• NẮM VỮNG NGHỆ THUẬT GIẢNG DẠY

    NẮM VỮNG NGHỆ THUẬT GIẢNG DẠY
    DẪN NHẬP:
    Một trưởng lão hội thánh hỏi đứa con trai 11 tuổi: “ Lớn lên con muốn làm gì?” “ CON MUỐN TRỞ THÀNH MỘT TRUYỀN ĐẠO”. Người cha hài lòng hỏi tiếp: “ Thế tại sao con muốn trở thành truyền đạo”. Đứa con trả lời không chút do dự: “ Nếu bắt buộc phải đi nhà thờ mỗi chúa nhật thì thà la mắng người khác còn hơn là bị la mắng”. Tôi hy vọng đây không phải là lý do bạn muốn trở thành người giảng dạy.
    Trở thành một người giảng dạy là một sự kêu gọi từ Đức Chúa Trời. Tôi còn nhớ tôi đã được kêu gọi vào chức vụ như thế nào. Tôi không có năng khiếu nói trước đám đông. Ngược lại tôi ghét đứng trước nhiều người. Tôi thường lắp bắp vì bối rối khi được mời nói chuyện trước thính giả. Tôi thắc mắc không hiểu vì sao Chúa lại đặt tôi vào một chức vụ phải thường nói luôn như vậy. Nhưng bởi ân điển, Ngài kêu gọi tôi trở thành một người giảng dạy và tôi yêu thích chức vụ nầy.
    Tôi là một học trò mê say môn giảng. Cảm ơn người thầy dạy môn Tuyên đạo pháp đầu tiên của tôi là Mục sư Ladislao Esteva, chính ông đã khuấy động ước mơ trởthành người truyền đạo trong tôi. Mãi đến bây giờ, tôi vẫn còn là người học trò của môn giảng dạy. Tôi tiếp tục quan sát các người giảng khác, đọc nhiều sách vỡ và tham dự các khóa học để hoàn thiện kỹ năng giảng dạy của mình. Ở đây tôi chia sẽ lại những gì tôi thu thập được từ các nghiên cứu nầy. Tôi hy vọng các bạn sẽ học được đôi điều giúp các bạn nắm vững nghệ thuật giảng dạy.
    Giảng là gì?
    Giảng luận là một dụng cụ rất hiệu quả để công bố ý chỉ của Đức Chúa Trời cho con người. Bao nhiêu lần tư tưởng, thái độ và chính đời sống của chúng ta đã được ảnh hưởng bởi sự giảng dạy của người khác? Chúng ta đi nhóm mỗi chúa nhật với mục đích chính là để nghe người của Đức Chúa Trời giảng dạy. Những vĩ nhân trong lịch sử Cơ đốc giáo được lưu danh nhờ ở sự giảng dạy của họ cả trong sách vỡ lẫn trên tòa giảng.
    Chúng ta bắt đầu bằng định nghĩa sự giảng luận. Charles Koller trong tác phẩm “ Giảng giải kinh không cần ghi chú” đưa ra một định nghĩa thích hợp cho sự giảng luận. Ong viết: “ Giảng là phương cách đặc biệt Đức Chúa Trời dùng qua sứ giả được Ngài chọn để bước vào gia đình nhân loại và đem con người đối diện với chính Ngài.” Với định nghĩa nầy bốn khái niệm quan trọng về việc giảng luận được nêu lên: Trước hết,Giảng là Đức Chúa Trời quyết định phương cách làm cho sứ điệp của Ngài được mọi người biết đến. Thứ hai, Đức Chúa Trời chọn sứ giả để truyền đạt sứ điệp của Ngài. Thứ ba,Chúa dự phần tích cực khi sứ giả được chọn lựa của Ngài rao giảng. Thứ tư, kết quả của việc giảng luận là gặp gỡ Chúa.
    I. NHỮNG YẾU TỐ CĂN BẢN CỦA SỰ GIẢNG LUẬN
    KINH VĂN
    Kinh văn là một phần của Lời Chúa, là nền tảng của bài giảng. Kinh thánh là dụng cụ thiên thượng để giải bày Chúa cho con người. Nếu bài giảng đặt nền tảng trên sự giải nghĩa đúng đắn bản văn Kinh thánh, sự xức dầu của Chúa tuôn tràn trên người giảng và sứ điệp được đón nhận như là “tiếng phán” của Đức Chúa Trời cho thế hệ hôm nay.
    Nathaniel Van Cleave lý luận rằng: “ Quan trọng biết bao nếu con người hiểu biết thấu đáo Thánh kinh, vì thế người giảng phải sử dụng mọi cơ hội để trích dẫn, tôn cao và dạy dỗ Kinh thánh.”
    “ Công việc của người giảng là rao giảng Phúc âm; nếu phúc âm chỉ được tìm thấy trong Thánh kinh và Thánh kinh là mặc khải thiên thượng được linh cảm của ý chỉ Đức Chúa Trời,bài giảng của họ phải đặt nền trên bản văn Kinh thánh.”
    N. Van Cleave
    “ Một nhà giải kinh suy nghĩ trong 3 lãnh vực.Trướchết, như một nhà bình giải ông phải cố tìm ý nghĩa của các trước giả Thánh kinh. Sau đó, như là người của Đức Chúa Trời,ông phải chiến đấu với cách Chúa muốn thay đổi cá nhân ông. Cuối cùng, như một nhà truyền đạo, ông phải cân nhắc những gì Đức Chúa Trời muốn ông giảng cho hội chúng”.
    Haddon Robinson
    DÂN SỰ
    Những giáo dân ngồi trong các băng ghế nhà thờ chờ đợi và suy nghĩ: “ Sứ điệp của Chúa cho tôi là gì?”. Giống như vua Sê-đê-kia hỏi tiên tri Giê-rê-mi: “ Đức Giê-hô-va có phán lời gì chăng?” (Gie 37:17), mỗi người trong hội chúng mong đợi nghe Chúa phán.Vì thế, sự giảng dạy thật sự hiệu quả là phải mang hội chúng gặp gỡ Đức Chúa Trời.
    Sự giảng dạy thật không phải là thực tập kỹ năng hùng biện của người giảng, cũng không phải là chỗ phô diển kiến thức kinh thánh sâu rộng của ông. Sự giảng dạy thật là sự trình bày sứ điệp của Đức Chúa Trời đáp ứng được nhu cầu thuộc linh của dân sự và thách thức họ bước theo lối công bình.
    NGƯỜI GIẢNG
    Người giảng là người của một giờ, là phát ngôn viên của Đức Chúa Trời. Ong đứng giữa Chúa và con người để công bố sứ điệp của Ngài. Là người rao giảng, ông là người của Chúa với sự che phủ của vị tiên tri và sự xức dầu của vị sứ đồ. Sự quan tâm của ông không phải là chuẩn bị bài giảng mà là nuôi nấng chính linh hồn mình. Sau hết cá nhân ông phải là hiện thân của sứ điệp ông giảng,CharlesKoller thêm: “ Khi ông giảng, đó không phải là những lời thì thầm yếu ớt, nhưng là sức sống thuộc linh của những tiên tri và sứ đồ mà ông là hậu duệ trực tiếp”.
    Người giảng phải trình bày sứ điệp của Chúa với sự sôi nổi và lòng nhiệt thành. Ong là đại sứ của Chúa,đại diện cho Vua muôn vua,Chúa muôn chúa. Ong là sứ giả được chọn lựa của Chúa với trách nhiệm truyền đạt ý chỉ của Ngài cho dân sự. Vinh quang và sự vĩ đại của Chúa phải được phản ảnh qua sự hiện diện của ông.
    SỰ GIẢNG DẠY
    Giảng luận là phương pháp của Chúa đem con người đến với Ngài. Sứ đồ Phi-e-rơ nhắc nhở độc giả của ông rằng họ cần phải được “ tái sinh,chẳng phải bởi giống hay hư nát,nhưng bởi giống chẳng hư nát,là bởi lời hằng sống và bền vững của Đức Chúa Trời” ( IPhi 1:23 ). Ong giải thích thêm rằng kinh nghiệm nầy đến vì “ lời đó là đạo Tin lành đã giảng ra cho anh em” (IPhi 1:25). Chúng ta cóthể suy nghĩ về nhiều phương cách truyền thông Lời Chúa khác nhưng giảng dạy vẫn là công cụ quyền năng nhất chuyển tải sứ điệp của Chúa cho con người hiện đại.
    Sự rao giảng Lời Chúa phải là tâm điểm của mọi cuộc thờ phượng. Đó chính là lúc Chúa phán với con người. Chúng ta có thể bị thu hút suốt thời gian ngợi khen và thờ phượng. Ca đoàn có thể mang đến cho chúng ta không khí thiên đàng.Nhưng khi người “Giảng là nghệ thuật kết hợp nhà truyền đạo và sứ điệp của ông”
    Giám mục William Quayle
    “ Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người”
    Mac 16:15
    Giảng bắt đầu chia sẽ sứ điệp, có thể có một đôi người đang vui hưởng “vùng mờ ảo” của giấc ngủ không?. Không, không thể như thế được. Sự kích động,ngây ngất phải bao trùm toàn thể hội chúng vì họ đang lắng nghe “tiếng phán của Chúa” ẩn giấu trong sứ giả được chọn lựa của Ngài.
    QUYỀN NĂNG
    Có một thân vị vô hình khi Lời Chúa được rao giảng. Sự hiện diện của Chúa đem đến sự khác biệt cho bất cứ sinh hoạt thờ phượng nào. Thánh linh hà hơi trên việc truyền thông Lời Chúa thật sự và kết quả là sự đáp ứng của hội chúng. Nathaniel M. Van Cleave quan sát:
    Có lẽ,đó là lý do Phao-lô nài xin hội thánh Ê-phê-sô tiếp tục cầu nguyện cho ông để lời giảng của ông có quyền năng thật sự. “ Hãy nhờ Đức Thánh Linh thường thường làm đủ mọi thứ cầu nguyện và nài xin…cũng hãy vì tôi mà cầu nguyện,để khi tôi mở miệng ra, Chúa ban cho tôi tự do mọi bề, bày tỏ lẽ mầu nhiệm của đạo Tin lành, mà tôi vì đạo ấy làm sứ giả ở trong vòng xiềng xích,hầu cho tôi nói cách DẠN DĨ như tôi phải nói” (Eph 6:18-20). Từ ngữ HY lạp dịch là dạn dĩ giống từ được dùng trong Cong 4:31: “ Khi đã cầu nguyện, thì nơi nhóm lại rúng động; ai nấy đều được đầy dẫy Đức Thánh Linh, giảng đạo Đức Chúa Trời cách DẠN DĨ” . Đối với các sứ đồ, sự giảng dạy Lời Chúa được xức dầu thực sự là đỉnh diểm của toàn bộ sinh hoạt thờ phượng.
    Đức Thánh Linh vận hành trong lúc sự giảng dạy được thực hiện. Nếu không có sự xức dầu nầy, người giảng giống như người thợ mộc chia sẽ một bài giảng khô khan. Đức Thánh Linh cũng soi sáng cả người giảng lẫn hội chúng liên quan đến phần Kinh thánh đã được cho. Ngài ban sự thông hiểu và áp dụng đúng với bản văn Kinh thánh. Quan trọng hơn, Ngài cáo trách lòng thính giả. Chính Ngài thực hiện sự thay đổi trong đời sống tín nhân qua sứ điệp được chia sẽ.
    “Lời nói và sự giảng của tôi chẳng phải bằng bài diển thuyết khéo léo của sự khôn ngoan, nhưng tại sự tỏ ra Thánh Linh và quyền phép”
    Phao-lô (ICo 2:4)
    …Nếu người giảng tin rằng giảng là phương cách đem tín nhân bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời cũng như đem người chưa tin đến sự hiểu biết ân điển cứu rỗi thì ông phải đeo đuổi phương cách tuyệt vời nầy”
    Joel C. Dumapit
    II. HIỂU RÕ ĐỐI TƯỢNG CỦA BẠN
    SỰ GIẢNG DẠY HIỆU QUẢ DỰA TRÊN VIỆC THÔNG THẠO 3 LÃNH VỰC:
    Người giảng là người chuyển tải sứ điệp được xức dầu của Đức Chúa Trời. Nếu người giảng tin rằng giảng dạy là phương cách đem tín nhân vào sự hiện diện của Đức Chúa trời cũng như đem người chưa tin đến sự hiểu biết ân điển cứu rỗi thì ông phải theo đuổi con đường tuyệt vời nầy. Khi người truyền đạo rao giảng, có 3 lãnh vực ảnh hưởng đến sứ điệp của ông. Bản văn Kinh thánh là nền tảng của nội dung bài giảng. Nhân cách của người giảng phản ảnh cá tính của ông làm gia tăng hiệu quả. Sự trình bày sứ điệp biểu lộ kỹ năng truyền đạt của người giảng. Vì thế, giảng dạy hiệu quả đòi hỏi sự tinh thông của người giảng về đối tượng rao giảng, về chính mình và về cấu trúc bài giảng.

    THỰC HIỆN
    TÌM…
    CÂU HỎI
    Sự kiện
    Việc giải kinh
    Ý nghĩa
    Ý nghĩa của phân đoạn KT nầy là gì?
    Nhiệm Vụ
    Sự tương quan
    Sứ điệp
    Tại sao phân đoạn KT nầy lại nổi bật?
    Hình thức
    Sắp xếp, tổ chức
    Cấu trúc
    Làm thế nào trình bày phân đoạn KT nầy?
    TÌM Ý NGHĨA
    Môn giải kinh đòi hỏi nghiên cứu về:
    1. Thượng hạ văn của phân đoạn Kinh thánh?
    2. Nội dung của phân đoạn Kinh thánh.
    Mục đích của MÔN GIẢI KINH là tìm Ý nghĩa dự định của tác giả. Ý nghĩa của tác giả thường được hướng đến các nhu cầu, hoàn cảnh và nan đề của độc giả nguyên thủy.
    TÌM SỨ ĐIỆP
    Hai câu hỏi:
    1. Những vấn đề liên quan đến đời sống thính giả phù hợp với ý nghí của trước giả như thế nào?
    2. Những lẽ thật nổi bật hay nguyên tắc đặc biệt liên hệ với độc giả là gì?
    “Nếu bạn rao giảng Phúc âm chỉ với mục đích đối phó với thì giờ,bạn chẳng rao giảng phúc âm chút nào”
    Martin Luther
    TÌM CẤU TRÚC

    ĐỀ TÀI
    KINH THÁNH
    GIẢI NGHĨA
    NGHIÊN CỨU
    BẢN VĂN KT
    Đề tài hay chủ đề được rút ra từ bản văn KT
    Chủ đề và dàn bài được cung cấp từ bản văn KT
    Chủ đề, dàn bài và phần hổ trợ được lấy từ bản văn KT
    ĐẶC TRƯNG
    CĂN BẢN
    Phần bài viết hoàn toàn tự do
    Không giới hạn đối với khả năng sáng tạo của người giảng
    Soạn thảo dựa trên KT
    Tập trung vào việc giải nghĩa bản văn KT
    Hướng đến kiến thức Kinh thánh sâu rộng hơn
    Nghiên cứu kỹ lưỡng bản văn KT
    NHỮNG ĐIỀU KIỆN
    Chủ đề không được nghiên cứu đầy đủ bởi chỉ một phân đoạn KT đơn lẽ
    Chủ đề đòi hỏi được nghiên cứu trong một phương cách tổng quát
    Bản văn KT cung cấp những điểm chính đáp ứng nhu cầu dân sự
    Những lẽ thật đòi hỏi nhiều thẩm quyền hơn
    Bài giảng đòi hỏi phải hiểu sâu hơn về một chương hay cả sách
    Nghiên cứu về một bài tường thuật, một ẩn dụ,một phép lạ hay một Thi thiên
    Suy nghĩ về điều nầy… (Trích dẫn từ N.Van Cleave)
    1. Việc sắp xếp,tổ chức giúp người giảng chia sẽ dễ dàng hơn
    2. Một bài giảng có chuẩn bị làm hài lòng các thính giảkhó tính.Nó hấp dẫn hơn.
    3. Một bài giảng có sắp xếp sẽ dễ nhớ hơn.
    4. Một bài giảng có sắp xếp sẽ dễ hiểu hơn.
    5. Việc sắp xếp,chuẩn bị làm tăng hiệu quả của bài giảng.
    NHỮNG LƯU Ý QUAN TRỌNG…
    1. Tạo ra nhu cầu ngay trong phần dẫn nhập. Đừng tưởng rằng những người đang ngồi trên các băng ghế nhà thờ sẵn lòng nghe Lời Chúa. Dù bạn biết rõ rằng sứ điệp của bạn là điều hội chúng đang cần, họ cũng sẽ không cắn câu cho đến khi bạn cho họ miếng mồi. Miếng mồi đó chính là cách bạn làm cho họ khao khát lắng nghe bạn giảng. Many bài giảng uổng phí vì người giảng thiếu khả năng chuẩn bị tấm lòng. Miếng mồi có thể là một mẫu chuyện thú vị, một kinh nghiệm cá nhân liên quan đến lẽ thật bạn sẽ giảng, một biến cố đang xãy ra, một bài thơ, một bài hát, một câu hỏi hay một điều gì đó sẽ xoay chuyển tâm trí đang lang thang của thính giả hướng về bạn. Một truyền đạo đã gợi ý rằng: “ Nếu bạn không thấy được hứng thú của thính giả trong vòng năm phút đầu tiên của bài giảng, bạn không nên tiếp tục nữa”.
    2. Làm cân bằng nội dung với phần áp dụng. Lời Chúa không đươc ban cho để chúng ta có thêm kiến thức về sự bí nhiệm của Chúa. IITi 3:17 làm sáng tỏ mục đích của Kinh thánh:
    “ hầu cho người thuộc về Đức Chúa Trời được trọn vẹn và sắm sẳn để làm mọi việc lành”. Một số người giảng cho rằng thính giả của họ sẽ áp dụng lẽ thật họ đã nghe cho chính họ.
    Nhưng đôi khi họ không áp dụng. Vì thế, nên lặp lại nội dung ở phần áp dụng.
    1. Tóm tắt các khái niệm, nguyên tắc, bài học, hay áp dụng trong phần kết luận. Thật khôn ngoan khi tóm tắt sứ điệp của bạn bằng 2 hay 3 câu các khái niệm, nguyên tắc, bài học, hay áp dụng trước khi bạn kết thúc bài giảng. Thính giả có thể quên các chuyện hài hước bạn kể, hoặc các tiếng nói dõng dạt uy nghiêm của bạn cũng như các bình luận bạn đã dày công nghiên cứu, nhưng những lẽ thật bạn muốn truyền đạt sẽ được in sâu vào trong trí họ bằng những câu kết luận nầy.
    III. HIỂU RÕ CHÍNH BẠN
    Bằng chứng Kinh thánh cho thấy Đức Chúa Trời dùng con người làm trung gian để bảy tỏ công
    việc của Ngài. Những người trung gian nầy là những người có đời sống tin kính. Sứ đồ Phao-lô nhấn mạnh rằng vì là chứng nhân của Phúc âm Đấng Christ,họ phải sống đời sống thánh khiết,công chính và không chỗ trách được (ITe 2:8,10). Các trước giả của Lời Chúa được đặc biệt tuyển chọn vì đời sống thánh khiết của họ (IIPhi 1:21).
    Sự nhập thể của Lời Đức Chúa Trời
    Hãy nhìn xem sự nhập thể , Đức Thánh Linh che phủ Mari là tác nhân con người ( Lu 1:35), và Lời hằng sống của Đức Chúa Trời được sinh ra. Tương tự như vậy,Đức Thánh Linh vận hành trong trước giả là con người (IIPhi 1:21),sản sinh ra lời thành văn vô ngộ của Đức Chúa Trời (Kinh Thánh)
    “Vậy vì lòng rất yêu thương của chúng tôi đối với anh em, nên ước ao ban cho anh em, không những Tin Lành Đức Chúa Trời thôi đâu, song cả đến chính sự sống chúng tôi nữa… anh em làm chứng, Đức Chúa Trời cũng làm chứng rằng cách ăn ở của chúng tôi đối với anh em có lòng tin, thật là thánh sạch, công bình, không chỗ trách được”
    ITe 2:8,10
    Lời nhập thể
    Kiểu mẫu tương tự có thể được thấy trong việc rao giảng “Lời Đức Chúa Trời”. Người giảng sau khi đã dầm thấm với cả “Lời hằng sống” và “Lời thành văn” , sẽ nói ra “Lời Đức Chúa Trời”.
    NHỮNG NGUYÊN TẮC:
    1. Người giảng phải là hiện thân của sứ điệp.
    2. Người giảng được tin cậy nhờ hiểu biết cả Lời hằng sống ( Chúa Jêsus) và Lời thành văn (Kinh Thánh)
    3. Đời sống người giảng nói lớn hơn là lời nói.
    “ Ngày nay tôi thích thấy một bài giảng hơn là chỉ nghe
    Tôi thích một người chuyện trò hơn là đứng chỉ đường
    Đôi mắt là học trò tốt hơn và sẳn lòng hơn là đôi tai
    Lời khuyên tốt cũng đôi khi làm bối rối, nhưng gương tốt luôn rõ ràng
    Vị thầy giỏi nhất là người sống theo điều mình tin
    Những gì mọi người cần là tri hành hợp nhất
    Tôi sẽ làm điều đó dễ dàng nếu anh cho tôi thấy anh đã làm xong
    Lời nói gió bay, nhưng việc làm của anh còn lại
    Bài diển thuyết của anh có thể rất hay và chân thật
    Nhưng tôi chỉ học được ở những gì anh thực hiện
    Tôi có thể hiểu lầm những lời chỉ giáo tuyệt vời
    Nhưng làm sao hiểu lầm được cách sống và hành động của anh”
    “Đời sống của diễn giả sẽ bảo đảm cho việc lắng nghe của thính giả”
    Augustine
    ”Cách giảng tốt có thể khiến cho một bài giảng dở có hiệu quả; cách giảng dở có thể khiến một bài giảng hay nhất không hiệu quả”
    Charles Koller
    IV. HOÀN THIỆN PHONG CÁCH GIẢNG
    NHỮNG YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHONG CÁCH GIẢNG CỦA BẠN
    1. Lời nói: Dù có hùng biện đến đâu đi nữa,nếu thính giả không hiểu những gì bạn giảng thì bài giảng của bạn chẳng có ý nghĩa gì. Truyền thông chỉ bắt đầu trong một ngôn ngữ hay nhiều ngôn ngữ,của cả “người nói” lẫn “người nghe”. Vì thế lời nói phải rõ ràng, đơn giản và sống động
    2. Giọng nói: Giọng nói thể hiện chiều sâu trong việc truyền đạt sứ điệp. Haddon Robinson gợi ý rằng “ diển giả nhấn mạnh những gì mình nói chỉ trong 4 cách – bằng sự khác nhau trong giọng nói cao thấp, lớn nhỏ, nhanh chậm và tạm dừng” (Pitch, punch, progress and pause). Giọng nói cao thấp là ngữ điệu lên xuống. Giọng nói lớn nhỏ là sự thay đổi âm thanh để nhấn mạnh từ ngữ hay câu. Nhanh chậm là sự thay đổi tốc độ nói: nhanh hơn hay chậm hơn. Tạm dừng tác dụng như dấu chấm câu trong lời nói.
    3. Cử điệu: “Chỉ 7% tác động của sứ điệp đến từ lời nói của diển giả.,38% nhờ giọng nói và 55% nhờ ở sự diển cảm trên khuôn mặt” – Albert Mehrabian
    V. CẢI THIỆN PHONG CÁCH CỦA BẠN
    1. Chia sẽ bài giảng bằng những lời rõ ràng, đơn giản và sống động
    2. Diển tả sứ điệp bằng ngữ điệu khác nhau
    3. Nhìn xem đáp ứng của thính giả và điều chỉnh phong cách của bạn phù hợp với tình huống.
    4. Cải thiện cách phát âm bằng sự khác biệt khi nhấn mạnh
    5. Thay đổi cử động của cơ thể bạn
    6. Hướng mắt tiếp xúc với thính giả
    7. Nhận biết tầm quan trọng của việc ăn mặc gọn gàng, nghiêm trang.
    “Bài giảng hiệu quả lệ thuộc hai yếu tố:
    Chúng ta nói gì và chúng ta nói như thế nào”
    Haddon
    W. Robinson


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels