa sự ngay thẳng và gian dối (3:9, 10), bức hiếp kẻ nghèo (4:1), và sự thờ phượng không ý nghĩa tại đền thờ của họ (4:4, 5). Mặc dù Thượng Đế sửa phạt họ, nhưng họ không bao giờ thật lòng ăn năn trở về cùng Ngài (4:4-11) cho nên, họ phải chuẩn bị để đối diện với cơn t hạnh nộ của Thượng Đế (4:12). A-mốt thấy sự tiêu diệt trong tương lai và than khóc cho sự sụp đổ của dân tộc (5:1-3, 16, 17). Nếu họ chỉ tìm kiếm Thượng Đế và đối xử công bình với người chung quanh thì họ sẽ sống (5:4, 14, 15). Vì Thượng Đế ghét sự thờ phượng của họ (5:21), luôn cả việc thờ thần A-si-ri (6), 4 nên ngày của Chúa sẽ là ngày đen tối, chớ không phải cứu rỗi (8-20). A-mốt than khóc cho sự an toàn giả dối mà sự giàu sang đem lại cho kẻ giàu (-7). Họ sẽ bị diệt vong.
    SỰ HIỆN THẤY & LỜI KHUYÊN VỀ SỰ CUỐI CÙNG CỦA Y-SƠ-RA-ÊN
    A-mốt nhận được năm sự hiện thấy tượng trưng cho sự tiêu diệt hầu đến của Y-sơ-ra-ên. Trong hai sự hiện th ấy đầu tiên, A-mốt nài xin Thượng Đế thương xót Y-sơ-ra-ên (-6). Đáng ngạc nhiên thay, Thượng Đế đã thương xót và trì hoan án phạt mặc dầu dân Y-sơ-ra-ên không ăn năn. Trong ba sự hiện thấy sau cùng (7:7-9; 8:1-3; 9:1-4) Thượng Đế cho biết rằng Ngài sẽ không dung thứ họ nữa, Ngài sẽ cất bỏ đền thờ tại Bê-tên, và kết thúc đời trị vì của Giê-rô-bô-am II. Không ai có thể thoát khỏi án phạt của Ngài cả. Tuy có người tưởng rằng sự sửa phạt của Thượng Đế không đụng đến họ được (9:10), nhưng A-mốt cho biết mọi tội nhân trong Y-sơ-ra-ên đều chết.
    Amaxia, thầy tế lễ cả tại đền thờ Bê-tên, tố cáo A-mốt về tội mưu phản và bảo ông hãy tở về xứ Giu-đa nói tiên tri kiếm ăn đi (7:10-13). A-mốt từ chối không nhận những lời nói của Amaxia vì Thượng Đế sai ông đi nói lời Ngài cho Y-sơ-ra-ên (7:14-16)
    Sách được chấm dứt với sứ điệp sau cùng về sự khôi phục đất nước sau thời gian sửa phạt (9:11-15). Lời hứa của Thượng Đế sẽ được dược ứng nghiệm. Vương quốc của Đavít sẽ được dựng lại. Đất đai sẽ đượm nhuần hoa mầu và đầy dẫy dân Y-sơ-ra-ên và dân ngoại là nhưng người cầu khẩn danh Ngài.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Mọi người, Giu-đa và dân ngoại, sẽ chịu trách nhiệm về tội lỗi họ. Thượng Đế ghét bạo lực và sự bức hiếp kẻ yếu.
    2. Đặc quyền kèm theo trách nhiệm. Dân của Thượng Đế sẽ bị sửa phạt nếu họ lạm dụng ân điển của Ngài và không đi theo Ngài.
    3. Nếu không hướng về Thượng Đế, nếu không nhóm họp trong Ngài, thì sự "thờ phượng" chỉ là nghi lễ, là hình thức giả tạo mà Thượng Đế ghét.
    4. Giàu có và thế lực có th ể mang đến một cảm giác an toàn giả tạo và khiến người đó cảm thấy không cần tin cậy Thượng Đế có thể mang đến cho người ta một cảm giác giả tạo về sự an toàn thuộc linh và khiến người ta cảm thấy không cần ăn năn.
    5. Khi THượng đế phán, tôi tớ của Ngài không thể im l ặng. Lời cảnh cáo về án phạt của Thượng Đế phải được công bố, kể cả khi bị chống đối.
    trong Cong Cv 16:1-18:28, Gia cơ trưng dẫn lời hứa về sự khôi phục trong AmAm 9:11-15 để nhắc tín hữu Do Thái trong Hội Thánh đầu tiên biết rằng Thượng Đế muốn cho dân ngoại được dự phần trong Hội thánh của Ngài. Điều này đã mở cửa cho công cuộc truyền giáo của Phao-lô giữa vòng dân ngoại.
    Ô-SÊ: KHÔNG MỘT SỰ HIỂU BIẾT VỀ THƯỢNG ĐẾ, KHÔNG TÌNH THƯƠNG, KHÔNG LẼ THẬT
    Chức vụ của Ô-sê (755 - 25 TC ) được bắt đầu một thời gian ngắn sau A-mốt và t iếp tục cho đến khi Y-sơ-ra-ên sắp sửa bị lưu đày qua A-si-ri khoảng năm 722/21 TC. Ô-sê sanh tại Y-sơ-ra-ên và thành hôn với Gô-me trước thời hưng thịnh của vua Giêrobôam II chấm dứt (OsHs 1:1-4). Trong nhiều năm sau đó, ông thấy sự hỗn loạn, chiến tranh, kinh tế suy đồi (5:8, 9; 8:1), và thuế cao phải nộp cho người A-si-ri (IIVua 2V 15:19, 29). Tuy chức vụ của ông chấm dứt trước khi Y-sơ-ra-ên sụp đổ, nhưng lời tiên tri của ông đã cảnh cáo về sự tiêu diệt hầu đến của dân tộc.
    BỐ CỤC SÁCH Ô-SÊ
    Sự giam dâm trong Y-sơ-ra-ên và gia đình Ô-sê OsHs 3:5
    Lời kiện nghịch cùng Y-sơ-ra-ên về sự gian dâm 14:9
    Không một sự hiểu biết về Thượng Đế 6:6
    Không bền vững trong sự kính yêu đối với Thượng Đế 6:7-11:11
    Không có lòng chân thật trong Y-sơ-ra-ên 11:12-14:9
    Ô-sê dùng sự liên hệ trong hôn nhân như một lời giải thích để mô tả mối liên hệ tình yêu giữa Thượng Đế và dân sự Ngài. Nó được dùng để giải thích nỗi thống khổ của Thượng Đế về sự bất trung của Y-sơ-ra-ên trong mối liên hệ theo giao ước. Sau khi mô tả thảm kịch hôn nhân của mình (1-3), Ô-sê trình bày về vụ án ly dị nghịch cùng Y-sơ-ra-ên. Vụ kiện này gồm có :
    a) Lời tố cáo
    b) tuyên bố sửa phạt và
    c) Lời đề nghị của hy vọng
    hai phần đầu là những phần của tờ ly dị, nhưng Thượng Đế đã kèm theo lời đề nghị của hy vọng ở phần cuối của mỗi phần chứng tỏ tình thương bao la mà Thượng Đế dành cho dân tội lỗi của Ngài.
    SỰ GIAN DÂM TRONG Y-SƠ-RA-ÊN VÀ GIA ĐÌNH ÔSÊ
    Để dạy Ô-sê và Y-sơ-ra-ên về tội lỗi trầm trọng của nước và tình yêu sâu xa của Thượng Đế đối với dân sự Ngài, Thượng Đế bảo Ô-sê hãy lấy một người vợ gian dâm tượng trưng cho mối liên hệ của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên tội lỗi (1:2). Sau một thời gian, Gô-me không còn chung thủy với Ô-sê nữa (đứa con thứ ba dĩ nhiên không phải của Ô-sê, so sánh với 1:31:6), như Y-sơ-ra-ên bất trung với Thượng Đế. Lời cáo ly dị về sự gian dâm buộc tội Gô-me (,5) và sự gian dâm trong việc thờ lạy t hần Ba-anh của dân Ca-na-an kết tội Y-sơ-ra-ên (2L8-13). Trong nỗi uất ức về tội lỗi ghê gớm này, Ô-sê vẫn yêu Gô-me và Thượng Đế vẫn còn yêu Y-sơ-ra-ên nữa (3:1). Vì tình thương của Thượng Đế, những ai chưa là dân Ngài sẽ được làm dân Ngài một ngày nào đó (1:9; 2:23) và vương quốc của Ngài sẽ được thiết lập với một vua thuộc dòng dõi Đa-vít (3:5). Qua kinh nghiệm này Ô-sê hiểu được bản chất của sự ban cho tình yêu không đáng được. Ông bắt đầu thấy được cảm xúc của Thượng Đế khi Y-sơ-ra-ên bất trung trong mối liên hệ giao ước với Ngài.
    LỜI TỐ CÁO Y-sơ-ra-ên VỀ TỘI GIAN DÂM
    Thượng Đế kiện Y-sơ-ra-ên ba điều : không một sự hiểu biết về Thượng Đế, không bền vững trong tình yêu, và lòng chân thật. Lý do dân chúng không có sự hiểu biết về Thượng Đế là cách thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên đã quên lời Chúa (4:6; 5:4) và từ bỏ lời chỉ dẫn của Ngài (4:10). Thay vào đó họ say rượu và hành dâm với phường điếm đĩ tại đền thờ Ba-anh ở Bê tên (4:11-14) . Vì cớ đó Thượng Đế sẽ sữa phạt các thầy tế lễ (5:1, 2) và mang chiến tranh đến cho nước (5:8, 14). Cuối phần này Thượng Đế lập một lời đề nghị chữa lành cho dân sự nếu họ tìm kiếm Ngài và muốn hiểu biết về Ngài (5:15-6:3)
    Lời kiện thứ hai là dân sự đã phạm lòi giao ươc, giết người (6:7-9) , lập các vua xấu xa (7:5-7; 8:3), bang giao với các nước vô đạo (7:8,11; 8:10) , và thờ lạy mấy con bò bằng vàng (8:5, 6). Mỗi lời tố cáo này cho thấy Y-sơ-ra-ên không bền vững trong tình yêu đối với Thượng Đế. Tuy Thượng Đế yêu thương họ và giải cứu họ ra khỏi Ai cập, nhưng họ từ chói tình yêu của Ngài (11:1-4). Thượng Đế phải sửa trị họ, nhưng vì tình yêu sâu đậm, Ngài sẽ không từ bỏ họ. Một ngày nào đó họ sẽ đáp lời và trở lại với Ngài (11:8-11)
    Lời kiện t hứ ba là cả nước đầy dẫy sự phỉnh gạt và dối trá như Gia cốp tổ phụ của họ; không có sự chân thật trong lòng họ (11:12-12:4). Sự thời lạy thần Ba-anh là một sự lừa dối, vì không có một thần nào khác ngoài Thượng Đế (13:1-4). Tuy dân tộc sắp bị tiêu diệt, Ô-sê kêu gọi dân sự hãy trở lại với Thượng Đế để nhận được sự tha thứ và chữa lành của Ngài (14:1-4)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Tội lỗi không phải là việc nhỏ đối với Thượng Đế; đó là sự phản bội trong tình yêu, sự thông dâm với một điều gì đó ngoài Thượng Đế.
    2. Mặc dầu tội lỗi ghê gớm, Tình yêu của Thượng Đế càng sâu đậm hơn. Ngài sẽ tha thứ và chữa lành những ai tìm kiếm và mến yêu Ngài.
    3. Những hoàn cảnh khó khăn trong cuộc sống có thể được Thượng Đế dùng để gây dựng đức tin chúng ta và danh Ngài được v inh hiển trong sự yếu đuối của chúng ta.
    4. Một sự hiểu biết thật về Thượng Đế và lời Ngài, một tình yêu bền vững đối với Thượng Đế, là lòng chân thật là những yếu tố chính trong mối liên hệ cá nhân với Thượng Đế.
    Tân ước, cũng như Ô-sê, dùng mối liên hệ trong hôn nhân để diễn tả mối liên hệ giao ước của một người với Thượng Đế (Eph Ep 2:1-22). Phao-lô và Phi-e-rơ đã trưng dẫn OsHs 1:102:23 để chứng tỏ ân điển của Thượng Đế trong sự cứu chuộc dân Ngoại là sự hoàn thành chưong trình của Ngài trong việc đưa dẫn những ai chưa phải là dân Ngài trở thành dân Ngài (RoRm 5:1-21; IPhi 1Pr 2:10). Chúa Giê-xu trưng dẫn OsHs 6:6 để giải thích rằng Thượng Đế thích tình yêu bền vững hơn là của lễ (Mat Mt 9:13; 12:7)
    GHI CHÚ
    1. Về các tin tức liên quan đến lịch sử, những khám phá khảo cổ và bản đồ của thành Ni-ni-ve, xem D.W.Wiseman, "Nineveh", The lllustrated Bible Dictionary, Vol. II (Leicester : InterVarsity Press, 1980), trang 1089 - 92
    2. E.Good, Irony in the Bible (Piladelphia : Westminster, 1965), trang 39-55, thảo luận một số nét châm biếm trong sách Giô-na.
    3. P.C. Craigie, "Amos the NOQED in Light of Ugaritic", Studies in Religion 11 (1982), trang 29 - 33, cho thấy danh từ "kẻ chăn chiên" (shepherd) trong AmAm 1:1 chỉ người quản lý (manager) bọn chăn chiên.
    4. G.V.Smith, Amos : A Commentary (Grand Rapids : Eedmans, 1989) trang 188 - 89, tin rằng Sa cút (Sakkut) nói đến cách thờ lạy thần tượng của người A-si-ri liên quan tới hành tinh Saturn. Thần này được xem như là vua và được gọi là Ninuta (Ninurta) trong một vài sách.
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Quyền tối cao của Thượng Đế và ý chí tự do của loài người cùng tác động với nhau như thế nào trong câu chuyện của Giô-na ?
    2. Giô-na hiểu sai về Thượng Đế như thế nào ?
    3. A-mốt chương 1 nói gì về trách nhiệm của người vô thần ?
    4. Trong sách A mốt, Thượng Đế lên án của cải hay cách sử dụng của cải ?
    5. Ô-sê học được gì về Thượng Đế qua cuộc hôn n hân của ông ?

    CÁC TIÊN TRI ĐẦU TIÊN TỪ GIU ĐA
    Mi chê và Ê-sai
    Khoảng thời gian : Mi chê 725 - 690 TC ; Ê-sai 750 - 690 TC
    Sau cái chết của Sa-lô-môn (931 TC ) và sự phân chia đất nước ra thành hai nước (xem IVua 1V 11:1-12:33), vương quốc Giu-đa miền Nam phải chịu đau khổ dưới sự lãnh đạo của các vua không còn kính mến Thượng Đế như vua Đa-vít trước kia. Rô-bô-am xây cất trụ thời và tượng Át-tạt-tê và cho phép sự hành dâm trong khi thờ cúng ở khắp Giu-đa (14:22-24). Hai vua A-sa và Giô-sa-phát tìm cách loại bỏ mọi hình thức thờ lạy thần Ba-anh ra khỏi xứ (15:11-14; IISu 2Sb 17:1-6) nhưng tà giáo này vẫn còn thịnh hành tại Giu-đa trong thời gian của hai tiên tri Mi-chê và Ê-sai vì vua A-cha và Ma-na-se lại cổ động cho nó (IIVua 2V 16:1-20; 21:1-26; EsIs 7:1-25)
    Mi-chê và Ê-sai đã trải qua bốn thời kỳ rất khác nhau, dưới bốn đời vua của Giu-đa. Khi Ê-sai bắt đầu nói tiên tri, Ô-xi-a (gọi là A-xa-ria trong IIVua 2V 1:1-7:25) là một vị vua hùng mạnh và thịnh vượng của Giu-đa. Thượng Đế ban phước trên mọi việc người làm, nhưng về sau ông đổi ra ngạo mạn và bị Thượng Đế giáng cho bịnh phung (IISu 2Sb 26:3-21). Ê-sai lên án sự kiêu ngạo (EsIs 1:1-19) và mối quan tâm về việc làm giàu của Giu-đa (3:16-26)
    Khi vua gian ác A-cha lên cầm quyền tại Giu-đa (IIVua 2V 16:1-20), ông thờ các thần ngoại bang và không tin cậy Thượng Đế để được giúp đỡ; cho nên Thượng Đế khiến vua A-si-ri là Tiếc la philêse III buộc Giu-đa phải triều cống như tiên tri Ê-sai và Mi-chê đã loan báo (MiMk 1:12-16; EsIs 7:1-25). Con ông là Ê-xê-chia, một vị vua kính sợ Thượng Đế, phá hủy mọi thần tượng trong xứ Giu-đa và chống lại người A-si-ri bị cô thế trước quân thù đông đảo, Ê-xê-chia đặt trọn niềm tin của ông nơi Thượng Đế. Đáp lại, Thượng Đế sai thiên sứ tiêu diệt quân đội A-si-ri và g iải cứu Giu-đa (EsIs 36:1-37:38; IIVua 2V 18:1-19:36)
    Mặc dầu Ê-xê-chia hết lòng kính mến Thượng Đế, Ma-na-se lại bắt đầu lập lại sự thờ thần Ba-anh trong xứ (21:1-26). Người công bình bị bắt bớ và các mối liên hệ xã hội bị phá hoại bởi sự ngờ vực giữa bà con họ hàng và sự bức hiếp kẻ yếu (MiMk 7:1-6). Mi-chê và Ê-sai đã mang những sứ điệp hy vọng đến cho Giu-đa trong những ngày đen tối này. Thượng Đế không bỏ rơi dânNgài, và một ngày nào đó Ngài sẽ đến để t hiết lập vương quốc của Ngài.
    MICHÊ THƯỢNG ĐẾ SẼ ĐẾN VÌ CÁC NGƯƠI
    Quê hương của Mi-chê ở Moreset gần Gát, một thành phố Giu-đa gần căn cứ quân sự La kít (Lachish) của Phi-li-tin, nhưng ông rao truyền hầu hết các sứ điệp của ông tại thủ đô Giê-ru-sa-lem. Ông bắt đầu chức vụ trước khi Sa-ma-ri thất thủ vào năm 722/21 TC và t iếp tục nhận được các sứ điệp từ Thượng Đế cho đến những năm đầu của đời vua Mênase.
    Sứ điệp tiên tri có thể chia thành ba phần chính. Mỗi phần bắt đầu bằng lời cảnh cáo đoán phạt và chấm dứt với sứ điệp giải cứu và hy vọng.
    BỐ CỤC SÁCH MI CHÊ
    Thượng Đế sẽ đến với quyền năng lớn MiMk 1:1-2:13
    Thượng Đế sẽ phán xét Y-sơ-ra-ên và Giađa 1:1-16
    Lý do về sự phán xét của Thượng Đế 2:1-11
    Thượng Đế sẽ nhóm phần dân sót lại 2:11-12
    Đấng cai trị mới sẽ đến Giê-ru-sa-lem 3:1-5:15
    Thượng Đế sẽ cất bỏ các quan trưởng gian ác 3:1-12
    Si-ôn sẽ có đấng cai trị mới 4:1-5:15
    Dân sự phải đến với Thượng Đế 7:20
    Đến với sự thờ phượng phải lẽ -16
    Đến với hy vọng, chớ không tuyệt vọng -20
    Một số trong các sứ điệp này là những lời tiên đoán về án phạt (3:1-4), trong khi các sứ điệp khác nói về sự cứu rỗi của Đấng Mê-si-a và sự thiết lập vương quốc của Thượng Đế (4:1-5:5). Cũng có lời than khóc về tình trạng bi thảm của Giu-đa (7:1-7) và bản cáo trạng nghịch cùng Giu-đa (-16)
    THƯỢNG ĐẾ SẼ ĐẾN VỚI QUYỀN NĂNG LỚN
    Thời gian đầu trong chức vụ của Mi-chê (trước năm 722/21 TC ) ông thấy sự vinh hiển thánh của Thượng Đế ngự đến với quyền năng từ đền thờ trên trời (-4). Thượng Đế đến để phá hủy mọi thần tượng, đền thờ tà thần, và thủ đô Sa-ma-ri của Y-sơ-ra-ên. Mi-chê cũng thấy và than khóc về sự t iêu diệt hầu đến của Giu-đa (1:8-16). Dùng tên các thành phố để chơi chữ, ông cảnh cáo rằng "thành phố bụi đất" (dust town) Bết lêapra sẽ lăn trong bụi đất, sự "lừa dối" của Ác-xíp sẽ bi lừa dối, và sự hoạn nạn từ Thượng Đế sẽ giáng trên Giê-ru-sa-lem. Tại sao việc này sẽ xảy ra ? Tại vì bọn chủ đất có thế lực ở Giu-đa tham đất ruộng và cướp đi từ kẻ nghèo (-4,9), tại vì dân chúng nghĩa rằng Thượng Đế nhẫn nại và sẽ không bao giờ sửa trị chúng (,7) và tại vì đất nước đi theo bọn tiên tri giả say rượu (2:11)
    Chắc chắn là Thượng Đế sẽ đoán phạt, nhưng Ngài sẽ không dứt bỏ số dân Giu-đa ngay thẳng còn sót lại. Một ngày nào đó Thượng Đế sẽ thâu góp họ lại, vua họ sẽ dẫn họ vào sự tự do (2,13).
