• GIẢI NGHĨA SÁCH PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ

    PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ

    MỤC LỤC
    01. ĐUỔI KỊP QUÁ KHỨ
    02. ĐỨC CHÚA TRỜI CHÚNG TA THỜ PHƯỢNG
    03. NHỮNG BÍ QUYẾT CỦA SỰ VÂNG LỜI
    04. HÃY XEM BẠN RA SAO
    05. HÃY THỜ PHƯỢNG NGÀI TRONG LẼ THẬT
    06. THỨC ĂN VÀ NHỮNG KỲ LỄ
    07. QUAN XÉT, VUA, THẦY TẾ LỄ VÀ THƯỜNG DÂN
    08. TỘI NGỘ SÁT, CHIẾN TRẬN VÀ TỘI SÁT NHÂN
    09. NHỮNG TRANH CHẤP VÀ NHỮNG QUYẾT ĐỊNH
    10. SỰ VÂNG PHỤC VÀ SỰ BẤT TUÂN
    11. BÀI CA MÔI-SE
    12. SỰ CUỐI CÙNG CỦA MỘT KỶ NGUYÊN
    13. ÔN LẠI SÁCH PHỤC TRUYỀN LUẬT LỆ KÝ - HỌC ĐỂ NHỚ - NHỚ ĐỂ HỌC
    1. ĐUỔI KỊP QUÁ KHỨ (Phu 1:1-3:29)
    Người hướng dẫn chúng ta nghề làm báo dạy chúng ta rằng đoạn đầu của mỗi bài báo phải cho độc giả biết về “ai, điều gì, ở đâu, khi nào và tại sao” của sự kiện đang được thuật lại. Phu 1:1-5 không phải là một bài báo, nhưng nó được viết theo nguyên tắc trên nên rất hấp dẫn. Dân Y-sơ-ra-ên ở tại Ca-đe Ba-nê-a trong năm thứ 40 sau khi họ được giải cứu khỏi Ai Cập, và Môi-se lãnh đạo của họ sắp giải nghĩa luật pháp Đức Chúa Trời và chuẩn bị cho thế hệ mới đi vào Ca-na-an. Dù bản thân Môi-se sẽ không vào xứ, ông sẽ giải thích cho dân sự điều họ phải làm để chiến thắng kẻ thù, tuyên bố di sản được hứa ban của họ và sống thành công nơi quê hương mới của mình cho vinh hiển của Đức Chúa Trời.
    Đức Chúa Trời sẽ ban cho dân sự Ngài một cơ hội thứ hai và Môi-se không muốn thế hệ mới bỏ lỡ như tổ phụ họ đã bỏ lỡ trước đây. Y-sơ-ra-ên lẽ ra phải vào Ca-na-an 38 năm trước (2:14), nhưng trong sự vô tín họ đã chống nghịch với Đức Chúa Trời. Chúa đã kết án họ phải lang thang trong đồng vắng cho đến khi thế hệ đi trước đã chết, ngoại trừ Giô-suê và Ca-lép (Dan 13:1-14:45). Triết gia George Santayana đã viết, “những ai không thể nhớ quá khứ đều bị kết án là lặp lại nó” (1) vì vậy điều đầu tiên Môi-se làm trong bài giảng tạm biệt của ông là ôn trở lại quá khứ của Y-sơ-ra-ên và nhắc nhở thế hệ mới họ là ai và thể nào họ đi đến nơi họ đang có mặt (Phu 1:1-5:33). Biết quá khứ của mình, thế hệ mới ở Y-sơ-ra-ên có thể tránh lặp lại những tội lỗi của tổ phụ họ.
    1. Y-sơ-ra-ên ra đi (Phu 1:6-18)
    Sự hiểu thấu về lịch sử là quan trọng đối với mọi thế hệ vì nó cho một ý thức nhận biết. Nếu bạn biết mình là ai và mình từ đâu đến bạn sẽ có một thời gian dễ dàng hơn để khám phá điều mình sẽ phải làm. Một thế hệ không có sự nhận biết thì giống như một người không có khai sinh, tên họ, địa chỉ hay một gia đình. Nếu chúng ta không biết nguồn cội lịch sử của mình, chúng ta có thể trở nên giống như loài cỏ rác bị thổi đây đó và không bao giờ đến được nơi đến của mình.
    Một người cha nọ đưa con trai nhỏ của ông đến Viện bảo tàng địa phương để giúp nó hiểu rõ hơn đời sống ra sao trước khi nó ra đời. Sau khi nhìn một cách cau có một số vật trưng bày, cậu bé cuối cùng nói, “Bố ơi, chúng ta hãy đi đến nơi nào đó mà người ta là thật”.
    Giống như cậu bé khó chịu đó, nhiều người có tư tưởng rằng quá khứ không thật và không quan trọng, lại chẳng có ý nghĩa gì đối với đời sống hôm nay, và giống như cậu bé đó, họ sai lầm. Những người hoài nghi tuyên bố rằng tất cả những gì chúng ta học từ lịch sử là điều chúng ta không học từ lịch sử, nhưng tín hữu Cơ Đốc trưởng thành biết rằng A.T.Person đã đúng khi ông nói “Lịch sử là câu chuyện của Ngài”. Kinh Thánh không phải là một viện bảo tàng chán ngắt nơi mọi thứ đều bất động. Đó là một vở kịch sống động dạy chúng ta về Đức Chúa Trời và khích lệ chúng ta vâng lời Ngài và hưởng những ơn phước của Ngài (Ro 15:4 ICo 10:1-12). Không có quyển sách nào đương thời hơn Kinh Thánh, và mỗi thế hệ mới đều phải học bài học quan trọng này.
    Y-sơ-ra-ên ở núi Si-nai (Phu 1:6-8 Dan 1:10) (2). Sau khi dân tộc này rời Ai Cập, họ đã đi đến núi Si-nai, đến nơi vào ngày 15 tháng thứ 3 (Xu 19:1), và ở đó Chúa đã tỏ chính Ngài trong quyền năng và đại vinh. Ngài ban luật pháp cho Môi-se là người tuyên bố nó cho dân sự, và họ chấp nhận những điều khoản của giao ước. Dân Do Thái rời núi Si-nai vào ngày 20 tháng thứ 2 của năm thứ hai sau cuộc kinh lý rời Ai Cập (Dan 10:11), nghĩa là họ đã ở núi Si-nai chưa đến một năm. Trong khi dân tộc này đóng trại ở núi Si-nai, đền tạm được xây dựng và các thầy tế lễ cùng người Lê-vi được biệt riêng để hầu việc Chúa.
    Vì sao Chúa để cho dân Do Thái nấn ná quá lâu ở núi Si-nai? Ngài muốn ban cho họ luật pháp Ngài và dạy họ cách thờ phượng. Chúa ban luật pháp Ngài cho Y-sơ-ra-ên không phải để cứu họ khỏi tội lỗi họ, vì “không có xác thịt nào được xưng công bình bởi những việc làm của luật pháp” (Ga 2:16). Dưới giao ước cũ, con người được cứu bởi đức tin giống như tội nhân ngày nay được cứu bởi đức tin vậy (Ro 4:1-12 Ga 3:22 He 11:1-40). Luật pháp bày tỏ tội lỗi con người và tính cách thánh khiết của Đức Chúa Trời. Nó giải thích điều Đức Chúa Trời cần nơi dân sự Ngài nếu họ muốn làm đẹp lòng Ngài và hưởng ơn phước của Ngài. Luật dân sự cho Y-sơ-ra-ên có một xã hội trật tự công bằng và những luật tôn giáo giúp họ có thể sống với tư cách dân của Đức Chúa Trời, được biệt riêng khỏi những dân tộc khác để làm vinh hiển danh Ngài. Luật pháp cũng dọn đường cho sự đến của Đấng Mê-si-a của Y-sơ-ra-ên (Ga 4:1-7), và các vật dụng khác nhau trong đền tạm cùng những nghi lễ đều chỉ về Chúa Giê-xu.
    Biết rằng những cuộc chiến và những hiểm họa ở trước mặt mình, nhiều người trong dân sự có thể thỏa lòng để ở tại núi Si-nai, nhưng Chúa ra lệnh họ di chuyển. Chúa không chỉ ra lệnh họ nhưng Ngài cũng khích lệ họ: “Kìa, ta phó xứ này cho các ngươi!” (Phu 1:8). Ngài hứa giữ giao ước Ngài đã lập với các trưởng tộc là những người Ngài nhân từ hứa ban cho họ xứ Ca-na-an (Sa 13:14-18 15:7-21 17:8 28:12-15 Xu 3:8). Tất cả những gì quân đội Y-sơ-ra-ên phải làm là vâng theo những mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và Chúa sẽ ban cho họ sự chiến thắng trên những kẻ thù của họ ở Ca-na-an.
    Y-sơ-ra-ên trên đường đến Ca-đe Ba-nê-a (Phu 1:9-18 Dan 10:11-12:16). Không dễ để Môi-se dẫn dắt dân tộc lớn này vì ông thường phải giải quyết những vấn đề mới và lắng nghe những lời phàn nàn mới. Đã quen với sự tiện nghi trong trại quân của mình ở núi Si-nai, dân sự bực bội về những khó khăn trong hành trình của họ đến Đất Hứa. Họ đã quên sự khốn khổ trong những năm nô lệ của họ ở Ai Cập và thậm chí muốn xoay lại để trở về! Họ đã quen với ma-na Đức Chúa Trời ban cho họ từ trời mỗi buổi sáng và mau chóng xem nhẹ nó, rồi họ ao ước về thịt thơm ngon và rau họ đã thưởng thức ở Ai Cập không có gì ngạc nhiên khi Môi-se trở nên nản lòng và kêu cầu với Chúa! (3). Ông muốn rút lui và thậm chí xin Đức Chúa Trời cất đi mạng sống của ông! (Dan 11:15).
    Sự đáp lời của Đức Chúa Trời đối với lời cầu nguyện của Môi-se là ban cho ông 70 trưởng lão để giúp đỡ ông quản lý những công việc của trại quân. Môi-se là một lãnh đạo lớn và là một vĩ nhân thuộc linh, thậm chí ông có thể làm thật nhiều việc thì ông và các trưởng lão đã phải chia dân tộc thành những nhóm ngàn người, trăm người, 50 người và 10 người, với những lãnh đạo có năng lực đảm trách mỗi nhóm. Điều này tạo ra một dây chuyền mệnh lệnh giữa Môi-se và dân sự để ông không phải liên quan trong mọi cuộc tranh chấp nhỏ. Ông có thể bỏ hết tâm sức vào việc thưa chuyện với Chúa và giúp giải quyết những vấn đề quan trọng nhất trong trại quân.
    Nhiệm vụ Môi-se giao cho những lãnh đạo mới được chỉ định là một nhiệm vụ phải được chú ý bởi tất cả những ai phục vụ ở một vị trí có quyền hạn, dù là vị trí thuộc tôn giáo hay dân sự (Phu 1:16-18). Sự nhấn mạnh là về tính cách, sự chính trực và sự nhận biết rằng Đức Chúa Trời là quan án và là uy quyền quyết định. Nếu tất cả các quan chức thực hiện những quyết định của họ trên cơ sở của quốc tịch, chủng tộc, địa vị xã hội hay sự giàu có, họ sẽ phạm tội nghịch với Đức Chúa Trời và xuyên tạc sự công chính. Suốt luật pháp của Môi-se có một sự nhấn mạnh về sự công chính và bày tỏ sự nhân từ cùng sự công bằng đối với người nghèo, đặc biệt là góa phụ, cô nhi và khách kiều ngụ trong xứ (Xu 22:21-24 Le 19:9-10 Phu 14:28-29 16:9-12 24:17-21). Các tiên tri thường nổi giận nghịch với các chủ đất giàu có, vì họ đã ngược đãi người nghèo và người cô thế trong xứ (Es 1:23-25 10:1-3 Gie 7:1-6 22:3 Am 2:6-7 5:11 Xa 7:8) “Kẻ hà hiếp người nghèo khổ làm nhục Đấng Tạo Hóa mình” (Ch 14:31).
    2. Y-sơ-ra-ên chống nghịch (Phu 1:19-46) (Dan 13:1-14:45)
    Ca-đe Ba-nê-a là cửa ngõ vào Đất Hứa, nhưng Y-sơ-ra-ên đã không vào xứ vì sự sợ hãi và sự vô tín. Họ bước đi bởi ngoại cảnh chớ không bởi đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời. Môi-se bảo họ rằng “Kìa, Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi phó xứ này cho ngươi, hãy đi và lấy tài sản của nó. Đừng sợ, đừng nản lòng” (Phu 1:21 NIV). Thật có lý khi nói rằng đức tin không phải là tin bất chấp chứng cớ – đó là sự mê tín, nhưng là vâng lời bất chấp những hoàn cảnh và hậu quả. Dân sự cần thêm chứng cớ mức độ nào để cho thấy Đức Chúa Trời có thể đánh bại kẻ thù và ban cho họ xứ? Ngài đã chẳng đánh bại và sỉ nhục mọi tà thần của Ai Cập, bảo vệ Y-sơ-ra-ên và chu cấp cho họ trong hành trình hành hương của họ đó sao? Mệnh lệnh của Đức Chúa Trời luôn là điều Đức Chúa Trời có thể làm được, và để giành được chiến thắng, dân sự Ngài chỉ cần tin cậy và vâng lời.
    Thăm dò xứ (Phu 1:22-25 Dan 19:1-22). Sự bày tỏ đầu tiên cho thấy dân tộc đang dao động trong đức tin là yêu cầu của họ rằng Môi-se chỉ định một ủy ban để thăm dò xứ. Y-sơ-ra-ên sau đó sẽ biết tình trạng xứ và dễ dàng có thể chuẩn bị kế hoạch tấn công của họ. Đây là phương cách mà bất cứ quân đội nào cũng sẽ sử dụng - nó được gọi là “cuộc trinh sát” - nhưng Y-sơ-ra-ên không phải chỉ là “quân đội tầm thường”. Họ là quân đội của Đức Chúa Trời và Chúa đã thực hiện “cuộc trinh sát” cho họ. Ngay từ đầu, Đức Chúa Trời đã cho Môi-se biết rằng Ca-na-an là một xứ tốt tươi đượm sữa và mật, và Ngài còn cho biết tên của các dân tộc sống trong xứ (Xu 3:7-8 Sa 15:19-21). Chắc chắn dân sự biết rằng ý muốn Đức Chúa Trời sẽ không dẫn họ đến nơi mà ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời không thể giữ họ.
    Khi Môi-se nói với Đức Chúa Trời về đề nghị của dân sự, Chúa nhân từ cho phép ông chấp nhận thỉnh cầu của họ (Dan 13:1). Đức Chúa Trời biết chúng ta yếu đuối ra sao, vì vậy đôi khi Ngài tự thích nghi với điều kiện của chúng ta (Thi 103:13-14 Cac 6:36-40). Tuy nhiên, thực hiện ý muốn cho phép của Đức Chúa Trời hoàn toàn không giống như vâng theo “ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn” của Ngài (Ro 12:2). Khi Đức Chúa Trời để chúng ta làm theo ý riêng mình, đó là một sự nhượng bộ của Ngài để khiến chúng ta phải bước đi trong sự kính sợ và khiêm nhường. Vì sao? Vì luôn có hiểm họa chúng ta sẽ trở nên kiêu ngạo và chủ quan rồi bắt đầu cho Đức Chúa Trời biết điều phải làm! Thực hiện ý muốn rõ ràng của Đức Chúa Trời là đường lối an toàn nhất vì Đức Chúa Trời không bao giờ sai lầm. Đôi khi những ước muốn của chúng ta và những nhượng bộ của Đức Chúa Trời kết hợp lại để tạo ra những kỷ luật đau thương.(4).
    Mười hai người đã do thám xứ trong 40 ngày và trở về trại quân với sự tường thuật nhất trí đầy nhiệt tình rằng mọi điều Đức Chúa Trời đã nói về xứ là đúng. Sự tường thuật này lẽ ra sẽ không làm mọi người ngạc nhiên vì Lời Đức Chúa Trời luôn đáng tin cậy.
    Chối bỏ xứ (Phu 1:26-40). Nhưng sau đó 10 thám tử chứng kiến rằng Y-sơ-ra-ên không thể chinh phạt xứ vì các thành được bảo vệ bởi những vách thành cao và có những người khổng lồ trong xứ. Thiểu số người (Giô-suê và Ca-lép) đã dạn dĩ khẳng định rằng Chúa có thể ban cho dân sự Ngài chiến thắng vì Ngài vĩ đại hơn bất cứ kẻ thù nào. Tiếc thay, dân tộc đã đứng về phía đa số và trở nên nản lòng, thậm chí sợ hãi hơn. Môi-se đã hai lần bảo họ đừng sợ (1:21,29), nhưng lời nói ông đã rơi vào những cái tai điếc. Thay vì các lãnh đạo hát bài ca khải hoàn của họ và tiến về phía trước bằng đức tin (Dan 10:35), họ và dân sự ngồi trong trại than thở, khóc lóc và định trở về Ai Cập. Ngoại trừ 4 người ; Môi-se, A-rôn, Giô-suê và Ca-lép (14:5-6), toàn dân tộc đã chống nghịch với Chúa và không giành lấy xứ Ngài đã hứa ban cho họ. Chúa đã có thể đem họ ra khỏi Ai Cập nhưng Ngài không thể đem họ vào Ca-na-an!
    Nguyên nhân sự thất bại của Y-sơ-ra-ên ở Ca-đe Ba-nê-a là gì? “Họ quên việc Ngài đã làm, những sự lạ lùng Ngài đã cho họ thấy… Họ không nhớ quyền năng của Ngài” (Thi 78:11,42 NIV). Đức Chúa Trời đã bày tỏ đại quyền của Ngài bằng cách giáng những tai vạ trên Ai Cập và bằng cách rẽ Biển Đỏ ra để Y-sơ-ra-ên có thể thoát nạn, nhưng không có việc nào trong những sự lạ lùng này thật sự ghi vào tâm trí và tấm lòng của dân sự Ngài. Thậm chí sự chu cấp kỳ diệu về bánh, thịt và nước cũng không làm gia tăng đức tin của họ. Họ vui mừng tiếp nhận những sự ban cho nhưng không ghi vào lòng sự nhân từ và ân điển của Đấng Ban Cho. Ngược lại, họ cứng lòng với Chúa và phát triển một “tấm lòng xấu xa của sự vô tín” (He 3:7-19). Nếu những ơn phước của Đức Chúa Trời không khiến lòng chúng ta hạ xuống và khiến chúng ta tin cậy Ngài hơn, vậy chúng sẽ làm cứng lòng chúng ta và làm suy yếu đức tin của chúng ta. Nếu chúng ta không tiếp nhận Lời Ngài vào lòng mình và tạ ơn Đức Chúa Trời về những ơn phước của Ngài, chúng ta trở nên kiêu ngạo ích kỷ và bắt đầu xem nhẹ những ơn phước của Đức Chúa Trời.
    Có một sự khác biệt giữa sự vô tín và sự nghi ngờ. Sự vô tín là một vấn đề của ý chí, nó khiến con người chống nghịch Đức Chúa Trời và nói “Dù Chúa nói gì, tôi sẽ không tin và vâng lời!” Tuy nhiên, sự nghi ngờ là một vấn đề của tấm lòng và cảm xúc. Đó là điều con người trải qua khi họ dao động giữa sự sợ hãi và đức tin (Mat 14:31 Gia 1:5-8). Người nghi ngờ nói “Lạy Chúa, tôi tin, xin hãy giúp cho sự vô tín của tôi!” Đức Chúa Trời tìm cách khích lệ người nghi ngờ và giúp họ tin, nhưng tất cả những gì Ngài có thể làm với những người chống nghịch là đem đến sự xét đoán. Tại Ca-đe, Ngài ra lệnh rằng dân tộc này sẽ lang thang 38 năm kế tiếp (họ đã ở trong đồng vắng 2 năm) cho đến khi tất cả những người từ 20 tuổi trở lên đều chết. Sau đó Ngài sẽ sử dụng thế hệ mới trẻ con và thiếu niên những người mà các lãnh đạo nói chúng sẽ bị kẻ thù cắn xé và dẫn họ vào xứ nơi họ sẽ chiến thắng kẻ thù và giành lấy di sản mình.
    Tấn công kẻ thù (Phu 1:40-46 Dan 14:40-45). Khi dân Do Thái nghe sự xét đoán của Đức Chúa Trời được tuyên bố, họ tìm cách xóa tội mình theo cách riêng của họ, nhưng họ chỉ làm cho những vấn đề tệ hại hơn. Họ nói “chúng tôi đã phạm tội” nhưng đó là một lời xưng tội hời hợt mà thật sự có nghĩa là “chúng tôi tiếc cho những hậu quả của tội lỗi mình”. Đó không phải là sự ăn năn thật; Đó chỉ là sự hối hận. Sau đó họ tìm cách tấn công một số dân trong xứ, nhưng những nỗ lực của họ thất bại và Đức Chúa Trời đem đến một sự chiến bại nhục nhã (Phu 1:41-46). Xét cho cùng, Chúa đã không ở cùng họ và không ra lệnh cho họ đánh trận. Toàn bộ sự việc là một sự cố gắng yếu đuối của những người nam Y-sơ-ra-ên để thực hiện bằng sức riêng của họ điều mà Đức Chúa Trời sẽ thực hiện cho họ nếu họ chỉ tin cậy Ngài. Điều duy nhất dân tộc tội lỗi có thể làm thay đổi ý định của Đức Chúa Trời. Dân sự đã không nghe tiếng Đức Chúa Trời, vì vậy Ngài không nghe tiếng họ.
    Ca-lép và Giô-suê tin Đức Chúa Trời, vì vậy Đức Chúa Trời phán rằng họ sẽ sống suốt thời kỳ lang thang trong đồng vắng và bước vào Đất Hứa. Nhưng sau đó, ngay cả Môi-se và A-rôn cũng chống nghịch với Đức Chúa Trời và bị để ở ngoài xứ (c.37 Dan 20:1-13,24). Khi Đức Chúa Trời chỉ dẫn Môi-se cung cấp nước bằng cách nói với hòn đá, ông đã đập hòn đá và nói: “Hãy nghe đây, những kẻ chống nghịch! Chúng ta phải đem nước cho các ngươi từ hòn đá này chăng?” (c.10 NKJV)). Vì Môi-se không tin Đức Chúa Trời và làm vinh hiển Ngài, ông đã đánh mất quyền dẫn dắt Y-sơ-ra-ên vào xứ (5). Tội của ông không phải là tội của kẻ nghi ngờ nhưng là tội của kẻ chống nghịch: ông đã cố tình bất tuân Đức Chúa Trời và tự tôn cao mình.
    Khi Môi-se nói rằng Đức Chúa Trời đã nổi giận với ông “vì cớ các ngươi” (Phu 1:37 “vì các ngươi” NIV), ông không tự biện hộ mình bằng cách trách cứ dân Y-sơ-ra-ên. Điều mà việc này có ý nghĩa đó là thái độ chống nghịch của dân sự đã khiêu khích ông làm điều ông đã làm và nói điều ông đã nói. Môi-se bị làm khổ thường xuyên bởi những người hay phàn nàn và bất tuân đến nỗi tất cả cuối cùng đi đến một đỉnh điểm và ông đánh mất sự nhu mì mà ông đã nổi tiếng về điều đó. Ngay cả những lãnh đạo thuộc linh cao trọng nhất cũng chỉ là những con người yếu đuối nếu không có ân điển của Đức Chúa Trời, và nhiều người trong số họ đã thất bại trong những điểm mạnh nhất của họ. Sức mạnh lớn nhất của Môi-se là sự nhu mì của ông, nhưng ông đã mất bình tĩnh. Áp-ra-ham nổi tiếng về đức tin lớn của ông, nhưng trong một thời điểm thử thách ông đã trốn đến Ai Cập và nói dối về vợ mình. Sức mạnh lớn của Đa-vít là sự chính trực của ông (Thi 78:72) nhưng ông đã thất bại thảm hại và trở thành một kẻ nói dối và một kẻ giả hình; còn sức mạnh lớn của Phi-e-rơ là sự can đảm của ông, nhưng ba lần ông đã trở nên sợ hãi và chối Chúa mình. “Vậy thì, ai tưởng mình đứng hãy giữ kẻo ngã” (ICo 10:12)
    3. Y-sơ-ra-ên chiến thắng (Phu 1:19-46) (Phu 2:1-3:20)
    Đậy là một tóm tắt về sự ghi chép được trình bày trong Dan 20:14-31:54 mô tả dân Y-sơ-ra-ên đánh bại các dân và các vua trong hành trình họ đến Đất Hứa. Trong bài nói chuyện này, Môi-se không cho chi tiết nào về những gì Y-sơ-ra-ên kinh nghiệm trong khi lang thang 38 năm trong đồng vắng (6). Suốt những năm đó, Y-sơ-ra-ên đã ở ngoài đặc ân giao ước của Đức Chúa Trời, và không có ghi chép nào cho tấy họ đã giữ lễ Vượt Qua hay thậm chí làm phép cắt bì cho các con trai của họ. Sau khi Giô-suê dẫn dân tộc qua sông Giô-đanh, ông quan tâm những trách nhiệm đó và Y-sơ-ra-ên đã trở lại trong ơn phước giao ước của Đức Chúa Trời (Gios 5:1-15). Dân sự trong hội chúng của Môi-se là những người 19 tuổi khi những cuộc lang thang bắt đầu thì giờ đây đã 57 tuổi (19+38 tuổi) và chắc chắn sẽ nhớ những năm khó khăn ấy và kể lại cho con cháu họ về họ.
    Tránh dân Ê-đôm (Phu 2:1-8 Dan 20:14-21). Môi-se được Đức Chúa Trời ra lệnh chờ tuyên chiến trên dân Ê-đôm và tìm cách chiếm xứ họ. Dân Ê-đôm là con cháu của Ê-sau, anh Gia-cốp và do đó có liên hệ với dân Do Thái (Sa 36:1-43) Môi-se trước tiên thử một cách tiếp cận thân mật, nhưng dân Ê-đôm sẽ không chấp nhận anh em của họ dựa trên bất cứ điều khoản nào, vì vậy Môi-se dẫn dân sự bằng con đường khác đi qua núi Sê-i-rơ. Dân Ê-đôm lẽ ra phải tỏ cho Y-sơ-ra-ên thấy tình yêu anh em, nhưng ngược lại, họ thích làm sống mãi mối hận thù xưa, giữa Gia-cốp và Ê-sau (Sa 27:32-33). Nhiều thế kỷ sau, Ê-đôm vẫn giận dữ với Y-sơ-ra-ên và vui mừng khi dân Ba-by-lôn hủy phá thành Giê-ru-sa-lem (Thi 137:7 Exe 25:12-14 Am 1:11 Ap 1:10-13).
    Trong tất cả những vấn đề chúng ta đối diện trong đời sống, những bất đồng gia đình có thể là những vấn đề đau đớn nhất và khó giải quyết nhất, nhưng Kinh Thánh ghi lại rất nhiều về những vấn đề đó. Ca-in đã giết A-bên em mình (Sa 4:1-26); Gia-cốp và Ê-sau là những thù địch, các bà vợ của Gia-cốp ganh với nhau (29:1-30:43); Gia-cốp yêu thích Giô-sép và do đó các anh của Giô-sép ghét người em út của họ (37:1-36), và vua Sau-lơ cha vợ của Đa-vít đã truy lùng ông và tìm cách giết ông (ISa 19:1-20:18). Ngay cả trong gia đình Cơ Đốc, anh chị em trong Hội Thánh địa phương không phải lúc nào cũng yêu thương nhau. Hội Thánh Cô-rinh-tô bị phân rẽ bốn phương diện ICo 1:12 các tín hữu Ga-la-ti đã cắn xé nhau (Ga 5:15); Các thánh đồ ở Ê-phê-sô cần tử tế và tha thứ lẫn nhau (Eph 4:31-32); và trong Hội Thánh Phi-líp có hai người đàn bà mâu thuẫn với nhau (Phi 4:2-3). Những hận thù gia đình và những bất đồng trong Hội Thánh ít nhất có phần bị hạn chế, nhưng khi tất cả các dân phát triển và duy trì sự thù ghét lẫn nhau và sinh ra chiến trận, nhiều người vô tội bị tổn thương.
    Môi-se đã làm điều đúng đắn bằng cách vâng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và cố ý tránh cuộc chạm trán tai hại và không có tội. “Phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là Con Đức Chúa Trời” (Mat 5:9). “Vậy chúng ta hãy đi theo những điều hướng đến sự hòa bình” (Ro 14:19). Có những lúc khi tránh né sự mâu thuẫn là hèn nhát, nhưng có những lúc khác khi đó là một dấu hiệu của sự can đảm và khôn ngoan (Gia 3:13-18 Mat 5:21-26). Giống như Gia-cơ và Giăng, có thể chúng ta cảm thấy thích gọi lửa từ trời giáng trên những người khước từ chúng ta, nhưng tốt hơn là nên noi theo gương của Môi-se và Chúa Giê-xu mà đi con đường khác (Lu 9:51-56).
    Một yếu tố nữa trong sự “làm hòa” này nên được chú ý: Đức Chúa Trời đã nhân từ chăm sóc Y-sơ-ra-ên và chúc phước cho dân sự Ngài thậm chí suốt những năm họ lang thang, vì vậy họ không cần phải tấn công anh em mình và bóc lột họ (Phu 2:7). Đức Chúa Trời sẽ ban cho Y-sơ-ra-ên toàn xứ họ cần mà họ không phải đi ra trận. Nếu có nhiều cá nhân, gia đình và dân tộc hài lòng với những ơn phước Đức Chúa Trời ban cho họ, sẽ có ít sự chiến đấu giữa vòng họ.
    Tránh dân Mô-áp và Am-môn (Phu 2:9-23). Giống như dân Ê-đôm không bị tấn công và chinh phạt vì họ có liên hệ với Gia-cốp, thì dân Mô-áp và Am-môn cũng được tha vì họ là con cháu của Lót – cháu Áp-ra-ham (Sa 19:30-38). Đức Chúa Trời là chí cao tể trị trên mọi dân tộc và ấn định những địa phận của họ theo ý muốn tối cao của Ngài (Cong 17:26-28 IISu 20:6). Thật ra, Chúa thậm chí đã giúp đỡ những dân tộc khác đánh bại kẻ thù họ và giành lấy xứ họ (Phu 2:20-23). Đức Chúa Trời ngự trên ngôi Ngài và đối xử với các dân tộc theo ý muốn trọn vẹn của Ngài (Da 4:35). Dân Mô-áp hay dân Am-môn đều không đáng được sự nhân từ này, nhưng Chúa đôi khi chúc phước cho dân này vì cớ mối liên hệ của họ với dân khác. Y-sơ-ra-ên chắc chắn được chúc phước vì cớ những giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham và Đa-vít còn Hội Thánh ngày nay được chúc phước vì cớ giao ước đời đời của Đức Chúa Cha với Chúa Giê-xu Christ (He 13:20).
    Đó là một bước ngoặt trong lịch sử khi dân Do Thái đi qua khe Xê-rết, giờ đây thế hệ đi trước đã mất ngoại trừ Môi-se, Ca-lép và Giô-suê (Phu 2:13-16). Với thời gian của kỷ luật Đức Chúa Trời đã chấm dứt, Y-sơ-ra-ên giờ đây có thể mong đánh bại kẻ thù họ và đi vào xứ Chúa đã hứa ban cho họ.
    Đánh bại dân Am-môn (Phu 2:24-3:11). Si-hôn và Óc là những vua hùng mạnh trong miền của dân A-mô-rít ở về phía Đông sông Giô-đanh, và Chúa đã quyết định tiêu diệt họ và dân họ. Những mệnh lệnh của Đức Chúa Trời trong 2:24-25,31 tóm tắt kiểu mẫu Y-sơ-ra-ên sẽ làm theo trong việc họ chinh phạt Đất Hứa. Đức Chúa Trời sẽ cho Giô-suê biết thành hay dân nào phải tấn công; Ngài sẽ bảo đảm với họ về chiến thắng và Ngài sẽ đi cùng họ để giúp họ thắng trận. Việc Y-sơ-ra-ên đánh bại Si-hôn và Óc đặc biệt quan trọng vì nó sẽ nhắn một sứ điệp đến trước các dân tộc ở Ca-na-an và đem đến nỗi sợ hãi cho lòng họ (11:25). vào thời điểm Giô-suê sẵn sàng đi vào xứ, tin tức về cuộc hành quân vô địch của Y-sơ-ra-ên đã đi trước họ (Gios 2:8-11 Xu 15:14-16).
    Như đã làm với dân Ê-đôm dân Mô-áp và dân Am-môn, Môi-se trước tiên đưa ra cho Si-hôn một đề nghị có thiện ý, hứa đi ngang qua xứ một cách hòa bình và trả tiền cho lương thực với nước mà dân sự dùng. Tuy nhiên Chúa muốn Y-sơ-ra-ên đánh bại Si-hôn và chiếm toàn xứ ông, vì vậy Ngài làm cứng lòng vua như Ngài đã làm cứng lòng Pha-ra-ôn ở Ai Cập (7). Khi Si-hôn dẫn quân đội ông ra tấn công Y-sơ-ra-ên, Đức Chúa Trời ban cho Môi-se một chiến thắng lớn và tất cả dân trong xứ bị giết, chiến thắng này trên Si-hôn đã cho Y-sơ-ra-ên sự khích lệ để chạm trán Óc, và họ cũng thắng trận đó và chiếm toàn xứ. Việc các thành có tường cao (Phu 3:5) và việc có là một người khổng lồ (c.11) dường như không đưa ra bất cứ vấn đề nào để thế hệ đi trước sợ hãi (Dan 13:28). Đức Chúa Trời lớn hơn mọi tường thành và vĩ đại hơn mọi kẻ khổng lồ!
    Những nhà học giả tự do về Kinh Thánh bày tỏ sự quan tâm về cách Y-sơ-ra-ên tiêu diệt tất cả các dân tộc, giết “những người vô tội” và tịch thu các thành cùng xứ của họ. Nhưng những dân này “vô tội” như thế nào? Những nhà chỉ trích Kinh Thánh (và Đức Chúa Trời) có thể không nhận biết rằng các dân tộc mà Y-sơ-ra-ên đã chạm trán ở phía Đông sông Giô-đanh và trong Ca-na-an là gian ác không tả xiết. Họ là dân tàn bạo đã tế con cái mình cho các tà thần họ thờ phượng. Các đĩ điếm phục vụ trong các đền thờ của họ và sự giao cấu là một phần quan trọng của tôn giáo Ca-na-an.
    Những dân này đã không bị bỏ đi mà không có chứng cớ từ Đức Chúa Trời trong sự sáng tạo (Ro 1:18) cũng như qua đời sống của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp là những người đã sống ở Ca-na-an. Hơn nữa, tin tức về sự hủy diệt Sô-đôm và Gô-mô-rơ những tai vạ ở Ai Cập, và sự giải cứu Y-sơ-ra-ên qua Biển Đỏ (Gios 2:8-11) đã đến tai những dân này và làm chứng rằng chỉ Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật. Đức Chúa Trời đã nhẫn nhục với những dân tộc gian ác này thậm chí trong thời của Áp-ra-ham, nhưng giờ đây thời gian của họ đã hết và sự xét đoán của họ đã đến (Sa 15:16). Nếu những nền văn minh gian ác này không bị tiêu diệt, Y-sơ-ra-ên sẽ ở trong hiểm họa thường trực về việc bị cám dỗ bởi sự thờ hình tượng ngoại bang. Thật ra, đó là điều đã xảy ra suốt thời kỳ các quan xét, và Đức Chúa Trời đã phải trừng phạt dân sự Ngài để đem họ trở về với Đức Chúa Trời chân thật. Y-sơ-ra-ên có công việc quan trọng để làm trên đất trong việc tạo ra Kinh Thánh được viết tay và đem Chúa Cứu Thế vào thế gian, và việc bắt chước các dân tộc ngoại đạo sẽ làm Y-sơ-ra-ên ô uế và đe doạ kế hoạch cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời đối với nhân loại.
    Phu 2:1-37; xem giải nghĩa Phu 1:19-46
    Phu 3:1-11; xem giải nghĩa Phu 1:19-46
    4. Y-sơ-ra-ên chuẩn bị (Phu 3:12-29)
    Những chiến thắng trên Si-hôn và Óc, hai vua hùng mạnh của những xứ ở phía Đông sông Giô-đanh, chính là sự chuẩn bị cho những cuộc chiến Y-sơ-ra-ên sẽ đánh khi họ vào xứ Ca-na-an. Thế hệ mới sẽ có vị giác thật đầu tiên của họ về chiến tranh và nhanh chóng khám phá rằng Đức Giê-hô-va có thể tin cậy được để đắc thắng mọi kẻ thù. tất cả những gì quân đội phải làm là vâng theo những mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, tin cậy những lời hứa của Ngài, và dạn dĩ đương đầu với kẻ thù.
    Bước chuẩn bị thứ hai cho cuộc chinh phạt là sự ổn định hai chi phái rưỡi trong địa phận này mà đã bị bắt giữ ở phía Đông sông Giô-đanh. Xứ này đã được ban cho hai chi phái Ru-bên và Gát, và nửa chi phái Ma-na-se. Họ đặc biệt muốn xứ này vì họ là những người chăn gia súc và địa phận này thích hợp cho bầy gia xúc của họ (Dan 32:1-42). Hai chi phái rưỡi được phép củng cố các thành cho gia đình họ sống và cũng xây những chuồng cho bầy chiên cùng bầy gia súc của họ. Nhưng điều đó được hiểu rằng những người tham chiến trong các chi phái sẽ đi qua sông Giô-đanh với những chi phái khác và giúp anh em họ chinh phạt xứ. Một khi việc đó đã được thực hiện và tất cả các chi phái đã được ấn định di sản họ, những người phái Ru-bên, Gát và Ma-na-se có thể trở về nhà với gia đình họ (Gios 22:1-34). Việc Môi-se cho họ xứ này và việc những người này sẵn sàng rời những người thân yêu của họ, là chứng cớ về đức tin của họ rằng Đức Chúa Trời sẽ ban cho Y-sơ-ra-ên chiến thắng trong Ca-na-an.
    Môi-se mô tả chiến thắng này là “Chúa ban sự yên nghỉ” (Phu 3:20), một nhóm từ thường được sử dụng trở lại trong 12:1025:19 và thường trong sách Giô-suê (Gios 1:13-15 11:23 14:15 21:4 22:4 23:1). Y-sơ-ra-ên ở Ca-đe Ba-nê-a muốn trở lại Ai Cập, và các tín hữu Do Thái mà sách Hê-bơ-rơ được viết cho họ, đã muốn trở lại đời sống cũ và tôn giáo cũ. Nhưng không thể có sự yên nghỉ nào trong Do Thái giáo sắp biến khỏi hiện trường, vì vậy tác giả kêu gọi dân sự tiến lên bởi đức tin để vào trong sự yên nghỉ mà chỉ có Đấng Christ mới có thể ban cho (Mat 11:28-30). Ca-na-an không phải là một bức tranh về Thiên Đàng; Đó là bức tranh về sự giàu có thuộc linh của chúng ta trong Đấng Christ, di sản chúng ta có trong Ngài.
    Bước chuẩn bị thứ 3 cho cuộc chinh phạt là việc chỉ định Giô-suê kế nghiệp Môi-se và dẫn dắt dân tộc vào Ca-na-an (Dan 27:18-23). Theo mệnh lệnh của Chúa, Môi-se công khai đặt tay trên Giô-suê và với sự giúp đỡ của thầy tế lễ cả Ê-lê-a-sa phong ông vào chức vụ mới. Môi-se cũng bắt đầu trao phần quyền hạn của ông cho Giô-suê (27:20 NIV), hầu cho lúc Môi-se vắng mặt, Giô-suê sẵn sàng đảm trách nhiệm vụ. Tuy nhiên, Giô-suê là một người có đức tin lớn với sự từng trải và hoàn toàn đủ tư cách lãnh đạo dân sự Đức Chúa Trời. Ông đã hầu việc với tư cách tôi tớ của Môi-se (Xu 33:11) và lãnh đạo quân đội (17:8-16), và ông đã ở trên núi Si-nai với Môi-se (24:13). Tại Ca-đe Ba-nê-a, ông đã chứng tỏ đức tin và sự vâng lời của mình bằng cách đứng về phía Môi-se và Ca-lép chống lại 10 thám tử và cả dân tộc vô tín.
    Đám mây duy nhất phủ trên toàn bộ lễ chiến thắng này đó là Môi-se không được phép vào Đất Hứa vì trọng tội của ông đã đập hòn đá (Dan 20:1-11 27:12-14). Nhưng ngay cả điểm đáng buồn này cũng mang theo nó một tiếng kèn của sự khích lệ trong điều Môi-se nói: “Lạy Chúa chí cao, Ngài đã bắt đầu tỏ cho tôi tớ Ngài sự vĩ đại của Ngài và bàn tay mạnh mẽ của Ngài” (Phu 3:24 NIV). Những chiến thắng của Y-sơ-ra-ên kỳ diệu như thế, chúng cũng chỉ là một sự bày tỏ nhỏ bé về sự vĩ đại và quyền năng của Đức Chúa Trời và Môi-se không muốn bỏ lỡ bất cứ điều lớn lao nào Đức Chúa Trời sắp làm ở Ca-na-an. Chúa sẽ không cho phép Môi-se vào xứ, nhưng trước khi Môi-se chết, ông được phép nhìn thấy xứ từ đỉnh núi Pisgah (Nê-bô, xem 32:48-52 34:1-6). Nhiều thế kỷ sau đó, Môi-se đã đứng nơi xứ Thánh trong sự vinh hiển trên Núi Hóa Hình với Chúa Giê-xu và Ê-li (Mat 17:1-3).
    Tất cả những điều Môi-se nói trong phần đầu bài nói chuyện tạm biệt của ông đã dọn đường cho sự trình bày và ứng dụng luật pháp Đức Chúa Trời, vì lịch sử và trách nhiệm đi đôi với nhau. Đức Chúa Trời đã làm những việc mạnh mẽ cho dân sự Ngài, cả trong việc chúc phước và sửa phạt họ, và dân Y-sơ-ra-ên có một trách nhiệm yêu mến Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài. Suốt bài nói chuyện này, Môi-se sẽ thường nhắc nhở dân Do Thái rằng họ là một dân có đặc quyền, dân của Đức Chúa Trời, được biệt riêng cho Chúa từ giữa mọi dân tộc trên đất. Đó là lúc chúng ta quên sự kêu gọi cao cả đến nỗi chúng ta sa vào lối sống thấp hèn.
    Hội Thánh ngày nay cần bắt kịp quá khứ và phải được nhắc nhở về tất cả những điều Chúa đã làm cho dân Ngài cùng tất cả những gì dân Ngài đã làm và chưa làm để đáp lại những ơn phước của Ngài. Nếu một thế hệ tín hữu mới muốn đi vào tương lai trong sự chiến thắng, họ cần phải trở lại với nguồn cội của mình và học lại những điều cơ bản về ý nghĩa của việc làm dân của Đức Chúa Trời.
    2. ĐỨC CHÚA TRỜI CHÚNG TA THỜ PHƯỢNG (Phu 4:1-5:33)
    Dân Y-sơ-ra-ên được chúc phước vượt hơn mọi dân trên đất, vì họ thuộc về Đức Chúa Trời chân thật hằng sống và ở trong mối liên hệ giao ước với Ngài. Giờ đây họ đang chuẩn bị bước vào xứ Đức Chúa Trời hứa ban cho họ khi Ngài kêu gọi Áp-ra-ham tổ phụ của dân tộc họ (Sa 12:1-3 13:14-18), và một phần của sự chuẩn bị đó là cẩn thận nghe một bài nói chuyện chia tay của Môi-se, tiên tri của Đức Chúa Trời và là lãnh đạo của họ. Sau khi đã trình bày lại lịch sử của dân tộc (Phu 1:1-3:29), Môi-se nhắc nhở dân sự về tính cách Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên và họ phải đáp ứng ra sao với Ngài. Nếu chúng ta không biết tính cách của Đức Chúa Trời Đấng chúng ta thờ phượng, làm sao chúng ta có thể thờ phượng Ngài “bằng tâm thần và lẽ thật” được? (Gi 4:24)
    1. Đức Chúa Trời phán - hãy nghe Ngài (Phu 4:1-2)
    Học giả Do Thái nổi tiếng Abraham Joshua Heschel đã viết: “Để tin, chúng ta cần Đức Chúa Trời, một linh hồn, và Lời Ngài” (1). Học giả Do Thái khác, sứ đồ Phao-lô, đã đi đến kết luận tương tự và viết: “Vậy, đức tin đến bởi sự nghe, và sự nghe đến bởi Lời Đức Chúa Trời” (Ro 10:17 NKJV).
    Đức Chúa Trời Đấng làm cho sự sáng tạo tồn tại bằng cách phán ra Lời Ngài (Thi 33:6-9) đã định rằng dân sự Ngài phải sống bằng cách nghe và vâng theo Lời Ngài.
    Từ “nghe” được sử dụng gần 100 lần trong sách Phục Truyền Luật Lệ Ký, lời xưng nhận đức tin theo truyền thống Do Thái (Phu 6:4-5) được gọi là “The Shema” từ tiếng Hê-bơ-rơ nghĩa là “nghe, chú ý, hiểu, vâng lời”. Đối với dân Do Thái thời Cựu Ước và Cơ Đốc nhân thời Tân Ước việc nghe Lời Đức Chúa Trời bao gồm nhiều hơn cả những làn sóng âm thanh tác động đến lỗ tai con người. Nghe Lời Đức Chúa Trời là một vấn đề tập trung toàn bộ con người chúng ta tâm trí, tấm lòng và ý chí vào Chúa tiếp nhận điều Ngài phán với chúng ta và vâng lời. Lời Đức Chúa Trời phải đâm thấu lòng chúng ta và trở thành một phần của con người bên trong chúng ta nếu nó cần phải đổi thay đời sống chúng ta. Đó là điều Chúa Giê-xu muốn nói khi Ngài phá “Ai có tai, hãy nghe!”. Lời đó được tìm thấy ít nhất 8 lần trong các sách Phúc Âm, vì vậy nó chắc hẳn là quan trọng (Phu 29:4 Exe 12:2).
    Thắng của mình trong Lời Đức Chúa Trời. Nếu chúng ta không biết Đức Chúa Trời ra lệnh điều gì, chúng ta không thể vâng lời Ngài. Nhưng nếu chúng ta biết những mạng lệnh của Ngài, tin và vâng theo, thì quyền năng Ngài hành động trong đời sống chúng ta. “Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề” (IGi 5:3). Việc vâng lời Chúa trở thành một đặc quyền vui mừng khi bạn nhận biết rằng những điều răn của Ngài là những sự bày tỏ về tình yêu của Ngài, những sự bảo đảm và sức mạnh của Ngài, những lời mời gọi đến những phước hạnh của Ngài, những cơ hội tăng trưởng và quy vinh hiển cho Ngài, và những cơ hội để vui hưởng tình yêu và sự thông công của Ngài khi chúng ta tìm cách làm đẹp lòng Ngài. Lời Đức Chúa Trời là cửa rộng mở dẫn vào kho tàng ân điển của Ngài.
    Môi-se thêm vào một lời cảnh cáo chống lại việc thay đổi Lời Đức Chúa Trời bằng cách thêm vào hoặc cắt bớt Lời Ngài (Phu 4:2 12:32 Ch 30:6 Ga 3:15 Kh 22:18-19). Những bản Kinh Thánh viết tay đầu tiên đã được sao chép bằng tay, và sẽ dễ dàng để người sao chép thực hiện những thay đổi, nhưng Đức Chúa Trời canh giữ Lời Ngài (Gie 1:12) và xét đoán những ai giả mạo nó. Những người Pha-ri-si trong Nghe và vâng lời Đức Chúa Trời chính là sự sống của Y-sơ-ra-ên (Phu 4:1a). Khi Đức Chúa Trời phán, Ngài đặt trước mặt chúng ta sự sống và sự chết (30:15-20), nên đáp ứng của chúng ta quyết định nó sẽ là cái gì. “Hãy giữ các mạng lệnh và luật lệ của ta, vì người nào vâng theo thì sẽ nhờ đó mà được sống. Ta là Đức Giê-hô-va” (Le 18:5 NIV). Sự nhấn mạnh trong Phu 4:1-25:1-33 là sự ra lệnh và dạy dỗ, vì Chúa không chỉ cho chúng ta biết điều gì phải làm mà Ngài còn giải thích lẽ thật đằng sau những mệnh lệnh của Ngài. Chúa Giê-xu có thể đã nghĩ đến điều này khi Ngài cho các môn đồ Ngài biết rằng Ngài đối xử với họ như bạn hữu (“người trong nhà”) chớ không như tôi tớ, vì Ngài giải thích cho họ điều Ngài sẽ làm (Gi 15:14-15).
    Không chỉ là sự sống của Y-sơ-ra-ên tùy thuộc vào sự vâng lời Đức Chúa Trời, nhưng chiến thắng của họ trên kẻ thù cũng vậy (Phu 4:1b) không có đức tin và sự vâng lời, Y-sơ-ra-ên không thể bước vào xứ và đánh bại các dân tộc bám trụ mạnh mẽ ở đó. Làm sao Chúa có thể đi trước dân sự Ngài và ban cho họ chiến thắng nếu họ không vâng phục đi theo Ngài? (1:30). Mười thám tử không hiểu thấu quyền năng những lời hứa của Đức Chúa Trời đã dẫn Y-sơ-ra-ên vào sự nản lòng, sự chiến bại và sự chết vì sự vô tín của họ (Dan 13:1-14:45). “Và đây là chiến thắng chế ngự thế gian – đức tin của chúng ta” (IGi 5:4 NKJV) và đức tin đó được phát sinh bởi Lời Chúa (Ro 10:17).
    Tín hữu hôm nay phải tìm thấy sự sống và sự chiến thời Chúa Giê-xu đã bảo vệ Kinh Thánh một cách chặt chẽ, nhưng họ đã phạm tội cắt bớt Lời Đức Chúa Trời bằng cách thay thế nó bằng những lời truyền khẩu của chính họ (Mac 7:1-13). Nếu Lời Đức Chúa Trời là sự sống của chúng ta, vậy chúng ta đang làm hại tương lai mình nếu chúng ta không tôn trọng Lời Chúa và vâng theo từ tấm lòng (Eph 6:6)
    2. Đức Chúa Trời là thánh khiết - hãy kính sợ Ngài (Phu 4:3-4)
    Tội lỗi dai dẳng của Y-sơ-ra-ên là sự thờ hình tượng và những hành động đồi bại kèm theo. Trong khi sống ở Ai Cập, dân Do Thái đã nếm mùi vị của sự thờ hình tượng và thậm chí thực hành nó suốt thời kỳ họ lang thang trong đồng vắng (Cong 7:42-43). Khi Môi-se ở với Đức Chúa Trời trên núi Si-nai dân sự trong trại quân đang thờ lạy một bò con vàng (Xu 32:1-35). Sự thờ hình tượng là một tội lỗi gây đau khổ vì Y-sơ-ra-ên đã được “gả” cho Đức Giê-hô-va khi dân tộc chấp nhận giao ước tại núi Si-nai, vì vậy sự thờ hình tượng của họ thật sự là tội tà dâm (Gie 3:1-25 Os 1:1-2:23). Đó là một tội lỗi nghịch với tình yêu của Đức Chúa Trời cũng như là một sự vi phạm Luật pháp Đức Chúa Trời. Cuối cùng Chúa đã phải đưa dân sự Ngài đến Ba-by-lôn để chữa trị cho họ bệnh thờ hình tượng.
    Đây có thể là lý do Môi-se nêu lên bi kịch về những tội lỗi của Y-sơ-ra-ên nơi Ba-anh Phê-ô (Phu 4:3-4 Dan 25:1-19). Sự kiện này mới mẽ đủ để dân sự nhớ đến. Tiên tri giả Ba-la-am đã được vua Ba-lác thuê mướn để rủa sả dân Y-sơ-ra-ên, nhưng mỗi khi Ba-la-am tìm cách rủa sả dân Do Thái, ông đều đi đến chỗ chúc phước cho họ (22:1-24:25). Những lời rủa sả của ông không hiệu quả nhưng ông có một kế hoạch thật hiệu quả. Ông và Ba-lác đã mời những người nam Do Thái tham dự một trong những kỳ lễ tôn giáo của dân Mô-áp và khích lệ họ tham gia trọn vẹn (25:1-19). Điều này có nghĩa là thông dâm cùng với những kỹ nữ đền thờ, và một người thậm chí đã đem “cuộc hẹn hò” của mình vào trong trại quân! Việc Đức Chúa Trời xét đoán dân sự Ngài và giết 24.000 người cho thấy có nhiều người Do Thái đã háo hức tham gia lễ hội gian ác này. Điều mà kẻ thù không thể thực hiện bằng những lời rủa sả và sự chiến đấu thì hẳn đã thực hiện bằng sự thỏa hiệp và “tình bạn”.
    Những người Do Thái chối từ lời mời và cứ trung thành với Chúa thì vẫn sống, vì Lời Ngài là sự sống của chúng ta, và sự vâng Lời Đức Chúa Trời giữ chúng ta trong mối thông công với Chúa (IICo 6:14-7:1). Dân sự Đức Chúa Trời phải cẩn thận đừng trở nên thân thiết với thế gian (Gia 4:4) hay bị ô uế bởi thế gian (1:27), vì điều này dẫn đến việc yêu mến thế gian (IGi 2:15-17) và thích nghi với thế gian (Ro 12:2). Lối sống kiểu này mời gọi sự sửa phạt của Đức Chúa Trời, vì “Chúa sẽ xét đoán dân mình” và “sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay” (He 10:30-31).
    Kính sợ Chúa nghĩa là tôn trọng địa vị Ngài, bản chất Ngài và điều Ngài phán, và bằng sự đầu phục cùng sự vâng lời Ngài cho thấy chúng ta yêu Ngài và muốn làm đẹp lòng Ngài. Ngài là Đấng tạo hóa và chúng ta là những tạo vật, Ngài là Cha và chúng ta là con; Ngài là Chủ và chúng ta là tôi tớ khi chúng ta chối từ quyền hạn của Ngài một cách ý thức chỉ dẫn chúng ta đến sự đau đớn và sự mất mát bi thảm. Điều đó thật không đáng như vậy. Nếu bạn muốn nhận biết những ơn phước mà các tín hữu bỏ lỡ khi họ không kính sợ Chúa, hãy đọc và suy gẫm những câu này Phu 6:24 Thi 25:12 31:19 34:9,12 145:19 Ch 1:7 Es 33:6 Eph 5:21 Eph 5:21 He 12:28-29.
    3. Đức Chúa Trời là khôn ngoan - hãy học từ Ngài (Phu 4:5-9)
    Lời Đức Chúa Trời là sự bày tỏ về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, và chúng ta cần biết và làm theo sự khôn ngoan của Ngài nếu đời sống chúng ta phải làm đẹp lòng và làm vinh hiển Ngài. Sự khôn ngoan của thế gian là sự dại dột đối với Đức Chúa Trời (ICo 3:19), và những ai làm theo nó sẽ bị thất vọng. Trong Cựu Ước từ “khôn ngoan” có liên quan đến tính cách hơn là trí thông minh của con người và mô tả cách sử dụng đúng tri thức. Tiến sĩ Roy Zuck (2) nói rằng: “Sự khôn ngoan nghĩa là khéo léo và thành công trong những mối liên hệ và trách nhiệm của mình, quan sát và làm theo những nguyên tắc của Đấng Tạo Hóa về trật tự trong thế giới tâm linh”. Thực hành sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời nghĩa là bạn không chỉ sống mà là tạo nên một đời sống.
    Vì sao thật quan trọng để Y-sơ-ra-ên biết và vâng theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời. Trước hết, đây là sự bảo đảm về thành công của họ trong việc sở hữu Đất Hứa (Phu 4:5). Khi bạn đọc sách Giô-suê, bạn khám phá rằng Đức Chúa Trời đã thực hiện toàn bộ chiến dịch và Giô-Suê chỉ việc vâng theo… Hai lần Giô-suê đã không tìm kiếm sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, dân tộc đã kinh nghiệm sự thất bại nhục nhã (Gios 7:1-26 9:1-27)
    Khi biết sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời, dân Y-sơ-ra-ên sẽ không chỉ thành công trong sứ mệnh của họ, mà họ sẽ còn là chứng nhân cho các dân tộc khác (Phu 4:6-8). Những dân tộc ngoại đạo ở Ca-na-an đã tìm cách có được sự hướng dẫn của các tà thần bằng phương tiện phù phép và những hình thức khác của thuyết thông linh, mà tất cả đều bị cấm đối với dân Do Thái (18:9-14 Es 47:12-14). Những luật lệ của Đức Chúa Trời rõ ràng bày tỏ cho Y-sơ-ra-ên điều gì đúng, sai và kiểm soát mọi quyết định họ sẽ phải thực hiện. Tín hữu ngày nay có Lời Đức Chúa Trời đầy đủ và sự bảo đảm rằng nếu chúng ta vâng theo điều Đức Chúa Trời đã dạy chúng ta, Ngài sẽ cho chúng ta sự hướng dẫn chúng ta cần trong những lãnh vực đặc biệt của đời sống (Gi 7:17). Những người sống theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời không khỏi bày tỏ cho những người quanh họ rằng Đức Chúa Trời là thật và việc làm theo sự khôn ngoan của Ngài đem lại những phước hạnh (3). Mọi điều về tôn giáo của Y-sơ-ra-ên vượt xa tôn giáo của những dân tộc xung quanh đến nỗi những người ngoại đạo không tin đã không khỏi bị gây ấn tượng: Sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong nơi thánh của Y-sơ-ra-ên, những luật lệ thiêng liêng điều khiển đời sống họ, sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời và sự vắng bóng của sự hung ác và sự bất khiết. Bi kịch đó là Y-sơ-ra-ên đã quá quen thuộc với những ơn phước này đến nỗi họ khởi đầu bắt chước những láng giềng của họ và đánh mất chứng cớ của họ.
    Có một lợi ích thứ 3 chúng ta hưởng được khi chúng ta làm theo sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời: Nó giúp xây dựng những gia đình tin kính (Phu 4:9-10). Bị vây quanh bởi dân ngoại đạo, Y-sơ-ra-ên luôn là một thế hệ gần như đánh mất ơn phước của Đức Chúa Trời, và Hội Thánh ngày nay cũng vậy (IITi 2:2). Nếu chúng ta không dạy cho con cái chúng ta về Đức Chúa Trời và Lời Ngài, sẽ đến ngày mà một thế hệ sẽ nổi lên không biết Chúa, là điều cuối cùng đã xảy ra cho Y-sơ-ra-ên (Cac 2:7-15) “Song, khi Con Người đến, Ngài há sẽ thấy đức tin trên đất chăng?” (Lu 18:8 NKJV).
    Làm sao cha mẹ tin kính có thể gây ảnh hưởng tốt nhất cho con cái họ để tin cậy Chúa và sống bởi sự khôn ngoan của Ngài? Môi-se cho những người lớn ba gợi ý: Hãy làm những tấm gương cho con cái bạn; Đừng để Lời Đức Chúa Trời trôi qua tâm trí và tấm lòng của bạn. Hãy nhớ điều Chúa đã làm cho bạn trong quá khứ và chia sẻ những kinh nghiệm này với con cái bạn. Mỗi đứa trẻ Do Thái thời Môi-se đều phải biết câu chuyện về cuộc kinh lý rời Ai Cập (Phu 6:20-25 Xu 10:1-2 12:24-28 13:1-16) và trong tương lai, mỗi đứa trẻ đều phải biết ý nghĩa của việc Y-sơ-ra-ên vượt qua sông Giô-đanh (Gios 4:1-7,21-24). Trách nhiệm của thế hệ đi trước là phải chỉ dẫn cho thế hệ sau và làm một tấm gương cùng sự khích lệ cho họ (6:1-3 32:44-47 Thi 34:11 44:1 71:17-19 78:1-8 Tit 2:1-8). Cha mẹ không nên giao trách nhiệm này cho các giáo vên trường Chúa Nhật hay những người hướng dẫn nhóm học Kinh Thánh, những chức vụ đó là quan trọng, vì cha mẹ Cơ Đốc tận tâm là những người được chọn đầu tiên của Đức Chúa Trời làm thầy giáo của con cái họ. Tội lỗi của cha mẹ – đặc biệt là sự xao lãng thuộc linh và gương xấu có thể được con cái bắt chước và sinh ra những hậu quả đáng buồn sau đó trong đời sống (Phu 5:8-10 Xu 20:5-6 Dan 14:17-18).
    4. Chỉ một mình Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời - Hãy thờ phượng Ngài (Phu 4:10-43)
    Các dân tộc quanh Y-sơ-ra-ên đã thờ lạy nhiều thần, nhưng Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng chỉ mình Đức Chúa Trời duy nhất chân thật. “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” đó là nguyên lý đầu tiên và cơ bản trong sự xưng nhận đức tin của người Do Thái, “The Shema” (Phu 6:4-5), và điều răn đầu tiên trong mười điều răn là “Trước mặt ta, ngươi chớ có các thần khác” (5:7). vì sao? Vì tất cả các “thần” khác chỉ là tác phẩm của những trí tưởng tượng đầy tội lỗi chớ chẳng phải là thần gì cả (Ro 1:18). Thờ phượng các thần khác là thờ lạy hư không và trở thành hư không (Thi 115:8). Một trong những từ Hê-bơ-rơ chỉ về “hình tượng” nghĩa là “sự hư ảo, sự hư không”. Trong sứ điệp này, Môi-se đưa ra nhiều lý lẽ để bảo vệ lời cảnh cáo này chống lại sự thờ phượng.
    Kinh nghiệm của Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai (Phu 4:10-19). Môi-se nhắc Y-sơ-ra-ên về kinh nghiệm đáng sợ của dân tộc tại núi Si-nai khi Đức Chúa Trời lập giao ước Ngài với họ, núi rực lửa và bị che phủ bởi những đám mây và sự tối tăm lớn, sấm và sét làm dân sự sợ hãi, và sau một hồi lớn dần, Đức Chúa Trời gọi Môi-se lên đỉnh núi (Xu 19:16-19 He 12:18-21). Dân sự nghe Đức Chúa Trời phán Lời Ngài nhưng họ không thấy bất cứ hình dạng nào của Đức Chúa Trời. Chúa cho biết rất rõ rằng Y-sơ-ra-ên sẽ là một dân có Lời Chúa, nghe Đức Chúa Trời của họ phán nhưng không xem được bất cứ hình dạng nào có thể được sao chép và sau đó được thờ phượng (Phu 4:12,15). Một hiền triết Do Thái đã nói “Ngài Đấng có thể nghe có thể thấy” và ông đã đúng.
    “Các ngươi không thấy hình dạng nào ngày mà Đức Giê-hô-va phán với các ngươi tại núi Hô-rếp từ lửa” (c.15 NIV). Kết luận thật rõ ràng: Đức Chúa Trời cấm dân Ngài thờ phượng những vật hữu hình đại diện cho Đức Chúa Trời hay cho bất cứ cái gì Đức Chúa Trời đã tạo nên, dù là con người, loài thú, loài chim, loài cá hoặc mặt trời, mặt trăng và những ngôi sao. Thờ phượng sự sáng tạo thay cho Đấng Sáng Tạo là bản chất của sự thờ hình tượng (Ro 1:22-25). Đức Chúa Trời đã tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài nhưng kẻ thờ thần tượng tạo ra các thần theo hình ảnh của chính họ và bởi đó làm hạ giá bản thân họ và sỉ nhục Đức Chúa Trời (5).
    Sự giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập (Phu 4:20). Môi-se đề cập đến tất cả các dân tộc (c.19), vì vậy ông nhắc nhở dân sự rằng Y-sơ-ra-ên khác biệt với những dân tộc khác này vì Y-sơ-ra-ên là tuyển dân của Đức Chúa Trời và là di sản đặc biệt của Ngài (Xu 19:1-6). Chúa đã chọn Áp-ra-ham và con cháu ông để đem những ơn phước của Ngài đến cho cả thế gian (Sa 12:1-3 Gi 4:22), và để thực hiện nhiệm vụ quan trọng đó, Y-sơ-ra-ên phải là một dân được biệt riêng. Mỗi năm khi dự lễ Vượt Qua, dân Do Thái sẽ được nhắc nhở rằng họ từng là nô lệ ở Ai Cập và Chúa đã giải cứu họ bằng đại quyền của Ngài, và họ là dân sự của Ngài. Chính khi Y-sơ-ra-ên bắt đầu bắt chước các dân tộc khác và thờ phượng các thần đáng gớm ghiếc của họ, thì Y-sơ-ra-ên đã thôi làm một dân tộc được dâng hiến hoàn toàn cho Chúa. Vì họ đã quên những đặc quyền của mình họ đánh mất những đặc ân của mình.
    Hội Thánh ngày nay có thể học một bài học từ điều này. Chúng ta được kêu gọi để làm một dân biệt riêng không bị thích nghi với thế gian này (IICo 6:14-7:1 Ro 12:1-2), nhưng khuynh hướng ngày nay là để cho các Hội Thánh thi hành chức vụ theo kiểu mẫu những gì thế gian đang làm. Triết lý này đó là Hội Thánh sẽ làm hấp dẫn nhiều người hơn nếu những người hư mất cảm thấy thoải mái hơn với những lễ thờ phượng. Bi kịch đó là nơi thánh trở thành một rạp hát và “chức vụ” trở thành trò giải trí. Nhưng Kinh Thánh và lịch sử Hội Thánh cho biết rõ rằng điều Campbell Morgan nói là đúng: “Hội Thánh đã làm nhiều nhất cho thế gian khi Hội Thánh ít giống với thế gian nhất”. Chúa Giê-xu đã không thỏa hiệp với thế gian nhưng Ngài đã thu hút những tội nhân và dạy dỗ họ một cách hữu hiệu (Lu 15:12). Nếu chúng ta không phải là một dân được biệt riêng, dâng mình hoàn toàn cho Chúa, chúng ta không bao giờ có thể noi theo gương Ngài.
    Kinh nghiệm của Môi-se tại Ca-đe (Phu 4:21-24 Dan 20:1-13). Khi Môi-se đập hòn đá thay vì nói với nó, Đức Chúa Trời đã nhân từ cung cấp nước dồi dào cho dân sự khát nước của ông, nhưng Ngài đã kỷ luật tôi tớ Ngài là người làm vinh hiển chính mình thay vì làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Chỉ Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời, và chỉ mình Ngài phải được quy vinh hiển. “Ta là Đức Giê-hô-va, ấy là danh ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển ta cho một đấng nào khác” (Es 42:8). Môi-se cảnh cáo dân sự “Vì Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi là một đám lửahay thiêu đốt, một Đức Chúa Trời ghen tương” (Phu 4:24 He 12:29). Đức Chúa Trời ghen với dân sự Ngài giống như một người chồng ghen với vợ mình hay một người mẹ ghen với con cái bà (Phu 5:9 6:15 13:2-10 29:20 33:16,21). Ngài muốn điều thật tốt nhất cho chúng ta, nhưng khi chúng ta cố tình đi con đường riêng của mình, chúng ta làm buồn lòng Ngài và bỏ lỡ tất cả những gì Ngài muốn làm cho chúng ta.
    Giao ước yêu thương của Đức Chúa Trời (Phu 4:25-31). Đức Chúa Trời đã lập một giao ước với dân sự Ngài và Ngài mong họ giữ nó. Từ “giao ước” được sử dụng ít nhất 27 lần trong sách Phục Truyền và đến từ tiếng Hê-bơ-rơ mà một số học giả nói nó có nghĩa là “ăn bánh”. Ở phương Đông, khi người ta bẻ bánh với nhau, họ lập một giao ước hay hiệp ước rằng họ sẽ giúp đỡ và bảo vệ nhau (Sa 26:26-35). Khi Đức Chúa Trời thiết lập giao ước Ngài với Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai, Môi-se và các trưởng lão Do Thái đã ăn trước mặt Đức Chúa Trời trên núi (Xu 24:11). Những điều khoản của giao ước thật đơn giản: Nếu Y-sơ-ra-ên vâng theo những luật lệ của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ chúc phước cho họ; Nếu họ bất tuân, Ngài sẽ sửa phạt họ - Ngài sẽ bày tỏ tình yêu Ngài cho họ bằng sự chúc phước lẫn sửa phạt, “Vì Chúa sửa phạt kẻ Ngài yêu” (He 12:6).
    Môi-se giải thích kỹ những chi tiết của giao ước trong bài nói chuyện của ông sau đó (Phu 28:1-30:20), nhưng ở đây ông cảnh cáo dân sự rằng họ sẽ bị trừng phạt bị phân tán, và bị tiêu diệt với tư cách một dân tộc nếu họ không nhận những trách nhiệm của giao ước một cách nghiêm túc. Tiếc thay, đây là điều đã xảy ra. Suốt những năm cuối triều đại của Sa-lô-môn, để làm hài lòng nhiều bà vợ của mình, ông đã cho sự thờ hình tượng vào xứ (IVua 1:1-53) và điều này đã dẫn đến sự xét đoán của Đức Chúa Trời cùng sự chia rẽ và sự sa đọa của dân tộc (12:1-33). Vào năm 722 TC, A-si-ry đã chiếm giữ 10 chi phái đã tạo nên vương quốc Sa-ma-ri phía Bắc, và Ba-by-lôn chiếm vương quốc Giu-đa phía Nam vào năm 586 TC. Từ năm 70 SC cho đến ngày 15/5/1948, khi quốc gia Y-sơ-ra-ên mới được công nhận, dân Do Thái đã bị phân tán khắp thế giới và không có tổ quốc.
    Tình yêu của Đức Chúa Trời (Phu 4:32-43). Khi bạn đang nuôi con nhỏ, bạn sử dụng những phần thưởng và những hình phạt để dạy chúng vâng lời, nhưng khi chúng lớn lên, bạn hy vọng rằng tính cách và tình yêu sẽ thúc đẩy chúng tránh xa điều ác và làm điều đúng đắn khi Y-sơ-ra-ên quay lưng với Đức Chúa Trời hằng sống chân thật và bắt đầu thờ hình tượng, họ đã phạm tội nghịch với ân điển và tình yêu của Đức Chúa Trời. Chúa đã không chọn bất cứ dân tộc nào khác và ban cho họ giao ước Ngài, Ngài cũng không phán với bất cứ dân tộc nào khác và ban cho họ Thánh luật của Ngài, Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân Ngài và chăm sóc họ từ thời Áp-ra-ham cho đến thời của Môi-se, và Ngài đã không làm điều này cho bất cứ dân tộc nào khác. Tại sao? Đó không phải vì Y-sơ-ra-ên xứng đáng được những ơn phước này nhưng là vì tình yêu bất diệt của Đức Chúa Trời (c.37 7:7-8,13 23:5).
    Đức Chúa Trời không muốn con cái Ngài vâng lời Ngài chỉ để nhận phước hạnh hoặc để tránh sự sửa phạt, nhưng vì họ yêu Ngài từ tấm lòng. Từ “tấm lòng” được đề cập hơn 40 lần trong bài nói chuyện của Môi-se và bài Shema (6:4-5) nhấn mạnh từ tình yêu đối với Chúa (10:12 11:1,13,22 13:3 19:9 30:6 16:20). Khi Môi-se ban luật pháp cho thế hệ trước tại núi Si-nai nhấn mạnh về sự kính sợ Chúa (Xu 19:10-25 20:20, nhưng việc ông ứng dụng luật pháp cho thế hệ mới tán dương tình yêu Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên và tầm quan trọng của việc Y-sơ-ra-ên yêu mến Chúa. Giờ đây họ phải là một dân trưởng thành vâng lời Đức Chúa Trời từ tấm lòng. Chúa là một Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót (Phu 4:31), nhưng chúng ta không nên thử Ngài vì Ngài cũng là một Đức Chúa Trời ghen tương (c.24).
    Như chứng cớ về tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, Môi-se biệt riêng ba “thành ẩn náu” ở phía Đông sông Giô-đanh, cho những người nào vô tình giết ai đó có thể chạy trốn, nhận được công lý và tìm thấy sự bảo vệ (c.41-43). Chủ đề này sẽ được đề cập chi tiết trong 19:1-14.
    5. Đức Chúa Trời là Chúa tất cả - Hãy vâng lời Ngài (Phu 4:10-43) (Phu 4:44-5:39)
    Cái xuổng của nhà khảo cổ học này bày tỏ rằng sách Phục Truyền Luật Lệ Ký đi theo một kiểu mẫu văn chương được sử dụng trong vùng Cận Đông cổ đại làm những hiệp ước giữa các vua và các nước chư hầu của họ. Dĩ nhiên, với Y-sơ-ra-ên Chúa đã chinh phạt những kẻ thù của họ và giải phóng dân Do Thái, và họ là dân đặc biệt của Ngài, nhưng khi họ vào xứ của họ, sự tự do này đòi hỏi những trách nhiệm. Họ là một dân giao ước và sách Phục Truyền định rõ những điều khoản của giao ước. Giống như những hiệp ước chư hầu xưa, sách Phục Truyền Luật Lệ Ký có một lời mở đầu (1:1-5) và một sự ôn lại lịch sử đằng sau hiệp ước (1:6-4:49). Sau đó nó liệt kê những quy định của vua về cách cư xử của thần dân ông (chương 5-26) và điều sẽ xảy ra nếu họ bất tuân (chương 27-30). Nó kết thúc bằng một sự giải thích cách hiệp ước sẽ có tác dụng trong các thế hệ tương lai (chương 31-34).
    Môi-se mở đầu bằng cách kêu gọi Y-sơ-ra-ên nghe giao ước của Đức Chúa Trời, học nó và làm bất cứ điều gì nó đòi hỏi (5:1). Như chúng ta đã hiểu, “nghe” có ý nghĩa hơn hẳn là lắng nghe tình cờ những lời ai đó đang nói. Nó có nghĩa là chăm chú nghe, hiểu, chú ý và vâng theo. Khi Đức Chúa Trời lập giao ước này, nó kể đến mọi thế hệ của dân tộc Y-sơ-ra-ên từ thời đó trở đi chớ không chỉ với thế hệ đã nhóm tại núi Si-nai. Môi-se đang nói với một thế hệ mới, nhưng ông nói: “Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta có lập giao ước cùng chúng ta tại Hô-rếp” (c.2). Giống như giao ước của Đức Chúa Trời với Áp-ra-ham bao gồm người Do Thái của những thế hệ tương lai thì giao ước Ngài tại Si-nai cũng vậy; Vì Đức Chúa Trời là “nơi ở trong mọi thế hệ” (Thi 90:1). Hầu hết những người ở Si-nai đã chết suốt thời kỳ lang thang trong đồng vắng nhưng giao ước của Đức Chúa Trời vẫn đứng vững.
    Môi-se là người trung gian giữa Đức Giê-hô-va và Y-sơ-ra-ên vì dân sự sợ nghe tiếng Đức Chúa Trời (Phu 5:23-27 Xu 20:18-21 Ga 3:19). Nếu chúng ta là những người tin kính và vâng lời, việc nghe tiếng Đức Chúa Trời nghĩa là phước hạnh và sự khích lệ, nhưng nếu lòng chúng ta không ngay thẳng với Đức Chúa Trời tiếng của Ngài có nghĩa là sự xét đoán.
    Luật pháp Đức Chúa Trời (Phu 5:6-21 Xu 20:1-17). Chúa đã mở đầu sự tuyên bố về luật pháp Ngài bằng cách nhắc nhở rằng Ngài chính là Đấng giải cứu họ khỏi ách nô lệ ở Ai Cập (Ph 5:6 Ne 9:9-11 Thi 77:14-15 105:23-28 136:10-15 Es 63:11-14). Hành động cứu chuộc lớn lao này phải là một động cơ đủ để dân sự lắng nghe Luật pháp Đức Chúa Trời và vâng theo, giống như sự cứu chuộc chúng ta có trong Đấng Christ phải thúc đẩy chúng ta vâng lời Ngài. Mỗi năm vào lễ Vượt Qua, dân Do Thái được nhắc nhở về hành động cứu rỗi vĩ đại của Đức Chúa Trời, và mỗi lần Hội Thánh dự Tiệc Thánh, chúng ta được nhắc nhở rằng Đấng Christ đã chết thay chúng ta để chúng ta có thể được cứu khỏi tội lỗi mình và thuộc về Ngài, Chúa muốn chúng ta vâng lời Ngài, không phải như nô lệ khúm núm trước mặt Chủ, nhưng như những đứa con biết ơn, yêu Cha trên trời của mình và cảm kích mọi điều Ngài dành cho chúng ta và làm cho chúng ta.
    Bốn điều răn đều có liên quan đến mối liên hệ của Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời cách riêng tư: nhận biết rằng chỉ có một Chúa (Phu 5:6), tránh khỏi sự thờ hình tượng (c.8-10), tôn trọng danh Đức Chúa Trời (c.11), và giữ lễ Sa-bát (c.12-15). Điều răn đầu tiên (c.6-7) được trình bày trong bài cầu nguyện “Shema” (6:4-5) và điều răn thứ hai (c.8-10) là sự bày tỏ lô-gic của điều răn thứ nhất. Nếu chỉ có một Đức Chúa Trời chân thật, vậy làm và thờ lạy hình tượng càng vô lý, nhưng đó là một sự phủ nhận về sự xưng nhận đức tin của dân Do Thái. Y-sơ-ra-ên đã được “gả” cho Đức Giê-hô-va tại Si-nai và sự thờ hình tượng là một vi phạm về giao ước hôn nhân đó và tương đương với tội tà dâm. Hãy nhớ rằng ở Đông phương thời đó, sự thờ hình tượng có thể có liên quan đến sự giao cấu với các kỹ nữ đền thờ.
    Chúng ta lưu ý rằng Chúa không phạt con cháu vì cớ tội lỗi của tổ phụ họ (Exe 18:1-32), nhưng Ngài có thể cho phép những hậu quả đáng buồn của những tội lỗi đó ảnh hưởng đến những thế hệ tương lai, về mặt thuộc thể, tinh thần và thuộc linh. Con cái có xu hướng bắt chước cha mẹ, và dân Đông phương đã sống trong những gia đình đông đúc, với 3, 4 thế hệ thường ở trong cùng một gia đình. Dễ thấy rằng những người lớn trong gia đình có những cơ hội gây ảnh hưởng cho những người trẻ tuổi về điều xấu và điều tốt. Nhưng Chúa cũng chúc phước cho những thế hệ thành công có những người tôn trọng và vâng lời Ngài. Ông cố tôi đã cầu nguyện để sẽ có một người rao Phúc Âm trong mọi thế hệ của gia đình chúng tôi, và đã có. Tôi thi hành chức vụ hôm nay vì cớ những tổ phụ tin kính đã tin cậy Chúa.
    Trong điều răn thứ 3, danh Đức Chúa Trời đại diện cho bản tính và danh tiếng của Đức Chúa Trời, và tôn trọng danh Ngài nghĩa là làm cho Ngài trở nên “có vẻ tốt lành” đối với những người quanh ta. Tất cả các cha mẹ đều muốn con cái mình đem vinh dự đến cho dòng họ. Chúng ta hãy cầu nguyện “danh Cha được tôn thánh” (Mat 6:9) rồi sau đó chúng ta hãy sống và nói cách mà chúng ta giúp đáp lời cầu nguyện đó. Sử dụng danh Đức Chúa Trời dưới lời thề để bảo vệ cho một lời nói không trung thực, cũng như rủa sả và thề thốt, đều là những cách làm hổ danh Đức Chúa Trời. Mang danh đó và sống như một Cơ Đốc nhân sẽ tôn cao thanh danh của Ngài trước một thế giới đang quan sát (IPhi 4:12-16).
    Chín trong mười điều răn được lặp lại trong các thư tín Tân Ước để Hội Thánh vâng lời; ngoại trừ điều răn thứ tư (Phu 5:12-15) nói về ngày Sa-bát. Tại sao? Ngày Sa-bát là một dấu hiệu đặc biệt giữa Y-sơ-ra-ên và Chúa (Xu 31:12-17 Ne 9:13-15 Exe 20:12,20) và không được dành cho bất cứ dân tộc nào khác (Thi 147:19-20). Ngày Sa-bát đã có khởi đầu của nó trong sự sáng tạo (Sa 2:1-3) và vì lý do đó nó là một phần của đời sống tôn giáo Y-sơ-ra-ên thậm chí trước khi luật pháp được ban ra ở Si-nai (Xu 16:23,25). Nhưng tại Si-nai, việc giữ lễ Sa-bát đã trở thành một phần giao ước của Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên và được liên tưởng với sự giải cứu họ khỏi Ai Cập (Phu 5:15). Ca-na-an sẽ là nơi yên nghỉ của Y-ơ-ra-ên (3:20 12:10 25:19) và lễ Sa-bát hằng tuần sẽ cho họ một sự nếm trước về sự yên nghỉ đó. Tín hữu hôm nay có sự yên nghỉ của mình trong Đấng Christ (Mat 11:28-30 He 3:1-4:16) và trông đợi sự yên nghỉ đời đời trên trời (Kh 14:13). Tiếc thay, Y-sơ-ra-ên đã không tôn trọng những ngày Sa-bát và năm Sa-bát, và Chúa phải kỷ luật họ (IISu 36:14-21 Exe 20:1-44 Es 58:13-14 Gie 17:19-27).
    Nhiều người có thiện chí gọi Chúa Nhật là “Ngày Sa-bát Cơ Đốc” nhưng nói một cách chính xác, đây là một sự dùng từ sai. Chúa Nhật là ngày đầu tuần, ngày của Chúa, và ngày Sa-bát là thứ bảy, ngày thứ 7 trong tuần. Ngày Sa-bát tượng trưng cho Giao ước cũ của luật pháp: bạn lao động 6 ngày sà sau đó bạn nghỉ ngơi. Ngày của Chúa kỷ niệm Giao ước Mới của ân điển: Nó mở đầu tuần lễ bằng sự yên nghỉ trong Đấng Christ và những công việc theo sau. Ngày Sa-bát và Ngày của Chúa nhấn mạnh tầm quan trọng của việc dâng hiến một ngày trong 7 ngày cho Chúa để thờ phượng và hầu việc. Mọi ngày đều thuộc về Chúa và thật không phù hợp với Kinh Thánh khi khiến cho việc giữ các ngày trở nên một sự kiểm nghiệm về tính thuộc linh và tính chính thống (Co 2:16-17 Ro 14:1-15:7 Ga 4:1-11).
    Điều răn thứ 5 (Phu 5:16) đưa chúng ta đi từ mối liên hệ của chúng ta với Chúa đến việc sống theo mối liên hệ đó với người khác bắt đầu trong gia đình, những khía cạnh của luật pháp về mặt Đức Chúa Trời và con người là quan trọng và không nên bị tách rời, vì chúng ta được dạy phải yêu mến Chúa và cũng yêu kẻ lân cận mình (Mac 12:28-34). Lòng mộ đạo khởi đầu từ gia đình với sự tôn kính cha mẹ, một luật lệ rất quan trọng trong Y-sơ-ra-ên (Phu 27:16 Xu 21:15,17 Le 19:3,32 Ch 1:8 16:31 20:20 23:22 30:17) và vẫn quan trọng trong Hội Thánh (Eph 6:1-3 ITi 5:1-2). Có quá nhiều người trong xã hội ngày nay tôn sùng tuổi trẻ và chống lại ý nghĩ lão hóa, và vì lý do này mà những người già thường bị thờ ơ, ngược đãi, và ở một số quốc gia, họ bị giết chết một cách hợp pháp (sự chết không đau đớn “tự sát có trợ giúp”).
    Điều này dẫn đến điều răn thứ 6 một cách hợp lý (Phu 5:17), là điều răn đòi hỏi chúng ta tôn trọng nhân mạng và không phạm tội giết người. Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống và chỉ mình Ngài có quyền cất nó đi. Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời, nên tội giết người là một sự tấn công nghịch với Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27 9:6). Kinh Thánh không cấm việc tự vệ (Xu 22:2), nhưng chỉ chính quyền mới có quyền cất đi mạng sống con người trong những trường hợp về sự phạm tội xử tử (Ro 13:1-14). Chúa Giê-xu đã cảnh cáo rằng tội giết người thường khởi đầu bằng sự giận dữ (Mat 5:21-26), và mặc dù tội giết người tồi tệ hơn nhiều, nhưng sự tức giận tương đương với tội giết người về mặt đạo đức. Đáng chú ý rằng luật pháp đã được ban cho Y-sơ-ra-ên để kiềm chế con người và trừng phạt họ vì những tội lỗi họ, chớ không sửa đổi họ. Mặc dù luật pháp không thể thay đổi lòng người (He 7:19), nó có thể kiềm chế và phạt những ai coi thường quyền hạn của nó và không chịu vâng theo những mệnh lệnh.
    Điều răn thứ bảy (Phu 5:18) đòi hỏi sự tinh sạch về mặt sinh dục và sự kính trọng hôn nhân như cách Đức Chúa Trời chỉ định để có sự sử dụng đúng đắn và vui hưởng bản năng sinh dục của con người. Ở Y-sơ-ra-ên thời xưa, tội tà dâm bị xem là một tội xử tử (22:22), trong khi ở xã hội ngày nay, nó hầu như không bị xem là một tội lỗi, chớ đừng nói chi là một sự phạm tội. Đức Chúa Trời có thể tha thứ những tội lỗi, chớ đừng nói chi là một sự phạm tội. Đức Chúa Trời có thể tha thứ những tội về tình dục (ICo 6:9-11), nhưng Ngài không hứa can thiệp vào những hậu quả đau đớn (IISa 12:13-14 Ch 6:20-35 Ga 6:7-8 He 13:4). Thật đáng ghê tởm cách mà phương tiện truyền thông ca tụng tình dục và biến sự gian dâm và ngoại tình thành thú tiêu khiển.
    Đức Chúa Trời quan tâm không chỉ về cách chúng ta đối xử với người khác mà còn quan tâm về cách chúng ta đối xử với tài sản của người khác. Điều răn thứ 8 (Phu 5:19) đơn giản nói: “Ngươi chớ trộm cướp”. Ngắn gọn và vào trọng tâm, nó bao gồm nhiều sự vi phạm: ăn cắp tài sản, ăn cắp thanh danh của một người (vu cáo) gian lận trong một kỳ thi và thậm chí ăn cắp con người (chiếm hữu nô lệ, bắt cóc). Eph 4:28 nói rõ rằng chỉ có ba cách để có tài sản: Làm việc để có nó, nhận nó như một món quà, hoặc ăn cắp nó. Chỉ có hai cách đầu là được Chúa chấp nhận.
    Điều răn thứ chín (Phu 5:20) cấm mọi hình thức nói dối, dù trên ghế nhân chứng trong tòa án hay trên lá chắn phía sau (17:6-13). Sự thật là chất xi măng giữ vững xã hội, và mọi sự đổ vỡ khi con người không giữ những lời hứa của họ, dù là những hợp đồng trong thương mại hay những lời thề tại bàn thờ hôn nhân. Điều răn này cũng cấm sự vu cáo, tức là nói dối về người khác (Xu 23:1 Ch 10:18 12:17 19:9 24:28 Tit 3:1-2 Gia 4:11 IPhi 2:1). Dân sự Đức Chúa Trời phải được biết đến về việc nói ra lẽ thật trong tình yêu thương (Eph 4:15).
    Trọng tâm của điều răn thứ mười là sự tham lam (Phu 5:21), ước muốn tội lỗi trong lòng về bất cứ điều gì đúng ra chúng ta không nên có. Điều răn này và điều răn thứ nhất (c.1) đề cập đến những thái độ bên trong hơn là những hành động bên ngoài, nhưng vi phạm một trong hai điều răn này có thể dẫn đến việc vi phạm tất cả những điều răn còn lại. Vì cớ sự tham lam, con người đã cướp bóc, phạm tội tà dâm, nói dối và thậm chí giết người. Nếu chúng ta vâng theo điều răn thứ nhất và thật sự yêu mến Đức Chúa Trời và thờ phượng chỉ một mình Ngài, vậy sự tham lam sẽ không phải là một vấn đề (Mat 6:33 Lu 12:16 Eph 5:3 Co 3:5).
    Những tín hữu Cơ Đốc nhờ cậy nơi Đức Thánh Linh ngự trị (Ga 5:22-26) và sống bởi luật yêu thương (Ro 13:8-10) không cần phải cố gắng vâng theo những điều răn này, vì sự sống của Đức Chúa Trời sẽ tuôn chảy qua họ và giúp họ có thể làm trọn sự công bình của Đức Chúa Trời (8:1-17). Bản chất cũ không biết luật pháp, nhưng bản chất mới không cần luật pháp. Có thể có một luật lệ trong thành phố của bạn đòi hỏi cha mẹ phải chăm sóc con cái họ, nhưng có bao nhiêu cha mẹ nghĩ về luật đó? Cha mẹ chăm sóc cho con cái mình vì họ yêu thương chúng, chớ không phải vì sợ vào nhà tù.
    Vì chúng ta đã được tái sanh trong gia đình Đức Chúa Trời và nhận bản chất thiêng liêng của Đức Chúa Trời ở trong, chúng ta được Thánh Linh giúp sức để có thể vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời và sống đời sống tin kính (IGi 3:1-9).
    Đức Chúa Trời của luật pháp (Ph 5:22-33). Mục đích của luật pháp Đức Chúa Trời là để bày tỏ Đức Chúa Trời của luật pháp, và khi bạn tập trung vào Ngài, bạn thấy đó là một sự vui mừng để vâng theo những mạng lệnh của Ngài (Thi 40:8). Môi-se kết thúc việc ôn lại Mười Điều Răn bằng cách nhắc nhở thế hệ mới rằng tại núi Si-nai Đức Chúa Trời đã bày tỏ vinh hiển và sự vĩ đại của Ngài. Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên không nên bị xem thường vì Ngài là một Đức Chúa Trời thánh khiết. Y-sơ-ra-ên sẽ không bao giờ lại một lần nữa đến núi Si-nai và nhìn thấy lửa, mây, sự tối tăm, tia chớp và nghe tiếng nói đáng kinh sợ của Đức Chúa Trời phán từ núi; nhưng họ cần nhớ sự oai nghi của Đức Chúa Trời họ và quyền phép của Lời Ngài.
    Nhiều Hội Thánh ngày nay đã đánh mất khái niệm Kinh Thánh về sự oai nghi và quyền phép của Đức Chúa Trời như đã được bày tỏ trong luật pháp của Ngài. Sự thiếu sót này đã làm hạ giá sự thờ phượng của chúng ta, biến sự rao giảng Tin Lành thành nghệ thuật bán hàng và biến Kinh Thánh thành một cuốn sách tự lực bảo đảm khiến bạn trở nên một người thành công. A.W.Tozer đã đúng khi ông nói rằng “không tôn giáo nào lớn hơn ý niệm của nó về Đức Chúa Trời”. Ông cũng nói “Thực chất của sự thờ hình tượng là sự nuôi dưỡng những tư tưởng về Đức Chúa Trời không xứng đáng cho Ngài” (6). Nếu đó là đúng, và tôi tin như vậy, thì nhiều Cơ Đốc nhân Tin Lành phạm tội thờ hình tượng.
    Trong lời kêu gọi Y-sơ-ra-ên, Môi-se thúc giục họ nhớ lại sự oai nghi của Đức Chúa Trời và tôn trọng Lời Đức Chúa Trời. Ông trích dẫn chính lời của Đức Giê-hô-va “Ồ, chớ chi lòng họ có khuynh hướng kính sợ ta và luôn giữ mọi mệnh lệnh của ta” (Phu 5:29 NIV). Sự vâng lời luôn là một vấn đề của tấm lòng, và nếu chúng ta yêu mến Chúa, chúng ta sẽ giữ những điều răn của Ngài (Gi 14:15,21-24). Không có mâu thuẫn giữa sự vĩ đại của Đức Chúa Trời và ân điển của Đức Chúa Trời tính siêu việt và tính nội tại của Ngài; vì chúng ta có thể yêu mến Chúa và kính sợ Chúa với cùng một tấm lòng (Thi 2:10-12 34:8-9). Sự kính sợ Chúa là một chủ đề chính trong sách Phục Truyền (Phu 6:2,13,24 10:20 14:23 17:19 31:12), nhưng tình yêu của Đức Chúa Trời đối với chúng ta (7:7 10:15 23:5) cũng như tình yêu của chúng ta đối với Ngài (6:5 10:12 11:1,13,22 19:9 30:6,16,20) cũng là một chủ đề chính. Tín hữu chưa trưởng thành có một sự hiểu biết thần học nông cạn nhìn thấy một sự mâu thuẫn ở đây, nhưng tín hữu trưởng thành vui mừng trong sự quân bình được bày tỏ trong Lời Chúa: “Đức Chúa Trời là sự yêu thương” và “Đức Chúa Trời là sự sáng” (IGi 4:8 1:5).
    Dù con cái Đức Chúa Trời sống dưới ân điển chớ không phải dưới luật pháp Môi-se (Ro 6:14 Ga 5:1), nhưng cũng quan trọng để chúng ta biết luật pháp của Đức Chúa Trời hầu cho chúng ta có thể biết rõ hơn Đức Chúa Trời của luật pháp và làm đẹp lòng Ngài. Đấng Christ đã làm trọn những kiểu mẫu và biểu tượng được tìm thấy trong luật pháp, vì vậy chúng ta không còn thực hiện những nghi lễ Cựu Ước như dân Y-sơ-ra-ên đã làm. Đấng Christ đã mang sự rủa sả của luật pháp trên thập tự giá (Ga 3:10-13) để chúng ta không cần phải sợ sự xét đoán (Ro 8:1). Nhưng luật đạo đức vẫn đứng vững và Đức Chúa Trời vẫn xét đoán tội lỗi. Ngày nay, nói dối, ăn cắp, phạm tội tà dâm và giết người cũng sai trái như khi Môi-se nhận hai bảng luật pháp tại núi Si-nai. Thật ra, nó còn tồi tệ hơn, vì chúng ta ngày nay có sự bày tỏ đầy đủ về ý muốn của Đức Chúa Trời qua Chúa Giê-xu Christ, và chúng ta phạm tội nghịch với sự sáng tràn ngập.
    “Tôi sẽ vui mừng trong những luật lệ của Chúa; Tôi sẽ không quên lời của Chúa” (Thi 119:16).
    Phu 4:44-49; xem giải nghĩa Phu 4:10-43
    Phu 5:1-39; xem giải nghĩa Phu 4:10-43
    3. NHỮNG BÍ QUYẾT CỦA SỰ VÂNG LỜI (Phu 6:1-7:26)
    Môi-se là một thầy giáo khôn ngoan dạy lẽ thật của Đức Chúa Trời. Trước tiên ông ôn lại điều Chúa đã làm cho Y-sơ-ra-ên (Phu 1:1-4:49) và nhắc nhở dân sự về sự thương xót và nhân từ của Đức Chúa Trời. Sau đó ông tái khẳng định những nguyên tắc cơ bản của luật pháp Đức Chúa Trời (5:1-6:25), điều mà chúng ta biết là Mười Điều Răn (10:4). Trong chương 6 và 7, Môi-se bàn luận những động cơ cho sự vâng lời và giải thích lý do dân sự phải tôn trọng những luật lệ của Đức Chúa Trời. Ông muốn sự vâng phục của dân tộc được đặt cơ sở trên những nguyên tắc thuộc linh, chớ không phải chỉ những ý kiến cá nhân, và được khích lệ bởi những động cơ đúng đắn. Chỉ sau khi Môi-se đặt nền tảng chắc chắn này, ông mới áp dụng những điều răn của Đức Chúa Trời vào những lãnh vực cụ thể của đời sống Y-sơ-ra-ên.
    Đức Chúa Trời ban luật pháp Ngài để xây dựng dân sự cách cá nhân cũng như dân tộc theo tính tập thể. Làm sao hơn hai triệu người có thể sống và làm việc với nhau, chưa kể đến việc cùng chiến đấu với kẻ thù nếu họ không có những luật lệ và quy tắc điều khiển họ? Sự hòa bình trong dân sự và phúc lợi chung tùy thuộc vào việc dân sự tôn trọng luật pháp và vâng theo. Tiếc thay, qua nhiều năm, một số lãnh đạo tôn giáo đã thêm vào luật pháp Đức Chúa Trời nhiều sự truyền khẩu đến nỗi dân sự cảm thấy như họ đang mang một cái ách khó chịu (Cong 15:10 Ga 5:1).
    Luật pháp cũng có ý nghĩa bày tỏ Đức Chúa Trời và kéo dân sự đến gần Ngài. Nếu Y-sơ-ra-ên muốn làm một dân Thánh và một nước thầy tế lễ (Xu 19:1-8), họ cần một luật pháp thánh hướng dẫn họ. Chắc chắn Đức Chúa Trời quan tâm về cách cư xử bề ngoài của dân sự Ngài, nhưng Ngài cũng quan tâm việc tấm lòng họ được dâng hiến cho Ngài. Khi bạn đọc Thi 119:1-172 bạn khám phá điều luật pháp Đức Chúa Trời có ý nghĩa đối với dân Do Thái là những người có tinh thần thuộc linh và tận tụy cho Chúa trong lòng họ. Họ nhìn thấy luật pháp công bình của Đức Chúa Trời không như một cái ách nặng nề, nhưng như mật (119:109), ánh sáng (119:105), châu báu (119:14,72,127,162), sự tự do (119:45) và một nguồn vui mừng lớn (119:14). Họ vui mừng trong luật pháp và suy gẫm về nó (119:15-16,23-24,47-48,77-78 Phu 1:1-32). Vâng, Mười Điều Răn đã được khắc trên những bảng đá, nhưng người Do Thái thuộc linh này cũng có Lời Chúa giấu trong lòng ông (Thi 119:11).
    Một trong những chủ đề chính trong Phục Truyền chương 6 và 7 là động cơ thúc đẩy cho sự vâng lời. Hai chương này trả lời câu hỏi: “Tại sao chúng ta phải vâng lời Đức Chúa Trời giữa một thế giới nơi mà hầu hết người ta bỏ qua nó hoặc cố tình bất tuân điều ấy?” Môi-se giải thích bốn động cơ căn bản cho sự vâng lời.
    1. Tình yêu đối với Chúa (Phu 6:1-9)
    Môi-se đã nhấn mạnh tình yêu của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên và tầm quan trọng của tình yêu Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời (4:32-43), và ông sẽ đề cập chủ đề này nhiều lần trước khi ông kết luận bài nói chuyện của mình. Nếu Y-sơ-ra-ên vâng lời Chúa, họ sẽ thắng kẻ thù, sở hữu xứ, sinh sôi trong xứ, và vui hưởng một đời sống trường thọ trong nơi ơn phước của Đức Chúa Trời (6:1-3). Ít nhất sáu lần trong sách này, Môi-se gọi Ca-na-an là “một xứ đượm sữa và mật” (c.3 11:9 26:9,15 27:3 31:20), một nhóm từ mô tả sự giàu có và màu mỡ của xứ. Sữa là một thức ăn chính và mật là một hàng xa xỉ, vì vậy “một xứ đượm sữa và mật” sẽ cung cấp tất cả những gì dân sự cần, sẽ có những đồng cỏ thích hợp cho bầy chiên cùng bầy gia súc của họ và có đủ cây trong đồng ruộng cho những con ong kiến được phấn hoa. Làm sao dân sự không thể yêu mến và vâng lời Đức Giê-hô-va khi Ngài ban phước cho họ quá dồi dào?” (1).
    Giao ước (Phu 6:3). Luôn có một nguy cơ thế hệ mới sẽ trở nên kiêu ngạo và nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã chúc phước cho họ vì họ tốt hơn những thế hệ đi trước. Môi-se nhắc nhở họ rằng tất cả những ơn phước của họ đến từ Chúa vì cớ giao ước Ngài với tổ phụ họ, Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp. Thật ra, chính lẽ thật này đã mở đầu bài nói chuyện của ông (1:8,21,35), và ông sẽ đề cập nó trở lại (6:10 9:5,27 29:13 30:20 34:4 Xu 6:8 33:1). Lời hứa nhân từ của Đức Chúa Trời đối với các trưởng tộc đã cho Y-sơ-ra-ên quyền sở hữu xứ, nhưng chính sự vâng lời Chúa của họ đã bảo đảm cho việc họ sở hữu và vui hưởng xứ (2). Tiếc rằng sau khi Y-sơ-ra-ên đã sống trong xứ, họ xem nhẹ những ơn phước của họ, bất tuân luật pháp Đức Chúa Trời và đã phải bị trừng phạt vì sự chống nghịch của họ. Trước tiên họ bị sửa phạt trong xứ (được mô tả trong sách Các quan xét) và sau đó họ bị dời khỏi xứ và bị bắt đến Ba-by-lôn.
    Tín hữu ngày nay cần được nhắc nhở rằng mọi ơn phước của chúng ta đến với chúng ta vì cớ giao ước đời đời của Đức Chúa Trời với Con Ngài (He 13:20) và Giao ước Mới mà Chúa Giê-xu đã lập qua sự chết hy sinh của Ngài trên thập tự giá (Lu 22:20 ICo 11:25 He 8:1-9:28). Chúng ta được chúc phước không phải vì chúng ta là gì trong chính mình những vì cớ chúng ta là gì trong Đấng Christ (Eph 1:13-14).
    Sự xưng nhận (Phu 6:4). Sự xưng nhận đức tin của dân Do Thái chính thống được gọi là “Shema” theo từ Hê-bơ-rơ nghĩa là “nghe”. Lời xưng nhận này vẫn được đọc thuộc mỗi buổi sáng và chiều bởi những người Do Thái mộ đạo trên khắp thế giới, khẳng định “Đức Giê-hô-va, Ê-lô-im của chúng ta, Đức Giê-hô-va có một” (Mat 22:37-38 Mac 12:29-30 Lu 10:27). Lời xưng nhận này quan trọng đến nỗi những bé trai Do Thái trong các gia đình chính thống bị đòi hỏi phải thuộc lòng ngay khi chúng có thể nói được. Những dân tộc quanh Y-sơ-ra-ên thờ phượng nhiều thần, nhưng Y-sơ-ra-ên khẳng định với tất cả rằng chỉ có một Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp.
    Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “có một” (ehad) cũng có thể nghĩa là “một sự hiệp nhất” cũng như “sự duy nhất về số”. Nó được sử dụng cách đó trong Sa 2:24 mô tả sự duy nhất của A-đam và Ê-va, và cũng trong Xu 26:6,11 mô tả “sự hiệp nhất” của những bức màn trong đền tạm (xem NIV). Từ này cũng mang ý niệm về “sự vô song”. Trái ngược với nhiều thần ngoại bang, Đức Giê-hô-va là có một không hai, vì chỉ có một Đức Chúa Trời thật; chỉ mình Ngài là Đức Chúa Trời và không thuộc trong số các thần; Ngài là một sự đơn nhất điều mà các Cơ Đốc nhân giải thích là sự nhường chỗ cho Ba Ngôi (Mat 28:19-20 3:16-17). Khi Y-sơ-ra-ên bắt đầu đặt Đức Giê-hô-va kế bên những tà thần của các dân ngoại, họ đã phủ nhận lời tuyên xưng đức tin mình. Dân ngoại có thể từ bỏ tà thần của họ và tin cậy Đức Chúa Trời chân thật, Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên, nhưng một người Do Thái chính thống không bao giờ có thể đặt Đức Giê-hô-va ở cùng mức độ như các thần của dân ngoại.
    Dân ngoại (Phu 6:5). Có thể nào ra lệnh cho ai đó phải yêu thương? Tình yêu không phải là sự mầu nhiệm vừa xuất hiện một cảm xúc kỳ diệu nào đó chăng? Không, không theo Kinh Thánh. Trong đời sống của tín hữu, tình yêu phải là một hành động của ý chí: chúng ta quyết định liên hệ với Đức Chúa Trời và với những người khác một cách yêu thương dù chúng ta có thể cảm thấy ra sao. Tình yêu Cơ Đốc đơn giản nghĩa là chúng ta đối xử với người khác cách Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta. Trong tình yêu của Ngài, Đức Chúa Trời nhân từ và tha thứ đối với chúng ta, vì vậy chúng ta tìm cách nhân từ và tha thứ đối với kẻ khác (Eph 4:32). Đức Chúa Trời muốn điều thật tốt nhất cho chúng ta, vì vậy chúng ta mong muốn điều tốt nhất cho người khác, dù điều đó đòi hỏi sự hy sinh của chúng ta. Tình yêu không đơn giản là một cảm xúc bên ngoài; Tình yêu dẫn đến hành động. “Đức Chúa Trời yêu thương … đến nỗi đã ban…” (Gi 3:16). Những đức tính của tình yêu được liệt kê trong ICo 13:4-7 mô tả cách chúng ta đối xử với con người chớ không chỉ là cách chúng ta cảm nhận về họ.
    Yêu mến Đức Chúa Trời, thờ phượng và hầu việc Ngài là đặc quyền cao nhất chúng ta có thể có, vì vậy khi Chúa ra lệnh chúng ta yêu thương, Ngài đang mời chúng ta đến điều tốt nhất. Nhưng tình yêu của chúng ta đối với Đức Chúa Trời phải bao gồm toàn bộ con người bên trong chúng ta “với cả tấm lòng linh hồn và sức lực của ngươi”. Không cần thiết để định nghĩa và phân biệt những yếu tố này, như thể chúng là ba chức năng bên trong của con người. trong một số câu Kinh Thánh, chỉ có hai yếu tố được kể đến (Phu 4:29 10:12 Gios 22:5) trong khi những câu Kinh Thánh tương tự khác có bốn yếu tố (Mac 12:30 Lu 10:27). Nhóm từ này đơn giản nghĩa là “mọi điều gì ở trong ngươi” (Thi 103:1), một sự dâng hiến hoàn toàn cho Chúa. Nếu con người bên trong hoàn toàn được đầu phục Chúa và lắng nghe Lời Ngài được Thánh Linh hành động, vậy những cảm xúc sẽ đi theo. Nhưng dù những cảm xúc đó không kéo theo, chúng ta vẫn phải liên hệ với người khác như Chúa liên hệ với chúng ta.
    Sự truyền đạt (Phu 6:6-9). Khi chúng ta nghe Lời Đức Chúa Trời và tiếp nhận nó vào lòng mình (ITe 2:13), khi ấy Thánh Linh có thể sử dụng lẽ thật để biến đổi chúng ta từ bên trong (IICo 3:1-3 Gi 17:17). Đức Chúa Trời “viết” Lời Ngài nơi lòng chúng ta và chúng ta trở nên “những thư tín sống” mà những người khác có thể đọc được, và đời sống chúng ta có thể gây ảnh hưởng để họ tin Đấng Christ. Cách chúng ta sống là quan trọng vì nó hỗ trợ điều chúng ta nói. Môi-se khuyên các cha mẹ bàn luận Lời Đức Chúa Trời trong gia đình, giữa vòng con cái, và để Lời Chúa hướng dẫn tâm trí cùng bàn tay của chúng khi chúng làm việc suốt ngày. Lời Chúa thậm chí phải kiểm soát ai được phép đi qua cổng và đi qua cửa vào trong nhà. Dân Do Thái hiểu những điều răn này theo nghĩa đen và viết những phần của Kinh Thánh (3) trong những hộp nhỏ gọi là những thẻ bài da trên trán và cánh tay trái của họ (Mat 23:5). họ cũng gắn một hộp Kinh Thánh nhỏ, được gọi là bùa bình yên, vào cửa trước và mọi cánh cửa trong nhà. Mỗi người ở trong nhà đều rờ bùa bình yên một cách kính cẩn mỗi khi người ấy đi qua một cửa (Thi 121:8).
    Chúng ta không khỏi khâm phục sự kính trọng như thế đối với Lời Đức Chúa Trời, nhưng có lẽ sự nhấn mạnh của điều răn này là sự vâng lời Đức Chúa Trời trong mọi điều chúng ta nghĩ và làm hơn là mang Lời Kinh Thánh một cách thực tế trên trán và cánh tay. Ít nhất điều đó dường như là sự nhấn mạnh trong Phu 11:18-21. Tuy nhiên, chúng ta đồng ý hết lòng rằng dân sự Đức Chúa Trời phải tạo nên những gia đình nơi Đức Chúa Trời ngự vào, nơi Lời Kinh Thánh được tôn trọng, và chúng ta không xấu hổ về đức tin mình. Không nhất thiết phải biến mọi căn phòng thành một nhà nguyện, nhưng một cuốn Kinh Thánh trên bàn và một số Lời Kinh Thánh trên tường ít nhất cũng làm chứng rằng chúng ta thuộc về Chúa và mong muốn làm đẹp lòng Ngài.
    2. Sự biết ơn đối với Chúa (Phu 6:10-25)
    Môi-se đang trang bị cho thế hệ mới bước vào và nhận lấy Đất Hứa, và ông biết rằng Ca-na-an sẽ là một nơi của sự cám dỗ cũng như một nơi của sự chiến thắng. Trước hết, khi dân Y-sơ-ra-ên chiến thắng các dân tộc ở Ca-na-an, họ sẽ hưởng của cải dư dật và sẽ bị cám dỗ để quên Chúa là Đấng đã khiến cho những chiến thắng của họ có thể xảy ra. Sự cám dỗ thứ 2 sẽ là để cho Y-sơ-ra-ên thỏa hiệp với các dân tộc ngoại đạo quanh họ và không duy trì vị trí được biệt riêng của họ với tư cách là dân sự của Chúa (Môi-se sẽ đề cập sự cám dỗ thứ hai này trong 7:1-16).
    Đa số người thấy giải quyết nghịch cảnh dễ hơn sự thịnh vượng (Phi 4:10-20) vì nghịch cảnh thường kéo chúng ta đến gần Đức Chúa Trời hơn khi chúng ta tìm kiếm sự khôn ngoan và sự giúp đỡ của Ngài. Khi mọi sự tiến triển tốt đẹp, chúng ta có xu hướng nới lỏng những kỷ luật thuộc linh của mình, xem nhẹ những ơn phước của mình, và quên “ngợi khen Đức Chúa Trời Đấng mà từ Ngài tuôn tràn những ơn phước”. Những điều vật chất chúng ta chờ đợi và hy sinh dường như có ý nghĩa với chúng ta nhiều hơn những sự ban cho rơi xuống trong vạt áo chúng ta mà không có sự trợ giúp của chúng ta.
    Môi-se kể tên một số phước hạnh về vật chất Chúa sẽ ban cho dân Y-sơ-ra-ên trong Đất Hứa: những thành lớn trù phú, những ngôi nhà đầy các thứ của cải khác nhau, những giếng nước, những vườn nho và những rừng cây ô-li-ve, cũng như chính xứ này. Bất cứ khi nào dân Do Thái lấy nước từ giếng hay hoa quả từ cây nho và các cây khác, họ đều phải nhìn lên Chúa với sự biết ơn. Nước là một mặt hàng quý giá ở Đông phương và dân sự thậm chí không cần phải lao nhọc đào giếng! Họ cũng không phải trồng những vườn nho hay rừng ô-li-ve và sau đó đợi chờ các cây lớn lên và chín tới. Đức Chúa Trời đã sử dụng những chiến lợi phẩm này để đền bù cho dân Do Thái về những số tiền công họ đã không nhận được khi họ bị làm nô lệ ở Ai Cập, và đồng thời Ngài nhắc nhở họ về ân điển dư dật của Ngài.
    Trách nhiệm luôn đến cùng với đặc quyền và trách nhiệm của Y-sơ-ra-ên là phải kính sợ Đức Giê-hô-va và vâng lời Ngài (Phu 6:13), câu Kinh Thánh mà Chúa Giê-xu đã trích dẫn khi Ngài trả lời sự cám dỗ thứ ba của Sa-tan (Mat 4:10). Khi chúng ta trau dồi tấm lòng cung kính và đầu phục, chúng ta sẽ có một ý chí vâng lời và thậm chí không muốn đề cập tên của các tà thần. Y-sơ-ra-ên cần phải nhớ rằng Chúa làm chủ xứ (Le 25:23) và họ chỉ là những “tá điền” của Ngài. Di sản của họ trong xứ là sự ban cho của Đức Chúa Trời đối với dân Ngài nhưng nếu họ bất tuân giao ước Ngài, họ sẽ đánh mất xứ và những phước hạnh của nó. Chúa ghen tương với dân Ngài và sẽ không chia sẻ tình yêu với sự thờ phượng của họ cho bất cứ tà thần nào (Phu 5:8-10 32:16-26).
    Môi-se cảnh cáo dân sự đừng thử Chúa như thế hệ trước đã làm tại Ma-sa (Xu 17:1-7). Chúng ta thử Chúa khi chúng ta chất vấn khả năng Ngài một cách công khai và vô tín hoặc coi thường quyền hạn của Ngài bởi điều chúng ta nói hoặc làm. Sau khi Chúa giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập, Ngài cố tình dẫn họ qua những khó khăn để Ngài có thể dạy họ tin cậy Ngài. Trước tiên họ đến chỗ nước đắng tại Ma-ra và than vãn về điều đó thay vì cầu xin Chúa giúp đỡ họ (15:22-26). Sau đó họ đói về “nồi thịt của Ai Cập” rồi lằm bằm với Chúa và Chúa đã chu cấp ma-na hằng ngày để duy trì họ (16:1-8). Khi họ đến Rê-phi-đim, không có nước để uống và một lần nữa họ trách cứ Chúa thay vì tin cậy (17:1-7). “Có Đức Giê-hô-va ở giữa chúng ta chăng?” là câu hỏi của họ, nghĩa là “Nếu Ngài có ở giữa chúng ta, sao Ngài không làm điều gì đó?”.
    Môi-se đã làm điều mà dân sự lẽ ra nên làm: ông quay sang Chúa để được sự giúp đỡ, và Đức Chúa Trời đã cung cấp nước họ cần. Nhưng nơi đó được đặt hai cái tên đặc biệt: “Ma-sa” nghĩa là “thử” và “Mê-ri-ba” nghĩa là “sự cãi nhau, sự cãi lộn” (c.7 Thi 95:1-11 He 3:7-15). Bởi thái độ và lời nói của mình, Y-sơ-ra-ên đã coi thường Chúa và chứng tỏ rằng họ không yêu mến Ngài và cũng không tin cậy Ngài. Thân xác họ ở trong trại quân, nhưng tấm lòng của họ vẫn ở Ai Cập. Nếu Đức Chúa Trời không nhân từ và nhẫn nhục, Ngài có thể đã xét đoán họ nghiêm khắc, nhưng Ngài biết rằng dân Ngài chỉ là đất sét (Thi 103:8-14).
    Chúa thử nghiệm đức tin chúng ta, không chỉ trong những khủng hoảng lớn của đời sống mà thậm chí nhiều hơn trong những sự kiện nhỏ không ngờ đến, như là một sự trì hoãn việc đi lại, một sự ngắt lời dễ gây cáu giận, một cơn bệnh bất ngờ, hay một ví tiền bị thất lạc. Cách chúng ta đáp ứng trong những trường hợp này sẽ cho thấy cái gì trong lòng chúng ta, vì điều mà đời sống làm cho chúng ta tùy thuộc vào điều mà đời sống tìm thấy nơi chúng ta. Nếu chúng ta yêu mến và tin cậy Chúa, chúng ta sẽ giao vấn đề cho Ngài và làm điều Ngài bảo chúng ta; nhưng nếu chúng ta chất vấn Chúa và chống nghịch vì cớ chúng ta không đạt được ý riêng của mình, vậy chúng ta ở trong hiểm họa thử Ngài. Một trong những sự bảo vệ tốt nhất chống lại việc thử Chúa, là một tấm lòng biết ơn. Nếu chúng ta ở trong thói quen cảm tạ Chúa trong mọi sự, kể cả những kinh nghiệm đau đớn của đời sống, vậy Thánh Linh sẽ đổ đầy lòng chúng ta bằng tình yêu và sự ngợi khen thay vì Sa-tan đổ đầy chúng ta bằng nọc độc cay đắng. Có bao nhiêu “Ma-sa” và “Mê-ri-ba” được đánh dấu trên bản đồ hành trình đức tin của chúng ta?
    Dĩ nhiên, ơn phước lớn nhất để Y-sơ-ra-ên phải cảm tạ là sự giải cứu họ khỏi Ai Cập (Phu 6:20-25). Trong bài nói chuyện tạm biệt, Môi-se thường đề cập đến phép lạ này, và trong những năm sau đó, các tiên tri cũng làm vậy. Nếu Y-sơ-ra-ên cứ ở trong Ai Cập, sẽ không lập được nước, không có nơi thánh, không có chức tế lễ, và không có hy vọng; nhưng Chúa đã giải cứu họ, đem họ vào xứ họ và thực hiện những lời hứa của Ngài. Ngày nay, chúng ta có một quyển Kinh Thánh và một Chúa Cứu Thế vì cớ Môi-se đã dẫn dân sự ông ra khỏi Ai Cập, một sự kiện được kỷ niệm hằng năm vào lễ Vượt Qua. Những người cha Do Thái được lệnh phải dạy cho con cái họ ý nghĩa của lễ Vượt Qua, và những luật lệ Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên, hầu cho thế hệ tiếp nối sẽ hiểu cách tin cậy Đức Giê-hô-va, yêu mến Ngài, và vâng theo những luật lệ của Ngài. Khi con cái chúng ta thiếu hiểu biết về quá khứ, chúng sẽ không có hy vọng cho tương lai.
    Một thái độ biết ơn là một vũ khí kỳ diệu chống lại sự vô tín, sự bất tuân, một tấm lòng cứng cỏi và một tinh thần cay đắng. “Hãy vui mừng mãi mãi. Hãy cầu nguyện không thôi. Trong mọi sự hãy dâng lời cảm tạ vì đây là ý muốn của Đức Chúa Trời trong Chúa Giê-xu đối với anh em” (ITe 5:16-18). Thay vì phàn nàn về điều chúng ta không có, chúng ta hãy cảm tạ về điều chúng ta có, vì Đức Chúa Trời luôn ban điều tốt nhất của Ngài cho những ai giao sự chọn lựa này cho Ngài.
    3. Sự biệt riêng cho Chúa (Phu 7:1-16)
    Tiên tri Ba-la-am làm thuê đã nói về Y-sơ-ra-ên rằng “một dân ở riêng ra, không kể chính họ giữa vòng các quốc gia” (Dan 23:9 NKJV). Từ sự kêu gọi Áp-ra-ham đến cuộc kinh lý rời Ai Cập, dân Y-sơ-ra-ên phải là một dân được biệt riêng, không phải vì họ tốt lành hơn bất cứ dân tộc nào khác, nhưng vì họ khác biệt. Họ là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã ra lệnh Áp-ra-ham rời U-rơ thuộc xứ Canh-đê và đi đến xứ Ngài sẽ chỉ cho ông (Sa 11:31-12:4), và khi Áp-ra-ham rời xứ đó và đi xuống Ai Cập để được sự giúp đỡ, Đức Chúa Trời đã phải sửa phạt ông (c.10-20). Suốt lịch sử của mình, khi Y-sơ-ra-ên duy trì một vị trí được biệt riêng bằng cách vâng theo những luật lệ của Đức Chúa Trời và tìm cách làm đẹp lòng Ngài, họ thành công trong mọi điều họ làm. Nhưng khi họ bắt đầu thỏa hiệp với các dân tộc khác và thờ phượng các thần của họ, điều đó dẫn đến sự thất bại và chiến bại.
    Sự biệt riêng có nghĩa là sự an toàn (Phu 7:1-6). Trong Kinh Thánh, sự biệt riêng không phải là sự cô lập, vì nếu các tín hữu bị cô lập, làm sao họ có thể là “muối của đất” và “ánh sáng của thế gian” (Mat 5:13-16) mà gây ảnh hưởng đến những người khác cho Chúa được? Tín hữu có thể được biệt riêng khỏi tội lỗi, được biệt riêng cho Chúa và vẫn có liên quan trong những thử thách bình thường cùng những hoạt động của đời sống con người. Áp-ra-ham đã được liên minh với một số láng giềng của ông ở Ca-na-an, cùng họ đánh bại những kẻ xâm lược và giải cứu dân Sô-đôm với Gô-mô-rơ (Sa 14:1-24); Nhưng Áp-ra-ham không bao giờ sống hay thờ phượng như các láng giềng của ông đã làm. Chúa Giê-xu là “bạn của người thâu thuế và kẻ có tội” (Mat 11:19), nhưng Ngài “thánh khiết, không tội, không ô uế, biệt khỏi kẻ có tội” (He 7:26). Chúa Giê-xu đã tiếp xúc với thế gian và con người nhưng Ngài không bị ô nhiễm từ sự tiếp xúc đó. Chúng ta khác biệt với thế gian nhưng không dư thừa. Khi bạn khác biệt, bạn thu hút người khác và có những cơ hội để chia sẻ tin tốt lành về Đấng Christ, nhưng khi bạn dư thừa, bạn chống lại người khác và họ đóng sập cửa trên sự làm chứng của bạn.
    Đức Chúa Trời hứa đuổi các dân tộc ngoại đạo và giao họ vào tay của quân đội Do Thái. Với sự giúp đỡ của Chúa, Y-sơ-ra-ên sẽ đánh bại những dân tộc đó và tiêu diệt họ cùng mọi thứ có liên hệ với tôn giáo của họ (4). Y-sơ-ra-ên phải giữ mình biệt riêng với những dân tộc này. Chúa sẽ không cho phép hôn nhân khác chủng tộc, những hiệp ước chính trị, hay bất cứ sự chịu đựng nào hoặc sự quan tâm về tôn giáo ngoại đạo trong xứ. Lý do thật rõ ràng bất cứ sự liên kết nào với tôn giáo trái đạo của dân Ca-na-an cũng có thể dẫn Y-sơ-ra-ên vào những sự sửa phạt của Ngài. Y-sơ-ra-ên là tuyển dân và là sự sở hữu quý giá của Đức Chúa Trời và sự biệt riêng của họ khỏi sự thờ hình tượng ở Ca-na-an là quan trọng đối với sự lành mạnh thuộc linh và tương lai chính trị của dân tộc.
    Như một gương về sự thận trọng mà Y-sơ-ra-ên phải thực hành, chính Đức Chúa Trời Đấng đã để cho Y-sơ-ra-ên nhận chiến lợi phẩm từ dân Ai Cập, cảnh cáo họ thậm chí đừng tham lam hay lấy đi những kim loại quý đã bao bọc ngoài nhiều hình tượng của dân Ca-na-an (Phu 7:25). Tiêu diệt hình tượng có liên quan đến những điều thuộc về ma quỉ (ICo 10:14-22), nên việc mang vào trại quân Y-sơ-ra-ên vàng bạc của sự thờ hình tượng sẽ làm ô uế trại quân và mở đường cho sự tấn công của Sa-tan. Tự nó, bạc và vàng đều không phải là xấu; nhưng vì nó có liên quan với ma quỉ, nên kim loại quý giá này mang một đặc tính mới khiến nó trở nên hữu ích cho kẻ thù. Bất cứ ai sử dụng kim loại đó, thậm chí để làm một vật xinh đẹp, đều sẽ giải quyết cái gì đó liên quan đến điều ác.
    Sự biệt riêng nghĩa là phước hạnh (Phu 7:7-16). Việc Chúa chọn Áp-ra-ham và Sa-ra là một hành động của ân điển tối cao. Họ là những người thờ hình tượng ở U-rơ thuộc xứ Canh-đê khi “Đức Chúa Trời của sự vinh hiển” xuất hiện (Cong 7:1-3 Gios 24:1-3). Họ không có con cái nhưng lại được hứa ban cho con cháu nhiều như cát bờ biển và sao trên trời. Sau đó, họ có một con trai là Y-sác, rồi ông có hai con trai, Ê-sau và Gia-cốp; và từ 12 con trai của Gia-cốp hình thành 12 chi phái của Y-sơ-ra-ên. Khi gia đình Gia-cốp tập họp ở Ai Cập, có 70 người (Sa 46:1-34), nhưng vào thời gian họ được giải cứu khỏi Ai Cập, họ đã trở thành một dân tộc lớn. Vì sao điều này đã xảy ra? Vì Đức Chúa Trời yêu họ và giữ những lời hứa Ngài đã lập với tổ phụ họ.
    Chúng ta không nên bỏ qua điểm tương tự giữa Y-sơ-ra-ên và Hội Thánh. Tất cả những ai được tái sinh bởi đức tin trong Chúa Giê-xu Christ đều “được chọn trong Ngài (Đấng Christ) trước khi sáng thế” (Eph 1:4). Sự cứu rỗi này đến với chúng ta “không phải bởi những việc công bình chúng ta đã làm, nhưng theo sự thương xót của Ngài” (Tit 3:5). Một trong những giáo sư thần học của tôi có lần đã nói “tìm cách giải thích sự lựa chọn thiêng liêng thì bạn có thể mất trí, nhưng tìm cách thanh minh nó thì bạn sẽ mất linh hồn mình”. Giống như Y-sơ-ra-ên, Hội Thánh là tuyển dân của Đức Chúa Trời và là sở hữu quý giá của Ngài, một nước thầy tế lễ và một dân tộc thánh (IPhi 2:5,9); và giống Y-sơ-ra-ên, chúng ta được kêu gọi làm một sự sáng cho thế giới hư mất (Mat 5:14-16).
    Đặc quyền luôn mang đến trách nhiệm, và trách nhiệm của Y-sơ-ra-ên là vâng theo những điều răn của Đức Chúa Trời, vì sau đó Ngài có thể chúc phước cho họ như Ngài đã hứa. Giao ước của Đức Chúa Trời là một giao ước của tình yêu và Ngài sẽ bày tỏ tình yêu Ngài bằng cách chúc phước cho họ nếu họ vâng lời và sửa phạt họ nếu họ bất tuân. Chúa sẽ chúc phước cho họ với con cháu và gia tăng dân số của họ thật nhiều. Ngài cũng sẽ gia tăng những mùa màng và gia súc của họ để họ sẽ có đủ ăn và một sự thặng dư để bán. Vì sự vâng lời của mình, Y-sơ-ra-ên sẽ thoát khỏi những bệnh tật khủng khiếp họ nhìn thấy trong xứ Ai Cập cũng như những tai vạ Đức Chúa Trời giáng cho xứ.
    Tất cả những ơn phước này trên Y-sơ-ra-ên sẽ quy vinh hiển cho Chúa. Những dân tộc khác sẽ thấy sự màu mỡ của xứ cùng dân sự và hỏi: “Lý do về điều này là gì?” Dân Do Thái khi ấy sẽ trả lời “Đây là ơn phước của Chúa trên dân sự Ngài!”. Điều đó sẽ cho dân Do Thái những cơ hội chia sẻ lẽ thật về Đức Giê-hô-va cho những người không tin và có lẽ thuyết phục họ tin Đức Chúa Trời hằng sống và chân thật. Những phước hạnh của dân tộc họ cũng sẽ cho cha mẹ cơ hội dạy con cái họ tầm quan trọng của việc vâng Lời Đức Chúa Trời (5).
    Phần này của luật pháp mở đầu với, “Ngươi sẽ chiến thắng chúng (các dân tộc) và tiêu diệt chúng hoàn toàn” (Phu 7:2), và nó kết thúc với lời khuyên tương tự (c.16) (6). Môi-se sẽ lặp lại lời cảnh cáo này nhiều lần trong bài nói chuyện tạm biệt của ông, vì ông biết thể nào dân Y-sơ-ra-ên sẽ dễ dàng thỏa hiệp với kẻ thù, kết thân với họ, và cuối cùng bắt chước họ. Đa số Cơ Đốc nhân ngày nay sống trong những xã hội theo tuyết đa nguyên ở những nước dân chủ và không có quyền tiêu diệt tất cả những ai thờ phượng một Đức Chúa Trời giả mạo, họ cũng không nên cần quyền hạn đó. Nhiệm vụ của chúng ta là yêu mến những ai chúng ta bất đồng và tìm cách thu phục họ tin cậy Đấng Christ. Nhưng đồng thời, chúng ta phải duy trì một vị trí được biệt riêng và không bị ô uế bởi những tư tưởng và hành động của một vị trí được biệt riêng và không bị ô uế bởi những tư tưởng và hành động của thế gian hư mất (Thi 1:1).
    Phân đoạn chính trong Tân Ước nói về sự biệt riêng là IICo 6:14-7:1. Trong đó Phao-lô chỉ ra rằng có những yếu tố tiêu cực và tích cực trong sự biệt riêng theo tinh thần Kinh Thánh. Vì cớ bản chất chúng ta trong Đấng Christ – sự công bình, sự sáng, đền thờ của Đức Chúa Trời. Chúng ta không có chung điều gì về mặt thuộc linh với những người không tin mà ông mô tả là sự không công bình, sự tối tăm và những người thờ hình tượng sự biệt riêng đơn giản là sống đúng theo bản chất chúng ta trong Đấng Christ. Nếu chúng ta biệt mình khỏi tội lỗi, Đức Chúa Trời sẽ có thể đối xử với chúng ta như con cái biết vâng phục. Ngài sẽ giao thông với chúng ta và chúc phước cho chúng ta. “Hãy làm cho mình sạch” là phần tiêu cực của đời sống tin kính, nhưng “lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh” là phần tích cực, và hai điều đi đôi với nhau (IICo 7:1).
    Chúng ta phải biệt riêng mình khỏi thế gian (ICo 5:9-13) vì thế gian cần sự làm chứng và sự hầu việc của chúng ta. Chúng ta hợp tác với những người khác nhau ở những thời điểm khác nhau vì những lý do khác nhau, nhưng chúng ta cẩn thận không thỏa hiệp sự làm chứng của mình cho Đấng Christ. Chúng ta làm một số việc này vì ích lợi của con người và những việc khác vì chúng ta là công dân hoặc những người làm công. Nhưng bất cứ điều gì chúng ta làm, chúng ta tìm cách làm điều đó vì vinh hiển Đức Chúa Trời (c.9-20).
    4. Những lời hứa từ Chúa (Phu 7:17-26)
    Động cơ đầu tiên Môi-se đề cập về sự vâng lời của Y-sơ-ra-ên là tình yêu đối với Chúa (6:1-9), vì tình yêu là động cơ lớn nhất trong đời sống. “Nếu các ngươi yêu mến ta, hãy giữ những điều răn của ta” (Gi 14:15 NKJV). Động cơ thứ hai là sự biết ơn (Phu 6:10-25), vì bày tỏ sự biết ơn là một cách bày tỏ tình yêu. Chúng ta đừng bao giờ quên điều Chúa đã làm cho chúng ta. Động cơ thứ ba là sự biệt riêng khỏi tội lỗi và biệt riêng cho Chúa (7:1-16), vì chúng ta cần sống theo tất cả những gì Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta. Ngài đã kêu gọi chúng ta làm một dân thánh, một tuyển dân, một dân quy vinh hiển cho danh Ngài và chúng ta không thể thực hiện bất cứ điều gì trong những sự kêu gọi đáng vinh dự đó nếu chúng ta không biệt mình khỏi những gì là gian ác và trung thành với Chúa.
    Nhưng ba động cơ này đều tùy thuộc vào đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời, vì “không có đức tin thì không thể làm đẹp lòng Đức Chúa Trời” (He 11:6). Y-sơ-ra-ên không hành động theo điều thế gian gọi là “đức tin mù quáng” vì họ có những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời khích lệ họ và sự ghi chép dài về sự chăm sóc của Đức Chúa Trời để làm yên lòng họ. Dân sự Đức Chúa Trời không sống bởi những lời giải thích: Họ sống bởi những lời hứa, lúc cuối đời, Giô-suê nhắc nhở dân sự “hãy hết lòng hết ý nhận biết rằng trong các lời lành mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi đã phán về các ngươi, chẳng có một lời nào sai hết” (Gios 23:14).
    Đức Chúa Trời thành tín trong quá khứ (Phu 7:17-19). Thế hệ trước không tin rằng chiến thắng có thể xảy ra ở Ca-na-an (Dan 13:1-14:45), vì vậy họ chống nghịch Đức Chúa Trời và cuối cùng chết trong đồng vắng. Nhưng thế hệ mới lẽ ra không có vấn đề gì khi tin những lời hứa của Đức Chúa Trời sau mọi điều Ngài đã làm cho họ. Chúa đã đánh bại Pha-ra-ôn và sỉ nhục các thần của Ai Cập. Chúa cũng giúp Y-sơ-ra-ên đánh bại dân Ma-đi-an, Si-hôn, vua Hết-bôn; và Óc, vua Ba-san. Ngài giúp các chi phái Ru-bên, Gát, Ma-na-se định cư gia đình họ ở phía Đông sông Giô-đanh, trong khi những người nam của các chi phái đó chuẩn bị tiến vào Ca-na-an và chiếm lấy xứ. Từ lúc Y-sơ-ra-ên đến khu vực sông Giô-đanh, không một dân tộc nào có thể chống lại dân sự Đức Chúa Trời, vì dân sự Đức Chúa Trời tin cậy Chúa. Chính Đức Chúa Trời Đấng đã ban chiến thắng ở Ai Cập và địa phận phía Đông sông Giô-đanh cũng có thể ban chiến thắng trong xứ Ca-na-an.
    Đức Chúa Trời sẽ đi trước Y-sơ-ra-ên (Phu 7:20-21). Sự kinh hãi của Chúa đi trước Y-sơ-ra-ên và đem sự sợ hãi đến cho lòng dân Ca-na-an (Gios 2:11 Xu 15:16). Tin tức về sự chiến bại của Ai Cập, việc mở Biển Đỏ, và việc giết các dân ở phía Đông sông Giô-đanh đã làm tê liệt ngay cả những kẻ mạnh mẽ nhất trong xứ, các nhà nghiên cứu Kinh Thánh không đồng ý về ý nghĩa của “ong lỗ” trong Phu 7:20 (Xu 23:27-30 Gios 24:12), nhưng có lẽ đó là côn trùng châm chích thông thường tụ lại trong xứ và tấn công dân sự. Dân Ca-na-an là một dân mê tín thấy những điềm báo trong mỗi việc xảy ra bất thường và họ có thể đã giải nghĩa việc xảy ra kỳ lạ này là một sự thông báo về sự chiến bại. Côn trùng đôi khi được sử dụng làm những ẩn dụ về các dân tộc (Es 7:18), và một số nhà nghiên cứu hiểu “ong lỗ” chỉ về các dân tộc xâm lược mà Đức Chúa Trời đã đặt trong Ca-na-an trước khi Y-sơ-ra-ên đến. Những cuộc chiến địa phương này sẽ làm suy yếu những sự phòng thủ của quân đội Ca-na-an và dọn đường cho sự xâm lấn của Y-sơ-ra-ên. Dù sự giải thích này là gì, sự giải thích theo nghĩa đen tạo nên ý nghĩa hợp lý, hai sự việc là rõ ràng: Đức Chúa Trời đi trước dân sự Ngài và mở đường cho chiến thắng, và Ngài có thể sử dụng thậm chí những côn trùng bé nhỏ để thực hiện những mục đích của Ngài.
    Sự bảo đảm rằng Chúa ở cùng dân sự Ngài khi họ xâm chiếm xứ (Phu 7:21) phải khích lệ dân Y-sơ-ra-ên can đảm và vâng lời. Bốn mươi năm trước, khi thế hệ trước chống nghịch tại Ca-đe Ba-nê-a (Dan 13:1-14:45), Ca-lép và Giô-suê đã dùng lời hứa về sự hiện diện của Chúa làm một lý lẽ cho sự can đảm và vâng lời: “Đức Giê-hô-va ở cùng chúng ta: “chớ sợ họ” (14:9). Điều đặc biệt về dân tộc Y-sơ-ra-ên đó là Chúa ở cùng họ (Xu 33:12-17). Lời bảo đảm về sự hiện diện của Đức Chúa Trời truyền suốt từ Y-sác (Sa 26:24), Gia-cốp (28:15) và thường được lặp lại cho Y-sơ-ra-ên khi họ cần sự khích lệ (Es 41:10 43:5 Gie 46:28 Ag 1:13 2:4) và lời bảo đảm kỳ diệu này đã được dành cho Hội Thánh ngày nay (Mat 28:18-20 He 13:5-6).
