• Phương Pháp giảng dạy

    Con người từ lúc mở mắt chào đời cho đến lúc nhắm mắt giã từ cõi đời không lúc nào ngưng nghỉ học hỏi. Sự học hỏi giúp con người tồn tại, phát triển sự khôn ngoan , khai thác tiềm năng vĩ đại của trí tuệ. Sự học hỏi giúp con người thích ứng với cuộc sống, phát triển và làm đẹp cuộc sống đem lại ấm no cho phần thể chất, hạnh phúc cho tinh thần của chính mình và cộng đồng loài người. Sự học hỏi rất đa dạng, nhưng chúng ta tạm chia ra hai dạng chính : Sự học hỏi tự nhiên và sự học hỏi có phương pháp. Sự học hỏi tự nhiên mang nặng tính chất bắt chước và dựa vào kinh nghiệm. Chúng ta nghe, thấy, cảm nhận rồi cố gắng làm rập khuôn theo. Chúng ta nghe, thấy một ai đó đánh đàn, chúng ta có thể bắt chước và đàn lại bài nhạc đã nghe cách rất tốt. Chúng ta sống gần những người nước ngoài nghe họ nói, chúng ta có thể nhập tâm rồi dần dần đi đến chỗ hiểu được, nói được .. v..v. Sự học hỏi tự nhiên này là điều rất tốt, có thể được xem là khởi điểm của mọi sự học hỏi, nhưng nếu chỉ dừng lại tại đây thì sự hiểu biết của con người không thể phát triển được. Để phát triển chính mình và cộng đồng đang sống, con người phải bước vào lãnh vực học hỏi có phương pháp. 
    1. Phương pháp là chìa khóa vạn năng để mở các cánh cửa khả năng đang còn đóng kín, giúp con người có thể sử dụng những khả năng mình có nhưng chưa khám phá ra.
    2. Phương pháp là tác nhân kích thích khiến những tiềm năng tĩnh hoạt động, như một ngòi nổ tác dụng trên một lượng thuốc nổ đang ở trong trạng thái tĩnh, dường như không có tác dụng gì trở thành một sức mạnh lớn lao.
    3.Phương pháp là động lực thôi thúc sự ham thích học hỏi của con người đồng thời cũng là phương tiện hữu hiệu để truyền đạt sự hiểu biết của mình cho người khác. Khi sự hiểu biết và truyền đạt hiểu biết của con người được thực hiện cách tốt đẹp thì nền văn minh sẽ phát triển. Học là ước muốn tiếp thu những gì của người khác biến chúng trở thành sở hữu của mình. Dạy là ước muốn truyền đạt những gì mình có cho người khác với ước muốn người nhận sẽ nhận được những gì chúng ta cống hiến ở mức tốt nhất. Đây chính là lý do cần phải có phương pháp trong lãnh vực dạy và học. Phương pháp sẽ giúp cho việc học cũng như truyền đạt được rõ ràng dễ hiểu, dễ nhớ và dễ áp dụng. Chính Chúa Giê xu Christ là Chúa và thầy tối cao của chúng ta cũng đã sử dụng những phương pháp thích ứng với quần chúng theo nghe Ngài để tất cả mọi người có thể hiểu được những gì Ngài muốn nói và những gì Ngài nói tiếp tục ghi sâu vào tâm trí của người nghe tạo cho họ một cơ sở tốt đẹp để tiếp tục suy gẫm và đi sâu hơn vào sự dạy dỗ nếu họ thật sự muốn như vậy. Mạng lịnh cuối cùng và vô cùng trọng đại của Chúa Giê xu Christ truyền lại cho mỗi chúng ta là :” … Hãy đi dạy dỗ muôn dân … dạy họ giữ hết thảy mọi điều mà Ta đã truyền cho các ngươi …” (
    Mat 28:18-20). Để có thể thực hiện tốt mạng lịnh này chúng ta trước hết cần phải học sau đó sẽ dạy và cả hai lãnh vực này đều đòi hỏi chúng ta phải có những phương pháp.
    Mỗi người có khả năng, ân tứ, tri thức, thể lực khác nhau. Nếu đem so sánh cá nhân với cá nhân dựa theo một tiêu chuẩn nào đó thì có thể có sự hơn kém, nhưng đó chưa phải là giá trị thật của con người. Giá trị thật chỉ được xác định bởi sự thích ứng với chức năng trong vị trí được đặt để, nhiệm vụ được giao phó. Trong một chiếc đồng hồ có những bánh xe lớn, nhỏ, nặng, nhẹ khác nhau, nhưng những hình thức và giá trị này không làm cho chiếc đồng hồ thật sự trở nên có ích lợi. Chiếc đồng hồ chỉ thật sự trở thành một dụng cụ có ích lợi và có giá trị khi các bánh xe đó hoàn tất tốt chức năng trong vị trí được đặt để của mình. Mỗi Cơ đốc nhân đều có một chức năng thích ứng và quan trọng trong chương trình của Đức Chúa Trời. Chương trình cứu rỗi, mở mang nước Đức Chúa Trời diễn tiến như thế nào tùy thuộc vào tinh thần và thái độ của mỗi Cơ đốc nhân đối với vị trí đã được đặt để của mình. Đức Chúa Giê xu phán :”Như cha đã sai Ta thể nào, Ta cũng sai các ngươi thể ấy” (Gi 20:21). “Các ngươi sẽ làm chứng nhân cho Ta tại thành Giê-ru-sa-lam xứ Giu-đê, xứ Sa-ma-ri cho đến cùng trái đất.” (Cong 1:8). Công tác của Chúa Giê xu giao cho Hội thánh là mỗi Cơ đốc nhân phải hoàn tất tốt nhiệm vụ được giao phó trong vị trí đã được sắp xếp cho mình để dẫn đưa mọi người thuộc mọi lứa tuổi, mọi thành phần bước vào trong mối tương giao cá nhân và sống động với Đức Chúa Trời.
    I/ CHỖ CỦA BẠN TRONG CHƯƠNG TRÌNH CỦA CHÚA 
    Lời Đức Chúa Trời trong Kinh thánh nói về vị trí của mỗi Cơ đốc nhân như sau : anh em là thân thể của Đấng Christ, và là chi thể của thân, ai riêng phần nấy. Đức Chúa Trời đã lập trong Hội thánh, thứ nhất là sứ đồ, thứ nhì là đấng tiên tri, thứ ba là thầy giáo, kế đến kẻ làm phép lạ, rồi kẻ được ơn chữa bịnh, cứu giúp, cai quản, nói các thứ tiếng” (ICo 12:2728).”Ấy là nhờ Ngài mà thân thể được ràng buộc vững bền bởi những cái lắc léo, khiến các phần được giao thông với nhau, tùy lượng sức mạnh của từng phần làm cho thân thể lớn lên và tự gây dựng trong tình yêu thương” (Eph 4:16).
    Anh em nhận trách nhiệm dạy dỗ, anh em đang chia xẻ công việc với những người phục vụ Tin lành Đấng Christ. Đừng bao giờ nghĩ rằng :”Tôi chỉ hướng dẫn lớp thiếu nhi, nhi đồng hoặc ấu nhi, chẳng có gì quan trọng”. Không ! Anh em đang có một sự kêu gọi từ trên cao, một sự kêu gọi thánh. Anh chị em đang đồng công với các sứ đồ, các tiên tri , các người giảng Tin lành, các Mục sư và vô số những người đang phục vụ Tin lành để gây dựng thân thể Đấng Christ (Eph 4:11, 12). Anh em đang vâng theo mạng lịnh tối thượng của Chúa, đang đầu tư thì giờ và khả năng của mình cho cơ nghiệp trong cõi đời đời.
    II/ CHỖ CỦA BẠN TRONG ĐỜI SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI BẠN DẠY 
    Bạn rất hăng hái, nhiệt thành bước vào công việc dạy lời Chúa, nhưng rồi bạn phải đối diện với một lớp học quá ít người, bạn có thể nản chí và xem đó như một việc nhỏ. Đừng để bị cám dỗ rơi vào tình trạng này. Hãy xem đây là một dịp tiện tốt để bạn có thể đi sâu vào những nhu cầu thiết yếu đang còn được giấu kín bên trong các học viên của bạn. Để có thể gieo lời Chúa cách có hiệu qủa, bạn phải tìm cách chiếm được tình cảm của từng học viên. Công tác của người dạy thật vĩ đại, vì đó là một công tác riêng tư đối với từng cá nhân. Dạy lời Chúa không phải là truyền đạt giáo điều mà là truyền đạt sự sống : Sự sống của Đấng Christ và đời sống của chính bạn. Bạn là gương mẫu thực tế và sống động của những gì bạn dạy để học viên nhìn vào và noi theo. Đời sống của bạn phải thế nào để bạn có thể nói được với học viên cùng một cách như Phao-lô đã nói :” Hãy bắt chước tôi, cũng như chính mình tôi bắt chước Đấng Christ vậy.” (ICo 11:1). Bởi cớ chỗ đứng của bạn trong chương trình của Hội thánh, bạn có cơ hội gần gũi với những học viên hơn bất cứ ai khác và vì vậy nếp sống cơ đốc của học viên sẽ giống nếp sống Cơ đốc của bạn hơn bất cứ người nào khác trong Hội thánh.
    Không thể nào có được một người hướng dẫn toàn vẹn cả, vì con người ai cũng có ưu lẫn khuyết. Dầu vậy, mỗi ngày chúng ta có thể nhờ Chúa khắc phục những chỗ khuyết và kiện toàn những chỗ ưu. Để giúp đỡ nhau trong sự hầu việc Chúa liên quan đến lãnh vực dạy, chúng ta nêu lên một số lãnh vực cần thiết mà những người hướng dẫn cơ đốc gương mẫu cần có.
    I/ ĐỜI SỐNG 
    Người Hướng dẫn muốn được Chúa dùng phải thường xuyên đối diện với 3 câu hỏi trọng đại : (1) Nếp sống của tôi có làm vinh hiển Chúa không ? (2) Bài dạy tôi có đặt Chúa Giê xu làm trọng tâm không ? (3) Sự dạy dỗ của tôi có được thực hiện trong quyền năng của Thánh Linh không ? Nếu người hướng dẫn trả lời : đã có, hoặc đang chuyên tâm tiến đến, người ấy chắc chắn sẽ đem lại kết quả cho công việc của Đức Chúa Trời. “ Vì Tin lành chúng tôi đã rao truyền cho anh em không những bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền phép, Đức Thánh Linh và sức mạnh của sự tin quyết. Vì anh em biết rõ cách chúng tôi ở giữa anh em và lòng yêu thương đối với anh em là thể nào “ (ITe 1:5). Trong câu Kinh thánh này, thánh Phao-lô nêu lên 3 nguyên tắc quan trọng :
    1. Gương mẫu trong cuộc sống. Lời nói, việc làm, cách xử sự trong cuộc sống hằng ngày của người hướng dẫn thật vô cùng quan trọng.
    2. Tin lành người hướng dẫn dạy phải sống động. Sự sống động của Tin lành này tùy thuộc vào sự hiểu biết sâu nhiệm lời Đức Chúa Trời, đời sống kinh nghiệm Chúa và niềm tin khẳng định và dứt khoát vào những gì đã tin và nói.
    3. Cách Người hướng dẫn dạy. Trong quyền năng và Đức Thánh Linh. (quyền năng của Tin lành :Tin lành không phải chỉ là một số lý thuyết suông chỉ có tác dụng đến thính quan của con người, nhưng còn là quyền năng biến đổi tác dụng trên lòng con người đem lại sự sống mới. Đức Thánh Linh là nguồn năng lực của người truyền đạt Tin lành, là Đấng cảm động lòng người nghe, giải thích và ứng dụng Tin lành cứu rỗi và biến đổi của Chúa Giê xu Christ cho họ).
    A. GƯƠNG MẪU CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN 
    Đời sống của người hướng dẫn có thể đi ngược lại hoặc làm giảm giá trị những gì người ấy dạy.
    Người Hướng dẫn có thể nói rất mạnh mẽ, lưu loát về tình yêu thương tạo được nhiều sự chú ý của học viên, nhưng nếu người ấy có thái độ thiếu nhã nhặn, mềm mại đối với những người cùng làm việc, với người trên mình hoặc với những người trong gia đình thì sự dạy dỗ không đem lại một kết quả thật sự nào. Thái độ của người hướng dẫn, những bài học thiếu nghiên cứu, hoặc chương trình thiếu chuẩn bị đều sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ trên học viên. Gương mẫu của người hướng dẫn vì vậy đã trở thành một phần vô cùng quan trọng trong diễn tiến dạy dỗ.
    1. Phẩm hạnh
    Một người bước vào trong sự hướng dẫn lời Đức Chúa Trời cho những người khác phải là người đã thật sự thuộc về Đức Chúa Trời và được Thánh Linh của Ngài dẫn dắt vì vậy phẩm hạnh của họ phải được đặt căn bản trên bông trái của Thánh Linh được ghi trong Galati 5:22;.
    a. Yêu thương. Yêu thương các học viên cách thành thật, cho dù một học viên nào đó tỏ ra rất ngang nghịch hoặc có thái độ chống đối. Tình yêu thương thật chắc chắn sẽ nhận được kết quả tốt đẹp của nó.
    b. Vui mừng. Vui cách thành thật trong mọi hoàn cảnh.
    c. Bình an. Tin cậy, tín nhiệm, không nghi ngờ.
    d. Nhịn nhục. Kiên nhẫn, nhịn nhục với mọi người.
    e. Nhơn từ. Tử tế, ân cần với mọi người.
    f. Hiền lành. Thẳng thắn trong mọi sự, nhưng không xẳng xớm, hung bạo, cộc cằn.
    g. Trung tín. Trung thành với Chúa và với nhiệm vụ được giao phó
    h. Mềm mại. Dịu dàng, nhẹ nhàng với mọi người.
    i. Tiết độ. Tiết chế, tự chủ với bản thân.