    ĐẤNG CAI TRỊ MỚI SẼ ĐẾN GIÊ-RU-SA-LEM
    Để cải tổ Giu-đa, Thượng Đế cần loại bỏ các quan trưởng gian ác đang cai trị Giu-đa (A-cha và giai cấp cầm quyền trong chính phủ). Những ai cai trị bất công bằng cách ngược đãi người khác thì chính họ cũng sẽ bị đối xử như vậy bởi kẻ thù mình (-4,9,10). Các kẻ tiên tri và thầy tế lễ tham tiền quan tâm đến quyền lợi của mình nhiều hơn là truyền đạt lời dạy dỗ của Thượng Đế. Họ không được đầy dẫy Thần của Thượng Đế như Mi-chê, cho nên họ khờ khạo dạy rằng Thượng Đế sẽ không bao giờ xét đoán Giu-đa. Họ từ chối không mạnh dạn lên án dân chúng về tội lỗi của họ (-8,11)
    Trong những ngày sau cùng, đấng cai trị mới sẽ đến Giê-ru-sa-lem và chính Thượng Đế sẽ làm vua trị vì trên Siôn (,7). Lúc đó kẻ nghèo và yếu cùng với dân các nước, sẽ đến Giê-ru-sa-lem và Thượng Đế sẽ dạy họ về đường lối Ngài (4:2, 6, 7). Mọi chiến tranh sẽ chấm dứt và sự phồn thịnh sẽ đầy dẫy trên đất (4:3-5). Tuy quốc gia sẽ phải trải qua sự đau khổ bị lưu đày tại Babylon trước đã (4:9-11), nhưng một đấng cai trị mới và quyền năng (đấng Mê-si-a) sẽ được sanh ra tại Bếtlêhem (5:2). Ngài sẽ mang hòa bình đến cho cả thế giới, khôi phục lại dân sót lại của Giu-đa, và cất bỏ mọi vật trần tục (sức mạnh quân sự, những thành quách,các tà t hần và các tiên tri giả) mà dân sự đặt lòng tin vào (-15)
    DÂN SỰ PHẢI ĐẾN VỚI THƯỢNG ĐẾ
    Trong những năm sau cùng của đời vua Ê-xê-chia, Ma-na-se bắt đầu giới thiệu đường lối tà đạo của ông cho cả nước. Mi-chê loan báo bản cáo trạng 1 của Thượng Đế nghịch cùng Gia-a vì họ đã quên Thượng Đế là Đấng đã giải cứu họ ra khỏi Ai Cập và đã đảo ngược lời rủa sả của Balaam (6:1-4). Họ nghĩ rằng họ có thể làm vui lòng Thượng Đế bằng những nghi thức và nhiều của lễ, nhưng Thượng Đế đòi hỏi dân sự hãy làm sự c ông bình, ưa sự nhân từ và bước đi cách khiêm t ốn với thượng đế (-8)
    Sống trong những năm đầu trong đời vua Ma-na-se thật là chán nản đối với ngay cả tiên tri của Thượng Đế. Mi-chê đã than vãn vì dường như người công bình bị diệt vong, bạo lực xảy ra ở khắp nơi, và chẳng có thể tin tưởng ai được (-6). Nhưng thình lình ông nhớ rằng Thượng Đế là Thượng Đế của cứu rỗi. Ngài nghe và nhậm lời cầu nguyện (7:7, 8). Tuy có một số người nhạo báng Mi-chê (7:10), nhưng ông vẫn vững tin rằng một ngày nào đó dân Giu-đa sẽ trở về và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem sau thời gain bị lưu đày (1,12). Thượng Đế sẽ dẫn dắt họ trở về với quê hương như Ngài đã làm khi họ ra khỏi Ai Cập (7:14-17). Khi nhớ những điều này ông bèn ca ngợi Thượng Đế vì tình yêu bất biến của Ngài đem lại tha thứ tội lỗi và vì lòng thương xót bất tận của Ngài (7:18-20)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Thượng Đế sẽ giáng án phạt cho những ai không cai trị bằng sự công bình
    2. Giáo sư nào ỷ vào sự nhẫn nại của Thượng Đế hay nghĩ rằng Ngài sẽ không bao giờ định tội thì người đó không được đầy dẫy Thần Linh của Chúa.
    3. Nghi lễ vô nghĩa là vô dụng. Thượng Đế muốn dân Ngài có tấm lòng và thái độ khiêm nhường để đối xử công bình và nhân từ với người khác.
    4. Có thể có hy vọng trong hoàn cảnh đầy áp bức và bạo hành nếu sự t in cậy được đặt nơi Thượng Đế và lời hứa của Ngài.
    5. Đấng Mê-si-a đã được sanh ra tại Bếtlêhem đúng như Mi-chê nói (Mat Mt 2:3-6) và một ngày kia Ngài sẽ làm vua trị vì trên khắp cả trái đất. Mọi chiến tranh sẽ không còn nữa và dân tất cả các nước sẽ cùng nhau thờ lạy Ngài.
    Ê-SAI ĐẤNG THÁNH SẼ MANG ĐẾN SỰ XÉT ĐOÁN VÀ CỨU RỖI
    Ê-sai bắt đầu chức vụ tiên tri sớm nhất là vào cuối đời vua Ô-xi-a (khoảng năm 750 TC ) và tiếp tục mãi đến lúc Ma-na-se bắt đầu đồng trị vì với vua Ê-xê-chia (khoảng nă 690 TC ), như vậy ông là người cùng thời với tiên tri Mi-chê. Ê-sai đã lập gia đình và có ít nhất là hai người con (7:3; 8:3). Ông sống tại Giê-ru-sa-lem và nhiều lần nói tiên tri với các vua Giu-đa (EsIs 7:39). Ông ban phát lời tiên tri về sự xét đoán và sự cứu rỗi cho Giu-đa cùng với nhiều nước khác (13:1-27:13). Ông nổi tiếng về những lời tiên tri về Đấng Mê-si-a vừa là vua vừa là tôi tớ chịu thương khó (9:53). Sách của Ê-sai thấm nhuần ý thức về sự thánh khiết của Thượng Đế vì đời ông đã được thay đổi khi ông thấy vinh quang của Ngài, vị vua toàn năng đang ngự trên ngai của Ngài (6:1-13). Sứ điệp của ông được chia thành nhiều phần lớn.
    BỐ CỤC SÁCH Ê-SAI
    Ca ngợi Thượng Đế sẽ hạ thấp sự kiêu ngạo của loài người 1:1-6:13
    Vua hòa bình sẽ chấm dứt mọi chiến tranh của Giu-đa 7:1-12:6
    Chương trình tối thượng của Thượng Đế cho các nước 13:1-27:13
    Tin cậy Thượng Đế hay sức mạnh quân sự 28:1-39:8
    Thượng Đế vô đối sẽ mang đến sự giải cứu 40:1-48:22
    Tôi tớ chịu thương khó sẽ mang đến sự cứu chuộc 49:1-55:13
    Sự khôi phục và phán xét sau cùng của Thượng Đế 56:1-66:24
    Ê-sai là người giảng đạo có ân tứ đặc biệt đã dùng các ví dụ rất khéo léo (ví Giu-đa là một vườn nho trong đoạn 5) và diễn tả rất hay bằng những hình ảnh mạnh dạn (các vua Giu-đa được gọi là các quan trưởng Sôđôm trong 1:10). Sứ điệp của ông là tuyên bố về quyền năng của Thượng Đế giải cứu loài người ra khỏi tội lỗi và các vua ra khỏi sự kiềm chế của các thế lực chính trị mạnh hơn. Ông kêu gọi cả nước hãy tin cậy Thượng Đế vì không có một Thượng Đế nào khác. Thượng Đế sẽ t hiết lập vương quốc của Ngài đời đời.
    CA NGỢI THƯỢNG ĐẾ SẼ HẠ THẤP SỰ KIÊU NGẠO CỦA LOÀI NGƯỜI
    Ê-sai kêu gọi dân Giu-đa bội nghích là những người đã khốn khổ vì bại trận hãy ăn năn, làm điều công bình, và ngưng các nghi lễ tôn giáo vô nghĩa trong đền thờ (1:1-20). Thượng Đế sẽ cất bỏ các người cai trị nước bằng áp bức và các phụ nữ giàu có kiêu căng sống trong thời thạnh vượng của Ô-xi-a (3:1-4:1). Ngài sẽ phá hủy vườn nho quý của Ngài vì nói không sanh trái tốt (5:1-7). Trong những ngày sau rốt Thượng Đế sẽ hạ thấp lòng kiêu ngạo của mọi người khi sự chói sáng của uy nghiêm Ngài được bày tỏ ra trên đất (3,20-17). Giê-ru-sa-lem sẽ được đổi mới, Chồi của Thượng Đế (Đấng Mê-si-a) sẽ ngự tại đó, mọi tội lỗi sẽ được cất đi, và Giê-ru-sa-lem sẽ được xưng là thành thánh (4:2-4)
    Trong năm vua Ô-xi-a băng hà, Ê-sai nhận được sự hiện t hấy về vinh quanh của Vua trên muôn vua đang ngự trên ngai của Ngài trong đền thờ. Ê-sai cảm thấy sự hèn mọn của chính mình, ông được tha tội, và được Thượng Đế sai đi làm cứng lòng những người từ chối không lắng nghe Thượng Đế (6:1-13).2
    VUA HÒA BÌNH SẼ CHẤM DỨT CHIẾN TRANH CỦA GIUĐA
    Trong đời trị vì của vua gian ác A-cha, Giu-đa bị quân Sy-ri và Y-sơ-ra-ên tấn công. A-cha từ chối không chịu tin cậy Thượng Đế để giải cứu (-19), thay vào đó ông cầu cứu sự giúp đỡ của A-si-ri, mặc dù Thượng Đế đã báo trước về sự tận chung của Y-sơ-ra-ên và Sy-ri (8:1-7; 9:8-10:4) cũng như sự tận chung của cả quân A-si-ri ngạo mạn (10:5-19). Trong tình thế tuyệt vọng, Thượng Đế hứa ban hy vọng và hòa bình qua Emmanuên, 3 một trai sẽ được sanh bởi gái đồng trinh (7:14) qua Sự sáng lớn, Vua hòa bình sẽ cai trị đời đời trên ngôi Đa-vít (9:1-7 xem Mat Mt 4:13-16) và qua chồi và nhánh được thần của Thượng Đế ngự trị (1-9). Những lời hứa này sẽ khiến cho dân sự tin cậy nơi Thượng Đế về sự cứu chuộc họ và họ sẽ cảm tạ Ngài (12:1-6)
    CHƯƠNG TRÌNH TỐI THƯỢNG CỦA THƯỢNG ĐẾ CHO CÁC NƯỚC
    Bởi vì các nước đã trở nên kiêu ngạo về sự giàu có và sức mạnh quân sự của mình (13:11, 19; 16:6; 23:9), lời tiên đoán chiến tranh của Ê-sai nghịch cùng các nước đề cập tới sự sụp đổ của Ba-by-lôn, A-si-ri, Phi-li-tin, Mô-áp, Sy-ri, Ê-díp-tô, Ê-đôm, A-ri-bi, và Ty-rơ (13-23). Trong ngày của Thượng Đế, các dân tộc này sẽ bị thiêu hủy khi cơn thạnh nộ của Ngài giáng trên họ (13:6-13). Không ai có thể phá hỏng kế hoạch này cũng như kế hoạch của Thượng Đế về việc tái lập Giu-đa trên phần đất của họ (14:1-3; 16:5). Ngạc nhiên thay, nhiều dân ngoại từ Ai Cập và A-si-ri sẽ đáp lời Thượng Đế và trở nên một phần của dân Ngài (19:19-25). Lời nói của Ê-sai đã khích lệ những người Do Thái lo lắng vì không biết chắc về tương lai của họ. Họ chớ sợ hãi các dân ngoại đạo. Kế hoạch của Thượng Đế ssẽ được làm trọn.
    Các b iến cố này sẽ là điềm báo trước trước về ngày xét đoán sau cùng khi Thượng Đế thiêu hủy mọi vật trên đất bằng lửa. Bởi sự gian ác, Thượng Đế sẽ trừng phạt loài người, các vua, và các t hành kiêu ngạo (24:1-22). Trong ngày đó, Ngài sẽ ngự giữa dân Ngài tại Siôn và được ca tụng. Sự chết và nước mắt sẽ không còn nữa và mọi lưỡi sẽ ca hát vui mừng tại tiệc lớn của Thượng Đế. Người chết sẽ được sống lại, sự vui mừng và cứu chuộc sẽ đầy dẫy khắp đất (25:1-26:19)
    TIN CẬY THƯỢNG ĐẾ HAY SỨC MẠNH QUÂN SỰ
    Ê-sai chuyển từ kế hoạch sau cùng của Thượng Đế cho t h ế gian qua tình trạng của Y-sơ-ra-ên trước khi bị sụp đổ vào năm 722/21 TC . Ông đối chiếu giai cấp lãnh đạo Y-sơ-ra-ên vừa say rượu vừa ngạo mạn (Các vua, thầy tế lễ, và những kẻ t iên tri) không chịu nghe lời dạy dỗ, v ới Thượng Đế là Đấng cai trị trọn vẹn trong sự công b ình và ban những lời chỉ dẫn trung thực cho số người còn sót lại của dân tộc (28:1-29). Họ sẽ bị tiêu diệt, và cả Giu-đa nữa, vì Giu-đa không học từ những sai lầm của Y-sơ-ra-ên. Các tiên tri họ cũng sẽ lừa dối họ. Dân chúng sẽ lấy môi miệng thờ phượng thượng đế nhưng lòng họ thì xa Ngài (29:9-14). Điển hình là giai cấp lãnh đạo đã nương cậy vào Ai cập để cứu giúp mình trước sự tấn công của A-si-ri (30:1-4; 31:1-3). Họ không muốn tin cậy Thượng Đế hay lời nói của đấng t iên tri (30:9-12). Ê-sai đã lên án sự tin cậy vô ích nơi xác thịt. Vì lòng thương xót, Thượng Đế muốn dạy dỗ dân Giu-đa, ban phước cho họ bằng sự thạnh vượng, và giải cứu họ ra khỏ A-si-ri, nhưng trước hết họ phải trở về với Ngài và tin cậy Ngài (30:18-31:9). Để khuyến khích niềm ti n này, Ê-sai nhắc cho dân chúng biết rằng một ngày kia Đấng Mê-si-a là vua lấy nghĩa trị vì sẽ đến và cất bỏ sự đui mù của mắt họ (32:1-8). Ông kêu gọi những đàn bà tự mãn hãy khóc lóc vì sự nguy khốn sắp đến (32:9-14) và ông nói tiên tri về sự ca tụng Thượng Đế khi quân hung bạo A-si-ri bị tiêu diệt bởi vua oai nghiêm của Giu-đa (33:1-24). Êđôm và kẻ thù của Thượng Đế sẽ phải đối diện với cơn thạnh nộ của Ngài (34:1-15) nhưng sẽ có sự vui mừng tại Giê-ru-sa-lem khi những kẻ được chuộc trở về cư ngụ tại Siôn (35:1-10)
    Ê-xê-chia đón nhận sứ điệp này và đặt trọn niềm tin của vua nơi Thượng Đế khi quân A-si-ri bao vây thành Giê-ru-sa-lem (36:1-22). Tuy loài người nghĩ rằng Ê-xê-chia nên đầu hàng, nhưng Ê-xê-chia và Ê-sai đã và đền thờ và cầu nguyện xin Thượng Đế đánh bại quân A-si-ri hầu cho mọi nước t rên đất đều biết chỉ một mình Ngài là Thượng Đế (37:14-20). Thượng Đế nhậm lời cầu nguyện và sai thiên sứ giết 185.000 quân A-si-ri trong đêm đó (37:36). Vì đời sống công bình của Exêchia và lời cầu nguyện của ông với Thượng Đế, ông được sống thêm 15 năm nữa (38:1-22). Ngược với đức tin ban đầu, về sau Ê-xê-chia đã liên hiẹp với Ba-by-lôn hơn là tin cậy trọn vẹn nơi Thượng Đế (39:1-8)
    THƯỢNG ĐẾ VÔ ĐỐI SẼ MANG ĐẾN SỰ GIẢI CỨU
    Tuy các chương này không ghi rõ ngày, nhưng chúng được rao truyền trong những ngày sau cùng của Ê-xê-chia khi đứa con gian ác Ma-na-se của ông bắt đầu cầm quyền. Qua các lời tiên tri này Thượng Đế khuyến khích phần dân còn sót lại trung tín cứ giữ lòng tin cậy nơi Ngài, vì Ngài sẽ giải cứu họ khỏi cảnh lưu đày tại Ba-by-lôn trong tương lai. Nguồn an ủi đã được ban ra vì Thượng Đế sẽ đến với quyền năng để cai trị dân Ngài (40:1-11). Vì không có một quốc gia nào hay một ngoại thần nào có được một phần quyền năng của Thượng đế, cho nên không cần phải khiếp sợ họ (40:12-26). Tuy dân sự bối rối và đui mù về quyền năng của Thượng Đế, nhưng có nguồn hy vọng trong Ngài (40:27; 41:10; 42:18-20). Nếu dân Ngài biết trông đợi và tin cậy nơi Ngài, thì họ sẽ không bao giờ bị kiệt sức (40:27-31)
    Thượng Đế bàn bác bỏ mọi luận điệu của các dân tộc ngoại đạo và thần của họ. Thần của họ không làm được gì cả; chúng chỉ là những khúc gỗ được chạm trổ khéo léo bởi tay người làm nên (41:5-7, 21-24; 44:9-20). Các thần Ba-by-lôn là Bên (người Ba-by-lôn gọi là Mađút "Marduk") và Nêbô sẽ sụp đổ cùng với xứ chúng nó (46:1-47:15). Không có một thần nào khác ngoài Thượng Đế của Giu-đa. Ngài là đầu cũng là cuối, là Đấng thánh, là Đấng Tạo Hóa, là Đấng cứu chuộc và là vua (41:4; 43:10-15; 44:6-8; 48:12). Ngài biết mọi điều đã xảy ra trong lịch sử và đã hoạch định một tương lai cho dân Ngài (43:18-21)
    Sau khi Giu-đa đi lưu đày, Thượng Đế sẽ dấy lên một vua hùng mạnh đánh bại nhiều dân tộc. Vua này là Siru, sẽ cho phép dân Giu-đa trở về quê hương từ Ba-by-lôn để xây dựng lại th ành Giê-ru-sa-lem và đền thơ của Thượng Đế (41:1-4; 44:24-45:7; 48:20 xem đầy đủ hơn trong Exo Er 1:1-6). Điều này chứng tỏ rằng Thượng Đế vẫn còn yêu thương họ, vì Ngài đã chọn họ làm đầy tớ của Ngài. Họ sẽ là chứng nhân của Thượng Đế để rao truyền vinh quang của Ngài giữa mọi dân tộc.
    TÔI TỚ CHỊU THƯƠNG KHÓ SẼ MANG ĐẾN SỰ CỨU CHUỘC
    Ê-sai nêu ra sự tương phản giữa người Giu-đa là đầy tớ không vâng lời (EsIs 42:19) và một đầy tớ khác được Thượng Đế chọn để thiết lập sự c ông bình và chính trực trên đất (4-4). Tuy Ngài sẽ bị khốn khổ ở giữa dân Ngài, nhưng cuối cùng Ngài sẽ là sự sáng cho mọi dân tộc hầu cho sự cứu chuộc của Thượng Đế có thể đến với đầu cùng đất (42:6; 49:4, 6). Trước hết Ngài sẽ bị khinh dễ và sỉ nhục (46:7; 50:6), mặt Ngài chẳng có hình dung, Ngài sẵn sàng chết cho tội lỗi người khác (52:14; 53:3-8). Trong khi đó Ngài nhìn lên Thượng Đế tìm cầu sự giúp đỡ và Thượng Đế sẽ làm Ngài sống lại từ kẻ chết và Ngài sẽ được tôn lên (50:7-10; 52:13; 53:12). Ngài sẽ làm sinh tế chuộc tội dâng lên Thượng Đế để gánh tội lỗi thế gian tuy rằng Ngài vô tội (53:9-11). Đầy tớ chịu thương khó này chính là vua Mê-si-a, là Đấng cứu chuộc, là Chúa Giêxu trong Tân ước (Mac Mc 10:33, 34; Cong Cv 2:35).
    Thượng Đế không chỉ hứa sẽ cứu dân Ngài khỏi tội lỗi nhưng Ngài cũng khuyến khích họ hãy tìm kiếm Thượng Đế, chú tâm vào các điều răn Ngài, và vui hưởng sự giải cứu của Ngài (EsIs 51:1-3). Cảnh lưu đày của họ sẽ sớm được chấm dứt, Ngài sẽ khôi phục lại phần dân còn sót lại tại Siôn và nó sẽ giống như một vườn đẹp đẽ. Đoạn dân sự sẽ cùng nhau hát xướng, cất tiếng rằng, "Thượng Đế của ngươi trị vì ", khi Ngài giải cứu Giê-ru-sa-lem (52:1-10). Thành Giê-ru-sa-lem cằn ỗi và bị bỏ hoang sẽ đông dân cư và đầy sự vui mừng vì tình thương đời đời của Thượng Đế đối với dân Ngài (54:1-8). Nếu họ chỉ tìm kiếm Thượng Đế mà thôi và xây bỏ con đường xấu xa của họ, thì Thượng Đế sẽ tha thứ tội lỗi họ (55:6-8). Tuy đường lối tuyệt diệu của Ngài vượt quá sự h iểu biết của loài người, nhưng lời của Ngài sẽ được hoàn thành theo giao ước đời đời mà Ngài đã lập cùng Đa-vít (55:1-13)
    Sự khôi phục và phán xét sau cùng của Thượng Đế
    Phẩm cách của vương quốc mới mà Thượng Đế khôi phục sẽ được biểu thị bằng sự công bình, việc giữ ngày Sa bát đúng cách (56:1-8), sự kiêng ăn dẹp lòng Thượng Đế và quan tâm tới nhu câu của người bị ức hiếp (58:1-12), và sự xây bỏ khỏi con đường gian ác làm xa cách mình với Thượng Đế (59:1-3). Khi vinh quang của Thượng Đế sáng lòe ra như ánh sáng lòe ra như ánh sáng cứu chuộc cho dân Ngài, mọi dân tộc sẽ tìm đến Giê-ru-sa-lem để thờ phường và dâng của lễ cho Ngài (60:1-9). Thượng Đế sẽ biến đổi sự đau buồn thành sự vui mừng, sa mạc thành vườn hoa, sự đổ nát thành tỉnh thành. Cả nước sẽ được gọi là Siôn thuộc về Đấng Thánh của Y- sơ - ra - ên, sự vui mừng của Ngài sẽ ở trên nó, là dân thánh (62:1-12). Đầy tớ sẽ rao truyền ngày đẹp ý của Thượng Đế , ngày phu tù được tự do, ngày vui mừng và ca ngợi cho những kẻ than khóc (63:1-3). Những biến cố này bao gồm sự phán xét trong ngày sau rốt trên Ê dôm và mọi dân tộc, vì cơn thạnh nộ của Thượng Đế sẽ giáng trên những người chối bỏ Ngài (63:1-7).
    Lời tiên tri của Ê sai được chấm dứt với lời cầu nguyện ca ngợi Thượng Đế về long nhân từ yêu thương của Ngài trong việc giải cứu họ ra khỏi sự đau khổ, một lời xưng tội về tội lỗi và sự bội nghịch cùng Đức Thánh Linh, và lời cầu xin Thượng Đế hãy bày tỏ quyền năng và vinh hiển của Ngài cho dân sự và đừng nổi giận cùng họ nữa (63:7; 64:12).Thượng Đế nhậm lời cầu nguyên này với lời hứa sẽ bày tỏ chính Ngài cho những ai tìm kiếm Ngài và từ bỏ con đường tội lỗi và sẽ hành động vì cớ các đầy tớ trung tín của Ngài bằng cách tuôn tràn ơn phước trên trời mới và đất mới mà Ngài sẽ dựng nên (65:1-25). Cuối cùng , kẻ ác sẽ ở trong nơi có lửa đời đời là nơi sâu bọ chẳng hề chết, nhưng phần còn lại của mọi dân tộc sẽ được thấy sự vinh hiển của Thượng Đế và mọi gối sẽ quỳ xuống trước mặt Ngài (66:18-24).
    Ý nghĩa thần học
    1. Thượng Đế ghét sự kiêu ngao và thích sự khiêm nhường . Sự kiêu ngạo sẽ bị tiêu diệt và chỉ một mình Thượng Đế sẽ được tôn vinh.
    2. Thượng Đế cầm quyền cai trị trên mọi nước ở thế gian. Ngài dùng một số người như dụng cụ trong tay Ngài để trừng phạt nước khác. Thượng Đế giải cứu các nước đặt lòng tin cậy trọn vẹn nơi Ngài hơn là tin cậy vào liên minh với ngoại bang hay vào sức mạnh quân sự.
    3. Thượng Đế sẽ sai Em ma nu ên của Ngài, vua hòa bình, vua cứu chuộc Mê si a trên ngôi Đa-vít, để giải cứ dân Ngài và thiết lập vương quốc Ngài trong sự phồn thịnh, hòa bình và và vui mừng.
    4. Thượng Đế là đầu và là cuối, Đấng tạo hóa, Đấng cứu chuộc và Đấng Thánh của Y- sơ - ra - ên , thế mà Ngài vẫn luôn luôn chăm sóc những ai thuộc về Ngài . Mọi quyền lực của các nước chỉ là vô dụng trước mặt Ngài .
    5. Đầy tớ chịu thương khó đã làm giả chuộc tội lỗi của cả thế gian qua sự chết của Ngài và được suy tôn. Ngài là sự sáng cho mọi dân tộc và qua Ngài nhiều người thuộc dân Giu-đa và dân Ngoại sẽ được coi là thánh và vui hưởng vinh quang trong vương quốc Ngài.
    Ghi chú:
    1. H.B. Huffmon, “ The Covenat Lawsuit in the Prophets “ Journal of Biblical Literature 78 ( 1959), trang 285 -95 .
    2. Chúa Giê-xu trưng dẫn các câu này (Mat Mt 13:14-17), nhận thức rằng một trong những mục đích của chức vụ Ngài là làm cứng lòng kẻ chẳng tin. Điều này không phủ nhận quyền tự do lựa chọn kẻ chẳng tin. Điều này không phủ nhận quyền tự do lựa chọn để ăn năn, nhưng nếu cứ từ chối ă năn, thì Thượng Đế có thể phó họ theo lòng hư xấu và làm cứng lòng họ (RoRm 1:18-32).
    3. Xét theo mạch văn (EsIs 7:15-17) một số người tin rằng lời tiên tri này được ứng nghiệm khi một gái đồng trinh trong thời A cha sanh một trai theo nghĩa tự nhiên. Một số khác lại tin rằng lời tiên tri này được ứng nghiệm hai lần, một trong thời A cha và một lần khác khi Đấng Christ được sanh ra. Một số cho rằng 7:14 chỉ nói về sự giáng sinh của Chúa Giê-xu mà thôi, 7:15-17 lấy khoảng thời gian mà trẻ em có thể hiểu điều nào đúng điều nào sai ( khoảng 3 năm ) làm thước do khoảng thời gian A si ri cai quản A cha và Giu đa.
    4. Hai chương đầu trong H. H Rowley, The Servant of the Lord and Other Essays in theo Old Testament ( London : Nelson , 1952), sơ lược về nhiều cách khác nhau mà người ta đã giải thích phần kinh thánh này .
    Câu hỏi Thảo luận
    1. Một vài đặc tính nào của tiên tri thật ( Mi chê ) và tiên tri giả được tìm thấy trong thời của tiên tri Mi chê ?
    2. Tại sao tiên tri Mi Chê bị nản lòng (MiMk 7:1-6) Làm thế nào sự chú tâm vào quyền năng Thượng Đế có thể giúp ông vượt qua được sự nản lòng đó ?
    3. Yếu tố nào khiến Ê sai (EsIs 6:1-25) sẵn sàng đi đến bất cứ nơi nào Thượng Đế sai ông đi ? Ê sai có dự trù đưa dẫn nhiều người trở về với Chúa không ?
    4. Bằng cớ nào trong Ê sai đoạn 19,45, 49,60 và 66 chứng tỏ rằng mục đích truyền giáo của Thượng Đế là cứu dân của mọi nước.
    5. Tân ước liên hệ như thế nào lời tiên tri của Ê sai trong 7:14; 9:1-7; 49:6; 52:13-53:12; 61:1-3 với đời sống của Chúa Giê-xu ?

    CÁC TIÊN TRI SAU CÙNG TRƯỚC THỜI KỲ LƯU ĐÀY
    Na hum, Sô phô ni, Ha ba cúc, Giô ên
    Khoảng thời gian : Na hum 630 TC ; Sô phô ni 625 TC ; Ha ba cuc 607 TC. Giô ên 590 TC.
    Các biến cố đưa đến sự sụp đổ nước Giu-đa năm 587/86 TC và sự lưu đày tại Ba by lôn có liên hệ trực tiếp tới sự bất lực của giai cấp lãnh đạo quốc gia và sự bội đạo của nó. Ma na se không tin cậy Thượng Đế nhưng dầu phục sức mạnh của A si ri và xây lại các thần tượng và nơi thờ lạy mà Ê xê chia đã phá hủy (IIVua 2V 21:1-26). Sau đó Giô si a ( 640 - 609 TC). Bắt đầu tìm kiếm Thượng Đế vào năm thứ tám trong đời trị vì của vua ( 632 TC) , hủy phá một số trụ thờ vào năm thứ mười hai, và thực hiện một cuộc phục hưng lớn vào năm thứ mười tám khi quyển sách luật pháp Môi se được tìm thấy trong đền thờ (IISu 2Sb 34:1-35:26) . Khi quân A si ri bị đánh bại tại Ni ni ve ( 612 TC), Ai cập cầm quyền tại Giu đa. Vài năm sau đó ( 605 TC ) Ba by lôn đánh bại Ai cập và bắt dân Do Thái đi làm phu tù tại Ba by lôn. Thêm một số khác bị bắt qua Ba by lôn khi vua gian ác Giê hô gia kim cùng con là Gio hô gia kin trở lại con đường thờ thần tượng của Ma na se và bị đánh bại tại Giê-ru-sa-lem năm 597 TC . (IIVua 2V 23:36-24:17) . Vua sau cùng của Giu-đa , Sê đê kia, tiếp nối con đường gian ác và quân Ba by lôn đã trở lại phá hủy đền thờ và mọi thứ trong thành Giê-ru-sa-lem . Nê-bu-cát-nết-sa bắt đám dân cư còn lại dẫn đi qua Ba by lôn làm phu tù chỉ chừa lại trong xứ những người lớn tuổi và những người bị thương (24:18-25:12).
    NA HUM: SỰ THẠNH NỘ CỦA THƯỢNG ĐẾ TRÊN NI NI VE
    Na hum đến từ làng Ên cốt xứ Giu-đa để rao truyền sứ diệp khuyến khích vua Giô si a và dân Giu đa. Tuy Thượng Đế đã khoan dung A si ri sau khi họ đáp lại lời rao giảng của Giô na hơn 150 năm trước, không lâu sau đó họ lại quay trở về đường cũ của mình. Dân A si ri có thủ đô là thành Ni ni ve, họ đàn áp Giu-đa và nhiều quốc gia khác . Nhiều người công bình bắt đầu phân vân không biết Thượng Đế có tiêu diệt dân A si ri như lời tiên tri của Ê sai đã nói không (EsIs 10:5-34) . Thượng Đế đã bày tỏ cho Na hum rằng Ngài vẫn là Thượng Đế toàn năng, là Đấng cầm quyền xét đoán nghịch cùng kẻ ác và làm lành cho người tin cậy nơi Ngài. Những lời tiên tri này đã khuyến khích Giô si a chớ nên dầu phục A si ri nhưng cứ tiến bước trên con đường cải cách chính trị và tôn giáo của vua.
    BỐ CỤC SÁCH NA HUM
    Thượng Đế đóan phạt Ni ni ve NaNk 1:1-2:2
    Sự thạnh nộ và sự tốt lành của Thượng Đế -8
    Thạnh nộ trên Ni ni ve, bình an cho Giu-đa 2:2
    Sự sụp đổ của Ni ni ve 2:3-13
    Lý do khiến Ni ni ve phải bị đoán phạt 3:1-19
    Sự diễn tả linh động của Na hum trận chiến ngịch cùng Ni ni ve và sự hiểu biết về địa lý của các con sông chảy quanh và xuyên qua thành Ni ni ve chứng tỏ rằng tiên tri biết rõ về chiến thuật Thời bấy giờ. Nhưng bản chất sứ điệp của ông không dựa nhiều trên sự hiểu biết về A - si ri nhưng trên sự hiểu biết về đặc tính của Thượng Đế .
    Thượng Đế đoán phạt Ni ni ve
    Na hum bắt đầu lời tiên tri của ông bằng bài thơ nhắc cho người nghe về sự thạnh nộ của Thượng Đế , về quyền năng và sự nhờn từ của Ngài (1:1-8) bởi vì không thể hiểu được đường lối của Thượng Đế nếu không hiểu về đặc tính của Ngài. Ngài là Thượng Đế thánh đòi hỏi một đời sống thánh khiết. Tuy Ngài chậm nóng giận, nhưng Ngài không để cho kẻ thù nghịch Ngài không bị trừng phạt. Ngài cũng là Thượng Đế của quyền năng vĩ đại . Không núi nào có thể đứng vững khi cơn thạnh nộ của Ngài tuôn ra như lửa/ Quyền năng này cũng sẽ bảo vệ những ai tin cậy nơi Ngài khi gặp khó khăn (1:7, 8).
    Nhưng lẽ thật về thần học này áp dụng trực tiếp cho hoàn cảnh của Giu đa. Quyền năng của Thượng Đế sẽ mang đến sự cáo chung cho A si ri là kẻ thù nghịch Ngài (1:9-11). Mặc dầu họ rất mạnh, nhưng Thượng Đế lại mạnh hơn và sẽ mang quân đội đến để tiêu diệt danh tiếng và thần tượng của họ (1:14; 2:1) . Giu-đa sẽ được tự do, hòa bình sẽ đến và Giu-đa một lần nữa sẽ vui mừng và thờ phượng Thượng Đế (1:13, 15).
    Sự sụp đổ của Ni ni ve
    Cuộc bao vây và chiếm đoạt thủ đô Ni ni ve của A si ri được mô tả bằng nhưng hình ảnh sáng chói. Xe ngựa phóng nhanh, vũ khí chạm nhau, lính chiến mặc áo màu điều kinh hoàng, tướng thành sụp đổ gần mé sống, của cải trong cung điện bị cướp đoạt, quân đội chạy trốn, và đàn bà than khóc đều là những cảnh tượng của chiến trận. Tuy quân A si ri gầm thét khắp vùng thượng cổ Cận đông ( Ancient Near East) như một sư tử hung dữ, nhưng Thượng Đế sẽ dẹp tan thế lực và sức mạnh quân sự chúng (2:11-13).
    Lời tiên tri này dường như khó xảy ra được trong thời Na hum vì vua A si ri là Assur banipal là vua hùng mạnh nhất trong các vị vua A si ri. Lịch sử và các cuộc đào xới khảo cổ cho biết rằng thành phố này bị sụp đổ vào năm 612 TC và một phần bị phá hủy do nước lụt gây nên như lời tiên tri Na hum đã dự ngôn (2:6, 8).
    Lý do khiến Ni ni ve phải bị hủy diệt
    Để khuyến khích đức tin của những người nghe lời tiên tri này, Thượng Đế giải thích lý do tại sao Ngài xóa tên Ni ni ve trên bản đồ. Đây là một thành phố đầy cường bạo và đổ máu, họ giết hàng ngàn người vô tội trong các cuộc chinh phục bằng quân sự (3:1-4). Bởi thế nên Thượng Đế sẽ ghét bỏ họ, ném sự ô uế trên mặt họ, và phá hủy hoàn toàn thành phố. Mặc dầu nhiều người nghĩ rằng Ni ni ve là một thành lũy không thể nào chiếm được, nó sẽ bị đánh bại như thành lũy kiên cố Thê bê ( Thebes) Ai cập mà A si ri đã đánh bại năm 663 TC (3:8-12).
    Na hum chấm dứt lời tiên tri của ông với lời nhạo báng nghịch cùng A si ri (3:14-19). Ông chế giễu họ rằng hãy múc nước ( với nước lụt, họ đâu cần phải làm việc này ), hãy làm cho vững chắc đồn lũy bằng gạch mới ( điều này quá trể sau khi vách thành bị sụp đổ ) và hãy sanh sẵn thêm nhiều như cào cáo ( nhưng cào cào sẽ trốn chạy hoặc bay đi). Khi dân chúng nghe về sự sụp đỗ thành Ni ni ve, họ sẽ vui mừng và vỗ tay.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Thượng Đế cầm quyền cai trị mọi dân tộc trên thế gian này . Vài nước sẽ nhận lãnh sự thạnh nộ của Ngài, nhưng Ngài sẽ làm điều lành cho người tin cậy Ngài.
    2. Sức mạnh quân sự và giàu có sẽ không cứu thóat một dân tộc tội lỗi khỏi quyền năng phá hủy của Thượng Đế . Không có một quốc gia nào là không thể bị phá hủy được.
    3. Thượng Đế đã thương xót A si ri khi Giô na rao giảng cho họ, nhưng Na hum chỉ rõ ràng sự nhịn nhục của Thượng Đế đã đủ rồi.
    Phao-lô thấy sự vui mừng khi có lời rao báo về sự hòa bình trong thời Na hum (1:15) giống như sự vui mừng khi tin lành về Đấng Chirst được rao truyền trong thời của ông (RoRm 10:15).
    SÔ PHÔ NI: NGÀY CỦA THƯỢNG ĐẾ
    Tiên tri Sô phô ni đã sống trước khi cuộc cải cách quan trọng xảy ra trong thời vua Giô si a ( 621 TC) vì lúc đó sự thờ thần tượng, cường bạo, và tiên tri giả còn hoạt động (SoXp 1:1-6; 3:1-4) . Câu “ phần sót lại của Ba-anh “ trong 1:4 có thể hiểu rằng Giô si a đã bắt đầu tìm cách loại trừ thần Ba-anh ra khỏi Giê-ru-sa-lem ( 628TC), nhưng công tác đó chưa được hoàn tất. Nếu lời tiên tri này được loan báo khoảng năm 625 TC, thì Giô si a chỉ vừa mới tuyên bố độc lập khỏi sự cai trị của A si ri ( 627 TC) và lời nói này đã khích lệ cuộc cải cách tôn giáo của ông . Tiên tri cảnh cáo về ngày đến của Thượng Đế .
    BỐ CỤC SÁCH SÔ PHÔ NI
    Sự phán xét của Thượng Đế trong ngày của Chúa sô phô ni 1:1-18
    Hãy ăn năn trước ngày của Chúa 2:1-3:8
    Sự khôi phục và vui mừng trong ngày của Chúa 3:9-20
    Ý niệm về ngày của Chúa đến từ niềm tin rằng Thượng Đế là một chiến sĩ thánh đang tham dự cuộc thánh chiến chống lại kẻ thù của Ngài . Khi Ngài đến với quyền năng để đánh bại kẻ gian ác. Ngài cũng sẽ giải cứu dân sự Ngài. Ngày của Chúa sẽ là ngày chiến thắng và vui mừng cho những người yêu mến Thượng Đế , nhưng sẽ là ngày hủy diệt cho kẻ chẳng tin
    Sự phán xét của Thượng Đế trong ngày của Chúa
    Sô phô ni cảnh cáo rằng Thượng Đế sẽ đến và sẽ hủy diệt thế gian, cất đi con người , thú vật, loài chim, và loài cá. Sự đoán phạt này đặc biệt nhằm vào Giu-đa vì một số vẫn còn thơ thẫn Ca na an là Ba-anh, cúi lạy thần Am môn là Man cam ( hoặc Mo lóc ) và cầu khẩn các thần tinh tú của A si ri (1:4, 5 xem Gie Gr 8:2; 19:12) . Dân chúng bác bỏ cuộc vận động cải cách cảu Giô si a, từ chối trở lại cùng Thượng Đế , và cứ tiếp tục con đường thờ lạy thần tượng có từ thời vua Ma na se.
    Sô phô ni nói rằng ngày của Chúa không chỉ là ngày đoán phạt những người vô thần thờ lạy thần tượng . Sự thạnh nộ của Thượng Đế sẽ giáng trên tất cả những người từ chối không theo ngài, kể cả dân Do Thái nữa. Thượng Đế sẽ giết chúng như một của lễ, từ các con trai vua đã đón nhận thói tục lạ cho đến những kẻ làm điều bạo ngược và quỷ quyệt (SoXp 1:7-9) . Mọi nơi trong thành Giê-ru-sa-lem đều bị ảnh hưởng ngay cả khu vực giàu có trong thành nữa ( 0-13)
    Để chỉ nói mối nguy nan trầm trọng đó, Sô phô ni nhắc nhở người nghe về nổi kinh hoàng trong ngày của Chúa ( 4-18) . Ngày đó sẽ là ngày các chiến sĩ can đảm sẽ khóc, dân chúng sẽ đi như kẻ mù, người giàu không mua được sự an toàn cho mình. Thạnh nộ, sâu thẩm, hủy diệt và máu sẽ đầy dẫy khắp nơi . Nó sẽ giống như địa ngục trên thế gian.
    Hãy ăn năn trước ngày của Chúa
    Tin lành là Giu-đa có thể tránh được sự đoán phạt trong ngày của Chúa . Sô phô ni khuyến khích dân chúng hãy nhóm họp nói đến thờ và ăn năn trước khi cơn giận của Thượng Đế giáng trên họ (2:1-3). Nếu họ biết hạ mình xuống tìm kiếm mặt Ngài , và đi theo đường lối của Ngài, thì Thượng Đế có thể tha thứ cho họ.
    Thượng Đế đưa ra lý do thứ hai tại sao họ phải ăn năn. Người Phi li tin, Mô áp, Am môn, và bọn kiêu ngạo A si ri sẽ bị đánh bại và dân trung tín sót lại của Y- sơ - ra - ên sẽ nhận lại đất họ ( -15) . Cuối cùng mọi dân sẽ quý trước Thượng Đế của Giu đa (2:11), cho dễ bị tiêu diệt như người vô thần ? Tuy Thượng Đế hy vọng rằng Giu-đa sẽ kính sợ Ngài và đi theo đường lối Ngài (3:7) , họ không tin cậy Thượng Đế vì giai cấp lãnh đạo chính trị và tôn giáo của họ đã làm ô uế đền thờ và giảng rằng Thượng Đế sẽ không bao giờ phán xét họ (3:1-5)
    Sự khôi phục và vui mừng trong ngày của Chúa
    Nếu dân sự ăn năn thì họ sẽ là một phần của dân sót lại từ khắp nơi trên trên thế giới , có môi miếng thanh sạch, tội lỗi đã được tha, và một đời sống thanh khiết (3:9-13). Những người này sẽ vui mừng vì Thượng Đế , vua của họ, sẽ ở giữa họ (3:14, 15). Thượng Đế cũng sẽ vui mừng về dân Ngài vì trước kia họ yếu đuối và bị áp bức, nhưng bây giờ họ đã được nhóm họp lại và được phước.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Không một tội nhân nào, không một quốc gia nào hay một tôn giáo nào có thể tránh được cơn thạnh nộ trong sự phán xét Thượng Đế vào ngày của Chúa .
    2. Những ai ăn năn và hạ mình xuống sẽ được thanh sạch và sẽ được vui thích trong sự hiện diện của Thượng Đế cho đến đời đời .
    HA BA CÚC: GIẢI QUYẾT THẮC MẮC VỀ SỰ CÔNG BÌNH CỦA THƯỢNG ĐẾ
    Tiên tri Ha ba cúc nói tiên tri sau sự sụp đổ của Ni ni ve năm 612 TC, nhưng trước thời gian phát triển gây ngạc nhiên của vương quốc Ba by lôn dưới đời vua Na bu cát nết sa năm 605 TC. Chức vụ của Ha ba cúc ở tại Giu-đa vào khoảng năm 607TC, trong thời trị vì của vua gian ác Giê hô gia kim (IIVua 2V 23:34-24:17). Bởi vì bài cầu nguyện sau cùng của Ha ba cúc được phổ nhạc để hát trong đền thờ (3:1, 19) , nên một số người tin rằng tiên tri có thể cùng là người Lê vi ca hát trong đền thờ (ISu1Sb 25:1-8:3) Sách của ông được xếp thành ba bài cầu nguyện
    BỐ CỤC SÁCH HA BA CÚC
    Bài cầu nguyện về sự công bình của Thượng Đế trên Giu-đa HaKb 1:1-11
    Bài cầu nguyện thắc mắc về công bình của Thượng Đế 1:12-2:20
    Bài cầu nguyện xin sự thương xót trong thì giờ khó khăn 3:1-19
    Ha ba cúc đã phải đấu tranh với vài nổi khó khăn mà Gióp đã gặp . Cả hai người đều không nghi ngờ về quyền năng hay sự thánh khiết của Thượng Đế nhưng họ đều không hiểu thế nào một Thượng Đế công bình lại có thể cho phép một số sự việc xảy ra. Cả hai đều nhận được khải tượng mới của Thượng Đế và cả hai đều tin cậy vào sự khôn ngoan của Ngài mặc dầu ở trong những hoàn cảnh cực ký khó khăn.
    Bài cầu nguyện xin sự công bình của Thượng Đế trên Giu đa
    Những năm đầu trong đời trị vì của vua Giê hô gia kim đầy những bạo ngược, xung đột, gian ác, bất công, và áp bức người công bình (1:1-4) . Trong lời cầu nguyện, Ha ba cúc hỏi tại sao Thượng Đế lại cho phép kẻ ác không bị trừng phạt và tại sao Ngài không cứu người công bình đã từng trung tín phục vụ Ngài dưới triều vua Giô si a.
    Câu trả lời của Thượng Đế cho thấy rằng Ngài muốn bày tỏ sự công bình của ngài qua một phương cách không ai ngờ được (1:5-11). Xứ Ba by lôn sẽ vụt bùng dậy về sức mạnh và xâm lăng Giu đa, đem đến sự công bình mà Ha ba cúc mong muón bằng cách giết những người hung bạo trong Giu đa, không ai có thể năng cản được sự càn quét tàn bạo của quân đội này ; nó nhanh như hổ báo. Chúng sẽ nhạo báng sức kháng cự của vua yếu đuối xứ Giu-đa và nghiên nát ông.
    Bài cầu nguyện thắc mắc về sự công bình của Thượng Đế
    Mặc dầu Ngài đã trả lời câu hỏi của Ha ba cúc, nhưng chương trình này của Thượng Đế đã đưa đến nhiều câu hỏi quan trọng hơn nữa. Làm thế nào vầng đá thánh đời đời hứa bảo vệ họ (1:12) lại cho phép một nước Ba by lôn gian ác tiêu diệt một dân tộc công bình hơn như Giu-đa (1:13).
    Ha ba cúc đợi và Thượng Đế đã trả lời với hai ý để tiên tri chép trên bảng hầu cho mọi người đều đọc được (2:1-3) . Thứ nhất, người công bình phải sống bởi đức tin nơi Thượng Đế trong những lúc khó khăn (2:4). Vì đường lối mầu nhiệm của Thượng Đế đôi khi vượt quá sự hiểu biết của loài người, Ha ba cúc phải tin cậy Thượng Đế , thứ hai, Thượng Đế chỉ rõ ràng Ba by lôn kiêu ngạo xâm chiếm nưóc khác bằng vũ lực, say sưa trong rượu và thờ lạy thần tượng bằng đá sẽ không được Ngài thừa nhận (2:4-19). Họ sẽ bị gạt bỏ và cường bạo sẽ đuổi kịp họ, vì một ngày kia vinh quang của Thượng Đế sẽ đầy dẫy trên đất (2:14) .
    Bài cầu nguyện về sự thương xót trong thì giờ khó khăn
    Ha ba cúc được trấn an bởi câu lời của Thượng Đế , nhưng điều đó không cất đi sự khó khăn phải trải qua trong cuộc chiến tranh kinh khủng với Ba by lôn. Ông nài xin Thượng Đế hãy nhớ lại sự thương xót khi Ngài đương giận (3:2). Đức tin của tiên tri được củng cố khi ông nhớ lại quyền năng vinh hiển của Ngài trong quá khứ. Không có gì có thể đứng vững trước cơn thạnh nộ của Thượng Đế khi Ngài bước qua đất để cứu dân Ngài (3:12, 13) . Nhận thức được quyền năng của Thượng Đế, Ha ba cúc run sợ khi nghĩ về ngày hủy diệt hầu đến. Tuy nhiên lòng ông vui mừng và chân ông bước đi nhẹ nhàng khi ông đặt đời sống mình trong cánh tay quyền năng của Thượng Đế (3:17-19).
    Ý NGHĨA THẦN HỌC .
    1. Đường lối của Thượng Đế đôi khi mầu nhiệm nhưng được hướng dẫn bởi đặc tính của Ngài. Sự công bình trên đất không có nghĩa là người vô tội chẳng bao giờ đau khổ, nhưng Thượng Đế sẽ ở với người đau khổ.
    2. Người công bình phải sống bởi đức tin. Quyền năng và sự thương xót của Thượng Đế trong quá khứ ban thêm sức mạnh để đối diện với khó khăn hiện tại trong sự vui mừng.
    Nhiều tác giả Tân ước đã trưng dẫn lời nói của Ha ba cúc rằng người công bình phải sốn bởi đức tin (RoRm 1:17; GaGl 3:11; HeDt 10:37) chứ không bởi việc làm. Ap ra ham (SaSt 1:1-31) và Ha ba cúc (HaKb 2:4) nói rõ ràng không ai có thể tạo cho mình con đường đi đến thiên đàng được cả . Sự cứu rỗi đơn thuần đến bởi ân đễn qua đức tin (Eph Ep 2:8-10).
    GIÔ ÊN: NGÀY CỦA THƯỢNG ĐẾ ĐÃ GẦN ĐẾN TRONG TƯƠNG LAI
    Giô ên nói tiên tri một thời gian ngắn trước khi Giê-ru-sa-lem bị sụp đổ vào năm 587/86TC. Dân Giu đã đã bị bắt làm phu tù tại Ba by lôn năm 605 và 597 TC (3:1-3) nhưng đền thờ Giê-ru-sa-lem chưa bị phá hủy (2:16, 17) . Khoảng năm 590 TC, Giô ên rao giảng rằng sự tai vạ cào cào nghiêm trọng là lời cảnh cáo từ Thượng Đế về ngày của Chúa, và ngày tận trung của Giu đa, đã gần.
    BỐ CỤC SÁCH GIÔ ÊN
    Hãy ăn năn vì bây giờ là ngày của Chúa Gio Ge 1:1-2:17
    Hãy than khóc về tai vạ cào cào 1:1-20
    Hãy ăn năn vì sự hủy diệt quân sự đã gần 2:1-17.
    Ân điển và thạnh nộ trong ngày sẽ tới của Chúa 2:18-3:21
    Sự khôi phục và Đức Thánh Linh 2:18-32
    Phước hạnh trên Giu-đa 3:18-21
    Rất khó để xác định rằng sự mô tả về quân đội cào cào trong 2:1-17 có thể hiểu theo nghĩa đen vì nếu vậy thì dường như chương 2 được chép lại những điều dã ghi trong chương 1, hay là hình ảnh cào cào đã được dùng để ám chỉ về quân đội Ba by lôn trong tương lai. Vì cào cào trong chương 1 đã đến và cào cào trong chương 2 sẽ đến trong tương lai, cho nên chương 2 có lẽ ám chỉ quân đội Ba by lôn . 4
    Hãy ăn năn vì bây giờ là ngày của Chúa
    Mọi biến cố bất thường đã xảy ra, một việc mà cha mẹ sẽ kể lại cho con cái nghe trong nhiều năm . Giu-đa đã bị cào cào tàn phá khủng khiếp. Chúng ở khắp mọi nơi và ăn nuốt hết mọi thứ. Mọi người đều than khóc vì không còn rượu nho, không còn trái vả, không còn ngũ cốc để làm của lễ tại đền thờ nữa, không còn mùa gặt cho nông dân nữa và không còn trái trên cây nữa (1:4-12).
    Giô ên không giải thích tai vạ này như một sự bất thường của thiên nhiên nhưng là một sự cảnh cáo từ Thượng Đế . Ông Khuyến khích các thầy tế lễ hãy kêu gọi dân chúng nhóm họp tại đền thờ, bắt đầu sự kiêng ăn trong áo bao gai, và kêu cầu cùng Thượng Đế để được giúp đỡ (1:13, 14). Họ nên khóc lóc vì khi không còn ngũ cốc trong kho và không còn nước dưới sông nữa, thì đó là dấu hiệu chắc chắn rằng ngày của Thượng Đế đã gần (1:17-20).
    Giô ên hình dung ngày của Thượng Đế sẽ là ngày xâm lăng của đạo binh lớn, như cuọc xâm lăng của cào cào ( -17). Vô số loài côn trùng này sẽ chiếm lấy đất và không có gì có thể ngăn cản chúng được . Đây sẽ là ngày trọng đại và đáng sợ của Thượng Đế khi Giu-đa bị tiêu diệt ( được ứng nghiệm năm 587/86 TC). Hy vọng duy nhất là dân chúng hãy nhóm họp tại đền thờ (2:14-17), trở về cùng Thượng Đế , hãy khóc lóc, và kiêng ăn. Biết đâu Thượng Đế sẽ nhẫn nại thêm và khoan dung mặc dầu họ không xứng đáng được hưởng đặc ân này (2:12-13).
    Ân điển và thạnh nộ trong ngày sẽ tới của Chúa
    Giô ên quân bình lời nói của ông về sự phán xét trong tương lai với lời hy vọng trong ngày sau cùng của Thượng Đế . Tai vạ cào cào sẽ được đảo ngược trong ngày đó vì cào cào và đạo binh phương Bắc Ba by lôn sẽ không còn nữa (2:20, 25), ngũ cốc sẽ mọc đầy đồng ruộng, sẽ có sự vui mừng và không còn xấu hổ nữa. Thượng Đế sẽ đổ Thần của Ngài trên mọi loài xác thịt bằng cách mới mẻ và ai cầu khẩn danh Thượng Đế thì sẽ được cứu (2:28-32). Giu-đa sẽ được khôi phục từ chốn lưu đày và các nước sẽ bị đoán phạt (3:1-8).
    Thượng Đế sẽ làm quan án để xét đoán mọi nước trong ngày của Chúa (3:9-14) . Lúc đó mọi người sẽ biết duy chỉ có ngài là Thượng Đế , Ngài sẽ ở tại Si-ôn và nơi đó sẽ là nơi thánh (3:17, 21).
    Ý NGHĨA THẦN HỌC .
    1. Cách duy nhất để tránh sự đoán phạt của Thượng Đế là hết lòng ăn năn và tin cậy vào lòng thương xót của Ngài.
    2. Trong ngày cuối cùng của Chúa, Thượng Đế sẽ đoán phạt kẻ ác và ban phước cho người công bình với sự hiện diện của Ngài.
    Phi e rơ rao giảng rằng lời tiên tri của Giô ên về sự ban Đức Thánh Linh cho tất cả loài xác thịt (Cong Cv 2:17-21; Gio Ge 2:28-32) bắt đầu được ứng nghiệm trong ngày lễ Ngũ Tuần. Phao-lô dạy rằng điều cần thiết là hãy cầu khẩn danh Thượng Đế để được cứu (RoRm 10:13; Gio Ge 2:32).
    GHI CHÚ
    1. C.J. Gadd, The Fall of Nineveh ( London : British Museum 1923), trang 25-30 và H.W. F Saggs “ Nahum and the Fall of Nineveh” Journal of Theological Studies 20 ( 1969), trang 220 -225, đã thảo luận về vấn đề này .
    2. M. Weiss, “ The Orgin of the Day of the Yahweh Reconsidered” Hebrew Union College Annual 37 ( 1966), trang 29-72, thảo luận về nhiều cách giải thích khác nhau về ngày của Chúa.
    3. R.L. Smith, Micah Malachi ( Waco: Word , 1984) , trang 93, nhưng đây chỉ là một sự phỏng đoán.
    4. D. Stuart, Hosea -Jonah ( Waco : Word, 1987), trang 232 - 34
    Câu hỏi thảo luận .
    1. Làm thế nào Thượng Đế có thể là Thượng Đế của cả thạnh nộ và tốt lành ?
    2. Có thích hợp cho tín đồ thắc mắc, về sự công bình của Thượng Đế không ? Làm thế nào một người có thể vượt qua sự nghi ngờ trong những lúc khó khăn .
    3. Mô tả ngày của Thượng Đế cho người công bình trong SoXp 3:9-20?
    4. Giô ên đã nói gì để bày tỏ bản chất của sự ăn năn thật ?

    CÁC TIÊN TRI SAU CÙNG TRƯỚC THỜI KỲ LƯU ĐÀY
    GIÊ RÊ MI, CA THƯỢNG ÁP ĐIA
    Khoảng Thời gian : Giê rê mi 627 - 580 TC, Ap đia 585 TC.
    Giê rê mi làm tiên tri cho Thượng Đế tại Giu-đa cùng với Sô phô ni trong đời trị vì của vị vua công bình Giô si a, với Ha ha cúc trong đời vua gian ác Giê hô gia kim, và với Giô ên trong đời vua Sê đê kia, vị vua sau cùng của Giu-đa ( xem chương 8). Vài năm sau khi Sê đê kia lên ngôi ( 597 TC) vua đã c hống nghịch cùng Nê bu cát nết sa.
    Không lâu sau đó, Ba by lôn bào vây Giê-ru-sa-lem và năm 587/86TC, thành phố và đền thờ bị đốt cháy (IIVua 2V 24:18-25:21). Một số người Do Thái chạy sang các nước lân bang như Ê đôm để tránh chiến tranh , một số khác bị tử trận, và hầu hết những người còn sót lại tại Giu đa, nhưng sau đó ít lau ông bị giết và nhóm người Do Thái sót lại chạy trốn sang Ai cập (Gie Gr 40:1-44:30)
    GIÊ RÊ MI: VƯỢT QUA SỰ LỪA DỐI VÀ BẮT BỚ
    Giê rê mi xuất thân từ một gia đình thầy tế lễ ở A na tốt, một thành phố của Bên gia min cách Giê-ru-sa-lem khoảng 4 dặm về phía đông Bắc Giê-ru-sa-lem (1:1). Giê rê mi đã chịu khổ qua cơn bắt bớ lớn bởi tay hai vua sau cùng của Giu-đa và chính họ hàng ông cũng tìm cách giết ông (11:18-23). Ông đã vật lộn với lý do tại sao Thượng Đế khiến ông phải trải qua những kinh nghiệm đau thương này. Ông kêu cầu trong sư bực mình với nhiều lời than vãn (12:1-6; 15:10-21; 18:19-23; 20:1-23). Ông đã vật lộn với lý do tại sao Thượng Đế khiến ông phải trải qua những kinh nghiệm đau thương này. Ông kêu cầu trong sự bực mình với nhiều lời than vãn (12:1-6; 15:10-21; 18:19-23; 20:12-13). Qua mọi khó khăn này Giê rê mi nhận thức rằng không có gì là khó quá mà Thượng Đế không hoàn thành được (32:17, 18)
    BỐ CỤC SÁCH GIÊ RÊ MI
    Lời tiên tri và cầu nguyện của Giê rê mi 1:1-20:18
    Lời kêu gọi đầu tiên phải ăn năn 1:1-9:26
    Lời khuyến khích và than vãn 10:1-20:18
    Lời cảnh cáo liên quan đến sự sụp đỗ thành Giê-ru-sa-lem 21:1-29:32
    Lời hứa hy vọng và khôi phục 30:1-33:26
    Những ngày sau cùng của Giê-ru-sa-lem 34:1-45:5
    Lưu đày qua Ai cập 40:1-45:5
    Sự phán xét của Thượng Đế trên các nước lân bang 46:1-51:64
    Tường thuật lịch sử về sự sụp đỗ thành Giê- su -sa -lem 52:1-34
    Trong các đấng tiên tri, Giê rê mi là người cở mở nhât cho biết về sự dằng co giữa ông và sự kêu gọi nói tiên tri, về sự khó khăn ông gặp với các tiên tri giả khi họ lừa dối dân chúng bằng lời nói bình an ( 28,29) , và sự bực mình của ông về việc bị đánh dòn và ngục tù mà ông phải chịu ( 2-6, 37:1-38, 28). Lời cầu nguyện, của ông cho thấy sự buồn lòng của ông đối với sự không sẵn lòng ăn năn của dân tộc và nổi thống khổ của ông về những trò lừa dối của cả nước (7:1-15, 18; 9:1). Tuy vậy, Giê rê mi vẫn có được tình thương sâu đậm cho dân sự ông, ngay khi họ chìm đắm trong sự thờ thạy thần tượng và sắp bị tiêu diệt .
    Lời tiên tri và cầu nguyện Giê rê mi
    Giê rê mi được chọn làm tiên tri cho Thượng Đế trước khi ông được sanh ra. Tuy ông không cảm thấy thích hợp với trách nhiệm rao truyền những lời tích cực và tiêu cực của Thượng Đế (1:6-10). Ngài đã làm tiếp sức cho ông và hứa sẽ lập ông làm thành vững bền để chống lại những người bức hiếp ông (1:17-19).
    Trong những lần rao giảng đầu tiên trong đời Giô si a, Giê rê mi nên sự tương phản giữa tình yêu mến ban đầu của dân chúng đối với Thượng Đế cùng mối liên hệ thánh đặc biệt với Ngài (2:2, 3) với sự chối bỏ luật pháp Thượng Đế hiện nay, sự phóng túng trong việc thờ thần Ba-anh, và niềm tin hão huyền rằng họ không làm điều gì sai cả (2:4-37). Ông thách thức họ hãy xưng nhận tội lỗi và trở về cùng Thượng Đế hầu cho Ngài có thể thiết lập vương quốc Mê si a tại Giê-ru-sa-lem (3:11-18; 4:1-4) . Dân chúng tự cho là họ hiểu đường lối Thượng Đế và nghỉ rằng họ là người khôn ngoan. Nhưng họ không làm điều công bình hay nói lời chân thật, nên Thượng Đế không thể tha thứ tội lỗi họ (5:1-9; 8:4-9) . Họ không kính sợ Thượng Đế vì tiên tri giả đã lừa dối dân chúng với lời hứa bình an (5:11-13, 20 -14, 30 - 31; 6:13-15; 8:10-12)
    Dân chúng cũng bị lừa dối bởi sự thờ phụng trong đền thờ. Họ nghĩ rằng nếu họ đi đến đền thờ, thì mọi việc đều sẽ tốt đẹp . Nhưng Thượng Đế yêu cầu họ hãy cải thiện đường lối của họ và chấm dứt tình trạng bức hiếp kẻ nghèo, trộm cắp, thề dối, và dâng của lễ cho thần Ba-anh (7:1-10). Họ cần khoe mình trong Thượng Đế hơn là khoe sự giàu sang và quyền thế của mình (9:23, 24). Nếu họ không thay đổi, Thượng Đế sẽ tiêu diệt họ và đền thờ (7:14, 15) . Điều này đã mang đến một sự đau buồn lớn cho Giê- rê mi. Ông than khóc vì không còn cách nào để chữa lành Giê-ru-sa-lem (8:18-9:1; 10:19-25).
    Về sau này trong đời của vua Giê hô gia kim ( 609 - 597 TC) . Giê rê mi đã chỉ trích dân chúng vì họ thờ lạy các miếng gỗ với dây chuyền vàng. Các thần này là hư không và không thể bưóc đi hay nói được . Thượng Đế là Vua của muôn dân, là Thượng Đế hằng sống, là Đấng sáng tạo và là di sản của dân Do Thái. Các thần tượng này chỉ là ngu muội, là lừa phỉng ,là nhạo báng lẽ thật (10:6; 16:1-21) . Nếu thờ lạy chúng, thì dân chúng đã phạm lời giao ước với Thượng Đế (11:1-13). Cho nên, Thượng Đế đã bỏ rơi và ghét bỏ dân yêu dấu của Ngài và buộc lòng phải tiêu diệt đất của họ (12:6-13). Trong nước mắt Giê rê mi xưng tội lỗi của cả nước và nài xin long thương xót của Thượng Đế (14:7-22), nhưng giờ phán xét đã đến và Thượng Đế từ chối không lắng nghe lời cầu nguyện của Giê rê mi (14:11; 15:1).
    Khi Giê rê mi nói tiên tri về sự sụp đổ thành Giê-ru-sa-lem , sự bắt bớ đã đến với ông. Sau khi một vài người A na tốt tìm cách giết ông, ông đã than khóc cho tình trạng bấp bênh của mạng sống mình (11:18-23), than phiên về sự hưng thịnh của kẻ ác (12:1-6), và từ chối lời kêu gọi nói tiên tri đầy vất vả của ông (15:10-18). Thượng Đế khiển trách Giê rê mi và thách thức ông hãy can đảm lên (12:5 ) và ăn năn về những lời than phiên của mình hầu cho Thượng Đế có thể dùng ông nữa trong chức vụ tiên tri của Ngài (15:19-21). Về sau này khi Giê rê mi bị đánh dòn và bỏ tù, ông đã kêu gào với Thượng Đế trong nổi thống khổ vì ông k hông thể chịu đựng được nữa những lời chế giễu và bạo lực nghịch cùng ông (20:7-11) . Dường như Thượng Đế đã lừa gạt ông khi Ngài kêu gọi ông ; và có lẽ thà ông không sanh ra còn hơn ( 2 , 14 -18).
    Trong thời gian này, Giê rê mi đã thực hiện nhiều bài học qua biểu tượng ( symbolic lessons). Đai gai mực tượng trưng cho sự vô dụng của Giu-đa (13:1-11) , chẳng ai than khóc trước cái chết của vợ Giê rê mi là hỉnh về những điều sẽ xảy ra khi Giu-đa sụp đỗ (16:1-9) , thợ gốm nắn bình tương tự như quyền cai trị của Thượng Đế trên một nước (18:1-12) , và chiếc bình bị bể tượng trưng cho việc Thượng Đế làm dân sự Ngài tan vỡ (19:1-13)
    Lời cảnh cáo liên quan đến sự sụp đỗ thành Giê-ru-sa-lem
    Hầu hết các kỷ thuật dùng để diễn tả cách đối đãi của Giê rê mi với vua Giê hô gia kim hay Sê đê kia hơn là nói với vua Sê đê kia rằng Thượng Đế sẽ tiêu diệt thành Giê-ru-sa-lem và chỉ có một cách duy nhất để sống còn là đầu hàng Ba by lôn (21:1-10). Các vua Giu-đa đã không cai trị bằng sự công bình, thay vào đó họ đã làm đổ máu người vô tội và từ chối không đi theo Thượng Đế ; cho nên, Ngài định sẽ tiêu diệt họ nếu họ không ăn năn (22:1-23:2). Số dân công bình sót lại ( trái vả tỏi ) sẽ đến từ những người lưu đày tại Ba by lôn (24:1-10) . Sau bảy mươi năm một một số hồi hương (25:12; 29:10). Đoan Thượng Đế sẽ chăn dân Ngài và sai vua Mê si a từ dòng dõi Đa-vít đến cai trị họ trong sự công bình (23:3-8)
    Thượng Đế cũng sẽ loại bỏ các tiên tri lừa dối là những kẻ mạo nhận là Thượng Đế đã phán với họ (23:9-40). Một số trong những kẻ này đã tìm cách giết Giê rê mi khi ông loan báo sự hủy diệt đền thờ (26:1-1:9) và sau này Ha-na-nia cùng các tiên tri ở nơi lưu đày đã nói ngược lại với lời tiên tri của Giê-rê- mi đã nói rằng sự lưu đày sẽ kéo dài 70 năm ( 28-29).
    Lời hứa hy vọng và khôi phục
    Lời hy vọng của Giê rê mi được loan ra gần cuối đời vị trí của vua Sê đê kia trong khi thành Giê-ru-sa-lem bị bao vây bởi Quân Ba by lôn và dân chúng không còn hy vọng sống sót nữa (32:1). Khi sức lực của con người không còn nữa (30:5-7). Thượng Đế muốn bảo đảm với cả nước rằng qua quyền năng của Ngài, Ngài sẽ tiêu diệt Ba by lôn và phục hồi họ sau thời gian lưu đày (30:8-11). Bây giờ không có một phương thuốc nào để chữa lành vết thương bất trị mà Thượng Đế đang giáng trên họ (30:12-15). Trong tương lai Thượng Đế sẽ khôi phục lại Giu-đa trong sự sung túc, xây dựng lại các thành phố, và ban cho cả nước đầy dẫy sự vui mừng (30:17-22). Trong tình yêu thương nhân từ của Ngài, Thượng Đế sẽ lập lại giao ước với họ ; đây sẽ là giao ước mới đời đời được viết trong lòng họ (31:1-3, 31-37). Giê rê mi tin vào lời hứa của Thượng Đế rằng đất nước sẽ được khôi phục . Ông biết không có gì là khó quá cho Thượng Đế ; cho nên, bởi đức tin ông đã mua một vài lô đất của người chú ở A na tốt (32:6-17). Vì Thượng Đế đã tạo dựng nên thế gian và kiểm sóat mọi người trên đó, cho nên có thể tin rằng Thượng Đế sẽ tẩy sạch tội lỗi của Giu đa, khôi phục lại dân sự và vui mừng trên đất, đặt Chồi Mê si a từ dòng Đa-vít trên ngôi và tái lập sự thờ phượng trong đền thờ (33:1-22)
    Những ngày sau cùng của Giê-ru-sa-lem
    Các đạo binh Nê-bu-cát-nết-sa hiện đang bao vây thành Giê-ru-sa-lem (34:2) và dường như chẳng còn bao nhiêu hy vọng. Trong lúc này dân chứng hứa nguyện với Thượng Đế trong đền thờ là họ thả những người Do thái nô lệ của họ với hy vọng rằng Thượng Đế sẽ thương xót họ (34:8-16). Một thời gian ngắn sau đó khi đạo binh Ai cập tiến đánh Palestine , quân Ba by lôn đã rút khỏi Giê-ru-sa-lem để giao tranh với chúng (37:5-11). Khi các người giàu có Giu-đa thấy vậy, họ liền bắt lại các người nô lệ mà họ vừa tha, bất chấp lời thề mà họ đã thề với Thượng Đế (34:11). Thượng Đế rất tức giận với dân chúng vì họ không kính trọng hay vâng lời Thượng Đế như người Rê cáp ( 35) . Đây là lề thói mà dân chúng và các vua đã quen làm từ khi Giê hô gia kim đốt sách tiên tri chứa đựng lời Chúa (36)
    Vì Giê rê mi quyết tâm kiên trì rao bán sự đoán phạt của Thượng Đế trên Giu đa, nên ông bị cáo gian là mưu phản, ông bị đánh đòn, bị bỏ tù (37) và về sau bị quăng xuống giếng cho chết. Giê rê mi lún bùn đến nách, nhưng người đầy tớ Ê thi ô bị kính sợ Thượng Đế cùng với 30 người khác dùng dây kéo Giê rê mi lên (38:1-13). Cuối cùng quân thù tiến vào thành và giết nhiều nhân viên chính quyền, làm đui mắt Sê đê kia và phá hủy vách thnàh cùng với nhà cửa lòng thành phố (39:1-10). Trong ân điển của Thượng Đế , Giê rê mi và người đầy tớ Ê thi ô bi của vua được đổi đi tử tế vì họ tin cậy Thượng Đế (39:11-18)
    Lưu đày qua Ai cập .
    Ghê đa lia là quan thống mới được Nê-bu-cát-nết-sa chọn để cai trị dân Do Thái là những người sót lại trên Giu-đa và những người đã chạy qua Ê đôm và Mô áp trước khi quân Ba by lôn tấn công thành Giê-ru-sa-lem . Chẳng bao lâu, ích ma ên đã giết Ghê đa lia và tàn sát 80 người vô tội (40:13-41:3). Sợ bị quân Ba by lôn trả thù , số dân còn lại đã đi đến Bết lê hem định mời Giê rê mi cầu nguyện để xem phải chăng đây là ý của Thượng Đế . Họ thề sẽ làm mọi điều Thượng Đế phán, nhưng khi Giê rê mi nói với họ rằng Thượng Đế sẽ rủa sả họ nếu họ đi qua Ai cập hoặc sẽ ban phước dồi dào trên họ nếu họ tin cậy Thượng Đế và ở lại Giu đa, thì họ nghĩ rằng Giê rê mi nói dối họ (40:1-41:3). Hậu quả là Thượng Đế giáng sự rủa sả trên tất cả mọi người ngoại trừ Ba rúc (45:1-5) bởi vì họ không tuân theo lời Ngài, đi xuống Ai cập , và dâng của lễ cho thần Ai cập ( 4, 44:30).
    Sự phán xét của Thượng Đế trên các nước lân Bang
    Tuy Giu-đa bị tiêu diệt, nhưng Thượng Đế không muốn dân chúng hiểu lầm rằng các nước lân bang sẽ thóat khỏi sự đoán phạt. Giu-đa có mối liên hệ đặc biệt với Thượng Đế và phải chịu nhiều trách nhiệm hơn, nhưng mỗi người trong mỗi quốc gia đều sẽ chịu trách nhiệm hơn, nhưng mỗi người trong mỗi quốc gia đều nhiều trách nhiệm hơn, nhưng mỗi ngường trong mỗi quốc gia đều sẽ chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Giu-đa nên tin nơi Thượng Đế , chứ đừng tin vào các nước này. Thượng Đế sẽ đánh bại các đạo binh hùng mạnh nhất của Ai cập bằng quân lực của Ba by lôn (46). Am môn, Ê đôm, Sy ri, Kê đa, Ê lam sẽ cùng chung số phận khi Thượng Đế nắm quyền cai trị trên đất họ ( 49). Giê rê mi cùng gởi sứ điệp với Sê ri a ( Seriah) sang cho dân chúng tại Ba by lôn . Ngay đến nước vĩ đại Ba by lôn cũng sẽ sụp đổ ( 50-51). Đoạn Thượng Đế sẽ mang dân còn sót lại trở về Giu-đa (50:28-34)
    Bài tường thuật có tính cách lịch sử về sự sụp đỗ thành Giê-ru-sa-lem
    Sách Giê rê mi được kết thúc bằng sự mô tả về trận chiến cuối cùng tại Giê-ru-sa-lem , một hồ sơ liệt kê những chiếc bình mà quân Ba by lôn đã cướp đi từ đền thờ, và là một bản ghi chép về việc Ba by lôn tha thiết cho vua Giu da Giê hô va gia kim sau 37 năm lưu đày.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Thượng Đế làm vững lòng những người Ngài kêu gọi và ban cho họ lời Ngài.
    2. Khi dân chúng bị lừa dối bởi lời giảng sai lạc, đăt niềm tin không đúng chổ vào nơi thờ và nghi thức tôn giáo, hoặc tưởng lầm họ biết được những gì Thượng Đế có thể nói hoặc không thể nói, đó chính là lúc sự phán xét gần đến.
    3. Những người kính sợ Thượng Đế có thể bị bắt bớ nhiều, nhưng họ đừng phục tòng những áp lực của đám đông, tôn giáo, hay bạc cầm quyền. Những áp lực trong mục vụ đôi khi khiến cho ta muốn nghỉ việc, nhưng nếu thật lòng dâng những điều này lên cho Thượng Đế trong sự cầu nguyện thì sẽ được bình an.
    4. Tín đồ nên khóc lóc, đừng vui mừng về sự phán xét của Thượng Đế trên kẻ ác, và cầu thay để họ được hưởng sự thương xót của Thượng Đế .
    5. Thượng Đế cầm quyền cai trị trên mọi vật. Ngài có thể tiêu diệt nước mạnh cũng như Ngài có thể tha thứ dân Ngài từ chốn lưu đày và yếu đuối. Thật ra, không có gì là khó quá cho Thượng Đế cả.
    Sự mô tả về giao ước trong 31:31-34 được liên kết với sự chết của Chúa Giê-xu (HeDt 8:7-13; 9:15) vì Ngài là Đấng trung bảo của giao ước mới. Trong bữa ăn tối sau cùng Chúa Giê-xu thiết lập lễ Tiệc Thánh và dùng nó như một dấu hiệu về giao ước mới (LuLc 23:20; ICo1Cr 11:25).
    CA THƯƠNG: ĐIỀU TỐT VÀ ĐIỀU XẤU ĐỀU ĐẾN TỪ THƯỢNG ĐE
    Sách Ca thượng bao gồm năm bài ai ca bày tỏ sự sầu thảm của dân chúng về sự sụp đổ của Giu-đa và sự hủy diệt của thành phố Giê-ru-sa-lem thân yêu. Hầu hết đều tin rằng Giê rê mi viết các bài ca này vào năm 586 TC, một thời gian ngắn sau khi quân Ba by lôn dến tàn phá và đốt cháy thành phố Giê-ru-sa-lem 2. Các bài ca này mô tả sự tàn phá khủng khiếp và sự tàn bạo mà tác giả đã chứng kiến . Những bài ca này nhìn nhận rằng tội lỗi là nguyên nhân của hành động này từ Thượng Đế và nhìn phía sau của nổi thống khổ hiện tại để thấy một Thượng Đế thành tín và thương xót có thể khôi phục lại đất nước.
    BỐ CỤC SÁCH CA THƯƠNG
    Than khóc cho sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem CaAc 1:1-22
    Ngày nổi giận của Thượng Đế về tội lỗi 2:1-22
    Lời cầu nguyện xin Thượng Đế thương xót 3:1-66
    Sự vây hãm thành Giê-ru-sa-lem 4:1-32
    Lời nài xin được sự khôi phục của Thượng Đế 5:1-22
    Các bài ca này ( ngoại trừ chương 5) được viết rất công phu theo thể “ chiết cú thi” ( acrostic form) mà mỗi câu được bắt đầu bằng một mẫu tự trong mẫu tự Hê bơ rơ 3 Các bản bài ca đôi khi được lặp đi lặp lại, nhưng mỗi bản đều có nét tinh túy riêng để than khóc cho sự mất mát và nhục nhã quá lớn mà dân sự cảm nhận. Điều đáng chú ý là các bản bài ca này không hề có lời trách Thượng Đế về tai biến này nhưng thấy Ngài như một Đấng đoán phạt công bình về tội lỗi của họ.
    Than khóc cho sự hủy diệt thành Giê- su -sa -lem
    Giu-đa khóc than vì nó đã trở thành nô lệ cho ngoại bang. Sự buồn thảm xảy ra khắp nơi vì sẽ không còn sự thờ phượng nơi Si-ôn nữa, không còn các quan trưởng, các thầy tế lễ, và dân chúng nữa. Họ đã phạm tội với Thượng Đế và Ngài đã phó họ vào tay kẻ thù. Họ nài xin Thượng Đế hãy nhìn xem sự xúc phạm đến đền thờ, hãy giang tay an ủi họ trong cảnh khốn cùng và trừng phạt kẻ thù của họ .
    Ngày nổi giận của Thượng Đế về tội lỗi
    Cơn giận của Thượng Đế không tha cho Giu đa. Thiên binh đã đạp đỗ sự phòng ngự của nó, bắn mũi tên của Ngài, và sai lửa thiêu đốt đền thờ. Ngài phá hủy vách thành, cổng và cung điện. Các tiên tri, trưởng lão, gái đồng trinh và các bà mẹ mặc áo gai và ngồi trong tro bụi. Các tiên tri giả nói lời giả dối và kẻ thù khinh bỉ và cười chê. Ô, xin Thượng Đế hãy nhìn xem và thấy sự khóc lóc, sự chết, sự hung bạo, sự đau đớn do gánh chịu cơn giận của Thượng Đế .
    Cầu nguyện xin Thượng Đế thương xót .
    Sau khi nhận thức mọi việc xảy ra đều trong chương trình của Thượng Đế để sửa phạt dân Ngài, người than khóc bên hướng về Thượng Đế với niềm hy vọng. Vĩ đại thay sự thành tín của Ngài. Ngài là dấng giải cứu của những ai tìm kiếm Ngài. Sau khi sự công bình được thực hiện. Thượng Đế sẽ tỏ lòng thương xót nếu họ quay trở lại với Ngài . Rồi họ sẽ không còn sợ hãi nữa, vì Thượng Đế sẽ giải cứu họ và đoán phạt kẻ thù họ.
    Sự vây hãm thành Giê- su -sa -lem .
    Tuy Giê ru sa lem là nơi đẹp đẽ, khi cuộc vây hãm bắt đầu thì mọi việc sẽ thay đổi. Vàng bị mất đi, dân chúng trở thành độc ác, kẻ giàu trở nên nghèo, vải trắng của thầy tế lễ sẽ trở thành nên đen như lọ nồi, và một số người sẽ ăn thịt chính con cái mình . Lửa sẽ lan tràn khắp Si-ôn vì sự ô uế của dân chúng khiến Thượng Đế bỏ nơi họ. Kẻ thù đã đến để tiêu diệt và Ê đôm vui mừng về việc này.
    Lời nài xin được sự k hôi phục của Thượng Đế .
    Bài bi ca sau cùng mô tả sự thiếu tự do trong tình trạng tuyệt vọng hiện tại . Họ không có bánh, đàn bà của họ bị hãm hiếp, và họ không có sự vui mừng vì tội lỗi của họ. Bài bi ca được chấm dứt với lời xác nhận chắc chắn về quyền cai trị đời đời của Thượng Đế trên toàn thể nhân loại. Vì đây là sự thật, nên họ có thể tin chắc vào sự khôi phục .
    Ý NGHĨA THẦN HỌC .
    1. Thật là một điều kinh hoàng và ghê sợ khi rơi vào bàn tay giận dữ của Thượng Đế . Cơn thạnh nộ của Ngài sẽ lấy công bình sửa phạt tội nhân
    2. Trong cơn thử thách hay trong sự sửa phạt thiên thượng, luôn luôn có hy vọng vào sự thành tín của Thượng Đế nếu người đó biết ăn năn và tìm kiếm lòng thương xót của Ngài.
    ÁP ĐIA: SỰ KIÊU NGẠO ĐI TRƯỚC SỰ SỤP ĐỔ
    Ap đĩa đã trải qua trọn cuộc chiến tranh tàn khốc của Ba by lôn trên Giu-đa ( 587/86TC) và đã chứng kiến cảnh người Giu-đa bị bức hiếp bởi dân Ê đôm. Lời tiên tri của ông đã đem lại sự khích lệ cho những người Do Thái thắc mắc không biết tại sao Thượng Đế không trừng phạt Ê đôm về đường lối gian ác của họ.
    BỐ CỤC SÁCH ÁP ĐIA .
    Ê đôm sẽ bị đoán phạt vì sự kiêu ngạo của nó ApOv 1:1-9
    Sự tàn bạo của Ê đôm đối với Giê-ru-sa-lem 1:10-14
    Ngày của Thượng Đế dành cho Ê đôm 1:15-21
    Một bài tường thuật chi tiết thế nào Ê đôm đã bức hiếp dân Do Thái tại Giê-ru-sa-lem khi thành phố này bị tiêu diệt được tìm thấy trong Ê-xê-chi-ên 25,35,36 và Thi Thiên 137. Không phải Ê đôm chỉ nhạo báng khi Giu đô sụp đỗ , nhưng họ đã cướp bóc và giết những người Giu-đa chạy trốn, tìm cách biến Giu-đa thành thuộc địa của họ, và nói phạm đến danh Thượng Đế .
    Ê đôm bị đoán phạt vì sự kiêu ngạo của nó
    Ê đôm quá kiêu ngạo vì địa thế của họ rất dễ dàng phòng thủ . Muốn đến thủ đô, phải đi qua một khe núi hẹp ( có nơi chỉ rộng 15 feet - khoảng 5 thước ) và phải liền nhiều con dốc thẳng (1:3, 4) . Vì có một trục lộ giao thương xuyên qua nước, nên chúng đã trở nên giàu có (1:5) và có rất nhiều đồng minh (1:7) nhưng Thượng Đế sẽ cất bỏ mọi điều khi Ngài trừng phạt Ê đôm.
    Sự cường bạo của Ê đôm đối với Giê- su -sa -lem .
    Lý do thứ hai tại sao Ê đôm bị trừng phạt là sự tàn bạo của chúng dối với Giê-ru-sa-lem khi thành bị tiêu diệt bởi quân Ba by lôn. Dân Ê đôm đã không giúp người hàng xóm của mình, nhưng họ đã vui mừng hả hê trên nổi bất hạnh của Giu đa, tự do chiếm lấy những gì Ba by lôn không lấy đi, và cướp bóc những người chạy sang Ê đôm để lẫn tránh
    Ngày của Thượng Đế dành cho Ê đôm
    Ngày Thượng Đế tiêu diệt Ê đôm đã gần. Một lần nữa Giu-đa sẽ trở nên thánh cho Thượng Đế và dân Do Thái sẽ trở về sinh sống trên đất mình (1:17, 19-21) nhưng Thượng Đế sẽ tiêu diệt E đôm và dân nó.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC .
    1. Kiêu ngạo về sức manh quân sự, sự giàu có, đồng minh, hay sự khôn ngoan sẽ không cứu được , nhưng sẽ là nguồn của sự suy sụp
    2. Vui mừng hả hê hay lợi dụng trước sự bất hạnh của người khác sẽ mang đến sự đoán phạt của Thượng Đế .
    GHI CHÚ :
    1. Thượng Đế. Overholt, Threat of Falsehood ( Naperville : Allenson , 1970)
    2. R.K.Harrison, leremiah and Lamentations ( Downers Grove : Inter Varsity Press , 1973) trang 137
    3. N. K. Gottwald, Studies in the Book of Lamentations ( London: SCM 1954 ) trang 23-32
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Tìm ra những lời hứa của Thượng Đế cho Giê- rê mi khi ông được kêu gọi các chức vụ lần đầu tiên Gie Gr 1:1-19) . Giê rê mi có biết sẽ gặp sự chống đối không ?
    2. Dân Giu-đa bị lừa dối qua những cách nào ? Giê rê mi đã cố gắng biến đổi sự hiểu biết của họ như thế nào ?
    3. Diễn tả những cách khác nhau mà Giê rê mi đã đối phó với sự bắt bớ trong 11:18-23; 15:15-21; 26:1-19; 38:1-23
    4. Tìm những điểm tương đồng và khac biệt giữa giao ước mới (31:31-37) và giao ước cũ trong đời Môi se.
    5. Sự thành tin của Thượng Đế đã ban hy vọng như thế nào trong lúc gặp khó khăn lớn trong CaAc 3:1-66
    6. Sự kiêu ngạo dân tộc của Ê đôm được so sánh với sự kiêu ngạo của các nước ngày nay như thế nào ?

    TIÊN TRI TRONG THỜI KỲ LƯU ĐÀY
    Ê xê chi ên
    Khoảng thời gian : 593 - 571 TC
    Dân Giu-đa bị bắt lưu đày tại Ba by lôn qua ba lần khác nhau. Năm 605 TC, năm thứ tư đời vua Giô hô gia kim, Nê-bu-cát-nết-sa bắt một số người Do Thái qua Ba by lon ( kể cả Đa ni ên và ba người bạn của ông : xem DaDn 1:1, 2) sau khi đánh bại quân Ai cập tại Gạt kê mít ( Carchemish) . Vài năm sau Giê hô gia kin phản nghịch cùng Nê bu cát nết sa; kết quả Ba by lôn tấn công Giê-ru-sa-lem , bắt vua Giê hô gia kin ( Giê hô gia kin đã chết ) và bắt thêm hơn 10 ngàn người đi lưu đày năm 597 TC . ( Kể cả Ê xê chi ên, xem IIVua 2V 23:36-24:17; Exe Ed 1:2) . Sê đê kia trở thành vị vua mới, nhưng sau đó vài năm ông cũng phản nghịch cùng Nê-bu-cát-nết-sa . Giê ru sa lem lại trải qua một đợt tấn công nữa và cuối cùng bị tiêu diệt vào năm 587/86 TC (IIVua 2V 24:18; 25:21). Trong khi Giê rê mi rao truyền lời Thượng Đế tại Giu-đa trong giai đoạn khó khăn này, Ê xê xhi en nói tiên tri cho dân Do Thái tại chốn lưu đày Ba by lôn.
    Sách Ê-xê-chi-ên cho biết rất ít về tình trạng tại chốn lưu đày. Lý do là vì Ê-xê-chi-ên chỉ thuật lại cho dân lưu đày tại Ba by lôn biết những gì đang xảy ra cho tại Giu đa. Dường như Ba by lôn không bắt bớ Ê-xê-chi-ên về tôn giáo hoặc bắt ông làm nô lệ. Thỉnh thoảng các trưởng lão Giu-đa nhóm họp tại nhà Ê-xê-chi-ên để nghe ông giảng lời Chúa (Exe Ed 8:1; 14:1; 20:1)
    Ê-xê-chi-ên được sanh ra trong đời vua Giô si a ( 640 -609 TC). Người đã lập gia đình (24:15-18) nhưng tài liệu không ghi rõ là ông có con cái hay không . Ông xuất thân từ một gia đình thầy tế lễ và bị đày qua Ba by lôn khi ông 25 tuổi. Đến năm 30 tuổi , Thượng Đế kêu gọi ông làm tiên tri khi ông thấy sự hiện thấy trên bờ sông Kê ba tại Ba by lôn(1:1-3). Lúc đó ông được đầy dẫy Đức Thánh Linh và bị cấm, không nói được ngoại trừ khi Thượng Đế mở miệng ông (2:1, 2; 3:24-27) . Ê-xê-chi-ên đã trình bày nhiều sứ điệp bằng dấu hiệu theo cách diễn kịch ( dramatic) và có một sự hiện thấy về những điều xảy ra tại Giê-ru-sa-lem khi ông ở Ba by lôn. Một số sứ điệp đoán phạt của ông trái ngược với sứ điệp lạc quan của các tiên tri giả vì họ nghĩ rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không bao giờ bị tiêu diệt (4:24) . Một số sứ điệp khác đã mang đến cho những người bị nản lòng một niềm hy vọng sau ngày Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt ( 34-48)
    BỐ CỤC SÁCH Ê XÊ CHI ÊN
    Sự kêu gọi Ê-xê-chi-ên vào chức vụ tiên tri 1:1-3:27
    Sự đoán phạt của Thượng Đế trên Giu-đa 4:24
    Dấu hiệu và sứ điệp về sự sụp đổ của Si-ôn 4:1-7:27
    Vinh quang của Thượng Đế lìa bỏ đền thờ 8:1-11:25
    Tội lỗi của Giu-đa sẽ mang đến sự hủy diệt 12:1-24:27
    Lời đoán phạt nghịch cùng các nước 25:1-32:32
    Sự khôi phục của Giu-đa 33:1-48:35
    Hy vọng về sự khôi phục và tái lập 33:1-37:27
    Chiến thắng trên Gót và Ma gốc 38:1-39:29
    Vinh quang của Thượng Đế trong đền thờ mới 40:1-48:35
    Khi Thượng Đế phán cùng Ê xê chi ên, Ngài thường dùng danh xưng là “ con người “ . Điều này để chỉ rõ nhân tánh của Ê-xê-chi-ên tương phản với vinh quang của Thượng Đế . Ê xê xhi ên biết rõ về sự thánh khiết trọn vẹn Thượng Đế mà ông đã thấy trong sự hiện thấy, và lại còn biết rõ hơn về hành vi tội lỗi ghê gớm của dân Giu đa. Ông là người canh của Thượng Đế để cảnh cáo dân tộc về sự đoán phạt của Ngài nếu họ không ăn ăn tội lỗi của họ.
    Sự kêu gọi của Ê-xê-chi-ên vào chức vụ Tiên tri
    Hầu hết dân Do Thái cùng bị lưu đày với Ê-xê-chi-ên đều nghĩ rằng Thượng Đế ngự trong đền thờ Giê-ru-sa-lem , cho nên họ rất ngạc nhiên khi nghe rằng vinh quang của Thượng Đế ở giữa dân Ngài tại chốn lưu đày và hiện ra cùng Ê xê chi ên. Ê-xê-chi-ên thấy ánh sáng của vinh quang Thượng Đế tỏa ra khắp nơi. Thượng Đế ngự trên ngai giữa đám mây lớn bọc lửa di chuyển bởi bốn con vật mỗi con có bốn mặt và có cánh và có vòng bánh xe (1:4-28).1 Sau khi Ê-xê-chi-ên hạ mình xuống trong sự thờ phượng. Thượng Đế cắt cử ông đi làm tiên tri cho nhóm người ngoan cố tại chốn lưu đày, chứ không phải cho các nước ngoại đạo ở nơi xa xôi và nói tiếng không hiểu được. Ê-xê-chi-ên không sợ bị chống đối ( họ giống như bo cạp 2:6) hay bị nản lòng vì họ không chịu đáp ứng một cách tích cực (2:3-7). Nếu ông không rao truyền lời cảnh cáo của Thượng Đế , thì Ngài sẽ qui trách nhiệm trên Ê xê chi ên. Nếu ông loan báo lời cảnh cáo và dân chúng từ chối không nghe, thì họ sẽ chịu trách nhiệm (3:17-21).
    Sự đoán phạt của Thượng Đế trên Giu đa
    Tuy rằng hầu hết mọi người ở nơi lưu đày không tin Thượng Đế sẽ để Giê-ru-sa-lem bị tiêu diệt, nhưng Ê-xê-chi-ên đã dùng những hành động và sứ điệp làm biểu tượng về sự hủy diệt đẻ thuyết phục họ rằng Thượng Đế sẽ tiêu diệt đất nước vì tội lỗi ghê gớm của họ. Ông làm một mô hình thành Giê-ru-sa-lem dưới sự tấn công của quân đội (4:1-3) đặt nó bên cạnh ông rồi ăn thức ăn k hông tinh sạch để làm thí dụ về tình trạng xấu xa tại Giê-ru-sa-lem trong thời gian bị vây hãm (4:4-17) . Số phận của dân chúng được tượng trưng bằng tóc của ông ; một số sẽ bị giết bằng gươm giáo, trong k hi một số khác sẽ chạy tản lạc ra nhiều nước (5:1-17). Ngày của Thượng Đế đã gần đối với Giê-ru-sa-lem vì sự kiêu ngạo, gớm ghiếc và bạo lực của họ đã khiến cho cơn thạnh nộ của Ngài phải giáng trên họ (7:1-27). Khi điều này xảy ra, họ sẽ biết Ngài là Thượng Đế .
    Một năm sau khi ông được kêu gọi , Ê-xê-chi-ên nhận được một sự hiện thấy khác về vinh quang của Thượng Đế trong đền thờ Giê-ru-sa-lem (10:1-21) . Nhiều dân lưu đày tại Ba by lôn tin rằng Giê-ru-sa-lem (10:1-21). Nhiều dân lưu đày tại Ba by lôn tin rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không bao giờ bị phá hủy vì vinh quang của Thượng Đế ngự trong đền thờ, nhưng trong sự hiện thấy Ê-xê-chi-ên thấy vinh quang của Thượng Đế lìa khỏi đền thờ và trong hầm dưới đền thờ lạy thần tượng trong khu vực đền thờ và trong hầm dưới đền thờ (8:5-18). Thượng Đế ghi dấu những người công bình bằng một dấu, nhưng kẻ ác bị giết và đền thờ bị phá hủy (9:1-11) 2 Một hy vọng duy nhất cho Giu-đa là hãy để Thượng Đế cất bỏ tội lỗi họ và ban cho họ một tấm lòng mới (11:14-21)
    Ê-xê-chi-ên gạt bỏ niệm sai lầm cho rằng ngày đoán phạt của Thượng Đế hãy còn xa (12:21-28). Ông lên án bọn tiên tri giả đã phỉnh lừa dân chúng bằng lời biện hộ cho những khó khăn của Giu-đa, họ nói rằng sẽ có bình an cho Giê ru sa lem (13:1-23). Điều này không đúng.Nếu dân chúng không ăn năn và từ bỏ sự đôc án của họ, thì dẫu lời cầu nguyện của những người tin kính Chúa như Nôê, Đaniên hay Gióp cũng không thay đổi được quyết định hủy di ệt của Thượng Đế (14:1-23)
    trong một ví dụ dùng biểu tượng, Exêchiên đã so sánh Giu-đa với một thiếu nữ được Thượng Đế chăm sóc và cưới. Nhưng người vợ đã quên lãnh chồng mình và yêu thương nhiều người khác (thói tục ngoại bang, thần tượng, sắc đẹp của chính nàng). Cho nên Thượng Đế sẽ đoán phạt người vợ ngoại tình của Ngài, vì Giu-đa còn tệ hơn người chị gian ác của mình là vương quốc Y- sơ - ra - ên ở phía Bắc, thậm chí còn tệ hơn Sôđôm và Gomorơ (16:1-59). Ví dụ này tương tự với ví dụ của Ê xê chiên về hai chị em gian ác, Ôhôla (Sa-ma-ri) và Ôhôliba (Giê ru sa lem) trong chương 23.
    Trong một ví dụ khác, Exêchiên đã mô tả thế nào một chim ưng lớn (Nê-bu-cát-nết-sa 17:3, 12) sẽ kiểm soát Phâlêtin (Palestine) tuy rằng có một chim ưng lớn khác (một vua Ai Cập - 17:7, 17) tìm cách giúp đỡ Giu-đa. Chẳng bao lâu sư tử (Giu-đa) sẽ có một sư tử con (Vua Giê hô gia kin) bị bắt và dẫn qua Ba-by-lôn (19:1-9) chẳng bao lâu cây nho (Giu-đa) sẽ có một nhánh (các vua) bị nhổ đi (19:10-14). Giê-ru-sa-lem sẽ như một nồi trên lửa nóng và dân chúng sẽ là thịt được nấu trong đó (24:3-5). Một điềm gở cuối cùng là cái c hết của vợ Êxêchiên, sự ưu thích của mắt ông, mà ông chẳng được khóc lóc (24:15-20). Thượng Đế cũng sẽ phá hủy đền thờ của Ngài, là sự ưu thích của mắt dân chúng và họ sẽ bị tàn diệt khủng khiếp mà không thể khóc lóc được (20-24) lúc đó họ sẽ biết Chúa thật là Thượng Đế.
    tuy sự lưu đày của Giu-đa là chắc chắn, một ngày Thượng Đế sẽ koan dung bẻ một chồi non (đấng Mê-si-a) từ một cây và nâng cao Ngài lên (17:22-24). Dân chúng sẽ không còn nói phạm đến
    danh thánh của Thượng Đế nữa. Lúc đó Ngài sẽ tiếp nhận họ và nhóm họp họ lại từ chốn lưu đày. Họ sẽ hiểu Thượng Đế đối đãi họ tùy theo những gì họ đáng nhận lãnh (20:39-44)
    qua s uốt phần này Êxêchiên đã chứng minh rằng dânt ộc sẽ trả cho tội lỗi của nó. Một số từ chốn lưu đày nghĩ rằng họ đang chịu khổ vì tội lỗi của tổ phụ họ, chứ không phải của chính họ (18:2). Họ cho rằng Thượng Đế bất công (18:29), nhưng Ngài nói rằng mỗi người sẽ chịu đau khổ vì chính tội lỗi mà mình đã phạm (18:4-20)
    LỜI ĐOÁN PHẠT TRÊN CÁC NƯỚC
    Sau một loạt các lời tiên tri về sự đoán phạt của Thượng Đế trên Ammôn, Mô-áp, Êđôm, và Phi-li-tin (25), Êxêchiên mô tả sự sửa phạt của Thượng Đế trên thành phố kiêu hãnh và giàu có là Tyrơ (27). Êxêchiên đã than khóc chế giễu vị vua kiêu hãnh này nghĩ mình là Thượng Đế (28:2, 6,11-15) vì Thượng Đế sẽ mượn tay Nêbucátnếtsa tiêu diệt ông và thành phố giàu có của ông (26, 28:16-19).
    Ai cập cũng rất kiêu hãnh về khu vực tam giác phì nhiêu của nó được ví như vườn Êden (29:1-9; 31:1-9). Nó sẽ trở thành sa mạc khi Ba-by-lôn đến và phá hủy thành phố của chúng (29:9-30:26). Êxêchiên than khóc chế giễu về cái chết của Pharaôn (32:1-8) và vẽ ra cảnh Ai cập tiến vào địa ngục để c ùng nằm chung với các dân tộc khác trong sự hổ thẹn (32:21 - 32)
    SỰ KHÔI PHỤC CỦA GIUĐA
    Các sứ điệp hy vọng của Êxêchiên và việc ông hết bị câm được xảy ra cùng một lúc với những tin tức liên quan đến việc Ba-by-lôn hoàn toàn chiếm cứ thành Giê-ru-sa-lem (33:21, 22). Điều này đã làm nản lòng những người ở chốn lưu đày và phơi bày hy vọng giả dối của họ. Họ bắt đầu hoang mang không b iết còn hy vọng được về lại Giu-đa và Thượng Đế có thực hiện lời hứa của Ngài với Ap raham và Đavít hay không
    Trong hoàn cảnh mới này Exechiên được nhắc nhở rằng ông vẫn là người canh của Thượng Đế tại chốn lưu đày (3-16). Nhưng sứ điệp của ông bầy giờ là lời hy vọng vì sau thời kỳ sửa phạt Thượng Đế sẽ chăm sóc dân ngài và nhóm họp chúng lại trên đất Giu-đa. Ngài sẽ đặt tôi tớ Đa-vít của Ngài làm vua Mê-si-a của họ, lập lại giao ước bình an giữa ngài với họ, ban c ho họ một tấm lòng mới, tẩy sạch tội của họ, à ban phước cho họ bằng sự thịnh vượng (34:1-31; 36:22-38; 37:15-28). Lúc đó họ sẽ biết Chúa là Thượng Đế.
    Thượng Đế sẽ đánh bại kẻ thù của Giu-đa, kể cả Êđôm (tượng trưng cho tất cả mọi nước) đã vui mừng kiêu hãnh khi Giu-đa sụp đổ và mưu c hiếm lấy đất (35:1-36:15). Ngài cũng sẽ tiêu diệt Gít và Ma gốc để thánh hóa danh Ngài, hầu cho mọi nưóc trên đất sẽ nhận biết ngài duy nhất là Thượng Đế (38-39)
    Tám chương cuối cùng chứa đựng các chi tiết tỉ mỉ lạ kỳ về kích thước cho một đền thờ vĩ đại sẽ là trung tâm cho sự thờ phượng của dân tộc được tái lập . Đối với thầy tế lễ Êxêchiên, đây là một vấn đề rất quan trọng trong việc gây dựng lại mối liên hệ với Thượng Đế. Sự trở lại của vinh quang Thượng Đế trên đền thờ này là tối quan trọng đối với sự hoàn tất việc làm của Ngài (43:1-5). Các thầy tế lễ họ Lê vi thuộc được dòng Xa đốc sẽ hầu việc trong đền thờ và một vua sẽ cai trị dân sự (43:18-44:31). Cả nước sẽ cử hành các ngày lễ tại đền t hơừ (46) trong nơi gọi là "Đức Giê hô va ở đó" (48:35). Đất sẽ được c hia một lần nữa giữa các chi phái và sẽ có một được giòng sông chảy ra từ đền thờ xuyên qua Biển chết và xã hơn nữa (45:1-8; 47:1-48:35)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Khải tượng mới về sự rực rỡ của vinh quang Thượng Đế khiến người ta phải quỳ xuống, thờ lạy, và sẵn sàng vâng theo lời của Thượng Đế.
    2. Tín đồ là người lính canh của Thượng Đế, được kêu gọi để cảnh cáo tội nhận về sự phán xét của Thượng Đế nếu họ không ănnăn. Nếu người canh không nói lời cảnh cáo thì sẽ chịu trách nhiệm trưóc mặt Thượng Đế.
    3. Thượng Đế sẽ t iêu diệt dân Ngài và nơi t hờ phượng của họ nếu họ không còn nhận biết hay trung tín thờ phượng Ngài.
    4. Thượng Đế điều khiển mọi nước trên thế gian và sẽ tiêu diệt kẻ ngạo mạn đòi đóng vai Thượng Đế
    5. Thượng Đế công bình và môi người sẽ chịu trách nhiệm về tội lỗi của chính mình
    6. Thượng Đế sẽ giữ lời h ứa của Ngài, tẩy sạch tội lỗi của dan Ngài, khôi phục họ trên đất của chính họ, ban c ho họ một tấm lòng mới và giao ước mới, làm mới sự thờ phượng thật, và dấy lên Đấng Mê-si-a của họ.
    Tác giả Tân ước chứng minh được rằng họ đã đọc sách Exêchiên. Sự mô tả của Giăng về vinh quang của Thượng Đế trong KhKh 11:1-19 tương tự như trong Exe Ed 1:1-28 và sự nuốt quyền sách của ông trong KhKh 10:8-11 tương tự với kinh nghiệm cảu Êxêchiên. Chúa Giê-xu và Phaolô thừa nhận quan niệm của Êxêchiên về trách nhiệm của người canh. (Mat Mt 10:5-15; Cong Cv 18:6; 20:26). Gót và Ma gôc được nhắc đến trong Khải huyền 20:8; và Giê-ru-sa-lem mới là một phần trong khải tượng của Giăng (KhKh 21:10, 12, 16, 22)
    GHI CHÚ
    1. J. Taylor , Ezekiel (Downers Grove : InterVarsity Press, 1969, trang 54 - 59, cho biết thêm nhiều chi tiết về những điều Êxêchiên đã thấy
    2. Có người đề nghị rằng người t rong vải gai trong Exe Ed 9:1 là Gapriên hoặc thiên sứ của Thượng Đế, nhưng bản vân không ghi rõ.
    3. Một số người tin rằng sự mô tả về vua Tyrơ là hình ảnh về sự sụp đổ của Satan, nhưng sự nhấn mạnh c hính nói về vua Tyrơ một nhân vật lịch sử. Vì vua tuyên bố mình hoàn toàn và là vị thần, ông rõ ràng bị điều khiển bởi sự lừa dối của Satan và những chuyện thần thoại giả tạo của tôn giáo Tyrơ
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Hình ảnh hiện đại về Thượng Đế có tương hợp với sự hiện th ấy của Êxêchiên không hay đôi khi Thượng Đế đã được hình dung lại hoặc đổi mới theo thời nay cho phù hợp với ý tưởng hay ước muốn của chúng ta chăng ?
    2. Làm thế nào Thượng Đế có thể vừa là Đấng toàn năng thánh khiết cai trị thế gian là Cha yêu thương của chúng ta ?
    3. Êxêchiên đã sửa như thế nào sự hiểu lầm của dân chúng liên quan đến sự hủy diệt đền thờ, sự hiểu lầm của họ về việc họ phải trả cho tội lỗi của tổ phụ họ, và sự nghi ngờ của họ về việc hoàn thành lời hứa của Thượng Đế trong tương lai ?
    4. Thượng Đế có hứa nguyện vô điều kiện với người nào hay nước nào chối bỏ Ngài không ? Tại sao
    5. Đọc một vài sách g iải kính (Commentary) về Exêchiên và tìm hai hoặc ba cách hiểu biết khác nhau về sự khôi phục lại đền thờ trong 40:1-48:35
    6. Hành động của Thượng Đế chứng minh Ngài là Thượng Đế như thế nào ?

    TIÊN TRI TRONG THỜI KỲ LƯU ĐÀY
    Đaniên
    Khoảng thời gian : 605 - 535 TC
    Nêbucát nếtsa nổi lên nắm quyền lực vào năm 605 TC sau khi đánh bại Ai cập, biến nước nhỏ Ba-by-lôn thành một đế q uốc. Sau trận đánh này ông đi đến Giê-ru-sa-lem và bắt Đaniên cùng ba người bạn qua Ba-by-lôn (DaDn 1:1).1 Ông trở lại năm 597 TC. Đánh bại vua Giu-đa Giê hô gia kin và bắt thêm người đi lưu đày (kể cả Êxêchiên). Sau khi Sêdêkia phản nghịch, Nêbucát nétsa tấn công và phá hủy hoàn toàn Giu-đa năm 587/86 TC.(II Các Vua 24-25). Ngôi vua của Nê-bu-cát-nết-sa được liên tục t ruyền cho ba vị vua tương đối nhu nhược mỗi người trị vì trong khoảng thời gian rất ngẵn. Vua sau cùng là Nabôniđu (556 - 539 TC ), là người thờ lạy th ần mặt trăng Sin thay vì t hần Marduk. Khi ông xa vắng thủ đô trong nhiều năm, ông đặt Bênxét sa lên cai trị (Đan 5). Năm 539 TC Siru, vua Ba tư, đánh bại Ba-by-lôn và ra chiếu chỉ cho phép dân Do Thái trở về Giê-ru-sa-lem (Exo Er 1:1-6). Có khoảng 50 ngàn người Do Thái đã t rở về, nhưng Đaniên và nhiều người nữa đã ở lại Ba-by-lôn.
    Đaniên và ba người bạn của ông là người ngoại quốc và là người Do Thái trong giới thượng lưu trí thức và thuộc dòng dõi vua Giu-đa (DaDn 1:3). Thượng Đế đã gìn giữ dân Ngài nơ chốn lưu đày qua ảnh hưởng của Đaniên là một trong các viên chức cao cấp của chính phủ trong 70 năm. Tuy gặp một vài khó khăn thử th ách, như bị quăng vào hang sư tử, Đaniên được nổi tiếng (5:11-16) và giữ được địa vị cao trọng của ông khi Batư lên cầm quyền sau khi đã đánh bại Ba-by-lôn.
    Sách Đaniên bao gồm sự mô tả về mối liên hệ giữa ông với các nhân viên chính phủ và một loạt các khải tượng liên quan đến việc thế nào Thượng Đế cai trị các nước trên thế gian.
    BỐ CỤC SÁCH ĐANIÊN
    Sự cai trị của Thượng Đế trên các nước ngoại bang 1:1-6:28
    Thượng Đế ban cho Đaniên sự khôn ngoan tại Ba-by-lôn 1:1-21
    Vương quốc Thượng Đế sẽ tiêu diệt các vương quốc khác 2:1-49
    Thượng Đế giải cứu bạn của Đaniên ra khỏi lò lửa 3:1-30
    Thượng Đế cai trị trên các vua và mọi dân 4:1-37
    Thượng Đế đưa Ba-by-lôn đến sự tận diệt 31
    Thượng Đế giải cứu Đaniên ra khỏi hang sư tử 28
    Thượng Đế chăm sóc dân bị bắt bớ của Ngài 7:1-12:13
    Thánh đồ bị bắt bơ nhận lãnh vương quốc 7:1-8:27
    Cầu nguyện để được tha thứ và khôi phục lại Y-sơ-ra-ên 27
    Thời điểm của chiến tranh và sầu khổ 10:1-12:13
    Có hai đặc tính khiến cho sách Đaniên khác hẳn các sách khác. 1:1-2:4a và chương 8-12 được viết bằng tiếng Hibalai (Hebrew) như các sách Cựu ước, nhưng 2:4b-8 được viết bằng tiếng Aramaic, một ngôn ngữ quốc tế thông dụng trong c hính trường và thương mại lúc bấy giờ. Điều này cho thấy rằng Đaniên muốn một phần của sách được người ngoại quốc đọc. Điểm khác biệt thứ hai là hình ảnh tiểnti về các con thú và các cây lạ thường, những số và màu bi ểu tượng, những lời tiên đoán chi tiết về trận đánh và sự bắt bớ trong tương lai. Tuy những tiên tri khác (đặc biệt Sôphôni) thích dùng biểu tượng, nhưng sự hiện thấy trong Đaniên gần với hình ảnh tiên tri trong sách Khải huyền của Tân ước hơn là các tiên tri khác. Khi hình ảnh lạ này không được Đaniên giải thích, có lẽ ông không cảm t hấy hình ảnh đó là quan trọng đối với ý nghĩa của sứ điệp. Cho nên, phải rất cẩn thận khi những người giải thích Kinh Thánh ngày nay tìm cách giải thích những gì mà Đaniên không giải thích. Ngay đến đấng tiên tri lớn và khôn ngoan như Đaniên cũng không hiểu hết những hình ảnh đó nếu không được Thượng Đế hay thiên sứ giải thíc (7:16; 8:27; 12:8, 9)
    SỰ CAI TRỊ CỦA THƯỢNG ĐẾ TRÊN CÁC NƯỚC NGOẠI BANG
    Đaniên và ba bạn của ông, Sađơrác, Mêsắc, và A bết nê gô, được chọn tham dự chương trình học ba năm về ngôn ngữ, học thức, tông iáo, và lịch sử Ba-by-lôn. Chỉ có các thanh nhiên khôi ngô tuấn tú mới được tuyển vào chương trình huấn luyện này để làm việc trong hoàng cung (1:4, 5). Đaniên và các bạn ông cảm thấy thức ăn và rượu của vua sẽ làm ô uế họ (Có thể đã được dùng trong sự thờ cúng các thần) nên họ đã khéo léo yêu cầu cho ăn thử rau và uống nước trong mười ngày. Thượng Đế rất quý tấm lòng hiến dâng của các trai trẻ này bằng cách ban cho họ sức khỏe tốt và khôn ngoan hơn những học v iên khác và sự thông sáng hơn gấp mười những người khôn ngoan của Ba-by-lôn (7-21)
    Trong năm thứ hai của đời trị vì, Nêbu cát nết sa cảm thấy bối rối về một chiêm bao với pho tượng lớn bị một hòn đá phá hủy. Các đồng bóng và thuật sĩ Ba-by-lôn đã chịu thua tâu rằng họ không thể giải cho vua được vì th ần họ đã không cho họ biết về điều đó (2:11). Nê-bu-cát-nết-sa quyết định giết tất cả các người khôn ngoan, kể cả Đaniên và các bạn của ông. Sau khi cầu nguyện xin Thượng Đế thương xót, Ngài đã bày tỏ chiêm bao và sự giải thích cho Đaniên (2-19). Đaniên đã ca ngợi thượng đế vì Ngài có mọi sự khôn ngoan và quyền phép, và Ngài tỏ ra mọi sự màu nhiệm cho loài người (2:20-23). Đaniên đã làm chứng cho vua, tỏ ra rằng Thượng Đế đã phán cùng ông ràng cái đầu của pho tượng là vua Mê bu cát nết sa (2:28, 36-38), các phần khác ám chỉ các vương quốc kém hớnau này, và vương quốc sau cùng sẽ là vương quốc đời đời của Thượng Đế (2:44, 45). Bởi vì ông giải được chiêm bao nên Đaniên và Thượng Đế của ông được t ôn trọng, và ba bạn của ông được giao cho công việc làmmới.
    Sau này Nê-bu-cát-nết-sa đã làm một pho tượng (Có thể là tượng của chính vua) và buộc tất cả các nhân viên chính phủ quỳ lạy nó để tỏ lòng trung thành với vua (3:1-5). Sađơrắc, Mêsắc và A bết nêgô tin rằng Thượng Đế có thể giải cứu họ ra khỏi mọi tai họa, nên họ được dã từ chối không quỳ lạy t rước pho tượng và bị quăng vào lò lửa hực. Một thiên sứ của Thượng Đế đã giải cứu họ khỏi bị diệt hại và một lần nữa Nê-bu-cát-nết-sa buộc phải nhận biết quỳen năng của Thượng Đế (4-30)
    Mặc dầu có chứng cớ đó Nê bu cát nết sa, là người rất kiêu ngạo. Cuối cùng Thượng Đế đã khiến ông phải hạ mình và thách thức ông tin rằng Ngài là Đấng cai trị mọi dân tộc (7,25,32). Điềm chiêm bao của ông về sự hủy diệt của một cây cao lạ thường đã được ứng nghiệm (0-27), ông đã hạ mình và biến thành như một cont hú lớn (8-33). Khi ông được khôi phục lại ngôi vua, ông đã ca ngợi, chúc tụng, va tôn kính Thượng Đế, xưng nhận rằng Ngài là Đấng toàn năng , chân thật, và công bình khi Ngài hạ kẻ kiêu ngạo xuống và nhắc người khiêm nhường lên (4-37)
    Sau này khi vua Nabôniđu ở xa thủ đô Ba-by-lôn,Bên xát sa dọn một tiệc lớn mặc dầu thành phố đang ở vào thời chiến (-4). Trong tiệc rượu này, những chén bằng vàng và bạc lấy từ đền thờ Giê-ru-sa-lem bị mạo phạm khi được dùng để uống chúc mừng các thần Ba-by-lôn. Đương lúc đó một bàn tay người hiên ra và viết một sứ điệp trên tường của cung vua (5:5). Không ai đọc được sứ điệp đó ngoại trừ Đaniên. Sứ điệp này nói rằng Thượng Đế đã đến và cân Ba-by-lôn rồi,nhưng không đạt được tiêu chuẩn cảu Ngài. Cho nên Thượng Đế sẽ chia nưoc sr cho người Mêđi và đêmđó vào năm 549 TC. Đó là đêm đế quốc Mêđi Ba tư đánh bại Ba-by-lôn (0,31). Sự sụp đổ của Ba-by-lôn đã làm ứng nghiệm lời t iên tri của Ê-sai )13,14) và của Giêrêm i (50,51) được t iên báo nhiều năm trước đó.
    SỰ CHĂM SÓC CỦA THƯỢNG ĐẾ ĐỐI VỚI DÂN BỊ BẮT BỚ CỦA NGÀI
    Phần thứ nhì của sách chứa đựng nhiều sự hiện thấy về quyền cai trị của Thượng Đế trên các nưóc, nhưng các sứ điệp này chú trọng vào việc th ế nào Thượng Đế bảo vệ dân Ngài trong khi họ bị bắt bớ. Trước đó trong thời trị vì của vua Ba-by-lôn bên xát sa, Đanien có một chiêm bao (giống chiêm bao của Nê bucát nết sa trong chương 2) về bốn cont hú lớn từ biển lên (7:1-8). Trong trường hợp này không vua hay nước nào được nói đến chỉ vì chú trọng hoàn t oàn vào con thú lớn sau cùng. Con thú sau cùng rất dữ tợn và khoe khoang nhưng cuối cùng người thượng cổ là Thượng đ ế toàn năng, sẽ phán xét các con thú lớn này và banquyền cai trị mọi nước cho Con Người (Đấng Mê-si-a) hầu cho muôn dân sẽ phục vụ Ngài đời đời (-14). Sự hiện thấy này đem lại nhiều an ủi vì nó đã đảm bảo rằng dân thánh của Thượng Đế sẽ thừa hưởng vương quốc của Ngài (8,27), nhưng nó cũng làm cho bối rối vì nó cho biết dân Thượng Đế sẽ trải qua một sự bắt bớ lớn khi con thú sau cùng và cái sừng nhỏ cai trị (7:8, 19-25). Cái sừng nhỏ này thường được ám chỉ về Antichrist trong Khải huyền 13 và 17
    Hai năm sau Đaniên thấy một chiêm bao tương tự về sự tranh chiến giữa chiên đực, dê đực, và cái sừng (-8). Chiên đức ám chỉ về vua nước Mêđia Pherơsơ (Ba tư) (-8) và dê đực ám chỉ vua nước Gờ réc (Hy Lạp) (8:21) nhưng cái sừng không được nói rõ. Nó là một người sẽ cai trị trong tương lai (74,19) nó lên mình tự phụ, tìm cách làm cho mình bằng Thượng Đế, và triệt để bắt bớ dân t hánh của Ngài trong một thời gian giới hạn (8:9-14, 23-26). Cuối cùng nó sẽ bị đánh bại bởi thượng đế (8:25). Tuy cái sừng này tương tự như cái sừng t rước, nhưng nó được ám chỉ về vua nước Hy lạp Antiochus Epiphanes người đã bắt bớ và g iết nhiều người Do Thái vào khoảng năm 165 TC .3
    Về sau trong thời kỳ người Ba tư, cụ già 80 tuổi Đaniên đọc sách tiên tri Giêrêmi (21,12; Gie Gr 29:10) nói về Thượng Đế sẽ mang dân sự Ngài trở về Giê-ru-sa-lem trong 70 năm (DaDn 9:1, 2). Thình lình ông nhận thức rằng ông đã đến đây năm 605 TC và bây giờ là năm 538 TC chỉ còn vài năm t rưóc khi họ được trở về. Đaniên kiêng ăn và cầu nguyện, xưng tội lỗi của nước ra và nhận biết sự công bình của Thượng Đế trong việc đưa họ đi lưu đày. Sau đó ông nài xin Thượng Đế hãy xóa bỏ cơn giận của Ngài và cho họ được trở về Giê-ru-sa-lem (9:3-19). Thượng Đế phán cùng Đaniên qua thiên sứ Gap ri ên ràng sẽ có 70 tuần lễ của các năm trước khi Thượng Đế cất bỏ mọi tội lỗi, đem sự công bình đời đời vào, xức dầu cho dền thờ thánh, và làm trọn mọi lời t iên tri (9:24). Trong thời gian này Giê-ru-sa-lem sẽ được tái thiết, Đấng Mê-si-a được xức dầu sẽ đến và bị ngắt đi, thành Giê-ru-sa-lem sẽ bị phá hủy và dân chúng sẽ ở dưới sự bắt bớ lớn và chiến tranh (9:25, 26). Giữa tuần lễ cuối cùng của các năm mọi sự thờ phượng tại đền thờ sẽ bị đình chỉ. Nhưng đến cuối tuần lễ đó, người đã tiêu diệt và bắt bớ dân của Thượng Đế sẽ bị đánh bại.4 Đaniên rất kinh hãi bởi sự mô tả về chiến tranh và bắt bớ ghi trong chương 7-9
    Ba chương cuối đã khai triển thêm về các đề tài này để giúp cho các thế hệ sau chuẩn bị cho những khó hăn của họ và để thêm sức cho họ với hy vọng rằng một ngày Thượng Đế sẽ ban thưởng những người trung tín sự sống đời đời và dành nỗi bất hạnh đời đời cho kẻ gian ác (12:1-3). Sau ba tuần lễ kiêng ăn và cầu nguyện , Đaniên thấy một sự hiện thấy về các biến cố trong tương lai từ t hiên sứ Micaên. Những lời phán này đã giúp cho Đaniên vài ý niệm về trận chiến thuộc linh vô hình đang xảy ra trong thế giới của ông, thiên sứ Micaên đã bị cản trở vì thiên sứ phải chiến đấu với quyền lực ma quỷ đang kiểm soát Ba tư (10:1-13, 20-21). Thiên sứ cho biết rằng sẽ có bốn vị vua Batư nữa, và vua Hy Lạp sẽ đánh bại họ và kiểm soát toàn thế giới thượng cổ cận đông (12:1, 2). Đièu này đã xảy ra chừng 200 năm sau khi A lịch sơn Đại đế đánh bại quân Ba tư khoảng năm 331 TC . Vương quốc của hoàng đế về sau đã chia thành bốn nước, họ đã chống đối lẫn nhau và xâm lăng Phalêtin, một vùng đất đẹp đẽ. Trong những trận chiến này một vị vua rất gian ác (có thể là Antiochus Epiphanes) đã xúc phạm đến đền thờ Giê-ru-sa-lem, giết nhiều người Do Thái,tự cho mình hơn Thượng Đế, và nói phạm đến danh Ngài (11:29-39). Đến kỳ sau rốt, Antichrist sẽ làm giống như vị vua này vì nó cũng bắt bớ tệ hại nhất mà thế giới chưa từng thấy, nhưng tất cả mọi người chết trung tín hy v ọng rằng tên họ đã được ghi vào sách sự sống. Họ sẽ được sống lại trong sự sống đời đời, trong khi kẻ gian ác sẽ chịu đau khổ với sự trừng phạt của Thượng Đế (12:1, 2). Đaniên trung tín ghi lại những sự hiẹn thấy này mà ngay dính ông cũng không hiểu hết mọi ý ngiã của nó hay b iết chắc c hắn khi nào các biến cố này sẽ xảy ra (12:5-9)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Mọi sự khôn ngoan đều đến từ Thượng Đế. Ngài sẽ bày tỏ sự khôn ngoan của Ngài cho những tôi tớ trung tín để quy vinh hiển về cho Ngài.
    2. Mọi quyền lực kiểm soát cá nhân và dân tộc đều nằm nơi Thượng Đế. Ngài sẽ nhắc ai lên tùy ý Ngài và hạ kẻ kiêu ngạo xuống để chứng minh quyền năng của Ngài và đưa dẫn mọi người đến trong sự vâng phục Thượng Đế.
    3. Tuy dân t hánh của Thượng Đế đã gặp và sẽ gặp sự bắt bớ lớn, nhưng Thượng Đế sẽ giải cứu họ và ban cho họ vương quốc đời đời của Ngài được trị vì bởi Con người.
    Tân ước bao gồm nhiều câu dẫn chứng từ sách Đaniên. Khi Chúa Giê-xu phán về các biến cố trong ngày sau rốt, Ngài đã nhắc họ về sự bắt bớ sẽ xảy ra khi những sự gớm ghiếc tan nát lập ra trong đền thờ Giê-ru-sa-lem (Mat Mt 24:15, trưng dẫn DaDn 9:27; 12:11). KhKh 13:1-18 nói về nhiều con thú lớn từ biển lên và chú trọng đến conthú sau cùng khi nó sẽ xúc phạm đến danh Thượng Đế và tranh chiến với dân thánh Ngài (Đan 7). Khải huyền 14 chứng minh rằng Thượng Đế sẽ phán xét các con thú và giải giao vương quốc cho Con người là người sẽ đến trong đám mây (DaDn 7:9-14). Chúa Giê-xu cũng mô tả (Mat Mt 24:30; 25:31-46) Con Người sẽ đến trong vinh quang, phán xét kẻ ác, làm sóng lại những người chết công bình vào sự sống vĩnh cửu và quăng kẻ ác vào sự trừng phạt đời đời (DaDn 12:1, 2)
    GHI CHÚ
    1. Sự mâu thuẫn bề ngoài giữa lời nói của Đaniên về sự lưu đày của ông vào năm thứ ba của đời vua Giêhôgiakim (1:1) sau trận chiến tại Catkêmít và lời nói của Giêrêmi về biến cố này xảy ra và năm thứ tư của đời vua Giêhôgiakim bắt nguồn từ việc có thể hai người đã dùng hai niên lịch khác nhau (năm mới có thể bắt đầu vào tháng Tư hay tháng Mười tùy theo việc dùng niên lịch tôn giáo hay niên lịch thường) hay từ việc người Ba-by-lôn thường không tính năm đầu trị vì của đời vua là một năm, vì vua chưa cai trị trọn một năm. L.Wood, A Commentary of Daniel (Grand Rapids : Zondervan, 1973), trang 25-27
    2. Xem J.F.Walvoord, Daniel : The Key to Prophetic Revelation (Chicago : Moody, 1971), trang 132-33, bàn luận về lý lịch của vua Ba tư Đaríut, được nói đến trong 5:31; 6:1; 9:111:1). Nhiều người cho rằng đây là tên của một vị tướng Ba tư, người khác thì cho rằng đó chỉ là một tên khác của Siru.
    3. L.Wood, A Commentary on Daniel )Grand Rapids : Zodervan, 1973) trang 214 - 15
    4. 9:24-27 là đoạn Kinh Thánh quan trọng cho sự khác biệt giữa Millennialists và Amillennialits. Nhóm thứ nhất tin rằng những câu này mô tả các biến cố trong ngày sau rốt trước thời kỳ một ngàn năm. Nhóm thứ hai tin rằng những câu này dùng để mô tả các biến cố trong thời gian Chúa Giê-xu đến thế gian lần thứ nhất và sự chết của Ngài. Xem J.F.Walvoord, Daniel : The Key to Prophetic Revelation (Chicago : Moody, 1971), trang 216 - 37, để so sánh những sự khác nhau này.
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. So sánh và nêu sự tương phản giữa sự khôn ngoan của Đaniên và các bác sỹ Ba-by-lôn trong Đaniên 1 và 2
    2. Đaniên (Chương 6) và ba bạn của ông (Chương 3) làm gương cho các thánh đồ là những người sẽ chịu đau khổ vì bị bắt bớ lớn trong tương lai như thế nào ?
    3. Tội chính của Nêbucáinếtsa và Benxát sa là gì (chương 4 và 5) ? Thượng Đế muốn dạy họ điều gì ?
    4. Sự hiểu biết của Đaniên về LeLv 26:1-46; IVua 1V 8:1-66Gie Gr 25:1-38 đã ảnh hưởng đến lời cầu nguyện của ông trong chương 9 như thế nào ?
    5. Lời cảnh cáo nào được đề cập trong IIPhi 2Pr 1:20-21 về sự giải thích lời tiên tri ? IPhi 1Pr 1:10-12 cho chúng ta biết gì về những điều người tiên tri b iết và những điều tiên tri không biết ?

    CÁC TIÊN TRI SAU THỜI KỲ LƯU ĐÀY
    A ghê, Xachari, Malachi
    Khoảng thời gian : Aghê 520 TC ; Xachari : 520 - 500 TC ; Malachi : 420 TC
    Si ru, vua Pherơsơ (Ba tư) đánh bại Ba-by-lôn năm 539 TC và ra chiếu chỉ cho phép người Hêbơrơ từ chốn lưu đày trở về Phalêtin và xây dựng lại đền thờ (Exo Er 1:1-3). Có khoảng 50 ngàn người Do Thái đã trở về trong năm 538 TC . dưới sự lãnh đạo của quan trấn thủ Xorôbabên và thầy cả thượng phẩm Giê sua/Giô sua (1:11; 2:64-66). Khi trở về, dân c húng lập lại bàn thờ và bắt đầu xây nền của đền thờ (3:3, 8-10). Nhưng khi dân bản xứ muốn cùng dân DO Thái xây cất đền thờ, Xôrobabên và Giê sua từ chối không chịu hợp tác. Để đáp lại, họ bèn đe dọa dân Giu-đa và làm ngưng việc xây cất đền thờ (4:1-5). Khoảng 16 năm sau (520 TC ), năm thứ hai đời Đa riút, vua Pherơsơ, Thượng Đế đã dấy lên tiên tri Aghê và Xachari để thánh thức dân c húng hãy bắt đầu trở lại công việc xây cất đền thờ (4, 5:2; AgKg 1:1; XaDr 1:1). Đền thờ được xây cất xong bốn năm sau đó, năm 516 TC (Exo Er 6:15)
    Vềsau, vào năm 458 TC , trong đời trị vì của Attaxetxe, vua Pherơsơ, Êxơra trở lại Giê-ru-sa-lem và mang đến c uộc cải cách tôn giáo vì dân chúng đã lậ gia đình với dân ngoại là những người thờ thần khác (7:1-10; 9:1-10:15). Vài năm sau đó, vào năm 445 TC Mêhêmi trở về Giê-ru-sa-lem và giúp xây dựng lại vách thành (NeNe 2:1; 6:15). Không lâu sau, Êxơra đã dấy lên một cơn phục hưng khác vì dân chúng lại đi lập gia đình với dân ngoại nữa (8:1-10:31). Khoảng 25 năm sau (420 TC ), Thượng Đế đã dấy lên tiên tri Malachi để mang đất nước trở lại với Thượng Đế vì dân chúng không còn kính sợ Thượng Đế hoặc sống theo đường lối của Ngài nữa.
    A GHÊ: ĐẶT THỨ TỰ ƯU TIÊN
    Việc xây dựng lại đền thờ là mối quan tâm lớn của dân Giu-đa khi họ trở về Giê-ru-sa-lem lần đầu tiên. Vì họ cứ lo sợ về những mối đe dọa chung quanh và chính quyền Phêrơsơ, nên việc xây cất đền thờ không còn là ưu tiên nữa. Sứ điệp của Aghê cho thấy rằng dân chúng cũng sẽ gặp khó khăn vì sự bất quân bình về thứ tự ưu tiên trong đời sống thuộc linh của họ.
    BỐ CỤC SÁCH AGHÊ
    Tôn vinh Thượng Đế và xây cất đền thờ AgKg 1:1-15
    So sánh vinh quang của đền thờ 2:1-9
    Sự thánh khiết đi trước phước hạnh 2:10-19
    Công việc của Thượng Đế sẽ được hoàn tất 2:20-23
    Aghê thật là một người có tài thuyết phục. Tuy ông gặp hoàn cảnh khó khăn, chính sách khắt khe của nhà cầm quyền, tình trạng kinh tế èo uột, và sự thờ ơ tâm linh khắp mọi nơi, nhưng Aghê đã vượt qua được mọi trở ngại đó vì ông chú tâm vào những ưu tiên của dân tộc.
    TÔN VINH THƯỢNG ĐẾ VÀ XÂY CẤT ĐỀN THỜ
    Sau nhiều năm chán nản và thất vọng vì không thể xây cất được đền thờ, hầu hết dân Giu-đa chỉ mu ốn bỏ cuộc. Họ không đủ t iền để có thể hoàn tất một chương trình quá tốn kém như vậy vì Thượng Đế đã khiến cơn hạn hán đang xảy ra trong xứ (1:6, 9-11). Có được lời tức nào, thì họ chi dùng trong việc xây cất nhà cao cửa đẹp cho họ. Mọi v iệc đều đi đến kết luận rằng nay chưa phải là thì giờ thuận tiện để xây cất đền thờ (1:4). Aghê đã thách thức lời kết luân này và đặt ra các ưu tiên cao hơn về nhưng điều làm Thượng Đế vui lòng và những điều làm sáng danh Ngài (1:8). Dân chúng kính sợ Thượng Đế, vâng lời Ngài, và bắt đầu công việc xây cất đền thờ vì họ tin rằng Thượng Đế ở cùng họ (1:12-15)
    SO SÁNH VINH QUANG CỦA ĐỀN THỜ
    Sau khi xây cất đền thờ được hai tháng, họ nhận biết rằng đền thờ mới này nhỏ hơn đền thờ của Salômôn và không có vàng trên vách, trên sàn và trên bàn ghế (2:3 xem thêm IVua 1V 6:14-36). Nhiều người nghĩ rằng đây là một sự xấu hổ, không xứng đáng với sự cố gắng. Nhưng có phải đền thờ được đánh giá trên vẻ đẹp bề ngoài không ? Aghê đã thách thức dân chúng hãy đặt ưu tiên cao hơn, vì Thánh Linh của Thượng Đế sẽ giục lòng họ. Ngài vẫn kiểm soát mọi nước t rên đất và làm chủ tất cả vàng trên thế gian (AgKg 2:4-8). Dẫu vẻ đẹp bên ngoài không quan trọng, nên Thượng Đế đã ban cho đền thờ mới này sự vinh quang lớn khi Siru trả xong mọi chi phí của đền thờ (Exo Er 6:8-10).
    SỰ THÁNH KHIẾT ĐI TRƯỚC PHƯỚC HẠNH
    Hai ví dụ từ luật pháp cho biết rằng sự thánh khiết không có được nhờ chỉ vào trong đền thờ hoặc nhà đụng đến những vật thánh (AgKg 2:10-13). Aghê thấy dân chúng đã bị ô uế và cần sự nên thánh chứ không phải chỉ cần những nghi thức thờ phượng trong đền thờ mới. Khi sự thánh khiết là ưu tiên của họ, thì họ sẽ nhận lãnh được ơn phước của Thượng Đế (4-19).
    CÔNG VIỆC CỦA THƯỢNG ĐẾ SẼ ĐƯỢC HOÀN TẤT
    Sau cùng Aghê hứa với quan trấn t hủ mới rằng Thượng Đế sẽ ở cùng ông, sẽ kiểm soát mọi nước xung quanh đã đe dọa ông, và chọn ông (hậu tự của Đa-vít sẽ đeo nhẫn vua) để làm ấn tín về công việc của Thượng Đế vẫn được tiếp tục để đem vương quốc của Ngài đến thế gian (2:20-23)
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Trong trường hợp bị chống đối hay gặp khó khăn, người tin Chúa phải luôn luôn đ ặt ưu tiên về những điều làm vui lòng và sánh danh Thượng Đế.
    2. So sánh đôi khi đưa đến sự nản lòng, nhưng lời hứa và quyền năng Thượng Đế sẽ thêm sức để vượt qua mọi trở ngại.
    3. Thượng Đế ít chú tâm vào nghi lễ bên ngoài hơn là vào sự thánh khiết bên trong
    XACHARI THƯỢNG ĐẾ KHÔI PHỤC SIÔN
    Tiên tri Xachari có lẽ xuất thân từ một gia đình thầy tế lễ (NeNe 12:4, 16) và ông, cùng với Aghê, đã đóng vai trò chính t rong sự thách thức những người trở về từ chốn lưu đày Ba-by-lôn xây cất đền thờ (Exo Er 4:24-5:5). Tuy tám chương đầu nói về sự khuyến khích xây cất đền thờ được viết khoảng năm 520 - 518 TC , nhưng chương 9-14 không ghi ngày viết và chú trọng nhiều vào thời kỳ Thượng Đế sẽ thiết lập vương quốc Mê-si-a của Ngài. Vì những điểm khác nhau này, nên có thể Thượng Đế đã có các sứ điệp tiên tri trong chương 9-14 nhiều năm sau khi đền thờ đã xây cất xong.
    BỐ CỤC SÁCH XACHARI
    Những sự hiện thấy để khuyến khích xây cất đền thờ XaDr 1:1-6:15
    Kêu gọi ăn năn 1:1-6
    Những sự hiện t hấy về sự khôi phục Giê-ru-sa-lem 1:7-2:13
    Những sự hiện thấy về việc ủy thác quyền người lãnh đạo 6:15
    Vấn đề kiêng ăn 7:1-8:23
    Gánh nặng liên quan đến tương lai Y-sơ-ra-ên 9:1-14:21
    Sự chối bỏ người chăn hiền lành 11:17
    Sự tiếp nhận người chăn hiền lành 12:1; 14:21
    Xachari cung cấp những sứ điệp hy vọng cho cấp lãnh đạo và cộng đồng người tin Chúa là những người đã mất sức mạnh vì tội lỗi của chính họ. Họ bị nản lòng vì dường như Thượng Đế không khôi phục lại đất nước họ. Để họ giải quyết vấn đề khó khăn này tội lỗi phải được cất bỏ, người chăn của Thượng Đế phải được chấp nhận, và rồi Thượng Đế mới thiết lập vương quốc của Ngài.
    NHỮNG SỰ HIỆN THẤY ĐỂ KHUYẾN KHÍCH XÂY CẤT ĐỀN THỜ
    Xachari báo trước những sự hiện thấy cảu ông bằng lời kêu gọi ăn năn (XaDr 1:1-6). Thượng Đế nổi giận với dân sự Ngài vì cớ tội lỗi của họ, cho nên mọi hy vọng trong tương lai đều phụ thuộc vào sự sẵn lòng trở về cùng Thượng Đế của họ. Trong sự cảm tạ, họ đã ăn năn (1:6;)
    Thượng Đế đã ban một loạt sự hiện thấy để khuyến khích dân chúng trong việc khôi phục lại Giê-ru-sa-lem. Thượng Đế đang theo dõi Giê-ru-sa-lem (biểu tượng bằng các thiên sữ cỡi ngựa trong 1:8-11) và sẽ tiêu diệt mọi nước thù nghịch (biểu tượng bằng các sừng - 1:15, 18-21; 2:8). Giê-ru-sa-lem sẽ rất lớn nhưng không đủ chỗ chứa những người trở về đến nỗi tràn qua vách thành. Nó sẽ đầy dẫy sự vui mừng, sự hiện diện của Thượng Đế, và dân chúng từ nhiều quốc gia (1:16, 17; 7:1-14).
    Thành phần lãnh đạo cũng được khuyến khích. Giehosua thầy cả thượng phẩm được bảo vệ, được thanh tẩy, và hứa được tự do đến gần ngôi ân đi ển của Thượng Đế qua sự cầu nguyện. Mắt Thượng Đế sẽ ở trên các hòn đá đền thờ và nó sẽ được hoàn tất (3:1-10). Qua Xorôbabên và Giêhôsua (biểu tượng bằng hai cây Ôlive), Thần của Thượng Đế sẽ biến núi thành đồng bằng và khiến hòn đá trên đỉnh đền thờ sẽ sớm được đặt vào chỗ của nó (4:1-14). Sự rủa sả của Thượng Đế (biểu tượng bằng người nữ) sẽ được cất bỏ (5:1-11) và Ngài sẽ cầm quyền cai trị bốn phương (-8). Lời hứa của Thượng Đế sai một Chồi mống (Đấng Mê-si-a) được truy niệm bằng mũ triều thiên đặt t rên đầu Giêhôsua, vì Đấng Mê-si-a sẽ kiêm hai công vụ vừa là thầy tế lễ và vừa là vua (6:9-14)
    VẤN ĐỀ KIÊNG ĂN
    Một số người từ thành Bê-tên đén gặp Xachari để hỏi rằng họ có còn phải tiếp tục kiêng ăn trong t háng năm để kỷ niệm sự tàn phá đền thờ Giê-ru-sa-lem nữa không (Gie Gr 52:12, 13) vì đến thờ mới bây giờ đã được xây cất. Xachari nghi ngờ họ thật sự kiêng ăn vì Thượng Đế hay vì chính họ. Đoạn Thượng dế thách thức họ hãy đặt ưu tiên làm điều công bình và thương xót, chớ cứng cổ như tổ phụ của họ (7:8-12). Đoạn Thượng Đế sẽ lập lại Giê-ru-sa-lem ban cho họ bình an, và làm Y-sơ-ra-ên được thạnh vượng giữa các nước (8:1-13). Thượng Đế sẽ biến sự kiêng ăn của họ trong quá khứ thành những ngày lễ hội vui mừng (8:19)
    GÁNH NẶNG LIÊN QUAN ĐẾN TƯƠNG LAI Y-SƠ-RA-ÊN
    Sứ điệp nặng nề đầu tiên của Xachari (9-11) mô tả sự phán xét của Thưọng đế trên Tyrơ và Phi-li-tin (9:1-7) và sự khôi phục lại dân sự Ngài (9:8-11:3). Sự khôi phục sẽ bao gồm sự xuất hiện của vua Y-sơ-ra-ên khiêm nhường (Đấng Mê-si-a) cỡi lừa, lập lại giao ước liên hệ với dân Ngài, ban cho mưa, cất đi mọi thần tượng và tiên tri giả, và làm vững lòng dân Ngài. Nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ chối bỏ vua này. Họ sẽ đi theo người chăn gian ác chỉ mang đến sự hủy diệt và người chăn hiền lành sẽ được bán với giá 30 nén bạc (11:4-17)
    Sứ điệp nặng nề thứ hai (12-14) mô tả sự giải cứu của Thượng Đế cho Giu-đa trong một trận chiến tranh lớn giữa dân Ngài và các nước tr ên đất (12:1-9). Khi Thượng Đế giải cứu Y-sơ-ra-ên và tiêu diệt các nước, thì dân chúng sẽ nhận biết người mà họ đã đâm, sẽ chối bỏ các quan trường giả dối của họ, sẽ than khóc vì tội lỗi họ, và sẽ được tẩy sạch (12:10-13:6). Trong trận tấn công sau cùng trên Giê-ru-sa-lem, khi nhièu người bị giết, thì chính Thượng Đế sẽ đứng trên núi Ôlive và giải cứu dân Ngài (13:7-14:5). Đoạn Thượng Đế sẽ làm vua trị vì trên toàn thế giới và tiêu diệt tất cả những ai chối bỏ không thờ lạy Ngài như Vua của muôn vua (14:9-21).
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Con đường duy nhất để tránh sự giận dữ của Thượng Đế là ănnăn tội lỗi.
    2. Một ngày nào đó Thượng Đế sẽ đoán xét kẻ ác giữa các nước, mang người công bình từ các dân tộc họp chung với dân Ngài, và Ngài sẽ ở giữa được dân vui mừng của Ngài.
    3. Công việc của Thợng đế sẽ được hoàn tất qua Thánh linh của Ngài, không phải bởi sức người, sự khôn ngoan của thế gian hay sức mạnh quân sự.
    4. Nghi thức kiêng ăn sẽ trở thành vô dụng nếu không phải kiêng ăn vì Thượng dế.
    5. Tuy có nhiều người chối bỏ người Chăn hiền lành đến từ Thượng Đế, qua sự bày tỏ về quyền năng lạ lùng và ân điển của Thượng Đế, một ngày nào đó vô số người Do Thái và dân ngoại sẽ nhận biết Ngài là Vua trên muôn vua và thờ lạy Ngài.
    Tân ước nhìn thấy Chúa Giê-xu là một vị vua khiêm nhường là Đấng mang đến sự cứu rỗi, tuy Ngài cỡi một con lừa (XaDr 9:9Mat Mt 21:5). Chúa Giê-xu nhận mình là người Chăn hiền lành (XaDr 1:1-14GiGa 10:14) và Ngài đã bị bán với giá 30 nén bạc (XaDr 11:12Mat Mt 26:15). GiGa 19:37 nhận biết Đấng đã bị đâm (XaDr 12:10) là Chúa Giê-xu trên thập tự giá. KhKh 22:5 nói đến một thời điểm sẽ không còn đêm nữa (xem XaDr 14:6, 7) và KhKh 22:1, 2 nói về một dòng sông chảy ra từ Giê-ru-sa-lem (XaDr 14:8)
    MALACHI TÔN KÍNH THƯỢNG ĐẾ
    Tiên tri Malachi rao truyền lời Thượng Đế khoảng 100 năm sau Aghê và Xachari. Vách thành Giê-ru-sa-lem đã được dựng lên cho nên thành rất được an ninh. Vì đền thờ đã được xây cất lại từ quá lâu rồi nên không mấy ai thích thứu trong sự thờ phượng tại đó. Cả th ầy tế lễ cũng không còn dạy đỗ dân chúng về luật tế lễ nã. Nhiều người đã làm đảo lộn mệnh lệnh của Exơra từ việc ly dị người vợ ngoại bang đến việc được phép ly dị người vợ Giu-đa của họ nữa. Nhiều người thậm chí còn nghi ngờ có ích lợi gì không trong sự hầu việc Thượng đé, Malachi đề cập đén các vấn đề này qua hình thức đối thoại gồm có các câu hỏi và trả lời.
    BỐ CỤ SÁCH MALACHI
    Tranh luận về tình thương của Thượng Đế đối với Y-sơ-ra-ên MaMl 1:1-5
    Tranh luận về sự tôn kính Thượng Đế trong sự thờ phượng 1:6-14
    Tranh luận nghịch cùng các th ầy tế lễ 9
    Tranh luận về hôn nhân và ly dị 2:10-16
    Tranh luận về sự c ông bình của Thượng Đế 2:17-3:6
    Tranh luận về sự dâng phần mười 3:7-12
    Tranh luận về giá trị của sự hầu việc Thượng Đế 3:1-4:6
    Tiên tri Malachi tin rằng có một yếu tố quan trọng phía sau những khó khăn về đạo đức và sự thờ phượng mà dân chúng đang đối diện. Họ không coi Thượng Đế như một vua cai trị cao cả đáng kính sợ; cho nên họ không sống theo những lời chỉ dẫn giao ước của Ngài.
    TRANH LUẬN VỀ TÌNH THƯƠNG CỦA THƯỢNG ĐẾ ĐỐI VỚI Y-SƠ-RA-ÊN
    Tuy Thượng Đế yêu thượng Y-sơ-ra-ên, nhưng có một số dân Giu-đa tại Giê-ru-sa-lem thắc mắc không biết Thượng Đế có thật yêu thương họ hay không. Nhưng tình thương của Thượng Đế được chứng minh bằng sự chúc phước của Giacốp chức không phải Êsau (SaSt 25:1-26:35). Sự đoán phạt của Thượng Đế trên hậu tự của Êsau là dân Êđôm đã chứng tỏ rằng Ngài không do dự trong chương trình của Ngài. Malachi đã nhắc những người này rằng một ngày nào đó Thượng Đế sẽ được vinh hiển trên khắp thế giới, cho nên ông khuyên họ hãy tái lập sự hứa nguyện với ngài.
    TRANH LUẬN VỀ SỰ T ÔN KÍNH THƯỢNG ĐẾ TRONG SỰ THỜ PHƯỢNG
    Thượng Đế so sánh Ngài với người cha và người c hủ, nhưng điều đáng chú ý là Ngài không nh ận được sự tôn kính thích hợp với những địa vị đó. Có một số người thắc mắc về lời tố cáo này. Họ khinh dễ Thượng Đế như t hế nào ? Bằng cách dâng con vật vù hay què làm của lễ mà ngay đến quan trấn thủ họ cũng không vui nhận. Tốtt hơn là nên đóng cửa đền thờ thay vì cứ tiếp tục sự giả hình này. Dân chúng cần nhớ rằng Ngài là vị vua cao ả và danh Ngài sẽ được kính sợ giữa các dân.
    TRANH LUẬN NGHỊCH CÙNG CÁC THẦY TẾ LỄ
    Thượng Đế không được thờ phượng phải lẽ vì các thầy t ế lễ không làm đúng với tư cách của thầy tế lễ tin kính qua sự tôn kính Thượng Đế, ban cho dân sự những lời chỉ dẫn theo luật pháp của Ngài, bước đi trong sự công bình và bình an, hoặc hướng dẫn dân chúng từ bỏ con đường gian ác. Vì họ đã làm hư hỏng giao ước Lê vi, nên Thượng Đế sẽ khinh bỉ và rủa sả họ; Ngià sẽ rải phân của các tế vật trên mặt họ và làm ô uế họ.
    TRANH LUẬN VỀ HÔN NHÂN VÀ LY DỊ
    Gia đình người Giu-đa được định nghĩa bằng mố liên hẹ của nó với một người cha tức Apraham, và một Thượng Đế, tức Thượng Đế của Y-sơ-ra-ên. Nhưng nhiều người Hêbơrơ đã phá hủy truyền thống gia đình đó, có người đã cưới vợ ngoại bang và người khác thì ly dị người vợ Hêbơrơ của họ. Điều này đã làm xúc phạm đến sự thờ phượng Thượng Đế của dân chúng tại đền thò và khiến cho Ngài không thể tiếp nhận của lễ của họ được. Thượng Đế ghét ly dị ; dĩ nhiên nếu ai có Đức Thánh linh trong lòng sẽ không làm như vậy.
    TRANH LUẬN VỀ SỰ CÔNG BÌNH CỦA THƯỢNG ĐẾ
    Những việc quá xấu xa đến nỗi có người đã có nghi vấn về sự công bình của Thượng Đế, và cho rằng Thượng Đế vui lòng với những người làm ác. Nhưng Thượng Đế sẽ chứng tỏ sự công bình của Ngài trên thế gian khi Ngài sai sứ giả của Ngài dọn đường cho sự xuất hiện của sứ giả theo lời hứa (Đấng Mê-si-a).3 Ngài sẽ làm thanh k hiết dòng Lê vi và sẽ cất bỏ đi những kẻ gian ác không kính sợ Thượng Đế, hầu cho dân Ngài một lần nữa dâng của lễ đẹp lòng cho Thượng Đế. Thượng Đế là công bình; đức tính và lời hứa của Ngài không thay đổi.
    TRANH LUẬN VỀ SỰ DÂNG PHẦN MƯỜI
    Thượng Đế kêu gọi dân sự ăn năn, nhưng dường như họ không biết phải ăn năn điều gì. Thượng Đế cho biết rằng họ không dân phần mười. Nếu họ thôi ăn trộm của Thượng Đế, thì Ngài sẽ ngưng tại vạ đã được sai đến tàn phá mùa màng và sẽ đổ phước xuống cách dư dật đến nỗi họ không đủ kho chứa.
    TRANH LUẬN VỀ GIÁ TRỊ CỦA SỰ HẦU VIỆC THƯỢNG ĐẾ
    Sau hết, Thượng Đế để tố cáo những người kiêu ngạo vì họ bắt đầu nghĩ rằng sự hầu việc Thượng Đế hay ăn năn là vô ích. Họ bị lầm lẫn đến nỗi coi người kiêu ngạo là người phước hạnh và cọi người gian ác là người mạnh. Điều này khiến cho những người kính sợ Thượng Đế khích lệ lẫn nhau bằng c ách nhắc nhở rằng Thượng Đế có một sách để ghi nhớ tên những người tôn kính Ngài. Họ sẽ là cơ nghiệp đặc biệt của Ngài, và quý như con một của Ngài. Trong ngày lớn của Thượng Đế, Ngài sẽ phân b iệt giữa kẻ gian ác và người công bình là những người đã hầu việc Ngài. Lửa hực của Ngài sẽ thiêu hủy những kẻ kiêu ngạo gian ác và ban sự vui mừng và chữa lành những người kính sợ Ngài. Nên ghi nhớ những điều Thượng Đế đã bày tỏ cho Môi se trong quá khứ và những điều Thượng Đế sẽ làm trong ngày của Chúa khi Ngài sai Ê-li đi khôi phục đất nước.
    Ý NGHĨA THẦN HỌC
    1. Tình thương và sự công bình của Thượng Đế không thay đổi. Sự chọn lựa và phán xét sau c ùng của Thượng Đế chứng minh được đức tính của Ngài.
    2. Tôn kính Thượng Đế, vua cao cả, không phải bằng sự thờ phượng giả dối. Thượng Đế xứng đáng để nhận lãnh những gì tốt đẹp nhất của chúng ta.
    3. Thượng Đế ghét ly dị và lập gia đình với người ngoại đạo. Những hành động này sẽ phá hủy gia đình và làm cho sự thờ phượng không được chấp nhận.
    4. Giáo sư/người giảng mà không kính sợ Thượng Đế, không ban phát sự chỉ dẫn thật từ lời Chúa, không bước đi trong sự công bình, và không hướng dẫn dân chúng xây bỏ đường lối xấu xa thì sẽ không nhận lãnh được phước hạnh của Thượng Đế.
    5. Thượng Đế phân biệt giữa người công bình và kẻ gian ác, cho nên, kính sợ Thượng Đế và hầu việc Ngài là những điều đáng làm .
    Ơ sách Rôma trong Tân ước (RoRm 9:13) Phaolô đã trưng dẫn MaMl 1:2, 3 - "Ta yêu Gia cốp và ghét Esau" - cho thấy rằng mục đích của Thượng Đế đã được ứng nghiệm qua sự tuyển chọn cá nhân. Sứ giả dọn đường cho Cứu Chúa trong 3:1 và Ê-li trong 4:5 được Chúa Giê-xu nhìn nhận là Giăng Báp tít trong Mat Mt 11:9, 10, 14
    GHI CHÚ
    1. P.A.Verhoef, The Book of Haggai and Malach (Grand Rapids : Eerdmans, 1987), trang 58, cho rằng nhà của họ được làm bằng ván đóng vách bên trong, trông sang trọng như trong cung điện vua (IVua 1V 5:1-18; Gie Gr 22:14)
    2. J.Baldwin, Haggai, Xechariah, Malachi (Downers Grove : InterVarsity Press, 1972), troang 109, cho rằng chữ "ta" là người được sai đến để nghịch cùng các nước trong XaDr 2:8 nói về đấng tiên tri, nhưng dường như chữ "ta" trong 2:82:11mà chỉ về Đấng Mê-si-a.
    3. Verhoef, The Book of Haggai and Malachi (Grand Rapids : Eerdmans, 1987), trang 287 - 96, coi những câu này như là sự phán xét trong tương lai khi Chúa tái lâm, nhưng một phần của lời tiên tri này đã được ứng nghiệm trong sự đến của Chúa Giê-xu lần thứ nhất và một phần khác sẽ được ứng nghiệm trong sự đến thứ hai của Ngài
    CÂU HỎI THẢO LUẬN
    1. Có ba ưu tiên nào mà tiên tri Aghê đã nhấn mạnh ?
    2. Tại sao sự so sánh đôi khi làm cho nản lòng ?
    3. Tiên tri Xachara đã khuyến khích các quan trưởng thời bấy giờ như thế nào
    4. Lời tiên tri nào trong 9:1-14:21 liên quan đến đời sống Chúa Giê-xu ?
    5. Nếu dân chúng th ật lòng tôn kính Thượng Đế, thì điều đó sẽ ảnh hưởng như t hế nào trên đời sống gia đình, trên sự thờ phượng và trên sự dâng phần mười của họ ?
    6. Tại sao kính sợ Thượng Đế và hầu việc Ngài là những việc đáng làm ?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Thi thiên
    Craigie, P.C.Psalms 1-50. Word Biblical Commentary. Waco : Word Books, 1983
    Leupold, H.C.Exposition of Psalms. Grand Rapids : Baker Book House , 1969.
    Gióp
    Anderson, F. I.Job. Tyndale Old Testament Commentaries. Downers
    Grove : InterVarsity Press, 1976
    Hartley, J.E.The Book of Job. New International Commentary on the Old Testament. Grand Rapids : Wm. B. Eerdmans, 1988.
    Châm ngôn
    Kidner, D.The Proverbs Tyndale Old Testament Commentaries.
    Downers Grove : InterVarsity Press, 1964
    Segraves, D.L.Ancient Wisdom for Today's World. Hazelwood,
    MO : Word Afflame Press, 1990
    Truyền đạo
    Kaiser, W.C.Ecclesiastes : Total Life. Chicago : Moody Press, 1979
    Kidner, D.A.A Time to Mourn and a Time to Dance. Downers
    Grove : InterVarsity Press, 1976
    Nhã ca
    Carr, G.L. Song of Solomon. Tyndanle Old Testament Commentar
    Ies. Downers Grove : InterVarsity Press, 1984
    Glickman, S.C.A Song for Lovers. Downers Grove : InterVarsity Press, 1976
    Ê-sai
    Leupold, H.C.Exposition of Isaiah. 2 vols. Grand Rapids : Baker Book House, 1968 - 71
    Ridderbos, J. Isaiah. Bible Student's Commentary. Grand Rapids : Zondervan Publishing, 1985
    Gie re mi
    Harrison, R.K.Jeremiah and Lamentations. Tyndale Old Testament
    Commentaries. Downers Grove : InterVarsity Press, 1973
    Stedman, R.C.Expository Studies on Jeremiah : Death of a Nation.
    Waco : Word Books, 1976
    E xe chi en
    Ellison, H.L.Ezekiel : The Man and His Message. Grand Rapids :
    Wm. B. Eerdmans, 1956
    Taylor, J.B.Ezekiel. tyndale Old Testament Commentaries
    Downers Grove : InterVarsity Press , 1969
    Da ni en
    Baldwin, J.G.Daniel. tyndale Old Testament Commentaries
    Downers Grove : InterVarsity Press, 1978
    Walvoord, J.F.Daniel : The Kay to Prophetic Revelation. Chicago :
    Moody Press, 1971
    Các tiểu tiên tri
    Boice, J.M.the Minor Prophets. 2vols. Grand Rapids : Zondervan
    Phblishing, 1983 - 86
    Gaebelein, F.C.The Expositor's Bible Commentary. Vol 7. Grand Rapids : Zondervan Publishing, 1986
    Sách về từng các tiên tri
    Baker, D.Nahum, Habakkuk, Zephaniah. Tyndale Old Testament
    Commentaries. Downers Grove : InterVarsity Press, 1988
    Baldwin, J.G.Haggai, Zephaniah, Malachi. Tyndale Old Testa ment Commentaries. Downers Grove : InterVarsity Press 1978
    Hubbard, D.A.Joel and Amos. Tyndale Old Testament Commentaries. Downers Grove : InterVarsity Press, 1989
    Kaiser, W.C.Malachi : God's Unchanging Love. Grand Rapids : Baker Book House, 1984



  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels