• Sách Đa-ni-ên Và Sách Khải Huyền

     Sách Đa-ni-ên Và Sách Khải Huyền
    Tác giả: David D. Duncan

    Giới Thiệu Khóa Trình
    ĐƠN VỊ MỘT :
    TRỌNG TÂM CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
    1. Khái Lược Về sách Đaniên
    2. Viễn Cảnh của Người Cai Trị Thế Giới Hầu Đến
    3. Viễn Cảnh của Những Thời Kỳ Khó Khăn Hầu Đến
    ĐƠN VỊ HAI :
    KHỞI ĐẦU CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
    4. Tìm Hiểu Sách Khải Thị
    5. Những Gì Giăng Trông Thấy
    6. Các Thơ Gởi Cho Eâphêsô, Simiệcnơ và Bẹtgăm
    7. Các Thơ Gởi cho Thiatirơ, Sạtđe, Philadenphia và Laođixê
    ĐƠN VỊ BA :
    DIỄN TIẾN CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
    8. Hội Thánh và Cơn Đại Nạn
    9. Bắt đầu của Tuần Lễ Thứ Bảy Mươi
    10. Những Biến Cố giữa Cơn Đại Nạn
    11. Tiến Trình Hé Mở Bức Tranh Tiên Tri
    ĐƠN VỊ BỐN :
    KẾT THÚC CỦA NHỮNG BIẾN CỐ THỜI KỲ CUỐI CÙNG
    12. Con Rồng Và Những Công Cụ của Nó
    13. Những Biến Cố Cuối Cùng Của cơn Đại Nạn
    14. Sự Cai Trị 1000 năm của Christ và về sau
    Chú giải từ ngữ.


    Giới Thiệu Khoá Trình
    Lời Tiên Tri Của Kinh Thánh
    Điều gì đang xảy ra trong thế giới chúng ta? Chúng ta đứng trước điều gì? Chương trình của Đức Chúa Trời cho thế giới nầy, cho loài người, cho kẻ thù chúng ta là Ma quỷ, cho những thánh đồ và những người không tin là gì? Tất cả đang diễn tiến đến cuối cùng như thế nào? Một trong những chủ đề của Lời Đức Chúa Trời, lời tiên tri, trả lời cho những câu hỏi nầy. Lời tiên tri được định nghĩa là “lịch sử được viết trước”. Dĩ nhiêââán, chỉ một mình Đức Chúa Trời có thể viết chính xác về lịch sử trước thời gian. Đaniên và Khải Thị là hai sách tiên tri nổi bật trong Kinh Thánh. Qua một loạt những sự hiện thấy, sách Đaniên trình bày bí mật của kế hoạch của Đức Chúa Trời thời gian biểu của Đức Chúa Trời cho những quốc gia trên thế giới, đặc biệt cho dân Ysơraên. Sách Khải Thị phác họa cực điểm của chương trình của Đức Chúa Trời cho toàn thể tạo vật của Ngài. Nếu không có lời tiên tri của Kinh Thánh, đặc biệt là sự Mặc Khải Tiên Tri của Jesus Christ, chắc hẳn chúng ta chẳng biết thế giới nầy diễn ra như thế nào. Kinh Thánh sẽ là một câu chuyện không có kết thúc, một điều bí mật còn để chúng ta suy đoán. Hơn nữa nó cũng cướp đi một phần của hy vọng phước hạnh của chúng ta, vì chúng ta không thể biết những gì đang chờ đợi người trung tín. Trái lại, cùng với Phao lô chúng ta có thể thấy trước thời kỳ cuối cùng;
    Điều mắt chưa thấy, táai chưa nghe, chưa có tâm trí nào ấp ủ (và lòng người chưa từng nghĩ đến) thì Đức Chúa Trời đã dự bị cho kẻ thương yêu Ngài. (
    ICo1Cr 2:9).
    Chúng tôi cầu xin Chúa cho bạn khi nghiên cứu Đaniên và Khải Thị, bạn sẽ nhận được sự mặc khải tươi mới về sự vinh hiển, quyền năng và vương quốc Đức Chúa Trời, đặc biệt là con Ngài. Chúng tôi mong ước rằng sự học tập những cuốn sách nầy sẽ ban cho bạn sự nhận thức lớn hơn bao giờ hết về việc Đức Chúa Trời đang điều khiển trọn vẹn. Mong ước bạn cũng biết được rằng chương trình của Ngài sẽ được hoàn tất trong mọi loài thọ tạo của Ngài theo đúng thời điểm. Qua sự nghiên cứu với tinh thần cầu nguyện, chúng tôi hy vọng bạn sẽ nhận khảõi tượng tươi mới về Chúa Jesus là Vua trên muôn vua, Chúa trên muôn Chúa. Nguyện bạn sẽ tin chắc rằng: “Mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất, đều nhơn danh Chúa mà quì xuống, và mọi lưỡi phải thừùa nhận Jesus Christ là Chúa, để quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời là Cha” (
    Phi Pl 2:10-11).
    Mô Tả Loạt Bài Học
    Đaniên và Khải Thị là loạt bài nghiên cứu lời tiên tri của Kinh thánh có liên quan đến những biến cố trong thời kỳ cuối cùng. Những đoạn Kinh Thánh khác trong Cựu Ước và Tân Ước cũng được trích dẫn để làm sáng tỏ, giúp bạn hiểu biết nhiều hơn về lới tiên tri của Kinh Thánh. Những tưạ đề của Đơn Vị chỉ ra những diễn tiến của những biến cố trong thời kỳ cuối cùng. Trong đơn vị cuối cùng của loạt bài, lời tiên tri của Kinh Thánh di chuyển vượt qua thời gian để đến cõi vĩnh hằng. Sự tái lâm của Đấng Christ là chủ đề trọng tâm của loạt bài. Bài học nầy còn có sự nhấn mạnh về đạo đức: dụng ý của bài học là giúp đỡ học viên sẵn sàng đón Chúa trở lại và động viên những người khác chuẩn bị đón Ngài hồi lai (
    IGi1Ga 3:3).
    Những Mục Tiêu Của Bài Học
    Học xong loạt bài nầy bạn có thể:
    1. Nhận diện những biến cố, thời kỳ, tiến trình thời gian, và những nhân vật chính được nhắc đến trong những sách Khải Thị và Đaniên.
    2. Mô tả những sứ điệp của Chúa Jesus cho bảy Hội Thánh và giải thích những sứ điệp ấy liên quan đến những Hội Thánh địc phương, những cá nhân, và toàn thể thời đại Hội Thánh như thế nào.
    3. Mô tả bức tranh về Antichrist được mô tả trước ở sách Đaniên và so sánh sự giống nhau cùng sự khác nhau của bức tranh nầy với cách mô tả đặc biệt hơn về Antichrist trong sách Khải Thị.
    4. Giải thích thế nào sự thống trị thế giới. Dân ngoại được nói trước trong Đaniên và thế nào điều nầy lên đến tột đỉnh trong thời kỳ Đại nạn và chiến trận Hạtmaghêđôn.
    5. Mô tả sự hình phạt mà đức chúa Trời giáng trên những người không tin Chúa trong sách Khải Thị khi những tiếng kèn được thổi lên, và bảy tai nạn từ những bát thạnh nộ của Đức Chuá Trời được đổ xuống.
    6. Mô tả Thiên Hy Niên và liệt kê những chi tiết của cuộc sống trên đất trong thời kỳ nầy.
    7. So sánh và đưa ra sự tương phản của những gì sẽ xảy ra cho kẻ gian ác và người công bình trước và sau Thiên Hy Niên và nền tảng định đoạt cho số phận của mỗi người.
    8. Mô tả trời mới, đất mới và cuộc sống trong thành Giêrusalem mới.
    9. Đánh giá ý nghĩa của Hy vọng phước lạc trong đời sống của tín hữu và như vậy quyết định tự chuẩn bị đời sống mình và giúp những người khác sẵn sàng đón Chúa trở lại.
    Sách Giáo Khoa.
    Bạn sẽ xử dụng cuốn Đaniên và Khải Thị, Sách Tham Khảo Tự Học, vừa là sách giáo khoa và sách hướng dẫn cho loạt bài học nầy. Kinh Thánh (bản nhuận chánh Quốc Tế, NIV) và sách giáo khoa khác cần thiết. Hầu hết những câu Kinh Thánh trích dẫn đều từ bản nhuận chánh Quốc Tế (NIV). Chỗ nào dẫn chứng từ những bản dịch khác, chúng tôi sẽ ghi chú bên cạnh.
    Thời gian Học
    Thời gian học mỗi bài lệ thuộc vào kiến thức của bạn về đề tài và sức học cần thiết trong việc tự học. Thời gian bạn sử dụng còn lệ thuộc vào việc bạn theo sự hướng dẫn và phát triển những kỷ năng cần thiết cho việc tự học. Hãy lập thời gian biểu để bạn có đủ thì giờ đạt được mục tiêu do tác giả loạt bài đưa ra cũng như đạt được chỉ tiêu do bạn đề xuất.
    Phương Pháp Học.
    Nhớ đọc cẩn thận và nghiên cứu phần giới thiệu phương pháp học được đề cập trong túi dành cho học viên. Những điều đó sẽ giúp bạn biết những gì chương trình Hàm Thụ ICI mong đợi bạn khi học một bài, ôn để làm bài trắc nghiệm (bản đánh giá tiến trình học sau một Đơn Vị) và chuẩn bị bài kiểm tra cuối khóa gồm tất cả những bài học. Nếu bạn không học theo cách ICI giới thiệu, bạn có thể học theo cách nào thuận tiện nhấùt để đạt được hiệu quả về loạt bài.
    Cách Nghiên cứu Loạt Bài
    Nếu bạn tự học một mình loạt bài nầy, ngoại trừ bài kiểm tra cuối khóa, bạn có thể gởi bằng thơ đến văn phòng Viện Hàm Thụ. Mặc dù viện Hàm thụ có ý định dùng loạt bài nầy để bạn tự học, nhưng bạn vẫn có thể học chung trong một nhóm hay trong một lớp học. Nếu thế, hãy theo sự chỉ đạo của vị hướng dẫn viên hay trợ giáo.
    Đề Cương Bài Học và Cách Học
    Mỗi bài học gồm có:
    1) Tựa đề, 2) Nhập đề, 3) Dàn ý, 4) Những mục tiêu của bài học, 5) Những hoạt động học tập, 6) Những chữ căn bản, 7) Triển khai bài học gồm có những câu hỏi nghiên cứu, 8) Bài tập trắc nghiệm và 9) Giải đáp những câu hỏi nghiên cứu.
    Dàn ý và những mục tiêu của bài học sẽ giúp bạn tổng lược đề tài, tập trung chú ý vào những điểm chủ yếu khi bạn học và sẽ biết nội dung mình sẽ học.
    Phần triển khai bài học trong loạt bài nầy sẽ làm cho bạn dễ dàng nghiên cứu tài liệu sách thông suốt. Cứ học từng phần một lúc sẽ giúp bạn dễ dàng sắp xếp thì giờ trong từng giai đoạn ngắn, thay vì chờ đợi cho đến khi có đủ thì giờ học cả bài một lượt. Những phần trình bày, bài tập và câu trả lời đều có dụng ý giúp bạn đạt được những mục đích của bài học.
    Một số câu hỏi nghiên cứu trong phần triển khai bài học có chừa khoảng trống để bạn trả lời, cũng có những câu trả lời cũng đòi hỏi bạn phải viết vào sổ tay nhớ ghi số câu hỏi và tựa đề bài học. Điều này sẽ giúp bạn ôn bài để làm bản đánh giá tiến trình học tập Đơn Vị I.
    Đừng xem phần giải đáp trước khi bạn trả lời các câu hỏi. Nếu bạn tự trả lời, bạn sẽ nhớ kỹ những gì mình trả lời. Hãy kiểm tra câu trả lời của mình với phần giải đáp được đưa ra ở cuối bài học. Sau đó hãy sửa lại những câu bạn trả lời chưa đúng.
    Những câu hỏi nghiên cứu nầy rất quan trọng, vì sẽ giúp bạn nhớ những ý tưởng chính được trình bày trong bài học. Đồng thời chúng sẽ giúp bạn phát triển và tăng cường kiến thức cùng sự phục vụ Chúa của bạn. Những hoạt động gợi ý cũng giúp bạn xử dụng kiến thức mình vào thực tế.
    Túi Dành Cho Học Viên
    Kèm với cuốn sách tự học nầy, bạn cũng nhận được tập sách mỏng dành cho học viên gồm có phần hướng dẫn làm bản đánh giá tiến trình học tập, và phiếu trả lời, cùng những mẫu quan trọng khác. Xử dụng phần kiểm tra ở ngoài bìa để xem phần nào mình đã gởi đến cho vị trợ giáo và đã gởi khi nào.
    Đánh Giá Tiến Trình Học Tập Và Bài Kiểm Tra Cuối Khóa
    Dù điểm của những câu hỏi nghiên cứu, phần bài tập trắc nghiệm, và những bảng đánh giá tiến trình học đơn vị không được kể vào điểm của bài học để cấp chứng chỉ, nhưng bạn cũng nên gởi phiếu trả lời về bảng đánh giá tiến trình học tập cho vị trợ giáo của bạn để vị ấy sửa và góp ý vào việc học tập của bạn. Sau đó bạn có thể ôn lại những phần bài học trong sách giáo khoa và Kinh Thánh có liên quan đến những điểm bạn khó hiểu. Oân phần những mục tiêu của bài học, những bài tập trắc nghiệm, và những bản đánh giá tiến trình học tập sẽ giúp bạn chuẩn bị cho bài kiểm tra cuối khóa.
    Chứng chỉ Học Loạt Bài Nầy
    Để đạt được giấy chứng nhận của văn phòng ICI về loạt bài học nầy, bạn phải đậu kỳ thi cuối khóa. Phần nầy được đại diện của văn phòng ICI tổ chức, Vì chúng tôi có nhiều vị giám khảo ở nhiều quốc gia khác nhau, nên không khó cho bạn gặp được một vị tại địa phương của bạn. Vị trợ giáo của bạn sẽ bàn thêm chi tiết với bạn.
    Ngoài ra, loạt bài học nầy có thể được đánh giá bằng thực tế hơn là giấy chứng nhận. Trong trường hợp nầy bạn không cần gởi bài tập nào hay dự thi cuối khóa. Nghiên cứu loạt bài sẽ làm phong phú đời sống bạn dù bạn có nhận được chứng chỉ hay không.
    Chứng Nhận Qua Kỳ Thi
    Bạn cũng có thể nhận được giấy chứng nhận học loạt bài học nầy mà không cần học cuốn tham khảo tự học. điều này có thể thực hiện qua việc đậu kỳ thi cuối khóa. Tuy nhiên, vì những bài tập trong cuốn tham khảo tự học nầy và bài tập trắc nghiệm chủ yếu là chuẩn bị cho bạn kỳ thi cuối khóa, nên tốt hơn là bạn học tài liệu nầy. Hãy hội ý với vị Giám đốc ICI tại quốc gia bạn về mọi chi tiết.
    Điểm Xếp Hạng Của Loạt Bài
    Điểm xếp hạn của loạt bài dựa vào bài thi cuối khóa.Điểm của bạn sẽ được xếp loại A cho bài giỏi, B cho bài trên trung bình (khá), C cho bài trung bình, D dưới trung bình, U không cấp giấy chứng nhận, INC chưa làm xong, WP bỏ không thi, WU bỏ thi không được chấp nhận.
    Những Chuyên Gia Soạn Nội Dung Sách
    George W.Westlake Jr, Mục sư Niên trưởng của Sheffield Assemblies of God Church ở thành phô Kansas, Missouri, ông giữ chức vụ nầy tại đấy 14 năm. Kinh nghiệm mục vụ của ông gồm có công tác truyền thanh, truyền hình, giảng và dạy ở những cuộc cắm trại, và dạy tại trường Kinh Thánh. Hiện nay ông là Viện Trưởng Đại Học Kinh ThánhTrung Ương của Springfield mở rộng tại Kansas Citi, Missouri, tại đây ông cũng giảng dạy nữa. Tại Nam Phi ông cũng tổ chức những chiến dịch tại thành phố ở Guyana, và ông đã giảng ở Venezuela.
    ÔÃÀÁâng Westlake đã tốt nghiệp B.A. (Cử nhân) và M.A, (Cao học) tại Đại Học Kinh Thánh Trung Ương Springfield, Missouri. Oâng cũng tốt nghiệp M.Div (Cao học Thần Học) tương đương với D.Min (Tiến sĩ mục vụ) của Viện Thần Học Fuller, Pasadena, California.
    David Duncan, đã là giáo sĩ 17 năm và hiện nay đang là chuyên gia tư vấn triển khai của Viện Hàm Thụ Quốc Tế (ICI). Trước khi đến tại Viện Hàm Thụ Quốc Tế, ông đã làm hiệu trưởng của Viện Kinh Thánh Calvary, Majro, Marshall Islands được tám năm. Oâng đã tốt nghiệp B. A. ở Đại Học Quốc Gia Fullerton tại California và đã hoàn thành các yêu cầu của Học vị Tiến sĩ ở Viện Thần Học của California.
    Vị Trợ Giáo ICI
    Vị trợ giáo ICI nầy sẵn sàng giúp đỡ bạn được càng nhiều càng tốt. Hãy hỏi vị ấy về những câu hỏi liên quan đến kỳ thi cuối khóa. Hãy sắp xếp thì giờ cho thuận tiện đối với vị ấy và bạn. Nếu vài người muốn học chung, hãy xin vị ấy xếp đặt thì giờ thuận tiện cho cả nhóm.
    Nguyện xin Đức Chúa Trời ban phước cho bạn khi bắt đầu nghiên cứu Đaniên và Khải Thị. Nguyện cuốn sách nầy sẽ làm phong phú đời sống bạn và chức vụ của bạn cùng giúp cho bạn hoàn tất phần của mình trong thân thể của Christ cách hữu hiệu hơn.
    Khái Lược về Sách ĐANIÊN
    Chúng ta bắt đầu nghiên cứu sách Đaniên và Khải Thị với phần khái lược về sách Đaniên. Nói chung, người ta thường nhận xét rằng sách Đaniên là sách lịch sử tiên tri của quyền lực thế giới Dân Ngoại từ thời cai trị của Vua Nêbucátnếtsa cho đến lúc Christ tái lâm. Nhìn chung các tiên tri thường nhấn mạnh về quyền năng và sự tể trị tối cao của Đức Chúa Trời liên quan đến dân Ysơraên khi Ngài hướng dẫn vận mạng của tuyển dân của Ngài đi qua nhiều năm cho đến lần khôi phục cuối cùng của họ. Trái lại, Đaniên nhấn mạnh về sự cai trị tối cao của Đức Chúa Trời liên quan đến những đế quốc thế giới Dân Ngoại. Những lời tiên tri của ông bày tỏ Đức Chúa Trời là Đấng cai trị trong mọi hành động của Dân Ngoại cho đến thời kỳ họ bị tiêu diệt khi Christ tái lâm.
    Điều cần thiết cho học viên nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh là phải học toàn bộï sách Đaniên để nhận được lợi ích trọn vẹn của sứ điệp của sách. Cuốn sách nầy trình bày một sứ điệp tiên tri vĩ đại, nhưng cũng còn chứa đựng những sứ điệp thuộc linh cụ thể. Mặc dù nội dung của sách cảm thúc độc giả bằng viễn tượng về tương lai, nhưng nó còn mang sự an ủi cho những người bị áp bức. Khi chúng ta khảo sát bối cảnh, cấu trúc và những sự nhấn mạnh khác nhau, chúng tôi cầu xin Chúa ban cho bạn nhạy bén với sự hướng dẫn của Thánh Linh khi Ngài làm cho những lẽ thật tiên tri nầy có ý nghĩa sâu xa đối với bạn.
    Bối Cảnh của Sách Đaniên.
    Những Yếu Tố Thiết Yếu của Sách Đaniên.
    Lịch Sử Cá Nhân của Sách Đaniên.
    Cuộc Xung Đột Thứ Nhất: Bài Trắc Nghiệm Đức Tin Đầu Tiên .
    Cuộc Xung Đột Thứ Hai: Pháp Thuật Ngoại Giáo trái với sự khôn ngoan Thiên Thượng.
    Cuộc Xung Đột Thứ Ba: Thần Tượng trái với sự trung thành.
    Cuộc Xung Đột Thứ Tư: Sự kiêu ngạo của Vua trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời.
    Cuộc Xung Đột Thứ Năm: Sự bất kỉnh trái với sự tể trị thiên thượng.
    Cuộc Xung Đột Thứ Sáu: Ghen tị trái với sự chăm sóc thần hựu của Đức Chúa Trời.

    Học xong bài nầy bạn có thể:
    · Mô tả bối cảnh xuất hiện sách Đaniên và những yếu tố lịch sử, chính trị và cấu trúc giúp chúng ta hiểu được sách.
    · Thảo luận ý nghĩa của chữ những thời kỳ của Dân Ngoại.
    · Nhận diện những yếu tố cơ bản trong lịch sử cá nhân của Đaniên.
    1. Đọc phần giới thiệu loạt bài học. Chú ý đặc biệt đến phần đề cương bài học và cách học. Phần nầy gồm có những lời khuyên góp phần quan trọng vào sự thành công của bạn. Hãy chú ý những mục tiêu chung của toàn bộ loạt bài. Tất cả những đều này thật quan trọng, nhưng có lẽ có vài phần nổi bật đối với bạn.
    2. Nghiên cứu dàn ý bài học và những mục tiêu học tập. Những điều nầy sẽ giúp bạn nhận diện những điều bạn cần nghiên cứu kỹ trong bài học nầy.
    3. Nghiên cứu phần triển khai bài học. Nhớ đọc hết những câu Kinh Thánh trích dẫn , làm phần bài tập bắt buộc, và kiểm tra phần trả lời của bạn.
    4. Làm phần Bài Tập Trắc Nghiệm ở cuối bài học, và kiểm soát cẩn thận câu trả lời của mình với phần giải đáp trong Túi dành cho học viên. Oân lại câu nào bạn trả lời chưa đúng.
    Hiểu ý nghĩa của những chữ căn bản đã liệt kê ở đầu mỗi bài học sẽ giúp bạn khi bạn học tập. Bạn nên dò tìm ý nghĩa của chữ được sắp theo mẫu tự ABC ở phần chú giải Từ Ngữ ở cuối sách. nếu bạn còn nghi ngờ về bất kỳ chữ nào trên bản liệt kê, bạn có thể xem bây giờ, và sau đó khi gặp chữ nầy ở bài, bạn có thể lật lại để xem lần nữa.
    Bất kỉnh (impiety)
    Bê tha (self-indulgence).
    Bói toán (divination).
    Bội đạo ( apostasy).
    Chiêm tinh (astrology).
    Kiêng khem (abstinence).
    Mất tinh thần (demoralized).
    Phù thủy (sorcerers).
    Thuyết huyền bí (occultism)
    Tạm thời (temporaly)
    Bối Cảnh Của Sách Đaniên Thành Phố Babylôn.
    Bối cảnh đầu tiên của sách Đaniên là thành phố Babylôn, trung tâm của đế Quốc Babylôn. Babylôn là thành phố hoàng kim của thời đại hoàng kim. công trình đào xới thành phố cổ cho thấy sự vinh hiển của Babylôn đã một lần đạt tới. Bên trong những bức tường đồ sộ là những đại lộ rộng rãi, những kênh đào, những đền thờ và những cung điện. Cổng Ishtar dẫn qua hai hàng công sự kép được trang trí bằng những hàng con bò và rồng được làm bằng gạch men. Một tháp to lớn bằng kim tự tháp được xây dựng bằng tám tầng nhìn bao quát thành phố. Những vườn treo của thành phố, theo người Hy lạp, là một trong những kỳ quan của thế giới. Babylôn đạt đến đỉnh cao của vinh quang mình vào thời Nêbucátnếtsa (605-562 B.C.). Mục tiêu của ông ta là muốn phô trương sức mạnh của mình cùng làm cho thành phố lộng lẫy và an ninh.
    Địa Hình Của Babylôn Cổ Đại
    Babylôn cổ đại nằm giữa sông Tigris và sông Ơphơrát ở trong một vùng thường được gọi Hình Lưỡi Liềm Màu Mỡû (Fertile Crescent - còn gọi là Đế quốc Thổ Nhỉ Kỳ). Từ hai con sông lớn bắt nguồn từ những rặng núi ở Armenis (Thổ Nhỉ Kỳ hiện tại) đất được mang xuôi dòng bằng nhiều thế kỷ hướng về vịnh Batư, rồi đắp thành bình nguyên phù sa màu mỡ. Vùng bình nguyên nầy đã trở thành cái nôi của nền văn minh cổ. Thật vậy, những nhà văn cổ thường ví sánh Babylôn như cái giỏ bánh mì của thế giới.
    Thành phố Babylôn định vị hơi gần phần phía nam của bình nguyên nầy. Kết hợp với đất màu mỡ, hệ thống thủy lợi phát triển, và khí hậu điều hòa thuận lợi cho việc trồng trọt đã cho phép Babylôn có thể cung cấp lương thực cho số lượng dân đông đảo. Chắc chắn những khả năng tự nhiên tích cực nầy cũng đã động viên cho sự phát triển văn hóa, giáo dục và những việc làm dân sự táo bạo.
    Bối Cảnh Lịch sử.
    Đế quốc Babylôn cổ xưa đã được hưng thịnh ở vùng Trung đông cổ xưa trước Đấng Christ hai ngàn năm. Hơn một ngàn năm sau một đế quốc babylôn Mới được dấy lên như là một quốc gia hùng mạnh vào năm 626 B. C. (trước Christ) Khi Nabopolassar thành công trong việc chống lại của đế quốc Assyri muốn cai trị Babylôn, là vua Babylôn chính thức, ông tiến nhanh đến việc tập trung quyền hành của mình. Oâng quyết định thành lập việc kiểm soát những con đường buôn bán sinh lợi và phát triển thương mại ở phía Đông Địa Trung Hải. Mặc dù con trai ông Nêbucátnếtsa dấn thân vào những chiến dịch quân sự trong vùng nầy vào khoảng 605 B.C, nhưng khi Nabopolassar qua đời, ông để lại vương quốc và đế quốc và đế quốc đang phát triển cho con trai mình. Và dưới tài lãnh đạo có khả năng của ông, Babylôn vương lên nổi bật thành một đế quôc.
    Đầu năm 605 B.C. Nêbucátnếtsa đánh bại đội quân Ai cập tại trận chiến Carchemish và thành lập Babylôn nên quyền lục chính trị nổi bật trong vùng đó. Kết quả, ông dành quyền kiểm soát Giuđa vốn đã ở dưới quyền cai trị của người Eâdíptô từ năm 609 B.C. khi vua Giôsia bị đánh bại ở Mêghiđô (
    Gie Gr 46:2). Trước khi trở về để công bố hình thành vương quốc, Nêbucátnếtsa ghé lại Babylôn và dẫn phu tù (trong số đó có Đaniên và những người bạn của ông) cùng lấy những châu báu ở Giêrusalem, rồi về Babylôn (DaDn 1:1-7).
    Nêbucátnếtsa trở lại Babylôn vào năm 597 B.C. để tái lập sự kiểm soát trên người Giuđa vì vua Giêhôgiakim đã không triều cống cũng không trung thành với sự cai trị của Babylôn. Thật vậy, vua Giêhôgiakim đã trở về Eâdíptô xin giúp đỡ. Trong cuộc vây thành Giêrusalem, Giêhôgiakim qua đời, và con trai ông Giêhôgiakim, đầu hàng Nêbucátnếtsa (
    IVua 1V 23:34-24:14). Như phần Kinh thánh trưng dẫn trước mô tả , Nêbucátnếtsa lấy đi hết thảy vàng bạc từ đền thờ của Chúa và hoàng cung. Oâng cũng đem đi nhiều người ở Giêrusalem làm phu tù, kể cả những quan chức, chiến sĩ, thợ chạm, thợ thủ công, vua và gia đình hoàng tộc. Sau đó khoảng năm 586 B.C. sau khi vây thành lâu ngày, Nêbucátnếtsa, đem vua Sêđêkia sang Babylôn, và chỉ để lại những người nghèo nhất để trồng trọt và làm vườn nho (IIVua 2V 24:18-25:12).
    Bối Cảnh Tôn Giáo.
    Trong khoảng một trăm năm cuối trước khi người Giuđa bị lưu đày sang Babylôn, thì dời sống tôn giáo của quốc dân được đánh dấu bằng một quy trình bội đạo và phục hưng. Sự cai trị của Athali, Aháp, và Manase mang lại sựï thờ hình tượng không kiềm hãm nổi đối với dân sự của Đức Chúa Trời. Nhưng sự phục hưng tôn giáo bắt đầu dưới thời Giô ách được tăng cường mạnh lên dưới thời Oâxia và đạt đỉnh cao của sự khôi phục dưới thời Eâxêchia. Tuy nhiên, tiếp theo sự cai trị của Eâxêchia. Manase đưa Giuđa vào sự thờ hình tượng trắng trợn hơn, kể cả sự thờ phượng tinh tú, dâng lễ hy sinh bằng con người, và thờ phượng ma quỷ. Oâng chấp thuận việc dùng chiêm tinh (astrology), bói toán (divination), và thuyết huyền bí (occultism) - tất cả những điều đó được xử dụng thường xuyên. Dù ông có sự thay đổi đáng kể sau khi bị lưu đày ở Babylôn, nhưng sự phục hưng mà ông khởi đầu không tiêu biểu cho sự phục hưng thật. Giuđa đã phạm tội thờ hình tượng và trở lại thờ hình tượng sau khi ông qua đời.
    Giôsia, lên ngai vàng khoảng năm 640 B.C. đã đưa Giuđa vào sự lãnh đạo kỉnh kiền và sự phục hưng chân thật. Dường như Đức Chúa Trời đã hoãûn lại việc trừng phạt về tội tà dâm thuộc linh và không kính sợ Đức Chúa Trời của Giuđa. Dưới thời cai trị của Giôsia, Giuđa nới rộng biên giới của mình vì ảnh hưởng suy thoái của Asiry. Tinh thần lạc quan thắng thế: Luật pháp được tuân theo cách mà trước kia chưa từng có và chức vụ tiên tri của Giêrêmi (bắt đầu từ năm cai trị thứ mười ba của Giôsia - khoảng năm 627 B.C.). Đã có ảnh hưởng mạnh mẽ cho sự công bình.
    Truyền thuyết cho rằng vào năm 614 xứ Asshur đã suy sụp vào năm 612 Ninive cũng suy sụp khiến cho Giôsia dấn thân vào những công tác quốc tế. Vì lý do nào đó, ông đã quyết định chống lại Pharaôn Nêcô trong lúc đi giúp đỡ lực lượng suy thoái của Asiry chống lại Babylôn. Quyết định nhẹ dạ của ông đã dẫn đến cái chết, đưa Giuđa một lần nữa vào sự bội đạo thuộc linh và chỉ còn dẫn đến sự hình phạt. Như vậy, Đaniên và dân sự của ông bị bắt đi làm phu tù sang Babylôn, và đạo quân của Nêbucátnếtsa hoàn toàn phá hủy thành Giêrusalem và bình địa vùng thôn quê (
    IISu 2Sb 36:17-21). Theo lời tiên tri báo trước của Giêrêmi, những sự hoang vu này kéo dài bảy mươi năm (Gie Gr 25:11). Thật vậy, DaDn 9:1-2 mở ra bằng lời nói trích dẫn lời tiên tri nầy.
    Với sự tự do của tổ quốc bị mất, đền thờ bị phá hủy, dân sự bị bắt làm phu tù, dân Giuđa còn sót lại bị mất tinh thần (demoralized). Đây là lúc bối rối, bi thảm và bất hạnh lớn. Trong điều kiện như thế liệu dân sự còn tin nơi Đức Chúa Trời không? có thể nào sống với tôn giáo của mình nơi vùng đất xa lạ không? Có tương lai nào cho dân sự Đức Chúa Trời không hay phải chăng điều này là tận thế? Những câu hỏi như thế ở trong lòng và môi miệng của những người Giuđa nhiệt tình bị lưu đày (xem ThiTh137:1-6; để có cái nhìn vắn tắt về ảnh hưởng hoang vu của sự lưu đày đã đặt trên người Giuđa).
    Hơn nữa những người phần lớn bị bắt làm phu tù, bị lôi cuốn bởi sự giàu có hào nhoáng của Babylôn, đã sẵn sàng lìa bỏ tôn giáo mình vì cớ sự thành công và thạnh vượng vật chất. Một số người phu tù Do Thái cảm thấy thất vọng vì đức tin cũ đã chấm dứt nên sống theo văn minh ngoại giáo và phong tục Babylôn. Vào thời điểm ấy Đaniên được dấy lên để khích lệ anh em thất vọng của mình. Bằng đời sống kính sợ Đức Chúa Trời cách trung tín, ông đã chứng minh rằng một người có thể sống cho Đức Chúa Trời trong hoàn cảnh ngoại giáo và phải trả giá để hầu việc Đức Chúa Trời. Những khải tượng Đức Chúa Trời ban cho ông bảo đảm cho những kẻ bị đày biết rằng Đức Chúa Trời vẫn điều khiển lịch sử và tương lai của họ sẽ được bảo đảm.
    1. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễm đạt ĐÚNG.
    a. Thành phố Babylôn có vị trí gần cuối phía bắc của Hình Lưỡi Liềm Màu Mỡ sát với tài nguyên của những con sông Tigris và Ơphơrát.
    b. Khí hậu, thời tiết và những đặt điểm tự nhiên của Babylôn thuận lợi cho việc phát triển của dân số đông đảo.
    c. Người thành lập đế quốc Babylôn mới là Cha của Nêbucátnếtsa, tên là Nabopolassar.
    d. Vua Giôsia dẫn dắt dân sự trở lại với Đức chúa Trời và ông cũng mở rộng ảnh hưởng chính trị của Giuđa lợi dụng sự suy thoái của đế quốc Asiri.
    e. Để duy trì sự cân đối quyền lực trong vùng, quân đội của Ai cập trên đường đi hổ trợ đế quốc Asiry đang suy sụp để chống lại Babylôn thì vua Giôsia lại can thiệp.
    f. Cuộc sống lưu đày tại Babylôn vượt hơn hẳn cuộc sống ở Giuđa, nên hầu hết những người Giuđa vội vàng từ bỏ tôn giáo của mình để thờ thần tượng .
    2. Dựa vào phần nghiên cứu của bạn về điểm nầy và đọc cẩn thận
    IISu 2Sb 36:15 -17, Giuđa bị bắt đi làm phu tù vì cớ
    .........................................................................................................................
    .........................................................................................................................
    3. Đaniên được dấy lên làm một nhà tiên tri trong thời kỳ lưu đày trước tiên là để
    a. Nhắc nhở cho những người bị lưu đày biết rằng hình phạt của họ ít hơn điều họ đáng phải chịu.
    b. Động viên dân sự của Chúa là những người thất vọng và vỡ mộng.
    c. Bảo đảm cho dân sự Ngài rằng Đức Chúa Trời đang kiểm soát dòng lịch sử.
    d. Làm những gì được ghi nhận ở a,b, và c.
    e. Làm những gì được ghi nhận ở câu b và c.
    Những Sự Kiện Thiết Yếu Về Sách Đaniên Cấu Trúc Của Sách Đaniên.
    Nội dung của sách Đaniên có thể tạm chia thành hai phần bằng nhau. Một học giả Kinh Thánh đã cho chúng ta một bố cục trong đó từ đoạn 1 đến đoạn 6 được coi là phần tường thuật tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương có liên quan đến sáu sự xung đột đạo đức liên hệ với Đaniên và nhữûng bạn hữu của ông. Đoạn 7 đến 12, theo dàn ý của tác giả nầy, liên quan đến những khải tượng và lời tiên tri về cánh tay điều khiển của Đức Chúa Trời khi Ngài dàn dựng những quan cảnh trong câu chuyện tiếp diễn của lịch sử. Thoạt nhìn, gợi ý nầy dường như chia cuốn sách làm hai phần riêng rẻ tường thuật và tiên tri. Tuy nhiên, ở đoạn 2 chúng ta thấy một trong những lời tiên tri nổi bật nhất trong lòi của Đức Chúa Trời. Vì những mục đích của việc học tập của chúng ta, chúng ta sẽ nghiên cứu nội dung của sách theo dàn ý sau:
    I. Tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương của Đaniên.
    A. Đoạn 1: Cuộc xung đột thứ nhất: Bài trắc nghiệm đức tin đầu tiên.
    B. Đoạn 2: Cuộc xung đột thứ hai: Pháp thuật ngoại giao trái với sự khôn ngoan thiên thượng.
    C. Đoạn 3: Cuộc xung đột thứ ba: Thần tượng trái với sự trung thành
    D. Đoạn 4: Cuộc xung đột thứ tư: Sự kiêu ngạo của vua trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời
    E. Đoạn 5: Cuộc xung đột thứ năm: sự bất kỉnh (impiety) trái với sự tể trị thiên thượng
    F. Đoạn 6: Ghen tị trái với sự chăm sóc quan phòng (Providence) của Đức Chúa Trời
    II. Những quốc gia ngoại bang, Ysơraên và người cai trị thế giới trong lời tiên tri.
    A. Đoạn 7: Bốn Con Thú.
    B. Đoạn 8: Chiên Đực Và Dê Đực.
    C. Đoạn 9: Bảy Mươi Tuần Lễ.
    D. Đoạn 10: Sự Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời.
    E. Đoạn 11: Dòng Lịch Sử Từ Mêđô Batư đến thời kỳ cuối cùng.
    F. Đoạn 12: Cơn Đại Nạn và sự Phục Sinh.
    Vấn Đề Tác Quyền
    Người ta biết rất ít về tác giả của cuốn sách phi thường nầy. Tuy nhiên, dường như Đaniên xuất thân từ dòng dõi qúi tộc hay hoàng tộc (
    DaDn 1:3). Điểm nổi bật Đaniên từ tuổi trẻ cho đến tuổi già là sự can đảm về đạo đức hay sự can đảm về đạo đức hay sự tin kính không dời đổi của ông. Đaniên là một trong số vài người mà Đức Chúa Trời chỉ nói đến điều tốt mà thôi. Thật vậy, Đaniên được gọi là người “rất được yêu qúi” (highlyesteemed đánh giá rất cao) (9:23, 10:11, 19). Chúng ta không thể không liên hệ đức tin đầu tiên và sự can đảm về đạo đức của Đaniên với ảnh hưởng của vị vua kính sợ Chúa là Giôsia và tiên tri Giêrêmi. Chính vào năm thư ù ba của đời vua Giêhôgiakim mà Đaniên bị bắt sang Babylôn làm phu tù (1:1). Vua Giôsia qua đời được bốn năm. Nếu Đaniên bị bắt sang Babylôn khoảng muời tám hay hai mươi tuổi, chắc lúc ông được mười bốn hay mười sáu tuổi thì vua Giôsia qua đời.
    Vua Giôsia cai trị rất lâu ( ba mươi mốt năm) và dường như Đaniên được sinh ra vào khoảng giữa thời gian cai trị của ông. Là một hậu tự của hoàng tộc, chắc hẳn Đaniên được gần gủi với nhà vua và những hoạt động tin kính của ông như việc tìm được sách Luật pháp, tái thiết đền thờ, khôi phục sự thờ phượng , và kỳ giữ lễ vượt qua cách long trọng toàn quốc (
    IISu 2Sb 35:1-19) đã ảnh hưởng đời sống Đaniên cách sâu xa. Trong năm thứ mười ba của triều đại Giôsia, Giêrêmi bắt đầu chức vụ công khai đầy quyền năng (Gie Gr 25:3) mà nó vẫn còn thực hiện tại Giêrusalem khi ông bị đem đi làm phu tù. Aûnh hưởng của hai con người vĩ đại nầy không bao giờ bị mất đi trong vị thủ tướng tương lai. Hơn sáu mươi năm về sau chúng ta thấy Đaniên còn ngẫm nghĩ về những lời của Giêrêmi liên quan đến việc bảy mươi năm lưu đày (9:2).
    Mặc dù có một số học giả hiện đại cố gắng bất tín nhiệm bản chất tiên tri của sách và tình trạng của tác giả, nhưng những vấn đề lại được Chúa chúng ta xác định. Ngài gọi cách đặt biệt là “tiên tri Đaniên” (
    Mat Mt 24:15) và về lòi tiên tri của ông về “sự tàn nát gớm ghiếc” trong tương lai (Mac Mc 13:14) vốn được nhấn mạnh ở DaDn 9:27. Như vậy Chúa chúng ta đã xác nhận sách là sách tiên tri, và tác giả là nhà tiên tri.
    Thời Gian viết Và Chủ Đề.
    Khung thời gian bao gồm trong sách Đaniên trải dài khoảng bảy mươi năm. Nó gồm toàn thể thời gian Giuđa bị bắt làm phu tù ở Babylôn và mở rộng sang vương quốc Mêđô Batư. Dường như sách nầy được viết vào khoảng thế kỷ thứ sáu trước Christ.
    Đaniên không hướng lời tiên tri cho dân sự ở trong thời đại của ông, Oâng cũng không trách dân sự về tội lỗi của họ. Oâng cũng chẳn đứ ra sự kêu gọi ăn năn hay phục hưng . Sứ điệp của ông là sự mặc khải về sự oai nghiêm và sự tể trị của Đức Chúa Trời. Có lẽ bạn dẽ ghi nhận chữ mà ông thường dùng “Chúa trên trời” (God of heaven - Đức Chúa Trời của từng trời). Trong sách nầy chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời, trong sự khôn ngoan vô hạn và quyền năng của Ngài, cai trị mọi hoạt động của những đế quốc, và dân cư, và cả hai đều cúái đầu trước ý muốn của Ngài. Vậy chủ đề của sách là sự tể trị của Đức Chúa Trời. Chúng ta cũng còn thấy sự chú ý đặc biệt được nhấn mạnh về thời kỳ của dân ngoại và những biến cố đưa thời đại Hội Thánh vào kết thúc vinh quang đắc thắng.
    4. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Sách Đaniên tạm chia thành hai phần bằng nhau: Đoạn 1 đến 6 và Đoạn 7 đến 12.
    b. Tất cả nội dung tiên tri của sách Đaniên đều tập trung vào phần cuối của sách.
    c. Có ít dữ kiện trong Kinh Thánh hỗ trợ cho lời công bố rằng Đaniên là sách tiên tri.
    d. Theo bản chất sách Đaniên có thể được mệnh danh là “sách quở trách tội lỗi và lời kêu gọi ăn năn”.
    e. Thời gian viết sách Đaniên vào khoảng giữa thế kỷ thứ sáu trước Christ.
    5. Trong sổ tay của bạn, hãy thảo luận về cấu trúc, thời gian viết, chủ đề và tác giả của sách Đaniên.
    Lịch Sử Cá Nhân Của Đaniên.
    Để giúp bạn hiểu rõ về bản chất lịch sử và lời tiên tri của sách Đaniên , chúng ta sẽ dùng dàn ý đề xuất ở trên. Điều nầy sẽ giúp chúng ta thấy được diễn tiến của những biến cố cả ở trong đời sống của Đaniên và trong những biếùn cố lịch sử được vị tiên tri báo trước. Vì phần nhấn mạnh của chúng tôi trong loạt bài nầy là phần tiên tri, nên chúng ta sẽ tập trung vào những đoạn có lời tiên tri hơn là những đoạn thuần túy tường thuật về lịch sử.
    Cuộc Xung Đột Thứ Nhất Bài Trắc nghiệm Đức Tin Đầu Tiên
    1:1-21
    Mới bước vào sách, chúng ta gặp ngay cuộc xung đột đầu tiên của những thanh niên bị lưu đày. Đây là sự xung đột giữa sự bê tha của ngoại giáo và sự kiêng khem của sự kính sợ Đức Chúa Trời (Pagan selfindulgence and godly abstinence). Tại điểm nầy Đaniên và ba người bạn của ông Hanania, Misaên và Axaria - đang được huấn luyện trong đại học của vua để phục vụ cho vua. Họ được truyền lệnh phải dự phần trong một thực đơn mà chứa đựng những điều theo điều cấm trong Cựu Ước ( câu 3-5). Trong hoàn cảnh nầy, vấn đề dường như chỉ là điều nhỏ, tuy nhiên nó lại là phần duy nhất trong toàn bộ chính sách muốn phá hoại đức tin của những người trẻ ở nơi Đức Chúa Trời. Câu 6 và 7 cho thấy những thanh niên nầy được ban cho tên mới. Hiển nhiên đây là một cố gắng muốn tẩy xóa thời qúa khứ của họ với sự nhấn mạnh vào Đức Chúa Trời và để đồng hóa với người Babylôn. Trong lúc những tên cũ của họ đồng nhất với Đức Chúa Trời của Ysơraên, thì những tên mới của họ đồng nhất họ với những thần tượng ngoại bang của người Babylôn.
    Ý nghĩa của tên bằng tiếng Hybálai
    Ý nghĩa của tên bằng tiếng Babylôn
    Bốn hoàng tử trẻ tuổi Do thái nầy đối diện với ảnh hưởng bại hoại của cuộc sống triều đình ngoại giáo, sự thờ hình tượng của những thầy giáo của họ, và phong tục không kính sợ Đức Chúa Trời của Babylôn. Hơn nữa, quê hương của họ bị hoang vu, trung tâm tôn giáo của họ bị phá hủy, và sự tự do của họ cũng biến mất. Nhưng những điều đó không ảnh hưởng gì trên họ vì họ quyết định trong lòng mình trung thành với Đức Chúa Trời (câu 8). Những câu 8 đến 20 cho thấy rằng vì họ quyết định đặt Đức Chúa Trời lên trên hết, nên Đaniên và những bạn hữu mình được Đức Chúa Trời tôn trọng. Không có dấu hiệu nào cho thấy họ lưỡng lự, vì họ biết điều nào đúng và quyết định làm điều ấy. Như vậy, bài trắc nghiệm đức tin đầu tiên nầy chứng minh đây là bước ngoặc đầu tiên cho sự phục vụ có trách nhiệm hơn là cho lời làm chứng hiệu quả hơn cho Đức Chúa Trời. Hơn nữa, điều nầy cho thấy điều ưu tiên mà những người trẻ nầy đặt để và giá trị họ đạt được với đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời.
    6. Những câu nào trong đoạn 1 trình bày vấn đề của cuộc thử nghiệm thứ nhất và phương pháp mà bốn người trẻ nầy dùng để đắc thắng?
    ..........................................................................................................................
    ..........................................................................................................................
    7. Giải thích bản chất của cuộc thử nghiệm thứ nhất và tại sao nó quan trọng như thế?
    ..........................................................................................................................
    ..........................................................................................................................
    ..........................................................................................................................
    Cuộc Xung Đột Thứ Hai - Pháp Thuật Ngoại Giáo Trái với Sự Khôn Ngoan Thiên Thượng
    2:1-49
    Pho tượng (Những thời kỳ của dân ngoại).
    Như bạn đã biết khi bạn đọc Đaniên đoạn 2, cuộc xung đột chính thứ hai liên quan đến sự thách thức giữa tà thuật ngoại giáo với sự khôn ngoan thiên thượng. Chúng ta hãy xem bối cảnh nầy.
    Giống như nhiều vị vua tham vọng trước và sau mình, Nêbucátnếtsa quan tâm đến đế quốc rộng lớn mà ông đang xây dựng và những sự sẽ xảy ra trong tương lai (câu 29). Nó sẽ tồn tại không? Không biết những hậu tự khôn ngoan có duy trì được những thành tựu ông đạt được không? Hoặc những thành tựu của ông sẽ bị mất vì cớ những hậu tự của ông thiếu khả năng, không quan tâm và ngu dốt chăng? Trong sự quan tâm của ông Đức Chúa Trời đã ban cho vị vua ngoại đạo nầy một giấc mơ bày tỏ nét phác họa về lịch sử của thế giới từ triều đại của ông cho đến khi Christ trở lại.
    Chẳng bao lâu sau khi Nêbucátnếtsa lên ngôi vua, ông thấy một giấc mơ rất kỳ dị, lạ lùng (câu 1). Giấc mơ nầy khiến ông bối rối đến nổi ông không ngủ được. Tuy nhiên, điều tệ hại hơn là ông quên khuấy những gì mình đã thấy trong giấc mơ. do đó, ông mời những thuật sĩ, thầy bói đến để dùng những quyền lực tà thuật của họ để giúp ông nhớ lại và giải thích giấc mơ, nhưng không ai thực hiện được điều đó . Một điều đòi hỏi làm nhiều người rối trí, vì không người có thể biết được đã mơ thấy gì (
    2:7). Đồng bóng, pháp thuật của ngoại giáo không thể đáp ứng được sự thách thức của nhà vua, vì vậy, ông ra chiếu chỉ giết hết thảy những người khôn ngoan của Babylôn, kể cả Đaniên và ba người bạn của ông.
    Khi Đaniên biết được quyết định của nhà vua, ông hỏi người thi hành pháp luật rằng tại sao nhà vua truyền lệnh gấp như thế. Khi ông biết rằng pháp thuật ngoại giáo đã thất bại, và tạo nên tình huống nghiêm trọng nầy, thì Đaniên xin được phép tâu cùng nhà vua. Chàng thanh niên khôn ngoan nầy bảo đảm với nhà vua rằng chàng có thể giải nghĩa điềm chiêm bao nếu chàng được gia hạn trong một thời gian nữa ( câu 14-16). Nói ra bằng đức tin và biết rằng Đức Chúa Trời là Đấng bày tỏ mọi sự màu nhiệm, nên Đaniên động viên những bạn hữu của mình cầu xin Đức Chúa Trời bày tỏ giấc mơ cùng lời giải thích. Giải pháp nầy sẽ đáp ứng đòi hỏi của nhà vua, và nó sẽ bày tỏ sự siêu việt của sự khôn ngoan thiên thượng vượt trội mọi pháp thuật ngoại giáo. Hơn nữa, điều nầy sẽ giải cứu Đaniên cùng những người bạn của mình thoát khỏi án chết.
    8. Oân những câu 17-28 cẩn thận. Những câu này cho thấy tình trạng thuộc linh của Đaniên và những bạn hữu của ông như thế nào?
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    Những câu 28-30 chứa đựng ba cụm từ chìa khóa để giúp ta hiểu được giấc mơ rõ hơn. Đaniên nói về “những ngày sau rốt” (câu 28) “sự xảy đến sau nầy” (câu 29), “sự sẽ xảy đến” (câu 29). Những cụm từ nầy nhấn mạnh sự kiện giấc mơ là một bức tranh về những điều trong tương lai. Đó là lờøi tiên tri và nó liên quan đến những điều chưa xảy ra. Nó liên quan đến những ngày gần tới- cũng như cả tương lai xa.
    Vua Nêbucátnếtsa ngồi nghe say sưa khi Đaniên thuật chính xác những gì ông thấy trong chiêm bao. Nhà vua đã thấy một pho tượng không lồ kỳ dị. Cái đầu được làm bằng vàng, ngực và cách tay bằng bạc, bụng và vế bằng đồng, ống chơn bằng sắt, và bàn chơn và ngón chơn cùng bằng sắt và đất sét. Chăm chăm nhìn pho tượng cho đến khi nhà vua thấy một hòn đá chẳng phải bởi tay đục ra. Hòn đá nầy đến đập vào bàn chơn bằng sắt và đất sét của tượng, và làm cho tan nát. Bấy giờ sắt, đất sét, đồng, bạc và vàng đều cùng nhau tan nát cả, trở nên như rơm rác trên sân đạp lúa mùa hạ,phải gió đùa đi, chẳng tìm nơi nào cho chúng nó. Nhưng hòn đá đập vào pho tượng thì hóa ra một hòn núi lớn và đầy khắp đất (câu 31-35).
    Để dân sự Đức Chúa trời khỏi quên trọng tâm của giấc mơ nầy là tương lai, nên Ngài đã đưa ra một điểm chính xác: cái đầu bằng vàng (câu 36-38). Pho tượng, vốn tượng trưng cho chính quyền loài người những hình ảnh dấy lên của sự kế tục của đế quốc, đã có ảnh hưởng đầu tiên trên dân sự Đức Chúa Trời từ vương quốc Babylôn đến việc thành lập vương quốc của Cứu Chúa Jesus Christ chúng ta. Những đế quốc này không phải là những đế quốc của thế giới, nhưng mỗi đế quốc, theo điều chúng ta sẽ thấy, đều có ảnh hưởng sâu sắc trên số phận của dân Ysơraên.
    Nhà tiên tri, theo sự cảm thúc của Thánh Linh, đã đưa ra lời giải thích. Nhà vua, là đầu của vương quốc Babylôn, là đầu bằng vàng (câu 36-38). Sẽ có một vương quốc khác kế tiếp tiêu biểu bằng bạc (câu 39). so sánh câu 32 với 39, chúng ta thấy rằng vương quốc kế tiếp được tiêu biểu bằng hình ảnh của hai cánh tay và ngực. Lịch sử cho thấy rằng Babylôn đã thua trận tại cuộc chiến ở Trung Đông để phân thành hai phần của vương quốc Mêđi và Batư (chúng ta sẽ dùng từ ngữ Mêđô - Batư).
    Mêđô- Batư đã điều hành vương quốc nầy hơn hai trăm năm. Kế đó, “vương quốc thứ ba” (câu 39) được dấy lên, tiêu biểu bằng hình ảnh của bụng và vế bằng đồng của pho tượng. Một lần nữa lịch sử thế giới ghi lại rằng, khi đế quốc Mêđô-Batư suy thoái, vương quốc Hy lạp mạnh mẽ, dưới sự lãnh đạo của một nhà lãnh đạo nổi tiếng, Alịchsơn đại đế nổi lên. Aûnh hưởng Hy lạp được lan truyền do sự chinh phục của Alịch sơn đại đế ở vùng đất rộng lớn từ Hy lạp sang Batư và qua phần Trung Đông, kể cả Ai Cập trải gần ba trăm năm.
    Khi nền văn minh Hy lạp suy vi, thì một đế quốc mới, ở xa hơn, mạnh mẽ hơn được dấy lên. Nó được tiêu biểu bằng hai ống chơn bằng sắt của pho tượng (câu 40). La mã tiếp thu những gì của các vương quốc đi trước đã kiểm soát và thêm nhiều vùng khác vào những lãnh thổ trên. Bạn cũng có thể biết thêm rằng, đế quốc La mã bị chia thành hai phần: đế quốc phía Đông và đế quốc phía Tây. La mã là thủ đô của đế quốc phía Tây, kéo dài đến năm 476 sau Christ, nhưng đế quốc phía Đông với thủ đô là Constantinople đứng vững đến năm 1453 sau Christ. Dù đế quốc như thế bị suy tàn, nhưng một số những quốc gia vẫn tạo thành nó cứ tồn tại là những quôc gia độc lập.
    Phần giải nghĩa cứ tiếp diễn với những sự giải thích về một chính phủ khác sẽ dấy lên, tượng trưng ở trên pho tượng bằng hai bàn chơn và những ngón chơn với một phần đất sét. Vị tiên tri nói rằng, đơn vị chính phủ tương lai nầy sẽ nữa mạnh, nữa giòn. Và nó tiêu biểu cho nó lực lượng cuối cùng của con người sẽ được biểu trưng bằng những người thiếu sự khao khát và sự thuận phục để hình thành một chính quyền thống nhất cả thế giới. Vào thời điểm của sự không hiệp nhất trong cái gọi là liên bang mười quốc gia nầy (câu 44 “ trong thời của những vị vua ấy”), Đức Chúa Trời sẽ phá tan công việc cai trị của con người để thành lập vương quốc không bao giờ chấm dứt của Ngài. (Chúng ta sẽ thảo luận chi tiết về chính phủ mười nước nầy ở bài sau).
    Trong giấc mơ nầy có sự giảm dần khi Babylôn giảm xuống Batư, rồi Hy lạp, rồi La mã. Sau đó đơn vị cai trị lỏng lẻo của thời kỳ cuối cùng. Vài học giả Kinh Thánh tin rằng giống như bàn chơn và ống chơn là sự nối tiếp của ống chơn, thì cũng vậy biểu tượng của pho tượng nầy là gợi ý rằng đơn vị cai trị cuối cùng sẽ xuất phát từ những quốc gia hay những dân tộc thuộc về đế quốc La mã cũ. Tuy nhiên, soạn giả loạt bài học nầy tin rằng vì sắt tiêu biểu cho La mã ở pho tượng nầy, vì bàn chơn và ngón chơn một phần sắt, một phần đất sét, nên ông ấy cho rằng sự kết hợp cuối cùng nầy sẽ gồm một phần từ đế quốc La mã cũ , tiêu biểu cho sắt, và một phần từ những nước không thuộc về đế quôc La mã cũ, tiêu biểu cho đất sét.
    Hãy chú ý rằng không có lý do tự nhiên nào nói về việc rơi hòn đá, vì nó “được đục từ núi ra, nhưng không do bàn tay con người” (câu 45). thời đại hoàng kim mà con người đã tự nhiên mong ước sẽ không xuất hiện theo tiến trình tự nhiên nhưng do sự can thiệp thiên thượng trong công việc của con người. Một sự di chuyển mới từ bên ngoài vào thế giới và toàn bộ hệ thống của nó sẽ thay đổi tiến trình lịch sử. Hòn đá đập vỡ, tiêu biểu cho sự can thiệp thiên thượng, hủy phá pho tượng biểu trưng vào thời của bàn chơn và ngón chơn, nghiền nát pho tượng thành bụi. Khi vương quốc loài người chấm dứt, chẳng có thứ gì còn lại cả, nhưng Hòn Đá hóa ra thành một ngọn núi lớn và đấøy khắp mặt đất. Công trình của con người thì tạm thời (temporal), chỉ có công tác của thiên thượng thì trường cửu, Vương quốc của Đức Chúa Trời sẽ tồn tại đời đời.
    Khi chúng ta kết luận phần nầy, chúng tôi muốn đặt giấc mơ nầy phép phối cảnh. Khởi đầu với việc Nêbucátnếtsa chinh phục Giuđa, thời kỳ bắt đầu cho giờ tiên tri của Đức Chúa Trời mà chúng ta gọi là “thời kỳ Dân ngoại” (
    LuLc 21:24). Nói chung từ ngữ nầy ám chỉ thời kỳ quốc gia Ysơraên và đất nước ở dưới quyền kiểm soát của những quốc gia ngoại bang. Thời kỳ nầy sẽ chấm dứt bằng sự hủy diệt toàn bộ sự cai trị của con người ở hình thức cuối cùng: một liên bang mười nước đứng đầu bởi một người mà chúng ta sẽ học biết rằng đó là Antichrist. Người ấy sẽ bị đánh bại khi Đấng Christ hiện đến lần thứ hai.
    Như vậy kết thúc sự xung đột thứ hai. Nêbucátnếtsa đầy lòng biết ơn khi ông cảm tạ vị tiên tri về sự phục vụ lạ lùng nầy (câu 46). Ngoài ra, mặc dù nhà vua là người ngoại giáo, nhưng ông đã bày tỏ cảm nghĩ chơn thật của mình: Đức Chúa Trời của Đaniên là “Đức Chúa Trời của các thần , và Chúa của các vua” (câu 47). Pháp thuật của ngoại giáo rõ ràng là không phù hợp với sự khôn ngoan thiên thượng. Hơn nữa, Đaniên và ba người bạn của ông được thăng chức trong sự điều hành công tác hành chánh ở Babylôn.
    9. Xếp đặt phần của pho tượng với vương quốc hay chính quyền mà nó ám chỉ.
    ....a. Đế quốc Mêđô Batư
    ....b. Đế quốc La mã.
    ....c. Liên bang mười nước.
    ....d. Đế quốc Babylôn.
    ....e. Đế quốc Hy lạp.
    10. Cuộc xung đột thứ hai của Đaniên có liên quan:
    a. Bềngoài của tôn giáo, những qui định về lễ nghi, và sự thỏa hiệp.
    b. Sự vượt trội của sự khôn ngoan thiên thượng đối với pháp thuật ngoại giáo.
    c. Sự đấu tranh giữa những nền văn hóa khác nhau về quyền ưu tiên.
    d. Cá nhân tương phản với nhóm tôn giáo.
    11. Ý nghĩa của giấc mơ về pho tượng là gì, và từ ngữ về thời kỳ Dân Ngoại là gì?.......................................................................................................................
    ..........................................................................................................................
    Cuộc Xung Đột Thứ Ba: Thần Tượng Trái Với Sự Trung Thành
    DaDn 3:1-30.
    Đoạn 3 đưa ra chi tiết của sự nổ lực của Nêbucátnếtsa muốn đặt để sự thống nhất hệ thống tôn giáo trên thần dân của mình. có thể ông tin rằng điều nầy sẽ làm cho đế quốc của ông đoàn kết chặt chẽ. Dù bất cứ lý do nào đi nữa, nhưng việc ông làm ấy là dựng một pho tượng thật cao và lớn, và bắt buộc mọi người phải thờ lạy hễ khi nào có hiệu lịnh. Không có chỗ nào dành sự trung thành với thần khác. Vấn đề đơn giản là : người ta chỉ chọn hoặc thờ lạy trước tượng đó, hoặc bị ném vào lò lửa hực. Chiếu chỉ nầy có nghĩa là những thanh niên Do thái hiện là tôi tớ dân sự phải quyết định hoặc là giữ sự xác quyết thuộc linh của mình và trung thành với Đức Chúa Trời, hoặc chấm thuận tiêu chuẩn do người Babylôn đặt để. May mắn thay, quyết định nầy không khó vì những thanh niên nầy đã bày tỏ đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời và đầu phục lời của Ngài.
    Vì vậy thời điểm đã đến, họ đã quyết định rồi. Họ bày tỏ bằng hành vi của mình, thà làm tôi tớ thật của Đức Chúa Trời hơn là tuân theo lệnh truyền của nhà vua để phản lại niềm tin của mình. Kết quả là họ bị kết án chết ngay lập tức, tuy nhiên, khi cả đám đông chứng kiến, đức tin của những thanh niên nhiệt tình nầy đã được tưởng thưởng. Ở giữa lò lửa hực, họ được tự do, được người Thứ Tư giống như con trai của vị thần (câu 25) ở với. Họ bước ra khỏi lò lửa tử thần để dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời và được sự tôn trọng của tập thể những người lãnh đạo Babylôn. Một lần nữa họ được thăng chức trong bộ máy điều hành của Babylôn.
    12. Mô tả vắn tắt vấn đề trong cuộc xung đột thứ ba.
    ............................................................................................................................
    ............................................................................................................................
    ............................................................................................................................
    Cuộc Xung Đột Thứ Tư: Sự Kiêu Ngạo Của Vua Trái Với Sự Tể Trị CủaĐức Chúa Trời
    4:1-37.
    Khi bạn đọc đoạn 4 bạn có thể nhận thấy rằng vua Nêbucátnếtsa đã được ban cho một số kinh nghiệm quan trọng có liên quan đến “Đức Chúa Trời Tối Cao” cho dù Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng và sự khôn ngoan của Ngài cho nhà vua, nhưng dường như chẳng thay đổi được tính cao và kiêu ngạo của nhà vua. Như chúng ta sẽ thấy, Đức Chúa Trời cảnh cáo ông qua một khải tượng đáng lưu ý về thái độ táo bạo của ông, nhưng còn phải đòi hỏi nhiều điều nữa trước khi vị vua hạ mình xuống và đặt Đức Chúa Trời vào đúng chỗ trong sự suy nghĩ và hành động của mình. Hãy ghi nhớ điều nầy khi bạn khảo sát cuộc xung đột nầy.
    Nêbucátnếtsa đang hưởng sự hòa bình trong thành phố rộng lớn tiếp sau những cuộc viễn chinh của ông. Năng lực của ông đã được chuyển từ công tác cũng cố vương quốc của mình sang việc chỉnh đốn sự cai trị của mình trên mọi lãnh vực của Babylôn. Chính phủ của ông đang chạy đều giống chư một bộ máy đầy đủ chạy tốt. Kết quả, ông có thể thay đổi sự chú ý của mình vào những sự phát triển bên trong. Oâng bắt đầu kiến thiết những công trình công cộng đồ sộ, kể cả việc xây dựng những công sự, hệ thống kênh đào, và hệ thống cung cấp nước ngọt cho thành phố. Những con đường được lót đá, thực phẩm được dự trử dồi dào. Thành phố trông thật đẹp với những cung điện, đền thờ, những dinh thự sang trọng và những vườn treo nổi tiếng .
    Hiển nhiên nhà vua thỏa lòng với những thành tựu thuộc về đế quốc lẫn quốc nội, tuy nhiên, vào thời điểm nầy Đức Chúa Trời ban cho Nêbucátnếtsa một giấc mơ (câu 4-17) với ý định làm cho ông thay đổi thái độ và hành vi của mình. Đaniên, người giải thích giấc mơ (câu 19-27), khuyên nhà vua ăn năn và thay đổi thái độ để tránh sự hình phạt. Cho dù phản ứng thái độ như thế nào, thì chẳng bao lâu sau đó nhà vua đã quên lời khuyên. Chỉ một năm sau, ông lớn tiếng khoe khoang, “Đây chẳng phải là Babylôn lớn mà ta đã dựng, bởi quyền cao cả ta, để làm đế đô ta, và làm sự vinh hiển oai nghi của ta sao?” (câu 30). Tức thì sự hình phạt giáng xuống.
    Kết quả là nhà vua mất trí, và trong một giai đoạn khá lâu, ông sống tách biệt loài người ở trong cánh đồng trống (câu 30-33). Trong thời gian nầy vương quốc của ông vẫn được duy trì do những cố vấn của ông. Sau thời kỳ bị mất phẩm giá cùng cực đó, ông được khôi phục trở lại vương quốc mình. Kết quả của việc xung đột nầy, tinh thần kiêu ngạo của vua bị đánh hạ và những ưu tiên thuộc linh của ông được tái xếp đặt khi ông vui mừng nhìn biết sự cai trị của Đức Chúa Trời trên vương quốc loài người (câu 17,25,32). Điểm chính của đoạn nầy là nhấn mạnh vào tâm trí của chúng ta rằng là Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao trong sự thành lập và duy trì những vương quốc của loài người.
    13. Bài học chính hay chân lý dạy dỗ trong Đaniên đoạn 4 là:
    ...............................................................................................................................
    ...............................................................................................................................
    Cuộc Xung Đột Thứ Năm: Sự Bất Kỉnh Của Loài Người Trái Với Sự Tể Trị Thiên Thượng.
    DaDn 5:1-31.
    Chương 5 giới thiệu cảnh cuối cùng trong lịch sử Babylôn. Vương quốc Babylôn suy thoái rõ ràng. Quân đội Mêđi và Batư đang vây thành. Vua Nabonidus đi xa khỏi thành phố và con trưởng nam của ông, Bênxátxa, hành động như vua nhiếp chính (king-regent) khi ông vắng mặt. Đây là bối cảnh trong đó vua nhiếp chánh trẻ Bênxátxa chọn việc mở một buổi tiệc linh đình. Hứng khởi vì rượu, nhà cai trị trẻ kiêu ngạo truyền đem những khí mạnh thánh mà vua Nêbucátnếtsa đã lấy trong đền thờ Giêrusalem ra dùng để uống rượu và chúc mừng những thần của Babylôn. Sự tự cao bất kỉnh (không kính sợ Đức Chúa Trời) nầy khiến Đức Chúa Trời hành động tức thì: những ngón tay của bàn tay hiện ra và viết một sứ điệp kỳ lạ trên tường (câu 5). Nhà vua khiếp vía, run rẩy, còn những quan đại thần thì bỡ ngỡ. Vậy đây là cuộc xung đột của đoạn 5.
    Vua truyền vời các thuật sĩ, chiêm tinh gia, và thầy bói đến để giải thích sứ điệp, nhưng chẳng ai giúp đỡ được, cũng không đọc và cắt nghĩa được . Tuy nhiên, bà thái hậu, nhớ lại những gì Đaniên đã làm trong triều đại vua Nêbucátnếtsa (câu 10-12). Vì vậy, vua mời Đaniên và hức ban phần thưởng lớn cho ông nếu ông có thể giải nghĩa được những chữ viết đó. Oâng sẽ dự phần vào chức thứ ba trong việc chính trị nhà nước (Bênxátxa như chúng ta đã đề cập, cùng cai trị với cha ông, Nabonidus, trên vương quốc nầy). Bỏ qua một bên những phần thưởng đã hứa, Đaniên lập tức giải thích ý nghĩa của sứ điệp bí ẩn.
    Đây là giờ phút nghiêm trọng trong lịch sử của Babylôn. Mặc dù ông biết rằng ông nội mình (grandfather) Nêbucátnếtsa đã bị hạ hục vì cớ sự ngạo mạn, nhưng Bênxátxa đã không để ý đến trách nhiệm của mình đối với Đức Chúa Trời. Hơn nữa ông đã phạm thượng cùng Đức Chúa Trời là Đấng kiểm soát sự sống bằng việc đem những khí mạnh đã được dâng cho Đức Chúa Trời mà dùng để uống rượu. Ngoài ra, ông còn dám ca ngợi những thần tượng không có sự sống và không có giá trị của Babylôn. Vì thế hành động nầy được cân trên cái cân thiên thượng, và ông được coi như thiếu hẳn những gì Đức Chúa Trời đòi hỏi. Vương quốc Babylôn đã đến chỗ tận cùng, và nó đã bị nước Mêđi và Batư chiếm lấy (ngực và cánh tay bằng đồng của pho tượng ở Đaniên đoạn 2).
    Đaniên đoạn 5 chấm dứt bằng một câu ngắn gọn: “Ngay đêm đó, vua người canh đê là Bênxátxa bị giết” (câu 30). Với lời bình luận trang trọng nầy chúng ta thấy rằng con người phải chịu trách nhiệm về ánh sáng và kiến thức mà chúng ta nhận từ nơi Ngài. Câu 18-21 cho thấy phạm vi của sự hiểu biết của Bênxátxa về Đức Chúa Trời và các câu 22-23 cho thấy ông ta cố tình từ khước sự hiểu biết nầy. Tội lỗi nghịch lại ánh sáng Lời của Đức Chúa Trời và ý chí được gọi là tội cố tình và tội tự phụ. Hàng trăm năm trước, Đavít đã cầu xin Chúa giải cứu mình khỏi loại tội nầy (
    Thi Tv 19:13), và mỗi chúng ta, tương tự như thế, cũng phải biết rằng mình cần phải sống có trách nhiệm trong ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta. Như vậy, Babylôn sụp đổ và vương quốc Mêđô-Batư kế tục.
    14. Lời mô tả đúng nhất về cuộc xung đột thứ năm là:
    a. Thiên tài của con người trái với sự thương xót của Đức Chúa Trời.
    b. Sự yếu đuối của con người tương phản với sự thành tín của Đức Chúc Trời.
    c. Sự không biết chắc của con người trái với sự toàn tri của Đức Chúa Trời.
    d. Sự bất kỉnh của con người trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời.
    15. Giải thích vắn tắt tội lỗi của Bênxátxa.
    .................................................................................................................................
    .................................................................................................................................
    Cuộc Xung Đột Thứ Sáu: Ghen Tị trái Với Sự Chăm Sóc Quan Phòng Của Đức Chúa Trời.
    DaDn 6:1-28.
    Khi đoạn 5 chấm dứt, chúng ta thấy đế quốc Babylôn sụp đổ và Đariút người Mêđi tiếp nhận vương quốc cho đế quốc Mêđô-Batư. Bấy giờ Đaniên và những người bạn lưu đày của ông ở dưới quyền kiểm soát của đế quốc nầy. Tuy nhiên, chúng ta thấy Đaniên có đặt điểm nổi bật là một trong ba quan thượng thơ (một ở trong ba nhân vật chính lãnh việc cai trị cả vùng) (câu 1-2). Ở địa vị nầy Đaniên rất lỗi lạc đến nổi nhà vua định lập người trên cả nước (câu 3). Tuy nhiên ý định nầy tạo ra sự chỉ trích và ghen tị trong số những quan thượng thơ và trấn thủ.
    Dù Đaniên là người ngoại quốc vừa là người Do thái bị lưu đày, nhưng cũng là một tôi tớ chăm sóc việc nước xuất sắc: đáng tin cậy, siêng năng, và không có điều lỗi nào (câu 4-5). Lý do của phản ứng của những kẻ thù của Đaniên là ghen tị vì ông ta được thăng chức và có lẽ thành kiến vì đất nước, dân tộc và tôn giáo của ông. Từ câu 6 đến 9 nói về âm mưu của họ trong việc rập bẫy Đaniên về sự vi phạm chỉ dụ không thay đổi và mắc phải án chết.
    Những kẻ do thám biết rằng họ có thể hy vọng nơi thái độ kiên trì của Đaniên với Đức Chúa Trời (câu 10). Một chứng cớ mạnh mẽ làm sao! Vì thế, lời cầu nguyện của Đaniên với Đức Chúa Trời được dùng làm bằng cớ để ủng hộ cho lời buộc tội cho Đaaniên rằng ông không trung thành với vua và đáng tội chết (câ 11- 14). Vì họ không thể thay đổi luật pháp của xứ Mêđi và Batư, nên ấn lệnh được thi hành. Dầu vậy, nhà vua biết được quyền năng của Đức Chúa Trời của Đaniên có thể giải cứu ông, và ông khuyến khích Đaniên tin rằng Đức Chúa Trời sẽ giải cứu ông (câu 16). Thật vậy, Đức Chúa Trời đã can thiệp, đem sự che chở và giải cứu cho Đaniên, và tiêu diệt kẻ thù của ông (câu 17-24). Một lần nữa, đức tin kiên định nơi Đức Chúa Trời ở giữa cơn xung đột và đương đầu với điều ác đã đem vinh hiển cho Đức Chúa Trời và sự tôn trọng cho tôi tớ Ngài. Bằng cớ ở đây ấy là sự chăm sóc quan phòng của Đức Chúa Trời đối với dân sự Ngài có thể xảy ra trong mọi hoàn cảnh. Người nào đặt đức tin mình và tin cậy nơi Đức Chúa Trời sẽ không bị hổ thẹn.
    16. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Sử nhấn mạnh của lời tường thuật chuyển từ đế quốc Babylôn sang lãnh vực của người Mêđi và Batư.
    b. Ngay khi đế quốc Babylôn sụp đổ, mọi người do thái bị phu tù lập tức trở về quê hương.
    c. Sự phục vụ của Đaniên như là người cố vấn dưới thời Nêbucátnếtsa và những người kế vị ông đến vị trí có quyền hành dưới thời cai trị của Mêđô Batư.
    d. Cuộc xung đột thứ sáu gợi ý rằng khi một người xây dựng đời sống mình trên đức tin và tin cậy Đức Chúa Trời, thì người ấy có thể trông đợi sự chăm sóc quan phòng của Đức Chúa Trời được bày tỏ.
    e. Những kẻ thù của Đaniên không quan tâm nhiều đến sự khác biệt giữa dòng tộc, tôn giáo hay văn hóa như họ quan tâm đến phẩm chất của ông trong công tác chung.

    Bài Kiểm Tra
    Sau khi bạn ôn bài nầy, hãy làm bài tập trắc nghiệm. Sau đó hãy dùng phần giải đáp ở túi học viên kiểm soát lại những câu trả lời của bạn. Oân lại bất kỳ câu hỏi nào bạn trả lời chưa dúng.
    CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ vào khoảng trống trước lời diễn đạt đúng. Viết chữ S nếu câu đó sai.
    ....1. Những đặc điểm vị trí và tự nhiên của Babylôn thuận tiện cho việc phát triển một đế quốc đông dân và dám làm những việc táo bạo.
    ....2. Đế quốc tân Babylôn mạnh mẽ đạt đến tuyệt đỉnh đạt đến trong sự chinh phục và phát triển dưới người sáng lập mạnh mẽ là Nabôpôlátsa.
    ....3. Những năm trước khi Giuđa bị rời vào sự kiểm soát của babylôn (640-610 B.C)có thể được gọi là thời kỳ phục hưng lan rộng ở Giuđa.
    ....4. Kinh thánh cho thấy rằng, là một thanh niên trong những năm cuối trước khi Giuđa bị mất, Đaniên đã chịu ảnh hưởng của tiên tri Giêrêmi lẫn vị vua tin kính Giôsia.
    ....5. Về mặc cấu trúc chúng ta có thể nói rằng sách Đaniên được chia làm hai phần bằng nhau: 6 đoạn đàu thuần túy là sự tường thuật, và 6 đoạn sau là phần mô tả.
    ....6. nói về tác giả của sách Đaniên, dường ông thuộc hoàng tộc hay dòng dõi qúi tộc, một người kính sợ Đức Chúa Trời mà Kinh Thánh chỉ nói điều tốt cho, và chức vụ của người được Chúa chúng ta xác nhận.
    ....7. Chủ đề của sách tiên tri Đaniên liên quan đến sự tể trị của Đức Chúa Trời.
    ....8. Bài thử nghiệm đức tin đầu tiên trong sách Đaniên liên quan đến những giá trị và những ưu tiên của những người trẻ phu tù đối ngược với bối cảnh của những giá trị và thói tục của ngoại giáo.
    ....9. Ý nghĩa của chữ “thời kỳ Dân Ngoại” trong lời tiên tri của Kinh Thánh nằm ở sự kiện là điều ấy chứng tỏ sự cai trị của Dân Ngoại trên Ysơraên trong một thời gian và báo hiệu thời kỳ cuối cùng đang đến.
    ....10. Lịch sử cá nhân của Đaniên chứng tỏ rằng ông chỉ là một viên chức tầm thường trong đế quốc Babylôn, nhưng thỉnh thoảng được nổi tiếng nhờ khả năng giải thích chiêm bao , chứ không bao giờ đạt được sự nổi bật liên tục trong công việc hành chánh quốc gia.
    SẮP XẾP CHO PHÙ HỢP. Sắp xếp kết quả hiển nhiên trong đó mỗi quốc gia tiêu biểu trong pho tượng của Đaniên đoạn 2 phải xuất hiện.
    ....11. Đế quốc Hy lạp.
    ....12. Đế quốc la mã.
    ....13. Đế quốc babylôn.
    ....14. Đế quốc mêđô Batư.
    ....15. Liên bang muời nước.
    1) Thứ nhất
    2) Thứ nhì
    3) Thứ ba
    4) Thứ tư
    5) Thứ năm

    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
    Những câu trả lời nầy đã được xáo trộn để bạn không tình cờ thấy trước câu trả lời của bạn. Cố gắng đừng nhìn trước câu trả lời, nhưng hãy viết câu trả lời của bạn cho mỗi câu hỏi trước khi đối chiếu với câu trả lời của chúng tôi đưa ra. Điều nầy sẽ giúp bạn nhớ những điều mình đã học.
    1. a. Sai.
    b. Đúng.
    c. Đúng.
    d. Đúng.
    e. Đúng.
    f. Sai.
    2. Dân sự khinh dể Lời của Đức Chúa Trời và không bước đi theo Luật pháp của Ngài, vì thế, sau khi sự kiên nhẫn của Đức Chúa Trời lên đến mức (Ngài không chịu đựng được nữa) thì Ngài phải giáng sự hình phạt xuống trên dân sự, thành phố và đất đai của họ.
    3. e. Làm những gì được ghi nhận ở câu b, và c.
    4. a. Đúng.
    b. Sai.
    c. Sai.
    d. Sai.
    e. Đúng.
    5. Câu trả lời của bạn có thể bao gồm sự kiện là dàn ý tạm thời của sách Đaniên gồm có từ đoạn 1 đến 6 nói về tiểu sử cá nhân và lịch sử địa phương, trong khi đoạn 7 đến 12 liên quan đến những quốc gia Ngoại giáo, dân Ysơraên, và nhà cai trị thế giới trong lời tiên tri. Thời gian viết vào thế kỷ thứ sáu trước Christ. Chủ đề của sách là sự tể trị của Đức Chúa Trời. Đaniên là tác giả của sách, ông là hậu tự của hoàng tộc hoặc thuộc dòng dõi qúi tộc. Tác quyền của ông được Chúa Jesus xác nhận trong các sách phúc âm.
    6. Những câu 3 đến 5 trình bày những điều kiện chung, và câu 8 đưa ra chi tiết đặc biệt hơn.
    8. Câu trả lời của bạn. Họ đã có đặc tính thuộc linh chân thật, đức tin sâu sắc nơi Đức Chúa Trời, tin nơi khả năng của Ngài và sự khao khát đáp ứng nhu cầu của họ. Họ sống bằng đức tin trong sự tôn kính và hạ mình.
    9 . a. 2) Ngực và cánh tay bằng bạc.
    b. 4) Oáng chơn bằng sắt.
    c. 5) Bàn chơn bằng sắt và đất sét.
    d. 1) Đầu bằng vàng.
    e. 3) Bụng và vế bằng đồng .
    10. b) Sự vượt trổi của sự khôn ngoan thiên thượng đối với pháp thuật ngoại giáo.
    11. Giấc mơ và pho tượng đưa ra cái nhìn chung về lịch sử từ Nêbucátnếtsa cho đến khi Chúa tái lâm. Thời kỳ Dân Ngoại chỉ về thời gian mà dân Ysơraên và đất đai ở dưới quyền kiểm soát của Dân Ngoại.
    12. Câu trả lời của bạn. Nó liên quan đến vấn đề trung thành của ba thanh niên Hy bálai với Đức Chúa Trời và sự sẵn lòng chết của họ, nếu cần, để chứng minh sự xác quyết của họ.
    13. Đức Chúa Trời tể trị trong việc thành lập và duy trì những vương quốc của loài người.
    14. d. Sự bất kỉnh trái với sự tể trị của Đức Chúa Trời.
    16. Đúng.
    b. Sai.
    c. Đúng.
    d. Đúng
    e. Sai.
    Viễn Cảnh của Người Cai Trị Thế Giới Đầu Tiên
    Trong bài 1 chúng ta được giới thiệu về sách Đaniên và lịch sử cá nhân của vị tiên tri trong các đoạn từ 1 đến 6. Ngoài những sự kiện về bối cảnh của lịch sử, chúng ta còn khảo sát những khía cạnh quan trọng của lời tiên tri của Kinh Thán. trong số những điều ấy, chúng ta tập trung chú ý vào cụm từ “ thời kỳ Dân Ngoại”và những gì ám chỉ trong kế hoạch của Đức Chúa Trời dành cho lịch sử nhân loại. bây giờ quây sang phần thứ hai của sách Đaniên, đoạn 7 đến 12 để thêm vào những kiến thức chúng ta đã đạt được. Vì vấn đề quá bao quát, nên chúng ta sẽ chia nội dung thành hai bài học gần bằng nhau. Bài 2 sẽ gồm có những đoạn từ 7 đến 9, và bài 3 bàn về những đoạn từ 10 đến 12.
    Từ dàn ý được đưa ra ở bài 1, chúng ta biết được nội dung của phần thứ hai của sách Đaniên, như tựa đề của bài nầy cho biết, nói về tương lai. Một số quốc gia Dân Ngoại, dân Ysơraên, và người cai trị thế giớí hầu đến được giới thiệu và khảo sát từ đoạn 7 đến 12.
    Chúng tôi cầu xin Chúa cho bạn học được những gì Kinh Thánh phải nói về những đề tài quan trọng nầy. Chúng tôi cũng tin rằng bạn không để tình cảm hay sự suy đoán sai lầm của bạn đi lạc hướng khi bạn khảo sát những vấn đề nầy và điều chỉnh đời sống mình cho phù hợp. Nguyện xin Thánh Linh đặc biệt soi sáng tâm trí bạn khi bạn bắt đầu bài học nầy và nguyện Ngài làm cho bạn khao khát lớn lên về mặt hiểu biết về lẽ thật và áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình.
    Bốn Con Thú.
    Chiên Đực và Dê Đực.
    Bảy Mươi Tuần Lễ.
    Oân Tập và Aùp Dụng.
    Học xong bài nầy bạn có thể:
    • Nhận diện những biến cố tượng trưng trong các sự hiện thấy của Đaniên chứng minh trong lịch sử và báo trước sự hoàn tất của chương trình Cứu Chuộc của Đức Chúa Trời.
    • Thảo luận liên bang mười nước sẽ cai trị vào cuối thời đại nầy, người lãnh đạo và kết quả cuối cùng của liên bang ấy.
    • Nhìn nhận những yếu tố của bảy mươi tuần lễ ở Đaniên đoạn 9 và ý nghĩa của điều đó.
    • Đánh giá cao ân điển của Đức Chúa Trời vốn mang chúng ta đến sự Cứu Chuộc và cung cấp cho chúng hy vọng phước hạnh là được ở đời đời với Ngài vào cuối thời đại nầy.
    1. Trước khi bạn bắt đầu nghiên cứu bài học, hãy đọc trước Đaniên 7-9 để có cái nhìn tổng quát về nội dung. Sau đó đọc kỷ mỗi đoạn khi bạn nghiên cứu phần triển khaibài học.
    2. Theo tiến trình đưa ra ở Bài 1, bạn nghiên cứu Bài 2.
    Độc ác, hiểm ác (Diabolical).
    Liên minh (Coalition).
    Mưu đồ (Intrigue).
    Tàn bạo (Atrcities).
    Thực thể (Entity).
    Vận động (Manipulation).
    Bốn Con Thú
    Sự hiện thấy của Nêbucátnếtsa trong đoạn 3 thường được gọi là giấc mơ về pho tượng (Image vision). Trong sự hiện thấy ấy Đức Chúa Trời bày tỏ thời kỳ Dân Ngoại cai trị sẽ xảy ra từ thời Nêbucátnếtsa cho đến cuối thời kỳ Dân Ngoại (times of the Gentiles). Nội dung của đoạn 7 thường được gọi là khải tượng con thú (beast vision). Bạn có thể nhận thấy chủ đề trong hai sự hiện thấy nầy tương tự với nhau. Tuy nhiên, trong một khải tượng, theo quan điểm của con người, của một nhà cai trị ngoạøi bang, thì thấy rằng sự cai trị của con người thật tiến bộ, huy hoàng và càng ngày càng cải tiến. Còn ở khải tượng kia, theo cái nhìn của Đức Chúa Trời thì sự cai trị của con người chẳng khác gì loài thú, thoái hóa và mục nát.
    Trong cả hai sự hiện thấy, chúng ta thấy bốn vương quốc hay bốn thực thể chính trị (Political tities) xuất hiện đều có vai trò quan trọng trong chương trình của Đức Chúa Trời. Trong đoạn 2 Đức Chúa Trời ban cho chiếc chìa khóa để giải thích ý nghĩa sự tượng trưng qua pho tượng. Vì thế ý nghĩa nầy chúng ta hiểu được lịch sử qua những giai đoạn khác nhau cho đến thời kỳ cuối cùng của sự cai trị của loài người. Khi chúng ta khảo sát đoạn 7, chúng ta hãy xem có chìa khóa tương tự ấy trong nội dung không, hầu có thể tìm thấy vài dấu vết để nhận diện những yếu tố khác nhau.
    Đaniên nhìn thấy bốn con thú từ dưới biển đi lên. Theo
    KhKh 17:15, biển tiêu biểu cho “những dân tộc, những đám đông, những nước, và những thứ tiếng. Từ biển nhân loại, con thú thứ nhất đi lên. Nó giống như con sư tử và có cánh chim ưng. Vị tiên tri thấy những cánh của nó bị nhổ, nó bị cất lên khỏi đất, đứng hai chơn như người ta, và nó được ban cho lòng loài người (câu 4). Con thú thứ hai, giống như con gấu, nó đứng nghiêng cửa mình, có ba cái xương sườn trong miệng, giữa những răng, và người ta bảo nó rằng: Hãy chổi dậy, hãy cắn nuốt nhiều thịt (câu 5). Kế đó, có một con khác giống như con beo, ở trên lưng có bốn cánh như chim, con thứ đó có bốn đầu, và được ban cho quyền cai trị (câu 6). Cuối cùng vị tiên tri thấy một con thú không mô tả được (nondescript). nó dữ tơn, rất mạnh và có sức lắm, nó có những răng lớn và sắt. Nó nuốt ăn và nghiền nát, dùng chơn đạp vật gì còn lại. Nó cũng có mười sừng. Tuy nhiên, Đaniên nhìn thấy có một cái sừng nhỏ khác ở giữa những sừng ấy mọc lên, và ba cái trong những sừng trước bị nhổ đi trước mặt nó. Sừng nhỏ nầy có mắt in như mắt người và một cái miệng nói lời xấc xược (câu 7-8). Tuy nhiên, sự ngạo mạng của cái sừng nhỏ của con thú bị cất đi và con thú bị sự chỉ định thiên thượng tiêu diệt (câu 9). Sau đó có một vị giống như con người (son of man) lãnh trách nhiệm làm vua đời đời (câu 13-14).
    Từ câu 9 - 14 chúng ta thấy trước sự uy nghi rực rõ của sự kết thúc thời đại nầy. Đấng Thượng cổ ở trong toàn sự vinh hiển của Ngài và những đạo binh thiên sứ trên trời ai vào chổ nấy để chứng kiến kết cuộc của sự phản loạn và tội lỗi. Không những là quang cảnh vinh hiển oai nghi trước lúc mọi sự chống đối bị hủy diệt, nhưng còn có sự xuất hiện của Con Người để thành lập vương quốc đời đời của Ngài. Khải tượng nầy cho chúng ta hưởng trước tiên vị của sự vinh hiển đang chờ đợi chúng ta khi Christ trở lại, lúc thân thể chúng ta được thoát khỏi những ảnh hưởng của sự rủa sả và chúng ta sẽ giống như Cứú Chúa chúng ta (
    ICo1Cr 15:35-55, Phi Pl 3:20-21, ITe1Tx 4:13-18, IGi1Ga 3:2).
    Trước khi chúng ta sang phần giải thích, chúng ta hãy khảo sát vài điểm tương tự giữa hai sự kiện trong những đoạn 2 và 7. Cả hai đều liên quan đến tiến trình của những vương quốc hay của những thực thể chính trị. Một chế độ mười nước (mười ngón chân và mười sừng) xuất phát từ vương quốc thứ tư của mỗi khải tượng. (Oáng chân bằng sắt là vương quốc thứ tư của
    DaDn 2:40, và con thú không mô tả được là vương quốc thứ tư của đoạn 7). Trong cả hai sự hiện thấy Đức Chúa Trời đếu can thiệp vào thời điểm thể chế mười nước để chấm dứt sự cai trị của con người và thiết lập sự cai trị đời đời. Trong đoạn 2 dường như chúng ta có dàn ý chung, nhưng trong đoạn 7 chúng ta có những chi tiết có ích để cho chúng ta có bức tranh đầy đủ hơn.
    1. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Theo Kinh Thánh, biểu tượng biển là sự hung dữ của thiên nhiên.
    b. Chúng ta không thể chính xác nhất thiết rằng sự hiện thấy của Đaniên trong đoạn 7 có ít chi tiết về viễn cảnh tương lai hơn sự hiện thấy của Nêbucátnếsa.
    c. Những sự hiện thấy của vua và của tiên tri gợi ý về điểm kết thúc của những vương quốc trần gian và sự cai trị chăc chắn của Đức Chúa Trời trong tương lai.
    d. Hoạt động của hòn đá đục ra trong đoạn 2 dường như tương tự với hoạt động của Con Người ở đoạn 7, trong đó người ấy tiếp nhận sự cai trị hoàn vũ.
    e. Những quang cảnh cuối cùng của sự cai trị của loài người và sự lên ngôi của Con Người giúp chúng ta hiểu được diễn tiến của tương lai.
    2. Trong sổ tay của bạn hãy mô tả sự hiện thấy về những con thú của đoạn 7.
    Giải Thích Đaniên 7:15-28
    Đaniên rất bối rối do sự hiện thấy nầy và mong muốn được hiểu rõ ý nghĩa. Như vậy, ông đã hỏi một người hiện ra trong khải tượng ý nghĩa của mọi sự ấy (câu 15-16). Người nầy cho Đaniên biết rằng bốn con thú tượng trưng cho bốn vương quốc trần gian, tuy nhiên, phát ngôn viên cũng nhanh nhẹn nói thêm rằng, “Nhưng các thánh của Đấng Rất Cao sẽ nhận lấy nước, và được nước làm của mình đời đời” (câu 18). Bất hạnh thay, lời giải thích ngắn gọn nầy không nói cho chúng ta cách đặc biệt về những con thú tiêu biểu cho vương quốc nào”.
    Như chúng ta sẽ thấy trong đoạn 8, có sự liên tục nhắc đến những vương quốc có tác động mạnh mẽ trên dân sự của Đức Chúa Trời trong thời Đaniên và những ngày kế tiếp. Điều nầy khiến cho vài học giả Kinh Thánh tin rằng Đaniên đoạn 7 chỉ nhấn mạnh diễn tiến của những vương quốc được đưa ra trong đoạn 2. Tác giả của bạn gợi ý rằng ba con thú đầu tiên nầy có thể tượng trưng cho những quốc gia hiện thời sẽ ủng hộ cho nhà cai trị thế giới hầu đến. Oâng ta tin rằng câu 17 ám chỉ rằng bốn vưong quốc sẽ dấy lên trong tương lai, và Đaniên viết trong thời kỳ Tân Babylôn (New Babylonian pariod), vốn đã tồn tại trong một thời gian. Bạn cũng sẽ nhận thấy khi chúng ta thảo luận
    KhKh 13:1-17, ba con thú nầy được đề cập liên hệ với nhà cai trị cuối cùng của thế giới ở câu 2. DaDn 7:1-28KhKh 13:1-17 là những chổ duy nhất trong Kinh Thánh mà biểu tượng ba con thú nầy xuất hiện với nhau.
    Dù sao thì số phận của dân sự Đức Chúa Trời vẫn bị cột chặt với số phận của những quốc gia biểu trưng trong những khải tượng được ban cho trong sách Đaniên. Chúng ta thấy trong đoạn 2 thời kỳ dân ngoại bắt đầu với sự việc người Babylôn chinh phục Giuđa. Hơn nữa, sự cai trị của Mêđi và Batư giúp cho việc bảo tồn quốc gia Ysơraên sau thời gian phu tù và đem lại sự tái định cư cho những người Giuđa phu tù. Sự cai trị của Hylạp cho Ysơraên sẽ thấy trước, trong số những điều khác, sự cai trị vào thời kỳ cuối cùng của một nhà cai trị phản bội và khôn ngoan. Sự cai trị của người La mã mang lại cho Ysơraên vừa những lợi ích lớn vừa hạn chế bớt sự bồng bột trong khoảng thời gian dài. Chúng ta hãy giũ những sự kiện về lịch sử Ysơraên trước khi chúng ta tiếp tục phần giải thích.
    Người giải thích nói rằng con thú thứ tư, là một vương quốc hay thực thể chính trị sẽ có ảnh hưởng lớn trên quả đất. Sự cai trị của nó sẽ lan rộng cách hiệu quả và không bị ai chông cự (câu 23). Mười vua hay những nhà lãnh đạo chính phủ kết hợp với nhau trong một loại xếp hàng sẽ phát xuất từ vương quốc nầy (câu 24). Rồi sau khi liên minh (coalition) mười nước dấy lên, thì một vua khác với mười vua nầy sẽ đánh đổ ba trong mười vua ấy (câu 24). Được mô tả trước là cái sừng nhỏ, sau khi kiểm soát được lãnh thổ của ba vua kia, người cai trị nầy sẽ làm cho mình trở nên người cai trị tối cao. Người ấy sẽ nói nghịch cùng Đức Chúa Trời và sẽ đàn áp dân sự của Đức Chúa Trời. Hơn nữa, nhà lãnh đạo đầy quyền lực nầy sẽ cố gắng thay đổi những thời kỳ và luật pháp vốn thiêng liêng và rất ý nghĩa. Người ấy sẽ thành công trong mục đích của mình trong “một kỳ, những kỳ và nửõa kỳ” (câ 25). Tuy nhiên, người ấy sẽ bị tước đoạt quyền hành và bị hủy diệt do vương quốc hầu đến của Đức Chúa Trời (câu 26). Bấy giờ dân sự của Đức Chúa Trời sẽ cai trị quả đất dưới quyền của Ngài (câu 27). Những sự kiện nầy cho chúng ta cái nhìn chung về những biến cố kết thúc của thời đại nầy bổ sung vào những gì chúng ta khảo sát trong đoạn 2. Bây giờ chúng ta hãy tập trung sự chú ý của mình vào vài kiện từ những câu hỏi của vị tiên tri, cùng lời giải và đặt chúng vào tương lai.
    Từ một vương quốc thứ tư nầy một liên minh mười nước sẽ dấy lên vào thời kỳ cuối cùng (câu 24). Từ thực thể chính trị nầy một vua khác hay nhà lãnh đạo khác sẽ dấy lên (so sánh câu 7 với câu 8). Theo diễn tiến thì đến một lúc người nầy được gọi là cái sừng nhỏ sẽ nổi bật và thay thế ba trong mười vua (câu 8, 20, 21, 24-25). Trong từ ngữ thực tế ông ta sẽ gánh trách nhiệm kiểm soát liên minh hay đế quốcvà dùng sức mạnh loại trừ ba trong mười nhà lãnh đạo, tự lập cho mình thành người cai trị mạnh mẽ. Người nầy rất kiêu ngạo, khoe khoang, gây ấn tượng mạnh mẽ và dường như được cảm thúc bởi mục đích thuộc địa ngục. Người nầy tích cực chống nghịch Đức Chúa Trời, nói những lời phạm thượng với Ngài và đàn áp dân sự Ngài. Thật vậy, người ấy công kích Đức Chúa Trời qua dân sự Ngài và thành công trong việc đánh bại họ trong thời gian ba năm rưỡi, 42 tháng hay 1260 ngày, hay một kỳ, những kỳ và nữa kỳ (câu 22, 25). Sau đó người ấy bị phán xét và bị tiêu diệt, những dân sự của Đấng Tối Cao sẽ cai trị dưới quyền của Đức Chúa Trời cho đến đời đời.
    Phần Thời Gian Lặp Lại Trong Đaniên Và Khải Thị
    Khi chúng ta nhìn trước viễn cảnh của tương lai, chúng ta có thêm một số chi tiết đặc biệt để đóng góp vào những gì chúng ta học được ở đoạn 2. Mặc dù chúng ta không bàn về việc nhận diện ba con thú đầu vốn không được đưa ra rõ ràng, nhưng chúng ta có thể biết chắc điều điều nầy: liên minh mười nước sau cùng sẽ dấy lên từ đế quốc thứ tư (có lẽ ở hình thức sửa đổi). Hơn nữa chúng ta sẽ thấy rằng một vị lãnh tụ mạnh mẽ sẽ nắm quyền kiểm soát vương quốc nầy. Vậy, lần đầu tiên trong phần ký thuật của Kinh Thánh, chúng ta có cái nhìn lướt qua về một nhân vật, cùng với những danh xưng khác, được gọi là Antichrist. Và chúng ta cũng học được một so1 điều về bản chất, phương pháp thực hiện và số phận cuối cùng của người ấy. Trên hết mọi sự, chúng ta đạt được những chi tiết quan trọng vè những biến cố của thời kỳ cuối cùng. Những điều nầy có thể giúp chúng ta hiểu thêm về những thời kỳ trong đó chúng ta sống và trách nhiệm của chúng ta trong ánh sáng của những sự kiện nầy.
    3. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Người giải thích cho Đaniên biết rằng bốn con thú tiêu biểu cho bốn khía cạnh của sự cai trị của con người.
    b. Những quốc gia tượng trưng bằng những khải tượng về pho tượng và con thú bày tỏ sự quan trọng vì cớ ảnh hưởng của những quốc gia ấy trên số phận của dân sự Đức Chúa Trời.
    c. Chúng ta có thể nói rằng Đaniên chú ý nhiều đến con thú thứ tư và những gì tiến triển từ đó hơn là đối với ba con thú đầu.
    d. Liên minh mười nước hay đế quốc là một thực thể trong quá khứ mà chúng ta có thể nhận diện được cách dểõ dàng.
    e. Cái sừng nhỏ hay một vua khác là những từ ngữ dùng để mô tả một người sẽ đạt được quyền kiểm soát thực thể mười nước.
    f. Phương pháp là một người được gọi là “cái sừng nhỏ dùng để nắm quyền cai trị liên minh là tài ngoại giao hòa bình”.
    4. Người lãnh đạo của thực thể mười nước sẽ sử dụng quyền hành.
    a. Trong thời gian ba năm rưỡi.
    b. Trên dân sự Đức Chúa Trời, đánh bại họ trong khi người ấy cai trị.
    c. Chỉ trong khu vực kiểm soát về hành chánh.
    d. Trong những điều được gợi ý ở câu a, b, và c.
    e. Chỉ trong những điều được ghi nhận ở câu a và b ở trên.
    5. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt tiêu biểu cho ví dụ giải thích đúng đắn về những gì phát xuất từ nội dung Kinh Thánh.
    a. Bốn con thú tiêu biểu cho Babylôn, Mêđô-Batư , Hy lạp và La mã.
    b. Thực thể mười nước là điển hình chót của thời đại cuối cùng về sự cai trị của loài người.
    c. Lãnh tụ của thực thể mười nước sẽ sử dụng sức mạnh để phô bày sự kiểm soát của mình trên đế quốc.
    d. Ngay trước khi con Người trở lại, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ bị đàn áp cách mạnh mẽ do một người cai trị không kính sợ Đức Chúa Trời, người ấy sẽ nói nghịch với Đức Chúa Trời và được thịnh vượng khi áp bức dân sự Đức Chúa Trời.
    e. Những con thú đại diện cho quyền lực chính yếu của thế giới ngày nay dưới sự lãnh đạo tập thể của Tổ Chức Liên Hợp Quốc.
    6. Trong sổ tay của bạn , cho biết tín hữu Cơ Đốc có thể biết điều gì về những biến cố trong thời kỳ cuối cùng dựa vào nội dung những đoạn Kinh Thánh chúng ta đã học.
    Chiên Đực Và Dê Đực
    DaDn 8:1-27
    Trong năm cuối của đời Bênxátxa cai trị, Đaniên nhận được sự mặc khải vốn phác họa cho diễn tiến của hai đế quốc thuộc tương lai hơi gần. Khi bạn đọc từ câu 1- 14, có lẽ bạn nhận thấy có hình ảnh của hai con vật nổi bật trong khung cảnh hoạt động: con chiên đực và con dê đực. Sự nhấn mạnh đầu tiên nhắm đến con chiên đực khi nó di chuyển sang phía Nam, phía Bắc và phía Tây theo ý muốn của mình. Không có điều gì có thể ngăn cản bước chân của nó khi nó lớn lên và mạnh mẽ. Tuy nhiên, sau đó nhà tiên tri thấy một con dê với một cái sừng nổi bật mọc giữa hai con mắt từ phía Tây chạy nhanh đến tấn công con chiên đực, và thắng thế hoàn toàn. Đến lượt con dê đực trở thành to lớn, nhưng đến đỉnh cao của sức lực của nó chiếc sừng đáng để ý ấy bị gãy. Thế chổ cho sừng đó có bốn chiêc sừng khác mọc lên,nhưng từ một trong bốn chiếc sừng nầy lại có một chiếc sừng khác nữa lại mọc lên. Nó khởi đầu nhỏ, nhưng dần dần lớn lên về hướng Nam hướng Đông và đến Đất Vinh Hiển (Beautiful Land). Khi nó lớn lên, nó đánh hạ những sừng khác xuống tự lập mình lên làm vua, được thịnh vượng một thời gian, nó đưa điều ác lên và ném bỏ lẽ thật xuống đất. Vị tiên tri được cho biết rằng thời kỳ hỗn loạn nầy sẽ kéo dài khoảng 2300 ngày hoặc gần bảy năm. Sau đó lẽ thật sẽ được tái lập và sự công bình sẽ thắng thế.
    Đây là thực chất của lời mặc khải mà Đaniên nhìn thấy. Tự nhiên, ông bối rối và tìm cách hiểu được ý nghĩa ấy. Ngay lúc đó, một thiên sứ đến để giúp đỡ ông (câu 15-18). Giống như trong đoạn 2, Đức Chúa Trời ban cho chúng ta chìa khóa chúng ta cần để mở ra sự đồng nhất của hai quốc gia được tượng trưng bằng con chiên đực và con dê đực. Con chiên đực tượng trưng cho đế quốc đồng trị Mêđi và Batư (câu 20). Hai sừng tiêu biểu cho hai vua vủa vương quốc nầy. So sánh kỹ câu 3 với lịch sử thế giới, chúng ta thấy một điều đáng chú ý : Mêđi là phần mạnh hơn của vương quốc chung nầy vào lúc bắt đầu, nhưng dần dần Batư trở nên có ưu thế hơn. Kinh Thánh chép rằng: ‘Một trong hai cái thì cao (dài, theo bản tiếng Anh) hơn cái kia, nhưng cái dài hơn mọc sau” (câu 3). Lịch sử thế giới ghi lại rằng những cuộc chinh phục của Mêđô-Batư tiến sang phía Nam, phía Bắc, và đặc biệt phía Tây. Gần hai trăm năm đế quốc mạnh mẽ nầy càn quét Trung Đông, nhưng sau đó nó gặp một lực lượng không thể chống cự được từ phía Tây.
    Câu 21 cho chúng ta nhận diện con dê và giải thích ý nghĩa sự kiện được đưa ra ở câu 5-7. Con dê đực tượng trưng cho vương quốc Hy lạp và cái sừng là vua thứ nhất. Theo lịch sử thế giới chúng ta học biết về sự dấy lên của Alịchsơn đại đế và những cuộc viễn chinh nhanh như chớp của ông khi ông càn quét sang phía Đông để chiếm đế quốc Mêđô-Batư. Vì cuộc chinh phục của ông ta quá hoàn hảo đến nổi chúng ta thường ám chỉ vương quốc mà ông chinh phục là Nền Văn Minh Hy lạp (Hellenistic Civilisation trong tiếng Hy lạp- Greek - còn gọi là Hellenes). Tuy nhiên, công tác của Alịchsơn kết thúc sau mười hai năm và đế quốc của ông bị chia ra bốn trong những tướng lãnh của ông. Hai vị tướng trong bốn người nầy có ý nghĩa cho việc nghiên cứu sách Đaniên là Ptolemy và Seleucus. Ptolemy phát triển một vương quốc hùng mạnh ở Ai Cập và Seleucus phát triển mạnh ở vùng Syri, mà sau khi bắt đầu thế kỷ thứ hai bao gồm cả phần đất palestine của Kinh Thánh. Như vậy vương quốc của Alịchsơn bị chia ra và bốn nhánh của vương quốc nầy không có sức mạnh như ông đã có (câu 22).
    Bây giờ chúng ta hãy sang nội dung của câu 9-14, vốn được giải thích trong những câu 23-25. Tiên tri được báo cho biết rằng một nhà lãnh đạo mạnh mẽ sẽ dấy lên từ một trong bốn nhánh của đế quốc Hy lạp. Oâng ấy khởi đầu nhỏ bé nhưng lớn lên mạnh mẽ qua mưu đồ (intrugue), tài ngoại giao, và vận động chính trị. Khi đạt được quyền hành, ông cai trị tàn ác, bắt người khác phải theo ý muốn mình và các giá trị gian ác. Hơn nữa, ông sẽ tấn công dân thánh (holy people), loại trừ những giá trị thuộc linh, và được thành công trong một thời gian. Tuy nhiên, Đaniên được cho biết rằng nhà lãnh đạo nầy sẽ tự dấy mình lên chống lại Hoàng tử của các Hoàng tử , người ấy sẽ bị tiêu diệt. Chúng ta hãy xem sự mặc khải nầy có sứ điệp gì cho dân sự của Đức Chúa Trời vào thời đó và sứ điệp gì, nếu có, cho dân sự Đức Chúa Trời vào thời kỳ cuối cùng.
    Lịch sử và văn chương tôn giáo của thời kỳ nầy cho chúng ta tin tức có giá trị về số phận của đế quốc rộng lớn của Alịchsơn. Chẳng hạn, Josephus, một sử gia người Do tháiđã để cho chúng ta một tài liệu phong phú về sự chia cắt của đế quốc Alịchsơn (Alexander) và số phận những người kế vị ông trong cuốn Việc Đời Xưa của Người Do Thái (Antiquities of the Jews). Và Ngụy Kinh (Apocrypha) một loạt văn phẩm không được cảm thúc được viết ra trong thời kỳ nầy, cung cấp cho chúng ta thêm tài liệu về những vương quốc của Ptolemy và Seleucus cùng những người kế vị họ.
    Trước đầu thế kỷ thứ hai trước Christ (khoảng 175 B.C), ngai vàng của đế quốc Seleucus bị bỏ trống. một thành viên trong gia đình Seleucus , Antiochus IV là người ở Hy lạp vào lúc bấy giờ, quyết định nắm quyền kiểm soát ngai vàng cho dù ông ta không phải là người kế nghiệp chính thức. Với sự giúp đỡ của một vị vua vốn có cảm tình với những mục đích của Antiochus, là người mà ông ta thề hứa kết bạn và giúp đỡ trong tương lai, thì Antiochus dành được quyền kiểm soát vương quốc Seleucus. Một khi ông ta nắm được quyền hành, thì ông cũng cố địa vị của mình bằng sự tặng qùa và hối lộ. Lịch sử cho biết rằng Antochus nắm quyền hành bằng sự nịnh hót, hối lộ và lừa gạt. Oâng ta bắt đầu bằng con đường nhỏ bé, nhưng chẳng bao lâu trở thành vĩ đại. Thật vậy, chỉ có trong thời gian ngắn mà ông đã kiểm soát toàn vương quốc Ptolemai nữa. Tuy nhiên, tham vọng kết hợp hai vương quốc Seleucid và Ptolemaic thành mộât bị Thượng Viện La mã ngăn cấm. Vào thời điểm nầy, vị vua thất vọng nầy chuyển năng lực của mình sang nơi khác.
    Cai trị được khoảng tám năm, vị vua lừa dối ngạo mạn nầy quay sang Đất Vinh Hiển (câu 9) và dân thánh (câu 9), rõ ràng là ám chỉ về đất palestine và người Do thái, khi hai từ ngữ nầy được dùng trong sách (
    DaDn 9:24). Trong nổ lực muốn phá hủy căn gốc của tinh thần quốc gia Do thái và áp đặt một hệ thống đồng nhất về sự trung thành tôn giáo trên nhiều dân tộc qui phục mình, Antiochus cấm thờ phượng của người Do thái. Lịnh cấm nầy bao gồm việc cấm đọc sách Luật Pháp, thi hành những hình thức lễ nghi tôn giáo và nghi lễ cắt bì. Hơn nữa, ông còn ra chỉ dụ buộc thần dân người Do thái phải đổi tôn giáo của họ sang sự trung thành với ông ta, chấp nhận những giá trị ngoại giáo và tôn trọng những buổi lễ của tà thần. Biết được cường độ mãnh liệt của đức tin người Do thái, nên Antiochus nổ lực sử dụng lực lượng quân sự để bắt họ phải tuân theo chỉ thị. Từ năm 168 B.C. đến ba năm rưỡi sau đó, những người Do thái nhiệt tình chịu đựng sự bách hại tàn bạo (atrocities) khi nhà vua độc ác nầy không từ một phương pháp nào để phá vỡ tinh thần Do thái và như vậy cho phép ông ta đạt được mục đích của mình.
    Antiochus thay thế vị thầy tế lễ thượng phẩm đương kim bằng một người có thể thực hiện những chính sách bất kỉnh của ông ta. Oâng ta thẳng tay giết những người làm phép cắt bì cho bé trai sơ sinh và những người giữ các lễ nghi của Do thái. Tuy nhiên sự xúc phạm cao độ của ông ta và làm ô uế những cuộn sách thánh Torah bằng cách nhúng vào mỡû heo trước khi đem đốt. Rồi đặt con heo lên bàn thờ trong đền thờ để bày tỏ sự khinh bỉ của ông ta đối với Luật pháp. Tự nhiên, điều nầy dẫn đến việc những người do thái kính sợ Đức Chúa Trời bày tỏ sự thờ phượng trong đền thờ. Tuy vậy, những lực lượng của nhà vua xua đuổi dân chúng vào làng mạc của họ để bắt họ chấp nhận chính sách mới. Những người trung thành buộc phải làm ô uế mình bằng việc ăn thịt heo, hoặc bị giết, nhưng đây là điều đòi hỏi quá nhiều. Mattathias, một thầy tế lễ kính sợ Đức Chúa Trời, đã phất cờ làm cuộc cách mạng, và một trong những con trai ông là Judas Maccabacus, lãnh tụ của một đạo quân thiện chiến, và cuối cùng đuổi được quân đội Seleucid ra khỏi đất nước. Tuy nhiên nhà vua khong hiện diện để chứng kiến việc thất bại của hệ thống của ông. Trái lại, trong lúc ông đang ở phần đất phía đông của vương quốc mình thì bị chết cách lạ lùng và huyền bí.
    Chúng ta thấy đây là điều hé mở của lời tiên tri liên quan đến vương quốc Mêđô- Batư, Hy lạp, và các yếu tố của đế quốc Hy lạp bị chia ra. Cẩn thận phần hợp lý bối cảnh nầy tiết lộ cho chúng ta thấy một nhà lãnh đạo tàn ác (diabolicalleader) là người có quyền hành do những mưu đồ độc ác và sức mạnh. Nhà lãnh đạo Seleucid nầy được nhận diện rõ ràng trong lịch sử, và dường như điều nầy đã ứng nghiệm lời tiên tri một cách chính xác và đúng hệt. Vì mọi yếu tố của lời tiên tri nầy được ứng nghiệm quá chính xác, nên đã có người hỏi,”Tại sao Đức Chúa Trời lại nhấn mạnh sự chú ý quá nhiều vào một giai đoạn quá ngắn trong lịch sử của Ysơraên?”. Chúng tôi có cảm nhận rằng , vấn đề đó sẽ dẫn chúng ta khảo sát những lời tiên tri khác giống như thế được báo trước. Đoạn 2 bày tỏ về thực thể chính trị của thời kỳ cuối cùng, nhưng không đưa ra dấu hiệu nào của người lãnh đạo. Tuy nhiên, đoạn 2 nói rõ về liên minh mười nước và một nhà lãnh đạo ngạo mạn sẽ gây chiến với dân sự của Đức Chúa Trời trong thời gian ba năm rưỡi cho đến khi người ấy bị tiêu diệt khi Đấng Christ đến . Như vậy chúng ta sẽ thấy một người khác giống như Antiochus sẽ nắm quyền vào thời kỳ cuối cùng. Điều nầy dẫn nhiều học giả Kinh Thánh đi đến kết luận rằng trong con người Antiochus IV chúng ta thấy trước Antichrist hầu đến. Vậy hãy ghi nhớ sự kiện nầy khi bạn đọc Đaniên và Khải huyền.
    7. Dựa vào phần nghiên cứu của chúng ta đến đây, trong những bản tóm tắt sau đây, câu nào tóm tắt tốt nhất về nội dung và mục đích của Đaniên đoạn 8?
    a. Sự nhấn mạnh chủ yếu là trên sự dấy lên, phát triển và số phận của Mêđô-Batư và Hy lạp trong lịch sử.
    b. Đoạn 8 nhấn mạnh bối cảnh, sự xuất hiện, và sự sụp đổ của các đế quốc Mêđô- Batư và Hy lạp để định vị trí và nhận diện một vị vua là người có mối quan hệ quan trọng đặc biệt đối với dân sự của Đức Chúa Trời.
    c. Đoạn 8 nhìn qua các vương quốc Mêđô-Batư, Hy lạp và những vương quốc phát xuất đế quốc nầyđể tập trung và nhận diện chính xác người cai trị thế giới hầu đến.
    8. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Như trong đoạn 2, có một chìa khóa để nhận diện hai hình ảnh chính được tượng trưng trong đoạn 8.
    b. Những chi tiết từ lịch sử thế giới góp phần lớn vào sự hiểu biết của chúng ta về dàn ý được đưa ra trong sứ điệp tiên tri của đoạn nầy.
    c. Dù đế quốc của Alịchsơn bị chia thành bốn phần, nhưng sự nhấn mạnh trong sách Đaniênchỉ vào hai phần thôi.
    d. Phần ký thuật của Kinh Thánh chứng tỏ rõ rằng thủ lãnh tàn bạo sẽ nắm quyền bằng sức mạnh mà thôi.
    e. Theo phần ký thuật của Kinh Thánh, người lãnh đạo tàn ác hoàn toàn không thành công trong nổ lực của mình trong việc phát huy sự lừa dối, đàn áp dân sự của Đức Chúa Trời, và công khai chống cự Đức Chúa Trời.
    f. Nhìn về tương lai, trong đó Đaniên 2 và 7 cũng đưa ra một số chi tiết về những biến cố của những thời kỳ cuối cùng, cái sừng nhỏ tương lai sẽ không bị bất cứ kẻ thù con người nào tiêu diệt, nhưng bị chính bàn tay của Đức Chúa Trời xử lý.
    Bảy Mươi Tuần Lễ
    DaDn 9:24-27
    Đọc cẩn thận Đaniên đoạn 9 chúng ta thấy vài sự kiện quan trọng. Trong số những điều khác, chúng ta thấy Đaniênnói về sự tàn phá của quê hương. nó phải ở trong tình trạng hoang vu trải qua nhiều năm. Thật vậy, lời Chúa sẽ phán qua tiên tri Giêrêmi, nói rằng tình trạng nầy sẽ kéo dài bảy mươi năm (
    Gie Gr 25:11, 29:10). “Tại sao bị hoang vu?” “Tại sao lại bảy mươi năm ?” bạn có thể hỏi như thế. Dĩ nhiên, lý do trực tiếp của sự hoang vu là tội lỗi của dân sự Đức Chúa Trời, những người từ khước Lời của Ngài, những sứ giả và sự phán xét đầu tiên (IISu 2Sb 36:15-21). Tuy nhiên, nguyên nhân lâu dài dường như là dân sự đã từ khước việc tôn trọng hệ thống của Đức Chúa Trời về năm Sa bát (so sánh LeLv 25:1-4 với IISu 2Sb 36:21). Vì Ysơraên đã không cho đất hưởng năm Sa bát ( cứ sáu năm thì nghỉ một năm ) trong thời gian 490 năm, nên họ đã nợ không cho đất nghỉ bảy mươi năm.
    9. Từ những phần Kinh Thánh được trưng dẫn ở trên, Đức Chúa Trời truyền lịnh cho Ysơraên phải để đất nghỉ một năm.
    a. 7 năm
    b. 70 năm.
    c. 490 năm.
    d. 50 năm.
    Tác giả tin rằng Đaniên đang nghĩ về thời kỳ 490 năm đầu khi ông cầu nguyện trong
    DaDn 9:1-19. Thời kỳ phán xét đã chạy gần hết vòng của nó. bây giờ đến lúc khôi phục nên tác giả cầu thay cho dân sự mình. tại điểm nầy, Gápriên đến để cho ông biết về thời kỳ 490 năm khác có liên quan đến tương lai của Ysơraên. Những câu bạn đọc trong 9:24-27 thường được gọi là “lời tiên tri của bảy mươi tuần lễ” (Bản KJV dịch chữ “tuần lễ” (weeks), còn bản NIV dịch là “những lần bảy” (sevens). Những học giả bảo thủ xem thời kỳ nầy là “những tuần lễ năm” nghĩa là “bảy năm” cho một tuần lễ.
    Khởi đầu với câu 24, chúng ta khảo sát sáu điều mà Gápriên nói sẽ xảy ra cho dân của Đaniên (Ysơraên), và với thành thánh (Giêrusalem). Nên nhớ lời tiên tri nầy trực tiếp cho người Ysơraên, chứ không cho Hội Thánh. Sáu yếu tố nầy xuất hiện để cho thấy toàn bộ mục đích cứu chuộc của Đức Chúa Trời cho dân Ysơraên. Rồi trong những câu 25 và 26, Gápriên giải thích thời kỳ nầy với từ ngữ đặc biệt là “tuần lễ” theo chi tiết. Trước hết, hãy ghi nhận có bao nhiêu “tuần lễ” đứng giữa chiếu chỉ cho hồi hương và tái xây dựng thành Giêrusalem cho đến khi Đấng xức dầu đến. Có cả thảy sáu mươi chín “tuần lễ” (tuần lễ năm hay bảy năm). Ở giữa những sự kiện dường như bao bọc những câu nầy, chúng ta thấy rằng:
    1. Giêrusalem (từ chổ đứng của Đaniên) phải được tái thiết trong thời kỳ khó khăn (tiếp theo những năm bị tù).
    2. Sáu mươi chín “tuần” Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi và không có gì cả .
    3. Dân của người cai trị hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh, báo hiệu cho sự tàn phá, chiến tranh và hoang vu.
    Bây giờ chúng ta phải khảo sát những sự kiện nầy hơi chi tiết hơn. Đấng chịu xức dầu, là Jesus Christ. Tiếng Hêbơrơ là Mêsi (Messiah) có nghĩa là Đấng chịu xức dầu giống như nghĩa của chữ Hy lạp “Christ”. Cụm từ “ sẽ bị trừ đi” rõ ràng là chỉ về sự hiện diện đến lần thứ nhất của Jesus. Giữa chiếu chỉ tái thiết Giêrusalem và việc Đấng Christ bị trừ đi có hai phần thời gian đi liền với nhau. Có thể mô tả theo sơ đồ sau:
    Bảy “tuần” (7x7)=49 năm
    Sáu mươi hai “tuần” (62x7)=434năm
    = Sáu mươi chín “tuần” (69x7) =483 năm
    Thời gian báo trước = 70 “tuần” = 490 năm
    Chiếu chỉ tái thiết
    Giêrusalem đến Đấng Mêsi = 69 “tuần” = 483 năm
    Thời gian còn lại = 1 “tuần” = 7 năm
    Trong bản chiết tính nầy chúng ta thấy còn môt “tuần lễ”còn một “tuần lễ” còn lại mới hoàn thành sáu điều đuợc đề cập trong câu 24 cho dân sự của Đaniên, Ysơraên, và thành thánh của ông, Giêrusalem. Bây giờ chúng ta hãy khảo sát câu 26 để thấy những gì xảy ra cho Đấng chịu xức dầu, thành thánh và nơi thánh . Đấng chịu xức dầu phải “bị trừ đi”. Một số học giả đã tính toán rằng từ khi có chiếu chỉ tái thiết Giêrusalem đến khi Chúa Jesus cởi lừa vào thành Giêrusalem vào lễ lá (Palm Sunday), qua hành động nầy Ngài công bố chính Ngài là Đấng Mêsi (XaDr 9:9Mat Mt 21:4-11) được 483 năm. Ít lâu sau đó Ngài bị trừ đi khi Ngài dâng mạng sống mình làm của lễ hy sinh chuộc tội cho tội nhân, sự chết của Chúa Jesus xảy ra trong thời gian giữa năm 29 và năm 33 A.D.
    Thứ hai, thành phố của Đaniên, thành Giêrusalem, cũng như nơi thánh, bị hủy phá (câu 26). Tuy nhiên, biến cố lịch sử nầy mãi đến năm 70 A.D. mới xảy ra. Sau thời gian vây thành lâu dài và quyết diệt Titus, một tướng lãnh của La mã đã phá hủy thành. Vì quá giận dữ của sự chống cự mạnh mẽ của người Do thái, nên quân đội của ông đã đốt cháy đền thờ nguy nga tráng lệ mà Hêrốt đã xây cất. Trong sức nóng dữ dội, vàng của đền thờ chảy ra và chảy vào kẻ đá xây cất đền thờ. Để lấy vàng , những người lính La mã đã cạy từng hòn đá của đền thờ, ứng nghiệm trọn vẹn những lời phán của Chúa Jesus trong
    24:2: “...chẳng còn hòn đá nào còn lại trên hòn đá nào mà không bị đổ xuống”. Làm thế nào để chúng ta tính khoảng trong giữa lúc Chúa Jesus chịu chết và sự hủy phá thành Giêrusalem? Trong lời tiên tri những tiên tri ký thuật những biến cố khi sự mặc khải đến với họ, tuy nhiên, họ thường không hiểu được những yếu tố thời gian trong sự ứng nghiệm. Phierơ hiểu được những khoảng trống nầy trong sự ứng nghiệm khi ông ta ghi nhận sự quan tâm của những người dự ngôn về sự chịu khổ của Christ và sự vinh hiển theo sau (IPhi 1Pr 1:11). Tác giả của bạn tin rằng ở dây có một khoảng trống thời gian tiên tri khoảng bốn mươi năm mà hiển nhiên Đaniên chẳng biết gì cả.
    DaDn 9:27 ở đây nói về ‘người ấy” (he). Đây là “người cai trị hầu đến” ở câu 26. Người cai trị nầy khác hẳn với người được đề cập ở câu 25. Ở câu 26, người ấy được nói đến ở thì tương lai. Bây giờ trong câu 27 chúng ta đi đến một phần khác của yếu tố thời gian được Gápriên đề cập. Sáu mươi chín “tuần” đã đi qua đi, chỉ còn một “tuần”, “tuần lễ” thứ bảy còn lại. Tác giả của bạn tin rằng có một khoảng trống thời gian không biết xảy ra giữa những biến cố xảy ra trong sáu mươi chín tuần lễ đầu và những gì chưa xảy ra trong “tuần lễ” cuối cùng được chỉ thị ở câu 24. Gần 2000 năm trôi qua kể từ những biến cố của sáu mươi chín “tuần lễ” đầu xảy ra trong lịch sử, nhưng những biến cố được nói tiên tri cho “tuần lễ” cuối cùng, chúng ta tin rằng, đang nằm ngay trước mặt.
    Chúng ta hãy khảo sát kỷ câu 27. “Người ấy’ được nói đến chính là người được gọi là “Antichrist”. Chúng ta đã thảo luận về người nầy ở đoạn 7 và 8 với một số chi tiết, và chúng ta sẽ nhấn mạnh thêm về người ấy cách đặc biệt ở Khải huyền 13 và 17. Ở đây, Đaniên ghi nhận rằng người nầy sẽ lập giao ước với Ysơraên trong thời gian “một tuần lễ”, nghĩa là bảy năm. Tuy nhiên, vào giữa “tuần lễ” nầy, người sẽ phá giao ước, chấm dứt sự tự do tôn giáo, và lập một hệ thống thờ phượng giả dối. Sự cai trị của người ấy cứ tiếp tục cho đến hết kỳ đã định tại Armageddon. Chúng ta có thể tóm tắt một biểu đồ 490 năm được chỉ thị trong bảy mươi “tuần lễ” của
    9:24-27.
    DIỄN TIẾN THỜI GIAN TRONG BẢY MƯƠI “TUẦN LỄ” CỦA ĐANIÊN 9:24-27.
    10. 9:24-27 liên quan đến dân sự của Đaniên và thành thánh. Nói tên dân sự nầy và thành thánh nầy.
    .................................................................................................................................
    11. Khoanh tròn mẫu tự đứng trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Trong Đaniên 9, có xuất hiện hai (2) thời kỳ 490 năm: một liên quan quá khứ và một có liên quan đến tương lai của Ysơraên.
    b. Chữ được dịch là “bảy” (sevens) trong
    9:24-27 tiêu biểu cho thời gian bảy năm và đã được gọi là “tuần lễ năm”.
    c. Thời gian tổng cộng được nhìn thấy trong
    9:24-27 là bảy mươi “tuần”, và chỉ trong thời gian 490 năm nầy chương trình Cứu Chuộc của Đức Chúa Trời cho Ysơraên được hoàn tất.
    d. Sự hủy phá thành và nơi thánh mà Gápriên nói đến đã xảy ra vào năm 70 A.D. do tướng La mã là Titus.
    e. Vua (người cai trị) hầu đến sẽ lập giao ước bảy năm với Ysơraên, nhưng người sẽ phá giao ước và cấm tự do tôn giáo sau ba năm rưỡi.
    f. Giữa sáu mươi chín “tuần lễ” đầu và “tuần lễ” cuối, có một khoảng trống lớn trong đó Đấng chịu xức dầu sẽ mở ra kỷ nguyên công bình đời đời.
    12.
    9:25 chứng tỏ rằng giữa chiếu chỉ cho phép tái thiết Giêrusalem và sự hiện diện đến lần thứ nhất của Christ sẽ là
    a. 490 năm
    b. 483 năm
    c. 434 năm
    d. 49 năm
    Điều quan trọng phải hiểu là bảy năm cuối nó liên quan đến sự hoàn tất của Đức Chúa Trời về những điều được nói trong lời tiên tri về bảy mươi “tuần lễ” để khôi phục quốc gia Ysơraên. Đọc cẩn thận
    Gie Gr 31:31-40RoRm 9:11 cho thấy rằng : 1) Đức Chúa Trời chọn dân Ysơraên, 2) Họ bị mù trong một thời gian, và 3) Họ sẽ được khôi phục lại. Chúng ta tin rằng sự khôi phục nầy sẽ xảy ra trong thời kỳ bảy năm cuối cùng. Một lần nữa chúng tôi xin bạn nhớ kỷ rằng bảy mươi nầy dành cho Ysơraên chứ không phải cho Hội Thánh.
    Vì vậy chúng ta có thể tóm tắt những biến cố của thời kỳ cuối cùng có liên hệ với Ysơraên. Thứ nhất, Antichrist, một nhân vật mạnh mẽ hiển nhiên, sẽ lập một giao ước bảy mươi năm với Ysơraên. Có thể sức mạnh nầy là sự bảo đảm an ninh cho Ysơraên giữa những quốc gia xung quanh Ysơraên. Hiệp ước ấy cũng bảo đảm cho nền hòa bình ở Trung Đông. Tuy nhiên, dân Ysơraên , với sự tự mản rất lớn, rất cần điều gì đó để buộc họ nhìn nhận rằng mình cần một Cứu Chúa. Khi hiệp ước bị phá hủy, người Do thái bị mất tự do tôn giáo và chịu đựng sự ngược đãi chưa từng có như chúng ta sẽ thấy.
    13. Khoanh tròn mẫu tự trước lời hoàn chỉnh ĐÚNG.
    Trong “tuần lễ” thứ bảy mươi, dân Ysơraên sẽ
    a. Ký một hiệp ước an ninh với một nhà lãnh tụ mạõnh mẽ.
    b. Tiếp tục tự mãn cho đến khi Chúa đem sự công bình đời đời đến.
    c. Chịu khổ khi hiệp ước của họ bị phá vỡ và sự tự do thuộc linh của họ bị cấm đoán.
    d. Công nhận nhu cầu tối hậu của mình về một Cứu Chúa khi sự tự do tôn giáo của họ bị mất.
    e. Đối diện một tương lai cực kỳ khốn khổ khi Đức Chúa Trời hoàn tất một chương trình Cứu Chuộc cho họ.
    Ôn Tập Và Áp Dụng
    Trong Bài 2 chúng ta đã thêm những sự kiện đặc biệt hơn vào kiến thức của mình về những biến cố tương lai. Mỗi sự hiện thấy đã thêm vào những sự kiện quan trọng, giúp chúng ta nhìn thấy tiến trình trong sự mặc khải thiên thượng và có một bức tranh đầy đủ hơn về những biến cố kết thúc của thời đại nầy. Bây giờ chúng ta hãy trở lại cách vắn tắt những gì chúng ta đã học ở đây và ở bài 1.
    Đaniên đoạn 2 cho chúng ta một dàn ý tổng quát về diễn tiến của sự cai trị của con người từ thời Nêbucátnếtsa cho đến Hòn Đá bị đục. Chúng ta đã thấy rằng có bốn vương quốc mà những hoạt động của họ quyện lẫn với những hoạt động của dân sự Đức Chúa Trời. Rồi từ vương quốc thứ tư, chúng ta học biết rằng hình thức cuối cùng của sự cai trị của con người sẽ là thể chế hay liên minh mười nước sẽ xuất hiện để nắm quyền cai trị. Tuy nhiên, nó sẽ không có những yếu tố cần thiết để phát sinh sự hiệp nhất chân thật và lâu dài. Nó được cấu tạo bằng sắt và đất sét, tượng trưng cho nữa mạnh nữa giòn, một sự kết hợp chằng phát sinh sự hiệp nhất hay lâu bền. Tuy nhiên, sự chấm dứt của liên minh nầy phải do sự kết hợp lỏng lẻo đó, nhưng do việc Đức Chúa Trời can thiệp vào công tác của loài người. Chúng ta đã quan sát, vương quốc của Đức Chúa Trời phát triển cho đến khi nó đầy khắp đất, nghiền nát sự cai trị của con người và mang lại một trật tự mới, trường cửu.
    Đoạn 7 thêm chi tiết vào dàn ý tổng quát được đưa ra trong đoạn 2 và giúp chúng ta tăng cường kiến thức của mình về những biến cố tương lai, nhấ mạnh vào những gì có liên quan đến những màn kết thúc của lịch sử nhân loại. Chúng ta học biết rằng liên minh mười nước của đoạn 2 sẽ ở dưới sự lãnh đạo của một nhân vật được mô tả là cái sừng nhỏ tương phản với những sừng khác của con thú thứ tư (vương quốc thứ tư). Người lãnh đạo nầy sẽ loại bỏ ba nhà lãnh đạo của liên minh khi ông ta gánh toàn quyền kiểm soát và cũng cố vị trí của mình. Hơn nữa, ông ta sẽ tích cực chống lại Đấng Tối Cao và có những lời nói và hành động phạm thượng, áp bức dân sự của Đức Chúa Trời, thay dổi thì giờ và luật lệ. Chúng ta thấy, người ấy sẽ thịnh vượng trong những chính sách gian ác và ngạo mạn của mình trong ba năm rưỡi, nhưng đến cuối cùng, người ấy sẽ bị hủy diệt do quyền năng và sự oai nghi của Đức Chúa Trời khi Chúa chúng ta sẽ khởi đầu vương quốc đời đời của Ngài. Bây giờ chúng ta sẽ khảo sát những sự kiện đặc biệt về sự phán xét, số phận của kẻ ác, sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ, và vương quốc hầu đến của Chúa chúng ta.
    Đoạn 8 cho chúng thấy viễn cảnh về người lãnh đạo hầu đến (vua hầu đến) gồm có việc người ấy nắm quyền hành, bản chất lừa dối, những thủ đoạn và kết cuộc. Trong gương mặt lịch sử của Antiochus IV, chúng ta thấy nhiều phẩm chất gian ác sẽ là đặc điểm của người lãnh đạo thời kỳ cuối cùng, tuy nhiên, người cai trị trong tương lai sẽ biểu lộ chúng trên bình diện rộng lớn hơn. Chẳng hạn, Antiochus là con người gian ác, lường gạt và tàn bạo. Oâng ta cũng là người ngược đãi dân sự Đức Chúa Trời, dân Do thái và thành công trong một thời gian, nhưng ông bị hủy diệt không do quyền lực của con người. Những điều nầy gợi ý rằng người lãnh liên minh trong tương lai sẽ nắm quyền bằng sự kết hợp của sự vận động ngầm và tài ngoại giao. Khởi đầu người ấy có thể “có bàn tay sắt nằm trong bao tay bằng nhung”, khi người tiến đến việc kiểm soát cả liên minh, nhưng chẳng bao lâu, người ấy sẽ biểu lộ bộ mặt thật của mình khi đánh hạ ba nhà lãnh đạo khác và nắm quyền cai trị toàn bộ. Bấy giờ, người sẽ bắt đầu chính sách chống lại dân sự Đức Chúa Trời, chống lại lẽ thật và sự công bình,chống lại chính Đức Chúa Trời, nhưng đến cuối cùng người ấy sẽ bị hủy diệt bởi sự phán xét thiên thượng.
    Cuối cùng trong đoạn 9 chúng ta thấy rằng Đức Chúa Trời hãy bày tỏ một thời gian biểu có ý nghĩa cho dân sự Ngài gồm có bảy mươi “tuần lễ”. Trong thời gian biểu nầy Đức Chúa Trời có ý định chấm dứt tội lỗi, chuộc tội cho kẻ gian ác, và đem lại sự công bình đời đời. Chúng ta biết rằng giữa chiếu chỉ cho phép tái thiết Giêrusalem và sự hiện đến của Đấng Mêsi là sáu ươi chín “tuần lễ” cuối cùng hay “tuần lễ” thứ bảy mươi còn lại chưa hoàn tất, và chắc chắn nó sẽ đến. Chúng ta học biết rằng trong thời gian bảy năm cuối cùng nầy, Antichrist sẽ đến lập một hiệp ước bảy năm với người Do thái (
    DaDn 9:27). Biến cố nầy hứa hẹn sẽ được hoan nghinh như là một cú đập sáng chói nhất về tài ngoại giao trước nay chưa từng có, vì nó sẽ bảo đảm cho nền hòa bình tại vùng Trung Đông bị chiến tranh xé nát. Tuy nhiên, giữa thời gian ký hiệp ước nầy, người lãnh đạo lừa dối nầy sẽ thay đổi chính sách, chấm dứt sự tự do tôn giáo và khởi đầu những chính sách ghê tởm sẽ làm cho đền thờ hoang vu, và đuổi những người Do thái trung tín thờ phượng ra ngoài. Chính sách sẽ tiếp tục cho đến kết cuộc được báo trước cho con người bất kỉnh nầy gọi là Antichrist.
    Với cái nhìn trước về tương lai và về dân tộc có liên quan trong những biến cố kết thúc, chúng ta được trang bị để sống và hiệu quả hơn. Theo ý nghĩa thực tế, kiến thức nầy sẽ giúp chúng ta hiểu được ý nghĩa của những biến cố sẽ xảy ra trong thế giới chúng ta khi chúng ta đang tiến nhanh đến thời kỳ kết thúc của thời đại nầy. Điều nầy cũng có ý nghĩa thúc giục chúng ta nhanh chóng hoàn tất công tác chưa làm xong của việc đem phúc âm của Chúa Jesus đến cho những người hư mất.
    14. Dựa vào phần học tập của chúng ta về điều nầy, hãy xếp đặt cho phù hợp của những biến cố với những hành động hay những biến cố được liệt kê.
    ....a. Hiệp ước giữa người lãnh đạo dối gạt và người Do thái bị phá vỡ.
    ....b. Liên minh mười nước bị hủy diệt và được thay thế bằng vương quốc hầu đến của Hòn Đá Nghiền Nát.
    ....c. Vua lừa dối sẽ lập một hòa ước bảy năm với dân sự Đức Chúa Trời, người Do thái.
    ....d. Sự tự do tôn giáo bị tước đoạt khỏi dân sự của Đức Chúa Trời, nhiều người trong vòng họ bị giết, và một số hình thức xúc phạm Đức Chúa Trời làm cho đền thờ bị hủy phá.
    ....e. Qua sự tàn bạo và tài ngoại giao của vua lừa dối kiểm soát liên minh mười nước.
    15. Dùng chữ tiến trình được mặc khải trong Đaniên 2,7, và 8 cũng như 9 có ý nghĩa gì.
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    16. Ý nghĩa của tiến trình được mặc khải:
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    Bài Tập Trắc Nghiệm
    CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốc nhất.
    1. Trong Đaniên đoạn 7, con thú được giải thích là tượng trưng cho
    a. Đặc tính của nhân loại.
    b. Bản chất của người không có Đức Chúa Trời.
    c. Những vương quốc dấy lên từ quả đất.
    d. Phẩm chất của những vương quốc đã hiện hữu trong qúa khứ.
    2. Cái sừng nhỏ của đoạn 7 (little horn) và cái sừng nhỏ (small horn) mọc từ một trong bốn sừng nổi bật xuất phát từ con dê đực trong đoạn 8 tiêu biểu rõ ràng
    a. Cùng một người.
    b. Người cai trị có sức mạnh trong thời kỳ cuối cùng.
    c. Lãnh tụ của thực thể mười nước.
    d. Tất cả những câu ở trên: a), b), và c).
    e. Chỉ có những gì được nói ở câu a) và b).
    3. So sánh Đaniên đoạn 8 và lịch sử thế giới từ khoảng năm 330 B.C. Chứng tỏ rằng lời tiên tri liên quan đến cái sừng nhỏ (small horn) ứng nghiệm đầy đủ trong con người của.
    a. Alịchsơn đại đế.
    b. Antiochus IV.
    c. Ptolemy Philadelphus.
    d. Kerxes.
    4. Hiển nhiên những chi tiết được đưa ra liên quan đến cái sừng nhỏ của Đaniên dụng ý để
    a. Phục vụ như là sự báo hiệu trước về sự hiện đến của Antichrist.
    b. Báo cho Ysơraên về những ngày khó khăn trong tương lai dưới sự cai trị của người Seleucid.
    c. Cung cấp thêm chi tiết cho những sử gia trần tụd.
    d. Làm những gì được ghi nhận ở trên: a), b) và c).
    e. Làm những gì được ghi nhận ở câu a), và b).
    5. Hai con vật trong đoạn 8, con chiên đực và con dê đực, tượng trưng những vương quốc trong lịch sử:
    a. Lamã và Babylôn.
    b. Mêđi và Batư.
    c. Mêđô Batư và Hy lạp.
    d. Hy lạp và La mã.
    6. Dựa vào phần học tập của chúng ta ở điểm nầy, dường như liên minh mười nước có lẽ có thể xuất phát từ
    a. Vài hình thức của đế quốc La mã cổ.
    b. Một thực thể gồm những yếu tố hoàn toàn khác với bất kỳ với đế quốc nào trước kia.
    c. Sự sáng tạo hiện hành của việc chọn lựa những quốc gia xuất sắc.
    d. Một thực thể thuộc giáo hội vừa thuộc về lịch sử vừa thịnh hành.
    7. Dường như con người sẽ được mọi người biết là Antichrist sẽ nắm quyền kiểm soát liên minh mười nước bằng phương tiện
    a. Thuần túy quân sự nhờ đó người ấy sẽ chà đạp đối thủ.
    b. Của sự kết hợp sự vận động ngầm, lừa dối và cuối cùng là quân sự.
    c. Sự nhất trí chung của những nhà lãnh đạo của liên minh mười nước.
    d. Của sự ủng hộ rộng rãi mà ông ta có được trong dân chúng.
    8. Vua lừa dối sẽ thành công trong những mưu định gian ác của mình nghịch lại Đức Chúa Trời và dân sự Ngài cho đến lúc người kết thúc đời mình.
    a. Bằng sự thất bại trong chiến trận khi người ấy chống lại liên minh.
    b. Trong tay của những nhà lãnh đạo của liên minh là những người phẩn uất ông ta.
    c. Bằng cái chết tự nhiên sau thời gian dài cai trị thành công.
    d. Bằng sự việc bị vài phương tiện thiên nhiên hủy diệt.
    9. Sáu mươi chín “tuần lễ” đầu của bảy mươi “tuần lễ” của sự hiện thấy của Đaniên liên quan đến
    a. Chiếu chỉ khôi phục Giêrusalem, Đấng Chịu Xức Dầu, và việc Ngài bị trừ đi.
    b. Phá hủy thành Giêrusalem và sự hiện đến của Antichrist.
    c. Sự xuất hiện và sụp đổ của Babylôn và sự phát triển đến suy sụp của La mã.
    d. Sự dấy lên của La mã, việc nó đối xử với Đấng Chịu Xức Dầu, và sự dấy lên của Antichrist.
    10. “Tuần lễ” thứ bảy mươi của Đaniên 9 liên quan đến
    a. Tương lai, gồm cả sự mặc khải về Antichrist.
    b. Việc lập và phá vỡ giao ước giữa Antichrist và người Do thái.
    c. Sự tái lâm của Christ để hủy diệt liên minh mười nước và sự chống cự sự cai trị của Ngài.
    d. Mọi câu trên: a), b), và c).
    e. Chỉ câu b), và c).
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. a. Sai
    b. Sai
    c. Đúng
    d. Đúng
    e. Đúng
    2. Bạn có thể chứng tỏ sự dấy lên tiếp bốn con thú, nhưng đặc biệt con thú thứ tư, và nó được mô tả như thế nào. Bạn nên ghi nhận sự dấy lên của cái sừng nhỏ xíu và việc nó nhổ được ba trong mười sừng có trước. Cuối cùng bạn nên ghi nhận việc nó chấm dứt đời mình trong tay Đấng Thượng Cổ, và tiếp theo đó vương quốc ở dưới sự cai trị của con người.
    3. a. Sai
    b.Đúng
    c.Đúng
    d. Sai
    e.Đúng
    f. Sai
    4. e. Chỉ những gì được ghi nhận ở câu a) và b).
    5. Bạn phải khoanh tròn câu b), c), và d).
    6. Câu trả lời của bạn. Ngay trước lúc Chúa chúng ta trở lại, một lãnh tụ có sức mạnh sẽ cầm quyền cai trị thực thể mười nước, thay thế ba trong mười lãnh tụ của thực thể đó. Người ấy sẽ chống đối Đức Chúa Trời cách mạnh mẽ, một kẻ hà hiếp dân sự Đức Chúa Trời, và rất thành công trong những nổ lực của mình trong ba năm rưỡi. Sau đó người ấy sẽ bị lật đổ và bị tiêu diệt bởi sự phán xét của Đức Chúa Trời, và sự cai trị của người ấy sẽ bị thay thế bằng sự trị vì đời đời của Chúa chúng ta là Jesus Christ.
    7. b. Đoạn 8 nhấn mạnh bối cảnh, sự xuất hiện và sụp đổ của các đế quốc Mêđô-Batư và Hy lạp để định vị trí và nhận diện một vị vua là người có mối quan trọng đặc biệt đối với dân dự Đức Chúa Trời.
    8. a. Đúng
    b. Đúng
    c. Đúng
    d. Sai
    e. Sai
    f. Đúng.
    9. a. 7 năm.
    10. Dân sự là người Do thái, thành là Giêrusalem.
    11. a. Đúng
    b. Đúng
    c. Sai
    d. Đúng
    e. Đúng
    f. Sai
    12. b. 483 năm
    13. Bạn phải khoanh tròn câu a), c), d), và e).
    14. a. 3) Thứ Ba.
    b. 5) Thứ năm
    c. 2) Thứ nhì
    d. 4) Thứ tư
    e. 1) Thứ nhất
    15. Cách cơ bản, từ ngữ nầy ám chỉ về sự di chuyển từ dàn ý chung của những vấn đề tương lai ở trong đoạn 2 đến những chi tiết đặc biệt hơn trong mỗi đoạn tiếp theo.
    16. Chúng ta có được bức tranh hoàn hảo.

    Viễn Cảnh của Thời Kỳ Khó Khăn Hầu Đến

    Bây giờ chúng ta đã khảo sát được 9 đoạn trong số 12 đoạn của sách Đaniên. Trong bài hai chúng ta đã đi theo tiến trình mặc khải từ dàn ý chung được đưa ra trong đoạn 2 của nhiều chi tiết được thêm vào trong đoạn 7, 8 và 9. Bây giờ chúng ta tiếp tục với phần thứ hai của tài liệu liên quan đến những quốc gia Ngoại bang, Ysơraên và nhà cai trị thế giới ở những đoạn 10-12.
    Hầu hết chúng ta ít khảo sát về người hoặc điều gì có liên quan đến lãnh vực thuộc linh. Chẳng hạn, có bao giờ bạn ngạc nhiên vì chúng ta không nhận được sự đáp lời của một số lời cầu nguyện của chúng ta ngay lập tức không? Đoạn 10 cho chúng ta thấy lý do của ít nhất một số việc trì hoãn của việc đáp lời cầu nguyện. Kế đó đoạn 11, cung cấp cho chúng ta những chi tiết từ lịch sử vài điều trong số những biến cố được báo trước của tương lai. Cuối cùng đoạn 12 cho chúng ta cái nhìn sắc bén về “tuần lễ” thứ bảy mươi, kể cả những sự kiện về nguồn gốc của sự giúp đỡ mà Đức Chúa Trời sẽ ban cho dân sự Ngài trong thời kỳ khó khăn nầy.
    Khi chúng ta kết thúc đơn vị I, chúng tôi sẽ tin rằng nội dung sẽ ban cho bạn ý nghĩ tươi mới về công tác truyền giáo và có nhận thức đúng đắn về sự khẩn cấp trong việc phục vụ Christ. Chúng tôi cũng ước mong đơn vị học tập đầu tiên nầy sẽ tạo sự khao khát trong lòng bạn để biết nhiều hơn về chân lý tiên tri và sự áp dụng những điều đó vào nếp sống Cơ Đốc và sự phục vụ Chúa của bạn.
    Sự Vinh Hiển Của Đức Chúa Trời
    Sự Mặc Khải Khiến Hôn Mê
    Trận Chiến Thuộc Linh
    Dòng Lịch Sử: Từ Mêđô- Batư Đến Thời Kỳ Cuối Cùng
    Batư và Hy lạp
    Đế Quốc Ptolematic và Seleucid đến Antiochus IV Epiphanes :Mẫu đầu tiên của Antichrist.
    Antichrist hầu đến
    Thời Kỳ Khó Khăn
    Học xong bài nầy bạn có thể
    • Giải thích tại sao Đức Chúa Trời ban những sự mặc khải cho các đầy tớ Ngài.
    • Liệt kê những ví dụ về các lời tiên tri được ứng nghiệm và nói cho biết tại sao những điểm ấy rất quan trọng.
    • Nhận diện thời gian khi những biến cố rõ ràng xảy ra trong tuần lễ thứ bảy mươi.
    1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình được đưa ra trong bài 1 và làm bài tập trắc nghiệm khi bạn học xong phần triển khai bài học.
    2. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để hiểu những chữ bạn chưa hiểu.
    3. Oân kỷ từ bài 1 đến bài 3 để chuẩn bị cho bản đánh giá học tập Đơn Vị I. Đọc phần hướng dẫn của Túi dành cho học viên. Lấy ra phần bản đánh giá Tiến Trình Học Tập Đơn Vị I và Phiếu Trả Lời. Theo sự chỉ dẫn để làm Phiếu Trả Lời, rồi nộp cho vị trợ giáo ICI của bạn, là người sẽ chấm bài cho bạn biết kết quả.
    Báo thù (avenge).
    Bồi thường (indomnity).
    Hôn mê, chấn thương (trauma).
    Kẻ hoài nghi (skeptics).
    Kẻ cướp ngôi (usurper).
    Khởi nghĩa (insurrection).
    Kinh hoàng (awesomeness).
    Khinh bỉ (contemptible).
    SỰ VINH HIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    Đến phần học tập nầy, chúng ta gặp thế giới của những lực lượng thuộc linh ở trên trời (
    Eph Ep 6:12). Qua kinh nghiệm của tiên tri Đaniên, chúng ta có thể hiểu đầy đủ hơn một phần của cuộc chiến thuộc linh đó đang tác động trên những hoạt động của con người và của quốc gia. Đoạn 10 cho chúng ta một bối cảnh của một sự hiện thấy khác trong những sự hiện thấy của Đaniên, đồng thời cũng cho chúng ta thấy sự đau đớn về tình cảm và thuộc linh khi Đaniên từng trải kinh nghiệm nầy. Mục đích đầu tiên của khải tượng là đưa ra sự giải thích chi tiết về số phận của Dân Do thái trong tương lai dưới sự cai trị của những đế quốc Mêđô-Batư, Hy lạp và Siria (Seluecid). Rồi sau đó nói nhanh đến sự cai trị của một trong những vua của đế quốc Seluecid, Antiochus IV để cho chúng ta thấy trước hình ảnh về người cai trị thế giới sắp đến, Antichrist, mà Antiochus IV là mẫu đầu tiên của Antichrist. Sự mặc khải trong các đoạn 10-12 chỉ mở rộng nội dung của đoạn 8 và cho thấy rằng những lời tiên tri nầy được triển khai trong một tiến trình. Những gì khởi đầu trong đoạn 2 như là một dàn ý tổng quát về tương lai của sự cai trị của con người thì được mở rộng trong đoạn 7, 8, 9 và 10, 11 bao gồm những chi tiềt liên quan đến những bước ngoặc đặc biệt mà dân sự của Đaniên sẽ trải qua.
    SỰ MẶC KHẢI KHIẾN HÔN MÊ:
    DaDn 10:1-12.
    Khi chúng ta bắt đầu phần học tập những đoạn chót của Đaniên, trước hết chúng ta hãy khảo sát sự oai nghi và vinh hiển của Đức Chúa Trời mà tiên tri đã nhận được và ghi lại trong đoạn 10. Theo câu 1, sự mặc khải khiến Đaniên lo lắng nhiều. Có lẽ mối quan tâm của ông là cho dân sự mình, như chúng ta sẽ thấy về sau. Mối quan tâm nầy khiến ông kiêng ăn trước mặt Chúa và làm cho ông rất yếu (so sánh câu 2, 3 ).
    Chúng ta nên nhớ rằng Đaniên đã không trở về quê hương mình hai năm trước khi ban hành chiếu chỉ cho phép người Do thái hồi hương (
    IISu 2Sb 36:23). Có lẽ vì cảnh ngộ của anh em người Do thái của ông và sự điêu tàn của quê hương khiến ông đau đớn và kiêng ăn suốt ba tuần lễ nầy.
    Một số học giả Kinh Thánh tin rằng sự khó khăn của việc những người bị phu tù trở về khiến cho Đaniên quan tâm rất nhiều (
    Exo Er 4:1-5) . Hơn nữa, việc người Samari chống đối việc tu sửa thành thánh cũng là gánh nặng cho ông nữa (4:24).Tuy nhiên, cuối thời kỳ ba tuần lễ nầy, Đaniên được một hữu thể siêu nhiên đến thăm viếng hiển nhiên là để đáp lời cầu nguyện của ông. Tác giả của bài tin rằng Đức Chúa Trời đã ban cho Đaniên khải tượng vinh diệu nầy cốt để xóa tan những sự sợ hãi và lo âu của ông về những biến cố kinh khiếp trong tương lai, chắc chắn là tình trạng chiến tranh hãi hùng được kể trong “tuần lễ” thứ bảy mươi. Điều này cũng ban cho ông sự hiểu biết khi những biến cố nầy xảy ra và để tăng cường sức lực cho ông.
    Tác giả của bạn tin rằng hữu thể siêu nhiên mà Đaniên nhìn thấy là con Đức Chúa Trời trước khi thành nhục thể (preincernate son of God). Có nhiều lần khi người nào đã tận hiến trọn vẹn trong sự cầu nguyện và kiêng ăn, Ngài cũng đã hiện ra với họ trong vài biểu hiện vinh diệu của ân điển và quyền năng tối thượng của Ngài. Sự vinh hiển và sự sáng hết sức của vị khách thiên thượng nầy khiến cho vị tiên tri té sấp trước mặt Ngài. Giây phút kinh hoàng nầy đập mạnh vào vị tiên tri với cảm nhận về sự bất lực của mình, sự nhận thức bị tan biến và ông bị rơi vào sư hôn mê. Trong bản so sánh dưới đây, hãy chú ý đến sự giống nhau giữa hữu thể thiên thượng trong sự hiện thấy của Đaniên và sự hiện thấy của Giăng về Chúa Jesus Christ ở Khải thị đoạn 1.
    Ngoài sự vinh hiển của sự hiện thấy nầy, chúng ta còn thấy ý nghĩa tượng trưng rất phong phú. Chiếc áo dài của thầy tế lễ trong thời Cựu Ước được may từ vải gai mịn (
    XuXh 28:39-43). Vải gai mịn chỉ về những hành động công bình và trong sạch như chúng ta sẽ thấy khi học về sách Khải huyền. Đai hay dây nịt bằng vàng nói về địa vị nhà vua, và bích ngọc (crysolite) là vật liệu xây dựng nền thứ bảy trong Giêrusalem Mới (KhKh 21:19-20).
    DaDn 10:7 chép rằng những người ở với Đaniên không một ai nhìn thấy khải tượng. Những gì xảy ra cho họ dường như ám chỉ rằng họ không phải là nguời của Đức Chúa Trời, vì Đức Chúa Trời chọn việc bày tỏ những lẽ thật thuộc linh cho những đầy tớ của Ngài không phải cho những người khác. So sánh 10:8-10 cho thấy khải tượng vinh diệu nầy tác động trên Giăng.
    Đối với tác giả của bạn dường như
    10:10 có điều gì khác hơn với những gì được mô tả trong những câu 5 và 6, bây giờ vị tiên tri chống đầu gối và tay trên đất. Đaniên cần sự giúp đỡ vì cớ sự hôn mê khi thấy khải tượng và sự kiệt sức của ông sau ba tuần kiêng ăn. Sự cầy thay của Đaniên trong đoạn 9 và sự kiêng ăn của ông trong đoạn nầy chứng tỏ Đaniên thuộc loại người nào. Vì vậy, chúng ta không ngạc nhiên khi đọc thấy những câu 19 ông được gọi là “người rất được yêu qúi”, vì ông gần gũi với Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời yêu thương tất cả dân sự của Ngài, những người mà Ngài có thể bày tỏ những lẽ thật lớn hơn (Hãy xem XuXh 33:11, và Gia Gc 2:23, là những ví dụ của điều nầy). Bạn có khao khát ở gần gũi với Chúa Jesus không? Chính Chúa Jesus rất mong muốn bạn gần gũi với Ngài. 4:8 chép, “Hãy đến gần Đức Chúa Trời và Ngài sẽ đến gần anh em”. Bạn có thể quyết định mình cần sống gần gũi và mật thiết với Chúa, nhưng bạn cần phải tuân theo sự quyết định ấy với những thói quen trong đời sống mình để đưa bạn đến gần gũi Ngài.
    1. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Khải tượng mà Đaniên nhận được liên quan đến sự phán xét sắp đổ xuống trên dân sự của ông, tức là người Do thái.
    b. Chiến tranh được bày tỏ cho Đaniên dường như liên quan đến “tuần lễ” thứ bảy mươi ở trong tương lai.
    c. Sự hiện thấy mang Đaniên đến sự hiểu biết về sự mặc khải ông nhận được và cái nhìn thoáng qua về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
    d. Dường như những sự hiện thấy được ban cho là để động viên và cũng như để báo trước cho dân sự Đức Chúa Trời về những diễn tiến của tương lai.
    e. Sự hiện thấy đã ban cho Đaniên một số sự hiểu biết, khi cùng với những điều khác những biến cố được nói tiên tri sẽ xảy ra.
    f. Chúng ta có thể phỏng đoán cách an toàn rằng sự mặc khải và những sự hiện thấy đặc biệt đặc biệt không được bày tỏ cho tất cả dân sự của Đức Chúa Trời nhưng được dành cho những ai sống gần gũi Ngài cách đặc biệt.
    Trận Chiến Thuộc Linh
    Khi chúng ta đọc đến phần cuối của đoạn 10, Đức Chúa Trời cho chúng ta cái nhìn lạ lùng vào bản chất của chiến trận thuộc linh. Câu 13 cho chúng ta biết tại sao Đaniên phải chờ đợi quá lâu về sự trả lời cho lời cầu nguyện mà ông đã cầu nguyện và Đức Chúa Trời đã nghe trước đó ba tuần lễ. hãy chú ý trong câu 13 về nhân vật cản trở sứ giả thiên sứ đến cùng Đaniên, và người ấy đã ngăn trở sứ giả bao lâu. Cũng hãy chú ý nhân vật đến giúp đỡ sứ giả nầy. (Chúng tôi chọn từ nầy gọi vị nầy là sứ giả để phân biệt vị ấy với Con Đức Chúa Trời chưa thành nhục thể. Rõ ràng là con Đức Chúa Trời không cần bất kỳ sự trợ giúp từ Micaên hay bất kỳ ai khác).
    Từ phần thảo luận trong những câu nầy và trong các câu 20 và 21, dường như có những thiên sứ làm đại diện cho những vương quốc khác nhau. Trong trường hợp nầy thiên sứ đại diện cho Batư được nhìn thấy và kẻ thù của sứ giả của Đức Chúa Trời. Để phá vỡ hàng rào thuộc linh, Micaen (Micaên), vị thiên sứ trưởng, đến để giúp vị sứ giả và đắc thắng sự cản trở của thiên sứ gian ác.
    Tại đây chúng ta thấy một nguyên tắc thuộc linh: trong bầu trời làn sóng điện trong sáng chung quanh chúng ta có vô số lực lượng thuộc giới linh (spiritual forces). (Sứ đồ Phao lô mô tả đây là những lực lượng giới linh gian ác trong
    Eph Ep 6:12). Đặc biệt hơn nưã, có những thiên sứ gian ác đặc biệt có nhiệm vụ chống lại hay ngăn trở mục đích của Đức Chúa Trời liên quan đến một quốc gia. Có lẽ ở đây, vua gian ác nầy tìm cách ngăn trở vương quốc batư trong việc giúp đỡ người Do thái hồi hương và khôi phục quê hương của họ. Sau ba tuần trì hoãn, Micaên, thiên sứ bảo vệ người Do thái (DaDn 12:1), được sai đến để tham gia chiến trận, giúp đõ vị sứ giả thiên sứ nầy, để sự trả lời có thể đến với Đaniên. Và mặc dù trong giây lát sự xung đột giữa thiên sứ nầy của Đức Chúa Trời và các thiên sứ gian ác bị gián đoạn, nhưng trận chiến vẫn còn tiếp diễn (câu 20:21).
    Mục đích của sự hiện thấy nầy, được đưa ra trong câu 14, là “để bảo cho ngươi hiểu sự sẽ xảy đến cho dân ngươi trong những ngày sau rốt, vì sự hiện thấy nầy chỉ về nhiều ngày lâu về sau”. Và chắc chắn các chi tiết được đưa ra lâu tiếp theo ở những đoạn 11 và 12, là điều đúng và hiểu được liên quan đến tương lai của dân Ysơraên dưới thời Antiochus, như lịch sử ghi lại.
    Giá trị thực tiễn của ví dụ nầy nằm ở trong cái nhìn liên quan đến trận chiến thuộc linh. Mặc dù ví dụ đặc biệt nầy liên quan đến một quốc gia, nhưng nguyên tắc chống đối thuộc linh cũng tương tự cho từng cá nhân. Satan là kẻ kiện cáo tín hữu, một công việc mà nó theo đuổi ngày và đêm (
    KhKh 12:10). Chúng ta biết rằng sự trì hoãn trong việc đáp lời cầu nguyện của chúng ta không phải là sự từ chối. Đức Chúa Trời nghe chúng ta như Ngài đã nghe Đaniên, nhưng có những sự cản trở, những chướng ngại vật mà nó có thể làm cho chúng ta tưởng chừng như các bầu trời cứng như đồng ở trên chúng ta. Hiển nhiên, trong sự tể trị của Đức Chúa Trời, Ngài cho phép những sự trì hoãn nầy tăng cường đức tin cho chúng ta, nhưng, như trong trường hợp nầy, sự trả lời cuối cùng cũng đếùn.
    2. Bàn về cuộc chiến thuộc linh được mô tả trong đoạn 10, chúng ta có thể nói chính xác rằng
    a. Trường hợp đặc biệt nầy không phải là ví dụ tốt cho cuộc chiến thuộc linh bình thường.
    b. Ở đây chúng ta có một ví dụ về sự chống đối thông thường với Đức Chúa Trời và những đầy tớ của Ngài vốn tiếp diễn liên tục.
    c. Mặc dù có những thiên sứ đứng binh vực cho các quốc gia, nhưng sự chống đối thuộc linh không mở rộng cho cá nhân.
    d. Ở đây hoặc những nơi khác trong Kinh Thánh chưa có đủ những bằng cớ để chứng tỏ về bản chất thật của cuộc chiến thuộc linh.
    3. Khoanh tròn mẫu tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Sự đáp lời cầu nguyện có thể thỉnh thoảng bị trì hoãn vì cớ sự chống đối thuộc linh.
    b. Ngoài những sứ giả từ Đức Chúa Trời và những thiên sứ thay mặt cho những quốc gia, Kinh Thánh dường như ám chỉ rằng có một hàng ngũ thiên sứ có quyền năng mạnh mẽ hơn mà tiêu biểu là Micaên.
    c. Sự chống đối thuộc linh chỉ đến khi có liên quan đến những vấn đề tương lai.
    4. Mô tả cách ngắn gọn những gì liên quan đến cuộc chiến thuộc linh.
    .........................................................................................................................
    .........................................................................................................................
    .........................................................................................................................
    DÒNG LỊCH SỬ : TỪ MÊĐÔ-BATƯ ĐẾN THỜI KỲ CUỐI CÙNG
    Trong sự hiện thấy cuối cùng nầy, Đức Chúa Trời đã cho Đaniên thấy trước sự diễn tiến của đế quốc ở dưới quyền cai trị của người Batư, người Hy lạp, người Ptolemaic, và seleucid. điều nầy rất cần thiết vì sự thịnh vượng của người Do thái lệ thuộc vào những vương quốc nầy. Họ kiểm soát đất đai của người Do thái, và những chính sách độc tài của họ có tầm ảnh hưởng quan trọng trên những giá trị tôn giáo, văn hóa và chính trị tôn giáo,văn hóa và chính trị của người Do thái.
    Mặc dù không phải tất cả những viễn cảnh tiên tri của lịch sử đều được ban cho cách chi tiết, nhưng nhiều biến cố nói trước đã được ứng nghiệm cách chính xác đáng kinh ngạc. Điều nầy thúc đẩy nhiều người hoài nghi (skeptics) trước kia khẳng định rằng phần ký thuật của Đaniên chắc phải được siêu tầm theo sự ký thuật lịch sử sau khi những biến cố xảy ra chứ không phải có giá trị tiên tri. Đối với con người phủ nhận yếu tố siêu nhiên nơi Lời Đức Chúa Trời, và trong mối quan hệ của Đức Chúa Trời với con người, thì đây là kết luận hợp lý. Tuy nhiên, những ai chấp nhận yếu tố phép lạ trong việc Đức Chúa Trời đối xử với con người thì công nhận rằng siêu nhiên chỉ liên quan với sự can thiệp của Đức Chúa Trời trong sự đình chỉ những qui luật tự nhiên của Ngài. Họ hiểu rằng Đức Chúa Trời vô hạn thường chọc thủng phạm vi hữu hạn của con người để phục vụ cho nhu cầu cấp thiết của con người và bày tỏ những biến cố tương lai với sự rõ ràng phải nể. Vô số những lời tiên tri được ứng nghiệm là bằng cớ của sự kiện nầy.
    Một học viên nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh đã chứng tỏ rằng trong 35 câu đầu của Đaniên 11, có khoảng 135 lời diễn đạt tiên tri tất cả những điều ấy đang được ứng nghiệm. Luận điểm của tác giả nầy là sự chính xác của những lời tiên tri trong trường hợp nầy cho chúng ta sự xác quyết đ tin rằng những gì chưa được ứng nghiệm sẽ được ứng nghiệm với mức độ chính xác y như thế.
    Chúng ta không đủ chổ để liên hệ hết những lời tiên tri trong
    DaDn 11:1-35, nhưng chúng ta đã liệt kê một số lời tiên tri và sự ứng nghiệm đã tăng cường đức tin của bạn nơi sự chính xác của lời tiên tri của Đức Chúa Trời.
    Batư Và Hy lạp:
    11:1-4.
    Lời nói của Đaniên có thể tái xác nhận cho vua Batư rằng triều đại của ông sẽ tiếp tục một thời gian nữa. Không có sự nguy hiểm cấp bách về sự thay thế. Theo lời tiên tri nầy, còn ba vua Batư nữa, mỗi người không khác với người mà ông ta đã kế vị cai trị cho đến khi vua thứ tư đáng để ý sẽ kế vị ngai vàng. Oâng ấysẽ giàu có và công kích những nước láng giềng. Thật vậy, Đaniên tiên đoán rằng người ấy sẽ hổ trợ cho thần dân mình đi chinh phục Hy lạp bằng cách xui giục, kích động tình cảm mọi người đến lên cao độ cho mục đích nầy.
    Nói về vua thứ tư, chúng ta nhận diện ông ta là vua Xerxes I (486-468 B.C), ba vua trước vua thứ tư đáng lưuý nầy là Cambyses (529-522 B.C.), Smerdis (522-521 B.C.) và Đarius Hytaspes (521-486 B.C). Chúng ta hãy chú ý đến những gì lịch sử nói về Xerxes I. Các vua trước Xerxes I tích lũy rất nhiều của cải qua sự chiến thắng Lydia, Balylôn và Ai cập, cũng như kế hoạch thu thuế nghiêm nhặt của họ. Xerxes thêm vào sự giàu có nầy, vì ông đã có một mục tiêu lớn: chinh phục Hy lạp và trả thù cho trận đại bại trước kia. Như thế, ông ta thành lập một đạo quân hùng mạnh cho mục đích nầy, nhưng nổ lực chinh phục của ông bị thất bại vào năm 480 B.C. ở trận Salamis. và với sự thất bại nầy thế lực và sự vinh quang của Batư bắt đầu suy sụp, mặc dù đế quốc đã kéo dài hơn 150 năm nữa.
    Một trong những kết quả có ý nghĩa của Chiến Dịch Hy Lạp của Xerxes I là nó làm cho người Hy lạp giận dữ. Vì thế khi Alịch sơn đại đế nắm quyền tham vọng nung nấu của ông ta là nghiền nát lực lượng quân sự của Hy lạp và hủy diệt mọi dấu vết của đế quốc Hy lạp.
    Câu 3 và 4 nói trước về sự dấy lên của một vị vua hùng mạnh là người sẽ cai trị với uy quyền lớn và làm theo ý mình. Tuy nhiên, sau khi đến đỉnh cao, thì ông ta lại ra đi, để lãnh thổ của mình bị chia thành bốn hướng, nhưng không phải cho hậu tự của mình.
    Lịch sử tiết lộ rằng nhất dưới tay Phi líp của Maxêđoan (338 B.C.) tuy nhiên, trước khi ông ta bắt tay xây dựng đế quốc thì ông ta bị ám sát (336 B.C.). Con trai ông, Alexandre, gánh vác quyền điều hành vương quốc, và trong một mệnh lệnh ngắn ông đã đối đầu và đánh bại mọi sự chống cự của Batư. Như vậy, trong thời gian chưa đầy mười hai năm, Alịch sơn đã xây dựng được một vương quốc từ Hy lạp ở phía Tây sang Ấn Độ ở phía Đông. Tuy nhiên, vào năm 323 B.C. tại đỉnh cao của cuộc chinh phục của ông, ông qua đời, ông có người thừa kế thích hợp. Một trong những tướng lãnh của ông ráng sức điều hành vương quốc, nhưng chỉ trong một thời gian ngắn, vương quốc ấy bị chia ra cho bốn tướng của Alịch sơn. Như vậy sự thống nhất toàn cõi bị phá vỡ cùng với giác mơ của Alịch sơn về việc thiết lập nền văn minh Hy lạp. Trên tất cả mọi sự, lời tiên tri nói rằng “không truyền lại cho con cháu” đã ứng nghiệm từng chữa một.
    Đế quốc của Alexandre đã bị phân chia thành bốn vùng do bốn tướng lãnh: Cassander, Lysamachus, Ptolemy và Seleucus. Trong bốn người nầy có hai người sau liên quan đến sự cân đối của lời tiên tri nầy. Ptolemy nắm quyền kiểm soát xứ Ai cập và Ysơraên, và Seleucus chiếm Batư, Siry, và Tiểu Á . Chính cuộc xung đột của hai vương quốc nầy và ảnh hưởng của họ trên dân Ysơraên liên quan đến những câu sau.
    Chúng ta thấy khải tượng di chuyển nhanh qua thời kỳ của Batư và những hành động liều lĩnh của Alịch sơn đại đế, một khoảng thời gian kéo dài trên hai trăm năm (539-323 B.C.). Sau đó, khải tượng nhấn mạnh đến thời kỳ đế quốc rộng lớn của Alịch sơn bị chia thành bốn thực thể chính trị.
    5. Khoanh tròn mẫy tự trước lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Sứ điệp liên quan đến tương lai của Đế quốc Batư là điều có khuynh hướng động viên vua Batư.
    b. Những cuộc chiến tranh của người Batư chống lại người Hy lạp dấy lên sự ghen ghét cực độ trong người Hy lạp, và dẫn đến sự sụp đổ của vương quốc Hy lạp.
    c. Vị vua mạnh mẽ vốn làm những gì mình thích, cai trị vương quốc mình bằng uy quyền vĩ đạivà không để vương quốc mình lại cho con cháu, được nhận diện là Cyrus of Persia.
    d. Vương quốc bị chia thành bốn phần sau khi một vị vua mạnh mẽ chết thì lại lớn mạnh hơn trước.
    Những Đế Quốc Của Ptolemy Và seleucus Đến Antiochus IV.
    11:5-20.
    Nói trước rằng đế quốc của Alịch sơn sẽ bị tan rã và chia theo bốn hướng gió của trời, thì thiên sứ nói về hai nhánh của đế quốc nầy. Trước hết, nhánh của Seleucid hay Siry nằm về phíc bắc của Ysơraên, và sẽ ở dưới quyền cai trị của Seleucus và con cháu của ông. Nhánh thứ hai, người Eâdíptô, nằm phía nam của Ysơraên và sẽ ở dưới sự cai trị của Ptolemy và hậu tự của ông.
    Ý nghĩa của sứ điệp tiếp tục của thiên sứ, vốn chỉ nói về hai nhánh nầy, nằm ở sự kiện là Ysơraên nằm giữa hai nhánh đó và chịu ảnh hưởng liên tục trong lịch sử của họ. Suốt trong thời gian giữa năm 300 B.C. và 198 B.C. có cuộc chiến tranh gián đoạn giữa những đế quốc nầy. cả hai đế quốc đều xử dụng đất thánh làm chiến địa, làm hoang vu đất đai và giết dân cư. Vì hai đế quốc nầy nằm ở phíc Bắc và phía Nam của Ysơraên, nên những lãnh tụ của họ ở đây được gọi là các vua phương Bắc và các vua phương Nam.
    Triều đại của Ptolemy kiểm soát đất đai Ysơraên từ lúc đế quốc của Alịch sơn bị tan rã (323 B.C.). đến năm 198 B.C., khi nó chuyển sang quân đội của Antiochus III đại đế, Với những sự kiện lịch sử nầy ở trước mắt chúng ta, chúng ta sẽ khảo sát ngắn gọn những lời tiên tri của những câu 5-20, vốn bao trùm thời gian 140 năm, và thế nào những lời ấy được ứng nghiệm cách đáng sợ. Thật vậymột lợi ích lớn của những sự kiện nầy là việc so sánh lời tiên tri với lịch sử cho chúng ta thấy lời tiên tri có giá trị tuyệt vời.
    Câu 5 ám chỉ về Ptolemy I Soter, vua của Aicập. “Một trong các tướng của vua” là Seleucus I, vốn có thời gian làm một vị tướng trong quân đội của Ptolemy. Tuy nhiên, sau đó Seleucus I đánh thắng những cuộc chiến lớn và chính mình làm vua Siry. Oâng ta cường thịnh hơn sau khi đánh bại Batư và thiết lập một triều đại Seleucid vững chắc.
    Câu 6 ám chỉ về Ptolemy II Philadelphus, vua của Aicập, và Antiochus II Theo vua của Seleucid hay đế quốc Siry. Vì sức mạnh của Ai cập, Antiochus li dị vợ mình. Laodice, và kết hôn với Bernice, con gái vua Ai cập. Chúng ta hãy xem lời tiên tri trong Kinh Thánh ứng nghiệm chính xác làm sao. Hai vua nầy đã liên minh với nhau và mối quan hệ nầy được đánh dấu bằng hôn nhân của Antiochus và Bernice. Tuy nhiên, sau đó ít lâu Ptolemy chết (trong vòng hai năm), Antiochus li dị Bernice và tái hôn với Laodice. Trước hết Laodice bỏ tù Bernice, và sau đó bỏ tù chồng bà là Antiochus II, vì bà ta sợ ông ấy. Sau đó bà lập con trai mình là Seleucus Callinicus lên ngai vàng.
    Câu 7-9 liên quan đến Ptolemy III Euergetes, là người tấn công vua phương Bắc, để trả thù cho chị mình là Bernice bị giết. Oâng ta không những trả thù cho cái chết của chị mình nhưng còn mang vàng bạc, châu báu về xứ Eâdíptô nữa, đúng y như điều Kinh Thánh đã báo trước. Oâng ta có thể chinh phục được cả xứ Siry vào lúc bấy giờ, nhưng trái lại lưỡng lự không làm thế. Trái lại, ông ta quay sự chú ý của mình vào những vấn đề nội bộ trong nước. Đến lúc Seleucus đi chinh phục Ai cập, thì ông ta lại đại bại và trở về nhà với đám tàn quân.
    Câu 10-12 nói về những người con của Seleucus Callinicus III Ceraunus và Antiochus III nổi tiếng khi họ chiến đấu chiếm quyền tối cao trong khu vực và thành công trong việc mở rộng quyền hành. Tuy nhiên, chỉ sau hai năm, Seleucus III ceraunus bị ám sát, và người em của ông, Antiochus III, cai trị vương quốc, và thách Ptolemy IV Phiopater, vua của Ai cập. Đầu tiên, Antiochus III bị đánh bại với sự mất mát lớn về người và đồ trang bị (câu 11-12). Có một thời kỳ hòa bình giữa vua phương nam và vua phương bắc khoảng mười hai năm. Trong thời gian nầy Antiochus mở rộng sự kiểm soát của mình sang Batư, Bactria, và đến Ấn độ khi ông ta đưa vương quốc mình lên tột đỉnh vinh quang.
    Câu 13 chỉ về việc ông tin chắc rằng lần nầy ông ta sẽ không thất bại trước vua phương nam nữa. Được Philíp vua của xứ Macedonia, và một số người Do thái phản bội (renegede Jews) (câu 14) hổ trợ, Antiochus III hoàn toàn nghiền nát được những lực lượng của Ptolemy V Epiphanes (câu 15). Kết quả của sự thắng trận nầy, sự cai trị của người Ptolemic trên dân Ysơraên gián đoạn tạm thời, và Antiochus III đã lập sự cai trị vững chắc ở “Đất Vinh Hiển” (câu 16). Tuy nhiên, Antiochus cũng có ý định lật đổ Ptolemy V,do đó ông ta bắt đầu lập kế hoạch chiếm xứ Ai cập. Ngoài ra, ông ta còn tự mình liên kết với kẻ thù và bảo đảm việc thương lượng nầy bằng việc gả con gái, Cleopatra cho Ptolemy (đây không phải là Cleipatra của lịch sử La mã). Oâng ta nghĩ rằng sau hôn nhân con gái của ông sẽ làm việc cho ông mà chống lại chồng mình, nhưng như Kinh Thánh chứng tỏ, kế hoạch của ông ta không thành công (câu 17).
    Câu 18 và 19 nói trước về kết cuộc của vị vua tham vọng nầy. Antiochus III, như những câu Kinh Thánh nầy cho biết, quay những sự chú ý của mình sang những cuộc chinh phục xa hơn, và đến năm 196 B.C. ông ta đã chiếm hầu hết vùng Asia Minor (Tiểu Á). Đế quốc của ông ta trải dài từ phía tây Tiểu Á sang India (Ấn độ) nhưng tham vọng thèm khát đất của ông ta vẫn chưa thỏa mãn. Vì vậy, vào năm 192 B.C. ông ta quay sang phương tây và chinh phục Hy lạp, với ý định là sát nhập nước nầy vào lãnh thổ của mình. Tuy nhiên, trong một loạt chiến đấu với tướng lãnh của La mã là Scipio, Antiochus bị đại bại hoàn toàn như là điều Đaniên đã báo trước (câu 18). Kết quả, ông ta không những bị mất phần mình ở Hy lạp nhưng còn mất luôn cả ở Tiểu Á. Hơn nữa, ông ta còn phải trả một số lượng tiền lớn cho La mã và nộp 20 con tin cho La mã, trong đó có con trai ông là Antiochus IV, để bảo đảm sự hòa bình. Tuy nhiên, trong việc thu góp số tiền bồi thường lớn cho người Lamã, nhà vua bắt đầu cướp phá những đền thờ. Và trong lúc làm như thế, ông ta bị giết, ứng nghiệm lời tiên tri của Đaniên, “người chắc phải vấp ngã, và chẳng được tìm thấy nữa” (câu 19). Con trai của Antiochus III, Seleucus IV Philopater, rơi vào cùng cái bẫy như cha mình. Trong việc tìm cách kiếm, cho đủ số tiền lớn mà La mã đòi buộc phải bồi thường, ông ta sai những người thâu thuế đi ra để thu bất kỳ thuế nào kiếm được. Heliodurus, một nhân viên của ông, cố tìm cách ăn cắp châu báu của đền thờ ở Giêrusalem, nhưng dường như bị ngăn trở cách kỳ lạ. chẳng bao lâu sau đó, Heliodorus đánh thuốc độc giết chết chủ mình, một lần nữa xác nhận lời tiên tri của Đaniên rằng ông ta “sẽ phải bại hoại, chẳng vì cơn giận dữ hay trận chiến tranh nào cả” (câu 20). Sân khấu giờ đây dành cho người kế vị ngai vàng Seleucid.
    6. Theo phần thảo luận của chúng ta, những vua Ptolemys và Seleucids rất quan trọng trong lịch sử của Kinh Thánh vì
    a. Cả hai là những đế quốc lớn trên thế giới trong những ngày thịnh vượng của họ.
    b. Họ là những hậu tự trực tiếp của alịch sơn đại đế.
    c. Ysơraên nằm giữa hai vương quốc nầy và có liên quan trong lịch sử của họ.
    d. Họ sinh ra đế quốc La mã.
    7. Từ năm 323 B.C. cho đến năm 198 B.C. chúng ta có thể nói cách chính xác rằng đất nước Ysơraên ở dưới quyền kiểm soát của
    a. Dòng họ Ptolemy, các vua phương nam.
    b. Dòng họ Seleucids, các vua phương bắc.
    c. Các vua của phương nam, và rồi các vua của phương bắc từng hồi từng lúc tranh nhau kiểm soát vùng nầy.
    d. Những lãnh tụ của mỗi vương quốc, Ptolemy và seleucid, trong thời gian bằng nhau.
    8. Giải thích giá trị của những sự kiện tiên tri được đưa ra trong những câu 5-20 đối với học viên nghiên cứu lời tiên tri của Kinh Thánh.
    .........................................................................................................................
    .........................................................................................................................
    .........................................................................................................................
    Antiochus IV Epiphanes: Mẫu Đầu Tiên Của Antichrist.
    11:21-35.
    tại điểm nầy, Kinh Thánh nhấn mạnh vào Antiochus IV Epiphanes, một vị vua mặt chay mày dạn, ông trùm của sự vận động ngầm mà chúng ta đã thảo luận trong bài 2. Trong phần đó chúng ta ghi nhận rằng ông ta là biểu tượng hay bức tranh của Antichrist hầu đến. Trong những đoạn sau chúng ta cần nghiên cứu cả lời tiên tri lẫn sự ứng nghiệm và mối liên hệ khả dĩ giữa những sự kiện của lịch sử và xuất hiện của một người mà những điều đó dường như miêu tả trước.
    Những câu 21-24 mô tả cách sống động về việc Antiochus IV lên ngai vàng, những phương pháp ông ta đã xử dụng, và ông ta khởi đầu như “kẻ đáng khinh dễ”(trong những điều khác mà Antiochus đã làm trong tiến trình chiếm đoạt quyền hành và mang tước hiệu Epiphanes, có nghĩa là Illustrious (nổi danh, trứ danh), và cũng cho chúng ta thấy phần nào về sự dối gạt của ông ta). Tại Athên, khi ông ta được biết rằng anh mình Seleucus IV Philopater đã chết, ông ta lập tức lên kế hoạch nắm quyền kiểm soát vương quốc Seleucid. Trước hết, ông ta tìm được sự giúp đỡ của Eumenes II, vua của Pergammum, để giúp ông ta nắm quyền kiểm soát vương quốc. Eumenes II rất sung sướng làm vậy vì ông ta quan tâm đến sự lớn lên mạnh mẽ của La mã đe dọa xứ sở ông, và cảm thấy mình cần một liên minh trong tương lai. Vị vua mới trước hết cũng cố địa vị của mình rồi sau đó thiết lập sự kiểm soát về hành chánh và kinh tế có hiệu quả khắp vương quốùc của mình ( bạn có thể nhớ lại rằng vì Antiochus III bị thua La mã, nên số lượng tiền bồi thường khổng lồ đã phải giao nộp cho người La mã). Thật vậy, Antiochus đã có thể kiếm được tiền thuế để có thể bồi thường cho La mã và cũng đã cung cấp được tiền bạc để xài cho nếp sống phung phí của mình nữa.
    Mọi sự chống nghịch xảy đến cho triều đại mới đều bị phá vỡ. Heliodorus, thủ quĩ của vương quốc của ông anh qúa cố của ông ta và kẻ sắp cướp ngôi, cố tìm cách chiếm lại ngai vàng , nhưng không hiệu quả (câu 22 ). Hơn nữa Antiochus IV cắt chức Oniad III, thầy tế lễ thượng phẩm tại Giêrusalem, và thay thế bằng một người gian ác, tìm kiếm tư lợi. Làm thế, ông ta đã hủy diệt vua của sự gian ác. Mục tiêu dài hạn của ông ta là tiêu diệt đức tin của người Do thái và bắt buộc mọi thần dân của ông ta phải trung thành với cùng những thần tượng ngoại bang (và về sau chuyển cả sự trung thành và sự thờ phượng cho ông).
    Lời tiên tri nói trong những câu 23 và 24 là về các phương pháp của Antiochus IV. Những lời ấy cho thấy rằng trước tiên ông xử dụng tài ngoại giao để đạt những mục đích chính trị, nhưng sau đó, ông ta sẽ lường gạt, chẳng biết những điều khoản gì của hòa ước. Và vì kẻ thù không chuẩn bị sẵn để chống lại sự tấn công quân sụ của ông ta, nên ông ta đã chiến thắng cách thần tốc là những tổ phụ của ông ta chưa từng thấy. Ngoài ra, ông ta còn phân chia của cướp được từ những cuộc chinh phục cho những kẻ theo mình. Lịch sử đã ghi lại với sự chính xác đáng sợ rằng điều này xảy ra đúng y như việc Antiochus IV đã dùng để nắm quyền.
    Lời tiên tri tiếp tục trong những câu 25-28 với sự tiên đoán về sự đắc thắng của Antiochus IV trong cuộc chiến với Ai cập. Kinh Thánh báo trước rằng vua phương nam sẽ bị ngăn trở do những âm mưu nghịch cùng ông và hòa ước lường gạt lập ra với ông trùm của sự vận động ngầm (master of intrique) từ phương bắc. Kinh Thánh cũng nói trước về hậu quả của sự chiến thắng của Antiochus và chính sách của ông ta nghịch cùng giao ước thánh. Chúng ta hãy xem lịch sử ghi lại vấn đề này ra sao.
    Antiochus IV thành công trong lần đầu tiên chinh phục xứ Ai cập. Những thần dân của ông phải công nhận lời tuyên bố của ông về đế quốc Seleucid, và xác nhận cháu họ của ông, Ptolemy IV Philometer lên ngai vàng của Ptolemy. Phần của chính sách của Antiochus IV, cho ông uy quyền tạm thời trong những vấn đề thuần túy nội bộ của Ptolemy là sự lừa dối. Cả ông lẫn cháu ông đều xử dụng sự lừa dối khi họ cùng ngồi bàn thương nghị, không người nào giũ lời hứa mình cả (câu 27).
    Trên con đường từ Ai cập về Antiốt, Antiochus dừng lại tại Giêrusalem và bắt đầu chương trình Hy lạp hóa (Helleenization) bắt buộc. Oâng ta lập thầy tế lễ thượng phẩm gia3 hiệu (puppet high priest) khi ông ta đã tiêu diệt “vua của sự giao ước” (câu 22), và lấy đi sự vinh dự dành cho chức vụ đó. Tất cả những điều nầy thích hợp với mục đích cho ông ta là thống nhất những dân tộc khác nhau ở trong lãnh địa của ông bằng cách bắt buộc họ có một nền van hóa, tôn giáo và tiếng nói chung. Tất cả mọi thần dân của ông ngoại trừ những người Do thái chính thống đều tuân theo chỉ thị nầy, cho dù điều nầy có nghĩa là làm điều hoàn toàn xa lạ với di sản thuộc linh và đức tin của họ. Hơn nữa ông vua gian ác nầy đi đến đâu cũng được thịnh vượng, nên ông ta xử dụng của cải cướp được mà mua bạn bè cùng chiếm được lòng thần dân ở xa.
    Những câu kế tiếp trong lời tiên tri nầy (29-35) trình bày những nổ lực của vua gian ác nầy trong việc mở rộng vương quốc của mình cho đến Ai cập và sự thất bại bất ngờ của ông do những chiếc tàu thuộc vùng ven biển phía tây. Những câu nầy cũng nói về nổ lực của ông trong việc hủy phá giao ước thánh, tiêu diệt những ai trung thành với giao ước, cũng như sự chống cự can đảm của họ, và sự thất bại cuối cùng của ông. Một lần nữa chúng ta hãy xem lịch sử đã gợi gì về khía cạnh nầy của tên trùm vận động ngầm nầy.
    Vào năm 168 B.C. Antiochus IV chinh phục Ai cập với ý định lấy lại quyền kiểm soát đó. Khi ông ta chuẩn bị tấn công Alexandre, thì một tướng La mã ra lịnh cho ông phải ngưng và trở về nhà. Thất vọng do bị hạ nhục và sự đảo ngược của những biến cố, đồng thời có tin về cuộc khởi nghĩa tại Giêrusalem, Antiochus trở về Antiốt bằng con đường ngang qua Giêrusalem và trút đổ cơn giận của mình lên dân cư của thành phố. Ngoài ra, ông ta bắt đầu ép buộc người Do thái phải chấp nhận quốc giáo của ông.
    Để nhanh chóng thực hiện tiến trình phá hoại sự chống cự của người Do thái đối với những chính sách của ông, Antiochus IV xúc phạm đến đền thờ và hủy bỏ sự dân hiến hằng ngày. Oâng ta làm ô uế những cuộn sách Torah trong đền thờ, cũng ra lệnh đốt những cuộn sách thánh khác. Oâng ta ép buộc những thầy tế lễ và dân sự phải ăn thịt heo, cấm giữ những ngày thánh và làm lễ cắt bì cho những bé trai. Hơn nữa, ông ta bắt buộc người Do thái phải giữ những lễ nghi của người ngoại giáo. Tuy nhiên tệ hại hơn cả là ông ta dựng tượng của Zeus Olympus trong đền thờ (được coi như là hiện thân trong Antiochus IV). Đây là “sự gớm ghiếc làm ra sự hoang vu” (cau 31). Thật vậy, chính satan hà hơi cho vua nầy để làm hành động “tức giận nghịch cùng giao ước thánh” (câu 30).
    Những người do thái trung thành kinh hoảnh trước sự xúx phạm nầy và vội vàng chống lại nổ lực của ông ta. Tuy nhiên, nhiều người đã từ bỏ. Đối với những người mà ông ta không thể dụ dỗ để từ bỏ đức tin, thì ông ta lại dùng sự nịnh hót và hối lộ để phá hoại đức tin (câu 32). Khi con người điên cuồng nầy tiếp tục tăng cường sự gian ác cho những chính sách của mình, thì sự chống đối chất chồng như núi. Như chúng ta đã học trong bài 2, những người trung tín dấy lên một cuộc cách mạng. Cả về quân sự và tôn giáo họ hành động để đánh đổ ách thống trị và trở lại thờ phượng Đứa Giêhôva cho đúng chỗ.
    Thời kỳ chịu khổ kinh khủng nầy phục vụ cho vài mục đích : 1) Kẻ ác cứ được vững vàng trong sự ngu dại mình, 2) và người khôn sáng được luyện lọc và tẩy sạch, đức tin của họ được tăng cường khi họ đầu phục Đức Chúa Trời trọn vẹn (câu 33-35).
    Những người trung tín ngã xuống trong một lát nhưng như chúng ta đã thấy trong bài 2, họ hiệp một đàng sau Mattathias và con trai ông Judas Maccabaeu. Trước hết những lợi lộc của vua Seleucid ở vùng thôn quê không thu được vì có những chiến dịch đánh di kích có hiệu quả. Sau đó, trong bốn cuộc chiến chính, lực lượng quân sự của Maccabaeu đánh bại các đội quân tinh nhuệ nhất của đế quốc Seleucid và bình tịnh được lãnh thổ bị chiếm đóng. Sau đó, họ tẩy sạch đền thờ và tái lập những lễ nghi của giao ước cùng sự thờ phượng thích đáng.
    Phần ký thuật bi kịch rùng rợn nầy nói trước sự tàn sát hàng loạt dưới thời Antichrist và cho ta thấy trước tương lai để chúng ta có thể biết rằng sự tồn tại của những người trung tín có thể xảy ra. Sau những câu hỏi ôn tập, chúng ta sẽ sang phần nói trưóc về điều sẽ xảy ra .
    9. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt có liên quan đến những yếu tố chính xác của lời tiên tri về Antiochus IV đã được ứng nghiệm trong lịch sử.
    a. Antiochus IV lên ngai vàng xứ Siry như là người thừa kế chính thức, tự nhiên.
    b. Khởi đầu trong sự cai trị của Antiochus IV, ông ta bị thất bại nhiều trận, nhưng qua thời gian, ông ta ngày càng thành công.
    c. Phương pháp mà Antiochus IV chỉ đạo về ngoại giao có thể được mô tả tốt nhất là sự lừa dối.
    d. Nổ lực của Antiochus IV trong việc mở rộng sự kiểm soát của mình bao gồm cả vương quốc của Ptolemy bị người La mã đình chỉ vĩnh viễn.
    e. Những công sức của Antiochus trong việc xóa đi tôn giáo của người Do thái dựa vào sự khao khát của ông ta nhằm thống nhất tất cả mọi sự cho lãnh địa của mình.
    f. Chính sách Hy lạp hóa bắt buộc thất bại vì những sự chống đối của những người do thái trung tín là những người liều chết để giữ đức tin của mình nơi Đức Chúa Trời.
    Antichrist Hầu Đến
    11:36-45
    Từ đầu của câu 36, hãy chú ý sự dứt quãng tinh vi trong sợi dây lịch sử. Như chúng ta đã ghi nhận ở trên, lời tiên tri tự nó không có liên quan đến lịch sử nói chung, lịch sử quan trọng hay có ý nghĩa khi nó ảnh hưởng trên người Do thái và đất nước của họ. Chúng ta tin rằng Antiochus IV là người quan trọng trong dòng lịch sử vì trước tiên ông ta cho chúng ta hình ảnh về Antichrist hầu đến. Và vì lý do nầy chúng ta đột nhiên ý thức rằng lời tiên tri không còn ám chỉ về Antiochus IV nữa. Trái lại, lời tiên tri vượt qua những năm ở giữa và di chuyển về thời kỳ cuối cùng, khi Antichrist sẽ làm nhiều điều mà Antiochus IV đã làm trong kế hoạch Hy lạp hóa cưỡng bách của mình. Cái sừng nhỏ cuối cùng (
    DaDn 7:8, 24-26) sẽ cai trị trong tuần lễ thứ bảy mươi. Sự cai trị của vua ấy sẽ đánh dấu sự kiện đầu của sự phán xét cuối cùng, kinh khủng có liên quan đặc biệt đối với Ysơraên.
    Trong những câu 5-20 chúng ta khảo sát những cuộc chiến đấu giữa hai triều đại: Seleucus Ptolemy. Các vua của mỗi triều đại được gọi chung các vua phương nam (Ptolemys) trên cơ sở về vị trí của những vương quốc nầy đối với Ysơraên. Rồi trong những câu 21-35, sự chú ý tập trung vào triều đại của con người bị khinh dể ban đầu, nhưng trong thời gian ngắn đã nắm quyền kiểm soát vương quốc Seleucid: Antichus IV. Tuy nhiên, bây giờ ở câu 36, chúng ta có một người được gọi đơn giản là “Vua”. Nghiên cứu kỷ đặc tính của “Vua” cho thấy những sự khác nhau rõ ràng giữa ông ta và Antiochus IV, nhân vật của những câu ở trước chúng ta có thể ghi nhận vài sự khác nhau trong phần so sánh ngắn gọn sau.
    Những câu 36-39 cho thấy phần mô tả những đặc tính của vua vốn gợi ý rằng ông vừa mới được giới thiệu. Vì những câu 21-35 đã đưa ra cái nhìn về những phẩm chất của Antiochus IV, nên chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy chúng được lặp lại ở đây. Trong những câu 40 -45 chúng ta thấy những điều kiện được mô tả không tương hợp với những gì chúng ta được biết về Antiochus IV. Oâng ta đã không tấn công Liban và Ethiopi, và ông ta không quan tâm đến những tin tức từ phíc bắc và phía đông. Chính sức mạnh của La mã đã ngăn trở ông chinh phục Ai cập lần thứ ba. Hơn nữa trong câu 40, ông ta được phân biệt với vua phương bắc, trong khi Antiochus IV là một vị vua phương bắc.
    Theo lời tiên tri, những cuộc chinh phục của vua sẽ làm cho nhiều quốc gia đổ xuống. Trái lại, các khuynh hướng giống như chiến tranh của Antiochus đã không gây sự sụp đổ trong nhiều quốc gia. Kết quả trong sự cai trị của ông, những cuộc chiến ông ta tham gia chỉ là những cuộc chinh phạt địa phương. Và mặc dù ông ta làm đất thánh ra hoang vu, nhưng ông đã không đặc tổng hành dinh của mình tại đấy. Những sự kiện cho thấy rằng những câu 36-45 chỉ trước về nhân vật Antichrist sắp đến và không phải là nhân vật lịch sử của những câu 21-35.
    Những câu 40-45 bàn về những cuộc va chạm chính ở vùng Trung Đông vốn sẽ dấy lên một người lãnh đạo tàn bạo thi hành ý muốn mình trong mọi công việc ở vùng nầy. Từ những quan điểm trước kia của chúng ta về người lãnh đạo hùng mạnh nầy, chúng ta sẽ thấy rằng ông ta sẽ đứng đầu trong một liên minh hùng mạnh, và vài nhà lãnh đạo thế giới khác sẽ có thể thách thức người. Nếu ông ta không phải là người ở Trung Đông, thì có thể ông ta tức giận cực độ với những người trong khu vực bằng sự không nhạy bén với di sản văn hóa và tôn giáo của họ. Một người chống lại sự kiểm sóat của ông sẽ là vua phương nam. Như chúng ta đã thấy vua phương nam chỉ về vua của Ai cập. Nhưng hiện tại Ai cập có thể lực rấùt yếu ớt, nên có thể nói rằng đây có thể chỉ về một liên minh Ả rập ở dưới sự lãnh đạo của một người Ai cập. Vào thập niên 950, Ai cập đứng đầu một liên minh được gọi là Cộng hòa Ả rập Thống Nhất (United Arab Republic - UAR).. Cộng hòa Ả rập Thống Nhất đã không tồn tại một phần vì tinh thần quốc gia của người Ả rập và phần khác vì nền tảng Hồi Giáo chỉ là bước khởi đầu. Tuy nhiên một liên minh mới và mạnh mẽ hơn của những nước Ả rập có thể dấy lên để ứng nghiệm những đòi hỏi của lời tiên tri nầy. Đây là điều khả dĩ thú vị khi chúng ta xem xét để đánh giá vua Phương Nam tưong đương.
    Người lãnh đạo tàn bạo nầy sẽ khơi dậy sự phẩn nộ của một vị vua phương bắc trong tương lai. Như chúng ta đã thấy, vua nầy trong lịch sử được áp dụng cho các vua của triều đại Seleucid hay đế quốc Syri. Tuy nhiên Syri ngày nay chẳng phải là một lực lượng quân sự chính cũng chẳng có thể thách thức với quyền lực mạnh mẽ hơn trong chiến trận, và Syri không có những đoàn tàu hổ trợ mình trong cuộc tấn công như câu 40 gợi ý. Nhưng nằm phíc bắc Syri là một trong những cường quốc của thế giới, và nước đó cũng có một trong những đoàn tàu mạnh nhất thế giới. Lãnh tụ phương bắc với nền tảng sức mạnh như thế rõ ràng có thể thách thức vua nầy. Điều thú vị là Soviet Union lại quan tâm sâu xa đến vùng nầy về mặc quân sự và kinh tế.
    Một lần nữa chúng ta không thể nhận diện những nhà lãnh đạo của thời kỳ cuối cùng nầy, nhưng điều thú vị là nhìn thấy thế nào sự chú ý của thế giới ngày càng gia tăng đến vùng Trung đông. Những sự căng thẳng về chính trị, những nguồn tài nguyên dồi dào, vị trí chiến lược và tinh thần quốc gia trưởng thành khiến nhiều quốc chú ý đến vùng nầy. Chúng tôi đề nghị bạn đọc Eâxêchiên 38 và 39 để khảo sát những biến cố tương lai có liên quan đến Ysơraên bây giờ vốn đã được tái hội tụ từ bốn góc đất. Một điều chắc chắn ấy là sẽ có một cuộc chinh phục ồ ạt từ phương Bắc và tiến trình thời gian do Eâxêchiên gợi ý sẽ phù hợp chính xác với phần thứ hai của “tuần lễ” thứ bảy mươi”.
    Đaniên cho thấy rằng Ysơraên sẽ bị đàn áp sau khi con người dàn xếp hòa bình quay lại chống Ysơraên vào giữa “tuần lễ” thứ bảy mươi (câu 41, 44-45). Nhiều nước kể cả Ai cập sẽ sụp đổ, nhưng Eâđôm, Mô áp và lãnh đạo người Amôn sẽ được giải cứu khỏi tay người ấy. Dường như nhà cai trị hùng mạnh nầy sẽ tập trung nổ lực của mình vào Bắc Phi, đặc biệt là Ai cập, Libi và Eâthiôpi. Nhưng trong khi antiochus IV đối đầu với sự công kích từ phương Tây (Lamã), thì người cai trị nầy sẽ đối đầu với sự chống nghịch nầy và nhiều người sẽ chết (câu 44). Người ấy sẽ lập tổng hành dinh ở Ysơraên, nhưng sự cai trị của người ấy sẽ chấm dứt đột ngột khi người ấy đương đầu với một lực lượng không thể chống cự nổi từ trên trời: Hòn Đá nghiền nát của Đaniên 2: 34-35, 44).
    10. Hãy trình bày hai mảnh sự kiện từ câu 36-45 để phân biệt vua với Antiochus IV được mô tả ở những câu 21-35.
    ................................................................................................................................
    ................................................................................................................................
    ................................................................................................................................
    11. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Bằng cớ cho thấy rằng Antiochus IV (Đệ Tứ) xuất hiện trong lịch sử để cho người ta thấy trước hình ảnh của Antichrist sắp đến.
    b. Trung Đông sẽ nổi bật trong “tuần lễ” thứ bảy mươi, nó sẽ là bối cảnh của sự chiến đấu căng thẳng.
    c. Bằng sự so sánh vua của phương nam và vua của phương bắc trong lịch sử với những gì được nói về những con người tương tự nầy trong tương lai, chúng ta suy ra rằng Ai cập và Syri không được nói đến.
    d. Ở đây Kinh Thánh gợi ý rằng vua, người mà chúng ta nhận diện rằng là Antichrist hầu đến, sẽ tập trung vào Trung Đông, không dính dáng gì đến Bắc Phi.
    e. Antichrist tương lai sẽ bị thách thức đối đầu chủ yếu là những lực lượng từ phương Tây.
    Thời Kỳ Khó Khăn
    DaDn 12:1-13
    Trong đoạn 12 chúng ta thấy chủ đề về sự cai trị của Antichrist vẫn tiếp tục và mở rộng. Ở đây chúng ta cũng thấy mục đích của thời kỳ khó khăn, chương trình của Đức Chúa Trời dành cho người trung tín và tương lai lạ thường của những người đắc thắng.
    Ở giữa “tuần lễ” thứ bảy mươi như chúng ta đã thấy trong đoạn 9, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ đối diện với những sự khốn khổ nhất mà họ chưa từng biết, và họ sẽ cần sự giúp đỡ. Đức Chúa Trời sẽ không bỏ rơi họ, Ngài sẽ chỉ định Micaên, một thiên sứ mạnh mẽ để bảo vệ Ysơraên, để giải cứu họ.
    KhKh 12:7-9 cho thấy một đôi điều về cuộc chiến đấu thuộc về giới linh mạnh mẽ nầy vốn sẽ đưa đến kết quả cuối cùng là sự giải cứu dân sự Ngài (câu 1) Mat Mt 24:21-29LuLc 21:20-26 nói về mức độ của sự khốn khổ trong thời kỳ nầy. XaDr 13:8-914:2 cũng ám chỉ về sự hoang vu sẽ xảy ra khi những ngày nầy sắp chấm dứt. Nhưng người còn sót lại sẽ được kết hợp với những người được ghi tên trong sách của Đức Chúa Trời.
    Câu 2 chỉ về vô số đông đảo người sẽ được sống lại. Nhóm thứ nhất được đề cập là người công bình sẽ được sống lại để vào phước hạnh thiên hy niên sau thời gian khốn khổ nầy. Nhóm thứ hai, kẻ gian ác sẽ sống lại sau thời kỳ trị vì thiên hy niên của Christ để chịu sự xấu hổ, nhuốc nhơ đời đời (so sánh
    KhKh 20:4-6 với 20:11-15). Phần thưởng cho người công bình và trung tín sẽ là phước hạnh đời đời (câu 3). Đaniên được báo cho biết là những điều nầy được dành cho thời kỳ cuối cùng, nên ông được truyền lệnh phải đóng dấu những lời của cuộn sách (câu 4).
    Tại điểm nầy có hai thiên sứ khác hiện ra và kết hợp với người mặc vải gai. Một trong hai người hỏi: “Đến cuối cùng những sự lạ nầy được bao lâu?” (câu 5-6). Giơ cả hai tay lên trời để chứng tỏ sự nghiêm trọng của sứ điệp, vị thiên sứ mạnh mẽ nầy nói: “ Nó sẽ trải qua một kỳ, những kỳ và nữa kỳ, và khi quyền của dân thánh tan tác hết, thì các sự nầy đều xong” (câu 7). Như vậy, ba năm rưỡi sẽ liên quan đến thời kỳ khó khăn nầy . Tuy nhiên, hãy xem những gì được thực hiện : quyền của dân sự Đức Chúa Trời bị tan tác. Trong thời kỳ khó khăn nầy, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ bị nghiền nát hoàn toàn đến nổi lúc ấy họ sẽ ngước đầu lên. Như vậy, khi thời điểm khó khăn ở cuối của “tuần lễ” thứ bảy mươi đến hồi bi kịch nhất, thì người Do thái mới nhìn xem Đức Chúa Trời xin giải cứu. Và Ngài sẽ đổ trên họ Thần Ơn Phước và Thần nài xin, và những dân sót của Ysơraên sẽ được cứu (
    XaDr 12:10-14; 13:1-6).
    Theo như câu 10 cho thấy, những ngày cuối cùng sẽ đưa ra một sự nghịch lý. Sự gian ác sẽ hiện rõ khắp mọi nơi và sẽ nổi lên như làn sóng không thể kháng cự được, và kẻ ác sẽ không hiểu. Đây là thời kỳ kinh khủng mà Phao Lô nói đến trong
    IITi 2Tm 3:1-5. Đối với dân cư của thế giới, sẽ chỉ có tối tăm và tuyệt vọng ở đằng trước. Một thi sĩ đã diễn tả cảnh tượng nầy, tương lai nầy khi ông viết: “ thế giới sẽ không chấm dứt bằng tiếng nổ vang rầm nhưng bằng sự khóc than rên rỉ” (the world won’t end with a bang but with a whimper). Tuy nhiên, trong thời kỳ khốn khổ nầy Đấng tinh luyện vàng sẽ làm cho dân sự Ngài được luyện lọc, tinh ròng và trở thành dân sự trọn vẹn.
    Những câu 11 và 12 nói về những ngày vượt quá 1260 ngày hay ba năm rưỡi. Chúng ta không biết chính xác tại sao những ngày thừa ra nầy, tuy nhiên, có thể cần những ngày nầy để tẩy sạch đất và đền thờ. Một số những học giả Kinh Thánh gợi ý rằng trong những ngày nầy sự phán xét các quốc gia sẽ xảy ra (
    Mat Mt 25:31-46). Cũng thể những ngày thừa ra nầy để thành lập chính quyền mới và chuẩn bị người ta vào thời kỳ bình thường sau sự cai trị của Antichrist. Dù điều nầy có liên quan đến điều gì đi nữa, thì Đaniên vẫn được thúc giục thực hiện công việc của mình và ông được bảo đảm rằng trong tương lai ông sẽ được sống lại và nhận lấy cơ nghiệp đời đời của mình.
    Như vậy chúng ta đã kết luận phần nghiên cứu của sách Đaniên. Chúng tôi tin rằng bạn đã nhận được một nền tảng tốt về sự nghiên cứu lời tiên tri. Chúng tôi tin rằng điều nầy sẽ giúp đỡ bạn chuyển sang phần nghiên cứu những lời tiên tri khác trong sách Khải Huyền.
    12. Trong sổ tay của bạn, hãy viết ra phần mô tả ngắn gọn và những biến cố của “tuần lễ” thứ bảy mươi dựa vào những gì chúng ta đã học ở điểm nầy.
    13. Trong sổ tay bạn, hãy trình bày bằng cớ cho thấy khi nào những biến cố của Đaniên 12 sẽ xảy ra.
    Bài Tập Trắc Nghiệm
    CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ ĐÚNG ở khoảng trống trước câu nào Đúng. Chữ SAI nếu câu ấy Sai.
    ....1. Những sự hiện thấy (sự mặc khải) được ban cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời để động viên họ, tăng cường sức lực trong công tác của họ và cho họ biết đức tin.
    ....2. Vì Đức Chúa Trời không thiên vị người nào, nên chúng ta có thể nói cách an toàn rằng Đức Chúa Trời ban cho sự mặc khải cách bất kỳ người nào và không kể đến mối thông công của họ đối với Ngài.
    ....3. Sự mặc khải của Đaniên ở đoạn 10 tăng cường kiến thức của chúng ta về bản chất của cuộc chiến thuộc linh rất nhiều.
    ....4. Giá trị chính của lời tiên tri được ứng nghiệm là khả năng của nó làm cho lịch sử có hiệu lực.
    ....5. Sự ứng nghiệm cách kinh ngạc của lời tiên tri cho chúng ta sự tin quyết để tin rằng những gì chưa được ứng nghiệm sẽ được hoàn tất theo cùng mức độ chính xác.
    ....6. Sự ứng nghiệm của lời tiên tri nói rằng vua Xerxed I sẽ giàu có hơn những vua Batư ở trước ông, và ông sẽ khích động mọi người chống lại Hy lạp chỉ cho thấy sự chính xác của lời tiên tri.
    ....7. Một trong những lời tiên tri lạ lùng nhất ấy là một người mạnh mẽ sẽ xuất hiện, cai trị bằng uy quyền lớn, và chết đi, không để đế quốc mình lại cho hậu tự nhưng cho bốn người khác. Chúng ta thấy điều nầy ám chỉ về Alịch sơn đại đế.
    ....8. Sự dấy lên nắm chính quyền của Antiochus IV được chứng thực rõ ràng trong lịch sử, nhưng không được những lời tiên tri nói trước.
    ....9. Thời kỳ khó khăn sắp đến cho người Do thái sẽ xảy ra trong phần thứ hai của “tuần lễ” thứ bảy mươi vốn ở trong tương lai.
    ....10. Đaniên 12 chứng tỏ rằng sẽ có một cuộc sống lại chung trong đó mọi người chết, cả thiện lẫn ác, sẽ đối diện với một tương lai tươi sáng.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu.
    1. a. Sai
    b. Đúng
    c. Đúng
    d. Đúng
    e. Đúng
    f. Đúng
    2. b. Ở đây chúng ta có một ví dụ về sự chống đối thông thường đối với Đức Chúa Trời và những đầy tớ Ngài vẫn tiếp tục.
    3. a. Đúng
    b. Đúng
    c. Sai
    4. Dựa vào những gì chúng ta đọc trong đoạn 10, chúng ta thấy sự nhậm lời cầu nguyện của dân sự của Đức Chúa Trời có thể bị những thiên sứ gian ác cản trở. Tuy nhiên, điều quan trọng ấy là không quyền lực nào có thể ngăn trở những lời cầu nguyện đến với Đức Chúa Trời. Và nếu chúng ta kiên nhẫn, sự đáp lời cầu nguyện sẽ đến với chúng ta.
    5. a. Đúng
    b. Đúng
    c. Sai. Người lãnh đạo nầy được nhận diện là Alexander the Great (Alịch sơn Đại đế). Cyrus of Persia không có quyền như vua mạnh mẽ nầy đã xử dụng.
    d. Sai
    6. c. Nước Ysơraên nằm giữa hai quốc nầy và có liên quan trong lịch sử.
    7. a. Dòng họ Ptolemy, các vua phương nam .
    8. Giá trị của những sự kiện tiên tri nầy nằm trong khả năng chứng thực sự chính xác của lời Đức Chúa Trời. Bằng cớ cho thấy rằng mỗi lời tiên tri nhận lấy sự ứng nghiệm đáng kinh ngạc.
    9. Bạn có thể khoanh tròn những câu: c) d), e) và f.
    10. Câu 40 phân biệt vua nầy khác với vua của phương bắc. Câu 40 cũng nói vua nầy sẽ đi chinh phục nhiều nước, kể cả Ethiopi và Libi nhưng điều nầy không đúng với Antiochus IV trong lịch sử.
    11. a. Đúng
    b. Đúng
    c. Đúng
    d. Sai
    e. Sai
    12. Câu trả lời của bạn sẽ bao gồm những điểm chính mà chúng tôi đã liệt kê. “Tuần lễ” thứ bảy mươi sẽ bắc đầu bằng sự nắm quyền của một lãnh tụ nổi bật của liên minh mười nước. Người ấy sẽ lập giao ước hòa bình với Do thái trong bảy năm, nhưng sau ba năm rưỡi, người ấy sẽ hủy bỏ giao ước, và tìm cách tiêu diệt họ, tuy nhiên, dân Do thái được thiên sứ trưởng Micaên (Michael Michên) giúp đỡ, và những người kính sợ Đức Chúa Trời sẽ giải cứu. Trước khi Ngài thành lập vương quốc đời đời Đức Chúa Trời sẽ chấm dứt sự cai trị của Antichrist và những con người bất kỉnh của thời kỳ cuối cùng. Sau đó kẻ gian ác sẽ được sống lại và để chịu xấu hổ, và người công bình được sống lại để hưởng phước hạnh đời đời.
    13. Bằng cớ trong đoạn 12 cho thấy rằng thời kỳ khôn khổ lớn nhất sẽ xảy ra ở phần thứ hai của “tuần lễ” thứ bảy mươi. Đoạn 12 cho thấy rõ ràng điều nầy sẽ xảy ra trong ba năm rưỡi. So sánh những bằng chứng nầy với những gì được đưa ra ở Đaniên đoạn 9 về bảy mươi “tuần lễ”, chúng ta kết luận rằng thời kỳ khốn khổ lớn nhất sẽ bắt đầu khi vua hầu đến phá vỡ giao ước mình với dân Do thái.
    Tìm Hiểu Sách Khải Thị
    Đaniên và Khải Thị là hai trong những sách tiên tri nổi bật trong Kinh Thánh. Những sách nầy có một sứ điệp quan trọng cho Cơ Đốc nhân ngày nay. Hai sách nầy cho chúng ta thấy rằng Đấng Tạo Hóa, Đấng khởi đầu thế giới và tạo dựng muôn vật trong đó cũng sẽ đem mọi sự đến phần kết thúc như Ngài đã dự kiến. Những sách đó cũng cho chúng ta thấy rằng Ngài là Đức Chúa Trời của lịch sử. Ngài trọn quyền kiểm soát tương lai. Trong bài học nầy chúng ta sẽ khảo sát toàn bộ sách Khải huyền. Ở những bài học tiếp theo chúng ta sẽ đi vào chi tiết từng sứ điệp đặc biệt.
    Khi bắt đầu học sách Khải Thị, chúng ta sẽ khảo sát chủ đề và nội dung của sách, chúng ta cũng sẽ xem hình thức đặc biệt mà sách được viết ra. Chúng ta cũng sẽ học cách giải nghĩa sách Khải Thị nữa. Muốn thế chúng ta sẽ học những nguyên tắc giải thích để giúp chúng ta hiểu rõ sứ điệp của sách.
    Quan trọng hơn hết, chúng ta sẽ khám phá rằng sách Khải Thị bày tỏ Chúa Jesus Christ. Ngài là Chủ Đề và Đối Tượng Lớn của sách. Chúa Jesus là Đấng mà mọi kế hoạch của Đức Chúa Trời sẽ được hoàn thành trong Ngài. Chúng tôi cầu xin Chúa ban cho mỗi học viên khi học từng bài học của loạt bài nầy sẽ nhận được sự mặc khải tươi mới về vương quốc, quyền năng và vinh hiển của Đức Chúa Trời, đặc biệt về con Ngài. Chúng tôi ước mong rằng sự mặc khải nầy sẽ động viên mỗi đời sống cho Chúa Jesus bằng sự tận hiến nhiệt tình hơn bao giờ hết.
    Khái Lược Về Sách Khải Thị.
    Mô Tả Nội Dung Của Sách.
    Những Nguyên Tắc Chỉ Đạo Để Hiểu Sứ Điệp của Sách.
    Học Xong Bài Nầy Bạn Có Thể:
    • Nhận diện những sự kiện cơ bãn về tên, chủ đề, đề tài, tác giả, và thời điểm viết sách Khải Thị.
    • Tóm tắt nội dung của sách Khải Thị.
    • Mô tả những nguyên tắc chỉ đạo cần phải tuân theo trong việc giải thích sứ điệp của sách Khải Thị.
    1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình đưa ra ở bài 1.
    2. Nhớ viết câu trả lời của bạn về những câu hỏi nghiên cứu trước khi xem phần giải đáp ở cuối bài học. Phương pháp nầy sẽ giúp bạn học tập tài liệu nhanh chóng hơn.
    3. Làm bài tập trắc nghiệm ở cuối bài học, và xem phần giải đáp ở túi dành cho học viên. Nhớ ôn kỷ câu trả lời nào bạn làm chưa đúng.
    Aån dụ ( Allergery).
    Bản Bảy Mươi (Septuagint).
    Khải Thị (Khải Huyền) (Apocalyptic).
    Mở Ngoặc Khai Triển (Parentheticalenlargement).
    Thuộc về Đấng Mê Si (Mesisanic).
    Thiên Hi Niên (Millennium).
    KHÁI LƯỢC VỀ SÁCH KHẢI THỊ.
    Chúng ta sẽ bắt đầu nghiên cứu sách Khải Thị với cái nhìn sơ lược về tên gọi, đề tài và tác giả của sách.
    Tên gọi và chủ đề.
    Tên gọi của sách trong Kinh Thánh rất quan trọng. Chẳng hạn, sách thứ nhất của Kinh Thánh được gọi là Sáng Thế Ký, chữ nầy phát xuất từ ngôn ngữ Hy lạp có nghĩa là “những thế hệ, những dòng dõi” (Generations). Cụm từ “Đây là dòng dõi của” xuất hiện đi xuất hiện lại trong sách và thực sự đánh dấu những phần chính của sách. Trong tiếng Hybálai, ngôn ngữ đầu tiên của sách, tên của sách là Bereshith, một cụm từ có nghĩa là “sự khởi đầu”. Cụm từ nầy được dùng trong câu đầu tiên của sách. Tên của cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh cũng tìm thấy trong câu thứ nhất của sách.
    1. Mở
    KhKh 1:2 và hãy viết vào sổ tay của bạn cụm từ có nói đến tên của sách.
    Chữ “Khải Thị” (Revelation) là một chữ dịch từ tiếng Hy lạp, danh từ Apokalupsis, có nghĩa là “điều được tiết lộ”. Hình thức động từ là Apokalupto, “tiết lộ” cũng được tìm thấy trong Tân Ước Hy lạp. Những chữ nầy được dùng trong những đoạn Kinh Thánh khác nhau để diẽn đạt hai ý tưởng chính. Trước hết nó chỉ về hành động của Đức Chúa Trời trong việc bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu. Thứ hai, nó chỉ về sự xuất hiện nhìn thấy được của Chúa Jesus Christ. Tuy nhiên, ý tưởng thứ ba cũng còn có thể tìm thấy trong Tân Ước. Cụm từ nầy được tìm thấy trong
    IPhi 1Pr 1:13, chẳng hạn, không nhất thiết phải ám chỉ về sự xuất hiện trong tương lai của Chúa Jesus Christ. Chữ nầy cũng có thể được dịch là “Aân điển vốn đang được mang đến cho anh em vào lúc Khải Thị của Chúa Jesus Christ” (the grace that is being brought to you at the revelation of Jesus Christ) (thì hiện tại lại tiếp diễn được dùng ở cụm từ nầy). Chân lý được bày tỏ ở đay là bây giờ chúng ta có thể được mạnh mẽ vì có sự bày tỏ ở đây là bây giờ chúng ta có thể được mạnh mẽ vì có sự bày tỏ liên tục của Chúa Jeus cho chúng ta khi chúng ta cùng đi với Ngài.
    2. Xếp đặt cho phù hợp ý tưởng chính (phải) với đoạn Kinh Thánh (trái).
    ....a.
    Mat Mt 11:25
    ....b.
    16:17
    ....c.
    IPhi 1Pr 1:7
    ....d.
    1:12
    Ý tưởng chính thứ hai, sự xuất hiện nhìn thấy được của Chúa Jesus Christ, là chủ Đề của sách Khải Thị. Chủ đề nầy vang dội như tiếng kèn thổi trong đoạn 1 câu 7: “ Kìa, Ngài cởi đám mây mà đến, mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy, hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc Ngài. Phải, Amen.
    3. Trong sổ tay của bạn, hãy trình bày ý nghĩa của chữ “Khải thị” và đưa ra chủ đề của sách Khải Thị.
    Đề Tài.
    Như bạn có thể nhận thấy rằng, tựa đề của sách Khải thị không chỉ đơn giản là “Sự Khải Thị” mà là sự Khải Thị của ChúaJeus Christ. Như vậy, đây là sự tiết lộ, sự bày tỏ, biểu hiện của một thân vị, Jesus Christ.
    4.Đọc
    LuLc 24:13-27 và trả lời những câu hỏi sau:
    a. Chúa Jesus đã nói với những môn đồ về ai ? (câu 27).
    ...........................................................................................................................
    ...........................................................................................................................
    b. Ngài đã dạy từ phần Kinh Thánh nào? (câu 27).
    ...........................................................................................................................
    ...........................................................................................................................
    Bạn có biết rằng Kinh Thánh là cuốn sách nói về Chúa Jesus không? Từ chữ “ban đầu” của sách Sáng Thế Ký cho đến chữ cuối cùng “Amen” của sách Khải Thị, chỉ có một hình ảnh co trọng bước đi trên từng trang giấy của cuốn sách của Đức Chúa Trời, đó là con của Đức Chúa Trời. Ngài là chủ đề và đối tượng của mọi sự. Hơn nữa, trong những đoạn cuối cùng của sách, Ngài được chúng ta nhìn thấy trong sự toàn vẹn của thân vị, vị trí và sự hoàn tất của Ngài- quá khứ, hiện tại, và (hầu hết) tương lai.
    5. Sách Khải Thị chứa đựng nhiều bức tranh của chủ đề vĩ đại của sách. Hãy chép lại danh sách về những hình ảnh dưới đây vào sổ tay của bạn, chừa chỗ trống sau mỗi bức tranh. Khi bạn đọc suốt sách Khải Thị, một số câu hỏi nghiên cứu đòi hỏi bạn viết đoạn và câu sau mỗi bức tranh hoặc mỗi hình ảnh.
    - Đấng phán xét Hội Thánh của Ngài.
    - Anpha và Ômêga.
    - Đầu tiên và cuối cùng.
    - Đấng Amen.
    - Trước hết và sau chót.
    - Sanh đầu nhứt từ trong kẻ chết.
    - Đấng cầm chìa khóa Aâm phủ và sự chết.
    - Đấng Thành Tín và Chứng Nhân Chân Thật.
    - Sư tử của chi phái Giuđa.
    - Chồi rễ của Đavít.
    - Chiên Con.
    - Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm.
    - Đấng giữ dấu ấn của Đức Chúa Trời.
    - Đấng Cai trị các vua ở trên đất.
    - Con Trai Loài Người ( Con Người).
    - Đấng Hằng Sống.
    - Đấng Chủ Tể của đất và biển.
    - Đấng vung lưỡi liềm của mùa gặt.
    - Con trai, con trai của Ysơraên.
    - Đấng coi lò ép nho của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời.
    - Đấng cỡi ngựa trắng.
    - Vua của các vua.
    - Chúa của các Chúa.
    - Sao mai .
    - Aùnh sáng vĩnh cửu.
    - Đấng Go’el (Đấng chuộc Sản Nghiệp của hàng gần- Kinsman Redeemer).
    Trong sách Khải Thị, Chúa Jesus rất tích cực. Ngài nói, duy chuyển, chinh phục, phán xét và cai trị. Ngài truyền lệnh cho Giăng chép những gì Ngài đọc cho và gởi cho bảy Hội Thánh. Ngài gọi Giăng “Hãy lên đây” (
    KhKh 4:1). Ngài lấy cuốn sách có bảy dấu ấn từ tay Cha của Ngài. Ngài mở sách. Ngài đứng trên núi Siôn với những người Ysơraên tin Ngài. Ngài gặt mùa gặt trên đất, Ngài cởi Ngựa trắng, đạp thùng ép nho của cơn thịnh nộ của Đức Chúa Trời và cai trị suốt cõi vĩnh hằng.
    Sách Khải thị không chỉ là sự khải thị nhưng cũng là sự khải thị từ Ngài cho những tôi tớ Ngài về những loạt biến cố sẽ xảy ra để hoàn thành kế hoạch của Đức Chúa Trời.
    6. Chủ đề của sách Khải thị là.
    a. Cuộc đời của Chúa Jesus trên đất và mối quan hệ của Ngài đối với Hội Thánh.
    b. Chính Chúa Jesus Christ, những gì Ngài đã làm, đang làm và sẽ làm.
    c. Giải thích những sự dạy dỗ của Chúa Jesus Christ về Đức Chúa Trời.
    Tác giả và thời điểm viết sách.
    Trong sách Khải Thị có vài phần trưng dẫn để chúng ta có thể nhận diện tác giả của sách.
    7. Đọc
    1:1, 4:9, 22:8 và trả lời những câu hỏi sau đây trong sổ tay của bạn, trưng dẫn đoạn và câu cho mỗi câu trả lời.
    a. Ai nói rằng người ấy là tác giả của sách?
    b. Người ấy có mối quan hệ gì với Chúa Jesus Christ?
    c. Người ấy có mối quan hệ gì với những người mà người ấy gởi sứ điệp đến?
    Ngoài những phần tham chiếu mà bạn vừa học, còn có vài sự kiện khác về sách Khải Thị chứng tỏ rằng Giăng đã viết sách ấy.
    Một số những nhà lãnh đạo của Hội Thánh đầu tiên, trong những tác phẩm của họ, đã qui tác quyền của sách Khải Thị cho sứ đồ Giăng. Trong những vị ấy có Justin Martyr (163-217 S.C. ). Tertullian (145-220 S.C.) và Origen (185 -254 S.C). Những giáo phụ của Hột Thánh đầu tiên được nổi tiếng là những người trọn thành và đầu phục Chúa Trọn vẹn. Vì thế, lời làm chứng của họ có trọng lượng trong những vấn đề của lịch sử Hội Thánh đầu tiên. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, những người khác vào thời đó cũng có những sự xác quyết khác nhau về tác quyền của Giăng. Hơn nữa, sách Khải thị được viết chính xác vào thời điểm nào vẫn chưa khẳng định chắc chắn được. Một số học giả đã đặt thời điểm viết vào những năm 64 và 68 S.C. trong thời kỳ cai trị của hoàng đế Lamã Nêrô. Tuy nhiên, những tác giả của Hội Thánh đầu tiên là người nói về thời điểm viết, lại đặt thời điểm viết vào giữa năm 91 và 96 S.C. trong thời kỳ cai trị của Domitian. Đây dường như là sự chọn lựa hợp lý nhất dựa vào bằng cớ nội tại, lịch sử thế gian, và lời chứng của những nhà lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên .
    Như đã ghi nhận ở trên, một số học giả không tin chắc rằng Giăng đã viết sách Khải thị, và họ đã khước từ tác quyền của ông. Lý lẽ căn bản của họ là cách hành văn trong sách Khải Thị hoàn toàn khác với cách viết văn của ông trong sách Phúc Âm Giăng và những thơ tín của Giăng. Những cách hành văn khác nhau là điều không chối cãi, nhưng chúng khác vì đề tài khác nhau . Có vài phần trưng dẫn trong Cựu Ước trong sách Phúc Aâm Giăng và các thơ tín của Giăng, vì đề tài khác nhau. Sự nhấn mạnh trong những sách đó là Đức Chúa Trời tiếp xúc với loài người trong Con Ngài là Jesus Christ, và sự sống con người có trong Ngài là một kết quả. Trái lại, trong sách Khải Thị, người ta phỏng tính có khoảng ba đến bốn trăm chỗ trưng dẫn ở Cựu Ước. Điều nầy đúng vì chủ đề của sách Khải thị là sự phán xét vĩ đại, và Giăng đang trình bày những lời tiên tri của Cựu Ước tiếng Hybálai theo ngôn ngữ tiếng Hy lạp.
    Mặc dù chủ đề chính của sách Khải thị khác với các văn phẩm khác của Giăng, nhưng sách Khải thị lại rất tương tự với những sách đó. Chẳng hạn, Giăng là tác giả Tân Ước duy nhất xử dụng chữ Hy lạp logos “lời” theo các cá nhân. Oâng gọi Chúa Jesus là “Ngôi lời” trong những đoạn Kinh Thánh sau:
    GiGa 1:1-3, 14; IGi1Ga 1:1, KhKh 19:13. Oâng cũng dùng chữ Hy lạp nikao (overcome- đắc thắng) trong GiGa 16:13, IGi1Ga 12:13-14, 4:4, 5:4-5 và 17 lần trong sách Khải huyền. Ngoài những tác phẩm của Giăng, chữ nầy được dùng chỉ có ba lần (LuLc 11:22, RoRm 3:4, 12:21). Lời tiên tri của sách XaDr 12:10 được trích dẫn ở GiGa 19:37 và được nói đến ở sách KhKh 1:7. Trong cả hai chữ nầy động từ Hy lạp ekkenteo được dùng, một chữ không thấy ở nơi nào khác trong Tân Ước hay trong bản Bảy Mươi. Những điểm tương tự nầy rất có ý nghĩa. Cùng với bằng cớ khác về việc Giăng đã viết sách Khải thị, điều ấy là bằng cớ mạnh mẽ rằng tác giả của sách nầy cũng là người đã viết sách Phúc Âm và những thơ tín của Giăng. Bằng cớ trên cho thấy rằng tác giả của sách Khải thị là sứ đồ Giăng, môn đệ yêu dấùu của Chúa Jesus.
    8. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê bốn sự kiện hỗ trợ cho kết luận rằng sách Khải thị được sứ đồ Giăng viết vào thới kỳ cai trị của Domitian (91-96 S.C.).
    MÔ TẢ NỘI DUNG CỦA SÁCH.
    Những phần chính.
    Trong
    KhKh 1:19, chính Chúa Jesus đã trình bày ba chủ đề của sứ điệp của Ngài.
    9. Theo
    1:19, Giăng phải viết ba điều gì?
    ...........................................................................................................................
    ...........................................................................................................................
    ...........................................................................................................................
    Hãy nghiên cứu dàn ý sau đây, vốn đước chia theo ba chủ đề nầy và dựa vào chữ viết của bản văn Hy lạp.
    SÁCH KHẢI THỊ.
    I. Mở đề,
    1:1-8.
    II. Những gì ngươi đã thấy,
    1:9-20 (sự hiện thấy về Christ).
    III. Điều hiện có
    2:1-3:22 (các sứ điệp cho những Hội Thánh).
    IV. Điều Về Sau Phải Xảy Đến , (
    4:1-22:6) (Sau những điều ở trên).
    A. Hội Thánh trong sự vinh hiển,
    4:1-5:14.
    B. Cơn Đại Nạn,
    6:1-19:21.
    C. Thiên Hy Niên,
    20:1-6.
    D. Gót và Magót,
    20:7-10.
    E. Tòa Aùn Trắng Lớn.
    20:11-15.
    F. Mọi sự đều mới,
    21:1-22:6.
    V. Tái Bút,
    22:7-21 (Phải Sẵn Sàng).
    Dĩ nhiên, có những cách phân dàn ý khác về sách Khải Thị. Một trong những cách nổi tiếng là dàn ý dựa vào những loạt số bảy được tìm thấy trong sách. Dàn ý nầy cũng được giới thiệu trong loạt bài ICI về tổng luận Tân Ước (new Testamennt survey).
    10.Hãy viết số của phần dàn ý chính của sách Khải thị ở trước mỗi tựa đề, tiêu đề, và những phần trưng dẫn thuộc về phần phân chia.
    ....a. Mọi sự đều mới.
    ....b. Sự hiện thấy về Christ.
    ....c. Điều ngươi đã thấy.
    ....d. Phải Sẵn Sàng.
    ....e. Các sứ điệp cho những Hội Thánh.
    ....f.
    1:1-8.
    ....g.
    2:1; 3:22.
    1) Mở đề I.
    2) Phần chính II.
    3) Phần chính III.
    4) Phần chính IV.
    5) Tái Bút V.
    Mở ngoặc khai triển.
    Trong cách hành văn, phần mởõ ngoặc khai triển là phần nhìn gần, mô tả đầy đủ hơn về một phần của một vấn đề đã được đề cập. Chẳng hạn, một người có thể nhận thấy toàn cảnh của một thành phố từ xa và có cái nhìn khái quát. Sau đó người ấy có thể đến gần từng căn nhà và nhận xét chi tiết từng cảnh vật. Cái nhìn gần của căn nhà giống như phần mở ngoặc khai triển.
    Có một ví dụ điển hình về phần mở ngoặc khai triển trong phần ký thuật về sự tạo dựng trong Sáng thế ký 1 và 2. Trong đoạn 1, sáu ngày tạo dựng được giới thiệu, kể cả sự tạo dựng người nam và người nữ được đưa ra ở những câu 26-30. Sau đó trong đoạn 2:4-25, có một phần mô tả dài hơn và chi tiết hơn về một sự kiện của ngày thứ sáu: sự tạo dựng người nam và người nữ.
    Sách Khải thị cũng đươc trình bày theo cách tương tự. Giăng đưa ra phần ký thuật theo thứ tự chính xác. Sau đó ông mở rộng những đề tài quan trọng mà ông đã đề cập. Để giải thích sách Khải thị cách chính xác điều quan trọng là phải đặt những phần mở ngoặc khai triển nầy vào đúng chổ. Ngoại trừ, đoạn 14, phần mở ngoặc khai triển đưa ra những chi tiết của những biến cố đã trình bày rồi. Tuy nhiên, đoạn 14, hướng về phía trước, hay nói trước những biến cố sẽ theo sau. Những phần mở ngoặc khai triển của sách Khải thị được liệt kê như sau:
    CHỦ ĐỀ CỦA PHẦN MỞ NGOẶC KHAI TRIỂN
    7:1-17 144.000 Người Ysơraên và đám đông mặc áo dài trắng.
    10:1-11 Thiên sứ mạnh mẽ với cuộn giấy
    11:1-19 Hai nhân chứng
    12:1-18 Người đàn bà, con trai và con rồng
    13:1-18 Hai con thú
    14:1-20 144.000 Ysơraên (lặp lại), sự rao giảng Phúc âm lần cuối, lời tuyên bố về Babylôn đổ xuống, mùa gặt cuối cùng, bàn ép rượu.
    17:1-18 Hai Con Thú và đại dâm phụ.
    18:1-24 Babylôn.
    11. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi ví dụ về phần mở ngoặc khai triển.
    a. Phần kỳ thuật sự Tạo dựng trong
    SaSt 1:1-31.
    b. Phần mô tả đầy đủ hơn về một đề tài đã được đề cập vắn tắt ở một phần tường thuật khác.
    c. Phần ký thuật theo thứ tự một loạt những biến cố trong trình tự đúng.
    d. Bức tranh về Babylôn trong
    KhKh 18:1-24.
    e. Sự mô tả về người nam và người nữ trong
    SaSt 2:4-25.
    NHỮNG NGUYÊN TẮC CHỈ ĐẠO ĐỂ HIỂU SỨ ĐIỆP CỦA SÁCH.
    Bạn đã học vài sự kiện căn bản về chủ đề và nội dung của sách Khải thị. Trong phần nầy, bạn sẽ khảo sát vài nguyên tắc để theo khi bạn tìm hiểu sứ điệp của sách.
    Bốn quan điểm cơ bản về ý nghĩa của sách.
    Có bốn quan điểm cơ bản hay bốn hệ thống giải thích sách Khải thị. Những quan điểm đó là thuyết quá khứ (Preterist), Thuyết Lịch Sử (Historicist), Thuyết Lý Tưởng hay thuộc linh (idealist or spiritual) và Thuyết Tương Lai (futurist). Chúng ta sẽ đánh giá mỗi quan điểm cách vắn tắt, và sẽ tiếp xúc với những mặt mạnh và những mặt yếu của mỗi quan điểm.
    Thuyết Qúa Khứ (Preterist). Những người chủ trương quan niệm nầy dạy rằng những lời tiên tri của sách Khải thị đã được ứng nghiệm trong những sự chiến đấu của những Cơ Đốc Nhân Hội Thánh đầu tiên với người Lamã. Những con thú được đề cập trong sách tiêu biểu cho đế quốc Lamã dưới tyriều đại của các Sêsa, là những người bắt buộc mọi người phải thờ phượng họ như là Đức Chúa Trời. Những biến cố nói trước trong sách cũng đạt đến cao điểm hoặc là sự hủy phá thành Giêrusalem vào năm 70 S.C. hay sự sụp đổ của đế quốc La mã vào năm 476 S.C. Như vậy, sứ điệp nầy có ý nghĩa rất ít hay chẳng có ý nghĩa rất ít hay chẳng có ý nghĩa gì cả cho thời hiện tại.
    Thuyết Theo Lịch Sử (Historicist), Theo quan điểm nầy cuốn sách trình bày một sự mô tả của tiến trình lịch sử dẫn đến thời đại chúng ta. Những cá nhân chủ trương thuyết nầy nhận diện những lời tiên tri khác nhau của sách với sự dấy lên của Huns, Napole’on, Hồi Giáo, v..v... Khó tìm thấy hai người chủ trương quan điểm nầy lại nhất trí với nhau về ý nghĩa tượng trưng của biểu tượng nào.
    Thuyết Lý Tưởng Hay Thuyết Thuộc Linh (Idealist or Spiritual). Theo quan điểm nầy sách là một ẩn dụ thuộc linh cho chúng ta thấy Đức Chúa Trời chiến thắng Satan, điều thiện thắng điều ác. Cuốn sách cũng không ám chỉ về những biến cố đặt biệt nào. Những trang sách Khải thị bày tỏ những nguyên tắc mô tả trận chiến liên tục của những lực lượng của Satan và những lục lượng của Đức Chúa Trời.
    Thuyết Tương Lai (Futurist). Những người theo thuyết tương lai tin rằng sách nói theo nghĩa đen. Nói về nghĩa đen không có nghĩa là Antichrist sẽ có bảy đầu và mười sừng. Trái lại họ tin rằng những biến cố và những nhân vật được ám chỉ trong sách là những biến cố và những con người có thật. Theo quan điểm nầy thì hầu hết những lời tiên tri chưa được ứng nghiệm. Những điều ấy sẽ đước ứng nghiệm trong “tương lai”. Những biến cố mô tả trong những đoạn 1-3, theo quan điểm nầy, đã xảy ra rồi, tuy nhiên, còn những điều khác nằm trong tương lai ấy là sự phán xét, sự phục sinh, sự cất lên, Antichrist, tiên tri giả, Cơn Đại Nạn, Trận chiến Hạtmaghêđôn, Thiên Hi Niên và trời mới đất mới. Những người theo thuyết tương lai chỉ ra rằng tự cuốn sách là lời tiên tri.
    Một số học giả Kinh Thánh vốn nghiên cứu kỹ sách Khải thị thì chủ trương rằng không thể nào phân loại cách cứng ngắt vào một trong những quan điểm nêu trên. Chẳng hạn, có nhiều người theo quan điểm thuộc linh nhưng họ cũng đồng ý rằng có một biến cố tiên tri ở trong sách và những biến cố cuối cùng sắp xảy ra. Tuy nhiên, không giống như những người theo thuyết tương lai, họ không tin rằng những lời tiên tri của sách chỉ về những biến cố đặt biệt vốn có thể định nghĩa rõ ràng.
    Chắc hẳn người ta tin rằng Hội Thánh đầu tiên đã nhìn vào sách Khải thị như là một bức tranh của đế quốc Lamã trong sự chống đối và ngược đãi Cơ đốc Nhân. Là motä phần của mục đích của sách, chắc chắn sách nầy góp phần động viên cho Hội Thánh đang chiến đấu của ba thế kỷ đầu tiên. Hiển nhiên rằng sách Khải thị cũng cho chúng ta thấy chiến thắng tối hậu của Đức Chúa Trời trên những lực lượng của Satan. Ngoài sứ điệp an ủi của sách cho Hội Thánh đầu tiên và sự bảo đảm giản đơn rằng điều thiện sẽ thắng điều ác, thì có rất ít điều khác ám chỉ lời tiên tri nầy cho những Cơ Đốc Nhân đầu tiên.
    Như vậy, dù công nhận vài ưu điểm của những quan điểm khác, nhưng quan điểm được trình bày trong loạt bài học nầy cơ bản theo Thuyết Tương Lai. Chúng tôi tin rằng quan điểm nầy phù hợp tốt nhất với nội dung của sách, vì cuốn sách mô tả những biến cố phải xảy ra để hoàn tất kế hoạch của Đức Chúa Trời- những biến cố sẽ xảy ra trong tương lai.
    12. Viết số hệ thống thông giải sách Khải Huyền vào cho thích hợp
    ....a. Những lời tiên tri ám chỉ về những biến cố thực sự sẽ xảy ra trong tương lai để hoàn tất kế hoạch của Đức Chúa Trời.
    ....b. Những lòi tiên tri được ứng nghiệm trong thời kỳ những Cơ Đốc Nhân đầu tiên bị chính quyền La mã ngược đãi.
    ....c. Một số người chủ trương thuyết nầy tin rằng những lời tiên tri đã ứng nghiệm khi thành Giêrusalem bị phá hủy vào năm 70 S. C.
    ....d. Những biến cố được mô tả tiêu biểu cho một ẩn dụ thuộc linh của một cuộc chiến đấu liên tục giữa Đức Chúa Trời và Satan.
    ....e. Những lời tiên tri được đồng nhất với những nhân vật đặc biệt và những biến cố đặc biệt trong quá khứ, như Napole’on và sự dấy lên của người Hồi Giáo.
    Những nét đặc biệt của hình thức của sách.
    Như bạn đã biết, Kinh Thánh gồm có những tác phẩm thuộc nhiều chủ đề khác nhau và ở nhiều hình thức khác nhau Chẳng hạn, Kinh Thánh có những Thi Thiên của Đavít viết. Những câu Châm ngôn của Salômôn, những lời tiên tri của Eââsai và những bức thư của Phao Lô. Một số những tác phẩm tiên tri trong Kinh Thánh được ra ở hình thức được gọi là “Khải thị” (ar calyptic-Khải huyền), đây là thể loại văn có vài đặc điểm . Bốn sách của Kinh Thánh được kể là thuộc vào hình thức Khải thị là những lời tiên tri của Đaniên, Eâxêchiên, Xachari và Khải huyền (Revelation).
    Khi bạn tiếp tục nghiên cứu, bạn sẽ học nhiều hơn về những đặc điểm khải thị của hai sách Đaniên và Khải thị cùng ý nghĩa của những điều đó. Những đoạn sau hay tiêu biểu cho ba đặc điểm chính của thể loại Khải thị mà chúng ta có thể tìm thấy trong sách của Kinh Thánh, cùng với những ví dụ từ sách Khải Huyền.
    1. Trong những tác phẩm theo thể loại khải thị, những dấu hiệu và những biểu tượng được dùng để chuyển giao chân lý thuộc linh. Chẳng hạn, hãy chú ý cụm từ “Made it known” (đem các điềm tỏ) ở
    KhKh 1:1. Chữ nầy được dịch từ tiếng Hy lạp nghĩa đen có nghĩa là “nói lên ý nghĩa”, “bày tỏ bằng những dấu hiệu”. Những dấu hiệu và những biểu tượng được dùng suốt cả sách. Giăng mô tả “Tôi đã thấy” (I saw) hơn 60 lần, (xem 1:1214:6). Oâng nói “Tôi đã nghe” (I heard) 28 lần (xem 5:112:10, chẳng hạn.). Ngoài ra ông đặc biệt cho thấy rằng ông đã được cho xem ( xem 4:1, 17:1 , 21:9-1022:1, chẳng hạn).
    2. Những sách khải thị cho thấy sự chiến thắng trong tương lai của những lực lượng của Đức Chúa Trời trên những lực lượng của Satan. Chẳng hạn, hãy xem sự chiến thắng Satan được trình bày trong
    12:7-1220:7-10.
    3. Trong những sách Khải thị, các hữu thể thiên sứ xuất hiện để giải thích những sự kiện. Điều nầy được chứng minh bằng sự xuất hiện của thiên sứ trong
    10:9-1117:15-18.
    Thể loại Khải thị (apocalyptic style) cũng còn được những nhà văn không thuộc linh Kinh Thánh viết. Dù những tác phẩm của họ giống với những sách của Kinh Thánh ở vài phương diện, nhưng có vài sự khác biệt quan trọng. Chẳng hạn, những sách khải thị không thuộc Kinh Thánh chứa đựng quan điểm bi quan của cuộc sống của những người thánh thiện (godly). Trái lại, những tác giả của Kinh Thánh là những người lạc quan. Họ cho thấy rằng dù những người thánh thiện có chịu khổ vì ngược đãi, nhưng Đức Chúa Trời ban cho họ sự bình an và vui mừng ở giữa cuộc thử nghiệm và thử thách đức tin. Họ có mối thông công với Ngài và không điều gì có thể phá hủy.
    13. Khoanh tròn mẫu tự trước lời mô tả về đặc điểm phân biệt của văm phẩm khải thị với điều được tìm thấy trong sách Khải huyền .
    a. Dùng những dấu hiệu và biểu tượng để chuyển giao chân lý thuộc linh .
    b. Nhận diện sứ đồ Giăng là tác giả của sách.
    c. Xử dụng chữ apokalypsis.
    d. Có sự xuất hiện của những thiên sứ để giải thích những sự kiện.
    e. Quan điểm bi quan về cuộc sống của những người thánh thiện.
    f. Đưa ra hình ảnh về sự chiến thắng tối hậu của Đức Chúa Trời trên Satan.
    Những nguyên tắc giải thíùch ý nghĩa của sách.
    Có bốn nguyên tắc quan trọng cần phải tuân theo khi một người giải thích sứ điệp tiên tri của sách Khải thị. Chúng tôi liệt kê sau đây. Ba nguyên tắc đầu cần phải được áp dụng vì Khải huyền là một sách tiên tri. Nguyên tắc thứ tư cũng được áp dụng vì lời tiên tri của sách Khải huyền được viết dưới hình thức thể loại Khải thị.
    Nguyên tắc số 1: Hãy để Kinh Thánh giải thích Kinh Thánh. Trong sách Khải huyền, sứ đồ Giăng ghi lại những bức tranh và những quan cảnh ông đã thấy, và công việc của chúng ta là giải thích những dấu hiệu nầy dựa trên những sự dạy dỗ của phần còn lại của lời Đức Chúa Trời. Hai điều cần nhớ khi chúng ta giải thích những dấu hiệu nầy là: 1) Kinh Thánh là lời giả thích tốt nhất của chúng ta, và 2) khi điều rõ ràng làm cho có ý nghĩa tốt nhất, thì những điều khác trở nên không có ý nghĩa. Nội dung của sách Khải huyền là toàn thể cuốn Kinh Thánh.
    Nguyên tắc số 2: Aùp dụng nguyên tắc của viễn cảnh tiên tri. Như sứ đồ Phierơ chỉ ra trong
    IPhi 1Pr 1:11, những tiên tri đã nhìn thấy biến cố của tương lai, nhưng không phải lúc nào học cũng thấy những yếu tố thời gian liên quan đến sự ứng nghiệm những điều đo. Thường thường, khi học lời tiên tri giống như việc nhìn lên bầu trời và thấy vô số sao. Chúng ta không biết được những khoảng cách giữa những vì sao cũng như không biết rằng có những vì sao gần chúng ta hơn những vì sao khác.
    14. Hãy đọc
    EsIs 61:1-2LuLc 4:16-21. Trong tay của bạn, hãy viết một đoạn văn ngắn giải thích tại sao bạn nghĩ rằng Chúa Jesus ngưng đọc tại chổ đó.
    Mặc dù Eâsai đã thấy “năm ban ơn của Chúa” và “ngày báo thù của Đức chúa Trời chúng ta” trong cùng một sự hiện thấy, nhưng ông không thấy khoảng cách thời gian giữa hai biến cố nầy. Ở đây cần có cái nhìn về viễn cảnh tiên tri chính xác. Biến cố thứ nhất ứng nghiệm khi Chúa Jesus thi hành chức vụ trên đất, biến cố thứ hai mãi cho đến Cơn Đại Nạn mới ứng nghiệm. Vì biến cố thứ hai chưa ứng nghiệm, nên khoảng cách giữa hai biến cố đã gần 2.000 năm rồi.
    Nguyên Tắc số 3: Công nhận có thể có hai lời ứng nghiệm cho lời tiên tri. Những tiên tri có các dịp ghi trong Cựu Ước vốn trước tiên là người giảng cho thế hệ của họ, chứ không phải là người nói trước tương lai. Họ cảnh cáo dân sự trong thời của họ về ngày của Chúa sẽ nhanh chóng đến như là thời điểm đoán phạt tội lỗi và sự thờ hình tượng của họ. Những sứ điệp của họ đã đi vượt quá những gì xảy ra trong thời điểm của họ và hướng về Ngày Lớn của Chúa vôn được mô tả trong sách Khải huyền. Chẳng hạn, tiên tri Giôên đề cập ngày của Chúa (
    Gio Ge 1:15, 2:1-2, 11-31). Trong thời Giôên, chắc chắn sự phán xét sẽ giáng xuống trên Giuđa trong tương lai gần, tuy nhiên, còn có Ngày của Chúa chưa xảy đến nữa, đó là một bức tranh trong KhKh 19:1-21. Như vậy, lời tiên tri Giôên sẽ có hai lần ứng nghiệm.
    Nguyên tắc số 4: Hiểu cách dùng những dấu hiệu và biểu tượng. Nhiều dấu hiệu và biểu tượng như những Con Thú, màu sắc, con số, và những đồá vật hiện ra trong suốt sách Khải huyền . Những điều đó được dùng để bày tỏ những ý nghĩa nhất định. Theo một tác giả, J. B. Bmith, có 46 biểu tượng mà cuốn sách tự giải thích. Tuy nhiên, có một sự nhất trí chung về ý nghĩa của nhiều biểu tượng trong số đó đã được xử dụng. Sau đây là biểu đồ đưa ra vài ý nghĩa của những biểu tượng quan trọng nhất được xử dụng trong sách Khải huyền cùng với ý nghĩa thường được gán cho những điều đó.
    Loại Biểu Tượng
    Biểu tượng
    Ý Nghĩa
    Những con số
    Sau khi nghiên cứu kỹ sách Khải huyền, tác giả của bạn tin rằng những ý nghĩa của những biểu tượng ở bản trên vẫn liên tục trong suốt cả sách .
    Bạn đã được giới thiệu vài hình ảnh về những bức tranh của Christ được tìm thấy trong sách Khải huyền và chắc chắn bạn biết rõ rằng Đức Chúa Trời đang điều khiển tương lai. Chúng tôi ước mong rằng phần nghiên cứu nầy sẽ thách thức bạn sống một đời sống Cơ Đốc Nhân kiên định khi chúng ta càng gần đến ngày Chúa chúng ta trở lại.
    Bài Tập Trắc Nghiệm.
    CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Hãy khoanh tròn mẫu ở trước mỗi câu trả lời tốt nhất.
    1. Khi dùng tựa đề cho sách Khải huyền (Khải thị), chữ Khải thị (revelation) có nghĩa là.
    a. Bày tỏ ý nghĩa của kinh nghiệm thuộc linh.
    b. Sự hiện ra thấy được của Chúa Jesus.
    c. Ban sự hiểu biết thuộc linh cho tín hữu.
    d. Bày tỏ cho tín hữu hiểu biết nhiều điều.
    2. Chủ đề chính của sách Khải huyền là mô tả về.
    a. Những sự kiện trong đời sống tại trần gian của Chúa Jesus.
    b. Những lực lượng thuộc về giới linh đang dàn trận nghịch cùng những người trách thiện.
    c. Chính Chúa Jesus Christ trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
    d. Những biểu hiện liên quan đến số phận của Ysơraên.
    3. Bằng chứng cho thấy sứ đồ Giăng đã viết sách Khải huyền là.
    a. Oâng xử dụng những chữ Hy lạp logos và nikao.
    b. Có nhiều sự trích dẫn từ Cựu Ước.
    c. Chữ Hy lạp apokalypsis được dùng trong đó.
    d. Đặc tính của thể loại Khải thị (apocalyptic) của sách.
    4. Tiểu Đề “Mọi sự đều mới” thuộc về phần chia chính nào?
    a. Mở đề.
    b. Điều Ngươi đã thấy.
    c. Điều hiện có.
    d. Điều về sau phải xảy đến.
    e. Tái Bút.
    5. mục đích của phần mở rộng khai triển trong Kinh Thánh là để.
    a. Giới thiệu một đề tài trước kia chưa đề cập .
    b. Kéo dài khoảng cách giữa hai sự kiện có một bản chất tương tự .
    c. Làm ngắn lại khoảng cách giữa hai sự kiện có một bản chất tương tự .
    d. Đưa thêm tài liệu, tin tức về chủ đề đã đề cập vắn tắt ở một nơi nào đó.
    6. Theo cách giải thích của Thuyết Qúa Khứ của sách Khải huyền, thì sách mô tả.
    a. Tất cả lịch sử từ quá khứ đến hiện tại.
    b. Chiến thắng của điều thiện trên điều ác nằm trong sách ẩn dụ.
    c. Những cuộc tranh đấu của những Cơ Đốc Nhân đầu tiên nghịch lại người La mã.
    d. Những biến cố của điều chưa xảy ra.
    7. Đối lập với những tác phẩm thể loại Khải thị của những nhà văn không thuộc về Kinh Thánh, thể loại Khải thị trong sách Khải huyền chứa đựng những điều dưới đây, NGOẠI TRỪ.
    a. Sự bao gồm sự xuất hiện của thiên sứ để giải thích những sự kiện.
    b. Trình bày quan điểm bi quan của đời sống của những người tin kính, thánh thiện.
    c. Sự xử dụng dụng những dấu hiệu và biểu tượng để chuyển giao chân lý thuộc linh.
    d. Việc bày tỏ chiến thắng tương lai của những lực lượng thuộc Đức Chúa Trời trên những lực lượng của Satan.
    8. “Sự giải thích về chiên con có nghĩa là Chúa Jesus” liên quan gần gũi nhất với nguyên tắc nào ở đây?
    a. Xử dụng những dấu hiệu và những biệu tượng.
    b. Dùng Kinh Thánh giải thích Kinh Thánh.
    c. Viễn cảnh tiên tri.
    d. Sự ứng nghiệm hai lần.
    TRẢ LỜI NGẮN. Trả lời những câu hỏi sau đây ngắn gọn. Câu trả lời của bạn có thể có dòng văn khác với câu trả lời của chúng tôi ở phần giải đáp, nhưng vẫn đúng với nội dung thì thôi. Hãy viết câu trả lời của bạn vào khoảng trống được chừa ở dưới.
    9. Chúa Jesus khuyên bảo Giăng viết ba điều gì vào sách Khải huyền.
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    10. Hãy nêu tên bốn quan điểm căn bản về ý nghĩa của sách Khải huyền và cho biết quan điểm nào được trình bày trong loạt bài nầy.
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    ..............................................................................................................................
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu
    1. Câu trả lời của bạn có thể là “sự khải thị của Chúa Jesus Christ”.
    2. a. 1) Sự bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu.
    b. 1) Sự bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu.
    c. 2) Sự xuất hiện nhìn thấy được của Chúa Jesus.
    d. 1) Sự bày tỏ nhiều điều để chúng ta hiểu.
    3. Câu trả lời của bạn có thể tương tự như sau: Tên của sách Khải Huyền là apokalypsis của Jesus Christ. Chữ apokalypsis trong tên nầy có nghĩa là “sự hiện ra thấy được” Hay sự “khải thị” của Chúa Jesus Christ. Chủ đề của sách là sự hiện đến lần thứ hai của Đấng Christ. Chủ đề nầy được nói trong
    KhKh 1:7.
    4. a) Câu 27 nói về “chính Ngài”.
    b) câu 27 cho thấy Ngài đã dạy từ Cựu Ước.
    5. Bạn nên viết bản liệt kê nầy vào sổ tay để xử dụng về sau nầy.
    6. b) Chính Chúa Jesus, những gì Ngài đã làm, đang làm và sẽ làm.
    7. a. Giăng (
    1:1, 4, 9; 22:8).
    b. Ông là đầy tớ của Chúa Jesus Christ (
    1:1).
    c. Ông ấy là anh em và bạn hữu của họ (
    1:9).
    8. Những sự kiện của bạn có thể bao gồm, bất cứ thứ tự nào: a) Xử dụng chữ Hy lạp logos. b) Xử dụng chữ Hy lạp Nikao và ekkenteo. c) Chứng cớ của những người lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên như Justin Martyr, về tác quyền của Giăng. d) lời chứng của những người lãnh đạo Hội Thánh đầu tiên về thời điểm sách được viết. e) Bằng cớ nội tại của sách Khải huyền liên quan đến việc Giăng bị tù ở đảo Bát mô.
    9. Ông được truyền phải viết : 1) Điều ngươi đã thấy, 2) Điều hiện có, và 3) Điều về sau phải xảy đến.
    10. a. 4) Phần Chính IV.
    b. 2) Phần Chính II.
    c. 2) Phần Chính II.
    d. 5) Tái Bút V.
    e. 3) Phần Chính III.
    f. 1) Mở Đề I.
    g. 3) Phần Chính III.
    11. Bạn có thể khoanh tròn chữ b), d) và e).
    12. a. 4) Thuyết Tương Lai.
    b. 1) Thuyết Qúa Khứ.
    c. 1) Thuyết Qúa Khứ.
    d. 3) Thuyết Tương Lai.
    e. 2) Thuyết Lịch Sử.
    13. Bạn có thể khoanh tròn chữ a) ,d) và f.
    14. Ngài dừng lại sau cụm từ “năm ban ơn của Chúa” vì Ngài biết rằng chưa đến thời điểm để ứng nghiệm lời tiên tri của phần kế tiếp ở trong Eâsai: “ngày báo thù của Đức Chúa Trời chúng ta”.
    15. a. 3) Nguyên tắc ứng nghiệm hai lần.
    b. 4) Nguyên tắc xử dụng các dấu hiệu.
    c. 2) Nguyên tắc về viễn cảnh tiên tri.
    d. 1) Nguyên tắc lấy Kinh Thánh giải thích Kinh Thánh.
    e. 2) Nguyên tắc viễn cảnh tiên tri.

    ĐIỀU SỨ ĐỒ GIĂNG ĐÃ THẤY
    Trong bài 4 chúng ta thảo luận vài điều trong những đặc điểm của sách Khải thị : Tên, chủ đề, đề tài đầu tiên, tác giả và thời điểm viết sách. Chúng ta đã khảo sát vài hệ thống giải thích được dùng để giải thích những chữ tiên tri. Chúng ta cũng đã chú ý đến vài nguyên tắc giải thích. Chúng tôi tin rằng phần nghiên cứu đầu tiên nầy sẽ làm cho loạt bài học của chúng ta dễ hiểy hơn.
    Bây giờ chúng ta sang chương 5 và phần chính thứ hai được đưa ra trong bài 4: Điều Ngươi Đã Nhìn Thấy. Tại đây chúng ta sẽ gặp một số đề tài rất quan trọng. Trong số những điều khác, chúng ta sẽ thảo luận nguồn gốc và mục đích của “sự Khải thị”, những phước lành của sách Khải huyền, Ngày của Chúa, và ngôi sao cùng những chơn đèn. Cuối cùng, chúng ta sẽ khảo sát ngắn gọn ý nghĩa của sự chết và âm phủ (Hades) trong đoạn văn về vị trí của Chúa là đầu của Hội Thánh.
    Khi bạn nghiên cứu từng phần của bài học, nguyện xin Chúa ban cho bạn sự xức dầu mới để tiếp nhận chân lý Ngài dành cho bạn. Cầu xin Chúa cho bạn có thể áp dụng lẽ thật nầy cách có hiệu quả trong Kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân của mình.
    Dàn ý bài học.
    Nguồn gốc và Mục đích của sách Khải huyền.
    Ý nghĩa của chữ En Tachei.
    Những ý nghĩa của chữ Thiên sứ (Angel).
    Bảy phước lành của sách Khải Huyền.
    Bảy linh của Đức Chúa Trời.
    Sự mô tả Tam Diện về Chúa Jesus.
    Ý nghĩa của chữ “nhìn thấy” (see).
    Anpha và Ômêga.
    Ngày của Chúa.
    Tiếng nói. Lệnh truyền và sự Hiện Thấy.
    Sự chết và âm phủ .
    Những ngôi sao và những chơn đèn.
    Những mục tiêu của bài học.
    · Định nghĩa, tóm tắt, hay mô tả những bức thư, những chữ, những hữu thể và những đồ vật được trình bày trong dàn ý của bài học.
    · Chúng tỏ sự ứng nghiệm đầy đủ hơn về phần Đức Chúa Trời ban cho bạn trong sự thực hiện mục đích của Hội Thánh.
    Những Hoạt Động Học Tập.
    1. Tiến hành học tập theo phương pháp được đưa ra ở Bài 1.
    2. Đọc đoạn 1 của sách Khải Huyền một lần nữa trước khi bạn triểãn khai bài học.
    3. Đọc lại những hình ảnh về Chúa Jesus Christ mà bạn ghi trong sổ tay ở bài 4. Trưng dẫn câu nào trong đoạn 1 có liên hệ với hình ảnh đó. Trước khi bạn đọc bài nầy, hãy viết vào sổ tay của bạn mỗi hình ảnh được giới thiệu trong đoạn nầy có ý nghĩa gì đối với một Cơ Đốc Nhân như bạn.
    Từ Ngữ .
    Điều hành ( administried).
    Khẩu hiệu ( watchword).
    Phước lành ( beatitude).
    Sắp xảy ra ( imminent).
    Thiên sứ trưởng ( archangel).
    Thân thể vật lý (physique).
    Toàn tri (omniscience) .
    Vật ám chỉ (referent).
    Vật hữu hình (tangible).
    Xác nhận (affrmation).
    Triển Khai Bài Học
    MỤC TIÊU 1: Trình bày nguồn gốùc của lẽ thật ở trong sách Khải Huyền và mục đích đầu tiên của việc công bố lẽ thật nầy.
    NGUỒN GỐC VÀ MỤC ĐÍCH CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN.
    Câu đầu của Khải huyền 1 cho chúng ta biết rõ rằng Đức Chúa Trời là nguồn gốc của lẽ thật dồn chứa trong sách. đồng thời cũng cho chúng thấy mục đích của việc công bố lẽ thật trong sách nầy. câu 1 cho thấy rằng Chúa Jesus có nhiện vụ phải công bố chân lý nầy cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời trên đất. Chúa Jesus có thể bày tỏ cho những đầy tớ Ngài những điều sắp xảy ra để hoàn thành lẽ thật được nói tiên tri ở trong sách Khải huyền.
    Những người không phải là đầy tớ của Đức Chúa Trời không tài nào hiểu được sách Khải thị. Những điều đó đối với họ thật ngu xuẩn chẳng khác gì “ Sứ điệp thập tự giá đối với những kẻ hư mất là ngu dại” (
    ICo1Cr 1:18). Tuy nhiên, còn đối với chúng ta là những đầy tớ của Đức Chúa Trời, thì Khải huyền là cuốn sách vĩ đại đầy sự đắc thắng và vui mừng trong Jesus Christ Cứu Chúa chúng ta.
    1. Ai là nguồn gốc của lẽ thật trong sách Khải thị?
    2. Mục đích đầu tiên của việc công bố lẽ thật được đưa ra trong sách Khải huyền là gì?
    3. Những người không phải là đầy tớ của Đức Chúa Trời không thể nào hiểu được sách Khải huyền vì.
    a. Họ không hiểu hầu hết những chữ ở trong sách.
    b. Họ không có đủ sự khôn ngoan của con người.
    c. Đức Chúa Trời đã làm cho sự khôn ngoan của thế gian nầy trở nên ngu dại.
    d. Họ không có sự khôn ngoan Đức Chúa Trời ban cho.
    MỤC TIÊU 2: Mô tả ý nghĩa của chữ “kíp” (một cách mau chóng khi nói về việc Chúa trở lại).
    Ý NGHĨA CỦA CHỮ EN TACHEI Khải Huyền 1:1.
    KhKh 1:1 bày tỏ không những bản chất và mục đíùch của cuốn sách nhưng còn nói về đặc tính của việc Đấng Christ trở lại. Từ ngữ được dịch là “kíp” trong tiếng Hy lạp là “en tachei”, cụm từ nầy có nghĩa là “một cách mau lẹ” (kíp) trong LuLc 18:8 và một lần nữa chữ “kíp” trong RoRm 6:20. “Kíp” trong KhKh 1:1 chỉ về thì giờ của Đức Chúa Trời- chứ không phải của chúng ta. Thì giờ của Đức Chúa Trời không giống như thì giờ của chúng ta. Thơ Phierơ thứ hai đoạn 3 câu 8 cho thấy Đức Chúa Trời nhìn mọi ngày như bây giờ ở thì hiện tại. Chữ “phải” trong 1:1 đã đưa những học giả không theo thuyết quá khứ tin rằng chữ “ en tachei” ám chỉ, “sự ứng nghiệm cách chắc chắn”. Như vậy, họ tin rằng điều nầy chứng tỏ rằng những lời tiên tri chắc chắn sẽ ứng nghiệm. Tuy nhiên, từ ngữ “en tachei” còn có thể được dịch bằng những chữ khác hơn là chữ “kíp” hay “một cách mau lẹ” . Chẳng hạn cụm từ Hy lạp nầy có thể có nghĩa là “thình lình”, vì thế không nhất thiết có nghĩa là “những điều kíp phải xảy đến” thì phải xảy ra lập tức sau khi sách Khải huyền được viết xong. Cuối cùng, chữ “en tachei” được dùng có nghĩa là “sắp xảy ra” ám chỉ rằng có thể xảy ra bất cứ lúc nào.
    Trong bài 4 chúng ta thấy rằng chủ đề của sách Khải huyền là sự loan báo về sự hiện đến của Chúa Jesus Christ (
    KhKh 1:7) . Sự hiện đến của Ngài là “điều kíp phải xảy ra”. Như chúng ta đã thấy trong đoạn trước, cụm từ năm chữ nầy ở trong 1:1 ám chỉ cách mạnh mẽ rằng Khẩu hiệu của Cơ Đốc Nhân là “Sẵn sàng” đón Chúa Jesus trở lại. Sự trở lại của Chúa Jesus bao gồm hàng loạt biến cố. Loạt biến cố nầy bắt đầu ở 4:1, và được mô tả chi tiết hơn. Một khi những biến cố nầy khởi sự thì chắc chắn sẽ không có sự trì hoãn trong việc kết thúc chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Theo luật phối cảnh tiên tri, những biến cố xảy ra sẽ không còn có sự xen vào giữa nữa. Nó chỉ về những trang cuối của kế hoạch của Đức Chúa Trời của mọi thời đại.
    4. Chúa Jesus đã sai thiên sứ Ngài chỉ cho Giăng đầy tớ Ngài điều gì?
    5. Cụm từ Hy lạp “en tachei” được dịch sang tiếng Anh (rồi được dịch bằng tiếng Việt) Bốn chữ nào?
    MỤC TIÊU 3: Giải thíùch những phương cách khác nhau trong đó chữ mà Kinh Thánh dịch là “thiên sứ” (angel) được dùng và nhận diện thiên sứ đã bày tỏ cho Giăng trong 1:2 sứ điệp nào.
    NHỮNG Ý NGHĨA CỦA CHỮ “THIÊN SỨ”
    1:1-2.
    1:1 chứng tỏ rằng một thiên sứ bày tỏ Jesus Christ cho Giăng, tác giả của sách Khải huyền. Ở đây chúng ta thấy rằng chữ được dịch “thiên sứ” có nghĩa là “sử giả” (messaanger). Bất cứ nơi nào trong Kinh Thánh chữ được dịch là “thiên sứ” đôi khi ám chỉ những gì chúng ta thường gọi là thiên sứ, nghĩa là,một sứ giả thiên thượng hay thuộc về trời (SaSt 19:1, 15, Thi Tv 103:20, 148:2, Mat Mt 1:20). Có những chỗ khác chữ nâỳ chỉ về một sứ giả loài người (SaSt 32:3, ISa1Sm 6:21, ISu1Sb 14:16, Mat Mt 11:10, LuLc 9:52). Vì những chữ được dịch là “thiên sứ” (angel) có thể ám chỉ hoặc là sứ giả loài người hay sứ giả thiên thượng, nên chúng ta phải đọc kỷ mạch văn để hiểu đó là ai. Điều quan trọng cần nhớ là ở đây nhấn mạnh về sứ điệp chứ không phải là sứ giả. Hoặc người ấy là loài người hoặc thuộc thiên thượng thì không phải là mối quan tâm đầu tiên của chúng ta.
    Trong
    KhKh 1:2 hãy chú ý đến hai điều mà thiên sứ bày tỏ cho Giăng: “Lời của Đức Chúa Trời là Lời chứng của Chúa Jesus Christ”. Như chúng ta đã học trong bài 4, thiên sứ truyền đạt sứ điệp nầy cho Giăng bằng phương tiện những dấu hiệu và biểu tượng. Như vậy, sứ điệp của sách Khải thị được truyền đạt do một sứ giả thiên thượng và được Giăng ghi lại, ông là một nhân chứng trung tín những gì ông đã thấy và đã nghe.
    6. Bằng cách nào
    1:1 chữ thiên sứ có nghĩa là “sứ giả”?
    7. Trong Kinh Thánh chữ “thiên sứ” ám chỉ về hai loại sứ giả nào?
    8. Sự khải thị được truyền đạt hay để tỏ cho Giăng do một thiên sứ qua những phương tiện gì ? Thiên sứ.
    a. Chuyển giao cho Giăng qua những giấc mơ để bày tỏ lẽ thật thiên thượng.
    b. Truyền đạt những lẽ thật qua sự xử dụng nững dấu hiệu và những biểu tượng.
    c. Nói qua những điềm trong thế giới vật lý.
    d. Cảm thúc Giăng hình dung ra tương lai dựa vào lời tiên tri trong Cựu Ước.
    9. Hai điều bày tỏ cho Giăng trong
    1:2 là.
    a. Lời làm chứng và con Đức Chúa Trời.
    b. Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Chúa Jesus Christ.
    c. Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con trong Ba ngôi Đức Chúa Trời.
    d. Lời của Chúa Jesus và lời chứng của Thánh Linh.
    MỤC TIÊU 4: Trình bày những lợi ích có liên quan với phước lành đầu tiên trong bảy phước lành của sách Khải huyền.
    BẢY PHƯỚC LÀNH CỦA SÁCH KHẢI HUYỀN.
    1:3-5.
    Những phước lành nỗi tiếng được tìm thấy trong
    Mat Mt 5:1-12. Sau khi đọc những phước lành đó, người ta có thể giải thích vì sao KhKh 1:3 được gọi là những phước lành của sách Khải huyền. Những phước lành khác được tìm thấy trong sách 14:13; 16:15;; 19:9; 20:6; 22:7; và 22:14. Sau khi bạn tìm được, hãy viết bảy phước lành của sách vào sổ tay của bạn. Những điều nầy sẽ cung cấp tài liệu cho bạn nghiên cứu Kinh Thánh hay giảng dạy. Hãy đọc kỹ cho đến khi bạn viết thuộc lòng vào bài kiểm tra nếu bạn được yêu cầu làm thế.
    Bây giờ chúng ta hãy quan sát đặt điểm bản chất của phước lành thứ nhất của sách Khải huyền . Trước hết, người nào đọc sách tiên tri nầy sẽ được phước. Điều thứ hai quan trọng nhất là những phước hạnh được hứa ban cho những ai nghe và áp dụng những gì được viết ra. Đối với tín hữu lời tiên tri nầy có tầm quan trọng ở chổ là những phước hạnh hứa ban cho những người tiếp nhận và áp dụng sứ điệp của những lời tiên tri ấy vào kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân của mình.
    Trong
    1:4, Giăng bắt đầu viết thơ cho những Hội Thánh. Oâng bắt đầu với hai chữ thường dùng trong lời chào của Tân Ước: Aân điển và bình an. Là Cơ Đốc Nhân, chúng ta biết rằng một người phải hưởng được ân điển của Đức Chúa Trời trước khi người ấy có sự bình an thật. tại sao? Hãy chú ý trong 1:4-5, hai ngôi vị và nhóm người nhận lời chào thăm chúc được ân điển và bình an : Rõ ràng ngôi vị thứ nhất là Đức Chúa Cha hiện hữu đời đời vì ngôi vị thứ hai được giới thiệu trực tiếp là Chúa Jesus christ.
    10. Giải tại sao
    1:3 được gọi là phước lành?
    11. Oân lại bảy phước lành cách cẩn thận. rồi sau đó cố gắng tóm tắt thuộc lòng vào sổ tay của bạn, nhớ ghi rõ đoạn và câu.
    12. Tại sao một người phải kinh nghiệm ân điển của Đức Chúa Trời trước khi người ấy có sự bình an thật?
    13. Phước lành đầu tiên trong bảy phước lành của sách Khải huyền liên quan đến.
    a. Người trung tín chịu đựng sự cám dỗ và rồi được vào sự sống đời đời.
    b. Người chịu những hoàn cảnh khó khăn để giữ được đức tin.
    c. Những người đọc, nghe và áp dụng sứ điệp của lời tiên tri nầy.
    MỤC TIÊU 5: Quyết định để nhận diện bảy linh được đề cập trong 1:4.
    BẢY LINH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI.
    1:4.
    Chúng ta hãy trình bày hai quan niêm liên quan đến việc nhận diện bảy linh được đề cập trong
    1:4. Trước hết, vì những thiên sứ được gọi là “những linh phục vụ” trong HeDt 1:14, nên vài người tin rằng bảy linh nầy là những thiên sứ. Một số truyền thống Do thái tin rằng có bảy thiên sứ dùng trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. LuLc 1:19 chỉ về một thiên sứ đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Vài truyền thống cho rằng những vị thiên sứ hiện diện trước mặt Đức Chúa Trời đó là những vị thiên sứ trưởng. Nhưng chỉ có một thiên sứ được gọi là thiên sứ trưởng trong Lời Đức Chúa Trời (ITe1Tx 4:16, và Giu Gd 1:9). Một ý kiến thông thường khác là bảy linh tượng trưng cho sự đầy đủ của chức vụ của Thánh Linh. Tác giả của bạn nhất trí với ý kiến nầy vì ta không thấy có lý do nào nói về bảy thiên sứ trong KhKh 1:4. Hơn nữa quan điểm của ông ấy chịu ảnh hưởng do sự dạy dỗ về công tác bảy mặt của Thánh Linh trong EsIs 11:2-3 có bảy điều mà Thánh Linh phục vụ cho Nhánh, tức là Chúa Jesus Đấng Mêsi.
    14. Trong
    EsIs 11:2-3 bảy khả năng mà Thánh Linh phục vụ cho Đấng Mêsi là gì?
    15. Theo tác giả của bạn, bảy linh được đề cập trong
    KhKh 1:4 tượng trưng điều gì liên quan đến chức vụ của Thánh Linh?
    MỤC TIÊU 6: Trình bày ba điều nói về Chúa Jesus ở trong 1:5.
    SỰ MÔ TẢ TAM DIỆN VỀ CHÚA JESUS
    1:5-6.
    Hãy chú ý ba sự mô tả về Chúa Jesus được đưa ra trong
    1:5. Chúng ta hãy khảo sát ba điều nầy cùng một lúc.
    1. Ngài Là Chứng Nhân Thành Tín. Chứng nhân là người đưa ra bằng chứng, một người làm chứng cho một nguyên cớ, một người có sự hiểu biết về cá nhân về điều gì đó, một người đưa ra sự xác nhận công khai bằng lời nói hay gương mẫu. Làm thế nào để chúng ta có thể hiểu được Đức Chúa Trời? Khi chúng ta nhìn xem Đấng Christ, nghe những lời của Ngài, và chứng kiến sự thương xót của Ngài, thì chúng ta thấy Đức Chúa Trời (
    GiGa 14:9). Làm thế nào để chúng ta biết quyền năng của Đức Chúa Trời? Chúng ta biết điều đó khi chúng ta nhìn thấy Chúa Jesus chữa những người bịnh được lành, kêu người chết sống lại và tẩy sạch người phung cùi. Làm thế nào để chúng ta biết được kiên nhẫn của Đức Chúa Trời ? Chúng ta chứng kiến sự kiên nhẫn khi chúng ta nhìn thấy Chúa Jesus trong sự nhịn nhục lâu dai với những môn đệ của Ngài. Làm thế nào để chúng ta biết được tình yêu của Đức Chúa Trời? Tình yêu của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong Chúa Jesus khi Ngài đưa tay giúp đỡ những người có nhu cầu và khi Ngài nói, “Lạy Cha xin tha tội cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì” (LuLc 23:34, KJV). Như vậy, Chúa Jesus là phần chứng trọn vẹn, Ngài giới thiệu đặc tính và những thuộc tính của Đức Chúa Trời cách trung thực cho dân sự Ngài.
    Bây giờ hãy chú ý đến
    Cong Cv 1:8 chỉ về sự hiện đến của Thánh Linh trên tín hữu để khiến họ nhận lãnh điều gì và trở nên người nào. Họ sắp được Báp têm trong Thánh Linh và sự hiện diện nội trú của Thánh Linh sẽ thay đổi cuộc sống của họ đáng kinh ngạc. Những môn đệ của Christ sẽ nhận lãnh quyền năng để làm những nhân chứng cho Chúa của mình. Điều nhấn mạnh ở đây ấy là những tín hữu là loại người nào (what they are) hơn là họ làm gì (what they do) , vì những gì tín hữu làm phát sinh từ những gì họ là. Giống như khi người ta nhìn vào Chúa Jesus họ thấy Đức Chúa Cha, thì chúng ta cũng được đầy dẫy Thánh Linh đến nỗi người ta sẽ nhìn thấy Chúa Jesus Christ trong đời sống chúng ta và muốn tiếp nhận Ngài làm Cứu Chúa của đời sông mình.
    16.
    1:8 cho thấy sự hiện đến của Thánh Linh trên tín hữu sẽ khiến họ nhận điều gì và trở thành người nào?
    2. Chúa Jesus Là Đấng Sanh Đầu Nhứt Từ Trong Kẻ Chết. Sanh đầu nhất (sanh trước nhất- firstborn) không có nghĩa là Chúa Jesus được tạo dựng tại thời điểm đó vì Con Đức Chúa Trời vẫn luôn luôn hiện hữu (
    GiGa 1:1-3, 14). Từ ngữ “sanh đầu nhất” được làm sáng tỏ trong CoCl 1:18. Dùng từ ngữ “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết”, sứ đồ Phao lô ám chỉ sự phục sinh của Đấng Christ từ trong kẻ chết ở trên đất của Ngài, ông nhấn mạnh rằng Ngài hiện đang sống, và chỉ đến sự phục sinh của những người khác đã ngủ trong Christ (ITe1Tx 4:14).
    17. Cụm từ “sanh đầu nhất từ trong kẻ chết” KHÔNG
    a. Chỉ về cách thức mà Chúa Jesus hiện hữu từ ban đầu.
    b. Nhấn mạnh sự kiện rằng Chúa Jesus hiện đang sống.
    c. Aùm chỉ về sự phục sinh của Chúa Jesus từ sự chết của Ngài trên thập tự giá.
    d. Chỉ đến những sự phục sinh kế tiếp.
    3. Chúa Jesus Là Nguyên Thủ Của Các Vua Trên Đất. Ngài đang có toàn quyền kiểm soát. Tạm thời dường như Satan sắp nắm quyền kiểm soát, nhưng sách Khải huyền cho thấy ai thực sự đang chịu trách nhiệm.
    Trong
    KhKh 1:5-6 chúng ta hãy quan sát vài điều quan trọng. Trước hết, chúng ta nhìn thấy thái độ của Chúa đối với chúng ta. Thứ hai, chúng ta thấy rằng tình yêu nầy rất tích cực, nó cảm động Ngài giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi bằng giá của mạng sống của Ngài. Thứ ba, kết quả của tình yêu cứu chuộc của Ngài, Ngài đã nâng vực chúng ta từ tình trạng những tộâi nhân xa cách lên chiếm hữu địa vị của công dân vương quốc và những thầy tế lễ của Ngài. Như vậy, mỗi tín hữu là một thầy tế lễ và có thể đến gần Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus Christ không cần có người nào làm trung gian (HeDt 4:14-16).
    18.
    KhKh 1:5-6 chứng tỏ rằng thái độ và hành động của Chúa đối với chúng ta đã làm cho chúng ta hưởng được tình trạng nào?
    a. Chúng ta được bảo đảm an ninh đời đời ở trong Ngài bất chấp đời sống phẩm chất của Cơ Đốc Nhân và sự phục vụ của chúng ta.
    b. Chúng ta trở nên những công dân của vương quốc của Ngài và những thầy tế lễ để phục sự Ngài.
    c. Chúng ta được bảo đảm rằng không có sự cám dỗ nào đến với chúng ta mà cá nhân chúng ta không thể kháng cự được.
    1:6 chấm dứt với lời công bố ca ngợi Đức Chúa Trời lần thứ nhất trong sách Khải huyền. Người ta chỉ có thể nghiên cứu Kinh Thánh với điều lợi ích nhất khi học tập ca ngợi Ngài trong cuốn sách nầy. Hãy viết lời ca ngợi nầy vào sổ tay của bạn, và khi chúng ta học đến lời ca ngợi khác, chúng ta sẽ viết tiếp theo nữa. Ngoài ra, hãy viết ra ý nghĩa của mỗi lời ca ngợi và bạn sẽ khám phá những điều chúng ta cần ca ngợi Đức Chúa Trời.
    19. Trong phần tóm tắt phần nầy, hãy trình bày ba điều mà Chúa Jesus được nói đến trong
    1:5.
    MỤC TIÊU 7: Công nhận những ý nghĩa khác của chữ được dịch là “trông thấy” ở sách Khải huyền.
    Ý NGHĨA CỦA CHỮ “TRÔNG THẤY”
    1:7.
    Vài chữ Hy lạp khác nhau được dịch là “trông thấy” (see) do tác giả của sách Khải huyền. Trong bài 1 chúng ta đã nói là lời loan báo về sự hiện đến của Chúa Jesus là Chủ đề của sách Khải huyền. “Mọi mắt sẽ trông thấy Ngài” (
    KhKh 1:7) là sự diễn đạt mô tả sự đáp ứng của con người ở trên đất đối với sự hiện đến của Chúa Jesus . Chữ Hy lạp dịch là “trông thấy” trong lời diễn đạt nầy gợi ý rằng ở đây chữ nầy có dụng ý chỉ về sự hiểu biết của con người hơn là cái nhìn bằng mắt của họ. Sự nhấn mạnh nầy được xác nhận bằng cụm từ “hết thảy các chi phái trên đất đều sẽ than khóc” khi họ nhìn thấy Chúa Jesus hiện đến. Họ khóc vì họ hiểu rằng việc Chúa trở lại có ý nghĩa gì.
    Một ý nghĩa khác của chữ được dịch là “trông thấy” ám chỉ về cái nhìn bằng con mắt thể xác. chẳng hạn, Giăng nói rằng “Mari.... nhìn thấy tảng đá đã được dời đi” (
    GiGa 20:1). Ý nghĩa thứ ba của chữ dịch là “trông thấy” xảy ra trong GiGa 20:6. Kinh Thánh chép rằng “Phierơ .... đã thấy (saw) vải gai còn nằm ở đó”. Ý nghĩa được nhấn mạnh ở đây là sự lý luận, thắc mắc, và kinh ngạc của Phierơ. Trong 20:8 Giăng thấy với sự hiểu biết. Như vậy, những chữ “trông thấy” có thể chỉ về “sự nhìn thấy bằng mắt thể chất”, nhấn mạnh về “sự lý luận, thắc mắc và kinh ngạc”.
    Người ta cũng nhìn thấy Chúa Jesus bằng những cách khác nhau. Một số chế giễu Ngài, một số thờ ơ với Ngài và một số từ khước trong việc đến với Ngài khi Ngài kêu gọi. Trong
    KhKh 1:12 chữ dịch là “trông thấy” gợi ý rằng Giăng chỉ quay lại để nhìn bằng mắt mình. Chữ “thấy” trong 1:17, lại gợi ý rằng Giăng nhìn thấy với sự hiểu biết, và vì thế, đã sấp mình dưới chơn Chúa Jesus. Nghĩa là điều mà mọi người sẽ làm trong một ngày nào đó (Phi Pl 2:10-11).
    20. Trong phần nầy chúng ta đã thấy những chữ được dịch là “trông thấy” trong sách Khải huyền bao gồm những ý nghĩa nào? Khoanh tròn mẫu tự trước điều bạn chọn).
    a. cái nhìn bằng mắt thể chất.
    b. Sự hiểu biết siêu đẳng của con người.
    c. Sự hiểu biết.
    d. Kinh ngạc và thắc mắc.
    e. Cái nhìn của thầy phủ thủy.
    Lời cầu nguyện của chúng tôi ấy là khi chúng ta tiếp tục những bài nầy, nguyện Chúa cho mỗi người chúng ta sẽ “nhìn thấy” Chúa Jesus bằng sự hiểu biết hơn bao giờ hết. Cũng xin Chúa Cũng cho chúng ta có khả năng để chia sẻ về Ngài cách có hiệu quả hơn để họ có thể “nhìn thấy” và “hiểu” Ngài nhiều hơn.
    MỤC TIÊU 8: Giải thích tại sao Chúa Jesus được gọi là Anpha và Ômêga.
    ANPHA VÀ ÔMÊGA.
    KhKh 1:8.
    Trong
    1:8 Đức Chúa Trời ám chỉ Ngài là “Anpha và Oâmêga”. Lối nói nầy giống như nói “chữ A và chữ Z” trong tiếng Anh (chữ A và chữ Y trong tiếng Việt) vì chữ Anpha va Oâmêga là mẫu tự đầu tiên và mẫu tự cuối cùng trong bản chữ cái Hy lạp. Hai phần tham chiếu khác về Đức Chúa Trời là “Apha và Oâmêga” cũng nằm ở cụm từ “đầu tiên và cuối cùng” (KhKh 21:6, và 22:13). Đức Chúa Trời Tam Nhất (The Triune God) là “Trước nhất và Sau Rốt” (The First and the Last) (21:6). Cả Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con đều được gọi là Anpha và Oâmêga trong sách Khải huyền, và trong sách Hy bá lai phẩm chất tương tự cũng được qui cho Thánh Linh (HeDt 9:14). KhKh 22:13 ám chỉ cách trực tiếp hơn là hai câu khác nói về Chúa Jesus là Anpha và Oâmêga. Đức Chúa Cha đã tạo dựng muôn vật quan con Ngài là Jesus christ (GiGa 1:1-4, 10; CoCl 1:15-18HeDt 1:1-4).
    21. Trong sổ tay của bạn, Hãy giải thích vắn tắt vì sao Chúa Jesus được gọi là Anpha và Ômêga?
    MỤC TIÊU 9: Trình bày ý nghĩa của từ Ngày của Chúa trong KhKh 1:10.
    NGÀY CỦA CHÚA.
    Trong
    1:9 Giăng cho chúng ta biết ông ở đâu và tại sao ông ở đấy. Hãy chú ý những gì Giăng nói trong câu nầy về “sự chịu khổ”. Oâng cho thấy rằng ông ở trên đảo Bátmô vì Lời của Đức Chúa Trời và lời chứng của Chúa Jesus. Sự kiện ông tự nhận mình là một anh em và một người bạn trong sự chịu khổ chứng tỏ rằng ông bị đày đến đảo nầy vì cớ đức tin của ông.
    Truyền thống cho chúng ta biết rằng Hoàng đế Lamã Domitian đã cố sức nấu Giăng trong chảo dầu sôi, nhưng không được. Vì thế, Hoàng đế đã đày Giăng ra hòn đảo dành cho tù nhân là Bát mô. Hơn nữa, cách thúc trong đó Giăng thảo luận về sự chịu khổ chứng tỏ rằng đây là kết quả tự nhiên hay thông thường của người chứng trung thành của Chúa Jesus. Những đoạn Kinh Thánh sau đây cho thấy sự chịu khổ vì chính nghĩa của Christ là bình thường và đang chờ đợi (
    HeDt 10:32-39; 11:35-38; Gia Gc 5:10; IPhi 1Pr 1:6-7; 4:12-19; 5:8-10).
    Dù bị cô lập ở trên đảo, nhưng Giăng công bố rằng ông ở trong linh (bản văn Hy lạp nói rõ ràng ông “ trở nên ở trong Linh” (became in the Spirit) vào ngày của Chúa (câu 10). Mặc dù thân thể ông biệt lập khỏi đám đông, nhưng linh của ông được tự do để bay vào sự hiện diện cuả Đức Chúa Trời. Hơn nữa, điều nầy xảy ra vào ngày của Chúa.
    Cụm từ “ngày của Chúa” có nghĩa gì trong sách Khải huyền? Vài người tin rằng Giăng được đưa vào tương lai và kinh nghiệm ngày của Đức Giêhôva vốn được mang tên gọi khác của Cơn Đại Nạn. Tuy nhiên cụm từ Hy lạp được dịch là Ngày của Chúa (the Day of the Lord) lại khác với cụm từ dịch ở đây là ngày của Chúa (the Lord’s Day). Cụm từ Hy lạp sau chỉ về ngày thứ nhất của tuần lễ, Chúa nhật. Như vậy, câu nói của Giăng, “Nhằm ngày của Chúa tôi ở trong Linh” chứng tỏ rằng vào ngày Chúa nhật Giăng “cảm Thánh Linh”.
    22. “Ngày của Chúa” chỉ về gì trong
    KhKh 1:10?
    MỤC TIÊU 10: Giải thích ngắn gọn về sự mô tả Chúa Jesus khi Giăng nhìn thấy Ngài và sứ điệp mà người nhìn thấy được truyền phải ghi lại.
    TIẾNG NÓI, LỆNH TRUYỀN VÀ SỰ HIỆN THẤY.
    1:10-16.
    Khi Giăng ở trong Linh (cảm Thánh Linh), ông nghe một tiếng nói lớn như tiếng kèn ở phía sau ông (câu 10). Hiển nhiên kinh nghiệm nầy quấy động tác giả rất mạnh. tiếng nói truyền lệnh cho người trông thấy phải viết vào sách điều mình đã thấy và gởi cho bảy Hội Thánh (câu 11). Bảy Hội Thánh nầy là những Hội Thánh ở trong bảy thành phố của tỉnh Asi thuộc La mã, mà chúng ta sẽ thảo luậïn hoàn chỉnh hơn ở hai bài học tiếp theo.
    Giăng quay lại nhìn xem ai đang nói với ông và ông đã thấy “bảy chơn đèn bằng vàng” (câu 12). Trong số những chơn đèn ấy có một người nói tiếng mà ông đã nghe. Tại đây, Giăng đã có sự hiện thấy về Chúa Jesus, Đấng đã ra lệnh cho ông phải viết (câu 13-16). Bản liệt kê dưới đây liên quan đến những điều và biểu tượng về những gì Giăng đã thấy trong Khải tượng về áo và thân thể thấy được của Chúa Jesus.
    1. Aùo dài: Sự cao trọng của Chúa Jesus là tiên tri, thầy tế lễ nhà vua.
    2. Đầu và tóc: Sự trong sạch, sự khôn ngoan và sự trường cửu của Chúa Jesus.
    3. Mắt: Sự toàn tri và thấu suốt của Chúa Jesus.
    4. Chơn: Sự phán xét của Chúa Jesus trên những người khác.
    5. Tiếng nói: Quyền năng và sức lực của Chúa Jesus.
    6. Tay hữu: Sự quan tâm, sự giúp đỡ và sự điều khiển của Chúa Jesus.
    7. Miệng: Lời nói có uy quyền trọn vẹn của Chúa Jesus.
    8. Mặt: Sự vinh hiển, sự cao trọng và sự thánh khiết của Chúa Jesus.
    Sự hiện thấy mà Giăng được thấy rất sinh động, oai nghiêm và áp đảo tinh thần. Được nhìn thấy Đấng Christ vinh hiển ở bảy chơn đèn bằng vàng, Cứu Chúa mà ông đã thông công gần gũi trong ba năm rưỡi trong thời gian Ngài thi hành chức vụ, đã làm cho vị sứ đồ ngã xuống bất tỉnh. Những tín hữu trong mọi thời đại đã được động viên và cảm giục bằng một khải tượng tươi mới về Cứu Chúa của mình.
    23. Trong sổ tay của bạn hãy mô tả ngắn gọn về Chúa Jesus theo điều Giăng đã nhìn thấy trong sự hiện thấy và về lệnh truyền Chúa Jesus bảo ông.
    MỤC TIÊU 11: Giải thích chữ Parađi (paradise) và thảo luận vị trí của chỗ nó.
    SỰ CHẾT VÀ ÂM PHỦ
    KhKh 1:17-18.
    Phản ứng của Giăng đói với sự hiện thấy lạ lùng nầy có thể đoán được. Trước đó vài thế kỷ tiên tri Đaniên cũng có phản ứng tương tự khi ông nhìn thấy một khải tượng tương tự (
    DaDn 10:4-12). Chúa Jesus đặt tay trên Giăng và nói, “Đừng sợ” (KhKh 1:17). Sự đụng chạm của Chúa Jesus cất đi sự sợ hãi và đem lại sự tin quyết. Chúng tôi ước mong rằng mỗi người học loạt bài học nầy, thực tế về uy quyền của Chúa Jesus sẽ nắm chặt cuộc đời của người ấy để người ấy biết rằng Cơ Đốc Nhân chẳng có điều gì sợ hãi cả. Hãy chú ý đến điều Chúa Jesus đã phán với Giăng trong KhKh 1:18, “Ta là Đấng sống, ta đã chết, nầy ta sống cho đến đời đời vô cùng, cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ”. Vì chữ “Chìa khóa” chỉ về uy quyền, nên cách xử dụng chữ ấy ở đây chỉ về quyền năng của Chúa Jesus trên sự chết.
    Khi con người trong Cựu Ước qua đời, linh của họ đi xuống dưới đất, đến sheol (Aâm phủ), một chữ Hy bá lai. Chữ tương đương của tiếng Hy lạp trong Tân Ước là Hades. Chúa Jesus đã mô tả Hades của Cựu Ước trong
    LuLc 16:18-31. Đoạn nầy chứng tỏ rằng Hades có hai phần. Mộtt phần là nơi hình phạt, phần khác được gọi là Paradise (lạc viên), là nơi an ủi, 23:42-43Mat Mt 12:39-40 gợi ý rằng Hades ở dưới sâu trong lòng đất (down in the earth) vào thời điểm nầy. Tuy nhiên, trong IICo 2Cr 12:1-6 sứ đồ cho thấy rằng bây giờ Paradise ở trên (above). Trong Mat Mt 16:18 , Chúa Jesus chứng tỏ rằng Ngài có uy quyền trên Hades (Aâm phủ). Như vậy, Hades nghĩa là địa ngục (hell) không thể đắc thắng người ở trong Đấng Christ.
    Chúa Jesus Christ có uy quyền trên sự chết và Aâm phủ (Hades, hell). Khi Cơ Đốc Nhân rời khỏi cõi đời nầy, người ấy không đi vào Hades như những người tin kính qua đời trong thời Cựu Ước. Phần Paradise trước kia thuộc về Hades bây giờ trống không.
    IICo 2Cr 5:6-18 (đặt biệt câu 8) và Phi Pl 1:18-26 cho thấy khi Cơ Đốc Nhân qua đời người ấy đi trực tiếp đến với Chúa. Chúng thảo luận những gì xảy ra cho những người ở phía hình phạt của Hades phần sau của loạt bài nầy.
    24. Dựa vào phần Kinh Thánh được trích dẫn trong phần nầy, hãy giải thích trong sổ tay bạn từ ngữ Paradise (vườn phước lạc) và thảo luận vị trí của nó trong thời Cựu Ước và vị trí của nó bây giờ.
    MỤC TIÊU 12: Mô tả ý nghĩa tượng trưng của những ngôi sao và những chơn đèn trong Khải huyền 1.
    NHỮNG NGÔI SAO VÀ CÁC CHƠN ĐÈN
    KhKh 1:19-20.
    Trong phần cuối của bài học nầy, chúng ta sẽ nhấn mạnh về hai câu chót của Khải huyền đoạn 1. Chúng ta đã dùng nội dung của câu 19 như là những điểm chính ở trong dàn ý của sách Khải huyền. Câu 20 nói về bảy ngôi sao và bảy chơn đèn trong cách rõ hơn. Bảy ngôi sao tượng trưng cho những thiên sứ của bảy Hội Thánh được đề cập trong
    1:11. Bảy chơn đèn tượng trưng cho bảy Hội Thánh.
    Ý nghĩa của những chơn đèn và Con Người ở giữa đó là gì ? Rõ ràng chức năng của những chơn đèn là chiếu sáng và soi sáng. Nói rỏ hơn, ý nghĩa của điều này là Hội Thánh phải có nhiệm vụ chiếu ra sự sáng của Phúa âm cho thế gian. Hơn nữa, những thiên sứ ở đây là những sứ giả của Hội Thánh. Vậy những ai chịu trách nhiệm về Hội Thánh được nhìn thấy là đang chiếm một vị trí đặt biệt trong sự quan tâm của Chúa.
    25. Những ngôi sao và những chơn đèn của
    1:20 tượng trưng cho
    a. Sự vinh hiển và quyền năng của Đức Chúa Trời.
    b. Bảy Hội Thánh và bảy thiên sứ hay những sứ giả của Hội Thánh.
    c. Vẻ đẹp và sự trong sạch của Hội Thánh.
    26. Trong sổ tay của bạn, hãy đưa ra ý nghĩa tượng trưng của chơn đèn và ngôi sao được nêu hình ảnh ở trong những câu 12, 13, và 16.
    Cầu xin Đức Chúa Trời giúp chúng ta luôn luôn nhìn thấy phần của mình trong sự thực hiện mục đích của Hội Thánh. Nguyện Chúa cho chúng ta luôn luôn nhớ rằng vương quốc, quyền năng và vinh hiển thuộc về Chúa Jesus cho đến đời đời.
    Bài Tập Trắc Nghiệm
    CÂU HỎI LỰA CHỌN. Có một câu trả lời tốt nhất cho mỗi câu hỏi. Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời đó.
    1. Mục đích đầu tiên của sự công bố lẽ thật trong Khải huyền là để
    a. Nhắc nhở những thiên sứ về lẽ thật nầy.
    b. Thách thức những qủi sứ về lẽ thật nầy.
    c. Giải thích lẽ thật nầy cho những người không tin kính.
    d. Bày tỏ lẽ thật nầy cho những đầy tớ của Đức Chúa Trời.
    2. Chữ nào trong những chữ dưới đây KHÔNG PHẢI là chữ tiếng Anh được dịch từ cụm từ Hy lạp en tachei.
    a. Soon (Kíp).
    b. See (trông thấy).
    c. Quickly (một cách nhanh chóng mau lẹ).
    d. Suddenly (thình lình, lập tức).
    e. Imminent (Sắp xảy ra).
    3. Hai loại sứ giả mả chữ thiên sứ (angels) ám chỉ trong Kinh Thánh là:
    a. Những sứ giả thuộc linh và những sứ giả xác thịt.
    b. Những sứ giả có thể lệ thuộc và những sứ giả không thể lệ thuộc.
    c. Những sứ giả loài người và những sứ giả thiên thượng.
    d. Những sứ giả chính thức và những sứ giả không chính thức.
    4. Bảy linh được đề cập trong
    1:4 tượng trưng cho.
    a. Sự toàn vẹn của công tác của Thánh Linh.
    b.Sự phức tạp của công tác của Thánh Linh.
    c. Sự đơn giản của công tác của Thánh Linh.
    d. Quyền năng của công tác của Thánh Linh.
    5. Những chơn đèn bằng vàng là những biểu tượng thích hợp của Hội Thánh vì.
    a. Những điều ấy nói lên sự qúi giá của cơ chế tổ chức của con người.
    b. Giá trị của những điều ấy và chức năng làm đồ trang trí.
    c. Mục đích của chúng là soi sáng và bày tỏ.
    d. Những điều đó chứng tỏ nhu cầu trang trí lộng lẫy và đắc giá trong nhà thờ.
    6. Sự hiện diện của Chúa Jesus ở giữa những chơn đèn ám chỉ rằng mục đích của Hội Thánh là bày tỏ Ngài cho
    a. Những thiên sứ thiên thượng.
    b. Thánh Linh.
    c. Satan.
    d. Con người.
    CÂU HỎI ĐÚNG SAI. Viết chữ Đ, trước câu Đúng, S trước câu Sai.
    ....7. “Phước cho người chết là chết trong Chúa” là phần trích dẫn của một trong những những phước lành của sách Khải huyền.
    ....8. Sự mô tả ba mặc về Chúa Jesus trong sách
    1:5 mô tả Ngài là Nguyên Thủ của các vua trên đất.
    ....9. Sự kiện Đức Chúa Cha tạo dựng nên muôn vật qua Chúa Jesus Christ là lý do để gọi Chúa Jesus là Anpha.
    ....10. Bài học nầy chỉ cho thấy cụm từ “Ngày của Chúa” (the Lord’s Day) trong
    1:10 chỉ về Cơn Đại Nạn.
    ....11. Những thiên sứ hay những sứ giả của bảy Hội Thánh được nhận diện rõ ràng là những người lãnh đạo của những Hội Thánh nầy.
    ....12. Chúng ta tìm thấy sự ám chỉ trong Kinh Thánh rằng trong thời Cựu Ước, Paradise (vườn phước lạc) ở sâu trong lòng đất.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
    1. Đức Chúa Trời.
    2. Để bày tỏ lẽ thật nầy cho những tơi tớ của Đức Chúa Trời.
    3. d) Họ không có sự khôn ngoan cần thiết mà Đức ban cho.
    4. Điều kíp phải xảy ra.
    5. “Kíp”, một cách nhanh chóng”, “thình lình” , và “sắp xảy ra”.
    6. Bắng sự chứng tỏ rằng Chúa Jesus được bày tỏ cho Giăng do một thiên sứ.
    7. “Phước cho kẻ giặt áo mình, hầu cho được phép đến nơi cây sự sống” (
    22:14). (Hãy học thuộc lòng để sẵn sàng trích dẫn).
    8. b) Truyền đạt sự thật qua những dấu hiệu và biểu tượng.
    9. b) Lời của Đức Chúa Trời là lời chứng của Jesus Christ.
    10. Vì điều đó chỉ ra và mô tả phước hạnh đặt biệt trên con người.
    11. Những phần trích dẫn từ bản NIV:
    1) “Phước cho kẻ đọc cùng kẻ nghe lời tiên tri nầy, và giữ những điều đã chép trong đó, vì thì giờ đã gần rồi (
    1:3).
    2) “Phước thay cho kẻ chết là chết trong Chúa... họ sẽ nghỉ ngơi” (
    14:13).
    3) “Phước cho kẻ thức canh và giữ áo xốâng mình , kẻo e người đi lỏa lồ và người ta thấy sự xấu hổ ngưởi chăng!” (
    16:15).
    4) “Phước cho những kẻ được mời đến dự tiệc cưới Chiên con” (
    19:9).
    5) “Phước và thánh thay cho kẻ có phần trong sự sống lại thứ nhất. Sự chết thứ nhì không có quyền bính gì trên họ(
    20:6).
    6). “Phước cho kẻ giữ lời tiên tri trong sách nầy”.
    12. Vì ân điển của Đức Chúa Trời trong đời sống của người ấy là nền tảng cho sự bình an thật.
    13. c) Những người đọc, nghe và áp dụng sứ điệp của lời tiên tri nầy.
    14. Sự khôn ngoan, sự hiểu biết, sự khuyên bảo, quyền năng (sức mạnh), tri thức sự kính sợ , và sự đẹp lòng (thần khôn ngoan và thông sáng, thần mưu toan và mạnh sức, thần hiểu biết và kính sợ Đức Giêhôva, Ngài lấy sự kính sợ Đức giêhôva làm vui).
    15. Sự trọn vẹn của chức vụ đó.
    16. Để nhận lãnh quyền năng và làm những chứng nhân cho Đấng Christ.
    17. Chỉ về cách thức mà Chúa Jesus hiện hữu từ ban đầu.
    18. b) Chúng ta trở nên những công dân của vương quốc của Ngài và những thầy tế lễ để phục vụ Ngài.
    19. 1) Chứng nhân thành tín .
    2) Đấng sanh đầu nhất từ trong kẻ chết.
    3) Nguyê thủ của các vua trên đất.
    20. Bạn nên khoanh tròn a), c), và d.
    21. Chúa Jesus được gọi là Anpha và Oâmêga vì đây là mẫu tự đầu tiên và cuối cùng của bản mẫu tự Hy lạp, chứng tỏ Ngài là Đấng qua đó Đức Chúa Cha tạo dựng muôn vật và là Đấng qua đó Đức Chúa Cha sẽ đem mọi sự đến kết thúc (Bạn có thể trình thêm những điều đúng đắn khác).
    22. Cụm từ nầy chỉ về nầy chỉ về ngày thứ nhất của tuần lễ , tức Chúa nhật. Giăng ở trong (cảm) Thánh Linh vào ngày nầy.
    23. Giăng đã nhìn thấy Chúa Jesus trong sự vinh hiển của Ngài: sáng chói, đáng kính sợ, và oai nghiêm. Sự cao trọng, tinh khiết, quyền năng và sự thương xót của Con Người đang làm con người run sợ. Sứ điệp Giăng nhận được là ghi lại những gì ông đã thấy vào cuốn sách và gởi cho bảy Hội Thánh.
    24.Paradise (Lạc viên) chỉ về nơi an ủi dành cho những thánh đồ trong thời kỳ Cựu Ước. Lúc ấy nó ở trong quả đất, nhưng bây giờ nó được đem lên khỏi đất.
    25. b) Bảy Hội Thánh và những thiên sứ hay những sứ giả của Hội Thánh.
    26. Mục đích của chơn đèn là soi sáng, chiếu ra. Mục đích của Hội Thánh là chiếu ra, bày tỏ Chúa Jesus cho mọi người. Những câu tiếp theo nầy ám chỉ mục đích đó bằng sự giới thiệu Chúa Jesus ở giữa những chơn đèn (nghĩa là Hội Thánh). Ngài ở giữa họ và Ngài nắm giữ những thiên sứ hay những sứ giả trong tay phải của Ngài.

    Các Thơ Tín Gởi Cho Êphêsô, Simiệcnơ và Bẹtgăm
    Chúng ta sẽ hoàn tất việc nghiên cứu về điểm thứ nhất của dàn ý được đưa ra ở Khải huyền đoạn 1. Điểm nầy liên quan đến “những gì ông ta thấy” trong Khải huyền đoạn 1: Chúa vinh hiển ở giữa những chơn đèn. Chân dung nầy biểu lộ vài sự kiện có ý nghĩa: 1) Vai trò của Hội Thánh là chiếu sáng, 2) Chúa ở gần Hội Thánh, và 3) Những sứ giả của Hội Thánh ở trong ở trong tay của Chúa. Sự hiện diện oai nghi của Chúa đã có tác dụng đặt biệt trên tác giả tiên tri, và một khải tượng tương tự của Chúa sẽ thay đổi đời sống của chúng ta. Bây giờ chúng ta sang điểm thứ hai của dàn ý: “Điều Hiện Có”.
    Trong hai bài học tiếp theo sự nhấn mạnh sẽ chuyển sang bảy Hội Thánh. Chúa của Hội Thánh lần lượt gởi cho từng Hội Thánh. Trong Khải huyền đoạn 2 và 3 Ngài nói cách đặt biệt về những tình trạng đang hiện hữu trong mỗi Hội Thánh. Không điều gì khuất khỏi mắt Ngài, vì Đấng Toàn Tri đang bước đi giữa họ. Ngài chỉ ra những yếu tố đáng khen tặng và tuyên dương; Ngài cũng nhìn thấy những khía cạnh không xứng đáng của Hội Thánh Ngài mà Ngài nghiêm khác khiển trách. Trong bảy Hội Thánh nầy chúng ta thấy những phẩm chất vốn nêu được đặc điểm của Hội Thánh suốt lịch sử.
    Chúa Jesus đứng giữa hai đoạn nầy như là Vị Thẩm Phán của Hội Thánh. Ý kiến của Ngài có giá trị nhiều gấp bội ý kiến của những người khác. Ngài nghĩ gì về chúng ta khi Ngài nhìn thấu lòng chúng ta và những hoạt động của chúng ta? Hãy để lời của Chúa phán vào lòng chúng ta và hãy chú ý đến những gì Ngài chấp nhận và những gì Ngài không chấp nhận. Hãy ghi nhớ lời hứa của Ngài dành cho người đắc thắng và lời cảnh cáo của Ngài đối với những ai không đắc thắng.
    Mục Đích Tam Diện của Bảy Bức Thơ.
    Dàn Ý của Bảy Bức Thơ.
    Lịch Sử Hội Thánh Được Trình Bày Trong Bảy Bức Thơ.
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Êphêsô.
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Simiệcnơ
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Bẹtgăm.
    Học xong bài nầy bạn có thể:
    • Trình bày những mục đích mà những bức thơ nầy được viết cho bảy Hội Thánh, những điều bày tỏ về những Hội Thánh nầy, và mối liên hệ tượng trưng của mỗi Hội Thánh đối với toàn thể thời kỳ Hội Thánh.
    • Nhận diện những sự kiện có ý nghĩa về mỗi bức thơ đối với bảy Hội Thánh, kể cả bối cảnh lịch sử của mỗi bức thơ và những chi tiết của sứ điệp dành cho Hội Thánh.
    • Vâng theo cách trọn vẹn hơn những lời khuyên của những sứ điệp của Chúa Jesus cho bảy Hội Thánh, và như vậy, hưởng thụ được một đời sống Cơ Đốc sung mãn và sự phục vụ Chúa có hiệu quả hơn.
    1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình đã cho trong Bài 1.
    2. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ những chữ nào bạn chưa hiểu nghĩa.
    3. Để áp dụng thực tế bài học của mình, bạn có thể tóm tắt mỗi bức thơ bằng cách làm dàn ý bài giảng hay dàn ý của bức thơ của Giăng gởi cho từng Hội Thánh để Hội Thánh bạn nghiên cứu trong từng phần đó.
    4. Làm bài tập trắc nghiệm.
    Aïttêmít (Artemis).
    Chính thống (orthodox).
    Cống nước (aqueducts).
    Cổ xưa (Pristine).
    Mêsi (Messiah).
    MỤC ĐÍCH TAM DIỆN CỦA BẢY BỨC THƠ.
    Chúng ta được biết có ba lý do hay mục đích tam diện cho bảy bức thơ. Thứ nhất, bảy Hội Thánh nhận thơ là bảy Hội Thánh có thật trong tỉnh Asi của Lamã. Hơn nữa, những vị trí mà Chúa chúng ta mô tả thực sự xảy ra trong bảy Hội Thánh nầy, và chúng cần được xử lý do Chính Đầu của Hội Thánh. Hãy xem bản đồ ở cuối sách nầy hoặc ở cuốn Kinh Thánh của bạn nếu có (Bản đồ số 9) và tìm tỉnh Asi của Lamã. Rồi sau đó tìm vị trí của bảy thành phố có Hội Thánh được ghi trong Khải huyền 2-3.
    Thứ hai, bảy bức thơ nầy là để động viên, cảnh cáøo và quở trách mọi chi thể của thân thể của Christ. Lời khuyên cho mỗi cá nhân được tìm thấy ở gần hay cuối của mỗi bức thơ: “Ai có tai (He who has an ear chỉ về số ít), hãy nghe đều Thánh Linh phán cùng các Hội Thánh “. Trong những bức thơ nầy Cơ Đốc Nhân có thể có một số điều cần tránh và một số điều làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể tự khảo sát tất cả những điều đó trong ánh sáng của những bức thơ nầy và sự kiện Chúa Jesus đến mau chóng.
    Một số học giả cho rằng hai mục đích trên chỉ là mục đích duy nhất của bảy bức thơ nầy, nhưng nhiều học giả khác lại thấy có hơn hai mục đích. Trong
    1:20 chữ mầu nhiệm được dùng liên hệ với bảy Hội Thánh. Dường như ở đây ám chỉ có điều gí đó sẽ xảy ra. Vì thế, mục đích thứù ba, chúng ta tin rằng toàn thể lịch sử của Hội Thánh từ ngày khai sinh vào ngày lễ Ngũ Tuần của Công Vụ đoạn 2, qua lịch sử cho đến ngày của Đứa Giêhôva (The Day of the Lord) được miêu tả trong những bức thơ gởi đến cho bảy Hội Thánh.
    1. Theo
    1:20, chữ mầu nhiệm chứng tỏ.
    a. Sự thiếu khả năng của người bình thường trong việc giải thích lẽ thật thuộc linh.
    b. Còn có nghĩa khác hơn trong nội dung đoạn văn hiểu theo nghĩa đầu tiên.
    c. Phải có nhìn thấu suốt để giải thích những ý nghĩa tượng trưng.
    Hiển nhiên bảy Hội Thánh địa phương có thực nầy được lựa chọn không phải vì chúng ta quan trọng hơn những Hội Khác trong khu vực đó, nhưng vì hoàn cảnh tồn tại trong những Hội Thánh nầy có thể mang đặc điểm Hội Thánh ở những giai đoạn khác nhau qua suốt thời kỳ hiện hữu của Hội Thánh.
    2. Theo biểu đồ về những biểu tượng ở Bài 4, sự kiện con số của những Hội Thánh mà Giăng gởi thơ là số bảy chứng tỏ.
    a. Sự hoàn tất về chính trị.
    b. Sự trọn vẹn thiên thượng .
    c. Sự hoàn thành cuối cùng.
    d. Không điều nào đúng cả.
    3. Trong sổ tay của bạn hãy viết bản tóm tắt mục đích tam diện của những bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong Khải huyền đoạn 2 và 3.
    DÀN Ý CỦA BẢY BỨC THƠ.
    Mỗi bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh ở Khải huyền đoạn 2 và 3 đều chứa đựng những phần sau đây , trừ những điều được ghi nhận bên cạnh dàn ý ở dưới. Đôi khi thứ tự của những phần nầy hơi khác ở từng bức thơ.
    I. Lời chào thiên sứ (người lãnh đạo) của mỗi Hội Thánh.
    II. Những đặc điểm của Chúa Jesus, Nguồn gốc của những bức thơ.
    III. Điều Chúa Jesus biết về mỗi Hội Thánh.
    IV. Điều Chúa Jesus chấp nhận trong mỗi Hội Thánh (ngoại trừ Laođixê).
    V. Điều Chúa Jesus không chấp nhận trong mỗi Hội Thánh (trừ Simiệcnơ và Philadenphi).
    VI. Những lời khuyên đặc biệt hay lời hứa cho Hội Thánh.
    VII. Lời khuyên bảo
    cho mỗi Hội Thánh phải nghe.
    VIII. Lời hứa cho những người đắc thắng trong mỗi Hội Thánh.
    4. Nghiên cứu những bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong Khải huyền đoạn 2 và 3. Rồi hãy phân tích cẩn thận những bức thơ ấy theo dàn ý căn bản ở trên. Viết thuộc lòng vào sổ tay bạn những phần chính của những điều mà bức thơ bày tỏ về nguồn gốc và đề tài của những bức thơ.
    LỊCH SỬ HỘI THÁNH ĐƯỢC TRÌNH BÀY TRONG BẢY BỨC THƠ.
    Một số những nhà giải thích lời tiên tri của Kinh Thánh, trong đó có tác giả của bạn, tin rằng mỗi bức thơ trong bảy bức thơ trình bày những đặc tính có liên quan đến một thời kỳ nào đó trong lịch sử Hội Thánh. Tuy nhiên, những ai nhìn thấy toàn bộ cảnh sắc của thời đại Hội Thánh phản ảnh trong những bức thơ nầy, chấp nhận có hơi khác nhau về thời điểm cho những thời kỳ khác nhau. Những thời điểm (dates) chúng tôi đưa ra chỉ là phỏng đoán và trình bày dàn ý chung về lịch sử của Hội Thánh, chúng tôi tin rằng những đặc tính của bốn Hội Thánh cuối cùng sẽ còn tồn tại cho đến thời điểm được cất lên.
    Hội Thánh tại Eâphêsô đối với chúng ta dường như tiêu biểu cho tình trạng sơ khai của Hội Thánh sứ đồ từ lúc mới khai sinh cho đến cuối thế kỷ thứ nhất. Tuy nhiên, gần cuối thế kỷ thứ nhất, có một sự thay đổi đáng chú ý xảy ra trong những hoàn cảnh văn hóa của Hội Thánh dường như bắt đầu cho thời kỳ thứ hai. Thế giới thù nghịch bắt đầu một loạt bách hại vốn kéo dài trên hai trăm năm. Một lần nữa, một sự thay đổi đáng chú ý xảy ra trong những hoàn cảnh bên ngoài của Hội Thánh và đã ảnh hưởng đến cuộc sống bên trong của Hội Thánh. Chúng ta kết hợp điều nầy với thời kỳ thứ ba của Hội Thánh. Những loại thay đổi khác nhau nầy trong thời kỳ khác nhau đối với chúng ta dường như chứng minh đặc điểm của mỗi Hội Thánh với một thời kỳ tương ứng của lịch sử của Hội Thánh.
    5. Theo phần thảo luận của chúng ta, những sứ điệp cho bảy Hội Thánh tiêu biểu những đặc tính trong bảy Hội Thánh địa phương mà dường như tương ứng với
    a. Những điều kiện mang đặc tính Hội Thánh trong một thời kỳ nào đó, cũng như suốt lịch sử của Hội Thánh.
    b. Chỉ những tình trạng của Hội Thánh ở thế kỷ thứ nhất mà thôi.
    c. Những thời kỳ và những biến cố đặc biệt trong lịch sử vốn được xác định rõ ràng.
    Chúng ta sẽ nghiên cứu những bức thơ gởi cho bảy Hội Thánh trong bài học nầy và Bài 7 dựa vào những thời kỳ tương ứng của lịch sử Hội Thánh mà mỗi Hội Thánh tiêu biểu. Để thực tập và nắm vững bài học, sau khi học mỗi Hội Thánh, chúng tôi động viên bạn hãy dùng nội dung học được trong những phần câu hỏi và trả lời để làm dàn ý cho bài giảng hay lớp học Kinh Thánh.
    Thơ Gởi Cho Hội Thánh Êphêsô.
    2:1-7.
    Eâphêsô là một thành phố dẫn đầu ở tỉnh Asi. Nó có một hải cảng rộng và nằm trong một khu vực nông nghiệp trù phú. Hơn nữa, thành nầy rất giàu có, đền thờ Aïttênít (Artemis) đứng sừng sững giữa thành phố. Nó là một trong những bảy kỳ quan của thế giới cổ. Người Eâphêsô rất kính trọng thần Aïttêmít, nữõ thần của Hội sung túc có nhiều nương long (the many- thánh đó breasted goddess of fertility), và họ tin rằng tượng nầy “từ trời sa xuống” (
    Cong Cv 19:35). Họ hãnh diện rằng thành phố của họ được gọi là thành phố Canh Giữ Đền Thờ của Aïttêmít (Đi anh lớn) (Temple Warden of Artemis). Nhiều thầy tế lễ được dâng hiến cho Aïttêmít, và có hơn 3500 nữ thầy tế lễ tận hiến để phục vụ nữ thần. Chúng ta biết rằng thần tượng luôn luôn phát sinh sự vô luân, vì thế, chúng ta không ngạc nhiên khi biết rằng thành phố đầy dẫy sự vô luân và trụy lạc, cũng như tôn giáo, triết học và văn hóa.
    6. Hãy đọc bối cảnh lịch sử trong
    18:18; 20:38 trong đó phúc âm được giới thiệu cách có quyền năng tại Ephêsô. Hãy chú ý đặc biệt những tên người được nêu lên, thời gian Phaolô lưu lại ở Eâphêsô, và những biến cố chính đã xảy ra. Sau đó trả lời vào sổ tay bạn những câu hỏi sau đây:
    a. Ai giới thiệu phúc âm cho Êphêsô?
    b. Người Eâphêsô đáp ứng với Phúc âm như thế nào?
    c. Phao lô đã phục vụ tại Eâphêsô bao lâu?
    d. Ai giúp sứ đồ thiết lập công việc Chúa tại Êphêsô?
    e. Sự đáp ứng công khai chủ yếu nào đối với sự rao giảng Phúc âm đã dẫn đến sự náo loạn?
    Những đặc tính của Chúa Jesus vốn được ngụ ý cách tượng trưng trong
    KhKh 2:1 chứng tỏ rằng Ngài đang tích cực trong Hội Thánh tại Eâphêsô. Ngài bước đi ở giữa dân sự Ngài tại đấy và Ngài quen với những hoạt động và sự phục vụ của họ. Đây là bức tranh xuất sắc của Hội Thánh đầu tiên, là nơi người ta nhìn thấy sự hiện diện của Chúa liên tục trong quyền năng mạnh mẽ để cứu vớt linh hồn và thi hành nhiều phép lạ khác. Chúa của chúng ta vẫn còn khao khát hiện diện trong quyền năng như thế trong sự phục vụ của Hội Thánh ngày nay. Biết rằng Ngài ở đó là một điều, còn để cho Ngài bày tỏ chính mình Ngài trong những sự phục vụ của Hội Thánh là điều khác. Khuôn mẫu của chúng ta phải khít khao với chương trình của Ngài chứ - chứ không đòi hỏi Ngài phải khít khao với chương trình của chúng ta. Ngài biết cách chính xác những gì cần phải thực hiện và thực hiện như thế nào? Khi chúng ta học tập lệ thuộc vào sự dẫn dắt của Chúa, Ngài sẽ tiếp tục xây dựng Hội Thánh của Ngài qua chúng ta (xem Mat Mt 16:18).
    7. Trong
    KhKh 1:20, hãy đọc lại định nghĩa về những ngôi sao và những chơn đèn. Trong sổ tay của bạn, hãy giải thích ý nghĩa của hai đặc tính của Chúa Jesus được đề cập cách tượng trưng trong 2:1.
    Trong mỗi bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong
    2:1-3:22. Chúa Jesus cho biết đôi điều Ngài biết về Hội Thánh. Trong năm bức thơ, Ngài phán, “Ta biết công việc ngươi”. Ngài cũng biết những hoạt động của chúng ta, và những hoạt động đó nữa.
    Trong
    2:2, 6, Chúa Jesus chấp nhận năm điều trong Hội Thánh tại Eâphêsô. Câu “Ta Biết Công Việc Ngươi” chứng tỏ Hội Thánh Eâphêsô là một Hội Thánh hoạt động. Mặc dù “những công việc lành” chẳng cứu được ai, nhưng những điều đó là chứng cớ của sự sống động thuộc linh của người ấy. Chúng ta phải nhớ kỷ rằng một người được cứu không do đức tin và việc làm (faith and woeks) nhưng do đức tin xuất phát hành động (faith that works). “Sự Lao Khổ” được chọn ra như là một đức tính đáng khen, đôi khi có nghĩa là làm việc đến mức độ kiệt sức. “Sự Nhẫn Nại” là một đức tính khác của Hội Thánh, nó có nghĩa là quyết định cứ tiến bước bất chấp sự chống đối.
    Người Eâphêsô tin rằng họ là nhóm người nhạy cảm. Họ đưa ra một điều tiêu chuẩn về sự ngay thẳng, và họ cẩn thận cân nhắc mọi sự dạy dỗ với tiêu chuẩn của Kinh Thánh. Họ là một nhóm người chính thống và không dung thứ cho những sự dạy dỗ giả dối. Mặc dù, có thể sự chính thống ấy đã trở thành ưu tiên cao nhất của họ, nhưng dần dần tình yêu của họ càng tẻ lạnh (câu 4). Nhu cầu của họ không phải là họ cần sự nhạy bén hơn để phân biệt hay giữ giáo lý thuần chánh, trái lại, họ cần phải bày tỏ tình yêu trong mọi mối quan hệ của họ- ngay cả đối với những người có sự dạy dỗ trái với Lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không yêu những gì tội nhân làm, mà Ngài yêu con người tội nhân. Cũng vậy, chúng ta phải yêu những con người không biết Chúa Jesus Christ và phải hết sức mình loan báo sứ điệp Phúc âm của cho họ. Trong lúc đó, Cơ Dốc Nhân phải thử nghiệm những người công bố rằng mình được Đức Chúa Trời sai đến. Lời của Đức Chúa Trời là tiêu chuẩn để làm những cuộc thử nghiệm nầy. Chúng ta phải biết chắc rằng người được Đức Chúa Trời sai đến thì chẳng bao giờ có sứ điệp trái với Lời của Đức Chúa Trời (
    IICo 2Cr 4:5; 10:17; 11:4; GaGl 1:6-10; IGi1Ga 2:18-27). Tín hữu Êphêsô đã làm điều đúng khi cân nhắc giáo lý của những người khác theo tiêu chuẩn của Kinh Thánh, nhưng họ không đúng khi loại bỏ tình yêu của mình trong tiến trình nầy.
    Những tín hữu Êphêsô cũng được khen về thái độ của họ đối với những người thuộc đảng Nicôla, và ghét công việc của họ nữa. Có hai cách giải thích về chữ Nicôla, (Nicolatians). Trước hết, chữ nầy xuất phát từ hai chữ Hy lạp có nghĩa là “những người chinh phục” (people conquerors). Những chữ nầy có thể mang ý nghĩa đầu tiên là những thầy tế lễ và những mục sư được nâng cao lên một địa vị đặc biệt hơn những Cơ Đốc Nhân khác. Chúng ta có thể nói rằng điều nầy tiêu biểu cho sự khởi đầu của cơ chế tổ chức của Hội Thánh trong đó có sự phân biệt giữa hàng giáo phẩm và giáo dân. Chắc chắn có một uy quyền liên quan đến sự phục vụ, nhưng uy quyền được mô tả trong
    IPhi 1Pr 5:1-4 có liên quan đến sự khiêm tốn và sự phục vụ. Thứ hai, một số người cho rằng tên Nicôla liên quan đến một nhóm người công bố mình là Cơ Đốc Nhân nhưng lại phạm đủ mọi tội về vô luân và đồi trụy. Ignatius, một môn đệ của sứ đồ Giăng ám chỉ những người nầy là “những người Nicôla bất khiết... những người yêu mến lạc thú... những kẻ hủy hoại xác thịt mình”. Chúng ta không biết chính xác giáo lý của họ là gì, nhưng chúng ta biết rằng Chúa ghét những hành động của họ và Ngài đã khen Hội Thánh Eâphêsô chống lại họ.
    8. Trình bày vắn tắt năm điều mà Chúa Jesus chấp nhận trong Hội Thánh tại Êphêsô:
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    Mặc dù hầu hết bức thơ có sự khen ngợi Hội Thánh nầy, nhưng những câu 4 và 5 cho chúng ta biết về sự khen ngợi của Chúa về một sắc thái của đời sống và hành vi của Hội Thánh. Ngài cảnh cáo những tín hữu về sự mất tình yêu ban đầu của họ và Ngài cho họ biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ bỏ qua lời cảnh cáo của Ngài. Ở đây, tình yêu được dịch từ chữ Hy lạp agape. Tình yêu nầy được định nghĩa trong
    GiGa 3:16ICo1Cr 13:1-8. Tình yêu agape là tình yêu hoàn toàn từ bỏ bản ngã của mình, không giữ lại chút gì cả mà dâng hết cho Đức Chúa Trời. Hội Thánh Eâphêsô đã từ bỏ yếu tố sống động của mối quan hệ nầy. Tình yêu của tín hữu đối với Đức Chúa Trời đã không còn sự tươi mới và sống động, vì thế, Chúa của Hội Thánh đã nghiêm nghị cảnh cáo: “Hãy ăn năn”. “Aên năn” có nghĩa đơn giản là thay đổi tâm trí mình và kết quả là thay đổi hướng đi của mình. Nếu những mối quan hệ vẫn còn nguyên vẹn, chúng ta phải nhắm mục đích của mình sống gần gũi với Chúa Jesus như trước kia đã có. Mối quan hệ của chúng ta đòi hỏi tình yêu nhiệt tình đó.
    9. Trong sổ tay của bạn, hãy diễn tả tình trạng ở trong Hội Thánh tại Eâphêsô mà Chúa không chấp nhận, kết quả là Ngài cảnh cáo, và những gì sẽ xảy ra nếu Hội Thánh coi thường sự cảnh cáo của Ngài.
    10. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê một số điều khiên cho tình yêu của một người đối với Chúa Jesus nguội lạnh dần, và một số điều cứ giữ cho tình yêu ấy luôn luôn tươi mới. Nếu bạn đã có gia đình hay sắp lập gia đình, hãy liệt kê một số điều có thể khiên cho tình yêu của bạn đối với người bạn đời lạnh nhạt dần. Cũng ghi ra một số điều đề giữ gìn tình yêu ấy.
    Trong
    KhKh 2:7, người đắc thắng được hứa ban cho một chỗå phước hạnh trong lạc viên của Đức Chúa Trời. Ai là những người đắc thắng? Đối với một số người, những người đắc thắng là những Cơ Đốc Nhân đã đạt đến mức độ trưởng thành trong Christ. Đối với những người khác, những người đắc thắng tiêu biểu cho những ai sống cuộc sống hết sức khắc khổ những người có cuộc sống mang đặc tính bằng “phải làm” và “đừng làm” (do and don’t). Tuy nhiên Kinh Thánh là lời giải thích tốt nhất. Chữ “đắc thắng” (overcome) có nghĩa là “thắng trận” (to win the victory over) (IGi1Ga 5:5KhKh 15:2). Nó ám chỉ về những người thắng được sức ép và sự cám dỗ bên ngoài cũng như những tư tưởng, những động cơ và những thái độ kho6ng phù hợp với Quyền Chủ Tể của Chúa Jesus Christ trong đời sống mình.
    Những đặc tính của Hội Thánh tại Eâphêsô nhiệt thành binh vực giáo lý đứng đắn, chuyên cần, siêng năng phục vụ, và có hành động mạnh mẽ - chứng tỏ thời kỳ của Hội Thánh đầu tiên. Những đặc tính nầy nói chung đều đúng cho Hội Thánh từ lúc bắt đầu cho đến gần cuối của thế kỷ thứ nhất.
    11. Khoanh tròn mẫu tự trước lời hoàn chỉnh ĐÚNG. Hội Thánh tại Eâphêsô mang đặc tính.
    a. Là một phần của thành phố cảng giàu có ở trong một vùng nông nghiệp trù phú vốn được ghi nhận rõ nét về sự thờ hình tượng của nó.
    b. Do sự nhiệt tình thuộc linh đầu tiên và công việc của người truyền bá Phúc âm ở đó.
    c. Hâm hẩm, mệt mỏi trong sự phục vụ, và thỏa hiệp với những kẻ làm điều ác.
    d. Là một thân thể hoàn toàn chống lại những người Nicôla gian ác.
    e. Chính thống về giáo lý và có khả năng nhận thức những sự dạy dỗ giả dối.
    f. Bằng sự kiện là Hội Thánh đó không bao giờ mất lòng kính mến ban đầu.
    Để nắm vững bài, hãy ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời trong phần nầy về Hội Thánh Eâphêsô và sử dụng tài liệu nầy để làm dàn ý bài giảng hay dàn ý học Kinh Thánh theo bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Êphêsô.
    Thơ Gởi Cho Hội Thánh Tại Simiệcnơ
    KhKh 2:8-11.
    Vào thời huy hoàng của mình, Simiệcnơ được mô tả là “thành phố đẹp nhất thế giới” . Simiệcnơ tọa lạc trên vịnh Aegean Sea và được gọi là “mão miện của Ionia, vật trang sức của Asi”. Thành phố giàu có về mặt kiến trúc và văn hóa. Từ chữ Simiệcnơ (Smyrna) phát xuất ra chữõ “murrh” (một dược) một hương liệu để ướp xác chết. Bạn có thể liên tưởng đến việc những người thông thái mang một dược đến cho Chúa Jesus khi Ngài giáng sinh, có lẽ như là lời tiên tri về sự chết của Ngài cho toàn thể nhân loại.
    Thời kỳ nầy gắn liền với sự bách hại trong đế quốc Lamã, sau đó lan rộng và đôi khi sang thẳng từ cuối thế kỷ thứ nhất cho đến khoảng năm 313 S.C. Giăng đang viết một bức thơ cho Hội Thánh bị ngược đãi. Một người nên viết gì cho một Hội Thánh như thế? Thông thường người ấy an ủi và động viên những người đang ở dưới sự thử thách nghiêm trọng như thế cứ giữ vững đức tin và can đảm nhìn xem gương mẫu của những vị anh hùng những người khác đã đắc thắng. Như vậy, trong những câu 8 và 9 vài sự kiện được đưa ra để thúc giục sự tin quyết nầy. Trước hết, Chúa chúng ta “BIẾT” dân sự của Ngài đang ở đâu, họ đang trải qua điều gì, và những hạn chế của sự chịu đựng của họ. Ngài động viên họ neo chặt trong sự trung tín. Thứ hai, Đấng khuyến khích họ chịu khổ chính mình Ngài cũng đã đối đầu với sự thử thách tột độ và đã đắc thắng . Trong Ngài, mỗi tín hữu đều có tiềm năng đắc thắng.
    12. Hai đặc tính của Chúa Jesus được bày tỏ cho Hội Thánh tại Simiệcnơ tại Simiệcnơ ở
    KhKh 2:8 là gì?
    ............................................................................................................................
    ............................................................................................................................
    Không những dân sự của Hội Thánh nầy bị áp bức, nhưng họ còn nghèo nữa. Tuy nhiên, Chúa của họ phán rằng sự nghèo khổ của họ chỉ tạm thời, thực sự họ rất giàu. Sự giàu có tốt nhất và vững chắc lâu bền nhất của họ không phải là vật chất, mà là thuộc linh. Vậy, theo nghĩa nầy, những tín hữu tại Simiệcnơ giàu có. Cơ Đốc Nhân nói chung đều trải qua sự ngược đãi suốt lịch sử của Hội Thánh. Sứ đồ Phao lô chứng tỏ rằng số phận chung của những môn đệ Cơ Đốc chân thật có liên quan đến sự khó khăn (
    Cong Cv 14:22). Thật vậy, hoạn nạn được mô tả là kinh nghiệm riêng của ông (IICo 2Cr 6:4-10, 11:22-23), những điều đó không làm giảm đi điều khao khát của ông trong sự duy trì đức tin và trở nên người đắc thắng thật sự (RoRm 8:18).
    13. Khảo sát phần nhận định của chúng ta trong đoạn trước, câu đầu tiên của
    KhKh 2:9 ám chỉ rõ điều gì về sự chịu khổ của Hội Thánh tại Simiệcnơ? Hãy dùng sổ tay của bạn để trả lời.
    Những tín hữu trong Hội Thánh tại Simiệcnơ phải bị khổ nạn vì những “người nhạo báng” xuất phát từ những người Do Thái giả (câu 9). Những người được gọi là người Do thái nầy có thể là người Do Thái theo dòng dõi và tôn giáo, nhưng họ không phải là người Do thái thật sự, vì họ đã khước từ Jesus là Đấng Mêsi của họ và bắt bớ Hội Thánh của Ngài. Cũng có thể những người Do thái giả nầy là những người Giuđa, là những người đòi buộc mọi Cơ Đốc Nhân phải giữ những quy luật Cựu Ước ( như chịu phép cắt bì, những ngày tháng và không ăn một số thực phẩm). Dù họ là ai, thì họ không phải là dân sự của Đức Chúa Trời. Thực sự, họ được nhận diện là những người “thuộc Satan” và họ đã nhạo báng dân sự của Đức Chúa Trời tại Simiệcnơ.
    14. Giả định những phần tử của cộng đồng tôn giáo ở Simiệcnơ lầm lỗi, thì họ đã làm điều gì cho những tín hữu thật?
    a. Họ nhạo báng những tín hữu thật.
    b. Họ bỏ tù những người trung tín.
    c. Họ ngược đãi những người đó.
    d. Trong vài trường hợp họ giết những tín hữu nầy.
    Bây giờ họ nhận lại lời khuyên đặc biệt và khái niệm chung chung về tương lai sắp đến (câu 10). Trước hếùt, Chúa của Hội Thánh phán “Chớ sợ. Sự xung đột sắp đến, và maqủi sẽ thử thách ngươi có giới hạn. Tù đày và bắt bớ sẽ đến. Hãy sẵn sàng binh vực đức tin ngay cả đến chết!” Thứ hai, Đấng Chiến Thắng - Đấng Chiến Thắng của chúng ta - khuyên? “Phải Trung tín” rồi sau đó là lời hứa phước hạnh Ta Sẽ Ban Cho Ngươi Một Mão Miện Sự Sống”.
    Nhìn rỏ ràng về trận bão tiến đến gần bày tỏ rằng sự thử thách và ngược đãi chỉ giới hạn vào thời gian đặc biệt: “mười ngày”. Một số học giả tin rằng số “mười” trong
    KhKh 2:10 chỉ về tình trạng kéo dài của sự ngược đãi, dù không thường trực. Những học giả khác lại tin rằng “ mười ngày” bị ngược đãi nầy “chỉ về một thời kỳ đầy đủ, hoặc dài hoặc ngắn, mà cuối cùng rồi cũng chấm dứt”. Còn những học giả khác nữa lại tin rằng thơi gian bị ngược đãi mười ngày nầy tiêu biểu cho mười thế kỷ ngược đãi khác nhau mà Hội Thánh chịu đựng dưới thời đế quốc Lamã từ cuối thế kỷ thứ nhất đến năm 313 S.C. Dù mườùi ngày ngược đãi có ý nghĩa gì đi nữa, nhưng chúng ta biết rằng nó chỉ về môt cuộc thử thách xảy đến trước mắt, và những người đắc thắng cách thành công sẽ nhận được “ mão miện sự sống”. Dĩ nhiên, phần thưởng cuối cùng cho những tín hữu trung tín là mão miện vốùn là sự sống sự sống đời đời trong sự hiện diện của Ngài.
    15.Đọc mỗi phần Kinh Thánh sau đây. Bên cạnh mỗi phần Kinh Thánh hãy ghi lại mão miện được đề cập, và từ đó ghi lại mão miện được đề cập, và từ đó ghi ra lý do của việc ban mão miện.
    a.
    ICo1Cr 9:25................................................................
    b.
    ITe1Tx 2:19............................................................
    c.
    IITe 2Tx 4:8.................................................................
    d.
    Gia Gc 1:12.......................................................................
    e.
    IPhi 1Pr 5:4.....................................................................
    16. Khoanh tròn mẫu tự trước những lời nói phản ảnh những sự kiện chính xác liên quan đến Hội Thánh tại Simiệcnơ.
    a. Simiệcnơ là một cộng động nông nghiệp ở đại lục vốn chịu nghèo khổ quá độ.
    b. Tên của thành phố liên quan đến loại hương liệu có tên là một dược (myrrh).
    c. Chúa của Hội Thánh gởi cho những thánh đồ của Simiệcnơ trong vai trò của Ngài là Đấng Đời Đời Đầu tiên và cuối cùng.
    d. Những tín hữu của Simiệcnơ bị nhạo báng do những người có thể có nguồn gốc và tôn giáo Do thái, nhưng họ đã chối bỏ Đấng Mêsi và khước từ dân sự của Ngài.
    e. Chúa đã hứa gìn giữ những tín hữu khỏi mọi thử thách vì những thử thách chứùng tỏ người nào ở ngoài ý muốn của Đức Chúa Trời.
    f. Ngược đãi là điều được Chúa báo trước và cho phép, nhưng không phải sự thử thách là điều không chấm dứt.
    Vấn đề “Hoạn nạn trong mười ngày” trong thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Simiệcnơ có thể tiêu biểu cho thời kỳ của mười cuộc bách hại chính xảy ra cho những Cơ Đốc Nhân do đế quốc Lamã từ cuối thế kỷ thứ nhất cho đến năm 313 S.C. Chắc chắn đó là thời kỳ được đánh dấu bằng sự khoang dung cho Cơ Đốc Giáo và thời kỳ nầy được chấm dứt bằng sắc chỉ Milan (Edict of Milan) vốn đem sự hòa bình cho toàn quốc Lamã. Hơn nữa, nó giới thiệu một thời kỳ mới vốn được đánh dấu bằng những điều kiện cực kỳ khác nhau. Mặc dù Hội Thánh chịu khổ trong thời kỳ thứ hai phải đấu tranh để sống còn, nhưng thời kỳ tiếp theo Hội Thánh được biệt riêng bằng sự khoan nhượng cực độ trong đó Hội Thánh dần dần quyện lẫn với thế giới ngoại giáo mà nó là một phần, nên đã mất đi sự tinh sạch riêng biệt và khải tượng trong tiến trình của mình, như chúng ta sẽ thấy trong phần tiếp theo.
    Để hữu hiệu trong phần thực tập, hãy ôn những câu hỏi và câu trả lời trong phần nầy và xử dụng tài liệu đã học để làm dàn ý bài giảng hoặc bài học Kinh Thánh về lá thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Simiệcnơ.
    Thơ Gởi cho Hội Thánh Bẹtgăm.
    KhKh 2:12-17.
    Thành phố bẹt găm, dù không phải là thành phố quan trọng về mặc thương mại như Ephêsô và Simiệcnơ, nhưng nó lại quan trọng hơn vì đó là trung tâm chính trị và tôn giáo. Về thành phòng ngự, Bẹtgăm đã xây dựng một bàn thờ thật cao cho thần Zeus và đền thờ cho Athena. Bẹtgăm cũng là thành phố đầu tiên của tỉnh Asi hổ trợ cho sự thờ phượng hoàng đế. Tại đây, mọi công dân bị bắt buộc phải thờ hoàng đế : Từ chối có nghĩa là chấp nhận bản án phản bội. Một số học giả liên hệ cụm từ “chỗå có ngôi của Satan” (câu 13) với sự nổi bật của Bẹtgăm như là trung tâm thờ phượng hoàng đế. Có một trung tâm y khoa lớn tại Bẹtgăm mang tên theo thần rắn Asclepius, và thành phố nầy cũng nổi tiếng về trường học dành cho những nhà tu giỏi y khoa (college of medical priests). Những điều nầy giúp chúng ta thấy tại sao Bẹtgăm được gọi là “chỗ có ngôi của Satan... nơi Satan ở” (câu 13). Bẹtgăm có một thư viện lớn chứa 200.000 cuốn sách. Giống như những thành phố khác, thành phố nầy là nơi dành cho tôn giáo ngoại bang, vô luân, triết học và giáo dục.
    Trong việc nghiên cứu sự giải thích Khải huyền đoạn 2, chúng ta cần nhấn mạnh rằng mỗi Hội Thánh tương ứng với một thời kỳ của lịch sử Hội Thánh. Theo quan điểm của chúng tôi, thời kỳ thứ ba nâỳ trải dài từ năm 313 S.C. cho đến khoảng năm 600 S.C. Sau một thời kỳ căng thẳng không chấp nhận tôn giáo, hoàng đế Lamã chấp nhận chổ đứng của nó và cuối cùng nhìn nhận Cơ Đốc Giáo. Trong khi bị ngược đãi, Hội Thánh phát triển mạnh và bành trướng mau chóng, nhưng dưới sự mỉm cười của việc được công khai chấp nhận, đức tin mất đi tính sinh động và khải tượng. Dưới sự đỡ đầu của hoàng đế Constantine, Cơ Đốc Giáo được công khai hoạt động. Tôn giáo giả tạo thay thế cho tôn giáo chân chính, lễ nghi thay thế cho kinh nghiệm cá nhân với Đức Chúa Trời. Số lớn người ngoại đạo chịu Báp têm nhưng chẳng bao giờ có mối quan hệ cá nhân với Đấng Christ. Tình yêu ban đầu vốn đã bị từ bỏ tạm thời trong thời kỳ đầu tiên bây giờ lại bắt đầu chịu đựng một sự giảm sút tận gốc trong sự sống của mình và sự làm chứng cho Đấng Christ.
    Chúa là Đấng gởi thơ cho Hội Thánh nầy mang đặc điểm như thanh gươm hai lưỡi (câu 12). Gươm ở đây tượng trưng cho Lời Đức Chúa Trời được xử dụng để quở trách những sự dạy dỗ sai lầm mà Hội Thánh đã cho phép. Lời của Đức Chúa Trời vẫn là tiêu chuẩn để đo lường những sự dạy dỗ của Hội Thánh. Những sự dạy dỗ nào không phù hợp với tiêu chuẩn nầy phải bị khước từ.
    17. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Bẹtgăm là trung tâm chính trị và tôn giáo của Tiểu Á (Asia Minor).
    b. Sự thờ phượng hoàng đế Lamã được nuôi dưỡng tại Bẹtgăm và sự thờ phượng hoàng đế trở thành cuộc thử nghiệm và lòng trung thành.
    c. Vì Bẹtgăm là một trung tâm mê tín, nên học vấn và văn hóa không quan trọng mấy tại đây.
    d. Trong thời kỳ nầy, Hội Thánh lớn lên nhanh chóng về số lượng và về sự trưởng thành thuộc linh.
    18. Đặc tính của chúa Jesus nêu lên trong câu 12 tượng trưng cho điều gì?
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    Trong câu 13 chúng ta quan sát những điều mà Chúachúng ta chấp nhận. Trước hết, Hội Thánh tại Bẹtgăm trung thành với danh Chúa. Danh của Ngài thay thế cho bản chất của Ngài. Trung thành với Danh của Ngài có nghĩa là công nhận rằng chúa Jesus là con Đức Chúa Trời, rằng chúng ta phải thờ phượng một mình Ngài mà thôi, và chúng ta phải đến gần Đức Chúa Trời qua Chúa Jesus (
    GiGa 14:6, và ITi1Tm 2:5). Sự nhắc đến tên Antiba ám chỉ rằng sự chấp nhận đặc biệt của Chúa về đức tin nơi Ngài vốn mang đặc điểm của những người trong Hội Thánh nầy trong thời kỳ bị thử thách lớn. Đừng quên rằng Chúa chúng ta luôn luôn chấp nhận khi chúng ta giữ vững đức tin của mình nơi Ngài, đặc biệt khi đức tin chúng ta bị thử thách nghiêm trọng.
    19. Trong câu 13, điều gì trong Hội Thánh tại Bẹtgăm được Chúa chúng ta chấp nhận?
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    Sau khi khen Hội Thánh về những phẩm chất đáng được ca ngợi, thì Chúa của Hội Thánh chỉ ra hai vấn đề mà Ngài kết án mạnh mẽ (câu 14-15). Điều đầu tiên là Ngài kết án sự thờ hình tượng và sự gian dâm. Có thể có điều khác ở đây nữa. Balaam, người được đề cập trong bức thơ nầy đề xướng việc thỏa hiệp với sự thờ thần tượng và gian dâm trong Cựu Ước. Chắc chắn ông ta là người tiên phong của tất cả những ai động viên sự thỏa hiệp với thế gian. Câu 14 ám chỉ rõ ràng rằng khi người ta cố ý ăn “của cúng thần tượng” thì người phạm tội thờ hình tượng. Sự ăn uống như thế ủng hộ cho niềm tin cho rằng những hình tượng đó cung cấp những nhu cầu thuộc linh cũng như những nhu cầøu thuộc thể cho con người.
    Trong thời kỳ Bẹtgăm, những hình tượng của các thánh được đặt trong số lượng lớn nhà thờ. Người ta nói rằng những hình tượng đó được đặt trong nhà thờ là để nhắc nhở người ta thờ phượng Đức Chúa Trời, nhưng luôn luôn có nguy cơ là sự hiện diện của hình tượng đó khiến người ta thờ phượng hình tượng đó hoặc những thánh hơn là thờ phượng Đức Chúa Trời. Không được để bất cứ điều gì thay thế cho việc chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời. Điều thứ hai Chúa Jesus kết án là họ “ giữ theo giáo lý của đảng Nicôla” (câu 15). Cả việc thỏa mãûn về thuộc thể và sự phân biệt thuộc linh dường như không được uốn nắn trong Hội Thánh vốn hiện hữu trong thời kỳ lỏng lẻo về mặt thuộc linh.
    Trong câu 16, Chúa Jesus cảnh cáo những người trong Hội Thánh Bẹtgăm phải ăn năn những điều mà Ngài đã kết án. Nếu họ không ăn năn, Ngài sẽ chiến đấu chống lại họ bằng thanh gươm ở miệng Ngài- Lời Đức Chúa Trời. Chúa Jesus vẫn còn cảnh cáo những điều nầy cho chúng ta ngày nay khi chúng ta còn làm những điều Ngài không chấp nhận. Thật kinh khủng biết bao khi Cứu Chúa của Hội Thánh trở thành Đấng Tiêu Diệt Chìa Khóa của sự khôi phục thuộc linh là ăn năn thành thật.
    20. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê hai điều chính tại Hội Thánh Bẹtgăm (câu 14- 15) mà Chúa Jesus kết án.
    Trong câu 17, những người đắc thắng trong Hội Thánh Bẹtgăm là những người hứa ban phần thưởng chắc chắn: mana giấu kín và hòn sỏi trắng. Mana giấu kín là thực phẩm thuộc linh mà một người hiện đang tiếp nhận khi người ấy dự phần với Christ. Viên đá trắng tượng trưng cho sự tuyên bố trắng án trái ngược với viên đá đen vốn chỉ về sự kết tội mà tòa án công bố. Người đắc thắng được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ theo phương cách là người ấy được hoàn toàn không bị kết tội. Người ấy được xưng công bình bởi đức tin trong Đấng Christ và đã trả xong nợ tội ở trước ngai của Đức Chúa Trời.
    21. Chúa chúng ta hứa ban cho những người đắc thắng trong Hội Thánh tại Bẹtgăm hai điều nào?
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    ..................................................................................................................................................................................................................................................................
    Những đặc tính của Hội Thánh tại Bẹtgăm dường như tiêu biểu cho Hội Thánh trong thời kỳ từ năm 313 S.C. đến khoảng 600 S.C. Chúng tôi nhấân mạnh một lần nữa đây chỉ là sự ước tính phỏng định về khung thời gian mà mỗi thời kỳ của Hội Thánh .
    Để nắm vững bài (bài tập không bắt buộc), hãy ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời ở phần bài học về Hội Thánh Bẹtgăm, và xử dụng tài liệu nầy làm dàn bài giảng hoặc bài học Kinh Thánh về thơ của sứ đồ Giăng gởi cho Hội Thánh tại Bẹtgăm.
    Bài Tập Trắc Nghiệm.
    CÂU HỎI LỰA CHỌN, Khoanh tròn mẫu tự trước câu trả lời tốt nhất.
    1. Trừ một trong những lời dưới đây là mục đích tam diện của những bức thơ gởi cho bảy Hội Thánh. Điều nào KHÔNG PHẢI là mục đích vừa nói?
    a. Hoàn cảnh mô tả tồn tại trong những Hội Thánh, và cần được Đầu của Hội Thánh xử lý.
    b. Nội dung có dụng ý nhắc nhở cho mọi chi thể của thân thể Đấng Christ.
    c. Những hoàn cảnh mô tả trong những bức thơ là những sự ngẫu nhiên có tính cách giả thuyết và không liên quan đến những điều kiện thực sự trong Hội Thánh của Chúa Jesus Christ.
    d. Toàn thể lịch sử của Hội Thánh từ đầu cho đến Ngày của Đức Giêhôva được hình dung trong những thơ.
    2. Trong những bức thơ gởi cho bảy Hội Thánh chúng ta có thể nói chính xác rằng
    a. Nói chung tất cả đều giống nhau trong cách cấu tạo, có hơi khác nhau theo từng bức thơ.
    b. Mỗi bức thơ đều đồng nhất trong cấu trúc, nội dung và bút pháp.
    c. Chúng theo cùng khuôn mẫu giống y hệt từ đầu chí cuối.
    d. Có một sự tiến hóa trong những bức thơ vốn phản ảnh giai đoạn thời gian và sự trưởng thành của Hội Thánh.
    3. Sự ngoại lệ đáng chú ý đối với sự bày tỏ thuộc linh của Hội Thánh Eâphêsô có liên quan.
    a. Đến sự khoan dung của Hội Thánh với kẻ ác.
    b. Đến sự mất lòng kính mến ban đầu.
    c. Đến sự thiếu sự phân biệt thuộc linh.
    d. Đến sự thiếu khả năng của tín hũu trong việc khó nhọc giữ được danh của Christ.
    4. Từ phần nghiên cứu của chúng ta về đảng Nicôla, chúng ta biết rằng nhóm người nầy có thể có sự nhấn mạnh
    a. Sự tự do của Cơ Đốc Nhân nhiều hơn trách nhiệm của Cơ Đốc Nhân.
    b. Sự thỏa hiệp của những giá trị Cơ Đốc Nhân để đạt được những đặc ân của thế gian.
    c. Những đòi hỏi theo luật pháp của Cựu Ước áp đặt trên mọi Cơ Đốc Nhân.
    d. Sự nâng vực giai cấp giáo phẩm lên trên giáo dân trong Hội Thánh.
    5. Hội Thánh tại Simiệcnơ được thông báo rằng Chúa biết và cho phép điều gì để phát triển đặc tính Cơ Đốc?
    a) Nghèo khó.
    b) Sự đau đớn.
    c) Sự nhạo báng.
    d) Hoạn nạn.
    6. Mặc dù những chữ “bị hoạn nạn trong mười ngày” được những học giả Kinh
    Thánh giải thích bằng nhiều cách khác nhau, nhưng nói chung yếu tố thời gian cho thấy rằng
    a. Nó ám chỉ thời kỳ ngắn ngủi.
    b. Một thời kỳ không rõ ràng được báo cho biết.
    c. Motä giai đoạn thời gian, có thể ngắn hay dài, nhưng nó sẽ chấm dứt.
    d. Hội Thánh sẽ chịu ngược đãi có hạn.
    7. Ý nghĩa tượng trưng về Chúa chúng ta có thanh gươm nhọn hai lưỡi ám chỉ về
    a. Lời Đức Chúa Trời.
    b. Vũ khí chống đỡ của tín hữu.
    c. Dụng cụ mà bởi đó Ngài sẽ phán xét kẻ ác.
    d. Sự báo thù Ngài dành cho những kẻ thù của Hội Thánh.
    8. Theo phần nghiên cứu của chúng ta, sự dạy dỗ của Balaam mà Hội Thánh tại Bẹtgăm dung túng có thể liên quan đến
    a. Sự thỏa hiệp của tiêu chuẩn Cơ Đốc đối với tội lỗi và sự thánh khiết.
    b. Giới thiệu về sự dạy dỗ về những cách làm cho Hội Thánh thịnh vượng.
    c. Sự chuyển động do những người lãnh đạo làm cho Cơ Đốc giáo được thế gian chấp nhận.
    d. Sự tái xuất hiện của người Giuđa trong Hội Thánh.
    9. Trong ba Hội Thánh mà chúng ta đã thảo luận trong bài nầy, Hội Thánh nào tọa lạc trong thành phố nơi có đền thờ của Ạttêmit?
    a. Simiệcnơ.
    b. Bẹtgăm.
    c. Êphêsô.
    10. Hội Thánh nào hiện hữu trong một thành phố nơi có một trung tâm y khoa được dâng cho thần rắn?
    a. Êphêsô.
    b. Bẹtgăm.
    c. Simiệcnơ.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
    1. b. Còn có ý nghĩa khác hơn trong nội dung đoạn văn hiểu theo ý nghĩa đầu tiên.
    2. b. Sự trọn vẹn thiên thượng.
    3. Câu trả lời của bạn nên bao gồm những sự kiện sau, Giăng viết thơ để gởi sứ điệp của Chúa Jesus để động viên, cảnh cáo và quở trách những Hội Thánh địa phương có thật, tất cả mọi chi thể của thân thể Đấng Christ, và toàn thể Hội Thánh từ ban đầu đến suốt thời kỳ hiện hữu của Hội Thánh.
    4. 1) Những đặc điểm của Chúa Jesus.
    2) Những điều Chúa Jesus biết về những Hội Thánh đặc biệt.
    3) những điều Chúa Jesus chấp nhận trong những Hội Thánh đặc biệt.
    4) Những điều Chúa Jesus không chấp nhận trong những Hội Thánh đặc biệt.
    5) Những điều như những lời khuyên bảo, những lời hứa, và sự dạy dỗ mà Chúa truyền đạt cho những Hội Thánh đặc biệt.
    5. a. Những điều kiện mang đặc tính Hội Thánh trong một thời kỳ nào đó, cũng như suốt lịch sử của Hội Thánh.
    6. a. Phaolô giới thiệu Phúc âm tại đó (
    Cong Cv 19:1-5).
    b. Nhiều người tin Phúc âm (
    19:17-18).
    c. Sứ đồ phục vụ tại đấy ba năm (
    20:31).
    d. Bêrítsin và Aquila giúp đỡ ông thành lập Hội Thánh (
    18:18-28).
    e. Nhiều người đốt những cuộn sách về phù phép của họ cách công khai. Điều nầy tiêu biểu cho sự chiến thắng lớn của Phúc âm nhưng nó làm cho những người kiếm sống bằng nghề làm và buôn bán thần tượng giận dữ. Phản ứng của những người thợ thủ công chống lại Phúc âm phát sinh một cuộc náo loạn lớn tại Eâphêsô (
    19:23-41).
    7. Trước hết, sự hiện diện của Ngài ở giữa những Hội Thánh chứng tỏ sự quan tâm của Ngài đối với họ, săn sóc họ và chú ý đến sự thịnh vượng thuộc linh của họ. Thứ hai, sự kiện những nhà lãnh đạo của Hội Thánh ở trong tay Ngài chứng tỏ rằng Ngài hướng dẫn Hội Thánh qua họ và họ có tầm quan trọng đối với Ngài.
    8. Làm việc khó nhọc, kiên nhẫn, không dung thứ kẻ ác, thử thách những lời công bố giả dối, và ghét những kẻ theo đảng Nicôla.
    9. Tình trạng ấy là từ bỏ tình yêu mến ban đầu . Sự cảnh cáo ấy là phải làm điều trước kia họ đã làm. Kết quả của sự coi thường sự cảnh cáo của Ngài là xa cách Đức Chúa Trời.
    10. Câu trả lời của bạn. Một điều chung cho mọi mối quan hệ: hãy duy trì nó. Cách chắc chắn để giết đi một mối quan hệ là lơ la,ø bỏ rơi nó. Mối quan hệ của chúng ta với Chúa là ưu tiên cao nhất và với người bạn đời cũng phải theo sau gần gũi với điều trên.
    11. a. Đúng.
    b. Đúng.
    c. Sai.
    d. Đúng.
    e. Đúng.
    f. Sai.
    12. Chúa Jesus là Đấng Đời Đời, Đấng Đầu tiên và cuối cùng, và Ngài sống lại từ sự chết tạm thời để vào sự sống đời đời.
    13. Dường như Chúa chúng ta chấp nhận sự hoạn nạn. Ngài dùng sự hoạn nạn là phương tiện để hình thành phẩm chất Cơ Đốc mạnh mẽ, kiên nhẫn và tin cậy nơi Ngài. Tác gỉa của thơ Hêbơrơ bình luận vắn tắt điều nầy (
    HeDt 12:1-11).
    14. a. Họ nhạo báng những tín hữu thật.
    15. a. Mão miện không hay hư mất. Được ban cho sự phục vụ trung tín trong việc chinh phục người hư mất.
    b. Mão miện vinh hiển hoặc trong đó chúng ta khoe mình. Được ban cho sự phục vụ trung tín.
    c. Mão miện công bình. Được ban cho những người yêu mến sự hiện ra của Ngài để phục vụ trung tín.
    d. Mão miện sự sống. Ban cho sự phục vụ trung tín trải qua sự thử nghiệm đối với những người yêu mến Chúa của mình.
    e. Mão miện vinh hiển. Ban cho những người lãnh đạo trung tín chăm sóc bầy của Đức Chúa Trời.
    16. bạn nên khoanh tròn chữ b; c; d; và f.
    17. Bạn nên khoanh tròn câu a) và b).
    18. Chúa Jesus là Đấng sở hữu và xử dụng Lời Đức Chúa Trời. Dường như ở đây điều nầy chứng tỏ rằng mục đích là để chỉnh đốn giáo lý sai lầm.
    19. Ngài chấp nhận sự trung thành của tín hữu đối với Danh của Ngài. Ngài cũng chấp nhận sự kiên định của họ trong thời kỳ thử thách lớn.
    20. Ngài kết án : 1) Sự dạy dỗ của Balaam liên quan đến sự thờ hình tượng và gian dâm, và 2) sự dạy dỗ của đảng Nicôla.
    21. Ngài hứa ban “mana giấu kín” và “một hòn đá trắng”. Những điều nầy ám chỉ sự nuôi dưỡng thuộc linh và việc tín hữu được chấp nhận ở trước ngai của Đức Chúa Trời.

    Các Thơ Tín Gởi Cho Thiatirơ, Sạtđe Philađenphi và Laođixê
    Trong Bài 6 chúng ta bắt đầu nghiên cứu những bức thơ gởi cho Hội Thánh. Chúng ta đã khảo sát những mục đích trong việc gởi những bức thư nầy cũng như cấu trúc của những bức thơ của những bức ấy nữa. Sau đó chúng ta chuyểân sang phần nghiên cứu đặc biệt về mỗi Hội Thánh của những thời kỳ của ba Hội Thánh đầu tiên. Hy vọng phần mở đầu nầy đã cho chúng ta về sự thấu triệt hữu ích về những loại nan đề mà mỗi Hội Thánh đối diện, và làm thế nào mỗi Hội Thánh đáp ứng được những thách thức của thời đại của mình. Bây giờ chúng ta tiếp tục nghiên cứu bốn Hội Thánh còn lại.
    Khi chúng ta tiếp tục khảo sát những nét tích cực và tiêu cực trong những Hội Thánh nầy, hãy nhớ rằng những đặc tính riêng biệt của những Hội Thánh tương ứng không chấm dứt với thời kỳ đó. Vấn đề mất lòng kính mến ban đầu của Hội Thánh Eâphêsô vẫn là vấn đề tiềm tàng cho mỗi Hội Thánh và mọi tín hữu của thời đại Hội Thánh. Tinh thần yêu mến thế gian và thỏa hiệp mà Hội Thánh Bẹtgăm phải chiến đấu vẫn còn là những nan đề chính trong Hội Thánh. Những tên gọi của những nan đề giáo lý của Balaam, đảng Nicôla, Giêsabên- có thể thay đổi, nhưng bản chất của những nan đề thuộc linh vẫn tồn tại. Chúng ta cần phải hiểu những nguyên tắc nằm dưới kinh nghiệm thuộc linh nếu chúng ta muốn hoàn thành sự kêu gọi của mình để làm xong công việc của Đức Chúa Trời ở trên đất.
    Khi bạn học bài nầy, hãy nhạy bén nghe tiếng phán của Thánh Linh. Hãy để Ngài giúp bạn nhìn nhận những nan đề tiềm ẩn trong kinh nghiệm của mình vốn hạn chế sự hiệåu quả của bạn trong đời sống Cơ Đốc Nhân. Khi bạn sẵn lòng, Ngài sẽ mở mắt bạn để nhìn xem những thách thức lớn hơn ở thế giới chung quanh bạn, mà bạn cần có quyền năng của Ngài để đáp ứng cho nhu cầu của họ.
    Giới thiệu.
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Thiatirơ.
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Sạtđe.
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Philađenphi.
    Thơ gởi cho Hội Thánh tại Laođixê.
    Học xong bài nầy bạn có thể:
    • Công nhận những sự kiện về mỗi Hội Thánh trong bốn Hội Thánh mà bạn nghiên cứu, kể cả bối cảnh lịch sử, những nan đề thuộc linh, và những lời cảnh cáo liên quan đến những nan đề của Hội Thánh đó.
    • Thảo luận ý nghĩa của những sứ điệp gởi cho bảy Hội Thánh đối với thân thể chung của Christ ở mọi thời điểm và dòng lịch sử được trình bày.
    • Đánh giá đầy đủ hơn về nhu cầu đối với Hội Thánh và cá nhân tín hữu để khảo sát phẩm chất của đời sống thuộc linh và sự phục vụ mà họ dành cho Chúa yêu dấu của mình.
    1. Nghiên cứu bài học theo tiến trình thường lệ.
    2. Bạn có thể cùng Kinh Thánh để trả lời những câu hỏi nghiên cứu và những câu hỏi trong bài tập trắc nghiệm.
    3. Oân từ bài 4 đến bài 7 để chuẩn bị làm bản đánh giá học tập đơn vị II và phiếu trả lời cho phiếu dành cho học viên và điền vào phiếu trả lời theo sự chỉ dẫn. Khi làm xong bài, hãy nộp cho vị trợ giáo ICI, là người sẽ chấm bài và gởi kết quả cho bạn.
    Bất hạnh, nghịch cảnh (adversity).
    Mẫu đầu tiên (prototype).
    Ngoại Kinh Thánh (extra Biblical).
    Sự trừng phạt (retribution).
    Tượng thánh (icon).
    Thời Trung cổ (Medieval).
    Tự xưng ( professing).
    GIỚI THIỆU.
    Như chúng ta đã thấy trong bài 6, cấu trúc chung của những bức thơ gởi cho các Hội Thánh đều giống nhau. Những khác nhau chỉ xảy ra trong những đặc tính của Chúa vốn được bày tỏ cho từng Hội Thánh. Dĩ nhiên, những điều khen ngợi, kết án hay cả hai, thì khác nhau đối với từng Hội Thánh. Tuy nhiên, sứ điệp chung cho Hội Thánh là chứng nhân của Ngài cho thế gian nầy. Lời chứng nầy phải được thực hiện bằng cả lời công bố năng động và đời sống Cơ Đốc kiên định điều làm cho sứ điệp trở thành có thật. Hãy nghiên cứu cẩn thận tình trạng của mỗi Hội Thánh từ quan điểm của Chúa khi chúng ta quan sát những chi tiết của sứ điệp của Chúa gởi cho mỗi Hội Thánh.
    THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH THIATIRƠ.
    KhKh 2:18-20.
    Thiatirơ là một thành phố trong lục địa vốn có lịch sử về quân đội lâu dài. Thiatirơ tọa lạc trong một vùng nông nghiệp trù phú, và nó cũng là trung tâm thương mại quan trọng. Thành phố nầy nổi tiếng về nghề nhuộm màu tía, và nó được hổ trợ cho kỷ nghệ buôn vải màu tía vốn được sản xuất dưới sự kiểm soát của những tập đoàn buôn bán có tổ chức chặt chẽ. Thiatirơ không phải là trung tâm tôn giáo hay chính trị và cũng không ủng hộ mạnh mẽ cho việc thờ phượng hoàng đế. Bạn có thể liên tưởng đến “Lyđia, quê ở Thiatirơ, buôn hàng sắc tía” (
    Cong Cv 16:14) đã tin Chúa khi Phao lô rao giảng Phúc âm ở thành Phi líp.
    1. Trong sổ tay của bạn hãy mô tả vắn tắt địa điểm của thàùnh phố Thiatirơ và những sự kiện về lịch sử, địa lý, và kinh tế liên quan đến thành phố.
    Câu 18 cho chúng ta ba đặc tính nữa về Cứu Chúa chúng ta. Trước hết, đây là trường hợp duy nhất trong sách Khải huyền nơi Chúa Jesus được gọi là Con Đức Chúa Trời. Đặc ân của chúng ta là thờ phượng Ngài vì Ngài là Đấng nào. Thứ hai, con mắt của Ngài như ngọn lửa có thể nhìn thấy suốt qua diện mạo bên ngoài của chúng ta vào lòng của chúng ta. Đôi mắt ấy cũng chiếu sự giận dữ khi có tội lỗi trắng trợn. Thứ ba, chơn của Ngài như đồng sáng sẽ giày đạp mọi kẻ thù của Ngài.
    2. Ba đặc tính của Chúa Jesus được nêu lên trong câu 18 là gì?
    ........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
    ........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
    ........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
    Chúa chúng ta chỉ bốn điều mà Ngài chấp nhận trong Hội Thánh tại Thiatirơ. Nên nhớ rằng Ngài cũng chấp nhận những điều tương tự như thế khi Ngài tìm thấy những điều đó trong chúng ta. Trong nguyên bản, Chúa Jesus đặc biệt đề cập đến chữ công việc 2 lần: đầu câu 1 lần và cuối câu 1 lần. Mặc dù đây là lãnh vực được chấp nhận, nhưng sự ám chỉ có thể nói rằng Hội Thánh nầy lệ thuộc quá nhiều vào việc làm. Như chúng ta đã ghi nhận ở trên, chúng ta được cứu không do việc làm; chúng ta chẳng bao giờ được hưởng cứu rỗi do công đức riêng. Hơn nữa, công việc không thể nào thay thế cho tình yêu đối với Chúa và trung thành với mục đích của Ngài.
    3. Trình bày bốn điều đưa ra trong câu 19 mà Chúa Jesus chấp nhận tại Hội Thánh ở Thiatirơ.
    .......................................................................................................................................
    .......................................................................................................................................
    .......................................................................................................................................
    .......................................................................................................................................
    Như bạn đọc trong
    KhKh 2:20, bạn có thể nhớ lại những điều chính mà Chúa Jesus kết án về Hội Thánh tại Thiatirơ. Chúng ta biết rằng có một phụ nữ ngoại quốc là Giêsabên, vốn là nhân vật nổi bật trong sự phát huy việc thờ hình tượng trong Ysơraên, lý do ấy là khi Aháp, vua Ysơraên, cưới bà nầy đã bắt đầu hầu việc và thờ phượng Baanh (IVua 1V 16:29-34). Bắt đầu khoảng năm 600 S. C. hội Thánh bắt đầu xử dụng hình tượng, thờ phượng bà Mari và các thánh, và xem những văn phẩm ngoại Kinh Thánh cũng có uy quyền như Kinh Thánh. Như vậy, Hội Thánh nầy đã bắt đầu chứng tỏ những đặc tính khoan dung nhiều đến nỗi chẳng cần gì đến sự giúp đỡ của Kinh Thánh cho đời sống thuộc linh của tín hữu. Những đặc tính nầy sẽ tồn tại suốt trong lịch sử Hội Thánh cho đến khi bước vào Cơn Đại Nạn.
    Hội Thánh trong thời kỳ nầy trải qua một thời đại xuống dốc sâu về mặt thuộc linh. Nó thử kết hợp đức tin Cơ Đốc với triết lý ngoại giáo và những hành vi của tôn giáo trần gian. Sự nổi bật của Đấng Christ phục sinh vốn mang đặc tính của Hội Thánh thời các sứ đồ đã mở đường cho sự nổi bật của mẹ Chúa Jesus. Người ta có khuynh hướng đưa bà lên ngang hàng với Đức Chúa Trời, và vai trò của bà làm người trung bảo của con người với Đức Chúa Trời trở thành nổi bật trong sự dạy dỗ của Hội Thánh thời Trung cổ. Những hình tượng, các thánh tích, và những giáo lý của con người vốn bào vào Hội Thánh là những dấu hiệu của sự thờ hình tượng thuộc linh. Hội Thánh không còn có sức mạnh của sự vui mừng của tín hữu khi họ lấy mọi vật làm của chung ở ngày Ngũ Tuần (
    Cong Cv 2:44).
    Tuy nhiên, nhìn gần hơn về nan đề đặc biệt của Hội Thánh tại Thiatirơ, chúng ta thấy rằng Hội Thánh đã dung thứ cho một nữ tiên tri giả, mà Giêsabên là khuôn mẫu đầu tiên. Hội Thánh đầu tiên thật đã quen với sự dạy dỗ được cảm thúc qua việc nói tiên tri, và chức vụ tiên tri được tôn trọng (
    ICo1Cr 12:14Eph Ep 4:11). Thật vậy, trước khi Tân Ước xuất hiện, những gì sứ đồ và tiên tri truyền đạt sự mặc khải về lẽ thật thiên thượng ( 3:5). Tuy nhiên, những nguyên tắc nghiêm khắc được đưa ra để điều chỉnh những ân tú thuộc linh, và Hội Thánh được động viên phải thử linh sau khi lời tiên tri được nói ra (IGi1Ga 4:1-3). Tuy nhiên, Thiatirơ đã có một nữ tiên tri giả mà những thành viên của Hội Thánh đã công nhận, nhưng họ đã không mạnh tay có hành động chống lại bà ta (câ 20-27). Dù bà ta là mối đe dọa cho sự sống động thuộc linh của Hội Thánh qua việc công khai chủ trương sự gian dâm và hình tượng, nhưng bà ta vẫn được phép sống chung trong Hội Thánh với những tín hữu thật. Chúa Jesus nhìn thấy người đàn bà nầy là một bịnh truyền nhiễm, đe dọa cho sự sống của toàn thể Hội Thánh. Cần phải có sự chữa trị tận gốc.
    Lời cảnh cáo của Phao lô “một ít men làm dậy đống bột” (
    GaGl 5:9) đúng vào trường hợp nầy. Đã cảnh cáo - mà người đàn bà nầy chẳng quan tâm - và không quyết định thay đổi, nên Chúa Jesus phán, Ngài sẽ trừng phạt nó nặng nề ( câu 22-23). Những người chấp nhận giáo lý gian ác của nó, trở thành con cái của nó sẽ bị giết. Bấy giờ, khi những tín hữu của những Hội Thánh khác nhìn thấy sự trừng phạt nầy, họ sẽ biết có sự báo trả thiên thượng Đức Chúa Trời không dung thứ cho việc xem nhẹ tội lỗi.
    4. Trình bày hai điều chính mà Chúa Jesus đã quở trách trong Hội Thánh tại Bẹtgăm và một lần nữa Ngài không chấp nhận (câu 20) trong Hội Thánh tại Thiatirơ.
    ......................................................................................................................................
    .......................................................................................................................................
    5. Trong những câu 24-25 Chúa Jesus gởi cho một nhóm người không liên quan đến những giáo lý của Giêsabên và cho họ lới khuyên đặc biệt. Lời khuyên ấy là
    a. Cố gắng thuyết phục Giêsabên và những người theo nó.
    b. Quở trách những giáo lý và hành động của Giêsabên.
    c. Cứ giữ vững những điều họ có.
    d. Cầu xin sức lực để chống lại những sự dạy dỗ của Giêsabên.
    Những tín hữu của Thiatirơ là những người không chịu ảnh hưởng những sự dạy dỗ giả dối được khuyến khích bền đỗ - giữ vững vàng đức tin của họ (câu 24-25). Những người bền đỗ cho đến cuối cùng những Cơ Đốc Nhân đắc thắng được hứa ban sự đồng trị với Đấng Christ trên các dân (câu 26). Họ cũng được hứa ban cho “ngôi sao mai” (câu 28) có thể ám chỉ về lời hứa được vinh hiển đang chờ đợi người đắc thắng (xem
    DaDn 12:3) hoặc đến nơi nổi bật trong sự vinh hiển ( Giop G 38:7).
    6. Khoanh tròn những mẫu tự ở trước những câu ĐÚNG nói về những sự kiện mang đặc điểm của Hội Thánh tại Thiatirơ
    a. Thiatirơ đầu tiên nổi tiếng là trung tâm chính trị và tôn giáo.
    b. Kỹ nghệ của Thiatirơ dựa trên nghành nhuộm màu tía và buôn bán sắc tía.
    c. Những tín hữu ở Thiatirơ nổi tiếng về những công việc yêu thương, đức tin, sự phục dịch và sự nhận nại.
    d. Những nan đề của Thiatirơ mà Chúa quở trách ấy là sự dung túng cho kẻ ác.
    e. Nan đề Giêsabên trong Hội Thánh dấy lên từ sự kiện là bà ta là nữ tiên tri, và Kinh Thánh không cho phép phụ nữ nói tiên tiên tri.
    f. Tội lỗi vô luân về tính dục (gian dâm) và thờ hình tượng mà Chúa cảnh cáo Hội Thánh Thiatirơ thì không có trong những Hội Thánh khác.
    g. Trong hệ thống của chúng ta trong việc nhận diện trong bảy Hội Thánh với một thời kỳ trong lịch sữ Hội Thánh, chúng ta tin rằng Thiatirơ tiêu biểu cho những những đặc tính của Hội Thánh từ năm 600 S.C. cho đến Cơn Đại Nạn.
    Những đặc tính của Hội Thánh nầy giống như những đặc tính tồn tại trong Hội Thánh từ khoảng năm 600 S. C. trở đi. Nghĩa là Hội Thánh nói chung đã khoang dung quá nhiều đến nỗi sự dạy dỗ của Kinh Thánh và sự dạy dỗ thuộc linh không mang lại lợi ích, và những đặc điểm nầy sẽ mang tính chất là “Hội Thánh hữu danh vô thực” cho đến Cơn Đại Nạn.
    Là bài tập không bắt buộc, bạn có thể ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời trong phần về Hội Thánh Thiatirơ nầy, và xử dụng tài liệu để làm bài giảng hay bài học Kinh Thánh về thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh ở Thiatirơ.
    THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH TẠI SẠTĐE.
    KhKh 3:1-6.
    Thành phố Sạtđe được xây dựng trên một ngọn đồi cao hơn những đồng bằng chung quanh trên 1000 feet ( 304,8). Công dân ở đây đã có cảm nghĩ mình được an ninh vững chắc vì họ tin rằng kẻ thù không thể nào đánh thắng được họ. Sạtđe được coi là một thành phố giàu có, nổi tiếng về nữ trang, tơ lụa và thuốc nhuộm. Một đền thờ dâng cho nữ thần Aïttêmít tọa lạc tại đây làm cho thành phố trở nên trung tâm tôn giáo ngoại giáo mạnh mẽ. Hơn nữa, thành phố nằm trên con đường buôn bán quan trọng xuống thung lũng Hermus. Satđe ít có quyền hạn mạnh mẽ dưới thời cai trị của đế quốc La mã hơn trước kia.
    7. Trong sổ tay của bạn hãy viết ra năm chi tiết về bối cảnh lịch sử của Sạtđe được đề cập ở đoạn trên.
    3:1 cho chúng ta hai đặc tính mà Chúa bày tỏ chính mình Ngài cho Hội Thánh Sạtđe. Ngài có bảy linh của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao. Những điều nầy bày ỏ rằng sự khôn ngoan trọn vẹn của Ngài và sự toàn quyền kiểm soát những sứ giả hay những nhà lãnh đạo. Chúa Jesus biết những hoạt động của Hội Thánh. Ngài không bao giờ bị sai lạc bởi sự xưng nhận hay cái gọi là sự tiếng tăm của Hội Thánh. Như chúng ta đã thấy trong 1:20, những ngôi sao tiêu biểu cho những sứ giả, hay những nhà lãnh đạo cho bảy Hội Thánh. vì những người lãnh đạo trong tay Đấng Christ, nên chúng ta biết rằng họ phải chịu trách nhiệm với Ngài và sự lãnh đạo của họ có thẩm quyền.
    8. Hai đặc tính của Chúa Jesus được bày tỏ cho Hội Thánh tại Sạtđe gợi ý điều gì?
    .......................................................................................................................................
    .......................................................................................................................................
    Trong phần cuối của câu một chúng ta thấy điều Chúa kết án trong Hội Thánh tại Sạtđe. Hội Thánh nầy được tôn trọng trước mặt mọi người. Thật vậy, nó có thể có một mẫu mực tổ chức tốt và chương trình tốt, nhưng danh tiếng tốt của Hội Thánh trước mặt con người nào có đáng gì đâu! Điều qúi báu nhất ấy là Chúa nghĩa gì về chúng ta. Nhiều Hội Thánh được sinh ra trong một cuộc vận hành lớn của Thánh Linh Đức Chúa Trời bây giờ chỉ là cơ quan xã hội từ thiện. Giúp đỡ người ta về mặt vật chất là điều tốt, nhưng đưa một người đến với Chúa để được sự cứu rỗi - biết Chúa cách cá nhân là điều quan trọng gấp bội. Hãy chú ý đến năm động từ mà Chúa dùng trong câu 2 và 3 để truyền lệnh cho Hội Thánh phải từ bỏ những gì Ngài không chấp nhậïn. Qua Thánh Linh, Chúa Jesus đang phán với chúng ta trong lệnh truyền tương tự khi Ngài nhìn thấy trong chúng ta những gì Ngài đã không chấp nhận trong Hội Thánh tại Sạtđe.
    Phần cuối của câu 3 vang dội một lời cảnh cáo lớn cho hầu hết dân sự tại Hội Thánh Sạtđe vì họ không còn chấp nhận Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời nữa. Tóm lại, lời cảnh cáo không nhầm lẫn của Chúa về Hội Thánh nầy khuyên tất cả tín hữu tại Hội Thánh Sạtđe. Cửa thương xót vẫn còn mở, nhưng họ phải đáp ứng trong khi món qùa đang dở ra, những người coi thường sẽ bị hư mất đời đời. Nếu một người không chấp nhận lẽ thật của Kinh Thánh vốn cho chúng ta biết Ngài sắp trở lại, thì người chẳng biết chi về thì giờ Ngài trở lại. Chúa Jesus cho biết rằng chẳng người nào, hay thiên sứ biết ngày hay biết giờ: “nhưng về ngày và giờ đó chẳng ai biết... duy Cha biết mà thôi” (
    Mat Mt 24:36). Tuy nhiên, chúng ta có thể nói được những điều đang xảy ra trong thế giới chúng ta- những dấu hiệu về thời kỳ cho biết thời gian đó gần rồi. “Nhưng trong ngày Nôê thể nào, thì sự hiện đến của Con Người cũng sẽ thể ấy” (24:37).
    9. Dựa vào phần thảo luận ở hai đoạn trên, tình trạng khiến Chúa không chấp nhận trong câu 1 là.
    a. Không quan tâm đến vấn đề xã hội.
    b. Thiếu tinh thần nhân bản.
    c. Từ chối việc thực hiện những hoạt động thuộc linh.
    d. Sự chết về phần thuộc linh.
    Như chúng ta đã trình bày ở trên, nhiều Hội Thánh được Thánh Linh sinh ra trong thời Cải chánh đã rơi đi khỏi Cơ Đốc giáo của Kinh Thánh. Dù vậy, ngày nay vẫn còn một số người trong từng Hội Thánh của giáo phái được Thánh Linh sanh ra đang rao giảng Phúc âm của Christ. Cũng vậy, vẫn còn một số ít người trong Hội Thánh tại Sạtđe không từ bỏ Đức Chúa Trời. Những người nầy được Chúa của Hội Thánh công nhận rất đặc biệt (câu 4). Họ được mặt áo trắng, tượng trưng cho sự trong trắng. Hơn nữa, tên của họ vẫn còn đời đời ở trong sách sự sống và được thừa nhận trước mặt Đức Chúa Trời cùng những thiên sứ của Ngài.
    10. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG.
    a. Người Sạtđe đã nghĩ rằng họ được an ninh, không bị kẻ thù có thể tấn công họ.
    b. Chúa Jesus được bày tỏ cho thành phố nầy là Đấng “có bảy Linh của Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao”.
    c. Hội Thánh tại Sạtđe được chọn ra vì vài điểm mà Chúa của Hội Thánh cảm thấy đáng được khen ngợi.
    d. Nan đề với Hội Thánh Sạtđe nằm ở chỗ là Hội Thánh “xuất hiện như điều mà Hội Thánh thực sự không có”.
    e. Ở giữa tình trạng chết về thuộc linh nói chung, vài tín hữu ở Sạtđe sống một cuộc đời trong sạch và tận hiến cho Chúa Jesus Christ.
    Sự bội đạo trong Hội Thánh Sạtđe vốn được mô tả trong thơ gởi cho Hội Thánh nầy dường như tương ứng với những đặc điểm trong Hội Thánh từ khoảng năm 1517 S.C. và vào Cơn Đại Nạn. Tại thời điểm lịch sử được ghi rõ niên lịch ngày bắt đầu, có một sự thức tỉnh thuộc linh rộng rãi, nhưng chẳng bao lâu sau đó nó bị trôi dạt vào sự chính thống chết ngắt. Hội Thánh, mặc dù vẫn còn mang vài đặc tính trên, nhưng được thức tỉnh khỏi giấc ngủ của mình do phong trào giáo sĩ hiện thời vốn đạt được mạnh mẽ trong thế kỷ thứ mười tám (thập niên 1800). Những đặc tính của những thời kỳ Hội Thánh khác nhau mà chúng ta đã thảo luận dường như chứng tỏ những nguyên tắc của sự sống thuộc linh là khó có hể xác định chính xác thời điểm bắt đầu hay kết thúc.
    Vì thế sự mất lòng kính mến ban đầu của Eâphêsô, sự thỏa hiệp của Bẹtgăm, sự dung thứ điều ác được tìm thấy trong Thiatirơ, và sự chết cứng về mặt thuộc linh của Sạtđe vẫn là những nan đề mà Hội Thánh phải đối đầu cho đến khi được cất lên.
    Làm bài tập tự chọn không bắt buộc, bạn hãy ôn lại những câu hỏi và câu trả lời trong phần vềø Hội Thánh Sạtđe và sử dụng tài liệu nầy để làm dàn ý bài giảng hay dàn ý bài học Kinh Thánh của bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Sãtđe.
    THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH TẠI PHILAĐENPHI.
    KhKh 3:7-13.
    Thành phố Philađenphi được vua của Bẹtgăm, Attalus Philadelphus xây dựng và mang tên của ông. Đó là nơi thường bị động đất, và thành phố bị phá hủy hai lần trong thế kỷ thứ nhất sau Chúa. Đó là trung tâm thờ phượng ngoại giáo và nổi tiếng là “Tiểu Athên”. Điều nầy chứng tỏ rằng triết học, tôn giáo và sự dâm loạn vô luân của thành phố lớn Athên hiện diện tại Philađenphi.
    11. Trong sổ tay của bạn, hãy liệt kê năm chi tiết về bối cảnh lịch sử của Philađenphi mà Giăng viết thơ cho Hội Thánh tại đấy, dựa vào đoạn văn trên.
    Trong câu 7, chúng ta thấy những đặc tính Chúa đã bày tỏ chính Ngài cho Hội Thánh nầy. Đoạn Kinh Thánh trong
    EsIs 22:21-22 soi sáng cho câu nầy. Đoạn nầy được những học giả Do thái xem như là lời tiên tri về Đấng Mêsi, Đấng sẽ có sự vinh hiển (ngai) và chìa khóa (uy quyền) của nhà Đavít.
    12. Những đặc tính của Chúa Jesus trong thơ của giăng gởi cho Hội Thánh tại Philađenphi được ghi ra trong câu 7 là gì?
    ........................................................................................................................................
    ........................................................................................................................................
    Cửa mở ra trước mặt Hội Thánh tại Philađenphi cho chúng ta biết rằng đó là cơ hội truyền bá Phúc âm (câu 8). Có nhiều cánh cửa khác nhau đang mở ra ho Hội Thánh chúng ta ngày nay. Hãy liệt kê trong sổ tay của bạn những cánh cửa mà bạn có thể nghĩ đến. Sau đó hãy tự hỏi, “Tôi đang làm gì để lợi dụng cơ hội những cửa đang mở nầy để phục vụ Chúa Jesus?” Bạn cũng có thể xem
    ICo1Cr 16:9, IICo 2Cr 2:12 để có thêm ý tưởng về “cánh cửa mở”.
    Phần thứ hai của câu 8 tiết lộ điều Chúa Jesus khen trong Hội Thánh tại Philađenphi. Ngài khen Hội Thánh nầy vì có “ít năng lực”.
    EsIs 40:28-31 giải thích thế nào dân sự của Đức Chúa Trời của mọi thời đại đã kinh nghiệm sự đắc thắng thuộc linh bằng cách lệ thuộc chủ yếu vào sức lực Đức Chúa Trời ban cho họ hơn là dựa vào sức lực của mình. Mặc dù những tín hữu ở Philađenphi bày tỏ sức mạnh bằng việc công nhận và tiếp thu lời của Chúa Jesus và giữ lời của Ngài vốn y như vậy, nhưng họ lệ thuộc chủ yếu vào sức lực thiên thượng để duy trì thái độ của mình đối với lời của Chúa Jesus và đáng nhận được lời khen của Chúa ở đây. Giống như Phao lô, chúng ta có thể “làm được mọi sự qua Christ” (Phi Pl 4:13, KJV) nếu chúng ta lệ thuộc vào sức của Christ trong mức độ Phao lô đã làm.
    13. Trình bày ba điều trong phần thứ hai của câu 8 mà Chúa Jesus khen Hội Thánh ở Philađenphi.
    ........................................................................................................................................
    ........................................................................................................................................
    Không có điều nào Chúa Jesus quở trách tại Hội Thánh Philađenphi cả. Chữ Philađenphi” có nghĩa là “tình yêu anh em”. Đây là lời mô tả thích hợp cho một Hội Thánh gồm có những những người kiên nhẫn, trung thành với sự kêu gọi của mình và siêng năng phục vụ.
    Câu 10, chúng ta sẽ thảo luận chi tiết hơn trong Bài 8, khen ngợi những tín hữu Philađenphi về sự vâng lời trung tín của họ dưới sự thử thách; là giờ sắp đến cho khắp thiên hạ (Cơn đại nạn hầu đến cho toàn thế giới).
    14. Trong sổ tay của bạn, hãy nói ý nghĩa của lời hứa đặc biệt trong câu 10, và lời khuyên đặt biệt trong câu 11.
    15. Trong sổ tay của bạn, hãy ghi ra bốn điều Chúa Jesus hứa trong câu 12 mà Ngài sẽ làm cho những người đắc thắng trong Hội Thánh ở Philađenphi.
    16. Khoanh tròn mẫu tự trước mỗi lời diễn đạt ĐÚNG về những nét quan trọng của Hội Thánh tại Philađenphi.
    a. Philađenphi là một thành phố vốn bị những cơn động đất chính.
    b. “Cửa mở” trước mặt những tín hữu Philađenphi có thể ngụ ý về cơ hội công bố Phúc âm.
    c. Hội Thánh nầy được khen ngợi vì sức lực vĩ đại và sự chính thống cứng ngắt của mình.
    d. Người Phlađenphi được khen ngợi chủ yếu vì “sự ít năng lực” của họ.
    e. Sự kiên nhẫn chịu đựng được tín hữu Philađenphi bày tỏ sẽ được thưởng bằng việc được gìn giữ khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ.
    Lời hứa đặc biệt của Chúa Jesus trong câu 10 cho Hội Thánh tại Philađenphi là lời khuyên đặc biệt của Ngài trong câu 11 dường như gợi ý rằng Hội Thánh nầy tiêu biểu cho Hội Thánh thật tin Kinh Thánh ở phần cuối của kỷ nguyên Hội Thánh vốn sẵn sàng đón Chúa trở lại.
    Là bài tập tự chọn không bắt buộc, bạn hãy ôn lại những câu hỏi và những câu trả lời trong phần về Hội Thánh Philađenphi và xủ dụng tài liệu nầy để làm bài giảng hay dàn ý học Kinh Thánh về bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Philađenphi.
    THƠ GỞI CHO HỘI THÁNH TẠI LAOĐIXÊ.
    KhKh 3:14-22.
    Thành phố Laođixê được đặt theo tên của vợ của vua Antiochus II, là Laođixê. Đây là một trung tâm thương mại phồn thịnh. Thành phố nầy nổi tiếng về thuốc men, dầu nhỏ lỗ tai, và thuốc xức mắt. Vì Laođixê không có nguồn cung cấp nước, nên nước từ suối nước nóng cách đó sáu dặm (khoảng 9 km) về phía nam của thành phố được mang qua những ống nước lớn vào thành phố để cung cấp cho cộng đồng. Khi nước chảy về thành phố, thì nó hâm hẩm rồi. Người Laođixê dễ nhận diện về phản ứng của Chúa đối với tình trạng hâm hẩm của họ, vì họ biết đối với người khát nước, nước hâm hẩm lợm giọng như thế nào. Khi thành phố nầy bị một cơn động đất phá hoại vào năm 60 S.C. những người lãnh đạo chỉ nói lời sau để từ chối sự giúp đỡ của người Lamã, họ nóiïõ nói. “Ta giàu rồi ta không cần chi nữa”.
    17. Trong sổ tay của bạn, hãy ghi ra năm chi tiết về bối cảnh lịch sử được đề cập ở đoạn trên về thành phố Laođixê.
    Đặc tính đầu tiên trong ba đặc tính mà Giăng qui cho Chúa Jesus trong câu 14 ấy là Ngài là Đấng Amen. Amen có nghĩa là “sự thật” hay “thật vậy”. Sự nhấn mạnh dường như nói về sự chính xác của sự phán đoán của Chúa Jesus. Một học giả Kinh Thánh nói rằng Amen là tước hiệu của Christ “biểu lộ sự tối cao của Ngài và sự chắc chắn hoàn thành lời hứa của Ngài”.
    18. Ba đặc tính của Chúa Jesus mà thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Laođixê được nêu trong câu 14 là gì?
    ...........................................................................................................................
    ...........................................................................................................................
    Chúa Jesus chẳng khen điều gì ở Hội Thánh tại Laođixê cả. Chữ “ Laođixê” có nghĩa là “sự nhận định phổ biến” (popular judgment) hay “sự chấp nhận phổ biến” (popular approval). Trong Hội Thánh, loại chấp nhận nầy thường bày tỏ ý muốn của con người hơn là ý muốn của Đức Chúa Trời. Nó ám chỉ rằng những mục sư hay những nhà lãnh đạo thuộc linh xem việc làm đẹp lòng người ta hơn là làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Hãy quan sát cách đặc biệt tình trạng trong câu 15-19 mà Chúa Jesus kết án ở Laođixê. Những thành viên của Hội Thánh chẳng lạnh mà cũng chẳng nóng trong tình trạng thuộc linh của mình. Lạnh có nghĩa là “xa cách Đức Chúa Trời nhưng biết được nhu cầu cần thông suốt đối với Ngài”. Hâm hẩm gợi ý “xa cách Đức Chúa Trời mà lại không ý thức điều đó”. Những tín hữu Laođixê đuợc Chúa khuyên phải mua “vàng thử lửa” (câu 18), ám chỉ về sự giàu có thuộc linh mà Cơ Đốc Nhân nhận được qua sự thử thách và trắc nghiệm đức tin của mình.
    Giop G 23:10IPhi 1Pr 1:7 dạy chúng ta rằng những sự thử nghiệm và chịu khổ như thế phát sinh sự trong sạch trong dân sự Đức Chúa Trời giống như vàng thử lửa. Hiển nhiên, đây là những gì người Laođixê hết sức cần. Lời Chúa Jesus ở câu 19, “ Phàm kẻ ta yêu mến thì ta bẻ trách sửa trị”, là bằng cớ cho thấy Đức Chúa Trời được nhận được phước hạnh trong nghịch cảnh, và cũng cho thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến sự trưởng thành và phát triển đời sống thuộc linh của chúng ta. Nhưng tiếp sau câu nầy là lời khuyên cho thấy người Laođixê cần phải thực hành lời khuyên của Ngài: “ vậy, hãy sốt sắng và ăn năn đi”.
    19. Trong những câu 15-19 điều Chúa Jesus kết án trong Hội Thánh tại Laođixê ấy là tín hữu.
    a. Không biết nhu cầu về sự giàu có thuộc linh của họ.
    b. Thiếu sự nhận biết về nhu cầu về sự giàu có thuộc linh của họ.
    c. Rất giàu về vật chất.
    d. Nghèo khổ nhiều về phương diện vật chất.
    Lời của Chúa ở phần đầu của câu 20, “Nầy Ta đứng ngoài cửa mà gõ” cho chúng ta thất rằng Ngài ở ngoài cửa của Hội Thánh tại Laođixê. Ngài không ở trong Hội Thánh gì cả. Tác giaả của bạn tin rằng Hội Thánh nầy tiêu biểu cho nhiều Hội Thánh giả của thời đại cuối cùng nầy- những Hội Thánh công bố mình là giáo hội Cơ Đốc nhưng chẳng có mối quan hệ gì với Chúa Jesus Christ. Những sự dạy dỗ của họ đến từ ý kiến của con người - không phải từ Lời của Đức Chúa Trời. Nhiều giáo hội phủ nhận thần tính của Chúa Jesus. Ngài vẫ đang gõ cửa, vì Ngài muốn tất cả mọi người được cứu (
    IIPhi 2Pr 3:9). Trong phần cuối của câu 20, Chúa Jesus có lời hứa đặc biệt cho những cá nhân trong Hội Thánh ở Laođixê. “Nếu ai nghe tiếng Ta mà mở cửa cho, thì Ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bửa tối với người, và người với Ta”. Đây là bửa tiệc thuộc linh sẽ thỏa mãn sự khao khát của mọi tấm lòng tìm kiếm.
    Đức Chúa Trời thỏa thích nơi tình yêu và sự thông công của con người. Kinh Thánh chủ yếu là câu chuyện của Đức Chúa Trời tìm kiếm con người (
    LuLc 19:10). Trong SaSt 3:9, Đức Chúa Trời gọi con người,”Ngươi ở đâu?” Trong Giăng đoạn 4, trong câu chuyện của Chúa Jesus và người phụ nữ Samari, Chúa Jesus hỏi khi Ngài đến gần bà ta, “Ngươi cho Ta uống được không?” (câu 7). ngài không tìm nước ở trong cái giếng ; Ngài tìm sự đáp ứng vốn chứng tỏ tình yêu và sự thông công thuộc linh. Điều nầy giải thích tại sao Chúa Jesus đã không muốn ăn khi những môn đồ đi mua thức ăn trở về. Đây là lý do Ngài phán: “Ta có đồ ăn để ăn mà các ngươi không biết” (câu 32). Ngài cần tình yêu và sự thông công của bạn giống như thế. Mối quan hệ yêu thương thuộc linh là bửa tiệc cho chúng ta và Ngài nữa.
    20. Trong sổ tay của bạn, hãy đưa ra lời khuyên đặc biệt mà Chúa Jesus ban phát ở phần cuối cùng câu 19 cho Hội Thánh hâm hẩm ở Laođixê, và lời hứa đặc biệt Ngài sẽ làm cho những cá nhân ở phần cuối của câu 20.
    21. Chúa Jesus hứa điều gì trong câu 21 cho những ngươòi đắc thắng ở Hội Thánh Laođixê? Trong ánh sáng của những gì được trình bày trước đây ở trong bài học nầy, lời hứa nầy có nghĩa là?
    ........................................................................................................................................
    ........................................................................................................................................
    22. Khoanh tròn mẫu tự trước lời nói ĐÚNG nhận diện những đặc điểm có ý nghĩa liên quan đến Hội Thánh ở Laođixê.
    a. Người Laođixê xử dụng nước hâm hẩm được mang vào thành phốù qua những ống nước lớn từ một nguồn nước ở bên ngoài thành phố.
    b. Từ những thái độ của những tín hữu ở Laođixê chúng ta có thể phỏng đoán rằng họ rất tự mãn, chưa trưởng thành về mặt thuộc linh, và đáng buồn và thiếu khải tượng.
    c. Laođxê, gống như ngững Hội Thánh khác, cũng có những điểm tốt và những điểm xấu, đáng được khen ngợi cũng như đáng bị quở trách.
    d. Laođixê là hình ảnh của lịch sử Hội Thánh thời kỳ cuối cùng và liên quan đến sự bội đạo tột điểm.
    Làm bài làm tự chọn không bắt buộc, bạn hãy ôn lại những câu hỏi và câu trả lời trong phần về Hội Thánh Laođixê và xử dụng tài liệu nầy để làm dàn ý bài giảng hoặc bài học Kinh Thánh về bức thơ của Giăng gởi cho Hội Thánh tại Laođixê.
    Bài Tập Trắc Nghiệm
    Chúng tôi gồm cả chương 6 và 7 trong phần Bài Tập Trắc Nghiệm nầy. Bạn có thể khảo sát những mục tiêu và Bài Tập Trắc Nghiệm của Bài 6 và ôn những mục tiêu của Bài học nầy trước khi bạn làm bài.
    CÂU TRẢ LỜI NGẮN. Trả lòi những câu hỏi nầy cách vắn tắt bằng lời riêng của bạn. Viết câu trả lời vào khoảng trống được chừa dưới đây.
    1. Trình bày mục đích ba mặc của bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh ở Khải huyền đoạn 2 và 3.
    ........................................................................................................................................
    2. Hãy nói lên hai điều quan trọng mà những bức thơ của Giăng gởi cho bảy Hội Thánh trong Khải huyền đoạn 2 và 3 bày tỏ có liên quan đến Chúa Jesus, nguồn gốc chủ yếu của những bức thơ.
    ........................................................................................................................................
    3. Viết thuộc lòng tên của bảy Hội Thánh ghi nhận trong Khải huyền đoạn 2 và đoạn 3 theo thứ tự mà Giăng đã ghi ra. Đồng thời, với mỗi Hội Thánh hãy liệt kê ít nhất là một trong những đặc điểm chính yếu của Hội Thánh ấy.
    ................................................................................................................................................................................................................................................................................
    XẾP ĐẶT CHO PHÙ HỢP. Theo những lời chỉ dẫn đặc biệt để xếp đặt cho phù hợp những câu dưới đây.
    4. Hãy xếp mỗi thơ gởi cho Hội Thánh phù hợp với đặc tính của ChúaJesus được đề cập hoặc nghĩa đen, hoặc nghĩa bóng.
    ....a. Chúa Jesus phục sinh.
    ....b. Chúa Jesus có và xử dụng Lời Đức Chúa Trời.
    ....c. Chúa Jesus bước đi giữa những Hội Thánh.
    ....d. Chúa Jesus ban Thánh Linh cho những tín hũu.
    ....e. Chúa Jesus có đôi mắt nhìn thấy tất cả.
    ....f. Chúa Jesus là Đấng Amen.
    ....g. Chúa Jesus là Đấng Mêsi.
    5. Hãy xếp số của mỗi bức thơ với vấn đề, đặc tính hay niềm tin có liên quan đến thơ đó.
    ....a. Đền thờ vĩ đại của Zeus.
    ....b. Tin rằng tượng Aïttêmít từ trời giáng xuống.
    ....c. Nổi tiếng là đồ trang sức của Asi.
    ....d. Nước được cung cấp qua ống dẫn nước lớn.
    ....e. Nổi tiếng là “Tiểu Athên”.
    ....f. Tọa lạc trên đồi cao.
    ....g. Chế tạo vũ khí, thuốc nhuộm và vải vóc.
    6. Hãy xếp số của bức thơ với mỗi điều mà Chúa Jesus không chấp nhận hoặc nghĩa đen, hoặc nghĩa bóng (Ghi chú: Bạn phải viết hai trong những con số của cột phải vào một trong những khoảng trống của 6 chỗ ở cột trái).
    ....a. Sự dạy dỗ của Giêsabên về thờ hình tượng và vô luân tình dục.
    ....b. Tình trạng chết thuộc linh ở hầu hết mọi người.
    ....c. Không có gì cả.
    ....d. Thiếu sự nhận biết về nhu cầu giàu có thuộc linh.
    ....e. Mất lòng kính mến ban đầu.
    ....f. Sự dạy dỗ của Balaam về thờ hình tượng và vô luân tình dục.
    7. Hãy xếp những bức thơ thích hợp với điều Chúa Jesus chấp nhận hoặc nghĩa đen hay nghĩa bóng.
    ....a. Không điều nào được khen.
    ....b. Giữ Lời của Chúa.
    ....c. Mặc áo không dơ bẩn hay sự trung tín của một số người.
    ....d. Sự dâng hiến phục vụ.
    ....e. Giữ đức tin nơi Ngài qua sự thử thách lớn.
    ....f. Sự giàu có thuộc linh ở giữa sự nghèo khổ về vật chất.
    ....g. Thử những lời công bố giả dối.
    8. Hãy xếp mỗi bức thơ với mỗi lời hứa mà Chúa Jesus hứa cho những người đắc thắng hoặc nghĩa đen hay nghĩa bóng.
    ....a. Chúa Jesus chẳng bao giờ xóa tên họ khỏi sách sự sống.
    ....b. Chúa Jesus sẽ ban cho họ uy quyền trên các nước.
    ....c. Chúa Jesus sẽ cho họ được quyền ngồi với Ngài trên Ngai của Ngài.
    ....d. Chúa Jesus sẽ làm cho họ thành những cây cột trong đền thờ của Đức Chúa Trời của Ngài.
    ....e. Chúa Jesus sẽ cho quyền được ăn trái cây sự sống.
    ....f. chúa Jesus hứa rằng họ sẽ không bị chết đời đời làm hại.
    ....g. Chúa Jesus sẽ ban cho họ thực phẩm thuộc linh và được tẩy sạch khỏi lỗi lầm.
    Giải Đáp Câu Hỏi Nghiên Cứu .
    1. 1) Thiatirơ có lịch sử về quân sự.
    2) Kỷ nghệ của thành phố đó nổi tiếng.
    3) Thành phố đó có những tập đoàn buôn bán.
    4) Thuốc nhuộm và vải vóc là sản phẩm đứng đầu.
    5) Lyđia, được Phao lô dẫn dắt tin Chúa, xuất thân từ thành phố này.
    2. Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời. Ngài có đôi mắt nhìn thấy mọi sự và Ngài chà
    đạp những kẻ thù nghịch Ngài dưới chơn.
    3. Tình yêu, đức tin, sự phục vụ và sự kiên nhẫn.
    4. Ngài không chấp nhận sự vô luân tình dục và thờ hình tượng.
    5. c. Cứ giữ vững những điều họ có.
    6. a. Sai.
    b. Đúng.
    c. Đúng.
    d. Đúng.
    e. Sai.
    f. Sai.
    g. Đúng.
    7. Thành phố Sạtđe:
    1) Tọa lạc trên ngọn đồi cao.
    2) Nằn trên con đường thương mại quan trọng.
    3) Một thành lũy kiên cố.
    4) Giàu có.
    5) Ít quyền hành dưới thời đế quốc Lamã hơn trước kia.
    8. Những điều đó gợi ý rằng Chúa Jesus có sự hiểu biết trọn vẹn về những hành động của Hội Thánh. Những mục sư chịu trách nhiệm với Ngài và sự lãnh đạo của họ có quyền.
    9. d. Sự chết về mặt thuộc linh.
    10. a. Đúng.
    b. Đúng.
    c. Sai.
    d. Đúng.
    e. Đúng.
    11. Thành phố Philađenphi:
    1) Được vua của Bẹrgăm xây dựng.
    2) Được đặt tên của người xây dựng.
    3) Là nơi có động đất.
    4) Là trung tâm thờ ngoại giáo.
    5) Được gọi là “Tiểu Athên”.
    12. Chúa Jesus là:
    1) Đấng Thánh và chơn thật.
    2) Đấng Mêsi.
    3) Đấng có mọi uy quyền năng.
    13. Ngài khen:
    1) Họ có ít năng lực.
    2) Họ đã giữ Lời của Ngài.
    3) Họ không chối danh Ngài.
    14. Lời hứa đặc biệt: “Ta sẽ... giữ ngươi khỏi giờ thử thách, là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ” có thể ám chỉ về việc Hội Thánh được gìn giữ khỏi Cơn Đại Nạn. Lời khuyên của Chúa Jesus ban cho, dường như nghịch lại với bối cảnh của việc Ngài đến mau chóng, hãy ghi nhận điều quan trọng đối với tín hữu và duy trì mối quan hệ với Ngài hầu cho họ có thể đạt được phần thưởng cho sự phục vụ của Ngài.
    15. Ngài sẽ:
    1) Làm cho họ trở nên rường cột trong đền thờ của Đức Chúa Trời.
    2) Ngài lấy danh của Đức Chúa Trời viết lên trên họ.
    3) Ngài viết trên họ danh của thành của Đức Chúa Trời.
    4) Viết trên họ danh mới của Ngài.
    16. a. Đúng.
    b. Đúng.
    c. Sai.
    d. Sai.
    e. Đúng.
    17. Thành phố Laođixê:
    1) Được đặt tên theo tên hoàng hậu Laođixê.
    2) Giàuu có.
    3) Nổi tiếng về thuốc men.
    4) Được cung cấp nước qua những ống dẫn nước.
    5) Nạn nhân của một cuộc động đất tàn phá.
    18. Chúa Jesus là Đấng Amen, trung tín và chứng nhân chân thật, và là Đấng cai trị Công bình Tạo dựng của Đức Chúa Trời.
    19. b. Thiếu sự nhận biết về nhu cầu của sự giàu có thuộc linh của họ.
    20. Lời khuyên của Ngài là Hãy sốt sắng và ăn năn. Ngài hứa nếu người nào mở lòng mình ra cho Chúa Jesus thì người ấy và Chúa sẽ hưởng một bửa tiệc thuộc linh với nhau. (Hãy chú ý ở đây Chúa Jesus đưa ra lời khuyên theo nghĩa đen, nhưng Ngài cũng ban lời hứa theo nghĩa bóng).
    21. Ngài hứa ban cho quyền được ngồi với Chúa Jesus trên Ngai của Ngài. Điều nầy có nghĩa là họ sẽ cai trị với Chúa Jesus và ở dưới quyền của Chúa Jesus trong thời đại Thiên Hi Niên.
    22. a. Đúng.
    b. Đúng.
    c. Sai.
    d. Đúng.
    e. Đúng.


    Hội Thánh và Cơn Đại Nạn
    Chúng ta đã hoàn tất hai điểm đầu của dàn ý được Chúa Jesus cho biết trong KhKh 1:19. Điểm thứ nhất bạn đã học là trong khải tượng vĩ đại của Giăng về Chúa Jesus Christ Đấng bày tỏ sự vinh hiển và uy nghi của Ngài, liên quan đến “Điều ngươi (Giăng) đã thấy”. Rồi bạn khảo sát những lời nói động viên, lời hứa, lời cảnh cáo, và sự phán xét của Chúa Jesus liên quan đến “Điều hiện có”. Bây giờ chúng ta sẵng sàng qua điểm thứ ba “ Điều sẽ xảy đến” để thấy Đức Chúa Trời hoàn thành kế hoạch của Ngài như thế nào. Bài học nầy giới thiệu quan điểm của nhiều học giả Kinh Thánh về việc Hội Thánh sẽ được giữ khỏi Cơn Đại Nạn. Khải huyền đoạn 4, và những đoạn khác của Kinh Thánh sẽ được thảo luận để ủng hộ cho quan điểm nầy.
    Trong
    Eph Ep 1:9-10 sứ đồ Phao lô cho biết rằng Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ sự màu nhiệm của ý muốn Ngài để mang mọi sự trên trời dưới đất để hợp làm một dưới một Nguyên thủ (cái Đầu) là Đấng Christ. Những biến cố còn lại là những sứ điệp trong sách Khải huyền sẽ giúp đỡ để giải thích thế nào Đức Chúa Trời đã “bày tỏ cho chúng ta” liên quan đến kế hoạch của Ngài sẽ “được hữu hiệu”. Phần còn lại của sách tham khảo tự học nầy sẽ giúp bạn hiểu “việc đem mọi người trên trời và dưới đất hợp làm một dưới... Đấng Christ” sẽ xảy ra như thế nào. Khi bạn nghiên cứu bài nầy, bạn sẽ biết cách chắc chắn hơn rằng Đức Chúa Trời đang nắm trọn quyền kiểm soát vũ trụ của Ngài. nguyện phần học tập nầy sẽ làm cho bạn xác quyết rõ ràng hơn về điều Đức Chúa Jesus Christ muốn mình trở thành và điều Ngài muốn bạn làm trong những giờ chót của thời gian.
    Ý Nghĩa Của Cụm Từ “Sau Những Điều Đó”.
    Một Cánh Cửa Mở Trên Trời.
    Tính Độc Nhất Của Cơn Đại Nạn.
    Cách Dùng Của Những Chữ “Hội Thánh” và “Ra Khỏi”.
    Sự Hiện Đến Của Chúa Jesus Trong
    ITe1Tx 4:13-5:11.
    Ý Nghĩa Của Những Chữ Liên Quan Đến Sự Tái Lâm Của Chúa Jesus.
    Thảo Luận Ba Câu Hỏi Về Thời Kỳ Cuối Cùng.
    Đấng Ngăn Trở Sự Bội Đạo và Antichrist.
    Học xong bài nầy bạn có thể:
    • Xử dụng Khải huyền đoạn 4 và những đoạn khác từ sách Khải huyền, Đaniên, các thơ tín của Phao lô, và Mathiơ để ủng hộ cho quan điểm về sự Cất lên xảy ra trước Cơn Đại Nạn.
    • Nhận xét từ Bài Giảng ở trên núi Oâlive về vị trí của những câu hỏi được nêu lên trong
    Mat Mt 24:3 có ý nghĩa gì trong việc chỉ cho tín hữu biết về sự kíp trở lại của Đấng Christ.
    • Hãy bày tỏ bằng đời sống và hành động của mình rằng Chúa Jesus đến rất gấp.
    1. Đọc KhKh 4:1-11; Mat Mt 24:1-25-25:13; IITe 2Tx 2:1-12 trước khi bạn nghiên cứu bài học nầy.
    2. Nghiên cứu bài học nầy và làm bài tập trắc nghiệm theo tiến trình được đưa ra trong Bài 1
    3. Bạn có thể xử dụng Kinh Thánh để trả lời những câu hỏi nghiên cứu và những câu trả lời trong bài tập trắc nghiệm.
    4. Nhớ xem phần chú giải từ ngữ để tìm hiểu ý nghĩa của những từ mới đối với bạn.
    Aên cắp (thief).
    Bảo vệ riêng (selectively protected).
    Cất lên (Rapture).
    Độc nhất (Uniqueness).
    Hạtmaghêđôn (Armagedon).
    Kên kên (vultures).
    Kết thúc (Consummation).
    Ý NGHĨA CỦA CỤM TỪ “SAU CÁC VIỆC NẦY”
    KhKh 4:1.
    Trong phần dàn ý về sách Khải huyền ở Bài 4, phần IV bàn về những gì xảy ra “Sau các Việc Nầy”. “Sau Các Việc Nầy” là bản dịch sát nghĩa của cụm từ Hy lạp meta tauta. Như vậy phần IV của dàn ý nầy mô tả những điều phải xảy ra sau những điều Giăng thấy, và những điều hiện có. Vì chúng ta tin rằng Bài 6 và Bài 7 mô tả về thời đại Hội Thánh, nên những điều sẽ xuất hiện phải ở sau thời đại Hội Thánh.
    4:1 bắt đầu với cụm từ hy lạp được dịch là “Sau Các Việc Nầy” (After these things), và chấm dứt với cụm từ tương tự. Theo quan điểm của chúng tôi việc dùng từ nầy rất quan trọng vì Chúa Jesus đã xử dụng từ nầy trong dàn ý Ngài đưa ra trong 1:19. Hơn nữa trong 4:1, Chúa chúng ta đã dùng chữ “phải” để ám chỉ về sự cần thiết của những điều sẽ xảy ra. Và thời gian của những sẽ xảy ra đó là meta tauta hay sau những biến cố mô tả ở 2:1-3:22
    1. Theo phần thảo luận của chúng ta về ý nghĩa của cụm từ Hy lạp meta tauta, thì nó gợi ý.
    a. Một dàn ý đặc biệt về những biến cố tương lai.
    b. Về điều xảy ra trong thời của Giăng.
    c. Về những gì xảy ra sau thời đại Hội Thánh.
    d. Những biến cố đặc biệt trong lịch sử Hội Thánh.
    MỘT CÁNH CỬA MỞ TRÊN TRỜI.
    KhKh 4:2.
    Ngoài diễn tiến thời gian chúng ta đã khảo sát ở
    4:1, một đề tài khác được giới thiệu ở đây và trong câu sau, chúng ta tin rằng đó là chìa khóa để giải thích những biến cố của thời kỳ cuối cùng. Giăng nhìn thấy một cài cửa mở ra trên trời và nghe tiếng nói mà ông đã nghe lần đầu tiên giống như tiếng kèn (KhKh 1:10-18). Tuy nhiên, lần nầy tiếng nói nầy gọi ông “đi lên” trời. Sau đó Giăng được Thánh Linh đem ông lên khỏi đất qua cánh cửa mở để vào trên trời. Mặc dù cụm từ “tức thì tôi cảm Thánh Linh”, được một số người hiểu rằng đây là việc ám chỉ giăng rơi vào trạng thái xuất thần, nhưng chúng ta cần nhớ rằng vị tiên tri nầy đã ở “trong Thánh Linh” rồi (1:10). Điều rõ ràng ở đây là Giăng được đem lên vì trong câu 2 ông ở “trước... một ngai ở trên trời”. Phần còn lại của Khải huyền đoạn 4 là phần mô tả về cái ngai nầy ở trên trời và những hoạt động liên quan với ngai ấy. Chúng ta sẽ dỡ sang đoạn 4 ở bài học kế tiếp , nhưng để quân bằng bài học nầy chúng ta sẽ thảo luận về Hội Thánh liên quan đến Cơn Đại Nạn như thế nào.
    Trong phần nghiên cứu của chúng ta , đoạn
    4:1-2 mang chúng ta đến điểm đặc biệt ích lợi. Vì chúng ta đã trình bày quan điểm có những đặc điểm của Hội Thánh suốt toàn quá trình của thời đại Hội Thánh trong đoạn 2 và 3, nên bây giờ chúng ta khảo sát những biến cố xuất hiện tiếp theo sau sự cất lên của Hội Thánh vốn được biểu trưng bằng việc Giăng lên trời được mô tả ở trên. Ch