    2. Những đức tánh cần yếu.
    a. Phục tùng. Muốn trở thành người hướng dẫn cần phải biết phục tùng, học hỏi những người trên, những người đi trước mình. Giô-suê là một gương mẫu rất tốt trong lãnh vực này. Dù ông là một tướng lãnh tài ba đã đem lại chiến thắng cho dân Y-sơ-ra-ên trong chiến trận với dân A-ma-léc (Xu 17:8-16), nhưng trên phương diện đối với Môi-se ông vẫn luôn luôn giữ thái độ như một người tôi tớ bình thường (Xu 24:13 33:11 Dan 11:28 13:8). Muốn các học viên vâng phục, vâng lời mình, chúng ta cũng cần bày tỏ chính điều này với những người khác.
    b. Tình nguyện phục vụ. Sẵn sàng phục vụ Chúa hơn lo việc riêng của mình.
    c. Lo tròn nhiệm vụ. Hãy tập thói quen làm ngay, chuẩn bị ngay công việc của mình. Đừng trễ nải, đừng hẹn nay, hẹn mai.
    d. Đừng ngại khó khăn. Nên bình tĩnh khi đương đầu với các vấn đề khó khăn, hoặc những công việc trái với sở thích. Đó là cơ hội tốt để luyện tập, phấn đấu để có những hiểu biết và kinh nghiệm mới. Không có bất cứ một thành công tốt đẹp nào mà không phải bước qua những khó khăn, trở ngại và những điều bất như ý.
    e. Phán đoán nhanh chóng. Trước những vấn đề khó khăn hoặc sự tranh chấp, xích mích phải tập phán đoán nhanh chóng để kịp thời giải quyết.
    f. Đừng ngại thất bại. Trong bất cứ công việc nào, ai cũng có lúc cần phải nếm mùi thất bại, dầu vậy hãy luôn luôn nhớ rằng : thất bại là mẹ đẻ của thành công đối với những ai biết kiên trì. Sự khác biệt giữa người hướng dẫn và người được hướng dẫn là người chịu hướng dẫn bắt tay vào việc khi thấy bước đầu thành công, còn người hướng dẫn dù bị thất bại vẫn cố gắng cho đến lúc thành công.
    g. Theo đúng chương trình. Thảo hoạch chương trình sinh hoạt rồi buộc mình theo chương trình đó cách nghiêm túc. Chúng ta hoan nghinh sự linh động, nhưng nếu linh động nhiều quá thì chương trình có thể bị thất bại hoặc bị bỏ dở giữa chừng.
    h. Thông suốt nội quy. Bất cứ tổ chức lớn nhỏ nào cũng có một hình thức nội quy thành văn hay không thành văn. Cần thông suốt những nguyên tắc đó để khỏi bị lúng túng trong công việc.
    i. Siêng năng. Cần mẫn, hăng say trong nhiệm vụ.
    k. Trong nhân tài. Chọn lựa nhân tài, khai thác khả năng của họ trong những lãnh vực thích hiệp để tập cho họ phục vụ.
    B. KINH NGHIỆM CƠ ĐỐC CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN 
    Để có thể dạy và hướng dẫn học viên của mình đến với Chúa, kinh nghiệm Ngài, người hướng dẫn phải thực sự kinh nghiệm Chúa Giê xu Christ là Đấng Cứu Chuộc và Chúa của mình. Sự nhiệt thành và tự tin của người hướng dẫn tùy thuộc vào đức tin của người ấy như thế nào.
    1/ Đức tin nơi Đức Chúa Trời .
    Dĩ nhiên người hướng dẫn phải có đức tin nơi Đức Chúa Trời rồi, nhưng vấn đề là niềm tin ấy như thế nào có sống động, phát triển và đắc thắng không. Người hướng dẫn không phải chỉ có niềm tin nơi Đức Chúa Trời, nhưng cần phải có niềm tin sống động. (Gia 2:1426)
    2/ Đức tin nơi Kinh thánh .
    Chúa Giê xu đã nêu cho chúng ta một gương rất sáng chói trong lãnh vực tin quyết nơi lời Đức Chúa Trời. Ngài thường trưng dẫn cách đầy tự tin :”có lời chép rằng.” Người hướng dẫn cơ đốc cũng phải có niềm tin và sự trung thành không lay chuyển đối với lời Đức Chúa Trời và lời đó phải có một ảnh hưởng thật sự trên đời sống của người ấy.
    3/ Đức tin nơi công tác dạy dỗ .
    Tại sao bạn tham gia vào công tác dạy đạo ? Có phải vì muốn làm vừa lòng vị chủ tọa ? Vì được tuyển chọn ? Vì bổn phận ? Nếu chỉ có thế thì bạn không có mấy nhiệt tâm trong sự dạy. Nhưng nếu bạn biết và tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã gọi ạn bước vào chức vụ và Ngài sẽ giúp bạn hoàn thành công việc Ngài giao phó, bạn sẽ rất hăng say trong công việc.
    4/ Siêng năng học hỏi .
    Siêng năng học hỏi cũng là những kinh nghiệm rất cần thiết trong đời sống của người hướng dẫn cơ đốc.
    a) Học với Chúa (Mat 11:29)
    Người hướng dẫn thuộc linh phải luôn luôn tìm thì giờ học hỏi với Chúa. Thiếu sự học hỏi này không ai có thể hoàn thành công tác theo đúng mục đích.
    b) Học với người : 
    Người hướng dẫn cũng cần học hỏi với Mục sư , với các phụ huynh, học với nhau để thêm hiễu biết và từng trải. Trong một số trường hợp người hướng dẫn cũng cần học với các học viên và ngay cả với các em bé. “Tay người siêng năng sẽ cai trị, nhưng tay kẻ biếng nhác phải phục dịch“ (Ch 12:24).
    5/ Giữ kỷ luật thuộc linh .
    a. Giữ giờ yên tĩnh : mỗi ngày nên giữ một thì giờ yên tĩnh với Chúa để học hỏi lời Chúa và tương giao với Ngài trong sự cầu nguyện.
    b. Thường xuyên nhóm họp : nên có mặt trong các buổi nhóm tại nhà thờ để thờ phượng Chúa và giao thông với nhau.
    c. Làm theo lời Chúa dạy : nếu biết được Chúa dạy điều gì, hãy vâng theo dù phải trả giá nào cũng vậy.
    II/ TRI THỨC : 
    Người hướng dẫn phải ý thức được tầm quan trọng của chỗ đang đứng và phải tìm cách thích hiệp mình với chỗ đó. Điều này đòi hỏi sự học hỏi và chuẩn bị chu đáo. Thì giờ chúng ta có được với học viên thật là ít oi nên cần phải cố gắng tận dụng từng phút và chỉ có những ai chuẩn bị mới có thể thực hiện được điều này. Chúng ta nêu lên một số điểm quan trọng liên hệ đến sự chuẩn bị.
    A. SỨ ĐIỆP ĐẶT TRỌNG TÂM VÀO CHÚA GIÊ XU. 
    Điều này đòi hỏi người hướng dẫn phải đọc kỹ Kinh thánh. Phải nắm vững những gì liên hệ đến Đấng Christ. Thánh Phao-lô thường viện dẫn Đấng Christ như một gương mẫu cho chúng ta noi theo, nhưng ông không thỏa lòng với nguyên tắc hay với lý thuyết. Ông nêu lên những gương chứng cụ thể từ đời sống Đấng Christ để khuyến khích chúng ta. Khi dạy về tình yêu thương, ông nói :”Hãy bước đi trong sự yêu thương cũng như Đấng Christ đã yêu thương anh em và phó chính mình Ngài …” (Eph 5:2). Khi kêu gọi anh em không nên ích kỷ, ông nói : “Mỗi người trong chúng ta hãy làm đẹp lòng kẻ lân cận mình đặng làm ích và nêu gương tốt, vì chính Đấng Christ cũng không làm đẹp lòng mình, như có chép rằng : “Lời của những người nguyền rủa Chúa sẽ đổ trên mình tôi” (Ro 15:23). Đề cập đến sự hạ mình, ông nói : “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có …” (Phi 2:5). Người siêng năng yêu mến và nghiên cứu Kinh thánh có thể nhìn thấy hình ảnh, tâm tình của Chúa Giê xu qua suốt Kinh thánh.
    B. TRI THỨC RỘNG RÃI VỀ NHỮNG ĐỀ TÀI LIÊN HỆ. 
    Cộng với tri thức Kinh thánh, người hướng dẫn nên làm quen với những đề tài sau đây :
    1. Địa  :
    Các học viên Kinh thánh cần biết địa dư của những vùng trong Kinh thánh. Họ sẽ thấy thích thú khi xác định được núi non, sông ngòi và các thành phố được nêu lên trong Kinh thánh. Vì vậy các giáo viên hay người hướng dẫn cần phải học biết trước cách kỹ càng.

    2. Lịch sử :
    Các học viên dù ở trình độ nào cũng cảm thấy thích thú khi nghe người hướng dẫn cho biết rõ về những biến cố lịch sử trên thế giới và những nhân vật có liên quan đến những biến cố, những giai đoạn lịch sử được ghi lại trong Kinh thánh. Người hướng dẫn có khả năng sẽ giúp học viên hiểu rõ rằng Kinh thánh không phải là những giáo lý mơ hồ mà là thực tế có liên quan mật thiết đến lịch sử và địa dư thế giới. Người hướng dẫn cũng cần làm quen với những bối cảnh lịch sử của những khu vực trong xứ Palestine nơi Chúa Giê xu đã để lại dấu chơn Ngài.
    3. Đời sống và phong tục thời Kinh thánh :
    Đời sống và phong tục ngày xưa khác xa với phong tục của thời đại chúng ta. Sự hiểu biết rộng rãi về những thói quen, phong tục, lễ nghi và thái độ của xã hội loài người thời Kinh thánh sẽ giúp cho người hướng dẫn làm sống lại câu chuyện mình dạy, gây thích thú và gia tăng hiểu biết cho học viên.
    C. DẠY TRONG QUYỀN NĂNG THÁNH LINH 
    Sự dạy dỗ của Thánh Phao-lô được thành công, vì ông dạy trong quyền năng của Thánh Linh. “Vả Tin lành chúng ta rao truyền cho anh em không bằng lời nói thôi, lại cũng bằng quyền năng và Thánh Linh … “ (ITe 1:5). Chính Thánh Linh sẽ ấn chứng sứ điệp của lời Đức Chúa Trời cho lòng của những người nghe. Đừng bao giờ cậy nơi sự khôn ngoan của mình, nhưng hãy cầu xin cho được quyền năng của Thánh Linh hướng dẫn chúng ta trong mọi công việc.
    D. HIỂU BIẾT HỌC VIÊN 
    Người hướng dẫn phải biết rõ từng học viên của mình, có như vậy mới tìm được một đường bước vào cuộc sống của họ. Nhà giáo dục Patterson Dubois nói :” Tâm trí của con người là một pháo đài kiên cố không thể xâm nhập cách lén lút hay bởi tấn công ồ ạt, nhưng có một lối xâm nhập tự nhiên, một cánh cổng dễ vào luôn luôn mở cho người nào muốn tìm nó.”
    Để có thể tìm hiểu học viên, người hướng dẫn cần phải nhạy cảm đối với nhu cầu của lớp mình. Một số những rắc rối về trật tự trong lớp có thể là kết quả của một số điểm chưa được hoàn chỉnh của người hướng dẫn. Một số vấn đề khác như phá phách, gây rối hoặc thiếu linh hoạt trong lớp có thể phát sinh từ tình trạng gia đình. Người hướng dẫn nên tận dụng tất cả mọi cơ hội để tìm hiểu nhu cầu và hoàn cảnh của các học viên của mình (qua nhận xét, tiếp xúc cá nhân, qua sự thăm viếng tại gia đình). Hiểu được những nan đề căn bản của gia đình sẽ giúp người hướng dẫn đối diện với công tác của mình cách can đảm và có mục đích thay vì buông xuôi như một thất bại.
    E. HIỂU BIẾT THUẬT DẠY 
    Không có sách vở hay một phương tiện trợ lực giáo dục nào (Radio, Tivi, phim ảnh) dù tân kỳ đến đâu có thể so sánh với một giáo viên, một người hướng dẫn có khả năng thích hiệp. Người hướng dẫn có thể rất giỏi về tri thức Kinh thánh và rất nhiệt tình nhưng để có thể trở thành một giáo viên, một người hướng dẫn tốt người ấy cần phải có thêm một điều quan trọng nữa : thuật dạy. Thiếu thuật dạy khó truyền đạt và khai thông vấn đề được.
    F. TỔ CHỨC VÀ ĐIỀU HÀNH 
    Sự tổ chức và điều hành thật rất cần. Nó giúp tạo đường hướng để tiến đến đích, tạo trật tự để không đi lạc đường, lệch hướng, tạo sự hiệp nhất để khich lệ nhau tiến đến đích.
    III/ TRÁCH NHIỆM 
    Để có thể hoàn tất trách nhiệm cách thỏa lòng trong việc soạn và dạy bài, người hướng dẫn nên lưu tâm đến 3 bước sau đây :
    A. THƯỜNG XUYÊN HUẤN LUYỆN MÌNH CHO CÔNG TÁC. 
    Như lực sĩ các bộ môn thể dục thể thao luyện tập thường xuyên, các nhạc sĩ luyện tập hằng ngày, người hướng dẫn muốn tìm được sự thỏa mãn trong lớp của mình cũng cần thường xuyên luyện tập thân thể cho thích ứng, tâm trí luôn luôn báo động và tâm linh sống động.
    1/ Thân thể khỏe mạnh .
    Người hướng dẫn cần thận trọng giữ sức khỏe tốt. Vì sức khỏe cũng ảnh hưởng nhiều đến tinh thần và tâm linh và cả 3 ảnh hưởng trực tiếp đến việc dạy. Tùy theo điều kiện và phương tiện có được, chúng ta cố gắng tạo điều kiện tốt cho việc giữ gìn sức khỏa. Thiếu giữ gìn và phung phí sức khỏe không sớm thì muộn sẽ dẫn đến tác hại khó lường được cả về tinh thần lẫn thể lực.
    2/ Tâm trí báo động 
    Tâm trí báo động là tâm trí luôn luôn chuẩn bị để tiếp thu và thích ứng với những đổi thay, những cái mới. Nếu ngày nay học sinh trong các trường được giới thiệu cách lý luận Logic mà chúng ta vẫn sử dụng lối lý luận nông cạn thì không thể nào thích hiệp được. Để khỏi rơi vào tình trạng quá đi sau thời gian người hướng dẫn phải tìm đọc nhiều sách vở, báo chí những tài liệu khoa học, xã hội, giáo dục đang được lưu hành. Nếu người hướng dẫn tỏ ra không quan tâm, hoặc biếng nhác trong lãnh vực này thì sứ điệp của Tin lành không thể trình bày cách thích hiệp được.
    3/ Tâm linh sống động 
    Tâm linh sống động là tâm linh luôn luôn tương giao với Chúa trong sự cầu nguyện, đọc Kinh thánh và thường xuyên giao thông với anh em trong các thì giờ thờ phượng. Tâm linh sống động có thể làm cho bài học chúng ta trình bày được mạnh mẽ và cũng giúp chúng ta đối diện với hoàn cảnh cách trầm tĩnh. Hãy giữ cho tâm linh mình luôn luôn sống động.
    B. THÌ GIỜ NHỨT ĐỊNH ĐỂ HỌC HỎI 
    Mỗi người đều rất bận rộn với công việc sinh sống hằng ngày của mình, dầu vậy mỗi tuần lễ nên khắc phục dành ra một số giờ nhất định để chuẩn bị bài học. Nên nghiêm chỉnh ghép mình vào kỹ luật, không để cho những gì khác có thể xen vào gây trở ngại cho những thì giờ riêng biệt này. Phải luôn luôn nhớ rằng chức vụ dạy dỗ của bạn là chức vụ được chính Chúa kêu gọi. Đây là chức vụ có liên quan đến sự cứu rỗi và sự sống còn của tâm linh một số người liên hệ nên sự chuẩn bị tinh thần, tấm lòng và bài học là điều không thể nào xem nhẹ được.
    C. CHƯƠNG TRÌNH NHẤT ĐỊNH ĐỂ HỌC HỎI 
    Chúng ta có thể tiết kiệm được thì giờ và kết quả sẽ tốt đẹp hơn nếu chịu nêu lên một chương trình với một bố cục rõ ràng để học hỏi. Sự học Kinh thánh sẽ dẫn đến nhiều lãnh vực thích thú và người hướng dẫn có thể bị cám dỗ chạy theo nhiều hướng mà không có một hướng nào nhất định cả. Nói nôm na là người hướng dẫn thấy cái gì hay thì nắm lấy và trình bày ngay chớ không lưu tâm gì đến mục đích.
    IV/ MỘT SỐ GÓP Ý TRONG SỰ HƯỚNG DẪN BUỔI NHÓM HOẶC CHIA XẺ 
    A. BUỔI NHÓM 
    1/ Thảo chương trình trước . Chương trình của bất cứ buổi nhóm nào cũng cần được soạn thảo sớm và kỹ lưỡng.
    2/ Mời người trước . Những ai được mời tham dự trong chương trình nên thông báo cho họ càng sớm càng tốt để có thì giờ chuẩn bị chu đáo.
    3/ Đúng giơ . Nên cố gắng bắt đầu và chấm dứt buổi nhóm đúng giờ để tránh những thói quen trễ nải.
    4/ Người hướng dẫn nên đến sớm ít nhất 15 phút trước giờ nhóm để chuẩn bị tinh thần và những việc cần thiết hoặc giải quyết những việc đột xuất.
    5/ Nên thay đổi địa điểm nhóm . Nếu có thể được, hàng tháng nên thay đổi địa điểm nhóm để có một không khí mới cho buổi nhóm.
    B. CHIA XẺ : 
    1/ Cách nói . 
    a) Lớn tiếng. Cố gắng nói lớn để mọi có thể nghe rõ và dễ lưu tâm theo dõi hơn.
    b) Nói chậm rãi. Luôn luôn giữ tốc độ nói ở mức độ cần thiết. Đừng nói nhanh quá, đừng nuốt chữ nhất là các tên riêng.
    2/ Cách đứng . Phải lưu tâm nhiều về cách đứng giữa công chúng, nhất là lúc không có bục giảng.
    3/ Dáng điệu . Dáng điệu phải thích ứng với lời nói. Động tác chỉ giữ vai trò hổ trợ, làm tăng sức mạnh của lời nói. Vì vậy nếu hổ trợ không đúng cách sẽ gây thiệt hại không nhỏ. Đừng có nét mặt hớn hở khi nói những gì buồn, hoặc có nét bi quan khi nói những gì vui.
    4/ Nhìn thính gia . Khi nói nên nhìn thẳng vào thính giả để nhờ đó họ sẽ chú ý điều chúng ta nói.
    5/ Cố tật . Cố gắng phát hiện và khắc phục những cố tật của chúng ta, kẻo thính giả chỉ lưu tâm đến những cố tật đó và quên lưu ý đến những gì chúng ta nói .
    6/ Đề tài , bố cục . Trước khi nói phải chuẩn bị đề tài, bố cục hoặc bài viết cách cẩn thận. Đọc đi đọc lại nhiều lần để nhớ những gì cần nói.
    7/ Cách viết bài chia xẻ hoặc lời giới thiệu . Nên viết một mặt giấy và nhớ đánh số trang cẩn thận để tránh những trục trặc tai hại có thể xảy ra.
    8/ Đừng mời ai chia xẻ bất ngờ . Điều này đem lại sự tai hại hơn là lợi.
    C. CẦU NGUYỆN: 
    1/ Cầu nguyện lớn tiếng và rõ ràng để mọi người có thể hiệp ý với chúng ta.
    2/ Cầu nguyện vắn tắt . Cầu nguyện trong giờ nhóm họp cần phải ngắn gọn và sát với vấn đề. Cầu nguyện riêng thì bao lâu cũng được.
    D. HÁT: 
    1/ Bài hát quen thuộc . Nên chọn những bài hát mình biết rõ.
    2/ Bài hát ngắn . Nên chọn bài hát ngắn (hoặc hát ít câu), nhịp nhanh, linh động thích hiệp với tuổi trẻ.
    3/ Bài hát mới . Nếu không thể thường xuyên được thỉnh thoảng cũng nên tập những bài hát mới.
    4/ Ban hát . Nếu có thể được nên chọn một số học viên có năng khiếu hát hoặc đàn để thành lập một ban hát hoặc ban nhạc.
    Tất cả mọi công việc đều cần có mục tiêu rõ ràng dài hay ngắn hạn tùy theo từng công việc. Có mục tiêu rõ ràng, chúng ta sẽ dễ dàng thấy được những ưu, khuyết điểm để có thể phát triển, khắc phục và sửa đổi. Mục tiêu giúp chúng ta cố gắng. Mục tiêu giúp chúng ta đo được thành quả và vui mừng trong công việc. Mục tiêu giúp chúng ta không còn thấy tánh chất đơn điệu của công việc cũng như tánh chất dường như bất tận của nó. Nếu chúng ta dạy lời Chúa chỉ để dạy thì công việc sẽ trở nên vô cùng chán ngán dể muốn thối lui. Mục tiêu của chúng ta trong sự dạy đạo là gì ? Mục tiêu này có thể tóm tắt cách đầy đủ trong thơ Cô-lô-se 1 :28 “Lấy mọi sự khôn ngoan để răn bảo mọi người, dạy dỗ mọi người để chúng tôi có thể trình diện mọi người cách trọn vẹn trong Đức Chúa Giê xu Christ ra trước mặt Đức Chúa Trời.”
    I/ MỤC TIÊU : 
    Bất cứ sự giảng dạy cơ đốc nào đều nhắm vào ít nhất 3 mục tiêu chính yếu sau đây :
    A. Dẫn con người đến với Chúa Giê xu và công khai xưng nhận Ngài làm Cứu Chúa và Chúa của riêng mình.
    B. Trình bày về mục đích của Đức Chúa Trời cho con người.
    C. Hướng dẫn, giúp đỡ con người làm theo ý muốn của Chúa trong cuộc sống qua sự thờ phượng Chúa và sống đạo liên tục.
    II/ ĐẠT ĐẾN MỤC TIÊU 
    Để giúp đỡ người hướng dẫn có thể dễ dàng trong việc đạt đến mục tiêu, chúng ta nêu lên một số câu hỏi liên quan đến chương trình và bài học chúng ta chuẩn bị dạy.
    A. Chương trình dạy lời Chúa của chúng ta có giúp dẫn học viên vào mối tương giao cá nhân với Đức Chúa Trời không ? (Es 64:8)
    Trong lãnh vực này chúng ta cần giúp mỗi học viên một số điểm sau đây :
    1) Làm quen với Đức Chúa Trời là Đấng Tạo hóa, Đấng cai trị và bảo tồn vũ trụ (tùy theo trình độ của mỗi nhóm tuổi, chúng ta nêu lên những thí dụ cụ thể).
    2) Hướng dẫn học viên vào mối tương giao với Đức Chúa Trời (mối tương giao cha con : dùng sự yêu thương, chăm sóc, bảo vệ, hy sinh của người cha đối với con trong mọi trạng huống của cuộc sống để dẫn chứng) để sự yêu mến Chúa và đức tin của các học viên được vững vàng, bền chặt.
    3) Hướng dẫn học viên bước vào sự thờ phượng (tôn kính, yêu mến. cảm tạ, ngợi khen, thuận phục …).
    4) Hướng dẫn học viên tìm biết ý Chúa (trong Kinh thánh) cho đời sống mình và làm theo.
    B. Chương trình có cống hiến cho Học viên một sự hiểu biết và thích thú về đời sống và sự dạy dỗ của Chúa Giê xu để dẫn họ đến chỗ tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa , là người Bạn thật, là Chúa của cuộc sống và dẫn họ đến chỗ trung thành với Ngài không ? (Gi 14:6).
    1. Giúp học viên nhận ra rằng Chúa Giê xu là thật, là sự bày tỏ trọn vẹn của Đức Chúa Trời và là con đường duy nhất dẫn đến Đức Chúa Trời.
    Người hướng dẫn thường bị rơi vào chỗ quá chú trọng đến việc trình bày những câu chuyện, những phép lạ của Chúa Giê xu mà quên đi rằng mục đích của sự dạy dỗ và các phép lạ của Chúa mới là điều quan trọng và quan trọng hơn hết là chính mình Ngài.
    2. Hướng dẫn học viên tiếp nhận Đức Chúa Giê xu Christ làm Cứu Chúa của riêng mình.
    3. Hướng dẫn học viên đầu phục Chúa trọn vẹn và đặt Ngài làm trung tâm cuộc sống. (chúng ta sẽ đề cập rõ hơn về vấn đề chinh phục học viên cho Chúa trong bài thứ 7).
    C. Chương trình của chúng ta có dẫn học viên đến chỗ phát triển liên tục bản tánh của Đấng Christ không ?
    Đây là lãnh vực liên quan đến công việc của Thánh Linh và là ý muốn cao cả nhất của Đức Chúa Trời cho mỗi đời sống. Vì vậy người hướng dẫn cần hết sức lưu tâm.
    1/ Giúp đỡ học viên có được một sự hiểu biết về chức vụ và công việc của Đức Thánh Linh. 
    2/ Dẫn học viên bước vào những kinh nghiệm hằng ngày về sự hiện diện của Thánh Linh trong cuộc sống giúp chúng ta thoát khỏi cuộc sống theo bản ngã và hướng dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật.
    D. Chương trình của chúng ta có giúp cho học viên nhiệt thành và yêu mến sự đọc và học hỏi Kinh thánh không ? (Thi 119:105)
    Chúng ta không những chỉ giúp cho học viên biết về giá trị của Kinh thánh để biết quý trọng học hỏi, nhưng còn giúp cho họ yêu mến lời ấy. Yêu mến như cách tiên tri Giê-rê-mi đã yêu mến khi ông nói :”Tôi vừa nghe những lời Ngài thì đã ăn lấy rồi, lời Ngài là sự vui mừng hớn hở của lòng tôi” (Gie 15:16). Trong lãnh vực này, người hướng dẫn cần có trách nhiệm :
    1) Dạy học viên chấp nhận Kinh thánh là lời Đức Chúa Trời và ưa thích lời ấy.
    2) Hướng dẫn học viên học biết và yêu mến Kinh thánh.
    3) Hướng dẫn học viên tìm những câu giải đáp cho các vấn đề của cuộc sống hằng ngày trong Kinh thánh.
    4) Giúp học viên sử dụng Kinh thánh như một hướng dẫn cho cuộc sống hằng ngày.
    E. Chương trình của chúng ta có giúp phát triển khả năng và ước muốn tham dự vào nếp sống và công việc của Hội thánh không ? (Eph 4:16)
    Một vấn đề đáng buồn thường xảy ra trong Hội thánh, ấy là một số không nhỏ các tín hữu trong Hội thánh đã nhận được sự cống hiến rất nhiều của Hội thánh, nhưng không bao giờ chịu tham gia vào công việc của Hội thánh hay chấp nhận trách nhiệm thuộc về mỗi cơ đốc nhân. Có thể lỗi này không hẳn hoàn toàn thuộc về họ, có thể họ đã không được dạy, không được hướng dẫn cách cụ thể về chỗ đứng của họ trong Hội thánh cũng như trách nhiệm họ cần thực hiện trong thân thể Đấng Christ. Người hướng dẫn có trách nhiệm :
    1. Giúp đỡ học viên hiểu biết về tính chất, mục đích và nhiệm vụ của Hội thánh trong thời Tân Ước.
    2. Khuyến khích, động viên học viên làm tròn trách nhiệm của một chi thể trong thân thể Đấng Christ.
    3. Chuẩn bị các học viên cho lễ báp têm, tiệc thánh bằng cách giúp học viên thấy được tầm quan trọng của các thánh lễ này trong lãnh vực thuộc thể và thuộc linh.
    4. Khuyến khích học viên tham gia các chương trình của Hội thánh. (Tinh thần, thái độ, hành động của người hướng dẫn có sự ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành tinh thần và thái độ của học viên đối với những công việc của Hội thánh).
    F. Chương trình của chúng ta có giúp dẫn học viên vào mối tương giao tốt đẹp với người khác không ? (Mat 12:21)
    Sống nếp sống cơ đốc không phải chỉ đơn giản là loại bỏ một số thói hư tật xấu trong quá khứ, thực hiện tốt những sinh hoạt nghi thức trong Hội thánh là đủ. Nếp sống cơ đốc cũng phải được bày tỏ qua cách sống của chúng ta đối với những người khác trong các hoàn cảnh khác nhau của cuộc sống. Cầu nguyện và dâng tiền giúp đỡ công việc truyền giáo không phải là cớ để chúng ta không quan tâm đến những người chưa biết Chúa trong khu vực của chúng ta. Những lời làm chứng nhiệt thành của chúng ta trong các buổi nhóm không thể được dùng để biện hộ cho những hành động thiếu suy nghĩ của chúng ta trong chỗ buôn bán. Những bài hát của chúng ta hát trong nhà thờ sẽ chẳng có giá trị gì nếu chúng ta không sẵn sàng chia sẻ niềm vui của cuộc sống trong Đấng Christ với những người trong cộng đồng của chúng ta. Các em thiếu nhi, nhi đồng có thể trưng dẫn thuộc lòng nhiều câu Kinh thánh nhưng còn cách đối xử với bạn bè ở trường học hay lối xóm thì sao ? Trong lãnh vực này người hướng dẫn có trách nhiệm :
    1) Giúp học viên biết tôn trọng quyền và sự cống hiến của những người khác và sẵn sàng bày tỏ sự giúp đỡ thật lòng vì lợi ích của những người khác.
    2) Dạy học viên hiểu và thực hiện trách nhiệm của một người công dân cơ đốc. (làm sáng danh Chúa trong mọi trường hợp ; thí dụ : giữ gìn cây cối, không xả rác ngoài đường, không vi phạm luật đi đường …).
    3) Hướng dẫn học viên tìm cách đem sự cứu rỗi đến cho những người chưa biết Chúa và hằng ngày trở thành một chứng nhân tốt cho Chúa.
    4) Giúp học viên làm quen với công việc truyền giáo thế giới để giúp họ có tinh thần muốn góp phần rao giảng Tin lành cứu rỗi .
    G. Chương trình của chúng ta có giúp học viên hiểu hơn về chính mình không ? (Phi 2:21).
    1. Giúp học viên phát hiện khả năng của mình và dâng hiến cho Chúa trong sự phục vụ.
    2. Giúp học viên phát triển khả năng lãnh đạo.
    Muốn đạt được mục tiêu cần phải có Phương pháp. Phương pháp giúp trình bày bài học cách rõ ràng giúp học viên dễ tiếp thu và cũng giúp người hướng dẫn dễ đối diện với những hoàn cảnh dạy khác nhau (không thể áp dụng một phương pháp cho tất cả mọi học viên được). Mỗi người có thể sở trường về một phương pháp nào đó, dầu vậy cũng cần học biết sử dụng thành thạo những phương pháp khác.
    I/ PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN 
    Kể chuyện là một phương pháp thích hiệp cho mọi lứa tuổi. Phần lớn nội dung trong Kinh thánh được trình bày bằng loại văn mô tả nên rất dễ được dùng để chuyển sang dạng một câu chuyện. Chuyện tích giúp làm cho những gì trừu tượng trở thành cụ thể, sống động, hấp dẫn, biến những gì không sinh động trở thành sinh động, khơi động trí tưởng tượng, sự thích thú và óc tò mò. Sự kể chuyện dễ dàng tác động con người trên mặt cảm tình và ảnh hưởng trên ý chí. Sử dụng phương pháp kể chuyện cách khéo léo sẽ giúp mở những cửa sổ chân lý cho mọi lứa tuổi.
    A. VÀI ĐIỀU CẦN NHỚ TRONG PHƯƠNG PHÁP KỂ CHUYỆN 
    1. Giới thiệu
    Cố gắng tránh những cách giới thiệu câu chuyện qúa đơn giản như :” Hôm nay chúng ta sẽ học câu chuyện về Giô-suê.” Cố gắng tìm cách tạo một lời giới thiệu hấp dẫn “Một trận chiến vô cùng cam go sắp bắt đầu ! Đức Chúa Trời đang tìm một người lãnh đạo. Ngài muốn có một viên tướng kinh nghiệm chiến trận để chiến đấu. Ai sẽ là vị tướng này giữa vòng tuyển dân của Chúa ?” Nếu câu chuyện quá quen thuộc, chúng ta có thể nghe một số phản ứng từ bên dưới :”câu chuyện này nghe rồi !” Chúng ta khắc phục điều này bằng cách giới thiệu câu chuyện qua những nhân vật chính cho đến lúc câu chuyện được thuật một phần khá dài.
    2. Các biến cố trong câu chuyện
    Nội dung của câu chuyện bao gồm một loạt các biến cố liên tiếp nhau dẫn đến cao điểm chính. Trong lúc chuẩn bị hãy nghĩ đến những biến cố này như là những cảnh trong một vỡ kịch. Tìm hiểu cách thấu đáo các nhân vật trong môi cảnh, cảnh trí cũng như các hành động được nêu lên. Hãy làm cho những cảnh này được sống động trong tâm trí của bạn để chúng có thể xuất hiện dễ dàng. Nếu bạn quán triệt được phương pháp này bạn đã học được bí quyết kể chuyện hay.
    3. Cao điểm chính 
    Mọi diễn biến, mọi cảnh trong câu chuyện đều nhằm mục đích phục vụ, làm sáng tỏ cao điểm chính. Con chiên mắc sừng vào bụi gai ; Ba bạn Hê-bơ-rơ bước ra khỏi lửa hực không bị hại ; Giô-na được cá nhả ra trên đất khô là những cao điểm chính.
    4. Kết luận
    Phải thận trọng trong việc kết luận kẻo e phần này có thể gây thiệt hại cho tất cả công trình vừa được xây dựng. Có những lúc học viên ngồi trong trạng thái nín thở theo dõi câu chuyện cho đến cao điểm chính, nhưng rồi khi chúng ta nói với họ về sự dạy dỗ trong câu chuyện thì sự chú tâm này liền tiêu tan. Trong lúc kể chuyện cố gắng làm thế nào để các biến cố, các nhân vật trong câu chuyện sẽ tự nó gây ấn tượng trên người nghe. Đừng nhắc lại câu chuyện. Lời kết luận chỉ nên vắn tắt vài câu, hoặc có thể dùng một phương pháp khác ứng dụng chân lý quan trọng cho học viên chớ đừng bao giờ dùng kết luận như một phần của câu chuyện.
    B. VÀI ĐỀU CẦN LƯU Ý KHI KỂ CHUYỆN 
    Thực tập kể chuyện cho đến lúc thật quen thuộc với từng cảnh, từng ý, quen thuộc đến mức độ bạn có thể thuật câu chuyện đó như một người đã được chứng kiến tận mắt. Yêu cầu một bạn góp ý kiến với bạn trong một số lãnh vực sau đây :
    1) Ý của câu chuyện có được trình bày rõ không ?
    Một số biến cố cần phải được trình bày rõ ràng để không tạo thắc mắc nào trong tậm trí của học viên. Tất cả những sự kiện cần thiết thuộc chỗ nào cần được trình bày đúng chỗ đó. Đừng bao giờ để rơi vào chỗ phải nói rằng :” ồ tôi quên nói điều này, điều kia cho các em.”
    2) Bạn có dùng đối thoại trong câu chuyện không ?
    Tìm mọi cách hòa mình vào các nhân vật trong câu chuyện và cố gắng dùng nhiều sự đối thoại trực tiếp. Cần nhớ chính xác những lời đối thoại trực tiếp.
    3) Câu chuyện có tánh chất thuyết phục không ?
    Nếu bạn muốn câu chuyện trở nên sống động với học viên trước hết nó phải sống động với chính bạn. Nếu là câu chuyện vui, bạn phải bừng lên niềm vui. Nếu là câu chuyện buồn thì mọi người trong lớp cũng chia sự buồn đó với bạn. Bạn cần phải điều động giọng nói để diễn tả cảm xúc. Giọng trầm thường tạo được sự chú ý nhiều hơn giọng cao và to. Sử dụng những dáng điệu đơn giản để diễn tả hành động. Bạn nhìn chăm chú lên một cây nào đó dường như đang mong đợi sẽ thấy Xa-chê từ đó trèo xuống.
    4) Câu chuyện có đạt được mục đích rõ rệt nào không ?
    Chọn và thuật câu chuyện như thế nào để có thể đóng góp cho mục đích của toàn diện bài học (thí dụ bài học tha thứ - Câu chuyện góp phần thế nào trong mục tiêu này ?)
    (Tuần 6) II/ PHƯƠNG PHÁP HỎI VÀ TRẢ LỜI 
    Phương pháp học hỏi và trả lời là sự hợp tác giữa người hướng dẫn và học viên trong việc tìm hiểu nội dung bài học và nêu lên những áp dụng có ý nghĩa cho cuộc sống hằng ngày. Cách đặt câu hỏi và hướng dẫn câu hỏi sẽ quyết định sự tham gia của học viên.
    Việc đặt câu hỏi và hướng dẫn câu hỏi là vấn đề khó, nhưng chúng ta có thể kiện toàn được lãnh vực nầy trong suốt tiến trình dạy đạo của chúng ta.
    Để bắt đầu thực hiện phương pháp này, chúng ta cần lưu tâm đến hai khía cạnh :
    A. NGƯỜI HƯỚNG DẪN HỎI HỌC VIÊN 
    Người hướng dẫn sử dụng câu hỏi gần như trong suốt tất cả các bài học. Khả năng sử dụng câu hỏi sẽ phát triển nhanh nếu chúng ta viết trước những câu hỏi. Sắp đặt và trình bày những câu hỏi như thế nào để có thể khơi động được nhiều sự suy nghĩ của một số đông học viên. Nên sắp xếp và trình bày câu hỏi nhắm vào việc hoàn tất các mục đích sau đây :
    1/ Hướng dẫn sự suy nghĩ .
    Biết được những sự kiện là vấn đề quan trọng. Nhưng quan trọng hơn là hướng dẫn các học viên của chúng ta suy nghĩ vượt trên các sự kiện để thấy được trọng tâm của chân lý đang hướng tới. Nhiều câu hỏi không đòi hỏi gì khác hơn là một câu trả lời đơn giản không cần suy nghĩ. Để tránh tình trạng này chúng ta nên dùng những câu hỏi liên quan đến chữ “tại sao”, “thế nào” .
    2/ Khuyến khích tìm hiểu Kinh thánh 
    Nên đặt những câu hỏi có câu trả lời trong Kinh thánh để học viên có thể sử dụng Kinh thánh tìm câu trả lời. Thí dụ : Tại sao Môi-se lại bị bỏ xuống sông ? Kết quả như thế nào ?
    3/ Trắc nghiệm tri thức của học viên 
    Trong sự trắc nghiệm tri thức, nên tránh những câu hỏi có thể trả lời bằng chữ “có”, “không”, “đúng”, “sai”. Tìm những câu khó cho những học viên giỏi và những câu đơn giản cho những người mới hoặc yếu hơn.
    4/ Những câu hỏi ôn 
    Đặt những câu hỏi ôn dựa trên những yếu tố, những sự kiện sinh động trong bài học.
    B. HỌC VIÊN HỎI NGƯỜI HƯỚNG DẪN 
    Những câu hỏi từ phía học viên nhiều lúc có giá trị đối với bài học hơn một số câu hỏi của người hướng dẫn. Nếu người hướng dẫn có thể khuyến khích sự suy nghĩ của các học viên trong lãnh vực nêu câu hỏi, người ấy đang áp dụng một trong những luật căn bản của người dạy.
    Đừng bao giờ làm ngơ trước những câu hỏi thành thật. Nếu chúng ta chịu khó trả lời, học viên sẽ cảm thấy thích thú đến với chúng ta để tìm câu giải đáp cho các vấn đề của họ.
    C. MỘT VÀI GÓP Ý TRONG VIỆC XỬ LÝ CÁC CÂU HỎI TỪ PHÍA HỌC VIÊN. 
    1) Câu hỏi hỏi không thành thật hay không có chủ đích .
    Vẫn giữ sự bình tĩnh của bạn. Trả lời câu hỏi nhanh chừng nào tốt chừng nấy và rồi tiếp tục bài dạy xem như không có sự gì xảy ra cả.
    2) Câu hỏi học viên có thể tự trả lời nếu chịu suy nghĩ .
    Thay vì trả lời, chúng ta có thể hướng dẫn học viên đi sâu vào vấn đề hơn cho đến lúc tìm được câu trả lời cho chính mình.
    3) Câu trả lời học viên có thể trả lời nếu chịu tìm trong Kinh thánh .
    Hãy cẩn thận, đừng trả lời bất cứ câu hỏi nào nếu chúng ta thấy có thể hướng dẫn học viên vào Kinh thánh để tìm câu trả lời.
    4) Câu hỏi không thể trả lời liền nếu không tìm hiểu thêm .
    Đừng cố gắng lòe học viên khiến họ nghĩ rằng chúng ta biết tất cả. Cẩn thận kẻo mất lòng tin của họ sau này. Hãy thành thật nhận rằng bạn không biết và hứa sẽ tìm hiểu để giải đáp cho học viên sau, hoặc chuyển sang cho một vài học viên nào đó tìm câu trả lời.
    5) Câu hỏi chúng ta nghỉ có thể gây thiệt hại nếu thảo luận trong lớp .
    Đề nghị thảo luận với học viên nêu câu hỏi sau giờ dạy.
    III/ PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN 
    Phương pháp hướng dẫn học viên góp phần tích cực trong việc học bằng cách dùng những câu hỏi gợi ý theo một chiều hướng, một mục đích nhất định. Những gì học viên đóng góp được thâu thập, hệ thống thành một bài tóm tắt nói lên được cả nội dung của giờ thảo luận.
    A. CÁCH THỰC HIỆN PHƯƠNG PHÁP THẢO LUẬN . 
    Các cuộc thảo luận thường tập trung quanh một vấn đề cần được giải quyết.
    1/ Trình bày vấn đề 
    Để có thể giải quyết vấn đề, chúng ta cần nêu vấn đề cách cụ thể và chính xác. Nếu vấn đề không được nêu lên cách chính xác thì việc giải quyết sẽ không thâu lượm được mấy kết quả tốt.
    2/ Phân tích vấn đề . 
    Vấn đề sẽ được người hướng dẫn và các học viên phân tách bằng sự đóng góp và thảo luận dựa trên các câu hỏi đã được soạn thảo cẩn thận (câu hỏi cần được soạn thảo thế nào để hướng dẫn sự thảo luận vào sự giải quyết vấn đề dựa trên tiêu chuẩn của Đức Chúa Trời chớ không phải trên ý của con người).
    3/ Sơ lược qua những cách giải quyết được nêu lên trong các nhóm và cùng hiệp ý chọn ra một cách giải quyết tương đối nhất dựa trên nền tảng Kinh thánh.
    B. HƯỚNG DẪN CÁC NHÓM THẢO LUẬN. 
    Sự thành công hay thất bại của phương pháp phần lớn tùy thuộc vào người hướng dẫn các nhóm.
    Một vài góp ý với nhóm (tổ) thảo luận :
    1. Cần biết tất cả những vấn đề đưa ra thảo luận.
    2. Trong lúc phân tách vấn đề nên nhấn mạnh đến những khía cạnh mà bạn biết chắc rằng có thể dựa vào đó để đi đến kết luận.
    3. Cần biết rõ con đường bạn đang đi để hướng sự thảo luận đạt đến đích.
    4. cố gắng lôi kéo sự tham gia của nhiều người trong nhóm (tổ) hơn là để cho một vài người độc quyền nói.
    CHÚ Ý : Muốn cho cuộc thảo luận được kết quả tốt người hướng dẫn nên chọn những người giúp đỡ hướng dẫn các tổ trước và thảo luận với họ phương hướng tiến đến mục đích. Dĩ nhiên chúng ta không muốn tất cả mọi nhóm đều có ý kiến như nhau, nhưng muốn tất cả đều tiến đến một mục đích.
    IV. PHƯƠNG PHÁP GIẢNG BÀI (Thuyết Trình) 
    Đây là phương pháp được dùng nhiều từ lâu đời. Trong phương pháp này, người hướng dẫn trình bày bài học cách trực tiếp. Để có thể thành công trong phương pháp này cần phải có sự soạn bài kỹ lưỡng. Phải cẩn thận trong việc sử dụng tài liệu, các thí dụ, trưng dẫn các bằng chứng cụ thể. Điệu bộ, cung cách lúc giảng bài cũng thường xuyên thay đổi. Nên nói chậm rãi, rõ ràng, nên dùng ngôn từ của học viên. Thỉnh thoảng nên chen vào những thí dụ, những câu chuyện thích hiệp hoặc đôi chút khôi hài. Nên nhìn học viên để có thể theo dõi phản ứng của họ hầu có thể điều chỉnh những gì cần thiết cho thích hợp. Tùy theo điều kiện cho phép, thỉnh thoảng nên xen vào một vài câu hỏi để học viên có thể tham gia đóng góp làm cho buổi học được sinh động thêm.
    Chúng ta thử nêu lên một số điểm lợi và bất lợi của phương pháp giảng bài (thuyết trình).
    A. NHỮNG ĐIỂM LỢI 
    1/ Giúp bảo đảm được thời gian
    Chúng ta có thể đi đến đích mong muốn với một thời gian định trước (vì không phải tốn thì giờ lòng vòng để tiến đến điểm muốn nói hoặc chờ đợi phản ứng chậm chạp của học viên).
    2/ Tránh được nguy cơ đi lạc hướng bởi một đề nghị đột xuất nào đó của lớp học.
    3/ Giúp người hướng dẫn có thể dạy một nhóm lớn.
    4/ Giúp người hướng dẫn có thể trình bày tài liệu bài học cách dễ dàng, nhẹ nhàng và có hệ thống.
    5/ Giúp cho chân lý của bài học được sống động hơn qua đời sống và ảnh hưởng cá nhân của người hướng dẫn.
    B. NHỮNG ĐIỂM BẤT LỢI 
    1/ Hạn chế khả năng phát triển của học viên và tạo cho họ thói quen tùy thuộc vào người khác trong những quyết định.
    2/ Sử dụng quá nhiều sẽ dẫn đến sự nhàm chán có thể đưa đến chỗ một số học viên không lưu tâm gì trong giờ học và cũng chẳng làm gì khi về nhà.
    3/ Không tạo đều kiện cho sự đóng góp của lớp học cũng như những ý kiến khác biệt.
    4/ Đòi hỏi một khả năng đặc biệt trong việc nói trước công chúng.
    V. PHƯƠNG PHÁP LÀM BÀI Ở NHÀ 
    Qua phương pháp này, người hướng dẫn giúp đỡ học viên tự học, tự nghiên cứu để chuẩn bị tham gia vào việc học các tài liệu của bài học. Phương pháp này khuyến khích học viên học hỏi, nghiên cứu lời Chúa vào những ngày trong tuần.
    Vài điều góp ý trong việc thực hiện phương pháp này .
    A. VỞ LÀM BÀI 
    Khuyến khích mỗi học viên có một vở làm bài riêng dành cho việc tự học ở nhà qua sự chỉ dẫn của người hướng dẫn. Để giúp cho học viên làm bài, người hướng dẫn nên :
    1/ Khích lệ, thách thức học viên làm bài.
    Trước khi cho bài làm ở nhà, người hướng dẫn cần phải làm bài đó hoặc nghiên cứu kỹ trước để có thể giúp học viên hướng đi và chỉ cho họ những phần khó mà họ có thể không hiểu khi gặp phải. Lưu ý đến những câu đố đòi hỏi sự tìm tòi hoặc những vấn đề gì đặc biệt người hướng dẫn tin chắc học viên sẽ cảm thấy thích thú.
    Thí dụ : Tìm đáp số của bài toán sau đây 
    Lấy số môn đồ đi về làng Emmaút x (nhân với) số sứ đồ họ gặp khi quay lại thành Giê-ru-sa-lem (11) + (cộng với) số tiền bán Chúa của Giu-đa Ích-ca-ri-ốt (30) - (trừ cho) số lần Phierơ chối Chúa (3). Trưng dẫn Kinh thánh.
    Giải : 2 (Lu 24:13) x 11 (Lu 24:33) + 30 (Mat 26:15) - 3 (Mat 26:75) = 49. Đáp số 49
    Phương pháp làm bài ở nhà là một hình thức đảo ngược của phương pháp giảng bài. Trong phương pháp giảng bài, người hướng dẫn cho câu hỏi sau khi trình bày bài học, còn phương pháp làm bài ở nhà là học viên tự nghiên cứu trước qua sự hướng dẫn của người hướng dẫn.
    2. Khen ngợi sự cố gắng của tất cả học viên đã hoàn tất bài.
    Trong vấn đề làm bài, dĩ nhiên có những sự đúng, sai, có những học viên làm bài rất tốt, có học viên chưa đạt. Đây không phải là điều quan trọng lắm. Điều quan trọng là tinh thần tham gia công tác. Nếu tinh thần này được giữ vững thì chất lượng dần dần gia tăng trong việc làm bài (nếu được hướng dẫn kỹ). Trong trường hợp nếu dự tính cho phần thưởng khích lệ việc làm bài nên cho tất cả các học viên đã tham gia chứ đừng chỉ chọn ra một hai người giỏi nhất .
    3. Tìm mọi cách hướng dẫn những học viên chưa hăng hái tham gia công việc làm bài. Đừng ép.
    4. Đừng dùng biện pháp la rầy, nói nặng, hoặc để dọa để thúc đẩy việc hoàn tất bài làm.
    B. PHÂN CÔNG CHO CÁC HỌC VIÊN (HOẶC TỪNG TỔ). 
    Tùy theo khả năng, kinh nghiệm hoặc sở thích của từng học viên, người hướng dẫn có thể giao cho họ những công việc vừa sức để góp phần vào việc làm phong phú bài học.
    Người hướng dẫn có thể phân cho học viên những công việc như sau : 
    1/ Tìm hiểu về một địa danh hay những đồ vật được ghi trong Kinh thánh .
    Thí dụ : Tìm hiểu về thành Bết-lê-hem, thành Giê-ri-cô, hồ Ga-li-lê … tìm hiểu về cái túi của người chăn chiên.
    2/ Định nghĩa một số từ trong Kinh thánh .
    Áp-ra-ham có nghiã gì ? Giê hô va Di Rê có nghĩa gì ? Và từ này được dùng trong trường hợp nào ? Halêlugia ? Amen ? …
    3/ Tường thuật . 
    Nếu bài học có liên quan đến việc chứng đạo chẳng hạn, chúng ta có thể cho các học viên tường thuật một vài hàng về gương chứng đạo nào đó có thể tìm được trong Kinh thánh (Đầy tớ gái của Naaman, Anh rê, Phi líp, người bị quỷ ám tại Giê-ra-sê …).
    4/ Thâu nhập các tài liệu thị cụ .
    Trước khi dạy một bài học nào đó, chúng ta có thể thông bào cho học viên biết nội dung và yêu cầu học viên cố gắng tìm những hình ảnh hoặc bất cứ một đồ vật nào có thể giúp làm sáng tỏ bài học. Đây là một hình thức giúp học viên tập suy nghĩ và sử dụng thị cụ. Thí dụ : Với đề tài La-xa-rơ trong mồ mả, các học viên có thể dùng một con búp bê trai với chiếc khăn hoặc miếng vải trắng bao bên ngoài, hoặc bức tranh một ngôi mộ cổ của người Do thái … (tránh cho các em biết nên tìm cái gì).
    C. VÀI ĐIỀU CẦN NHỚ KHI CHO BÀI LÀM 
    1/ Cần phải biết chắc chắn học viên đã hiểu câu hỏi cách chính xác (nên viết ra).
    2/ Nên cung cấp những nguồn tài liệu cần thiết như Thánh kinh Tự điển, Thánh kinh Lược khảo, Thánh kinh Phong tục hoặc những tài liệu nào có liên quan đến bài làm để học viên có thể tìm tòi, nghiên cứu.
    3/ Luôn luôn nhớ gọi một đôi em trình bày bài của mình.
    4/ Luôn luôn tỏ ra thích thú cách thành thật trước những thành tựu của các em.
    VI. PHƯƠNG PHÁP KỊCH 
    Đây là một phương pháp rất hấp dẫn và sống động dễ làm cho học viên nhớ bài học. Chúng ta có thể thực hiện phương pháp này bằng cách soạn thảo và tập dược kỹ lưỡng trước khi trình bày hoặc có thể kể sơ qua câu chuyện và cho các em diễn lại bằng động tác.
    VII. MỘT VÀI ĐIỀU CẦN NHỚ TRONG VIỆC CHỌN PHƯƠNG PHÁP 
    Không có một phương pháp nào có thể dùng cách hoàn toàn riêng rẽ được. Điều căn bản là chúng ta biết lúc nào dùng phương pháp nào làm gốc để trình bày tài liệu bài học. Người hướng dẫn giỏi là người biết phối hợp các phương pháp với nhau. Người hướng dẫn nên dựa trên các yếu tố sau đây để quyết định phương pháp trong mỗi bài dạy :
    A. NỘI DUNG BÀI HỌC . 
    Đôi lúc nội dung bài học rất thích hiệp với phương pháp kể chuyện, một đôi bài thích hiệp với phương pháp làm bài ở nhà .v.v.
    B. NHU CẦU CỦA HỌC VIÊN. 
    Chủ đích của người hướng dẫn không phải là dạy môn học, nhưng dạy học viên. Vì vậy người hướng dẫn phải dựa trên nhu cầu của học viên để áp dụng phương pháp.
    C. TÙY THUỘC HOÀN CẢNH. 
    Có những Phương pháp rất thích ứng với nhóm học viên ở chỗ này, nhưng hoàn toàn không thích hiệp với nhóm học viên ở chỗ khác. Có những chỗ rất dễ áp dụng phương pháp làm bài ở nhà, nhưng có chỗ hoàn toàn không áp dụng được (không có tài liệu tham khảo không có Kinh thánh …) Điều kiện phòng ốc cũng cản trở việc áp dụng một số phương pháp.
    D. TÙY THEO MỤC ĐÍCH CỦA BÀI HỌC 
    Xác định mục đích chính yếu của của bài học sẽ giúp chúng ta chọn được phương pháp thích hiệp.
    Thí dụ : Đi đến một địa điểm gần trong thành phố (mục đích)
    Phương cách di chuyển có thể chọn :đi bộ, đi xích lô, đi xe đạp …
    Đi đến một thị trấn cách 10 km (mục đích)
    Phương cách di chuyển có thể chọn : xe lam, xe đạp, xe gắn máy.
    Đi thành phố Hồ Chí Minh (mục đích)
    Phương cách di chuyển có thể chọn : xe hơi, xe lửa, máy bay.
    E. KHẢ NĂNG CỦA NGƯỜI HƯỚNG DẪN 
    Mỗi giáo viên hoặc người hướng dẫn đều có một phương pháp ăn ý nên cảm thấy thoải mái, tự tin trong khi sử dụng phương pháp đó. Dầu vậy nếu chịu để thì giờ thực tập sẽ có thể dễ dàng áp dụng các phương pháp khác cách thoải mái.

    HƯỚNG DẪN SOẠN BÀI
    Mục tiêu dài hạn …………………………………………………(3/ 6 tháng) …………………………………………………………
    Đề tài bài học …………………………………………………………………… 
    Kinh thánh ……………………………………………
    Mục tiêu của bài học :
    Tôi muốn học viên biết gì ? ………………………………………………………………………………………………Tôi muốn học viên cảm nhận gì ? ………………………………………………………………………………………………
    Tôi muốn học viên làm gì ? ………………………………………………………………………………………………
    Phương pháp ………………………………………………………………………………………………
    Thị cụ ………………………………………………………………………………………………
    Bố cục bài học Những câu hỏi để thảo luận
    Lạc điểm :
    Nội dung :
    I.
    II. Những điểm muốn học viên đóng 
    III. góp :
    Ứng dụng :
    Làm thế nào tôi có thể giúp học viên
    thấy được chân lý và có hành động thuận Bài làm ở nhà
    lợi đối với chân lý đó ?


    TUẦN 7: CÁCH DẠY
    Để giúp chúng ta có thêm một số hiểu biết trong việc dạy hầu đạt đến hiệu quả hơn, một nhà giáo dục nổi tiếng đã nêu lên bảy luật liên hệ đến việc dạy như sau :
    I/ LUẬT VỀ GIÁO VIÊN 
    Giáo viên phải là người thông hiểu bài học , chân lý hay nghệ thuật mình dạy 
    Phương pháp và nội dung giảng dạy rất quan trọng phải lưu tâm đặc biệt đến cả hai. Những giáo viên ngoài đời cần phải am tường môn mình dạy thế nào thì người dạy đạo cũng phải am tường lời Đức Chúa Trời như vậy và hơn thế nữa. Một bài học được hiểu cách thấu đáo, trình bày cách vững vàng sẽ tạo thêm sức mạnh cho bài kế tiếp. Còn ngược lại sự thiếu hiểu biết chu đáo, thiếu chuẩn bị trong cách trình bày bài sẽ là những viên đá lót đường dẫn đến sự thất baị.
    Người giáo viên phải biết rộng, biết nhiều, biết thấu đáo những gì trội hơn người ấy có thể dạy, chớ không phải chỉ cố gắng biết đủ để lấp đầy khoảng trống. Người giáo viên thấu đáo, quán triệt đều mình dạy sẽ cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái trong việc dạy và điều hành lớp học.
    II. LUẬT VỀ HỌC SINH.
    “[gr8 Học viên là người theo dõi bài học cách thích thú ” .
    Vấn đề quan hệ trong lãnh vực học viên là sự chú ý. Nếu không có sự chú ý của học viên thì sự giảng dạy của chúng ta không có mục đích gì cả, tất cả chỉ đem đổ sông, đổ biển. Phải tìm mọi cách để tạo và giữ được sự chú ý của học viên đối với bài học. Đừng bao giờ cố gắng dạy nếu không có sự chú ý của học viên.
    III. LUẬT VỀ NGÔN NGỮ
    “[gr8 Ngôn ngữ được dùng như một trung gian giữa các giáo viên và học viên phải phổ thông cho cả hai .”
    Chúng ta ở đây một bên là giáo viên với số vốn tri thức dồi dào, còn bên kia là những học viên đang mong muốn tiếp thu những tri thức đó. Phải truyền thông cách nào để có thể thành công. Giáo viên phải giới hạn mình trong ngôn ngữ của học viên. Nếu việc này không được thực hiện thì sự dạy sẽ không thể tiếp thu được. Cố gắng dùng những từ cả học viên cùng bạn đều hiểu một cách - ngôn ngữ phải rõ ràng và sinh động cho cả hai.
    Vì ngôn ngữ khác biệt theo từng lứa tuổi nên các giáo viên cần :
    A. Thường xuyên học hỏi cẩn thận ngôn ngữ của học viên.
    B. Sử dụng tối đa ngôn ngữ của học viên.
    C. Dùng những từ thật đơn giản.
    D. Dùng những câu ngắn có cấu trúc đơn giản.
    E. Dùng thí dụ để giải thích từ mới.
    F. Thường xuyên kiểm soát sự hiểu biết của học viên đối với những từ họ dùng.
    IV. LuẬt vỀ bài hỌc 
    Bài sắp được học phải có thể giải thích được trên căn bản chân lý học viên đã biết . Điều chưa biết cần phải được giải thích trên điều đã biết .
    Đây là căn bản của khoa sư phạm.
    Bắt đầu với những gì học viên đã biết rõ hoặc kinh nghiệm rồi tiến đến tài liệu mới bằng những bước ngắn, dễ hiểu và tự nhiên. Hãy để cho những gì đã biết giải thích những gì chưa biết.
    Những chân lý mới chỉ được hiểu trên căn bản của những gì đã biết. 
    Chúa Giê xu đã sử dụng luật này cách rất hữu hiệu. Ngài luôn luôn xây dựng những chân lý mới trên những sự kiện đã được biết rõ. Những người nghe Ngài dạy rất quen thuộc với kinh Cựu ước nên Ngài dùng Cựu ước để xây dựng và giải thích những chân lý của Ngài. Ngài dùng con rắn bằng đồng được treo lên trong sa mạc để dạy dỗ về sự chết của Ngài trên thập tự gía. Ngài dùng kinh nghiệm của Giô-na để dạy về sự chết và sống lại của Ngài. Ngài dùng hình ảnh về thái độ của những con người trong thời Nô-ê và Lót để dạy về thời kỳ Ngài sẽ trở lại trần gian. Những biến cố tương lai sẽ được giải thích qua những biến cố đã xảy ra trong qúa khứ. Áp dụng phương pháp này cách kỹ lưỡng cho chính mình, người hướng dẫn sẽ thấy được các kết quả tốt trong các học viên của mình. Để có thể thực hiện tốt luật này, người hướng dẫn cần phải có chương trình hoạch định rõ ràng để có thể từng bước tiến tới. Một lực sĩ nhảy cao không bao giờ đặt ra một tiêu chuẩn chiều cao nào đó mà anh ta mơ ước đạt đến rồi cố gắng tập nhảy ngay với chiều cao lý tưởng đó. Nhưng anh ta bắt đầu từ độ cao anh có thể nhảy qua, sau đó nhích lên một phân hoặc một vài phân thôi, nhưng anh cũng phải dừng lại để tập luyện một thời gian dài. Nhảy qua tiêu chuẩn cũ cách dễ dàng là đã bắt đầu tiến đến tiêu chuẩn mới rồi. Trong tiến trình dạy sẽ có lúc học sinh sẽ dậm chân tại chỗ với một chân lý mới (có lẽ vì người hướng dẫn đi nhanh quá). Đây là lúc người hướng dẫn phải dừng lại, cố tìm những thí dụ cụ thể có thể giải thích chân lý mà học viên chưa hiểu.
    V. LuẬt vỀ diỄn tiẾn dẠy. 
    Dạy là khơi động , kích thích trí năng của học viên để tiếp thu ý tưởng hoặc quán triệt một nghệ thuật muốn truyền đạt .
    Việc học chỉ thực sự có kết qủa khi những gì học viên học được tạo nên trong họ một sự thích thú để rồi từ đó dẫn đến những hành động thích ứng.
    Trong diễn tiến dạy, người giáo viên (hướng dẫn) nên luôn luôn tìm cách : (1) khuyến khích, khơi động tâm trí của học viên thế nào để học viên có thể tự suy nghĩ, tìm tòi học hỏi và biết ứng dụng ; (2) nên hướng dẫn học viên cách nào để họ có thái độ của một người tự khám phá, tự tìm ra chớ không phải là một chiếc máy ghi âm thu thế nào phát ra thế ấy. Để có thể thực hiện điều này, người hướng dẫn nên tạo điều kiện để học viên có thể suy nghĩ. Nên nhớ rằng tâm trí chỉ có thể làm việc khi có một vấn đề, một đối tượng hoặc một căn bản nào đó để suy nghĩ. Một con trai chỉ có thể tạo ra được viên ngọc trai quý giá khi có một hạt cát nhỏ lọt vào bên trong thân thể nó.
    Giáo viên có thể giúp học viên suy nghĩ bằng cách nêu lên những câu hỏi. Câu hỏi sẽ giúp cho bánh xe tâm trí của học viên bắt đầu hoạt động. Câu hỏi giúp tâm trí học viên đặt vấn đề trước những sự việc mà từ trước đến giờ họ không hề lưu tâm đến. Câu hỏi đã cứu được nhiều linh hồn và cũng đã biến nhiều người thành vĩ nhân của thế giới.
    Giáo viên cũng có thể khuyến khích học viên, quan sát, nhận xét, tìm tòi. Diễn tiến học hỏi sẽ trở nên phong phú khi các học viên bắt đầu nêu các câu hỏi : “Ai “? “Điều gì” ? “Khi nào” ?” Tại sao” ? “Ở đâu” ? “Thế nào” ?. Hầu như những phát minh vĩ đại trên thế giới đều bắt đầu bằng sự quan sát và nêu câu hỏi. Newton đã tìm ra luật trọng lực khi ông quan sát quả táo rơi. Ấm nước sôi giúp cho Watt phát minh máy hơi nước. Những nhà phát minh ra máy bay đều đã quan sát sự bay lượn của các loài chim. Sự quan sát sẽ dẫn đến chỗ đặt vấn đề và từ đây sẽ dẫn đến chỗ tìm cách giải đáp.
    VI. LuẬt vỀ diỄn tiẾn hỌc
    [gr8 Học là suy nghĩ một ý tưởng , một chân lý , một vấn đề mới bằng sự hiểu biết của chính mình để biến chúng trở thành sở hữu của chính mình .
    Trong việc học, học viên phải sử dụng trí năng của mình trong việc tìm hiểu những gì đã được trình bày trong bài học bằng chính sự hiểu biết của mình, chớ không phải chỉ làm việc lập lại những gì đã học. Trong quan niệm giáo dục hiện tại thì việc học đặt nặng trên học sinh hơn là người dạy. Người dạy nặng về trách nhiệm hướng dẫn, khuyến khích học viên trong việc tìm hiểu, tự khám phá những gì cần thiết cho đúng hướng. Những gì tự tìm hiểu, khám phá sẽ tạo nên một sự thích thú lớn và chính sự thích thú này lại góp phần thúc đẩy việc tìm kiếm học hỏi. Chúng ta có thể tóm tắt chu kỳ học hỏi này như sau :
    Tìm hiểu (sức đẩy) Khám pha (sức đẩy) Tìm hiểu.
    Giáo viên (người hướng dẫn) hãy cố gắng tạo cho học viên tinh thần tự lập trong việc tìm hiểu, nghiên cứu.
    Sự học hỏi có thể diễn tiến trong 3 giai đoạn :
    A. SAO LẠI, LẶP LẠI 
    Đây là giai đoạn đòi hỏi học viên lặp lai, sao lại trong tâm trí bài học đã học. Nhiều giáo viên cũng như học viên thỏa lòng với sự lặp lại từng chữ, từng tiếng của bài học. Nhưng đây chính là một quan niệm rất nghèo nàn và quá thiển cận trong diễn tiến học. Nếu một học viên học thuộc bài, nhưng lại không thể giải thích nó bằng ngôn từ của chính mình thì bài học đó kể như chưa thâu nhận được.
    B. GIẢI THÍCH 
    Giải thích là một hình thức trình bày lại những gì đã học bằng chính ngôn từ và lập luận của học viên. Điều này giúp chứng tỏ học viên đã hiểu điều mình học . Để giúp học viên phát triển trong lãnh vực này, người giáo viên hay người hướng dẫn nên giảm thiểu tối đa những câu hỏi :”cái gì “ ? “điều gì” ? nhưng thường xuyên với câu hỏi :”Tại sao” ? “Thế nào “ ?.
    C. ỨNG DỤNG. 
    Giáo dục không phải chỉ là truyền đạt, hấp thụ, hiểu biết một số tri thức, nhưng còn là áp dụng điều đó cho cuộc sống. Tri thức là sức mạnh, nhưng điều này chỉ trở thành sự thật khi được đưa vào áp dụng. Hiểu biết không chỉ là ảnh hưởng trên tâm trí, nhưng áp dụng sự hiểu biết sẽ ảnh hưởng trong việc thay đổi cuộc sống của học viên.
    VII. LUẬT VỀ SỰ ÔN LẠI VÀ ÁP DỤNG. 
    Việc dạy chỉ được xem là hoàn tất khi chúng ta cho ôn lại những gì đã học và thực hiện điều đó. Phần lớn những gì mới học và đọc qua một lần, chúng ta chưa có thể tiếp thu được hết. Nhưng khi ôn lại, đọc lại nhiều lần thì những hiểu biết mới sẽ giúp chúng ta hiểu những gì đã học cách đúng đắn nhất.
    Những cuộc nghiên cứu cho thấy 80 -90% những gì chúng ta học đều nhận được qua thị giác. Sự nhớ bài học của học viên sẽ gia tăng khoảng 50% qua việc dùng trợ huấn cụ. Trợ huấn cụ không những giúp gia tăng sự nhớ bài học, nhưng còn giúp tạo thích thú cho mọi lứa tuổi.
    Trước khi giới thiệu một số trợ huấn cụ cần thiết, người hướng dẫn cần nhớ rằng, thị cụ chỉ nhằm mục đích giúp gia tăng hiệu năng của những bài học đã soạn kỹ chớ không phải giúp trám vào chỗ trống cho hết giờ.
    I. ĐỒ VẬT 
    Đồ vật là loại trợ huấn cụ dễ tìm và cũng dễ dùng với mọi lứa tuổi. Một đồng tiền, viên đá hay một tờ giấy đều là những trợ huấn cụ tốt. Một cuộn giấy có thể làm thí dụ về cuộn Kinh thánh ngày xưa. Một cái cùm nhỏ làm bằng gỗ có thể nói lên câu chuyện của Phao-lô và Si-la. Chai dầu thơm, một chùm nho, một cái bánh, vài que củi …
    II. BẢN ĐỒ 
    Bản đồ giúp học viên làm quen với địa hình và vị trí của những nơi được đề cập đến trong Kinh thánh. Bản đồ giúp cho những câu chuyện, những sự kiện xảy ra trong Kinh thánh trở nên xác thực, chớ không mơ hồ như nhiều người nghĩ. Bản đồ giúp cho câu chuyện Áp-ra-ham và Lót chia rẽ nhau có ý nghĩa khi chúng ta có thể phân biệt được Hếp-rôn là một vùng núi non, trong lúc Giô-đanh là vùng thung lũng phì nhiêu. Hành trình trong sa mạc của dân Y-sơ-ra-ên, cuộc đời Chúa Giê xu, các cuộc hành trình truyền giáo của Phao-lô rất cần sự trợ lực của các bản đồ.
    Bản đồ có thể tự vẽ lấy, càng lớn càng tốt.
    III. HÌNH ẢNH 
    Hình ảnh các loại là những trợ huấn cụ rất tốt cho việc dạy bất cứ lứa tuổi nào, vì vậy các giáo viên, người hướng dẫn nên cố gắng sưu tập những hình ảnh từ những tạp chí, những tập lịch hay từ bất cứ nguồn nào khác. Bầt cứ lúc nào bạn gặp một bức tranh nào đó, hãy tự hỏi mình rằng :”tôi có thể dùng bức tranh này trong bài nào của loạt bài tôi đang dạy hoặc đang soạn để dạy không ? Những câu trả lời sẽ giúp chúng ta có những tranh ảnh thích hiệp trong tập tài liệu tranh ảnh của chúng ta. Vì số lượng và tánh chất đa dạng của tranh ảnh, chúng sẽ giữ một vai trò quan trọng và phổ thông nhất trong lãnh vực trợ huấn.
    A. Hình ảnh giúp tạo tinh thần và thái độ tốt cho một công việc sắp đến .
    Trước khi hát, chúng ta có thể đưa một bức tranh một em bé hoặc một ban hát đang hát với tinh thần vui vẻ để giới thiệu. Chúng ta sẽ nhìn thấy các học viên của chúng ta phản ánh tốt những gì họ thấy nơi bức tranh.
    B. Dùng hình ảnh để tạo lạc điểm cho bài học .
    Hình ảnh giúp chúng ta khỏi rơi vào tình trạng nhập đề khô khan quá dễ khiến học viên không quan tâm.
    C. Giúp diễn tả những gì còn xa la .
    Có nhiều phong tục trong Kinh thánh hoàn toàn xa lạ đối với các học viên. Vì họ hoàn toàn không có một ý niệm gì về những điều này nên những gì chúng ta nói hoàn toàn vô nghĩa và nhiều lúc được hiểu cách hoàn toàn trái ngược lại. Chúng ta cố gắng tìm những hình ảnh có thể giúp học viên có được một ý niệm về điều chúng ta muốn nói. (Hình ảnh Sa-mu-ên xức dầu cho Đa-vít, hình ảnh những người chăn chiên …).
    D. Hình ảnh là phương tiện tốt để ôn bài .
    Chúng ta có thể dùng hình ảnh để ôn bài vừa học, ôn bài tuần trước hoặc từng qúy.
    IV. BẢNG PHẤN 
    Bảng phấn cũng góp một phần rất đáng kể trong việc trợ huấn. Bảng phấn có thể được dùng để thay thế những trợ huấn cụ khác trong trường hợp không thể tìm được (vẽ, viết …).
    MỘT VÀI ĐỀU CẦN NHỚ KHI SỬ DỤNG BẢNG :
    A/ Đừng đứng che bảng, cố gắng đứng một bên để tạo khoảng trống tối đa cho học viên có thể xem thấy rõ.
    B/ Khi cần viết nên viết rõ và nhanh.
    C/ Vừa nói, vừa viết hay vẽ, nhưng phải lưu ý đừng nói với bảng.
    V. BẢNG NỈ 
    Bảng nỉ là một loại trợ huấn cụ được dùng rất rộng rãi. Sử dụng Bảng nỉ sẽ giúp tạo được sự chú ý ngay từ lúc bắt đầu và giữ được sự thích thú trong suốt bài học. Cuối cùng học viên cũng có thể lặp lại câu chuyện bằng cách sắp xếp lại các hình ảnh trên bảng. Đây là một loại trợ huấn cụ tập trung được những quan năng như nghe, thấy và thực hành.
    Muốn sử dụng bảng nỉ được hữu hiệu, chúng ta cần phải quán triệt 3 lãnh vực sau đây :
    A. Khéo léo. 
    Khéo léo điều chỉnh các hình trên bảng sẽ giúp tạo được sự chú ý. Điều này cần phải tập luyện nhiều. Giáo viên cần nắm vững nội dung bài học và phải tập dạy bài học đó với những hình ảnh dự định dùng. Nếu thờ ơ không quan tâm đến việc thực tập cho thành thạo thì việc dạy chắc chắn sẽ không đạt được kết quả mong muốn. Cẩn thận sắp xếp thứ tự các hình định dùng. Cố gắng giữ cho diễn tiến của bài học được đều đặn không bị ngắt quãng. Cứ tiếp tục nói trong lúc cứ gắn hình lên bảng nỉ, nhưng đôi mắt vẫn luôn luôn gắn liền với học viên.
    B. Thu hút sự chú ý 
    Tò mò là một yếu tố quan trọng trong việc học. Tìm cách khơi động sự chú ý qua cách sắp xếp hình lên bảng nỉ. Đừng gắn bất cứ hình nào lên phông cho đến lúc bắt đầu dạy bài. Cố gắng giữ một vài hình ảnh cuối cho đến cuối cùng để đảm bảo được sự chú ý của học viên.
    C. Chuyển động 
    Nếu giáo viên có thể di chuyển trong lúc kể chuyện bằng bảng nỉ thì chuyển động này cũng góp phần gây được sự chú ý. Sự linh hoạt của người dạy sẽ làm cho bài học được sống động.
    VI. TI VI 
    Đây là một loại trợ huấn cụ khá hấp dẫn gây được sự chú ý của học viên. Thị cụ này đòi hỏi nhiều công phu để thực hiện, dầu vậy rất có ích lợi.
    VII. BÚP BÊ 
    Trong lãnh vực giáo dục ngày nay, người ta thường sử dụng Búp bê trong việc dạy. Sử dụng búp bê cách thành thạo sẽ lôi cuốn được nhiều sự thích thú và chú tâm theo dõi của các học viên.
    I. MỘT THỰC TRẠNG ĐÁNG BUỒN 
    Nhiều người mang danh là Cơ đốc nhân lâu năm, tham dự nhiều thì giờ nhóm, học Kinh thánh, nhưng tri thức Kinh thánh của họ thật quá thê thảm. Nhiều người vẫn còn luống cuống trong việc tìm các sách trong Kinh thánh. Nhiều người chưa phân biệt được những sách nào thuộc Cựu ước hay Tân ước. Có người không thể nêu tên 5 sách đầu của Kinh thánh, cũng có người không thể nêu được tên của một trước giả trong Kinh thánh. Nhiều người không thể đọc thuộc lòng vài câu Kinh thánh quan trọng và có ít người trả lời được tại sao vườn Ghết-sê-ma-nê lại có một chỗ quan trọng trong lịch sử Cơ đốc. Nguyên nhân nào đưa đến tình trạng đáng buồn này ?
    A. VỀ PHÍA HỌC VIÊN :
    Không chịu lưu tâm trong khi nghe, không xem bài hoặc làm bài ở nhà .
    B. VỀ PHÍA NGƯỜI HƯỚNG DẪN 
    Có thể người hướng dẫn chỉ quan tâm điều mình dạy, nhưng thiếu quan tâm đến học viên (dạy theo cách chỉ lo cho xong phần mình, không thường xuyên hỏi bài, hoặc kiển tra bài đã dạy, hoặc cho bài về nhà).
    Hãy thường xuyên kiểm tra tri thức, kinh nghiệm của học viên về những gì bạn đã dạy, đã truyền đạt cho họ. Đây là một hình thức tự kiểm thảo hoặc kiểm tra lại sự dạy của bạn. Luôn luôn tự cảnh giác việc dạy của bạn không bị rơi vào tình trạng tiêu cực của câu người đời thường nói :”xem trò biết thầy”. Hãy thường xuyên xem xét lại những gì chúng ta dùng để xây dựng ngôi nhà thuộc linh có còn lại không (phải giữ gìn thế nào để không thường xuyên bị nghe báo cáo rằng : gỗ chứa trong kho, quên khóa bị mất gần hết, xi măng sơ ý không đem vào bị trận mưa suốt đêm làm hư hết , gạch ngói bị lấy trộm). Xem ICo 3:9-15.
    Phải luôn luôn nhớ rằng, việc thường xuyên kiểm tra tri thức của học viên trong lãnh vực học hỏi cũng quan trọng không kém phần việc dạy bài học.
    II. PHƯƠNG CÁCH KIỂM TRA 
    A. HỎI MIỆNG .
    Làm thế nào để biến thì giờ dò bài trở thành một phần thích thú của chương trình, trong đó đa số học viên đều thích chớ không phải là giờ hoạn nạn, giờ thay đổi sắc diện.
    MỘT VÀI ĐỀ NGHỊ TRONG GIỜ HỎI BÀI :
    1) Chuẩn bị.
    Để tạo không khí thoải mái, người hướng dẫn nên cho biết cách tổng quát hướng hỏi, sau đó dành cho học viên 5 phút để suy nghĩ chuẩn bị.
    2) Thực hiện 
    a/ Tình nguyện (chỉ một số học viên có chuẩn bị bài kỹ trả lời)
    b/ Gọi theo thứ tự (chỉ có những học viên biết sắp đến tời phiên mới chuẩn bị).
    c/ Gọi không theo thứ tự. Pha trộn nhiều cách hỏi, không theo một thứ tự nhất định nào. Một học viên có thể được gọi hai lần liên tiếp trong một khoảng cách rất gần nhau. Điều cần lưu ý là không nên bỏ sót một học viên nào, hoặc gọi một học viên nào quá nhiều.
    B. KIỂM TRA GIẤY 
    Đây là phương cách chúng ta có thể theo dõi được sự học của tất cả học viên trong cùng một lúc. Chúng ta có thể dùng phương pháp kiểm tra để theo dõi bài học cũng như việc đọc Kinh thánh của các học viên.
    VÀI PHƯƠNG PHÁP ĐỀ NGHỊ TRONG VIỆC KIỂM TRA GIẤY :
    1/ Phương pháp ĐÚNG - SAI 
    Nêu lên một số câu hỏi liên quan đến bài học hoặc đoạn Kinh thánh đã đọc để các học viên có thể suy nghĩ và quyết định Đúng - Sai.
    Tùy theo trình độ của học viên chúng ta nêu câu hỏi. Một số câu hỏi dễ chỉ liên quan đến những sự kiện đơn sơ, nhưng cũng cần có một số câu đòi hỏi sự suy nghĩ. Nên tính toán thì giờ thật kỹ để bài kiểm tra có thực chất. Chúng ta có thể viết trước các câu hỏi lên bảng rồi che lại, hoặc có thể đọc lên. Cách tốt nhất là ghi lên bảng.
    Thí dụ : Lu 2:47-52
    1. Cha mẹ Chúa Giê xu thường lên thành Giê-ru-sa-lem vào lễ Ngũ tuần ? Đ/S
    2. Khi đi được hơn một ngày cha mẹ mới phát hiện không có Chúa Giê xu đi cùng. Đ/S
    3. Mọi người nghe câu hỏi và trả lời của Chúa Giê xu đều lấy làm lạ và ngợi khen. Đ/S
    4. Khi cha mẹ đến tìm, các thầy thông giáo nói với Chúa Giê xu rằng :”Hãy ở đây với chúng tôi”. Đ/S
    5. Cha mẹ Chúa Giê xu hiểu rõ những gì Ngài nói Đ/S
    2/ Phương pháp ĐIỀN VÀO KHOẢNG TRỐNG 
    Trong phương pháp này học viên phải điền vào phần còn thiếu và chỗ trống để được trọn nghĩa.
    Thí dụ : Mathiơ 8 : 5 -13
    1. Đầy tớ của thầy đội mắc …………………………………………… nằm liệt ở nhà.
    2. Chúa Giê xu phán :Ta sẽ đến ………………………………………………… 
    3. Thầy đội thưa :Lạy Chúa tôi, tôi …………………………………………………
    4. Chúa phán, Ta chưa hề thấy ai trong dân Y-sơ-ra-ên …………………………………………………
    5. Sau khi thấy đức tin của thầy đội, Chúa phán …………………………………………………
    3/ Phương pháp LỰA CHỌN 
    Phương pháp lựa chọn giúp chúng ta biết khá rõ về tri thức của học viên.
    Thí dụ : Vòng chữ đúng nhất trong câu :
    1. Môi-se qua đời trên núi : Si-nai, Hô-rếp, Nê-bô, Cạt-mên.
    2. Vùng đất người Do thái chính thống không muốn đi qua : Giu-đê, Sa-ma-ri, Ga-li-lê, Bê-rê.
    3. Chúa Giê xu thường được tiếp đón ân cần tại :Bết-sai-đa, Giê-ru-sa-lem, Na-xa-rét, Bê-tha-ny.
    4. Chúa chữa lành người bại 38 năm tại : Bết-lê-hem , Ga-đa-ra, Bê-tết-đa, Bết-sai-đa.
    5. Ai là tác giả thơ Phi-líp ? Môi-se, Phi-líp, Giăng, Phao-lô.
    4/ Phương pháp GHÉP NHỮNG PHẦN THÍCH HIỆP VỚI NHAU 
    Nếu là bài Photocoppy hay đánh máy sẵn, học viên có thể dùng bút chì nối hai phần thích hiệp lại với nhau. Nếu phải viết lên bảng, học viên có thể ghép ngay khi viết vào giấy.
    Thí dụ : 
    1. Đa-vít thắng Ga-li-lê
    2. Chúa Giê xu bị cám dỗ trong dồng vắng thế gian
    3. Em của Phi-e-rơ là Gô-li-át
    4. Chúa đi bộ trên mặt biển ba lần 
    5. Đức Chúa Trời yêu thương Anh -rê
    6. Phi-e-rơ chối Chúa 40 ngày đêm
    5/ Thi 
    Vào mỗi ba tháng chúng ta có thể cho học viên (tùy trình độ) một đề tài đơn giản nào đó để có thể tự suy nghĩ và ứng dụng điều đã học bằng chính ý nghĩ và lời của họ.
    Một số thanh niên đang vui vẻ bơi lội trên mặt biển, thình lình một bạn bị chìm xuống, cất tiếng kêu cứu. Sau một lúc khó nhọc họ đã đưa được người bạn bị chìm vào bờ. Người này bây giờ chỉ còn như một cái xác hồn. Mọi người loay hoay không biết phải làm sao, dầu rất thương và muốn làm một điều gì đó để cứu bạn. Trong lúc đầy lo lắng lẫn thất vọng, có một nhân viên ý tế đi qua, thấy vậy liền bắt tay ngay vào việc hô hấp nhân tạo. Cuối cùng xe cứu thương đã được gọi đến. Bác sĩ xem mạch của người gặp nạn và nói với nhân viên y tế rằng :”Đáng khen lắm, bạn vừa cứu được một mạng người vì đã biết làm thế nào.”
    Nhiều người thật có lòng yêu mến và nhiệt thành trong công việc, nhưng vẫn không hoặc chưa làm được công tác dẫn học viên đến với Chúa. Lý do rất đơn giản : vì chúng ta nghĩ rằng tất cả những học viên đang học trong lớp mình là những người đã tin Chúa. Lý do còn lại là vì chúng ta thiếu được nhắc nhở và chỉ dẫn phương cách .
    Chúng ta có thể chia con đường dẫn học viên đến với Chúa làm ba chặng :
    A. Dẫn học viên đến chỗ quyết định tin Chúa.
    B. Dẫn học viên đến chỗ thực hiện quyết định.
    C. Giúp học viên tạo những quyết định vâng phục sự dẫn dắt của Thánh Linh cho đến lúc được trưởng thành trong Chúa. Đây là mục tiêu quan hệ nhất trong tất cả mọi hình thức giáo dục cơ đốc.
    Chặng đường theo Chúa là chặng đường dài, bạn có thể là người được hân hạnh góp phần vào một quảng ngắn. Nhưng dù dài ngắn thế nào, mỗi bước bạn dẫn học viên của mình đi đều vô cùng quan trọng. Cách ngôn Trung quốc có câu :”chặng đường dài nghìn dặm khởi đầu bằng một bước.” Thật vậy, nếu không có bước đầu đó thì quảng đường không bao giờ kết thúc được. Các học viên đạt đến đích hay không đều tùy thuộc vào sự đóng góp của các bạn.
    A. DẪN HỌC VIÊN ĐẾN CHỖ QUYẾT ĐỊNH CHO CHÚA 
    Châm ngôn 22 :6 thường được xem là căn bản cho việc giáo dục cơ đốc :”Hãy dạy trẻ thơ con đường nó phải theo, hầu cho khi trở về già nó không lìa bỏ đó.” Phần nhiều giáo viên thường có quan niệm không được đúng về câu này nên đã đi sai mục đích của việc dạy. Họ cố gắng nhồi nhét tri thức Kinh thánh vào tâm trí của học viên mà không mấy quan tâm đến sự hiểu biết và áp dụng vào cuộc sống hằng ngày của họ. Quan niệm này thường được biểu lộ qua thái độ như sau :vấn đề học viên hiểu hay không, không quan trọng, miễn là họ chịu học. Sau này trong cuộc sống, Chúa sẽ nhắc nhở họ những gì đã học, rồi ra họ cũng đến đích thôi . Chữ “dạy” hay”huấn luyện” ở đây có nghĩa là hướng dẫn việc hình thành những thói quen để đưa đến chỗ thành thạo. “Con đường nó phải theo” không có nghĩa là trút xuống cho chúng bất cứ điều gì mình có với hy vọng nhờ đó chúng sẽ đến đích. Nhưng có nghiã là chỉ đạo, huấn luyện cuộc sống đó từng bước một trong sự dẫn dắt của Thánh Linh cho đến lúc học viên tiếp nhận Chúa làm Cứu Chúa cho riêng mình. Việc học viên tiếp nhận Chúa là một kết quả vô cùng tốt đẹp của quá trình dạy đạo, nhưng sự dạy dỗ và huấn luyện không phải dừng tại đây. Cuộc hành trình về Thiên quốc mới bắt đầu và sự huấn luyện cần phải được tiếp tục cho đến lúc học viên trưởng thành.
    Dù bạn dạy lớp nào, bạn cần phải nhớ luôn rằng trong lớp của bạn vẫn có những học viên đang ở chặng đầu của cuộc hành trình. Để góp phần hướng dẫn họ đến quyết định cho Chúa, điều trước hết bạn phải thực hiện là soát xét lại chính mình.
    1. Bạn có bày tỏ được tình yêu của Chúa không ? 
    Ngôn ngữ của tình yêu phát xuất từ tấm lòng có thể đọc được, thấy được, cảm nhận được bởi mọi hạng tuổi, mọi ngôn ngữ, chủng tộc. Tình yêu thương vừa là nền tảng vững chắc trên đó ngôi nhà thuộc linh được xây dựng, đồng thời cũng là một loại hồ vữa tốt để gắn liền các viên đá, gạch lại với nhau. Sự dạy dỗ thiếu tình thương giống như những viên gạch chồng chất lên nhau mà không có hồ vữa. Các bạn không phải chỉ nói về tình yêu của Chúa mà thôi, nhưng hãy để cho tình yêu đó được nhìn thấy trong bạn .
    2. Bạn có sống sự sống của Chúa không ? 
    Bạn dạy dỗ, kêu gọi học viên đến với Đấng Christ và mạnh mẽ nêu lên những điều hay và cần thiết của việc đến cùng Ngài. Nếu bạn không theo Chúa cách nhiệt thành, làm sao bạn có thể hy vọng thành công trong việc dạy, huấn luyện trẻ thơ hay học viên con đường họ phải theo. Hãy chứng tỏ cho học viên biết và thấy rằng con đường họ phải theo và mục tiêu họ phải đạt đến là những gì thật đáng theo.
    3. Bạn có chân thành tuyệt đối không ? 
    Trẻ em học viên rất nhạy bén trong việc phân biệt sự giả hình và chân thành. Lời nói và cuộc sống của bạn phải tỏ ra sự chân thành. Nếu bạn chinh phục được sự cảm mến của học viên và cuộc sống bạn bày tỏ được sự sống đắc thắng, bạn đã hoàn tất được một phần rất quan trọng trong lãnh vực dẫn học viên đến với quyết định cho Chúa.
    B. DẪN HỌC VIÊN ĐẾN CHỖ TẠO QUYẾT ĐỊNH. 
    Nhiều chứng nhân đã thiếu thận trọng trong vấn đề nên họ đã hái phải nhiều trái non (trái non là trái hái đốt giai đoạn). Trái non vẫn giống như trái già khi mới hái, nhưng không thể chín được. Đôi lúc cũng có màu tựa như trái chín, nhưng không ăn được. 
    Thí dụ về hình thức hái trái non : một người hướng dẫn một em bé và hỏi :”em có muốn vào thiên đàng khi em chết không ?” Chúng ta biết có đứa trẻ nào lại không muốn vào thiên đàng đâu. Vì vậy câu trả lời chắc chắn là “dạ muốn “. Người hướng dẫn có thể tìm được một câu trả lời như vậy, nếu hỏi :”em có muốn được một chiếc bánh thật ngon không ?” Sau câu hỏi, người hướng dẫn giải thích một ít về con đường cứu rỗi, rồi em đó tiếp nhận Chúa. Tất cả diễn tiến nay có thể xảy ra trong khỏang từ 5 -10 phút. Chúng ta không phủ nhận rằng đây không phải là tin. Em bé có thể tin Chúa thật, nhưng đó vẫn là một trái non.
    Để đưa học viên đến với Chúa, người hướng dẫn cần :
    1/ Được hướng dẫn bởi Thánh Linh .
    Một trong những chuẩn bị cần thiết và quan trọng nhất trong việc giúp học viên kinh nghiệm được sự sanh lại là “đầy dẫy Đức Thánh Linh”. Vì Thánh Linh là : a) năng lực của sự làm chứng (Cong 1:8). b) Thánh Linh dẫn chúng ta vào mọi lẽ thật (Gi 16:13). c) dạy chúng ta nói những điều phải nói (Lu 12:12). d) Giúp chúng ta nhớ những lời Chúa Giê xu truyền dạy (Gi14:26). e) Giúp chúng ta nói với quyền năng (Công 4:33;)
    2/ Hiểu biết học viên 
    Một vấn đề không kém quan trọng là cần hiểu biết các học viên của mình. Người hướng dẫn không biết học viên cũng giống như một vị bác sĩ biết cách chữa, nhưng nếu không khám để định bịnh thì không bao giờ dám cho toa. Bạn có phương cách trị liệu, nhưng bạn có thật sự biết học viên của mình ra sao không ?
    3/ Cầu nguyện cho mỗi học viên .
    Sự chuẩn bị thứ 3 của người hướng dẫn là cầu nguyện đặc biệt cho mỗi học viên. Nếu bạn chưa có một danh sách học viên để cầu nguyện, bạn nên lập ngay một danh sách. Đây là điều cần phải làm của một giáo viên dạy đạo. Khi bạn cầu nguyện cho các học viên của mình, sự dạy đạo của bạn sẽ có sự sâu nhiệm mới, một sự ấm áp mới. Làm thế nào để bạn có thể nói cho học viên của mình về Chúa, nếu trước hết bạn chưa nói với Chúa về các học viên của mình ?
    NHỮNG ĐIỂM CẦN NÊU LÊN TRONG DANH SÁCH CẦU NGUYỆN :
    1. Tên học viên 
    2. Những điều chúng ta thật sự muốn thấy Chúa làm cho đời sống của học viên này (nhu cầu hằng ngày, gia đình, tánh tình, lòng yêu mến Chúa, cách đối xử với anh em, bạn bè v.v..)
    4/ Những bước cấn thiết trong việc tiếp nhận Chúa .
    a. Nhu cầu của tôi : Rô ma 3:23; ; Giê-rê-mi 17:9;.
    b. Phần của Đức Chúa Trời : Giăng 3:16; ; Ê sai 53:6;.
    c. Phần của Chúa Giê xu : ICo 15:34; IPhi 2:24.
    d. Phần của tôi :
    (1) An năn tội Cong 3:19; Es 55:7; Ch 28:13
    (2) Bởi tin nhận những gì Đức Chúa Trời đã cung cấp qua sự đổ huyết của Chúa Giê xu Gi 1:12; Cong 16:31; Eph 2:8.
    e. Công việc của Thánh Linh : IICo 5:17; Tit 3:5; Ro 8:16
    Có lẽ một số học viên của chúng ta đã biết về nhu cầu của mình, biết về tình yêu của Đức Chúa Trời, biết các câu chuyện Tin lành. Dầu vậy khi hướng dẫn, chúng ta nên đi lại từng bước và mỗi bước như vậy chúng ta nên đặt với các học viên đó một câu hỏi để suy nghĩ và trả lời.
    C. HƯỚNG DẪN HỌC VIÊN ĐẾN CHỖ TRƯỞNG THÀNH TRONG CHÚA. 
    Sau khi các học viên gặp Chúa rồi, chúng ta khuyên và giúp đỡ họ bắt đầu bày tỏ sự sống của Chúa ra trong gia đình, trong lớp học và trong bất cứ chỗ nào họ có mặt. Đây là phần vụ chúng ta đang thực hiện.
    CHÚC CÁC BẠN TÌM ĐƯỢC SỰ THỎA VUI TRONG SỰ CHIA XẺ LỜI CHÚA VÀ ĐƯA DẪN NHIỀU NGƯỜI ĐẾN TRONG SỰ CỨU RỖI VÀ THÔNG BIẾT CHÚA .


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels