• Điều Cần Biết

    Đề tài: Điều Cần Biết
    Thánh Kinh: Giăng 3:16 & I Giăng 4:9
    Nhập đề:
    Thưa quý vị! Một vị Vua khôn ngoan bậc nhất, giàu có bậc nhất nước Do Thái đó chính là Vua Sa-lô-môn. Ông được mệnh danh là một vị vua có tấm lòng khôn sáng. Trước ông và sau ông không ai hiểu biết và giàu có hơn ông. Nhưng đến giữa cuộc đời, Sa-lô-môn phải thốt lên cho nhân loại này biết rằng: “ Ta cũng chuyên lòng học biết sự khôn ngoan, và biết sự ngu dại điên cuồng; ta nhìn biết điều đó cũng là theo luồng gió thổi. 18 Vì nếu sự khôn ngoan nhiều, sự phiền não cũng nhiều; ai thêm sự tri thức ắt thêm sự đau đớn. (Truyền đạo 1: 17-18)
    Sa-lô-môn là một người chuyên tâm tìm tòi sự khôn ngoan hiểu biết nhưng chẳng bao lâu sau những điều mà ông biết đó chỉ khiến ông thêm phiền não, đau đớn và chóng qua mà thôi.
    Thánh Kinh có tới 1884 từ “ biết” được xuất hiện trong những bối cảnh khác nhau, câu chuyện khác nhau, mối quan hệ khác nhau, lời giảng khác nhau.
    Như vậy chúng ta có hàng ngàn điều mà con người cần biết, và muốn biết. Nhưng hôm nay tôi giới thiệu quý vị ba điều hệ trọng nhất mà quý vị cần biết, và phải biết trong cuộc đời của mình.
    Biết Tình Yêu Của Đức Chúa Trời.
    Biết Đấng Christ Là Đấng Cứu Chuộc.
    Biết Mình Là Một Tội Nhân Cần Được Sự Sống.
    Ba điều hệ trọng này có ý nghĩa trong suốt cuộc đời chúng ta, và không chỉ chỉ quan trọng trong đời này mà còn liên hệ trong đời sau nữa.
    I/. Biết Tình Yêu Của Đức Chúa Trời
    Biết Chúa là cái biết cao quý nhất, sâu sắc nhất, gần gũi nhất, thực tế và thiết thực nhất. Nhưng biết Chúa yêu thương mình lại là một việc quan trọng hơn.
    Vì ai cũng có thể biết: Trời ban mưa, ban nắng, ban sức khỏe, có cơm gạo thóc lúa, mùa màng bội thu. Nhưng không phải ai cũng nhớ đến Trời, biết ơn Trời và thờ Trời.
    Ai cũng sợ Trời hành, Trời đày, Trời Phạt, nhưng chẳng mấy ai biết Trời thương yêu và quan tâm, chăm sóc mình.
    Thế gian hiểu sai lầm về Đức Chúa Trời, họ nghĩ rằng: Ông Trời chính là Thượng Đế lúc nào cũng chờ trực cho sẵn để mỗi khi chúng ta phạm tội thì cầm búa rìu giáng họa xuống. Nhưng Thánh Kinh tuyên bố lời rất ngắn, nhưng rất quyền năng: Đức Chúa Trời là tình yêu thương. ( I Giăng 4: 8b)
    Cảm tạ Chúa! Chúa không phải là Đấng gào thét, la lối, giận giữ. Ngài là Đấng yêu thương, nhân từ và đầy lòng thương xót. Tình yêu của Ngài không phải như tình yêu của con người, sớm thương, tối ghét, giữa trưa thì vừa thương vừa ghét.
    Sứ đồ Giăng vị sứ đồ của tình yêu ông nói: “ Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian”. Ông viết tiếp trong thư tín I Giăng 4:9 “ Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta”
    Chữ thế gian ở đây nói đến tất cả mọi người trong thế giới này, dù cho văn minh hay làng mạc thôn quê, không phân chia màu ra, tiếng nói, đàn ông hay đàn bà, trẻ thơ và người già cả. Ngài yêu ai thì cứ yêu cho đến cuối cùng.
    Thánh đồ Giăng chuyển đổi cách gọi từ chữ “ thế gian” sang “ chúng ta”, chữ chúng ta gần gũi hơn
    nó có nghĩa là tình yêu của Ngài được dành cho cả nhân loại này nhưng chỉ có những ai đón nhận tình yêu ấy mới
    Ngày xưa, có một chú bé Phi Châu tên là Emmanuel. Chú ta luôn luôn tò mò thắc mắc.Ngày nọ chú hỏi thầy giáo: "Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào?" Thầy giáo chỉ biết gãiđầu và nói: "Thú thực là thầy không biết". Sau đó Emmanuel đi hỏi các nhà trí thứctrong làng nhưng họ cũng chẳng biết. Thế là chú ta càng lúc càng tò mò thắc mắc hơn,chú dạo quanh khắp vùng dọ hỏi các bậc thức giả ở những làng khác: "Thiên Chúanói bằng thứ tiếng nào?". Nhưng họ cũng chỉ biết lắc đầu mà thôi. Tuy nhiên,Emmanuel vẫn tin chắc có người biết điều ấy. Vì thế chú lên đường đến những quốc gia và cả những đại lục khác để tìm hỏi, nhưng ở đâu chú cũng chẳng nhận được câutrả lời. Một đêm nọ sau khi bị kiệt sức vì đi quá nhiều nơi, Emmanuel đến được mộtngôi làng nọ, tên là Belem. bà này biết tên chú? Có một bà cụ ở đó nói với cậu rằng:"Đã từ lâu, con đã tìm kiếm khắp thế giới để hỏi xem Thiên Chúa nói bằng thứ tiếngnào.
    Thiên Chúa nói bằng thứ tiếng nào. Ngài nói bằng ngôn ngữ của tình yêu. ThiênChúa quá yêu thương thế gian đến nỗi ban cho thế gian Con Một của Ngài" (Ga 3: 16).
    II/. Biết Đấng Christ Là Đấng Cứu Chuộc
    Đức Chúa Trời không chỉ nói bằng ngôn ngữ của tình yêu mà Ngài còn hành động, vận hành trong tình yêu thương.
    Lời Chúa chép: “ Lòng Đức Chúa Trời yêu chúng ta đã bày tỏ ra trong điều nầy: Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài đến thế gian, đặng chúng ta nhờ Con được sống.” ( IGiăng 4:9)
    Đức Chúa Trời đã sai Con một Ngài, đến đâu thưa quý vị? Đến thế gian.
    Chúng ta thường chạy vạy, để tìm cách cho con được sang nước ngoài, tìm việc cho con ở nước ngoài, tìm chồng vợ ở nước ngoài cho con. Bằng cấp học vị ở nơi tốt nhất. Chúng ta thương con, không muốn con phải lấm nết ngày ăn ba bữa cơm, quanh năm rau muống : luộc rồi lại xào. Cho lên đem con đến nơi văn minh, giàu sang, màu mỡ.
    Nhưng có một con trẻ tên Ngài là Jê-sus đã từ chỗ giàu sang, cao trọng để đến nơi thấp hèn, tột cùng của thấp hèn, không gì thấp hơn nữa, hèn hạ hơn nữa. Ngài đã trở lên nghèo vì cớ chúng ta, để chúng ta được giàu có. Chiếc nôi đầu đời của Ấu Chúa là một“máng cỏ”.
    Cũng chính Hài Nhi Máng Cỏ nầy một ngày kia đã nói về cảnh đời của mình: “Chim cótổ, chồn có hang, nhưng Con Người không có nơi gối đầu”.
    Ngài sinh ra như một kẻ đầu đường xó chợ khốn cùng nhất trong số những kẻ vô gia cưvà chết như một tên tội phạm nguy hiểm nhất trong số các tên tội phạm.
    Đấng Christ Ngài không đến trong đường lối rực rỡ vinh quang với kèn đồng, lửa cháy,sấm sét, binh hùng tướng mạnh. Sứ đồ Giăng viết: “Ngài đã đến trong xứ mình, song dân mình chẳng hề nhận lấy.” ( Giăng 1:11 ).
    Tháng 7/1969 phi hành gia Neil Armstrong và hai người bạn đổ bộ lên mặt trăng. Cả thế giới nín thở chờ đợi và theo dõi các hoạt động của họ. Khi hoàn thành sứ vụ, trở về trái đất, lập tức họ được tôn vinh anh hùng nhân loại. Người ta tổ chức ăn mừng linh đình. Hình ảnh xuất hiện trên báo trí toàn cầu, trên radio, tivi. Cả nhân loại nhảy múa ăn mừng.
    Nhưng chỉ hai tháng sau, chẳng ai còn nhớ tới họ nữa và chuyến đi “nổi tiếng” của họcũng rơi vào quên lãng, chẳng còn ai ăn mừng nhả múa nữa. ( Minh họa Vị Giáo sư tiến sĩ nghiên cứu một công trình thủy sản rất có giá trị ... đến khi qua đời một thời gian thì không ai còn đọc, còn nhớ đến, vì người chết thì công trình cũng chết theo)
    Ngược lại đối với Chúa Jê-sus thì người ta giảng từ ngày này qua ngày khác, người ta đã ăn mừng sự giáng sinh của Ngài đến nay đã 2011 năm rồi. Điều gì đã khiến cả nhân loại này vui mừng như thế?
    Trong tác phẩm “ Thành phố của Thượng Đế” Augustine cho rằng cho dù con người không tin và bác bỏ tất cả những phép lạ trong Thánh Kinh, thì chúng ta vẫn còn một phép lạ kỳ diệu đó là: Hàng triệu những con người được Chúa biến đổi vẫn đang hiện diện trên thế giới và trở thành chứng nhân cho Ngài.
    Một số hàng triệu triệu những con người được biến đổi đó, thì phải nhắc đến con người đáng kính nhất vẫn là Gióp: Ông tuyên bố niềm tin của mình nơi một Đấng cứu chuộc sống.
    Ông nói: “Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống,
    Đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất. “ ( Giop 19:25 ).
    Cuộc đời của Gióp ở trong đủ hoạn nạn, khổ đau, mất mát. Cuộc đời chúng ta chưa ai mất tới 7 người con trai, ba người con gái trong một ngày, bảy ngàn chiên và ba ngàn lạc đà, năm trăm đôi bò, và năm trăm lừa cái đều chết cùng một ngày.
    Có người nào trên đất đau khổ, tang thương như Gióp, ông là người đàn ông đau khổ nhất trong những người đau khổ. Nhưng ông nói: tôi biết Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống.
    Điều gì đã giữ vững cuộc đời Gióp cho đến khi Chúa ban phước lại cho ông gấp đôi, đó chính là biết Đấng cứu chuộc. Đấng mà ông Gióp biết là Đấng đã thay đổi mọi hoàn cảnh và số phận của ông vì Đấng ông tin cậy, phó thác là Đấng sống. Đấng cứu chuộc ấy đã nghe thấy những tiếng nấc trong đem khuya, thấy những giọt nước mắt, thấy cõi lòng tan nát vì Đấng ấy vẫn không hề nhắm mắt buồn ngủ.
    Đấng cứu chuộc này là ai? Và tên Ngài là chi? Đó chính là Đấng Christ Con Đức Chúa Trời hằng sống, Ngài là Đấng hôm qua, ngày nay và cho đến đời đời không bao giờ thay đổi. Và hôm nay tôi đứng đây để nói về Đấng cứu chuộc ấy cũng đã thay đổi cuộc đời tôi.
    Một con người không ra chi, một con người bị tan nát cuộc đời bởi những tổn thương mất mát, cay đắng và giận giữ. Một tội nô được Ngài tha thứ, chữa lành và yêu mến.
    Người đàn bà Sa-ma-ri đã mong chờ
    III/. Biết Mình Là Tội Nhân Cần Được Sự Sống
    Quý vị đến đây hỏi rằng: tại sao Ngài phải giáng thế làm người, tại sao Ngài đến thế giới đầy khinh khi, tội lỗi này, điều này có liên hệ gì đến tôi.
    Hai câu Kinh Thánh phần C đều trả lời cho chúng ta, đó là được sự sống, hay được sống, đây không phải là sự sống thiên nhiên, đây là sự sống thiêng liêng và sự sống đời đời. Sự sống này con người không thể tạo ra được, không một tôn giáo nào khiến chúng ta có sự sống vĩnh cửu Đức Chúa Trời
    Sự sống tự nhiên đang hiện diện trong thân xác này, một ngày kia sẽ không còn nữa, vì theo như Thanh kinh chép thì: Đời loài người ví như hoa cỏ, sớm nơ tối tàn, cũng chỉ như hơi nước hiện lên một nát rồi lại tan ngay.
    Nhưng sự sống đời đời thì trường tồn, bất diệt và vĩnh cửu. Nó chỉ đến từ Đức Chúa Trời, sự sống đời đời là một tặng phẩm cho người không xứng đáng là mỗi chúng ta. Sự sống đời đời chỉ dành cho những ai biết mình thuộc về Chúa, ở trong Chúa Giê-xu mà thôi. Sự sống đời đời bị cắt đứt từ khi con người phạm tội.
    Pascal công bố rằng: Cơ Đốc Giáo dạy hai chân lý: Có một Thượng Đế mà con người có khả năng nhận biết được, và có một sự hư hoại trong con người khiến họ không còn xứng đáng trước mặt Thượng Đế.
    + Sự cao quý của con người không chỉ là ở chỗ là tìm ra giải pháp cho tình trạng khốn nạn của mình, mà còn nhận biết rằng: Trong khắp vũ trụ chỉ có con người mới nhận biết tình trạng khốn nạn.
    Đức Chúa Trời rất yêu thương chúng ta, Ngài không muốn chúng ta bị chết mất, nên Ngài đã mở một con đường qua món quà vô giá là Chúa Giê-xu.
    Đến đây quý vị có thể hỏi rằng: Sự sống đời đời là gì?
    Thánh kinh trả lời: “ Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Jêsus Christ, là Đấng Cha đã sai đến.” ( Giăng 17:3 )
    Nhìn biết tình yêu của Đức Chúa Trời, sự nhân từ, lòng thương xót của Ngài cùng Jêsus Christ là tặng phẩm của vô giá để chúng ta được sự sống đời đời.
    Cụ thể Thánh Kinh trả lời rõ hơn là: “ Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó.” ( Giăng 3:36)
    Vua Đa vít viết trong Thi thiên 16 rằng:
    Chúa sẽ chỉ cho tôi biết con đường sự sống;
    Trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc,
    Tại bên hữu Chúa có điều vui sướng vô cùng. Thi 16:11
    Kết Luận:
    Một trong những tác phẩm có sức tàn phá tiểu thuyết “ Sói đồng hoang” của Hermann Hesse. Ở cuối truyện Hermann Hesse đứng ngắm mình trong gương. Suốt cuộc đời, anh ta từng trải vui thú đủ mọi lạc thú trên đời. Giờ đây anh ta đứng ngắm mình trong gương, miệng lẩm bẩm “ Ôi vị đắng của cuộc đời” Anh ta nhổ nước bột vào con người mình trong gương và đá gương tan tành. Cuộc đời anh ta cũng vô nghĩa như thế ấy.
    Nếu sự chết mở rộng cánh tay chờ đợi chúng ta ở cuối cuộc đời thì mục đích của cuộc đời là gì? Tận cùng của cuộc đời là gì?
    +Nếu vận mệnh của vũ trụ là nấm mồ lạnh lẽo ở một nơi sau kín của thời gian thì vũ trụ vô nghĩa.
    Nhà triết học Jean –Paul Sartre người pháp nhận xét rằng: “ một khi bạn đánh mất vĩnh cửu thì một vài giờ đồng hồ hay một vài năm không là gì cả.
    Theo Shaeffer thì con người là cư dân trong vũ trụ hai tầng, tầng dưới là thế giới hữu hạn không có Thượng Đế, tầng trên là ý nghĩa và mục đích.
    Con người không thể sống nổi một giờ nếu không có không khí và nước , và khó có thể tồn tại nếu không có hơi nóng và ánh sáng mặt trời.
    Châm ngôn 15:24 “ Con đường sự sống của người khôn ngoan dẫn lên trên,
    Để tránh khỏi Âm phủ ở dưới thấp.”
    Câu nói nổi tiếng rằng: Đức Chúa Trời đã trở thành con người để chúng ta trở thành con Đức Chúa Trời.
    Ngài sinh ra như một kẻ đầu đường xó chợ khốn cùng nhất trong số những kẻ vô giacư và chết như một tên tội phạm nguy hiểm nhất trong số các tên tội phạm.
    Cơ Đốc Giáo xuất từ chiếc máng cỏ rơm đơn sơ năm xưa.
    Cứu Chúa đã bắt đầu bởi máng cỏ và kết thúc tại thập tự giá.
    II/. Biết Mình Là Một Tội Nhân
    Câu nói nổi tiếng rằng: Đức Chúa Trời đã trở thành con người để chúng ta trở thành con Đức Chúa Trời.
    Đối tượng yêu thương của Đức Chúa Trời là con người, và đó không phải là những con người đức cao vọng trọng, không phải là những con người công bình riêng mà chính là những con người có bệnh.
    Chúa Giê-xu phán: Kẻ bệnh mới cần thầy thuốc, còn kẻ khỏe mạnh...
    Căn bệnh tội lỗi là nguy hiểm nhất, Căn bệnh tội lỗi khiến chúng ta sanh đủ mọi gai gốc và tật lê bởi những đói nghèo, bệnh tật, vô tìn, bất an và chia rẻ mà còn cắt đứt mối thông công của chúng ta khỏi nguồn sự sống là Đức Chúa Trời.
    Và nó không có thuốc nào chữa được, ngoài huyết của Đấng Christ.
    Thánh Kinh:
    + Một trong những tác phẩm có sức tàn phá tiểu thuyết “ Sói đồng hoang” của HermannHesse. Ở cuối truyện Hermann Hesse đứng ngắm mình trong gương. Suốt cuộc đời, anh ta từng trải vui thú đủ mọi lạc thú trên đời. Giờ đây anh ta đứng ngắm mình trong gương, miệng lẩm bẩm “ Ôi vị đắng của cuộc đời” Anh ta nhổ nước bột vào con người mình tronggương và đá gương tan tành. Cuộc đời anh ta cũng vô nghĩa như thế ấy.
    Nếu sự chết mở rộng cánh tay chờ đợi chúng ta ở cuối cuộc đời thì mục đích của cuộc đời là gì? Tận cùng của cuộc đời là gì?
    + Nếu vận mệnh của vũ trụ là nấm mồ lạnh lẽo ở một nơi sau kín của thời gian thì vũ trụ vô nghĩa.
    Pascal công bố rằng: Cơ Đốc Giáo dạy hai chân lý: Có một Thượng Đế mà con người có khả năng nhận biết được, và có một sự hư hoại trong con người khiến họ không còn xứng đáng trước mặt Thượng Đế.
    + Sự cao quý của con người không chỉ là ở chỗ là tìm ra giải pháp cho tình trạng khốn nạn của mình, mà còn nhận biết rằng: Trong khắp vũ trụ chỉ có con người mới nhận biết tình trạng khốn nạn.
    + Con người chỉ như một cây sậy. Như ngọn đèn le lói,
    Trong tác phẩm “ Thành phố của Thượng Đế” Augustine cho rằng cho dù con người không tin và bác bỏ tất cả những phép lạ trong Thánh Kinh, thì chúng ta vẫn còn một phép lạ kỳ diệu đó là: Hàng triệu những con người được Chúa biến đổi vẫn đang hiện diện trên thế giới và trở thành chứng nhân cho Ngài.
    Hơn tám mươi lần trong Phúc Âm, Chúa Giê xu tự nhận mình là con loài người. Hình như Ngài rất thích danh hiệu này hơn bất cứ danh hiệu nào khác. Điều này cho thấy rõ rằng Chúa rất muốn đồng hóa với con người.
    Kết Luận: Gi 1:10 10 Ngôi Lời ở thế gian, và thế gian đã làm nên bởi Ngài; nhưng thế gian chẳng từng nhìn biết Ngài.
    + Nhà triết học Jean –Paul Sartre người pháp nhận xét rằng: “ một khi bạn đánh mất vĩnh cửu thì một vài giờ đồng hồ hay một vài năm không là gì cả.
    Theo Shaeffer thì con người là cư dân trong vũ trụ hai tầng, tầng dưới là thế giới hữu hạn không có Thượng Đế, tầng trên là ý nghĩa và mục đích.
    Con người không thể sống nổi một giờ nếu không có không khí và nước , và khó có thể tồn tại nếu không có hơi nóng và ánh sáng mặt trời.
    Da 4:35 35 Hết thảy dân cư trên đất thảy đều cầm như là không có; Ngài làm theo ý mình trong cơ binh trên trời, và ở giữa cư dân trên đất; chẳng ai có thể cản tay Ngài và hỏi rằng: Ngài làm chi vậy?
    Tôi biết Đấng Mê-si nghĩa là Đấng Christ phải đến, nghĩa là đang mong mỏi, chờ đợi. Khi Chúa Giê-xu nghe lời công bố bởi đức tin của bà như vậy thì Chúa liền nói rằng: Đức Chúa Jêsus phán rằng: Ta, người đang nói với ngươi đây, chính là Đấng đó.
    Chúa Giê-xu phán: Ta chính là Đấng Mê-si mà ngươi mong đợi đây, ta đang ở đây với ngươi.

    Thưa quý vị! Hôm nay kỷ niệm mừng Chúa Giê-xu giáng sinh, chúng ta không chỉ nghe sự giáng thế của Ngài mà thôi, mà chúng ta cần phải tin nhận Đấng giáng thế ấy vào trong đời sống chúng ta.
  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels