• DẪN NHẬP KINH THÁNH - 1

    DẪN NHẬP KINH THÁNH - 1
    Dẫn nhập Sáng Thế ký
    Các niên đại
    Công cuộc sáng tạo
    Thời của Nô-ê không được cho biết
    Áp-ra-ham ra đời khoảng 2166 -2000 TC
    Áp-ra-ham vào xứ Ca-na-an khoảng 2091-1925 TC
    Y-sác ra đời khoảng 2066-1900 TC
    Gia-cốp và Ê-sau ra đời khoảng 2006-1840 TC
    Gia-cốp trốn đến Cha-ran, khoảng 1929-1764 TC
    Giô-sép ra đời, khoảng 1915-1750 TC
    Giô-sép bị bán sang Ai-cập khoảng 1898-1733TC
    Giô-sép qua đời, khoảng 2805-1640 TC
    Lời giới thiệu
    Ban đầu... bắt đầu... khởi đầu... mở đầu. Trong mấy từ ngữ này, có một điều gì đó thật tươi mới, lạc quan, cho dù chúng chỉ một buổi bình minh của một ngày mới, sự ra đời của một đứa trẻ, khúc dạo đầu của một bản nhạc giao hưởng, hay những dặm đường đầu tiên trong một chuyến đi nghỉ hè của gia đình. Được tự do đối với mọi vấn đề với đầy đủ hứa hẹn những điểm bắt đầu khơi dậy hi vọng và nhiều khải tượng của trí tưởng tượng đối với tương lai. Sáng thế ký có nghĩa là quyển sách viết về “buổi ban đầu” hay “nguồn gốc” và nó hàm chứa phần ký thuật về buổi ban đầu của thế giới này, của lịch sử loài người, của gia đình, của văn minh, của sự cứu rỗi. Nó là câu chuyện kể lại chủ đích và kế hoạch của Đức Chúa Trời cho công trình sáng tạo của Ngài. Là quyển sách của những khởi điểm, Sáng thế ký định đoạt các giai đoạn cho toàn bộ Thánh Kinh. Nó trình bày thân vị và bản tính của Đức Chúa Trời (Đấng Tạo Hoá, Đâng Bảo Trì, Đấng Phán xét, Đấng Cứu Chuộc giá trị và phẩm giá của con người (được sáng tạo theo hình tượng của Đức Chúa Trời, được cứu rỗi bởi ân điển Ngài, được Đức Chúa Trời sử dụng trong thế gian này) tấn thảm kịch và các hậu quả của tội lỗi (sự sa ngã, cách biệt với Đức Chúa Trời sự phán xét) và lời hứa, bảo đảm cho sự cứu rỗi (lời giao ước, sự tha tội, Đấng Mê-si-a của lời hứa).
    Khởi điểm của Sáng thế ký là Đức Chúa Trời. Chúng ta thình lình nhìn thấy Ngài sáng tạo thế gian này bằng cách phô bày ra quyền năng và chủ đích uy nghiêm của mình, mà tuyệt đỉnh là một người nam và một người nữ giống như chính Ngài vậy (1:26,27). Nhưng chẳng bao lâu, tội lỗi đã vào trong thế gian, và Sa-tan đã xuất hiện, chẳng cần chi phải đeo mặt nạ. Vốn được tắm mình trong sự ngây thơ vô tội, công trình sáng tạo đã bị sự sa ngã (sự cố ý không vâng lời của A-đam và Ê-va) đánh tan. Sự thông công với Đức Chúa Trời bị gián đoạn, và điều ác bắt đầu dệt mạng lưới phá hoại của nó. Tiếp theo đó, chúng ta đọc thấy thế nào A-đam và Ê-va đã nhanh chóng bị đuổi ra khỏi cảnh vườn đẹp đẽ, trưởng nam của họ trở thành kẻ sát nhân, và gian ác cứ chồng thêm gian ác, cho đến cuối cùng, Đức Chúa Trời đã tuyệt diệt toàn thể mọi người khỏi mặt đất, ngoại trừ một gia đình nhỏ do Nô-ê, con người duy nhất biết kính sợ Đức Chúa Trời, cầm đầu.
    Khi đến với Áp-ra-ham trong các đồng bằng xứ Ca-na-an, chúng ta thấy Đức Chúa Trời bắt đầu lập giao ước với dân Ngài và nét phác hoạ đại cương của kế hoạch cứu rỗi của Ngài được cứu rỗi là nhờ có đức tin. Các hậu duệ của Áp-ra-ham sẽ là dân sự của Đức Chúa Trời, và Cứu Chúa của thế gian này sẽ từ tuyển dân ấy mà ra đời. Các truyện tích của Y-sác, Gia-cốp và Giô-sép nối tiếp nhau vốn có nhiều ý nghĩa hơn là những tiểu sử lý thú. Chúng nhấn mạnh các lời hứa của Đức Chúa Trời và là chứng cứ cho việc Ngài vốn thành tín. Những người chúng ta gặp trong Sáng thế ký là những con người chất phác, bình thường, nhưng qua họ, Đức Chúa Trời đã làm nhiều việc lớn lao. Đó là những bức tranh sinh động về cách Đức Chúa Trời có thể và đã thật sự dùng đủ hạng người để thực hiện các chủ đích tốt lành của Ngài... thậm chí cho những người như bạn và tôi.
    Hãy đọc Sáng thế ký để được khích lệ. Có hi vọng cho chúng ta! Cho dù tình hình thế giới có vẻ đen tối đến đâu. Đức Chúa Trời đã có một kế hoạch. Cho dù bạn có cảm thấy mình có vẻ vô nghĩa hay vô dụng đến đâu, Đức Chúa Trời vẫn yêu bạn và muốn sử dụng bạn cho kế hoạch của Ngài. Cho dù bạn có tội lỗi và xa cách Đức Chúa Trời đến đâu, sự cứu rỗi của Ngài vẫn được dành cho bạn hãy đọc Sáng thế ký, và ...hi vọng!
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để ghi lại công cuộc sáng tạo thế gian này của Đức Chúa Trời và ước muốn biệt riêng ra một dân để thờ phượng Ngài.
    Trước giả: Môi-se
    Đọc giả: Cho dân Y-sơ-ra-ên
    Niên đại viết sách: 1450-1410 TC
    Bối cảnh: Tại khu vực hiện nay được biết là Trung Đông
    Các câu chìa khoá: SaSt 1:27; 12:2,3
    Các nhân vật chính: A-đam, E-va, Nô-ê, Áp-ra-ham, Sa-ra, Y-sác, Rê-bê-ca, Gia-cốp, Giô-sép.
    Bố cục:
    A. Truyện tích về công trình sáng tạo (1:1-2:3)
    Đức Chúa Trời đã dựng nên trời, biển và đất. Ngài sáng tạo ra cây cỏ, các loài thú, loài cá, loài chim. Nhưng Ngài đã dựng nên con người giống như hình tượng mình. Lắm khi chúng ta bị người khác coi thường, khinh dể. Nhưng chúng ta có thể tin chắc vào giá trị của mình, vì chúng ta vốn được sáng tạo theo hình tượng của Đức Chúa Trời.
    B. Truyện tích về A-đam (2:4-5:32)
    1. A-đam và Ê-va
    2. Ca-in và A-bên
    3. Hậu duệ của A-đam
    Lúc A-đam và Ê-va được Đức Chúa Trời tạo nên, hai ông bà vốn vô tội. Nhưng hai vị đã trở thành tội nhân khi không vâng lời Đức Chúa Trời và ăn trái cây đã bị cấm, tuy A-đam và Ê-va biết được năng lực tiêu diệt của tội lỗi và các hậu quả cay đắng của nó.
    C. Truyện tích về Nô-ê (6:1-11:32)
    1. Nạn lụt
    2. Việc tái phân phối nhân loại trên đất
    3. Tháp Ba-bên
    Nô-ê được chừa lại khỏi bị nạn lụt hủy diệt vì ông biết vâng lời Đức Chúa Trời và đóng một chiếc tàu. Đức Chúa Trời đã bảo vệ Nô-ê và gia đình ông thế nào, thì ngày nay Ngài cũng vẫn còn bảo vệ cho những người tận trung với Ngài thể ấy.
    D. Truyện tích về Áp-ra-ham (12:1-25:18)
    1. Đức Chúa Trời hứa ban cho Áp-ra-ham một dân tộc
    2. Áp-ra-ham và Lót
    3. Đức Chúa Trời hứa ban cho Áp-ra-ham một con trai
    4. Sô-đôm và Gô-mô-rơ
    5. Y-sác ra đời và suýt bị dâng làm sinh tế
    6. Y-sác và Rê-bê-ca
    7. Áp-ra-ham qua đời
    Áp-ra-ham được lệnh phải lìa quê hương đến xứ Ca-na-an, đi lưu lạc và chờ đợi nhiều năm mới có được một con trai, để rời được lệnh phải dâng nó lên làm của lễ thiêu. Sau những giai đoạn bị thử thách mãnh liệt đó, Áp-ra-ham vẫn tận trung với Đức Chúa Trời. Gương tốt của ông dạy chúng ta về vấn đề sống một cuộc đời bằng đức tin có nghĩa là gì.
    E. Truyện tích về Y-sác (25:19-28:9)
    1. Gia-cốp và Ê-sau
    2. Y-sác và A-bi-mê-léc
    3. Gia-cốp được Y-sác chúc phước cho.
    Y-sác đã không sống theo ý riêng của mình. Ông đã không chống cự khi suýt bị dâng lên làm sinh tế, và ông cũng vui vẻ chấp nhận người vợ mà người khác đã chọn cho ông. Cũng như Y-sác, chúng ta phải học tập để biết đặt ý chỉ của Đức Chúa Trời lên trên hết mọi sự.
    F. Truyện tích về Gia-cốp (28:10-36:43)
    1. Gia-cốp xây dựng gia đình
    2. Gia-cốp hồi hương
    Gia-cốp là người không dễ dàng bỏ cuộc. Ông đã phục vụ cho La-ban hơn 14 năm trời. Sau đó ông còn vật lộn với Đức Chúa Trời nữa. Tuy Gia-cốp phạm nhiều sai lầm, việc lao động gian khổ của ông dạy chúng ta một bài học về cách sống một cuộc đời để phục vụ Chúa.
    H. Truyện tích về Giô-sép (37:1-50:26)
    1. Giô-sép bị bán làm ô lệ
    2. Giu-đa và Ta-ma
    3. Giô-sép bị bỏ tù
    4. Giô-sép được đặt làm người cai trị xứ Ai-cập
    5. Giô-sép gặp lại các anh mình tại Ai-cập
    6. Cả gia đình Giô-sép dời qua Ai-cập
    7. Gia-cốp và Giô-sép qua đời tại Ai-cập
    Giô-sép bị các anh mình bán sang Ai-cập để làm nô lệ, và bị chủ mình bỏ tù một cách bất công. Qua cuộc đời Giô-sép, chúng ta học được rằng phải chịu khổ - dù có bất công đến đâu - điều có thể làm phát triển cá tính để chúng ta sẽ trở thành một người vững vàng, mạnh mẽ.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Các khởi điểm
    Phần giải thích: Sáng thế ký giải thích khởi điểm của nhiều thực tại quan trọng: vũ trụ, địa cầu, con người, tội lỗi, và kế hoạch cứu rỗi của Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng:
    Sáng thế ký dạy rằng địa cầu đều được tạo dựng hoàn thiện và tốt lành. Loài người là tạo vật đặc biệt và độc đáo cua Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sáng tạo và nâng đỡ mọi sinh vật.
    Luận đề: Không vâng lời
    Phần giải thích: Người ta bao giờ cũng trực diện với nhiều quyết định quan trọng. Người ta chọn cách sống không vâng lời Đức Chúa Trời khi kế hoạch của Ngài không dễ dàng cho họ tuân thủ.
    Tầm quan trọng: Sáng thế ký giải thích tại sao con người lại làm ác: chính họ đã chọn để hành động sai lầm. Ngay đến các đại anh hùng của Thánh Kinh cũng từng thất bại và không vâng lời Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Tội lỗi
    Phần giải thích: Tội lỗi tàn hại đời sống người ta. Việc ấy xảy ra khi chúng ta không vâng lời Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Sống theo đường lối của Đức Chúa Trời khiến đời sống chúng ta có kết quả và mãn nguyện
    Luận đề: Lời hứa
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời đưa ra nhiều lời hứa để giúp đỡ và bảo vệ loài người. Loại lời hứa này được gọi là “giao ước”.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài lúc ấy, và vẫn giữ chúng hiện nay. Ngài hứa yêu chúng ta, tiếp nhận chúng ta, tha tội cho chúng ta.
    Luận đề: Vâng lời
    Phần giải thích: Mặt trái của tội lỗi là vâng lời. Vâng lời Đức Chúa Trời thì mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài được vãn hồi
    Tầm quan trọng: Phương pháp duy nhất để được hưởng lợi ích của các lời hứa của Đức Chúa Trời là vâng lời Ngài
    Luận đề: Thịnh vượng
    Phần giải thích: Được thịnh vượng có ý nghĩa sâu nhiệm hơn là chỉ được giàu có về phương diện vật chất mà thôi. Sự thịnh vượng và thành công đích thực sở dĩ có được là nhờ biết vâng lời Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Khi người ta vâng lời Đức Chúa Trời, họ được bình an với Ngài, với tha nhân và với bản thân họ.
    Luận đề: Dân Y-sơ-ra-ên
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời bắt đầu lịch sử dân Y-sơ-ra-ên để có một dân biệt riêng là do Ngài để 1. giữ theo cách sống của Ngài trong thế gian này; 2. truyền bá cho thế gian biết thật ra Ngài là ai và như thế nào, và 3. chuẩn bị thế gian này cho sự ra đời của Chúa Cứu Thế.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời hiện đang trông mong có nhiều người noi theo Ngài. Chúng ta phải truyền giảng chân lý của Đức Chúa Trời và yêu thương tất cả các dân các nước, chứ không phải chỉ yêu đất nước dân tộc mình mà thôi. Chúng ta phải trung tín thực hiện sứ mạng mà Đức Chúa Trời đã giao cho mình.

    Dẫn nhập Xuất Ê-díp-tô ký
    Các niên đại:
    Giô-sép qua đời 1805 TC (1640 TC)
    Môi-se ra đời 1526 (1350 TC)
    Xuất Ai-cập 1446 (1280)
    Ban bố Mười Điều Răn 1445 (1279)
    Dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an 1406 (1240)
    Các quan xét bắt đầu cai trị 1375 (1220)
    Lời giới thiệu:
    Hãy chổi dậy... từ bỏ... chiếm lấy... là các từ ngữ phù hợp với những người đã sa bẫy hay đang làm nô lệ. Tuy nhiên có một số người chống lại việc tiến lên theo trật tự, vì thích môi trường sống hiện tại hơn là một môi trường sống mới mẻ, chưa từng quen biết. Đổi cảnh sống an nhàn đầy đỷ tiện nghi của một nơi mình đã quen biết để lấy một tương lai bấp bênh, thì không phải là việc dễ làm. Nhưng nếu chính Đức Chúa Trời truyền lệnh phải di chuyển thì sao? Chúng ta có sẵn sàng theo sự lãnh đạo của Ngài không? Xuất Ê-díp-tô mô tả một loạt những tiếng gọi của Đức Chúa Trời và lời đáp lại của dân sự Ngài.
    Bốn trăm năm đã trôi qua kể từ khi Giô-sép đưa gia đình ông đến Ai-cập. Các hậu duệ của Áp-ra-ham này, giờ đây đã gia tăng mạnh mẽ, lên đến trên hai triệu. Với vị Pha-ra-ôn mới lên ngôi của Ai-cập, đám người Hy-bá-lai ngoại tộc và dân số của họ thật là đáng sợ. Pha-ra-ôn đã quyết định biến họ thành nô lệ để họ khỏi làm lệch cán cân quyền lực. Như sự việc đã xảy ra, vì sau đó, Đức Chúa Trời đã đến để cứu vớt dân sự Ngài.
    Qua một loạt các biến cố, một bé trai người Hy-bá-lai tên Môi-se đã trở thành một hoàng tử trong cung điện của Pha-ra-ôn rồi đào thoát và đến cư ngụ tại một vùng đất ngoài sa mạc. Đức Chúa Trời đã thăm viếng Môi-se trong một bụi gai cháy một cách bí mật và sau khi tranh luận với Ngài, Môi-se đã đồng ý quay trở lại Ai-cập để lãnh đạo dân sự Ngài thoát khỏi cảnh nô lệ. Ông đã phải đối đầu với Pha-ra-ôn và qua một số các tai vạ và những lời hứa bị bỏ qua, dân Y-sơ-ra-ên đã thoát được móng vuốt của vua ấy.
    Di dời cả một khối người đông đảo như thế không phải là chuyện dễ dàng, nhưng họ đã ra khỏi Ai-cập, vượt Hồng hải để vào sa mạc, phía sau Môi-se với trụ mây và trụ lửa. Bất chấp nhiều chứng cứ liên tục của tình yêu và quyền năng của Đức Chúa Trời, dân sự vẫn than phiền và bắt đầu tiếc rẽ những ngày họ đã sống tại Ai-cập. Đức Chúa Trời đã cung cấp cả các nhu cầu thuộc thể lẫn thuộc linh cho họ bằng lương thực và một nơi để thờ phượng, nhưng Ngài cũng đã trừng phạt sự không vâng lời và vô tín của họ. Rồi một cuộc gặp gỡ đầy kịch tính với Môi-se tại núi Si-na-i, Ngài đã ban bố bộ luật về cách phải sống như thế nào cho phải lẽ, theo sự công chính của Ngài.
    Đức Chúa Trời đã lãnh đạo Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên, và Ngài cũng muốn dẫn đường cho chúng ta nữa. Bạn có sẵn sàng như Môi-se, để nhận một nhiệm vụ đặc thù không? Ngài sẽ ở với bạn; bạn hãy vâng lời và đi theo Ngài. Ngài đã từng giải thoát bạn khỏi một kẻ thù hay một cám dỗ nào chưa? Hãy tin cậy Ngài và làm theo điều Ngài truyền dạy. Bạn đã từng được nghe những lời chỉ dạy đạo đức thật rõ ràng của Ngài chưa? Hãy đọc, nghiên cứu và làm theo Lời Ngài. Ngài có đang kêu gọi bạn hãy đến để thờ phượng Ngài cách đứng đắn, trung thực không? Hãy tìm cho kỳ được sự hiện diện của Ngài trong đời sống, gia đình, và trong tổ chức của hội chúng các tín hữu. Xuất Ê-díp-tô ký là một câu chuyện đầy phấn khích về sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời. Hãy đọc nó với quyết tâm đi theo Đức Chúa Trời bất cứ nơi nào Ngài dẫn bạn đi.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Ghi lại các biến cố về việc dân Y-sơ-ra-ên được giải thoát khỏi Ai-cập và phát triển thành một dân tộc.
    Trước giả: Môi-se
    Niên đại sách: 1450-1410 TC... gần như đồng thời với Sáng thế ký.
    Địa điểm viết sách: Trong sa mạc, lúc dân Y-sơ-ra-ên đi lưu lạc, tại một nơi nào đó của bán đảo Si-na-i.
    Bối cảnh: Tại Ai-cập. Dân sự của Đức Chúa Trời từng được biệt đãi trong xứ, giờ đây phải chịu cảnh nô lệ. Đức Chúa Trời sắp giải phóng họ.
    Câu gốc: XuXh 3:7,10
    Các nhân vật chính: Môi-se, Mi-ri-am, Pha-ra-ôn, Công chúa con gái Pha-ra-ôn, Giê-trô, A-rôn, Giô-suê, Bết-sa-lê-ên.
    Các địa danh chính: Ai-cập, Gô-sen, Sông Ni-lơ, Ma-đi-an, Biển Đỏ, Báo đảo Si-na-i, núi Si-na-i.
    Những nét đặc trưng: Xuất Ê-díp-tô ký ghi lại nhiều phép lạ hơn bất cứ một sách nào khác của Cựu ước kinh và được coi trọng nhờ có Mười Điều Răn.
    Bố cục:
    A. Dân Y-sơ-ra-ên tại Ai-cập (1:1-12:30)
    1. Ách nô lệ tại Ai-cập
    2. Đức Chúa Trời chọn Môi-se
    3. Đức Chúa Trời sai Môi-se đến với Pha-ra-ôn
    4. Các tai vạ hành hại xứ Ai-cập
    5. Lễ Vượt qua
    Khi dân Y-sơ-ra-ên bị bắt làm nô lệ tại Ai-cập, Đức Chúa Trời đã nghe thấu tiếng kêu rêu của họ và cứu vớt họ. Chúng ta có thể tin quyết rằng Đức Chúa Trời vẫn còn nghe tiếng kêu than của dân (những người thuộc về) Ngài. Như Ngài từng giải thoát dân Y-sơ-ra-ên khỏi những kẻ cầm tù họ thế nào, Ngài cũng giải phóng chúng ta khỏi tội lỗi, sự chết và điều xấu xa gian ác y như thế.
    B. Dân Y-sơ-ra-ên trong sa mạc (12:31-18:27)
    1. Việc Xuất Ai-cập
    2. Vượt biển
    3. Lời than phiền trong sa mạc
    Sau khi vượt Hồng hãi, dân Y-sơ-ra-ên trở thành những con người hay gây gổ và bất mãn. Cũng như dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta cảm thấy mình hay than phiền và bất mãn. Các Cơ-đốc nhân vẫn còn phải chiến đấu, nhưng xin chúng ta đừng bao giờ để cho khó khăn và những hoàn cảnh bất như ý khiến mình quay đi mà không tin cậy Đức Chúa Trời nữa.
    C.Dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i (19:1-40:38)
    1. Ban bố luật pháp
    2. Những lời chỉ dạy về việc dựng Đền tạm
    3. Vi phạm luật pháp
    4. Xây dựng Đền tạm
    Đức Chúa Trời mặc khải luật pháp của Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên tại núi Si-na-i. Thông qua luật pháp, họ được học biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào và Ngài trông mong dân (những người thuộc về) Ngài phải sống như thế nào. Luật pháp vẫn còn có giá trị chỉ giáo cho chúng ta, vì nó vạch trần tội lỗi chúng ta và chỉ cho chúng ta thấy chuẩn mực cho đời sống đẹp lòng Đức Chúa Trời.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Ách nô lệ
    Lời giải thích: Dân Y-sơ-ra-ên đã làm nô lệ 400 năm. Pha-ra-ôn vua Ai-cập áp bức họ thật tàn bạo. Họ kêu cầu Đức Chúa Trời, xin Ngài giải cứu họ.
    Tầm quan trọng: Cũng như dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta cần cả sự lãnh đạo của loài người lẫn của Đức Chúa Trời để thoát khỏi ách nô lệ của tội lỗi. Sau khi đào thoát, ký ức về ách nô lệ đã giúp dân Y-sơ-ra-ên biết cách đối xử hào hiệp hơn với người khác. Chúng ta cần chống lại những kẻ áp bức người khác.
    Luận đề: Cứu vớt cứu chuộc
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời đã cứu vớt dân Y-sơ-ra-ên. Nhờ có lãnh tụ Môi-se và các phép là do quyền năng Ngài. Lễ Vượt qua là một lễ kỷ niệm hằng năm việc họ thoát được ách nô lệ.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời giải thích chúng ta khỏi ách nô lệ tội lỗi. Chúa Cứu Thế Giê-xu đã kỷ niệm lễ Vượt qua với các môn đệ Ngài khi dự Tiệc thánh (Bữa Tiệc Tối Cuối Cùng) rồi ra đi để cứu chúng ta khỏi tội lỗi bằng cách chịu chết thay cho chúng ta.
    Luận đề: Hướng dẫn
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời đã hướng dẫn dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập bằng cách sử dụng các tai vạ, lòng dũng cảm của Môi-se, phép lạ tại Biển đỏ, và Mười Điều Răn. Đức Chúa Trời là Đấng hướng dẫn đáng tin cậy.
    Tầm quan trọng: Tuy Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng và có thể làm phép lạ, bình thường Ngài vẫn lãnh đạo chúng ta bằng sự lãnh đạo khôn ngoan và sự nỗ lực tập thể. Lời Ngài ban cho chúng ta sự khôn ngoan để đưa ra các quyết định hằng ngày và cai trị hướng dẫn đời sống chúng ta.
    Luận đề: Mười Điều Răn
    Lời giải thích: Hệ thống luật pháp của Đức Chúa Trời gồm ba phần. Mười Điều Răn là phần thứ nhất, với các lý tưởng tuyệt đối cho đời sống thuộc linh và đạo đức. Luật dân sự là phần thứ hai, cho người ta biết các luật lệ để điều khiển đời sống của họ. Luật lễ nghi là phần thứ ba, chỉ cho họ các kiểu mẫu để dựng lên ngôi Đền Tạm và sự thờ phượng thường xuyên.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời đã dạy cho dân Y-sơ-ra-ên về tầm quan trọng của sự chọn lựa và trách nhiệm. Khi họ tuân thủ các điều kiện của luật pháp, Ngài ban phước ho họ; nếu họ quên hay không tuân thủ, thì Ngài trừng phạt họ hoặc cho phép tai hoạ xảy đến. Nhiều quốc gia lớn trên thế giới lấy hệ thống pháp luật đã được quy định trong Xuất Ê-díp-tô ký làm nền tảng cho luật pháp của họ. Luật đạo đức của Đức Chúa Trời vẫn còn giá trị cho ngày hôm nay.
    Luận đề: Dân tộc
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời đã sáng lập dân Y-sơ-ra-ên để làm nguồn cho chân lý và sự cứu rỗi cho cả thế gian. Mối liên hệ giữa Ngài với dân Ngài là tình yêu nhưng cũng rất vững chắc, cương quyết. Dân Y-sơ-ra-ên không có quân đội, trường học, quan cai trị, thị trưởng hay cảnh sát viên khi họ rời Ai-cập. Đức Chúa Trời đã phải dạy cho họ các luật lệ về lập pháp và cách hành xử hằng ngày. Ngài chỉ cho họ cách thờ phượng và phải làm thế nào vào các ngày lễ của quốc gia dân tộc.
    Tầm quan trọng: Quốc gia Y-sơ-ra-ên mới được thiết lập có đầy đủ các đặc điểm về cách ăn ở cư xử như của các Cơ-đốc nhân ngày nay. Chúng ta thường bị yếu kém về mặt tổ chức, có khi nổi loạn, cũng có lúc được thắng. Bản thân Đức Chúa Trời và Lời Ngài vẫn còn là người hướng dẫn duy nhất cho chúng ta. Nếu các Hội thánh của chúng ta phản ảnh được cho thiên hạ thấy chúng ta vốn được Đức Chúa Trời lãnh đạo, chúng ta sẽ phục vụ Ngài có kết quả.

    Dẫn nhập Lê-vi-ký
    Các niên đại:
    Giô-sép qua đời 1805 TC (1640 TC)
    Giai đoạn dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ai-cập.
    Xuất Ai-cập 1446 (1280 TC)
    Mười Điều Răn được ban bố 1445 (1279 TC)
    Môi-se đóng trại tại Si-na-i 1444 (1278 TC)
    Môi-se qua đời. Vào xứ Ca-na-an 1406 (1240 TC)
    Các quan xét bắt đầu cai trị 1375 (1220 TC)
    Vương quốc thống nhất dưới thời Sau-lơ 1050 (1045)
    Lời giới thiệu:
    “Đức Chúa Trời dường như ở quá xa...phải chi tôi được nhìn thấy hay nghe Ngài...” Có bao giờ bạn cảm thấy như thế khi phải chiến đấu với nỗi cô đơn, bị chán nản thất vọng đè nặng, bị tội lỗi sàng sảy, bị các vấn đề hãm áp, hay không? Đươc tạo dựng theo hình tượng của Đức Chúa Trời, sở dĩ chúng ta được Ngài tạo ra là để liên hệ mật thiết với Ngài; cho nên một khi mối liên hệ ấy đã bị cắt đứt, thì chúng ta trở nên bất toàn và cần được tái tạo, phục hồi. Tương giao với Đức Chúa Trời hằng sống là yếu tính của sự thờ phượng. Nó tối quan trọng, liên quan đến phần cốt lõi của cuộc đời chúng ta. Có lẽ chính vì thế mà toàn bộ Thánh Kinh đã được dành cho vấn đề thờ phượng. Sau cuộc Xuất Ai-cập đầy kịch tính của dân Y-sơ-ra-ên, dân sự đã cắm trại dưới chân núi Si-na-i luôn hai năm để nghe lời Đức Chúa Trời (từ Xuất Ê-díp-tô chương 19 đến Dân số ký chương 10). Đây là thì giờ để nghỉ ngơi, dạy dỗ, gây dựng, và gặp Ngài mặt đối mặt. Sự cứu chuộc trong Xuất Ê-díp-tô ký là phần nền tảng để được thanh tẩy, thờ phượng, và phục vụ trong Lê-vi-ký.
    Bức thông điệp nổi bật trong Lê-vi-ký là sự thánh khiết của Đức Chúa Trời - “Hãy truyền cho cả hội chúng Y-sơ-ra-ên rằng: Hãy nên thánh, vì ta Giê-hô-va Đức Chúa Trời các người vốn là thánh” (19:2). Nhưng làm thế nào một dân tộc bất khiết lại có thể đến gần một Đức Chúa Trời thánh khiết? Câu trả lời là: trước hết phải giải quyết cho xong vấn đề tội lỗi. Cho nên các chương mở đầu Lê-vi-ký đưa ra những lời chỉ giáo chi tiết về cách dâng của lễ, là các biểu tượng tích cực của sự ăn năn và vâng lời. Cho dù là bò, ngũ cốc, dê hay chiên, các của lễ phải hoàn thiện, không tì không vết - hình ảnh của sinh tế tối hậu hầu đến, là Chúa Giê-xu, Chiên Con của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu đã đến, mở ra con đường đến với Đức Chúa Trời bằng cách từ bỏ mạng sống mình làm sinh tế cuối cùng thay cho chúng ta. Sự thờ phượng đích thực và hợp nhất với Đức Chúa Trời bắt đầu khi chúng ta xưng tội mình và tin nhận Chúa Cứu Thế là Đấng duy nhất co thể cứu chuộc chúng ta khỏi tội lỗi và giúp chúng ta đến gần Đức Chúa Trời.
    Trong Lê-vi-ký, các của lễ, các thầy tế lễ, và Ngày Đại lễ chuộc tội mở đường cho dân Y-sơ-ra-ên đến với Đức Chúa Trời. Dân sự Ngài cũng phải thờ phượng Ngài bằng chính đời sống của họ nữa. Cho nên chúng ta được đọc các luật lệ về thanh tẩy (11-15) và các luật lệ về sự sinh hoạt hằng ngày liên quan đến các trách nhiệm đối với gia đình, sinh hoạt tình dục, các mối liên hệ xã giao, những cách sống theo thế gian (18-20) và các lời thề nguyền (27). Những lời chỉ giáo này gồm có việc cùng bước đi với Đức Chúa Trời, và các mẫu mực của sinh hoạt thuộc linh vẫn còn được áp dụng cho ngày hôm nay. Do đó, thờ phượng vốn có phương diện theo chiều ngang của nó - nghĩa là Đức Chúa Trời được tôn vinh bằng đời sống của chúng ta và cách chúng ta liên hệ với nhau.
    Điểm nhấn mạnh cuối cùng trong Lê-vi-ký là vấn đề lễ hội. Quyển sách này đưa ra những lời chỉ giáo liên quan đến các kỳ lễ. Đây là các cơ hội đặc biệt, thường xuyên và tập thể để nhớ lại những gì Đức Chúa Trời đã làm, để mọi người cảm tạ Ngài và tái cống hiến cuộc đời để phục vụ Ngài (23). Các truyền thống và ngày lễ Cơ-đốc giáo của chúng ta tuy có khác nhưng cũng là các thành tố cần thiết cho việc thờ phượng. Chúng ta cũng cần có những ngày đặc biệt để thờ phượng và kỷ niệm với các anh chị em mình để nhớ lại những điều tốt lành Đức Chúa Trời đã làm cho đời sống chúng ta.
    Trong khi đọc Lê-vi-ký xin bạn hãy tái hiến thân cho sự thánh khiết, thờ phượng Đức Chúa Trời bằng cách xưng tội riêng, phục vụ công khai, và cử hành lễ kỷ niệm tập thể.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Một sách chỉ nam cho các thầy tế lễ và người Lê-vi, phác hoạ các nghĩa vụ của họ torng việc thờ phượng, và là một sách hướng dẫn cho người Hy-bá-lai sống một cuộc đời ngay lành.
    Trước giả: Môi-se
    Niên đại: 1445-1444 T.C.
    Bối cảnh: Tại chân núi Si-na-i, Đức Chúa Trời dạy cho dân Y-sơ-ra-ên cách sống như một dân thánh.
    Câu gốc: LeLv 19:2)
    Các nhân vật chính: Môi-se, A-rôn, Na-đáp, A-bi-hu, Ê-lê-a-sa, Y-tha-ma.
    Địa điểm chính: Núi Si-na-i
    Những nét đặc trưng: Sự thánh khiết được đề cập nhiều lần (152) hơn bất luận sách nào khác của Thánh Kinh.
    Bố cục:
    A. Thờ phượng một Đức Chúa Trời thánh khiết (1:1-17:16)
    1. Những lời chỉ giáo về các của lễ
    2. Những lời chỉ giáo cho các thầy tế lễ
    3. Những lời chỉ giáo cho dân chúng
    4. Những lời chỉ giáo về bàn thờ
    Đức Chúa Trời cung cấp những lời chỉ giáo đặc thù (cụ thể) cho loại thờ phượng sẽ làm đẹp lòng Ngài. Những lời chỉ giáo này dạy cho chúng ta về bản tính của Đức Chúa Trời và có thể giúp chúng ta phát triển một thái độ phải lẽ trong việc thờ phượng. Qua các của lễ, chúng ta được biết tính cách trầm trọng của tội lỗi và tầm quan trọng của việc phải đem các tội lỗi của chúng ta đến với Đức Chúa Trời để xin Ngài tha cho.
    B. Sống một cuộc đời thánh khiết (18:1-27:34)
    1. Các chuẩn mực cho dân sự
    2. Các luật lệ cho thầy tế lễ
    3. Các mùa và kỳ lễ
    4. Nhận được phước hạnh của Đức Chúa Trời
    Đức Chúa Trời ban bố các chuẩn mực để người Y-sơ-ra-ên có thể sống một cuộc đời thánh thiện. Họ phải biệt riêng ra với các lân bang theo ngoại đạo quanh họ. Cũng thế, toàn thể các tín hữu phải xa rời tội lỗi mà tận hiến cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời vẫn còn muốn cất đi tội lỗi khỏi đời sống của những người thuộc về Ngài.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Dâng của lễ
    Lời giải thích: Có năm của lễ nhằm đáp ứng hai chủ đích: một là nhằm dâng lên lời ca tụng cảm tạ, và sự tận hiến, chủ đích kia là nhằm chuộc tội, để che đậy và cất đi mọi lỗi lầm. Các sinh tế bằng súc vật chứng minh rằng ngươi dâng sinh tế ấy dâng sinh mạng của con thú lên cho Đức Chúa Trời để thay thế cho chính mạng sống mình.
    Tầm quan trọng: Các của lễ nhằm mục đích thờ phương và để được tha tội. Qua chúng, chúng ta được biết giá phải trả cho tội lỗi, vì chúng ta biết rằng chúng ta không thể tự tha tội cho mình. Hệ thống của Đức Chúa Trời dạy rằng mạng phải đền mạng. Trong Cựu ước kinh, sinh mạng một con vật bị hi sinh để cứu mạng cho một người. Nhưng đó chỉ là một biện pháp tạm thời, cho đến khi Chúa Giê-xu phải chịu chết để trang trải sự trừng phạt đối với tội lỗi cho mọi người vĩnh viễn.
    Luận đề: Sự thờ phượng
    Lời giải thích: Bảy kỳ lễ đã được chỉ định làm những ngày lễ tôn giáo và quốc gia. Chúng thường được cử hành trong gia đình. Các biến cố ấy dạy cho chúng ta nhiều điều về vấn đề thờ phượng Đức Chúa Trời cả trong việc cử hành lẫn trong việc âm thầm tận hiến.
    Tầm quan trọng: Các luật lệ về thờ phượng của Đức Chúa Trời thiết lập một mẫu mực có trật tự, thường xuyên, về vấn đề thông công với Ngài. Chúng dành thì giờ cho việc kỷ luật và cảm tạ cũng như cho việc tỏ lòng tôn kính và tái cống hiến. Việc thờ phụng của chúng ta phải chứng minh sự tận hiến sâu xa của chúng ta.
    Luận đề: Sức khoẻ
    Lời giải thích Các điều luật dân sự về cách ăn uống, bệnh tật, và tình dục đều được truyền dạy. Trong các nguyên tắc thuộc thể này, nhiều nguyên tắc thuộc linh cũng được gợi ý. Dân Y-sơ-ra-ên phải sống khác với các lân bang. Đức Chúa Trời đang bảo tồn dân Y-sơ-ra-ên kỏi bệnh tật và các vấn đề về sức khoẻ cộng đồng.
    Tầm quan trọng Chúng ta phải sống khác với những người không tin Chúa chung quanh cả về mặt đạo đức lẫn thuộc linh. Các nguyên tắc để sống khoẻ mạnh hôm nay cũng quan trọng như vào thời của Môi-se. Một môi trường lành mạnh và một thân thể khoẻ mạnh, khiến chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời càng hiệu quả hơn.
    Luận đề: Sự thánh khiết
    Lời giải thích Thánh khiết có nghĩa là “biệt riêng ra” hay “dành riêng cho” , “tận hiến”. Đức Chúa Trời đã đưa dân sự Ngài ra khỏi Ai-cập, thế là giờ đây Ngài cũng cất xứ Ai-cập xa khỏi dân sự Ngài. Ngài đang chỉ cho họ phải thay đổi cách sống theo lối người Ai-cập để sống và suy nghĩ theo cách của Ngài là như thế nào.
    Tầm quan trọng Chúng ta phải tận hiến, dành riêng mọi lãnh vực của đời sống chúng ta cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải tuyệt đối vâng lời Ngài cả trong các động cơ thúc đẩy lẫn trong hành động thực tế. Tuy chúng ta không tuân thủ tất cả cách thực hành việc thờ phượng y như dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta phải có cùng một tinh thần sẵn sàng và tận hiến như họ vậy.
    Luận đề: Người Lê-vi
    Lời giải thích Người Lê-vi và các thầy tế lễ dạy bảo dân sự về việc thờ phượng. Họ là những người phục vụ Chúa (mục sư) của thời đó Họ cũng điều chỉnh các luật lệ luân lý đạo đức, dân sự và nghi lễ, và quản lý sức khoẻ, công lý, và sự an vui phúc lợi của toàn dân.
    Tầm quan trọng Người Lê-vi là các nhân viên phục vụ (tôi tớ) chỉ cho dân Y-sơ-ra-ên biết con đường của Đức Chúa Trời. Họ là chiếc bóng trong lịch sử của Chúa Cứu Thế, là Thầy tế lễ Thượng Phẩm, nhưng cũng là người làm Đầy Tớ của chúng ta. Các tôi tớ chân chính của Đức Chúa Trời chăm sóc mọi nhu cầu của dân (những người thuộc về) Ngài.

    Dẫn nhập Dân số ký
    Các niên đại
    Giô-sép qua đời 1805 TC (1640)
    Giai đoạn dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ai Cập
    Xuất Ai-cập 1446 (1280)
    Ban bố Mười Điều Răn 1445 (1279)
    Kiểm tra dân số lần thứ nhất 1444 (1278)
    Điệp vụ đầu tiên 1443 (1277)
    Giai đoạn lưu lạc trong sa mạc
    Kiểm tra dân số lần thứ hai. Những lời tiên tri của Ba-la-am 1407 (1241)
    Giô-suê hạ lệnh vào xứ Ca-na-an 1406 (1240)
    Các quan xét bắt đầu cai trị 1375 (1220)
    Vương quốc thống nhất dưới thời Sau-lơ 1050 (1045)
    Lời giới thiệu
    Tất cả những bậc làm cha mẹ đều biết rõ tiếng la hét điếc tai của một con trẻ - một lời than phiền chối tai đập mạnh vào màng nhĩ và làm buồn cho tâm hồn. Tiếng thét ấy thật khó chịu, nhưng điều thật sự gây tức tối là phần nguyên nhân tiềm ẩn - thái độ bất mãn và không vâng lời. Trong lúc “các con cái Y-sơ-ra-ên” đi từ chân núi Si-na-i đến xứ Ca-na-an, họ đã lằm bằm, la hét và than phiền tại từng khúc quanh. Họ chỉ chú trọng vào tình trạng thiếu tiện nghi hiện tại. Họ bị mất đức tin, nên bị thêm 40 năm phụ trội cho chuyến đi của mình.
    Dân số ký là sách ghi lại câu chuyện thê thảm về lòng vô tín của dân Y-sơ-ra-ên phải được dùng làm một bài học nhiều kịch tính cho tất cả những người thuộc về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu chúng ta và mong muốn điều tốt nhất cho chúng ta. Ngài có thể và cần phải được tin cậy. Dân số ký cũng phác hoạ một bức chân dung thật rõ ràng về sự kiên trì nhẫn nhục của Đức Chúa Trời. Nhiều lần, Ngài đã rút lại sự trừng phạt để bảo tồn dân Ngài. Nhưng ta không nên đinh ninh là Ngài cứ kiên nhẫn mãi như thế. Rồi có ngày sự phán xét sẽ đến. Cho nên chúng ta phải vâng lời.
    Lúc Lê-vi ký bắt đầu, dân Y-sơ-ra-ên đang đóng trại dưới chân núi Si-na-i. Dân sự vừa tiếp nhận luật pháp của Đức Chúa Trời và chuẩn bị di chuyển. Một cuộc kiểm tra dân số đã được thực hiện để xác định số người đủ điều kiện thi hành quân dịch. Tiếp theo đó, dân sự được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời khiến toàn thể dân sự đều được chuẩn bị sẵn sàng, cả về phương diện thuộc linh lẫn thuộc thể, để nhận lấy sản nghiệp của họ.
    Nhưng rồi họ bắt đầu than phiền. Trước hết, dân sự than phiền về vấn đề lương thực thực phẩm. Kế đó là than phiền về uy quyền của Môi-se. Đức Chúa Trời đã trừng phạt vài người, nhưng tha cho cả dân sự nhờ lời cầu nguyện của Môi-se. Rồi toàn thể dân sự đến Ca-đe, và các điệp viên được phái vào xứ Ca-na-an để thẩm định lực lượng của nó. Mười người đã trở lại với những câu chuyện kể đầy sợ hãi về những con người khổng lồ trong xứ ấy. Chỉ có Ca-lép và Giô-suê là khích lệ họ “hãy đi lên và chiếm xứ đi” (13:28). Bản báo cáo của số ít người này đã chẳng được những đôi tai điếc vì bức thông điệp bất lợi của số đông để ý. Vì lòng vô tín của họ, Đức Chúa Trời tuyên bố rằng thế hệ hiện hữu sẽ chẳng còn sống để nhìn thấy đất hứa. Thế là “cuộc lưu lạc” bắt đầu. Suốt giai đoạn lưu lạc trong sa mạc đó, đã có một mẫu mực liên tục về những lời lằm bằm, khinh bạc, và những lần sửa phạt, chết chóc. Phải chi họ chịu tin cậy Đức Chúa Trời để được vào xứ mà Ngài đang dành sẵn cho họ, thì tốt hơn biết bao! Tiếp theo đó là cả một cuộc chờ đợi khủng khiếp được bắt đầu - chờ cho thế hệ cũ qua đi, xem chẳng hay thế hệ mới có chịu trung tín vâng lời Đức Chúa Trời hay không.
    Dân số ký đã kết thúc y như nó được bắt đầu, nghĩa là với tình trạng chuẩn bị. Thế hệ mới này của dân Y-sơ-ra-ên đã được kiểm tra và thánh hoá. Sau khi đánh bại được nhiều đạo quân, họ đã định cư tại phía Đông sông Giô-đanh. Rồi họ trực diện với cuộc thử thách gay go nhất: vượt sông để chiếm phần đất đẹp đẽ mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho họ.
    Bài học ở đây thật là rõ ràng. Dân sự của Đức Chúa Trời phải tin cậy Ngài, lấy đức tin mà tiến lên, nếu muốn giành lấy phần đất mà Ngài đã hứa ban cho mình.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Kể lại câu chuyện về dân Y-sơ-ra-ên đã chuẩn bị như thế nào để vào xứ Ca-na-an, thế nào họ đã phạm tội và bị trừng phạt, và thế nào họ đã chuẩn bị để thử lại một lần nữa.
    Trước giả: Môi-se
    Đọc giả: Cho dân Y-sơ-ra-ên
    Niên đại viết sách: 1450-1410 TC
    Bối cảnh: Vùng sa mạc Si-na-i bao la, cũng như các xứ về phía Nam và phía Đông Ca-na-an.
    Các câu gốc: 14:22,23
    Các nhân vật chính: Môi-se, A-rôn, Mi-ri-am, Giô-suê, Ca-lép, Ê-lê-a-sa, Cô-rê, Ba-la-am
    Các địa danh chính: Núi Si-na-i, đất hứa (xứ Ca-na-an), Ca-đe, Núi Hô-rơ, đồng bằng Mô-áp.
    Bố cục
    A. Chuẩn bị cho chuyến đi (1:1-10:10)
    1. Lần kiểm tra dân số thứ nhất
    2. Vai trò của người Lê-vi
    3. Trại quân phải thánh khiết
    4. Nhận sự chỉ dẫn cho chuyến đi
    Như một phần chuẩn bị cho họ, Đức Giê-hô-va đã đưa ra những đường hướng chỉ đạo thật chặt chẽ cho dân Y-sơ-ra-ên liên quan đến sự thánh khiết bên trong trại quân. Ngài muốn họ phải có một nếp sống phân biệt với các lân bang. Ngài muốn họ phải là một dân thánh. Cũng thế, chúng ta cần phải quan tâm đến sự thanh sạch của chính mình trong Hội thánh.
    B. Lần tiếp cận đầu tiên với xứ thánh (10:11-14:45)
    1. Dân sự than phiền
    2. Mi-ri-am và A-rôn chống lại Môi-se
    3. Các điệp viên sách động gây rối
    Dân Y-sơ-ra-ên đã không được vào đất hứa vì cớ lòng vô tín của họ. Xuyên suốt lịch sử, dân sự của Đức Chúa Trời cứ phải liên tục chiến đấu với tình trạng thiếu đức tin. Chúng ta phải phòng ngừa lòng vô tín, không cho nó lập một đầu cầu để đặt chân lên ngưỡng cửa của đời sống chúng ta, vì điều đó sẽ ngăn trở không cho chúng ta hưởng được các phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã hứa.
    C. Lưu lạc trong sa mạc (15:1-21:35)
    1. Các quy tắc phụ trội
    2. Nhiều cấp lãnh đạo nổi loạn chống lại Môi-se
    3. Nhiệm vụ của các thầy tế lễ và người Lê-vi
    4. Thế hệ mới
    Khi dân sự lằm bằm chống lại Đức Chúa Trời và chỉ trích Môi-se, họ đã bị trừng phạt nghiêm khắc, trên 14.000 người đã phải chết, hậu quả của việc họ nổi loạn chống lại Môi-se. Hậu quả của cuộc phản loạn của Cô-rê, là Cô-rê, Đa-than, A-bi-ram và cả nhà họ đã chết, cùng với 250 thầy tế lễ giả mạo. Nếu tâm trạng bất mãn và không hài lòng còn được phép tồn tại trong đời sống chúng ta, sẽ rất dễ dẫn đến cảnh tàn hại. Chúng ta cần phải giữ mình để không lằm bằm, chê bai chỉ trích các cấp lãnh đạo.
    D. Lần tiếp cận thứ hai với đất hứa (22:1-36:13)
    1. Câu chuyện về Ba-la-am
    2. Lần kiểm tra dân số thứ hai
    3. Những lời chỉ giáo liên quan đến các của lễ
    4. Báo thù đối với dân Ma-đi-an
    5. Các chi phái ở bên kia sông Giô-đanh
    6. Đóng trại trong đồng bằng Mô-áp
    Hai dân Mô-áp và Ma-đi-an đã không thuê được Ba-la-am nguyền rủa dân Y-sơ-ra-ên, nên xin lời khuyên của ông ta để đưa họ đến chỗ thờ lạy thần tượng. Ba-la-am vốn biết điều gì là phải lẽ, nhưng đã nhượng bộ sự cám dỗ của các phần thưởng vật chất, và đã phạm tội. Chỉ biết điều gì là phải, là đúng, thì chẳng bao giờ là đủ cả. Chúng ta còn phải làm điều đúng việc phải nữa.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Kiểm tra dân số
    Lời giải thích Môi-se tu bộ dân Y-sơ-ra-ên hai lần. Lần kiểm tra dân số thứ nhất tổ chức dân sự thành các đơn vị quân đội để tự vệ cho tốt hơn. Lần thứ hai chuẩn bị cho việc chinh phục phần đất phía Đông sông Giô-đanh.
    Tầm quan trọng Dân sự cần được tổ chức, huấn luyện và hướng dẫn để thực hiện những công việc lớn lao. Phải tính trước giá phải trả trước khi bắt tay thực hiện một công trình quan trọng thì bao giờ cũng là khôn ngoan cả. Khi biết có trở ngại trước mắt, chúng ta sẽ càng dễ dàng né tránh chúng. Trong công việc của Đức Chúa Trời, chúng ta phải dọn dẹp các rào cản trong các mối liên hệ của mình với tha nhân để các kết quả không bị hạn chế.
    Luận đề: Phản loạn
    Lời giải thích Tại Ca-đe, 12 điệp viên đã được phái sang xứ Ca-na-an để báo cáo về các thành lũy của kẻ thù. Khi các điệp viên ấy trở về, 10 người bảo rằng họ phải bỏ cuộc để quay trở về Ai-cập, hậu quả là dân sự không chịu tiến vào xứ Ca-na-an. Đứng trước sự chọn lựa ấy, dân Y-sơ-ra-ên đã nổi loạn phản lại Đức Chúa Trời. Phản loạn không bắt đầu bằng một cuộc nổi dậy mà bằng việc oán trách và lằm bằm chống lại Môi-se và Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng Phản loạn chống lại Đức Chúa Trời bao giờ cũng là một vấn đề nghiêm trông. Đây không phải là một điều có thể xem nhẹ, vì sự trừng phạt của Đức Chúa Trời dành cho tội lỗi thường rât nghiêm khắc. Sự phản loạn của chúng ta không thường bắt đầu bằng sự tranh chiến công khai, mà theo nhiều đường lối tinh tế - bằng lời oán trách và chê bai. Phải chắc chắn rằng những lời bình luận tiêu cực của bạn không phải là sản phẩm của một tinh thần phản loạn.
    Luận đề: Lưu lạc
    Lời giải thích Vì họ nổi loạn, nên dân Y-sơ-ra-ên đã phải đi lưu lạc 40 năm trong sa mạc. Điều này cho thấy Đức Chúa Trời co thể trừng phạt tội lỗi cách nghiêm khắc như thế nào. Bốn mươi năm là thời gian đủ cho tất cả những ai bám víu vào các tập tục và giá trị của xứ Ai-cập phải chết đi. Nó là thời gian đủ để đào tạo một thế hệ mới theo các đường lối của Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng Đức Chúa Trời trừng phạt tội lỗi hết sức nặng nề vì Ngài vốn thánh khiết. Việc lưu lạc trong sa mạc cho thấy Đức Chúa Trời xem việc công khai bất tuân các lệnh truyền của Ngài là nghiêm trọng như thế nào. Phải tẩy sạch tội lỗi khỏi đời sống chúng ta là điều tối quan trọng đối với chủ đích của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Xứ Ca-na-an
    Lời giải thích Ca-na-an là đất hứa. Nó là xứ mà theo giao ước Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Xứ Ca-na-an phải là chỗ trú ngụ của dân sự Đức Chúa Trời, những người đã được biệt riêng ra cho sự thờ phượng thuộc linh đích thực.
    Tầm quan trọng Tuy sự trừng phạt của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi thường là nghiêm khắc, Ngài vẫn tạo cơ hội hoà giải và hi vọng - tình yêu của Ngài quả là diệu kỳ. Như tình yêu và luật pháp của Đức Chúa Trời đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên vào đất hứa thể nào, Ngài cũng muốn ban cho đời sống chúng ta một chủ đích và vận mệnh y như thế.

    Dẫn nhập Phục Truyền Luật Lệ ký
    Các niên đại
    Giô-sép qua đời 1805 TC (1640)
    Giai đoạn làm nô lệ tại Ai-cập
    Giai đoạn lưu lạc trong sa mạc
    - Xuất Ai-cập 1446 (1280)
    - Ban bố Mười Điều Răn 1445 (1279)
    Môi-se qua đời, dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an 1406 (1240)
    Các quan xét bắt đầu cai trị 1375 (1220)
    Vương quốc thống nhất dưới thời Sau-lơ 1050 (1045)
    Lời giới thiệu
    Những cuộc họp bạn cùng lớp, những tập vỡ cũ và các bức ảnh lưu niệm trong quyển album, những bài ca quen thuộc và những người bạn láng giềng xưa kia - cũng như các bạn thân lâu đời thường đánh thức ký ức của chúng ta và kích thích các tình cảm của chúng ta. Quá khứ là chiếc kính vạn hoa của những lời hứa hẹn, những thất bại, chiến thắng, và những điều gây bối rối cho chúng ta. Nhiều khi chúng ta muốn quên đi các kỷ niệm quá đau buồn. Tuy nhiên, nhiều năm tháng càng qua đi thì ký ức về các biến cố không vui thường mờ dần nhưng vẫn tồn tại trong tiềm thức của chúng ta. Rồi sẽ có một lúc để chúng ta nhớ lại: không nên lặp lại các sai lầm, những lời hứa hẹn cần phải được hoàn tất; và ký ức về các biến cố đặc biệt có thể khích lệ chúng ta và thôi thúc chúng ta hành động.
    Phục truyền luật lệ ký được viết theo hình thức một bản giao ước giữa một nhà vua và thần dân của mình - một quốc gia tiêu biểu của thiên niên kỷ thứ hai TC. Nó được gọi là xứ Y-sơ-ra-ên để kỷ niệm về Đức Chúa Trời là ai và Ngài đã làm những việc gì. Do thiếu đức tin, thế hệ đi trước đã phải lưu lạc suốt bốn mươi năm rồi chết đi trong sa mạc. Họ đã bỏ lại sau lưng xứ Ai-cập, nhưng chẳng bao giờ biết được đất hứa. Rồi tại bờ phía Đông sông Giô-đanh, Môi-se đã chuẩn bị cho các con trai con gái của thế hệ không có đức tin kia chiếm lấy xứ ấy. Sau một bài học lịch sử vắn tăt, nhấn mạnh các hành động quyền năng mà Đức Chúa Trời đã làm vì dân sự ngài, Môi-se duyệt lại phần luật pháp. Rồi ông tái thiết lập giao ước - điều mà Đức Chúa Trời giao kết với dân Ngài.
    Các bài học thật rõ ràng. Vì những gì Đức Chúa Trời đã làm dân Y-sơ-ra-ên phải hi vọng và theo Ngài, vì điều Ngài đang kỳ vọng nơi họ, họ phải lắng nghe và vâng lời Ngài, vì cớ Ngài là ai, họ phải toàn tâm toàn ý yêu mến Ngài. Học thuộc các bài dạy này của ông, họ sẽ được chuẩn bị đầy đủ để chiếm lấy xứ.
    Trong khi bạn lắng nghe bức thông điệp của sách Phục truyền, nên nhớ cách thức Đức Chúa Trời đã bày tỏ tình yêu của Ngài đối với đời sống bạn, để tự tận hiến cho Ngài một cách mới mẻ, và tin cậy yêu mến, vâng lời Ngài.
    Bố cục
    A. Bài giảng thứ nhất của Môi-se: Đức Chúa Trời đã làm gì cho chúng ta (1:1-4:43)
    Môi-se duyệt lại các hành động quyền năng Đức Chúa Trời đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên. Nhớ lại những trường hợp đặc biệt Đức Chúa Trời đã dấn thân can thiệp vào đời sống chúng ta sẽ ban cho chúng ta thêm hy vọng và sự khích lệ trong tương lai.
    B.Bài giảng thứ hai của Môi-se: các nguyên tắc cho một đời sống tin kính (4:44-28:68)
    1. Mười Điều Răn
    2. Yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi
    3. Luật về sự thờ phượng phải lẽ
    4. Luật để cai trị dân
    5. Luật về các mối liên hệ giữa người và người
    6. Các kết quả của việc vâng lời và không vâng lời
    Vâng lời Đức Chúa Trời đã đem đến phước hạnh cho dân Y-sơ-ra-ên, còn không vâng lời thì dẫn đến điều bất hạnh. Đây là một phần đã được viết ra của hoà ước mà Đức Chúa Trời đã ký với dân sự Ngài. Tuy chúng ta không có phần gì trong giao ước này nguyên tắc của nó vẫn có hiệu lực: vâng lời hoăc không vâng lời đều dẫn đến các hậu quả không tránh né vào đâu được ngay trong đời này lẫn cho đời sau.
    C. Bài giảng thứ ba của Môi-se: một lời kêu gọi hãy tận hiến cho Đức Chúa Trời (29:1-30:20)
    Môi-se kêu gọi dân sự hãy tận hiến cho Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời vẫn còn kêu gọi chúng ta hãy tận hiến để hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức yêu mến Ngài.
    D. Những ngày tàn của Môi-se: vấn đề thay đổi lãnh tụ (31:1-34:12)
    Tuy Môi-se có phạm vài lầm lỗi lớn, ông đã sống ngay thẳng để thực hiện các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Ông đã chết thật thanh liêm. Chúng ta cũng có thể phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng, nhưng điều đó không ngăn được chúng ta tận hiến, sống thanh liêm và tin kính.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Lịch sử
    Lời giải thích Môi-se duyệt lại các hành động quyền năng của Đức Chúa Trời, bởi đó Ngài đã giải thoát dân Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ tại Ai-cập. Ông kể lại thế nào Đức Chúa Trời đã giúp đỡ họ, và thế nào dân sự đã không vâng lời Ngài.
    Tầm quan trọng Nhờ ôn lại các lời hứa và những hành động quyền năng trong lịch sử, chúng ta có thể học biết được cá tính của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết được Đức Chúa Trời càng mật thiết hơn nhờ hiểu rõ trong quá khứ Ngài từng hành động như thế nào. Chúng ta cũng có thể tránh được sai lầm trong chính đời sống mình nhờ học tập từ các thất bại của dân Y-sơ-ra-ên.
    Luận đề: Luật pháp
    Lời giải thích Đức Chúa Trời ôn lại các luật lệ của Ngài cho dân sự Ngài. Hợp đồng pháp lý giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài đã được tái lập với một thế hệ mới sắp vào đất hứa.
    Tầm quan trọng Không nên cứ đinh ninh rằng ta đã tận hiến cho Đức Chúa Trời và chân lý Ngài rồi. Mỗi thế hệ và từng người một đều phải đáp ứng lại một cách mới mẻ với tiếng gọi hãy vâng lời Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Tình yêu
    Lời giải thích Tình yêu thành tín và kiên trì của Đức Chúa Trời thường được tả vẽ nhiều hơn là sự trừng phạt của Ngài. Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu của Ngài bằng cách tỏ lòng thành tín với dân sự Ngài và các lời hứa của Ngài. Để đáp lại, Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải yêu Ngài bằng tấm lòng, chứ không phải chỉ giữ luật pháp Ngài cho đúng luật mà thôi.
    Tầm quan trọng Tình yêu Đức Chúa Trời chính là nền tảng của lòng tin cậy Ngài của chúng ta. Sở dĩ chúng ta tin cậy Ngài, là vì chúng ta yêu mến Ngài. Vì Đức Chúa Trời yêu chung ta, chúng ta phải sống công bằng và kính trọng Ngài.
    Luận đề: Lựa chọn
    Lời giải thích Đức Chúa Trời nhắc nhở dân sự Ngài rằng muốn phê chuẩn hoà ước của Ngài với họ, họ phải chọn con đường vâng lời Ngài. Người nào biết vâng lời, sẽ đem đến nhiều lợi ích cho đời sống mình; nổi loạn chống lại Ngài sẽ chỉ đem đến tàn hại nghiêm trọng mà thôi.
    Tầm quan trọng Chính sự lựa chọn của chúng ta làm thay đổi cuộc đời chúng ta. Chọn vâng lời Đức Chúa Trời sẽ có lợi cho chúng ta và cải thiện được các mối liên hệ giữa chúng ta với tha nhân. Chọn lìa bỏ đường lối Đức Chúa Trời gây thiệt hại cho cả chúng ta lẫn tha nhân.
    Luận đề: Dạy dỗ
    Lời giải thích Đức Chúa Trời truyền cho dân Y-sơ-ra-ên phải dạy lại cho con cháu họ các đường lối của Ngài. Họ phải dùng nghi lễ, lời giáo huấn và học thuộc lòng để chắc chắn rằng con cháu họ thông suốt các nguyên tắc của Đức Chúa Trời để truyền lại cho thế hệ tiếp theo.
    Tầm quan trọng Phải dành ưu tiên cho việc dạy dỗ các đức tính cho con cháu. Truyền lại cho thế hệ sau chân lý của Đức Chúa Trời và các truyền thống của chúng ta là điều rất quan trọng. Nhưng Đức Chúa Trời muốn cho chân lý của Ngài phải nằm ngay trong lòng trong trí chúng ta, chứ không phải chỉ có trong truyền thống mà thôi.

    Dẫn nhập Giô-suê
    Các niên đại
    Xuất Ai-cập 1446 TC (1280TC)
    Chinh phục xứ Ca-na-an
    - Dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an 1406 (1240)
    - Các quan xét bắt đầu cai trị 1375 (1220)
    Thời đại các quan xét
    Vương quốc thống nhất dưới thời Sau-lơ 1050 (1045)
    Đa-vít lên ngôi vua 1010
    Lời giới thiệu
    Bạn có còn nhớ trò chơi trẻ con “theo người lãnh đạo” hay không? Vấn đề là phải bắt chước các điệu bộ khôi hài của người đi trước bạn trong đường dây gồm các bé trai bé gái để đi quanh quẩn đó đây. Làm kẻ theo người khác thì tốt thôi, nhưng làm người lãnh đạo thì thú hơn nhiều, vì phải có óc sáng tạo để tạo ra những con đường mới và những nhiệm vụ mới cho mọi người bắt chước theo.
    Trong đời sống thực tế, các đại lãnh tụ rất hiếm hoi. Nhiều nhân vật nam nữ được bầu chọn hay chỉ định vào các chức vụ lãnh đạo, nhưng rồi bị thất bại hay chẳng làm gì được. Nhiều người khác thì lạm quyền để thoả mãn cái ta ích kỷ của họ, giày đạp những người dưới quyền và làm thất thoát các nguồn tài nguyên. Nhưng nếu không có các lãnh tụ trung tín, đạo đức và hoạt động có hiệu quả, thì dân chúng bị ly tán.
    Dân Y-sơ-ra-ên đã đi lưu lạc quanh quẩn trong sa mạc suốt bốn mươi năm, nhưng không phải là vì họ đã đi theo vị lãnh tụ của họ. Mà sự thật trái ngược hẳn - vì không có đức tin, họ đã không chịu vâng lời Đức Chúa Trời để chinh phục xứ Ca-na-an, cho nên họ cứ lưu lạc vòng quanh. Cuối cùng, một thế hệ mới đã sẵn sàng vượt sông Giô-đanh để chiếm lấy xứ. Sau khi đã tự khiến cho mọi người thấy mình là một người có đức tin và can đảm (khi ông cùng với Ca-lép thuộc nhóm thiểu số các điệp viên đã trình lên bản báo cáo của mình trong Dan Ds 13:30-14:9), Giô-suê đã được chọn làm người kế vị cho Môi-se. Quyển sách này ghi lại việc Giô-suê đã lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời kêu gọi họ tiến vào đánh chiếm đất hứa.
    Giô-suê là một lãnh tụ quân sự xuất sắc và là một người gây được ảnh hưởng thuộc linh mạnh mẽ Nhưng bí quyết của sự thành công của ông là việc ông biết đầu phục Đức Chúa Trời. Khi Đức Chúa Trời phán dạy thì Giô-suê biết lắng nghe và vâng lời. Sự vâng lời của ông đã được dùng làm gương mẫu cho chúng ta. Hệ quả là dân Y-sơ-ra-ên cứ giữ lòng tận trung với Đức Chúa Trời suốt cả đời sống của Giô-suê.
    Sách Giô-suê được chia làm hai phần chính: các phần thuật sự thứ nhất các biến cố xoay quanh cuộc chinh phục xứ Ca-na-an. Sau khi vượt sông Giô-đanh như đi trên đất khô, dân Y-sơ-ra-ên đã đóng trại gần thành phố Giê-ri-cô. Đức Chúa Trời truyền lịnh cho dân sự phải chiếm thành Giê-ri-cô bằng cách đi vòng quanh nó mười ba lần, vừa đi vừa thổi kèn vừa hò hét. Nhờ họ noi theo chiến thuật giao tranh độc nhất vô nhị đó của Đức Chúa Trời, họ đã thắng trận (chương 6). Sau khi hủy diệt Giê-ri-cô, họ lại bắt tay tiến đánh thành phố A-hi nhỏ bé. Lần tấn công đầu tiên của họ bị đẩy lui vì một người trong dân Y-sơ-ra-ên (A-can) đã phạm tội (chương 7). Sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã ném đá A-can và gia đình ông ta - thanh tẩy toàn thể cộng đồng khỏi tội - dân Y-sơ-ra-ên chiếm được A-hi (chương 8). Trong trận đánh dân A-mô-rít tiếp theo đó thậm chí Đức Chúa Trời đã khiến cho mặt trời dừng lại để giúp họ chiến thắng (chương 10). Cuối cùng, sau khi đánh bại các liên minh của dân Ca-na-an do Gia-bin cầm đầu (chương 11), họ đã chiếm được phần lớn xứ Ca-na-an.
    Phần thứ hai của sách Giô-suê ghi lại việc chia đất và định cứ cho dân Y-sơ-ra-ên trong vùng lãnh thổ họ đã chiếm được (chương 13-22). Quyển sách kết thúc với bài giảng từ biệt của Giô-suê và cái chết của ông (chương 23,24).
    Giô-suê đã tận hiến để vâng lời Đức Chúa Trời, và quyển sách này viết về sự vâng lời. Dù là trong việc chinh phục kẻ thù hay định cư trong xứ, dân sự của Đức Chúa Trời đều bị đòi hỏi phải làm việc ấy theo phương pháp của Đức Chúa Trời. Trong bài giảng cuối cùng của ông cho dân sự, Giô-suê đã nhấn mạnh trên tầm quan trọng của việc phải vâng lời Đức Chúa Trời Gios Gs 23:11; 24:15). hãy đọc sách Giô-suê và tự nguyện tận hiến để vâng lời Đức Chúa Trời ngay hôm nay. Hãy quyết định đi theo Chúa của bạn, bất cứ Ngài dẫn bạn đi đâu và phải trả giá như thế nào.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Ghi lại cuộc chinh phục đất hứa của dân Y-sơ-ra-ên thành sử ký
    Trước giả: Giô-suê, ngoại trừ phần chót, có lẽ do thầy tế lễ thượng phẩm Phi-nê-a viết, vì là người chứng kiến tận mắt các biến cố đã được kể ra đây.
    Bối cảnh: Xứ Ca-na-an, còn được gọi là đất hứa, là vùng lãnh thổ có cùng phần địa lý tổng quát với quốc gia Y-sơ-ra-ên ngày nay.
    Câu gốc: Gios Gs 1:1
    Các nhân vật chính: Giô-suê, Ra-háp, A-can, Phi-nê-a, Ê-lê-a-sa.
    Các địa danh chính: Giê-ri-cô, A-hi, núi Ê-banh, núi Ga-ri-xim, Ghi-bê-ôn, Ghinh-ganh, Si-lô, Si-chem.
    Những nét đặc trưng: Từ trên một triệu người, chỉ có Giô-suê và Ca-lép là hai nhân vật đã lìa khỏi Ai-cập là được vào xứ Ca-na-an mà thôi.
    BỐ CỤC
    A. Vào đất hứa 1:1-5:12
    1. Giô-suê lãnh đạo dân sự
    2. Vượt sông Giô-đanh
    Giô-suê chứng minh đức tin của ông vào Đức Chúa Trời khi nhận lời thách thức để lãnh đạo dân sự. Dân sự Y-sơ-ra-ên tái xác nhận sự tận hiến của họ cho Đức Chúa Trời bằng việc vâng lời Ngài, vượt sông Giô-đanh để đánh chiếm xứ Ca-na-an. Sống cuộc đời Cơ-đốc nhân, chúng ta cũng cần vượt khỏi lối sống cũ để đến với nếp sống mới, cởi bỏ các ham muốn vị kỷ, và bươn tới để chiếm lấy tất cả những gì Đức Chúa Trời dành sẵn cho cúng ta. Như Giô-suê và dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta cần có đức tin để can đảm sống cuộc đời mới của mình.
    B. Chinh phục đất hứa 5:13-12:24
    1. Giô-suê tấn công vùng trung tâm của xứ Ca-na-an
    2. Giô-suê tấn công các vua miền Nam
    3. Giô-suê tấn công các vua miền Bắc
    4. Tóm tắt các cuộc chinh phạt
    Giô-suê và đạo quân của ông chuyển từ thành phố này đến thành phố khác, quét sạch điều gian ác trong xứ bằng cách tiêu diệt mọi dấu vết của việc thờ thần tượng. Chiến đấu với điều ác là điều không thể tranh né vào đâu được, và chúng ta cũng phải thẳng tay không chút xót thương như dân Y-sơ-ra-ên khi tận diệt tội lỗi trong đời sống chúng ta.
    C. Chia đất hứa 13:1-24:33)
    1. Các chi phái nhận phần đất dành cho họ
    2. Các thành phố đặc biệt được biệt riêng
    3. Các chi phái ở phía Đông hồi hương
    4. Giô-suê từ biệt các cấp lãnh đạo
    Giô-suê khuyến cáo dân Y-sơ-ra-ên phải tiếp tục đi theo Đức Giê-hô-va và chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi. Dân sự từng thấy Đức Chúa Trời giải cứu họ khỏi tay kẻ thù, và làm nhiều phép lạ để cung cấp mọi nhu cầu cho họ, nhưng họ lại tẻ tách lạc xa Ngài. Tuy chúng ta từng kinh nghiệm việc Đức Chúa Trời hành động trong đời sống mình, chúng ta cũng phải tiếp tục tái tận hiến cho Ngài để vâng lời Ngài hơn bất kỳ một uy quyền nào khác, và chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Thành công
    Lời giải thích Đức Chúa Trời cho dân Y-sơ-ra-ên thành công khi họ vâng theo kế hoạch chủ đạo của Ngài, chứ không phải khi họ đi theo các ham muốn riêng của họ. Chiến thắng là khi họ tin cậy Ngài, chứ không phải là tin cậy vào năng lực quân sự, tiền bạc, cơ bắp hay tài năng của họ.
    Tầm quan trọng Công việc của Đức Chúa Trời thực hành theo đúng đường lối Ngài sẽ đem thành công về cho Ngài. Tuy nhiên, chuẩn mực của sự thành công vốn không do xã hội chung quanh chúng ta quy định mà do Lời Đức Chúa Trời đặt định. Chúng ta phải điều chỉnh tâm trí mình cho phù hợp với cách suy nghĩ Đức Chúa Trời muốn, để thấy mình đạt được chuẩn mực của Ngài.
    Luận đề: Đức tin
    Lời giải thích Dân Y-sơ-ra-ên chứng minh đức tin của họ bằng cách vâng lời Đức Chúa Trời hằng ngày, để Ngài cứu rỗi và hướng dẫn họ. Nhờ lưu ý cách thức Đức Chúa Trời đã làm trọn các lời hứa của Ngài trong quá khứ, họ đã phát triển được lòng tin quyết mạnh mẽ rằng Ngài cũng sẽ thành tín trong tương lai.
    Tầm quan trọng Sức lực của chúng ta để làm việc cho Đức Chúa Trời đến từ việc chúng ta tin cậy Ngài. Các lời hứa của Ngài tái bảo đảm cho chúng ta về tình yêu của Ngài và Ngài sẽ có mặt để hướng dẫn chúng ta trong các quyết định và những cuộc chiến đấu mà chúng ta phải đương đầu. Đức tin bắt đầu bằng việc tin rằng Ngài đáng cho chúng ta tin cậy.
    Luận đề: Hướng dẫn
    Lời giải thích Đức Chúa Trời chỉ giáo cho dân Y-sơ-ra-ên về mọi phương diện của đời sống. Luật pháp Ngài hướng dẫn cho sinh hoat hằng ngày của họ, còn các lệnh truyền ra đi đặc thù của Ngài đưa họ đến chiến thắng.
    Tầm quan trọng Có thể tìm thấy lời hướng dẫn cho sinh hoạt hằng ngày trong Lời của Đức Chúa Trời. Bằng cách luôn luôn được liên lạc tiếp xúc với Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ được sự khôn ngoan cần thiết để đối phó với các thách thức quan trọng của đời sống.
    Luận đề: Quyền lãnh đạo
    Lời giải thích: Giô-suê là thí dụ về một lãnh tụ tuyệt vời. Ông tin vào sức lực của Đức Chúa Trời, can đảm khi trực diện với kẻ thù, và sẵn sàng tìm cầu lời khuyên của Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng Muốn thành một lãnh tụ tài ba như Giô-suê, chúng ta phải sẵn sàng lắng nghe rồi hành động thật nhanh chóng khi Đức Chúa Trời chỉ dạy chúng ta. Một khi đã có lời chỉ giáo của Ngài rồi, chúng ta phải thận trọng thực hiện chúng. Các lãnh tụ tài ba đều do Đức Chúa Trời hướng dẫn.
    Luận đề: Chinh phục
    Lời giải thích Đức Chúa Trời đã truyền dạy dân Ngài phải chinh phục dân Ca-na-an và chiếm lấy xứ của họ. Hoàn thành sứ mạng ấy, tức là làm ứng nghiệm lời hứa của Đức Chúa Trời cho Áp-ra-ham và giáng sự phán xét của Ngài trên một dân tộc gian ác đang sinh sống tại đó. Tai hại thay, dân Y-sơ-ra-ên đã chẳng bao giờ hoàn thành công việc ấy.
    Tầm quan trọng Dân Y-sơ-ra-ên thoạt đầu đã trung tín hoàn thành sứ mạng của họ nhưng rồi họ không tận hiến nữa? Yêu mến Đức Chúa Trời có ý nghĩa sâu sắc hơn là chỉ có lòng nhiệt thành đối với Ngài mà thôi. Chúng ta phải hoàn thành mọi công tác Ngài giao, và áp dụng lời chỉ giáo của Ngài vào mọi sinh hoạt của đời sống chúng ta.

    Dẫn nhập Các Quan Xét
    Các niên đại
    Xuất Ai Cập 1446 TC (1280TC)
    Dân Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an 1406 (1240)
    Giai đoạn các quan xét bắt đầu 1375 (1220)
    Ốt-ni-ên 1367-1327 (1202-1162)
    Ê-hút 1309-1229 (1184-1104)
    Đê-bô-ra 1209-1169 (1192-1152)
    Ghê-đê-ôn 1162-1122 (1146-1106)
    Sa-mu-ên ra đời 1105 (1083)
    Sam-sôn 1075-1055 (1083-1063)
    Sau-lơ được xức dầu làm vua 1050 (1045)
    Đa-vít lên ngôi vua 1010
    Lời giới thiệu
    Thời bấy giờ, bậc anh hùng thật sự rất khó tìm. Những công trình sưu tầm nghiên cứu và báo chí, các phương tiện thông tin hiện đại đang vạch trần các nhược điểm của các cấp lãnh đạo chúng ta, chúng ta đang phí công vô ích để đi tìm những người nam người nữ mà mình có thể bắt chước. Các kỹ nghệ âm nhạc, phim ảnh và thể thao tạo ra cả một lô các “ngôi sao” để đẩy lên tột đỉnh, để rồi nhanh chóng biến mất khỏi tầm nhìn.
    Các quan xét là một quyển sách viết về các bậc anh hùng - 12 nhân vật cả nam lẫn nữ đã giải phóng dân Y-sơ-ra-ên khỏi những kẻ áp bức bóc lột họ. Thật ra thì các quan xét này không phải là toàn thiện, mà gồm cả người từng phạm tội sát nhân, loạn dâm, và một người vi phạm tất cả các luật lệ về tiếp đãi khách lạ. Nhưng họ đã biết thuận phục Đức Chúa Trời nên Ngài đã dùng họ.
    Các quan xét còn là một quyển sách bàn về tội lỗi và các hậu quả của nó nữa. Giống như một vết đứt hay xây xát nhỏ bị nhiễm trùng nếu cứ bỏ mặc không chịu chữa trị, tội lỗi phát triển và chẳng bao lâu khiến cho toàn thân thể bị nhiễm độc. Sách Giô-suê kết thúc bằng việc toàn dân đã chọn một lập trường là đứng vững cho Đức Chúa Trời, sẵn sàng để được hưởng mọi phước hạnh của đất hứa. Tuy nhiên, sau khi định cư trong xứ Ca-na-an, dân Y-sơ-ra-ên đã đánh mất lòng tận hiến và phần động cơ thúc đẩy thuộc linh của họ. Sau khi Giô-suê và các trưởng lão qua đời rồi, dân sự đã trải nghiệm một khoảng trống về quyền lãnh đạo, bỏ mặc họ chẳng có một chính quyền trung ương vững mạnh. Thay vì được hưởng cảnh tự do, thịnh vượng trong đất hứa, họ đã bước vào những ngày đen tối của lịch sử dân tộc.
    Nói cách đơn giản, lý do của sự sa sút nhanh chóng ấy là tội - tội lỗi cá nhân và tập thể. Bước đầu tiên xa lìa Đức Chúa Trời, là tội hoàn toàn không chịu vâng lời (1:11-2:5); dân Y-sơ-ra-ên đã không chịu tận diệt kẻ thù của họ khỏi xứ. Điều này dẫn tới tội kết hôn lẫn lộn và thờ thần tượng (2:6-3:7) để rồi ai nấy đều làm theo điều mà “ý mình tưởng là phải” (17:6). Chẳng bao lâu, dân Y-sơ-ra-ên đã bị bắt cầm tù. Trong cơn tuyệt vọng, họ đã kêu cầu Đức Chúa Trời cứu vớt họ. Do lòng thành tín đối với lời hứa và lòng nhân từ thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời đã dấy lên một quan xét để giải thoát dân sự, và họ tạm thời được sống hoà bình ít lâu. Rồi thói tự phụ tự mãn và không vâng lời lại xen vào, và cái chu kỳ ấy lại bắt đầu.
    Sách Các quan xét choán một giai đoạn hơn 325 năm, ghi lại các thời kỳ bị áp bức rồi được giải thoát liên tiếp nhau, và công nghiệp của 12 nhà giải phóng. Những dân tộc bắt bớ hà hiếp họ gồm có các dân Mê-sô-bô-ta-mi, Mô-áp, Phi-li-tin, Ca-na-an, Ma-đi-an và Am-môn. nhiều nhà giải phóng thuộc nhiều hạng người khác nhau - từ Ốt-ni-ên đến Sam-sôn - đã được Đức Chúa Trời dùng để lãnh đạo dân Ngài đến với tự do và sự thờ phượng chân chính. Việc Đức Chúa Trời nhờ các quan xét giải thoát cho họ là một chứng minh hùng hồn cho tình yêu và lòng nhân từ khoan dung của Ngài đối với dân sự Ngài.
    Trong khi bạn đọc sách Các quan xét, hãy có cách nhìn thật đúng vào các vị anh hùng này từ quan điểm sử ký Do Thái. Hãy ghi nhận việc họ đã lệ thuộc vào Đức Chúa Trời và vâng theo các lệnh truyền của Ngài. Cần quan sát những lần tuột dốc theo hình trôn ốc vào tội lỗi cứ lặp đi lặp lại của họ, việc họ từ chối không chịu học hỏi từ lich sử, nhưng chỉ biết sống cho khoảnh khắc hiện tại mà thôi. Nhưng trên hết tất cả, là hãy có lòng kính sợ Đức Chúa Trời, Đấng đầy lòng nhân từ thương xót đã nhiều lần giải phóng cho dân Ngài.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để chứng minh rằng việc Đức Chúa Trời trừng phạt tội lỗi là chắc chắn, và sự tha tội cũng như vãn hồi mối liên hệ cũng chắc chắn như vậy đối với những ai biết ăn năn.
    Trước giả: Rất có thể là Sa-mu-ên
    Bối cảnh: Xứ Ca-na-an, về sau gọi là Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời đã trợ giúp để dân Y-sơ-ra-ên đánh chiếm xứ Ca-na-an, trước đó vốn do nhiều dân tộc gian ác chiếm ngụ. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên có nguy cơ bị mất nước vì mất lòng tin và không vâng lời Đức Chúa Trời.
    Câu gốc: Cac Tl 17:6
    Các nhân vật chính: Ốt-ni-ên, Ê-hút, Đê-bô-ra, Ghê-đê-ôn, A-bi-mê-léc, Giép-thê, Sam-sôn, Đa-li-la.
    Những nét đặc trưng: Ghi lại trận nội chiến đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên.
    Bố cục
    A. Thất bại về quân sự của dân Y-sơ-ra-ên (1:1-3:6)
    1. Không chinh phục được toàn xứ
    2. Không vâng lời và bị thua trận
    Các chi phái đã bất tuân lệnh của Đức Chúa Trời về vấn đề phải đuổi tất cả các cư dân của xứ ấy ra khỏi đó. Việc không cất đi trọn vẹn điều ác thường có nghĩa là sẽ phải chịu cảnh tàn hại về sau. Chúng ta phải đề cao cảnh giác, đừng bao giờ thỏa hiệp với điều xấu xa gian ác.
    B. Dân Y-sơ-ra-ên được các quan xét cứu vớt (3:7-16:31)
    1. Giai đoạn thứ nhất: Ốt-ni-ên
    2. Giai đoạn thứ hai: Ê-hút và Sam-ga
    3. Giai đoạn thứ ba: Đê-bô-ra và Ba-rác
    4. Giai đoạn thứ tư: Ghê-đê-ôn, Thô-la và Giai-rơ
    5. Giai đoạn thứ năm: Giép-thê, Iếp-san, Ê-lôn, và Áp-đôn
    6. Giai đoạn thứ sáu: Sam-sôn
    Chúng ta thấy dân Y-sơ-ra-ên phạm tội với Đức Chúa Trời nhiều lần, nên Ngài cho phép sự đau khổ giáng trên xứ Ca-na-an và dân sự. Tội lỗi bao giờ cũng tạo hậu quả. Hễ nơi nào có tội lỗi, thì chúng ta có thể trông mong là sẽ có sự trừng phạt nối gót theo sau. Thay vì cứ sống mãi trong cái chu kỳ bất tận là từ bỏ Đức Chúa Trời để rồi sau đó lại kêu cầu Ngài cứu vớt, chúng ta phải tìm cách sống một cuộc đời tận trung, trước sau như một.
    C. Thất bại về luân lý đạo đức của dân Y-sơ-ra-ên (17:1-21:25)
    1. Vấn đề thờ thần tượng trong chi phái Đan
    2. Chiến tranh với chi phái Bên-gia-min
    Bất chấp nỗ lực của các quan xét trong dân Y-sơ-ra-ên, dân sự vẫn không chịu hết lòng quay lại với Đức Chúa Trời. Mọi người đều làm theo điều họ tự cho là đúng nhất. Hệ quả là có sự sa sút thuộc linh, luân lý đạo đức và chính trị của toàn dân. Đời sống chúng ta cũng sẽ sa sút và suy tàn nếu chúng ta không sống theo các đường hướng chỉ đạo mà Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Sa sút / Quên đi
    Lời giải thích Hễ khi nào một quan xét qua đời thì dân sự gặp sa sút và thất bại vì họ quên đi chủ đích thuộc linh cao quí theo nhiều phương diện. Họ quên mất sứ mạng phải đuổi tất cả các dân khác ra khỏi xứ, nhưng lại theo các tập tục của các dân sống chung quanh họ.
    Tầm quan trọng Xã hội có nhiều phần thưởng để tặng cho những người từ bỏ đức tin của họ: của cải, hoan nghênh, đề cao, thế lực, ảnh hưởng. Khi nào Đức Chúa Trời giao cho chúng ta một sứ mạng, xin đừng để cho ước muốn được xã hội hoan nghênh tán thưởng làm ô nhiễm nó. Chúng ta phải nhìn chăm vào Chúa Cứu Thế, là quan xét và là Đấng Giải Phóng chúng ta.
    Luận đề: Suy tàn / Bội đạo
    Lời giải thích Sự sa sút về luân lý đạo đức của dân Y-sơ-ra-ên bắt nguồn từ lòng thiết tha với nền độc lập của từng chi phái. Nó đưa mọi người tới chỗ làm bất cứ việc gì tự mình cho là phải. Chẳng hề có sự hợp nhất trong chính quyền hay trong sự thờ phượng. Luật pháp và luật lệ bị đạp đổ. Cuối cùng thần tượng và tôn giáo nhân tạo dẫn tới việc từ bỏ hoàn toàn đức tin vào Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng Chúng ta có thể chờ đợi cảnh suy tàn khi đánh giá bất kỳ một vật gì cao hơn Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta đánh giá cao quyền độc lập của mình hơn việc tận hiến cho Đức Chúa Trời, là chúng ta đã đặt một thần tượng vào trong lòng mình rồi. Chẳng bao lâu, đời sống chúng ta sẽ trở thành đền thờ cho vị thần đó. Chúng ta phải luôn luôn đặt Đức Chúa Trời lên hàng đầu của đời sống và mọi ước muốn của chúng ta.
    Luận đề: Thua trận / Bị áp bức
    Lời giải thích Đức Chúa Trời dùng sự áp bức của Ngài để trừng phạt tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, đưa họ đến chỗ phải ăn năn, và để thử nghiệm sự đầu phục của họ đối với Ngài.
    Tầm quan trọng Nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời dẫn tới cảnh tàn hại. Đức Chúa Trời có thể lợi dụng sự thất bại để đưa những tấm lòng xa cách trở về với Ngài. Khi mọi sự đều đã bị tước đoạt, chúng ta sẽ nhận thấy tầm quan trọng của việc chỉ phục vụ một mình Ngài mà thôi.
    Luận đề: Ăn năn
    Lời giải thích Sa sút, suy tàn và bại trận khiến dân sự cầu cứu với Đức Chúa Trời. Họ thề nguyện xây bỏ thần tượng để quay về với Đức Chúa Trời hầu được Ngài thương xót và giải thoát cho. Khi họ chịu ăn năn, thì Đức Chúa Trời giải cứu họ.
    Tầm quan trọng Thần tượng đặt chân được vào lòng chúng ta khi chúng ta xem một điều gì đó là quan trọng hơn Đức Chúa Trời. Chúng ta phải nhận diện các thần tượng hiện đại trong lòng mình, từ bỏ chúng, và quay lại với tình yêu và lòng nhân từ của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Giải phóng / Anh hùng
    Lời giải thích Vì dân Y-sơ-ra-ên ăn năn. Đức Chúa Trời đã dấy lên các anh hùng để giải thoát dân sự khỏi nẻo đường tội lỗi của họ và sự áp bức bóc lột mà nó đã đem đến. Ngài dùng nhiều loại người để hoàn tất chủ đích ấy bằng cách đổ đầy Thánh Linh Ngài cho họ.
    Tầm quan trọng Thánh Linh của Đức Chúa Trời được dành cho tất cả mọi người. Bất cứ ai tận hiến cho Đức Chúa Trời đều có thể được Ngài dùng cho công việc Ngài. Các bậc anh hùng đích thực biêt rõ nỗ lực của loài người chỉ là vô ích nếu không có sự hướng dẫn và quyền năng của Đức Chúa Trời.

    Dẫn nhập Ru-tơ
    Lời giới thiệu
    Khi có người nói: “Tôi xin kể cho bạn nghe câu chuyện của mẹ vợ (chồng) tôi”, chắc chúng ta đều mong một số giai thoại tiêu cực hay khôi hài, vì bức ký hoạ vẽ bà gia (mẹ chồng) là một giai phẩm tập trung vào chuyện giễu cợt hay bi hài. Tuy nhiên, sách Ru-tơ kể lại một truyện tích khác hẳn. Ru-tơ yêu mến mẹ chồng mình, là Na-ô-mi. Vừa mới goá chồng, Ru-tơ đã xin được ở lại với mẹ chồng bất cứ bà đi đâu, cho dù điều đó có nghĩa là nàng phải xa lìa quê hương xứ sở. Bằng những lời lẽ xuất phát tự đáy lòng: “Ru-tơ thưa rằng: Xin chớ nài tôi phân rẽ họ; vì mẹ đi đâu, tôi sẽ đi đó; mẹ ở nơi nào, tôi sẽ ở nơi đó. Dân sự của mẹ, tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ, tức là Đức Chúa Trời của tôi” (Ru R 1:16). Na-ô-mi đã đồng ý, và Ru-tơ đã cùng mẹ chồng nàng trở về Bết-lê-hem.
    Quyển sách đã chẳng nói gì nhiều đến Na-ô-mi ngoại trừ việc bà yêu mến và chăm lo săn sóc cho Ru-tơ. Rõ ràng cuộc đời của Na-ô-mi là một lời chứng hùng hồn cho sự thực hữu của Đức Chúa Trời mà bà thờ phượng. Vào những tháng năm được mùa, Đức Chúa Trời đã đưa người quả phụ trẻ vốn là dân Mô-áp này đến với một người tên là Bô-ô và cuối cùng ông này đã cưới nàng. Hệ quả là Ru-tơ đã trở thành tổ mẫu của Đa-vít và là một tiên tổ của dòng dõi Đấng Mê-si-a. Cuộc đời của Na-ô-mi đã tạo được một ảnh hưởng sâu xa thâm nhập lòng người ta!
    Sách Ru-tơ cũng là truyện tích về ân điển của Đức Chúa Trời giữa những hoàn cảnh tình hình khó khăn. Câu chuyện của Ru-tơ đã xảy ra vào thời các quan xét, một giai đoạn mà dân Y-sơ-ra-ên không vâng lời Đức Chúa Trời, thờ thần tượng và đầy bạo động. Cả trong những thời kỳ khủng hoảng, tuyệt vọng nhất vẫn còn có những người đi theo Đức Chúa Trời để Ngài hành động qua trung gian của họ. Cho dù thế gian này có gây chán nản và đầy mâu thuẫn như thế nào, luôn luôn vẫn có người trung tín theo Đức Chúa Trời. Ngài sẽ dùng bất cứ ai sẵn sàng mở lòng ra cho Ngài để thực hiện các chủ đích của Ngài. Ru-tơ là một người nữ Mô-áp, còn Bô-ô là một hậu duệ của Ra-háp, nghĩa là một gái mại dâm tại Giê-ri-cô. Tuy nhiên, con cháu của các vị ấy vẫn tiếp tục thuộc về dòng dõi mà qua đó, Đấng Mê-si-a đã ra đời.
    Hãy đọc sách này để được khích lệ. Đức Chúa Trời đang hành động trong thế gian này và Ngài muốn sử dụng bạn. Đức Chúa Trời có thể dùng bạn như đã đại dụng Na-ô-mi để đưa gia đình và bè bạn đến với Ngài.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để chứng minh thế nào đã có ba người vẫn giữ được cá tính mạnh mẽ và tận trung với Đức Chúa Trời cả khi xã hội chung quanh đang suy sụp.
    Trước giả: Khuyết danh. Một số người gợi ý đó là Sa-mu-ên, nhưng phần nội chứng gợi ý sách đã được viết sau khi Sa-mu-ên đã qua đời.
    Niên đại viết sách: Có thể sau giai đoạn các quan xét (1375-1050 TC)
    Bối cảnh: Một thời kỳ đen tối trong lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên khi dân sự chỉ sống để tự làm đẹp lòng mình, chứ không phải là để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời (Cac Tl 17:6)
    Câu gốc: Ru R 1:16
    Các nhân vật chính: Ru-tơ, Na-ô-mi, Bô-ô
    Các địa danh chính: Mô-áp, Bết-lê-hem
    Bố cục
    1. Ru-tơ vẫn giữ lòng trung tín với Na-ô-mi (1:1-22)
    2. Ru-tơ mót lúa trong đồng lúa của Bô-ô (2:1-23)
    3. Ru-tơ theo kế hoạch của Na-ô-mi (3:1-18)
    4. Ru-tơ và Bô-ô thành vợ chồng (4:1-22)
    Khi chúng ta gặp Na-ô-mi lần đầu tiên, nàng là một quả phụ bần cùng. Chúng ta theo dõi và thấy nàng nhập tịch dân sự Đức Chúa Trời, mót lúa trong đồng ruộng, và liều lĩnh đến mức có thể bị mất danh dự tại sân đạp lúa của Bô-ô. Cuối cùng, chúng ta thấy Ru-tơ trở thành vợ Bô-ô. Thật là một bức tranh tuyệt vời về cách thức để chúng ta có thể đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế. Thoạt đầu, chúng ta hoàn toàn tuyệt vọng, chỉ là những kẻ xa lạ phản loạn, và chẳng có phần gì trong Nước Trời cả. Rồi chúng ta đã liều bỏ mọi sự khi đặt đức tin vào Chúa Cứu Thế. Đức Chúa Trời đã cứu chúng ta,tha tội cho chúng ta, xây dựng lại đời sống chúng ta và ban phước sẽ tồn tại đời đời cho chúng ta. Bô-ô chuộc lại Ru-tơ là bức tranh về Chúa Cứu Thế mua chuộc, cứu rỗi chúng ta.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Lòng trung tín
    Lời giải thích Ru-tơ trung tín với Na-ô-mi ở cương vị con dâu và bạn thân là một gương tốt về tình yêu và lòng trung tín. Ru-tơ, Na-ô-mi và Bô-ô cùng trung tín với Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài. Qua cả câu chuyện, chúng ta thấy lòng thành tín của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài.
    Tầm quan trọng Cuộc đời của Ru-tơ được lòng trung tín đối với Đức Chúa Trời hướng dẫn tự nó đã chứng minh được lòng trung tín của nàng đối với những người nàng biết rõ. Muốn trung tín và yêu thương trong các mối liên hệ, chúng ta phải bắt chước lòng thành tín của Đức Chúa Trời trong các mối liên hệ với tha nhân của chúng ta.
    Luận đề: Lòng nhân ái
    Lời giải thích Ru-tơ đã tỏ lòng nhân ái với Na-ô-mi. Đến lượt mình, Bô-ô tỏ lòng nhân ái đối với Ru-tơ, một phụ nữ Mô-áp chẳng có tiền bạc gì, lại còn bị khinh dể nữa. Đức Chúa Trời đã bày tỏ lòng nhân ái đối với Ru-tơ, Na-ô-mi và Bô-ô bằng cách đưa cả ba người nào trong chủ đích của Ngài.
    Tầm quan trọng Như Bô-ô đã bày tỏ lòng nhân ái bằng việc mua lại đất để bảo đảm cho quyền thừa kế của Ru-tơ và Na-ô-mi thể nào, thì Chúa Cứu Thế cũng bày tỏ lòng nhân ái bằng cách chịu chết thay để bảo đảm cho chúng ta được sự sống vĩnh hằng. Lòng nhân ái của Đức Chúa Trời phải là động cơ thúc đẩy chúng ta yêu mến và tôn vinh Ngài.
    Luận đề: Thanh liêm, trung thực
    Lời giải thích Ru-tơ chứng minh cá tính đạo đức cao bằng cách trung thành với Na-ô-mi, bằng việc từ bỏ quê hương và các tập tục của xứ sở mình, và bằng việc lao động gian khổ ngoài đồng. Bô-ô tỏ ra trung thực trong các chuẩn mực đạo đức của ông, bằng sự thành thật và giữ đúng các lời cam kết của mình.
    Tầm quan trọng: Một khi chúng ta đã trải nghiệm lòng thành tín và nhân ái của Đức Chúa Trời rồi chúng ta phải đáp lại bằng cách cũng tỏ ra thanh liêm trung thực. Như các giá trị mà Ru-tơ và Bô-ô đã noi theo để sống tương phản rõ rệt với nền văn hoá đã được mô tả trong sách Các quan xét thế nào, đời sống chúng ta cũng phải vượt lên trên thế gian chung quanh y như thế.
    Luận đề: Sự bảo vệ
    Lời giải thích Chúng ta thấy sự quan tâm chăm sóc và bảo vệ của Đức Chúa Trời trên cuộc đời của Na-ô-mi và Ru-tơ. Quyền tể trị tối cao của Ngài trên hoàn cảnh tình hình đã đem sự bảo đảm và an ninh cho họ. Ngài hướng dẫn tâm trí và các hoạt động của người ta để hoàn thành chủ đích của Ngài.
    Tầm quan trọng Cho dù hoàn cảnh hiện tại của chung ta có tàn hại đến đâu, chúng ta vẫn hy vọng vào Đức Chúa Trời. Các nguồn tài nguyên của Ngài vốn vô hạn. Chúng ta phải tin là Ngài có quyền vận hành trong đời sống của bất cứ một người nào - dù người ấy là một ông vua hay một người ngoại quốc. Hãy tin cậy vào sự bảo vệ của Ngài.
    Luận đề: Sự thịnh vượng / Phước hạnh
    Lời giải thích Ru-tơ và Na-ô-mi đã trở về Bết-lê-hem như hai quả phụ nghèo, nhưng chẳng bao lâu, họ được thịnh vượng nhờ việc Bô-ô cưới Ru-tơ. Ru-tơ đã trở thành tổ mẫu của vua Đa-vít. Thế nhưng phước hạnh lớn nhất không phải là tiền bạc, hôn nhân, hay con cái, mà là phẩm chất của tình yêu và sự tôn trọng lẫn nhau giữa Ru-tơ, Bô-ô và Na-ô-mi.
    Tầm quan trọng Chúng t a có xu hướng nghĩ về phước hạnh là sự thịnh vượng thay vì là các mối liên hệ có phẩm chất cao mà Đức Chúa Trời giúp chúng ta thực hiện. Cho dù địa vị kinh tế của chúng ta có như thế nào, chúng ta đều có thể yêu mến và tôn trọng những người mà Đức Chúa Trời đã đưa vào trong đời sống chúng ta. Làm như thế là chúng ta vừa ban ra vừa nhận vào nhiều phước hạnh. Yêu là phước hạnh lớn nhất.

    Dẫn nhập I Sa-mu-ên
    Các niên đại:
    Các quan xét bắt đầu cai trị năm 1375 (1220 TC)
    Sa-mu-ên ra đời năm 1105 (1083)
    Sau-lơ ra đời năm 1080
    Sam-sôn làm quan xét năm 1075 (1083)
    Đa-vít lên ngôi vua năm 1040
    Đa-vít được xức dầu, Gô-li-át bị giết 1025
    Đa-vít làm vua trên xứ Giu-đa 1010
    Đa-vít làm vua trên xả Y-sơ-ra-ên 1003
    Sa-lô-môn lên ngôi vua 970
    Vương quốc bị chia đôi 930
    Lời giới thiệu:
    “Các đấu thủ đứng vào mức khởi hành”, người cầm cờ lệnh phất lên ra hiệu, đám đông im lặng tập trung chú ý vào đám lực sĩ đang tiến tới mức khởi hành. “Chuẩn bị”... tất cả đều đứng vào đúng vị trí của mình, các bắp thịt căng thẳng, chờ đợi tiếng súng lệnh. Nó vang lên! Và thế là cuộc đua bắt đầu. Trong bất kỳ một cuộc tranh đua nào, điểm khởi hành cũng là quan trọng, nhưng đích đến càng quan trọng hơn. Người chạy đầu thường bị mất sức, phải nhường chỗ cho người chạy ở giữa đoàn. Và có cả tấn thảm kịch là kẻ bắt đầu thật xuất sắc, dẫn đầu cuộc đua một chặng dài, nhưng lại không thể theo trọn cuộc thi tài vì nhiều lý do khác nhau như đuối sức, chấn thương…
    Sách Sa-mu-ên thứ nhất là một sách về những khởi điểm quan trọng... và những kết thúc bi thảm. Nó bắt đầu với thầy tế lễ cả Hê-li vào thời các quan xét. Là một lãnh tụ tôn giáo, Hê-li chắc phải bắt đầu cuộc đời mình bằng một mối liên hệ mật thiết với Đức Chúa Trời. Trong việc ông tiếp xúc với An-ne và huấn luyện cho con trai bà là Sa-mu-ên, ông đã chứng tỏ mình là một người thông hiểu rõ ràng các chủ đích và tiếng gọi của Đức Chúa Trời (ISa1Sm 1:1-54; 3:1-24). Nhưng cuộc đời của ông lại kết thúc trong ô nhục vì hai đứa con trai phạm thượng của ông đã bị Đức Chúa Trời đoán phạt, và chiếc hòm giao ước sa vào tay các kẻ thù (4:43). Cái chết của Hê-li đánh dấu sự suy tàn ảnh hưởng của chức vụ tế lễ và sự dấy lên của các nhà tiên tri trong xứ Y-sơ-ra-ên.
    Sa-mu-ên được mẹ ông là bà An-ne tận hiến cho việc phục vụ Đức Chúa Trời. Ông đã trở thành một trong những nhà tiên tri vĩ đại nhất của dân Y-sơ-ra-ên. Ông là người cầu nguyện, đã kết thúc công tác của các quan xét, bắt đầu trường phái của các nhà tiên tri, và xức dầu cho nhà vua đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên. Thế nhưng, cả đến Sa-mu-ên cũng không được miễn trừ việc phải kết thúc cuộc đời mình thật hẩm hiu. Cũng như gia đình của Hê-li, các con trai của Sa-mu-ên đã xây bỏ Đức Chúa Trời; chúng nhận hối lộ để làm sai lệch các cân công lý. Dân sự đã khước từ quyền lãnh đạo của các quan xét và các thầy tế lễ và kêu gào xin một nhà vua, “y như các dân tộc khác đã có rồi” (8:5).
    Sau-lơ đã bắt đầu thật nhanh chóng. Là một nhân vật gây kinh ngạc cho mọi người, chàng thanh niên đẹp trai (9:3) và khiêm hạ (9:21; 10:22) này đã được Đức Chúa Trời chọn để làm nhà vua đầu tiên cho dân Y-sơ-ra-ên (10:24). Đầu đời trị vì của ông đã được đánh dấu bằng tài lãnh đạo (11:1-47) và lòng dũng cảm (14:46-48). Nhưng rồi ông lại không chịu vâng lời Đức Chúa Trời (15:1-35), trở thành kẻ ghen tị và tự thần thánh hoá (18:1-19:24), nên cuối cùng đã bị Đức Chúa Trời thu hồi vương quyền (16:1-43). Cuộc đời của Sau-lơ cứ tiếp tục đi xuống mãi. Bị ám ảnh ước muốn sát hại Đa-vít (20:1-29:31), Sau-lơ đã cầu vấn một bà bóng (28:1-21), và cuối cùng đã phạm tội tự sát (31:1-13).
    Giữa các biến cố của cuộc đời Sau-lơ là khởi điểm của một nhân vật vĩ đại khác: Đa-vít. Là một người theo Đức Chúa Trời (13:24; 16:7), Đa-vít đã phục vụ cho Sau-lơ (16:1-23), giết Gô-li-át (17:1-58),và trở thành một dũng sĩ. Nhưng chúng ta phải chờ sang quyển thứ nhì của sách Sa-mu-ên mới biết được kết thúc của Đa-vít như thế nào.
    Trong khi bạn đọc sách ISa-mu-ên, hãy lưu ý đến việc chuyển tiếp từ chế độ thần chủ sang quân chủ,với niềm hoan hỉ trong các câu chuyện cổ điển về Đa-vít với Gô-li-át, và Đa-vít với Giô-na-than. Nhưng trong lúc đọc cả phần sử ký lẫn những cuộc phiêu lưu, hãy quyết định chạy cuộc đua của mình với tư cách một người của Đức Chúa Trời từ đầu chí cuối.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm ghi lại cuộc đời của Sa-mu-ên là vị quan xét cuối cùng, thời trị vì và sự suy tàn của Sau-lơ là nhà vua đầu tiên, và phần tuyển chọn, chuẩn bị cho Đa-vít, nhà vua vĩ đại nhất của dân Y-sơ-ra-ên.
    Trước giả: Có thể là Sa-mu-ên nhưng còn được bổ sung bằng các văn phẩm của hai nhà tiên tri Na-than và Gát (ISu1Sb 29:29)
    Bối cảnh: Quyển sách bắt đầu vào thời các quan xét và mô tả giai đoạn chuyển tiếp từ chế độ thần chủ (do Đức Chúa Trời lãnh đạo) sang chế độ quân chủ (do nhà vua lãnh đạo) trong dân Y-sơ-ra-ên.
    Các nhân vật chính: Hê-li, An-ne, Sa-mu-ên, Sau-lơ, Giô-na-than, Đa-vít.
    Bố cục:
    A. Hê-li và Sa-mu-ên: (1:1-7:17)
    1. Sự ra đời và thuở ấu thời của Sa-mu-ên
    2. Chiến tranh với dân Phi-li-tin
    Chúng ta thấy một sự tương phản sinh động giữa chàng thiếu niên Sa-mu-ên với các con trai của Hê-li. Các con trai của Hê-li thì ích kỷ, còn Sa-mu-ên lại sẵn sàng giúp đỡ. Các con trai của Hê-li gian lận đối với dân chúng, nhưng Sa-mu-ên thì lớn lên trong sự khôn ngoan và truyền lại cho dân sự các bức thông điệp từ Đức Chúa Trời. Khi đã trưởng thành, Sa-mu-ên là một nhà tiên tri, một thầy tế lễ và là một quan xét trên dân Y-sơ-ra-ên. Hành động của một người phản ảnh cá tính của người ấy. Điều đó đã được nghiệm đúng đối với Sa-mu-ên và các con trai của Hê-li. Nó cũng nghiệm đúng cho chúng ta nữa. Hãy phấn đấu như Sa-mu-ên, để giữ cho lòng bạn trong sạch trước mặt Đức Chúa Trời.
    B. Sa-mu-ên và Sau-lơ : (8:1-15:35)
    1. Sau-lơ làm vua Y-sơ-ra-ên
    2. Đức Chúa Trời từ bỏ Sau-lơ vì ông không vâng lời
    Sau-lơ tỏ ra có nhiều hứa hẹn. Ông khoẻ mạnh, cao lớn, và khiêm tốn. Thần của Đức Thánh Linh ngự trên ông, và Sa-mu-ên làm cố vấn cho ông. Nhưng Sau-lơ cố ý không vâng lời Đức Chúa Trời, và trở thành một bạo chúa. Chúng ta không nên căn cứ vào phần tiềm năng mình có để xây lên các kỳ vọng hoặc tương lai cho mình. Trái lại, chúng ta phải luôn luôn vâng lời Đức Chúa Trời trong mọi lãnh vực của đời sống mình. Đức Chúa Trời đánh giá cao sự vâng lời, chứ không phải là phần tiềm lực.
    C. Sau-lơ và Đa-vít: (16:1-31:13)
    1. Sa-mu-ên xức dầu cho Đa-vít
    2. Đa-vít và Giô-na-than kết bạn với nhau
    4. Sau-lơ rượt đuổi Đa-vít
    5. Sau-lơ thất bại và tử trận
    Đa-vít đã giết Gô-li-át thật nhanh chóng, nhưng phải kiên trì chờ đợi Đức Chúa Trời để đối phó với Sau-lơ. Tuy Đa-vít đã được xức dầu để làm vua Y-sơ-ra-ên tiếp sau đó, ông phải chờ nhiều năm, lời hứa dành cho ông mới được thực hiện. Hoàn cảnh khó khăn trong đời sống cũng như thì giờ chờ đợi thường tinh luyện, dạy dỗ và chuẩn bị chúng ta cho các trách nhiệm mà Đức Chúa Trời dành cho chúng ta trong tương lai.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Vua
    Lời giải thích: Vì dân Y-sơ-ra-ên bị các thầy tế lễ và quan xét tham lam gây khổ sở, nên họ muốn có một vua. Họ muốn được tổ chức giống như các lân bang vậy. Tuy điều đó trái với chủ đích nguyên thủy của Đức Chúa Trời Ngài vẫn chọn cho họ một vua.
    Tầm quan trọng: Thiết lập chế độ quân chủ không giải quyết được các vấn đề của dân Y-sơ-ra-ên. Điều Đức Chúa Trời muốn là sự tận hiến đích thực tâm trí và tấm lòng của từng người cho Ngài. Chẳng có chính quyền hay bộ luật nào thay thế được quyền cai trị của Đức Chúa Trời trong tấm lòng và cuộc đời của bạn.
    Luận đề: Sự kiểm soát của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Bao lâu dân Y-sơ-ra-ên xem Đức Chúa Trời là vua đích thực của họ, thì họ được hưng thịnh. Khi các cấp lãnh đạo xa lìa luật pháp Đức Chúa Trời, Ngài can thiệp vào đời sống cá nhân của họ và cai trị trên các hành động của họ. Nhờ vậy, mà Đức Chúa Trời nắm được quyền kiểm soát tối hậu trên lịch sử dân Y-sơ-ra-ên.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời luôn luôn vận hành trong thế gian này, cả khi chúng ta không thấy được việc Ngài làm, dù chúng ta bị loại áp lực nào hay phải thay đổi nhiều đến đâu, cuối cùng Đức Chúa Trời vẫn kiểm soát được tình hình của chúng ta. Hãy tin quyết vào quyền tể trị của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ mạnh dạn đương đầu với mọi tình hình khó khăn trong đời sống chúng ta.
    Luận đề: Quyền lãnh đạo
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời dùng nhiều hình thức lãnh đạo khác nhau để hướng dẫn dân sự Ngài. Các quan xét, các thầy tế lễ, các nhà tiên tri, các vua. Những nhân vât được Ngài chọn vào nhiều chức vụ khác nhau, như Hê-li, Sa-mu-ên, Sau-lơ và Đa-vít, thể hiện nhiều lề lối lãnh đạo khác nhau. Thế nhưng sự thành công của mỗi nhà lãnh đạo đều tùy thuộc vào sự tận hiến của vị ấy cho Đức Chúa Trời, chứ không phải là vào địa vị, lề lối lãnh đạo, sự khôn ngoan, tuổi tác hay sức lực của riêng họ.
    Tầm quan trọng: Khi Hê-li, Sa-mu-ên, Sau-lơ và Đa-vít không vâng lời Đức Chúa Trời, họ đã gặp nhiều hậu quả bi thảm. Tội lỗi ảnh hưởng đến những gì họ thực hiện cho Đức Chúa Trời và cách thức mà một số người đã trưởng dưỡng con cái họ. Làm một nhà lãnh đạo chân chính có nghĩa là phải để cho Đức Chúa Trời điều khiển mọi phương diện của các hoạt động, giá trị, và mục tiêu của bạn, kể cả cách bạn trưởng dưỡng con cái nữa.
    Luận đề: Sự vâng lời
    Lời giải thích: Với Đức Chúa Trời thì “sự vâng lời tốt hơn của tế lễ” (15:22). Ngài muốn người thuộc về Ngài phải vâng lời, phục vụ và hết lòng theo Ngài thay vì chỉ có sự dấn thân mặt ngoài trên cơ sở là truyền thống hay các hệ thống nghi lễ mà thôi.
    Tầm quan trọng: Tuy chúng ta được tự do không phải tuân thủ hệ thống tế lễ theo luật Do Thái nữa, chúng ta vẫn có thể còn trông cậy vào phần tuân thủ nghi lễ bề ngoài để thay thế cho sự tận hiến nội tâm. Đức Chúa Trời muốn mọi công tác và sự thờ phượng của chúng ta đều được thúc đẩy bởi động cơ đích thực là thái độ hết lòng tận hiến cho Ngài.
    Luận đề: Sự thành tín của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời vẫn thành tín giữ các lời hứa của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên. Ngài đã đáp lại với dân mình bằng lòng nhân từ thương xót âu yếm và công lý nhanh nhạy. Khi tỏ lòng nhân từ thương xót, Ngài hành động thành tín để dân Ngài được điều lợi ích nhất. Khi chứng minh công lý, Ngài thành tín với lời phán và bản tính đạo đức trọn vẹn của mình.
    Tầm quan trọng: Vì Đức Chúa Trời vốn thành tín, chúng ta có thể trông cậy Ngài tỏ lòng nhân từ khoan dung đối với chúng ta. Thế nhưng Đức Chúa Trời cũng công bằng, nên Ngài sẽ không thể dung thứ kẻ phản loạn chống lại Ngài. Lòng thành tín và yêu thương bất vị kỷ của Ngài phải cảm động được chúng ta để chúng ta sẵn sàng tận hiến cho Ngài. Đừng bao giờ quyết đoán rằng lòng nhân từ thương xót của Chúa sẽ còn mãi cho chúng ta mà không quan tâm đến thái độ của chúng ta đối với Ngài.

    Dẫn nhập II Sa-mu-ên
    Các niên đại
    Các quan xét bắt đầu cai trị 1375 TC (1220 TC)
    Sau-lơ lên ngôi vua, năm 1050 TC (1045 TC)
    Sau-lơ thăng hà; Đa-vít làm vua Giu-đa, năm 1010 TC
    Đa-vít làm vua trên cả xứ Y-sơ-ra-ên, năm 1003 TC
    Đa-vít phạm tội với Bát-sê-ba, năm 997 TC
    Sa-lô-môn ra đời, năm 991 TC
    Cuộc kiểm tra dân số của Đa-vít năm 980 TC
    Đa-vít thăng hà, Sa-lô-môn được tôn làm vua, năm 970 TC
    Vương quốc bị chia đôi, năm 930 TC
    Lời giới thiệu
    Cô bé bước vào phòng với chiếc áo dài lượt thượt kéo lê sau đôi giày cao gót. Chiếc mũ rộng vành chụp hờ trên đầu nàng, hơi lệch sang phía tay phải, và xâu chuỗi hạt nơi cổ lắc lư theo mỗi bước chân nàng. Bước sát theo sau là “người chồng”. Những chiếc móng tay dài của “chàng” vượt khỏi hai tay áo dài và rộng thùng thình, cùng với đôi chân kéo lê trong đôi giày quá khổ, các bước đi chập choạng của chàng phản lại nụ cười làm ra vẻ tự tin. Đám trẻ con tham gia vở kịch đều ăn mặc chỉnh tề - rập mẫu Mẹ và Cha chồng - đang theo dõi họ chưng diện và bước đi. Thời trang... tất cả bọn họ đều có những bộ xiêm y hợp thời trang... là những người mà thiên hạ đang bắt chước, những con người lý tưởng cho chúng ta. Và có lẽ chúng ta đều đang vô tình rập mẫu các hành động của họ và tiếp thu các ý kiến của họ nữa. (xxxĐoạn này chưa rõ nghĩa nên không biết sửa thế nàoxxx)
    Trong số các khuôn mẫu về con người tin kính được đề cập trong Thánh Kinh, có lẽ đã chẳng ai vượt trội hơn vua Đa-vít. Ra đời vào khoảng giữa Áp-ra-ham và Chúa Giê-xu, ông đã trở thành nhà lãnh đạo của toàn dân Y-sơ-ra-ên và là tổ phụ của Đấng Mê-si-a. Đa-vít là người “theo lòng của Đức Chúa Trời” (ISa1Sm 1:13,14). Đâu là các đức tính cá nhân của Đa-vít, khiến ông được đẹp lòng Đức Chúa Trời như thế?
    Sách IISamuên kể lại truyện tích của Đa-vít. Trong khi đọc sách ấy, bạn sẽ cảm thấy vô cùng phấn khởi lúc ông được tin làm vua trên xứ Giu-đa rồi trên cả xứ Y-sơ-ra-ên (IISa 2Sm 5:1-5) lúc ông ca ngợi tán tụng khi rước hòm giao ước trở vào đền tạm (IISa 2Sm 6:1-23) và reo mừng khi ông cầm đầu các đạo quân của mình chiến thắng các kẻ thù và hoàn tất việc chinh phục đất hứa đã được Giô-suê bắt đầu (8-10). Đa-vít là một nhân vật rất thành đạt.
    Nhưng Đa-vít cũng chỉ là một con người, và cũng đã gặp những thời kỳ đen tối khiến ông va vấp và phạm tội. Phần ký thuật về lòng tham dục, tội ngoại tình và sát nhân của ông thật chẳng dễ đọc chút nào (11-13) nhưng đã cho chúng ta một bài học, ngay đến các nhân vật vĩ đại sống đẹp lòng Đức Chúa Trời vẫn có thể bị cám dỗ sa vào tội lỗi.
    Nếp sống tin kính đạo đức không bảo đảm được cho người ta một cuộc đời dễ dãi và vô tư. Đa-vít có nhiều vấn đề về gia đình - chính con trai ông đã khích động cả nước phản lại ông và tự xưng vương (IISa 2Sm 14:1-18:33). Và tính cách cao trọng có thể làm nảy sinh thói kiêu ngạo, như chúng ta sẽ thấy trong hành động tội lỗi của Đa-vít là lập một cuộc kiểm tra dân số nhằm đề cao sự hùng cường của dân tộc mình (IISa 2Sm 24:1-25). Nhưng câu chuyện về vị anh hùng sa ngã này vẫn chưa kết thúc tấn thảm kịch. Nhờ biết ăn năn, mối giao hảo và sự bình an với Đức Chúa Trời tuy đã được vãn hồi, nhưng ông vẫn phải trực diện với các hậu quả của những tội lỗi đã vi phạm (12-20). Các hậu quả này đã theo đuổi ông suốt cuộc đời còn lại như để nhắc nhở ông về các hành vi tội lỗi của mình và nhu cầu về Đức Chúa Trời của ông.
    Trong khi bạn đọc sách IISa-mu-ên, hãy tìm cầu các đặc điểm giống như Đức Chúa Trời của Đa-vít - lòng trung tín, đức nhẫn nại, can đảm, hào hiệp, tận hiến và chân thành của ông - cũng như các đặc điểm rất được Đức Chúa Trời coi trọng, như đức khiêm tốn và lòng đau thương thống hối. Nhiều bài học có giá trị có thể được rút ra từ các tội lỗi và sự ăn năn của ông. Cũng như Đa-vít, bạn có thể trở thành một con người “theo lòng Đức Chúa Trời”.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Các chủ đích:
    1. Nhằm ghi lại lịch sử thời trị vì của Đa-vít
    2. Để chứng minh quyền lãnh đạo có kết quả khi người ta chịu đầu phục Đức Chúa Trời.
    3. Để nêu rõ một người có thể hành động khác đi
    4. Để chứng minh các đặc tính cá nhân đẹp lòng Đức Chúa Trời
    5. Để tả vẽ Đa-vít như một lãnh tụ lý tưởng của một vương quốc bất toàn, để chỉ bóng về Chúa Cứu thế, Đấng sẽ là lãnh tụ lý tưởng của một vương quốc hoàn toàn (chương 7).
    Trước giả: Khuyết danh, một số người gợi ý rằng Na-than con trai Xa-lút có lẽ là trước giả sách này (dc IVua 4:5;). Sách này cũng gồm luôn các văn phẩm của Na-than và Gót nữa (ISu1Sb 29:29).
    Niên đại viết sách: Năm 930 TC, được viết ngay sau thời trị vì của Đa-vít, 1050-970 TC
    Bối cảnh: Xứ Y-sơ-ra-ên dưới thời trị vì của Đa-vít
    Câu chìa khoá: “Bấy giờ, Đa-vít nhìn biết rằng Đức Giê-hô-va đã lập mình làm va trên Y-sơ-ra-ên, và khiến nước mình được thạnh vượng vì cớ dân Y-sơ-ra-ên của Ngài” (5:2).
    Những nét đặc trưng: Sách này được đặt tên theo nhà tiên tri đã xức dầu cho Đa-vít (làm vua) và hướng dẫn ông để biết sống cho Đức Chúa Trời.
    Bố cục:
    A. Những thành công của Đa-vít (1:1-10:19)
    1. Đa-vít lên ngôi vua Giu-đa
    2. Đa-vít lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên
    3. Đa-vít chinh phục các lân bang
    Đa-vít tiếp thu vương quốc đã bị biến thành nhiều mảnh vụn mà Sau-lơ để lại để gây dựng thành một thế lực hùng cường và thống nhất. Bốn mươi năm sau, Đa-vít sẽ giao vương quốc này lại cho con trai mình là Sa-lô-môn. Đa-vít dâng tấm lòng mình cho Đức Chúa Trời. Ông là một nhà vua đã cai trị dân sự của Đức Chúa Trời theo các đường lối của Đức Chúa Trời, và Ngài đã ban nhiều phước hạnh cho ông. Có lẽ chúng ta sẽ không được nhiều thành công trên đời này như Đa-vít, nhưng suy cho cùng, thì theo Đức Chúa Trời là quyết định thành công nhất mà một người có thể có được.
    B. Những cuộc chiến đấu của Đa-vít (11:1-24:25)
    1. Đa-vít và Bát-sê-ba
    2. Náo loạn trong gia đình Đa-vít
    3. Các cuộc nội loạn chống Đa-vít
    4. Những năm trị vì cuối cùng của Đa-vít.
    Đa-vít đã phạm tội với Bát-sê-ba, rồi tìm cách lấp liếm tội lỗi của mình bằng việc bày mưu sát hại luôn chồng bà ta. Tuy nhà vua đã được tha tội, các hậu quả vẫn còn - nhà vua đã phải gặp hoạn nạn rắc rối, cả với gia đình lẫn đất nước dân tộc. Đức Chúa Trời bao giờ cũng sẵn lòng tha thứ, nhưng chúng ta vẫn phải gánh lấy hậu quả do hành động của mình. Che giấu tội lỗi mình, chỉ khiến hậu quả được nhân lên gấp bội mà thôi.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Vương quốc phát triển
    Lời giải thích: Dưới quyền lãnh đạo của Đa-vít, vương quốc của Y-sơ-ra-ên đã nhanh chóng phát triển. Cùng với sự phát triển là nhiều biến chuyển: từ nền độc lập của một chi phái đến một chính phủ tập quyền, từ quyền lãnh đạo của một quan xét đến chế độ quân chủ, từ việc thờ phượng lương tâm đến sự thờ phượng tại Giê-ru-sa-lem.
    Tầm quan trọng: Cho dù chúng ta từng trải được bao nhiêu sức phát triển hay thay đổi. Đức Chúa Trời vẫn tiếp tục cung ứng cho chúng ta nếu chúng ta yêu mến và tôn trọng các nguyên tắc của Ngài. Công việc của Đức Chúa Trời được thực thi theo đường lối Ngài, thì Ngài không bao giờ để chúng ta thiếu khôn ngoan và năng lực.
    Luận đề: Tính cách cao trọng cá nhân
    Lời giải thích: Danh tiếng và ảnh hưởng của Đa-vít đã tăng lên rất nhiều. Ông nhận thức được rằng có Đức Chúa Trời ẩn phía sau sự thành công của ông, vì Ngài muốn dốc đổ đức nhân từ khoan dung của Ngài trên dân Y-sơ-ra-ên. Đa-vít xem các mối bận tâm của Đức Chúa Trời là quan trọng hơn các lợi ích của riêng mình.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời dốc đổ rời rộng các đặc ân của Ngài trên chúng ta vì những gì Chúa Cứu Thế đã làm. Ngài không xem tích cách cao trọng cá nhân như điều có thể đem ra sử dụng một cách ích kỷ mà phải là công cụ để chuyển tải công tác của Ngài đến cho dân sự (những người thuộc về) Ngài. Sự cao trọng mà chúng ta nên ao ước, là yêu người khác như Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta vậy.
    Luận đề: Công lý
    Lời giải thích: Vua Đa-vít chứng minh đức công bằng, khoan dung và ưu ái với gia đình Sau-lơ, các kẻ thù kẻ phản loạn các liên minh và bạn bè thân thiết với mình y như nhau. Cách cai trị công minh của nhà vua có cơ sở là đức tin và sự nhận biết Đức Chúa Trời của mình. Bản tính đạo đức trọn vẹn của Đức Chúa Trời là định chuẩn cho công lý.
    Tầm quan trọng: Tuy Đa-vít là nhà vua công minh nhất trong các vua Y-sơ-ra-ên, ông vẫn còn bất toàn. Cách sử dụng công lý của nhà vua đem đến cho mọi người niềm hi vọng và một vương quốc lý tưởng trên thiên đàng. Niềm hi vọng sẽ chẳng bao giờ thoả mãn được trong lòng người ta, trước khi Chúa Cứu Thế, là hậu duệ của Đa-vít sẽ đến để cai trị miên viễn bằng công lý trọn vẹn của Ngài.
    Luận đề: Các hậu quả của tội lỗi
    Lời giải thích: Đa-vít đã từ bỏ chủ đích của nhà lãnh đạo và nhà vua trong thời chiến của mình. Ông muốn được thịnh vượng và an nhàn nên từ chỗ chiến thắng, ông đã gặp hoạn nạn. Vì Đa-vít phạm tội ngoại tình với Bát-sê-ba, nhà vua đã phải gánh chịu nhiều hậu quả của nó, đã gây tàn hại cho cả gia đình lẫn đất nước của mình.
    Tầm quan trọng: Cám dỗ thường đến khi một người sống vô mục đích. Lắm khi chúng ta tưởng rằng hưởng các lạc thú và quyền tự do, thoát khỏi sự kiềm chế của Đức Chúa Trời, sẽ đem đến cho chúng ta cảm giác về sinh lực, nhưng tội lỗi tạo ra một chu kỳ đau khổ hoàn toàn không tương xứng với các lạc thú phù du mà nó đem đến.
    Luận đề: Bàn chân bằng đất sét
    Lời giải thích: Chẳng những Đa-vít đã phạm tội với Bát-sê-ba mà còn sát hại một người vô tội nữa. Vua đã không sửa trị các con trai khi chúng tham gia các tội cưỡng dâm và giết người. Vị anh hùng vĩ đại này đã tỏ ra thiếu cá tính trong một số các quyết định quan trọng nhất cho cuộc đời mình. Con người sắt lại chỉ có đôi bàn chân bằng đất sét
    Tầm quan trọng: Chẳng bao giờ nên xem tội lỗi chỉ là một nhược điểm hay môt sơ xuất. Tội lỗi vô cùng tai hại và cần phải được xoá sạch khỏi đời sống chúng ta. Cuộc đời của Đa-vít dạy chúng ta phải nhân ái đối với mọi người, kể cả những kẻ mà bản tính tội lỗi đưa họ đến chỗ có hành động phạm tội. Nó được dùng làm một lời cảnh cáo chúng ta đừng biện bạch cho tội lỗi trong chính đời sống của chúng ta, cả khi chúng ta thành công.

    Dẫn nhập I Các Vua
    Các niên đại
    Đa-vít làm vua năm 1010 TC
    Sa-lô-môn làm vua năm 970 TC
    Đền thờ được hoàn tất năm 959 TC
    Vương quốc chia đôi năm 930 TC
    Si-sắc xâm lăng Giê-ru-sa-lem năm 925 TC
    A-sa làm vua Giu-đa năm 910 TC
    Ê-li bắt đầu chức vụ năm 875 TC
    A-háp làm vua Y-sơ-ra-ên năm 874 TC
    Giô-sa-phát làm vua Giu-đa năm 872 TC
    Bên-ha-đát tấn công Sa-ma-ri năm 857 TC
    A-háp tử trận năm 853 TC
    Lời giới thiệu
    “Con bất chấp người khác nói gì, con sẽ bắt tay vào việc đây!”, hắn ta thét lên với mẹ mình như thế, vừa thoát như giông như gió ra khỏi nhà. Đây là một màn kịch quen thuộc trong xã hội của chúng ta. Nhiều lời lẽ đã được thay đổi, nhưng bức thông điệp vẫn y nguyên... con người vẫn không chịu mở lòng ra để nghe lời khuyên bảo vì tâm trí họ đã đóng chặt rồi. Một vài lời khuyên có lẽ cũng được suy nghĩ, nhưng nó chỉ được chú ý nếu nó tăng cường thêm cho các quyết định mà người ta đã có rồi hoặc là một nẻo đường dễ đi hơn. Bản tính của con người là từ chối sự trợ giúp và làm mọi việc theo ý riêng.
    Còn có một phương pháp khôn ngoan hơn, là tìm cầu lắng nghe, và để ý đến lời khuyên của một mưu sĩ (cố vấn) giỏi. Sa-lô-môn, người khôn ngoan nhất trên đời, đã khuyên như thế trong sách Châm ngôn (ChCn 11:14; 15:22; 24:6). Thật mỉa mai biết bao khi con trai và là người kế vị vua ấy là Rô-bô-am lại chỉ nghe những lời khuyên dại dột, dẫn tới nhiều hậu quả tàn hại. Vào ngày đăng quang của Rô-bô-am, dân sự đã nài xin vua hãy là một nhà vua tử tế và hào hiệp. Các trưởng lão thì khuyên nhà vua làm như người đầy tớ của dân sự này, phục vụ họ, đáp lời, trò chuyện tử tế cùng họ” ( IVua 1V 7). Nhưng Rô-bô-am lại nhất trí với những lời lẽ tàn bạo của các bạn đồng trang lứa với mình, thúc giục nhà vua tỏ ra tàn bạo. Hậu quả là Rô-bô-am đã khiến cho vương quốc của mình chia đôi. Hãy học tập từ sự sai lầm của Rô-bô-am. Hãy dấn thân tìm cầu và noi theo lời khuyên khôn ngoan. Các biến cố chủ yếu xảy ra trong sách IVua là sự thăng hà của Đa-vít, thời trị vì của Sa-lô-môn, vương quốc bị chia đôi, và chức vụ của Ê-li. Lúc Sa-lô-môn lên ngôi, Đa-vít đã nghiêm khuyến vua ấy là phải vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời và bước đi “trong đường lối Ngài” ( IVua 1V 2:3). Đó là điều Sa-lô-môn đã làm theo, nên khi chọn các ân tứ Chúa ban, nhà vua đã khiêm tốn cầu xin khả năng biết biện biệt ( IVua 1V 3:9). Kết quả là thời trị vì của Sa-lô-môn đã bắt đầu với thật nhiều thành công, kể cả việc xây cất đền thờ - là thành tựu vĩ đại nhất của nhà vua. Tai hại thay, Sa-lô-môn cưới nhiều vợ ngoại đạo, để rồi đến cuối cùng, đã khiến lòng vua xây khỏi Đức Giê-hô-va mà hướng về các tà thần ( IVua 1V 11: 1- 4).
    Rô-bô-am nối ngôi Sa-lô-môn và có cơ hội để trở thành minh quân, làm một nhà vua nhân ái và công bằng. Nhưng thay vào đó, vua ấy lại nghe những lời sàm tấu của đám bạn bè trẻ tuổi của mình và cố tìm cách trị vì bằng một bàn tay sắt. Và dân sự đã nổi loạn, vương quốc bị chia đôi với mười chi phái ở miền Bắc (Y-sơ-ra-ên) do Giê-rô-bô-am ở lại với Rô-bô-am mà thôi. cả hai vương quốc đều noi theo nẻo đường gian ác và thờ thần tượng của nhiều thời trị vì của các nhà vua, chỉ có tiếng nói rõ ràng của các nhà tiên tri là còn tiếp tục để cảnh cáo và kêu gào cả dân tộc hãy quay lại với Đức Chúa Trời. Ê-li quả thật là một trong số các nhà tiên tri vĩ đại nhất, và các IVua 1V 17:1-22:54 mô tả những nét đặc trưng của cuộc tranh chấp giữa ông với kẻ ác, tức là A-háp và Giê-sa-bên trong xứ Y-sơ-ra-ên. Nhưng một trong những cuộc đối đầu đầy kịch tích vào bậc nhất lịch sử, là Ê-li đã đánh bại các tiên tri của Ba-anh trên núi Cạt-mên. Mặc dù bị chống đối dữ dội, Ê-li đã đứng vững với Đức Chúa Trời để chứng minh rằng một người cộng với Đức Chúa Trời tức là đa số. Nếu Đức Chúa Trời đứng về phía chúng ta, thì chẳng có ai chống nổi chúng ta cả (RoRm 8: 31).
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm ghi lại sự tương phản trong cuộc đời của những người sống cho Đức Chúa Trời, với những kẻ không đi theo đường lối Ngài qua sử ký của các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
    Trước giả: Khuyết danh. Có lẽ là Giê-rê-mi hoặc một nhóm các nhà tiên tri.
    Bối cảnh: Quốc gia Y-sơ-ra-ên đã từng hùng cường, nay biến thành một đất nước bị phân đôi, không chỉ về mặt hình thể mà thôi, mà cả về mặt thuộc linh nữa.
    Các câu chìa khoá: “Còn ngươi, nếu ngươi đi trước mặt ta, như Đa-vít, cha ngươi đã đi, lấy lòng trọn lành và ngay thẳng mà làm theo các điều mà ta đã phán dặn ngươi, giữ các mạng lịnh và luật lệ của ta, bấy giờ ta sẽ làm cho ngôi nước ngươi kiên cố đến đời đời trên Y-sơ-ra-ên, y như ta đã hứa cùng Đa-vít, mà rằng: Ngươi sẽ chẳng hề thiếu kẻ hậu tự ngươi ngồi trên ngôi Y-sơ-ra-ên” ( IVua 1V 9: 4,5).
    Các nhân vật chính: Đa-vít, Sa-lô-môn, Rô-bô-am, Giê-rô-bô-am, Ê-li, A-háp, Giê-sa-bên.
    Những nét đặc trưng: Hai sách I và II Vua nguyên chỉ là một.
    Bố cục:
    A. Vương quốc thống nhất (IVua 1V 1:1-11:43)
    1. Sa-lô-môn lên ngôi
    2. Sự khôn ngoan của Sa-lô-môn
    3. Sa-lô-môn xây đền thờ
    4. Sự cao trọng rồi suy sụp của Sa-lô-môn
    Sa-lô-môn là một nhà thảo mộc học, động vật học kiến trúc sư, thi sĩ, và triết gia. Vua ấy là nhà vua khôn ngoan nhất trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên, nhưng vợ (hoàng hậu, cung phi) của vua đã đưa nhiều tà thần và việc thờ phượng các tà thần ấy vàoY-sơ-ra-ên. Kiên trì nhẫn nhục vâng lời Đức Chúa Trời phải là đặc điểm của đời sống chúng ta. Mục tiêu cao nhất của đời sống người ta là vâng lời Đức Giê-hô-va. Có sự khôn ngoan là điều ích lợi cho chúng ta, nhưng chỉ có chừng đó thôi thì chưa đủ.
    B. Vương quốc bị phân đôi (IVua 1V 12:1-22:53)
    1. Cuộc nổi loạn của các chi phái miền Bắc
    2. Các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa
    3. Chức vụ của Ê-li
    4. Các vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa.
    Khi vương quốc miền Bắc là nước Y-sơ-ra-ên bị các nhà vua gian ác lãnh đạo, Đức Chúa Trời đã dấy lên một tiên tri để rao truyền các thông điệp của Ngài. Với đôi bàn tay trắng, Ê-li đã thách thức cả giới thầy tế lễ của một quốc giáo và diệt trừ họ chỉ trong một ngày. Nhờ việc chia đôi vương quốc và sai Ê-li đến, Đức Chúa Trời đã đối phó với tội lỗi của dân sự theo nhiều cách thức đầy quyền năng. Tội lỗi trong đời sống chúng ta đều được Đức Chúa Trời lấy ân điển để tha thứ khi chúng ta ăn năn. Tuy nhiên, tội của một kẻ không chịu ăn năn sẽ bị xử lý nghiêm khắc. Chúng ta phải xây bỏ tội lỗi và quay trở về với Đức Chúa Trời để được cứu khỏi bị phán xét.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Vua
    Lời giải thích: Sự khôn ngoan quyền thế và các thành tựu của Sa-lô-môn đem vinh dự về cho dân Y-sơ-ra-ên và cho Đức Chúa Trời. Tất cả các vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều được truyền bảo phải vâng lời Đức Chúa Trời và cai trị theo luật pháp của Ngài. Nhưng khuynh hướng muốn từ bỏ các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và thờ lạy các thần khác đã dẫn họ đến chỗ thay đổi tôn giáo và chính quyền, để thoả mãn các dục vọng riêng của họ. Chính việc từ bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời đó, đã đưa họ đến chỗ bị sụp đổ.
    Tầm quan trọng: Khôn ngoan, quyền thế và thành tựu, suy cho cùng, đều không do bất kỳ một nguồn gốc nào từ loài người mà có; chúng đều bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. Cho dù chúng ta có cai trị hay lãnh đạo như thế nào, chúng ta sẽ không thể làm được tốt nếu bỏ các nguyên tắc chỉ đạo của Đức Chúa Trời. Cho dù chúng ta có là cấp lãnh đạo hay không, thành công của chúng ta lệ thuộc vào việc chúng ta lắng nghe và vâng lời Đức Chúa Trời. Đừng để cho các dục vọng cá nhân xuyên tạc lời Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Đền thờ
    Lời giải thích: Đền thờ do Sa-lô-môn xây là một nơi đẹp đẽ để thờ phượng và cầu nguyện. Nơi thánh này là trung tâm của Do Thái giáo. Đó là nơi hiện diện đặc biệt của Đức Chúa Trời và là nơi đặt hòm giao ước bên trong có Mười Điều Răn.
    Tầm quan trọng: Một nơi thờ phượng đẹp đẽ không luôn luôn bảo đảm cho những phước hạnh người ta nhận được trong khi thờ phượng Đức Chúa Trời. Tạo cơ hội cho sự thờ phượng thật không bảo đảm được cho việc ấy xảy ra. Đức Chúa Trời muốn sống trong lòng chúng ta, chứ không phải chỉ trong thánh đường mà thôi.
    Luận đề: Các thần khác
    Lời giải thích: Tuy dân Y-sơ-ra-ên có luật pháp của Đức Chúa Trời và từng trải việc Ngài hiện diện giữa họ, họ vẫn bị các thần khác lôi kéo. Khi việc ấy xảy ra lòng họ trở thành nguội lạnh đối với luật pháp Đức Chúa Trời mà hậu quả là gia đình, chính quyền của họ bị tàn hại, và cuối cùng dẫn đến việc cả dân tộc bị tiêu diệt.
    Tầm quan trọng: Qua nhiều năm, dân sự nhiễm lấy các thói xấu của các tà thần mà họ thờ lạy. Họ trở thành tàn ác, tham quyền, và sai lệch về tình dục. Chúng ta có xu hướng trở thành điều mà chúng ta thờ lạy. Nếu không phục vụ Đức Chúa Trời chân chính chúng ta sẽ trở thành nô lệ cho bất kỳ điều gì chiếm lấy chỗ của Ngài.
    Luận đề: Thông điệp của nhà tiên tri
    Lời giải thích: Trách nhiệm của nhà tiên tri là đối diện để sửa sai bất cứ việc nào lệch khỏi luật pháp của Đức Chúa Trời. Ê-li là nhân vật chủ chốt để rao truyền sự phán xét chống lại dân Y-sơ-ra-ên. Các bức thông điệp bằng phép lạ của ông là lời cảnh cáo đối với các vua và những kẻ gian ác, phản loạn.
    Tầm quan trọng: Thay đổi đời sống để vâng lời Đức Chúa Trời và quay lại với đường đi đúng thường đòi hỏi phải chịu sửa phạt đau đớn và làm việc gian khổ.
    Luận đề: Tội lỗi và ăn năn
    Lời giải thích: Mỗi nhà vua đều có các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, một thầy tế lễ hoặc một nhà tiên tri, và các bài học trong quá khứ để kéo mình quay về với Đức Chúa Trời. Mọi người đều có cùng phương cách như nhau. Khi nào họ ăn năn tội và quay trở về với Đức Chúa Trời, thì Ngài nghe lời cầu nguyện và tha tội cho họ.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời nghe và tha tội cho chúng ta khi chúng ta cầu nguyện - nếu chúng ta sẵn sàng tin cậy Ngài và xây bỏ tội lỗi. Ước muốn xa lánh tội của chúng ta phải thành thật và xuất phát tự đáy lòng. Như thế, Ngài sẽ ban cho chúng ta một điểm bắt đầu mới và một ước vọng sống cho Ngài.

    Dẫn nhập II Các Vua
    Các niên đại
    Vương quốc bị phân đôi năm 930 TC
    A-háp tử trận năm 853
    Chức vụ cua Ê-li được chuyển sang cho Ê-li-sê, năm 848
    Giê-hu làm vua Y-sơ-ra-ên năm 841
    Giô-ách làm vua Giu-đa năm 835
    Chức vụ của Ê-li-sê kết thúc năm 797
    Giê-rô-bô-am II làm vua Y-sơ-ra-ên năm 793
    Chức vụ của A-mốt bắt đầu năm 760
    Chức vụ của Ô-sê bắt đầu năm 753
    Chức vụ của Mi-chê bắt đầu năm 742
    Chức vụ của Ê-sai bắt đầu năm 740
    Y-sơra-ên (vương quốc miền Bắc) thất thủ năm 722
    Ê-xê-chia làm vua Giu-đa năm 715
    Giô-si-a làm vua Giu-đa năm 640
    Chức vụ của Giê-rê-mi bắt đầu năm 627
    Sách luật pháp được tìm thấy trong đền thờ năm 622
    Cuộc lưu đày lần thứ nhất của Giu-đa, Đa-ni-ên bị bắt đi năm 605
    Cuộc lưu đày lần thứ hai của Giu-đa, Ê-xê-chi-ên bị bắt đi năm 597
    Giu-đa (vương quốc miền Nam) thất thủ năm 586
    Lời giới thiệu
    Lấp lánh sáng lên khi va mạnh vào những tảng đá dọc theo hai bên bờ, dòng sông cuốn nhanh như thác đổ hướng về phía biển. Dòng nước như vồ chụp như xô đẩy nào là các cành cây, lá khô và những khúc gỗ vừa to vừa nhỏ, đun đẩy chúng dọc theo dòng chảy. Chỗ này chỗ nọ một vài vận động viên thể thao nổi bật hẳn lên rải rác trên một chiếc thuyền hay tam bản, trôi xuôi theo dòng nước. Luật hấp lực đẩy nước, và dòng sông thì đẩy những vật còn lại ... trôi xuống phía dưới. Thình lình một chiếc hoả tiễn màu bạc xé mặt nước và tiến như tên bắn ngược dòng rồi một chiếc khác nữa. Rõ ràng là đang vùng vẫy lội ngược, con cá hồi lấp lánh muốn bơi ngược dòng nước. Chúng phải trở về vùng thượng nguồn, và sẽ chẳng có gì ngăn được chúng đến nơi chúng muốn đến.
    Dòng sông của xã hội đang chảy xiết và giận dữ, đẩy mọi vật trên đường đi của nó trôi theo.Thật là dễ trôi theo dòng nước. Nhưng Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta phải lội ngược dòng. Sự việc sẽ không dễ dàng, và có lẽ chúng ta rất cô đơn, nhưng đó là cách sống đúng.
    Trong sách II Các vua, chúng ta đọc về các nhà vua làm điều ác, việc thờ thần tượng lan tràn, và một đám quần chúng tự phụ tự mãn - chắc chắn là đang bị đẩy xuống dốc. Bất chấp áp lực muốn rập mẫu với nếp sống của thế gian xây bỏ Đức Chúa Trời để chỉ phục vụ cho “cái ta” mà thôi, một thiểu số người được chọn cũng biết hướng về chiều ngược lại, nghĩa là về phía Đức Chúa Trời. Các nhà tiên tri tại Bê-tên và nhiều người khác nữa, cũng như hai nhà vua công chính, vẫn truyền dạy lời của Đức Chúa Trời và đứng vững cho Ngài. Trong khi bạn đọc sách II Các vua, hãy theo dõi các cá nhân can đảm ấy. Hãy tìm cầu sức lực và sự mạnh dạn của Ê-li với Ê-li-sê sự tận hiến của Ê-xê-chia và Giô-si-a, để nhất định làm một người dám lội ngược dòng!
    Sách Các Vua thứ hai tiếp tục sử ký của dân Y-sơ-ra-ên, ở khoảng giữa ngày thăng hà của Đa-vít với cái chết của dân tộc ấy. Xứ Y-sơ-ra-ên đã bị chia đôi (IVua 1V 12:1-33) và cả hai vương quốc đều bắt đầu sa vào sự thờ thần tượng và tham nhũng thối nát hướng tới chỗ sụp đổ và bị lưu đày. Sách Các Vua thứ hai kể lại những câu chuyện bẩn thỉu của 12 ông vua của vương quốc miền Bắc (gọi là Y-sơ-ra-ên) và 16 ông vua của vương quốc miền Nam (gọi là Giu-đa). Suốt 130 năm, dân Y-sơ-ra-ên đã phải chịu đựng việc các nhà vua gian ác ấy nối ngôi nhau cho đến khi họ bị Sanh-ma-na-se vua A-sy-ri chinh phục và bắt đi đày năm 722 TC (17:6). Trong số tất cả các nhà vua của cả hai miền Nam Bắc ấy, chỉ có hai vị - là Ê-xê-chia và Giô-si-a - là có thể được gọi là làm điều thiện. Nhờ sự vâng lời Đức Chúa Trời của họ và những cơn phục hưng thuộc linh dưới thời trị vì của các vua ấy, Giu-đa mới đứng thêm được 136 năm nữa cho đến khi sa vào tay Nê-bu-cát-nết-sa và người Ba-by-lôn năm 586 TC.
    Qua suốt giai đoạn đen tối này, Thánh Kinh đề cập 30 nhà tiên tri đã rao truyền thông điệp của Đức Chúa Trời cho dân sự và các lãnh tụ của họ. Đáng chú ý nhất trong số các nhà tiên tri bất khuất ấy của Đức Chúa trời, có Ê-li và Ê-li-sê. Lúc Ê-li sắp kết thúc chức vụ trên đất này của ông, thì Ê-li-sê còn cầu xin gấp đôi phần thần linh của người thầy yêu dấu của mình (2:9). Chẳng bao lâu sau đó. Ê-li được cất lên trời trong một cơn lốc (2:11), và Ê-li-sê trở thành người phát ngôn của Đức Chúa Trời cho vương quốc miền Bắc. Cuộc đời của Ê-li-sê đầy dẫy các dấu lạ, phép lạ, những lời công bố, cảnh cáo. Bốn phép lạ trong số đáng ghi nhớ nhất, là bình dầu cứ tuôn chảy mãi (4:1-7), việc chữa lành cho con trai người phụ nữ Su-nem (4:8-37) việc chữa lành bệnh phung cho Na-a-man (5:1-27) và chiếc lưỡi rìu nổi (6:1-7)
    Ngay giữa nhiều khó khăn khủng khiếp, Đức Chúa Trời sẽ vẫn có thiểu số người tận trung, - những người còn sót lại - của Ngài (19:31). Ngài muốn có những người nam người nữ can đảm rao truyền chân lý của Ngài
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm chứng minh số phận đang chờ đợi những kẻ chối bỏ Đức Chúa Trời không thừa nhận Ngài làm người lãnh đạo thật sự của họ.
    Trước giả: Khuyết danh. Có lẽ là Giê-rê-mi hoặc một nhóm các nhà tiên tri
    Bối cảnh: Quốc gia Y-sơ-ra-ên thống nhất giờ đây đã chia thành hai vương quốc, Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, suốt hơn một thế kỷ
    Các câu chìa khoá: IIVua 2V 17:13,14
    Các nhân vật chính: Ê-li, Ê-li-sê, người phụ nữ Su-nem, Na-a-man, Giê-sa-bên, Giê-hu, Giô-ách, Ê-xê-chia, San-chê-ríp. Ê-sai, Ma-na-se, Giô-si-a, Giê-hô-gia-kim, Sê-đê-kia, Nê-bu-cát-nết-sa.
    Những nét đặc trưng: Mười bảy sách tiên tri ở phần cuối Cựu ước cho chúng ta nhiều cái nhìn xuyên suốt quan trọng vào giai đoạn của sách II Các Vua.
    Bố cục:
    A. Vương quốc bị chia đôi (1:1-17:41)
    1. Chức vụ của Ê-li-sê
    2. Các vua của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa
    3. Dân Y-sơ-ra-ên bị đày sang A-sy-ri
    Tuy dân Y-sơ-ra-ên đã có lời làm chứng và quyền phép của Ê-li-sê họ vẫn xây bỏ Đức Chúa Trời và bị lưu đày sang A-sy-ri. A-sy-ri lấp đầy vương quốc miền Bắc bằng những người của các nước khác. Số dân bị đưa đi đày đã không hề trở lại - họ đã bị lưu đày vĩnh viễn. Đó là phần kết thúc của tất cả những ai xua đuổi Đức Chúa Trời ra khỏi cuộc đời mình.
    B. Vương quốc còn tồn tại (18:1-25:30)
    1. Các vua Giu-đa
    2. Dân Giu-đa bị đày sang Ba-by-lôn
    Vương quốc miền Bắc đã bị tiêu diệt, và các nhà tiên tri đã tiên báo cùng một số phận như thế cho xứ Giu-đa. Có điều gì khác hơn đã khiến được dân sự ăn năn? Ê-xê-chia và Giô-si-a đã chận đứng được ngọn thủy triều của sự gian ác. Cả hai vị đều xây sửa lại đền thờ và tập họp dân sự cho kỳ lễ Vượt Qua. Giô-si-a đã xoá sạch tệ nạn thờ thần tượng khỏi xứ, nhưng ngay sau khi các minh quân ấy ra đi, dân sự lại quay trở lại với nếp sống cũ, thay vì noi theo đường lối của Đức Chúa Trời. Mỗi cá nhân phải tin và sống cho Đức Chúa Trời ngay trong gia đình, Hội thánh và đất nước dân tộc mình.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Ê-li-sê
    Lời giải thích: Chủ đích của chức vụ của Ê-li-sê là phục hồi lòng tôn trọng đối với Đức Chúa Trời và bức thông điệp của Ngài, và ông đã đứng vững để chống lại các nhà vua gian ác của Y-sơ-ra-ên. Bởi đức tin lòng can đảm và lời cầu nguyện, ông đã cho mọi người thấy rằng chẳng những Đức Chúa Trời đoán phạt tội lỗi, mà lòng nhân ái, tình yêu, và sự dịu dàng âu yếm của Ngài cũng được bày tỏ cho những người trung tín với Ngài nữa.
    Tầm quan trọng: Các phép lạ đầy quyền năng của Ê-li-sê đã chứng minh rằng Đức Chúa Trời chẳng những chỉ nắm quyền kiểm soát các đạo quân đông đảo, mà cả đến các biến cố hằng ngày nữa. Khi nào chúng ta lắng nghe và vâng lời Đức Chúa Trời thì Ngài cho chúng ta thấy quyền năng làm thay đổi bất kỳ một tình huống nào. Đức Chúa Trời chăm sóc lo lắng cho tất cả những ai sẵn sàng đi theo Ngài. Ngài có thể làm phép lạ trong đời sống chúng ta.
    Luận đề: Thờ thần tượng
    Lời giải thích: Tất cả vua gian ác của cả Y-sơ-ra-ên lẫn Giu-đa đều khuyến khích thờ thần tượng. Các tà thần đó đại diện cho chiến tranh, sự tàn bạo, quyền thế và dâm dục. Tuy có luật pháp của Đức Chúa Trời, các thầy tế lễ và các nhà tiên tri hướng dẫn, các vua này vẫn tìm thêm các thầy tề lễ và nhà tiên tri mà họ có thể điều khiển để chính họ được lợi thế.
    Tầm quan trọng: Một thần tượng là bất kỳ một tư tưởng, tài năng, tài sản hay người nào mà chúng ta xem là cao hơn Đức Chúa Trời. Chúng ta kết án dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa vì đã dại dột thờ lạy thần tượng, nhưng chính chúng ta cũng thờ lạy nhiều thần khác - thế lực, tiền bạc, sự hấp dẫn của phần thể xác. Những ai tin Đức Chúa Trời phải chống lại lưới bẫy của các thần tượng đầy quyến rũ này.
    Luận đề: Các vua ác, các vua thiện
    Lời giải thích: Chỉ có hai mươi phần trăm nhà vua Y-sơ-ra-ên và Giu-đa theo Đức Chúa Trời mà thôi. Các vua ác vốn thiển cận, họ tưởng họ có thể kiểm soát địa phận của đất nước bằng cách du nhập các tôn giáo, lập nhiều liên minh với các quốc gia ngoại đạo, và làm giàu cho mình. Các vua thiện đã phải dành nhiều thì giờ hơn để hoá giải điều ác mà các vua tiền nhiệm đã làm.
    Tầm quan trọng: Tuy các vua dẫn dân sự sa vào tội lỗi, các thầy tế lễ, các quan trưởng và các chủ gia đình và lãnh tụ quân sự đều đã cộng tác với các kế hoạch và cách làm gian ác của họ để thực hiện chúng. Chúng ta không thể thoái thác trách nhiệm phải vâng lời của chúng ta bằng cách đổ tội cho những người lãnh đạo chúng ta. Chúng ta có trách nhiệm phải biết Lời Đức Chúa Trời và vâng theo.
    Luận đề: Sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời phán bảo với dân sự Ngài rằng nếu họ vâng lời Ngài, họ sẽ sống thành công, còn nếu họ không vâng lời, họ sẽ bị đoán phạt và bị tiêu diệt. Đức Chúa Trời rất kiên nhẫn đối với dân Ngài qua nhiều thế kỷ. Ngài đã sai nhiều nhà tiên tri đến để chỉ dẫn cho họ. Và Ngài đưa ra rất nhiều lời cảnh cáo về sự hủy diệt hầu đến. Nhưng cả đến sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời cũng có giới hạn.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời rất kiên nhẫn đối với chúng ta. Ngài ban cho chúng ta nhiều cơ may để được nghe thông điệp của Ngài, để xây bỏ tội lỗi, và tin Ngài. Ngài kiên nhẫn không có nghĩa là Ngài dửng dưng đối với cách sống của chúng ta, cũng không có nghĩa là chúng ta có thể bỏ qua những lời cảnh cáo của Ngài. Sự kiên nhẫn của Ngài phải khiến chúng ta muốn đến với Ngài ngay bây giờ.
    Luận đề: Sự phán xét
    Lời giải thích: Sau thời trị vì của Sa-lô-môn, dân Y-sơ-ra-ên hãy còn 209 năm nữa trước khi người A-sy-ri đến tiêu diệt họ. Giu-đa thì còn 345 năm nữa trước khi người Ba-by-lôn chiếm Giê-ru-sa-lem. Sau nhiều lần cảnh cáo dân Ngài, Đức Chúa Trời đã dùng nhiều dân tộc gian ác làm công cụ để thực thi công lý của Ngài.
    Tầm quan trọng: Hậu quả của việc chối bỏ các lệnh truyền và chủ đích của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta rất nghiêm trọng. Ngài sẽ chẳng bỏ qua thói vô tín hoặc phản loạn của chúng ta đâu. Chúng ta phải tin Ngài và tiếp nhận sự chết hi sinh của Chúa Cứu Thế thay cho chúng ta, bằng không, chúng ta cũng sẽ bị phán xét.

    Dẫn nhập I Sử ký
    Các niên đại
    Sau-lơ làm vua, năm 1050 TC (1045TC)
    Sau-lơ tử trận; Đa-vít làm vua trên xứ Giu-đa năm 1010
    Đa-vít làm vua trên cả Y-sơ-ra-ên năm 1003
    Đa-vít chinh phục Giê-ru-sa-lem năm 1.000
    Đa-vít chinh phục Ráp-ba năm 997
    Đa-vít kiểm tra dân số năm 980
    Sa-lô-môn lên ngôi năm 970
    Vương quốc Y-sơ-ra-ên chia đôi năm 930
    Lời giới thiệu
    Dưới bóng râm của cây sồi cổ thụ, bà mẹ ngồi trông chừng đứa con mới biết đi chập chững, nhặt những trái, những lá sồi rụng và những nhánh bồ công anh. Gần đó, bà nội, các cô, bác, chú đang trải khăn trên những chiếc bàn rồi bày lên đĩa nào là gà rán, khoai chiên, đậu hầm và nhiều món ăn mà gia đình ưa thích. Tiếng vó ngựa của ông nội và người cha, nhịp đều trong không khí, hoà lẫn với tiếng reo vui, hò hét của đám thiếu niên đang đá bóng, Một buổi họp gia đình - một buổi chiều nắng đẹp tập họp đủ bốn thế hệ với đông đủ ông bà, cha mẹ, cô bác, và cháu chắt.
    Những buổi họp mặt như thế này rất quan trọng... vì nó liên quan và kết hợp nhiều chi nhánh khác nhau của một bộ tộc, nhìn về quá khứ của một người trong thời gian và nền văn hoá, cho người ta được thấy những nét phản chiếu về hình thể (mắt, mũi...) nhắc người ta nhớ lại các truyền thống ấm cúng. Biết được tông tích và các mối liên hệ thân tộc của mình, tạo được cho người ta một ý thức về lý lịch, di sản, và vận mệnh của mình.
    Chính là nhằm vào cùng một chủ đích cao cả ấy mà trước giả các sách Sử ký đã bắt đầu tác phẩm của mình bằng một bảng gia phả thật dài. Ông vẽ lại các nguồn gốc của một dân tộc bằng một cuộc họp mặt gia đình theo đúng nghĩa đen của nó kể từ A-đam trở về sau, ghi lại dòng dõi vương giả của nó và phần kế hoạch đầy tình yêu thương của một Đức Chúa Trời có thân vị hẳn hoi. Chúng ta đọc ISử ký để có được một cái nhìn thoáng qua vào một Đức Chúa Trời đang vận hành trên dân Ngài trải nhiều thế hệ. Nếu bạn là một tín hữu, thì những nhân vật này cũng chính là tổ tiên của bạn nữa. Khi bạn tiếp cận với phần này của Lời Đức Chúa Trời, hãy đọc tên của họ với thái độ vừa sợ sệt vừa tôn kính, để có được sự an toàn và một lý lịch mới trong mối liên hệ giữa bạn với Đức Chúa Trời.
    Quyển sách đi trước tức là IICác Vua, kết thúc với việc cả hai dân tộc Y-sơ-ra-ên và Giu-đa đều bị bắt đi đày, tất nhiên là một thời đại đen tối cho dân sự của Đức Chúa Trời. Tiếp theo đây là sách Sử ký (hai sách I và II Sử ký nguyên chỉ là một quyển). Được viết sau cuộc lưu đày, bộ sách này tóm tắt lịch sử dân Y-sơ-ra-ên nhấn mạnh phần di sản thuộc linh của dân Do Thái trong nỗ lực thống nhất toàn thể dân tộc. Trước giả sách Sử ký cố ý chọn lọc khi kể lại lịch sử trong quyển sách của mình. Thay vì viết ra một tác phẩm thật đầy đủ, ông đã thận trọng chọn lọc cách trần thuật, nhấn mạnh các bài học thuộc linh để chỉ truyền dạy các chân lý đạo đức mà thôi. Trong sách Sử ký, rõ ràng là vương quốc miền Bắc đã bị bỏ qua, các chiến thắng khải hoàn của Đa-vít - chứ không phải là các tội lỗi của vua ấy - đã được nhắc lại, và đền thờ được dành cho một địa vị nổi bật như là trung tâm sinh động của sinh hoạt quốc gia.
    Sách Sử ký thứ nhất bắt đầu với A-đam, và qua chín chương, trước giả đã cung cấp cho chúng ta tiểu sử của các nhân vật quan trọng trong sử ký của dân Y-sơ-ra-ên, với điểm nhấn mạnh đặc biệt trên dòng dõi của vua Đa-vít. Phần còn lại của quyển sách kể lại câu chuyện Đa-vít - là nhân vật vĩ đại của Đức Chúa Trời và là vua dân Y-sơ-ra-ên - đã phục vụ Đức Chúa Trời và soạn thảo các kế hoạch cho việc xây cất và thờ phượng trong đền thờ.
    Sách Sử ký thứ nhất là một bộ sử ký vô giá bổ sung cho sách IISa-mu-ên và là một sách giúp trí nhớ tuyệt vời, nhắc nhở chúng ta về sự cần thiết phải vạch lại các nguồn gốc cội rễ của mình để nhờ đó tái khám phá phần nền móng của chúng ta. Trong khi đọc sách ISử ký, bạn hãy vẽ lại phần di sản tin kính đạo đức của riêng mình, rồi hãy tạ ơn Đức Chúa Trời về các tổ tiên thuộc linh của bạn, và tái tận hiến chính mình cho công tác truyền lại chân lý của Đức Chúa Trời cho thế hệ tiếp theo.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm thống nhất dân sự của Đức Chúa Trời, vẽ lại dòng dõi của Đa-vít và truyền dạy cách thờ phượng chân chính đúng ra phải là trung tâm của sinh hoạt cá nhân và quốc gia dân tộc.
    Trước giả: E-xơ-ra theo truyền khẩu Do Thái.
    Đọc giả: Cho toàn dân Y-sơ-ra-ên
    Niên đại viết sách: Khoảng năm 430 TC, ghi lại các biến cố đã xảy ra từ năm 1.000 - 960 TC.
    Bối cảnh: Sách Sử ký thứ nhất song hành với sách Sa-mu-ên thứ hai, và được dùng để bình giải sách ấy. Được viết sau thời kỳ lưu đày theo quan điểm của một thầy tế lễ; ISử ký nhấn mạnh sử ký tôn giáo của dân Giu-đa và Y-sơ-ra-ên.
    Câu chìa khoá: ISu1Sb 14:2
    Các nhân vật chính: Đa-vít, Sa-lô-môn
    Các địa điểm chính: Hếp-rôn, Giê-ru-sa-lem, đền thờ.
    Bố cục:
    A. Các sách gia phả của dân Y-sơ-ra-ên (1:1-9:44)
    1. Tổ tiên của dân Y-sơ-ra-ên
    2. Các chi phái trong dân Y-sơ-ra-ên
    3. Những kẻ bị đày sang Ba-by-lôn hồi hương
    Bảng danh sách dài sau đây trình bày phần sử ký của công việc mà Đức Chúa Trời đã làm trên thế gian này kể từ A-đam cho đến Xô-rô-ba-bên. Một số tên trong danh sách này nhắc nhở chúng ta về nhiều câu chuyện đức tin vĩ đại và sự thất bại của nhiều người khác. Tuy nhiên, trong phần lớn các tên được nêu, chúng ta chẳng được biết gì cả. Nhưng những người đã chết mà chúng ta không biết, thì Đức Chúa Trời đều biết rõ. Đức Chúa Trời cũng sẽ nhớ đến chúng ta, khi chúng ta qua đời.
    B. Thời trị vì của Đa-vít (10:1-29:30)
    1. Đa-vít làm vua trên cả xứ Y-sơ-ra-ên
    2. Đa-vít rước hòm giao ước vào Giê-ru-sa-lem
    3. Các chiến công của Đa-vít
    4. Đa-vít thu xếp việc xây cất đền thờ
    Đa-vít yêu mến Đức Giê-hô-va, muốn xây cho Ngài một ngôi đền thờ để thay thế cho đền tạm, nhưng Đức Chúa Trời từ chối đề nghị đó của vua. Phần đóng góp quan trọng nhất của Đa-vít cho ngôi đền thờ sẽ không phải là xây cất nó, nhưng chỉ là việc chuẩn bị mà thôi. Có lẽ chúng ta sẽ không được nhìn thấy kết quả của các công lao gian khổ của mình cho Đức Chúa Trời ngay trong đời sống chúng ta, nhưng tấm gương của Đa-vít giúp chúng ta hiểu rằng sở dĩ chúng ta phục vụ Đức Chúa Trời, là để chính Ngài được thấy các kết quả của Ngài, chứ không phải là để chúng ta nhìn thấy các kết quả của chúng ta.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Lịch sử dân Y-sơ-ra-ên
    Lời giải thích: Bằng việc kể lại sử ký nước Y-sơ-ra-ên trong các bảng gia phả và các câu chuyện về các nhà vua, trước giả đã đặt nền móng thuộc linh đích thực cho dân ấy. Đức Chúa Trời giữ đúng các lời hứa của Ngài, còn chúng ta thì được nhắc nhở về chúng trong sử ký của dân Ngài, các cấp lãnh đão nhà tiên tri, thầy tế lễ và các vua của họ.
    Tầm quan trọng: Quá khứ của dân Y-sơ-ra-ên cấu thành một nền tảng đáng tin cậy cho việc tái xây dựng dân tộc ấy sau thời kỳ bị lưu đày. Vì các lời hứa của Đức Chúa Trời đã được mặc khải trong Thánh Kinh, chúng ta có thể biết và tin cậy rằng Ngài sẽ giữ lời của mình. Cũng như dân Y-sơ-ra-ên chúng ta không thể có một chủ đích nào cho đời sống cao hơn là tận hiến để phục vụ Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Dân sự của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Bằng cách kể tên của những người Y-sơ-ra-ên trong quá khứ, Đức Chúa Trời xác lập phần di sản đích thực của dân Y-sơ-ra-ên. Họ đều có chung một gia tộc trong A-đam là một dân tộc trong Áp-ra-ham, có một thầy tế lễ trong Lê-vi, và một vương quốc dưới quyền cai trị của Đa-vít. Sự thống nhất quốc gia thuộc linh của họ, rất quan trọng cho việc tái xây dựng đất nước.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời luôn luôn thành tín với dân Ngài. Ngài bảo vệ họ qua mọi thế hệ và cung cấp các lãnh tụ để hướng dẫn họ. Vì Đức Chúa Trời đã hành động qua nhiều thế kỷ rồi, dân Ngài có thể tin cậy Ngài vẫn hành động trong hiện tại. Ngày nay, bạn vẫn có thể tin cậy vào sự hiện diện của Ngài.
    Luận đề: Vua Đa-vít
    Lời giải thích: Câu chuyện về cuộc đời của Đa-vít và mối liên hệ giữa vua ấy với Đức Chúa Trời chứng minh rằng vua ấy là vị lãnh tụ đã được Ngài chỉ định. Sự tận hiến của Đa-vít cho Đức Chúa Trời, luật pháp, đền thờ, sự thờ phượng thật, dân Y-sơ-ra-ên, và công lý, quy định phần chuẩn mực cho biết một nhà vua do Đức Chúa Trời chọn phải như thế nào.
    Tầm quan trọng: Chúa Cứu Thế Giê-xu đã đến thế gian như một hậu duệ của Đa-vít. Có một ngày, Ngài sẽ trị vì với tư cách là vua cả thế gian. Sức lực và công lý của Ngài sẽ làm ứng nghiệm thế nào là một nhà vua lý tưởng của Đức Chúa Trời. Ngài là niềm hi vọng của chúng ta. Chúng ta có thể kinh nghiệm, được Nước Trời ngay bây giờ bằng cách để cho Chúa Cứu Thế hoàn toàn làm chủ cuộc đời mình.
    Luận đề: Sự thờ phượng thật
    Lời giải thích: Đa-vít đưa chếc hòm giao ước đến Giê-ru-sa-lem để vãn hồi sự thờ phượng thật cho dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã cho các bản đồ để xây cất đền thờ, còn Đa-vít thì tổ chức các thầy tế lễ để biến nó thành trung tâm thờ phượng cho toàn dân Y-sơ-ra-ên.
    Tầm quan trọng: Đền thờ tiêu biểu cho ngôi của Đức Chúa Trời đặt trên thế gian này, là nơi thật sự dành cho việc thờ phượng. Ngôi thật của Đức Chúa Trời là ở trong lòng những người thuộc về Ngài. Khi nào chúng ta nhìn nhận Ngài là vua đích thực trên đời sống chúng ta, thì sự thờ phượng thật diễn ra.
    Luận đề: Các thầy tế lễ
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời bổ nhiệm các thầy tế lễ và người Lê-vi để hướng dẫn dân sự lấy đức tin thờ phượng Ngài, đúng theo luật pháp. trong việc hướng dẫn dânY-sơ-ra-ên thờ phượng theo đúng kế hoạch của Đức Chúa Trời, các thầy tế lễ và người Lê-vi là những người quan trọng để bảo toàn đức tin cho dân Y-sơ-ra-ên.
    Tầm quan trọng: Vì sự thờ phượng thật phải là tâm điểm của đời sống chúng ta, người thuộc về Đức Chúa Trời cần phải có một lập trường vững chắc đối với đường lối mà Đức Chúa Trời đã ghi lại trong Thánh Kinh. Ngày nay, toàn thể các tín hữu đều là thầy tế lễ, nên chúng ta cần khích lệ tất cả mọi người phải trung tín thờ phượng Ngài.

    Dẫn nhập II Sử-ký
    Các niên đại
    Sa-lô-môn lên ngôi năm 970 TC.
    Đền thờ được xây dựng năm 966-959 TC.
    Vương quốc phân đôi, năm 930 TC
    A-sa làm vua Giu-đa, năm 910 TC
    Giô-sa-phát làm vua Giu-đa, năm 872 TC.
    A-háp tử trận năm 853 TC
    A-tha-li cướp ngôi năm 841 TC
    Ô-xia làm vua Giu-đa năm 792 TC
    Y-sơ-ra-ên (vương quốc miền Bắc) thất thủ, năm 722 Tc
    Ê-xê-chia làm vua Giu-đa năm 715 TC
    San-chê-ríp chế nhạo Ê-xê-chia năm 701 TC
    Giô-si-a lên ngôi năm 640 TC
    Tìm thấy quyển sách Luật pháp năm 622 TC
    Giu-đa (vương quốc miền Nam) thất thủ năm 586 TC
    Chiếu chỉ của Si-ru, năm 538 TC
    Lời giới thiệu
    Chiếc máy chiếu hình phát ra một tiếng động nhỏ và chúng ta nhìn vào bức ảnh được chiếu lên tấm màn trong ngôi thánh đường có phần mờ tối. Vị giáo sĩ giải thích: “Thần tượng này được chế tác bằng đá và được thờ lạy hằng ngày. Dân bản xứ tin rằng điều đó sẽ bảo đảm cho họ một mùa gặt thật trúng, và con cái họ được mạnh giỏi”. Bằng những nụ cười mỉm tỏ lòng thương hại, chúng ta rất ngạc nhiên về sự dốt nát của họ. Làm thế nào lại có người đi thờ lạy một đồ vật? Thần tượng chỉ dành riêng cho những kẻ ngây thơ và mê tín mà thôi! Nhưng sau buổi trình chiếu đó, chúng ta trở về nhà với các thần tượng là của cải, uy tín, hoặc thái độ tự thị tự mãn của chính chúng ta. Nếu chúng ta đặt bất luận vật gì thay vào chỗ của Đức Chúa Trời, tức là chúng ta thờ lạy nó, cho dù môi miệng của chúng ta có xưng nhận hay không. Kinh nghiệm của chúng ta rất giống với từng trải của dân Y-sơ-ra-ên. Họ đã được Đức Chúa Trời tuyển chọn để thay mặt cho Ngài trên thế gian này. Nhưng họ lại quá thường quên mất cái chân lý và tiếng gọi ấy, để mù quáng vấp ngã trước nhiều thần tượng, như các lân bang của họ vậy. Rồi nhiều nhà tiên tri, thầy tế lễ và sự đoán phạt sẽ thình lình đẩy họ quay trở lại với Đức Chúa Trời, là Chân Thần duy nhất. Sách Sử ký thứ hai ghi lại đoạn sử ký bẩn thỉu của sự băng hoại và thờ thần tượng đó của các vua xứ Giu-đa. Thỉnh thoảng một minh quân cũng dấy lên trong xứ, và tạm thời có một cuộc phục hưng, nhưng rồi cuộc xuống dốc theo hình trôn ốc vẫn tiếp diễn - mà kết thúc là cảnh hỗn độn, hủy diệt và lưu đày.
    Sử gia sở dĩ viết quyển sách này là để đưa dân sự quay trở lại với Đức Chúa Trời bằng cách nhắc nhở họ về quá khứ của họ. Chỉ nhờ đi theo Đức Chúa Trời, họ mới được thạnh vượng mà thôi! Trong khi đọc IISử ký, bạn sẽ có được một cái nhìn bao quát sinh động về sử ký của nước Giu-đa (phần sử ký của Y-sơ-ra-ên, tức vương quốc miền Bắc, gần như bị bỏ qua) và sẽ thấy các hậu quả thảm hại của việc thờ thần tượng. Hãy noi gương bài học của quá khứ: quyết định vứt bỏ bất luận một thần tượng nào trong đời sống của bạn, và chỉ thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi.
    Sử ký thứ hai nối tiếp phần lịch sử của ISử ký con trai của Đa-vít là Sa-lô-môn, được tôn vương. Sa-lô-môn xây ngôi đền thờ tráng lệ tại Giê-ru-sa-lem, và như thế là chu toàn nguyện vọng đồng thời cũng là lời trăn trối cuối cùng của cha mình IISu 2Sb 2:1-5:14) . Sa-lô-môn được hưởng một thời trị vì thái bình và thịnh vượng suốt 40 năm, khiến vua ấy được nổi tiếng khắp thế giới. Sau khi Sa-lô-môn thăng hà, con trai vua ấy là Rô-bô-am lên nối ngôi và tình trạng ấu trĩ của vua ấy đã khiến vương quốc bị chia đôi.
    Trong xứ Giu-đa, chỉ có một vài minh quân mà nhiều bạo chúa. Trước giả Sử ký đã trung thực ghi lại các thành tựu và thất bại của họ, lưu ý cách đánh giá từng vị vua đã được Đức Chúa Trời đánh giá như thế nào so với chuẩn mực về sự thành công của Ngài. Rõ ràng là các minh quân thì vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời, trừ bỏ những nơi thờ thần tượng, và không liên minh với các dân tộc khác. Các minh quân của Giu-đa gồm có A-sa, Giô-sa-phát, Ô-xia (A-xa-ria), Ê-xê-chia, và Giô-si-a. Trong số các bạo chúa, A-cha và Ma-na-se có lẽ là tệ hại hơn hết. Cuối cùng đất nước đã bị các cường quốc chiếm lấy, dân tộc bị đưa đi đày, và đền thờ bị phá hủy.
    Chủ đích của trước giả là muốn đoàn kết toàn dân chung quanh việc thật lòng thờ phượng Đức Chúa Trời sau cuộc lưu đày. Trong những trang sách này, ông nhắc nhở dân sự về quá khứ của họ. Ông quảng bá thật rõ ràng bức thông điệp của mình qua một trong những câu được nhiều người biết trong Kinh thánh: “và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó, và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (IISu 2Sb 7:14) . Trong khi đọc IISử ký bạn cần lắng nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài, hãy tiếp nhận Ngài để được cứu chuộc và chữa lành.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm thống nhất toàn dân chung quanh việc thật lòng thờ phượng Đức Chúa Trời bằng cách vạch rõ tiêu chuẩn của Ngài để phán xét các vua. Các nhà vua công chính của Giu-đa và những cuộc phục hưng tôn giáo dưới thời trị vì của họ được đề cao, còn tội lỗi của các vua gian ác thì bị vạch trần.
    Trước giả: E-xơ-ra, theo truyền thuyết Do Thái.
    Đọc giả: Cho toàn dân Y-sơ-ra-ên
    Niên đại viết sách: Trước sau năm 430 TC, ghi lại các biến cố từ lúc bắt đầu thời trị vì của Sa-lô-môn (930 TC) cho đến lúc bắt đầu cuộc lưu đày Ba-by-lôn (586 TC).
    Bối cảnh: Sử ký thứ hai song hành với phần lịch sử của hai sách I và II Các vua, và được dùng như một sách để bình luận về hai quyển sách ấy. Hai sách I và II Các vua nguyên chỉ là một. Nó được viết ra sau cuộc lưu đày theo quan điểm của chức vụ tế lễ, đề cao tầm quan trọng của đền thờ và các cuộc phục hưng tôn giáo trong xứ Giu-đa. Vướng quốc miền Bắc, tức là nước Y-sơ-ra-ên, hầu như chẳng được bàn đến trong sách này.
    Câu chìa khoá: “và nhược bằng dân sự ta, là dân gọi bằng danh ta, hạ mình xuống, cầu nguyện, tìm kiếm mặt ta, và trở lại, bỏ con đường tà, thì ta ở trên trời sẽ nghe, tha thứ tội chúng nó và cứu xứ họ khỏi tai vạ” (IISu 2Sb 7:14)
    Các nhân vật chính: Sa-lô-môn, nữ vương Sê-ba, Rô-bô-am, A-sa, Giô-sa-phát, Giô-ram, Giô-ách, Ô-xia (A-xê-rua) A-cha, Ê-xê-chia, Ma-na-se, Giô-si-a.
    Các địa điểm chính: Giê-ru-sa-lem, đền thờ.
    Những nét đặc trưng: Ghi lại chi tiết việc xây cất đền thờ.
    Bố cục:
    A. Thời trị vì của Sa-lô-môn IISu 2Sb 1:1-9:31)
    1. Sa-lô-môn cầu xin được khôn ngoan
    2. Sa-lô-môn xây cất đền thờ
    3. Sa-lô-môn cung hiến ngôi đền thờ
    4. Sự giàu có và khôn ngoan của Sa-lô-môn
    Sa-lô-môn có nhiều thành tựu trong công việc và chính quyền, nhưng quan trọng nhất là người đã được dùng để xây lên ngôi đền thờ nguy nga tráng lệ. Ngôi đền thờ đẹp đẽ này là trung tâm tôn giáo của cả nước. Nó tượng trưng cho tinh thần đoàn kết của toàn thể các chi phái, sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa họ, và tiếng gọi cao cả dành cho cả dân tộc. Trong đời sống, chúng ta có thể thực hiện được nhiều việc lớn, nhưng không nên bỏ qua bất kỳ một nỗ lực nào có thể góp phần nuôi dưỡng dân sự Đức Chúa Trời hoặc đưa nhiều người khác vào Nước Trời. Chúng ta rất dễ tự tạo cho mình một cách nhìn sai lầm về điều gì là quan trọng trong đời sống.
    B. Vương quốc Giu-đa (IISu 2Sb 10:1-36:23)
    1. Các chi phái miền Bắc nổi loạn
    2. Sử ký của việc bội đạo và cải cách
    3. Dân Giu-đa bị đày sang Ba-by-lôn
    Qua thời trị vì của 20 đời vua, dân Giu-đa bước đi chao đảo giữa việc vâng lời Đức Chúa Trời và bội đạo. Cách đáp ứng của nhà vua đang trị vì xác định bầu không khí thuộc linh của đất nước dân tộc, và chẳng quan tâm Đức Chúa Trời có đưa sự trừng phạt đến trên dân Ngài hay không. Lịch sử cá nhân của chúng ta cũng do cách chúng ta đáp ứng với Đức Chúa Trời định đoạt. Cũng như việc người Giu-đa không chịu ăn năn đưa đến việc họ bị lưu đày sang Ba-by-lôn, việc chúng ta lạm dụng tiếng gọi cao cả của mình bằng cách sống theo tội lỗi, cuối cùng sẽ đem tai hoạ và sự hủy diệt đến cho mình.
    Các đại đề mục
    [td Luận đề: Đền thờ
    Lời giải thích Đền thờ là biểu tượng về sự hiện diện của Đức Chúa Trời và là nơi được biệt riêng để thờ phượng và cầu nguyện. Do Sa-lô-môn xây cất theo kế hoạch Đức Chúa Trời đã tiết lộ cho Đa-vít, đền thờ là trung tâm thuộc linh cho toàn dân.
    Tầm quan trọng Khi các Cơ Đốc nhân nhóm nhau lại để thờ phượng Đức Chúa Trời, là họ được từng trải sự hiện diện của Đức Chúa Trời theo cách mà chẳng một cá nhân tín hữu nào có thể có được. Vì nơi ngự của Đức Chúa Trời là giữa những người thuộc về Ngài. Thân thể Chúa Cứu Thế là đền thờ của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Hoà bình
    Lời giải thích Khi Sa-lô-môn và các hậu duệ của vua ấy tận trung với Đức Chúa Trời, họ đánh đâu thắng đấy, thành công trong việc cai trị và được hoà bình với các dân tộc khác. Hoà bình là kết quả của việc một dân tộc biết đoàn kết và trung thành với Đức Chúa Trời và với luật pháp Ngài.
    Tầm quan trọng Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới đem được sự hoà bình thật đến. Ngài vốn vĩ đại hơn bất kỳ một kẻ thù, đạo quân hay dân tộc nào. Như sự tận trung của dân Y-sơ-ra-ên là bí quyết để được hoà bình và tồn tại với tư cách một dân tộc thể nào, lòng tin cậy của chúng ta vào Đức Chúa Trời với tư cách là những cá nhân, những dân tộc cũng thiết yếu cho hoà bình ngày nay y như thế
    Luận đề: Cầu nguyện
    Lời giải thích Sau khi Sa-lô-môn thăng hà, vương quốc của Đa-vít đã bị chia đôi. Khi có một ông vua đưa dân Y-sơ-ra-ên vào chỗ thờ thần tượng, toàn dân sẽ phải đau khổ. Khi nhà vua và toàn dân cầu xin Đức Chúa Trời giải thoát và xây khỏi các đường lối tội lỗi của họ, thì Đức Chúa Trời giải cứu họ.
    Tầm quan trọng Ngày nay, Đức Chúa Trời vẫn còn nhận lời cầu nguyện. Chúng ta có lời hứa của Đức Chúa Trời rằng nếu chúng ta tự hạ mình, tìm cầu Ngài, từ bỏ tội lỗi mình và cầu nguyện, thì Đức Chúa Trời sẽ nhậm lời, chữa lành và tha thứ cho chúng ta. Nếu chúng ta biết cảnh giác, chúng ta có thể cầu xin Đức Chúa Trời hướng dẫn mình trước khi sa chân vào hoạn nạn.
    Luận đề: Cải cách
    Lời giải thích Tuy thờ thần tượng và bất công vốn phổ biến, một số các vua đã biết quay lại với Đức Chúa Trời và đưa dân sự đến một cơn phục hưng thuộc linh - cách tân sự tận hiến của họ cho Đức Chúa Trời và canh tân xã hội của họ. Phục hưng gồm có việc phá hủy các thần tượng, vâng giữ luật pháp, và vãn hồi chức vụ tế lễ.
    Tầm quan trọng Chúng ta phải thường xuyên tận hiến để vâng lời Đức Chúa Trời. Chúng ta chẳng bao giờ được an toàn nhờ những gì người khác đã làm trước chúng ta. Mỗi một thế hệ tín hữu đều phải tái tận hiến cho công tác thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời trong chính đời sống mình cũng như trong xã hội.
    Luận đề: Sự sụp đổ toàn quốc
    Lời giải thích Năm 586 TC, người Ba-by-lôn phá hủy hoàn toàn ngôi đền thờ nguy nga của Sa-lô-môn. Sự thờ phượng Đức Chúa Trời bằng hình thức đã kết thúc. Dân Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ Đức Chúa Trời. Hậu quả là Đức Chúa Trời đã phán xét dân Ngài, và họ đã bị bắt đi đày.
    Tầm quan trọng Tuy sự không vâng lời của chúng ta có lẽ không rõ rệt bằng dân Y-sơ-ra-ên, nhưng sự cống hiến của chúng ta cho Đức Chúa Trời thường là không thành thật và ngẫu nhiên mà thôi. Khi nào chúng ta quên rằng tất cả quyền thế, sự khôn ngoan, và giàu có của chúng ta đều từ Đức Chúa Trời đến chứ không phải là của riêng chúng ta, là chúng ta đang gặp nguy cơ sa vào cũng một tình trạng suy sụp thuộc linh và đạo đức y như từng trải của dân Y-sơ-ra-ên vậy.

    Dẫn nhập E-xơ-ra
    Các niên đại
    Giê-ru-sa-lem bị phá huỷ, những kẻ bị lưu đày sang Ba-by-lôn năm 586 TC.
    Ba-by-lôn bị Si-ru lật đổ năm 539 TC.
    Những kẻ bị lưu đày hồi hương về Giê-ru-sa-lem năm 538 TC.
    Việc xây cất đền thờ bắt đầu năm 536 TC.
    Công tác xây cất đền thờ bị đình chỉ năm 530 TC.
    Đa-ri-út I lên ngôi vua Ba-tư, năm 522 TC.
    Công tác xây dựng đền thờ được tái tục / các bức thông điệp của A-ghê, Xa-cha-ri năm 520TC
    Đền thờ được hoàn thành, năm 516 TC
    E-xơ-ra về đến Giê-ru-sa-lem năm 458 TC
    Nê-hê-mi về đến Giê-ru-sa-lem năm 445 TC.
    Lời giới thiệu
    Hãy thử kể tên những nhân vật vĩ đại, cả nam lẫn nữ, trong thời đại của bạn. Các nhân vật lừng danh kể cả các chính trị gia, các anh hùng trong chiến trận, các nhân vật thuộc giới thể thao, và có lẽ cả cha mẹ và bạn thân của bạn cũng xuất hiện trong tâm trí của bạn nữa. Sở dĩ bạn nhớ đến họ là vì một vài hành động hay đức tính nào đó. Bây giờ hãy nêu tên vài vị anh hùng trong Thánh Kinh - các nhân vật đã có ấn tượng sâu sắc trong đời sống của bạn qua vô số các bài giảng và các bài học trong nhà trường của Hội thánh. Chắc chắn là danh sách này sẽ gồm có nhiều người từng tận trung và can đảm phục vụ Đức Chúa Trời. Bảng liệt kê của bạn có tên E-xơ-ra không? Tuy không phải là một nhân vật nổi tiếng lắm, người của Đức Chúa Trời nầy chẳng được đề cao mấy lại rất xứng đáng được đề cập trong bất kỳ một cuộc thảo luận nào liên hệ đến tính cách vĩ đại.
    E-xơ-ra là một thầy tế lễ, một thầy thông giáo (Scribe) và là một đại lãnh tụ. Tên ông có nghĩa là “giúp đỡ” và cả cuộc đời ông đã được tận hiến để phục vụ Đức Chúa Trời và dân sự Ngài. Truyền thuyết bảo rằng E-xơ-ra đã viết phần lớn các sách I và IISử-ký, E-xơ-ra, Nê-hê-mi, và Thi Tv 119:1-176, và rằng ông là người lãnh đạo hội đồng gồm 120 nhân vật họp thành Uỷ ban điển chế Cựu ước kinh. Ông tập trung phần thuật sự của sách E-xơ-ra xoay quanh Đức Chúa Trời và lời hứa của Ngài rằng dân Do-thái sẽ hồi hương, như Giê-rê-mi đã hứa (xem chú thích ở Exo Er 1:1). Bức thông điệp này là phần cốt lõi của cuộc đời E-xơ-ra. Nửa phần của quyển sách đưa ra một cái nhìn bao quát về chính con người của E-xơ-ra. Kiến thức về Kinh điển và sự khôn ngoan do Đức Chúa Trời ban cho ông là điều hiển nhiên đối với nhà vua đã bổ nhiệm E-xơ-ra lãnh đạo cuộc di dân thứ hai trở về Giê-ru-sa-lem, để dạy Lời Dức Chúa Trời cho dân sự, và để quản trị sinh hoạt quốc gia (Exo Er 7:14-26).
    E-xơ-ra chẳng những thông hiểu Lời Đức Chúa Trời, mà ông còn tin tưởng và vâng theo lời ấy nữa. Ngay khi biết được tội của dân Y-sơ-ra-ên là cưới gả xô bồ và thờ thần tượng, E-xơ-ra đã hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời để cầu nguyện cho dân tộc mình (Exo Er 9:1-15). Sự không vâng lời của họ đã khiến ông đau đớn sâu xa (Exo Er 10:1). Cách đáp ứng của ông đã giúp đưa dân sự quay trở lại với Đức Chúa Trời.
    Sách Sử ký thứ hai kết thúc với việc Si-ru, vua Ba-tư kêu gọi những người tình nguyện về Giê-ru-sa-lem để xây cho Đức Chúa Trời một ngôi nhà. Sách E-xơ-ra tiếp tục phần ký thuật này (Exo Er 1:1-3 gần như giống hệt IISu 2Sb 36:22,23) khi hai đoàn người của dân sự Đức Chúa Trời đang trở về Giê-ru-sa-lem. Xô-rô-ba-bên, người cầm đầu chuyến đi thứ nhất với 42.360 người hồi hương (Exo Er 2:1-70). Sau khi về đến nơi, họ đã bắt đầu dựng lại bàn thờ và nền của đền thờ (Exo Er 3:1-13). Nhưng nhiều chống đối đã nảy sinh từ đám cư dân địa phương, và một chiến dịch tố cáo và tung tin đồn nhảm đã tạm thời làm đình chỉ dự án (Exo Er 4:1-24). Trong thời gan này, các nhà tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri đã khích lệ dân chúng (Exo Er 5:1-17). Cuối cùng, Đa-ri-út ban hành chiếu chỉ rằng công tác phải được tiến hành, chẳng ai được phép cản trở (Exo Er 6:1-22).
    Sau một khoảng cách là 58 năm, E-xơ-ra dẫn đầu một nhóm người Do-thái từ Ba-tư trở về. Được vũ trang bằng các chiếu chỉ và uy quyền của At-ta-xét-xe I, nhiệm vụ của E-xơ-ra là quản trị mọi công việc trong xứ (các Exo Er 7:1-8:36). Vừa đến nơi, ông được biết việc cứơi gả giữa dân sự của Đức Chúa Trời với những người láng giềng ngoại đạo của họ. Ông đã khóc lóc và cầu nguyện cho dân sự (Exo Er 9:1-15). Gương khiêm hạ xưng tội của E-xơ-ra đã dẫn tới cơn phục hưng toàn quốc (Exo Er 10:1-44). E-xơ-ra một con người của Đức Chúa Trời và là một bậc anh hùng là một gương mẫu cho dân Y-sơ-ra-ên; và ông cũng là một mẫu mực thích hợp cho chúng ta nữa.
    Hãy đọc sách E-xơ-ra và ghi khắc vào tâm trí con người tên E-xơ-ra - một người khiêm hạ, vâng lời Đức Chúa Trời và sẵn sàng trợ giúp mọi người. Hãy tận hiến để phục vụ Đức Chúa Trời như ông đã làm, bằng cả cuộc đời của bạn.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để chứng minh đức thành tín của Đức Chúa Trời và cách thức Ngài giữ các lời hứa của mình để phục hồi địa vị cho dân Ngài trên quê hương của họ.
    Trước giả: Không được nêu tên nhưng có lẽ là E-xơ-ra.
    Niên đại viết sách: Trước sau năm 450 TC, ghi lại các biến cố xảy ra từ khoảng năm 538-450 TC (thiếu giai đoạn 516-458 TC); có lẽ bắt đầu từ rất sớm tại Ba-by-lôn và kết thúc tại Giê-ru-sa-lem.
    Bối cảnh: Sách E-xơ-ra tiếp theo IISử ký như một quyển sử của dân Do-thái, ghi lại việc hồi hương của họ sau thời kỳ bị lưu đày.
    Các câu chìa khoá: “Những người Y-sơ-ra-ên đã bị bắt làm phu tù được về, bèn ăn lễ Vượt qua, luôn với những người tự phân rẽ khỏi sự ô uế của các dân tộc trong xứ, đến theo dân Y-sơ-ra-ên, đặng tìm kiếm Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Trong bảy ngày chúng giữ lễ bánh không men cách vui vẻ; vì Đức Giê-hô-va đã làm cho lòng chúng được khoái lạc, và cảm động lòng vua A-si-ri đoái xem chúng, đặng giúp đỡ trong cuộc xây cất đền của Đức Chúa Trời, tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên” (Exo Er 6:21,22)
    Các nhân vật chính: Si-ru, Xô-rô-ba-bên, A-ghê, Xa-cha-ri, Đa-ri-út, At-ta-xét-xe I, E-xơ-ra.
    Các địa điểm chính: Ba-by-lôn, Giê-ru-sa-lem
    Những nét đặc trưng: Trong bộ Thánh Kinh Hy-bá-lai văn, E-xơ-ra và Nê-hê-mi chỉ là một sách, và cùng với E-xơ-tê, đó là những sách sử ký về thời kỳ hậu lưu đày. Các sách tiên tri của thời kỳ hậu lưu đày là A-ghê, Xa-cha-ri, và Ma-la-chi. Hai sách A-ghê và Xa-cha-ri phải được nghiên cứu chung với sách E-xơ-ra, vì các vị này đã nói tiên tri trong giai đoạn tái xây dựng đất nước Y-sơ-ra-ên.
    Bố cục:
    A.Cuộc hồi hương do Xô-rô-ba-bên lãnh đạo (Exo Er 1:1-6:22)
    1. Nhóm người bị lưu đày đầu tiên hồi hương
    2. Dân sự xây lại đền thờ.
    Cuối cùng khi được cơ may hồi hương, dân sự đã bắt đầu xây lại đền thờ, chỉ để bị sự chống đối của các kẻ thù khiến phải đình chỉ mà thôi. Công việc của Đức Chúa Trời trên thế gian không phải là không bị chống đối. Chúng ta không nên ngã lòng mà bỏ việc, như dân sự được hồi hương đã làm ngay từ đầu, mà phải mạnh dạn tiếp tục trước mọi khó khăn, như họ đã làm sau đó, nhờ lời khích lệ của các nhà tiên tri.
    B.Cuộc hồi hương do E-xơ-ra lãnh đạo (Exo Er 7:1-10:44)
    1. Nhóm người bị lưu đày thứ hai hồi hương
    2. E-xơ-ra chống việc kết hôn xô bồ
    E-xơ-ra hồi hương gần 80 năm sau Xô-rô-ba-bên chỉ để khám phá ra rằng dân chúng đã kết hôn xô bồ với những người ngoại đạo hoặc ngoại quốc. Việc làm này gây ô uế cho tôn giáo thuần khiết của dân sự, và tạo nguy cơ cho tương lai của dân tộc. Các tín hữu ngày nay cũng phải thận trọng, đừng đe dọa bước đi của mình với Đức Chúa Trời bằng cách noi theo các tập tục của những người không tin Chúa.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Dân Do-thái hồi hương
    Lời giải thích: Việc từ Ba-by-lôn trở về xứ Y-sơ-ra-ên của người Do-thái chứng tỏ đức tin mà họ đặt vào lời hứa của Đức Chúa Trời là sẽ phục hồi địa vị cho họ với tư cách một dân tộc. Chẳng những họ chỉ trở về quê cha đất tổ, mà cả với nơi mà tổ tiên họ đã hứa sẽ noi theo Đức Chúa Trời
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời tỏ lòng nhân từ thương xót của Ngài với tất cả các thế hệ, Ngài đã ưu ái phục hồi địa vị cho dân sự Ngài. Cho dù “cuộc lưu đày của chúng ta hiện nay có khó khăn đến đâu, chúng ta cũng không hề bị tách rời khỏi tình yêu và lòng thương xót của Ngài. Ngài sẽ phục hồi địa vị cho chúng ta khi chúng ta trở về với Ngài.
    Luận đề: Tái tận hiến
    Lời giải thích: Năm 536 TC, Xô-rô-ba-bên lãnh đạo dân sự trong việc lập lại bàn thờ và đặt nền cho đền thờ. Họ tái lập các của lễ hằng ngày và các kỳ lễ hằng năm và tái tận hiến chính họ cho việc thờ phượng thuộc linh đối với Đức Chúa Trời một cách mới mẻ.
    Tầm quan trọng: Bằng việc tái cung hiến bàn thờ, dân sự đã tái tận hiến chính họ cho Đức Chúa Trời và cho công việc Ngài. Muốn tăng trưởng thuộc linh, việc tận hiến của chúng ta phải thường được làm mới lại luôn. Khi chúng ta tái tận hiến cho Đức Chúa Trời, đời sống chúng ta sẽ trở thành những bàn thờ dành cho Ngài.
    Luận đề: Sự chống đối
    Lời giải thích: Chống đối đã đến ngay sau khi chiếc bàn thờ được dựng lại, và nền đền thờ được thiết đặt. Các kẻ thù của người Do-thái đã dùng sự lừa dối để ngăn trở việc xây dựng hơn sáu năm. Cuối cùng, đã có một chiếu chỉ ra lệnh đình chỉ hoàn toàn việc xây dựng. Sự chống đối này đã thử thách nghiêm trọng đức tin vốn đã có phần rúng động của họ
    Tầm quan trọng: Sẽ luôn luôn có những kẻ thù chống lại công việc của Đức Chúa Trời. Đời sống người có đức tin (đạo) thì chẳng bao giờ là dễ dàng cả. Nhưng Đức Chúa Trời có thể cai trị trên mọi ngăn trở đối với công việc Ngài. Khi gặp chống đối, chúng ta không nên nao núng hoặc rút lui, mà phải tỏ ra tích cực và kiên nhẫn.
    Luận đề: Lời Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Khi dân sự trở về xứ, là họ cũng trở về dưới ảnh hưởng của Lời Đức Chúa Trời. Các nhà tiên tri A-ghê và Xa-cha-ri tiếp tay khuyến khích họ, trong khi E-xơ-ra truyền giảng Kinh điển để gây dựng họ. Lời Đức Chúa Trời đem đến cho họ những gì họ cần để làm việc cho Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Chúng ta cũng cần được sự khuyến khích và chỉ dẫn của Lời Đức Chúa Trời. Chúng ta phải lấy đó làm nền tảng cho đức tin và các hành động của mình để hoàn thành công việc của Đức Chúa Trời và các bó buộc đối với chúng ta chẳng bao giờ nao núng trong sự tận hiến để lắng nghe và vâng lời Đức Chúa Trời
    Luận đề: Đức tin và hành động
    Lời giải thích: Lời khuyến giục dân Y-sơ-ra-ên của các cấp lãnh đạo là động lực thúc đẩy dân sự hoàn thành việc xây cất đền thờ. Qua nhiều năm, họ đã cưới gả xô bồ với những kẻ thờ thần tượng và theo các tập tục ngoại đạo. Đức tin của họ qua thử thách đã hồi sinh, đưa họ tới chỗ cất đi tội lỗi khỏi đời sống họ.
    Tầm quan trọng: Đức tin đã dẫn họ tới chỗ hoàn thành đền thờ và cất tội lỗi khỏi xã hội của họ. Khi chúng ta hết lòng tin cậy Đức Chúa Trời, thì cũng phải hành động để hoàn thành các trách nhiệm hằng ngày. Chỉ nói tin thì chưa đủ chúng ta còn phải thực hiện những thay đổi mà Đức Chúa Trời đòi hỏi nữa.

    Dẫn nhập Nê-hê-mi
    Các niên đại
    Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, dân lưu đày bị đưa sang Ba-by-lôn năm 586 TC
    Những dân lưu đày đầu tiên trở về Giê-ru-sa-lem năm 538 TC
    Đền thờ được hoàn thành năm 516 TC
    Xét-xe lên ngôi vua Ba-tư năm 465 TC
    At-ta-xét-xe I lên ngôi vua Ba-tư năm 465 TC
    E-xơ-ra về đến Giê-ru-sa-lem năm 458 TC
    Nê-hê-mi về đến Giê-ru-sa-lem, vách thành được hoàn tất năm 445 TC
    Nê-hê-mi trở lại Ba-by-lôn năm 433 TC
    Nê-hê-mi trở về Giê-ru-sa-lem năm 432 TC
    Ma-la-chi bắt đầu chức vụ năm 430 TC
    Lời giới thiệu
    “Điều Hội thánh đang cần là...” Tôi không tin được các quan chức chính phủ... Nếu tôi là họ, tôi sẽ...!” “Thật ra thì các trường học của chúng ta đang có tình hình xấu. Phải có ai làm một điều gì đó!”.
    Số người tránh né, than phiền, tự xưng ta đây là thầy đời, và các “chính khách xa-lông” đang lan tràn. Chẻ sợi tóc làm tư, bới lông tìm vết, và ba hoa đủ chuyện trên trời dưới đất, thì dễ. Nhưng chúng ta đang thât sự cần đến những người không chỉ thảo luận về một tình hình, mà còn sẵn sàng dấn thân để làm một việc gì đó cho tình hình ấy nữa!
    Nê-hê-mi thấy có một vấn đề khiến ông vô cùng bối rối. Thay vì phàn nàn oán trách vì tủi hổ và đau buồn, ông đã ra tay hành động. Nê-hê-mi biết rằng Đức Chúa Trời muốn ông thúc giục dân Do-thái xây lại các vách thành cho Giê-ru-sa-lem, tất cả mọi người đều biết rõ ai là người đang phụ trách. Ông tổ chức, quản trị, giám sát, khích lệ, trực diện với sự chống đối, đương đầu với mọi bất công và cứ tiến tới cho đến khi các vách thành được xây xong. Nê-hê-mi là một con người hành động.
    Khi câu chuyện bắt đầu, Nê-hê-mi đang nói chuyện với các đồng bào người Do-thái của ông đã báo cáo với ông rằng các vách và cửa thành của Giê-ru-sa-lem vẫn chưa được sửa chữa lại. Đây là những tin tức bất thường, và gánh nặng đối với Nê-hê-mi là phải xây lại các tường thành đó. Nhân cơ hội thuận tiện, Nê-hê-mi đã xin phép vua At-ta-xét-xe để đi Giê-ru-sa-lem, xây lại các vách thành đã bị sụp đổ ấy. Và nhà vua đã phê chuẩn.
    Trang bị bằng các sắc chỉ của nhà vua, Nê-hê-mi đã du hành đến Giê-ru-sa-lem. Ông tổ chức dân sự lại thành nhiều nhóm và giao cho họ những đoạn tường thành cụ thể của bức tường (NeNe 3:1-31). Tuy nhiên dự án xây dựng không phải là đã không bị chống đối. San-ba-lát, Tô-bi-gia và nhiều người khác nữa, đã tìm cách gây trở ngại cho công tác bằng cách nhục mạ, nhạo cười, đe doạ và phá hoại. Một số công nhân đã hoảng sợ; một số khác bị mất tinh thần. Trong mỗi trường hợp, Nê-hê-mi đều sử dụng một chiến lược nhằm khiến cho kẻ thù phải thất bại bằng cách cầu nguyện, khích lệ, tổ chức việc canh giữ, và an ủi (NeNe 4:1-23). Nhưng rồi một vấn đề khác lại nảy sinh - một vấn đề nội bộ. Những người Do-thái giàu có đang lạm dụng các đồng bào nghèo khó của họ đang phục vụ cho công tác ấy. Sau khi nghe được việc họ áp bức và tham lam như thế, Nê-hê-mi đã trực diện với bọn người bóc lột kia (NeNe 5:1-19). Rồi với các vách thành gần như đã hoàn tất, San-ba-lát, Tô-bi-gia và đồng bọn lại cố tìm cách ngăn chặn Nê-hê-mi một lần cuối cùng nữa. Nhưng Nê-hê-mi vẫn đứng vững, và vách thành đã hoàn tất sau 52 ngày. Đây quả thật là một công trình phi thường một tượng đài để ca ngợi tình yêu và sự thành tín của Đức Chúa Trời. Cả các kẻ thù lẫn bè bạn đều biết rằng Đức Chúa Trời đã phù trợ (NeNe 6:1-19).
    Sau khi hoàn tất vách thành, Nê-hê-mi tiếp tục tổ chức dân sự, lập sổ sách đăng ký và chỉ định các toán người canh gác, người Lê-vi và cả quan chức khác nữa (NeNe 7:1-73). E-xơ-ra hướng dẫn việc thờ phượng và giáo huấn Thánh Kinh trong thành phố (NeNe 8:1-9:38). Điều này đã dẫn tới một cơn phục hưng tôn giáo, tái xác nhận đức tin của dân sự khi họ hứa sẽ trung tín phục vụ Đức Chúa Trời (NeNe 10:1-11:56).
    Sách Nê-hê-mi kết thúc bằng việc lập sổ bộ cho các chi phái và các cấp lãnh đạo họ, lễ khánh thành vách thành mới của Giê-ru-sa-lem, và việc thanh tẩy tội lỗi khỏi xứ (NeNe 12:1-13:31). Trong khi đọc sách này, bạn nên theo dõi quan sát một Nê-hê-mi đang hành động - để quyết định mình sẽ là người mà Đức Chúa Trời có thể trông cậy để hành động cho Ngài trong thế gian này.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nê-hê-mi là quyển sách sử ký cuối cùng của Cựu ước. Nó ghi lại lịch sử của lần trở về Giê-ru-sa-lem thứ ba của người Do-thái sau cuộc lưu đày, kể lại thế nào các vách thành đã được xây lại và dân sự đã được phục hưng trong đức tin.
    Trước giả: Phần lớn sách này đã được viết theo ngôi thứ nhất, gợi ý rằng chính Nê-hê-mi là trước giả. Có lẽ Nê-hê-mi đã cùng viết sách này với E-xơ-ra, là người chấp bút.
    Niên đại viết sách: Trước năm 445-432 TC
    Bối cảnh: Xô-rô-ba-bên cầm đầu chuyến hồi hương về Giê-ru-sa-lem đầu tiên vào năm 538 TC. Đến năm 458 TC, E-xơ-ra đã hướng dẫn chuyến hồi hương thứ hai. Cuối cùng, vào năm 445 TC, Nê-hê-mi hồi hương với nhóm dân lưu đày thứ ba để xây lại các vách thành.
    Câu chìa khoá: “Vậy, ngày hai mươi lăm tháng Ê-lun, vách thành sửa xong, hết năm mươi hai ngày. Khi những thù nghịch chúng tôi hay điều đó, thì các dân tộc chung quanh chúng tôi đều sợ hãi và lấy làm ngã lòng; vì chúng nó nhìn biết rằng công việc này thành được bởi Đức Chúa Trời của chúng tôi” (6:15,16)
    Các nhân vật chính: Nê-hê-mi, E-xơ-ra, San-ba-lát, Tô-bi-gia.
    Địa điểm chính: Giê-ru-sa-lem
    Những nét đặc trưng: Sách này chứng minh việc ứng nghiệm của các lời tiên tri của Xa-cha-ri và Đa-ni-ên, liên quan với việc xây lại các vách thành của Giê-ru-sa-lem.
    Bố cục:
    A. Xây lại tường thành (1:1-7:73)
    1. Nê-hê-mi trở về Giê-ru-sa-lem
    2. Nê-hê-mi lãnh đạo dân sự
    Cuộc đời của Nê-hê-mi là một tấm gương về công tác lãnh đạo và tổ chức. Từ bỏ một địa vị vững vàng và giàu có tại Ba-tư, ông hồi hương trở về xứ sở đã bị chia cắt thành nhiều mảnh vụn của tổ tiên mình để tập họp dân sự và xây lại bức tường của thành Giê-ru-sa-lem. Trước sự chống đối, ông đã dùng các biện pháp tự vệ khôn ngoan để chăm lo cho dân sự và giữ cho dự án cứ tiến hành. Muốn thực hiện được càng nhiều việc hơn cho Nước Trời, chúng ta phải cầu nguyện kiên trì nhẫn nhục và chịu hi sinh, như Nê-hê-mi vậy.
    B. Cải tạo dân sự (8:1-13:31)
    1. E-xơ-ra tái lập giao ước
    2. Nê-hê-mi thiết lập các chính sách
    Sau khi bức tường thành đã xây xong. E-xơ-ra đọc Luật pháp cho dân sự nghe, dẫn đến chỗ toàn dân đã ăn năn. Nê-hê-mi và E-xơ-ra là hai nhân vật rất khác nhau, thế nhưng Đức Chúa Trời đã dùng cả hai ông để lãnh đạo dân sự. Nên nhớ là trong công tác của Đức Chúa Trời bao giờ cũng có một chỗ dành cho bạn, cả khi bạn khác với phần đông người khác. Đức Chúa trời dùng mỗi người một cách độc đáo, có một không hai, để hoàn thành các chủ đích của Ngài.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Khải tượng
    Lời giải thích: Tuy người Do-thái đã hoàn thành đền thờ vào năm 516 TC, các vách thành vẫn còn xiêu đổ suốt 70 năm tiếp theo đó. Các vách thành ấy tiêu biểu cho thế lực, sự bảo vệ, và vẻ đẹp cho thành phố Gie-ru-sa-lem. Chúng cũng đang rất cần để bảo vệ cho đền thờ khỏi bị tấn công và bảo đảm cho việc thờ phượng được tiếp tục. Đức Chúa Trời đã đặt hoài bão xây lại các vách thành trong lòng Nê-hê-mi, rồi ban cho ông một khải tượng để thực hiện công tác ấy.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời có khải tượng nào cho chúng ta không? Ngày nay có những vách thành “nào cần được xây lại không? Đức Chúa Trời vẫn muốn cho những người thuộc về Ngài hợp nhất nhau lại và được huấn luyện để thi hành công tác của Ngài. Nếu chúng ta nhận thức được các nhu cầu sâu xa của thế gian này, thì Đức Chúa Trời có thể ban cho chúng ta một khải tượng và hoài bão “xây dựng”. Với khải tượng đó, chúng ta có thể động viên nhiều người khác nữa và cầu nguyện để cùng nhau thực hiện một kế hoạch hành động.
    Luận đề: Cầu nguyện
    Lời giải thích: Cả Nê-hê-mi lẫn E-xơ-ra đều đối phó với các vấn đề bằng cách cầu nguyện. Lúc Nê-hê-mi bắt đầu công tác, ông đã nhận ra vấn đề nên đã lập tức cầu nguyện, rồi mới hành động để giải quyết nó.
    Tầm quan trọng: Cầu nguyện vẫn còn là một lực lượng mạnh mẽ để giải quyết các vấn đề của ngày hôm nay. Cầu nguyện và hành động vốn song hành với nhau. Bằng sự cầu nguyện Đức Chúa Trời hướng dẫn phần chuẩn bị, công tác tập thể và các nỗ lực chăm chỉ của chúng ta để thực hiện ý chỉ Ngài.
    Luận đề: Quyền lãnh đạo
    Lời giải thích: Nê-hê-mi chứng minh tài lãnh đạo tuyệt vời của ông. Ông sẵn sàng về mặt thuộc linh để chú ý đến tiếng gọi của Đức Chúa Trời. Ông biết lập kế hoạch cẩn thận, sắp xếp cách làm việc tập thể, giải quyết các vấn đề, và can đảm thực hiện cho xong công tác. Tuy ông có đức tin phi thường, ông chẳng bao giờ trốn tránh những công việc phụ trội cần thiết cho người lãnh đạo giỏi.
    Tầm quan trọng: Làm người lãnh đạo của công việc Chúa không phải chỉ là để được danh tiếng, địa vị hay làm ông chủ. Nó đòi hỏi phải có kế hoạch, lao động gian khổ, lòng can đảm và kiên trì. Trông đợi tích cực chẳng bao giờ thay thế được cho việc chịu khó làm việc. Muốn lãnh đạo người khác bạn cần lắng nghe sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời trong chính đời sống của bạn.
    Luận đề: Các vấn đề
    Lời giải thích: Sau khi công tác được bắt đầu, Nê-hê-mi đã phải đương đầu với lời gièm chê, chế nhạo, và đe doạ của kẻ thù, cũng như sợ hãi, tranh chấp và thất vọng từ chính những người làm việc cho ông. Tuy các vấn đề này đều khó giải quyết, chúng vẫn không ngăn trở được Nê-hê-mi hoàn thành công tác.
    Tầm quan trọng: Khi gặp khó khăn, người ta có khuynh hướng muốn chống đối và chán nản. Chúng ta phải nhận thức rằng nếu không gặp hoạn nạn rắc rối, thì cũng chẳng bao giờ có chiến thắng khải hoàn. Khi các vấn đề nảy sinh, chúng ta phải thẳng thắn trực diện với chúng và khẩn trương lên để hoàn thành công tác của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Ăn năn và phấn hưng
    Lời giải thích: Tuy Đức Chúa Trời giúp họ xây lại tường thành, công tác vẫn chưa xong trước khi dân sự xây dựng lại cuộc đời họ về mặt thuộc linh. E-xơ-ra giáo huấn dân sự về Lời của Đức Chúa Trời. Trong lúc lắng nghe, họ ý thức được tội lỗi trong đời sống mình, thừa nhận chúng, và có biện pháp để cất chúng đi.
    Tầm quan trọng: Biết và nhận tội thì chưa đủ, sự phấn hưng phải đi đến kết quả là cải tạo, nếu không, nó sẽ chỉ là một cách bộc lộ thái độ nhiệt tình mà thôi. Đức Chúa Trời không muốn chỉ có các biện pháp nửa vời. Chúng ta không những chỉ phải cất hết tội lỗi khỏi mình đi, mà còn phải cầu xin Đức Chúa Trời cất tội lỗi khỏi tâm điểm của tất cả những gì chúng ta làm nữa.

    Dẫn nhập Ê-xơ-tê
    Các niên đại
    Giê-ru-sa-lem bị phá hủy; dân Y-sơ-ra-ên bị đày sang Ba-by-lôn năm 586 TC
    Những dân lưu đày trở về Giê-ru-sa-lem lần thứ nhất, vào năm 538 TC
    Đền thờ được hoàn thành năm 516 TC
    Xét-xe lên ngôi vua Ba-tư năm 486 TC
    Ê-xơ-tê lên ngôi hoàng hậu năm 479 TC
    Chiếu chỉ của Ha-man nhằm tiêu diệt người Do-thái được ban hành năm 474 TC
    Lễ Phu-rim đầu tiên năm 473 TC.
    Lời giới thiệu
    Khúc mắc, quyền lực,lãng mạn, âm mưu - là những yếu tố chính cấu thành các quyển tiểu thuyết bán chạy nhất. Nhưng khác xa với một tác phẩm do óc hư cấu hiện tại, những lời lẽ sau đây mô tả một câu chuyện có thật, sinh động, đã được viết lại nhiều thế kỷ trước đây. Vượt hẳn một tác phẩm chỉ đọc để tiêu khiển suông, đây là một câu chuyện sâu nhiệm về quyền tể trị của Đức Chúa Trời đan xen với ý chí của con người. Đức Chúa Trời chuẩn bị nơi chốn và cơ hội, còn những người của Ngài, Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê, thì chọn phần hành động.
    Sách Ê-xơ-tê bắt đầu với hoàng hậu Vả-thi không chịu tuân lệnh của chồng là vua Xét-xe. Bà này đột ngột bị thất sủng và nhà vua khởi tìm một tân hoàng hậu. Nhà vua giáng chiếu triệu tập toàn thể các mỹ nhân trong vương quốc để đưa vào cung cấm. Ê-xơ-tê một thiếu nữ Do-thái, là một trong số người đã được chọn đó. Vua Xét-xe rất đẹp lòng về Ê-xơ-tê nên đã chọn nàng làm hoàng hậu.
    Tiếp theo đó, Mạc-đô-chê, anh họ của Ê-xơ-tê vì là một quan chức của chính phủ và trong khi thi hành nhiệm vụ, đã phát giác được một âm mưu ám sát. Nhưng Ha-man một kẻ có nhiều tham vọng và ích kỷ lại được bổ nhiệm vào chức vị đứng hàng thứ hai trong chính phủ. Vì Mạc-đô-chê không chịu quỳ xuống để tỏ lòng tôn kính hắn, Ha-man vô cùng giận dữ và nhất định tiêu diệt Mạc-đô-chê cùng với toàn thể dân Do-thái.
    Nhằm thực hiện hành vi báo thù của mình, Ha-man đã lừa dối nhà vua và thuyết phục nhà vua ban một chiếu chỉ kết án tử hình toàn thể người Do-thái. Mạc-đô-chê báo cho Ê-xơ-tê biết sắc chỉ này, và bà đã quyết định liều mạng để cứu dân tộc mình. Ê-xơ-tê mời vua Xét-xe và Ha-man đến dự một dạ tiệc của bà. Trong bữa tiệc, nhà vua hỏi Ê-xơ-tê bà thật sự thích gì, và hứa sẽ ban cho bà bất luận điều gì. Ê-xơ-tê chỉ đơn giản mời hai vị khách lại tham dự một dạ tiệc khác vào ngày hôm sau.
    Đêm ấy, do bị mất ngủ, nhà vua tình cờ đọc được mấy bản báo cáo trong văn khố hoàng gia về vụ âm mưu ám sát mà Mạc-đô-chê đã phát giác. Nhà vua rất ngạc nhiên khi biết rằng Mạc-đô-chê đã chẳng hề được ban thưởng gì vì hành động đó, nên hỏi Ha-man phải làm thế nào để cám ơn vị anh hùng ấy cho xứng đáng. Ha-man tưởng chắc nhà vua muốn nói về chính hắn ta, nên đã đề nghị một phần thưởng hết sức rộng rãi. Nhà vua đồng ý, nhưng trước sự kinh ngạc và là một điều sỉ nhục đối với Ha-man, hắn được biết chính Mạc-đô-chê lại là người được cái vinh dự đó.
    Trong bữa dạ tiệc thứ hai, nhà vua lại hỏi Ê-xơ-tê là bà thích điều gì. Bà tâu rằng có một kẻ đang âm mưu tiêu diệt bà và cả dân tộc bà nữa, và nêu tên Ha-man chính là thủ phạm. Nhà vua lập tức kết án xử tử Ha-man trên mộc hình mà hắn ta đã dựng lên cho Mạc-đô-chê. Trong màn chót của tấn kịch về cuộc đời thật này, Mạc-đô-chê đã được bổ nhiệm vào địa vị của Ha-man, còn dân Do-thái thì được bảo đảm sẽ được bảo vệ sinh mạng trong toàn xứ. Để ăn mừng cơ hội lịch sử này, lễ Phu-rim đã được thiết lập.
    Nhờ hành động can đảm của Ê-xơ-tê, cả một dân tộc đã được cứu sống. Khi nhìn thấy cơ hội tốt Chúa ban, bà đã biết nắm ngay lấy! Và cuộc đời bà đã được thay đổi hẳn. Hãy đọc sách Ê-xơ-tê và trông mong cơ hội Đức Chúa Trời sẽ hành động ngay trong đời sống của bạn. Có lẽ Ngài đã chuẩn bị bạn để hành động “trong lúc này đây” (EtEt 4:14) .
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm chứng minh quyền tể trị và tình yêu chăm sóc của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài, những người thuộc về Ngài.
    Trước giả: Khuyết danh. Có thể là chính Mạc-đô-chê (EtEt 9:29) một số người gợi ý E-xơ-ra hoặc Nê-hê-mi vì bút pháp rất giống với bút pháp của hai ông.
    Niên đại viết sách: Trước sau 483-471 TC (Ê-xơ-tê được phong hoàng hậu năm 479 TC)
    Bối cảnh: Tuy sách Ê-xơ-tê được xếp sau sách Nê-hê-mi trong bộ Thánh Kinh, các biến cố trong đó đã xảy ra 30 năm trước các biến cố đã được chép lại trong sách Nê-hê-mi. Câu chuyện có bối cảnh là trong đế quốc Ba-tư, và phần lớn các hành động đều đã diễn ra trong cung vua tại Su-sơ, là thủ đô của Ba-tư.
    Câu chìa khoá: “Các nàng hầu bà Ê-xơ-tê và những hoạn quan bà đều đến thuật lại sự ấy cho bà; hoàng hậu bèn buồn rầu lắm, gởi quần áo cho Mạc-đô-chê mặc, để lột bao khỏi mình người; nhưng người không khứng nhận” (EtEt 4:14)
    Các nhân vật chính: Ê-xơ-tê, Mạc-đô-chê, Vua Xét-xe I, Ha-man.
    Địa điển chính: Cung điện hoàng gia Su-sơ, Ba-tư.
    Những nét đặc trưng: Ê-xơ-tê là một trong hai sách trong Thánh Kinh có nhan đề là tên của phụ nữ (sách kia là Ba-tư). Có một điểm bất thường, là trong nguyên bản, đã không thấy có tên, tước hiệu hay đại danh từ chỉ Đức Chúa Trời (xem chú thích ở EtEt 4:14) . Điều này đã khiến một số giáo phụ thắc mắc đối với việc đưa văn phẩm này vào toàn bộ Kinh điển. Nhưng sự hiện diện của Đức Chúa Trời thì quá rõ ràng từ đầu chí cuối quyển sách.
    Bố cục:
    Ê-xơ-tê được ngôi hoàng hậu (EtEt 1:1-2:23)
    Dân Do-thái bị đe doạ (EtEt 3:1-4:17)
    Ê-xơ-tê cầu thay cho dân Do-thái (EtEt 5:1-8:17)
    Dân Do-thái được giải cứu (EtEt 9:1-10:3)
    Sách Ê-xơ-tê là một thí dụ về sự hướng dẫn và chăm sóc của Đức Chúa Trời cho đời sống chúng ta. Quyền tể trị và quyền năng của Đức Chúa Trời được thấy rõ từ đầu chí cuối quyển sách này. Tuy chúng ta có thể thắc mắc đặt vấn đề nhân một số hoàn cảnh xảy ra trong cuộc đời mình, chúng ta phải có đức tin rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền cai trị kiểm soát, vận hành qua cả các thời kỳ thuận tiện lẫn khó khăn để chúng ta đều có thể phục vụ Ngài có kết quả.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Quyền tể trị của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Sách Ê-xơ-tê kể lại các hoàn cảnh chủ yếu cho sự tồn tại của dân Chúa tại Ba-tư. Các “tình hình” đó vốn không phải là hậu quả của sự may rủi, nhưng là kế hoạch lớn của Đức Chúa Trời. Ngài đang cầm quyền tể trị trên mọi lãnh vực của đời sống chúng ta.
    Tầm quan trọng: Với Đức Chúa Trời đảm trách mọi sự, chúng ta có thể cứ can đảm lên. Ngài có quyền hướng dẫn chúng ta vượt mọi hoàn cảnh phải đương đầu trong đời sống. Bạn có thể trông mong Đức Chúa Trời phô bày quyền năng Ngài để thực hiện ý chỉ Ngài. Một khi chúng ta đã thống nhất chủ đích của mình với chủ đích của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ được hưởng lợi từ sự chăm sóc tể trị của Ngài.
    Luận đề: Oán thù chủng tộc
    Lời giải thích: Dân Do-thái tại Ba-tư chỉ là một thiểu số vì họ đã đưa từ Giu-đa đến để chịu cảnh lưu đày từ 100 năm trước. Ha-man là một hậu duệ của vua A-ga, một kẻ thù của dân Do-thái. Thói tham quyền và kiêu ngạo đã đưa Ha-man đến chỗ thù ghét Mạc-đô-chê, anh họ của Ê-xơ-tê. Ha-man đã thuyết phục nhà vua tận diệt người Do-thái.
    Tầm quan trọng: Oán thù chủng tộc bao giờ cũng là tội ác. Chúng ta không nên nhượng bộ nó bất kỳ dưới hình thức nào. Mỗi một con người trên thế gian này đều có giá trị nội tại, vì Đức Chúa Trời đã sáng tạo ra nhân loại theo hình tượng Ngài. Do đó người thuộc về Đức Chúa Trời phải chống lại chủ nghĩa (kỳ thị) chủng tộc bất cứ lúc nào nơi nào nó xuất hiện.
    Luận đề: Sự giải thoát
    Lời giải thích: Đến ngày 28 tháng Hai dl., người Do-thái ăn mừng lẫ Phu-rim, biểu tượng của quyền năng giải cứu của Đức Chúa Trời. Phu-rim có nghĩa là “thăm”, những lá thăm mà Ha-man đã dùng để định ngày tiêu diệt toàn thể dân Do-thái khỏi xứ Ba-tư. Nhưng Đức Chúa Trời là Đấng tể trị, sử dụng hoàng hậu Ê-xơ-tê cầu thay cho dân Do-thái.
    Tầm quan trọng: Vì Đức Chúa Trời đang kiểm soát lịch sử, Ngài không hề bị một biến chuyển nào của các biến cố hay hành động nào của loài người đánh bại được. Ngài có quyền cứu chúng ta khỏi điều ác của thế gian này và giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Vì tin cậy Đức Chúa Trời, chúng ta chẳng sợ những gì thiên hạ nói hoặc làm cho chúng ta; trái lại, chúng ta phải tin quyết vào quyền cai trị kiểm soát của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Hành động
    Lời giải thích: Trực diện với cái chết, Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê đã gạt qua một bên nỗi sợ hãi của riêng họ để bắt tay hành động. Ê-xơ-tê đã liều mạng để yêu cầu vua Xét-xe cứu dân Do-thái. Họ không để cho nỗi sợ hãi khiến mình bị tê liệt.
    Tầm quan trọng: Khi thuộc thiểu số và thiếu năng lực thì lẽ tự nhiên là chúng ta cảm thấy bất năng. Ê-xơ-tê và Mạc-đô-chê đã chống lại cám dỗ này bằng cách can đảm hành động. Biết Đức Chúa Trời nắm quyền kiểm soát thì chưa đủ, chúng ta còn phải hành động hi sinh và can đảm nữa theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Khôn ngoan
    Lời giải thích: Dân Do-thái thuộc thiểu số trong một thế gian thù ghét họ. Mạc-đô-chê phải hết sức khôn ngoan mới tồn tại được. Phục vụ nhà vua như một quan chức trung tín, Mạc-đô-chê đã tìm cách hiểu rõ và hành động đúng luật pháp Ba-tư. Thế nhưng lòng trung thực của ông đã không bị “pha loãng” để thoả hiệp với thế gian.
    Tầm quan trọng: Phải thật khôn ngoan mới tồn tại được trong một thế gian vô tín. Trong một môi trường sống phần lớn là thù ghét Cơ-đốc giáo, chúng ta có thể chứng minh sự khôn ngoan bằng cách tôn trọng những gì là đúng, là tốt, và bằng cách khiêm tốn giữ vững lập trường chống lại điều sai quấy.

    Dẫn nhập Gióp
    Lời giới thiệu
    Cây cối gãy đổ nằm ngổn ngang như những cây tăm xỉa răng vung vãi, chỏng chơ trên mặt đất. Nhiều mái nhà nguyên vẹn tung lên như những cánh buồm va vào nhau như những món đồ chơi, các vách tường đổ sập, và từng núi nước nhảy chồm lên bờ, tràn ngập cả mặt đất. Một trận bão lốc đốn, chặt, xé nát bao công trình và chỉ có các nền móng vững chắc mới có thể tồn tại trước cơn thịnh nộ chẳng có gì kiềm hãm được của nó mà thôi.
    Với bất luận một công trình xây dựng nào, phần nền móng là tối quan trọng. Nó phải sâu và vũng chắc đủ thì mới đứng vững được dưới sức nặng của ngôi nhà và những cuộc day động rung chuyển khác. Đời sống cũng giống như những ngôi nhà, và phẩm chất của phần nền tảng của nó sẽ quyết định cho tính bền vững của toàn thể. Việc quá thường xảy ra, là người ta lại sử dụng các vật liệu có phẩm chất kém, nên khi thử thách đến, thì nhiều cuộc đời đã sụp đổ.
    Gióp đã bị thử thách. Với một cuộc đời đầy uy tín, nhiều của cải và đông người, ông thình lình bị tấn công từ mọi phía, bị tàn hại, bị lột trần san phẳng đến tận nền móng. Nhưng cuộc đời ông vốn được xây trên Đức Chúa Trời, cho nên ông vẫn kiên trì chịu đựng và tồn tại.
    Sách Gióp kể lại truyện tích của Gióp, là người của Đức Chúa Trời. Đây là một vở kịch được bố cục chặt chẽ về cảnh “lên voi xuống chó” của một người đang “giàu nứt đố đổ vách” bỗng nhiên trở thành kẻ “nghèo rớt mồng tơi” nhưng rồi lại trở nên giàu có, một sách khảo luận thần học bàn về sự đau khổ và quyền tể trị của Đức Chúa Trời, và một bức tranh vẽ cảnh đức tin biết kiên trì nhẫn nhục. Trong khi đọc sách Gióp, nên phân tích đời sống kiểm điểm lại phần nền móng của chính mình. Và có lẽ bạn sẽ có thể nói rằng khi mọi sự đều bỏ đi ngoại trừ chính Đức Chúa Trời, thì chỉ một mình Ngài cũng là đủ rồi.
    Gióp là một trại chủ giàu có sống trong xứ Út-xơ. Ông có nhiều ngàn chiên, lạc đà và gia súc khác nữa, một gia đình đông người và nhiều tôi tớ. Thình lình kẻ hay cáo kiện là quỉ Sa-tan ra mắt Đức Chúa Trời, bảo rằng sở dĩ Gióp tin cậy Đức Chúa Trời chỉ vì ông giàu có và mọi sự đều diễn tiến tốt đẹp cho ông mà thôi. Thế là cuộc thử thách đức tin của Gióp bắt đầu.
    Sa-tan được cho phép hủy diệt các con cái tôi tớ, gia súc, những kẻ chăn bầy, và ngôi nhà của Gióp, nhưng Gióp vẫn tiếp tục tin cậy Đức Chúa Trời. Tiếp đến, Sa-tan tấn công thân thể của Gióp, khiến toàn thân ông đầy ghẻ độc và gây đau đớn. Vợ Gióp bảo ông hãy nguyền rủa Đức Chúa Trời rồi chết đi (2:9), nhưng Gióp vẫn âm thầm chịu khổ.
    Ba người trong số các bạn của Gióp là Ê-li-pha, Binh-đát và Sô-pha đến thăm ông. Thoạt đầu họ im lặng cùng chia sẻ đau buồn với Gióp. Nhưng rồi khi họ bắt đầu bàn về nguyên nhân các tấn thảm kịch của Gióp, họ bảo rằng chính tội lỗi đã gây ra đau khổ. Họ bảo Gióp phải xưng tội mình và quay trở lại với Đức Chúa Trời. Nhưng Gióp vẫn giữ vững lập trường là ông vô tội.
    Vì không thuyêt phục nổi Gióp, cả ba người kia đều im lặng (32:1). Đến đây thì một giọng nói khác của chàng thanh niên Ê-li-hu tham gia cuộc tranh luận. Tuy luận cứ của ông cũng không thuyêt phục được Gióp, nó đã dọn đường để Đức Chúa Trời lên tiếng.
    Cuối cùng, Đức Chúa Trời truyền phán từ một cơn lốc lớn. Bị đặt trực diện với quyền năng và vẻ uy nghi lớn lao của Đức Chúa Trời, Gióp đã chịu hạ mình xuống, tỏ vẻ tôn kính trước mặt Đức Chúa Trời - và chẳng nói được lời nào. Đức Chúa Trời đã quở trách các bạn của Gióp, và vở kịch kết thúc với việc Gióp được phục hồi cả hạnh phúc lẫn sự giàu có.
    Thật là dễ tưởng rằng chúng ta đã giải đáp được mọi thắc mắc. Thật ra thì chỉ một mình Đức Chúa Trời mới biết chính xác tại sao mọi việc đã xảy ra như chúng đang xảy ra, cho nên chúng ta phải đầu phục Ngài với cương vị Đấng Cầm Quyền Tể trị. Khi đọc sách này, bạn nên noi gương Gióp để quyết định tin cậy Đức Chúa Trời, cho dù có việc gì xảy ra đi chăng nữa.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để chứng minh quyền tể trị của Đức Chúa Trời và ý nghĩa của đức tin thật. Nó trả lời cho câu hỏi: “Tại sao người ngay lại mắc nạn?”
    Trước giả: Khuyết danh, có lẽ là Gióp. Có người từng gợi ý là Môi-se, Sa-lô-môn, hoặc Ê-li-hu.
    Niên đại viết sách: Không rõ. Các biến cố được ghi lại có lẽ đã xảy ra vào thời của các tộc trưởng, khoảng 2000-1800 TC
    Bối cảnh: Xứ Út-xơ, có lẽ nằm tại vùng cực Bắc xứ Palestine, gần vùng sa mạc giữa Đa-mách và sông Ơ-phơ-rát
    Câu gốc: Giop G 2:3
    Các nhân vật chính: Gióp, Ê-li-pha người Thê-man, Binh-đát người Su-a, Sô-pha người Na-a-man, Ê-li-hu người Bu-xi.
    Những nét đặc trưng: Gióp là sách đầu tiên trong các sách thi ca của bộ Thánh Kinh Hy-bá-lai. Có người tin rằng đây là quyển sách đã được viết ra đầu tiên trong toàn bộ Thánh Kinh. Quyển sách cho chúng ta một cái nhìn xuyên suốt vào công việc của Sa-tan. Exe Ed 14:14,20; Gia Gc 5:11 có đề cập Gióp như một nhân vật lịch sử.
    Bố cục
    A. Gióp bị thử thách (1:1-2:13)
    Gióp, một người giàu có và ngay lành, bị mất cả tài sản, con cái và sức khoẻ. Ông không hiểu tại sao mình lại gặp khổ nạn như thế. Tại sao Đức Chúa Trời lại để cho các con cái Ngài chịu khổ?
    Tuy vẫn có một lời giải thích, nhưng có lẽ lúc hãy còn sống trên đời này, chúng ta vẫn chưa được biết rõ. Trong khi chờ đợi, chúng ta phải luôn luôn sẵn sàng đối với mọi thử thách xảy đến cho đời sống mình.
    B. Ba bạn thân giải đáp cho Gióp (3:1-31:40)
    1. Vòng thảo luận thứ nhất
    2. Vòng thảo luận thứ hai
    3. Vòng thảo luận thứ ba
    Các bạn thân của Gióp đã sai lầm khi cho rằng đau khổ bao giờ cũng là hậu quả của tội lỗi. Do in trí như thế, nên họ cố thuyết phục Gióp ăn năn tội. Nhưng cả ba đều sai lầm.
    Đau khổ không phải bao giờ cũng là hậu quả của tội lỗi cá nhân. Khi chúng ta gặp đau khổ nghiêm trọng, điều đó có thể không phải là do lỗi lầm của chúng ta, cho nên chúng ta chớ nên thêm vào cho nỗi đau đớn của mình cái mặc cảm rằng chắc một tội lỗi kín giấu nào đó đã gây ra rắc rối cho chúng ta.
    C. Một thanh niên trả lời cho Gióp (32:1-37:24)
    Một thanh niên tên Ê-li-hu đã nghe đầu đuôi câu chuyện, chê bai người bạn kia của Gióp là đã không trả lời đúng cho Gióp. Ông nói rằng tuy Gióp là một người tốt, ông đã tự lên mặt kiêu căng, và sở dĩ Đức Chúa Trời trừng phạt ông là để ông biết tự hạ mình. Câu trả lời này có một phần đúng, vì đau khổ thanh lọc đức tin chúng ta. Nhưng Đức Chúa Trời vượt ra ngoài tầm lãnh hội của chúng ta, cho nên chúng ta không thể biết được tại sao Ngài lại cho phép sự đau khổ đến với đời sống chúng ta trong từng trường hợp một. Phần của chúng ta chỉ đơn giản là cứ tận trung với Ngài.
    D. Đức Chúa Trời trả lời cho Gióp (38:1-41:34)
    Cuối cùng thì chính Đức Chúa Trời đã giải đáp thắc mắc của Gióp. Ngài đang cầm quyền cai trị kiểm soát cả thế gian này, nên chỉ một mình Ngài mới hiểu rõ tại sao người ngay được cho phép phải gặp nạn. Điều này sẽ chỉ trở thành rõ ràng cho chúng ta khi nào chúng ta thấy được Đức Chúa Trời là ai, và Ngài là Đấng như thế nào. Chúng ta phải can đảm chấp nhận những gì Đức Chúa Trời cho phép xảy đến cho đời sống chúng ta, và cứ vững lòng tận hiến cho Ngài.
    E. Gióp được phục hồi địa vị (42:1-17)
    Cuối cùng, Gióp đã học biết được rằng khi ông chẳng còn lại chi cả, thì ông vẫn còn có Đức Chúa Trời, và như thế đã là đủ lắm rồi. Qua đau khổ, chúng ta học biết được rằng Đức Chúa Trời là đầy đủ cho đời sống và tương lai của chúng ta. Chúng ta phải yêu mến Đức Chúa Trời bất chấp Ngài ban phước hay cho phép sự đau khổ đến với chúng ta. Thử thách vốn khó chịu, nhưng kết quả thường là một mối liên hệ sâu nhiệm hơn với Đức Chúa Trời. Những ai kiên trì để đức tin mình chịu đựng nổi thử thách, thì cuối cùng sẽ được nhiều phần thưởng lớn.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Đau khổ
    Lời giải thích Tuy Gióp chẳng có lầm lỗi gì, ông đã bị mất hết của cải, con cái, và sức khoẻ. Tuy các bạn của Gióp tin quyết rằng sở dĩ Gióp phải gặp đau khổ là do chính ông gây ra, theo Gióp, thử thách lớn nhất không phải là nỗi đau bị mất mát, nhưng là vì không hiểu nổi tại sao Đức Chúa Trời lại để cho ông chịu khổ.
    Tầm quan trọng Đau khổ có thể, nhưng không phải luôn luôn là sự trừng phạt đối với tội lỗi. Cũng thế, sự hưng thịnh không phải bao giờ cũng là phần thưởng vì ta đã sống ngay lành. Những người yêu mến Đức ChúaTrời không hề được miễn trừ để khỏi phải chịu khổ. Tuy có lẽ chúng ta không luôn luôn hiểu thật đầy đủ nỗi đau mà mình phải chịu, điều đó có thể giúp chúng ta tái khám phá về Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Những cuộc tấn công của Sa-tan
    Lời giải thích Sa-tan đã tìm cách đóng một cây nêm giữa Gióp và Đức Chúa Trời, để khiến Gióp tin rằng Đức Chúa Trời là Đấng đang cai trị thế gian này không phải bao giờ cũng công bằng, thiện hảo. Sa-tan đã phải xin phép Đức Chúa Trời để cướp đi của cải, sức khoẻ, và con cái của Gióp. Sa-tan bị giới hạn trong những gì Đức Chúa Trời cho phép mà thôi.
    Tầm quan trọng Chúng ta phải học tập để biết và không sợ các cuộc tấn công của Sa-tan, vì nó không thể vượt quá các giới hạn mà Đức Chúa Trời đặt ra cho nó. Đừng để cho bất cứ một từng trải nào đóng nêm, gây bế tắc cho mối liên hệ giữa bạn với Đức Chúa Trời. Tuy bạn không nắm vững được tại sao Sa-tan tấn công, bạn luôn luôn có thể chọn cách đối phó với nó khi việc ấy xảy ra.
    Luận đề: Sự thiện hảo của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích Đức Chúa Trời vốn toàn tri, toàn năng. Ý chỉ Ngài vốn trọn vẹn, nhưng Ngài không luôn luôn hành động theo trí hiểu của chúng ta. Sở dĩ nỗi đau khổ của Gióp gây khó hiểu vì mọi người đều cho rằng hễ ở hiền thì phải gặp lành. Lúc Gióp sắp tuyệt vọng, Đức Chúa Trời đã phải dạy ông, chứng minh cho ông thấy quyền năng và sự khôn ngoan lớn lao của Ngài.
    Tầm quan trọng Tuy Đức Chúa Trời có mặt khắp nơi, thỉnh thoảng Ngài có vẻ như đang ở rất xa. Điều này có thể khiến chúng ta cảm thấy cô đơn và nghi ngờ sự chăm sóc mà Ngài vẫn dành cho chúng ta. Chúng ta phải phục vụ Đức Chúa Trời vì chính Ngài, chứ không phải tuỳ theo cảm xúc của chúng ta. Ngài chẳng bao giờ vô cảm đối với nỗi đau khổ của chúng ta. Vì Đức Chúa Trời là Đấng đầy đủ trọn vẹn, cho nên chúng ta phải bám chặt lấy Ngài.
    Luận đề: Kiêu ngạo
    Lời giải thích Các bạn của Gióp tin chắc rằng họ đúng khi phán đoán về ông. Đức Chúa Trời đã quở trách họ vì thói kiêu ngạo và tự phụ tự mãn của họ. Sự khôn ngoan của loài người luôn luôn có giới hạn và tạm thời, cho nên thói kiêu ngạo không phải là khi chúng ta đưa ra một câu kết luận, là tội lỗi.
    Tầm quan trọng Chúng ta phải thận trọng, đừng “đoán xét” những người khác đang đau khổ. Chúng ta có thể tự chứng tỏ là mình phạm tội kiêu ngạo đấy! Chúng ta phải thận trọng khi đưa ra các kết luận riêng về cách thức Đức Chúa Trời đang đối xử với mình. Khi nào chúng ta tự khen mình là phải, là đúng, là chúng ta trở thành kẻ kiêu ngạo.
    Luận đề: Lòng tin cậy
    Lời giải thích Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới biết rõ chủ đích ẩn phía sau sự đau khổ của Gióp, thế nhưng Ngài đã chẳng giải thích cho Gióp. Mặc dù vậy, Gióp đã chẳng bao giờ từ bỏ Đức Chúa Trời - cả giữa cơn đau khổ. Ông đã không đặt hy vọng vào từng trải, sự khôn ngoan bạn bè hay của cải của mình. Gióp chỉ nhìn chăm vào một mình Đức Chúa Trời mà thôi.
    Tầm quan trọng Gióp cho thấy loại lòng tin cậy mà chúng ta cần phải có. Khi mọi sự đã bị tước đoạt cả rồi, chúng ta mới nhận thức được rằng Đức Chúa Trời mới là tất cả những gì chúng ta thật sự có. Chúng ta không nên đòi hỏi Đức Chúa Trời phải giải thích mọi việc. Ngài đã tự ban chính Ngài cho chúng ta, nhưng không phải là mọi chi tiết của các kế hoạch của Ngài. Chúng ta phải nhớ rằng đời này với tất cả sự đau khổ của nó, vẫn chưa phải là số phận cuối cùng của chúng ta.

    Dẫn nhập Thi Thiên
    Lời giới thiệu
    “Chào, bạn mạnh giỏi chứ?”. “Khoẻ, cám ơn”. Đúng ra thì cuộc trao đổi ngắn ngủi này không phải là một cuộc thảo luận “theo chiều sâu” mà chỉ là những câu trao đổi bình thường giữa các bạn bè và người quen biết, chuyển cho nhau để tiếp xúc với nhau chớp nhoáng theo thói quen xã giao. Thật ra các thói quen “khách sáo” vốn là một cách sống, là những câu nói, những phân đoạn có sức lắng đọng, thấm sâu. Nhưng vốn đây là yếu tính của việc giao lưu tiếp xúc, mối liên hệ sẽ chỉ dừng lại ở bình diện nông cạn trên bề mặt mà thôi. Các sự kiện và ý kiến riêng vốn cũng đầy dẫy trong những câu nói để trao đổi của chúng ta. Những từ này đi sâu hơn, nhưng con người thật vẫn ẩn mình phía sau chúng. Thật ra, chỉ khi nào các cảm thức và tình cảm chân thành được người ta chia sẻ cho nhau, thì những con người thật mới được biết rõ, yêu thương và giúp đỡ.
    Thường thường thì những khuôn sáo của việc giao lưu tiếp xúc cạn cợt tự nhiên nhảy vào trong các câu chuyện giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Chúng ta rất dễ lướt nhanh qua những dòng chữ hoa mỹ đã được đọc thuộc lòng qua nhiều thập niên, hoặc vội vàng thốt ra một hai câu khách sáo cho Đức Chúa Trời và gọi đó là một bài cầu nguyện. Chẳng có gì để nghi ngờ là Đức Chúa Trời vẫn nghe và hiểu những cố gắng gượng gạo đó, nhưng bằng cách giới hạn chiều sâu của việc giao lưu tiếp xúc của mình như thế, mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài sẽ trở thành nông cạn. Nhưng Đức Chúa Trời vốn biết rõ chúng ta, và Ngài muốn chúng ta có được sự thông công, sự tương giao thật sự với Ngài.
    Sách Thi thiên là tâm điểm của toàn bộ Thánh Kinh. Bộ sưu tập vĩ đại các bài ca và bài cầu nguyện này diễn tả tấm lòng và tâm hồn của nhân loại. Trong bộ sưu tập này, mọi từng trải của con người đều đã được biểu hiện. Trong sách này chẳng có gì là khuôn sáo cả. Trái lại, Đa-vít và các trước giả khác đã chân thành dốc đổ các cảm thức của mình ra, phản ảnh một tình bạn năng động, mãnh liệt và làm thay đổi cuộc đời với Đức Chúa Trời. Các tác giả Thi thiên xưng tội, bộc lộ các nỗi nghi ngờ sợ hãi của họ, cầu xin Đức Chúa Trời phù hộ khi gặp hoạn nạn, và ca tụng, thờ phượng Ngài.
    Khi đọc sách Thi thiên, bạn sẽ được nghe các tín hữu từ những nơi sâu thẳm của nỗi tuyệt vọng kêu cầu Đức Chúa Trời, bạn sẽ được nghe họ ca hát cho Ngài trong những lễ hội vui mừng. Nhưng dù thất vọng hay vui mừng, bao giờ bạn cũng được nghe họ chia sẻ những cảm thức chân thành nhất với Đức Chúa Trời. Vì lòng chân thành mà các tác giả Thi thiên đã bộc lộ đó, nhiều người nam người nữ xuyên suốt lịch sử đã đến, và đến nhiều lần với sách Thi thiên để tìm an ủi trong những lúc phải chiến đấu và gặp hoạn nạn. Và cùng với các tác giả Thi thiên, họ đã chổi dậy từ những nơi sâu thẳm của tuyệt vọng để vượt lên đến các đỉnh cao của niềm vui và sự ca tụng khi họ tìm được tình yêu và sự tha thứ tồn tại mãi của Đức Chúa Trời. Hãy để cho lòng chân thành của các tác giả Thi thiên hướng dẫn bạn đi sâu vào mối liên hệ chân thành với Đức Chúa Trời.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để cung cấp những bài thơ nhằm biểu lộ sự ca ngợi tán tụng, thái độ thờ phượng và thú tội với Đức Chúa Trời.
    Trước giả: Đa-vít đã viết 73 Thi thiên; A-sáp 12 bài, con cáu Cô-rê 9 bài; Sa-lô-môn 2 bài; Hê-mon (cùng với con cháu Cô-rê), Ê-than, và Môi-se mỗi người một bài, còn 51 bài khác là do các tác giả khuyết danh. Tân ước gán 2 trong số các Thi thiên khuyết danh (các Thi thiên đoạn 2 và 95) cho Đa-vít (xem Cong Cv 4:25; HeDt 4:7).
    Niên đại trước tác: Giữa thời của Môi-se (khoảng 1.440TC) và cuộc lưu đày sang Ba-by-lôn (586 TC)
    Bối cảnh: Phần lớn các thi thiên không có ý định ký thuật các sự kiện lịch sử. Tuy nhiên, chúng thường có các biến cố lịch sử song hành, như việc Đa-vít chạy trốn Sau-lơ, và tội vua phạm với Bát-sê-ba.
    Câu chìa khoá: Thi Tv 150:6)
    Nhân vật chính: Đa-vít
    Địa điểm chính: Đền thánh của Đức Chúa Trời
    Bố cục
    Quyển I. Thi Tv 1:1-41:13
    Do các Thi thiên được tổ chức theo đề mục, cho nên chúng ta sẽ được giúp ích khi đem các luận đề nổi bật trong từng đoạn các thi thiên để đối chiếu với năm quyển sách của Môi-se. Bộ sưu tập các thi thiên đầu tiên này, phần lớn do Đa-vít sáng tác, tương tự với Sáng thế ký. Như Sáng thế ký cho biết loài người đã được tạo dựng như thế nào, sa vào tội lỗi làm sao rồi được hứa sẽ được cứu chuộc như thế nào, nhiều thi thiên trong quyển I này thảo luận về các vấn đề nhân loại đã được phước, sa ngã, rồi được Đức Chúa Trời cứu chuộc.
    Quyển II. Thi Tv 42:1-72:20
    Bộ sưu tập các thi thiên này, phần lớn do Đa-vít và con cháu Cô-rê sáng tác, tương tự với Xuất Ê-díp-tô ký. Như Xuất Ê-díp-tô ký mô tả dân Y-sơ-ra-ên thể nào, nhiều thi thiên trong quyển II này cho thấy việc dân tộc ấy đã lụn bại rồi được phục hồi địa vị. Cũng như Đức Chúa Trời đã cứu vớt dân Y-sơ-ra-ên, Ngài cũng cứu vớt chúng ta nữa Việc đầu tiên chúng ta phải làm không phải là tự tìm các giải pháp, mà có thể đến với Đức Chúa Trời, mang theo các vấn đề của chúng ta và xin Ngài giúp cho.
    Quyển III. Thi Tv 73:1-89:52
    Bộ sưu tập các thi thiên này, phần lớn do A-sáp hoặc các hậu duệ của A-sáp sáng tác, cũng tương tự như Lê-vi ký. Như Lê-vi ký thảo luận về Đền tạm và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, nhiều thi thiên trong quyển III này thảo luận về Đền thờ và Đức Chúa Trời ngự trên ngôi Ngài. Vì Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, chung ta có thể quay sang với Ngài để được giải cứu. Các thi thiên này ca tụng Đức Chúa Trời vì Ngài thánh khiết, và sự thanh khiết trọn vẹn của Ngài đáng cho chúng ta thờ phượng mà sùng kính.
    Quyển IV. 90:1-106:48
    Bộ sưu tập các thi thiên này, phần lớn do các trước giả khuyết danh sáng tác, tương tự với Dân số ký. Như Dân số ký mô tả mối liên hệ của dân Y-sơ-ra-ên với các lân bang, các thi thiên này thường đề cập mối liên hệ giữa vương quốc được Đức Chúa Trời tể trị với các quốc gia khác. Vì chúng ta là công dân Nước Trời, chúng ta có thể nhìn vào các biến cố xảy ra trên thế gian này theo đúng viễn cảnh của chúng.
    Quyển V. 107:1-150:6
    Bộ sưu tập các thi thiên này, phần lớn do Đa-vít sáng tác, tương tự với Phục truyền luật lệ ký. Như sách Phục truyền quan tâm đến Đức Chúa Trời và Lời Ngài, các thi thiên này là tuyển tập những bài ca tụng và cảm tạ dành cho Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Phần lớn các thi thiên này nguyên được phổ nhạc vàsử dụng cho việc thờ phượng. Ngày nay, chúng ta có thể dùng các thi thiên như chúng vốn đã được sử dụng trong quá khứ, như một sách sưu tập các bài thánh ca nhằm ca tụng và thờ phượng Đức Chúa Trời. Đây phải là quyển sách tạo thành bài ca vang mãi trong lòng chúng ta.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Ca tụng.
    Phần giải thích: Thi thiên là các bài hát để ca ngợi tán tụng Đức Chúa Trời với tư cách Đấng Tạo Hoá, Đấng Bảo Tồn và Đấng Cứu Chuộc chúng ta. Ca tụng là nhìn nhận, tán thưởng và diễn tả tính cách vĩ đại của Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Tập trung tư tưởng vào Đức Chúa Trời khiến chúng ta ca ngợi tán tụng Ngài. Càng được biết Ngài nhiều bao nhiêu, chúng ta càng có thể tán thưởng những gì Ngài đã làm cho chúng ta nhiều bấy nhiêu.
    Luận đề: Quyền năng của Đức Chúa Trời
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, và Ngài luôn luôn hành động đúng lúc kịp thời. Ngài tể trị trên mọi hoàn cảnh. Quyền năng của Đức Chúa Trời được chứng tỏ trong các cách thức Ngài tự bày tỏ mình ra (mặc khải) trong công trình sáng tạo vũ trụ này, trong lịch sử và trong Lời Ngài.
    Tầm quan trọng: Khi nào chúng ta tự thấy bất năng bất lực, thì Đức Chúa Trời có thể giúp đỡ chúng ta. Năng lực của ngài có thể chiến thắng nỗi tuyệt vọng của bất kỳ một đau khổ hoặc thử thách nào. Chúng ta có thể luôn luôn cầu nguyện xin Ngài giải thoát bảo vệ, và nâng đỡ mình.
    Luận đề: Sự tha tội
    Phần giải thích: Nhiều thi thiên là những bài cầu nguyện khẩn thiết xin Đức Chúa Trời tha tội. Ngài tha thứ cho chúng ta khi chúng ta xưng tội mình và từ bỏ nó.
    Tầm quan trọng: Vì Đức Chúa Trời tha tội cho chúng ta, chúng ta có thể cầu nguyện với Ngài thật thành khẩn và trực tiếp. Khi đã được tha thứ, chúng ta được chuyển từ địa vị người xa lạ trở thành người thân thiết từ phạm tội sang yêu thương.
    Luận đề: Cảm tạ
    Phần giải thích: Chúng ta biết ơn Đức Chúa Trời về mối quan tâm, sự giúp đỡ, và lòng nhân từ thương xót cá nhân của Ngài. Chẳng những Ngài bảo vệ, hướng dẫn và tha tội cho chúng ta, mà cõi thọ tạo của Ngài còn cung cấp cho chúng ta tất cả những gì chúng ta có cần nữa.
    Tầm quan trọng: Một khi biết mình đã được hưởng lợi như thế nào nhờ nhận biết Đức Chúa Trời, chúng ta có thể bộc lộ thật đầy đủ lời tạ ơn Ngài. Nhờ thường cảm tạ Ngài, chúng ta phát triển được tính hồn nhiên tự phát trong sinh hoạt cầu nguyện của mình.
    Luận đề: Tin cậy
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời vốn thành tín và công bằng. Khi nào chúng ta đặt lòng tin cậy nơi Ngài, Ngài vỗ về, an ủi chúng ta. Vì Ngài vốn thành tín xuyên suốt dòng lịch sử, chúng ta có thể tin cậy Ngài khi gặp hoạn nạn.
    Tầm quan trọng: Thiên hạ có thể bất công, và bạn thân có thể từ bỏ chúng ta. Nhưng chúng ta có thể tin cậy Đức Chúa Trời. Nhận biết Đức Chúa Trời thật mật thiết sẽ xua tan mọi nghi ngờ, sợ hãi và cô đơn.

    Dẫn nhập Châm ngôn
    Lời giới thiệu
    Các mẫu tự, nguyên âm và phụ âm họp thành từ ngữ, câu cú, phân đoạn, và những quyển sách được đọc lên, thuyết giảng bằng cử điệu, thì thào, viết ra giấy và in ấn. Từ một lời khuyên giữa bạn bè đến những bài diễn thuyết gây cảm xúc, và từ những bộ sách dày cộm bám đầy bụi bặm đến những tờ báo lá cải hằng ngày, nhiều bức thông điệp đã được truyền đi và tiếp nhận mà mỗi người truyền đi đều cố tìm cách chia sẻ kiến thức và sự khôn ngoan.
    Hoà quyện trong thể chất con người, là hoài bảo muốn học hỏi để thông hiểu. Tâm trí chúng ta phân biệt chúng ta với thú vật, vì chúng ta biết phân tích, tiếp thu các ý niệm, đặt giả thuyết, thảo luận và tranh luận từ những điều được xem là khoa học đến những gì được kể là siêu nhiên. Và chúng ta xây dựng trường học, học viện, các trường đại học, là nơi các giáo sư thông thái có thể truyền dạy cho chúng ta về thế giới và cuộc đời. Kiến thức vốn tốt, nhưng có chỗ khác nhau rất lớn giữa “kiến thức” (hiểu biết các sự kiện) với “khôn ngoan” (ứng dụng các sự kiện ấy vào đời sống). Chúng ta có thể thu thập kiến thức, mà không khôn ngoan, khiến cho kiến thức đó của mình trở thành vô dụng. Chúng ta còn phải học hỏi để biết sống bằng những gì mình đã biết nữa.
    Con người khôn ngoan nhất từng sống trên đời này là vua Sa-lô-môn, để lại cho chúng ta một di sản về minh triết thành văn gồm ba bộ sách. Các sách Châm ngôn, Truyền đạo và Nhã ca. Trong ba bộ sách này, do Đức Thánh Linh hướng dẫn, ông đưa ra những cái nhìn thông tuệ và đường hướng chỉ đạo cho đời sống.
    Trong bộ thứ nhất của ba bộ sách vừa kể, vua Sa-lô-môn truyền lại lời khuyên thực tiễn của ông bằng hình thức những câu châm ngôn. Châm ngôn là một câu nói ngắn gọn, hàm súc, nói lên một chân lý đạo đức. Sách Châm ngôn là một bộ sưu tập những câu nói khôn ngoan ấy. Như điều chúng ta có thể trông mong, luận đề chủ yếu của sách Châm ngôn là bản tính của sự khôn ngoan thật. Sa-lô-môn viết (ChCn 1:7). Rồi ông tiếp tục đưa ra mấy trăm thí dụ thực tiễn về cách phải sống sao cho phù hợp với sự khôn ngoan tin kính.
    Sách Châm ngôn bao quát nhiều loại đề mục, gồm tuổi thanh xuân, kỷ luật, sinh hoạt gia đình, đức tự chủ,và các vấn đề chống lại cám dỗ, kinh doanh, cách nói năng, giữ gìn miệng lưỡi, nhận biết Đức Chúa Trời, hôn nhân, tìm kiếm chân lý, giàu nghèo, cách sống vô luân vô đạo, và lẽ tất nhiên, là cả vấn đề minh triết. Các châm ngôn này là những bài thơ ngắn (thường có hình thức của một khổ thơ) hàm chứa một sự pha lẫn thánh khiết của lương tri lương thức với những lời cảnh cáo hợp thời. Tuy chúng không ngụ ý muốn truyền dạy một giáo lý, nhưng người nào noi theo các lời khuyên này sẽ bước đi trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Từ ngữ “châm ngôn” vốn do một ngữ căn Hy-bá-lai có nghĩa là “để cai trị” nên những câu tục ngữ, những lời nhắc nhở và khuyên răn này cung cấp một lời khuyên sâu nhiệm để chúng ta “cai trị” đời sống của mình.
    Trong khi bạn đọc sách Châm ngôn, nên hiểu rằng chính Đức Chúa Trời là chiếc chìa khoá, là bí quyết của sự khôn ngoan. Hãy lắng nghe các tư tưởng và những bài học từ con người khôn ngoan nhất trên đời này, rồi ứng dụng chúng cho đời sống của bạn. Đừng chỉ đọc suông các châm ngôn này, mà hãy theo đó để hành động nữa.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để dạy người ta cách đạt được sự khôn ngoan và kỷ luật, một đời sống thận trọng, và cách thức để làm điều phải, việc đúng và công bằng (xem 1:2,3) - tóm lại, để áp dụng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời vào sinh hoạt hằng ngày và để có được những lời truyền dạy đạo đức.
    Trước giả: Sa-lô-môn đã viết phần lớn quyển sách này, với A-gu-rơ và Lê-mu-ên đóng góp vài đoạn ở phần cuối sách
    Niên đại viết sách: Vua Sa-lô-môn viết và dúc kết phần lớn những châm ngôn này vào thời rất sớm trong đời trị vì của vua ấy.
    Bối cảnh: Đây là quyển sách về những câu nói khôn ngoan, một sách giáo khoa để dạy dỗ người ta cách sống tin kính bằng cách cứ nhắc đi nhắc lại các tư tưởng về minh triết.
    Câu chìa khoá: ChCn Ch1:7)
    Những nét đặc trưng: Quyển sách này luân phiên sử dụng các thể văn: thi ca, ẩn dụ ngắn, câu hỏi sâu sắc, và các khổ thơ. Còn một vài dụng ý văn chương khác nữa, như các phản đề, ví von và nhân cách hoá.
    Bố cục:
    A. Minh triết cho thanh thiếu niên (1:1-9:18)
    Vua Sa-lô-môn giáo huấn các thanh thiếu niên trong thời đại của mình, cũng như một người cha khuyên dạy con mình vậy. Trong khi có nhiều châm ngôn trong số này trực tiếp hướng vào các thanh thiếu niên, các nguyên tắc hậu thuẫn cho chúng cũng giúp ích được cho toàn thể các tín hữu cả nam lẫn nữ, cả trẻ lẫn già. Hễ ai bắt đầu hành trình khám phá càng hơn về sự khôn ngoan, sẽ được những lời khôn ngoan, thông tuệ này giúp ích cho.
    B. Minh triết cho tất cả mọi người (10:1-24:34)
    Vua Sa-lô-môn muốn chia sẻ sự khôn ngoan của mình cho tất cả mọi người, bất chấp tuổi tác, giới tính, hoặc địa vị xã hội. Những câu nói ngắn gọn, khôn ngoan này nêu ra cho chúng ta sự khôn ngoan thực tiễn hằng ngày. Chúng ta phải chăm chỉ nghiên cứu và biến chúng thành một phần chính thức trong đời sống mình
    C. Minh triết cho các cấp lãnh đạo (25:1-31:31)
    Thêm vào số châm ngôn mà Sa-lô-môn sưu tập, thì những nhân vật như vua Ê-xê-chia còn sưu tập nhiều châm ngôn do vua Sa-lô-môn và nhiều người khác đã viết ra. Nếu phần lớn các châm ngôn ấy về đại thể có giống nhau, nhiều câu đã được hướng đặc biệt vào các vua và những người có liên quan với nhà vua. Những câu như thế đặc biệt hữu ích cho các cấp lãnh đạo hoặc những người đang mong ước trở thành cấp lãnh đạo.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Khôn ngoan
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời muốn người thuộc về Ngài được khôn ngoan. Có hai loại người với hai cách sống tương phản nhau. Kẻ dại là kẻ ác, là người ngoan cố, thù ghét và chẳng đếm xỉa gì đến Đức Chúa Trời. Người khôn thì tìm kiếm và yêu mến Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Khi chúng ta chọn nẻo đường của Đức Chúa Trời, thì Ngài ban cho chúng ta sự khôn ngoan. Lời Ngài là Thánh Kinh, dẫn dắt chúng ta để sống ngay lành, có được những mối liên hệ phải lẽ và đưa ra những quyết định đúng.
    Luận đề: Các mối liên hệ.
    Lời giải thích: Sách Châm ngôn cho chúng ta lời khuyên để phát triển các mối liên hệ với bạn bè, với các thành viên trong gia đình,và các bạn đồng công. Trong mọi mối liên hệ, chúng ta đều phải tỏ ra yêu thương, tận tuỵ, và có định chuẩn đạo đức cao.
    Tầm quan trọng: Muốn liên hệ với tha nhân chúng ta cần trước sau như một, lịch lãm, có kỷ luật để sử dụng sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ban cho mình. Nếu chúng ta không đối xử với người khác theo như sự khôn ngoan mà Đức Chúa Trời đã ban cho, các mối liên hệ của chúng ta sẽ bị tổn hại.
    Luận đề: Lời nói
    Lời giải thích: Điều chúng ta nói ra, phơi bày thái độ thật sự của mình đối với tha nhân. Cách nói của chúng ta vạch trần con người thật của mình. Lời nói của chúng ta là bảng trắc nghiệm cho thấy chúng ta đã trở thành khôn ngoan như thế nào.
    Tầm quan trọng: Muốn khôn ngoan trong lời nói, chúng ta phải biết tự chủ. Lời nói của chúng ta phải thành thật và chọn lựa thật kỹ trước khi nói ra.
    Luận đề: Việc làm.
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời kiểm soát kết quả cuối cùng mọi việc chúng ta làm. Chúng ta có trách nhiệm thực hiện công tác đã được giao thật chăm chỉ và có kỷ luật, không lười biếng.
    Tầm quan trọng: Vì Đức Chúa Trời đánh giá cách sống của chúng ta, chúng ta phải làm việc có mục đích. Chúng ta chẳng bao giờ nên lơi lỏng hay tự hài lòng trong việc sử dụng các kỹ năng của mình.
    Luận đề: Thành công
    Lời giải thích: Tuy người ta lao động thật gian khổ vì tiền bạc hoặc danh vọng, Đức Chúa Trời xem thành công là có được tiếng tốt, cá tính đạo đức, và tận hiến thuộc linh để vâng lời Ngài.
    Tầm quan trọng: Một mối liên hệ thành công với Đức Chúa Trời sẽ có giá trị đời đời. Mọi việc khác đều hư hoại. Mọi nguồn tài nguyên, thì giờ và tài năng đều do Đức Chúa Trời mà có. Chúng ta phải phấn đấu tận dụng chúng thật khôn ngoan.

    Dẫn nhập Truyền Đạo
    Lời giới thiệu:
    Chiếc bánh mẫu nằm trong hộp, với đám “cỏ” bằng giấy màu xanh lục bao quanh. Bằng đôi mắt mở to nhiều kỳ vọng của buổi sáng sớm lễ Phục sinh, cậu bé cẩn thận nâng chiếc bánh sô-cô-la lên và cắn một miếng. Những vị ngọt tan biến nhanh chóng, và cậu bé nhìn trân trối vào chiếc bánh ngọt trong tay mình. Chỉ là chiếc bánh giả!
    Trống rỗng, phù du, giả dối, chẳng có gì cả... những từ ngữ nói lên nỗi thất vọng và ảo tưởng. Thế nhưng, đó lại là kinh nghiệm sống của rất nhiều người. Họ đang vơ vét được nhiều điều họ từng tưởng là tuyệt vời - tài sản, từng trải, quyền lực và lạc thú - để rồi nhận ra rằng bên trong đó chẳng có gì cả. Cuộc đời chỉ trống rỗng, vô nghĩa... và họ vô cùng thất vọng.
    Gần 3.000 năm trước đây, vua Sa-lô-môn đã đề cập nan đề này của nhân loại, nhưng những cái nhìn xuyên suốt thông tuệ và việc ứng dụng bức thông điệp đó của ông vẫn còn thích hợp cho thời đại của chúng ta. Sách Truyền đạo - bài giảng được ghi chép lại của Sa-lô-môn là một bảng phân tích các kinh nghiệm sống và là một thiên tiểu luận nhằm mục đích phê bình ý nghĩa của nó. Trong quyển sách sâu nhiệm này. Sa-lô-môn đưa chúng ta vào một chuyến du hành tinh thần xuyên suốt đời sống của ông, và cố giải thích để mọi người cùng hiểu thế nào mọi việc mình từng thử nghiệm hoặc nếm thử đều “vô nghĩa” - vô dụng, vô lý, vô mục đích, dại dột và rỗng tuếch - một việc làm phù du. Điều nên nhớ là lời lẽ ở đây vốn là của một con người đã có được “tất cả mọi điều đó” - đã có trí tuệ, quyền thế và sự giàu có phi thường. Sau chuyến du hành và kể lại tiểu sử của mình này, Sa-lô-môn đã đưa ra một câu kết luận như một tiếng reo là chiến thắng của ông: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết này: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi. Vì Đức Chúa Trời sẽ đem đoán xét các công việc, đến đỗi việc kín nhiệm hơn hết, hoặc thiện hoặc ác cũng vậy” (TrGv 12:13,14)
    Lúc mới lên ngôi, Sa-lô-môn đã cầu xin Đức Chúa Trời ban cho mình sự khôn ngoan (IISu 2Sb 1:7-12) và đã trở thành con người khôn ngoan nhất trên thế gian này (IVua 1V 4:29-34). Nhà vua đã học hỏi nghiên cứu, dạy dỗ, phán xét và viết sách. Nhiều nhà vua và lãnh tụ từ nhiều nước khác đã đến Giê-ru-sa-lem để học hỏi với Sa-lô-môn. Nhưng với toàn thể cách nhìn thông tuệ thực tế vào cuộc đời đó, Sa-lô-môn đã không thực hiện được chính lời khuyên bảo của mình, và nhà vua đã bắt đầu tuột dốc. Đến gần cuối đời mình, Sa-lô-môn đã nhìn lui bằng một thái độ khiêm hạ và ăn năn. Ông lập một bảng kiểm kê tất cả những gì đang có trên thế gian này mà mình đã từng trải, mong tránh được cho các độc giả của mình nỗi cay đắng mà ông đã học hỏi được qua kinh nghiệm bản thân rằng ngoài Đức Chúa Trời ra, thì mọi sự đều rỗng tuếch, giả dối và vô nghĩa.
    Tuy giọng điệu của sách Truyền đạo vốn tiêu cực và bi quan, chúng ta không nên kết luận rằng chương sách duy nhất đáng đọc và ứng dụng là chương cuối cùng, trong đó ông đưa ra các kết luận của mình. Thật ra, cả quyển sách đều đầy dẫy sự khôn ngoan thực tiễn (cách thức để thành công và đứng ngoài mọi rắc rối trong đời này) và sự khôn ngoan thuộc linh (cách đi tìm và nhận biết các giá trị vĩnh cửu). Sa-lô-môn đã có một cách tiếp cận với cuộc đời hết sức chân thành. Sở dĩ ông đưa ra tất cả các nhận định của mình liên quan đến tính cách phù du của cuộc đời là chỉ nhằm một chủ đích - hướng dẫn để mọi người biết tìm kiếm hạnh phúc thật, vốn chỉ có nơi một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Ông đã không tìm cách triệt tiêu mọi hi vọng, mà hướng dẫn các kỳ vọng của chúng ta để chỉ nhìn chăm vào Đấng duy nhất có thể thật sự hoàn thành chúng. Sa-lô-môn khẳng định giá trị của kiến thức, các mối liên hệ, việc lao động và lạc thú, nhưng chỉ với điều kiện là chúng phải được đặt đúng chỗ. Tất cả những điều tạm thời đó trong đời này phải được nhìn dưới làn ánh sáng của cõi vĩnh hằng.
    Hãy đọc sách Truyền đạo để học hỏi về cuộc đời. Hãy lắng nghe những lời cảnh cáo nghiêm trọng và những lời tiên báo khốc liệt này, để tận hiến cả cuộc đời mình tưởng nhớ Đấng Tạo Hoá mình ngay bây giờ (TrGv 12:1).
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm giúp các thế hệ tương lai tránh được nỗi cay đắng bằng cách học hỏi từ từng trải của chính học giả rằng cuộc đời này là vô nghĩa nếu người ta sống ngoài Đức Chúa Trời.
    Trước giả: Vua Sa-lô-môn
    Đọc giả: Riêng cho các thần dân của Sa-lô-môn và cho tất cả mọi người nói chung.
    Niên đại trước tác: Có lẽ trước sau năm 935 TC, trong giai đoạn cuối đời của Sa-lô-môn.
    Bối cảnh: Sa-lô-môn đang nhìn lại cuộc đời mình, phần lớn đã sống ngoài Đức Chúa Trời.
    Câu chìa khoá: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết này: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài; ấy là trọn phận sự của ngươi” (TrGv 12:13)
    Bố cục:
    1. Kinh nghiệm bản thân của Sa-lô-môn: (TrGv 1:1-2:26)
    2. Các nhận định của Sa-lô-môn (TrGv 3:1-5:20)
    3. Lời khuyên thực tiễn của Sa-lô-môn (TrGv 6:1-8:17)
    4. Kết luận cuối cùng của Sa-lô-môn (TrGv 9:1-12-14)
    Sách Truyền đạo chỉ ra một số các nẻo đường đời dẫn đến hư vô. Quyển sách sâu nhiệm này cũng giúp chúng ta khám phá ra chủ đích thật sự của cuộc đời. Một sự khôn ngoan như thế có thể giúp chúng ta tránh được cái cảm thức rỗng tuếch, hậu quả của một cuộc đời sống không có Đức Chúa Trời. Sa-lô-môn dạy rằng mọi người sẽ chẳng tìm được ý nghĩa cho cuộc đời mình trong kiến thức tiền bạc, lạc thú hoặc thanh danh. Người ta chỉ thật sự mãn nguyện khi được biết rằng những gì mình đang làm là một phần của chủ đích mà Đức Chúa Trời muốn cho đời sống mình phải thực hiện. Đây là một quyển sách có thể giúp giải phóng chúng ta khỏi các bon chen nhằm tranh giành, đoạt lợi, mưu tìm thế lực, và kéo chúng ta đến càng gần với Đức Chúa Trời hơn.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Sự tìm kiếm
    Phần giải thích: Sa-lô-môn đi tìm điều khiến ông mãn nguyện gần như người cầm đầu một công trình thí nghiệm khoa học vậy. Qua tiến trình này, ông khám phá ra rằng một cuộc đời không có Đức Chúa Trời là một cuộc tìm kiếm niềm vui, ý nghĩa và sự thành công dai dẳng và không có kết quả. Hạnh phúc thật không có trong năng lực tích luỹ hoặc sự thành đạt của chúng ta, vì chúng ta luôn luôn muốn có nhiều hơn điều chúng ta hiện có. Hơn nữa, có nhiều hoàn cảnh nằm ngoài tầm kiểm soát của chúng ta, có thể cướp đi các tài sản hoặc thành tựu của chúng ta.
    Tầm quan trọng: Thiên hạ vẫn tìm kiếm. Thế nhưng càng được nhiều bao nhiêu họ càng nhận thấy rằng mình chỉ mới có được quá ít mà thôi. Nếu không có Đức Chúa Trời thì không thể có thú vui hay hạnh phúc gì cả. Nếu không có Ngài thì sự mãn nguyện chỉ là một cuộc tìm kiếm vô vọng. Trên hết mọi sự, chúng ta phải phấn đấu để nhận biết và yêu mến Đức Chúa Trời. Ngài ban cho chúng ta sự khôn ngoan, kiến thức và niềm vui.
    Luận đề: Sự trống rỗng
    Phần giải thích: Sa-lô-môn chứng minh cái vô vọng, rỗng tuếch của việc theo đuổi lạc thú mà đời này có thể ban cho chúng ta, thay vì mối liên hệ với một Đức Chúa Trời đời đời. Việc tìm kiếm lạc thú, của cải, và thành công cuối cùng sẽ chỉ còn là tuyệt vọng. Chẳng có gì trong đời này lắp đầy được cái rỗng tuếch và thoả mãn được các hoài bão sâu xa của những tấm lòng không bao giờ chịu yên nghỉ của chúng ta
    Tầm quan trọng: Cách chữa lành cho cảm thức rỗng tuếch là tập trung chú ý vào Đức Chúa Trời. Tình yêu của Ngài cũng có thể lắp đầy sự trống rỗng của từng trải làm người. Hãy kính sợ Đức Chúa Trời suốt cuộc đời bạn và đổ đầy nó bằng việc phục vụ Đức Chúa Trời và tha nhân thay vì bằng các lạc thú ích kỷ.
    Luận đề: Lao động
    Phần giải thích: Sa-lô-môn cố tìm cách cảnh tỉnh mọi người về niềm tin của họ vào các nỗ lực, tài năng và sự khôn ngoan riêng của mình, và hướng dẫn họ hãy đặt đức tin vào Đức Chúa Trời như phần nền tảng phải lẽ duy nhất cho đời sống. Nếu không có Đức Chúa Trời, sẽ chẳng có phần thưởng hoặc tồn tại mãi hoặc lợi ích cho lao động gian khổ của chúng ta.
    Tầm quan trọng: Lao động với thái độ sai lầm sẽ bỏ mặc chúng ta cảm thấy rỗng tuếch. Nhưng lao động được tiếp nhận như một công tác được Đức Chúa Trời giao phó có thể được xem như một ân tứ. Hãy xét xem bạn đang nỗ lực để trông mong được gì. Đức Chúa Trời ban cho bạn tài năng và cơ hội làm việc để bạn sử dụng đúng thì giờ của mình.
    Luận đề: Sự chết
    Phần giải thích: Cái chết chắc chắn khiến mọi thành tựu vô mục đích của loài người thành vô ích. Đức Chúa Trời có một kế hoạch cho số phận loài người vượt ra ngoài sự sống và cái chết. Thực tại của tuổi thọ và sự chết nhắc nhở mỗi người về một kết cuộc khi Đức Chúa Trời sẽ phán xét đời sống của từng người.
    Tầm quan trọng: Vì đời sống ngắn ngủi, chúng ta có sự khôn ngoan lớn hơn sự khôn ngoan mà thế gian này có thể đem đến. Chúng ta cần có Lời của Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta chịu nghe Ngài, sự khôn ngoan của Ngài sẽ giúp chúng ta tránh được nỗi cay đắng của từng trải phù du của loài người và ban cho chúng ta một hi vọng vượt xa hơn cõi chết.
    Luận đề: Sự khôn ngoan
    Phần giải thích: Sự khôn ngoan của loài người không trả lời được mọi câu hỏi. Kiến thức và giáo dục có giới hạn của nó. Muốn hiểu về cuộc đời, chúng ta cần đến sự khôn ngoan chỉ có trong Lời Đức Chúa Trời phán dạy chúng ta - là Kinh Thánh mà thôi.
    Tầm quan trọng: Khi chúng ta nhận thức được rằng Đức Chúa Trời sẽ đánh giá mọi việc ta làm, chúng ta phải học tập để biết sống khôn ngoan, nhớ rằng Ngài hiện diện mỗi ngày để chúng ta học tập vâng theo các hướng dẫn của Ngài cho đời sống. Nhưng muốn có sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, trước hết chúng ta phải nhận biết và tôn trọng Ngài.

    Dẫn nhập Nhã Ca
    Lời giới thiệu
    Sau khi đã chán chê với những cuộc phiêu lưu tình ái, hẹn hò lén lút, những vụ tai tiếng ngoài hôn nhân, ngành thông tin đại chúng hiện nay lại rao giảng rằng hoang dâm vô đạo đồng nghĩa với tự do, lang chạ, là việc làm tự nhiên, còn vợ chồng sống chung thủy với nhau thì đã lỗi thời rồi! Tình dục vốn do Đức Chúa Trời sáng tạo ra, đã được Ngài tuyên bố là tốt lành trong vườn Ê-đen, đã bị xuyên tạc, khai thác để biến thành một hoạt động cấp thiết, bất hợp pháp, ngẫu nhiên và tự thoả mãn dục vọng. Tình yêu đã bị biến thành tham dục, việc cống hiến bị biến thành chiếm đoạt, và vấn đề sống chung thủy bền chặt giữa vợ chồng thì bị biến thành “chuyện chẳng có gì ràng buộc cả”.
    Thật ra, đáng lẽ việc liên hệ tình dục, sự kết hợp cả thể xác lẫn tình cảm của người nam và người nữ, phải là một phương tiện thánh khiết để đề cao tình yêu, việc sinh con đẻ cái, và hưởng lạc thú, đã được lời thề nguyện tận hiến cho nhau trong hôn nhân bảo vệ cho.
    Đức Chúa Trời cho rằng tình dục là quan trọng, và trong Kinh điển có nhiều chỉ dẫn về công dụng của nó và nhiều lời cảnh cáo đối với việc sử dụng nó một cách sai lầm. Mà tình dục thì bao giờ cũng được đề cập trong một mối liên hệ tình yêu giữa vợ chồng. Có lẽ đỉnh cao của vấn đề này là sách Nhã ca, là chuyện mật thiết giữa nam và nữ, tình yêu của họ, chuyện tán tỉnh và kết hôn với nhau. Có lẽ Sa-lô-môn đã viết sách Nhã ca này lúc hãy còn trẻ, trước khi bị phụ nữ, tình dục và lạc thú ám ảnh.
    Là một câu chuyện tình, một tấn kịch, một bài thơ thật cảm động, sách Nhã ca diễn tả các nét đặc trưng của cuộc đối thoại diễm tình giữa một thiếu nữ Do-thái (người Su-la-mít) ngây thơ chất phác với người yêu của mình (vua Sa-lô-môn). Các bài ca này mô tả chi tiết các cảm thức thầm kín thiết thân giữa họ và các ước mơ của họ muốn được chung sống với nhau. Qua cuộc đối thoại của họ, tình dục và hôn nhân đã được đặt theo viễn cảnh mà Đức Chúa Trời đã ban truyền.
    Người ta đã tranh luận nhiều về ý nghĩa của bài Nhã ca này. Có người cho rằng nó ám chỉ tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên và / hoặc đối với Hội thánh. Nhiều người khác bảo đây là một câu chuyện thật về tình yêu vợ chồng. Nhưng thật ra, đây là cả hai trường hợp đó - một câu chuyện lịch sử có đủ cả hai lớp ý nghĩa vừa nêu. Trên một bình diện chúng ta được học hỏi về tình yêu, hôn nhân, về tình dục; còn trên một bình diện khác, chúng ta lại thấy được tình yêu đầy trọn của Đức Chúa Trời đối với những người thuộc về Ngài. Nhưng khi bạn đọc sách Nhã ca, hãy nhớ rằng bạn đang được Đức Chúa Trời yêu mến, cho nên hãy tự dấn thân để nhìn cuộc đời, tình dục, và hôn nhân theo đúng quan điểm của Ngài.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để nói lên tình yêu giữa một người đang yêu (vua Sa-lô-môn) với người yêu của mình, nhằm khẳng định tính cách thánh khiết, thiêng liêng của hôn nhân, và để tả vẽ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho người thuộc về Ngài.
    Tác giả: Sa-lô-môn
    Niên đại viết sách: Có lẽ vào đầu đời trị vì của Sa-lô-môn.
    Bối cảnh: Xứ Y-sơ-ra-ên - trong vườn của thiếu nữ Su-la-mít và cung điện của nhà vua.
    Câu chìa khoá: “Tôi thuộc về lương nhơn tôi, và lương nhơn tôi thuộc về tôi; Người chăn bầy mình giữa đám hoa huệ” (Nha Dc 6:3)
    Các nhân vật chính: Vua Sa-lô-môn, thiếu nữ Su-la-mít, và các bạn thân của họ.
    Bố cục:
    1. Ngày thành hôn (Nha Dc 1:1-2:7)
    2. Hồi ức về giai đoạn tán tỉnh (Nha Dc 2:8-3:5)
    3. Hồi ức về giai đoạn hứa hôn (Nha Dc 3:6-5:1)
    4. Một cơn ác mộng (Nha Dc 5:2-6:3)
    5. Ca tụng vẻ đẹp của tân phụ (Nha Dc 6:4-7:9a)
    6. Vẻ quyến rủ thùy mị của tân phụ (Nha Dc 7:9b-8:4)
    7. Năng lực của tình yêu (Nha Dc 8:5-14)
    Sách Nhã ca là một bài ca hôn lễ nhằm tôn vinh hôn nhân. Trong sách này có những câu phát biểu minh nhiên nhất liên hệ đến tình dục trong toàn bộ Thánh Kinh. Qua nhiều thế kỷ, nó thường bị chỉ trích vì có ngôn ngữ thật “đa tình”. Tuy nhiên sự thuần khiết và thiêng liêng của tình yêu được trình bày ở đây rất cấn thiết cho thời đại của chúng ta, khi mà các thái độ đối với tình yêu và hôn nhân bị xuyên tạc đã trở thành phổ biến. Đức Chúa Trời đã tạo ra tình dục và sinh hoạt thân mật thầm kín, và chúng đều thánh khiết, hữu ích nếu được thụ hưởng bên trong các ranh giới của hôn nhân. Đời sống vợ chồng tôn vinh Đức Chúa Trời khi cả hai người yêu nhau và cùng mãn nguyện về nó.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Tình dục
    Phần giải thích: Tình dục là quà tặng của Đức Chúa Trời cho các tạo vật. Ngài “chuyển giao” tình dục, nhưng hạn chế cách bộc lộ nó trong phạm vi hai con người dấn thân trong hôn nhân mà thôi.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời muốn tình dục có động cơ thúc đẩy là tình yêu và sự dấn thân, chứ không phải là do tham dục. Nó là một lạc thú hai chiều, chứ không phải là sự hưởng lạc ích kỷ.
    Luận đề: Tình yêu
    Phần giải thích: Khi mối liên hệ phát triển giữa Sa-lô-môn và người tình của vua, thì vẻ đẹp lãng mạn cũng nảy nở. Năng lực mãnh liệt của tình yêu ảnh hưởng đến cả tấm lòng, tâm trí, lẫn thân thể của cả hai người yêu nhau.
    Tầm quan trọng: Vì tình yêu là việc bộc lộ cảm thức và dấn thân mãnh liệt như thế giữa hai người, nó không thể bị xem là chuyện ngẫu nhiên. Chúng ta không thể ép người khác yêu mình, và tình yêu không thể được khuyến khích quá sớm để bước vào một mối liên hệ.
    Luận đề: Dấn thân
    Phần giải thích: Mãnh liệt của tình yêu đòi hỏi nhiều hơn là ngôn ngữ của cảm thức để bảo vệ cho nó. Việc bộc lộ tình dục là một phần chính thức của bản ngã, đến độ chúng ta cần các ranh giới là hôn nhân để bảo toàn cho tình yêu của mình. Hôn nhân là việc cử hành hằng ngày phần nghi lễ về việc dấn thân, tận hiến của hai người cho nhau.
    Tầm quan trọng: Nếu tính cách lãng mạn giữ được điều kỳ thú cho đời sống vợ chồng, thì sự tận hiến cho nhau giữ cho tính cách lãng mạn kia khỏi tàn lụi. Quyết định chỉ dấn thân tận hiến cho vợ (chồng) bạn mà thôi bắt đầu tại bàn thờ khi cử hành hôn lễ. Nó phải được duy trì hằng ngày.
    Luận đề: Vẻ đẹp
    Phần giải thích: Hai người yêu nhau ca tụng vẻ đẹp mà họ nhìn thấy trong nhau. Ngôn ngữ họ sử dụng chứng tỏ tính cách hồn nhiên tự phát và huyền nhiệm của tình yêu. Lời ca tụng của chúng ta không nên chỉ giới hạn trong vẻ đẹp thuộc thể mà thôi; nhân cách đẹp đẽ và sự thuần khiết đạo đức cũng phải được ca ngợi nữa.
    Tầm quan trọng: Tình yêu của chúng ta khiến cho vợ (chồng) ta trở thành đẹp đẽ. Chính vẻ đẹp bên trong mới giữ được cho tình yêu sống mãi. Đừng chỉ tìm vẻ hấp dẫn thuộc thể nơi người vợ (chồng) mà thôi. Hãy tìm những đức tính không phai mờ theo thời gian - tức là sự dấn thân trung thực, nhạy cảm và chân thành thuộc linh.
    Luận đề: Các vấn đề
    Phần giải thích: Với thời gian, các cảm thức cô đơn, dửng dưng và cô độc chen vào giữa Sa-lô-môn và người tình của vua. Trong thời gian ấy, tình yêu ngày càng lạnh nhạt, và nhiều chướng ngại vật đã nảy sinh.
    Tầm quan trọng: Qua việc giao tiếp thận trọng, những người yêu nhau có thể giải hoà với nhau, việc dấn thân cho nhau có thể được làm mới lại, và tính cách lãng mạn được tái lập. Đừng để cho các bức tường ngăn cách mọc lên giữa bạn với người bạn đời. Phải thận trọng coi chừng các vấn đề khi chúng hãy còn bé nhỏ.

    Dẫn nhập Ê-sai
    Các niên đại
    A-mốt thành nhà tiên tri 760 TC
    Ô-sê thành nhà tiên tri 753 TC
    Mi-chê thành nhà tiên tri 742 TC
    Ê-sai thành nhà tiên tri 740 TC
    A-cha làm vua Giu-đa 735 TC
    Ô-sê làm vua Y-sơ-ra-ên 732 TC
    Y-sơ-ra-ên sa vào tay A-sy-ri 722 TC
    Ê-xê-chia làm vua Giu-đa 715 TC
    San-chê-ríp vây Giê-ru-sa-lem 701 TC
    Ma-na-se làm vua Giu-đa 697 TC
    Chức vụ của Ê-sai kết thúc: 681 TC
    Giô-si-a làm vua Giu-đa 640 TC
    Lời giới thiệu
    Ông từ từ đứng dậy, và đám quần chúng im lặng. Những người ở phía sau chồm tới, cố lắng tai nghe. Bầu không khí ngột ngạt. Ông cất tiếng, và những lời lẽ đã được chọn lọc cẩn thận bay nhanh ra như những mũi tên lao thẳng đến đích. Con người vĩ đại, người phát ngôn của Đức Chúa Trời, đang cảnh cáo... và lên án. Đám đông bỗng nhốn nháo -thay đổi vị trí, đưa cao nắm đấm, và lầu bầu. Một số người nhất trí với bức thông điệp của ông, gục gặc đầu, và lặng lẽ khóc. Nhưng số đông lộ vẻ tức giận, và bắt đầu hò hét, thốt ra những lời nhục mạ đe doạ.
    Đó là cuộc đời của một nhà tiên tri.
    “Chức vụ” tiên tri đã được thiết lập trong thời của Sa-mu-ên, là vị quan xét cuối cùng. Các nhà tiên tri đã đứng bên cạnh các thầy tế lễ, với tư cách những người đại diện cho Đức Chúa Trời. Vai trò của nhà tiên tri là thay mặt Đức Chúa Trời để lên tiếng, trực diện với dân chúng và các lãnh tụ của họ bằng các mệnh lệnh và lời hứa của Đức Chúa Trời. Do tư thế đối đầu này và xu hướng bất tuân lệnh Đức Chúa Trời của dân chúng, các nhà tiên tri chân chính thường không mấy được lòng người ta. Nhưng qua bức thông điệp của các vị, vốn thường chẳng được ai để ý, các vị đã trung tín và mạnh dạn tuyên rao chân lý (sự thật).
    Sách Ê-sai là quyển đầu tiên trong số nhiều tác phẩm của các nhà tiên tri trong Thánh Kinh, còn Ê-sai, trước giả sách ấy, đã đươc mọi người xem là nhà tiên tri vĩ đại nhất. Có lẽ ông được sinh ra từ một gia đình quý tộc và đã cưới một nữ tiên tri. Lúc bắt đầu chức vụ, ông vốn được mọi người yêu thích. Nhưng cũng như phần đông các nhà tiên tri, chẳng bao lâu, ông lại bị dân chúng oán ghét vì các thông điệp của ông trở thành khó nghe. ông kêu gọi dân sự hãy xây khỏi cuộc đời tội lỗi của họ và cảnh cáo họ về sự phán xét, trừng phạt của Đức Chúa Trời. Ê-sai đã có một chức vụ tích cực suốt 60 năm trước khi bị hành quyết dưới thời trị vì của Ma-na-se (theo truyền thuyết). Là sứ giả đặc biệt của Đức Chúa Trời cho xứ Giu-đa, Ê-sai đã nói tiên tri qua nhiều đời trị vì của các vua xứ ấy. Nhiều bức thông điệp của ông đã được ghi lại trong sách của ông dưới thời Ô-xia và Giô-tham, các chương 1-6, dưới thời A-cha, các chương 7-14, và dưới thời Ê-xê-chia các chương 15-39.
    Nửa phần đầu của sách Ê-sai (các chương 1-34) là những lời tố giác và công bố cháy bỏng khi ông kêu gọi dân Giu-đa, dân Y-sơ-ra-ên và các dân tộc chung quanh hãy ăn năn tội. Tuy nhiên, 27 chương cuối từ 40-66 lại đầy dẫy lời an ủi và hi vọng khi Ê-sai tiết lộ lời hứa của Đức Chúa Trời về các phước hạnh tương lai qua Đấng Mê-si-a của Ngài.
    Trong khi bạn đọc sách Ê-sai, hãy tưởng tượng về con người mạnh dạn và can đảm này của Đức Chúa Trời đang rao truyền Lời Ngài mà không chút sợ hãi, và hãy lắng nghe bức thông điệp của ông trong mối liên hệ với chính cuộc đời của bạn - về các vấn đề hồi tâm, ăn năn, và được đổi mới. Rồi hãy tin cậy vào sự cứu chuộc qua trung gian Chúa Cứu Thế, hãy vui mừng vì Cứu Chúa của bạn đã đến, và Ngài sẽ tái lâm.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để kêu gọi dân Giu-đa hãy quay về với Đức Chúa Trời và nói về sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời qua trung gian Đấng Mê-si-a.
    Trước giả: Nhà tiên tri Ê-sai, con trai A-mốt
    Niên đại viết sách: Các biến cố từ chương 1 đến 39 xảy ra trong giai đoạn Ê-sai thi hành chức vụ, do đó, có lẽ chúng đã được viết ra vào khoảng trước sau năm 700 TC. Tuy nhiên các chương 40-66 có lẽ đã được viết ra vào gần cuối cuộc đời ông, khoảng trước sau năm 681 TC
    Bối cảnh: Ê-sai đã nói tiên tri và viết sách chủ yếu là tại Giê-ru-sa-lem.
    Câu chìa khoá: EsIs 53:5
    Các nhân vật chính: Ê-sai, hai con trai ông là Sê-a-gia-súp và Ma-he-sa-la-hát-bát.
    Những nét đặc trưng: Sách Ê-sai được viết vừa bằng văn xuôi vừa bằng thơ, và dùng phương pháp nhân cách hoá (gán các phẩm chất của con người cho các thần linh hoặc các đồ vật bất động, vô tri vô giác). Nhiều lời tiên tri của Ê-sai còn là những lời tiên báo, cho biết trước một biến cố sắp xảy đến, đồng thời cũng là một biến cố của một tương lai hãy còn xa.
    Bố cục:
    A. Những lời phán xét (1:1-39:8)
    1. Tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa
    2. Lời phán xét chống lại các dân tộc ngoại đạo
    3. Chủ đích của Đức Chúa Trời trong việc phán xét
    4. Các niềm hi vọng đúng và sai của Giê-ru-sa-lem
    5. Các biến cố trong đời trị vì của Ê-xê-chia
    Trong số 39 chương sách thuộc nửa phần đầu của sách Ê-sai nói chung, mang bức thông điệp về sự phán xét đối với tội lỗi. Ê-sai đem bức thông điệp phán xét đến cho các nước Giu-đa, Y-sơ-ra-ên, và các dân tộc ngoại đạo chung quanh. Giu-đa có một hình thức tin kính đạo đức, nhưng lòng họ thì đã bị băng hoại. Những lời cảnh cáo của Ê-sai có ý định thanh tẩy dân sự bằng cách giúp họ hiểu rõ bản tính chân chính của Đức Chúa Trời và thông điệp của Ngài. Tuy nhiên, họ đã bỏ qua, chẳng đếm xỉa gì đến những lời cảnh cáo cứ được nhắc đi nhắc lại mà Ê-sai đã đem đến. Chúng ta không cần phải tái phạm các sai lầm của họ mà trái lại, phải quan tâm lắng nghe tiếng nói tiên tri.
    B. Những lời an ủi (40:1-66:24)
    1.Dân Y-sơ-ra-ên được giải thoát khỏi cảnh lưu đày
    2. Đấng cứu chuộc trong tương lai
    3. Vương quốc tương lai
    Trong 27 chương thuộc nửa phần thứ hai của sách Ê-sai nói chung, đem đến một bức thông điệp về sự tha tội an ủi, và hi vọng. Bức thông điệp về hi vọng này hướng tới Đấng Mê-si-a sắp giáng lâm. Ê-sai nói về Đấng Mê-si-a nhiều hơn bất cứ một nhà tiên tri nào khác của Cựu ước. Ông mô tả Đấng Mê-si-a vừa là một người đầy tớ thống khổ, đồng thời cũng là một vị Chúa tể. Sự kiện Đấng Mê-si-a sẽ vừa là một đầy tớ thống khổ vừa là một vị Chúa tể rât khó có thể được quán triệt trước thời Tân ước. Căn cứ vào những gì Chúa Cứu Thế Giê-xu đã làm, Đức Chúa Trời đã ban sự tha tội vô điều kiện cho tất cả những ai lấy đức tin quay về với Ngài. Đây là bức thông điệp đầy an ủi cho chúng ta, vì những người chú ý đến nó sẽ tìm được sự bình an và được thông công đời đời với Ngài.
    Các đại đề mục:
    [td Luận đề: Sự thánh khiết
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời vốn được tôn cao trên mọi loài thọ tạo của Ngài. Sự toàn thiện toàn hảo của Ngài tương phản rõ rệt với thói gian ác của các dân các nước. Đức Chúa Trời vốn toàn thiện và vô tội trong mọi động cơ và hành động của Ngài, cho nên Ngài nắm trọn quyền cai trị kiểm soát quyền năng, sự phán xét, tình yêu và đức khoan hồng của mình. Bản tính thánh khiết của Ngài là thước đo tính đạo đức của chúng ta.
    Tầm quan trọng: Vì Đức Chúa Trời vô tội, chỉ một mình Ngài mới có thể giúp được cho chúng ta - vốn đầy tội lỗi. Chúng ta xem Ngài là Đấng cầm quyền tối cao và toàn thiện toàn hảo, là điều phải lẽ mà thôi. Chúng ta không bao giờ nên đối xử với Đức Chúa Trời như với một người ngang hàng hay tầm thường. Chỉ một mình Ngài mới đáng cho chúng ta hiến thân phục vụ và ca ngợi tán tụng. Ngài bao giờ cũng thành tín, tốt bụng và công bằng.
    Luận đề: Sự hình phạt
    Phần giải thích: Vì Đức Chúa Trời thánh khiết, Ngài đòi hỏi người thuộc về Ngài phải đối xử công bằng với người khác. Ngài đã phán sẽ trừng phạt dân Y-sơ-ra-ên, dân Giu-đa, và các dân tộc khác vì tội bất trung, vô đạo và thờ thần tượng. Đức tin thật đã thánh hoá thành thói kiêu ngạo dân tộc và các nghi lễ tôn giáo rỗng tuếch.
    Tầm quan trọng: Chúng ta chỉ phải tin cậy vào một mình Đức Chúa Trời mà thôi, và thi hành trọn vẹn các mệnh lệnh của Ngài. Chúng ta không thể quên mất công lý, cũng không thể nhượng bộ thói vị kỷ. Nếu chúng ta tự làm cho mình cứng lòng đối với thông điệp của Đức Chúa Trời, chắc chắn Ngài sẽ trừng phạt chúng ta.
    Luận đề: Sự cứu rỗi
    Phần giải thích: Vì sự phán xét đã sắp đến của Đức Chúa Trời, chúng ta cần một vị cứu tinh (Cứu Chúa). Nếu không có sự trợ giúp của Đức Chúa Trời, sẽ chẳng có một người nào hoặc dân nào có thể được cứu rỗi cả. Sinh tế (sự hi sinh) trọn vẹn của Chúa Cứu Thế vì tội lỗi chúng ta đã được sách Ê-sai báo trước và tả vẽ. Tất cả những người tin cậy Đức Chúa Trời đều có thể đã được giải thoát khỏi tội lỗi mình và được Ngài phục hồi địa vị cho.
    Tầm quan trọng: Chúa Cứu Thế đã chịu chết để cứu chúng ta khỏi tội. Chúng ta vốn không thể tự cứu lấy mình. Ngài sẵn sàng cứu rỗi tất cả những người xây bỏ tội lỗi mình và đến với Ngài. Sự cứu rỗi chỉ đến từ một mình Đức Chúa Trời mà thôi. Cho dù có bao nhiêu công đức cũng không thể chiếm đoạt, mua chuộc được nó.
    Luận đề: Đấng Mê-si-a
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời sẽ sai Đấng Mê-si-a đến để cứu dân Ngài. Ngài sẽ thiết lập vương quốc cho riêng mình với tư cách Chúa Bình An thành tín, cai trị bằng sự công chính. Ngài sẽ đến với tư cách Chúa tể, nhưng Ngài cũng sẽ làm như thế với tư cách một tên đầy tớ chịu chết đi để cất hết mọi tội lỗi.
    Tầm quan trọng: Chúng ta phải đặt lòng tin vào Đấng Mê-si-a chứ không phải là vào chính mình hay bất kỳ một dân tộc hoặc thế lực nào, ngoài việc tin Ngài ra thì chẳng còn có hi vọng nào khác. Hãy tin cậy trọn vẹn vào Chúa Cứu Thế, và để Ngài cai trị đời sống bạn với tư cách vị Chúa tể.
    Luận đề: Hi vọng
    Phần giải thích: Đức Chúa Trời hứa an ủi, giải cứu và phục hồi địa vị cho chúng ta trong vương quốc tương lai của Ngài. Đấng Mê-si-a sẽ cai trị trên những người tận trung theo Ngài trong đời hầu đến. Chúng ta sở dĩ có thể hi vọng vì Chúa Cứu Thế sắp tái lâm.
    Tầm quan trọng: Chúng ta có thể được trở nên mới vì có sự khoan hồng cho những người biết ăn năn. Cho dù tình trạng của chúng ta có tuyệt vọng đến đâu, hay thế giới của chúng ta có gian ác tới đâu, chúng ta vẫn phải tiếp tục sống như những người tận trung với Đức Chúa Trời, hi vọng vào sự tái lâm của Ngài.

    Dẫn nhập Giê-rê-mi
    Các niên đại
    Sô-phô-ni thành nhà tiên tri năm 640 TC
    Giê-rê-mi thành nhà tiên tri năm 627 TC
    Vua Giô-si-a tử trận năm 609 TC
    Đa-ni-ên bị bắt đi đày năm 605 TC
    Ê-xê-chi-ên bắt đầu nói tiên tri tại Ba-by-lôn năm 593 TC
    Giu-đa sụp đổ: Giê-ru-sa-lem bị phá hủy, chức vụ của Giê-rê-mi kết thúc năm 586 TC
    Những người bị lưu đày hồi hương về Giu-đa lần thứ nhất năm 538 TC
    Lời giới thiệu
    Thành công là gì? Phần lớn các câu định nghĩa đều đề cập việc đạt được các mục đích, trở nên giàu có, được uy tín, đặc ân và thế lực. Người “thành công” được hưởng một đời sống sung sướng - được bảo đảm về các phương diện tiền tài và tình cảm, được nhiều người ái mộ vây quanh, và được hưởng các thành quả của công lao mình. Họ là các lãnh tụ, người tạo ra dư luận quần chúng, và dàn xếp những vụ căng thẳng. gương tốt của họ được noi theo, các thành tựu của họ được chú ý. Họ biết mình là ai và mình đang đi đâu, và họ vẫn tự tin thẳng tiến để đạt các mục đích của mình.
    Nếu theo các định chuẩn này, thì Giê-rê-mi là một người thất bại thảm hại. Ông đã phuc vụ suốt 40 năm với tư cách phát ngôn nhân của Đức Chúa Trời cho xứ Giu-đa, nhưng khi Giê-rê-mi nói, đã chẳng có ai chịu lắng nghe. Ông vẫn kiên trì và nồng nhiệt khuyến giục họ hãy hành động, nhưng đã chẳng có ai chịu nhúc nhích, và điều chắc chắn là ông đã không thành công về mặt vật chất. Ông vốn nghèo và phải chịu thiếu thốn nghiêm trọng để rao truyền các lời tiên tri của mình. Ông đã bị bỏ tù (37:1-21) nhốt vào một hồ nước (38:1-28), và bị bắt đưa sang Ai-cập trái với ý muốn của ông (43:1-13). Ông bị những người láng giềng (11:19-21), gia đình (12:6), các thầy tế lễ và tiên tri giả (20:1; 2:28:1-17), bạn bè (20:10) cử toạ (26:18) và các vua (36:23) chối bỏ. Giê-rê-mi đã đứng một mình suốt đời, công bố các bức thông điệp định mệnh của Đức Chúa Trời, thông báo về giao ước mới, và khóc cho số phận của quê hương yêu dấu của mình. Dưới mắt người thế gian, Giê-rê-mi không phải là một người thành công.
    Nhưng dưới mắt của Đức Chúa Trời, Giê-rê-mi là một trong số những người thành công nhất trong cả lịch sử. Sự thành công theo cách của Đức Chúa Trời, gồm có thái độ vâng lời và trung tín. Bất chấp chông đối và cái giá mà cá nhân ông phải trả, Giê-rê-mi đã can đảm và tận trung truyền giảng Lời Đức Chúa Trời. Ông đã vâng theo tiếng gọi mình. Sách Giê-rê-mi bắt đầu với việc ông được gọi làm một nhà tiên tri, 38 chương tiếp theo đó là những lời tiên tri về xứ Y-sơ-ra-ên (quốc gia thống nhất) và xứ Giu-đa (vương quốc miền Nam). Các chương 2:1-20:18 có tính cách tổng quát và không định được niên đại, còn các chương 21:1-39:18 là riêng biệt và được biết niên đại. Luận đề căn bản của sách Giê-rê-mi rất đơn giản: “Hãy ăn năn và trở lại với Đức Chúa Trời, bằng không, Ngài sẽ trừng phạt”. Thế nhưng sau đó, vì dân sự chối bỏ lời cảnh cáo này, nên Giê-rê-mi chuyển sang nói tiên tri, đặc biệt cho việc phá hủy Giê-ru-sa-lem. Biến cố khủng khiếp này đã được mô tả ở 39:1-18. Mấy chương 40:1-45:5 mô tả các biến cố sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ. Quyển sách kết thúc bằng những lời tiên tri liên quan đến nhiều quốc gia dân tộc (46:1-52:34).
    Trong khi đọc sách Giê-rê-mi, bạn hãy đồng cảm với ông khi ông “hấp hối” trước bức thông điệp mình sắp phải truyền rao, hãy cùng cầu nguyện với ông cho những người không chịu đáp lại với chân lý, và hãy noi gương đức tin và can đảm của ông. Rồi hãy dấn thân tận hiến để được thành công dưới mắt của Đức Chúa Trời.
    Các đăc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm khuyến giục dân sự của Đức Chúa Trời xây bỏ tội lỗi và quay trở lại với Ngài
    Trước giả: Giê-rê-mi
    Đọc giả: Cho Giu-đa (vương quốc miền Nam) và thành phố thủ đô, là Giê-ru-sa-lem
    Niên đại viết sách: Trong giai đoạn Giê-rê-mi thi hành chức vụ, khoảng 625-586 TC
    Bối cảnh: Giê-rê-mi thi hành chức vụ dưới thời trị vì của năm nhà vua cuối cùng của Giu-đa - Giô-si-a, Giô-a-cha, Giê-hô-gia-kim, Giê-hô-gia-kin, và Sê-đê-kia. Đất nước đang trượt nhanh đến sự huỷ diệt và cuối cùng bị Ba-by-lôn chinh phục năm 586 TC (xem IIVua 2V 21:1-25:30). Nhà tiên tri Sô-phô-ni đến trước Giê-rê-mi, còn Ha-ba-cúc là người đồng thời với Giê-rê-mi.
    Câu chìa khoá: “Tội ác ngươi sẽ sửa phạt ngươi, sự bội nghịch ngươi sẽ trách ngươi, nên ngươi khá biết và thấy rằng lìa bỏ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, và chẳng có lòng kính sợ ta, ấy là một sự xấu xa cay đắng, Chúa, là Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy” (Gie Gr 2:19).
    Các nhân vật chính: Các vua Giu-đa (vừa kể trên), Ba-rúc, Ê-bết Mê-lết, vua Nê-bu-cát-nết-sa, người Rê-cáp.
    Các địa danh chính: A-na-tốt, Giê-ru-sa-lem, Ra-ma, Ai-cập.
    Những nét đặc trưng: Sách này là một kết hợp của sử ký, thi ca, và tiểu sử. Giê-rê-mi thường dùng nghĩa bóng (biểu tượng) để truyền rao thông điệp của mình
    Bố cục:
    A. Sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với Giu-đa (1:1-45:5)
    1. Việc kêu gọi Giê-rê-mi
    2. Giê-rê-mi lên án Giu-đa vì tội lỗi nó
    3. Những lời tiên tri về sự hủy diệt của Giê-rê-mi
    4. Giê-rê-mi tố cáo các cấp lãnh đạo của Giu-đa
    5. Lời hứa về việc phục hưng
    6. Sự đoán phạt mà Đức Chúa Trời đã hứa đến.
    Giê-rê-mi thẳng thắn trực diện nhiều người về tội lỗi họ: các vua, các tiên tri giả, những người ở trong các đền miếu của họ, và những người ngoài các cửa thành. Việc chẳng ai sẵn sàng đáp ứng khiến Giê-rê-mi ngạc nhiên tự hỏi việc mình làm có chút lợi ích gì không. Ông thường cảm thấy chán nản và lắm khi cay đắng nữa. Truyền giảng những bức thông điệp đen tối như thế cho những người này quả thật là một nhiệm vụ gay go. Chúng ta cũng có trách nhiệm đem các tin tức này đến cho thế giới đang sa bại này, tức là những kẻ cứ tiếp tục theo các đường lối tội lỗi đã bị dành cho số phận khủng khiếp đời đời của họ. Tuy có lẽ chúng ta cũng đang chán nản vì không được hưởng ứng, chúng ta phải tiếp tục bảo cho người khác biết về hậu quả của tội lỗi và niềm hi vọng mà Đức Chúa Trời đang dành cho họ. Những người chỉ nói cho thiên hạ những gì họ thích nghe, thì bất trung với của Đức Chúa Trời.
    B. Sự phán xét của Đức Chúa Trời trên quốc gia dân tộc (46:1-52:34)
    1. Những lời tiên tri về các dân ngoại
    2. Giê-ru-sa-lem thất thủ
    Giê-ru-sa-lem vẫn còn sống để nhìn thấy các lời tiên tri của ông ứng nghiệm - đáng lưu ý nhất là Giê-ru-sa-lem bị thất thủ. Việc lời tiên tri này và nhiều lời tiên tri khác nữa chống lại các ngoại bang ứng nghiệm chính là hậu quả do tội lỗi gây nên. Những ai không chịu xưng tội, đều tự đưa sự đoán xét đến cho mình.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Tội
    Lời giải thích: Cuộc cải cách của Giô-si-a đã thất bại vì dân sự chỉ ăn năn qua loa mà thôi. Họ cứ tiếp tục sống ích kỷ và thờ thần tượng. Toàn thể các cấp lãnh đạo đều chối bỏ luật pháp và ý chỉ của Đức Chúa Trời đối với dân sự. Giê-rê-mi liệt kê tất cả các tội lỗi của họ, báo trước sự trừng phạt của Đức Chúa Trời, và van nài họ ăn năn.
    Tầm quan trọng: Giu-đa tan rã và gặp đại họa là vì họ cứng lòng chẳng xem Đức Chúa Trời ra gì và không vâng lời Ngài. Khi nào chúng ta xem thường tội lỗi và không chịu nghe lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời, tức là mời gọi sự tàn hại đến. Đừng chỉ cất đi một nửa các tội lỗi mà thôi.
    Luận đề: Sự trừng phạt
    Lời giải thích: Vì cớ tội lỗi, Giê-ru-sa-lem đã bị huỷ diệt, đền thờ bị tàn phá, còn dân chúng thì bị bắt đưa đi đày tận Ba-by-lôn. Dân sự phải chịu trách nhiệm về việc lo bụ huỷ diệt và đưa đi đày, vì không chịu nghe lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trong: Tội lỗi không chịu xưng ra đưa đến việc bị Đức Chúa Trời trừng phạt nặng nề. Đổ tội mình cho người khác chỉ là vô ích - chúng ta phải chịu trách nhiệm với Đức Chúa Trời trước hơn bất kỳ ai khác. Chúng ta phải trả lời về cách sống của mình
    Luận đề: Đức Chúa Trời là Chúa tể tất cả.
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá công chính. Ngài chẳng phải chịu trách nhiệm khai trình với ai cả. Ngài điều khiển thật khôn ngoan và bằng tình yêu toàn thể công trình thọ tạo nhằm hoàn thành các kế hoạch của Ngài, khiến mọi biến cố chuyển biến theo thời biểu của Ngài. Ngài là Chúa tể cả thế gian.
    Tầm quan trọng: Vì quyền năng oai nghiêm và tình yêu của Đức Chúa Trời, bổn phận duy nhất của chúng ta là vâng lời Ngài, đầu phục uy quyền của Ngài. Nhờ theo các kế hoạch của Ngài chứ không phải của riêng chúng ta, chúng ta có được mối liên hệ bằng tình yêu thương với Ngài và tận tâm phục vụ Ngài.
    Luận đề: Những tấm lòng mới
    Lời giải thích: Giê-rê-mi nói tiên tri rằng sau khi quốc gia Y-sơ-ra-ên bị tiêu diệt, Đức Chúa Trời sẽ sai một Đấng Chăn Chiên mới là Đấng Mê-si-a đến. Ngài sẽ đưa họ vào một tương lai mới, một giao ước mới, và một ngày hi vọng mới. Ngài thực hiện việc ấy bằng cách thay đổi những tấm lòng tội lỗi của họ thành những tấm lòng biết yêu mến Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời vẫn phục hưng dân Ngài bằng cách tái tạo tấm lòng của họ, khiến chúng trở nên mới. Tình yêu của Ngài có thể thay đổi các vấn đề do tội lỗi gây ra. Chúng ta được bảo đảm rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho chúng ta một tấm lòng mới nhờ chúng ta biết yêu mến Đức Chúa Trời và tin rằng Chúa Cứu Thế có thể cứu rỗi chúng ta để biết ăn năn tội.
    Luận đề: Trung tín phục vụ
    Lời giải thích: Giê-rê-mi đã trung tín phục vụ Đức Chúa Trời suốt 40 năm. Trong thời gian ấy, dân sự chẳng đếm xỉa gì tới, mà còn chối bỏ, ngược đãi ông. Chức vụ truyền giảng của Giê-rê-mi đã không thành công theo định chuẩn của loài người, thế nhưng ông đã không xao lãng nhiệm vụ. Ông vẫn tận trung với Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Thiên hạ có tiếp nhận hay chối bỏ chúng ta thì không phải là thước đo của sự thành công. Chỉ có sự tán thành của Đức Chúa Trời mới là chuẩn mực phục vụ của chúng ta mà thôi. Chúng ta phải đưa thông điệp của Đức Chúa Trời đến cho tha nhân cả khi bị họ chối bỏ. Chúng ta phải làm công việc của Đức Chúa Trời cả khi điều đó có nghĩa là phải chịu khổ.

    Dẫn nhập Ca Thương
    Lời giới thiệu
    Nước mắt chỉ được định nghĩa đơn giản là “những giọt nước mặn từ đôi mắt chảy ra”. Nguyên nhân tạo ra chúng có thể là bị chọc tức hay cười to, nhưng nó thường thường đi kèm với tiếng khóc, nỗi đau buồn, sầu muộn. Khi chúng ta khóc, bạn bè chúng ta sẽ ngạc nhiên tự hỏi đã có gì bất ổn, và cố tìm cách an ủi chúng ta. Trẻ con thì khóc vì đói, các thiếu nhi thì khóc vì bị mất một món đồ chơi yêu thích; người trưởng thành thì khóc khi bị tổn thương hoặc phải trực diện với cái chết.
    Nỗi buồn của Giê-rê-mi thật sâu xa nên có biệt danh là “nhà tiên tri của sự than khóc”, những giọt lệ của ông đã tuôn trào ra từ một tấm lòng bị tan vỡ. Với tư cách người phát ngôn của Đức Chúa Trời, ông vốn biết rõ những gì đang nằm ở phía trước để chờ đợi xứ Giu-đa là quê hương ông, và Giê-ru-sa-lem, là thủ đô và là “thành phố của Đức Chúa Trời”. Sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống và sự tàn diệt sẽ đến. Cho nên Giê-rê-mi đã khóc. Những giọt lệ của ông không do thói vị kỷ, than khóc cho nỗi đau khổ, mất mát của riêng mình. Sở dĩ ông khóc là vì dân sự đã chối bỏ Đức Chúa Trời mình - là Đức Chúa Trời đã tạo dựng ra họ, yêu thương họ, và đã nhiều lần tìm cách ban phước cho họ. Tấm lòng của Giê-rê-mi sở dĩ đã vỡ tan, là vì ông biết rằng thói vị kỷ và tội lỗi của dân sự sẽ đem đến cho họ nhiều khổ đau và một cuộc lưu đày lâu dài. Những giọt lệ của Giê-rê-mi là những giọt nước mắt thông cảm và ưu ái. Lòng ông đã vỡ tan vì những điều đã làm tan vỡ tấm lòng của Đức Chúa Trời.
    Hai bộ sách của Giê-rê-mi đều tập trung vào cùng một biến cố - sự hủy phá Giê-ru-sa-lem. Sách Giê-rê-mi tiên báo biến cố ấy, và sách Ca thương thì nhìn lui vào biến cố đó. Được mọi người biết với tư cách là tác phẩm của những giọt lệ, cho tang lễ, được sáng tác vì sự sụp đổ của thành phố Giê-ru-sa-lem.
    Điều khiến cho một người phải khóc nói lên rất nhiều điều về con người ấy - chẳng hay người đó chỉ biết nghĩ đến chính mình hay tập trung tất cả vào Đức Chúa Trời. Sách Ca thương cho chúng ta thấy điều gì đã khiến cho Giê-rê-mi đau buồn. Là một trong số các tôi tớ chọn lọc của Đức Chúa Trời, ông đơn độc đứng giữa vực sâu của các cảm xúc, mối bận tâm của ông đối với dân sự, lòng yêu nước, và sự tận hiến cho Đức Chúa Trời của ông. Điều gì khiến bạn đổ lệ? Bạn đã khóc vì thói kiêu ngạo vị kỷ của mình bị tổn thương, hay vì những người chung quanh bạn đang phạm tội chống lại Đức Chúa Trời và chối bỏ Ngài, là Đấng vẫn thiết tha yêu mến họ? Bạn đã khóc vì bị mất một điều gì đó mà bạn rất yêu thích, hay vì những người chung quanh bạn sẽ phải chịu đau khổ vì tội lỗi họ? Thế giới của chúng ta đang đầy dẫy bất công, nghèo đói, chiến tranh và phản loạn chống lại Đức Chúa Trời, tất cả những điều đó đáng lẽ phải gây xúc động đến nỗi chúng ta phải khóc lóc và hành động. Hãy đọc sách Ca thương và học tập vấn đề cùng đau buồn với Đức Chúa Trời có ý nghĩa gì.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để dạy dân sự rằng không vâng lời Đức Chúa Trời tức là mời gọi sự tàn hại, và chứng minh rằng Đức Chúa Trời cùng đau khổ khi dân sự Ngài chịu khổ.
    Trước giả: Giê-rê-mi
    Niên đại viết sách: Ngay sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ năm 586 TC.
    Bối cảnh: Giê-ru-sa-lem đã bị Ba-by-lôn phá hủy và cư dân nó bị tàn sát, tra tấn, hoặc bắt đi đày.
    Câu chìa khoá: “Mắt ta hao mòn vì chảy nước mắt, lòng ta bối rối; Gan ta đổ trên đất, vì sự hủy diệt con gái dân ta. Vì con trẻ và các con đương bú, ngất đi nơi các đường phố trong thành” (CaAc 2:11)
    Các nhân vật chính: Giê-rê-mi, cư dân Giê-ru-sa-lem.
    Địa điểm chính: Giê-ru-sa-lem
    Những nét đặc trưng: Có ba đầu mối của tư tưởng Hy-bá-lai đã gặp nhau trong sách Ca thương: lời tiên tri, nghi lễ và sự khôn ngoan. Sách Ca thương được sáng tác theo nhịp điệu và văn thể của những bài ai ca cổ Do Thái. Nó gồm năm bài thơ tương ứng với năm chương sách (xem chú thích ở CaAc 3:1 và tt)
    Bố cục
    1. Giê-rê-mi than khóc cho Giê-ru-sa-lem (CaAc 1:1-22)
    2. Đức Chúa Trời nổi giận vì cớ tội lỗi (CaAc 2:1-22)
    3. Hi vọng giữa cơn bối rối (CaAc 3:1-66)
    4. Cơn giận của Đức Chúa Trời được thoả mãn (CaAc 4:1-22)
    5. Giê-rê-mi cầu khẩn cho đất nước phục hưng (CaAc 5:1-22)
    Giê-rê-mi đau buồn sâu sắc vì Giê-ru-sa-lem bị phá hủy và đất nước ông bị tàn phá. Nhưng đến giữa quyển sách trong cơn sầu muộn sâu sắc, đã có một tia hi vọng. Lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời vốn vô sở bất tại. Lòng thành tín của Ngài thật bao la. Giê-rê-mi nhận thức được rằng chỉ có lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời mới ngăn chận được tình trạng bị tiêu diệt hoàn toàn. Sách này cho chúng ta biết các hậu quả nghiêm trọng của tội lỗi loài người và thế nào chúng ta vẫn còn hi vọng giữa tấn thảm kịch, vì Đức Chúa Trời có thể biến đổi mọi sự để trở thành tốt lành, lợi ích. Chúng ta hiểu rằng thời gian không ảnh hưởng đến tầm quan trọng của việc cầu nguyện và xưng tội. Tất cả chúng ta đều đang trực diện với tấn thảm kịch của đời sống. Nhưng giữa những cơn bối rối hoang mang đó, vẫn còn có hi vọng nơi Đức Chúa Trời.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Giê-ru-sa-lem bị phá hủy
    Lời giải thích: Ca thương là một bài ai ca dành cho tang lễ của thành phố Giê-ru-sa-lem vĩ đại, thủ đô của dân Do Thái. Đền thờ đã bị san bằng, nhà vua bị bắt đi, còn dân chúng thì phải lưu đày. Đức Chúa Trời từng cảnh cáo rằng Ngài sẽ tiêu diệt họ nếu họ từ bỏ Ngài. Giờ đây, nghĩa là chỉ sau đó, dân sự mới nhận ra tình trạng của họ và xưng nhận tội lỗi mình.
    Tầm quan trọng: Lời cảnh cáo của Đức Chúa Trời đã được chứng minh là đúng. Ngài luôn luôn làm điều mà Ngài bảo là Ngài sẽ làm. Sự trừng phạt tội lỗi là điều chắc chắn. Chỉ nhờ xưng nhận và thôi phạm tội, chúng ta mới có thể quay trở về với Ngài và được giải cứu. Làm như thế trước khi những lời cảnh cáo của Ngài ứng nghiệm thì tốt hơn biết bao nhiêu!
    Luận đề: Sự nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Lòng thương xót của Đức Chúa Trời vẫn vận hành cả lúc dân Y-sơ-ra-ên phải chịu hoạn nạn dưới tay những người Ba-by-lôn đang chinh phục họ. Tuy dân sự bất trung với Ngài, sự thành tín của Đức Chúa Trời vẫn là lớn lao. Ngài lợi dụng các hoạn nạn này để đưa dân sự quay trở lại với Ngài.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời luôn luôn thành tín với dân Ngài. Công việc tinh luyện đầy khoan dung của Ngài thật là rõ ràng, cả trong hoạn nạn khó khăn. Trong những trường hợp như thế, chúng ta phải cầu xin để được tha thứ, quay lại với Ngài để được giải cứu.
    Luận đề: Các hậu quả của tội lỗi
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời buồn giận vì dân Ngài cứ kéo dài tình trạng phản loạn. Tội lỗi là nguyên nhân cảnh khổ của họ, còn sự hủy diệt là hậu quả dành cho tội lỗi của họ. Đất nước dân tộc bị hủy diệt chứng minh rằng vinh quang và thói kiêu ngạo của loài người chỉ là hư không.
    Tầm quan trọng: Tiếp tục phản loạn cùng Đức Chúa Trời là tự chuốc lấy tai hoạ. Chúng ta đừng bao giờ để lòng tin cậy vào tài lãnh đạo, các nguồn tài nguyên, trí thông minh hay năng lực của mình hơn là tin cậy Đức Chúa Trời. Nếu làm như thế, chúng ta sẽ gặt hái những hậu quả tương tự như thành phố Giê-ru-sa-lem vậy
    Luận đề: Hi vọng
    Lời giải thích: Lòng thương xót của Đức Chúa Trời khi chừa lại một số người ban cho họ niềm hi vọng về những ngày tốt đẹp hơn. Sẽ có một ngày dân Y-sơ-ra-ên được đưa trở lại để có được một mối liên hệ thật sự thắm thiết với Đức Chúa Trời
    Tầm quan trọng: Chỉ một mình Đức Chúa Trời mới cứu được chúng ta thoát khỏi tội lỗi. Nếu không có Ngài, sẽ chẳng có an ủi hi vọng gì cho tương lai cả. Nhờ sự chết của Chúa Cứu Thế thay cho chúng ta, và lời hứa sẽ tái lâm của Ngài, chúng ta có được niềm hi vọng tươi sáng cho tương lai.

    Dẫn nhập Ê-xê-chi-ên
    Các niên đại
    Giê-rê-mi trở thành nhà tiên tri cho Giu-đa năm 627 TC.
    Đa-ni-ên bị bắt và đày sang Ba-by-lôn năm 605 TC.
    Ê-xê-chi-ên bị bắt và đày sang Ba-by-lôn năm 507 TC.
    Giu-đa thất thủ, Giê-ru-sa-lem bị há huỷ năm 586 TC.
    Chức vụ của Ê-xê-chi-ên kết thúc năm 571 TC.
    Ba-by-lôn bị Si-ru lật đổ năm 539 TC.
    Những người lưu đày đầu tiên hồi hương về Giu-đa năm 538 TC.
    Lời giới thiệu
    Một máy vi tính có thể được ”lập trình” để đáp lại lệnh truyền của bạn. Và bằng cách dạy một con chó “theo điều kiện” là thưởng và phạt, bạn có thể khiến nó vâng lời. Nhưng như tất cả các bậc làm cha mẹ đều biết, trẻ con không phải là dễ dạy như thế. Con người ta có ý chí và phải lựa chọn để đầu phục, để noi theo lời chỉ giáo của cha mẹ và các cấp lãnh đạo. Sửa trị chắc chắn là một phần của tiến trình ấy - các bé trai bé gái cần phải biết hậu quả của sự không chịu vâng lời - nhưng phải có một sự lựa chọn. Chúng không phải là những người máy hay những con vật.
    Con cái Đức Chúa Trời phải học tập vâng lời Cha trên trời của mình. Do được tạo dựng theo hình tượng của Ngài, họ được quyền chọn lựa, và Đức Chúa Trời cho phép họ lựa chọn.
    Ê-xê-chi-ên là một người chọn vâng lời Đức Chúa Trời. Tuy là một thầy tế lễ (Exe Ed 1:3), ông lại phục vụ với tư cách một “nhà truyền đạo của đường phố” người Do-thái tại Ba-by-lôn suốt 22 năm, báo cho tất cả mọi người biết về sự phán xét và sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời, kêu gọi họ hãy ăn năn và vâng lời. Và Ê-xê-chi-ên đã sống theo những gì mình truyền giảng. Suốt cuộc đời thi hành chức vụ của ông, Đức Chúa Trời đã dạy ông minh hoạ các bức thông điệp của mình bằng những bài học cụ thể đầy kịch tính. Một số trong các hành động đó gồm có: 1. Nằm nghiêng chỉ một bên suốt 390 ngày; mỗi ngày chỉ ăn hai mươi siếc-lơ (khoảng ¼ ký lô) lương thực nấu chín bằng phân người, 2. Cạo sạch tóc và râu, và 3. Không bộc lộ đau buồn lúc vợ ông chết. Ông đã vâng lời và trung tín rao giảng Lời Đức Chúa Trời.
    Có lẽ Đức Chúa Trời không kêu gọi bạn làm bất cứ một việc gì đầy kịch tính hoặc khó khăn như thế, nhưng nếu Ngài dạy như thế, bạn sẽ làm không?
    Sách Ê-xê-chi-ên chép lại cuộc đời và chức vụ của Ê-xê-chi-ên theo thứ tự thời gian. Bắt đầu với tiếng gọi ông làm nhà tiên tri rồi được sai phái với tư cách “người canh giữ nhà Y-sơ-ra-ên” (chương 1-3), Ê-xê-chi-ên đã tức khắc bắt đầu truyền giảng và chứng minh chân lý của Đức Chúa Trời, như khi ông tiên báo cuộc vây hãm và huỷ diệt sắp tới đối với Giê-ru-sa-lem (chương 4-24). Sự tàn phá này là Đức Chúa Trời trừng phạt tội thờ thần của dân sự. Ê-xê-chi-ên thách thức họ hãy xây bỏ các đường lối xấu xa gian ác. Trong đoạn kế tiếp, ông đề cập các lân quốc của Y-sơ-ra-ên, nói tiên tri rằng Đức Chúa Trời cũng sẽ phán xét họ vì cớ tội lỗi của họ nữa (chương 25-32). Quyển sách được kết thúc bằng một bức thông điệp đầy hi vọng, khi Ê-xê-chi-ên rao truyền đức thành tín của Đức Chúa Trời và báo trước các phước hoạ cho dân sự của Đức Chúa Trời trong tương lai (chương 33-48).
    Trong khi bạn đọc phần ký thuật đầy phấn khởi này, hãy theo dõi Ê-xê-chi-ên trong khi ông truyền giảng lời Đức Chúa Trời cho những người Do-thái đang bị lưu đày trên các đường phố Ba-by-lôn mà không chút sợ hãi, và hãy lắng nghe chân lý về tình yêu và quyền năng phi thời gian của Đức Chúa Trời. Hãy suy nghĩ về trách nhiệm của từng người trong vấn đề tin cậy Đức Chúa Trời và về cuộc phán xét không tránh né vào đâu được của Đức Chúa Trời chống lại các tội thờ thần tượng, phản loạn và lãnh đạm dửng dưng. Rồi hãy dấn thân vâng lời Đức Chúa Trời trong bất cứ việc gì, bất luận lúc nào và nơi nào Ngài yêu cầu.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để thông báo sự phán xét của Đức Chúa Trời trên dân Y-sơ-ra-ên và các dân tộc khác, và báo trước sự cứu rỗi cuối cùng dành cho dân sự Ngài.
    Trước giả: Ê-xê-chi-ên, con trai Bu-xi, một thầy tế lễ thuộc dòng dõi Xa-đốc.
    Đọc giả: Cho những người Do-thái bị lưu đày tại Ba-by-lôn, và dân sự của Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Khoảng trước sau năm 571 TC.
    Bối cảnh: Ê-xê-chi-ên là một người đồng thời nhưng trẻ hơn Giê-rê-mi. Trong khi Giê-rê-mi thi hành chức vụ cho số dân chúng vẫn còn ở lại trong xứ Giu-đa, thì Ê-xê-chi-ên nói tiên tri cho những người đã bị lưu đày sang Ba-by-lôn sau khi Giê-hô-gia-kin bị đánh bại. Ông đã bị bắt đưa sang đó năm 597 TC.
    Câu chìa khoá: “Ta sẽ thâu lấy các ngươi khỏi giữa các dân; ta sẽ nhóm các ngươi lại từ mọi nước, và đem về trong đất riêng của các ngươi. Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi. Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi, và đặt thần mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi thịt các ngươi, và ban cho các ngươi lòng bằng thịt” (Exe Ed 24-26)
    Các nhân vật chính: Ê-xê-chi-ên, các cấp lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên, vợ của Ê-xê-chi-ên, Nê-bu-cát-nết-sa, “nhà vua”.
    Các địa điểm chính: Giê-ru-sa-lem, Ba-by-lôn, và Ai-cập
    Bố cục:
    A. Các bức thông điệp định mệnh (Exe Ed 1: 1-24:27)
    1. Ê-xê-chi-ên được kêu gọi và sai phái.
    2. Các khải tượng về tội lỗi và sự phán xét.
    3. Sự trừng phạt chắc chắn.
    Trong lúc Giê-rê-mi nói tiên tri tại Giê-ru-sa-lem rằng thành phố này chẳng bao lâu nữa sẽ bị sa vào tay người Ba-by-lôn, thì Ê-xê-chi-ên cũng rao truyền một bức thông điệp y như thế cho những tù binh đã có mặt tại Ba-by-lôn. Cũng như những người còn ở lại Giê-ru-sa-lem, nhưng tù binh đã bị đưa đi đày rồi này vẫn ngoan cố tin tưởng rằng Giê-ru-sa-lem sẽ không thất thủ, và rằng chẳng bao lâu nữa, họ sẽ được hồi hương. Ê-xê-chi-ên cảnh cáo rằng sự trừng phạt là chắc chắn vì cớ tội lỗi của họ, và rằng Đức Chúa Trời đang luyện lọc dân sự Ngài. Đức Chúa Trời sẽ luôn luôn trừng phạt tội lỗi, cho dù chúng ta có tin như thế hay không.
    B. Các bức thông điệp chống các ngoại bang (Exe Ed 32:1-32)
    Ê-xê-chi-ên kết án các hành động tội lỗi của bảy nước. Các dân tộc trong các quốc gia này bảo rằng Đức Chúa Trời rõ ràng là quá yếu đuối, không bảo vệ được cho dân mình và thành phố Giê-ru-sa-lem. Nhưng Đức Chúa Trời đã để cho dân Ngài bị đánh bại hầu trừng phạt họ vì tội lỗi họ. Tuy nhiên các quốc gia ngoại đạo này cũng sẽ phải đương đầu với cùng một số phận tương tự, và chừng đó, họ sẽ biết rằng Đức Chúa Trời vốn toàn năng. Những ai dám chê cười Đức Chúa Trời hôm nay cũng sẽ phải đối đầu với cùng một số phận khủng khiếp y như thế.
    C. Các bức thông điệp về hi vọng (Exe Ed 48:35)
    1. Phục hưng dân sự Đức Chúa Trời
    2. Phục hưng việc thờ phượng Đức Chúa Trời.
    Sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ, E-xê-chi-ên truyền rao các bức thông điệp về sự phục hồi địa vị cho họ trong tương lai và niềm hi vọng cho dân sự. Đức Chúa Trời là thánh, nhưng Giê-ru-sa-lem và đền thờ đã bị ô uế. Dân sự phải được thanh tẩy qua 70 năm lưu đày. Ê-xê-chi-ên đưa ra một bức tranh sống động về sự thánh khiết bất biến của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng phải có được một khải tượng về vinh quang của Đức Chúa Trời, một ý thức tươi mới về tính cách vĩ đại của Ngài trong khi trực diện với những cuộc chiến đấu trong sinh hoạt hằng ngày.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời
    Phần giải thích: Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng tiết lộ sự trọn vẹn đạo đức tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Về các phương diện thuộc linh và đạo đức, Đức Chúa Trời vốn cao hơn các thành viên trong xã hội băng hoại và thích thoả hiệp của dân Y-sơ-ra-ên. Ê-xê-chi-ên viết sách để cho dân Y-sơ-ra-ên biết rằng Đức Chúa Trời cũng đang hiện diện tại Ba-by-lôn chứ không phải chỉ có mặt tại Giê-ru-sa-lem mà thôi.
    Tầm quan trọng: Vì Đức Chúa Trời vốn trọn vẹn về mặt đạo đức, Ngài có thể giúp chúng ta sống vượt trên xu hướng muốn thoả hiệp với thế gian của chúng ta. Khi nào chúng ta tập trung chú ý vào tính cách vĩ đại của Ngài, Ngài sẽ ban cho chúng ta năng lực để thắng hơn tội lỗi và phản chiếu vinh quang Ngài.
    Luận đề: Tội lỗi
    Phần giải thích: Dân sự đã phạm tội, và sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ đến. Việc Giê-ru-sa-lem thất thủ và cuộc lưu đày sang Ba-by-lôn được Đức Chúa Trời sử dụng để sửa trị những kẻ phản loạn và kéo họ ra khỏi nếp sống tội lỗi. Ê-xê-chi-ên cảnh cáo họ rằng không những toàn dân phải chịu trách nhiệm về tội lỗi, mà từng cá nhân cũng có trách nhiệm trước mặt Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng: Chúng ta không thể chối bỏ trách nhiệm của mình trước mặt Đức Chúa Trời. Chúng ta phải chịu trách nhiệm đối với Đức Chúa Trời về các chọn lựa của mình. Thay vì chẳng đếm xỉa gì đến Ngài, chúng ta phải thừa nhận tội lỗi y như nó vốn có - tức là sự phản loạn chống lại Đức Chúa Trời - để chọn phải thay vào đó bằng việc noi theo Ngài
    Luận đề: Phục hưng
    Phần giải thích: Ê-xê-chi-ên an ủi dân sự bằng cách bảo với họ rằng Đức Chúa Trời sẽ có ngày phục hồi địa vị cho những người chịu xây bỏ tội lỗi. Đức Chúa Trời sẽ làm Vua và là Đấng Chăn giữ họ. Ngài sẽ ban cho dân sự Ngài một tấm lòng mới để thờ phượng Ngài, và Ngài sẽ thiết lập một chính quyền và một ngôi đền thờ mới.
    Tầm quan trọng: Tính cách chắc chắn của sự phục hưng trong tương lai khích lệ cho các tín hữu trong thời gian gặp thử thách. Nhưng chúng ta phải trung tín với Đức Chúa Trời và yêu mến Ngài, chứ không phải chỉ vì những gì Ngài có thể làm cho chúng ta. Đức tin của chúng ta là đặt vào chính Ngài hay chỉ vì các lợi lộc tương lai của riêng chúng ta?
    Luận đề: Các cấp lãnh đạo
    Phần giải thích: Ê-xê-chi-ên lên án những kẻ chăn (các thầy tế lễ và cấp lãnh đạo bất trung) đã dẫn dân sự đi lạc. Trái lại ông phục vụ như một người chăn hay chăm sóc và người canh giữ trung tín để cảnh cáo dân sự về tội lỗi họ. Có ngày Đấng Chăn Chiên trọn vẹn của Đức Chúa Trời là Đấng Mê-si-a sẽ đến để chăn dắt dân sự Ngài.
    Tầm quan trọng: Chúa Giê-xu là lãnh tụ trọn vẹn của chúng ta. Nếu chúng ta thật sự mong Ngài hướng dẫn mình, sự cống hiến của chúng ta phải nhiều hơn là lời nói suông. Nếu chúng ta được giao trách nhiệm hướng dẫn người khác, phải quan tâm chăm sóc họ cả khi việc làm đó có nghĩa là phải hi sinh thú vui, hạnh phúc, thì giờ, hoặc tiền bạc cá nhân. Chúng ta có trách nhiệm đối với những người mà mình hướng dẫn.
    Luận đề: Sự thờ phượng
    Phần giải thích: Một thiên sứ cho Ê-xê-chi-ên thấy một khải tượng về ngôi đền thờ với đầy đủ chi tiết. Sự hiện diện thánh khiết của Đức Chúa Trời đã lìa khỏi dân Y-sơ-ra-ên và đền thờ vì cớ tội lỗi. Việc xây lên một ngôi đền thờ trong tương lai tả vẽ việc vinh quang và hiện diện của Đức Chúa Trời sẽ quay lại. Có ngày Đấng Chăn Chiên trọn vẹn của Đức Chúa Trời, là Đấng Mê-si-a sẽ thanh tẩy dân sự Ngài và vãn hồi sự thờ phượng chân chính.
    Tầm quan trọng: Tất cả các lời hứa của Đức Chúa Trời đều sẽ ứng nghiệm dưới thời trị vì của Đấng Mê-si-a. Những người tận trung theo Đức Chúa Trời sẽ phục hồi mối tương giao trọn vẹn với Đức Chúa Trời và với nhau.Muốn chuẩn bị cho thời kỳ đó, chúng ta phải tập trung chú ý vào Đức Chúa Trời. Chúng ta thực hiện việc ấy nhờ thờ phượng đều đặn. Qua sự thờ phượng chúng ta học về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và những thay đổi phải có trong cách sống mỗi ngày của chúng ta.

    Dẫn nhập Đa-ni-ên
    Các niên đại
    Đa-ni-ên bị bắt đày sang Ba-by-lôn năm 605 TC.
    Ex-ê-chi-ên trở thành nhà tiên tri cho những kẻ bị lưu đày năm 593 TC.
    Giu-đa thất thủ, Giê-ru-sa-lem bị phá huỷ; chức vụ của Giê-rê-mi kết thúc năm 586 TC.
    Khải tượng thứ nhất của Đa-ni-ên năm 553 TC.
    Ba-by-lôn bị lật đổ, Đa-ni-ên bị ném cho sư tử, năm 539 TC.
    Những kẻ bị lưu đày đầu tiên trở về xứ Giu-đa, năm 538 TC.
    Chức vụ của Đa-ni-ên kết thúc năm 536 TC.
    Lời giới thiệu
    Một cơn động đất làm rung chuyển phần nền móng của sự an ninh của chúng ta; một cơn bão lốc cuốn đi tài sản thu thập cả một đời người; một quả lựu đạn của kẻ sát nhân làm thay đổi cả lịch sử; một tài xế say rượu giết chết một nạn nhân vô tội; một cuộc ly dị phá tan cả một gia đình. Những tấn thảm kịch quốc tế và cá nhân biến thế giới của chúng ta thành một nơi đáng sợ, đầy dẫy những điều xấu xa gian ác và có vẻ như vượt quá mọi kiểm soát và bài kinh cầu nguyện dâng lên vì những vụ nổ bom, đảo chính, sát nhân, và tai hoạ thiên nhiên có thể khiến chúng ta nghĩ rằng Đức Chúa Trời đang vắng mặt hoặc bất năng vô quyền. Chúng ta gào lên: “Đức Chúa Trời ở đâu?”, vì bị chìm ngập trong đau buồn, thất vọng.
    Hai mươi lăm thế kỷ trước đây, chắc Đa-ni-ên cũng đã thất vọng. Ông cùng với hằng ngàn đồng bào mình đã bị đày sang một xứ lạ sau khi Giu-đa bị chinh phục. Đa-ni-ên tự thấy mình phải trực diện với một vị vua độc tài ích kỷ, bị những kẻ thờ thần tượng vây quanh. Thay vì đầu hàng hoặc bỏ cuộc, chàng thanh niên can đảm này đã bám chặt lấy đức tin đặt vào Đức Chúa Trời của mình. Đa-ni-ên biết rằng bất chấp mọi hoàn cảnh, Đức Chúa Trời vẫn đang cầm quyền tể trị và đang thực hiện kế hoạch của Ngài đối với các dân tộc và từng cá nhân. Sách Đa-ni-ên tập trung chung quanh chân lý sâu nhiệm này: quyền tể trị của Đức Chúa Trời.
    Sau một phần ký thuật vắn tắt việc Nê-bu-cát-nết-sa vây hãm và đánh bại Giê-ru-sa-lem khung cảnh chuyển nhanh sang Đa-ni-ên và ba bạn thân của ông là Ha-na-nia, Mi-sa-ên, và A-xa-ria (Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết Nê-gô). Các nhân vật này đang giữ địa vị quan trọng trong chính phủ Ba-by-lôn. Cá biệt là Đa-ni-ên sở dĩ được địa vị như thế là nhờ tài giải mộng của ông cho nhà vua, là những giấc mơ đã tiết lộ kế hoạch của Đức Chúa Trời (DaDn 2:1-49DaDn 4:1:37). Nằm giữa các giấc mơ đó là phần ký thuật hấp dẫn về ba người bạn thân của Đa-ni-ên với lò lửa hực (DaDn 3:1-30). Do không chịu quỳ gối trước một pho tượng bằng vàng, họ đã bị kết án phải nhận lấy một cái chết dữ dội. Nhưng Đức Chúa Trời đã can thiệp và cứu mạng họ.
    Bên-xát-sa cai trị Ba-by-lôn sau Nê-bu-cát-nết-sa, và DaDn 5:1-31 kể lại cuộc chạm trán của vua ấy với bức thông điệp của Đức Chúa Trời được viết trên tường. Đa-ni-ên được vời đến để lý giải bức thông điệp ấy, tiên báo rằng Ba-by-lôn sẽ sa vào tay người Mê-đi và Ba-tư. Lời tiên báo ấy ứng nghiệm ngay trong đêm đó, và Đa-ri-út người Mê-đi chiếm được vương quốc Ba-by-lôn.
    Đa-ni-ên trở thành một trong những cố vấn tín cẩn nhất của Đa-ri-út. Địa vị được nhiều đặc quyền của ông khiến cho các đại thần khác tức giận và họ đã âm mưu sát hại ông bằng cách thuyết phục nhà vua ban hành một chiếu chỉ đặt người cầu nguyện ra ngoài vòng pháp luật. Bất chấp sắc luật ấy, Đa-ni-ên vẫn tiếp tục cầu nguyện với Đức Chúa Trời là Đấng đang cầm quyền tể trị của mình. Hệ quả là ông bị kết án tử hình và bị xử bằng cách ném vào hang của những con sư tử đang đói. Một lần nữa, Đức Chúa Trời lại can thiệp và cứu ông; bầy sư tử dường như bị bịt miệng nên chẳng hại ông được (DaDn 6:1-28).
    Sách Đa-ni-ên kết thúc bằng một loạt các khải tượng của Đa-ni-ên dưới thời trị vì của Bên-xát-sa (DaDn 7:1-8:27), Đa-ri-út (DaDn 9:1-27) và Si-ru (các DaDn 10:1-12:13). Các giấc mơ ấy đã phác hoạ kế hoạch tương lai đầy kịch tính của Đức Chúa Trời bắt đầu với Ba-by-lôn, và tiếp tục cho đến kỳ sau rốt. Chúng đưa ra một cái nhìn tiên tri về sự cứu chuộc của Đức Chúa Trời và được gọi là chiếc chìa khoá cho toàn thể lời tiên tri trong Thánh Kinh.
    Đức Chúa Trời đang cầm quyền tể trị, Ngài đang cai trị trên Ba-by-lôn và đang vận hành trong lịch sử, kiểm soát số phận của mọi người từ ấy đến nay. Và Ngài vẫn hiện diện ngay lúc này đây! Bất chấp các bài phóng sự trên báo chí hay sự căng thẳng trăn trở cá nhân, chúng ta có thể tin quyết rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền kiểm soát. Trong khi đọc sách Đa-ni-ên, bạn hãy theo dõi công việc mà Đức Chúa Trời đang làm để cảm nhận được sự an toàn của mình trong quyền tể trị của Ngài.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để đưa ra một phần ký thuật về số người Do-thái trung tín đã sống lưu đày, và để chứng minh cách thức Đức Chúa Trời đang cầm quyền kiểm soát cả trên trời lẫn dưới đất này, thế nào Ngài đang điều khiển các lực lượng thiên nhiên, số phận của các dân các nước, và vẫn chăm sóc cho những người thuộc về Ngài.
    Trước giả: Đa-ni-ên
    Đọc giả: Cho các tù binh khác tại Ba-by-lôn và cho những người thuộc về Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Trước sau năm 535 TC ghi lại các biến cố đã xảy ra khoảng từ các năm 605-535 C.
    Bối cảnh: Đa-ni-ên bị Nê-bu-cát-nết-sa bắt làm tù binh và đày sang Ba-by-lôn năm 605 TC. Tại đó, ông phục vụ trong chính quyền khoảng 60 năm dưới thời trị vì của các vua Nê-bu-cát-nết-sa, Bên-xát-sa, Đa-ri-út và Si-ru.
    Câu chìa khoá: “Chính Ngài tỏ ra những sự sâu xa kín nhiệm; Ngài biết những sự ở trong tối tăm, và sự sáng ở với ngài” (DaDn 2:22)
    Các nhân vật chính: Đa-ni-ên, Nê-bu-cát-nết-sa, Sa-đơ-rắc, Mê-sác, A-bết Nê-gô, Bên-xát-sa, Đa-ri-út.
    Các địa điểm chính: Cung điện của Nê-bu-cát-nết-sa, lò lửa hực, bữa đại yến của Bên-xát-sa, hang sư tử.
    Những nét đặc trưng: Các khải tượng khải huyền của Đa-ni-ên (các DaDn 8:1-12:13) đưa một cái nhìn sơ lược vào kế hoạch của Đức Chúa Trời cho các thời đại, kể cả một lời tiên tri trực tiếp về Đấng Mê-si-a.
    Bố cục:
    A. Cuộc đời của Đa-ni-ên (DaDn 1:1-6:28)
    Đa-ri-út và ba người bạn thân của ông được chọn để được ăn các thức ăn của nhà vua. Nhưng họ đã không chịu quỳ lạy pho tượng của vua, dù phải nhận sự trừng phạt là án tử hình. Đa-ni-ên vẫn tiếp tục cầu nguyện dù biết rằng ông có thể bị rình mò và chịu xử tử. Các nhân vật này đã nêu gương cho chúng ta về một cuộc đời tận trung với Đức Chúa Trời giữa thế gian đầy tội lỗi. Khi gặp thử thách, chúng ta có thể trông mong Đức Chúa Trời cứ hiện diện với chúng ta qua những thử thách đó. Nguyện Đức Chúa Trời ban cho chúng ta cùng một lòng can đảm như thế để cứ giữ trung tín khi bị áp lực.
    B.Các khải tượng của Đa-ni-ên (DaDn 7:1-12:13)
    Các khải tượng này thêm vào cho những người bị bắt đi đày niềm tin quyết rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền kiểm soát lịch sử. Họ phải kiên nhẫn chờ đợi và lấy đức tin mà sống, không thờ lạy các thần tượng của Ba-by-lôn hay chấp nhận nếp sống của họ. Đức Chúa Trời vẫn cai trị trên mọi hoạt động của loài người. Điều ác rồi sẽ bị đánh bại, cho nên chúng ta phải kiên trì chờ đợi, không nhượng bộ trước các cám dỗ và áp lực của nếp sống tội lỗi quanh mình.
    Các đại đề mục:
    [td Luận đề: Đức Chúa Trời cầm quyền kiểm soát
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời là Đấng toàn tri, và Ngài chịu trách nhiệm về mọi biến cố xảy ra trên thế gian. Đức Chúa Trời thống trị và truất quyền các lãnh tụ phản loạn, thách thức Ngài. Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng kẻ ác, chẳng trừ một ai. Nhưng Ngài sẽ giải cứu người trung tín theo Ngài
    Tầm quan trọng: Tuy hiện nay các dân các nước đang tranh nhau kiểm soát thế gian này, nhưng có một ngày vương quốc của Chúa Cứu Thế sẽ thay thế họ và vượt trên các vương quốc của đời này. Đức tin của chúng ta được bảo đảm, vì tương lai của chúng ta được bảo đảm an toàn trong Chúa Cứu thế. Chúng ta phải can đảm và đặt đức tin vào Đức Chúa Trời, là Đấng đang cai trị kiểm soát mọi sự
    Luận đề: Chủ đích của đời sống
    Lời giải thích: Đa-ni-ên và ba người bạn của ông là những thí dụ về sự tận hiến và dấn thân. Họ quyết định phục vụ Đức Chúa Trời bất chấp mọi hậu quả. Họ không nhượng bộ các áp lực của một xã hội bất kính vô đạo vì họ vốn có một chủ đích rõ ràng cho đời sống.
    Tầm quan trọng: Chỉ tin cậy và vâng lời một mình Đức Chúa Trời mà thôi, xem đó là chủ đích cho đời sống mình, là một quyết định khôn ngona. Điều này sẽ hướng dẫn và ban bình an cho đời sống chúng ta, bất chấp mọi hoàn cảnh và hậu quả. Chúng ta phải không tuân phục bất cứ ai bảo chúng ta không vâng lời Đức Chúa Trời. Điều mà chúng ta đầu phục trước tiên phải là Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Kiên trì nhẫn nhục
    Lời giải thích: Đa-ni-ên phục vụ 70 năm trên một xứ xa lạ, thù địch với Đức Chúa Trời, thế nhưng ông đã không “pha loãng” đức tin đặt vào Đức Chúa Trời của mình. Ông trung tín, kiên trì cầu nguyện mà chẳng màng thế lực và sự vinh hiển cho riêng mình.
    Tầm quan trọng: Muốn đạt chủ đích của đời sống mình, bạn cần có năng lực bền vững. Đừng để cho điều phân biệt bạn là một Cơ-đốc nhân bị xoá nhoà đi. Phải cầu nguyện không thôi, giữ vững thái độ trung thực và vui vẻ, phục vụ Đức Chúa Trời bất cứ Ngài đặt bạn tại đâu.
    Luận đề: Sự thành tín của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời thành tín với Đa-ni-ên qua suốt cuộc đời ông. Ngài giải cứu ông khỏi nhà tù, khỏi hang sư tử, và khỏi các kẻ thù ghen ghét ông. Đức Chúa Trời lo lắng chăm sóc cho người thuộc về Ngài và nhẫn nhục trong cách đối xử với họ.
    Tầm quan trọng: Chúng ta có thể tin cậy rằng Đức Chúa Trời sẽ ở cùng chúng ta qua mọi thử thách vì Ngài đã hứa là sẽ có mặt tại đó. Vì Ngài thành tín với chúng ta, chúng ta phải tận trung với Ngài.

    Dẫn nhập Ô-sê
    Các niên đại
    Giê-rô-bô-am II lên ngôi vua Y-sơ-ra-ên năm 793 TC.
    A-mốt trở thành một nhà tiên tri năm 760 TC.
    Ô-sê trở thành một nhà tiên tri; Xa-cha-ri, vua Y-sơ-ra-ên, bị giết năm 753 TC.
    Vua Sa-lem, của Y-sơ-ra-ên bị giết năm 752 TC.
    Tiếc-la Phi-lê-se xâm lăng Y-sơ-ra-ên năm 743 TC
    Mi-chê trở thành một nhà tiên tri cho Giu-đa năm 742 TC.
    Ê-sai trở thành một nhà tiên tri cho Giu-đa năm 740 TC.
    Y-sơ-ra-ên (vương quốc miền Bắc) sụp đổ năm 722 TC.
    Chức vụ của Ô-sê kết thúc năm 715 TC.
    Lời giới thiệu
    Chú rể đứng chăm chú trong tiếng nhạc tràn lan, và cô dâu khoác tay cha mình bắt đầu những bước chầm chậm trên lối đi dài giữa hai hàng ghế trong nhà thờ. Nụ cười có hơi sốt ruột của người chuẩn bị làm chồng theo dõi từng bước đi của nàng, đôi mắt tràn ngập tình yêu. Rồi những giọt lệ hạnh phúc, những lời hứa nguyện được thốt ra, và gia đình hoà hợp. Hôn lễ là một lễ mừng của tình yêu. Đó là huyền nhiệm thánh khiết của việc hai người trở thành một, là việc bắt đầu một cuộc sống chung, một sự dấn thân, tận hiến cho nhau. Hôn nhân do Đức Chúa Trời thiết lập, và minh hoạ cho mối liên hệ giữa Ngài với những người thuộc về Ngài. Cho nên có lẽ chẳng còn có thảm kịch nào kinh khủng hơn là việc vi phạm những lời hứa nguyện thiêng liêng đó. Đức Chúa Trời bảo Ô-sê cưới một người vợ và báo trước với ông rằng nàng sẽ chẳng chung thủy với ông đâu. Tuy nàng sẽ sinh nhiều con cái, nhưng một số trong đó sẽ là con của những người khác. Vì vâng lời Đức Chúa Trời Ô-sê đã cưới Gô-me. Mối liên hệ giữa ông với nàng, tội ngoại tình của nàng, và con cái họ đã trở thành những thí dụ sinh động, có tính cách tiên tri, về dân Y-sơ-ra-ên.
    Sách Ô-sê là một câu chuyện tình - hiện thực, bi thảm và có thật. Siêu vượt trên câu chuyện về một thanh niên với vợ mình, nó nói lên tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài là cách đáp lại của “vợ” Ngài. Một giao ước đã được thiết lập, và Đức Chúa Trời vốn thành tín. Tình yêu của Ngài thật bền vững, và lời giao kết của Ngài không bị vi phạm. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên - giống như Gô-me - đã phạm tội ngoại tình và không chung thủy, cự tuyệt tình yêu của Đức Chúa Trời và thay vào đó bằng cách quay sang với các tà thần. Rồi sau khi cảnh cáo và trừng phạt, Đức Chúa Trời lại tái khẳng định tình yêu của Ngài và đề nghị giải hoà. Tình yêu và lòng khoan dung của Ngài vốn tràn đầy, nhưng công lý cần phải được phục vụ đúng mức.
    Quyển sách bắt đầu bằng những lời chỉ giáo về hôn lễ của Đức Chúa Trời với Ô-sê. Sau hôn lễ của Ô-sê, nhiều con cái đã ra đời, mỗi đứa đều được đặt một cái tên có ý nghĩa là một bức thông điệp của Đức Chúa Trời (OsHs 1:1-11). Rồi như đã được báo trước, Gô-me đã bỏ Ô-sê để theo đuổi các tham dục của nàng (OsHs 2:1-23). Nhưng Ô-sê (mà tên ông có nghĩa là “sự cứu rỗi”) đi tìm nàng, chuộc nàng, và đưa nàng trở lại nhà, sau khi đã giải hoà với nhau trọn vẹn (OsHs 3:1-19). Những hình ảnh về tình yêu, sự phán xét, ân điển và lòng khoan dung của Đức Chúa Trời đan xen vào nhau trong mối liên hệ giữa họ. Tiếp theo đó, Đức Chúa Trời đã phác hoạ trường hợp của Ngài với dân Y-sơ-ra-ên - tội lỗi họ, cuối cùng, đã gây ra sự hủy diệt của họ (OsHs 4:1-19; OsHs 6:1-11; OsHs 7:1-16; OsHs 12:1-15) và đã chọc giận Ngài, mà hậu quả là họ đã bị trừng phạt (OsHs 5:1-15; OsHs 8:1-10:15; OsHs 12:1-15; OsHs 13:1-16). Nhưng ngay giữa cảnh sống vô đạo đó của dân Y-sơ-ra-ên Đức Chúa Trời vẫn khoan dung và ban cho họ hi vọng, bày tỏ tình yêu vô hạn của Ngài đối với dân Ngài (OsHs 11:1-11) và sự ăn năn của họ sẽ đem phước hạnh đến (OsHs 14:1-9).
    Sách Ô-sê tả vẽ đầy kịch tích tình yêu kiên trì và trước sau như một của Đức Chúa Trời chúng ta. Khi đọc sách này, bạn hãy theo dõi việc nhà tiên tri đã sẵn sàng đầu phục sự chỉ dẫn của Chúa mình, cùng đau buồn với ông về sự bất trung của vợ ông và của dân tộc ông; và lắng nghe lời cảnh cáo thật rõ ràng về sự phán xét, sau đó, hãy tái khẳng định sự dấn thân tận hiến của bạn để trở thành người của Đức Chúa Trời, thủy chung trong tình yêu và trung tín với những lời hứa nguyện của bạn.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Nhằm minh hoạ tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân sự đầy tội lỗi của Ngài.
    Trước giả: Ô-sê con trai Bê-ê-ri (Ô-sê có nghĩa là “sự cứu rỗi”)
    Đọc giả: Cho dân Y-sơ-ra-ên (vương quốc miền Bắc) và người thuộc về Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Khoảng 715 TC, ghi lại các biến cố trước sau 753-715 TC.
    Bối cảnh: Ô-sê bắt đầu chức vụ vào giai đoạn cuối thời trị vì hưng thịnh nhưng sa sút về phương diện đạo đức của Giê-rô-bô-am II của Y-sơ-ra-ên (giai cấp thượng lưu còn sống khá tốt, nhưng đang áp bức người nghèo). Ông nói tiên tri mãi đến ngay sau khi Sa-ma-ri thất thủ năm 722 TC.
    Câu chìa khoá: “Đức Giê-hô-va bảo ta rằng: Hãy đi, lại yêu một người đờn bà tà dâm đã có bạn yêu mình, theo như Đức Giê-hô-va vẫn yêu con cái Y-sơ-ra-ên, dầu chúng nó xây về các thần khác, và ưa bánh ngọt bằng trái nho” (OsHs 3:1)
    Các nhân vật chính: Vương quốc miền Bắc (Y-sơ-ra-ên), Sa-ma-ri, Ép-ra-im.
    Những nét đặc trưng: Ô-sê dùng nhiều hình ảnh từ đời sống hằng ngày - Đức Chúa Trời được tả vẽ như người chồng, người cha, con sư tử, con beo, con gấu, sương mù, mưa, con mọt và nhiều điều khác nữa; Y-sơ-ra-ên được tả vẽ như người vợ, người bệnh, cây nho, trái nho, trái đầu mùa, cây ô-liu, người đàn bà sinh con, bếp lò, sương sớm, rơm rác, và khói, đó là chỉ kể một số ít mà thôi.
    Bố cục:
    A. Người vợ lạc lầm của Ô-sê (OsHs 1:1-3:5).
    Ô-sê được Đức Chúa Trời truyền dạy phải cưới một người vợ không chung thủy, sẽ gây nhiều đau khổ cho ông. Như Gô-me chán Ô-sê và chạy theo các tình nhân khác thể nào, chúng ta cũng dễ dàng chán chê mối liên hệ của mình với Đức Chúa Trời để theo đuổi các giấc mơ và những mục tiêu không có Ngài trong đó. Một khi chúng ta đã pha loãng nếp sống Cơ-đốc nhân để thoả hiệp và noi theo cách sống của thế gian, là chúng ta đã bất trung với Đức Chúa Trời.
    B. Dân sự lầm lạc của Đức Chúa Trời (OsHs 4:1-14:9)
    1. Tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên
    2. Sự trừng phạt dân Y-sơ-ra-ên
    3. Tình yêu của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên.
    Đức Chúa Trời muốn cho dân sự Ngài trong vương quốc miền Bắc xây bỏ tội lỗi của họ và quay trở lại để chỉ thờ phượng một mình Ngài mà thôi, nhưng họ vẫn miệt mài trong sự gian ác của họ. Xuyên suốt quyển sách này, dân Y-sơ-ra-ên đã được mô tả là chẳng đếm xỉa gì đến Đức Chúa Trời, không muốn sống đẹp lòng Ngài. Dân Y-sơ-ra-ên đã chẳng hiểu gì về Đức Chúa Trời cả, như Gô-me đã không thông cảm với Ô-sê. Như một người chồng yêu vợ, một người cha kiên trì yêu con, Đức Chúa Trời muốn dân sự Ngài biết rõ Ngài và hướng về Ngài hằng ngày.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Tội lỗi của dân sự
    Lời giải thích: Cũng như vợ của Ô-sê, là Gô-me đã không chung thủy với ông, dân Y-sơ-ra-ên đã bất trung với Đức Chúa Trời. Tội thờ thần tượng của dân Y-sơ-ra-ên cũng giống như tội ngoại tình. Họ đi tìm những mối liên hệ bất hợp pháp với A-sy-ri và Ai-cập chạy theo quân lực và pha lẫn sự thờ phượng Đức Chúa Trời với việc thờ lạy Ba-anh.
    Tầm quan trọng: Như Gô-me, chúng ta có thể theo đuổi nhiều mối tình khác - tham quyền, ham vui, tham tiền hay danh vọng. Các cám dỗ trong thế gian này vốn đầy quyến rủ. Chúng ta có tận trung với Đức Chúa Trời, giữ lòng chung thủy trọn vẹn với Ngài, hay đang có những mối tình khác chiếm lấy chỗ của Ngài?
    Luận đề: Sự phán xét của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Ô-sê nghiêm chỉnh cảnh cáo Giu-đa trong việc họ đang noi gương của Y-sơ-ra-ên. Vì Giu-đa vi phạm giao ước, xây bỏ Đức Chúa Trời và quên mất Đấng Tạo Hoá mình, nó sẽ phải trải nghiệm một cuộc xâm lăng và lưu đày tàn hại. Tội lỗi vốn tạo nhiều hậu quả khủng khiếp.
    Tầm quan trọng: Tiếp sau sự bội ơn và phản loạn chống lại Đức Chúa Trời thì chắc chắn phải là cảnh tàn hại. Đức Giê-hô-va mới là chỗ trú ẩn đích thực và duy nhất của chúng ta. Nếu chúng ta cứng lòng đối với Ngài sẽ chẳng còn có chỗ an toàn nào khác nữa cả. Chúng ta không thể nào thoát được sự phán xét của Đức Chúa Trời.
    Luận đề: Tình yêu của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Như Ô-sê đã đi tìm người vợ không chung thủy của ông để đưa nàng trở về thể nào, Chúa cũng yêu thương và theo đuổi chúng ta. Tình yêu của Ngài thật âu yếm, trung thực, bất biến và bất tử bất diệt. Cho dù có việc gì xảy ra, Đức Chúa Trời vẫn yêu chúng ta.
    Tầm quan trọng: Bạn có quên Đức Chúa Trời và bất trung với Ngài không? Đừng để cho sự hưng thịnh làm suy giảm tình yêu của bạn đối với Ngài, hoặc để cho sự thành công của bạn che mắt để bạn không còn thấy tình yêu của Ngài là cần thiết nữa.
    Luận đề: Sự phục hưng
    Lời giải thích: Tuy Đức Chúa Trời sửa phạt dân Ngài vì tội lỗi họ, Ngài vẫn khuyến khích và phục hồi địa vị cho những người chịu ăn năn. Sự ăn năn thật mở đường cho một sự bắt đầu mới. Đức Chúa Trời tha thứ và phục hồi địa vị cho những ai chịu ăn năn.
    Tầm quan trọng: Hãy còn hi vọng cho những ai chịu quay trở lại với Đức Chúa Trời. Chẳng có một sự trung thành, thành tựu hay vinh dự nào lại có thể so sánh được với việc yêu mến Ngài. Hãy quay lại với Đức Chúa Trời trong khi đề nghị của Ngài hãy còn hiệu lực cho dù bạn có lạc xa đến đâu Đức Chúa Trời vẫn sẵn sàng đưa bạn trở lại.

    Dẫn nhập Giô-ên
    Các niên đại
    Vua A-háp tử trận năm 853 TC.
    Ê-li-sê trở thành nhà tiên tri năm 848 TC.
    Giê-hu làm vua Y-sơ-ra-ên, A-tha-li cướp ngôi Giu-đa, năm 841 TC.
    Giô-ên trở thành nhà tiên tri? Giô-ách làm vua Giu-đa năm 835 TC.
    Giô-a-cha làm vua Y-sơ-ra-ên, năm 814 TC.
    Giô-ách làm vua Y-sơ-ra-ên, năm 798 TC.
    Chức vụ của Giô-ên chấm dứt năm 796 TC.
    Lời giới thiệu
    Chỉ một quả bom tàn phá cả một thành phố, và thế giới đã bước vào thời đại hạt nhân. Một nguyên tử bị phân hạch... thế là chúng ta có được một năng lượng và một sức mạnh chưa từng thấy.
    Tại một bãi phóng hoả tiễn các tên lửa gào thét, và một khối nặng đắt giá được ném vào không gian. Những phát minh mà chúng ta từng mơ ước từ nhiều thế kỷ nay đã thuộc về chúng ta, và người ta đang bắt đầu thám hiểu những phần chưa biết của vũ trụ.
    Núi lửa, động đất, sóng thần, bão lốc và dông tố vẫn tung hoành vô phương kiểm soát, như những lực lượng không gì ngăn chận nổi. Chúng ta chỉ có thể tránh né chúng rồi đi góp nhặt những mảnh vỡ vụn mà thôi.
    Năng lượng, sức mạnh, thế lực - chúng ta sợ hãi đứng nhìn cõi thiên nhiên và loài người phô trương uy lực. Nhưng các lực lượng ấy không thể chạm đến quyền năng của Đức Chúa Trời vốn là Đấng vô sở bất năng, Đấng Tạo Hoá dựng nên các thiên hà, các nguyên tử, các định luật thiên nhiên là Chúa Tể đang cai trị tất cả những gì đang có và sẽ có. Sống mà không có Ngài thật là ngu dại biết bao; chạy trốn Ngài thật xuẩn ngốc biết bao; còn không vâng lời Ngài quả là điều quái dị. Thế nhưng chúng ta lại đang làm như thế đấy! Từ thời có vườn Ê-đen, chúng ta đã tìm cách để được độc lập đối với quyền kiểm soát của Ngài, dường như chúng ta là các vị thần có thể nắm lấy vận mệnh của mình vậy. Và Ngài đã cho phép chúng ta nổi loạn. Nhưng chẳng bao lâu, ngày của Chúa (Đức Giê-hô-va) sẽ đến.
    Nhà tiên tri Giô-ên đang nói về ngày đó, và đó là luận đề của quyển sách này của ông. Đến ngày đó, Đức Chúa Trời sẽ phán xét tất cả những gì có liên hệ với sự không công chính và không vâng lời - mọi sổ sách sẽ được khai trình để giải quyết và điều cong vạy sẽ được khiến thành ngay thẳng.
    Chúng ta được biết rất ít về nhà tiên tri Giô-ên - chỉ biết rằng ông là một nhà tiên tri, và là con trai của Phê-thu-ên. Có lẽ ông từng sinh sống tại Giê-ru-sa-lem vì thính giả của ông là người Giu-đa, thuộc về vương quốc miền Nam. Cho dù ông là ai, Giô-ên đã nói thẳng và nói mạnh trong quyển sách tuy ngắn ngủi nhưng đầy quyền năng này. Bức thông điệp của ông là dấu hiệu và là một lời cảnh cáo báo trước, nhưng cũng tràn đầy hi vọng. Giô-ên vạch rõ rằng Đấng Tạo Hoá chúng ta, cũng là Đấng Thẩm Phán vô sở bất năng, vốn cũng là Đấng Thương Xót khoan dung, và Ngài muốn ban phước cho tất cả những ai tin cậy Ngài.
    Giô-ên bắt đầu bằng việc mô tả một tai vạ khủng khiếp là cào cào phủ đầy mặt đất và cắn phá mùa màng. Sự tàn phá do các sinh vật thọ tạo này gây ra chỉ là điềm báo trước sự phán xét hầu đến của Đức Chúa Trời, tức là “ngày của Đức Giê-hô-va”. Do đó Giô-ên khuyến giục dân sự hãy xây bỏ tội lỗi mình để quay lại với Đức ChúaTrời. Đan xen vào trong bức thông điệp phán xét này và sự cần thiết phải ăn năn, là lời khẳng định về lòng nhân từ và các phước hạnh mà Ngài hứa ban cho tất cả những người theo Ngài. Thật vậy, “ai cầu khẩn danh Đức Giê-hô-va (Chúa) thì sẽ được cứu” (Gio Ge 2:32).
    Trong khi đọc sách Giô-ên bạn cần “bắt lấy khải tượng của ông về quyền phép và năng lực của Đức Chúa Trời về sự phán xét tội lỗi sau cùng của Ngài. Rồi hãy chọn noi theo, vâng lời, và thờ phượng chỉ một mình Đức Chúa Trời mà thôi, và tôn Ngài làm Chúa Tể của mình.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để cảnh cáo người Giu-đa về cơn phán xét của Đức Chúa Trời treo trên đầu họ vì cớ tội lỗi của họ, và để giục họ quay về với Ngài.
    Trước giả: Giô-ên, con trai Phê-thu-ên.
    Đọc giả: Cho dân Giu-đa, là vương quốc miền Nam, và cho những người thuộc về Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Có lẽ trong giai đoạn Giô-ên nói tiên tri, khoảng từ năm 835 đến 796 TC.
    Bối cảnh: Dân Giu-đa bấy giờ đã trở nên cường thịnh và tự phụ tự mãn. Xem Đức Chúa Trời như chỉ là chuyện đương nhiên, họ trở thành vị kỷ, đi thờ lạy các thần tượng và phạm tội. Giô-ên cảnh cáo họ rằng lối sống ấy sẽ đem sự phán xét của Đức Chúa Trời đến, không tránh né vào đâu được.
    Các câu chìa khoá: “Đức Giê-hô-va phán: bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn khóc lóc, và buồn rầu. Hãy xé lòng các ngươi, đừng xé áo các ngươi. Khá trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài là nhân từ và hay thương xót, chậm giận và giàu ơn, đổi ý về sự tai vạ” (Gio Ge 2:12,13).
    Các nhân vật chính: Giô-ên, dân Giu-đa
    Địa điểm chính: Giê-ru-sa-lem.
    Bố cục
    1. Ngày của cào cào (Gio Ge 1:1-2:27)
    2. Ngày của Đức Giê-hô-va (Gio Ge 2:28-3:21)
    Nạn cào cào chỉ là dấu hiệu báo trước cơn phán xét sẽ đến trong ngày của Đức Giê-hô-va. Đây là một lời kêu gọi phi thời gian, khuyên mọi người phải ăn năn, kèm theo lời hứa ban phước. Như dân sự đang trực diện với thảm cảnh mùa màng của họ bị phá hủy, chúng ta rồi cũng sẽ phải đối đầu với cuộc phán xét thảm khốc nếu chúng ta sống trong tội lỗi. Nhưng ơn của Đức Chúa Trời vẫn dành cho chúng ta, cả hiện nay và trong ngày sắp tới đó.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Sự sửa phạt
    Lời giải thích: Cả một đạo quân cào cào đem sự hủy diệt đến, sự trừng phạt tội lỗi của Đức Chúa Trời sẽ tràn lan, đáng sợ, và không tránh né vào đâu được. Khi nó đến, sẽ chẳng còn lương thực, nước uống, sự bảo vệ mà cũng chẳng có lối thoát. Ngày phải tính sổ với Đức Chúa Trời về cách chúng ta đã sống sẽ đến thật nhanh chóng.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời là Đấng mà mọi người chúng ta đều sẽ phải khai trình tính sổ - chứ không phải là cõi thiên nhiên, chế độ, hay một người ngoại quốc xâm lăng. Chúng ta không thể cứ làm ngơ hay xúc phạm đến Đức Chúa Trời mãi. Chúng ta phải chú ý đến bức thông điệp của Ngài ngay bây giờ, bằng không thì sau này sẽ phải trực diện với cơn thịnh nộ của Ngài.
    Luận đề: Sự tha tội
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời đang sẵn sàng tha thứ và phục hồi địa vị cho tất cả, những ai xây bỏ tội lỗi để đến với Ngài. Ngài muốn đổ tình yêu trên dân sự Ngài và phục hồi cho họ mối liên hệ phải lẽ với Ngài.
    Tầm quan trọng: Sự tha tội đến bằng cách xây bỏ tội lỗi và quay về với Đức Chúa Trời. Chẳng bao giờ là quá muộn để tiếp nhận sự tha tội của Đức Chúa Trời cả. Ước muốn quan trọng nhất của Đức Chúa Trời là bạn hãy đến với Ngài.
    Luận đề: Lời hứa ban Đức Thánh Linh
    Lời giải thích: Giô-ên báo trước thời kỳ mà Đức Chúa Trời sẽ đổ Thánh Linh Ngài xuống trên tất cả mọi người. Đó sẽ là điểm bắt đầu cho một sự thờ phượng Đức Chúa Trời thật mới mẻ của những người tin Ngài, nhưng cũng là bắt đầu sự phán xét đối với tất cả những ai chối bỏ Ngài.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời đang nắm quyền kiểm soát công lý và việc phục hồi địa vị vốn ở trong tay Ngài. Đức Thánh Linh xác nhận tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta y như Ngài từng làm cho các Cơ-đốc nhân đầu tiên (Công 2). Chúng ta phải tận trung với Đức Chúa Trời và đặt đời sống mình dưới sự hướng dẫn và quyền năng của Đức Thánh Linh.

    Dẫn nhập A-mốt
    Các niên đại
    Giê-rô-bô-am II làm vua Y-sơ-ra-ên năm 793 TC.
    A-mốt trở thành nhà tiên tri cho dân Y-sơ-ra-ên năm 760 TC.
    Ô-sê trở thành nhà tiên tri cho dân Y-sơ-ra-ên năm 753 TC.
    Vua Sa-lum của Y-sơ-ra-ên bị ám sát năm 752 TC.
    Chức vụ của A-mốt kết thúc năm 750 TC.
    Ê-sai trở thành nhà tiên tri cho xứ Giu-đa năm 740 TC.
    Lời giới thiệu
    Khi chúng ta nghe nói “vị ấy là một người của Đức Chúa Trời” thì những hình ảnh thường hiện ra trong tâm trí của chúng ta nhất, là một nhà truyền đạo, một vị mục sư, một giáo sĩ, một vị tuyên úy cho các sinh viên đại học... nổi tiếng nào đó - tóm lại là những nhà chuyên nghiệp, những cán bộ Cơ Đốc giáo, những nhân vật truyền giảng Lời Đức Chúa Trời như một nghề chuyên môn.
    Chắc chắn A-mốt là một người của Đức Chúa Trời - một người đã tận hiến cả đời mình để phục vụ Chúa và nếp sống của ông phản ảnh đúng thái độ tận hiến đó - nhưng ông chỉ là một người thường. A-mốt hành nghề chăn chiên và trồng cây vả trong vùng quê Giu-đê, và không phải là con của một nhà tiên tri, cũng không phải con của một thầy tế lễ. Là một người chăn chiên khiêm tốn, đáng lẽ ra ông đã phải cứ phải ở lại Thê-cô-a hành nghề của mình, chu cấp cho gia đình, và thờ phượng Đức Chúa Trời. Thế nhưng Đức Chúa Trời đã cho A-mốt thấy một khải tượng về tương lai (1:2), và bảo ông hãy mang bức thông điệp của Ngài đến xứ Y-sơ-ra-ên, là vương quốc miền Bắc (AmAm 7:15). A-mốt đã vâng lời, và do đó, tự chứng tỏ mình là một người của Đức Chúa Trời.
    Bức thông điệp của A-mốt đã tạo được ảnh hưởng trên những người thuộc về Đức Chúa Trời qua nhiều thế kỷ, và cần cho nhiều cá nhân và nhiều quốc gia dân tộc được nghe hôm nay. Tuy bị chia cách với các anh chị em mình ở phía Nam là xứ Giu-đa, người Y-sơ-ra-ên ở phương Bắc cũng vẫn còn là dân sự của Đức Chúa Trời. Nhưng họ đang sống dưới một tôn giáo bề ngoài có vẻ sùng bái nhưng lại thờ lạy nhiều thần tượng và áp bức bóc lột người nghèo. A-mốt vốn là một người chăn chiên mạnh dạn, bất khuất và chơn chất đến từ miền Nam, đã phải trực diện với họ để chỉ ra tội lỗi của họ, và cảnh cáo họ về sự phán xét đang sẵn dành cho họ.
    Sách A-mốt bắt đầu với người chăn chiên khiêm tốn này đang chăn giữ chiên mình. Bấy giờ Đức Chúa Trời cho ông thấy một khải tượng về những gì sắp xảy đến cho nước Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã cảnh cáo tất cả các dân các nước nào chống lại Ngài và làm hại dân sự Ngài. Bắt đầu với A-ram, Ngài nhanh chóng chuyển sang tất cả các nước Phi-li-tin, Ty-rơ, Ê-đôm, Am-môn và Mô-áp. Tất cả đều bị lên án và chúng ta hầu như nghe được dân Y-sơ-ra-ên reo hò “A-men”. Và rồi cả đến Giu-đa là đất tổ của A-mốt cũng bị đưa luôn vào trong lời tố giác mạnh mẽ của Đức Chúa Trời (AmAm 2:4,5). Những người nghe A-mốt chắc đã vui mừng biết bao khi nghe những lời ấy! Nhưng bỗng nhiên A-mốt đã quay lại với người Y-sơ-ra-ên và tuyên bố sự phán xét của Ngài trên họ. Bốn chương sách tiếp theo đó kể ra và mô tả các tội lỗi của họ. Chẳng có gì lạ khi A-ma-xia là thầy tế lễ đã can thiệp và tìm cách ngăn trở việc truyền giảng (AmAm 7:10-13). Nhưng A-mốt đã chẳng chút sợ hãi, tiếp tục kể lại các khải tượng về sự phán xét trong tương lai mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông (AmAm 8:1- 9:15). Sau tất cả các chương về phán xét đó, quyển sách được kết thúc bằng một thông điệp đầy hi vọng. Cuối cùng, Đức Chúa Trời sẽ phục hồi địa vị cho dân Ngài, và lại khiến họ trở thành vĩ đại (AmAm 9:8-15).
    Trong khi đọc sách A-mốt, bạn hãy tự đặt mình vào địa vị của những người Y-sơ-ra-ên này để lắng nghe bức thông điệp của Đức Chúa Trời. Phải chăng bạn cứ ngày càng tự phụ tự mãn? Phải chăng có nhiều mối quan tâm khác đã chiếm chỗ của Đức Chúa Trời trong đời sống bạn. Phải chăng bạn đang bỏ qua chẳng nghĩ gì đến những kẻ nghèo thiếu hay những kẻ đang áp bức bóc lột người nghèo? Hãy tự hình dung mình là A-mốt, để trung tín làm công việc mà Đức Chúa Trời kêu gọi bạn làm. Chính bạn cũng có thể là một người của Đức Chúa Trời. Hãy lắng nghe tiếng gọi rõ ràng của Ngài và làm điều Ngài phán dạy cho dù việc ấy có đưa bạn tới đâu.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để tuyên rao sự phán xét của Đức Chúa Trời trên xứ Y-sơ-ra-ên, là vương quốc miền Bắc, vì thói tự phụ tự mãn, tội thờ thần tượng và việc họ áp bức bóc lột kẻ nghèo.
    Trước giả: A-mốt.
    Đọc giả: Cho xứ Y-sơ-ra-ên là vương quốc miền Bắc và cho những người thuộc về Đức Chúa trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Có lẽ là trong các đời trị vì của Giê-rô-bô-am II của xứ Y-sơ-ra-ên và của Ô-xia (A-xa-ria) xứ Giu-đa (khoảng 760 - 750 TC).
    Bối cảnh: Những kẻ giàu có trong dân Y-sơ-ra-ên đang được hưởng hoà bình và thịnh vượng. Họ rất tự phụ tự mãn và áp bức bóc lột kẻ nghèo, thậm chí bán họ để làm nô lệ nữa. Tuy nhiên, chẳng bao lâu nữa, xứ Y-sơ-ra-ên sẽ bị A-sy-ri chinh phục, và chính những kẻ giàu có kia sẽ trở thành nô lệ.
    Câu chìa khoá: “Thà hãy làm cho sự chánh trực chảy xuống như nước,và sự công bình như sóng lớn cuồn cuộn” (AmAm 5:24)
    Các nhân vật chính: A-mốt, A-ma-xia, Giê-rô-bô-am II
    Các điạ danh chính: Bê-tên, Sa-ma-ri
    Những nét đặc trưng: A-mốt đã sử dụng những cách ví von rõ ràng từ từng trải chăn chiên và làm nông nghiệp của ông - như một chiếc xe bò chở nặng (AmAm 2:13), một con sư tử đang gầm thét (AmAm 3:8), một con chiên bị thương (AmAm 3:12), những con bò cái kênh kiệu (AmAm 4:1) và một giỏ trái cây (AmAm 8:1,2).
    Bố cục:
    1. Thông báo về sự phán xét (AmAm 1:1-2:16)
    2. Các lý do của sự phán xét (AmAm 3:1-6:14)
    3. Các khải tượng về sự phán xét (AmAm 7:1-9:15)
    A-mốt nói bằng một giọng chân thành nhưng táo bạo để tố giác tội lỗi. Ông chạm trán với các lãnh tụ tôn giáo giả dối của thời đại mình mà không chút e dè trước thầy tế lễ hoặc chính nhà vua, ông cứ tiếp tục truyền giảng bức thông điệp của mình thật mạnh dạn. Đức Chúa Trời đòi hỏi chân lý và sự thánh thiện cùng sự công chính của tất cả mọi người và mọi quốc gia dân tộc ngày nay nữa. Nhiều điều kiện sinh sống trong xứ Y-sơ-ra-ên vào thời của A-mốt cũng được thấy rõ trong các xã hội ngày nay. Chúng ta cần có lòng can đảm của A-mốt để bất chấp nguy hiểm mà đứng vững để chống lại tội lỗi.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Mỗi người phải trả lời với Đức Chúa Trời
    Lời giải thích A-mốt công bố sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với tất cả các lân bang. Rồi ông kể luôn cả Giu-đa và Y-sơ-ra-ên vào trong số đó. Đức Chúa Trời đang cầm quyền tối cao trên mọi quốc gia dân tộc. Mọi người đều có trách nhiệm tính sổ với Ngài
    Tầm quan trọng Mọi người đều phải chịu trách nhiệm về tội lỗi mình. Khi những kẻ chối bỏ Đức Chúa Trời dường như chiếm hàng đầu, đừng ghen tị với sự thịnh vượng của họ hay tự than thân trách phận. Nên nhớ rằng tất cả mọi người đều phải trả lời với Đức Chúa Trời về cách sống của mình.
    Luận đề: Tự phụ tự mãn
    Lời giải thích Mọi người đều lạc quan, công việc làm ăn đều phát đạt, ai nấy đều cảm thấy hạnh phúc (ngoại trừ người nghèo khó và bị áp bức bóc lột). Tiện nghi và nếp sống xa hoa thường đi đôi với thói tự phụ tự mãn và ý thức an ninh giả tạo. Nhưng đời sống thịnh vượng thường đưa đến sự băng hoại và tàn hại.
    Tầm quan trọng Một hiện tại tự phụ tự mãn dẫn tới một tương lai tàn hại. Đừng tự cao vì các phước hạnh và lợi lộc mà bạn đang được hưởng. Chúng đều đến từ Đức Chúa Trời. Nếu bạn tự hài lòng về mình hơn là vì cớ Đức Chúa Trời thì khá nhớ rằng mọi sự đều vô nghĩa nếu không có Ngài. Một thái độ tự phụ tự mãn có thể gây suy sụp cho bạn.
    Luận đề: Áp bức kẻ nghèo
    Lời giải thích Những kẻ giàu có, thế lực của Sa-ma-ri, thủ đô xứ Y-sơ-ra-ên, đã trở thành thịnh vượng, tham lam, bất công. Hậu quả của sưu cao thuế nặng và cướp bóc đất đai sẽ dẫn tới hậu quả là nhiều người trở thành nô lệ một cách bất hợp pháp và vô đạo đức. Cũng sẽ có sự tàn bạo và dửng dưng với kẻ nghèo. Đức Chúa Trời đã chán chê với thói tham lam và sẽ không dung dưỡng sự bất công.
    Tầm quan trọng Đức Chúa Trời đã tạo nên mọi người, do đó chẳng đếm xỉa gì đến người nghèo tức là chẳng đếm xỉa gì đến những người mà Đức Chúa Trời yêu mến và Chúa Cứu Thế đã đến để cứu họ. Chúng ta phải đi xa hơn là chỉ thương hại người nghèo khó và bị áp bức. Phải hành động do lòng nhân từ thương xót để ngăn chận bất công và góp phần lo lắng cho những người đang nghèo thiếu
    Luận đề: Tôn giáo nông cạn
    Lời giải thích Tuy nhiều người đã từ bỏ đức tin chân chính vào Đức Chúa Trời, họ vẫn tự cho là họ đạo đức. Họ làm những việc có tiếng là đạo đức thay vì có thái độ trung thực thuộc linh và thật lòng làm việc vì vâng lời Đức Chúa Trời.
    Tầm quan trọng Chỉ tham dự lễ lạc theo nghi thức mà thôi, thì không phải là con cái thật của Chúa. Đức Chúa Trời muốn người ta lấy lòng đơn sơ tin cậy Ngài, chứ không phải là phô trươnghình thức. Đừng tạo ấn tượng trên người khác bằng nghi lễ bề ngoài, trong khi Đức Chúa Trời muốn sự vâng lời và tận hiến hết lòng của bạn.

    Dẫn nhập Áp-đia
    Lời giới thiệu
    Với gương mặt có phần nhăn nheo với hai bàn tay nhỏ có móng trơn bóng, với làn da non và đôi mắt, cái mũi, cái miệng bé xíu - cô là một em bé sơ sinh. Sau nhiều tháng hình thành, cô đã chào đời và gia nhập một gia đình. “Nó có đôi mắt của mẹ nó!” Tôi dám nói chắc cha mẹ của nó là ai...”. “Coi cái mũi của anh (chị) kìa...” Bà con và bè bạn nhìn chăm vào gương mặt bé nhỏ kia, và hình dung ra cha mẹ nó. Cha mẹ nó thì vui mừng về con gái mình. Đó là một phép mầu, một thành viên mới của gia đình. Là những bậc làm cha làm mẹ yêu con, họ sẽ bảo vệ nuôi dưỡng hướng dẫn và dạy dỗ nó. Đó là nhiệm vụ và niềm vui của họ.
    Đức Chúa Trời cũng có con cái - những người nam người nữ mà Ngài đã chọn cho riêng mình. Đã từng có nhiều cá nhân mang dấu vết của Ngài, nhưng với Áp-ra-ham Ngài đã hứa là từ ông Ngài sẽ làm nên một dân tộc. Xứ Y-sơ-ra-ên là quê hương của Đức Chúa Trời, và dân xứ ấy, người Do Thái chính là các con trai con gái Ngài. Qua nhiều thế kỷ tiếp theo đó, đã có sự sửa trị và trừng phạt, nhưng bao giờ cũng có tình yêu là lòng nhân từ và khoan dung.
    Áp-đia là sách ngắn nhất trong Kinh Thánh, là một tấm gương đầy kịch tính về câu trả lời của Đức Chúa trời cho bất cứ ai muốn làm hại con cái Ngài, Ê-đôm là một quốc gia thuộc vùng có nhiều núi non, chiếm phần Đông Nam của Tử Hải gồm luôn Petra, là thành phố ngoạn mục mới được các khảo cổ học phát giác mấy thập kỷ gần đây. Là hậu duệ của Ê-sau (SaSt 25:19-27:45), người Ê-đôm vốn là bà con cùng huyết thống với dân Y-sơ-ra-ên, và cũng như cha họ, họ vốn thô lỗ, dữ tợn, và là những chiến sĩ ngang tàng với một quê hương núi non hiểm trở có vẻ bất khả xâm phạm. Trong tất cả các dân các nước, đáng lẽ họ phải nhanh chóng lao vào tiếp cứu các anh em thuộc vương quốc miền Bắc của mình. Tuy nhiên, thay vì làm như thế, họ lại nhìn vào các vấn đề của dân Y-sơ-ra-ên với thái độ thèm thuồng, bỏ mặc họ bị bắt làm tù binh, bắt những người tẩu thoát nộp cho kẻ thù của họ, và thậm chí, cướp bóc cả vùng thôn quê của xứ Y-sơ-ra-ên nữa.
    Áp-đia truyền giảng bức thông điệp của Đức Chúa Trời cho Ê-đôm. Vì thái độ dửng dưng và thách đố Đức Chúa Trời của họ, thói hèn nhát và kiêu ngạo của họ, và sự gian lận của họ đối với anh em trong xứ Giu-đa, họ đã bị lên án và sẽ bị tiêu diệt. Quyển sách bắt đầu bằng hồi thông báo rằng sự tàn phá sắp giáng trên Ê-Đôm (ApOv 1:1-9). Bất chấp các ghềnh đá và núi non cheo leo “bất khả xâm phạm” của họ, họ sẽ không thể nào thoát được sự phán xét của Đức Chúa Trời. Rồi Áp-đia đưa ra các lý do của sự hủy diệt ấy (ApOv 1:10-14) - thái độ ngạo mạn rõ ràng của họ đối với Đức Chúa Trời và việc họ bách hại các con cái của Đức Chúa Trời. Lời tiên tri ngắn gọn này kết thúc bằng phần mô tả “ngày của Đức Giê-hô-va” lúc sự phán xét sẽ giáng trên tất cả những ai đã làm hại những người thuộc về Đức Chúa Trời (ApOv 1:15-21).
    Ngày nay, dân thánh của Đức Chúa Trời là Hội thánh - tức là tất cả những người tin cậy Đấng Christ để được cứu rỗi và đã tận hiến đời sống cho Ngài. Những người nam người nữ này đã được Đức Chúa Trời tái sinh và nhận làm con cái Ngài. Trong khi bạn đọc sách Áp-đia, hãy nhìn lướt qua để lãnh hội ý nghĩa của việc được làm con cái Đức Chúa Trời, được ở trong tình yêu và dưới quyền bảo vệ Ngài. Hãy chú ý xem Đức Chúa Cha ở trên trời đáp lại như thế nào với tất cả những kẻ dám tấn công vào những người mà Ngài yêu.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để chứng minh rằng Đức Chúa Trời phán xét những kẻ làm hại người thuộc về Ngài.
    Trước giả: Áp-đia. Chúng ta biết rất ít về nhân vật này, một con người mà tên ông có nghĩa là “tôi tớ (hay người thờ phượng) Đức Giê-hô-va”.
    Đọc giả: Cho dân Ê-đôm, cho những người Do Thái trong xứ Giu-đa, và cho người thuộc về Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Có lẽ là dưới thời trị vì của Giô-ram vua Giu-đa, 853 - 841 TC, hoặc có thể là trong thời Giê-rê-mi thi hành chức vụ, 627 -586 TC.
    Bối cảnh: Về lịch sử, dân Ê-đôm lúc nào cũng hục hặc với người Do Thái. Trước thời quyển sách này được viết ra, họ từng tham gia nhiều cuộc tấn công vào xứ Giu-đa. Theo các niên đại được nêu ra trên đây, thì lời tiên tri này được ban truyền sau khi quốc gia bị phân đôi, thành vương quốc miền Bắc và vương quốc miền Nam, và trước khi Nê-bu-cát-nết-sa chinh phục Giu-đa năm 586 TC.
    Câu chìa khoá: “Vì ngày của Đức Giê-hô-va đã gần kề hết thảy các nước: bấy giờ người ta sẽ làm cho ngươi như chính mình ngươi đã làm; những việc làm của ngươi sẽ đổ lại trên đầu ngươi!” (c.15)
    Các nhân vật chính: Dân Ê-đôm
    Các địa danh chính: Xứ Ê-đôm, Giê-ru-sa-lem
    Những nét đặc trưng: Sách Áp-đia dùng ngôn ngữ thi ca táo bạo và được viết theo hình thức một bài truy điệu dành cho một số phận không may.
    Bố cục:
    1. Ê-đôm bị huỷ diệt (ApOv 1:16)
    2. Y-sơ-ra-ên được phục hưng (ApOv 1:7-21)
    Sách Áp-đia nêu rõ hậu quả của mối cựu thù giữa Ê-đôm và Y-sơ-ra-ên. Ê-đôm vốn tự cao tự đại vì vị trí ở trên cao của nó, nhưng Đức Chúa Trời sẽ hạ nó xuống. Những kẻ đang ngồi trên cao và có nhiều quyền thế ngày nay không nên quá tự tin, cho dù đó là một quốc gia, một tập đoàn, một Hội thánh, hay một dòng họ. Như Ê-đôm đã bị tiêu diệt vì thói kiêu ngạo của nó thế nào, bất cứ kẻ nào sống với thái độ thách đố Đức Chúa Trời cũng sẽ phải cùng chung số phận với nó y như thế.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Công lý
    Lời giải thích Áp-đia tiên báo rằng Đức Chúa Trời sẽ huỷ diệt Ê-đôm để trừng phạt lập trường của nó lúc Ba-by-lôn xâm chiếm Giu-đa. Vì sự gian lận của nó, xứ Ê-đôm sẽ được ban cho người Giu-đa trong ngày Đức Chúa Trời phục hoà với dân sự sai lạc của Ngài
    Tầm quan trọng Đức Chúa Trời sẽ phán xét và trừng phạt nặng nề tất cả những kẻ làm hại người thuộc về Ngài. Chúng ta có thể tin quyết vào chiến thắng sau cùng của Đức Chúa Trời. Ngài là nhà vô địch của chúng ta cho nên chúng ta có thể tin cậy Ngài sẽ đem công lý đích thực đến
    Luận đề: Thói kiêu ngạo
    Lời giải thích Nhờ các thành lũy có vẻ như bất khả xâm phạm của họ; dân Ê-đôm rất kiêu ngạo và tự tin. Nhưng Đức Chúa Trời làm nhục họ và đất nước họ bị xoá khỏi bản đồ thế giới
    Tầm quan trọng Tất cả những kẻ dám thách đố Đức Chúa Trời sẽ cùng chung số phận với Ê-đôm. Bất cứ quốc gia dân tộc nào tin cậy vào thế lực, sự giàu có hoặc sự khôn ngoan của mình hơn là vào Đức Chúa Trời, đều sẽ bị triệt hạ. Tất cả những kẻ kiêu ngạo sẽ có ngày phải ngạc nhiên khám phá ra rằng chẳng hề có ai được miễn trừ đối với công lý của Đức Chúa Trời.

    Dẫn nhập Giô-na
    Các niên đại
    Giê-rô-bô-am II lên ngôi, Giô-na trở thành nhà tiên tri năm 793 TC.
    Ô-xia (A-xa-ria) lên ngôi vua Giu-đa năm 792 TC.
    Giô-na truyền giảng cho thành phố Ni-ni-ve 785 TC
    Sanh-ma-na-se IV lên ngôi vua A-sy-ri 783 TC.
    Ashur-dan III lên ngôi vua A-sy-ri 772 TC.
    A-mốt trở thành nhà tiên tri, năm 760 TC.
    Ashur-Nirari V lên ngôi vua A-sy-ri năm 754 TC.
    Chức vụ của Giô-na kết thúc năm 753 TC.
    Y-sơ-ra-ên thua A-sy-ri năm 722 TC.
    Lời giới thiệu
    Tội lỗi leo thang trong xã hội - các tin tức hàng đầu hằng ngày và số nhà tù tràn lan là những chứng nhân đáng buồn cho sự kiện này. Với những vụ lạm dụng trẻ em, sách báo khiêu dâm, giết người hàng loạt, khủng bố, vô chính phủ, và các chế độ độc tài tàn bạo, thế giới dường như đang tràn đầy bạo lực, hận thù, và băng hoại thối nát. Đọc, nghe, và chứng kiến tấn thảm kịch ấy, chúng ta bắt đầu hiểu được sự cần thiết phải có sự phán xét của Đức Chúa Trời. Có lẽ chúng ta còn nhận thấy chính mình mong muốn trả thù những kẻ phạm tội bạo động bằng bất cứ phương tiện nào. Chắc chắn là những kẻ như thế đã không còn có thể được cứu chuộc nữa. Nhưng giả sử giữa lúc bạn suy nghĩ như thế ma Đức Chúa trời lại bảo bạn hãy đem Phúc âm đến cho những kẻ phạm tội tồi tệ nhất - thì bạn sẽ đáp lại như thế nào?
    Giô-na đã được giao cho một nhiệm vụ như thế, A-sy-ri - một đế quốc vĩ đại nhưng gian ác - vốn là kẻ thù đáng sợ nhất của Y-sơ-ra-ên. Dân A-sy-ri phô trương thế lực của họ trước mặt Đức Chúa Trời và cả thế gian bằng nhiều hành động tàn bạo gây đau lòng. Cho nên khi nghe Đức Chúa Trời bảo ông hãy đến xứ A-sy-ri và kêu gọi dân chúng ăn năn, Giô-na đã bỏ chạy về hướng ngược lại.
    Sách Giô-na kể lại câu chuyện của nhà tiên tri chạy trốn này, và thế nào Đức Chúa Trời đã ngăn chận ông và khiến ông quay trở lại. Nhưng đây còn hơn cả một truyện tích về một con người và một con cá lớn - câu chuyện của Giô-na là một thí dụ minh họa sâu nhiệm về lòng nhân từ thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời. Chẳng hề có ai lại không xứng đáng được đặc ân của Đức Chúa Trời hơn dân chúng thành phố Ni-ni-ve, thủ đô của A-sy-ri. Giô-na vốn biết như thế. Nhưng ông cũng biết rằng Đức Chúa Trời sẽ tha tội và chúc phước cho họ nếu họ chịu ăn năn xây bỏ tội lỗi để thờ phượng Ngài. Giô-na cũng biết rõ quyền năng trong bức thông điệp của Đức Chúa Trời, rằng qua lời truyền giảng yếu ớt của ông, họ sẽ đáp ứng và thoát được sự phán xét của Đức Chúa Trời. Nhưng Giô-na thù ghét người A-sy-ri và muốn báo thù, chứ không phải là thương xót họ. Cho nên ông đã chạy trốn. Cuối cùng Giô-na cũng phải vâng lời Đức Chúa Trời để truyền giảng trên các đường phố Ni-ni-ve, và dân chúng đã ăn năn thoát được cơn phán xét. Thế là Giô-na phiền muộn và phàn nàn với Đức Chúa Trời: “Bởi tôi biết rằng Ngài là Đức Chúa Trời nhơn từ, thương xót, chậm giận, giàu ơn và đổi ý không xuống tai vạ” (Gion Gn 4:2). Cuối cùng Đức Chúa Trời đã trực diện với Giô-na, vì định kiến ích kỷ và thiếu nhân từ thương xót của ông. Ngài phán: “Còn ta, há không đoái tiếc thành lớn Ni-ni-ve, trong đó có hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả, lại với một số thú vật rất nhiều hay sao?” (4:11).
    Trong khi bạn đọc sách Giô-na, hãy bao quát toàn thể bức tranh về tình yêu và lòng nhân từ khoan dung của Đức Chúa Trời để nhận thức được rằng chẳng hề có ai bị nằm ngoài kế hoạch cứu chuộc cả. Phúc âm được dành cho tất cả những ai chịu ăn năn và tin. Hãy bắt đầu cầu nguyện cho những người dường như đang xa cách nhất với Nước Trời, để tìm cách nói cho họ biết về Đức Chúa Trời. Hãy học tập câu chuyện về nhà tiên tri “bất đắc dĩ” này và quyết định vâng lời Đức Chúa Trời, làm bất kỳ việc gì Ngài yêu cầu, và đi bất cứ nơi nào Ngài chỉ dẫn cho chúng ta.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để vạch rõ tầm hạn rộng lớn của ân điển Đức Chúa Trời - rằng bức thông điệp cứu rỗi của Ngài là dành cho tất cả mọi người.
    Trước giả: Giô-na, con trai A-mi-tai.
    Đọc giả: Cho dân Y-sơ-ra-ên và những người thuộc về Đức Chúa Trời khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Trước năm 785 -760 TC.
    Bối cảnh: Giô-na phục vụ trước A-mốt và dưới thời trị vì của Giê-rô-bô-am II, nhà vua hùng cường nhất của Y-sơ-ra-ên (793 - 753 TC; xem IIVua 14:23-25). A-sy-ri là kẻ thù quan trọng nhất của Y-sơ-ra-ên, và Y-sơ-ra-ên đã bị họ chinh phục năm 722 TC. Sự ăn năn của Ni-ni-ve có lẽ chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn, vì nó đã bị huỷ diệt năm 612 TC.
    Câu chìa khoá: “Còn ta, há không đoái tiếc thành lớn Ni-ni-ve, trong đó có hơn mười hai vạn người không biết phân biệt tay hữu và tay tả, lại với một số rất nhiều thú vật hay sao” (Gion Gn 4:11)
    Các nhân vật chính: Giô-na, viên thuyền trưởng, và thủy thủ đoàn.
    Những nét đặc trưng: Quyển sách này khác với các sách tiên tri khác, vì nó kể lại câu chuyện của nhà tiên tri mà không chú trọng vào các lời tiên tri. Thật vậy, chỉ có một câu tóm tắt bức thông điệp của ông cho dân chúng thành phố Ni-ni-ve (3:4). Sách Giô-na là một trần thuật lịch sử. Nó đã được Chúa Giê-xu đề cập như một bức tranh về sự chết và sống của Ngài (Math 12:38-42).
    Bố cục:
    1. Giô-na làm ngơ đối với sứ mạng được giao (1:1-2:10)
    2. Giô-na hoàn thành sứ mạng được giao (3:1-4:11)
    Giô-na là một nhà tiên tri “bất đắc dĩ”, được giao cho một sứ mạng mà ông nhận thấy chẳng mấy thích thú. Ông đã chọn thà chạy trốn Đức Chúa Trời còn hơn phải miễn cưỡng vâng lời Ngài. Cũng như Giô-na, có lẽ chúng ta cũng phải làm nhiều việc mà mình không muốn làm trong đời sống. Nhiều khi chúng ta cũng cảm thấy mình muốn quay lưng lại và chạy trốn. Nhưng thà vâng lời Đức Chúa Trời còn hơn là thách thức Ngài hay chạy trốn. Thường thường mặc dù chúng ta có thách thức Ngài, Đức Chúa Trời vẫn lấy lòng nhân từ khoan dung dành cho chúng ta một cơ may khác để phục vụ Ngài khi chúng ta chịu trở lại với Ngài.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Quyền tể trị của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Tuy nhà tiên tri Giô-na tìm cách chạy trốn Đức Chúa Trời, Ngài vẫn nắm quyền kiểm soát cơn bão biển và một con cá lớn, Đức Chúa Trời đã bày tỏ quyền hướng dẫn tuyệt đối trong tình yêu thương của Ngài
    Tầm quan trọng: Thay vì chạy trốn Ngài, hãy phó thác cho Đức Chúa Trời cả quá khứ, hiện tại, và tương lai của bạn. Nói không với Đức Chúa Trời sẽ nhanh chóng dẫn đến tai họa. Nói vâng với Ngài sẽ giúp chúng ta nhận biết Đức Chúa Trời cách mới mẻ và hiểu được mục đích của Ngài cho thế giới này.
    Luận đề: Bức thông điệp của Đức Chúa Trời cho cả thế gian
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời đã có một chủ đích cho Giô-na: ông phải truyền giảng cho thành phố lớn Ni-ni-ve của A-sy-ri. Giô-na thù ghét Ni-ni-ve , cho nên ông đã đáp ứng bằng thái độ giận dữ và dửng dưng. Do đó ông đã phải học tập để biết được rằng Đức Chúa Trời yêu thương tất cả mọi người. Qua Giô-na, Đức Chúa Trời nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên về chủ đích truyền giáo của họ
    Tầm quan trọng: Chúng ta không nên chỉ tập trung chú ý quá hạn chế vào chính dân tộc mình mà thôi. Đức Chúa Trời muốn người thuộc về Ngài phải truyền giảng tình yêu của Ngài bằng cả lời nói lẫn việc làm cho cả thế gian. Ngài muốn chúng ta làm giáo sĩ cho Ngài tại bất cứ nơi nào chúng ta sinh sống, bất kỳ nơi nào Ngài đưa chúng ta đến.
    Luận đề: Sự ăn năn
    Lời giải thích: Khi nhà truyền đạo của chúng ta miễn cưỡng đến Ni-ni-ve, đã có nhiều người đáp ứng. Dân chúng ăn năn và quay lại với Đức Chúa Trời. Đây là một lời quở trách nặng nề đối với dân Y-sơ-ra-ên, vì họ vẫn tưởng mình tốt hơn, nhưng lại khước từ bức thông điệp của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời sẵn sàng tha thứ cho tất cả những ai chịu xây khỏi tội lỗi.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời không đề cao sự xấu hổ hoặc khoe khoang. Ngài muốn mỗi người phải chân thành tận hiến. Chỉ được dự phần các đặc quyền của Cơ-đốc giáo mà thôi thì chưa đủ; chúng ta còn phải xin Ngài tha thứ và cất đi mọi tội lỗi của chúng ta nữa. Từ chối ăn năn thì chẳng khác gì yêu mến tội lỗi mình
    Luận đề: Lòng thương xót của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Bức thông điệp yêu thương và tha thứ của Đức Chúa Trời không phải chỉ dành cho dân Do-thái mà thôi. Đức Chúa Trời yêu tất cả mọi người trên thế gian này. Người A-sy-ri quả không xứng đáng được đối xử như thế, nhưng Đức ChúaTrời vẫn tha thứ cho họ nếu họ chịu ăn năn. Do lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài không từ bỏ Giô-na vì ông đã bỏ qua sứ mạng của mình. Đức Chúa Trời có tình yêu, sự nhẫn nại và sự tha thứ lớn lao.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời yêu tất cả chúng ta. Cả khi chúng ta bất trung với Ngài. Nhưng Ngài cũng yêu những người khác nữa, kể cả những người không thuộc nhóm thiểu số, giai cấp xã hội, chủng tộc, hoặc hệ phái của chúng ta. Một khi đã tiếp nhận tình yêu của Ngài, chúng ta cũng phải học tập để tiếp nhận tất cả những người được Ngài yêu mến. Khi yêu thương Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ thấy dễ dàng yêu thương người khác hơn.

    Dẫn nhập Mi-chê
    Các niên đại
    Ô-sê trở thành nhà tiên tri, năm 753 TC.
    Giô-tham làm vua Giu-đa năm 750 TC.
    Tiếc-la Phi-lê-se III xâm lăng Y-sơ-ra-ên năm 743 TC.
    Mi-chê trở thành nhà tiên tri; Phê-ca-lia lên ngôi, năm 742 TC.
    Ê-sai trở thành nhà tiên tri, năm 740 TC.
    A-cha lên ngôi vua Giu-đa năm 735 TC.
    Y-sơ-ra-ên (vương quốc miền Bắc) sụp đổ, năm 722 TC.
    Chức vụ của Ô-sê chấm dứt, Ê-xê-chia làm vua Giu-đa 715 TC.
    San-chê-ríp vây Giê-ru-sa-lem năm 701 TC.
    Chức vụ của Ô-sê kết thúc, năm 687 TC.
    Lời giới thiệu
    “Tao ghét mày” cô bé gào lên, và chạy ra khỏi phòng. Đó là lời lẽ của một đứa bé, thốt ra do bị xúc động mạnh. Có lẽ em đã học nó từ cha hay mẹ em, hoặc có lẽ nó chỉ vọt ra từ phần nội tâm vẫn được gọi là “bản tính tội lỗi”. Cho dù là trường hợp nào thì yêu và ghét cũng đã trở thành những lời lẽ phổ cập trong xã hội, hầu như là những sáo ngữ đã cũ mòn, được tung ra một cách vô tâm hướng về hoàn cảnh, và cả con người nữa.
    Cách dùng ngẫu nhiên những từ ngữ như “yêu” và “ghét” đã làm mất hết ý nghĩa đích thực của chúng. Chúng ta không còn hiểu đúng những câu mô tả một Đức Chúa Trời yêu thương nhưng lại ghen ghét tội lỗi. Cho nên chúng ta đã hình dung ra Đức Chúa Trời là một Đấng hiền lành và tử tế - một nhân vật “dễ dãi” thuộc cấp bậc vũ trụ; và ý niệm của chúng ta về những gì bị Ngài ghét chịu ảnh hưởng của các quan niệm và tư tưởng đầy thiện ý của chúng ta.
    Lời lẽ của các nhà tiên tri đều tương phản rõ rệt với những quan niệm như thế. Lòng thù ghét của Đức Chúa Trời vốn có thật; nó cháy bỏng, thiêu hủy và tiêu diệt. Ngài ghét tội lỗi, và Ngài đứng lên như một vị thẩm phán công minh, sẵn sàng dành những hình phạt thật công bằng cho tất cả những ai dám thách thức quyền cai trị của Ngài. Nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời cũng thực hữu nữa. Nó có thật đến độ Ngài đã sai Con Ngài, là Đấng Mê-si-a tức Chúa Cứu Thế đến để cứu rỗi và nhận lấy sự đoán phạt thay cho tội nhân. Yêu và ghét vốn đi đôi với nhau - cả hai đều bất diệt, bất khả kháng và vô bờ bến.
    Trong bảy chương sách ngắn ngủi, Mi-chê trình bày bức tranh trung thực này về Đức Chúa Trời - Đấng Chúa Tể toàn năng, ghét tội lỗi nhưng yêu tội nhân. Phần lớn quyển sách được dành để mô tả sự phán xét của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên (vương quốc miền Bắc), đối với dân Giu-đa (vương quốc miền nam), và đối với cả thế gian. Sự phán xét này sẽ đến “vì cớ sự phạm pháp của Gia-cốp, và vì cớ tội lỗi của nhà Y-sơ-ra-ên” (1:5) . Rồi nhà tiên tri liệt kê các tội đáng khinh bỉ của họ, kể cả gian lận (2:2) , trộm cướp (2:8) , tham lam (2:9) , gian dối (2:11) , áp bức (3:3) , đạo đức giả (3:4) , bội đạo (3:5) , bất công bất chính (3:9), bóc lột và nói dối (6:12) , sát nhân (7:2) và nhiều tội phạm khác nữa. Cho nên sự phán xét của Đức Chúa Trời sẽ đến.
    Giữa lời tiên báo hủy diệt tràn ngập đó, Mi-chê đưa ra một tia hi vọng và an ủi vì ông cũng mô tả cả tình yêu của Đức Chúa Trời nữa. Sự thật là sự phán xét chỉ đến sau vô số cơ hội có thể ăn năn, để quay trở lại với sự thờ phượng và vâng lời thật - “làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi” (6:8) . Nhưng ngay giữa sự phán xét, Đức Chúa Trời vẫn hứa giải cứu cho một thiểu số đã tiếp tục bước theo Ngài. Ngài vạch rõ: “Vua chúng nó đi qua trước mặt chúng nó, và Đức Giê-hô-va đi đầu chúng nó” (2:13) . Lẽ dĩ nhiên, nhà vua ở đây chính là Chúa Giê-xu; và chúng ta đọc thấy trong 5:2) là Ngài sẽ ra đời như một hài nhi tại Bết-lê-hem, một ngôi làng xa xôi hẻo lánh của xứ Giu-đê.
    Trong khi bạn đọc sách Mi-chê, hãy nhìn vào cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời được biến thành hành động khi Ngài phán xét và trừng phạt tội lỗi. Cũng hãy nhìn vào tình yêu của Đức Chúa Trời biến thành hành động khi Ngài đề nghị ban sự sống vĩnh hằng cho toàn thể những ai chịu ăn năn và tin Ngài. Rồi hãy quyết định gia nhập đám người tận trung còn sót lại của dân sự Đức Chúa Trời đang sống theo đúng ý chỉ của Ngài.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để cảnh cáo dân sự của Đức Chúa Trời rằng sự phán xét đã gần đến, và Ngài đang đề nghị tha thứ cho tất cả những người chịu ăn năn.
    Trước giả: Mi-chê, một nhân vật quê quán ở Mô-rê-sết, gần Gát, khoảng 20 dặm về phía Tây Nam Giê-ru-sa-lem.
    Đọc giả: Cho dân Y-sơ-ra-ên (vương quốc miền Bắc) và dân Giu-đa (vương quốc miền Nam).
    Niên đại viết sách: Có lẽ dưới thời trị vì của các vua Giô-tham, A-cha, và Ê-xê-chia ( 742 - 687 TC).
    Bối cảnh: Tình hình chính trị được mô tả trong IIVua 2V 15:1-20:11IISu 2Sb 26:1-30:27.Mi-chê sống đồng thời với Ê-sai và Ô-sê.
    Câu chìa khoá: “Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện; cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường vói Đức Chúa Trời ngươi sao?” (6:8)
    Các nhân vật chính: Dân chúng hai thành phố Sa-ma-ri và Giê-ru-sa-lem
    Các điạ danh chính: Sa-ma-ri, Giê-ru-sa-lem, Bết-lê-hem.
    Những nét đặc trưng: Đây là một thí dụ đẹp đẽ của thi ca cổ điển Hy-bá-lai. Sách gồm ba phần, mỗi phần đều bắt đầu bằng “Hãy nghe” (1:2;3:1; 6:1) và kết thúc bằng một lời hứa.
    Bố cục:
    1. Sự thử thách đối với hai thủ đô (1:1-2:13)
    2. Sự thử thách đối với các cấp lãnh đạo (3:1-5:15)
    3. Sự thử thách đối với dân sự (6:1-7:20) .
    Mi-chê nhấn mạnh trên sự cần thiết của công lý và hoà bình. Như một luật gia, ông trình bày vụ kiện của Đức Chúa Trời chống lại Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, các cấp lãnh đạo và dân của hai nước ấy. Xuyên suốt quyển sách là nhiều lời tiên tri về Chúa Giê-xu, tức là Đấng Mê-si-a, sẽ tập họp dân sự lại thành một quốc gia thống nhất. Ngài sẽ làm vua và là người cai trị họ, hành động nhân từ khoan dung đối với họ. Mi-chê vạch rõ rằng Đức Chúa Trời ghét thói bất nhân, việc thờ thần tượng, và các lễ nghi rỗng tuếch - và ngày nay, Ngài cũng ghét những điều đó. Nhưng Đức Chúa Trời rất sẵn lòng tha tội cho bất cứ ai ăn năn.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Đức tin lệch lạc
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt các tiên tri giả, các cấp lãnh đạo bất lương và các thầy tế lễ ích kỷ trong xứ Y-sơ-ra-ên và Giu-đa. Trong khi họ vẫn công khai thực hiện các nghi lễ tôn giáo, họ lại tìm cách thu thập tiền bạc và thế lực riêng tư. Pha lẫn các động cơ thúc đẩy vị kỷ với một cách phô trương tôn giáo rỗng tuếch, là làm lệch lạc đức tin.
    Tầm quan trọng: Đừng tìm cách pha lẫn các ham muốn ích kỷ của bạn với đức tin thật đặt vào Đức Chúa Trời. Có ngày Đức Chúa Trời sẽ phanh phui cho thấy thay thế bất cứ điều gì cho lòng trung thành với Ngài là dại dột như thế nào. Pha lẫn tư lợi với tôn giáo sẽ khiến cho đức tin của bạn bị lệch lạc.
    Luận đề: Ap bức
    Lời giải thích: Mi-chê tiên báo sự tàn hại cho tất cả các dân tộc và các cấp lãnh đạo nào đang áp bức kẻ khác. Giai cấp thượng lưu áp bức và bóc lột người nghèo. Thế nhưng đã chẳng có ai nói gì chống lại họ cả để ngăn chận họ lại. Đức Chúa Trời sẽ không bỏ qua sự bất công đó.
    Tầm quan trọng: Chúng ta không thể cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ mình trong khi chúng ta lại chẳng đếm xỉa gì đến những người đang thiếu thốn và bị áp bức, hoặc trong khi chúng ta bỏ qua hành động của những kẻ áp bức họ.
    Luận đề: Đấng Mê-si-a - Nhà Vua hoà bình
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời hứa ban một nhà vua mới để đem sự hùng cường và hoà bình đến cho dân Ngài. Từ nhiều trăm năm trước ngày Chúa Cứu Thế ra đời, Đức Chúa Trời đã hứa rằng nhà vua đời đời đó sẽ được sinh ra tại Bết-lê-hem. Đó chính là kế hoạch lớn của Đức Chúa Trời để nhờ Đấng Mê-si-a phục hồi địa vị cho dân Ngài.
    Tầm quan trọng: Chúa Cứu Thế là vua của chúng ta đang dẫn dắt chúng ta đúng y như Đức Chúa Trời đã hứa. Nhưng trước ngày phán xét cuối cùng, sự lãnh đạo của Ngài chỉ được những người tán thành uy quyền của Ngài thấy được mà thôi. Chúng ta có thể được sự bình an của Đức Chúa Trời ngay bây giờ nhờ từ bỏ tội lỗi mình và hoan nghênh Ngài làm vua.
    Luận đề: Làm đẹp lòng Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Mi-chê truyền giảng rằng ước muốn quan trọng nhất của Đức Chúa Trời không phải là việc người ta dâng nhiều của lễ tại đền thờ. Đức Chúa Trời thích những người có đức tin để làm điều công bằng, yêu thương tha nhân và vâng lời Ngài.
    Tầm quan trọng: Đức tin thật vào Đức Chúa Trời làm nảy sinh lòng nhân ái, thương xót, sự công bằng và thái độ khiêm hạ. Chúng ta có thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời bằng cách tìm cầu những điều đó trong công tác, gia đình Hội thánh và hàng xóm của chúng ta.

    Dẫn nhập Na-hum
    Các niên đại
    Ma-na-se làm vua Giu-đa năm 697 TC.
    Ashurbanipal làm vua A-sy-ri năm 669 Tc.
    Thê-bết thất thủ, Na-hum trở thành nhà tiên tri, năm 663 TC.
    Giô-si-a làm vua Giu-đa, Sô-phô-ni trở thành nhà tiên tri năm 640 TC.
    Giê-rê-mi trở thành nhà tiên tri, năm 627 TC.
    Ni-ni-ve sụp đổ, năm 612 TC.
    A-sy-ri bị chinh phục hoàn toàn, năm 609 TC.
    Người Ba-by-lôn với trận đánh Cạt-kê-mít năm 605 TC.
    Giu-đa sa vào tay Ba-by-lôn năm 586 TC.
    Lời giới thiệu
    Tiếng còi ré lên xé không khí, và mọi hoạt động trên sân bóng đều đột ngột dừng lại. Chỉ vào vận động viên phạm lỗi, viên trọng tài thét lên “Lỗi!”.
    Luật lệ, lỗi lầm và những quả phạt là một phần của bất cứ trò chơi thể thao nào, và chúng được các trọng tài, thẩm phán và nhiều quan chức khác nữa điều chỉnh và áp dụng chặt chẽ. Tất cả những người tham dự đều biết rằng các ranh giới phải được xác lập, cách chơi phải được điều khiển, bằng không, cuộc thi tài sẽ thoái hoá để chỉ còn là một cảnh hỗn loạn.
    Trong thế gian này cũng có các quy luật nũa, tức là các ranh giới và quy luật cho cách sống, được Đức Chúa Trời xác lập. Nhưng loài người - cả nam lẫn nữ - vẫn thường xuyên vi phạm các quy tắc ấy bằng cách che giấu các lỗi lầm của họ hoặc phóng đại các vi phạm của người khác và tuyên bố rằng mọi sự cần phải được thực hiện cho phải phép. Đức Chúa Trời gọi đó là tội - tức là việc cố ý không tuân thủ, chống lại quyền cai trị kiểm soát của Ngài hoặc lạnh nhạt dửng dưng. Và thỉnh thoảng mọi sự việc có vẻ như những kẻ vi phạm lại thành công - chẳng có tiếng còi thổi, chẳng có lời tuyên bố vi phạm nào cả, và những cá nhân độc tài độc đoán lại cầm quyền cai trị. Tuy nhiên, sự thật là cuối cùng thì rồi công lý cũng sẽ được phục vụ trong thế gian. Đức Chúa Trời sẽ sắp xếp mọi kết toán.
    A-sy-ri là cường quốc hùng mạnh nhất trên đất này. Kiêu ngạo, tự thị tự mãn về lực lượng quân sự của mình, nó đã cướp phá đàn áp, tàn sát các nạn nhân của mình. Mới một trăm năm trước đây, Giô-na đã truyên giảng trên các đường phố của đô thị lớn Ni-ni-ve; dân chúng đã được nghe bức thông điệp của Đức Chúa Trời và đã xây bỏ tội lỗi. Nhưng chỉ một thế hệ sau đó - điều ác lại ngự trị, và nhà tiên tri Na-hum đã phải công bố sự phán xét đối với dân tộc xấu xa gian ác ấy. Ni-ni-ve được gọi là một “thành đổ máu” (NaNk 3:1), một thành phố hung ác (NaNk 3:19), còn dân A-sy-ri thì bị phán xét vì thói tự phụ tự mãn (NaNk 1:1), thờ thần tượng (NaNk 1:14), giết người, nói dối, gian lận, và bất công xã hội (NaNk 3:1-19). Do tội lỗi của họ, Na-hum đã tiên báo rằng dân tộc hùng cường và kiêu ngạo đó sẽ bị hoàn toàn tiêu diệt. Và kết thúc đã đến trong vòng 50 năm.
    Trong việc phán xét A-sy-ri và thành phố thủ đô của nó là Ni-ni-ve này, Đức Chúa Trời cũng phán xét cả một thế gian tội lỗi. Và bức thông điệp thì thật là rõ ràng - sự không vâng lời, phản loạn, và bất công sẽ không thể nào thắng được, mà sẽ bị một Đức Chúa Trời công chính và thánh khiết đang cai trị trên cả đất này, trừng phạt nghiêm khắc.
    Trong khi đọc sách Na-hum, hãy nhận thức cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời trong khi Ngài báo thù tội lỗi và đưa công lý đến. Sau đó bạn hãy quyết định sống dưới sự chỉ dẫn của Ngài và trong các luật lệ, lệnh truyền, và hướng dẫn của Ngài cho đời sống.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để công bố sự phán xét của Đức Chúa Trời trên A-sy-ri và để an ủi Giu-đa với chân lý này.
    Trước giả: Na-hum
    Đọc giả: Cho dân chúng Ni-ni-ve và Giu-đa.
    Niên đại viết sách: Đâu đó trong giai đoạn thi hành chức vụ tiên tri của Na-hum (có lẽ giữa những năm 663 và 612 TC)
    Bối cảnh: Lời tiên tri riêng biệt này được công bố sau khi Thê-lết thất thủ năm 663 TC (NaNk 3:8-10).
    Câu chìa khoá: “Đức Giê-hô-va là tốt lành, làm đồn lũy trong ngày hoạn nạn, và biết những kẻ ẩn náu nơi Ngài. Ngài dùng nước lụt hủy diệt chỗ nó, và đuổi kẻ thù nghịch mình vào sự tối tăm. Các ngươi sẽ lập mưu gì nghịch cùng Đức Giê-hô-va? Ngài sẽ diệt hết cả sẽ chẳng có tai nạn dậy lên lần thứ hai” (NaNk 1:7-9).
    Địa điểm chính: Ni-ni-ve
    Bố cục:
    1. Ni-ni-ve bị phán xét (NaNk 1:1-15)
    2. Ni-ni-ve bị đoán phạt (NaNk 2:1-3:19)
    Ni-ni-ve thủ đô của đế quốc A-sy-ri, là đề tài cho lời tiên tri của Na-hum. Tin tức về việc nó sắp bị tiêu diệt là một lời an ủi cho Giu-đa, vốn đang bị A-sy-ri đô hộ. Giu-đa sẽ không còn bị bắt buộc phải cống nộp để bảo đảm là mình sẽ không bị tấn công nữa. Giu-đa được an ủi khi biết rằng Đức Chúa Trời vẫn còn nắm quyền kiểm soát. Ni-ni-ve là một tấm gương cho tất cả các nhà cầm quyền và các dân các nước trên thế giới hiện nay. Đức Chúa Trời cầm quyền tể trị trên tất cả, kể cả những kẻ trông có vẻ như bất khả chiến bại. Chúng ta có thể tin quyết rằng quyền năng và công lý của Đức Chúa Trời có ngày sẽ chinh phục mọi xấu xa gian ác.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Đức Chúa Trời phán xét
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời sẽ phán xét thành phố Ni-ni-ve vì các tội thờ thần tượng, tự phụ tự mãn và áp bức bóc lột của nó. Tuy A-sy-ri là một thế lực quân sự hàng đầu thế giới, Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn tiêu diệt dân tộc “bất khả chiến bại” này. Đức Chúa Trời không cho phép một người nào hay thế lực nào tiếm quyền hay chế nhạo uy quyền của Ngài.
    Tầm quan trọng: Bất cứ ai cứ giữ thái độ tự phụ tự mãn và chống lại uy quyền của Đức Chúa Trời đều sẽ phải trực diện với cơn thịnh nộ của Ngài. Chẳng hề có một nhà cầm quyền hay dân tộc nào có thể thoát được bằng cách chối bỏ Ngài. Chẳng hề có môt cách nào trốn tránh được sự phán xét của Ngài. Còn những ai giữ lòng tin cậy Đức Chúa Trời sẽ được bảo vệ an toàn mãi mãi.
    Luận đề: Đức Chúa Trời cai trị
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời cai trị trên cả đất này, kể cả trên những kẻ không nhìn nhận Ngài. Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng, nên chẳng có ai phá hỏng được các kế hoạch của Ngài. Đức Chúa Trời sẽ chiến thắng bất cứ kẻ nào thách đố Ngài. Quyền năng của loài người chống lại Đức Chúa Trời chỉ là phí công vô ích.
    Tầm quan trọng: Nếu bạn có lo âu sợ hãi những loại vũ khí, đạo quân hay con người có thế lực nào, khá nhớ rằng chỉ một mình Đức Chúa Trời mới có thể thật sự cứu vớt bạn khỏi sự lo sợ hoặc áp bức. Chúng ta phải đặt lòng tin vào Đức Chúa Trời vì chỉ một mình Ngài mới là Đấng cai trị mọi sự trong lịch sử, trên đất này và đời sống chúng ta.

    Dẫn nhập Ha-ba-cúc
    Các niên đại
    Giê-rê-mi trở thành nhà tiên tri năm 627 TC
    Ha-ba-cúc trở thành nhà tiên tri năm 612 TC
    Vua Giô-si-a tử trận, năm 609 TC
    Đa-ni-ên bị bắt đi đày sang Ba-by-lôn năm 605 TC
    Ê-xê-chi-ên bị đày sang Ba-by-lôn, Sê-đê-kia lên ngôi năm 597 TC.
    Chức vụ của Ha-ba-cúc kết thúc, năm 588 TC
    Giu-đa thất thủ, Giê-ru-sa-lem bị phá hủy năm 586 TC.
    Lời giới thiệu
    Từ những tìm tòi ngây thơ của trẻ con, cho đến những cuộc tranh luận phức tạp trong trường đại học, cuộc đời vốn đã đầy dẫy những thắc mắc được đặt thành vấn đề. Đặt các câu hỏi thế nào, tại sao và khi nào, là chúng ta muốn thăm dò bên dưới lớp mặt để tìm những câu trả lời thoả đáng. Nhưng không phải tất cả các câu hỏi đều có lời đáp đã được gói ghém và buộc chặt gọn gàng. Những nghi vấn chưa giải đáp đó tạo ra càng nhiều thắc mắc dai dẳng, nhiều nghi ngờ phá hoại tinh thần hơn nữa. Một số người đã chọn cứ sống với những mối hoài nghi của họ, chẳng đếm xỉa gì đến chúng, và cứ lao vào cuộc sống. Nhiều người khác lại trở thành cay cú và cứng cỏi. Nhưng có nhiều người từ chối cách chọn lựa đó, cứ tiếp tục thắc mắc tra hỏi, mong tìm những câu trả lời thỏa đáng cho tâm linh.
    Ha-ba-cúc là một người đi tìm những lời giải đáp. Thắc mắc trước những gì mình thấy, ông đã đặt ra nhiều câu hỏi khó. Các câu hỏi này không phải chỉ là những bài tập rèn luyện trí tuệ hay những lời phàn nàn cay đắng. Ha-ba-cúc đã thấy môt thế giới đang hấp hối khiến lòng ông như bị vỡ tan. Tại sao lại có điều ác trong thế gian này? Tại sao kẻ ác dường như vẫn chiến thắng? Ông đã mạnh dạn và tin tưởng dâng trực tiếp những lời phàn nàn của mình cho Đức Chúa Trời. Và Ngài đã giải đáp... bằng một loạt chứng cứ và lời tiên báo tràn ngập như một trận tuyết lở vậy.
    Các thắc mắc của nhà tiên tri và lời giải đáp của Đức Chúa Trời đã được ghi lại trong sách này. Khi lật qua các trang sách, chúng ta lập tức trực diện với những tiếng kêu gào cấp bách của ông: “Hỡi Đức Giê-hô-va! Tôi kêu van mà Ngài không nghe tôi cho đến chừng nào? Tôi vì cớ sự bạo ngược kêu van cùng Ngài, mà Ngài chẳng khứng giải cứu tôi!” (HaKb 1:2). Thật vậy, phần lớn của chương sách đầu tiên đã được dành cho các câu hỏi của ông. Khi chương thứ hai bắt đầu, Ha-ba-cúc tuyên bố ông sẽ chờ để được nghe Đức Chúa Trời trả lời cho những than phiền của ông. Và rồi Đức Chúa Trời bắt đầu lên tiếng, bảo nhà tiên tri hãy viết lại lời giải đáp của Ngài thật rõ ràng để mọi người đều sẽ thấy và hiểu. Đức Chúa Trời phán sự việc có vẻ như kẻ ác vẫn thắng, nhưng cuối cùng rồi chúng sẽ bị phán xét, và sự công chính sẽ thắng hơn. Có lẽ sự phán xét sẽ không đến nhanh chóng, nhưng rồi nó chắc chắn sẽ đến. Lời giải đáp của Đức Chúa Trời đã được ghi đầy cả chương thứ hai. Và Ha-ba-cúc đã kết thúc quyển sách của ông bằng một bài cầu nguyện khải hoàn. Với những thắc mắc đã đươc giải đáp và một sự thông hiểu mới mẻ về quyền năng và tình yêu của Đức Chúa Trời, Ha-ba-cúc vui mừng về Đức Chúa Trời là ai, và những gì Ngài sẽ làm “Dầu vậy, tôi sẽ vui mừng trong Đức Giê-hô-va, tôi sẽ hớn hở trong Đức Chúa Trời của sự cứu rỗi tôi, Đức Giê-hô-va là Chúa, là sức mạnh của tôi, Ngài làm cho chơn tôi giống như chơn con hươu, khiến tôi đi trên các nơi cao của mình” ( HaKb 3: 18, 19)
    Hãy lắng nghe những câu hỏi sâu sắc mà Ha-ba-cúc đã mạnh dạn dâng lên cho Đức Chúa Trời để nhận thức được rằng chính bạn cũng có thể dâng những lời phàn nàn và thắc mắc của mình lên cho Ngài nữa. Hãy lắng nghe những lời giải đáp của Đức Chúa Trời và vui mừng về công tác của Ngài trên thế gian và trong đời sống của bạn.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để minh chứng Đức Chúa Trời vẫn còn cầm quyền cai trị kiểm soát thế gian này bất chấp việc dường như điều ác đang thắng thế.
    Trước giả: Ha-ba-cúc
    Đọc giả: Cho xứ Giu-đa (vương quốc miền Nam) và những người thuộc về Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Giữa các năm 612 và 588 TC.
    Bối cảnh: Ba-by-lôn đã trở thành cường quốc áp đảo cả thế giới và chẳng bao lâu nữa, Giu-đa sẽ nhận thấy lực lượng hủy diệt của Ba-by-lôn.
    Câu chìa khoá: “Hỡi Đức Giê-hô-va tôi đã nghe danh tiếng Ngài thì tôi sợ hãi. Hỡi Đức Giê-hô-va! Xin Ngài lại khiến công việc Ngài dấy lên giữa các năm, tỏ ra cho biết giữa các năm; khi Ngài đương giận, xin hãy nhớ lại sự thương xót” ( HaKb 3: 2)
    Các nhân vật chính: Ha-ba-cúc, người Ba-by-lôn.
    Địa điểm chính: Xứ Giu-đa
    Bố cục:
    1. Lời phàn nàn của Ha-ba-cúc (HaKb 1:1-2:20)
    2. Lời cầu nguyện của Ha-ba-cúc ( HaKb 3: 1-19)
    Khi Ha-ba-cúc có thắc mắc ông đã trực tiếp trình các mối bận tâm của ông lên cho Đức Chúa Trời. Sau khi nhận được lời đáp của Ngài, ông đã đáp lại bằng một bài cầu nguyện bởi đức tin. Gương của Ha-ba-cúc đáng là một khích lệ để chúng ta phấn đấu đi từ chỗ nghi ngờ đạt đến đức tin. Chúng ta chẳng cần chi phải sợ đặt câu hỏi với Đức Chúa Trời. Vấn đề vốn không phải là Đức Chúa Trời hay các đường lối của Ngài, nhưng là sự hiểu biết hạn chế của chúng ta về Ngài.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Phấn đấu với nghi ngờ
    Lời giải thích: Ha-ba-cúc đã hỏi Đức Chúa Trời tại sao những kẻ gian ác trong xứ Giu-đa lại không bị trừng phạt vì tội lỗi của họ. Ông đã không hiểu tại sao một Đức Chúa Trời công bằng lại để cho điều gian ác như thế cứ tồn tại. Đức Chúa Trời sử dụng người Ba-by-lôn để trừng phạt xứ Giu-đa. Lúc Ha-ba-cúc kêu gào xin Đức Chúa Trời trả lời trong thì giờ phấn đấu của ông. Ngài đã đáp lại ông bằng những lời lẽ đầy hi vọng.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời muốn chúng ta đến gần Ngài với những trăn trở nghi ngờ của chúng ta. Nhưng câu trả lời của Ngài có thể không phải là lời đáp mà chúng ta trông đợi. Đức Chúa Trời nâng đỡ chúng ta bằng cách tự tỏ mình ra cho chúng ta. Tin cậy Ngài dẫn tới hi vọng trấn an chúng ta, chứ không phải là sự phản kháng cay đắng.
    Luận đề: Quyền tể trị của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Ha-ba-cúc đã chất vấn Đức Chúa Trời tại sao Ngài lại dùng người Ba-by-lôn gian ác để trừng phạt dân sự Ngài. Đức Chúa Trời dạy rằng rồi đây Ngài cũng sẽ trừng phạt người Ba-by-lôn sau khi họ đã hoàn thành chủ đích của Ngài.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời vẫn cầm quyền cai trị kiểm soát thế gian này bất chấp việc kẻ ác dường như đang chiến thắng. Đức Chúa Trời không bỏ qua tội lỗi đâu. Sẽ đến ngày Ngài cai trị cả đất này bằng công lý trọn vẹn.
    Luận đề: Hi vọng
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hoá, Ngài có toàn quyền. Ngài có kế hoạch riêng và sẽ hoàn tất nó. Ngài sẽ trừng phạt tội lỗi. Ngài là sức mạnh và là nơi trú ẩn an toàn cho chúng ta. Chúng ta có thể tin quyết rằng Ngài Ngài sẽ yêu thương và gìn giữ mối liên hệ giữa chúng ta với Ngài mãi mãi.
    Tầm quan trọng: Hi vọng có nghĩa là vượt trên các từng trải hằng ngày chẳng mấy thích thú của chúng ta, để có được niềm vui vì được biết Đức Chúa Trời. Chúng ta sống bằng cách tin cậy Ngài chứ không phải bằng lợi lộc, hạnh phúc hay thành công có thể có được trong đời này. Nhờ Đức Chúa Trời mà chúng ta có hi vọng.

    Dẫn nhập Sô-phô-ni
    Các niên đại
    Sô-phô-ni trở thành nhà tiên tri; Giô-si-a làm vua Giu-đa năm 640 TC
    Giê-rê-mi trở thành nhà tiên tri năm 627 TC
    Sách Luật pháp được tìm thấy trong đền thờ năm 622 TC
    Chức vụ của Sô-phô-ni kết thúc, năm 612 TC
    Giô-si-a tử trận năm 609 TC
    Các tù binh đầu tiên bì đày sang Ba-by-lôn, năm 605 TC.
    Ba-by-lôn tấn công xứ Giu-đa lần thứ hai năm 597 TC
    Giu-đa (vương quốc miền Nam) sụp đổ 586 TC.
    Lời giới thiệu
    Nỗi buồn khổ tràn ngập, sự lo âu dai dẳng, bị lạm dụng không ngừng, bị bách hại liên tục, và sự trừng phạt gần kề đưa người ta đến chỗ chán nản, tuyệt vọng. “Phải chi”, chúng ta kêu lên như thế khi kiểm điểm lại tâm trí để tìm một lối thoát và nhìn lên trời để trông mong sự cứu vớt. Bằng một tia hi vọng mong manh mà thôi, chúng ta phải can đảm lên và bắt tay vào việc, sẵn sàng chịu đựng cho đến cuối cùng.
    Hi vọng là tia nắng bạc của mặt trời xuyên thẳng bầu trời tối tăm đầy giông bão, là những lời an ủi trong cơn nguy khốn ngặt nghèo, là một bức thư vượt qua một vùng biển, là con chim đầu tiên báo hiệu mùa xuân đậu trên một cành cây còn đầy tuyết, và là dòng chữ cuối cùng còn được nhìn thấy. Nó là một chiếc cầu vồng, một bài ca, một cái vuốt ve bằng tình thương. Hi vọng là nhận biết Đức Chúa Trời và cứ ở trong tình yêu của Ngài.
    Là một tiên tri của Đức Chúa Trời, Sô-phô-ni bị bắt buộc phải nói thật - đó là việc mà ông làm thật rõ ràng, rao ra một sự phán xét và trừng phạt đáng ghê tởm như tiếng sấm cho tất cả những ai dám thách đố Đức Giê-hô-va. Cơn thịnh nộ đáng sợ của Đức Chúa Trời sẽ tràn ngập trên tất cả những gì đang có trên đất và hủy diệt đi. “Ta sẽ diệt loài người và loài thú, chim trời và cá biển, cùng mọi sự ngăn trở với kẻ dữ; và ta sẽ trừ tiệt loài người khỏi mặt đất, Đức Giê-hô-va phán vậy” (SoXp 1:3) sẽ chẳng có sinh vật nào trên đất thoát được. Và cái ngày khủng khiếp đó chẳng bao lâu nữa, sẽ đến. “Ngày lớn của Đức Giê-hô-va đã gần, đã gần rồi; nó đến rất kíp. Ngày của Đức Giê-hô-va có tiếng động; bấy giờ người mạnh dạn sẽ kêu khóc đắng cay. Ngày ấy là ngày thạnh nộ, ngày hoạn nạn và buồn rầu, ngày hủy phá và hoang vu, ngày tối tăm và mờ mịt, ngày mây và sương mù” (SoXp 1:14,15). Chúng ta có thể cảm thấy cảm giác ngột ngạt và suy sụp của các thính giả của ông. Họ đã bị phán xét và buộc tội; số phận của họ đã bị định đoạt rồi.
    Nhưng giữa lời công bố khủng khiếp này, vẫn còn có hi vọng. Chương một của sách tiên tri Sô-phô-ni vốn đầy dẫy nỗi kinh hoàng. Tuy nhiên, trong chương hai, một tiếng thì thầm của lời hứa đã xuất hiện. “Hỡi các ngươi là kẻ nhu mì của đất, làm theo mạng lịnh của Chúa, hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va, tìm kiếm sự nhu mì, hoặc giả các ngươi sẽ được giấu kín trong ngàythạnh nộ của Đức Giê-hô-va” (SoXp 2:3). Và chỉ mấy câu sau đó thôi, chúng ta đọc thấy một “phần sót lại của nhà Giu-đa” (SoXp 2:7) sẽ được phục hồi địa vị.
    Cuối cùng trong chương ba, điệp khúc tĩnh lặng ấy từ từ được trổi lên ngày càng cao giọng hơn, khi sự cứu rỗi và giải phóng của Đức Chúa Trời đối với những người tận trung với Ngài được công bố: “Hỡi con gái Si-ôn, hãy hát! Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy kêu la! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy hết lòng mừng rỡ và vui thích! Đức Giê-hô-va đã trừ bỏ sự phán xét ngươi, khiến kẻ thù nghịch cách xa ngươi; Vua của Y-sơ-ra-ên, tức là Đức Giê-hô-va ở giữa ngươi, ngươi sẽ không tai vạ nữa” (SoXp 3:14,15). Đây là hi vọng đích thực, đặt nền trên kiến thức về công lý của Đức Chúa Trời và trong tình yêu của Ngài đối với dân Ngài.
    Trong khi bạn đọc sách Sô-phô-ni, hãy cẩn thận lắng nghe những lời phán xét. Đức Chúa Trời không xem nhẹ tội lỗi đâu, mà nó sẽ phải bị trừng phạt. Nhưng hãy can đảm lên, căn cứ vào các lời lẽ ban hi vọng - Đức Chúa Trời của chúng ta đang trị vì, và Ngài sẽ cứu vớt dân Ngài. Hãy quyết định để được dự phần trong số những linh hồn tận trung còn sót lại, vẫn khiêm hạ thờ phượng và vâng lời Chúa hằng sống.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để lay tỉnh dân Giu-đa khỏi thói tự phụ tự mãn và khuyến giục họ quay trở lại với Đức Chúa Trời.
    Trước giả: Sô-phô-ni
    Đọc giả: Cho Giu-đa và tất cả các dân các nước.
    Niên đại viết sách: Có lẽ vào gần cuối giai đoạn thi hành chức vụ của Sô-phô-ni (640-621 TC), lúc vua Giô-si-a là nhà đại cải cách, bắt đầu trị vì.
    Bối cảnh: Vua Giô-si-a của Giu-đa đang tìm cách đảo ngược các giềng mối gian ác do hai nhà vua tiền nhiệm của Giu-đa là Ma-na-se và A-môn thiết đặt. Giô-si-a sở dĩ mở rộng được ảnh hưởng là nhờ lúc ấy, đã không có một siêu cường quốc nào đang thống trị thế giới cả (bấy giờ A-sy-ri đang suy tàn nhanh cóng). Lời tiên tri của Sô-phô-ni có lẽ là yếu tố chủ yếu đã thúc đẩy cuộc cải cách của Giô-si-a. Sô-phô-ni là một nhân vật đồng thời với Giê-rê-mi.
    Câu chìa khoá: “Hỡi các ngươi là mọi kẻ nhu mì của đất, làm theo mạng lịnh của Chúa, hãy tìm kiếm Đức Giê-hô-va, tìm kiếm sự công bình, tìm kiếm sự nhu mì, hoặc giả các ngươi sẽ được giấu kín trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va” (SoXp 2:3)
    Địa danh chính: Giê-ru-sa-lem.
    Bố cục:
    1. Ngày thịnh nộ (SoXp 1:1-3:7)
    2. Ngày hi vọng (SoXp 3:8-20)
    Sô-phô-ni cảnh cáo dân Giu-đa rằng nếu họ không chịu ăn năn, toàn xứ kể cả thành phố Giê-ru-sa-lem yêu dấu sẽ bị tiêu vong. Dân sự vốn biết rằng đến cuối cùng thì rồi Đức Chúa Trời cũng sẽ ban phước cho họ, nhưng Sô-phô-ni vạch rõ rằng trước hết phải có sự phán xét, rồi mới có việc ban phước. Sự phán xét này không phải chỉ là sự trừng phạt vì cớ tội lỗi, mà còn là một tiến trình thanh lọc dân sự nữa. Tuy chúng ta đang sống trong một thế giới sa bại, bị điều ác vây quanh, chúng ta vẫn còn hi vọng nơi vương quốc trọn vẹn của Đức Chúa Trời sẽ đến, và có thể cứ để cho bất cứ một sự trừng phạt nào chạm đến chúng ta lúc này, sẽ thanh lọc chúng ta khỏi tội lỗi.
    Các đại đề mục
    Luận đề: Ngày phán xét
    Lời giải thích: Sở dĩ dân Giu-đa sắp bị tiêu diệt vì họ đã quên mất Đức Giê-hô-va. Dân sự thờ lạy Ba-anh, Mo-lóc, và các đạo thiên binh. Cả đến các thầy tế lễ cũng pha lẫn cách hành đạo của ngoại giáo với đức tin đặt vào Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang sắp trừng phạt tội lỗi.
    Tầm quan trọng: Muốn thoát khỏi sự phán xét của Đức Chúa Trời, chúng ta phải lắng nghe Ngài, chấp nhận sự sửa trị của Ngài, tin cậy Ngài và tìm cầu sự hướng dẫn của Ngài. Nếu chúng ta nhận Ngài làm Chúa mình, thì có thể thoát được sự định tội của Ngài.
    Luận đề: Dửng dưng đối với Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Tuy thỉnh thoảng đã có vài nỗ lực canh tân, dân Giu-đa đã không có sự hối tiếc về tội lỗi mình. Dân sự được giàu có, nhưng chẳng còn quan tâm đến Đức Chúa Trời nữa. Việc Đức Chúa Trời đòi hỏi người ta phải sống công chính dường như không thích hợp với người Giu-đa, khi sự an ninh và giàu có đã khiến họ tự phụ tự mãn
    Tầm quan trọng: Đừng để cho tiện nghi vật chất gây trở ngại cho việc bạn tận hiến cho Đức Chúa Trời. Sự thịnh vượng có thể làm nảy sinh thái độ tự cao tự mãn. Phương thuốc chữa trị duy nhất, là phải thừa nhận rằng tiền bạc không cứu được chúng ta, mà chúng ta cũng không thể tự cứu. Chỉ Đức Chúa Trời mới cứu được chúng ta và chữa căn bệnh dửng dưng đối với các vấn đề thuộc linh của chúng ta mà thôi.
    Luận đề: Ngày hoan hỉ
    Lời giải thích: Ngày phán xét cũng sẽ là một ngày hoan hỉ. Đức Chúa Trời sẽ phán xét tất cả những kẻ ngược đãi dân Ngài.Ngài sẽ thanh lọc dân Ngài, tẩy sạch mọi tội lỗi và gian ác. Ngài sẽ phục hưng dân sự Ngài và ban hi vọng cho họ
    Tầm quan trọng: Một khi dân sự đã được tẩy sạch tội lỗi, sẽ có sự an ủi và hi vọng lớn. Cho dù hiện nay chúng ta có phải trải nghiệm khó khăn như thế nào, chúng ta vẫn có thẻ hướng tới ngày lễ mừng, khi Đức Chúa Trời sẽ phục hồi địa vị cho chúng ta. Đó sẽ thật là ngày hoan hỉ cho chúng ta.

    Dẫn nhập A-ghê
    Các niên đại
    Ba-by-lôn bị Si-ru lật đổ, năm 539TC
    Chiếu chỉ của Si-ru cho phép dân bị lưu đày hồi hương năm 538 TC
    Bắt đầu xây lại đền thờ năm 536 TC.
    Công tác xây lại đền thờ đình chỉ năm 530 TC
    A-ghê và Xa-cha-ri trở thành nhà tiên tri, công tác xây lại đền thờ tiếp tục, năm 520TC
    Đền thờ hoàn thành năm 516 TC.
    Lời giới thiệu
    Áp-lực, yêu sách, chờ trông, và công việc từ mọi phía xô đẩy, tấn công thời biểu của chúng ta. Hãy làm việc này! Phải có mặt đằng kia! Hãy làm cho xong phần này đi! Phải đốc thúc họ nhanh lên đi chứ! Mọi người dường như đều muốn ở chúng ta một điều gì đó - cả gia đình, bè bạn, chủ nhân, trường học, Hội thánh, các câu lạc bộ... Chẳng bao lâu nữa, chúng ta sẽ chẳng còn gì để cống hiến cho họ, chúng ta đã sắp sức cùng lực kiệt, hết cả thì giờ. Chúng ta tự cảm thấy mình lao đầu vào cuộc sống, chăm lo cho cái cần thiết, cái cận tiếp, cái cấp bách. Điều quan trọng là việc quá thường xảy ra, ấy là mọi sự rồi sẽ đều bị bỏ mặc cho bụi đất. Vấn đề của chúng ta không phải là số lượng các yêu sách hay thiếu tài năng sắp xếp thời biểu nhưng là vấn đề về các giá trị - điều gì mới là thật sự quan trọng đối với chúng ta đây?
    Quan điểm về các giá trị và những gì chúng ta phải dành quyền ưu tiên cho, cho thấy cách thức chúng ta sử dụng các nguồn tài nguyên của mình - tức là thì giờ, tiền bạc, sức lực và tài năng của chúng ta. Lắm khi hành vi của chúng ta đi ngược lại, chỉ dành cho Ngài một con số kém hơn nhiều trong các bảng liệt kê “những việc phải làm” của chúng ta.
    Hai mươi hai thế kỷ trước đây, một tiếng nói đã vang lên, kêu gọi những người nam người nữ hãy sắp xếp cho thật đúng các quyền ưu tiên cho công việc làm của mình. A-ghê biết rõ việc gì là quan trọng và việc gì mà chúng ta phải làm, nên ông đã thách thức dân sự của Đức Chúa Trời hãy đáp ứng.
    Vào năm 586 TC các đạo quân của Ba-by-lôn đã phá hủy đền thờ tại Giê-ru-sa-lem - tức là nhà của Đức Chúa Trời, biểu tượng của sự hiện diện Ngài giữa họ. Đến năm 538 TC, vua Si-ru ban hành chiếu chỉ cho dân Do Thái hồi hương, trở về với thành phố yêu dấu của họ để xây lại đền thờ. Do đó họ đã trở về Giê-ru-sa-lem và bắt đầu công tác ấy. Nhưng rồi họ lại quên mất chủ đích của mình và đánh mất ý thức về các quyền ưu tiên phải dành cho các công việc của họ, khi sự chống đối và thái độ lãnh đạm khiến cho công tác bị đình chỉ (Exo Er 4:4,5). Bấy giờ A-ghê đã lên tiếng kêu gọi họ hãy quay lại với các giá trị của Đức Chúa Trời. “Nay có phải là thì giờ các ngươi ở trong nhà có trần ván, khi nhà này hoang vu sao?” (AgKg 1:4). Dân sự đã quan tâm đến các nhu cầu của chính họ hơn là chú ý đến việc làm theo ý chỉ Đức Chúa Trời và hậu quả là họ đã gặp nhiều khổ nạn. A-ghê đã kêu gọi họ hãy bắt tay hành động “Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Các ngươi khá xem xét đường lối mình. Hãy lên núi, đem gỗ về, và xây nhà này, thì ta sẽ lấy nó làm vui lòng, và ta sẽ được sáng danh, Đức Giê-hô-va phán vậy” (AgKg Ag1:7,8), bức thông điệp của Đức Chúa Trời qua tôi tớ Ngài là A-ghê đã trở thành chất xúc tác khiến họ hoàn thành công việc.
    Tuy A-ghê chỉ là một sách ngắn, nó lại đầy dẫy nhưng thách đố và lời hứa, nhắc nhở chúng ta điều Đức Chúa Trời đòi hỏi đối với đời sống và các quyền ưu tiên của chúng ta. Trong khi bạn đọc sách A-ghê, hãy tưởng tượng là ông đang bước đi trên các đường phố lớn cũng như mọi ngỏ hẻm của thành phố Giê-ru-sa-lem, hô hào dân chúng hãy quay lại với việc của Đức Chúa Trời. Và hãy lắng nghe A-ghê ngỏ lời với chính bạn, thúc giục bạn hãy sắp xếp lại thứ tự cho các quyền ưu tiên của mình sao cho phù hợp với ý chỉ của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã dạy bạn phải làm gì? Hãy xếp mọi việc khác qua một bên và vâng lời Ngài.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để kêu gọi dân sự hoàn thành công tác xây lại đền thờ.
    Trước giả: A-ghê
    Đọc giả: Cho dân chúng đang sinh sống tại Giê-ru-sa-lem và những người đã được hồi hương từ cuộc lưu đày.
    Niên đại viết sách: Năm 520 TC.
    Bối cảnh: Ngôi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem đã bị phá hủy vào năm 586 TC. Si-ru cho phép dân Do Thái hồi hương để xây lại ngôi đền thờ của họ năm 538 TC. Họ đã bắt đầu công việc, nhưng không hoàn tất được. Qua chức vụ của A-ghê và Xa-cha-ri, đền thờ đã được hoàn tất (520-525 TC).
    Câu chìa khoá: “Nay có phải là thì giờ các ngươi ở trong nhà có trần ván, khi nhà này hoang vu sao?” (1:4)
    Các nhân vật chính: A-ghê; Xô-rô-ba-bên; Giê-hô-sua.
    Địa danh chính: Giê-ru-sa-lem.
    Những nét đặc trưng: A-ghê là nhà tiên tri đầu tiên của thời kỳ hậu lưu đày. Hai vị khác nữa là Xa-cha-ri và Ma-la-chi. Bút pháp của sách này thật đơn giản và bộc trực.
    Bố cục:
    1. Lời kêu gọi hãy xây lại đền thờ (1:1-15)
    2. Lời khích lệ hãy hoàn tất đền thờ (2:1-21)
    Lúc những kẻ bị lưu đày vừa từ Ba-by-lôn hồi hương, họ đã bắt tay ngay vào việc xây lại đền thờ. Tuy họ bắt đầu bằng thái độ đứng đắn, họ đã rơi vào tình trạng sai lầm, và công việc bị đình chỉ. Cũng thế, chúng ta phải cẩn thận giữ đúng các quyền ưu tiên mà chúng ta phải dành cho công việc. Phải luôn luôn tích cực trong công tác phục vụ Đức Chúa Trời của bạn, và tiếp tục đặt những công việc nào phải làm trước lên hàng đầu.
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Các quyền ưu tiên phải lẽ
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời đã giao cho dân Do Thái hoàn thành ngôi đền thờ tại Giê-ru-sa-lem khi họ từ cuộc lưu đày hồi hương. Sau 15 năm, họ vẫn chưa hoànt ất được. Họ vốn quan tâm lo xây nhà riêng cho họ, hơn là hoàn thành công tác của Đức Chúa Trời giao. A-ghê bảo họ phải sắp xếp lại các quyền ưu tiên của họ cho thật phải lẽ.
    Tầm quan trọng: Thật là dễ dành quyền ưu tiên để làm nhiều công việc khác, xem chúng là quan trọng hơn là công việc của Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải theo dõi xuyên suốt và lo xây dựng vương quốc của Ngài. Xin đừng đình chỉ, cũng đừng viện lý do để trì hoãn. Hãy chú tâm vào việc phải làm để hoàn tất nó. Hãy sắp xếp các quyền ưu tiên của bạn cho thật đúng thứ tự.
    Luận đề: Lời khích lệ của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: A-ghê khuyến khích dân sự trong khi họ làm việc. Ông bảo đảm với họ về sự hiện diện của Thánh Linh Đức Chúa Trời và về chiến thắng sau cùng, và thêm vào cho họ niềm hi vọng rằng rồi đây Đấng Mê-si-a sẽ trị vì.
    Tầm quan trọng: Nếu Đức Chúa Trời giao cho bạn một nhiệm vụ gì, xin đừng sợ phải bắt đầu thực hiện nó. Các nguồn tài nguyên của Ngài vốn vô tận. Đức Chúa Trời sẽ giúp bạn hoàn tất nó, và ban cho bạn những lời khích lệ từ nhiều người khác suốt con đường bạn đi.

    Dẫn nhập Xa-cha-ri
    Các niên đại
    Đa-ni-ên bị đày sang Ba-by-lôn năm 605 TC
    Ê-xê-chi-ên bị đày sang Ba-by-lôn năm 597 TC
    Giê-ru-sa-lem thất thủ, năm 586 TC
    Ba-by-lôn bị Si-ru lật đổ năm 539 TC
    Si-ru ban hành chiếu chỉ cho phép những kẻ bị lưu đày hồi hương năm 538 TC
    Bắt đầu xây dựng đền thờ năm 536 TC
    Công tác xây dựng đền thờ bị đình chỉ năm 530 TC
    A-ghê, Xa-cha-ri trở thành nhà tiên tri; công tác xây lại đền thờ được tái tục, năm 520 TC
    Đền thờ được hoàn thành năm 516 TC
    E-xơ-ra đến Giê-ru-sa-lem năm 458 TC
    Nê-hê-mi đến Giê-ru-sa-lem năm 445 TC
    Lời giới thiệu
    Tương lai - vùng biển bao la không có sơ đồ của những điều chẳng ai biết, nắm giữ cả niềm vui lẫn nỗi kinh hoàng, cả sự an ủi lẫn nỗi đau khổ, cả tình yêu lẫn nỗi cô đơn. Một số người sợ những ngày sắp đến tự hỏi chẳng hay có những điều xấu xa gian ác nào đang mai phục trong bóng tối; nhiều người khác lại tham vấn các thầy bói, các nhà lý số chuyên tán chuyện tương lai, cố tìm cách khám phá các bí mật trong đó một cách tuyệt vọng. Nhưng câu chuyện của tương lai thì chỉ có một mình Đức Chúa Trời biết rõ mà thôi, và Ngài cũng chỉ tiết lộ một phần nào cho các sứ giả đặc biệt, các nhà tiên tri được kêu gọi, mà Ngài đã mặc khải cho một vài chương sách.
    Nhiệm vụ đầu tiên của một nhà tiên tri là tuyên rao lời Chúa, vạch rõ tội lỗi, giải thích các hậu quả của nó, và kêu gọi những người nam người nữ hãy ăn năn và vâng lời Đức Chúa Trời. Ê-li, Ê-li-sê, Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Ô-sê và A-mốt đang đứng lên với hàng chục nhân vật khác nữa đã trung tín truyền giảng bức thông điệp của Đức Chúa Trời bất chấp bị khước từ, chế nhạo và bắt bớ bách hại. Và thỉnh thoảng họ được ban cho các khải tượng tiên tri, báo trước các biến cố hầu đến.
    Chiếm vị trí vào gần cuối Cựu ước kinh giữa số các văn phẩm được biết là các sách “tiểu tiên tri”, là sách Xa-cha-ri. Là một trong ba nhà tiên tri của thời kỳ hậu lưu đày, cùng với A-ghê và Ma-la-chi, Xa-cha-ri phục vụ cho số ít dân Do-thái còn sót lại đã hồi hương về xứ Giu-đa để xây lại đền thờ và đất nước họ. Cũng như A-ghê, ông khích lệ dân sự hoàn tất việc xây lại đền thờ, nhưng bức thông điệp của ông còn vượt xa hơn các vách thành vật thể và các vấn đề đương đại rất nhiều. Bằng óc tưởng tượng khải huyền ngoạn mục và những chi tiết như khắc hoạ, Xa-cha-ri đã nói về Đấng Mê-si-a, Đấng mà Đức Chúa Trời sẽ sai đến để cứu vớt dân Ngài và để cai trị trên cả thế gian này. Xa-cha-ri là một trong số các sách tiên tri quan trọng nhất của chúng ta, cung cấp nhiều tài liệu chi tiết để tham khảo về Đấng Mê-si-a, vốn đã ứng nghiệm hết sức rõ ràng trong cuộc đời của Đấng Christ. Ông nói việc xây lại đền thờ mới chỉ là hồi thứ nhất trong vở kịch về thời kỳ cuối cùng để mở màn cho kỷ nguyên của Đấng Mê-si-a. Xa-cha-ri tuyên rao một bức thông điệp và những kẻ bị lưu đày: Nhà Vua của họ sắp đến rồi!
    Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si-a, “Đấng giải phóng vĩ đại” của dân Y-sơ-ra-ên. Khác với các thính giả của Xa-cha-ri, chúng ta có thể nhìn lui trở vào chức vụ và sứ mạng của Đấng Christ . Trong khi nghiên cứu chi tiết trong cuộc đời của Chúa Giê-xu, đã được viết ra 500 năm trước khi chúng được ứng nghiệm. Hãy đọc và sửng sốt lo sợ trước một Đức Chúa Trời của chúng ta, là Đấng đã giữ đúng các lời hứa của Ngài. Nhưng ông còn có một bức thông điệp cho tương lai vẫn chưa ứng nghiệm - sự tái lâm của Đấng Christ vào cuối kỷ nguyên này. Cho nên, khi bạn đọc sách Xa-cha-ri, hãy suy nghĩ cho thật thấu đáo các hàm ý của biến cố đã hứa này. Vua của bạn sắp đến rồi, và Ngài sẽ trị vì mãi mãi.
    Đức Chúa Trời biết rõ và kiểm soát tương lai. Có lẽ chúng ta sẽ chẳng được thấy gì nhiều hơn là một khoảnh khắc trước người khác, nhưng chúng ta có thể an tâm nếu chúng ta tin cậy vào Ngài. Hãy đọc sách Xa-cha-ri để củng cố đức tin mà bạn đặt nơi Đức Chúa Trời, chỉ một mình Ngài mới là niềm hi vọng và là sự an toàn cho bạn.
    Các đặc điểm quan trọng:
    Chủ đích: Để ban hi vọng cho dân sự Đức Chúa Tròi bằng cách mặc khải sự giải phóng tương lai của Ngài, qua trung gian Đấng Mê-si-a.
    Trước giả: Xa-cha-ri
    Đọc giả: Cho người Do-thái tại Giê-ru-sa-lem vừa hồi hương từ cuộc lưu đày tại Ba-by-lôn, và cho những người thuộc về Đức Chúa Trời ở khắp nơi.
    Niên đại viết sách: Các TrGv 1:1-8:17 đã được viết ra trong khoảng những năm 520-518 TC. Các TrGv 9:1-14 được viết trước sau năm 480 TC.
    Bối cảnh: Những kẻ bị lưu đày đã từ Ba-by-lôn hồi hương để xây lại đền thờ, nhưng công tác ấy bị ngăn trở và phải đình chỉ, A-ghê và Xa-cha-ri đã trực diện với dân chúng về vấn đề công tác của họ và khuyến khích họ hãy hoàn tất nó.
    Câu chìa khoá: “Hỡi con gái Si-ôn, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy trổi tiếng reo vui! Này, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái. Ta sẽ trừ tiệt xe cộ khỏi Ép-ra-im, và ngựa khỏi Giê-ru-sa-lem; cung của chiến trận cũng sẽ bị trừ tiệt, và Ngài sẽ phán sự bình an cho các nước; quyền thế Ngài sẽ trải từ biển này đến biển kia, từ Sông cái cho đến các đầu cùng đất” (9:9,10)
    Các nhân vật chính: Xô-rô-ba-bên, Giê-hô-sua
    Địa điểm chính: Giê-ru-sa-lem
    Những nét đặc trưng: Trong các sách được gọi là tiểu tiên tri thì đây là tác phẩm có đặc tính khải huyền và đề cập Đấng Mê-si-a nhiều nhất.
    Bố cục:
    A.Những bức thông điệp trong lúc xây lại đền thờ (1:1-8:23)
    1. Các khải tượng ban đêm của Xa-cha-ri
    2. Những lời khích lệ của Xa-cha-ri
    Xa-cha-ri khuyến khích dân sự dứt bỏ tội lỗi trong đời sống của họ, và tiếp tục xây lại đền thờ. Các khải tượng của ông mô tả sự phán xét đối với các kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên, các phước hạnh dành cho Giê-ru-sa-lem và điều cần thiết là dân sự của Đức Chúa Trời phải giữ mình trong sạch - tránh thói đạo đức giả, chỉ sống theo mặt ngoài, và tội lỗi. Các khải tượng của Xa-cha-ri đem đến cho dân sự một hi vọng. Chúng ta cũng cần phải cẩn thận noi theo những lời chỉ giáo để cứ giữ mình thanh sạch cho đến ngày Đấng Christ tái lâm.
    B. Các bức thông điệp sau khi đền thờ được hoàn thành (9:1-14:21)
    Ngoài việc khích lệ và đem hi vọng đến, các bức thông điệp của Xa-cha-ri còn cảnh cáo rằng Nước của Đấng Mê-si-a sẽ không bắt đầu ngay sau khi đền thờ được hoàn tất. Các kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên sẽ bị phán xét, và Nhà Vua sẽ đến, nhưng dân chúng phải đương đầu với nhiều hoàn cảnh khó khăn trước khi nhận được các phước hạnh vương quốc của Đấng Mê-si-a. Chúng ta cũng phải gặp nhiều đau buồn, thất vọng, và hoạn nạn trước khi được vào Nước của Đấng Christ .
    Các đại đề mục:
    Luận đề: Lòng ghen tuông của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Đức Chúa Trời buồn lòng vì dân Ngài chẳng đếm xỉa gì đến các nhà tiên tri của Ngài qua nhiều năm, và Ngài quan tâm không muốn họ noi theo các cấp lãnh đạo vô tâm và giả dối, chỉ muốn khai thác họ. Không vâng lời là nguồn gốc của các vấn đề, và là nguyên nhân của sự khổ sở của họ. Đức Chúa Trời ghen tuông đối với vấn đề tận hiến của họ cho Ngài.
    Tầm quan trọng: Đức Chúa Trời ghen tuông vì vấn đề tận hiến của chúng ta. Muốn tránh sự tàn hại của Y-sơ-ra-ên, đừng noi theo các dấu chân của họ. Đừng chối bỏ Đức Chúa Trời, noi theo các giáo sư giả, hoặc dẫn người khác đi sai lạc. Hãy quay lại với Đức Chúa Trời, trung tín vâng theo các mệnh lệnh của Ngài, và chắc chắn rằng bạn đang dẫn dắt người khác theo con đường đúng.
    Luận đề: Xây lại đền
    Lời giải thích: Dân Do-thái bị thất vọng. Họ đã được giải thoát khỏi tù đày, nhưng đền thờ vẫn chưa hoàn tất. Xa-cha-ri khích lệ họ hãy tiếp tục xây lại nó. Đức Chúa trời sẽ vừa bảo vệ vừa thêm năng lực cho các công nhân (cán bộ) nhờ Thánh Linh Ngài, để thực hiện công tác của Ngài.
    Tầm quan trọng: Vấn đề quan trọng ở đây còn hơn cả việc xây lại đền thờ - dân sự đang lảo đảo bước vào hồi thứ nhất của vở kịch kỳ diệu của Đức Chúa Trời về các thời kỳ sau rốt. Những ai trong chúng ta tin vào Đức Chúa Trời, cần phải hoàn thành công tác Ngài giao. Muốn làm như thế, chúng ta phải được sự trợ giúp của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Trời sẽ ban Đức Thánh Linh cho chúng ta.
    Luận đề: Nhà vua sắp giáng lâm
    Lời giải thích: Đấng Mê-si-a sẽ đến, vừa để cứu vớt dân Ngài ra khỏi tội, vừa để trị vì như một nhà vua. Ngài sẽ lập nước Ngài, chinh phục tất cả các kẻ thù, và cai trị trên đất này. Sẽ có ngày mọi sự đều được đặt dưới quyền kiểm soát đầy tình thương và quyền năng của Ngài.
    Tầm quan trọng: Đấng Mê-si-a dã đến như một đầy tớ để chịu chết thay cho chúng ta. Ngài sẽ trở lại với tư cách một nhà vua chiến thắng. Lúc ấy Ngài sẽ đem hoà bình đến cho cả thế giới. Hãy đầu phục quyền lãnh đạo của Ngài ngay bây giờ để chuẩn bị sẵn sàng cho ngày trở lại khải hoàn của nhà Vua.
    Luận đề: Sự bảo vệ của Đức Chúa Trời
    Lời giải thích: Vào thời của Xa-cha-ri, đã có kẻ chống lại kế hoạch của Đức Chúa Trời và nhà tiên tri đã báo trước về những ngày hoạn nạn trong tương lai. Nhưng Lời Đức Chúa Trời vẫn còn mãi. Ngài vẫn nhớ các hoà ước Ngài từng lập với dân Ngài. Ngài chăm lo săn sóc cho họ, và sẽ giải cứu họ khỏi mọi thế lực của thế gian này đang áp bức họ.
    Tầm quan trọng: Tuy điều ác vẫn hiện diện, thì tình yêu vô hạn của Đức Chúa Trời và sự lo lắng chăm sóc của Ngài đã được chứng tỏ qua nhiều thế kỷ. Đức Chúa Trời vẫn giữ lời hứa của Ngài. Tuy thân thể chúng ta có thể bị hủy hoại, chúng ta chẳng bao giờ sợ cho số phận tối hậu của mình, nếu chúng ta yêu mến và tin cậy Ngài.

    Dẫn nhập Ma-la-chi
    Các niên đại
    Những kẻ bị lưu đày đầu tiên trở về Giê-ru-sa-lem, năm 538 TC
    Bắt đầu xây lại đền thờ năm 536 TC
    A-ghê, Xa-cha-ri trở thành nhà tiên tri năm 520 TC
    Đền thờ được hoàn tất năm 516 TC
    E-xơ-ra về đến Giê-ru-sa-lem năm 458 TC
    Nê-hê-mi về đến Giê-ru-sa-lem năm 445 TC
    Ma-la-chi trở thành nhà tiên tri năm 430 TC.
    Lời giới thiệu
    Một chiếc bình vỡ tan vì một chiếc cùi chỏ vô ý chạm phải, một món đồ chơi bị hỏng vì bị những ngón tay bé bỏng ép buộc nó làm việc quá sức, một tấm vải bị rách vì bị những bàn tay quá khoẻ mạnh nhưng nóng nảy lôi kéo. Các vật dụng, vải vóc bị hư rách thì có thể được sửa chữa hoặc bỏ tiền ra mua lại, nhưng các mối liên hệ bị tổn thương thì phải trả giá đắt hơn nhiều. Thái độ bất trung, không chân thật, những lời nói đầy thù hận và những lời thề nguyện bị quên đi, cắt đứt các mối dây liên hệ tế nhị giữa những cá nhân với nhau và gây ra những vết thương không phải là dễ chữa lành. Tuy nhiên, càng thê thảm hơn nữa, là mối liên hệ với Đức Chúa Trời lại bị gián đoạn.
    Tình yêu của Đức Chúa Trời trọn vẹn, tuyệt đối. Và tình yêu của Ngài là một tình yêu bằng hành động - ban cho hướng dẫn và giữ gìn. Ngài thành tín tuyệt đối, luôn luôn trung thực với những lời hứa với tuyển dân của Ngài. Nhưng họ thì luôn luôn chối bỏ Đức Chúa Trời đầy tình yêu đó, vi phạm giao ước của Ngài, theo các thần khác, và tự sống theo ý riêng. Cho nên mối liên hệ đã bị tan vỡ.
    Nhưng vết rạn nứt ấy không phải là vô phương sửa chữa, mọi hi vọng chưa phải là đã tan biến. Đức Chúa Trời vẫn còn có thể chữa trị, hàn gắn, và dệt lại một tấm vải. Sự tha tội bao giờ cũng có sẵn. Và đó là ân điển.
    Đây là bức thông điệp của Ma-la-chi, nhà ti