    Nhà bình luận người Anh G.Campbell Morgan kể về cuộc thăm viếng một vài người chị em lớn tuổi khi ông còn là một mục sư trẻ và ông đọc Mat 28:18-20 làm phần giảng dạy của ông cho họ. Nhóm từ “Này ta ở cùng các ngươi luôn” đã đụng đến Morgan bằng quyền năng và ông nói “Đó không phải là một lời hứa sao!” một người chị em đáp: “Chàng trai à, đó không phải là một lời hứa. Đó là một sự thật!” Đúng biết bao! “Đức Giê-hô-va vận quân ở cùng chúng tôi, Đức Chúa Trời Gia-cốp là nơi nương náu của chúng tôi” (Thi 46:7,11).
    Đức Chúa Trời có một thời gian biểu cho sự chinh phạt (Phu 7:22-23) vâng lời Chúa nghĩa là làm đúng việc, đúng cách vào đúng thời gian với đúng lý do, vì vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đa-vít đã cảnh cáo “Chớ như con ngựa và con la” (Thi 32:9), vì con ngựa muốn bỏ đi trước, còn con la muốn tụt lại sau và dở chứng. Đức Chúa Trời có một thời gian cho mọi sự (Tr 3:1-8), và khi Chúa Giê-xu thi hành chức vụ trên đất này, Ngài đã làm theo một thời gian biểu thiêng liêng (Gi 11:9 2:4 7:6,8,30 8:20 12:23 13:1 17:1). Hạnh phúc cho tín hữu nào có thể thành thật nói “kỳ mạng tôi ở nơi tay Chúa” (Thi 31:15).
    Khi dần dần đi qua xứ Ca-na-an, đạt được chiến thắng này đến chiến thắng khác, dân Do Thái sẽ tăng trưởng trong đức tin của họ và biết rõ hơn cách tin cậy Chúa. Nhưng bằng cách theo thời gian biểu của Đức Chúa Trời, họ sẽ chăm sóc xứ tốt hơn (Xu 23:28-30) và ngăn ngừa thú hoang sinh sôi nhanh chóng và trở thành một mối đe dọa. Theo sự ghi chép trong sách Giô-suê, Y-sơ-ra-ên đã mất khoảng bảy năm để điều khiển toàn xứ. Trước tiên, Giô-suê đi thẳng qua Ca-na-an và chia xứ (Gios 1:1-8:35); Sau đó, ông chinh phạt các dân tộc ở phía Nam (9:1-10:43) và rồi những dân tộc ở phía Bắc (11:1-23). Nhưng điều này vẫn để lại những hoạt động “càn quét” đối với những chi phái riêng, một số chi phái chẳng bao giờ loại bỏ kẻ thù khỏi địa phận của họ (13:1 Cac 1:1-2:23). Những nhóm tà giáo này đã đem đến sự cám dỗ lớn với sự rắc rối cho dân Do Thái và dẫn đến kỷ luật thiêng liêng.
    Đức Chúa Trời mong dân tộc vâng lời Ngài (Phu 7:23-26). “Đức tin mà không có việc làm thì chết” (Gia 2:14-20) vì đức tin thật luôn dẫn đến sự vâng lời. “Bởi đức tin Áp-ra-ham… đã vâng lời” (He 11:8). Người ta có thể nói về đức tin, phân tích đức tin, và tìm cách giải thích nó, nhưng họ sẽ không bao giờ hiểu đức tin nói về điều gì cho đến khi nào họ làm điều Đức Chúa Trời ra lệnh. Dân Y-sơ-ra-ên đã phải vâng theo mệnh lệnh rõ ràng của Đức Chúa Trời để diệt sạch các dân tộc ngoại đạo và tôn giáo của họ. Mọi thứ trong xứ phải được dâng cho Đức Chúa Trời và không ai có quyền chiếm lấy nó. Những thứ đáng gớm ghiếc phải bị dành cho sự hủy diệt hoàn toàn để chúng sẽ không trở thành những cạm bẫy đối với dân Do Thái. Bất cứ ai ăn cắp một vật đã được dâng hiến của Đức Chúa Trời và đem nó về nhà cũng sẽ bị dành cho sự hủy diệt, là điều đã xảy ra cho A-can (Gios 6:1-7:26)
    Nhưng chưa đủ để dân Do Thái chỉ vâng theo mệnh lệnh hủy diệt những gì Đức Chúa Trời đã kết án, họ phải vâng lời từ tấm lòng mình. họ phải “tuyệt đối gớm ghê” và “tuyệt đối ghét bỏ” những thứ đáng gớm ghiếc mà họ chạm trán ở Ca-na-an (Phu 7:26). Chắc chắn A-can đã giúp tiêu diệt nhiều vật gớm ghiếc khi Y-sơ-ra-ên chinh phạt Giê-ri-cô, nhưng ông quyết định rằng một số bạc vàng và quần áo đẹp không thật sự đáng gớm ghiếc, vì vậy ông lấy chúng (Gios 7:20-23). Ông thích có những chiến lợi phẩm hơn là hưởng những phước hạnh của việc vâng lời Chúa (Thi 119:14,72,127,162) và điều nó khiến ông trả giá đắt, vua Sau-lơ đã phạm sai lầm tương tự này và mất ngôi (ISa 15:1-35).
    Khi chúng ta tăng trưởng trong ân điển, chúng ta biết yêu mến và vui hưởng những gì làm đẹp lòng Đức Chúa Trời, khinh ghét và chối bỏ điều gì không làm đẹp lòng Ngài. Đó không chỉ là một vấn đề về ý chí của chúng ta để vâng theo những mạng lệnh của Đức Chúa Trời, Đó cũng là một vấn đề về việc phát triển một tấm lòng vui hưởng việc vâng lời Đức Chúa Trời (Eph 6:6). Có thể làm theo ý muốn Đức Chúa Trời bằng một cách mà những người khác nhận ơn phước nhưng chúng ta thì không! Điều này đúng với các tiên tri của Đức Chúa Trời, Môi-se và Giô-na. Môi-se đã kiêu ngạo đập hòn đá và Đức Chúa Trời đã cung cấp nước, nhưng Môi-se đánh mất đặc quyền bước vào Đất Hứa (Dan 20:1-29). Giô-na cuối cùng đã vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời nhưng ông đã không làm điều đó từ tấm lòng mình, và trở thành một con người cay đắng (Gion 4:1-11). Điều này đưa chúng ta trở lại với động cơ đầu tiên mà Môi-se đã bàn luận – tình yêu đối với Chúa (Phu 6:1-9). Tình yêu khiến cho sự vâng lời trở thành một phước hạnh chớ không phải một gánh nặng.
    Thật ích lợi để dân sự Đức Chúa Trời thỉnh thoảng tạm nghỉ và hỏi “vì sao chúng ta làm điều chúng ta đang làm?” Nó phải làm hài lòng chúng ta hay người khác, hay để gây ấn tượng cho thế gian? Có phải chúng ta đang làm theo ý muốn Đức Chúa Trời vì chúng ta muốn Ngài chúc phước cho chúng ta? Hay chúng ta đang “làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời từ tấm lòng” (Eph 6:6) vì chúng ta yêu Ngài? Vâng lời Đức Chúa Trời chỉ để tránh sự trừng phạt và nhận ơn phước là một động cơ ích kỷ theo triết lý của Sa-tan (Giop 1:1-2:13), nhưng nếu chúng ta vâng lời Đức Chúa Trời vì tình yêu, điều đó làm đẹp lòng Ngài và Ngài sẽ ban cho chúng ta điều tốt nhất và điều làm Ngài vinh hiển nhất.
    Giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, Hội Thánh ngày nay phải tiến về phía trước bằng đức tin, chiến thắng kẻ thù, và tuyên bố địa phận mới cho Chúa (Eph 6:10-18 IICo 2:14-17). Nhưng không giống Y-sơ-ra-ên, chúng ta sử dụng những vũ khí thuộc linh, không phải vũ khí của loài người, vì bởi đức tin chúng ta thắng hơn những bức tường ngăn trở Sa-tan đã đặt vào tâm trí của tội nhân (Gi 18:36 IICo 10:1-6 Eph 6:17 He 4:12). Hội Thánh thời các sứ đồ không có những tòa nhà, ngân quỹ (Cong 3:6), trình độ học thức (Cong 4:13), hay ảnh hưởng chính trị, nhưng nhờ cậy lời Đức Chúa Trời và cầu nguyện (6:4) và Đức Chúa Trời đã ban cho họ đắc thắng.
    Ngài không thể làm những điều tương tự cho dân sự Ngài hôm nay sao? Chúa Giê-xu đã chiến thắng thế gian và ma quỉ (Gi 12:31 16:33 Eph 1:19-21 Co 1:13 2:15). Do đó, chúng ta chiến đấu từ chiến thắng chớ không phải chỉ vì chiến thắng. “Nếu Đức Chúa Trời vùa giúp chúng ta, thì còn ai nghịch với chúng ta?” (Ro 8:31).
    4. HÃY XEM BẠN RA SAO (Phu 8:1-11:32)
    Oliver Cromwell nói với họa sĩ vẽ chân dung ông rằng ông không trả thậm chí một đồng xu nếu bức tranh đó không thật sự trông giống ông, kể cả “những cái mụn, những mụt cóc, và mọi thứ như anh nhìn thấy tôi” (1). Rõ ràng vị chúa bảo hộ khối cộng đồng Anh, Scốt-len và Ái Nhĩ Lan đang can đảm ngồi làm chân dung. Khi ông đang lãnh đạo một đội quân trên chiến trường. Đa số chúng ta không can đảm như thế. Chúng ta khó chịu khi nhìn những bản nháp hình ảnh chúng ta chưa được sửa lại, và chúng ta chắc chắn sẵn sàng trả tiền cho một bức hoạ đã cải thiện bên ngoài của chúng ta.
    Trong phần này ở bài nói chuyện tạm biệt của mình, Môi-se đã vẽ dân Y-sơ-ra-ên như họ thật sự là vậy, “đủ mọi khuyết tật”. Quan trọng cho đời sống thuộc linh của họ khi Môi-se làm điều này, vì một trong những bước đầu tiên hướng đến sự trưởng thành là chấp nhận sự thật và làm điều gì đó về nó. Nhưng chúng ta đừng chỉ vào Y-sơ-ra-ên mà không nhìn chính mình, vì những bức tranh Môi-se vẽ áp dụng cho chúng ta hôm nay. Chúng ta cần nhìn thấy chính mình như Đức Chúa Trời nhìn thấy chúng ta, và sau đó, bằng ân điển Ngài, hãy tìm cách trở nên tất cả những gì chúng ta có thể trở nên trong Chúa Giê-xu Christ.
    1. Con cái trong đồng vắng (Phu 8:1-5)
    Ba yếu tố cần thiết cho sự chinh phạt của Y-sơ-ra-ên và việc hưởng Đất Hứa là: Lắng nghe Lời Đức Chúa Trời, ghi nhớ lời ấy, và vâng theo chúng vẫn là những yếu tố cần thiết cho một đời sống Cơ Đốc thành công và thỏa lòng hôm nay. Khi chúng ta bước đi qua thế gian này, chúng ta không thể thành công nếu không có sự hướng dẫn, bảo vệ và chu cấp của Đức Chúa Trời, và điều đó cũng giúp có một ký ức tốt đẹp. Bốn lần trong những chương này Môi-se ra lệnh chúng ta phải nhớ (8:2,18 9:7,27) và bốn lần nữa ông khuyên chúng ta đừng quên (8:11,14,19 9:7). Sứ đồ Phao-lô đã dành bức thư thứ hai của ông cho chức vụ nhắc nhở dân sự Đức Chúa Trời nhớ điều mà những sứ đồ dạy dỗ (IIPhi 1:12-18 3:1-2). Môi-se chỉ ra bốn chức vụ Đức Chúa Trời đã thực hiện cho Y-sơ-ra-ên và chức vụ Ngài thực hiện cho chúng ta ngày nay khi Ngài tìm cách làm cho chúng ta trưởng thành và chuẩn bị cho chúng ta điều Ngài đã hoạch định cho chúng ta.
    Đức Chúa Trời thử nghiệm chúng ta (Phu 8:1-2). Đức Chúa Trời biết điều gì trong lòng con cái Ngài, nhưng con cái Ngài không phải lúc nào cũng biết hoặc muốn biết. “Và mọi Hội Thánh sẽ rõ ta là Đấng dò biết lòng dạ loài người” (Kh 2:23). Đời sống là một trường học (Thi 90:12) và chúng ta thường không biết bài học là gì cho đến khi chúng ta rớt kỳ thi! Người ta đôi lúc nói “Ồ, tôi biết chính lòng mình” nhưng sự thật đáng sợ đó là chúng ta không biết chính lòng mình. “Lòng người dối trá hơn mọi vật và vô phương chữa trị. Ai có thể hiểu nó?” (Gie 17:9 NIV).
    Cách chúng ta đáp ứng với những thử nghiệm của đời sống bày tỏ điều gì thật sự trong lòng ta, đặc biệt khi những thử nghiệm đó có liên quan đến kinh nghiệm hằng ngày của đời sống. Dân Y-sơ-ra-ên thường đói khát và mệt mỏi vì cuộc hành trình, và chính vào những dịp đó họ đã trở nên bực bội và chỉ trích. Ma quỉ cám dỗ chúng ta để đem ra những điều tồi tệ nhất trong chúng ta. Khi Đức Chúa Trời để cho một hoàn cảnh khó khăn thử nghiệm chúng ta chúng ta sẽ tin cậy Ngài và trở nên trưởng thành hơn, hoặc chúng ta sẽ thử Ngài và trở nên khổ sở hơn.Vậy chúng ta phải làm gì? Phải Tin những lời hứa của Đức Chúa Trời và nhờ cậy nơi Chúa chăm sóc chúng ta và giúp chúng ta vượt qua trở ngại vì vinh hiển Ngài và vì ích lợi của chúng ta.
    Đức Chúa Trời dạy dỗ chúng ta (Phu 8:9). Mỗi buổi sáng suốt thời gian dân Do Thái đi trong đồng vắng, Đức Chúa Trời đã ban cho họ “thức ăn của thiên sứ” (Thi 78:21-25) để dạy họ nhờ cậy Ngài về những điều họ cần. Nhưng ma-na còn hơn cả phương tiện sinh sống hằng ngày về thuộc thể; Nó là một kiểu mẫu về sự đến của Đấng Mê-si-a là “bánh của sự sống” (Gi 6:35) (2). Khi Sa-tan cám dỗ Chúa Giê-xu biến đá thành bánh (Mat 4:1-4), Ngài đã trích dẫn Phu 8:3 và cho biết rằng Lời Đức Chúa Trời cũng là bánh của Đức Chúa Trời, vì chúng ta “sống nhờ” Chúa Giê-xu Christ khi chúng ta “sống nhờ” Lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời dạy dân Do Thái nhìn xem Ngài để có “bánh hằng ngày” (Mat 6:11) và để bắt đầu mỗi ngày suy gẫm Lời Đức Chúa Trời. Những ai vâng lời Đức Chúa Trời trong trách nhiệm hằng ngày lượm ma-na sẽ có xu hướng vâng theo những điều răn còn lại của Đức Chúa Trời. Mối liên hệ của chúng ta với Lời Đức Chúa Trời (ma-na) cho thấy mối liên hệ của chúng ta với Đức Chúa Trời của Lời Ngài.
    Đức Chúa Trời chăm sóc chúng ta (Phu 8:4 29:5). Đức Chúa Trời không chỉ cho dân Do Thái ăn “bánh phép lạ” mỗi sáng, Ngài còn giữ cho quần áo họ khỏi hư mòn và chân họ khỏi sưng phồng, ba câu hỏi cấp bách về đời sống đối với đa số người là “chúng ta sẽ ăn gì? Chúng ta sẽ uống gì? Chúng ta sẽ mặc gì?” (Mat 6:25-34) và Chúa đã đáp ứng tất cả những nhu cầu này cho dân sự Ngài trong 40 năm. “Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay chăm sóc anh em” (IPhi 5:7). “Vì Cha các ngươi ở trên trời biết các ngươi cần mọi thứ này” (Mat 6:32 NKJV). Đức Chúa Trời không phát bánh, nước, và quần áo một cách mầu nhiệm trước cử chúng ta mỗi ngày, nhưng Ngài ban cho chúng ta việc làm và khả năng kiếm tiền (Phu 8:18) để chúng ta có thể mua những gì chúng ta cần (3). Chính Chúa Đấng đã chu cấp những nhu cầu của Y-sơ-ra-ên mà không cần phương tiện loài người cũng có thể chu cấp những nhu cầu của chúng ta bằng cách sử dụng phương tiện loài người.
    Đức Chúa Trời kỷ luật chúng ta (Phu 8:5). Đức Chúa Trời nhìn con cái Y-sơ-ra-ên như con cái của Ngài những người Ngài hết sức yêu thương. “Y-sơ-ra-ên là con ta, tức trưởng nam ta” (Xu 4:22 Os 11:1). Sau những năm nô lệ ở Ai Cập, dân Do Thái đã biết sự tự do là gì và thế nào để sử dụng nó một cách có trách nhiệm. Chúng ta thường nghĩ về “kỷ luật” chỉ là một sự trừng phạt cho sự bất tuân, nhưng có liên quan nhiều hơn kỷ luật là “huấn luyện con trẻ”, chuẩn bị cho đứa trẻ tuổi trưởng thành đầy trách nhiệm. Một quan tòa chỉ trừng phạt một phạm nhân bị kết án để bảo vệ xã hội và gìn giữ luật, nhưng một người cha kỷ luật đứa con một cách yêu thương để giúp đứa con đó trưởng thành (4). Kỷ luật là một bằng chứng về tình yêu của Đức Chúa Trời và về mối liên hệ của chúng ta trong gia đình của Đức Chúa Trời (He 12:5-8 Ch 3:11-12).
    Khi bạn nghĩ về việc Chúa kỷ luật con cái ngài, đừng hình dung một người cha giận dữ trừng phạt một đứa con. Đúng hơn, hãy nhìn thấy một người Cha yêu thương thách thức con cái Ngài rèn luyện cơ bắp của họ (thân thể và trí óc) để họ sẽ trưởng thành và có thể sống giống như những người lớn đáng tin cậy. Khi chúng ta bị kỷ luật, bí quyết của sự tăng trưởng là hạ mình và đầu phục ý muốn của Đức Chúa Trời (Phu 8:2-3 He 12:9-10). Chống lại sự sửa phạt của Đức Chúa Trời là làm cứng lòng mình và nghịch với ý muốn của Cha. Giống như một vận động viên đang luyện tập, chúng ta phải rèn luyện bản thân và sử dụng mọi thử thách làm một cơ hội cho sự tăng trưởng.
    2. Những người chiến thắng trong xứ (Phu 8:6-20)
    Sau khi được giải phóng khỏi Ai Cập, nơi đến của Y-sơ-ra-ên không phải là đồng vắng; Đó là Đất Hứa, nơi có di sản của họ, “Ngoài (Đức Chúa Trời) đã đem chúng ta ra khỏi xứ ấy (Ai Cập) để Ngài có thể đem chúng ta vào” (6:23). Vì vậy với đời sống Cơ Đốc: được tái sinh và được cứu chuộc khỏi tội lỗi chỉ là khởi đầu bước đường của chúng ta với Đấng Christ, một khởi đầu lớn, hẳn nhiên cũng chỉ là một khởi đầu. Nếu giống như Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe Ba-nê-a, chúng ta chống nghịch trong sự vô tín, thì chúng ta sẽ lang thang suốt cuộc đời mà chẳng bao giờ hưởng điều Đức Chúa Trời đã hoạch định cho chúng ta (Eph 2:10 He 3:1-4:16). Nhưng nếu chúng ta đầu phục Chúa và vâng theo ý muốn của Ngài, Ngài sẽ giúp chúng ta có thể làm “những người chiến thắng bội phần” (Ro 8:37) khi chúng ta tuyên bố di sản của mình trong Đấng Christ và hầu việc Ngài.
    Hưởng ơn phước Đức Chúa Trời (Phu 8:6-9). “Chìa khóa” mở cửa vào Đất Hứa đơn giản là: vâng theo những điều răn của Đức Chúa Trời, bước đi trong những đường lối của Ngài và kính sợ Ngài (c.6). Nếu dân Y-sơ-ra-ên bất tuân Lời Đức Chúa Trời, đi theo lối riêng của họ, và không tỏ sự kính sợ Chúa, điều này sẽ mời gọi sự xét đoán của Đức Chúa Trời trên dân tộc. Nhưng tại sao Y-sơ-ra-ên không muốn bước vào và hưởng Đất Hứa xứ tốt tươi mà Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho họ? Đó là một xứ dành cho họ tất cả những gì họ có thể muốn hoặc cần để dẫn đến một đời sống hạnh phúc.
    nước là một mặt hàng quý giá ở Đông phương, Môi-se đề cập nó trước tiên: sông, hồ, và suối chảy trong trũng và trên đồi. Sau đó ông sẽ đề cập lời hứa của Đức Chúa Trời giáng mưa mỗi năm (11:14), cơn mưa đầu vào mùa thu và cơn mưa sau vào mùa xuân. Với ơn phước của Đức Chúa Trời, một sự dư dật về nước sẽ khiến xảy ra một sự dư dật về mùa màng, và dân Y-sơ-ra-ên sẽ thu hoạch lúa, nho vả và ô-li-ve, và họ cũng sẽ tìm thấy mật ong. Sẽ có nhiều đồng cỏ cho bầy chiên và bầy gia súc, còn đồng và sắt thì được chôn trong đá và đồi. Thật vậy, đó là một xứ đượm sữa và mật, một xứ không thiếu thứ gì. Tất cả điều này tiêu biểu cho tín hữu hôm nay về của cải thuộc linh chúng ta có trong Đấng Christ: sự giàu có về ân điển Ngài (Eph 1:7 2:7), sự giàu có về vinh hiển Ngài (1:18 3:16), sự giàu có về lòng thương xót của Ngài (2:4) và “sự giàu có không dò được của Đấng Christ” (3:8). Chúng ta trọn vẹn trong Christ (Co 2:10) Đấng mà trong Ngài có mọi sự đầy đủ (1:19) và do đó chúng ta có mọi sự chúng ta sẽ cần để sống một đời sống Cơ Đốc trọn vẹn vì vinh hiển Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời có một đời sống kỳ diệu được hoạch định cho mỗi con cái Ngài (Eph 2:10) và ngài chu cấp tất cả những gì chúng ta cần để thực hiện kế hoạch đó.
    Quên sự nhân từ của Đức Chúa Trời (Phu 8:10-18). Có sự nguy hiểm trong cảnh thịnh vượng và tiện nghi, vì chúng ta có thể trở nên được bao phủ trong những phước hạnh đến nỗi chúng ta quên Đấng ban cho chúng ta những phước hạnh. Vì lý do này, Môi-se khuyên dân Do Thái ngợi khen Đức Chúa Trời sau khi họ dùng bữa để họ sẽ không quên Đấng ban cho món quà tốt lành và trọn vẹn (c.10 Gia 1:17). Khi tôi còn là một cậu bé, chú Si-môn của tôi “người chú giảng đạo” xứ Thụy Điển của tôi, thỉnh thoảng thăm gia đình tôi, và tôi nhớ rằng chú ấy không chỉ tạ ơn vào đầu bữa ăn, mà chú luôn kết thúc bữa ăn bằng một sự cầu nguyện tạ ơn. Đến những năm sau đó tôi mới biết rằng chú ấy vâng theo Phu 8:10). Tạ ơn về thức ăn khi chúng ta đói là điều tự nhiên, nhưng cũng khôn ngoan để tạ ơn sau khi chúng ta no.
    Môi-se báo hiệu những nguy hiểm có liên quan đến việc quên rằng Đức Chúa Trời là nguồn mọi ơn phước chúng ta hưởng. Nếu chúng ta quên Đức Chúa Trời, thì sự thành công có một cách khiến chúng ta kiêu ngạo (c.14) và chúng ta quên mình ra sao trước khi Chúa kêu gọi chúng ta. Dân Do Thái từng là nô lệ ở Ai Cập, và giờ đây họ sẽ sống trong những ngôi nhà đẹp, quan sát bầy chiên và bầy gia súc của họ gia tăng, tập hợp vàng bạc, và quên điều Chúa đã làm cho họ. Họ là dân du mục trong đồng vắng, và giờ đây họ sẽ định cư trong một xứ giàu có, hưởng sự hòa bình và thịnh vượng với con cháu của họ. Sẽ dễ dàng biết bao để Y-sơ-ra-ên trở nên kiêu ngạo, quên họ bất lực thể nào trước khi Chúa cứu họ, và nghĩ rằng sự thành công của họ do sức riêng và sự khôn ngoan của họ và nghĩ rằng họ xứng đáng điều đó! “Nhưng hãy nhớ Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì chính Ngài ban cho ngươi khả năng tạo ra của cải” (c.18).
    Chối bỏ quyền hạn Đức Chúa Trời (Phu 8:19-20). Đỉnh điểm của sự đi chệch này về thuộc linh đó là “dân Y-sơ-ra-ên giàu có” sẽ xây lưng với Chúa, Đức Chúa Trời hằng sống chân thật, và bắt đầu thờ phượng các tà thần của láng giềng họ. Sự thờ hình tượng bắt đầu trong tấm lòng khi sự biết ơn đối với Đấng ban cho bị thay thế bởi sự tham lam những thứ ban cho. “Vì khi họ biết Đức Chúa Trời, họ không làm vinh hiển Ngài là Đức Chúa Trời, cũng không tạ ơn” (Ro 1:21). Một tấm lòng vô ơn có thể nhanh chóng trở thành một nơi trú ẩn cho tất cả mọi thái độ tội lỗi và những tham muốn thỏa mãn xác thịt. Chúa sẽ làm gì? Ngài sẽ đối xử với sự thờ hình tượng của dân Ngài giống như Ngài đã đối xử với sự thờ hình tượng của các dân tộc mà họ đã bị truất quyền sở hữu, và Ngài sẽ hủy diệt Y-sơ-ra-ên cùng những tà thần của họ. Trước khi Môi-se hoàn tất bài nói chuyện của ông, ông phác họa những điều khoản của giao ước Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên và sự sửa phạt Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống nếu dân sự cứ ở trong sự thờ hình tượng.
    Sự thịnh vượng, sự vô ơn, sự thờ hình tượng: ba bước tiến đến sự đổ nát. Nhưng đây không phải là những tội lỗi xưa, vì chúng hiện diện trong những tấm lòng, những gia đình, những công việc và những Hội Thánh ngày nay.
    3. Những người chống nghịch Chúa (Phu 8:6-20) (Phu 9:1-10:11)
    Lần thứ 5 trong bài nói chuyện của mình, Môi-se nói: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe!” (4:1 5:1 6:3-4). Ông đang rao cho họ Lời Đức Chúa Trời và khi Đức Chúa Trời phán với dân sự Ngài, họ phải lắng nghe. Từ “nghe” được sử dụng trên 50 lần trong sách Phục Truyền, vì dân sự Đức Chúa Trời sống bởi đức tin, và “đức tin đến bởi sự nghe, và sự nghe đến bởi Lời Đức Chúa Trời” (Ro 10:17). Dân Do Thái không thể nhìn thấy Đức Chúa Trời của họ, nhưng họ có thể nghe Ngài, trong khi các láng giềng ngoại đạo của họ có thể nhìn thấy các thần của họ nhưng không thể nghe các vị thần ấy (Thi 115:5). Trong phân đoạn này, Môi-se nhắc nhở dân sự rằng hạnh kiểm của họ từ lúc rời Ai Cập chẳng gương mẫu chút nào, dù có sự nhẫn nhục và ân điển của Ngài.
    Ân điển của Đức Chúa Trời (Phu 9:1-6). Nhóm từ “ngày nay” không có nghĩa là đúng ngày Môi-se đang nói, vì Y-sơ-ra-ên đã không bước vào xứ Ca-na-an cho đến hơn 40 năm sau (1:3 34:8 Gios 4:19). Từ “ngày” chỉ về một khoảng thời gian Đức Chúa Trời sắp làm một việc đặc biệt như là ngày của sự sáng tạo, là 6 ngày (Sa 2:4) hoặc “Ngày của Chúa” khi Đức Chúa Trời sẽ xét đoán thế gian (Gio 2:1-32). Đức Chúa Trời nhắc nhở Y-sơ-ra-ên về sự vô tín của thế hệ trước tại Ca-đe Ba-nê-a, khi họ nhìn thấy những trở ngại ở Ca-na-an nhưng quên quyền năng của Đức Chúa Trời họ (Phu 9:1-2 Dan 13:1-14:45). Đức Chúa Trời bảo đảm với dân sự Ngài rằng không cần phải sợ tương lai vì Ngài sẽ đi trước họ để giúp họ đánh bại những kẻ thù của họ. Ngài sẽ không làm điều đó thay vì họ, vì họ phải làm phần của họ và đánh trận, Ngài cũng sẽ không làm điều đó bất chấp họ, vì họ phải vâng lời và tôn trọng những luật lệ của Ngài; nhưng Ngài sẽ làm việc trong họ và qua họ để chiến thắng các dân tộc trong xứ (Phi 2:12-13 Ch 21:31).
    Một lần nữa Môi-se nhắc dân sự rằng xứ là một món quà từ Chúa, không phải một phần thưởng cho sự công bình của họ. Đức Chúa Trời đã nhân từ lập giao ước với Áp-ra-ham để ban cho ông và con cháu ông xứ Ca-na-an (Sa 12:1-3 13:14-17 15:7-21), và Ngài sẽ giữ lời hứa Ngài. dân trong xứ gian ác và chín mùi cho sự xét đoán; và dân Y-sơ-ra-ên không phải là một dân hoàn hảo, Đức Chúa Trời sẽ sử dụng họ để đem đến sự xét đoán đó. Sự nhấn mạnh là về ân điển Đức Chúa Trời chớ không phải sự tốt lành của dân sự Đức Chúa Trời, và sự nhấn mạnh này cần thiết hôm nay (Tit 2:11-3:7). Khi chúng ta quên ân điển Đức Chúa Trời, chúng ta trở nên kiêu ngạo và bắt đầu nghĩ rằng chúng ta xứng đáng được tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho chúng ta và sau đó Đức Chúa Trời phải nhắc chúng ta về sự nhân từ của Ngài cùng tội lỗi của chúng ta, và sự nhắc nhở đó có thể rất đau đớn. Đó là chủ đề của phần tiếp theo trong sứ điệp của Môi-se.
    Kỷ luật của Đức Chúa Trời (Phu 9:7-10:11). Môi-se đang nói với một thế hệ mới, nhưng họ cần nghe phần sứ điệp này và nhận ra rằng họ chỉ là những tội nhân như tổ phụ họ. Chủ đề này được nói thẳng thừng trong 9:24 “Từ ngày ta (Chúa) biết các ngươi (chọn các ngươi) cho đến bây giờ các ngươi đã phản nghịch Đức Giê-hô-va”. Đức Chúa Trời đã kêu gọi Áp-ra-ham và dẫn ông đến Đất Hứa, nhưng sau đó ông trốn sang Ai Cập vì nạn đói. Vừa được giải phóng khỏi ai-cập chưa bao lâu thì họ bắt đầu phàn nàn về cách Đức Chúa Trời dẫn dắt họ và nuôi họ (Xu 15:22). Cảnh này trong vở kịch của đời sống đức tin có thể thay đổi, nhưng diễn viên và kịch bản khá giống nhau: Đức Chúa Trời chúc phước, chúng ta hưởng phước hạnh, sau đó chúng ta chống nghịch với những kỷ luật của Ngài và bỏ lỡ phước hạnh Ngài đã hoạch định cho chúng ta.
    Trong sự ôn lại về lịch sử chống nghịch của Y-sơ-ra-ên, Môi-se bắt đầu với việc họ thờ phượng bò con vàng tại núi Si-nai (Phu 9:7-21:25 10:11 Xu 32:1-35) và sau đó đơn giản đề cập đến những nơi họ chống nghịch trong hành trình từ Si-nai đến Ca-đe Ba-nê-a (Phu 9:22). Sau đó ông tuyên bố sự vô tín và chống nghịch của dân tộc tại Ca-đe Ba-nê-a (c.23-24), theo sau bởi một sự nhắc nhở thứ hai về tình tiết bò con vàng (c.25 10:11). Môi-se không đi theo sự tường thuật về tất cả các sự kiện trong lịch sử Y-sơ-ra-ên theo niên đại một cách nghiêm khắc, nhưng nhấn mạnh hai tội lỗi lớn nhất của họ: Thờ bò con vàng tại Si-nai và từ chối vào xứ ở Ca-đe Ba-nê-a.
    Y-sơ-ra-ên đã phạm một tội rất lớn khi họ thờ phượng bò con vàng (Xu 32:1-34:35). Đằng sau họ là lịch sử về sự giải cứu họ khỏi Ai Cập, một sự bày tỏ ân điển và quyền năng của Chúa; Nhưng họ đã chống nghịch lại Đấng Cứu Chuộc của họ. Y-sơ-ra-ên là dân của Đức Chúa Trời, được cứu chuộc bởi tay Ngài, nhưng họ đã chế tạo một thần mới! Trước mặt họ là núi Si-nai nơi họ nhìn thấy vinh hiển và sự thánh khiết của Đức Chúa Trời được bày tỏ và từ đó họ đã nhận được luật pháp của Chúa. Trong luật pháp đó, Đức Chúa Trời ra lệnh chúng ta phải thờ phượng một mình Ngài và không tạo ra các hình tượng rồi thờ lạy chúng. Họ đã chấp nhận luật pháp đó và hai lần hứa vâng theo (24:4,7), nhưng họ đã vi phạm điều răn thứ nhất và thứ hai bằng cách bận rộn trong cuộc truy hoan dâm dục như một phần của “sự thờ phượng” của họ.
    Sự thiếu kiên nhẫn và sự vô tín đã gây ra trọng tội của Y-sơ-ra-ên tại núi Si-nai, vì Môi-se đã ở trên núi với Chúa trong 40 ngày đêm (24:1-18). A-rôn lẽ ra phải chống đối đề nghị của họ về một thần mới, nhưng ngược lại ông đã thỏa hiệp và thuận theo những đòi hỏi của họ, hy vọng điều đó sẽ đem đến sự hòa bình cho trại quân. Hãy tưởng tượng thầy tế lễ cả đầu tiên đang làm một hình tượng! Môi-se đã cho anh của ông quyền hành trong lúc ông vắng mặt (c.14) và A-rôn có thể tập hợp các quan trưởng chi phái và kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên vâng lời Chúa, nhưng ông muốn làm hài lòng dân sự để tránh xung đột. Nhiều thế kỷ sau, Bôn-xơ Phi-lát sẽ phạm sai lầm tương tự khi ông vâng theo đám đông muốn Chúa Giê-xu bị đóng đinh (Mac 15:15).
    Đừng bao giờ đánh giá thấp tầm quan trọng của chức lãnh đạo thuộc linh khích lệ sự vâng lời Đức Chúa Trời. A-rôn đã quên Đức Chúa Trời, Đấng đã chỉ định ông làm thầy tế lễ cả; ông đã quên người em mình là người nhờ cậy ông hướng dẫn dân tộc, và ông quên dân sự những người hết sức cần chức lãnh đạo thuộc linh mạnh mẽ. Khi Môi-se đối chất ông, A-rôn tìm cách bào chữa cho tội lỗi ông bằng cách trách cứ dân sự! Tất cả những gì ông đã làm là lấy vòng vàng của họ rồi quăng vào lửa, và ra một bò con! (Xu 32:22-24). Môi-se đã trải 40 ngày đêm trên núi, cầu thay cho A-rôn và dân sự. Đức Chúa Trời sẵn sàng giết A-rôn, diệt sạch dân tộc và bắt đầu một dân tộc mới với Môi-se, nhưng Môi-se cầu thay cho A-rôn cùng dân sự và từ chối đề nghị của Đức Chúa Trời khiến ông trở nên cha của một dân tộc mới. Môi-se đã đối diện cuộc thử nghiệm tương tự này tại Ca-đe Ba-nê-a và lần nữa đặt vinh hiển Đức Chúa Trời cùng ích lợi của dân sự lên trên sự thăng chức cá nhân (Dan 14:12). Môi-se quan tâm nhiều về vinh hiển của Đức Chúa Trời và thanh danh của Ngài trước các dân tộc ngoại đạo, vì ông biết rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời phải đi trước Y-sơ-ra-ên nếu họ muốn chinh phạt xứ và tuyên bố di sản của mình.
    Chúng ta không khỏi khâm phục Môi-se với tư cách lãnh đạo dân sự của Đức Chúa Trời. Ông đã trả qua 40 ngày trên núi, học cách hướng dẫn dân sự trong việc họ thờ phượng Đức Chúa Trời, và sau đó ông trải qua 40 ngày khác kiêng ăn và cầu nguyện, cầu thay cho một dân tộc hay phàn nàn, chống nghịch chức lãnh đạo của ông, và chống nghịch với Chúa. Nhưng những lãnh đạo được thử nghiệm giống như những người đi theo được thử nghiệm, và Môi-se đã vượt qua cuộc thử nghiệm. Ông bày tỏ rằng mối quan tâm lớn của ông không phải là danh tiếng hay địa vị nhưng là vinh hiển của Đức Chúa Trời và ích lợi của dân sự. Thật ra, ông sẵn sàng chết thay dân sự hơn là nhìn thấy Đức Chúa Trời tiêu diệt họ (Xu 32:31-34). Một người chăn chiên thật phó sự sống mình vì bầy chiên (Gi 10:11).
    Sau khi nhìn lại trọng tội của Y-sơ-ra-ên tại Si-nai, Môi-se đề cập đến những sự chống nghịch được lặp đi lặp lại của Y-sơ-ra-ên trên đường đến Ca-đe Ba-nê-a (Phu 9:22). Tại Tha-rê-ba, dân sự phàn nàn về “những khó khăn” và Đức Chúa Trời đã giáng lửa thiêu cháy một số người ở ngoài trại quân (Dan 11:1-3) (5). Sau đó những người phàn nàn với Môi-se đã nài nỉ ông cầu nguyện cho họ, và Đức Chúa Trời lắng nghe Môi-se và những sự xét đoán. “Tha-rê-ba” nghĩa là “cháy” và tên này phải nhắc nhở tất cả chúng ta rằng phàn nàn là một tội lỗi (Phi 2:14-15 ICo 10:10). Ở Ma-sa, dân Do Thái đã phàn nàn vì họ khát nước, vì vậy Môi-se đập hòn đá và Đức Chúa Trời cung cấp nước dồi dào (Xu 17:1-7). “Ma-sa” nghĩa là “thử” và được kết hợp với “Mê-ri-ba” nghĩa là “cãi lộn”. “Kip-rot Hathava” nghĩa là “mồ của sự tham muốn” và chỉ về thời gian Y-sơ-ra-ên trở nên chán ma-na và ao ước có thịt để ăn (Dan 11:4). Đức Chúa Trời giáng xuống những đàn chim cút trên trại quân Y-sơ-ra-ên và tất cả những gì dân sự phải làm là hạ gục chim, làm thịt nó, nấu và ăn nó. Chính “sự thèm muốn Ai Cập” xưa đã lần nữa xác định chính nó, xác thịt chống lại Thánh Linh. Trong khi dân sự ăn thịt, sự xét đoán của Đức Chúa Trời ập xuống và Ngài giáng một tai vạ cho trại quân. “Vì vậy Ngài ban cho họ điều họ cầu xin, nhưng Ngài giáng một tai vạ theo cùng” (Thi 106:15 NLT). Đôi khi sự xét đoán lớn nhất của Đức Chúa Trời là để chúng ta theo ý riêng mình (Ro 1:22-28).
    Cuối cùng, Môi-se nhắc lại thất bại lớn của Y-sơ-ra-ên tại Ca-đe Ba-nê-a (Phu 9:23-24 Dan 13:1-14:45). Suốt hành trình từ Ai Cập đến Ca-đe, dân Do Thái đã nhìn thấy bàn tay Đức Chúa Trời hành động ngày này sang ngày khác, đáp ứng mọi nhu cầu của họ, nhưng tại Ca-đe, họ cảm thấy Đức Chúa Trời không vĩ đại đủ để ban cho họ chiến thắng trên các dân tộc ở Ca-na-an. họ có “lòng dữ của sự vô tín (He 3:12), mà thật sự là sự chống nghịch với Chúa. Sự vô tín là một tội lỗi của ý chí. Nó thử Chúa và nói “Ta sẽ không tin cậy Chúa và làm điều Ngài ra lệnh ta phải làm!”. Mười thám tử vô tín đã bước đi bởi ngoại cảnh chớ không bởi đức tin, và chỉ nhìn thấy những vấn đề trong xứ. Môi-se, A-rôn, Ca-lép và Giô-suê đã bước đi bởi đức tin và tin rằng Đức Chúa Trời có thể đánh bại bất cứ kẻ thù nào và thắng hơn mọi trở ngại.
    Sự nhìn lại này về tội lỗi Y-sơ-ra-ên hoàn toàn là một bản cáo trạng, nhưng Đức Chúa Trời không bao giờ bỏ rơi dân Y-sơ-ra-ên và thường tha thứ họ khi Ngài phải xét đoán họ. “Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi, cũng không báo trả chúng tôi tuỳ sự gian ác của chúng tôi” (Thi 103:10 Exo 9:13). Đức Chúa Trời luôn thành tín với những lời hứa của Ngài, khi chúng ta không để Ngài cai trị, Ngài sẽ tể trị và vẫn thực hiện những mục đích của Ngài. Tuy nhiên, chúng ta sẽ bỏ lỡ phước hạnh Ngài đã hoạch định cho chúng ta.
    Mọi tín hữu và mọi chức vụ Cơ Đốc dù đó là một Hội Thánh địa phương, hay một chức vụ ngoài Hội Thánh, cũng phải tin cậy Đức Chúa Trời đáp ứng những nhu cầu của mình từng ngày từng giờ. Nếu chúng ta phàn nàn luôn luôn, chúng ta chỉ đang đưa ra chứng cớ rằng chúng ta không tin cậy Đức Chúa Trời nhưng nghĩ mình biết nhiều hơn Ngài về điều gì tốt nhất cho chúng ta. Khi chúng ta đi đến những nơi “Ca-đe Ba-nê-a” đó trong đời sống, khi chúng ta phải tuyên bố điều gì Đức Chúa Trời đã hoạch định cho chúng ta và tiến lên phía trước bởi đức tin, chúng ta không nên chống nghịch Đức Chúa Trời và từ chối tin cậy vâng lời. Nếu chúng ta làm vậy, chúng ta có thể thấy mình lang thang suốt đời sống, không thực hiện điều Đức Chúa Trời đã hoạch định cho chúng ta. Tuyên bố di sản của mình trong Đấng Christ là một trong những chủ đề chính của sách Hê-bơ-rơ, và tác giả dùng Y-sơ-ra-ên làm sự minh họa chính (He 3:1-4:16).
    Phu 9:1-29; xem giải nghĩa Phu 8:6-20
    Phu 10:1-11; xem giải nghĩa Phu 8:6-20
    4. Những tôi tớ của Chúa (Phu 10:12-22) (Phu 10:12-11:32)
    “Và bây giờ, hỡi Y-sơ-ra-ên” (10:12) tạo nên một sự chuyển tiếp khi Môi-se đi vào phân đoạn cuối của phần này trong bài nói chuyện của ông, một phân đoạn trong đó ông nhắc nhở dân sự lý do họ phải vâng lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ. Đây không phải là một chủ đề mới nhưng đây là một chủ đề quan trọng, và Môi-se muốn họ nhận lấy sự điệp và không quên nó: sự vâng phục yêu thương đối với Chúa là chìa khóa cho mọi phước hạnh. Chúa Giê-xu từng lặp lại những lẽ thật Ngài đã chia sẻ, và Phao-lô đã viết cho những người Phi-líp, “Đối với tôi, viết những điều tương tự cho anh em thì không chán, nhưng đối với anh em điều đó là an toàn” (Phi 3:1 NKJV). Không phải mọi người nghe đều nhận sứ điệp lần đầu, và một số người nhận sứ điệp có thể quên nó. Dân Do Thái đã không mang những cuốn Kinh Thánh bỏ túi và phải cậy nơi trí nhớ của họ, vì vậy sự nhắc lại là quan trọng.
    Vâng lời vì cớ những điều răn của Đức Chúa Trời (Phu 10:12-13). Chuỗi 5 mệnh lệnh thật ý nghĩa: Hãy kính sợ, hãy bước đi, hãy yêu thương, hãy hầu việc và hãy giữ. Sự kính sợ Chúa là sự sợ sệt cách tôn kính mà chúng ta mắc nợ Ngài đơn giả vì Ngài là Chúa. Cả trong Cựu Ước và Tân Ước, đời sống đức tin được so sánh với một sự bước đi (Eph 4:1,17 5:2,8,15). Nó bắt đầu bằng một bước của đức tin trong sự tin cậy Đấng Christ và dâng mình cho Ngài, nhưng điều này dẫn đấn mối thông công hằng ngày với Ngài khi chúng ta bước đi với nhau trong con đường Ngài đã hoạch định. Sự bước đi của Cơ Đốc nhân ngụ ý sự tiến bộ và nó cũng ngụ ý sự quân bình: đức tin và việc làm, tính cách và hạnh kiểm, sự thờ phượng và sự hầu việc, sự vắng vẻ và mối thông công. Sự biệt riêng khỏi thế gian và chức vụ cùng sự làm chứng cho thế gian. Vâng lời Ngài là “vì ích lợi của riêng chúng ta” (Phu 10:19) vì khi chúng ta vâng lời Ngài, chúng ta dự phần mối thông công của Ngài, hưởng những phước hạnh của Ngài, và tránh những hậu quả đáng buồn của sự bất tuân.
    Yếu tố trung tâm trong năm mệnh lệnh này là tình yêu, một từ được Môi-se sử dụng 6 lần trong phân đoạn này (c.12,15,19 11:1,13,22). Có thể vừa kính sợ, vừa yêu mến Chúa cùng lúc được chăng? Vâng, có thể vì sự kính sợ mà chúng ta bày tỏ cho Ngài là một sự tôn trọng yêu thương đến từ tấm lòng. Môi-se sử dụng từ “tấm lòng” năm lần trong phân đoạn này trong bài nói chuyện của ông (10:12,16 11:13,16,18), vì vậy ông cho biết rõ rằng Đức Chúa Trời muốn nhiều hơn sự vâng lời bên ngoài. Ngài muốn chúng ta làm theo ý muốn Đức Chúa Trời từ tấm lòng (Eph 6:6), một sự vâng lời yêu thương đem đến niềm vui cho Cha chúng ta trên trời. Tình yêu là sự làm trọn luật pháp (Ro 13:10), vì vậy nếu chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời, sự hầu việc Ngài và giữ những điều răn của Ngài sẽ không phải là một gánh nặng hay một cuộc chiến. Năm yếu tố này giống như những phần của một kính viễn vọng thuộc về nhau và làm việc với nhau.
    Vâng lời vì tính cách của Đức Chúa Trời (Phu 10:14-22). Một sự kính sợ Chúa được quân bình với tình yêu Chúa là kết quả của một sự hiểu biết tăng trưởng về những thuộc tính của Đức Chúa Trời, và những thuộc tính này được mô tả trong Kinh Thánh. Ngài là Đấng Tạo Hoá (c.14), “Mọi vật được nên bởi Ngài và vì Ngài” (Co 1:16). Trong lúc sống ở Ai Cập, dân Do Thái đã nhìn thấy quyền năng của Đấng Tạo Hóa khi Ngài giáng lửa và mưa đá, sự tối tăm, ếch nhái, chấy rận và thậm chí sự chết, chửng tỏ rằng Ngài điều khiển mọi sự. Ngài đã mở Biển Đỏ để Y-sơ-ra-ên thoát ra, và sau đó Ngài đóng biển lại để quân đội Ai Cập không thể thoát ra. Ngài đã ban nước từ hòn đá và bánh từ trời. Khi Đấng Sáng Tạo vũ trụ là Cha của bạn, tại sao bạn phải lo lắng?
    Khi chúng ta nhìn xem sự sáng tạo, chúng ta có thể dễ dàng thấy rằng có một Đức Chúa Trời Đấng quyền năng và khôn ngoan, vì chỉ có một vị thần quyền năng mới có thể sáng tạo cái gì đó từ chỗ không có gì, và chỉ một vị thần khôn ngoan mới có thể làm cho nó trở nên phức tạp và kỳ diệu như vậy, và giữ nó hoạt động hài hòa. Dù bạn nhìn chằm chằm qua một viễn vọng kính hay săm soi qua một kính hiển vi, bạn sẽ đồng ý với Isaac Watts:
    Lạy Chúa, những sự lạ lùng của Ngài được bày tỏ
    Bất cứ nơi đâu tôi đảo mắt,
    Nếu tôi quan sát đất tôi đạp lên
    Hay nhìn chằm chằm lên bầu trời! (6)
    Sự sáng tạo không bày tỏ rõ ràng tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời, nhưng chúng ta thật sự thấy những thuộc tính này của Đức Chúa Trời trong những giao ước Ngài đã lập với dân sự Ngài (Phu 10:15-16). Đức Chúa Trời đã chọn Y-sơ-ra-ên vì Ngài yêu họ, và vì tình yêu đó, Ngài đã lập giao ước làm Đức Chúa Trời của họ và chúc phước cho họ. Ấn chứng của giao ước đó là phép cắt bì làm Đức Chúa Trời của họ và chúc phước cho họ. Ấn chứng của giao ước đó là phép cắt bì được ban ra đầu tiên cho Áp-ra-ham (Sa 17:9-14) và được ra lệnh phải thực hành cho mọi con cháu phái nam của ông. Phép cắt bì quan trọng đối với dân Do Thái đến nỗi họ nói về dân ngoaị là “những kẻ không chịu cắt bì” hoặc “sự không cắt bì” (Cac 14:3 ISa 17:26,36 Cong 11:3 Eph 2:11). Nhưng Y-sơ-ra-ên quá phóng đại lễ nghi thuộc thể đến nỗi họ quên lẽ thật thuộc linh, phép cắt bì đó đánh dấu họ là dân sự Đức Chúa Trời với những đặc quyền và trách nhiệm thuộc linh. Phép cắt bì không phải là một sự bảo đảm rằng mọi người nam Do Thái sẽ lên Thiên đàng (Mat 3:7-12). Nếu không có một sự thay đổi trong tấm lòng, được trui rèn bởi Đức Chúa Trời để đáp ứng đức tin, con người không thuộc về Chúa trong phương diện sự sống. Đó là lý do Môi-se kêu gọi họ, hãy để Đức Chúa Trời “hoạt động” trong lòng họ và làm một công việc thuộc linh lâu dài (Phu 30:6), một sứ điệp được lặp đi lặp lại bởi các tiên tri (Gie 1:4 Exe 44:7,9) và sứ đồ Phao-lô (Ro 4:9-12 Cong 7:51).
    Tiếc thay, sự mù lòa thuộc linh tương tự này ở cùng chúng ta hôm nay, vì nhiều người tin rằng phép báp-tem, sự xác nhận, tư cách thuộc viên Hội Thánh, hay sự tham dự trong Tiệc Thánh tự động bảo đảm cho sự cứu tỗi của họ, ý nghĩa như những điều đó, sự bảo đảm và ấn chứng cứu rỗi của Cơ Đốc nhân không phải là một nghi thức thuộc thể nhưng là một công việc thuộc linh của Đức Thánh Linh ở trong lòng người (Phi 2:10 Co 2:9-12). Phép cắt bì Do Thái chỉ bỏ đi một phần nhỏ của thể xác, nhưng Đức Thánh Linh cởi bỏ toàn bộ “những tội lỗi của xác thịt” và khiến chúng ta trở nên những tạo vật mới trong Đấng Christ (Co 2:11). Dân Do Thái thời Cựu Ước biết họ ở trong giao ước vì một hoạt động thuộc thể, các Cơ Đốc nhân Tân Ước biết họ ở trong giao ước vì sự hiện diện của Đức Thánh Linh ở bên trong (Eph 1:13 4:30 Ro 8:9,16).
    Đức Chúa Trời Đấng chúng ta thờ phượng cũng thánh khiết và công bình. “Đức Chúa Trời là sự sáng, trong Ngài chẳng có sự tối tăm” (IGi 1:5). Sau khi vượt qua Biển Đỏ, dân Y-sơ-ra-ên đã hát “Hỡi Đức Giê-hô-va! Trong vòng các thần, ai giống như Ngài? Trong sự thánh khiết, ai được vinh hiển như Ngài, đáng sợ. đáng khen, hay làm các phép lạ?” (Xu 5:11 Thi 22:3 Es 6:3). Tình yêu của Đức Chúa Trời rất được nhấn mạnh ngày nay đến nỗi chúng ta có khuynh hướng quên rằng đó là một tình yêu thánh khiết và “Đức Chúa Trời chúng ta là đánh lửa hay thiêu đốt” (He 12:29). Vì Đức Chúa Trời là thánh khiết, tất cả những gì Ngài làm là công bình, vì Đức Chúa Trời không thể phạm tội. Con người có thể tố cáo Đức Chúa Trời là bất công, nhưng Ngài vô tư trong những cách đối xử của Ngài và không thể bị hối lộ bởi những lời hứa của chúng ta hay việc thiện của chúng ta. Đức Chúa Trời có một mối quan tâm đặc biệt đối với những người cô thế, đặc biệt là góa phụ, cô nhi và những khách kiều ngụ vô gia cư (Phu 27:19 Xu 22:21-24 23:9 Le 19:33 Thi 94:6 Es 10:2). Đức Chúa Trời chăm sóc cho dân Do Thái khi họ là khách kiều ngụ ở Ai Cập, và Ngài mong họ chăm sóc những khách kiều ngụ khác khi Y-sơ-ra-ên đã định cư trong xứ của họ.
    Vâng lời vì cớ sự chăm sóc của Đức Chúa Trời (Phu 10:21-11:7). Nhóm từ “việc Ngài đã làm” hay nhóm từ tương đương của nó được sử dụng 6 lần trong đoạn này, vì sự nhấn mạnh là về những hành động mạnh mẽ của Ngài, và cánh tay giơ thẳng ra của Ngài (11:2). Điều gì Đức Chúa Trời đã làm cho Y-sơ-ra-ên? Trước hết, khi họ làm nô lệ trong xứ Ai Cập, Ngài đã chăm sóc họ và khiến họ sinh sôi nảy nở rất nhiều. Gia-cốp và gia đình ông đã đi đến Ai Cập để ở cùng Giô-sép (Sa 46:1-34), và 70 người đã trở thành một dân tộc hùng mạnh có lẽ hai triệu người (7). Đức Chúa Trời chắc chắn đã giữ lời hứa Ngài với Áp-ra-ham để làm cho con cháu ông nhiều lên như sao trên trời và bụi đất (13:14-16 15:5 22:17 26:4).
    Trong khi dân Do Thái ở Ai Cập, họ nhìn thấy quyền năng mạnh mẽ mà Đức Chúa Trời giáng trên Pha-ra-ôn và dân tộc này khi Ngài giáng sự xét đoán này đến sự xét đoán khác mà cuối cùng dẫn đến sự giải phóng Y-sơ-ra-ên. Quyền năng Đức Chúa Trời không chỉ làm sụp đổ xứ và tiêu diệt đội quân Pha-ra-ôn mà nó còn bày tỏ rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật và rất cả các thần của Ai Cập chỉ là những hình tượng câm lặng và bất lực. Một khi Y-sơ-ra-ên đã định cư trong xứ, họ sẽ giữ lễ Vượt Qua hằng năm và ghi nhớ điều Chúa đã làm cho họ.
    Môi-se cũng nhắc nhở thế hệ mới rằng Đức Chúa Trời đã chăm sóc cho họ suốt thời gian họ lang thang trong đồng vắng, nhưng ông chỉ đề cập một sự kiện cụ thể, sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với Đa-than và A-bi-ram (Phu 11:5-6 Dan 16:1-22 Cac 11:1-40). Cô-rê, một người Lê-vi, đã tranh thủ được Đa-than và A-bi-ram cùng 250 quan trưởng trong Y-sơ-ra-ên đứng về phía ông để thách thức quyền hạn của Môi-se, vì Cô-rê muốn những người Lê-vi có đặc quyền hầu việc như những thầy tế lễ. Đây là điều nghịch ly với ý muốn Đức Chúa Trời, vì vậy Môi-se và A-rôn giao vấn đề này cho Chúa. Đức Chúa Trời đã mở đất ra, là đất đã nuốt ba người chống nghịch, và Ngài giáng lửa tiêu diệt 250 quan tướng trong các chi phái (8). Thật quan trọng để thế hệ mới biết tôn trọng những lãnh đạo của Đức Chúa Trời và vâng theo những điều răn của ngài có liên quan đến chức tế lễ. Thậm chí hôm nay, những người kiêu ngạo muốn tự đề xướng mình và làm “quan trọng’ trong Hội Thánh nên coi chừng những kỷ luật và xét đoán của Đức Chúa Trời (Cong 5:1-11 ICo 3:9-23 He 13:17 Gi 1:9-12).
    Vâng lời vì những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời (Phu 11:8-25). Từ chính trong phân đoạn này là “xứ”, được sử dụng ít nhất là 13 lần, chỉ về xứ Ca-na-an mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Áp-ra-ham và con cháu ông khi Ngài bước vào một mối liên hệ giao ước với ông (Sa 13:14-17 15:7-21 17:8,13 5:12 Xu 3:8). Ca-na-an không chỉ là Đất Hứa vì Đức Chúa Trời đã hứa ban nó cho Y-sơ-ra-ên, mà nó cũng là “xứ của những lời hứa” vì trong xứ đó Đức Chúa Trời sẽ thự chiện nhiều lời hứa có liên quan đến món quà to lớn của Ngài về sự cứu rỗi cho cả thế gian. Xứ Y-sơ-ra-ên sẽ là sân khấu mà trên đó vở kịch lớn về sự cứu chuộc sẽ được diễn ra. Ở đó Chúa Cứu Thế sẽ ra đời và sống, và ở đó Ngài sẽ chết thay cho tội lỗi của thế gian. Ngài sẽ được khiến sống lại từ cõi chết, thăng thiên và Ngài sẽ ban món quà về Đức Thánh Linh cho những người được tái sinh trong xứ đó. Từ xứ đó, dân Ngài sẽ lan rộng ra thế giới và chia sẻ sứ điệp về sự cứu rỗi.
    Nếu Y-sơ-ra-ên muốn sở hữu xứ, ở trong đó và vui hưởng nó, họ phải vâng theo những điều răn của Chúa, vì Ngài làm chủ xứ Y-sơ-ra-ên (Le 25:2,23,28). Chỉ có Ngài mới có thể mở sông Giô-đanh ra để Y-sơ-ra-ên có thể vào xứ, và chỉ mình Ngài mới có thể ban cho dân Do Thái chiến thắng trên các dân tộc đã sống trong xứ. Những dân tộc đó mạnh hơn Y-sơ-ra-ên và dân sống trong các thành có tường bao quanh. Nhưng thậm chí sau khi Y-sơ-ra-ên vào và chinh phạt xứ, họ sẽ không ở trong xứ để hưởng nó nếu họ không lắng nghe Lời Đức Chúa Trời và vâng theo. Nguyên tắc tương tự cũng áp dụng cho tín hữu ngày nay, trong Đấng Christ chúng ta có “mọi ơn phước thuộc linh” (Eph 1:3) nhưng chúng ta không thể có chúng hay hưởng chúng nếu chúng ta không tin những lời hứa của Đức Chúa Trời và vâng theo những mạng lệnh của Ngài.
    Đất Hứa là một “xứ đượm sữa và mật” nhưng nếu mưa không đến vào những mùa được chỉ định của nó, không vật gì sẽ mọc lên và dân sự sẽ chết đói, và chỉ Đức Chúa Trời mới có thể giáng mưa. Ba-anh là thần bão của dân Ca-na-an, và thường trong lịch sử của họ, dân Do Thái đã quay sang tà thần này để được sự giúp đỡ, và Đức Chúa Trời đã phải sửa phạt họ. Cuộc chạm trán đầy kịch tính của Ê-li trên núi Cạt-mên với các thầy tế lễ của Ba-anh chứng minh rằng Chúa Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống (IVua 18:16). Không giống như xứ Ai Cập, nơi nhờ vào sự trước tiên từ sông Nile (9), xứ Y-sơ-ra-ên nhận những cơn mưa ban sự sống từ trời, do Chúa ban đến. Thường trong lịch sử Do Thái, Đức Chúa Trời đã đóng các từng trời và kỷ luật dân Ngài cho đến khi họ xưng ra tội lỗi của họ và trở lại với Ngài (Phu 28:23-24 IISu 7:12-14). Đức Chúa Trời sẽ canh giữ và chăm sóc xứ cùng cư dân của nó (Phu 11:12). Nếu dân tộc Y-sơ-ra-ên kính sợ Đức Chúa Trời, yêu mến Ngài và vâng lời Ngài, Ngài sẽ ban mùa màng trong các mùa của chúng và nuôi dân sự cùng bầy chiên với bầy gia súc. Đức Chúa Trời không “mua” sự vâng lời của họ, Ngài thưởng cho đức tin của họ và dạy họ những niềm vui của việc biết và hầu việc Ngài.
    Vấn đề không phải là Đức Chúa Trời hoặc là xứ mà chính là lòng dân sự. “Hãy cẩn thận để lòng các ngươi không bị dụ dỗ” (c.16). Nếu dân sự từ bỏ việc thờ phượng Đức Giê-hô-va, cơn giận của Ngài sẽ nổi phừng và Ngài sẽ phải kỷ luật họ. Vì sự thờ hình tượng của họ làm xứ ô uế, Đức Chúa Trời sẽ phải cất họ khỏi xứ và thanh tẩy xứ; và Ngài đã làm điều này khi Ngài đưa dân Do Thái vào sự giam cầm ở Ba-by-lôn. Điều ngăn trở lớn nhất đối với sự thờ hình tượng là Lời Đức Chúa Trời (c.18-21 Phu 6:6-9), của báu mà Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên và không cho dân tộc nào khác. Lời Đức Chúa Trời đó phải điều khiển đời sống của họ và là chủ đề của cuộc nói chuyện của họ. Như chúng ta đã thấy, dân Do Thái hiểu điều răn này theo nghĩa đen và làm những thẻ bài da cho cánh tay và đầu của họ cùng bùa bình yêu cho nhà họ nhưng không tiếp nhận Lời Chúa trong lòng họ Cơ Đốc nhân ngày nay cũng đối diện với hiểm họa tương tự. Mang cây thập tự giá vàng trên con người chúng ta thật dễ hơn nhiều so với mang thập tự giá của Đấng Christ trong đời sống hằng ngày, và treo những câu Kinh Thánh trên tường nhà chúng ta dễ hơn giấu Lời Đức Chúa Trời trong lòng mình. Nếu chúng ta yêu mến Chúa và trung thành với Ngài, chúng ta sẽ muốn biết Lời Ngài và vâng theo trong mọi lãnh vực của đời sống mình.
    Chúng ta tuyên bố những ơn phước của Đức Chúa Trời thế nào? Bằng cách bước ra bởi đức tin (11:24-25). Đây là điều Đức Chúa Trời đã ra lệnh Áp-ra-ham phải làm (Sa 13:17) cũng như Giô-suê (Gios 1:3). Chính lời hứa này mà Ca-lép đã tuyên bố khi ông cầu xin di sản của mình trong Đất Hứa (14:6-15) và đó là lời hứa mà tất cả các tín hữu phải tuyên bố nếu họ mong hưởng những phước hạnh Đức Chúa Trời dành cho họ. Bạn đừng “tuyên bố xứ” bằng cách nghiên cứu bản đồ và mơ về sự chinh phạt. Bạn hãy tuyên bố xứ bằng cách bước ra bởi đức tin, tin Lời Đức Chúa Trời và nhờ cậy sự thành tín của Ngài. J.HudsonTaylor, người sáng lập Hội Chiana Inland. Mission, giờ là Overseas Missionary Fellowship (Hội truyền giáo Hải ngoại) đã nói “Không phải bằng cách phấn đấu sau đức tin, nhưng bằng cách yên nghĩ trong Đấng thành tín” (10).
    Vâng lời vì sự sửa phạt của Đức Chúa Trời (Phu 11:26-32). Kết quả cuối cùng của toàn bộ vấn đề đó là dân tộc phải thực hiện một sự lựa chọn hoặc vâng lời Đức Chúa Trời và hưởng sự chúc phước của Ngài, hoặc bất tuân Ngài và kinh nghiệm sự sửa phạt của Ngài. Họ có thể vui hưởng xứ, chịu sự sửa phạt trong xứ (sách Các quan xét) hoặc bị đuổi khỏi xứ (sự giam cầm ở Ba-by-lôn). Bạn sẽ nghĩ rằng sự lựa chọn này sẽ là một sự lựa chọn dễ dàng, vì ai sẽ muốn bị Chúa sửa phạt? Nhưng giống như con cái xem thường những mệnh lệnh của cha mẹ chúng, biết rõ rằng sự bất tuân sẽ đem đến sự trừng phạt, thì dân sự Đức Chúa Trời cũng cố ý bất tuân Đức Chúa Trời và xem thường ý muốn của Ngài. Họ không có sự kính sợ Đức Chúa Trời và thật sự nghĩ họ sẽ thoát khỏi cánh tay sửa phạt của Ngài! Đây là điều Kinh Thánh gọi là “thử Đức Chúa Trời”.
    Môi-se có hai tầm nhìn trong đầu khi ông đưa ra lời cảnh cáo này. Tầm nhìn thứ nhất là dân tộc trước mặt ông ngày ấy (Phu 11:26-28) và tầm nhìn thứ hai là dân tộc sau khi họ đã vào xứ (c.29-30). Những chiến thắng trong tương lai của họ tùy thuộc vào quyết định hiện tại của họ, sự xác định trong lòng họ để yêu Chúa và vâng lời Ngài. Họ chẳng bao lâu sẽ ở trên chiến trường và chỉ có sự giúp đỡ của Chúa mới có thể cho họ chiến thắng trên kẻ thù. Đề nghị này là một đề nghị đơn giản: nếu họ vâng lời Chúa, Ngài sẽ chúc phước họ, nếu họ bất tuân, Ngài sẽ sửa phạt họ.
    Sau khi dân Do Thái vào xứ và bắt đầu chinh phạt xứ, họ phải tiến hành một lễ đặc biệt tại Si-chem, nơi nằm giữa Núi Ga-ri-xim và núi Ê-banh (những chi tiết được trình bày trong Phục truyền đoạn 27 và 28 và sự thực hiện trong Gios 8:30-35). tại núi Ê-banh, Giô-suê phải viết những lời của luật pháp trên một số hòn đá thạch cao và cũng xây một bàn thờ. Núi Ê-banh phải là “núi của những sự rủa sả” và núi Ga-ri-xem là “núi của những sự chúc phước”. Những chi phái trên núi Ghê-ri-xim sẽ là Si-mê-ôn, Lê-vi, Giu-đa, Y-sa-ca, Giô-sép (Ép-ra-im và Ma-na-se) và Bên-gia-min, và những chi phái còn lại sẽ tập trung trên núi Ê-banh. Trong trũng giữa hai núi, Giô-suê và thầy tế lễ và người Lê-vu cùng các quan trưởng chi phái sẽ đứng bên hòm giao ước, và từ vị trí đó người Lê-vi sẽ nói lớn với dân sự và nơi những lời rủa sả cùng những sự chúc phước. Sau khi, mỗi lời rủa sả được nói, dân sự trên núi Ê-banh sẽ la lên “A-men” nghĩa là “Mong được như vậy, chúng tôi đồng ý!” Sau khi mỗi sự chúc phước được đọc, những chi phái trên núi Ghê-ru-xim sẽ la lớn “A-men!”
    Các thầy tế lễ sẽ dâng trên bàn thờ ở núi Ê-banh (11) những của lễ thiêu, tượng trưng cho sự tận tụy vì Đức Chúa Trời, và của lễ thù ân, tượng trưng cho mối thông công với Đức Chúa Trời; và họ sẽ ăn “trước mặt Đức Giê-hô-va” và thưởng thức một bữa ăn giao ước. Lễ đặc biệt này sẽ là một sự tái xác nhận giao ước mà Y-sơ-ra-ên đã chấp nhận tại núi Si-nai và nghe lần thứ hai ở đồng bằng xứ Mô-áp trong bài nói chuyện tạm biệt của Môi-se.
    Nói theo cách thuộc linh, tín hữu hôm nay sống giữa hai núi: núi Gô-gô-tha nơi Chúa Giê-xu chịu chết vì chúng ta, và núi Ô-li-ve, nơi Chúa Giê-xu một ngày nào đó sẽ tái lâm (Xa 14:4 Cong 1:11-12). Nhưng Đức Chúa Trời không viết luật pháp của giao ước cũ trên những bảng đá và cảnh cáo chúng ta về những sự rủa sả. Đúng hơn, Ngài đã viết giao ước mới nơi tấm lòng chúng ta và chúc phước cho chúng ta trong Chúa Giê-xu Christ (IICo 3:1-3 He 8:1-13 Eph 1:3). “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Giê-xu Christ” (Ro 8:1). Tuy nhiên, việc Cơ Đốc nhân ở dưới ân điển chớ không ở dưới luật pháp không có nghĩa là chúng ta có một giấy phép để phạm tội (6:1-14). Những sự sắp đặt của Đức Chúa Trời thay đổi, nhưng những nguyên tắc của Ngài không bao giờ thay đổi, và một trong những nguyên tắc đó là Đức Chúa Trời chúc phước cho chúng ta khi chúng ta vâng lời và sửa phạt chúng ta khi chúng ta bất tuân. Khi chúng ta bước đi trong quyền năng của Thánh Linh, chúng ta đắc thắng những sự tham muốn của xác thịt, và sự công bình của Đức Chúa Trời được làm trọn trong chúng ta (8:4) và chúng ta không bao giờ nghe những tiếng từ núi Ê-banh.
    Phu 11:1-32; xem giải nghĩa Phu 10:12-22
    5. HÃY THỜ PHƯỢNG NGÀI TRONG LẼ THẬT (Phu 12:1-13:18 18:9-22)
    Môi-se là một nhà lãnh đạo khôn ngoan. Ông dành phần đầu bài nói chuyện của mình (Phu 1:1-5:23) cho việc ôn lại quá khứ và giúp thế hệ mới cảm kích tất cả những điều Đức Chúa Trời đã làm cho họ. Sau đó ông cho dân sự biết cách họ phải đáp ứng với sự nhận từ của Đức Chúa Trời và lý do họ phải vâng lời Đức Giê-hô-va (6:1-11:32). Nói cách khác, Môi-se đang giúp dân sự ông phát triển những tấm lòng yêu mến đối với Chúa, vì nếu họ yêu mến Ngài, họ sẽ vâng lời Ngài. Môi-se đã nhắc lại những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời đối với dân tộc nhưng cũng quân bình những lời hứa bằng những lời cảnh cáo về điều sẽ xảy ra nếu họ bất tuân. Hơn bất cứ điều gì khác, Môi-se muốn dân Y-sơ-ra-ên trưởng thành trong đức tin và tình yêu để họ có thể bước vào xứ, chiến thắng kẻ thù, và hưởng di sản của họ vì vinh hiển của Đức Chúa Trời.
    Trong Phu 12:1-26:19 Môi-se xây dựng trên nền móng này và áp dụng luật pháp cho hoàn cảnh mới của Y-sơ-ra-ên trong Đất Hứa. Dân Do Thái từng là nô lệ ở Ai Cập và là dân du mục trong đồng vắng, nhưng giờ đây họ sẽ trở thành những người chiến thắng và những tá điền trong xứ của Đức Chúa Trời (Le 25:23 NIV). Ông đặt trước mặt họ những trách nhiệm họ phải thực hiện nếu họ muốn sống như tuyên dân của Đức Chúa Trời và làm cư dân trung thành trong xứ, hưởng ớn phước của Đức Chúa Trời.
    1. Thanh tẩy xứ (Phu 12:1-3)
    Lời tuyên bố trong c.1 vừa là một sự bảo đảm vừa là một điều răn. Sự bảo đảm đó là Y-sơ-ra-ên sẽ vào xứ và chiến thắng kẻ thù, và điều răn đó là sau khi vào xứ, họ phải thanh tẩy mọi sự thờ hình tượng của nó (1). Việc Y-sơ-ra-ên chinh phạt các dân tộc ở phía Đông sông Giô-đanh là một kiểu mẫu đầu tiên của việc họ thanh tẩy xứ Ca-na-an (Dan 21:1-35 31:1-34). Đây không phải là một điều răn mới, vì Môi-se đã đề cập nó từ trước (Phu 7:1-6,23-26 Dan 33:50-56) và ông sẽ đề cập nó trở lại.
    Các tôn giáo của dân Ca-na-an vừa sai trật vừa thô tục. Họ thờ nhiều thần nam và thần nữ, chủ yếu là Ba-anh, thần bão và A-sê-ra, vợ ông ta. “Những trụ A-sê-ra” bằng gỗ (“những rừng cây” NIV) là những biểu tượng tình dục, và dân chúng lợi dụng các kỵ nữ đền thờ khi họ tìm cách thờ phượng các thần của họ. Mục đích chính của tôn giáo Ca-na-an là sự thịnh vượng cho chính họ và cho mùa màng của họ, nên họ lập những nơi thờ phượng trên núi và đồi (“những nơi cao”) để đến gần hơn với các thần. Họ cũng thờ lạy dưới những cây to, mà chúng cũng là những biểu tượng của sự thịnh vượng. Những tập tục tôn giáo đồi bại của họ là một hình thức ma thuật mà bởi đó họ hy vọng làm hài lòng các thần và tác động đến sức mạnh của thiên nhiên để ban cho họ mùa màng dư dật.
    Nhưng Môi-se chỉ ra rằng bất cứ thứ gì mang tính hình tượng còn tồn tại trong xứ đều nguy hiểm vì nó có thể trở thành một công cụ cho ma quỉ sử dụng để cám dỗ Y-sơ-ra-ên. Lời khuyên đừng cho ma quỉ nhân dịp (Eph 4:27) cảnh báo chúng ta rằng bất cứ khi nào chúng ta bất tuân Chúa và yêu mến điều mà Ngài muốn chúng ta hủy bỏ tức là chúng ta đã cung cấp cho Sa-tan một chỗ đứng trong đời sống mình. Y-sơ-ra-ên thậm chí phải xóa sạch tên của các thần ngoại giáo, vì tên họ có thể đã được sử dụng trong những lễ nghi huyền bí để làm những câu thần chú.
    Chúng ta đang sống trong một thế giới đã loại bỏ những điều tuyệt đối và đề cao “tính đa số”. Nếu “có lợi cho bạn”, thì tôn giáo này cũng tốt như tôn giáo kia, và thật không “thích hợp về mặt chính trị để tuyên bố rằng Chúa Giê-xu Christ là Cứu Chúa duy nhất của thế giới (Cong 4:12 Gi 4:19-24). Nhưng Môi-se cho thấy rõ ràng Đức Chúa Trời khước từ những tôn giáo của dân Ca-na-an và muốn mọi chứng cớ về những tập tục ngoại giáo của họ bị xóa khỏi xứ. Xứ thuộc về Chúa và Ngài có mọi quyền để thanh tẩy nó. Điều răn thứ nhất của Ngài là “Trước mặt ta ngươi chớ có các thần khác” (Phu 5:7). Y-sơ-ra-ên đã không thanh tẩy xứ và bị kỷ luật sự bất tuân của họ. “Họ không hủy diệt các dân, y như Đức Giê-hô-va đã phán dặn họ; Nhưng lại pha lộn với các dân, tập theo công việc chúng nó, và hầu việc hình tượng chúng nó, là điều gây làm cái bẫy cho mình” (Thi 106:34-36).
    2. Thờ phượng Chúa (Phu 12:4-14)
    “Các ngươi chớ thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời các ngươi theo cách chúng nó (c.4, NIV) là một lời tuyên bố đơn giản mang một thông điệp mạnh mẽ. Là dân sự Đức Chúa Trời, chúng ta phải thờ phượng Chúa cách Ngài phán bảo chớ không phải bắt chước những tập tục tôn giáo của kẻ khác. Do Thái giáo và Cơ Đốc giáo hình thành bởi sự mặc khải chớ không bởi sự phát minh của con người hay sự chỉ dẫn của Sa-tan (ITi 4:1 IITi 3:5-7). Hoạt động quan trọng nhất của Hội Thánh là thờ phượng Đức Chúa Trời, vì mọi điều mang tính thuộc linh thật sự mà Hội Thánh làm tuôn tràn từ sự thờ phượng Cơ Đốc thành sự giải trí và biến nơi thánh của Đức Chúa Trời thành một rạp hát. “Theo luật pháp và lời chứng! Nếu họ không nói theo lời này, đó là vì không có sự sáng trong họ” (Es 8:20 NKJV).
    Y-sơ-ra-ên thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, trong khi dân ngoại bang trong xứ thờ các hình tượng chết đại diện cho các tà thần. Dân Ca-na-an có nhiều điện thờ nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ có một nơi thờ phượng trung tâm. Có một sự tương phản rõ rệt trong bản văn giữa “mọi nơi” trong Phu 12:12 và “nơi” trong 12:5,11,14,18,21 26:2. Dân Ca-na-an đã lập nhiều bàn thờ, nhưng Y-sơ-ra-ên phải có chỉ một bàn thờ. Dân Ca-na-an dâng tế lễ cho các thần của họ bất cứ thứ gì họ thích, kể cả con cái của chính họ, nhưng Chúa sẽ cho dân Do Thái biết phải đem đến của lễ nào và Ngài cho biết rõ rằng họ không bao giờ được hy sinh con cái của họ.
    Một nơi Đức Chúa Trời ngự (Phu 12:5,8-11a). Trong sách Sáng Thế ký, chúng ta được cho biết rằng Đức Chúa Trời đã đồng đi với dân Ngài, chẳng hạn như Hê-nóc (5:24), Nô-ê (6:9) và Áp-ra-ham (17:1), nhưng tại núi Si-nai, Đức Chúa Trời tuyên bố với Môi-se rằng Ngài muốn ở với dân sự Ngài (Xu 25:8,45-46). Ngài bảo họ làm cho Ngài một đền tạm, và dân Y-sơ-ra-ên đã đóng góp của cải mình cho dự án thánh này (c.1-2 35:4-36:6). Khi Môi-se dâng đền tạm, Đức Chúa Trời ngự xuống trong vinh hiển và đi vào nơi chí thánh, biến nắp thi ân trên hòm giao ước thành ngai thánh của Ngài (40:34-38 Thi 80:1 99:1 NIV). Đôi khi chúng ta nói đến “sự vinh hiển Shê-kê-na” của Đức Chúa Trời trong trại quân Y-sơ-ra-ên, truy nguyên từ một từ Hê-bơ-rơ có nghĩa “ngự vào”.
    Các dân tộc Ca-na-an có nhiều đền thờ và điện thờ, nhưng chỉ Y-sơ-ra-ên có sự hiện diện vinh hiển của Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống ngự giữa họ (Ro 9:4). Việc chỉ có một nơi thánh trung tâm cho Y-sơ-ra-ên mang ý nghĩa rằng chỉ có một Đức Chúa Trời thật, một sự thờ phượng và chức tế lễ được cho phép, và một dân tộc thánh. Đền tạm, và sau đó là đền thờ, hợp nhất 12 cho phái về mặt thuộc linh và chính trị.
    Thật thú vị để làm theo vết lịch sử về đền tạm của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên đã mang đền tạm vào Ca-na-an và đặt ở Si-lô (Gios 18:1 19:51 Gie 7:12). Suốt thời Sa-mu-ên đền tạm ở tại Mích-ba (ISa 7:6) và sau đó ở Nốp (21:1-6). Vì tội lỗi Y-sơ-ra-ên nghịch với Chúa vinh hiển Đức Chúa Trời đã lìa khỏi đền tạm (4:21-22). Suốt thời Đa-vít hòm giao ước ở trên núi Si-ôn trong khi chính đền tạm ở Ghê-đê-ôn (ISu 16:1,37-42 IVua 3:4). Đức Chúa Trời đã mạc khải cho Đa-vít rằng Sa-lô-môn con trai ông sẽ kế vị ông và xây một đền thờ cho vinh hiển của Ngài trên núi Si-ôn, và khi Sa-lô-môn dâng hiến đền thờ, vinh hiển Chúa đã đến ngự tại đó (8:10-11). Khi Ba-by-lôn chiếm Giu-đa, tiên tri Ê-xê-chi-ên đã thấy vinh hiển Đức Chúa Trời lìa đền thờ (Exe 8:1-4 9:3 10:4,18 11:22-23) nhưng ông cũng thấy nó trở lại và ở trong đền thờ (43:1-3).
    Khi Chúa Giê-xu đến thế gian để “ngự giữa chúng ta”, vinh hiển Đức Chúa Trời đã trở lại (Gi 1:14), nhưng con người tội lỗi đã đóng đinh Chúa của vinh hiển vào thập tự giá, Ngài đã sống lại từ cõi chết và trở về trời để nhận lại vinh hiển mà Ngài đã từ bỏ trong sự khiêm nhường của mình (17:1,5). Giờ đây mỗi người tin nhận Đấng Christ đều trở nên một đền thờ của Đức Chúa Trời và có Thánh Linh ngự trong lòng (ICo 6:19-20). Nhưng mỗi hội chúng của những người tin nhận cũng là một đền thờ của Đức Chúa Trời (c.10-17), và Đấng Christ đang lập Hội Thánh chung của Ngài làm một nơi ngự cho Thánh Linh (Mat 6:18 Eph 2:19-22). Ngày nào đó, mọi dân Đức Chúa Trời sẽ ở thành thánh được thắp sáng bởi vinh hiển của Đức Chúa Trời (Kh 21:23).
    Một bàn thờ cho của lễ (Phu 12:6-7,12-14). Sự thờ phượng của người Ca-na-an cho phép dân chúng dâng bất cứ của lễ nào họ thích ở bất cứ nơi nào họ chọn, nhưng đối với Y-sơ-ra-ên phải có chỉ một bàn thờ. Dân Do Thái được phép giết và ăn gia súc cùng thú rừng ở bất cứ nơi nào (c.15,21-22), nhưng những con vật này không được dâng làm của lễ khi chúng đã chết. Nơi duy nhất của lễ được chấp nhận là trại bàn thờ trong nơi thánh của Đức Chúa Trời và những người duy nhất có thể dâng chúng ta là những thầy tế lễ được Chúa chỉ định. Chúa không muốn dân Ngài phát minh hệ thống tôn giáo của chính họ bằng cách bắt chước những tập tục của các dân ngoại giáo. Suốt thời kỳ suy đồi của Các quan xét, đó chính xác là điều một số người đã làm (Cac 17:1-18:31).
    Của lễ thiêu (Le 1:1-17) tượng trưng sự dâng hiến hoàn toàn cho Chúa, vì tất cả bị thiêu trên bàn thờ. Có thể Phao-lô đã nghĩ đến hình ảnh này khi ông bảo chúng ta dâng mình hoàn toàn cho Chúa để làm theo ý Ngài (Ro 12:1-2). Của lễ thù ân (Le 3:1-17) nói về sự giao thông với Đức Chúa Trời, và người thờ phượng ăn thịt của lễ cùng với gia đình và các thầy tế lễ. Họ có một bữa ăn vui vẻ khi họ kỷ niệm sự nhân từ của Chúa (Phu 12:12,18 26:11). Mặc dù sự thờ phượng hẳn là một điều nghiêm túc, nhưng không nhất thiết cứng nhắc và ảm đạm. Sự thờ phượng thật không những kéo tín hữu đến gần hơn với Đức Chúa Trời, mà còn kéo dân sự Đức Chúa Trời đến gần nhau.
    Đền tạm không những là một nơi dân Do Thái đem đến của lễ, mà còn là nơi họ đem đến phần mười và của dâng hiến của họ. Phần mười là 10% những gì đất đai của họ sản sinh ra, và phần mười này được chia cho các thầy tế lễ và người Lê-vi. Các thầy tế lễ cũng nhận một phần thịt nào đó từ một số của lễ, và đây là cách họ và gia đình họ được cấp dưỡng Môi-se thường nhắc nhở dân sự cấp dưỡng cho người Lê-vi bằng cách trung tín đem phần mười và của dâng đến nơi thánh (12:12,18,19 14:27,29 16:11,14).
    3. Tôn trọng sự sống (Phu 12:15-16,20-28)
    Những câu này tập trung vào cách dân Do Thái xử lý huyết thú vật bị giết tại bàn thờ hay được ăn ở nhà, một chủ đề Môi-se đã bàn luận trong Le 17:1-16. Chúa đã mở đầu chủ dề này sau khi Nô-ê gia đình ông ra khỏi tàu, vì đó là lúc Ngài cho phép loài người ăn thịt (Sa 9:1-7 1:29 2:9,16). Trong sự ban hành luật pháp ở Sáng Thế ký, Đức Chúa Trời cấm việc làm đổ máu người và ăn huyết thú vật, dù con thú nuôi trong nhà hay thú hoang Ngài cũng lập ra điều mà chúng ta ngày nay gọi là “án tử hình”. Loài người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời và có sự sống từ Đức Chúa Trời nên giết ai đó là tấn công Đức Chúa Trời và cướp của người đó món quà sự sống của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời ra lệnh rằng những kẻ giết người phải bị xử phạt bằng cách mất sự sống của chính họ, và quyền thi hành luật này thuộc về các quan chức quốc gia (Ro 13:1-14). Bằng cách ban luật này, Chúa thật sự đang thiết lập chính thể loài người trên đất. Đáng chú ý rằng nếu một con vật giết chết một người, con vật đó phải bị giết (Xu 21:28-32).
    Từ lâu trước khi khoa học khám phá sự quan trọng của huyết, Chúa đã tuyên bố rằng sự sống ở trong huyết phải được tôn trọng cho không phải bị đối xử như thức ăn binh thường (4). Nếu một người Do Thái giết một con vật ở nhà, anh ta phải đổ toàn bộ huyết xuống đất trước khi thịt có thể được nấu và ăn. Nếu anh ta đem một con vật đến nơi thánh để tế lễ, thầy tế lễ sẽ đổ huyết ra bàn thờ. Nếu trình tự nghi lễ đòi hỏi, thì tế lễ sẽ bỏ vào một cái chậu vừa đủ huyết để rưới bên trên hoặc xung quanh bàn thờ. Bằng cách làm theo trình tự này, dân Do Thái không những bày tỏ sự tôn trọng đối với món quà sự sống của Đức Chúa Trời, thậm chí đối với thú vật, họ còn bày tỏ sự tôn trọng đối với con vật đã phó sự sống vì người thờ phượng. Dân Do Thái không thường xuyên ăn thịt, vì quá đắt giá để giết gia súc, nên khi đã giết một con vật, họ phải làm điều đó với sự tôn trọng. Họ có thể đem một con vật đến nơi thánh và dâng nó làm của lễ thù ân rồi sau đó thưởng thức món thịt như một bữa tiệc đặc biệt (Le 3:1-17 7:11-38).
    Sự nhấn mạnh này về việc làm đổ huyết ở trung tâm của thông điệp về Phúc Âm. Chúng ta được cứu khỏi tội lỗi mình không phải bởi cuộc đời của Đấng Christ hay gương mẫu của Đấng Christ, nhưng bởi sự chết hy sinh của Đấng Christ, “chúng ta được cứu chuộc bởi huyết Ngài” (Eph 1:7 Co 1:14). Huyết Đấng Christ quý báu đối với chúng ta (IPhi 1:19) vì cớ Đấng đã đổ huyết. Chiên Con không tì vít của Đức Chúa Trời nhưng cũng vì những điều mà nó thực hiện cho những ai tin nhận Ngài. Sự xưng công bình (Ro 5:9), sự thanh tẩy (Kh 1:5 IGi 1:7), sự cứu rỗi đời đời (He 9:11-28) sự đến gần Đức Chúa Trời (10:19-20) và sự hòa thuận (Eph 2:13), mà chỉ kể là một số phước hạnh chúng ta có nhờ huyết Đấng Christ.
    4. Đem đến những phần mười và của dâng hiến (Phu 12:17-19)
    Việc đem đến 1/10 sản vật cho Chúa đã có trước luật pháp, vì Áp-ra-ham đã dâng phần mười (Sa 14:17-20 He 7:4) và Gia-cốp cũng vậy (Sa 28:22). Đa số nơi trên thế giới ngày nay, dân sự Đức Chúa Trời đem đến tiền nhiều hơn sản vật. Kế hoạch dâng hiến thời Tân Ước được tìm thấy trong IICo 8:1-9:15 và dù việc dâng phần mười không được đề cập, việc dâng hiến rời rộng từ tấm lòng được khích lệ. Nếu tín hữu dưới luật pháp đã có thể dâng cho Chúa 1/10 huê lợi của họ, thì hẳn là một vị trí tốt đẹp cho tín hữu dưới giao ước mới khởi đầu việc dâng hiến của mình. Tuy nhiên, chúng ta không nên dừng lại với 1/10 nhưng phải dâng hiến một cách có phương pháp như Chúa đã cho chúng ta được dư dật (ICo 16:1-2).
    Các thầy tế lễ và người Lê-vi không có sản nghiệp trong xứ Y-sơ-ra-ên, vì Chúa là sản nghiệp của họ (Dan 18:20 Phu 10:8-9 Gios 13:14,33 14:13 18:7), vì vậy họ tin cậy Đức Chúa Trời về sự chu cấp của Ngài qua dân sự. Đức Chúa Trời ấn định cho các thầy tế lễ phần từ những của lễ khác nhau (Le 6:14 7:38) cũng như hoa quả đầu mùa và súc vật đầu lòng (Dan 18:8-20). Người Lê-vi nhận phần mười của dân sự và dâng lại 1/10 của nó cho các thầy tế lễ (c.20-32). Dân sự cũng cách 3 năm lại đem đến phần mười phụ, nó được chia cho người nghèo (Le 27:28-29). Những người sống quá xa nơi thánh được phép bán sản vật và dùng tiền mua một của lễ thay thế khi họ đến nơi (Phu 14:24-26), và nếu họ không làm vậy, họ bị nộp phạt (Le 27:31).
    Một nguyên tắc cơ bản trong Kinh Thánh đó là ai hầu việc Chúa và dân sự Ngài thì phải có sự cấp dưỡng của dân sự Đức Chúa Trời. “Người làm công đáng được tiền lương mình” (Lu 10:7) và “ai rao giảng Tin Lành sẽ sống bởi Tin Lành (ICo 9:14 NKJV). Tín hữu nào được những ơn phước thuộc linh từ thầy giáo và người rao giảng thì phải chia sẻ những ơn phước về vật chất cho họ (Ga 6:6-10 ITi 5:17-18). Phao-lô nhìn thấy những món quà hỗ trợ của dân sự Đức Chúa Trời như những của lễ thuộc linh được dâng cho Chúa (Phi 4:10-19). Nếu mọi dân Đức Chúa Trời đều thực hành cách dâng hiến được mô tả trong IICo 8:1-9:14 sẽ không có những khoản nợ Hội Thánh, tôi tớ Đức Chúa Trời sẽ được cấp dưỡng và công việc Chúa sẽ phát triển khắp thế giới.
    5. Tránh sự ô uế (Phu 12:17-19) (Phu 12:19-13:18 18:9-22)
    Môi-se chỉ ra 4 phương cách kẻ thù có thể sử dụng để gài bẫy dân Y-sơ-ra-ên trong việc thực hành sự thờ hình tượng, và ông cảnh cáo dân sự tránh làm theo chúng.
    Tính tò mò của con người (Phu 12:29-32). Cư dân Ca-na-an đã làm xứ hết sức ô uế bằng hạnh kiểm cá nhân và những tập tục tôn giáo ghê tởm của họ, kể cả việc tế con cái họ cho các tà thần, thường là thần Mo-lóc “vật đáng gớm ghiếc của dân Am-môn” (c.31 IVua 11:5,33). Tập tục đáng khinh này bị cấm đối với dân Y-sơ-ra-ên (Phu 18:10 Le 18:20 20:2-5), nhưng trong những năm sau đó, cả vua lẫn thường dân trong Y-sơ-ra-ên đã từ bỏ luật pháp Đức Chúa Trời và tế lễ con cái họ (IIVua 17:16-17). Vua Giô-sia tin kính đã làm ô uế chỗ trong trũng Hi-nôm nơi lễ nghi ghê tởm này đã được thực hiện trong Giu-đa (Phu 23:10), nhưng vua Ma-na-se đem nó trở lại (IISu 33:6).
    Nhà tiểu luận người Anh Samuel Jchonson gợi tính tò mò là “một trong những đặc tính thường trực và chắc chắn của một người quá hiểu biết” và hẳn con cháu chúng ta đều học vì chúng tò mò về cuộc sống và thế giới mà chúng sống trong đó. Ai đó đã định nghĩa một đứa trẻ là “một hòn đảo của tính tò mò được bao quanh bởi một biển những dấu hỏi! Tuy nhiên có một số lĩnh vực về tri thức con người thật nguy hiểm để nghiên cứu, vì Đức Chúa Trời muốn dân Ngài “khôn ngoan về điều lành và vô tội về điều ác” (Ro 16:19 NASB). Chúng ta không cần phải kinh nghiệm tội lỗi để biết nó gây chết ra sao. Dân Y-sơ-ra-ên tò mò là những người nghiên cứu tập tục tôn giáo đáng khinh của dân Ca-na-an đều ở trong hiểm họa cám dỗ bản thân và cho Sa-tan cơ hội bước vào.
    Khi trưởng thành trong đức tin và trở nên vững vàng trong lời Chúa, chúng ta có thể cẩn thận nghiên cứu những triết lý và tư tưởng do các nhóm tôn giáo khác nhau đeo đuổi, nhưng chỉ như vậy chúng ta mới có thể chia sẻ Phúc Âm cho họ. Những người truyền giáo phải biết tư tưởng tôn giáo của những người mà Đức Chúa Trời sai họ đến để họ có thể truyền đạt cho những người ấy một cách hiệu quả. Điều này cũng đúng khi chúng ta nghiên cứu cái gọi là “tác phẩm cổ điển” thường được nhét sự ô trọc mang vẻ đạo đức và những sự công bình nghịch với niềm tin Cơ Đốc. Robert Murray M’Chegne viết cho một người bạn “hãy coi chừng không khí của những tác phẩm cổ điển? Quả thật chúng ta phải biết chúng, nhưng chỉ với tư cách những nhà hóa học xử lý chất độc – khám phá tính chất của chúng, không phải để làm máu họ nhiễm độc (5). Có sự giúp đỡ của Đức Chúa Trời, nhà nghiên cứu Cơ Đốc có thể thực hiện sự tiếp xúc mà không bị ô nhiễm, nhưng họ nên “tỉnh thức và cầu nguyện” để không bị cám dỗ và sa vào tội lỗi.
    Sự cám dỗ từ các tiên tri (Phu 13:1-5) (6). Đức Chúa Trời đã dấy lên các tiên tri trong Y-sơ-ra-ên suốt những thời kỳ khi dân sự cần được kêu gọi trở lại với sự thờ phượng Chúa cách trung tín. Các nhà tiên tri thường được cho rằng không phải chỉ là những “thầy bói”, họ chủ yếu là những người cho biết trước, tuyên bố lời Đức Chúa Trời nhơn danh Chúa. Tiên tri trung tín nhân danh Đức Chúa Trời mà nói và chỉ rao sứ điệp của Đức Chúa Trời vì vinh hiển Đức Chúa Trời và vì ích lợi của dân sự Đức Chúa Trời.
    Nhóm từ chính trong đoạn 13 là “Ta hãy đi tìm kiếm các thần khác (c.2,6,13). Trong phân đoạn này, Môi-se mô tả một tiên tri nói trước một sự kiện và nó đã xảy ra, đó là sự thử nghiệm một tiên tri thật (18:21-22). Nhưng sau đó vị tiên tri này mời dân sự cùng ông ta thờ lạy các thần khác. Vì sao một tiên tri rao một sứ điệp thật được tiếp nối bằng một mời mời thờ lạy các tà thần? Vì những lý do tương tự, các lãnh đạo tôn giáo chi phái hay thậm chí tổ chức giáo phái của riêng họ: sự kiêu ngạo, dục vọng muốn có số người đi theo và thực hiện uy quyền, và dục vọng kiếm tiền. Dân Y-sơ-ra-ên biết rằng luật pháp Đức Chúa Trời cấm thờ hình tượng, nhưng luôn có những người không vững vàng sẽ mù quáng đi theo “một lãnh đạo tôn giáo thành công” mà không thử nghiệm quyết định của mình bằng lẽ thật của Đức Chúa Trời.
    Môi-se cho biết rõ rằng Lời Đức Chúa Trời là thật cho dù một tiên tri có thể làm bao nhiêu phép lạ hay dấu kỳ. Chúng ta không thử sứ điệp bằng những sự kiện siêu nhiên, chúng ta thử sứ điệp bằng Lời Đức Chúa Trời. Sa-tan có thể làm phép lạ (IITe 2:9 Kh 12:9) không phải hễ ai nói Chúa Giê-xu là “Chúa” và làm phép lạ đều là một con cái thật của Đức Chúa Trời trong tôi tớ của Đức Chúa Trời (Mat 7:21-23). Đức Chúa Trời đôi khi cho phép những điều này xảy ra để thử dân Ngài xem họ có vâng lời Ngài hay không. Dù người này từ đầu đã được Đức Chúa Trời kêu gọi, nhưng khi ông bảo dân sự bất tuân luật pháp Đức Chúa Trời, ông đã thôi làm một tôi tớ thật của Chúa. Vì ông dụ dỗ dân sự chống nghịch Chúa, ông phải bị xử tử.
    “Ngươi sẽ cất kẻ ác khỏi giữa mình như vậy” (Phu 13:5 NKJV). Lời tuyên bố này được tìm thấy ít nhất 8 lần nữa trong sách Phục truyền (17:7,12 19:19 21:21 22:21-22,24 24:7), và Phao-lô đã trích dẫn nó trong ICo 5:13 bằng việc đề cập đến kỷ luật trong Hội Thánh địa phương. Chúng ta không ném đá người có tội trong Hội Thánh mình, nhưng chúng ta phải dứt phép thông công bất cứ ai công khai sống trong tội lỗi và chối từ ăn năn, vâng lời Đức Chúa Trời. Vì sao? Vì lý do tương tự, người thờ hình tượng bị xóa bỏ (bởi sự chết) khỏi dân tộc Y-sơ-ra-ên: tội lỗi giống như men và khi nó không bị thanh tẩy, nó sẽ lan ra và làm ô nhiễm những người khác (ICo 5:6-8 Ga 5:9). Giống như nhà phẫu thuật loại bỏ mô tế bào ung thư khỏi cơ thể một bệnh nhân để ngăn nó lây lan, tập thể tín hữu địa phương cũng phải trải qua cuộc giải phẫu để duy trì sức khoẻ thuộc linh của Hội Thánh, dù đau đớn ra sao.
    Việc người kiện cáo phải ném đá trước tiên sẽ khích lệ người ấy suy xét nghiêm túc những sự việc chớ không nông nổi tố cáo một người vô tội (IVua 21:1-29). Phương pháp xử án là ném đá để mọi người có thể tham dự và phản đối việc thờ hình tượng. Hoặc tội lỗi của một người ảnh hưởng đến cả dân tộc (Gios 7:1-26) hoặc cả dân tộc phải đối phó với tội lỗi của một người đó.
    Đáng chú ý rằng biết bao người học thức nghiên cứu số tử vi của họ và tham vấn “đồng bóng” chuyên nghiệp là những người tuyên bố có khả năng nhìn thấu tương lai. Nếu con người thật sự có khả năng đó, họ đã có thể kiếm nhiều tiền trên thị trường chứng khoán hoặc ở trường đua ngựa và không phải kiếm sống bằng cách đọc con bài, nhìn sao, hay thăm dò những hòn bi thủy tinh. Trong bài nói chuyện sau đó, Môi-se kể tên những tập tục huyền bí cấm đối với dân Đức Chúa Trời, và một trong số những tập tục đó là hỏi Sa-tan để biết tương lai (Phu 18:9-13). Chúa Giê-xu đã cảnh cáo về tiên tri giả và các sứ đồ cảnh cáo về giáo sư giả (Mat 4:15-20 IICo 13:3-4,11 ITi 1:6-7 IIPhi 2:1-22).
    Sự cám dỗ từ bạn hữu và người thân (Phu 13:6-11). Chẳng khó khăn gì để phơi bày và tố cáo một tiên tri giả, nhưng một người thân hay bạn thiết hữu cám dỗ bạn thờ phượng một tà thần thì sao? Nếu sự cám dỗ là bí mật và việc thờ hình tượng cũng bí mật thì sao? Bao lâu bạn duy trì hình ảnh công khai của mình với tư cách một người thờ phượng Đức Giê-hô-va, bạn có thể tránh được việc làm người thờ phượng Ba-anh bí mật. Nhưng đối với sự gợi ý này, Môi-se đưa ra lời “không” mạnh mẽ. Dù vợ của người nam dụ dỗ người ấy thờ hình tượng. Vua Sa-lô-môn chẳng hạn (IVua 11:1-13), người chồng không nên bao che cho vợ nhưng phải đưa nàng đến những người có quyền và thậm chí dự phần trong việc xử tử nàng. Dân Do Thái phải yêu mến Chúa là Đức Chúa Trời họ thậm chí hơn cả họ yêu bạn hữu hay gia đình họ. Chúa Giê-xu đã đặt ra một điều kiện tương tự cho vai trò các môn đồ (Lu 14:25-27). Môi-se dạy rằng loại tử án này đã đặt sự kính sợ Chúa nơi những người còn lại trong dân và họ sẽ cân nhắc trước khi quay sang hình tượng (Phu 13:11 17:13 21:21). bài học cho Hội Thánh là “kẻ có lỗi, hãy quở trách họ trước mặt mọi người, để làm cho kẻ khác sợ” (ITi 5:20).
    Suốt những năm chức vụ mục sư, tôi thỉnh thoảng gặp những người thi hành chức vụ đã vỡ lòng, họ không thể đối phó với tội lỗi trắng trợn trong Hội Thánh, vì kẻ vi phạm có người thân trong ban trị sự hay trong hội chúng. Đáng buồn thay khi lời chứng của một Hội Thánh bị hủy hoại hoàn toàn vì cớ những người đặt gia đình họ lên trên Đức Chúa Trời và lời Ngài. “Sự hòa bình với bất cứ giá nào” không phải là phương cách hợp Kinh Thánh để giải quyết vấn đề vì “sự khôn ngoan từ trên mà xuống thì trước hết là thanh sạch, sau lại hòa thuận” (Gia 3:17). Sự hiệp nhất được đặt nền tảng trên sự giả hình sẽ không bao giờ bền lâu. Mặt khác tôi đã thấy những người tin kính đứng cùng hội chúng trong việc kỷ luật người thân mình là những người đem đến sự xấu hổ cho danh Đấng Christ và Hội Thánh.
    Sự cám dỗ từ đám đông (Phu 13:12-18). “Ngươi chớ theo đám đông để làm ác” (Xu 23:2 NKJV). Nếu một người phạm sự gian ác, thì việc hằng trăm người tán thành điều đó không thay đổi tính chất của nó. Chính Đức Chúa Trời là Đấng định nghĩa tội lỗi là gì và chúng ta phải đối phó với nó ra sao. Đức Chúa Trời cai trị dân Ngài bằng sắc lệnh, không phải bằng sự nhất trí. Làm sao cả một thành trong Y-sơ-ra-ên lại có thể xây lưng với Chúa và bắt đầu thờ các tà thần? Bằng cách không đối phó với những người đầu tiên trong thành đã quay sang tà thần. Các quan trưởng không vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời và không thanh trừng điều ác khỏi thành, nên tội lỗi dễ dàng lan từ người này sang người khác và cuối cùng tiêm nhiễm mọi người. Khi bạn nhớ rằng xứ thuộc về Chúa (Le 25:23), rằng Ngài nhân từ cho dân Do Thái sống ở đó, và chỉ một mình Ngài có quyền đặt ra các luật lệ, bạn có thể thấy rằng một thành thờ hình tượng là đã phạm trọng tội.
    Quan trọng là vấn đề phải được thẩm tra triệt để và chính xác. “Ai trả lời một vấn đề trước khi nghe, thật điên dại và xấu hổ cho người đó” (Ch 1:13 NKJV). Nếu lời tố cáo được nhận thấy là có thật, của cải và tài sản của bị cáo phải bị thiêu trong thành như một của lễ thiêu cho Chúa. Ai cáo phải bị giết và thành đó phải bị huỷ diệt mà không còn gì được để lại. Nó phải bị trở thành một “đống” dịch ra từ Hê-bơ-rơ “tel”) là một đống đổ nát. Đống đổ nát sẽ là một chứng cớ thường trực để cảnh cáo dân Do Thái đừng thờ hình tượng.
    Nhưng dân tộc Y-sơ-ra-ên có thể đủ khả năng để mất một thành và toàn bộ cư dân của nó sao? Vâng, vì Đức Chúa Trời sẽ làm đầy dẫy dân sự Ngài và ban phước cho họ về sự vâng lời Ngài và tôn trọng danh Ngài. Tại sao không xây lại thành và khởi đầu lại tất cả? Vì Đức Chúa Trời phán nó phải cứ là một đống đổ nát mãi mãi và không bao giờ được xây dựng lại. Sự tính toán của con người sẽ nói rằng đây là một thiệt hại lớn, nhưng sự khôn ngoan thiêng liêng nói đó là một lợi lớn vì một vết thương mưng mủ đã được cất bỏ khỏi dân tộc.
    Tiếc thay, Y-sơ-ra-ên đã không vâng theo những luật này và sự thờ hình tượng nhân lên trong dân tộc suốt triều đại Sa-lô-môn và sau khi vương quốc bị chia cắt. Khi Giê-rô-bô-am trở thành vua của vương quốc phía Bắc Y-sơ-ra-ên ông làm cho sự hình tượng trở nên chính thức bằng cách lập hai con bò con vàng để dâng sự thờ lạy, một con ở Đan và một con ở Bê-tên. Bằng cách này, ông khích động dân sự đừng đến Giê-ru-sa-lem để thờ phượng (IVua 12:25). Vì sự thờ hình tượng của mình, Y-sơ-ra-ên đã sa vào A-sy-ri năm 722 TC và Giu-đa sa vào Ba-by-lôn năm 606-586 TC. Đức Chúa Trời muốn dân này bị tản lạc và nơi thánh bị hủy phá hơn là dân Ngài thờ tà thần. Dân sự quên rằng chính Chúa Giê-hô-va đã giải cứu họ khỏi Ai Cập và ban xứ cho họ (Phu 13:5,10).
    6. Tôn trọng Lời Đức Chúa Trời (Phu 12:17-19) (Phu 18:9-22)
    Nếu dân Chúa không biết Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống và không có Lời Ngài dẫn dắt, họ phải tìm ra những điều thay thế để giúp họ thực hiện những quyết định và đối diện với những đòi hỏi của đời sống. Thay vì thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, dân sự ở Ca-na-an đã thờ lạy các lhình tượng chết (Thi 115:1-18), và họ thay thế lời Đức Chúa Trời bằng những tập tục mê tín liên kết họ với Sa-tan và những thế lực ma quỉ của nó. Dù những chuyên gia về “các tôn giáo tương đối” có thể nói gì, tôn giáo thờ hình tượng của dân ngoại là sự thờ lạy Sa-tan (ICo 10:14-22 Kh 9:20). Sự bùng nổ về những điều huyền bí mà chúng ta đã nhìn thấy trong những năm gần đây là chứng cớ con người đang tìm kiếm sự giúp đỡ thuộc linh họ cần theo hướng sai lầm. Hãy tham quan bất cứ tiệm sách lớn nào của thế gian thì bạn sẽ tìm thấy những kệ sách nói về Sa-tan, ma quỉ, ma thuật và những chủ đề tương tự. Những người không yêu thích lẽ thật phải đi đến chỗ tin những điều giả dối (IITe 2:7-12) và chỉ có Chúa Giê-xu mới có thể cứu họ khỏi ách nô lệ mà những tập tục huyền bí này đem đến đời sống họ.
    Những sự gớm ghiếc của Sa-tan (Phu 18:9-13). Đức Chúa Trời cấm dân sự Ngài có bất cứ điều gì liên hệ với những tập tục huyền bí. Môi-se đã đề cập một số “những sự gớm ghiếc” này (c.9,12 “những tập tục đáng ghê tởm” NIV và cảnh cáo Y-sơ-ra-ên đừng xen vào chúng (Xu 22:18 Le 17:7 19:26,31 20:6,27). Vì vậy đây không phải là một chủ đề hoàn toàn mới mẻ nhưng ở đây ông đi vào chi tiết lớn hơn. Tiên tri Ba-la-am khám phá rằng không phù phép nào có thể làm hại Y-sơ-ra-ên (Dan 23:23), nhưng chỉ người Do Thái có thể gài bẫy chính họ nếu họ nghiên cứu những tập tục nguy hiểm này và vướng vào đó. Một lý do Đức Chúa Trời ra lệnh cho Y-sơ-ra-ên phải tiêu diệt các dân ở Ca-na-an đó là vì những tập tục huyền bí của họ (Phu 18:14) và tại sao người chiến thắng phải đi theo tôn giáo đem đến sự xét đoán cho kẻ chiến bại?
    Để không kết luận rằng những lời cảnh cáo này về những sự huyền bí không áp dụng cho Cơ Đốc nhân trong “thời đại sáng tỏ” này, chúng ta cần được nhắc nhở rằng sự thờ hình tượng và ma thuật được kể vào những tội lỗi của xác thịt trong Ga 5:19-21 và sách Khải Huyền dạy rằng những tập tục huyền bí sẽ rất lan rộng trong thời kỳ sau rốt (Phu 9:20-21 18:2). Thật ra, những ai tham dự vào những việc như thế đều thuộc trong số những kẻ bị định cho hồ lửa (21:8 22:14-15).
    Trong Phu 18:10-11 Môi-se liệt kê những tập tục bị Đức Chúa Trời cấm, bắt đầu bằng việc giết con cái, một chủ đề chúng ta đã bàn luận (12:31). Nếu bạn muốn thờ phượng Sa-tan, bạn phải trả giả nó đòi hỏi. Nó sẽ cho bạn điều bạn muốn nếu bạn cho nó điều nó muốn. Nó đã đề nghị cho Chúa Giê-xu những vương quốc của thế gian để bù cho một hành động thờ lạy (Mat 4:8-10), và nó chế nhạo Gióp và tuyên bố rằng ông thờ phượng Đức Chúa Trời chỉ vì Chúa đã thưởng cho ông (Giop 1:1-2:13). Có lẽ những bài thơ, tiểu thuyết và vở kịch trong văn học xưa và nay nói về những người bán mình cho Sa-tan, nhận phần thưởng của họ, và sau đó hối hận họ đã bước vào trong sự mặc cả. Có lẽ vở nổi tiếng nhất là Geothe’s Tragedy (Bi kịch của Goethe) của tiến sĩ Faustus).
    Tập tục bị cấm thứ hai là sự bói toán, nghĩa là tìm cách đạt được sự hiểu biết huyền bí, đặc biệt về những sự kiện tương lai. Sự bói toán được thực hành phổ biến trong thế giới cổ đại ở những phương diện khác nhau, kể cả việc giải nghĩa các điềm, dò sao, kiểm tra các cơ quan của thú vật, dùng roi thần thánh, giải nghĩa chiêm bao quan sát chuyển động của nước và liên lạc với người chết (ISa 28:1-25). Ở phương diện nào đó, việc tế con cái cũng có liên quan đến sự bói toán. Đồng bóng, thầy pháp và các nhà theo thuyết duy linh thẩm vấn người chết với hy vọng biết những điều cấm kỵ về tương lai.
    Thầy bói muốn biết tương lai, nhưng thầy phù thủy muốn điều khiển con người và tương lai bằng cách sử dụng nhiều hình thức ma thuật, phù phép và bùa chú. Bằng cách liên kết với ma quỉ và phù chú, thuật sĩ và phù thủy tìm cách tác động đến con người và sự kiện để đạt những mục đích riêng ích kỷ của họ. Con người trong thế giới khoa học ngày nay có thể chế diễu những điều này, nhưng bất cứ người rao giảng Tin Lành nào cũng có thể cho bạn biết về ảnh hưởng của ma quỉ đã cầm giữ nhiều dân tộc lạc hậu trong ách nô lệ và sự sợ hãi. Chắc chắn những thế lực ma quỉ đang hành động ở thế giới phương Tây “tân tiến” ngày nay, nhưng chúng hoạt động với sự tinh vi hơn và không phải lúc nào cũng dễ phát hiện. Những ai muốn phủ nhận ảnh hưởng của ma quỉ trong Hội Thánh ngày nay sẽ phải giải thích sự phổ biến của thuyết ma quỉ khi Đấng Christ ở trên đất này và sự chiến thắng của Ngài trên ma quỉ. Họ cũng phải xem xét kỹ sự ủy nhiệm của Chúa đối với các môn đồ ngài (Mac 3:14-25 Lu 9:1) và sự từng trải của họ khi giúp đỡ những người bị quỷ ám (10:17). Còn chức vụ của Phao-lô (Cong 19:11) và điều Phao-lô viết về ma quỉ cho các tín hữu các Hội Thánh thì sao? (ICo 10:20-21 Ro 8:37-39 Eph 6:10-18)? (7).
    Nếu có bất cứ người Do Thái nào từng quan tâm đến việc chính bản thân, làm quen với những tập tục gian ác này, người ấy phải xem xét lời khuyên kết thúc của Môi-se “Ngươi phải không chỗ trách trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phu 18:13 NIV) “Không chỗ trách” không phải ngụ ý sự hoàn hảo không tội lỗi nhưng là một tấm lòng tận hiến cho Chúa. Nó nói đến tính chính trực và một tấm lòng trọn vẹn, là điều Đa-vít muốn nói khi ông viết “Tôi sẽ lấy lòng trọn vẹn mà ăn ở trong nhà tôi” (Thi 101:2b).
    Bài “Shema” của người Do Thái tuyên bố “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn và hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phu 6:5 NIV).
    Sự mặc khải của Đức Chúa Trời chân thật (Phu 18:14-19). Dân Y-sơ-ra-ên không cần thử nghiệm những tôn giáo mới vì Chúa đã mặc khải chính Ngài và Lời Ngài cho họ qua tiên tri Ngài chọn là Môi-se. Một khi bạn có điều thật này, tại sao lại đi tìm kiếm những thứ thay thế? Lẽ ra Y-sơ-ra-ên có thể nói với các dân tộc ở Ca-na-an điều mà Chúa Giê-xu đã nói với người đàn bà Sa-ma-ri tại giếng Gia-cốp. “Các ngươi thờ lạy sự các ngươi không biết, chúng ta thờ lạy sự chúng ta biết, vì sự cứu rỗi bởi người Giu-đa mà đến” (Gi 4:22). Trong lời tuyên bố này, Chúa Giê-xu bác bỏ mọi tôn giáo khác ngoại trừ đạo Giu-đa thời Cựu Ước và Cơ Đốc giáo thời Tân Ước, và Cơ Đốc giáo đến từ đạo Giu-đa và làm trọn đạo ấy.
    Môi-se cho dân sự biết trước rằng Đức Chúa Trời sẽ dấy lên những tiên tri khác khi dân tộc cần họ, và dân sự phải chú ý sứ điệp của họ và vâng theo, vì sứ điệp của họ sẽ là lời Đức Chúa Trời. Môi-se nhắc dân sự rằng tại núi Si-nai họ đã yêu cầu ông cho họ biết sứ điệp của Đức Chúa Trời, vì họ sợ nghe tiếng Đức Chúa Trời (Xu 20:18-21), không phải tất cả các tiên tri đã viết ra những sứ điệp của họ để các thế hệ tương lai đọc và nghiên cứu, nhưng Môi-se đã làm vậy và Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Đa-ni-ên cùng 12 người mà chúng ta gọi là “những tiên tri nhỏ” cũng làm vậy. Những tiên tri này không những đã quở trách Y-sơ-ra-ên về tội lỗi và khích lệ họ trong cách sống thánh khiết nhưng họ còn chỉ ra sự đến của Đấng Mê-si, Đấng sẽ là Cứu Chúa của thế gian. Suốt thời gian đồng đi với hai môn đồ ở Em-ma-út, Chúa Giê-xu đã bắt đầu từ “Môi-se và mọi tiên tri” và “cắt nghĩa cho họ những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh” (Lu 24:27).
    Bao thế kỷ qua, các học giả Do Thái đã giải nghĩa Phu 18:15 đề cập đến một tiên tri đặc biệt sẽ xuất hiện trước khi Đấng Mê-si đến thiết lập Vương quốc Ngài. Từ Ma 4:5 dân Do Thái biết rằng Ê-li-sê trở lại vào cuối thời đại này, và họ tự hỏi liệu đó có phải là Giăng Báp-tít, người ăn mặc và thi hành chức vụ thật giống Ê-li (Lu 5:1-9 Mat 3:4). Giăng phủ nhận điều đó và cũng phủ nhận rằng ông là tiên tri mà Môi-se báo trước (Gi 1:19-21) theo một ý nghĩa nào đó, Giăng là một “Ê-li” dọn đường cho Đấng Christ (Mat 11:14 17:12 Lu 1:13-17), nhưng Giăng không nhận mình là sự ứng nghiệm của Mlachi 4:5) (Để có lời Môi-se viết về Đấng Christ, (Gi 1:19-28,45 5:46 6:14 7:40).
    Môi-se không chỉ báo trước toàn bộ những tiên tri Chúa sẽ sai đến; ông cũng báo sự xuất hiện của Đấng tiên tri là Chúa Giê-xu Christ. Ít nhất đó là cách Phi-e-rơ giải thích điều ấy trong Cong 3:22-26. Chúa chúng ta có ba chức vụ, chức vụ của tiên tri, Thầy tế lễ và vua. Khi thi hành chức vụ trên đất, Ngài tuyên bố Lời Đức Chúa Trời với tư cách Đấng tiên tri, và bởi sự hà hơi của Thánh Linh Ngài khi cho Lời ấy được viết ra cho chúng ta học biết. Ngài cầu thay cho dân sự Ngài với tư cách thầy tế lễ thượng phẩm trên trời, và Ngài cũng ngự trên ngôi và cai trị với tư cách Vua, thực hiện những mục đích của Ngài trên thế gian này (ICo 15:25 Eph 1:18-23). Một ngày nào đó Ngài sẽ tái lâm và cai trị trên đất, và tư cách Vua muôn vua (Kh 19:11).
    Nhận biết tiên tri thật (Phu 18:20-22). Môi-se báo trước rằng sẽ có những tiên tri do Đức Chúa Trời sai đến Y-sơ-ra-ên để dạy họ điều họ cần biết, nhưng câu hỏi hợp lý con người muốn hỏi là “Làm sao chúng tôi có thể phân biệt một tiên tri thật với một tiên tri giả?” Môi-se đã cho họ biết rằng mọi điều một tiên tri nói và làm phải được kiểm chứng bởi Lời Đức Chúa Trời (13:1-5), và ông lập lại lời cảnh báo đó “Còn kẻ tiên tri có lòng kiêu ngạo, nhơn danh ta nói điều chi ta không biểu người nói, hay là nhơn danh các thần khác mà nói, thì kẻ tiên tri ấy phải chết” (18:20). Sự thử nghiệm này có căn cứ dù lời tiên đoán của vị tiên tri trở thành sự thật hoặc ông ta làm những dấu và phép lạ. Nhưng sự thử nghiệm cuối cùng là các tiên tri thật của Đức Chúa Trời luôn chính xác 100% (c.22) “Các tiên tri” ngày nay khoe mình nói chính xác 75%, hoặc có thể 80%, nhưng sự thú nhận đó chỉ khiến họ mang nhãn hiệu tiên tri giả. Tiên tri được Đức Chúa Trời sai phái không bao giờ nói sai điều gì người báo trước đều sẽ xảy ra.
    Tín hữu ngày nay phải vận dụng sự sáng suốt thuộc linh vì “nhiều tiên tri giả đã hiện ra trong thiên hạ” (IGi 4:1-6). Giăng cho biêt rõ rằng cuộc thử nghiệm đầu tiên về một người rao giảng Lời Chúa thật đó là sự xưng nhận rằng Chúa Giê-xu đã đến trong xác thịt và thật sự là tôi tớ Đức Chúa Trời, Thánh Linh ngự trong lòng bạn sẽ đáp ứng với lời được dạy dỗ (IGi 2:18-27). Sứ điệp sẽ đúng với Kinh Thánh và tôn cao Chúa Giê-xu (8).
    Môi-se đang tập trung vào sự thờ phượng Chúa thật, một chủ đề rất quan trọng đối với Hội Thánh hôm nay. Tôi đã từng đi khắp thế giới và thấy rằng các bạn có những kiểu thờ phượng khác nhau ở những quốc gia khác nhau giữa các dân tộc khác nhau. Tôi và vợ tôi đã dự những lễ thờ phượng chính thức trong các nhà thờ lớn cũng như những buổi nhóm thân mật tại các gia đình hay thậm chí ngoài trời và lòng chúng tôi được phước hạnh. Điều quan trọng không phải là văn hóa hay ngoại cảnh nhưng là chúng ta thờ phượng Chúa “bằng tâm thần và lẽ thật” (Gi 4:24). Sự thờ phượng thật đến từ bên trong từ một tấm lòng đầu phục Chúa hoàn toàn, và sự thờ phượng thật được điều khiển bởi Thánh Linh và Lời Đức Chúa Trời (Eph 5:18-21 Co 3:16-20). Những cảm xúc chủ quan của chúng ta phải được kiểm soát bởi Kinh Thánh và được thúc đẩy bởi Thánh Linh. Sự thờ phượng giả tạo thật nguy hiểm vì có thể mở cửa cho những ảnh hưởng của ma quỉ. Sa-tan là một kẻ giả mạo (IICo 11:13-15) biết cách dẫn những người thiếu sáng suốt đi xa Đấng Christ và lẽ thật. Họ nghĩ mình được đầy dẫy Thánh Linh khi họ thật sự bị các thần lừa dối.
    “Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình về hình tượng” (IGi 5:22)
    Phu 12:19-32; xem giải nghĩa Phu 12:17-19
    Phu 13:1-18; xem giải nghĩa Phu 12:17-19
    6. THỨC ĂN VÀ NHỮNG KỲ LỄ (Phu 14:1-16:17)
    Sự thờ phượng không phải là một “thỏa thuận kinh doanh” với Đức Chúa Trời mà bởi đó chúng ta đồng ý ngợi khen Ngài nếu Ngài sẽ đồng ý chúc phước cho chúng ta (xem Giop 1:6-12). Mục đích chủ yếu của chúng ta trong việc thờ phượng Đức Chúa Trời là làm đẹp lòng và quy vinh danh Ngài, nhưng một trong những sản phẩm phụ về thuộc linh của sự thờ phượng thật đó là chúng ta trở nên giống Đấng Christ hơn (IICo 3:18). Môi-se đã không biết rằng ông có một gương mặt chói sáng (Phu 34:29), và chúng ta không phải lúc nào cũng nhận biết sự biến đổi Chúa làm trong tấm lòng và đời sống chúng ta vì chúng ta trải qua thời gian với Ngài. Tuy nhiên, chúng vẫn hiện diện, mà người khác nhìn thấy và ngợi khen Đức Chúa Trời. Sự thờ phượng là sự ưu tiên cao nhất và đặc quyền lớn nhất của chúng ta.
    Trong những chương này, Môi-se giải thích thêm sự thờ phượng của Y-sơ-ra-ên và tập trung vào loại dân mà họ và chúng ta phải trở thành với tư cách dân thuộc về Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống.
    1. Một dân thánh (Phu 14:1-21)
    Chúng ta đừng bao giờ xem nhẹ việc chúng ta là “con cái Giê-hô-va Đức Chúa Trời” và “một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời” (c.1-2). Đây là những đặc quyền chúng ta không xứng đáng nhận và chúng ta không bao giờ có thể kiếm được, và chúng ta vui hưởng chúng chỉ bởi tình yêu và ân điển của Đức Chúa Trời. Chúa đã tuyên bố với Pha-ra-ôn, “Y-sơ-ra-ên là con ta, tức trưởng nam ta” (Xu 4:22 Gie 31:9), và vì Pha-ra-ôn không muốn nghe và vâng theo, Ai Cập đã mất mọi con đầu lòng của họ.
    Tại núi Si-nai, trước khi ban luật pháp, Chúa đã tuyên bố với Y-sơ-ra-ên, “các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta” (Xu 19:6). Vì mối liên hệ duy nhất của họ đối với Chúa với tư cách tuyển dân và là châu báu đặc biệt của Ngài, dân Y-sơ-ra-ên có trách nhiệm vâng lời Ngài và thật sự làm một dân thánh. Mối liên hệ của họ với Chúa là yếu tố quan trọng nhất trong đời sống dân tộc họ, vì nếu không có Chúa, Y-sơ-ra-ên sẽ giống như tất cả các dân tộc khác. Là một dân thánh họ phải biết phân biệt những điều khác nhau.
    Dân thánh và dân không thánh (Phu 14:1-2). Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “thánh” có nghĩa “được biệt riêng và đánh dấu, khác biệt và hoàn toàn khác”. Từ tiếng Anh “thánh” xuất phát từ một từ tiếng Anh cổ có nghĩa “trọn vẹn, lành mạnh”. Sự lành mạnh và trọn vẹn đối với thân thể thế nào sự thánh khiết đối với con người bên trong thể ấy. Là một dân tộc thánh dân Do Thái được biệt riêng với tất cả các dân tộc khác vì sự hiện diện thánh khiết của Chúa ở cùng họ và họ đã nhận được thánh luật của Đức Chúa Trời (23:14 Ro 9:4). Vì là một dân thánh, họ không được bắt chước những tập tục gian ác của người lân cận, như việc rạch mình và cạo đầu để than khóc (IVua 18:28 Gie 16:6 41:5). Điều này nhắc chúng ta về Ro 12:2 “Đừng làm theo đời này, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình”.
    Phân đoạn này mở đầu và kết thúc bằng lời nhắc nhở tương tự: “vì ngươi là một dân thánh cho Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” (Phu 14:2,21) trong sách Lê-vi ký. Chúa bảo dân sự “Hãy nên thánh, vì ta là thánh” (11:44-45 19:2 20:7,26 21:8), một lời khuyên được Phi-e-rơ trích dẫn trong thư tín đầu của ông để Hội Thánh hôm nay vâng theo (IPhi 1:15-16). Hội Thánh địa phương là một đền thờ thánh (ICo 3:17) và là một chức tế lễ thánh là Phi-e-rơ (2:5), do đó các tín hữu phải biệt mình khỏi sự ô uế của thế gian và tìm cách hoàn thiện sự thánh khiết trong sự kính sợ Đức Chúa Trời (IICo 6:14-7:1). Thật nản lòng khi đọc những nghiên cứu thống kê và khám phá rằng, nói đến đạo đức, những người tự xưng là Cơ Đốc nhân không tin kính hoặc sống khác gì nhiều với những người không theo đạo. Nhưng dân sự Đức Chúa Trời phải “được biệt riêng, được đánh dấu và khác biệt” để chúng ta có thể “quảng cáo” nhơn đức vinh hiển của Chúa (IPhi 2:9).
    Vật thanh sạch và vật không thanh sạch (Phu 14:3-21). Dân Y-sơ-ra-ên phải bày tỏ sự khác biệt” thậm chí bằng những thứ họ ăn. Chúng ta đã hiểu rằng dân Do Thái không được phép ăn thịt còn huyết trong đó (12:16,23 15:23) và giờ đây Môi-se nhắc họ về những sinh vật họ được phép ăn (Le 11:1-23).
    Sự phân biệt giữa những của lễ “thanh sạch và không thanh sạch” đã được biết trong thời Nô-ê (Sa 7:1-10) do đó phải được nói cho tổ phụ chúng ta khi Đức Chúa Trời dạy họ thờ phượng. Trong luật pháp Do Thái, những từ “thanh sạch” và “không thanh sạch” không có liên quan gì đến bản chất bên trong hay giá trị của những sinh vật. Đây là một ấn định do Chúa ban vì những lý do không phải luôn được giải thích. Một số nhà nghiên cứu tin rằng dân Do Thái được sức khoẻ tốt luôn vì họ đã tránh ăn những thức ăn nào đó (1), nhưng Chúa Giê-xu và cả các sứ đồ đã tuyên bố mọi thức ăn đều sạch (Mac 7:14-23 Cong 10:9-25 Ro 14:1-15:13), những thức ăn được gọi là “lành mạnh” cũng như “không lành mạnh”. Kiêng ăn là một kỷ luật thuộc linh được chấp nhận, khi được kết hợp với sự cầu nguyện, nhưng “ấy chẳng phải là đồ ăn làm cho chúng ta được đẹp lòng Đức Chúa Trời, nếu chúng ta ăn, chẳng được ích gì, bằng không ăn, cũng chẳng tổn gì” (ICo 88). Tín hữu nào nghĩ mình tốt lành hơn người khác vì những thứ họ ăn hoặc không ăn, cần phải suy gẫm Co 2:16-23.
    Có lẽ Đức Chúa Trời tuyên bố một số sinh vật là “không thanh sạch” như một cách dạy dỗ dân sự Ngài thực hành sự nhận biết và cư xử như một dân thánh trong những hoạt động thường nhật của đời sống, chẳng hạn như việc ăn. Nguyên tắc tương tự áp dụng cho tín hữu hôm nay. “Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm” (ICo 10:31). Khi chúng ta tạ ơn và cầu xin sự chúc phước của Đức Chúa Trời trước khi dùng bữa, chúng ta không chỉ nhận biết sự thành tín và nhân từ của Ngài trong việc chu cấp thức ăn hằng ngày, chúng ta cũng đang cho Ngài biết rằng chúng ta muốn tôn trọng Ngài trong những thứ chúng ta ăn và cách chúng ta ăn. người Do Thái nào muốn làm vinh hiển Đức Chúa Trời sẽ từ chối ăn bất cứ vật gì Chúa đã cấm.
    Yếu tố nữa trong những luật lệ ăn kiêng có thể đó là những sinh vật bị cấm về phương diện nào đó có liên quan với sự thờ phượng ngoại giao mà Y-sơ-ra-ên phải tránh. Lời khuyên về việc nấu thịt dê con trong sữa mẹ nó (Phu 14:21 Xu 23:19 34:26) có thể rơi vào phạm trù đó. Một số học giả nghĩ đây là “lễ nghi về sự màu mỡ” của ngoại giáo và sữa được tưới trên đồng ruộng để kích thích những vụ mùa dư dật nhưng chúng ta không có bằng chứng khảo cổ nào để truy lại sự giải thích này. Chúng ta thật biết rằng luật lệ kỳ lạ này giải thích lý do dân Do Thái chính thống không dùng sữa và thịt chung tại một bữa ăn.
    Sự thật này bao gồm thú vật trên đất (Phu 14:4-8), sinh vật dưới nước (c.9-10), chim (c.11-18) và côn trùng bay (c.19-20). Sinh vật dưới nước và loài chim là những con vật bị cấm, có lẽ vì ai ăn chúng có thể nhiễm ký sinh trùng và mắc bệnh. Chúng ta hãy nhớ rằng đồ ăn của Giăng Báp-tít là châu chấu và mật ong rừng (Le 11:20-23 Mat 3:4). Cuối cùng chúng ta phải thừa nhận rằng chúng ta không biết một số sinh vật này là gì và không hể nhận biết chúng với những sinh vật chúng ta biết hôm nay. Chẳng hạn, con thỏ rừng (Phu 14:7) chắc chắn không phải giống như “con thỏ” của chúng ta dù Kinh Thánh NIV dịch như vậy. Con thỏ không nhơi thức ăn dù những chuyển động của hàm lỗ mũi nó có vẻ giống như đó là điều nó đang làm.
    Lời khuyên sau cùng không ăn sinh vật chết (c21) có liên quan đến luật lệ quan trọng rằng dân Do Thái không được ăn huyết, và có thể có huyết trong xác chết thú vật. Lý do cuối cùng đó là dân Do Thái không được đụng đến xác chết vì điều này khiến họ bị ô uế (Le 11:24-25 22:8). Nếu một người Do Thái thấy một con vật chết, người ấy có thể cho một người ngoại trong xứ hay bán nó cho một người khách, vì không ai trong họ chịu thẩm quyền của luật pháp Do Thái. Có một số việc người thế gian có thể làm mà Cơ Đốc nhân không thể làm và thậm chí không nên muốn làm, vì Cơ Đốc nhân thuộc về Chúa và muốn vâng lời Ngài. Như câu Châm ngôn quen thuộc nói rằng “những người khác có thể bạn không thể”. Đức Chúa Trời có mọi quyền để bảo chúng ta những gì chúng ta có thể có quanh mình (Phu 12:1-3) và những gì chúng ta có thể đặt bên trong mình.
    Một dân rời rộng (Phu 14:22-29). Khi nghiên cứu Phục Truyền luật lệ ký đoạn 12, chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời ra lệnh dân Ngài dâng 1/10 huê lợi của họ (lúa, hoa quả, rau và thú vật, cho Ngài như một hành động thờ phượng và một sự bày tỏ lòng biết ơn về sự ban phước của Ngài. Hằng năm, mỗi gia đình phải đến nơi thánh mang theo phần mười của họ, dự tiệc ở đó và chia sẻ 1/10 với người Lê-vi, là những người sẽ chia sẻ phần mười đó với các thầy tế lễ (Dan 18:20-32). Môi-se lập lại điều răn này, vì nói đến việc dâng hiến cho Chúa, một số người cần được nhắc nhở nhiều hơn (IICo 3:10-11 9:1-5).
    Dân Y-sơ-ra-ên phải rời rộng với những phần mười mình và của dâng vì Chúa đã rời rộng với họ. Mỗi lần họ đem phần mười và lễ vật đến nơi thánh và dự một bữa tiệc tạ ơn, điều đó sẽ dạy họ kính sợ Chúa (Phu 14:23), vì nếu Chúa không chúc phước cho họ, họ sẽ không có gì để ăn và không có gì để dâng. Như Đa-vít đã nói, mọi thứ chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời trước tiên đến từ bàn tay Ngài và tất cả đều thuộc về Ngài (ISu 29:16). Khi chúng ta thôi kính sợ Đức Chúa Trời và không cảm kích sự chu cấp dư dật của Ngài, chúng ta trở nên kiêu ngạo bắt đầu xem nhẹ những ơn phước của Ngài. Vậy Chúa phải sửa phạt chúng ta để nhắc nhở chúng ta rằng Ngài là Đấng Ban Cho mọi của ban cho.
    Mỗi năm thứ ba, dân sự phải dâng cho Chúa một phần mười thứ hai còn lại trong các thành của họ và được sử dụng để nuôi người Lê-vi cùng người nghèo trong xứ đặc biệt là góa phụ và cô nhi. Người Lê-vi hầu việc tại nơi thánh nhưng bị phân tán khắp Y-sơ-ra-ên. Nếu dân Y-sơ-ra-ên bày tỏ sự quan tâm đối với nhu cầu kẻ khác, Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho những người lao động và giúp họ có thể dâng hiến nhiều hơn (Phu 14:29). Chúa chúng ta đã hứa “Hãy cho, người sẽ cho mình, họ sẽ lấy đấu lớn, nhận, lắc cho đầy tràn, mà nộp trong lòng các ngươi” (Lu 6:38) “Hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều” (IICo 9:6).
    Là Cơ Đốc nhân hưởng ơn phước của ân điển Đức Chúa Trời chúng ta phải hành động nhiều hơn dân Do Thái là dân sống trong sự sắp đặt của luật pháp Môi-se. Tân Ước không đòi hỏi chúng ta phải dâng hiến bao nhiêu, nhưng kêu gọi chúng ta đóng góp vào theo tỉ lệ với phước hạnh chúng ta nhận từ Chúa (ICo 16:1-2 IICo 8:1-9:15). Cơ Đốc nhân tính toán sẽ luôn là người mất mát, Cơ Đốc nhân rời rộng sẽ hưởng ơn phước của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, kỹ nghệ gia Cơ Đốc R.G.Le Tourneau thường cảnh cáo “nếu bạn dâng vì nó có lợi, nó sẽ không có lợi”. Động cơ của chúng ta phải làm là làm đẹp lòng Đức Chúa Trời và qui vinh hiển cho Ngài.
    2. Một dân tin cậy (Phu 15:1-18)
    Ai nghĩ rằng phải có đức tin lớn để dâng cho Đức Chúa Trời 1/10 huê lợi của mình, có lẽ sẽ bị sốc khi đọc đoạn luật pháp này giống như mọi ngày thứ 7 trong tuần được biệt riêng cho Đức Chúa Trời làm Ngày Sa-bát, mọi năm thứ 7 cũng được biệt riêng làm năm Sa-bát. Suốt năm đó, dân Do Thái không phải cày cấy đất nhưng cho đất nghỉ ngơi. Dân sự sẽ phải tin cậy Đức Chúa Trời sản sinh ra thóc lúa (rau quả mà họ cần cho chính họ và cho bầy chiên và bầy gia súc của họ (Le 25:1-7). Cứ năm thứ 50 là một “Năm Hân Hỉ” (c.8) khi đất hưu canh cho năm sau! Thật sự cần có đức tin của dân sự để tin cậy Đức Chúa Trời về những thứ họ cần cho hai năm dài!
    Con nợ nghèo (Phu 15:1-4). Nhưng năm Sa-bát có liên quan nhiều hơn là sự nghỉ ngơi cho đất (Xu 23:10-11). Nó cũng có nghĩa là xóa nợ (Phu 15:1-11) và phóng thích tôi tớ đã phục vụ 6 năm (c.12-18). Các nhà nghiên cứu Kinh Thánh không nhất trí về việc liệu có phải toàn bộ món nợ được xóa hay chỉ phần lãi của món nợ cho năm đó (31:10) (2) “Ngươi chớ đòi người Y-sơ-ra-ên đồng bạn ngươi hay anh em ngươi trả nợ” (15:2 NIV). Tuy nhiên, họ có thể thu lời từ người ngoại bang. Vì dân sự không được huê lợi nào của xứ họ, họ sẽ không thể trả nợ dễ dàng. Nhưng điều gì là một thử nghiệm về đức tin đối với một số người sẽ là một sự đáp lời cầu nguyện đối với người nghèo và người túng thiếu. Họ được phép tự do ăn từ những đồng ruộng, vườn cây ăn quả và được bán một năm để dành dụm tiền trả nợ.
    Sự mâu thuẫn dường như có giữa c.4 (“chẳng nên có kẻ nghèo ở giữa ngươi” c.7 và 11 “kẻ nghèo sẽ chẳng bao giờ dứt khỏi xứ”) được giải quyết bằng cách chú ý đến văn cảnh. Suốt năm Sa-bát, người cho vay buộc phải xóa nợ (hay lãi nợ) của anh em Do Thái nghèo của họ, trừ khi không có người Do Thái nghèo nàn nợ họ tiền; và sẽ không có người nào nghèo nếu dân sự vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời. Bất cứ người Do Thái nào vay nợ mà không nghèo khó đều phải trả nợ mình suốt năm thứ 7, và người cho vay có thể thu của những người ngoại bang trong xứ. Nếu một người Do Thái vay nợ có thể trả tiền mà không trả, người ấy sẽ là kẻ bóc lột người cho mình vay tiền và làm hỏng một trong những mục đích của năm Sa-bát.
    Năm Sa-bát và Năm Hân Hỉ thuộc về kế hoạch khôn ngoan của Đức Chúa Trời để quân bình cán cân kinh tế trong quốc gia hầu cho kẻ giàu không thể bóc lột người nghèo hoặc người nghèo lợi dụng người giàu. Tuy nhiên, Chúa biết rằng sẽ luôn có người nghèo trong xứ (Mat 26:11 Mac 14:7 Gi 12:8) vì Y-sơ-ra-ên sẽ không kiên tâm vâng theo những luật lệ này. Dân tộc Y-sơ-ra-ên sẽ là dân tộc thịnh vượng nhất trên đất nếu họ làm theo những chỉ dẫn Đức Chúa Trời ban cho họ, nhưng họ khước từ ý muốn Ngài và chọn những phương pháp của các dân tộc quanh họ. Họ không giữ năm Sa-bát mỗi năm thứ 7 hoặc Năm Hân Hỉ mỗi năm thứ 50 (Le 26:32-45) và vì sự thất bại này họ đã trả một giá cao. Sự giam cầm của họ ở Ba-by-lôn suốt 50 năm đã cho xứ của họ sự nghỉ ngơi Sa-bát mà nó đã mất suốt những năm của sự bất toàn (IISu 36:14-21).
    Năm Sa-bát là một thử nghiệm về đức tin, nhưng cũng là một thử nghiệm về tình yêu (Phu 15:7-11). Giả sử, một người Do Thái nghèo cần một số tiền vay và năm Sa-bát đã qua chỉ hai năm. Người vay nợ lúc đó sẽ được một năm thêm để trả lại số nợ và người cho vay sẽ mất khoản lãi cho một năm. Nếu người cho vay nhìn khoản nợ một cách khắt khe như một khoản kinh doanh, người ấy sẽ phá hỏng nó, nhưng đó chính là thái độ Chúa muốn sửa đổi. Đó không phải là một khoản kinh doanh. Đó là một sự giúp đỡ đối với một người anh em. Nếu người Y-sơ-ra-ên giàu có hơn đóng chặt cửa lòng đối với người túng thiếu, người ấy sẽ làm tổn thương anh em mình và làm buồn lòng Chúa là Đấng đã ban cho người mọi của cải người có. Do đó, người ấy phải mở tấm lòng (bàn tay mình để giúp anh em mình, và Chúa sẽ bảo đảm rằng người ấy được đền bù cho sự rời rộng của mình. (Ch 14:21,31 19:17 21:13 28:17 Eph 4:28 ITi 6:17-19 IGi 3:14-18).
    Tôi tớ có giao kèo (Phu 18:12-15,18). Những con nợ Do Thái không thể trả nợ của mình có thể trở nên tôi tớ có giao kèo trong gia đình của người mình mắc nợ và làm việc như vậy để trừ nợ. Dân Do Thái không được phép bắt đồng bào Do Thái làm nô lệ, dù họ có thể có những tôi mọi từ các dân tộc khác (Le 25:39-43). Tôi tớ nam phải được phóng thích sau 6 năm hầu việc, dù năm thứ 7 là nam Sa-bát hoặc không phải. Luật này cho rằng 6 năm hầu việc người nam mà không có tiền công, đã trả đầy đủ nợ. Nhưng một lần nữa, Chúa đòi hỏi sự rời rộng, vì người chủ phải cho đầy tớ mình ra đi mang theo quà tặng giúp họ khởi đầu lại cuộc sống, kể cả gia súc, thóc lúa và rượu. Xét cho cùng, khi dân Do Thái rời Ai Cập, họ đã nhận những món quà đắt giá bù lại những năm nô lệ của họ (Xu 11:2 12:35-36), vậy tại sao một anh em người Do Thái không được thưởng cho 6 năm lao động trung thành đối với một người Do Thái đồng hương?
    Tôi tớ tự nguyện (Phu 15:16-18 Xu 21:1-6). Suốt 6 năm hầu việc đó, người mắc nợ có thể trở nên yêu mến gia đình chủ và muốn ở lại với họ. Hoặc người ấy có thể lập gia đình suốt thời gian đó, có một gia đình, và muốn ở lại với họ. Nếu đó là sự lựa chọn của người mắc nợ, người ấy sẽ được đem đến những quan xét nơi mà quyết định của anh ta sẽ chính thức được công nhận. Khi ấy chủ anh ta sẽ xỏ lỗ tai anh ta để đánh dấu anh ta như một tôi tớ tự nguyện suốt đời. Một đầy tớ gái có thể thực hiện sự chọn lựa tương tự, nhưng hãy xem Xu 21:7-11 có những thông tin đặc biệt.
    Chắc chắn có một sứ điệp thuộc linh ở đây cho dân sự Đức Chúa Trời hôm nay. Chúng ta phải yêu mến Chúa chúng ta nhiều đến mức chúng ta muốn hầu việc Ngài cách tự nguyện và vui mừng trọn đời sống chúng ta. Chúng ta đừng bao giờ xem thường sự hầu việc của mình như “sự nô lệ” nhưng như đặc quyền. “Tôi yêu mến chủ tôi và không muốn ra đi tự do” là một lời xưng nhận tuyệt vời của đức tin và tình yêu (Xu 21:5). Cứ cho là vậy, tình yêu của người đầy tớ đối với vợ và con cái của anh ta hiện ra trong bức tranh này, nhưng ngay cả những phước hạnh đó cũng đã đến vì sự nhân từ của chủ anh ta, và người chủ sẽ chăm sóc họ cũng như đầy tớ của người. Điều mà tất cả chúng ta cần là cái tai mở để nghe ý muốn Đức Chúa Trời (Thi 40:6-8 Es 50:4-5) và một cái tai được xỏ để tuyên bố rằng chúng ta yêu Ngài và sẵn sàng vâng theo mọi mệnh lệnh của Ngài.
    Sự nhấn mạnh trong phân đoạn này là về đức tin sinh ra sự rời rộng. Nếu chúng ta “cứng lòng hoặc chặt tay” (Phu 15:7 NIV) đó là bằng chứng chúng ta không thật sự tin rằng Đức Chúa Trời giữ những lời hứa của Ngài và chu cấp cho những ai ban cho người túng thiếu. Chúa Giê-xu đã trở nên nghèo khó để Ngài có thể khiến chúng ta giàu có (IICo 8:9) và Ngài ban phước cho chúng ta có thể làm một phước hạnh cho người khác.
    3. Một dân giữ lễ (Phu 15:1-18) (Phu 15:19-16:8 Le 29:1-44)
    Chúa đã ban cho Y-sơ-ra-ên một lịch để giúp dân Ngài nhớ họ là ai và để khích lệ họ xem lại tất cả những điều Ngài đã làm cho họ. Qua việc sống theo lịch sử của những sự kiện đặc biệt này từ năm này sang năm khác, dân Y-sơ-ra-ên sẽ tìm thấy nguyên nhân cho sự giữ lễ tuyệt đối này. Nhưng lịch này cũng thuộc về tín hữu ngày nay, vì nó minh họa điều Đấng Christ đã làm cho Hội Thánh Ngài và điều Ngài sẽ làm khi Ngài trở lại. Khi dân Do Thái sống theo lịch này từ năm này sang năm khác, họ có mọi lý do cho sự giúp lễ tuyệt đối vì cớ sự thương xót của Chúa đối với tổ phụ họ và đối với họ. Khi chúng ta nghiên cứu luật này, chúng ta sẽ tạ ơn và vui mừng rằng chúng ta có một sự cứu rỗi quá to lớn và một Cứu Chúa vĩ đại như thế.
    Vào ngày thứ 7 trong tuần, dân Do Thái giữ lễ Sa-bát, Đức Chúa Trời đã ban cho họ lễ Sa-bát như một dấu hiệu họ là dân giao ước đặc biệt của Ngài và thuộc về Đấng Sáng tạo vũ trụ (Xu 31:12-17) không có ghi chép nào trong Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời từng ban lễ Sa-bát cho bất cứ dân nào khác và bảo họ phải tuân theo (Co 2:16-17). Mỗi năm thứ 7 là một năm Sa-bát (Phu 15:1-11) và mỗi năm thứ 50 là Năm Hân Hỉ (Le 25:8-55).
    Năm dân sự Do Thái bắt đầu với “Rosh Hashanah”, lễ kèn vào ngày 1tháng 7 (tháng 9, tháng 10 của chúng ta), nhưng lịch tôn giáo bắt đầu với lễ Vượt qua vào ngày 14 tháng giêng (tháng 3,4 của chúng ta) (Xu 12:1-2). Tuần lễ tiếp theo được gọi là “lễ Bánh không men”. Vào ngày tiếp theo ngày Sa-bát sau lễ Vượt Qua, sẽ là một Chủ nhật, thầy tế lễ sẽ đưa qua lại trước mặt Chúa những bó lúa đầu tiên của mùa gặt, và điều này được biết là Lễ quả đầu mùa. 50 ngày sau đó, họ giữ lễ Ngũ Tuần và từ ngày 15 đến ngày 21 tháng 7 (tháng 9,10 của chúng ta) họ giữ lễ Các tuần, cũng gọi là lễ Lều Tạm.
    Môi-se chỉ nhấn mạnh ba trong 7 kỳ lễ đặc biệt này, vì đó là những kỳ lễ mà mọi người nam Do Thái sẽ phải giữ lễ ở nơi thánh trung tâm hằng năm (Phu 16:16-17 Xu 23:14-17 34:22-24). Nó được chọn đó sẽ là đền tạm hoặc đền thờ ở Giê-ru-sa-lem.
    Lễ Vượt Qua và Bánh không men (Phu 15:19-16:8 Xu 12:1-13:22). Môi-se bàn luận ba chủ đề có liên quan với lễ Vượt Qua: thánh hóa thú vật đầu lòng (Phu 15:19-23), dâng chiên con lễ Vượt Qua (16:1-3,5-7) và giữ lễ Bánh không men (c.4-8). Tại lễ Vượt Qua đầu tiên ở Ai Cập, Đức Chúa Trời đã giết mọi con đầu lòng trong xứ, con người lẫn thú vật, trừ những người Do Thái ở trong nhà và được bảo vệ bởi huyết ngoài cột cửa (Xu 12:12-13). Từ đó trở nên, Đức Chúa Trời tuyên bố cho chính Ngài tất cả trưởng nam và thú vật đầu lòng ở Y-sơ-ra-ên, và họ đều phải được cứu chuộc bằng một của lễ (13:1-3,11-13 Le 12:1-8 Dan 18:14-19 Lu 2:21-24). Nếu con vật không được chuộc, nó phải bị giết. Mỗi khi một người cha Do Thái phải chuộc một con vật đầu lòng, điều này cho người ấy một cơ hội giải thích lễ Vượt Qua cho con cái mình.
    Lễ Vượt Qua là “Ngày Quốc Khánh” đối với dân tộc Y-sơ-ra-ên, vì vào đêm đó, Chúa không những đã ban cho họ sự tự do thoát khỏi ách nô lệ mà còn bày tỏ đại quyền Ngài trên các thần và các đội quân Ai Cập, Y-sơ-ra-ên đã kỷ niệm lễ Vượt Qua một năm sau đó tại núi Si-nai (Dan 9:1-14), nhưng sau cuộc nổi loạn của họ tại Ka-đê Ba-nê-a (Dan 13:1-14:45), dân tộc đã không giữ lễ Vượt Qua nữa cho đến khi thế hệ mới bước vào Đất Hứa (Gios 5:10-11). Một khi đã định cư trong xứ, những người nam phải tuân theo mệnh lệnh đi đến nơi thánh để dự lễ Vượt Qua. Các cha mẹ được chỉ dẫn phải dùng dịp lễ Vượt Qua để dạy con cái họ về sự giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập (Xu 12:25-28).
    Sự giải thích và ứng dụng ở Tân Ước về lễ Vượt Qua đồng nhất hóa chiên con với Chúa Giê-xu Christ, Chiên Con Đức Chúa Trời Đấng đã phó sự sống Ngài vì tội lỗi của thế gian (Gi 1:29 ICo 5:7 IPhi 1:19 Kh 5:12). Bên ngoài thành Giê-ru-sa-lem Chúa Giê-xu đã chết trên thập tự giá vào thời điểm các chiên con của lễ Vượt Qua đang bị các thầy tế lễ giết ở đền thờ Do Thái. Huyết đổ ra bởi các chiên con ở Ai Cập đã giải cứu một dân tộc vào đêm lễ Vượt Qua đầu tiên đó, nhưng huyết của một Chiên Con, bị giết trên thập tự giá, sẽ giải cứu khỏi sự xét đoán bất cứ tội nhân hư mất nào tin nhận Chúa Giê-xu Christ. Huyết của nhiều con sinh tế Do Thái có thể che đậy tội lỗi nhưng không bao giờ cất nó đi, giải thích lý do vì sao những sinh tế này được lặp lại, nhưng huyết của Đấng Christ đã giải quyết vấn đề về sự cứu rỗi một lần đủ cả (He 10:1-18), không phải sự sống của chiên con đã cứu Y-sơ-ra-ên khỏi ách nô lệ nhưng là sự chết của chiên con và sự bôi huyết bởi đức tin. Đấng Christ là tấm gương trọn vẹn của chúng ta trong mọi việc (IPhi 2:21-25 IGi 2:6), nhưng việc cố gắng noi gương Ngài không thể cứu chúng ta, vì Ngài không phạm tội. Trước hết, chúng ta cần Chúa Giê-xu với tư cách Cứu Chúa của chúng ta và sau đó chúng ta có thể noi gương Ngài.
    Lễ Bánh không men đến sau lễ Vượt Qua và kéo dài một tuần (Phu 16:3-4,8). Suốt những ngày đó, không thứ men nào được phép hiện diện trong bất cứ gia đình Do Thái nào. Ở lễ Vượt Qua đầu tiên, dân Do Thái không có thời gian cho bột nhồi bánh nổi lên, do đó ăn bánh không men với chiên con quay và rau đắng (Xu 12:1-12 13:2-10). Nhưng có nhiều điều liên quan ở đây hơn là sự rút ngắn về thời gian và sự sẵn sàng cho một cuộc ra đi nhanh chóng. Trong Kinh Thánh, men thường tượng trưng cho điều ác cách này hay cách khác, vì men là một chất dù nhỏ và dường như không quan trọng, nhưng nhanh chóng dậy lên và “nhiễm” cả đống bột. Men đại diện cho tội lỗi thuộc về đời sống cũ (ICo 5:7), chẳng hạn như sự hiểm độc, gian ác (c.8) và sự giả hình (Lu 12:10), nó cũng đại điện sự vô tín (Mat 16:6), sự thỏa hiệp (Mac 8:15) và tà thuyết (Ga 5:9).
    Dân sự Y-sơ-ra-ên được cứu khỏi Ai Cập không phải bằng cách thanh thẩy nhà họ và tống khứ men. Họ được cứu bởi quyền năng Đức Chúa Trời vì huyết đã được bôi trên cột cửa nhà họ. Tội nhân không phải được cứu bằng cách loại bỏ những thói quen xấu và “thanh tẩy” đời sống họ, nhưng bằng cách tin nơi Chúa Giê-xu Đấng đã chịu chết thay họ trên thập tự giá. Tuy nhiên, một trong những đặc điểm của một con cái thật của Đức Chúa Trời là một đời sống được thay đổi “Phàm người kêu cầu danh Đấng Christ phải tránh khỏi sự gian ác” (IITi 2:19 NKSV). “Hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta” (IICo 7:1). Ai xưng mình thuộc về Đấng Christ mà không tìm cách thắng tội lỗi và trở nên giống Đấng Christ hơn trong hạnh kiểm hằng ngày là đang xưng nhận giả dối (IGi 3:1-10).
    Trong ICo 5:8 Phao-lô ví sánh đời sống của Hội Thánh địa phương như việc “giữ lễ” Vượt Qua. Hội Thánh không “giữ lễ” theo nghĩa đen vì nó đã được trọn trong Đấng Christ là Chiên Con của lễ Vượt Qua đã bị giết vì chúng ta (c.7). Nhưng như dân Do Thái vào đêm lễ Vượt Qua ở Ai Cập, chúng ta là một dân hành hương, sẵn sàng để được gọi ra đi, và chúng ta không nên bị tội lỗi vấn vương. Dân Do Thái ăn tiệc lễ Vượt Qua với tư cách gia đình, và mỗi Hội Thánh địa phương là một gia đình của Đức Chúa Trời, dự tiệc Chúa Giê-xu qua Lời Chúa và chờ đợi Ngài gọi dân Ngài ra khỏi thế gian này. Giống như Y-sơ-ra-ên ngày xưa, chúng ta phải nhắc nhở mình rằng chúng ta từng là nô lệ của tội lỗi, trong xiềng xích của thế gian (Eph 2:1-3) và Đức Chúa Trời đã giải cứu chúng ta bằng cách sai Con Ngài làm của lễ chuộc tội cho chúng ta. Khi dự tiệc thánh, chúng ta nhờ sự chết của Ngài và trông đợi sự tái lâm của Ngài (3).
    Lễ Ngũ Tuần (Phu 16:9-12 Le 23:15-22). Từ “Ngũ Tuần” nghĩa là “thứ 50” và truy nguyên từ bản dịch Cựu Ước tiếng Hy Lạp, bản 70 lễ này được kỷ niệm 50 ngày sau lễ Quả đầu mùa, nghĩa là nó cũng xảy ra vào ngày đầu tuần. Đối với dân Do Thái, đây là thời gian vui vẻ mừng mùa gặt lúa mì, nhưng đối với Cơ Đốc nhân, nó kỷ niệm sự ngự đến của Đức Thánh Linh và “ngày sinh của Hội Thánh” (Cong 2:1-47). Chúa Giê-xu đã hứa rằng Ngài và Cha sẽ ban Thánh Linh cho người tin nhận (Gi 14:16-17), nhưng Thánh Linh không thể đến cho tới lúc Đấng Christ chịu chết, được sống lại từ cõi chết và được vinh hiển trên trời (7:37-38).
    Khởi đầu sự sáng tạo (Sa 1:1-2), Đức Thánh Linh được thấy hành động suốt Kinh Thánh Cựu Ước, thường ban quyền năng cho con người nam nữ để làm những công việc quyền năng để qui vinh hiển Đức Chúa Trời. Suốt những thời Cựu Ước, Thánh Linh là một vị khách tạm thời giáng trên con người, nhưng từ sự ngự đến của Ngài trong Cong 2:1-42), Thánh Linh mãi mãi ngự trong bất cứ ai thuộc về Đấng Christ (Gi 14:16-17) Ngài ban những món quà thuộc linh cho Hội Thánh (ICo 12:1-31) và ban quyền năng cho dân sự Đức Chúa Trời để làm chứng về Chúa Giê-xu (Cong 1:8). Không có chức vụ và quyền năng của Đức Thánh Linh, tín hữu không thể sống cho Đức Chúa Trời hoặc hầu việc Ngài có hiệu quả.
    Vào ngày lễ Quả đầu mùa, thầy tế lễ vẫy bó lúa, nhưng vào lễ Ngũ Tuần, ông dâng hai ổ bánh hấp có men (Le 23:17,20). Khi Thánh Linh ngự đến vào lễ Ngũ Tuần, Ngài làm báp-tem cho mọi người tin nơi Đấng Christ (Cong 1:4-5 ICo 12:13). Vì vậy chúng ta không còn là những ổ bánh lúa đơn lẻ nhưng là ngũ cốc được hoà vào bột tạo thành những ổ bánh. Bột được làm từ “những bó lúa đầu mùa” của mùa gặt lúa mì. Sự hiện diện của men trong các ổ bánh cho thấy Hội Thánh trên đất chỉ phải là một Hội Thánh tinh sạch và không bao giờ tinh sạch cho đến khi Đấng Christ đem Hội Thánh lên trời.
    Lễ Ngũ Tuần báo hiệu mùa gặt (Le 23:22) và dân Do Thái được lệnh chia sẻ những gì họ có và vui mừng dự tiệc trước mặt (Phu 16:11). Khi Thánh Linh giáng trên các tín hữu vào lễ Ngũ Tuần, đó là khởi đầu của một mùa gặt lớn đối với Hội Thánh. Sứ điệp của Phi-e-rơ vào lễ Ngũ Tuần đã đem 3.000 người đến Đấng Christ (Cong 2:41), và chẳng bao lâu sau đó, chức vụ của ông đã thêm vào 2000 người nữa (4:4). Sách Công vụ là sự ghi chép về sự tăng trưởng của Hội Thánh. Khi Đức Thánh Linh ban quyền năng cho những chứng nhân để rao Phúc Âm trong cánh đồng mùa gặt bất cứ nơi đâu Chúa sai họ.
    Tiến sĩ A.W.Tozer có lần đã nói: “Nếu Đức Chúa Trời phải cất Thánh Linh ra khỏi thế gian này, nhiều việc Hội Thánh đang làm sẽ tiêu tan ngay, và không ai sẽ biết sự khác biệt”. Thật là một bản cáo trạng mà các Hội Thánh của chúng ta lệ thuộc vào mọi sự ngoại trừ quyền năng của Đức Thánh Linh! Hội Thánh đầu tiên đã không có những thứ mà chúng ta cho là cần thiết ngân quỹ, những kiến trúc, học vị và thậm chí “những quan hệ” chính trị nhưng họ thật sự có quyền năng của Thánh Linh và nhìn thấy vô số người trở về với Đấng Christ.
    Lễ Lều tạm (Phu 16:13-15). Giống như lễ Bánh không men, lễ Lều tạm cũng kéo dài 7 ngày. Nó xảy ra vào mùa thu (tháng 9 tháng 10 của chúng ta) và cũng được gọi là lễ Các tuần, lễ Trại và lễ Nhóm họp. Nó kỷ niệm sự hoàn tất mùa gặt mà bắt đầu bằng mùa gặt lúa mì tại lễ Ngũ Tuần, và giờ đây là mùa gặt hoa quả, nho và và ô-liu. Sau mùa gặt, người nông dân sẽ cày ruộng và gieo hạt lúa, rồi những cơn mưa mùa đông sẽ bắt đầu. Suốt kỳ lễ này, dân Do Thái sống trong những lều làm bằng nhánh cây, một sự nhắc nhở về những năm tháng tổ phụ họ đã sống tạm bợ khi họ lang thang trong đồng vắng. Đó là một tuần dự lễ vui vẻ bắt đầu bằng một sự nhóm hiệp thánh và kết thúc bằng một cuộc triệu tập quan trọng (Le 23:33-44).
    Chắc chắn Đức Chúa Trời muốn dân Ngài biết ơn và vui mừng về những sự ban cho tốt lành Ngài đổ xuống trên chúng ta. Sau khi Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa, Ngài muốn họ nhớ rằng đời sống không phải luôn dễ dàng, rằng tổ phụ họ đã sống trong các lều rạp. Sau khi họ tới Ai Cập. Tất cả chúng ta biết rằng không thế hệ sau nào muốn nghe “người già” nói về những khó khăn của “ngày xưa” nhưng Chúa đã viết kỷ niệm quá khứ của Y-sơ-ra-ên trong lễ Vượt Qua và lễ Lều Tạm, hai kỳ lễ đầu và cuối cùng trong năm. Mặc dù Hội Thánh không nên sống trong quá khứ, nhưng Hội Thánh không nên quên quá khứ và điều Chúa đã làm cho dân sự Ngài qua các thời đại, chúng ta có khuynh hướng xem nhẹ những ơn phước của mình và quên sự thành tín của Chúa.
    Hai trong số các Hội Thánh tôi làm mục sư đã giữ những lễ kỷ niệm quan trọng trong lúc tôi hầu việc họ, và suốt những năm đặc biệt đó, chúng tôi để thời gian trong các lễ thờ phượng để nhờ sự nhân từ của Chúa và cảm tạ Ngài vì mọi điều Ngài đã làm. Thật ích lợi cho những thành viên nhỏ tuổi biết về những của lễ dân sự đã làm trong quá khứ, và ích lợi cho những thành viên lớn tuổi hơn tiếp nhận một thử thách mới cho tương lai. Xét cho cùng, hội Thánh không phải là một bãi đậu xe, đó là một bệ phóng!
    Là dân Đức Chúa Trời, chúng ta có nhiều lý do để kỷ niệm sự cao cả và nhân từ của Chúa. Chúng ta đã được cứu chuộc bởi huyết Đấng Christ (lễ Vượt Qua), chúng ta được Thánh Linh ngự cùng và ban quyền năng (lễ Ngũ Tuần), và chúng ta được Chúa giúp đỡ trong hành trình hành hương của chúng ta (lễ Lều Tạm). Thời gian chúng ta ở đây trên đất là ngắn ngủi và tạm bợ, nhưng ngày nào đó chúng ta sẽ bước vào thiên đàng nơi Chúa Giê-xu giờ đây dọn chỗ cho chúng ta.
    “Hãy cùng tôi tôn trọng Đức Giê-hô-va, chúng ta hãy cùng nhau tôn cao danh Ngài” (Thi 34:3).
    Phu 15:19-23; xem giải nghĩa Phu 15:1-18
    Phu 16:1-17; xem giải nghĩa Phu 14:1-21
    7. QUAN XÉT, VUA, THẦY TẾ LỄ VÀ THƯỜNG DÂN (Phu 16:18-18:8 26:1-19)
    Khi Môi-se tiếp tục chuẩn bị cho thế hệ mới đời sống trong Đất Hứa, ông không chỉ dạy họ về lịch sử quá khứ và những bổn phận của họ trong sự thờ phượng, ông còn giải thích cho họ loại chính thể Đức Chúa Trời muốn họ tổ chức. Khi tổ phụ họ ở Ai Cập, dân Do Thái có tổ chức nhỏ chỉ bao gồm các trưởng lão (Xu 3:18 4:29-31), và suốt hành trình trong đồng vắng, Môi-se có những cộng sự chi phái giúp ông trong việc giải quyết các vấn đề dân sự đem đến cho họ (Phi 18:13). Mỗi chi phái trong Y-sơ-ra-ên cũng có một quan trưởng (Dan 1:15-16 7:10-83), và có 70 trưởng lão giúp Môi-se trong việc giám sát thuộc linh của dân tộc (11:10).
    Tổ chức cơ bản này thích hợp để cai trị một dân tộc đi vào Đất Hứa. Trên hết, Môi-se sẽ không còn ở cùng họ để cho họ những sứ điệp trực tiếp từ miệng Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mỗi chi phái trong số 12 chi phái sẽ sống trong địa phận được ấn định riêng cho nó, và Ru-bên, Gát cùng Ma-na-se sẽ định vị ở bên kia sông Giô-đanh. Họ sẽ đối phó ra sao với sự đổi thay của chi phái? Ai sẽ bảo vệ dân sự và thi hành những luật lệ của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời trong ân điển Ngài đã ban cho họ loại chính thể sẽ đáp ứng những nhu cầu của họ.
    Cơ Đốc nhân rất thường đánh giá thấp tầm quan trọng của chính thể đối với sự hòa bình, an ninh và tiến bộ của xã hội không có chính thể loài người, thậm chí với tất cả những khiếm khuyết của nó, xã hội sẽ ở trong tình trạng trì trệ, và không quốc gia nào có thể cải tiến thích đáng hay tự bảo vệ mình. “Các quyền đều bởi Đức Chúa Trời chỉ định” (Ro 13:1) không có nghĩa là Đức Chúa Trời phải đổ lỗi cho sự bổ nhiệm hay bầu cử mỗi cá nhân quan chức hay những quyết định họ thực hiện khi họ nắm quyền. Nó có nghĩa là quyền hạn đối với chính thể đến từ Đức Chúa Trời và những người phục vụ trong chính quyền đều là những người giúp việc của Chúa và chịu trách nhiệm với Ngài (c.4). “Nhưng mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICo 14:10) áp dụng không chỉ cho những lễ thờ phượng chung của Hội Thánh mà cũng cho công vụ của các viên chức chính quyền. Dân sự Đức Chúa Trời được bảo phải cầu nguyện cho những quan chức cầm quyền đó (ITi 2:1-6), nhưng chúng ta rất thường phạm tội chỉ trích họ thay vì cầu thay cho họ.
    Môi-se chỉ ra những chức vụ và trách nhiệm cơ bản của chính thể mà Đức Chúa Trời muốn Y-sơ-ra-ên thiết lập trong xứ.
    1. Những quan án giỏi (Phu 16:18-22) (Phu 16:18-17:13)
    Sự lập lại của từ “cửa thành” (16:5,11,14,18 17:2,5,8) cho thấy rằng đơn vị cơ bản của chính thể trong Y-sơ-ra-ên là hội đồng địa phương. Nó bao gồm các quan án và quan chức, là những người quản lý công việc buôn bán tại cửa thành cùng với các trưởng lão (Ru 4:1-12). Các quan án và quan chức có lẽ được bổ nhiệm hoặc bầu cử do các công dân nam có đất trong thành, nhưng chúng ta không được cho biết chi tiết. Từ được dịch là “quan chức” có nghĩa “người viết, thư ký” và chỉ về những người giữ hồ sơ hành chính và gia phả, cố vấn cho các quan án và thực hiện những quyết định của họ. Đức Chúa Trời là Đấng làm luật tối cao trong xứ, vì Ngài đã ban luật pháp, các quan án địa phương tạo nên ngành lập pháp của chính thể, và các quan chức của họ tạo nên ngành hành pháp.
    Tính cách tin kính (Phu 16:19-20). Điều quan trọng nhất về quan án và quan chức đó là họ phải làm những con người có tính cách, vì chỉ những người như vậy mới có thể thi hành ngay thẳng sự xét xử công bình (1). Quan án không được xuyên tạc luật pháp và “bóp mép công lý”, cũng không được “tôn trọng người ta” mà theo tiếng Hê-bơ-rơ có nghĩa đen là “nhìn mặt” Điều quan trọng là xác định bị cáo đã làm gì và không quan tâm bị cáo là ai. Chúa đã cảnh cáo các quan xét đừng thiên vị bạn hữu bằng cách tha tội, giảm ác hay thay đổi việc tố tụng, cũng không được nhận hối lô. “Công lý” thường được mô tả như một người đàn bà mang chiếc cân và đeo băng bịt mắt. “Lấy làm chẳng tốt mà nể vì kẻ ác, đặng lường gạt người công bình trong việc xét đoán” (Ch 18:5).
    Những quyết định của quan án ảnh hưởng không chỉ đến những cá nhân chịu xét xử mà còn đến cả quốc gia. Nếu quan án tha bổng kẻ phạm tội bằng cái giá của những kẻ vô tội, xứ sẽ bị ô uế và Đức Chúa Trời cuối cùng sẽ cất dân tộc khỏi xứ. Tiếc thay, đó chính là điều đã xả ra xuốt những năm trước khi Y-sơ-ra-ên và Giu-đa sụp đổ. Tòa án trở nên thối nát và để cho kẻ giàu cướp bóc người nghèo và người túng bấn, và kẻ giàu chẳng bao lâu đã làm chủ những tài sản lớn và điều khiển kinh tế (2). Vì các quan trưởng không vâng theo luật lệ về năm Sa-bát và năm Hân Hỉ, nên nền kinh tế mất cân đối và xứ bị tước đoạt khỏi những người chủ hợp pháp. Đức Chúa Trời không thể cho phép sự bất tuân trắng trợn như thế đối với luật pháp Ngài, nên Ngài đã nghiêm phạt dân Ngài bằng cách phó họ vào sự giam cầm.
    Chức lãnh đạo trong Hội Thánh địa phương phải được giao cho người có năng lực (Cong 6:1-7 ITi 3:1-16 Tit 1:5-9). Tiến sĩ Lee Roberson nói: “Mọi sự đều dấy lên hay sụp đổ với chức lãnh đạo” và ông nói đúng. Bi thảm thay khi các Hội Thánh chọn những người thiếu năng lực và kinh nghiệm để “lấy đầy” chức vụ thay vì “sử dụng” những chức vụ đó để xây dựng Hội Thánh và quy vinh hiển cho Đức Chúa Trời (ITi 3:10). Trong chức lãnh đạo Hội Thánh địa phương, tính cách thuộc linh quan trọng hơn nhiều so với danh tiếng, cá tính, tài năng hay nghề nghiệp của một người.
    Sự dâng hiến cho Đức Chúa Trời (Phu 16:21-17:7). Sự thờ hình tượng là kẻ thù lớn của đời sống thuộc linh trong dân Do Thái, và các quan xét phải cảnh giác đủ để đối phó với nó. “Rừng cây là khu vực được dâng cho việc thờ phượng vợ của Ba-anh, Át-tạt-tê, và giữa hình tượng của họ là những cột trụ gỗ tượng trưng cho tay chân người nào. Hãy chú ý rằng người thờ hình tượng tìm cách đặt trung tâm thờ lạy của họ gần với bàn thờ Đức Chúa Trời nếu có thể (16:21 NIV “gần bên bàn thờ”). Người thờ hình tượng muốn khuyến khích người ta thờ Giê-hô-va và cả Át-tạt-tê, và cuối cùng Át-tạt-tê sẽ thắng. Nếu các quan án tận tụy với Đức Chúa Trời, họ sẽ thận trọng kiểm tra những tập tục như thế, thu thập sự kiện, lên án kẻ phạm tội, và cất hình tượng khỏi xứ. Họ phải đặt Đức Giê-hô-va trên hết (3).
    Không thể nhấn mạnh quá nhiều khi tôn giáo của các dân Ca-na-an thô tục không thể tả và trộn lẫn với sự mê tín mù quáng với sự đồi bại trắng trợn. Với bản chất con người, dân Do Thái sẽ bị lôi cuốn vào các thần họ có thể thấy và những nghi lễ mời gọi những thèm muốn xác thịt. Điều này giải thích lý do Đức Chúa Trời ra lệnh cho dân Do Thái tiêu diệt mọi tàn tích của tôn giáo Ca-na-an khỏi xứ (7:1-11), vì Ngài biết rằng lòng dân sự rất thường bị xui giục làm ác bất chấp những thánh luật và những lời cảnh cáo của Ngài.
    Sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời (Phu 17:8-13). Nhiều lần, các quan án và tòa án địa phương phải xem xét những việc kiện rắc rối, phức tạp và khó xử đối với họ, những vụ kiện có liên quan đến sự đổ máu, sự tố cáo, kiện tụng, và nhiều dạng cưỡng hiếp. Để giúp các quan chức địa phương, Chúa sẽ thiết lập một “tòa án” trung tâm tại nơi thánh của Ngài là nơi các thầy tế lễ và người Lê-vi sẽ bày tỏ sự khôn ngoan của họ và giải thích luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong Y-sơ-ra-ên, luật pháp Đức Chúa Trời là luật pháp quốc gia, và những người giỏi nhất để giải thích và ứng dụng luật pháp các thầy tế lễ và người Lê-vi.
    “Tòa án nơi thánh” này không phải là một tòa phúc thẩm nơi một người bị kết án có thể yêu cầu một cuộc xét xử lần thứ hai, nó cũng không phải là một ủy ban cố vấn mà những quyết định có thể được chấp nhận hay từ chối. Đó là một tòa án xét xử những vụ kiện một cách thận trọng và những quyết định có quyền lực và mang tính ràng buộc. Bất cứ ai coi thường quyền hạn của tòa án hay những quyết định họ đưa ra là thật sự coi thường Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài. Những kẻ chống đối như thế đã phạm tử tội và chịu án tử hình. Đức Chúa Trời sẽ không có những công dân chống nghịch trong nước Ngài hay cho phép dân sự chống lại luật pháp Ngài một cách tự mãn, không có của lễ nào được quy định trong luật pháp cho người phạm những tội “kiêu căng” và cố ý (Dan 15:30-36).
    Khi Woodrow Wilson là Tổng thống Hoa Kỳ, ông đã nói “Có khá nhiều vấn đề trước dân Mỹ hôm nay, và trước mắt tôi với tư cách Tổng thống, nhưng tôi mong tìm thấy giải pháp cho những vấn đề đó chỉ tương xứng với việc tôi trung tín trong sự học lời Đức Chúa Trời” (4). Chính trị gia Daniel Webster nói: “Nếu chúng ta tồn tại bởi những nguyên tắc được dạy trong Kinh Thánh, quốc gia chúng ta sẽ tiếp tục thịnh vượng và thịnh vượng, nhưng nếu chúng ta và hậu thế chúng ta thờ ơ với sự dạy dỗ và quyền hạn nó, không ai có thể biết một thảm họa có thể ập trên chúng ta và chôn vùi vinh quang của chúng ta trong sự tối tăm mờ mịt một cách bất ngờ ra rao”. (5) Sống như chúng ta đang sống trong một xã hội dân chủ theo thuyết đa nguyên, chúng ta không thể mong chờ chính phủ khiến Kinh Thánh trở nên sách hướng dẫn chính thức của họ, nhưng nó sẽ giúp cho quốc gia nếu những người tự xưng là Cơ Đốc nhân và các Hội Thánh Cơ Đốc tập trung vào việc rao giảng, dạy dỗ và vâng theo Lời Đức Chúa Trời.
    Phu 17:1-13; xem giải nghĩa Phu 16:18-22
    2. Những vua tin kính (Phu 17:14-20)
    Các lãnh đạo được bầu cử, không phải những vua chúa cha truyền con nối, họ cai trị các quốc gia dân chủ ngày nay, nhưng trong các thời đại xưa, vua và hoàng đế thống trị “quốc gia và đế quốc bằng bạo quyền. Nhưng Y-sơ-ra-ên khác với các quốc gia khác, vì luật pháp của Chúa là “xi măng” liên kết 12 chi phái. Người Lê-vi, bị tản lạc khắp xứ, dạy cho dân sự luật pháp Đức Chúa Trời, còn các thầy tế lễ và quan xét bảo đảm cho luật pháp được thực thi cách công bằng. Dân Y-sơ-ra-ên phải đem phần 10 và của lễ của họ đến nơi thánh vì trung tâm, và mỗi năm 3 lần tất cả những người nam trưởng thành tập hợp ở đó để kỷ niệm sự nhân từ của Chúa. Đức Giê-hô-va là Vua trong Y-sơ-ra-ên (Xu 15:18 Cac 8:23) và Ngài “ngự giữa các chê-ru-bin” (Thi 80:1) trong nơi chí thánh.
    Yêu cầu một vua (Phu 17:14). Nhưng Chúa biết rằng sẽ đến ngày mà Y-sơ-ra-ên yêu cầu một vua vì họ muốn giống các dân tộc khác (ISa 8:1-22). Suốt thời các quan xét, sự hiệp nhất của 12 chi phái về mặt chính trị và thuộc linh đã giảm sút khá nhiều (Cac 17:6 21:25) và Y-sơ-ra-ên ở trong hiểm họa thường trực về sự xâm lăng của kẻ thù họ (ISa 9:16 12:12). Thay vì tin cậy Đức Chúa Trời, dân sự muốn có một vua sẽ lập một quân đội và lãnh đạo dân tộc đi đến chiến thắng. Tiếc thay, chức lãnh đạo thuộc linh trong Y-sơ-ra-ên đã suy sụp và các con trai của Sa-mu-ên kêu cầu một vua là họ không giống với các quốc gia đặc biệt của Đức Chúa Trời (Xu 19:5-6). “Kìa là một dân ở riêng ra, sẽ không nhập số các nước” (Dan 23:9).
    Bắt chước thế gian thay vì tin cậy Chúa luôn là sự cám dỗ lớn đối với dân sự Đức Chúa Trời, và mỗi lần họ không chống lại nổi, họ bị khốn khổ. Suốt hành trình trong đồng vắng, Y-sơ-ra-ên so sánh mọi điều xảy ra với điều họ đã kinh nghiệm ở Ai Cập, và tại Ka-đe Ba-nê-a họ thậm chí muốn chọn một lãnh đạo và trở lại Ai Cập! (Phu 14:1-5). Nhưng Hội Thánh ngày nay cũng phạm tội vô tín, như vậy khi các lãnh đạo Hội Thánh tiếp nhận những phương pháp và khuôn thước của thế gian, thì Hội Thánh đã đi một bước lớn tiến đến việc trở nên gống với thế gian và đánh mất những đặc tính thiêng liêng của mình. Thay vì tin cậy Lời Đức Chúa Trời và cầu nguyện (Cong 6:4), chúng ta cậy vào việc làm theo sự khôn ngoan của thế gian, và nuôi dưỡng những ham muốn của thế gian, cho người ta điều họ muốn thay vì điều họ cần. Tín hữu hôm nay cần ghi vào lòng Lời Đức Chúa Trời nhắc nhở Y-sơ-ra-ên “Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của các ngươi, đã phân rẽ các ngươi cùng các dân” (Le 20:24).
    Những phẩm cách của một vị vua (Phu 17:15-17). Vua không nên do dân sự chọn, người phải do Đức Chúa Trời chọn. Vua đầu tiên của Y-sơ-ra-ên là Sau-lơ (ISa 9:1-10:27), nhưng Đức Chúa Trời chưa bao giờ định dùng Sau-lơ để lập một triều vua trong Y-sơ-ra-ên. Sau-lơ xuất thân từ chi phái Bên-gia-min, nhưng Giu-đa là chi phái nhà vua (Sa 19:8-10) và Đấng Mê-si-a sẽ đến từ chi phái Giu-đa. Thực ra, Sau-lơ được ban cho dân sự để sửa phạt họ vì họ đã khước từ Chúa (ISa 8:7), vì sự xét đoán lớn nhất của Đức Chúa Trời là cho dân Ngài điều họ muốn và để họ chịu khổ vì điều đó.
    Vua không những phải do Đức Chúa Trời chọn, mà vua còn phải là người Y-sơ-ra-ên chớ không phải là một người ngoại quốc. Mỗi khi Đức Chúa Trời muốn sửa phạt dân Ngài, Ngài sẽ đặt một vua ngoại bang cai trị họ và để dân sự kinh nghiệm sự tương phản giữa sự nhân từ của Đức Chúa Trời và sự áp bức của dân ngoại thờ hình tượng. Vua Y-sơ-ra-ên cũng phải đặt sự tin cậy hoàn toàn của mình nơi Chúa và không cậy nơi ngựa cùng quân đội (Phu 17:16), các đồng minh nước ngoài dựa trên hôn nhân (c.17a) hay của cải vật chất (c.17b). Vua Sa-lô-môn đã vi phạm cả ba trong số những quy tắc này và điều đó dẫn ông cùng dân tộc vào tội lỗi. Ông đã cưới một công chúa Ai Cập (IVua 3:1), đồng minh đầu tiên trong nhiều đồng minh chính trị ông đã tạo nên bằng cách lấy những người vợ ngoại quốc (Phu 11:1-6). Ông đã trở lại Ai Cập không những gì một người vợ mà còn vì những con ngựa cho quân đội ông, và xây “các thành chứa xe” trong Y-sơ-ra-ên nơi ông để ngựa và xe ngựa (10:26,28-29). Về phần của cải của ông, thật không thể tưởng tượng và không tính được (c.14-25,27) (6).
    Sự khôn ngoan của vua (Phu 17:18-20).Tư cách quan trọng nhất đối với vua là một sự hiểu biết cá nhân về luật pháp Đức Chúa Trời (c.18-20). Vua phải sao lại một bản luật pháp cho mình, sử dụng bản chính thức do các thầy tế lễ cung cấp (31:9,24-26), đọc thường xuyên và ghi vào lòng (xem mệnh lệnh của Đức Chúa Trời cho Giô-suê trong Gios 1:7-8). Sự nghiên cứu luật pháp của vua không những giúp vua cai trị dân cách công bình, mà nó còn bày tỏ cho vua tính cách của Đức Chúa Trời và khích lệ vua kính sợ Ngài và yêu mến Ngài hơn (Ch 4:1-27). Việc vua đầu phục Đức Chúa Trời và luật pháp Ngài sẽ giữ vua khỏi trở nên kiêu ngạo và lạm dụng quyền hành Chúa đã ban cho mình (7). Đối với vua, nghĩ rằng mình tốt lành hơn anh em mình và có đặc quyền sống vượt trên luật pháp Đức Chúa Trời sẽ cho thấy vua không thích hợp để lãnh đạo quốc gia.
    3. Những lãnh đạo thuộc linh trung tín (Phu 18:1-8)
    Hội Thánh của Chúa Giê-xu Christ là một chức tế lễ (IPhi 2:5,9), nhưng dân tộc Y-sơ-ra-ên đã có một chức tế lễ. Tất cả các thầy tế lễ và người Lê-vi đều là con cháu Lê-vi, con trai thứ ba của Gia-cốp sanh bởi Lê-a. Lê-vi có ba con trai Ghẹt-sôn, Kê-hát, Mê-ra-ri, còn A-rôn và Môi-se xuất thân từ dòng dõi của Kê-hát (Xu 6:16-25). Chỉ con cháu của A-rôn được gọi là “các thầy tế lễ” và được phép hầu việc tại bàn thờ và nơi thánh đích thực. Người Lê-vi, con cháu của Ghẹt-sôn và Mê-ra-ri, phụ giúp các thầy tế lễ trong nhiều chức vụ có liên hệ với bàn thờ và nơi thánh. Thầy tế lễ và người Lê-vi đều không được ban cho bất cứ sản nghiệp nào trong xứ Y-sơ-ra-ên (Phu 10:8-9 12:12,18,19) nhưng sống nhờ vào phần mười, của dâng và của lễ được đem đến nơi thánh.
    Thầy tế lễ (Phu 18:3-5). Các thầy tế lễ phải nhận những phần được chỉ định từ những của lễ, trừ của lễ thiêu, là của lễ được thiêu hoàn toàn tại bàn thờ. Họ sẽ thiêu một năm của lễ chay trên bàn thờ và giữ phần còn lại một mình, còn những phần khác của con sinh tế được dành cho họ theo tiêu chuẩn họ được hưởng (Le 6:8-7:38). Họ cũng được cho hoa lợi đầu mùa gồm lúa, dầu, rượu và lông chiên. Nghi thức Cựu Ước này mang vào chức vụ trong Tân Ước. “Anh em há chẳng biết rằng ai hầu việc thánh thì ăn của dâng trong đền thờ, còn ai hầu việc nơi bàn thờ thì có phần nơi bàn thờ sao? Cũng vậy Chúa có truyền rằng ai rao giảng Tinh Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành” (ICo 9:13-14). Mệnh lệnh của Chúa được tìm thấy trong Lu 13:7 và được trích dẫn trong ITi 5:18.
    Nếu dân sự không cấp dưỡng cho các thầy tế lễ như Đức Chúa Trời đã truyền lệnh thầy tế lễ sẽ phải tìm nguồn cấp dưỡng cho họ ở nơi nào đó, là điều này sẽ đưa họ rời xa chức vụ ở nơi thánh. Nhưng chỉ các thầy tế lễ mới có thể dâng của lễ, coi sóc đèn và bàn để bánh, và dâng hương trên bàn thờ bằng vàng, không có sự hiện diện của thầy tế lễ, chức vụ tại nơi thánh sẽ bị hoãn lại và dân sự sẽ không có sự cầu thay và sự giúp đỡ về thuộc linh.
    Người Lê-vi (Phu 18:6-8). Người Lê-vi sống trong 48 thành rải rác khắp nước Y-sơ-ra-ên (Gios 21:1-45). Chúng ta cho rằng có một thời gian biểu rõ ràng điều khiển sự dự phần của họ ở nơi thánh, như đã có trong thời Đa-vít (ISu 23:1-26:32), với mỗi người Lê-vi được ấn định cho một nhiệm vụ và một thời gian thầy tế lễ và người Lê-vi có thể mua đất nếu họ muốn (IVua 2:26 Gie 32:7 Cong 4:36-37) và thậm chí thu huê lợi từ đất đó. Nhưng mối quan tâm chính của họ phải là sự hầu việc tại nơi thánh và giúp dân sự nhận biết Đức Chúa Trời và vâng theo Lời Ngài. Nếu một người Lê-vi bán hay cho thuê bất động sản của mình và đi đến nơi thánh vì lòng yêu mến của người đối với Chúa và nhà Ngài, người ấy phải được cho phép hầu việc ở đó và dự phần vào những lễ vật dân sự mang đến. Việc người kiếm tiền bằng cách cho thuê hay bán đất của mình không làm thay đổi chính sách này.
    Vào thời Nê-hê-mi, dân sự không trung tín đem phần mười và của dâng đến đền thờ, và một số người Lê-vi đã phải trở về đất của họ để sống (Ne 13:10-14). Nê-hê-mi đã kêu gọi dân sự vâng lời Chúa và giúp đỡ những lãnh đạo thuộc linh của họ, và họ đã đem đến phần 10 cùng của dâng để được phân phát cho người Lê-vi. Thật đáng tiếc khi những người tự xưng là Cơ Đốc nhân không giúp đỡ cho Hội Thánh mình bằng cách trung tín đem đến phần 10 và của dâng, nhưng lại trông chờ Hội Thánh giúp họ khi họ có nhu cầu.
    4. Dân vâng phục (Phu 16:1-8) (Phu 26:1-19)
    Một quốc gia có những lãnh đạo tài năng và tin kính thì chưa đủ, nó cũng phải có những công dân tin kính vâng theo luật pháp của Chúa. Khổng Tử đã nói: “Sức mạnh của một quốc gia bắt nguồn từ sự chính trực của các gia đình nó”. Nhưng gia đình được tạo nên từ những cá nhân, nên chính sức mạnh của cá nhân giúp gia đình trở nên điều mà nó phải có. Daniel Webster nói: “Bất cứ điều gì khiến con người trở nên những Cơ Đốc nhân tốt, điều khiến họ trở nên những công dân tốt”. Ba lời xưng nhận được ghi lại trong chương này giúp chúng ta hiểu mình phải làm loại công dân nào với tư cách môn đồ của Chúa Giê-xu.
    Lời xưng nhận về sự nhân từ của Đức Chúa Trời (Phu 26:1-11). Nghi lễ này phải được sử dụng lần đầu tiên khi bất cứ người Do Thái nào đem sản vật đầu mùa của mình dâng cho Chúa. Nó không nên bị nhầm lẫn với của lễ đầu mùa hằng năm (16:4 Xu 23:19 34:26 Le 23:10-17 Dan 15:18-20 18:12-13). Nghi lễ đặc biệt này không những là một sự xưng nhận về lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên và đối với người thờ phượng này, nó cũng là một sự tuyên bố rằng người ấy giờ đây đã giành được cơ nghiệp của mình trong xứ. Người ấy làm việc nơi đất và nhận được một mùa thu choạch rời người đem phần đầu tiên và tốt nhất đến dâng Chúa. Giỏ hoa quả ở gần bàn thờ là một chứng cớ cho sự thành tín của Chúa đối với dân sự Ngài. Toàn bộ nghi lễ là một bản dịch Cựu Ước của Mat 6:33.
    Lời xưng nhận mở đầu bằng việc Y-sơ-ra-ên vào xứ Ca-na-an (Phu 26:3) và điều này sẽ nhắc nhở người thờ phượng về phép lạ của việc vượt sông Giô-đanh (Gios 3:1-17). Đức Chúa Trời Đấng mở Biển Đỏ cho dân tộc này ra khỏi Ai Cập cũng đã mở sông Giô-đanh để họ có thể vào và nhận lấy sản nghiệp của mình. “Ngài đã đem chúng ta ra… để dẫn vào xứ…” (Phu 6:23). Nguyên nhân duy nhất Y-sơ-ra-ên không vào xứ sớm hơn là vì thế hệ trước đã chống nghịch Chúa tại Ca-đê và từ chối tin cậy Ngài để được chiến thắng (Dan 13:1-14:45). Người thờ phượng được nhắc nhở rằng bí quyết về sự thành công lớn của Y-sơ-ra-ên là đức tin nơi những lời hứa của Đức Chúa Trời. Những năm sau đó, Giô-suê sẽ nói: “Trong các lời lành mà Giê-hô-va đã phán cho nhà Y-sơ-ra-ên, chẳng có một lời nào là không thành, thảy đều ứng nghiệm hết” (Gios 21:45 23:14 IVua 8:56).
    Sau đó người thờ phượng sẽ nói về Gia-cốp, tổ phụ của 12 chi phái trong Y-sơ-ra-ên (Phu 26:5), người đã rời quê hương và đi đến A-ram ở hướng Đông Bắc Mê-sô-pô-ta-mi (Os 12:12 Sa 25:20) để tìm cho mình một người vợ. Sau 20 năm ở trong nhà ông gia La-ban, Gia-cốp vâng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời và trở về xứ của mình rồi định cư cùng với 12 con trai và gia đình họ. Thật vậy Gia-cốp là một “người ẩn náu” và là một “lữ khách” suốt những năm đó, nhưng Chúa đã dõi theo ông và chúc phước cho ông. 12 con trai của Gia-cốp phải trở thành những người sáng lập 12 chi phái Y-sơ-ra-ên và qua Y-sơ-ra-ên Đức Chúa Trời sẽ chúc phước cho toàn thế giới (Sa 12:1-3).
    Đức Chúa Trời sẽ biến đổi gia đình của một người thành một dân tộc lớn ra sao? Bằng cách đưa họ xuống Ai Cập nơi họ được đưa qua “lò sắt” của hoạn nạn Phu 26:5-7 4:20 IVua 8:51 Sa 46:1-34). 70 người đã đi đến Ai Cập nơi Giô-sép chuẩn bị gia đình cho họ, và nhiều năm sau đó, vào đêm lễ Vượt Qua, có lẽ hai triệu người đã bước ra khỏi Ai Cập cách hoan hỉ. Kẻ thù càng bắt bớ dân Do Thái, dân Do Thái càng thêm nhiều (Xu 1:1-22). Hoạn nạn và thử thách thường là những công cụ của Đức Chúa Trời để đem phước hạnh đến cho dân Ngài, dù ở thời điểm chúng ta có thể không hiểu được. Kẻ thù càng bắt bớ Hội Thánh đầu tiên, họ tản lạc và sinh sôi càng nhiều (Cong 5:41-6:1 8:1-4).
    Lời xưng nhận chẳng đề cập gì đến sự phàn nàn của Y-sơ-ra-ên trong hành trình của họ hay sự thất bại của họ tại Ca-đe Ba-nê-a. Đây là một lời xưng nhận của đức tin, không phải sự vô tín. “Nên Đức Giê-hô-va đã đem chúng tôi ra khỏi Ai Cập. Ngài đã đem chúng tôi vào nơi này và ban cho chúng tôi xứ này” (Phu 26:8-9 NKHV). Người ấy gọi Ca-na-an là “một xứ đượm sữa và mật”, là điều Đức Chúa Trời thường gọi xứ ấy. Đức Chúa Trời đã ban cho dân Ngài một xứ kỳ diệu đáp ứng mọi nhu cầu của họ. Suốt những năm Y-sơ-ra-ên lang thang và chống nghịch, một số người Do Thái gọi Ai Cập là “một xứ đượm sữa và mật” (Dan 16:13). Thật bi thảm khi con người quá thiếu thuộc linh đến nỗi những điều thuộc về thế gian đầy lôi cuối hơn những điều thuộc về Chúa.
    Đáp ứng với sự nhân từ và ân điển của Chúa, người thờ phượng dâng cho Đức Chúa Trời vật đầu tiên và tốt nhất của công lao mình, vì sẽ không có mùa gặt nào nếu không có sự chúc phước của Chúa. Nhưng qua việc dâng sản vật đầu mùa, người thờ phượng thật sự dâng toàn bộ mùa gặt cho Chúa. Chức quản gia không có nghĩa là chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời một phần rồi sử dụng phần còn lại theo như mình thích. Chức quản gia thật nghĩa là chúng ta dâng cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Ngài như một nhận thức rằng tất cả những gì chúng ta có là của Ngài. Sau đó chúng ta sử dụng tất cả những gì còn lại một cách khôn ngoan vì vinh hiển Ngài. Dâng cho Chúa 1/10 và sau đó lãng phí 9/10 còn lại, thì không phải là chức quản gia. Đó là sự dại dột.
    Chúa “ban mọi vật dư dật cho chúng ta được hưởng” (ITi 6:17), giải thích lý do Môi-se khuyên dân Do Thái vui mừng trong mọi điều lành Chúa ban cho họ (Phu 26:11). Trong lúc ở nơi thánh, họ có thể dâng cho Chúa một của lễ tạ ơn và dự tiệc mừng những điều tốt lành, tất cả cho vinh hiển của Đức Chúa Trời. Nhưng hãy chú ý sự đề cập về người Lê-vi và khách lạ, những người chúng ta cần chia sẻ với họ những sự ban cho của Chúa (12:12,18 16:11,14). Điều này giới thiệu lời xưng nhận thứ 2.
    Lời xưng nhận về sự trung thực và rời rộng (Phu 26:12-15). Bối cảnh này sẽ xảy ra hai năm sau đó, khi dân Do Thái phải đem 1/10 phụ đến cho các viên chức địa phương (14:28-29). Nghi thức trước xảy ra chỉ 1 lần, sau mùa gặt đầu tiên trong xứ, nhưng nghi thức này được lặp lại mỗi năm thứ ba. Năm thứ 7 sẽ là năm Sa-bát và rồi chu trình bát đầu trở lại. Lời xưng nhận này có giá trị như một sự đổi mới tổng quát về giao ước Y-sơ-ra-ên đã lập tại núi Si-nai, lời họ hứa vâng theo Chúa và lời Ngài hứa chúc phước cho sự vâng lời của họ.
    Phần mười của năm thứ ba được giữ trong các thành và được sử dụng trong nội bộ để cấp dưỡng cho người Lê-vi, khách lạ, cô nhi và góa phụ. Trong việc dâng phần 10 này, người thờ phượng phải xưng nhận trước Chúa rằng mình đã trung thực trong việc để ra 1/10 và sử dụng nó như Chúa đã bảo. Người ấy không được lấy phần mười cho việc sử dụng cá nhân và chắc chắn không được dùng nó cho bất cứ mục đích tội lỗi nào. Người ấy cẩn thận để không làm ô uế phần 10 bằng cách chạm đến nó trong lúc không tinh sạch vì một cái chết trong gia đình. Nói cách khác, việc để ra phần 10 này cho người khác là một vấn đề nghiêm túc và phải được thực hiện bằng sự tự trọng và sự vâng phục. Nghi thức này sẽ kết thúc với lời cầu nguyện ở 26:15 cầu xin Đức Chúa Trời chúc phước cho cả dân tộc chớ không chỉ cho cá nhân người thờ phượng.
    Lời xưng nhận thứ nhất và thứ hai đều bày tỏ sự cảm kích đối với xứ “đượm sữa và mật” (c.9,15). Thật là điều tốt lành khi dân sự Đức Chúa Trời cảm kích tất cả những gì Chúa ban cho họ. Suốt 40 năm lang thang, thế hệ đi trước thường xuyên muốn trở lại Ai Cập và hưởng thức ăn họ đã từng ăn ở đó, nhưng cái nhìn lại này chỉ càng đưa họ vào sự rắc rối. Nói đến những hoàn cảnh của đời sống, tất cả chúng ta đều cần noi gương Phao-lô “Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy” (Phi 4:11) một trong những cách tốt nhất để học thỏa lòng là chia sẻ với người khác những phước hạnh Đức Chúa Trời ban cho ta.
    Lời xưng nhận về sự vâng phục (Phu 26:16-19). Lời xưng nhận thứ nhất và thứ hai hướng đến thời điểm Y-sơ-ra-ên sẽ được định cư trong xứ họ và thu hoạch vụ mùa. Lời xưng nhận này đưa chúng ta trở lại với đồng bằng Mô-áp nơi Môi-se đang trang bị cho thế hệ sau bước vào xứ. “Ngày nay” (c.16-18) và “hôm nay” là những từ Môi-se dùng thường xuyên khi ông nói với dân sự (2:26 4:26,39 6:6 7:11 8:1,18 10:13 v.v..). Đó thật sự là một thời điểm long trọng khi Môi-se lặp lại luật pháp và ôn lại lịch sử của dân tộc. Tương lai của dân tộc tùy thuộc vào việc dân sự tiếp nhận, hiểu và vâng theo Lời Đức Chúa Trời mà Môi-se chia sẻ cho họ.
    Hiểm họa thường trực đó là dân sự không tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời vào lòng nhưng chỉ nghe bằng tai rồi quên. Giống như dân Do Thái trong thời Chúa Giê-xu, họ có tai nhưng không thể nghe (Mat 13:13-15). Chỉ tự nhiên biết lời Chúa thì chưa đủ. Nếu lời Đức Chúa Trời phải nuôi dưỡng chúng ta và thay đổi chúng ta để Đức Chúa Trời có thể chúc phước cho chúng ta (Thi 1:1-3), chúng ta phải dâng mình cho điều đó, tấm lòng và linh hồn. Đức Chúa Trời đã tuyên bố Y-sơ-ra-ên cho dân Ngài và Chúa ban phước cho họ nếu họ vâng lời Ngài (Phu 26:18) và Y-sơ-ra-ên đã tuyên bố rằng Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời của họ và họ sẽ vâng lời Ngài (c.17). Chắc chắn rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ những lời hứa của Ngài, nhưng Y-sơ-ra-ên sẽ giữ những lời hứa của họ chăng?
    Đức Chúa Trời đã hoạch định những việc lớn cho Y-sơ-ra-ên, cũng như Ngài hoạch định những việc lớn cho con cái Ngài (Eph 2:10 ICo 2:6-10). Nếu dân sự giữ những lời hứa giao ước của họ với Chúa, Ngài sẽ chúc phước cho họ và khiến họ trở nên một nguồn phước nhưng nếu họ bất tuân Ngài, Ngài sẽ phải sửa phạt họ. “Nhưng dân sự ta không khứng nghe tiếng ta, Y-sơ-ra-ên không muốn vâng theo ta. Vì vậy, ta buông chúng nó đi theo sự cứng lòng chúng nó. Ôi! Chớ chi dân ta khứng nghe ta! Chớ chi Y-sơ-ra-ên chịu đi trong đường lối ta! Thì chẳng bao lâu ta bắt suy phục các thù nghịch chúng nó.
    Ta sẽ lấy màu mỡ ngũ cốc mà nuôi họ, và làm cho ngươi được no nê bằng mật ong nơi hòn đá” (Thi 81:11-14,16).
    Đức Chúa Trời thành tín với chúng ta, nhưng chúng ta bỏ mất nhiều biết bao khi chúng ta đã không trung tín với Ngài!
    Phu 18:9-22; xem giải nghĩa Phu 12:17-19
    8. TỘI NGỘ SÁT, CHIẾN TRẬN VÀ TỘI SÁT NHÂN (Phu 19:1-21:14)
    Dân Y-sơ-ra-ên đã được ban phước dồi dào. Họ có Giê-hô-va Đức Chúa Trời làm Vua của họ, một xứ kỳ diệu làm quê hương của họ, và một thánh luật làm người hướng dẫn họ, nhưng họ đã đối diện một số vấn đề tương tự mà xã hội ngày nay đối diện. Với bản chất con người tội lỗi, các dân tộc sẽ luôn phải đối phó với “sự vô nhân đạo của con người đối với con người”, vì trung tâm của mọi vấn đề vẫn là vấn đề của tấm lòng. Các luật lệ cần thiết để đem trật tự đến cho xã hội, để ngăn trở điều ác, và để giúp điều khiển hành vi đạo đức, nhưng luật pháp không bao giờ có thể thay đổi lòng người. Chỉ ân điển Đức Chúa Trời mới có thể làm được điều đó. Nếu phân đoạn Kinh Thánh này nhấn mạnh bất cứ điều gì, đó là Đức Chúa Trời quý trọng nhân mạng và muốn chúng ta đối xử với con người cách công bình, vì họ được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời (Sa 9:1-7). Mong muốn của Đức Chúa Trời đối với mọi dân tộc là “Hãy làm cho sự chánh trực chảy xuống như nước và sự công bình như sông lớn” (Am 5:24). Và tiêu chuẩn của Ngài cho cá nhân chúng ta là Mi 6:8 “Hỡi người! Ngài đã tỏ cho ngươi điều gì là thiện, cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhơn từ và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao?”
    1. Sự công bình trong xứ (Phu 19:1-20)
    Nhà thơ giáo phái Quaker, Jhon Greenleaf Whittier đã gọi sự công bình là “hy vọng của tất cả những người hoạn nạn, sự kinh hãi của tất cả những kẻ làm điều sai trái”. Đó là điều lý tưởng, nhưng không phải lúc nào nó cũng được thực thi trong đời thường. Không có sự công bình, xã hội sẽ sụp đổ, tình trạng vô chính phủ sẽ xảy ra, và sẽ không an toàn để người dân rời khỏi gia đình họ, Y-sơ-ra-ên đã không có hệ thống cảnh sát chặt chẽ như chúng ta có hôm nay, nên việc định chỗ và trừng phạt phạm nhân chủ yếu tùy thuộc vào các trưởng lão và quan án. Bằng cách chọn ra “thành ẩn náu”, Chúa đã đề cao sự công bình trong xứ.
    Các thành (Phu 19:1-3,7-10). Môi-se ôn lại ở đây điều ông đã dạy cho Y-sơ-ra-ên trong Dan 15:1-41. Thật ra ông đã lập ba thành ẩn náu ở phía Đông sông Giô-đanh (Phu 4:42-43). Trách nhiệm của Giô-suê sẽ là: lập ba thành khác ở phía Tây sông Giô-đanh sau khi Y-sơ-ra-ên đã chiếm xứ (Gios 20:1-9). Các thành ở phía Đông sông Giô-đanh là Gô-lan, Ra-mốt và Bết-se, còn các thành ở phía Tây sẽ là Kê-đe, Si-chem và Hếp-rôn. Nếu bạn tham khảo bản đồ về Xứ Thánh, bạn sẽ thấy rằng những thành này được định chỗ để những người cần sự bảo vệ có thể đến được dễ dàng. Những con đường dẫn đến các thành này phải được sữa chữa cẩn thận và được đánh dấu rõ ràng. Lời truyền khẩu trong giới giáo sĩ Do Thái cho rằng có những dấu hiệu ở mọi ngã tư đường chỉ con đường đi đến thành ẩn náu gần nhất. Chúa muốn cho những kẻ ngộ sát thoát khỏi sự báo thù của những con người hung dữ.
    Chúa cũng có những chuẩn bị cho dân tộc này để thêm vào ba thành ẩn náu nữa nếu biên giới xứ họ được mở rộng. Ngài đã hứa ban cho Y-sơ-ra-ên một xứ rộng rãi (Sa 15:18 Xu 23:31), và nếu họ vâng theo luật pháp Ngài, Ngài sẽ giữ lời hứa Ngài. Chỉ suốt triều đại của Đa-vít mà địa phận rộng lớn này đã thật sự do Y-sơ-ra-ên nắm giữ, và sau đó họ đánh mất nó khi mọi sự sụp đổ suốt triều đại Sa-lô-môn. Nếu chúng ta không vâng theo ý muốn Đức Chúa Trời và tuyên bố những lời hứa của Đức Chúa Trời, chúng ta không bao giờ có thể nhận được tất cả những gì Đức Chúa Trời muốn chúng ta có.
    Kẻ ngộ sát (Phu 19:4-6). Luật vẫn theo Môi-se trong việc phân biệt kẻ sát nhân và kẻ ngộ sát (Xu 21:12-14 Le 24:17). Người vô ý giết ai đó có thể chạy trốn đến thành ẩn náu gần nhất và trình bày hoàn cảnh của mình cho các trưởng lão ở đó. Nếu người ấy không chạy trốn, người của gia đình nạn nhân có thể đuổi bắt người ấy và trở thành “kẻ báo thù huyết” và giết người ấy. Y-sơ-ra-ên không có hệ thống nào cho việc xác định và bắt giữ những tội phạm bị tình nghi. Điều đó cho gia đình nạn nhân thấy rằng sự công bình đã được thực hiện. “Kẻ báo thù huyết” không được quyền hành động như quan án, bồi thẩm hay người hành hình; người ấy chỉ phải giao bị cáo cho các viên chức có quyền. Nhưng nếu người bà con này giận dữ, người ấy có thể nắm luật pháp trong tay và giết người vô tội. Bằng cách chạy trốn đến thành ẩn náu, kẻ ngộ sát được an toàn cho đến khi những sự thật của vụ án có thể được xem xét và bản án được tuyên bố. Nếu được nhận thấy vô tội, kẻ ngộ sát, được phép sống an toàn trong thành ẩn náu cho đến khi thầy tế lễ cả qua đời. Dù vô tội, người ấy vẫn trả một giá cho việc vô tình giết mạng người khác. Nếu người ấy rời khỏi thành ẩn náu, mạng sống người ở trong sự nguy hiểm và các trưởng lão không thể bảo vệ người ấy.
    Những thành ẩn náu này minh họa sự cứu rỗi chúng ta trong Chúa Giê-xu Đấng mà chúng ta “đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta” (He 6:18), nhưng chúng cũng minh họa như vậy bằng sự tương phản. Người chạy trốn trong Y-sơ-ra-ên làm vậy vì người ấy không phạm tội sát nhân, nhưng chúng ta chạy trốn vì chúng ta phạm tội và đáng bị xét đoán. Không ai cần phải điều tra trường hợp của chúng ta vì chúng ta biết mình đã phạm tội và đáng bị sự trừng phạt của Đức Chúa Trời. Về trường hợp các thành ẩn náu, người vô tội được phép sống, nhưng trong trường hợp của chúng ta, Chúa Giê-xu Đấng vô tội đã bị kết án chết. Người Y-sơ-ra-ên phải ở trong thành ẩn náu, vì nếu người rời thành, người có thể chết trong tay kẻ báo thù. Sự cứu rỗi chúng ta có trong Đấng Christ được quyết định không bởi sự vâng lời của chúng ta nhưng tùy thuộc hoàn toàn vào ân điển và những lời hứa của Ngài. “Ta ban cho nó sự sống đời đời, nó chẳng chết mất bao giờ, và chẳng ai cướp nó khỏi tay ta” (Gi 10:28). “Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Chúa Giê-xu” (Ro 8:1). Kẻ ngộ sát Y-sơ-ra-ên có thể rời thành ẩn náu một cách hợp pháp sau sự qua đời của thầy tế lễ cả, nhưng thầy tế lễ Thượng phẩm của chúng ta ở trên trời sẽ không bao giờ chết và sống đời dời để cầu thay cho chúng ta (He 7:25).
    Kẻ giết người (Phu 19:11-13). Nhưng có thể một người nào đó đã mưu sát kẻ thù mình sẽ chạy trốn đến một thành ẩn náu và nói dối với các trưởng lão, kể với họ rằng mình vô tội. Các trưởng lão trong thành của hắn phải làm cho sự việc minh bạch bằng cách sai đến thành ẩn náu và đem hắn trở về thành của hắn. Các trưởng lão trong thành ẩn náu sẽ trao trả bị cáo để hắn có thể bị xét xử thích đáng, nếu có tội, sẽ bị xử tử, Đức Chúa Trời mong muốn mỗi công dân quan tâm về việc đảm bảo cho sự công bình được thực hiện trong xứ. Sẽ dễ dàng để các viên chức trong thành của kẻ giết người để cho các trưởng lão trong thành ẩn náu lo lắng về vụ kiện, nhưng điều đó sẽ không đẩy mạnh sự công bình hay ngăn trở sự ô uế xứ. Trong dân tộc Y-sơ-ra-ên, việc làm đổ huyết vô tội làm ô uế xứ, và một cách để thanh tẩy xứ là trừng phạt kẻ vi phạm. “Chớ làm ô uế xứ nơi các ngươi ở, sự đổ huyết làm ô uế xứ, và sự chuộc tội không thể được thực hiện cho xứ bị đổ huyết, trừ khi bởi huyết của kẻ làm đổ huyết” (Dan 35:33 NIV).
    Giết người là một trong nhiều tội tử hình ở Y-sơ-ra-ên. Những tội tử hình khác là tội thờ hình tượng và tội phù phép (Le 20:1-6), tội lộng ngôn (24:10-16), tội vi phạm ngày Sa-bát (Dan 15:32-36), tội bất tuân cha mẹ một cách cố ý và tái diễn (Phu 21:18-21 Xu 21:15-17), bắt cóc người (Xu 21:16), giao cấu với thú vật (22:19), đồng tính luyến ái (Le 20:13), tà dâm, và cưỡng hiếp thiếu nữ đã hứa hôn (Phu 22:22-27). Ngày nay, chúng ta không có nhiều tội tử hình này, nhưng Y-sơ-ra-ên là một quốc gia thần quyền và luật pháp của nó là luật pháp của Đức Chúa Trời. Vi phạm luật pháp là phạm tội nghịch với Chúa và làm ô uế xứ và dân sự cần hiểu sự nghiêm trọng của những hành động như thế. Vào năm 1972, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã tuyên bố án phạt tử hình là trái với hiến pháp nhưng sau đó phục hồi nó trở lại và năm 1976. Án tử hình có thể không ngăn trở mọi kẻ sát nhân cất đi một mạng sống, nhưng nó thật sự đề cao sự quý giá của nhân mạng cũng như tôn trọng luật pháp.
    Kẻ cắp (Phu 19:14). Sau khi Y-sơ-ra-ên chinh phạt xứ Ca-na-an, mỗi chi phái được ấn định địa phận của mình và ranh giới của họ được mô tả chính xác. Giô-suê, thầy tế lễ cả Ê-lê-a-sa cùng những trưởng lão của 12 chi phái bốc thăm và thực hiện việc phân chia xứ (Gios 14:1-2). Trong các chi phái, mỗi gia đình và thị tộc sẽ nhận lấy phần đất mình và đánh dấu bằng những hòn đá làm ranh giới. Trong thời đó, các viên chức không vẽ sơ đồ đất đai chi tiết, điều mà chúng ta ngày nay gọi là “sơ đồ nhà đất”. Mọi người phải tôn trọng mộc giới (đá ranh giới), vì dời những hòn đá có nghĩa là ăn cắp đất của người lân cận mình và của con cháu họ (Ch 22:28). Những quan chức vô tâm có thể dễ dàng bóc lột góa phụ với cô nhi nghèo khó và chiếm đất cùng huê lợi của họ (Ch 15:25 23:10-11). Vì Đức Chúa Trời làm chủ xứ và dân sự là tá điền của Ngài, nên việc dời những hòn đá cũng có nghĩa là ăn cắp của Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ trừng phạt họ (Os 5:10). Chắc chắn tội này được kể trong số những sự rủa sả được rao từ núi Ê-banh (Phu 27:17).
    Hình phạt cho kẻ giết người nhắc nhở họ rằng tài sản cá nhân phải được tôn trọng. “Ngươi chớ trộm cắp” (Xu 20:15) hàm ý rộng hơn là chỉ cấm kẻ cắp vào nhà người ta và lấy đi những gì không phải của mình. Tống tiền cũng là ăn cắp (Thi 62:10) và Đức Chúa Trời lên án những quan chức lập các luật lệ bất công để họ có thể cướp của người nghèo và kẻ cô thế (Exe 22:29). Kẻ vu khống và kẻ làm chứng dối cướp đi của người khác thanh danh của họ (Phu 19:16-19 Mat 15:19-20) và thanh danh khó phục hồi hơn hàng hóa bị đánh cắp.
    Kẻ nói dối (Phu 19:15-21). Mọi hệ thống của công lý đều tùy thuộc vào việc con người biết lẽ thật và nói sự thật. Làm chứng dối là vi phạm điều răn của Đức Chúa Trời (Xu 20:16) và phá hoại nền móng của hệ thống luật pháp. Người thề nói sự thật rồi sau đó nói dối là đang phạm tội khai man, chính nó là một trọng tội. Luật pháp Do Thái đòi hỏi 2 hoặc 3 nhân chứng để lập tội của một bị cáo (Phu 17:6 Dan 35:30), và Chúa Giê-xu (Mat 18:16) với Phao-lô (IICo 13:1 ITi 5:19) đều áp dụng nguyên tắc này cho kỷ luật của Hội Thánh địa phương. Việc 2 hoặc 3 người làm chứng không bảo đảm rằng họ sẽ nói sự thật (IVua 21:1-14), nhưng Môi-se đã cảnh cáo rằng những kẻ làm chứng dối sẽ bị trừng phạt với mức án tương tự như hình phạt đối với bị cáo.
    Tuy nhiên, có thể có những trường hợp mà chỉ một nhân chứng đứng lên tố cáo một người và người ấy là một kẻ làm chứng dối. Vậy thì sao? Cả bị cáo lẫn người làm chứng đơn phương sẽ phải đi đến tòa án trung tâm ở nơi thánh rồi trình bày vụ kiện cho các thầy tế lễ và quan án ở đó (Phu 17:8-13). Nếu tòa án khám phá rằng nhân chứng đơn phương không nói sự thật, người ấy sẽ nhận bản án tương tự, mà sẽ dành cho bị cáo nếu người phạm tội. Luật này sẽ khiến kẻ nói dối suy nghĩ kỹ trước khi vu cáo một người vô tội. Việc đi đến tòa án thầy tế lễ cùng các quan án và phơi trần sự gian ác của kẻ kiện cáo. Nhưng việc nhận biết họ có thể bị hình phạt mà họ muốn đối với bị cáo cũng sẽ khiến họ do dự, đặc biệt nếu đó là tội xử tử: “Chứng gian sẽ chẳng thoát khỏi bị phạt, và kẻ buông lời giả dối sẽ bị hư mất” (Ch 19:2,9).
    Chúng ta đôi khi nghe rằng nỗi sợ hãi hình phạt không làm cản trở người ta phạm luật pháp, nhưng Phu 19:20 nói ngược lại “Còn những người khác hay điều đó, sẽ sợ, không làm sự hung ác như thế ở giữa ngươi nữa”. Mọi luật lệ trong các sách có lẽ đã bị vi phạm nhiều lần và không phải tất cả những kẻ vi phạm đều bị bắt giữ hay bị xét xử. Nhưng điều đó không chứng minh rằng việc khởi tố những kẻ bị bắt không làm cho xã hội tốt đẹp và ngăn trở nhiều tội phạm hơn. Một số chuyên gia luật pháp tranh cãi rằng tử hình đã không ngăn trở người ta phạm những tội tử hình, nhưng làm sao họ biết được? Những luật về tốc độ đã ngăn chặn những người bất cẩn lái xe quá tốc độ quy định, nhưng việc họ có máy dò ra-đa trong xe hơi của họ cho thấy họ không muốn gặp cảnh sát! Và hãy nghĩ đến những xa lộ sẽ nguy hiểm biết bao nếu không có những luật lệ về tốc độ.
    Môi-se kết thúc phân đoạn này bằng cách nhắc nhở dân sự rằng trong mọi trường hợp, hình phạt phải tương xứng với tội phạm (c.21 Xu 21:23-25). Điều này được biết như “lex talionis”, là tiếng La-tinh của “luật ăn miếng trả miếng”. Những người gọi nguyên tắc này là “dã man” có lẽ không hiểu nó có nghĩa gì. Bản án không nên quá nghiêm khắc, cũng không được quá dễ dãi nhưng phải thích hợp với điều luật đòi hỏi và điều phạm nhân bị kết án đáng nhận. Quan án trung thực không dành cho kẻ giết người bản án tương tự như họ dành cho người bỏ thuốc độc con mèo của người lân cận mình, kẻ ăn cắp vặt cũng không nên bị dành cho hình phạt tương tự như kẻ bắt cóc người. Nguyên tắc xét xử này nhấn mạnh sự công bằng và đối xử con người tại một thời điểm trong lịch sử khi các hình phạt hết sức tàn bạo. Ở nước Anh thế kỷ 18 có hơn 200 tội tử hình, và một người có thể bị treo cổ vì tội móc túi. Trẻ em vi phạm luật pháp thường bị đối xử như người lớn và bị bỏ tù vì những vi phạm nhỏ.
    Khi Chúa chúng ta đề cập đến luật “Lex talionus” trong Bài Giảng Trên Núi” (Mat 5:38-42), Ngài không nói về hệ thống tòa án của chính quyền, nhưng nói về cách tín hữu phải đối phó với những vi phạm và cách đối xử bất công của cá nhân, Ngài không hủy bỏ luật pháp Cựu Ước, vì Ngài đến để làm trọn luật pháp đó (c.17-20). Đúng hơn, Ngài cấm môn đồ Ngài “trả đũa tương tự” với những người xúc phạm hoặc lợi dụng họ. Nếu những tòa án của chúng ta không làm theo những mệnh lệnh của Chúa chúng ta được thấy trong các c.38-42, quốc gia sẽ ở trong tay của những tội phạm! Chúa Giê-xu kêu gọi chúng ta đừng trả thù riêng nhưng giao những vấn đề đó trong tay Đức Chúa Trời (Ro 12:17-21). Chúng ta phải bắt chước Chủ và lấy thiện báo ác, lấy tình yêu thương trả cho ghen ghét và lấy sự hy sinh trả cho lòng ích kỷ (IPhi 2:11-25).
    2. Chiến tranh trong xứ (Phu 20:1-9,16-18)
    Dân Do Thái đi vào Ca-na-an không với tư cách người tham quan nhưng với tư cách những chiến sĩ được chuẩn bị cho trận chiến và mong muốn Đức Chúa Trời ban cho họ chiến thắng. Thật quan trọng để chú ý rằng Đức Chúa Trời đã ban cho dân tộc này hai chiến lược quân sự khác nhau, một cho các thành trong xứ Ca-na-an (c.1-9,16-18) và một cho các thành bên ngoài Ca-na-an (c.10-15). Sau khi Y-sơ-ra-ên chinh phạt và định cư trong sản nghiệp mình, họ có thể phải tấn công một thành ở xa, vì luôn có những kẻ thù để đối phó, và họ có thể luôn chấp nhận sự thách thức của việc tuyên bố lời hứa của Đức Chúa Trời và mở rộng xứ (19:8-9)
    Lời bảo đảm của Chúa (Phu 20:1). Môi-se không đánh giá thấp tầm cỡ hay sức mạnh của kẻ thù, vì ông biết rằng các dân tộc sống trong Ca-na-an có ngựa, xe ngựa, quân đội đôngđảo và các thành được xây công sự. 38 năm trước đó các thám tử thăm dò xứ đã nhìn thấy mọi trở ngại và nguy hiểm này (Dan 13:1-33), nhưng không thấy những vấn đệ này nhỏ bé biết bao khi so với sự vĩ đại của Đức Chúa Trời họ. Môi-se nhắc nhở dân sự rằng Chúa đã đem họ ra khỏi Ai Cập một cách thành công để đến đồng bằng xứ Mô-áp và đánh bại mọi kẻ thù tấn công họ. Thật ra, địa phận mà Y-sơ-ra-ên giờ đây đang sống thuộc về dân Do Thái chớ không phải thuộc về kẻ thù, vì Chúa đã ban cho dân Ngài chiến thắng lớn trên các dân tộc phía Đông sông Giô-đanh. Như Chúa đã đánh bại Pha-ra-ôn và quân đội ông ở Ai Cập, Ngài cũng sẽ đánh bại các dân ở Ca-na-an.
    Trong thời kỳ đầu của tình trạng suy thoái trầm trọng, Tổng thống Franklin D.Roosevelt đã nói trong bài diễn văn khai mạc của ông: “Điều duy nhất chúng ta phải sợ là chính sự sợ hãi?” Có một nỗi sợ hãi huy động một người như khi bạn nghe còi báo động cháy vang lên, nhưng cũng có một nỗi sợ hãi làm tê liệt một người, và đó là nỗi sợ hãi Môi-se đang nói. Khi bạn kính sợ Chúa và tin cậy Ngài, chúng ta không cần sợ kẻ thù, Y-sơ-ra-ênkhông có gì để sợ hãi vì Đức Chúa Trời Đấng nhận chìm đội quân Ai Cập, sẽ đánh bại những đội quân Ca-na-an.
    Lời khích lệ của thầy tế lễ (Phu 20:2-4). Đây không phải là thầy tế lễ cả nhưng là một trong các thầy tế lễ được chỉ định nói với quân đội. Chúng ta không nên ngạc nhiên khi nghe thầy tế lễ khích lệ quân đội, vì những cuộc chiến ở Ca-na-an là những cuộc thánh chiến, sự xét đoán của Đức Chúa Trời đối với các dân tộc gian ác đã chống nghịch Ngài và phạm tội nghịch với sự sáng. Chúa đã cho các dân tộc này thời gian dài để ăn năn và trở lại với Ngài, nhưng họ từ chối vâng lời. Việc giải cứu Y-sơ-ra-ên cách kỳ diệu khỏi Ai Cập và sự vượt sông Giô-đanh là bằng chứng đủ cho thấy Đức Chúa Trời Toàn năng ở cùng họ và sự xét đoán đã đến (Gios 2:1-24). Dân Do Thái là dân sự Đức Chúa Trời, chiến đấu trong những cuộc chiến của Đức Chúa Trời và điều đó thích hợp để họ nghe tôi tớ của Đức Chúa Trời, thầy tế lễ (1).
    Lời của Chúa “Đừng sợ” là lời mỗi tín hữu cần nghe khi đối đầu với những kẻ thù của đức tin. Đó là sứ điệp Chúa ban cho Áp-ra-ham, sau khi giúp ông đánh bại các vua (S 15:1) và sứ điệp cho Gia-cốp khi ông rời quê hương đi đến Ai cập (46:3). Môi-se đã rao sứ điệp đó cho dân Do Thái khi họ đứng tại Biển Đỏ (Xu 14:13), và tiên tri Ê-sai đã lặp lại sứ điệp đó nhiều lần để khích lệ những người Do Thái còn sót lại (Es 41:10,13-14 43:1,5 44:2,8). Bạn tìm thấy nhóm từ này 7 lần trong Phúc Âm Lu-ca (Lu 1:13,30 2:10 5:10 8:50 12:7,32). Khi chúng ta bước đi bởi đức tin và cứ nhìn xem Chúa (He 12:1-3), Ngài ban cho ta sự bình an ta cần (Phi 4:4-9). Bạn sẽ hướng đến chiến thắng khi bạn biết Chúa ở cùng bạn và chiến đấu cho bạn.
    Lời khích lệ của các quan trưởng (Phu 20:5-9). Thầy tế lễ khích lệ các chiến sĩ đối diện với kẻ thù không sợ hãi, nhưng các quan trưởng bảo họ trở về nhà nếu họ có việc chưa làm xong, không quan trưởng nào muốn lãnh đạo những chiến sĩ bị phân tâm, có tâm trí và tấm lòng ở đâu đó, vì “một người phân tâm phàm làm điều gì đều không định” (Gia 1:8). Phao-lô có thể đã nghĩ đến hình ảnh này khi ông viết IITi 2:4 “Khi một người ra trận, thì chẳng còn lấy việc đời lụy mình, làm vậy đặng đẹp lòng kẻ chiêu mộ mình”.
    Các quan trưởng tuyên bố 3 trường hợp khác nhau để cho phép sự gia hạn tạm thời, và trường hợp thứ nhất là cho phép người lính dâng cho Chúa một nhà mới và bắt đầu sống trong đó (Phu 20:5). Từ dịch là “dâng” (dedicate, KJV) cũng có nghĩa là “bắt đầu” (initiate), bắt đầu sống trong ngôi nhà này với gia đình mình và vui hưởng nó. Gia đình cần người này nhiều hơn chiến trận cần, vậy người ấy được hoãn lại một năm. Trường hợp thứ hai là thu hoạch một vườn nho mới mà người lính chưa nếm qua trái của nó. Theo Le 19:23-25, người chủ một vườn cây ăn trái phải chờ đến năm thứ 5 trước khi có thể ăn trái của cây, nhưng luật này có thể không áp dụng cho vườn nho. 5 năm sau sẽ là thời hạn khá dài. Trường hợp thứ 3 có lẽ quan trọng nhất, và đó là cho phép người lính đã hứa hôn trở về nhà và lập gia đình. Theo Phu 24:5 người ấy được hoãn 1 năm.
    Ba ngoại lệ này cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm nhiều về việc chúng ta hưởng những phước hạnh của đời sống gia đình, mùa gặt, và tuần trăng mật hơn việc chúng ta chỉ dấn thân cho những chiến trận của đời sống. Ngài không muốn bất cứ người Do Thái nào dùng những trách nhiệm quân đội làm một viện cớ để bỏ b