• AN-NE CON NGƯỜI NHÂN HẬU

    Đề tài: AN-NE CON NGƯỜI NHÂN HẬU VÀ
     LÀ PHỤ NỮ CẦU NGUYỆN
    Kinh thánh: I Sa-mu-ên 1:

    I.                   TÂM TÌNH VÀ PHẨM CHẤT CỦA AN-NE. (
    Chúa Giê-xu phán rằng: “Các ngươi lại sẽ bị thiên hạ ghen ghét vì danh ta”chúng ta là con dân của Chúa, chúng ta đang đi ngược lại dòng đời, chúng ta được Chúa gọi ra từ giữa thế gian mờ tối, tội lỗi để trở về cùng Đức Chúa Trời.

    Sứ đồ Phao lô nói rằng: “Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi quyền của sự tối tăm, làm cho chúng ta dời qua nước của Con rất yêu dấu Ngài” (  Co 1:13)

    Chúng ta trở thành những Cơ Đốc nhân là muối của đất, và ánh sáng của trần gian này.

    Theo tác giả Thi-thiên số 1 thì bổn phận của Cơ Đốc nhân không được theo mưu kế của kẻ dữ, không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng, không đứng trong đường tội nhân.

    Chúa Giê-xu phán trong Phúc-âm Giăng 15:19 “ Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi.”

    Sỡ dĩ họ ghét chúng ta chỉ vì là họ ghét Chúa, và họ ghét chúng ta chỉ vì chúng ta không làm giống như họ, không nói giống như họ, không sống giống như họ.

    Người đời ghen ghét, châm biếm, mỉa mai chúng ta là một lẽ, nhưng ngay trong gia đình chúng ta cũng vậy, sẽ có những sự ghen ghét, trêu chọc, châm biếm, mỉa mai lẫn nhau nữa.
    Thưa Hội Thánh!
    Trong gia đình nhà Ên-ca-na cũng như vậy: ông có hai bà vợ, bà vợ thứ nhất tên là An-ne thì không có con, còn bà vợ thứ hai là Phê-ni-a thì có con.

    Trong câu 6 Thánh Kinh ghi rằng: “Kẻ phân bì nàng khôn xiết trêu ghẹo nàng,để giục nàng lằm bằm vì Ðức Giê-hô-va đã khiến nàng son sẻ. Từ năm này đến năm kia, mỗi khi nàng đi lên đền Ðức Giê-hô-va chồng đãi nàng như vậy, còn Phê-ni-na cứ trêu ghẹo nàng; An-ne khóc và không ăn (I Sa-mu-ên 1:6-7)

    So sánh bản dịch Kinh Thánh thì chúng thấy Thánh Kinh ghi rằng “Bà Phê-ni-na, tìm đủ cách chọc tức bà An-ne, để hạ nhục bà.”
    “ Phê-ni-a thường mang việc An-ne không con ra để trêu chọc.” [HĐ]

     Phê-ni-a đã hạ nhục bà An-ne, chọc tức cho bà An-ne để bà An-ne lằm bằm với Đức Chúa Trời.

    Không có con là một nỗi khổ lớn nhưng bà An-ne còn khổ tâm hơn vì luôn luôn bị Phê-ni-na trêu chọc, chế giễu. Dù được chồng yêu thương hơn, bà vẫn không cảm thấy hạnh phúc.

    Trong tiếng Hê-bơ-rơ chữ An-ne có nghĩa là ân điển, ân sủng hoặc nhân từ, hay dịu dàng.

    Tên của bà An-ne thật đúng với con người của bà. Bà là một phụ nữ hiền lành, dịu dàng, nhẫn nại. Ngày nay nhiều người lấy tên Anne đặt cho con gái vì muốn con mình là một thiếu nữ dịu dàng, nhân hậu, nhân từ.

    Qua những chi tiết Thánh Kinh ghi lại chúng ta có thể nói, bà An-ne là người đàn bà có tâm tính cao đẹp. Trước hết, bà là người nhân từ, dịu dàng, đúng như ý nghĩa của tên bà.

    Dù bị người vợ thứ của chồng trêu ghẹo, bà không hề nổi giận, phàn nàn hay gây gổ với người đó.

    Khi bị người vợ thứ của chồng trêu ghẹo, chế giễu, bà An-ne không trả đũa cũng không nổi giận, bà chỉ biểu lộ nỗi buồn đau của mình qua giòng nước mắt.

    Trong hoàn cảnh đau buồn, bà An-ne cũng không oán trách chồng hay đổ lỗi cho chồng.  Oán trách và đổ lỗi cho chồng là điều nhiều người thường làm khi gặp thử thách hay khó khăn trong cuộc sống.

    Thánh Kinh ghi rằng Phê-ni-na hết sức trêu chọc An-ne để khiến nàng lằm bằm vì Chúa Hằng Hữu đã khiến nàng son sẻ. Nhưng Phê-ni-na đã thất bại, An-ne không phàn nàn chồng cũng không oán trách Chúa.

    Mỗi ngày bà phải nghe lời chế giễu của người vợ lẽ, phải chấp nhận chồng san xẻ tình yêu với người đó, dành thì giờ chăm sóc con cái của người đó, phải nhìn con cái của người đó vui chơi với nhau, v.v... Dù phải đối đầu với tất cả những nỗi khổ đó, bà An-ne không oán trách, buồn giận nhưng yên lặng chịu đựng và dâng trình niềm đau của mình cho Chúa. Với tính mềm mại, nhẫn nhục chịu đựng, sẵn sàng hy sinh cho hạnh phúc của người khác, bà An-ne đã nổi bật như một đóa hoa thơm giữa đám gai gốc.

    Phê-ni-a là hình ảnh của một Cơ Đốc nhân không được tái sanh, nối sống, lời nói, và tấm lòng đầy dẫy những tranh cạnh, ghen ghét, thóa mạ, làm nhục người khác.

    Mặc dầu có đi lên đền thờ, nhưng đời sống vẫn chẳng có gì thay đổi, mặc dầu có dâng của lễ nhưng đời sống bà chẳng phải là một của lễ tốt.

    Ngày nay, nhìn vào Hội Thánh hay chính mình chúng ta, chúng ta cũng nhìn thấy chính mình là Phê-ni-a. Mặc dầu tôi mang danh là con cái Chúa đấy nhưng chẳng có Chúa ở đâu trong đời sống bà hết.
    Mặc dầu vẫn đi lên đền thờ nhưng đời sống chẳng có gì là mùi thơm cho Chúa hết.

    Bà đã vui mừng trong đau khổ của người khác, thay vì bà an ủi bà An-ne thì bà giục An-ne lằm bằm với Đức Chúa Trời.

    Đi nhóm mà chẳng có gì thay đổi cả, đi nhóm mà khi về chẳng có tý đức tin nào hết, đi hầu việc Chúa mà chẳng có sự khích lệ nào hết.

    Bà Phê-ni-a giống như bà vợ của ông Gióp: Vợ của Gióp đã giục chồng mình rủa sả Đức Chúa Trời, rồi bà Phê-ni-a giống thái độ của bà Na-ô-mi đã chạy khỏi bàn tay chăm sóc của Đức Chúa Trời, bước đi theo ý riêng gặp thất bại thì lại đổ lỗi cho Đức Chúa Trời.

    An-ne là một tấm gương cho những người phụ nữ Cơ Đốc, mặc dầu ở trong hoàn cảnh không có con, vào thời đó không có con là người xung quanh cho rằng: Họ bị Đức Chúa Trời rủa sả.

    An-ne không thể có con, và trong thời Cựu Ước, một phụ nữ không có con bị xem là một sự thất bại. Sự son sẻ của bà là điều gây khó khăn về mặt xã hội cho chồng bà. Con cái là một phần rất quan trọng của cơ cấu kinh tế trong xã hội. Chúng là nguồn lao động cho gia đình, và chúng có bổn phận chăm sóc cha mẹ mình trong tuổi về già.


    Bà phải sống cạnh và sinh hoạt với một người phụ nữ xấu nết là Phê-ni-a nhưng tấm lòng của bà không có lấy ác trả ác cho ai, không lấy rủa xả trả rủa xả.
    An-ne một người phụ nữ có cách sống cao thượng, không vướng víu vào những chuyện nhỏ nhặt, đối với người xung quanh bà học để yên lặng, mặc cho mọi lời độc địa của Phê-ni-a hằng ngày châm biếm, mỉa mai, sỉ nhục nhưng bà không một lời nào bênh vực cho bản thân, hay có một sự đấu tranh nào cả. Bà tin rằng chính Chúa sẽ bênh vực tốt hơn bà tự bênh vực chính mình.

    Kinh Thánh cho biết Đức Chúa Trời là Cha kẻ mồ côi, là Thẩm phán bênh vực quả phụ (Thi Thiên 68:5). Cho nên bỏ mặc những người cô nhi và quả phụ, tức là những người nghèo khổ và khốn cùng hoặc đối xử bất công, bóc lột họ là một vấn đề nghiêm trọng. Đụng đến họ là đụng đến chính Đức Chúa Trời!

    Đức Chúa Trời không bỏ mặc người nghèo khó và người khốn khổ. Ngài lắng nghe họ, bênh vực họ, bảo vệ họ và ban phước cho họ: “Nếu bị áp bức, họ sẽ kêu đến ta. Khi nghe họ kêu ca, lửa giận ta sẽ nổi lên, sai nạn gươm đao diệt các ngươi, như vậy vợ các ngươi sẽ thành goá phụ, con các ngươi thành mồ côi. (Xuất Ai-cập Ký 22:23-24)

    Ngược lại người đối xử bất công với họ bị nguyền rủa: Ai xử bất công với người ngoại kiều, cô nhi, quả phụ phải bị nguyền rủa. (Phục Truyền 27:19) Đối tượng Chúa trừng phạt rất rõ ràng. Việc phân xử cũng diễn ra nhanh chóng: “Ta sẽ đến gần để phân xử cho các ngươi. Ta sẽ lẹ làng đưa tang chứng để kết tội bọn… gạt tiền công của người làm mướn, hiếp bách đàn bà goá và trẻ mồ côi…” (Ma-la-chi 3:5)

    Bà Phê-ni-a là người có nhiều con nên ăn hiếp, trêu ghẹo bà An-ne (I Sa-mu-ên 1:1-6). Đức Chúa Trời nghe lời cầu nguyện của bà An-ne, như một người Cha an ủi làm cho bà nguôi ngoai nỗi buồn. Sau khi nghe ông Hê-li nói: “Chúc bà bình an. Xin Đức Chúa Trời của I-sơ-ra-ên ban cho bà những điều bà thỉnh cầu”, …bà lui ra ăn uống và nỗi buồn được vơi đi. (I Sa-mu-ên 1:17-18) Đức Chúa Trời cũng phân xử cho bà An-ne như một thẩm phán bênh vực người cô thế. Ngoài Sa-mu-ên, Chúa còn cho bà sinh thêm được ba trai hai gái nữa. (I Sa-mu-ên 2:21)

    Cần luôn luôn nhớ rằng Đức Chúa Trời bênh vực và bảo vệ người nghèo khó. Bạn là người giàu có vì bạn là con của Đức Chúa Trời. Hãy sống theo gương sáng của Cha Thiên Thượng.


    II.                LỜI CẦU NGUYỆN KHẨN THIẾT CỦA AN-NE.
    Trong câu số 10 có ghi rằng: “ An-ne lấy làm sầu khổ trong lòng, vừa cầu khẩn Đức Giê-hô-va, vừa tuôn tràn giọt lệ.”

    Theo thói thường khi một người buồn bực, đau khổ người đó thường đi tìm một ai đó để nói chuyện cho khuây khỏa, tâm sự, hầu cho vơi bớt nỗi sầu khổ, đau thương. Đặc biệt là trong sự đau khổ người ta mong có một ai đó cảm thông, hiểu mình, chia sẻ với mình.

    An-ne đã có một quyết định khôn ngoan đó là nàng đã tìm đến chính Đức Chúa Trời. An-ne không chỉ xem Đức Chúa Trời như là Đấng Thần Linh, tối cao cần được tôn kính nhưng nàng cũng xem Chúa như là một người bạn thiết nghĩa của mình.

    Quý vị có cảm giác sầu khổ không? Tấm lòng quý vị không ai hiểu ư? Hãy mang đến Đức Chúa Trời, An-ne vừa cầu khẩn, vừa tuôn tràn giọt lệ.

    Nước mắt trong lời cầu nguyện của bà An-ne cho thấy bà có đời sống cầu nguyện rất mật thiết với Chúa. Nước mắt không rửa trôi được sự vô cảm, và sự vô tín nhưng ít ra cũng cho thấy một người tan vỡ trước Đức Chúa Trời.

    Lời cầu nguyện khô khan sẽ không bao giờ có nước mắt, tôi hiểu được sự đau đớn, không nói thành lời trong lời cầu nguyện của An-ne. Bà nghẹn ngào, giải bày lòng mình trước mặt Đức Chúa Trời.
    Tôi không trông mong quý vị sẽ đau khổ như An-ne nhưng hãy tôi trông mong quý vị và tôi thường thường có lời cầu nguyện như An-ne.

    Minh họa: Có những giờ phút chúng ta cầu nguyện khẩn thiết, trải lòng mình ra trước mặt Chúa và rồi khi cầu nguyện xong, nước mắt đọng lại trên Mi-mắt. Điều đó là một dấu hiệu tốt của một đời sống dầm thấm trong giờ phút cầu nguyện với Đức Chúa Trời.

    Minh họa: Chúa Giê-xu cũng trong giờ phút đau đớn, không ai hiểu được nỗi đau mà Chúa Giê-xu sắp phải gánh chịu, mọi người đều đi ngủ hết, vô cảm, tấm lòng băng giá. Nhưng Chúa Giê-xu đã cầu nguyện thống thiết, đến nỗi mồ hôi rơi xuống như những giọt máu. Đó là giờ phút cầu nguyện mà Chúa Giê-xu trải lòng trước mặt Đức Chúa Cha.

    Trước hết, chúng ta thấy Lời cầu nguyện của An-ne không chỉ thống thiết, khẩn thiết, nhưng trong lời cầu nguyện của bà bộc bạch, mộc mạc nói lên sự chân thật của tấm lòng.

    Nàng đã cầu nguyện như sau: “Ôi, Đức Giê-hô-va của vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của con đòi Ngài, nhớ lại nó chẳng quên, và ban cho con đòi Ngài một đứa trai, thì tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Đức Giê-hô-va, và dao cạo sẽ chẳng đưa ngang qua đầu nó.”

    1. Ngợi khen: Trong lời cầu nguyện đầu tiên bà đã ngợi khen Chúa, bà ngợi khen Chúa là Đức Giê hô va vạn quân. Đây là một danh hiệu mô tả Chúa là Đấng mạnh sức, Đấng toàn năng, Đấng đoái xem.

    Bà ca ngợi Chúa vì Chúa là Đấng sẽ đoái thương tới nan đề của bà, bà tin rằng Ngài đã nhìn thấy tấm lòng bà đã trải ra trước mặt Ngài, bà tin rằng Chúa là Đấng thấy được trong nơi kín nhiệm và Ngài là Đấng toàn năng chắc chắn sẽ đáp lời cầu nguyện của bà.

    Một người phụ nữ đầy đức tin, một người phụ nữ cầu nguyện ngợi khen, một người phụ nữ cầu nguyện với lòng tin chắc chắn.
    Nhiều khi trong chúng ta cứ chạy đến với Chúa và xin xin xin. Chúng ta liệt kê, kể lể một loạt những nan đề nhu cầu trước Chúa mà trong đó chẳng có một lời ca ngợi, chẳng có một lời cảm tạ nào cả. Chúng ta chẳng suy tôn Chúa trước khi cầu xin.
    Minh họa: Chúng ta đã học giáo lý những điều nên có trong lời cầu nguyện đó là:
    1.      Tôn thờ
    2.     Xưng tội
    3.     Tạ ơn
    4.     Cầu xin
    Nhưng chúng ta cứ đảo lộn thứ tự, trước nhất là phải xin trước, được rồi thì mới cảm tạ, mới ca ngợi, còn nếu xin mà không được thì ông cứ lằm bằm chi điên đầu, nhức óc.


    2. Khiêm nhường: Kế đến, bà An-ne bày tỏ thái độ khiêm nhường trong khi cầu nguyện “ bà đã tự xem mình là con đòi Ngài  động từ “ con đòi hay nữ tỳ” Từ Hán Việt có nghĩa là Đầy tớ gái, hay là nghĩa là kẻ hèn mọn.

    Ý muốn nói lên bà chỉ là kẻ hèn mọn cần được Chúa thương xót, bà không cho là bà xứng đáng được nhận, nhưng tùy vào lòng nhân từ và sự thương xót của Chúa.

    Đây là một thái độ khiên nhường của một người khi cầu nguyện:

    Minh họa: Trong Phúc-âm Luca 18 Chúa Giê-xu có kể một ví dụ về hai người cùng lên đền thờ cầu nguyện. Một người Pha-ri-si và một người thâu thuế.
    “Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy. 12 Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. 13 Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! 14 Ta nói cùng các ngươi, người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên.”

    Người Pha-ri-si chạy đến với Chúa cầu nguyện để kể ra những việc làm đạo đức, công danh, sự nghiệp đóng góp cho nhà Chúa, tự đắc ý và hãnh diện vào những việc làm công bình riêng của mình.

    Còn người thâu thuế thì đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đám ngực cầu nguyện “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!”
    Có những người cầu nguyện dài nhưng lại cầu nguyện theo kiểu của người Pha-ri-si nhưng có những người cầu nguyện ngắn nhưng lại là lời cầu nguyện được Chúa đẹp lòng nhận lời.

    Người thâu thuế cầu nguyện rằng: Xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội, tôi không xứng đáng, tôi không phải là người công bình, tôi không là gì hết.
    Có nhiều khi chúng ta đến với Chúa mà cứ như thể chúng ta ra lệnh cho Chúa: Phải thành cái này, phải được cái kia, mà thiếu đi tấm lòng của một con đòi, thiếu đi sự khiêm nhường của một nữ tỳ. Tôi và quý vị không có gì xứng đáng trước mặt Chúa đâu, dầu chúng ta làm nhiều việc cho Chúa đi chăng nữa thì chúng ta cũng chẳng khác chi con đòi hoặc nữ tỳ mà thôi. Việc Chúa đáp lời, nhận lời cầu nguyện của chúng ta cũng chỉ vì Chúa thương xót, đoái đến mà thôi.

    3. Bà tín thác vào sự thành tín của Chúa:

    Tiếp theo bà tin cậy vào bản tánh yêu thương và thành tín của Chúa “ nhớ lại nó chẳng quên”
    Khi đặt mình vào trong hoàn cảnh của bà An-ne lúc bấy giờ, chúng ta mới thấy được rằng: khó mà tín thác cho Chúa lắm, khó mà tin vào sự thành tín của Chúa lắm.

    Minh họa: Khi dân Y-sơ-ra-ên đã đi suốt chiều dài của năm tháng trong Sa-mạc, Ngài đã cho nước vọt lên từ hòn đá, và mưa na mỗi buổi sớm mai. Nhưng một ngày kia, nước không còn nữa, ma-na cũng hết. Họ có còn tin vào sự thành tín, chăm sóc, bồng ẵm của Chúa nữa không.

    Trong sách Dân-số-ký họ hỏi với nhau rằng: Có Chúa ở giữa chúng ta hay không? Họ hỏi như vậy vì họ nghi ngờ vào sự thành tín của Đức Chúa Trời.

    Bà An-ne thì ngược lại, mặc dầu vào thời điểm đó bà chưa có con nhưng trong lời cầu nguyện bà tin cậy vào Chúa là Đấng nhớ lại bà chẳng quên bà. Bà tin Chúa đoái đến bà, bà tin Chúa nhớ đến bà.

    Minh họa: Có những lúc ở trong hoàn cảnh đau khổ, khó khăn, thiếu thốn chúng ta thường có cảm giác Chúa bỏ rơi chúng ta, Chúa không còn chăm sóc và đoái xem chúng ta nữa.

    Nhưng bản tính của Chúa là bản tính yêu thương, Ngài rất thành tín.
    Minh họa: Khi tiên tri Ê-li đến khe có suối nước, chim quạ tha thịt về cho ông ăn, nhưng một ngày kia, Chúa phán với ông đi đến người đàn bà nghèo khó Sa-rép-ta. Ở đó Chúa sẽ dùng người đàn bà đó để nuôi ông.

    Tại sao Chúa không sắm sẵn một người giàu có mà Ngài lại sai ông chạy đến với người nghèo khó. Ở tại nơi đó ông sẽ chứng kiến được phép lạ kỳ diệu của Chúa và ở tại nơi đó ông nhìn thấy sự thành tín của Chúa: bình sẽ không hết dầu, vò sẽ không hết bột.


    Đức Giê hô va là Đấng chẳng bao giờ quên nỗi sầu khổ, đau khổ của An-ne, Ngài đã đoái đến An-ne và Ngài là Đấng cũng sẽ chẳng bao giờ quên chúng ta.
    Dầu đàn bà há có quên con mình, song ta chẳng quên ngươi.

    19 Qua ngày sau, vợ chồng dậy sớm, thờ lạy trước mặt Đức Giê-hô-va, đoạn trở về nhà mình tại Ra-ma. Ên-ca-na ăn ở cùng An-ne, là vợ mình; Đức Giê-hô-va bèn nhớ đến nàng. 20 Đương trong năm, An-ne thọ thai và sanh một con trai, đặt tên là Sa-mu-ên [†]
    , mà nói rằng: Tôi đã cầu xin nó nơi Đức Giê-hô-va.

    III. GIỮ LỜI HỨA CÙNG ĐỨC CHÚA TRỜI.
    - Thì tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Đức giê hô va. Đây là một người mẹ tuyệt vời, đây là một người mẹ mẫu mực cho mọi người mẹ.
    Phi-nê-a có con nhưng không phú cho Chúa, ngược lại An-ne đã nói rằng: Nếu Chúa cho tôi thì tôi sẽ phú nó cho Đức Giê hô va.
    Động từ “ phú” nó ám chỉ…
    Không phải bà dâng tuổi thanh xuân của nó cho Chúa, không phải bà phú con mình cho Chúa nửa cuộc đời. Mà bà nói tôi sẽ phú dâng nó trọn đời cho Đức Giê hô va.

    Quý vị có dám phú dâng con cái của quý vị lên cho Chúa mỗi ngày không?
    Ông Gióp đã phú dâng con cái, con trai, dâu rể lên cho Chúa vào mỗi buổi sáng mai.

    Và bà đã giữ lời hứa của bà:
    22 Nhưng An-ne không đi lên, vì nói cùng chồng rằng: Khi đứa trẻ dứt sữa, tôi sẽ dẫn nó lên, để nó ra mắt Đức Giê-hô-va, và ở đó luôn luôn.”
    Vừa khi dứt sữa, nàng bèn dẫn nó theo mình đến đền của Đức Giê-hô-va tại Si-lô, cùng đem theo ba con bò đực, một ê-pha bột mì, và một bầu rượu. Đứa trẻ hãy còn nhỏ lắm. 25 Họ giết con bò đực, rồi dẫn đứa trẻ đến Hê-li. 26 Nàng bèn nói cùng người rằng: Xin lỗi, chúa! Xưa có người đàn bà đứng tại đây, gần bên ông, đặng cầu khẩn Đức Giê-hô-va; tôi chỉ sanh mạng ông mà thề rằng tôi là người đó. 27 Ấy vì đứa trẻ nầy mà tôi cầu nguyện. Đức Giê-hô-va đã nhậm lời tôi đã cầu xin cùng Ngài. 28 Vì vậy, tôi cũng dâng nó cho Đức Giê-hô-va; tôi cho Đức Giê-hô-va mượn nó trọn đời nó. Đoạn mẹ con đều thờ lạy tại đó trước mặt Đức Giê-hô-va.

    Quý vị có đang dẫn con mình đến đền thờ của Đức Giê hô và không.


    Đây là một người mẹ, không phải là người chồng,


    - Tuôn tràn giọt lệ.

    -         Vì nàng cầu nguyện lâu dài trước mặt Đức Giê-hô-va, Hê-li chăm xem miệng nàng;
  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels