• Phuong phap nghien cuu Kinh thanh

    Lời Nói Đầu
    Làm sao tôi có thể hiểu được Kinh Thánh nói gì?
    Kinh Thánh ích gì cho cá nhân tôi?
    Nếu bạn đọc Kinh Thánh mà không biết làm sao để hiểu thì đây là cuốn sách giúp bạn hiểu.
    Tiến sĩ Norton Sterrett hướng dẫn bạn từ đầu qua những nguyên tắc đọc Kinh Thánh bằng ngôn ngữ bình thường, và những nguyên tắc giúp hiểu những ví dụ, ẩn dụ, biểu tượng, tiên tri...của Kinh Thánh. Phần kết luận của ông của ông đưa vào áp dụng cho đời sống hằng ngày.
    Bạn có thể bắt đầu như là một người mới tập sự học Kinh Thánh, nhưng khi đọc xong cuốn sách bạn sẽ được giúp hiểu Kinh Thánh và kinh nghiệm quyền năng thay đổi trong đời sống mình.
    Đây là cuốn sách đúc kết của nhiều năm kinh nghiệm học và dạy Kinh Thánh của Norton Sterreet, thành viên chuyên huấn luyện của hội sinh viên Tin Lành Thế Giới (International Fellowship Evangelical Students)


    Mục Lục
    7 Phương Pháp Nghiên Cứu Kinh Thánh
    Tác giả: T. Norton Sterrett
    I. NHỮNG ĐIỀU CĂN BẢN
    1. Mỗi Cá Nhân Cần Phải Học Kinh Thánh
    2. Ai Có Thể Hiểu
    3. Cần Hiểu Đúng
    4. Điểm Xuất Phát
    5. Sử Dụng Dụng Cụ Thích Hợp
    6. Tiến Hành Cách Nào
    II. NHỮNG NGUYÊN TẮC TỔNG QUÁT
    7. Xét Văn Mạch
    8. Hiểu Nghĩa Chữ
    9. Hiểu Văn Phạm
    10. Hiểu Ý Định Tác Giả
    11. Nghiên Cứu Bối Cảnh
    12. Lấy Kinh Thánh Giải Kinh Thánh
    III. NHỮNG NGUYÊN TẮC ĐẶC BIỆT
    13. Những Nghĩa Bóng Trong Ngôn Ngữ
    14. Biểu Tượng
    15. Tiêu Biểu
    16. Ngụ Ngôn Và Phúng Dụ
    17. Đặc Ngữ Do Thái
    18. Thi Phú Do Thái
    19. Lời Tiên Tri
    20. Giáo Lý
    21. Tương Quan Giữa Cựu Và Tân Ước
    IV. ÁP DỤNG CÁ NHÂN
    22. Hưởng Ứng Lời Thượng Đế

    MỖI CÁ NHÂN CẦN PHẢI HỌC KINH THÁNH

    Kinh Thánh là lời Thượng Đế ban cho chúng ta. Người tín đồ Cơ-đốc tin rằng Thượng Đế đã ban cho chúng ta món quà kỳ diệu nầy để chúng ta trân trọng giữ gìn, học hỏi hiểu biết, và vâng theo. Nhưng chúng ta không thể thực hiện được các mục tiêu trên nếu chúng ta cứ xếp Kinh Thánh cất kỹ, hoặc nếu chúng ta không hiểu Kinh Thánh nói gì. Lời Thượng Đế là dành cho mỗi một chúng ta. Nó phải soi sáng đường đi chúng ta. Nó phải là lương thực hằng ngày cho chúng ta.
    Ăn thì khác với uống. Nó đòi hỏi phải cắn và nhai kỹ. Cũng vậy, ăn nuốt Lời Thượng Đế thường đòi hỏi học hỏi, nghiền ngẫm, quan sát, suy tư và hành động. Chúng ta không thể giới hạn chỉ ăn một ngày trong tuần, vào buổi lễ sáng Chúa Nhật. Cũng không phải chỉ nhận thức ăn mà người khác đã đãi lọc, loại bỏ những chất cứng, lựa ra một vài miếng mềm ngon cho mình ăn. Cũng không thể nào chỉ ăn tùy hứng hoặc ăn thừa đồ người khác.
    Có lẽ bạn đã cố gắng học Kinh Thánh, nhưng không mấy kết quả. Thế rồi bạn bỏ cuộc, đành chỉ bỏ ra ít phút mỗi ngày đọc một khúc ngắn trong giờ Tỉnh Tâm ngắn ngủi, coi qua một chú thích nào đó để tìm ý, rồi cầu nguyện sơ sài. Bạn tìm kiếm những lời hứa, những mệnh lệnh rõ ràng, nhưng bỏ qua những gì bạn thấy khó. Tuy nhiên bạn không hài lòng và cảm thấy Thượng Đế muốn bạn nhận được nhiều hơn từ Kinh Thánh. Bạn nghĩ đúng, vì Thượng Đế truyền dạy chúng ta phải học lời Ngài (Thi Tv 119:9, 11). Hơn nữa, Ngài nói rằng chúng ta có thể hiểu lời Ngài vì có Đức Thánh Linh làm giáo sư cho chúng ta (xem GiGa 2:20, 27).
    Nói thế không có nghĩa là chúng ta không làm gì cả, chỉ để Thượng Đế dạy cho mình. Chúa Giê-xu đã nói rằng chính Thượng Đế nuôi loài chim, nhưng chim chóc cũng phải bỏ công sức ra tìm kiếm thức ăn. Thượng Đế hứa nuôi chúng ta bằng lời Ngài, nhưng chúng ta phải học hỏi. Lương thực đã có đó, chúng ta có thể nuôi mình. Đây là một trong những ơn phước lớn lao của cuộc sống Cơ-đốc.
    NGƯỜI DẠY
    Kinh Thánh có nói Thượng Đế ban cho một số người ân tứ dạy dỗ để lo công tác giáo dục (ICo1Cr 12:28, Eph Ep 4:11). Nhưng đó chỉ là một giai đoạn mà Thượng Đế đã sắp đặt để cho con người hiểu được lời Ngài. Vì câu Kinh Thánh trong thơ Giăng đã trưng trên kia cũng nói rõ rằng mọi người tin phải nhờ Thánh Linh mà học hỏi.
    Nói thế không có nghĩa là chúng ta không đếm xỉa gì tới những giáo sư được Chúa dùng trong Hội Thánh. Chúng ta không thể nào tự mình biết được mọi thứ. Chúng ta cũng phải học với người khác và học hỏi nơi họ. Thượng Đế đã đặt để trong Hội Thánh những người có ơn diễn giải Kinh Thánh và giải thích những giáo lý lớn cho niềm tin chúng ta.
    Đặc biệt là các thanh niên trong Chúa, cần phải hỏi ý kiến những tín đồ trưởng thành hơn, những người đã biết Lời Chúa có thể giúp mình hiểu được. Nếu bạn đọc một đoạn Kinh Thánh và cảm thấy mình khám phá ra một chân lý mới, hãy trình bày ý đó với một tín hữu trưởng thành hơn, ý nói không phải bao giờ cũng đúng dầu cho nó xuất phát từ sự học hỏi, cầu nguyện. Sau khi chia xẻ với người trưởng thành hơn, hãy học lại khúc Kinh Thánh đó, đối chiếu với những gợi ý của họ.
    THÁNH LINH DẠY
    Thượng Đế dùng các giáo sư dạy chúng ta, đồng thời Ngài cũng dùng sự nghiên cứu với tinh thần cầu nguyện của mỗi chúng ta. Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ. Chính Thánh Linh Thượng Đế phải là giáo sư của chúng ta. Chúa Giê-xu đã nói, “Ngài (Đức Thánh Linh ) sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật ” và “Ngài sẽ dạy các ngươi mọi điều ” (GiGa 16:13, 14:26).
    Đây là một chân lý phước hạnh cho mọi người Cơ-đốc: Thượng Đế đã ban Thánh Linh để ở với mỗi một người tin, thân thể chúng ta là đền thờ của Ngài (ICo1Cr 6:19). Một trong những công tác của Đức Thánh Linh là soi sáng Kinh Thánh. Nếu chúng ta nhận biết trọng trách đó của Ngài, chúng ta sẽ hăm hở đào sâu tìm hiểu Kinh Thánh.
    Chúng ta cũng sẽ tránh được hai thái độ sai lầm đối với việc học Kinh Thánh. Một là chúng ta không thể tự tin ở chính mình. Chúng ta sẽ không cho rằng trí óc chúng ta có thể nắm bắt được chân lý Kinh Thánh mà không cần trợ giúp, rằng nhờ nghiên cứu kỹ càng mà chúng ta có một kiến thức chuyên biệt về Kinh Thánh, rằng những điều chúng ta hiểu biết về Kinh Thánh là tối hậu. Chúng ta sẽ có tinh thần khiêm nhường, cảm ơn Chúa về những điều mình biết được, nhưng cũng nhìn nhận rằng còn có nhiều điều mình cần phải học hỏi. Sứ đồ Phao-lô, một người có thể nói là biết Kinh Thánh nhiều hơn bất cứ ai đồng thời với ông, đã được thần cảm để viết những lời khuyên nầy: “Nếu có ai tưởng rằng mình biết điều gì, người ấy chưa biết như mình đáng phải biết ” (ICo1Cr 8:2). Ông không nói về tóan hay khoa học, nhưng về những điều thuộc về Thượng Đế. Chúng ta chẳng có lý do nào để hãnh diện về kiến thức Kinh Thánh của mình.
    Thứ hai, chúng ta không thể nào không nhờ cậy Chúa để hiểu biết Lời Ngài. Chúng ta chấp nhận sự dạy dỗ của Đức Thánh Linh không chút hoài nghi hay vô tín. Tội vô tín cũng nặng như tội kiêu căng vậy. Đừng bao giờ coi nhẹ đặc ân được học hỏi với Thượng Đế.
    Tuy vậy, một số tín hữu đã nghĩ sai về đặc ân nầy. Họ cho rằng vì Đức Thánh Linh là thầy dạy của ta thì ta không cần học nữa. Họ cho rằng chúng ta chỉ cần đọc Kinh Thánh và quỳ gối cầu nguyện xin Chúa dạy chúng ta. Rồi những gì chúng ta nghĩ hay tin đều ra từ Thượng Đế cả. Theo họ, như thế mới đúng là ăn nuốt lời Chúa. Việc nghiên cứu học hỏi là không cần thiết.
    Đây quả là một kết luận sai lầm. Thượng Đế ban nước uống cho dân Do Thái khi Môi-se dùng gậy đập hòn đá, nhưng đó là chuyện phi thường. Chúa đòi hỏi Áp-ra-ham và Gia-cốp phải ra công đào giếng. Nứơc từ Thượng Đế đến với chúng ta qua công việc đào sâu học hỏi.
    Thượng Đế có thể ban cho chúng ta bằng cả hai đường lối siêu nhiên và tự nhiên. Ngài ban cho chúng ta trí tuệ nhờ đó chúng ta có thể hiểu Ngài, và Ngài cũng bảo chúng ta tẩy sạch nó và sử dụng nó. Chúng ta phải yêu mến Chúa với tất cả khả năng trí tuệ của chúng ta (Mat Mt 22:37).
    SỰ HIỂU BIẾT THÍCH ĐÁNG NHƯNG CHƯA TRỌN VẸN
    Nói rằng chúng ta hiểu Lời Thượng Đế không có nghĩa là chúng ta hiểu tất cả, giải quyết được mọi nan đề, giải đáp được mọi thắc mắc. Ngay cả những học giả hiểu rành tiếng Hy Lạp và Hê-bơ-rơ, thông thạo lịch sử, văn hóa v.v...vẫn không thể nào giải thích thỏa đáng mọi câu ttrong Kinh Thánh. Chẳng hạn, câu “Vì người chết chịu báp-têm ” (ICo1Cr 15:29) có nhiều cách giải thích, nhưng không một học giả nào biết chắc câu đó có nghĩa gì. Câu “Chúa giảng cho các linh hồn bị tù ” (IPhi 1Pr 3:19) cũng gây nhiều tranh luận giữa các học giả.
    Nhưng chúng ta không thể vì thế mà nản chí. Chúng ta có thể hiểu đủ để biết ý Chúa và vâng theo lệnh Ngài. Thượng Đế muốn chúng ta học lời Ngài, Ngài hứa sẽ giúp chúng ta hiểu Lời đó và tương giao với Ngài trong ánh sáng. Nhưng Ngài không bảo rằng sự hiểu biết sẽ đến dễ dàng. Nếu chúng ta thành tâm, thì phước hạnh lớn lao đang chờ đợi chúng ta.
    Chân lý do chính chúng ta tự lãnh hội được, không phải từ người khác, sẽ có giá trị gấp bội.
    Vậy nếu bạn muốn học Kinh Thánh, hãy đọc tiếp. Sáu chương đầu (Phần I) chỉ dẫn những điều quan trọng ảnh hưởng đến việc học Kinh Thánh. Phần 2 nói về những nguyên tắc tổng quát trong việc giải nghĩa Kinh Thánh, Phần 3 là những chương đặc biệt, và cuối cùng là phần áp dụng.
    AI CÓ THỂ HIỂU KINH THÁNH
    Không phải ai cũng có thể thông giải Kinh Thánh đúng cách. Chân lý trong Kinh Thánh thuộc linh giới, cho nên chỉ những ai có khả năng tâm linh mới có thể hiểu được Lời Thượng Đế dành cho những người biết nghe và chịu lắng nghe.
    Mỗi tín hữu Cơ-đốc đều đã có ít nhiều điều kiện cần thiết. Còn một số điều kiện khác có thể thủ đắc. Nếu không có những điều kiện đó họ không có cách gì hiểu Kinh Thánh cho đúng. Chúng ta hãy xem xét những phẩm tính đó.
    1. Một tấm lòng mới (ICo1Cr 2:14)
    Người thông giải phải được tái sinh. Thông điệp Kinh Thánh nói về Thượng Đế, con người, và những tương quan giữa con người và Thượng Đế. Như vậy, một người đứng ngoài mối tương giao đó sẽ không nghe được nhiều điều Thượng Đế đã phán. Họ có thể thu thập dữ kiện và hiểu được những điểm kỹ thuật của ngôn ngữ. Nếu là học giả, ông ta có thể có một một kiến thức khá cao về Kinh Thánh, về lịch sử của nó, về những con người trong đó, và cũng có thể biết được một số giáo huấn nữa. Song một người chưa nhận được sự sống tâm linh của Thượng Đế thì thiếu hẳn khả năng thiết yếu để hiểu sứ điệp của Kinh Thánh.
    2. Một tấm lòng đói khát (IPhi 1Pr 2:2)
    Chỉ đọc tùy hứng khi thuận tiện thì không thể nào có kiến thức về Kinh Thánh. Nó không giống như những vỏ sò sặc sỡ nằm dọc bão biển, bạn chỉ cần bỏ ra vài phút để lượm khi nào bạn thích. Đúng ra, nó giống như quặng mỏ quí giá, bạn chỉ có thể tìm được khi nào có quyết tâm. Bạn chỉ có quyết tâm nầy khi nào thiết tha muốn biết Thượng Đế và Lời Ngài.
    Có người muốn học Kinh Thánh, nhưng khi đem Kinh Thánh ra đọc thì cảm thấy buồn ngủ nên quay ra tìm đọc những thứ khác vui hơn như sách báo, nghe radio hoặc xem TV. Có người chỉ đọc những đoạn dễ, đến khi thấy khó thì bỏ cuộc. Họ không có sự đói khát để thúc đẩy tiến tới.
    3. Một tấm lòng vâng phục (Thi Tv 119:99-100)
    Để hiểu Kinh Thánh cho đúng, chúng ta phải sẵn sàng vâng phục thánh ý Thượng Đế khi Ngài chỉ dạy chúng ta. Kinh Thánh kêu gọi chúng ta hưởng ứng, không phải chỉ phân tích nó. Nếu chúng ta không chịu hành động, chúng ta không thể nào đạt đến chân lý trọn vẹn. Một tấm lòng vâng phục sẽ thấy ý nghĩa Kinh Thánh mở ra cho mình.
    Thượng Đế đòi hỏi thái độ của tấm lòng, không phải một bản kê khai hành động. Ngài không đợi cho đến khi chúng ta theo Ngài một thời gian lâu rồi mới bắt đầu dạy chúng ta. Không Ngài nhìn tấm lòng chúng ta và biết rõ. Khi nào lòng chúng ta hưởng ứng thì Ngài bắt đầu dạy chúng ta.
    Học hỏi và vâng phục đi với nhau từng bước một. Nếu Thượng Đế dạy tôi một điều gì và tôi vâng phục Ngài, thì tôi có thể mong đợi Ngài dạy cho tôi thêm điều khác nữa. Nếu tôi không chịu vâng phục thì đừng nên mong tiến bộ. Tôi có thể thu nhận được một số dữ kiện nhưng chân lý thiết yếu vẫn bị che khuất. Tôi có thể ăn đầy bụng cơm và cà-ri, nhưng không tiêu hóa được chất Vitamin bổ dưỡng.
    4. Một tấm lòng kỷ luật (Mat Mt 7:7)
    Một người có tấm lòng kỷ luật bắt đầu làm việc gì thì cứ tiếp tục làm luôn dù gặp khó khăn. Anh ta sẽ cắt bớt việc khác để dành thì giờ cho việc ưu tiên. Dù phải mất thời gian lâu để làm xong việc anh ta cũng không lãng bỏ, vì biết rằng điều đó đúng. Học Kinh Thánh đòi hỏi một tấm lòng như vậy.
    Đây là thứ kỷ luật tự giác. Không ai bắt buộc mình phải học Kinh Thánh. Có lúc chúng ta cảm thấy vui thích phấn khởi, nhưng cũng có những ngày không được như vậy. Tuy nhiên chúng ta phải giữ kỷ luật, cứ tiếp tục tiến tới, vì không ai có thể đến đích mau lẹ dễ dàng được. Chúa Giê-xu nói rằng: “Hãy tìm sẽ được, ” không phải “hãy xem cầu may đâu đó thì sẽ được ”.
    5. Một tấm lòng cầu tiến (EsIs 50:4)
    Một con người cầu tiến, không bao giờ thấy mình học đủ, biết rằng còn rất nhiều điều mình chưa biết, luôn khiêm nhường sẵn sàng tìm kiếm khám phá những chân lý mới.
    Người cầu tiến sẵn sàng học hỏi nơi người khác. Có lẽ chúng ta sẵn sàng học nơi Chúa, hoặc tưởng mình như vậy, nhưng chúng ta có bằng lòng học hỏi với các anh chị em khác không, nhất là khi họ nghĩ đúng mà mình sai?
    Mỗi người chúng ta đều có ý kiến riêng về kinh Thánh, có những xác tín về những giáo lý và về ý nghĩa của nhiều đoạn Kinh Thánh. Những ý đó ở đâu ra? Hầu hết đều do những bài giảng chúng ta đã nghe, sách chúng ta đã đọc, những ý đó chúng ta thu nhận được từ người khác. Những xác tín chúng ta có thể đúng, có thể sai, hoặc chỉ đúng có một phần. Chúng ta có sẵn sàng nhận rằng, “tôi sai” không? Nếu không, ta chưa thật sự cầu tiến.
    Tấm lòng khiêm nhường, cầu tiến sẽ được Chúa bày tỏ chân lý của Ngài.
    Muốn hiểu biết Kinh Thánh thì phải có năm đức tính quan trọng trên. Hễ càng có được nhiều thì càng học hỏi được nhiều. Nếu muốn có chúng, chúng ta hãy cầu xin Chúa, và nên bắt đầu học Kinh Thánh ngay khi cầu xin. Nếu chúng ta học hỏi vói tinh thần tìm kiếm, chắc chắn Chúa sẽ dạy chúng ta.

    CẦN HIỂU ĐÚNG

    Các học giả Kinh Thánh đã nghiên cứu, suy tư và viết rất nhiều sách về thông giải Kinh Thánh. Công tác đó cần thiết vì thông giải cho đúng cách là một vấn đề khẩn thiết.
    Nhiều câu chúng ta không rõ nghĩa. Chúng ta đọc đi đọc lại mà vẫn thắc mắc không biết câu nầy có nghĩa gì, có câu có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau. Bởi vậy chúng ta cần phải thông giải để làm sáng tỏ ý nghĩa.
    HAI CÂU KHÓ
    Ví dụ, chúng ta xét thử câu “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin ” (IICo 2Cr 6:14). Câu nầy có nghĩa gì? Ách là một thanh gỗ đặt trên cổ của hai con vật giữ chúng với nhau để làm một công việc kéo cày chẳng hạn. Phải chăng người tin không được mang chung một thanh gỗ với người không tin? Ý đó ngô nghê quá.
    Có phải câu nầy nói về hôn nhân giữa người tin và người không tin? Hay có ý cấm người tin hùn hạp làm ăn với người không tin? Hoặc nó cấm người tín đồ gia nhập những hiệp hội như Rotary, Masons, nơi người ta thu nhận đủ loại hội viên?
    Còn câu nầy trong Thi Thiên: “Người chết không ngợi khen Chúa ” (Thi Tv 115:17) có nghĩa gì? Phải chăng người tín đồ sau khi chết không còn thờ phượng Thượng Đế?
    Hai câu trên đây, cũng như nhiều câu khác nữa, cần được thông giải. Khi ta đọc một câu Kinh Thánh, bạn có thể hiểu một ý và tôi có thể ý khác, làm thế nào để quyết định ý nào đúng. Đó là cái khó của công việc thông giải.
    VẤN ĐỀ THÔNG ĐẠT
    Chúng ta dùng ngôn ngữ để truyền thông. Khi người nầy muốn truyền thông với người khác, họ nói, viết, hát hay hành động để tỏ ý của mình. Khi người kia hiểu được ý trong lời nói hay cử chỉ của người nầy, họ đã truyền thông được với nhau.
    Nhưng chúng ta thường hay hiểu lầm nhau. Lần đầu tiên tôi nghe một người bạn nói với tôi: “Anh kéo cẳng tôi”, tôi không hiểu anh ấy tưởng anh ta ngụ một ý gì xấu lắm. Nhưng bây giờ tôi đã hiểu câu ấy có ý nói bóng là: “Anh giỡn chơi hả” mà thôi. Như vậy, muốn hiểu nhau cũng như muốn hiểu Kinh Thánh ta cần hiểu rõ ngôn ngữ.
    Có những nguyên tắc giúp chúng ta hiểu ngôn ngữ được đem áp dụng cho việc hiểu Kinh Thánh. Cũng có một số nguyên tắc đặc biệt cho ngôn ngữ của Kinh Thánh. Trong bất cứ ngành nghề nào cũng có lý thuyết và thực hành, việc thông giải Kinh Thánh cũng vậy. Trong tiếng Anh việc nghiên cứu các nguyên tắc thông giải gọi là hermeneutics, việc thực hành các nguyên tắc đó gọi là exegesis hay interpretation. Khi đem trình bày sự thông giải của mình cho người khác gọi là exposition. Trong sách nầy trước hết chúng ta xét đến những nguyên tắc, rồi sau đó tìm hiểu cách áp dụng chúng.
    CẦN CÓ NGUYÊN TẮC ĐÚNG
    Giả thử người đọc Cong Cv 15:28-29 và nhận thấy vấn đề bàn cải ở đây đề cập đến sự cứu rỗi. Người ấy đọc thấy các nhà lãnh đạo Hội thánh gởi một thông điệp cho các tân tín hữu ngoại bang ở An-ti-ốt về “một số điều cần thiết”: “Kiêng giữ cho khỏi sự ô uế của thần tượng, sự tà dâm, sự ăn thịt thú vật chết ngột và huyết. ” Đọc xong, ông ta kết luận rằng muốn được cứu rỗi phải kiêng cử các thứ trên đây.
    Ông ta lại đọc trong Gia-cơ “Anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những cậy đức tin mà thôi ” (Gia Gc 2:24). Câu nầy càng khiến ông ta kết luận rằng phải nhờ việc làm để được cứu rỗi, rồi xây dựng cuộc sống mình trên niềm tin đó, thế là ông ta đã hiểu sai lời Chúa và phương pháp cứu rỗi của Ngài. Số phận ông ta tùy thuộc vào sự thông giải Kinh Thánh đúng hay sai. Trên đây chúng ta chỉ giả thử thôi, nhưng thực tế đau lòng là có nhiều người đã thật sự hành động như vậy.
    Muốn thông giải đúng cần phải có nguyên tắc đúng. Chúng ta không được quyền tự tạo lấy nguyên tắc hoặc dùng nguyên tắc nào cũng được. Làm cách nào để tìm ra nguyên tắc đó? Cách thứ nhất là tìm hiểu Tân Ước thông giải Cựu Ước như thế nào. Cách thứ hai là nghiên cứu các quy luật của ngôn ngữ, những nguyên tắc để hiểu ngôn ngữ nói chung.
    Muốn hiểu được một câu nói, chúng ta phải đặt nó trong toàn thể câu chuyện. Đây là một quy luật của ngôn ngữ, người ta gọi là văn mạch (context), một nguyên tắc căn bản trong việc thông giải Kinh Thánh.
    Có nhiều nguyên tắc thông giải Kinh Thánh chỉ là những quy luật nói chung. Chính Kinh Thánh cũng soi sáng một số nguyên tắc đó. Ví dụ Chúa Giê-xu bảo các môn đồ hãy coi chừng men của người Pha-ra-si (Mat Mt 16:6-12). Họ nghĩ theo nghĩa đen và hiểu lầm ý Ngài, vì vậy Ngài phải giải thích rằng những chữ men Ngài dùng đây là nói về “Điều dạy dỗ.” Lối nói nầy khi Ngài nói, “Hãy phá hủy đền thờ nầy đi ” (GiGa 2:19-22), Ngài dùng đền thờ để chỉ về thân thể Ngài.
    Đức Thánh Linh đã cảm xúc việc viết Kinh Thánh bằng ngôn ngữ loài người. Bởi vậy, phải hiểu những lời đó theo những quy luật của ngôn ngữ, nhất là những qui luật đã được phát hiện trong chính Kinh Thánh.
    ĐIỂM XUẤT PHÁT

    Bất cứ hoạt động nào cũng có một khởi điểm. Trong việc học Kinh Thánh, chúng ta bắt đầu với những xác tín của chúng ta về Kinh Thánh và về phương cách học hỏi thích hợp. Ở đây tôi chỉ nêu ra chứ không chứng minh những điểm nầy.
    Một số người bảo chúng ta không nên làm như vậy. Họ nói chúng ta cần phải có tâm trí cởi mở khi đến với Kinh Thánh, không nên có một xác tín trước rằng đó là Lời Thượng Đế, hay đó là chân lý. Theo ý họ, chúng ta nên học Kinh Thánh để thấy những gì Kinh Thánh tự bày tỏ ra. Nếu đó là Lời Thượng Đế thì nó sẽ bày tỏ ra như thế.
    Đó cũng là một cách học Kinh Thánh, nhưng không phải đường hướng chúng ta áp dụng trong sách nầy. Thứ nhất, vì thực tế không thể có một tâm trí nào hoàn toàn vô tư, khách quan. Bất cứ ai biết ít nhiều về Kinh Thánh đều có một xác tín nào đó. Thứ hai, đường hướng đó đòi hỏi phải viết một cuốn sách dày hơn nhiều. Thứ ba, các học giả đã dùng phương cách đó và đã chứng minh cách hùng hồn rằng Kinh Thánh đến từ Thượng Đế.
    NHỮNG XÁC TÍN CĂN BẢN
    Vậy chúng ta bắt đầu từ một số xác tín cơ bản làm nền tảng cho việc học hỏi của chúng ta. Tất cả các tín hữu Tin Lành đều đồng ý về những xác tín có liên quan tới nội dung Kinh Thánh. Những xác tín có liên quan đến đường hướng học Kinh Thánh có thể không được mọi người tán thành, nhưng tôi hy vọng chứng tỏ là chúng hợp lý.
    1. Kinh Thánh là Lời Thượng Đế (cả Cựu và Tân ước)
    Kinh Thánh được Thượng Đế cảm thúc, bởi vậy Kinh Thánh khác với mọi sách khác. Nói vắn tắc, những điều Kinh Thánh nói là do Thượng Đế phán. Muốn hiểu Kinh Thánh cho đúng, bạn cần phải tin rằng đó là Lời Thượng Đế, qua Kinh Thánh Ngài đã phán dạy loài người, trong đó có bạn. Bạn phải xác nhận rằng những lời tuyên bố trong Kinh Thánh có thẩm quyền và đáng tin cậy.
    Niềm xác tín nầy là căn bản cho việc học Kinh Thánh của chúng ta và ảnh hưởng toàn thể đường hướng học hỏi của chúng ta, vì việc học Kinh Thánh không phải chỉ là một kỹ thuật. Thái độ tin tưởng rất quan trọng trong việc hiểu biết. Nếu bạn có nghi ngờ gì thì xin làm sáng tỏ trước khi bắt đầu học. Hãy cầu nguyện xin Chúa bày tỏ chân lý và tìm đọc những sách bổ ích về đề tài nầy.
    Tuy nhiên chúng ta nên cẩn thận. Thượng Đế có thể không phán những điều mà một số người tưởng là Kinh Thánh đã nói. Không phải vì chúng ta tin Kinh Thánh là Lời Thượng Đế mà những gì chúng ta nghĩ về Kinh Thánh đều đúng cả. Chính vì lý do đó mà chúng ta cần phải thông giải Kinh Thánh cẩn thận.
    2. Chúng ta có thể hiểu được Kinh Thánh qua các bản dịch
    Một số tín hữu tin rằng chỉ học Kinh Thánh trong tiếng Hy-lạp hay Hê-bơ-rơ thì mới hiểu đúng nghĩa, nhưng hầu hết các tín hữu từ thời Chúa Giê-xu đến nay đều chỉ biết Kinh Thánh qua các bản dịch. Ngay như thời nay cũng chỉ có một thiểu số tín hữu được đọc sách vở của các học giả nghiên cứu Kinh Thánh ở nguyên ngữ. Nhiều thứ tiếng không có sẵn bình giải (commentary) và Thánh Kinh phụ dẫn (concordance), hoặc sách quá đắt khó mua nổi. Phải chăng Thượng Đế sắp đặt để cho đa số tín hữu không hiểu được lời Ngài? Không, các bản dịch đều chuyên chở được ý nhĩa thiết yếu của Kinh Thánh.
    Như vậy không có nghĩa là công tác khảo cứu vô bổ. Nó rất quan trọng và có giá trị. Nhờ sự khảo cứu, chúng ta có thêm nhiều kiến thức và những soi sáng có giá trị, nhất là trong việc thông giải những điểm khó hiểu trong Kinh Thánh.
    Dĩ nhiên, thứ tiếng nguyên thủy của Kinh Thánh không phải là tiếng mẹ đẻ của nhiều người. Cựu Ước viết bằng tiếng Hê-bơ-rơ (trừ một vài phần bằng tiếng A-ram), Tân Ước viết bằng tiếng Hi-lạp. Như vậy những bản Kinh Thánh chúng ta dùng đều là những bản dịch dầu đó là bằng tiếng Anh, tiếng Ấn, tiếng Tamil, hay tiếng Việt. Hầu hết các bản dịch là do các học giả Cơ-đốc dịch ra với tinh thần cầu nguyện và cẩn trọng, chúng ta có thể tin tưởng các bản dịch đó. Thí dụ như bản dịch Cựu Ước ra tiếng Hy lạp, thực hiện vào khoảng năm 280 TC, gọi là bản Septuagint (Bản Bảy Mươi). Kinh Tân Ước thường trích từ bản dịch nầy hơn là bản tiếng gốc Hê-bơ-rơ (những bản văn chúng ta có ngày nay), như những câu trích trong Mat Mt 13:14-15, LuLc 3:4-6RoRm 15:12.
    Tuy nhiên, không phải tất cả các bản dịch đều được thực hiện cẩn thận, một số không do những người tin nơi sự thần cảm của Kinh Thánh dịch. Vì vậy bạn cần biết những bản dịch mình dùng, nhất là bản dịch tiếng Anh, vì tiếng Anh có nhiều bản dịch.
    3. Kinh Thánh là nhất quán (unity)
    Cựu Ước và Tân Ước không mâu thuẩn nhau trong việc khải minh Thượng Đế. Đúng ra, cả hai bổ túc lẫn nhau: Cựu Ước chuẩn bị cho Tân Ước và Tân Ước hoàn thành Cựu Ước.
    Tiến trình của sự mặc khải là: Cựu Ước khải minh từng phần và bằng “nhiều cách” còn Tân Ước ghi lại mặc khải tối hậu của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu Cơ-Đốc cũng là trung tâm của Cựu Ước, dù chân dung của Ngài chỉ xuất hiện rời rạc từng phần. Chúng ta chỉ hiểu được Kinh Thánh khi chúng ta thấy được cái hoàn thể: Đấng Cứu Thế và kế hoạch cứu rỗi của Thượng Đế qua Ngài.
    4. Kinh Thánh tự thông giải chính mình
    Nghĩa là, khúc sách nầy soi rọi cho khúc kia. So sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh là cơ bản cho việc thông giải Kinh Thánh. Những câu rõ nghĩa giúp giải thích những câu tối nghĩa. Những câu nghĩa đen soi sáng cho những câu nghĩa bóng. Lịch sử và giáo huấn của Tân Ước vén màn bí mật cho những lời tiên tri của Cựu Ước.
    Việc so sánh phải cẩn thận, không được một chiều. Ví dụ, có người đọc câu “Ai trong các ngươi không bỏ mọi sự mình có thì không được làm môn đồ ta ” (LuLc 14:33), đem so sánh với lệnh Chúa truyền “Hãy bán hết gia tài phân phát cho kẻ nghèo rối đến đây mà theo ta ” (18:22), rồi ông ta đem của cải ra cho hết, trong khi còn có vợ và 5 con. Sau khi sạch hết của cải rồi, ông ta chẳng còn gì nuôi vợ con nữa đành phải sống và nhờ vào của bố thí của người khác. Người nầy đã so sánh Kinh Thánh cách nông cạn, không để ý tới những câu khác trong ICo1Cr 16:2, ITi1Tm 5:8, 6:17-19.vv..
    5. Ngôn ngữ Kinh Thánh là ngôn ngữ thường tình của con người
    Có thời người ta cho rằng Kinh Thánh được viết bằng chữ Hi Lạp linh thiêng của Thiên đàng, nhưng về sau người ta tìm thấy rằng ngôn ngữ của Tân Ước là thứ ngôn ngữ thông dụng vào thế kỷ thứ nhất. Ngôn ngữ đó chịu ảnh hưởng của văn hóa Do Thái thời bấy giờ, cho nên Tân Ước có nhiều thành ngữ đặc biệt của người Do Thái. Có một số chữ có nghĩa thông dụng, nhưng trong Kinh Thánh nó lại mang một ý nghĩa đặc biệt của người Do Thái, chẳng hạn như chữ ecclesia (hội thánh) và agapao (yêu thương). Ngôn ngữ tiên tri có những đặc điểm riêng, chẳng hạn dùng thì quá khứ khi nói về tương lai.
    Dầu vậy, hầu hết các người viết Kinh Thánh đều dùng ngôn ngữ thông thường với những danh từ, động từ vv... ngay cả những hình ảnh dùng cũng giống chúng ta. Khi Kinh Thánh nói về những cây cối vỗ tay hay núi đồi vui cười, chúng ta thấy không có gì khó hiểu. Chúng ta có thể tìm thấy những yếu tố ngôn ngữ mình đã biết và áp dụng những qui luật thông thường của ngôn ngữ.
    6. Sự hiểu biết Kinh Thánh phải đi đôi với sự hưởng ứng thành thật, khôn ngoan và tuân phục
    Lời Thượng Đế ban cho chúng ta “Được trọn vẹn và sắm sẵn để làm mọi việc lành ” (IITi 2Tm 3:17). Không một hiểu biết nào về Kinh Thánh là thuần kỹ thuật và lý thuyết suông. Khi chân lý đã rõ ràng cho tâm trí, thì ý chí phải đáp ứng. Hiểu biết và vâng phục không được tách rời nhau. Chúng ta học để làm, và chúng ta không thật sự học hỏi nếu chưa bắt đầu làm.
    7. Sự dạy dỗ của Đức Thánh Linh là cần thiết để hiểu Kinh Thánh
    “Ngài sẽ dẫn ngươi vào mọi lẽ thật ”, Chúa Giê-xu đã phán vậy khi Ngài nói về Đức Thánh Linh (GiGa 16:13). Những sự thuộc về Thánh Linh “phải được xem xét cách thiêng liêng ” (ICo1Cr 2:14). Chân lý của Kinh Thánh vượt quá những sự kiện và tin tức trong đó. Ý nghĩa căn bản của Kinh Thánh thuộc linh giới, nếu ta muốn hiểu phải nhờ Đức Thánh Linh dạy dỗ.
    Trên đây là bảy xác tín làm nền tảng cho sự hiểu biết Kinh Thánh. Bây giờ chúng ta sẽ xét đến những dụng cụ cần thiết để bắt tay làm việc.
    SỬ DỤNG DỤNG CỤ THÍCH HỢP
    Có lẽ hầu hết mọi người đều cho rằng những sách tham khảo như sách giải kinh và từ điển Kinh Thánh là những dụng cụ cần thiết để học Kinh Thánh. Những sách đó chắc chắn là có ích, vì chúng là công trình của các học giả. Nhưng có nhiều tín hữu, nhất là những người nghèo thiếu, không thể nào có được những sách đó. Họ có phải đợi cho đến khi mua được rồi mới học Kinh Thánh không? Nếu vậy, chắc nhiều người phải đợi suốt đời.
    Ngoài ra, còn có nhiều tai hại nếu dùng sách tham khảo không đúng cách, nhất là đem nó thay thế cho việc nghiên cứu cá nhân. Làm vậy không khác nào ăn những đồ ăn đã nhai sẵn hay tiêu hóa sẵn. Ăn đồ ăn như vậy cũng có đôi chút lợi ích, nhưng ta bị thiệt hại nhiều thứ: cơ thể ta không được vận động nhai nuốt, ta không được thưởng thức hương vị thơm ngon của đồ ăn. Trong việc học Kinh Thánh, nếu chỉ đọc điều người khác đã học hỏi thì còn thiệt thòi nữa. Không có phước lành và niềm vui nào lớn hơn là được học hỏi trực tiếp với Chúa.
    Cái bất lợi trong việc dùng sách tham khảo là những lời chú giải trong đó có thể thay thế những suy tư của cá nhân. Những chú giải đó không phải là thành phần trong lời Chúa, các học giả đã nhận thấy có nhiều chú giải sai lầm.
    Để khỏi mất phần nghiên cứu học hỏi của riêng mình, bạn hãy nghiên cứu trước rồi mới dùng các sách khác sau. Những sách đó hữu ích vì chúng cung cấp cho bạn những tin tức cần thiết mà ta không thể lấy từ Kinh Thánh, chẳng hạn những dữ kiện về nhân văn và địa lý. Chúng cũng bình giải những khúc Kinh Thánh khó hiểu.
    CÁC DỤNG CỤ CĂN BẢN
    1. Một quyển Kinh Thánh
    Dĩ nhiên Kinh Thánh không phải là dụng cụ mà chính là quyển sách để chúng ta học. Nhưng để tiện lợi cho việc học chúng ta nên lựa một quyển Kinh Thánh có thể giúp ta học dễ dàng, chẳng hạn một quyển có in phần chú dẫn các câu tương đương, có lề rộng và giấy dày để ta ghi chú, hoặc nếu không muốn viết vào Kinh Thánh thì phải có sẵn sổ tay.
    2. Các bản dịch hoặc diễn ý Kinh Thánh khác để so sánh
    Có một hai quyển loại nầy thì tốt nhưng đừng nên nhiều quá. Nhiều quá sẽ làm cho rối trí. Các bản dịch có giống nhau không? Tại sao khác? Khác chỗ nào?
    3. Một quyển từ điển
    Dù là tiếng mẹ đẻ, nhiều khi có những chữ ta không hiểu, vì vậy cần có một quyển từ điển để tra những chữ khó. Nếu không có từ điển thì ghi những chữ khó ra để tìm từ điển tra sau.
    4. Một quyển sổ tay
    Nếu không viết ra, bạn sẽ không thể học tới nơi tới chốn. Việc viết nhiều khi rất buồn tẻ, nhưng đừng nhường chỗ cho thói ươn lười vì nhờ viết ra bạn thấy nhiều hơn và nhớ nhiều hơn.
    Bạn cần viết gì? Thứ nhất, những dữ kiện. Có khi một dữ kiện lúc đầu có vẻ không quan trọng, cứ ghi. Về sau bạn có thể thấy nó rất có ý nghĩa. Thứ hai, tham khảo những đoạn khác, ghi ra. Thứ ba, những thắc mắc hiện ra trong trí. Đừng dừng lại tìm cách trả lời, nhưng phải ghi lại.
    Khi đọc lần đầu, cần ghi lại những ý nảy ra trong trí. Đừng dừng lại, phân tích hay kiểm tra gì cả. Có lẽ phần lớn những ý đó cuối cùng không có gì quan trọng, nhưng lúc đầu bạn không thể biết được ý nào quan trọng, ý nào không. Về sau, bạn có thể duyệt lại những lời bình giải, lựa lọc ra, ghi chú thêm và rút ra kết luận.
    NHỮNG DỤNG CỤ KHÁC
    Ngoài những dụng cụ chính ở trên, nếu bạn có được những loại sách tham khảo khác thì rất hữu ích.
    1. Thánh Kinh Phù Dẫn (Concordance)
    Sách phù dẫn là sách liệt kê những câu có dùng một chữ nào đó. Ví dụ, khi tra chữ “cầu nguyện” bạn sẽ thấy nó liệt kê tất cả những câu Kinh Thánh có chữ cầu nguyện. Trong tiếng Anh có hai bộ sách phù dẫn đầy đủ nhất là Young’s Analytical Concordance và Strong’s Exhautive Concordance. Thánh Kinh Phù Dẫn giúp ta tìm biết các từ ngữ nằm ở đâu và được dùng như thế nào trong suốt cả Kinh Thánh.
    2. Thánh Kinh từ điển
    Quyển Thánh Kinh Từ Điển liệt kê và giải nghĩa những từ và những đề tài có trong Kinh Thánh nhưng không nhất thiết có chỉ dẫn đầy đủ chữ đó nằm ở những chỗ nào trong cả Kinh Thánh (reference). Chẳng hạn, nó cho biết có bao nhiêu người trong Kinh Thánh mang tên Giăng và họ là ai. Nó cho những thông tin về bối cảnh lịch sử và văn hóa. Nó luận giải về một số đề tài, chẳng hạn như khảo cổ học và giáo lý Ba Ngôi, mặc dầu những chữ đó không có trong Kinh Thánh. Thường nó không giải nghĩa từng câu như trong các sách bình giải. Nó có ý kiến riêng của tác giả chứ không phải chỉ cho dữ kiện như trong sách phù dẫn. Quyển từ điển Kinh Thánh tốt nhất trong tiếng Anh là New Bible Dictionary (của Inter-Varsity Press và Eerdmans).
    3. Sách bình giải (Commentary)
    Mỗi tác giả bình giải có ý kiến riêng về ý nghĩa của bản văn Kinh Thánh, từng sách một, từng đoạn một, có khi từng câu từng chữ một. Có những quyển rất là đầy đủ, có những quyển rất ngắn, chỉ tóm tắt những đoạn hay những chương. Thường thường có thêm những tài liệu căn bản của mỗi sách như tác giả, thời gian và nơi viết sách, cơ hội viết, cùng với một dàn bài hay tóm tắt nội dung. Nếu có điều kiện thì bạn nên sắm cho tủ sách mình một bộ bình giải của toàn bộ Kinh Thánh. Một trong những bộ tốt nhất là bộ New Bible Commentary (của Inter Varsity Press và Eerdmans).
    VIỆC SỬ DỤNG DỤNG CỤ
    Dụng cụ giúp cho con người làm việc hữu hiệu hơn, nhưng chính con người phải làm. Cũng vậy, những dụng cụ giải kinh không làm thế cho người học Kinh Thánh. Những điều tự bạn tìm hiểu được sẽ có ý nghĩa với bạn hơn là nhờ người khác nói. Cũng như để người khác giải bài toán giùm mình không thể nào thích thú bằng tự mình giải lấy.
    Dĩ nhiên, đôi khi bạn phải nhờ đến các sách tham khảo, vì tự bạn không thể nào giải quyết được nan đề. Kinh Thánh dạy rằng chúng ta phải “hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu ” (Eph Ep 3:18), nghĩa là chúng ta phải học hỏi lẫn nhau trong cùng một thân thể của Chúa.
    Trên đây là bảy dụng cụ cần có để học hỏi Lời Chúa. Có thứ cần thiết, có thứ hữu ích nhưng không thiết yếu. Có thể bạn đã có vài thứ hoặc có tất cả. Dụng cụ tốt chưa hẳn đã đem lại sự học hỏi tốt, nó còn tùy thuộc vào tinh thần và hành động của người sử dụng chúng. Khi học Kinh Thánh, phước lành và kiến thức không đến với bạn do bạn có ba bản dịch Kinh Thánh và quyển Thánh Kinh Phù Dẫn. Chúng đến với bạn khi nào bạn thành tâm học Kinh Thánh và đi theo sự dạy dỗ của Chúa là Đấng dẫn dắt bạn từng bước một.
    TIẾN HÀNH CÁCH NÀO
    Bây giờ tới giai đoạn bắt tay vào học, chúng ta sẽ bắt đầu cách nào?
    1. Hoạch định việc học
    Bạn phải hoạch định việc học thế nào để cho kết quả tối đa. Có nhiều cách. Một là học mỗi lần một quyển, thay đổi giữa Cựu Ước và Tân Ước. Vì mỗi quyển được viết riêng rẽ, nên mỗi quyển là một đơn vị của Kinh Thánh.
    Nếu trước kia bạn chưa từng học Kinh Thánh thì đừng nên bắt đầu bằng một sách dài hay khó, như sách Ê-sai chẳng hạn. Tốt nhất là bắt đầu với các sách Phúc Âm, như sách Mác chẳng hạn, hoặc là một trong các thư tín ngắn như I Giăng hay Phi-líp. Điều quan trọng là bạn phải có kế hoạch.
    Sau khi đã chọn sách, phải ấn định những đoạn ngắn để học, trung bình từ 25 đến 30 câu là vừa. Nhiều bộ Kinh Thánh đã phân sẵn những khúc ngắn rất có ích. Có thể dùng những phân đoạn dài trong Phúc Âm, và phân đoạn ngắn trong các thư tín. Nếu chọn nguyên chương thì dễ hơn nhưng như thế thì hơi dài, vả lại nhiều khi ở cuối chương chưa dứt ý. Tuy nhiên việc lựa chọn nầy không cứng ngắc một chiều.
    Ví dụ, Mac Mc 1:1-45 có 45 câu quá dài. Phân đoạn đầu qua hàng ở câu 20, vậy ta lấy câu 1-20 làm đoạn đầu.
    2. Cầu nguyện cho việc học
    Cầu xin Thượng Đế dạy bạn qua Thánh Linh Ngài. Vì biết rằng nếu Chúa không dạy thì học cũng vô ích nên bạn cần phải cầu nguyện ngay cả khi hoạch định. Mỗi ngày trước khi học bạn cầu nguyện và mỗi khi gặp nan đề bạn cũng hãy cầu nguyện. Hãy cảm tạ chúa khi Ngài cho bạn thấy tia sáng và cho lòng bạn vui mừng khi có những ý mới. Khi bạn nghĩ đến việc áp dụng chân lý, tìm xem mình sẽ phải làm gì, bạn cũng sẽ thấy cần cầu nguyện. Như vậy, cầu nguyện quyện lấy sự học, từ đầu đến cuối.
    3. Đọc
    Trước khi bắt đầu học sách nào, nên đọc qua cả quyển một lần. Sách Tin Lành Mác có vẻ dài, nhưng bạn có thể đọc hết trong một buổi chiều hay trong vòng một hai giờ buổi chiều. Cái lợi nhận được bù lại công khó dành thì giờ ra đọc: có khái niệm về toàn thể quyển sách sẽ giúp ích nhiều cho việc hiểu từng phần trong sách.
    Mỗi lần bạn đọc, đọc đi đọc lại khúc sách mình chọn. Càng đọc nhiều càng có lợi. Đọc lần thứ năm - Có khi đến lần thứ mười - bạn sẽ thấy khác lần đầu. Một trong những nhược điểm của người học Kinh Thánh là muốn hiểu trước khi làm quen với đoạn sách. Họ muốn biết Chúa muốn nói gì trước khi họ nghe điều Ngài nói. Vì vậy họ đọc vội vã đoạn sách một lần, rồi suy đoán nghĩa gì. Lời Chúa cần được tôn trọng đúng mức. Cần đọc đi đọc lại nhiều lần cho tới khi nhập tâm.
    Trong khi đọc mấy lần đầu, khoan thông giải vội. Chỉ quan sát, ghi chú nhưng khoan đào sâu ý nghĩa. Trước hết hãy làm quen với khúc sách.
    4. Quan sát
    Có thể bạn đọc mà không để ý gì cả. Nhiều khi người ta đọc Kinh Thánh mà không suy xét. Cũng như khi người ta gặp một nhân vật lớn như vị Tổng thống, nhiều khi hồi hộp trước sự hiện diện của nhân vật quan trọng ấy mà quên nhận xét hình dáng của ông ta. Việc suy xét kỹ khi đọc Kinh Thánh rất quan trọng để hiểu nó, vì nếu bạn không biết trong đó nói gì thì bạn không thể nào hiểu được ý muốn nó nói gì.
    Bạn phải quan sát những gì? Chúng ta hãy lấy 1:1-20 làm ví dụ.
    a. Văn thể của khúc sách
    Nó thuộc thể văn kể chuyện (ký thuật), thơ, giáo dục, hay tiên tri…? Ví dụ, câu 1-3 là phần giới thiệu, câu 4-20 kể chuyện. Để ý văn thể rất quan trọng vì mỗi thể văn có những đặc điểm đòi hỏi một lối thông giải khác. Chúng ta sẽ bàn về các đặc điểm nầy sau.
    b. Những chữ và nhóm và chữ dùng nhiều lần
    Ví dụ, chữ Tin Lành trong câu 1, 14, 15; chữ giảng trong câu 4, 7, 14; chữ ăn năn trong câu 4, 15; những chữ vừa khi, tức thì, liền trong câu 10, 12, 18, 20. Có khi sự trùng lặp đó có ý nghĩa, có khi không. Bạn có thể tìm hiểu sau, nhưng trước hết phải ghi ra.
    c. Những chữ nối kết (liên từ )
    Ví dụ như những chữ và, nhưng, vì, bởi vậy, cho nên. Những chữ nầy nối kết các chữ hay câu lại với nhau, ảnh hưởng tới ý nghĩa của câu.
    Chữ và dùng nhiều lần từ câu 4 đến 20. Đây là một chữ thông thường trong văn kể chuyện để chỉ việc nầy tiếp theo việc kia. Tuy nhiên, đôi khi thay đổi một liên từ có thể đổi ý nghĩa một câu. Chẳng hạn câu “Thằng Bi ăn nhiều kẹo vì nó mập” và “Thằng Bi ăn nhiều kẹo cho nên nó mập” ý khác hẳn nhau dầu cùng chỉ một sự việc. Chữ ‘nhưng’ trong câu 8 có ý nghĩa. Thường chữ nhưng dùng để chỉ sự tương phản. Ở đây nó có chỉ ý đó không?
    d. Những chữ chỉ thời gian
    Những chữ này được dùng đặc biệt trong văn kể chuyện, như sau khi, rồi thì, lập tức, trước khi, đến chiều vv. .. Mác dùng nhiều chữ tương tự trong khúc sách nầy.
    e. Những chữ chỉ nơi chốn
    Ví dụ như Giu-đê (c.5), Na-xa-rét (c.9), biển Ga-li-lê (c.16).
    f. Những chữ đối chiếu, so sánh
    Sứ giả của ta đối chiếu với Chúa (c.2, 3), quỉ Sa-tan cám dỗ với thiên sứ hầu việc (c.13), so sánh Con Đức Chúa Trời với Con yêu dấu của ta (c.1, 11); và Giăng giảng với Chúa Giê-xu giảng (c.7, 14).
    g. Những chữ không biết
    Tra những chữ khó trong từ điển.
    h. Trọng tâm mỗi câu
    Trong những câu dài nên để ý chủ từ, động từ chính và túc từ của chủ từ (nếu có). Trong 1:14-15, “Chúa Giê-xu đến… giảng… mà rằng ” là trọng tâm của câu. Phần còn lại trả lời những câu hỏi về nó. Chúa Giê-xu giảng khi nào? Sau khi Giăng bị bắt. Ngài giảng gì? Tin Lành. Ngài nói gì? Kỳ đã trọn.vv...
    Thể văn ký thuật thường đơn giản nên ở đây không có nan đề nào. Trong các sách tiên tri và thơ tín, có những câu dài rắc rối, không dễ gì lựa lọc ra. (xem Eph Ep 1:3-12)
    i. Các thành ngữ nói bóng
    Chúng ta sẽ bàn rộng hơn ở chương 13. Một số thành ngữ “ta không đáng cúi xuống mở dây giày Ngài ” (c.7), “ta sẽ khiến các ngươi trở nên tay đánh lưới người ” (c.17).
    j. Trình tự diễn tiến (logical sequences )
    Thường thường hai sự việc trong một câu có liên hệ thuận lý nhau-việc nầy là nguyên nhân gây ra việc kia, hay là lý do để cho việc kia xảy ra. Ví dụ, chữ ‘vì’ trong câu 16 cho ta thấy lý do họ thả lưới; trong câu 22 Chúa Giê-xu giảng dạy đầy quyền năng khác với thầy thông giáo là lý do khiến quần chúng kinh ngạc, chữ chìa khóa cũng là vì.
    k. Điều gì lạ, bất thường, bất ngờ
    Chẳng hạn khi quần áo và thức ăn của Giăng không phải là bình thường (c.6).
    l. Các thực thể liên hệ
    Có thể là người, việc, vật, phẩm tính, vv... như Chúa Giê-xu, Đức Thánh Linh và “tiếng từ trời” (của Cha) trong câu 10-11.
    m. Văn phạm
    Bạn cần chú ý những danh từ, đông từ, tĩnh từ của những câu không rõ nghĩa. Trong c.5, xứ và dân chúng là chủ từ của động từ đến. Trong c.10, các từng Trời mở ra và Đức Thánh Linh ngự xuống là túc từ của Ngài thấy.
    Còn có nhiều đặc điểm bạn có thể nhận xét được. Càng học nhiều bạn càng mau nhận ra. Một cách để bạn luyện óc nhận xét là đặt sáu câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Ở đâu? Cách nào? Tại sao? Những dữ kiện của khúc sách trả lời cho bốn câu hỏi đầu. Các dữ kiện đó cũng có thể trả lời cho hai câu sau. Chỉ câu hỏi sau cùng đặc biệt hướng dẫn bạn suy nghiệm, tưởng tượng ra một lý do của một câu hỏi hay hành động, dầu nhiều khi trong khúc sách không nói đến lí do.
    5. Ghi chép
    Hãy viết ra những gì mình nhận xét được. Ý nghĩ nếu chỉ để trong đầu óc sẽ rất mơ hồ, nhưng nếu viết ra thì bạn sẽ thấy rõ ràng. Ngoài ra nó còn giúp bạn làm việc chính xác.
    Chỉ viết ra, khoan nối kết các sự kiện. Sau nầy khi nghiên cứu bình giải khúc Kinh Thánh, bạn sẽ thấy những mấu chốt liên hệ. Bạn sẽ thấy có những điểm ghi chú không cần thiết, có thể loại đi.
    Trong Mác 1 bạn có thể ghi nhận được những địa điểm như Giu-đê, sông Giô-đanh, đồng vắng Ga-li-lê. Sau khi viết ra, bạn có thể nhìn vào bản đồ và thấy được sự di chuyển của Chúa Giê-xu: Ngài từ Ga-li-lê đến Giu-đê để chịu báp-têm và cám dỗ, rồi trở về Ga-li-lê khởi sự thánh vụ và kêu gọi môn đồ.
    6. Suy nghĩ và phân tích
    Sai khi đọc khúc sách nhiều lần và ghi ra nhận xét, bạn có thể bắt đầu suy nghĩ và bắt đầu suy gẫm về nó. Hãy tìm hiểu ý nghĩa của các sự kiện.
    Chẳng hạn bạn suy gẫm lời tiên tri về sứ giả dọn đường cho Chúa (Mac Mc 1:2). Sứ giả là ai? Hẳn nhiên là Giăng. Ông dọn đường cho ai? Cho Đấng Cơ-Đốc. Vậy Đấng Cơ-Đốc tức là Chúa! Những người ăn năn và nhận báp-têm của Giăng đã được chuẩn bị thế nào để dọn đường cho Đấng Cơ-Đốc đến? Sứ điệp của Giăng trong c.7-8 đã đem lại kết quả gì? Suy gẫm cách nầy giúp bạn khám phá ra ý nghĩa của bản văn.
    Bạn có thể thấy sự cám dỗ đến ngay sau lời tuyên bố từ Trời (c.11-12) là một sự kiện đáng chú ý. Điều nầy khiến ta nghĩ thế nào về sự cám dỗ và người bị cám dỗ? Nhân đó chúng ta có thể được an ủi khi cảm thấy nản lòng và bứt rứt vì bị cám dỗ.
    Những câu hỏi nêu ra trong khi suy nghĩ có thể có câu trả lời ngay, có thể không. Bạn có thể hỏi phải chăng c.5 ngụ ý rằng cả dân chúng Giê-ru-sa-lem và Giu-đê đều xưng tội và chịu lễ báp-têm. Bạn vẫn không trả lời thẳng câu hỏi nầy, nhưng đó là một trong những câu hỏi bạn cần giải đáp trong khi thông giải. Viết câu hỏi ra để tìm hiểu thêm.
    Đừng nản lòng vì những câu hỏi nêu lên mà bạn không thể giải thích được. Cứ giữ nó trong óc và trong sổ tay bạn. Rồi trong khi nghiên cứu bạn có thể trả lời được một số câu. Có thể những câu bạn chẳng bao giờ có thể tìm được câu trả lời thỏa đáng. Thượng Đế không hứa giải đáp hết mọi thắc mắc của chúng ta ngay bây giờ, nhưng Ngài hứa ban ánh sáng cần thiết cho chúng ta.
    7. Dùng những nguyên tắc thông giải
    Chúng ta sẽ xét đến những nguyên tắc nầy trong những chương sau.
    8. Áp dụng ý nghĩa của khúc sách
    Nghĩa là xét những khía cạnh liên quan đến cuộc sống của mình và Hội Thánh ngày nay. Bạn phải để ý thông giải và áp dụng. Khi bạn thông giải, bạn chỉ giải thích ý nghĩa và diễn đạt nó ra mà không cần đề cập tới một người nào. Khi bạn áp dụng bạn tự xét con người mình đáp ứng như thế nào. Thứ nhất là những điều Thượng Đế phán. Thứ hai là những điều Thượng Đế muốn bạn làm.
    Áp dụng sai có thể đưa tới hành vi kỳ quặc, tai hại. Chúng ta sẽ xét đến điều nầy ở cuối sách.
    Chúng ta đã xét qua những bước chính trong việc học Kinh Thánh theo một thứ tự hợp lý. Cần nên giữ theo thứ tự đó. Tuy nhiên, có một số bước có thể thực hiện cùng một lúc, như đọc, quan sát, viết và cầu nguyện chẳng hạn. Nếu bạn có những bước đó sẵn trong trí, bạn có thể đem ra thi hành cách tự động mà vẫn cẩn thận, rồi Thánh Linh sẽ giúp cho việc học hỏi của bạn có hiệu quả.

    XÉT VĂN MẠCH

    Có những “quy luật” hay “nguyên tắc” tổng quát hướng dẫn chúng ta thông giải mọi ngôn ngữ - kể chuyện, bài giảng, thơ hay bất cứ loại nào. Nguyên tắc thứ nhất có thể nói đơn giản là: Thông giải một khúc sách trong văn mạch của nó. Văn mạch nghĩa là toàn bộ đoạn văn cả phía trước và phía sau khúc sách ta nghiên cứu.
    Nói chung người ta đồng ý có hai thứ văn mạch. Văn mạch trực tiếp, hay văn mạch gần, gồm những câu nằm ngay trước hay sau câu đó. Văn mạch xa có thể là chương trước hay chương sau hoặc một nơi nào đó của quyển sách.
    Văn mạch có nhiều hình thức. Thường thường, muốn hiểu một chữ phải hiểu nó trong một câu hay một đoạn văn. Như vậy, câu đó là văn mạch của chữ. Một câu văn đứng một mình có thể là rất tối nghĩa, muốn hiểu cần phải xem một đoạn văn chứa nó: Đó là văn mạch của câu văn. Ví dụ các dụ ngôn của Chúa Giê-xu thường được kể ra nhân một cơ hội đặc biệt nào đó, từ đó Chúa rút ra một chân lý nào đó. Bối cảnh và cách áp dụng của Ngài là văn mạch của Ngài kể. Thơ (Thi ca) là một hình thức ngôn ngữ đặc biệt. Thơ trong tiếng Do Thái thường được viết thành từng cặp, nửa nầy là văn mạch của nữa kia. Toàn thể chương Thi Thiên là văn mạch cho từng cặp.
    Có một điều tốt các tín hữu Cơ-đốc thường làm có thể khiến họ không ý thức được tầm quan trọng của văn mạch. Đó là việc học thuộc từng câu Kinh Thánh. Dĩ nhiên điều nầy tốt. Chúng ta cần giấu lời Chúa trong lòng. Vì chúng ta không thể học thuộc cả sách hay cả đoạn nên phần lớn chúng ta đều học từng câu một.
    Nhưng có lẽ chúng ta đã học thuộc một số câu mà quên rằng chúng chỉ là một phần của những câu văn dài (ví dụ, RoRm 3:23). Chắc chắn không thể hiểu đúng nghĩa những câu đó nếu không đọc trọn câu văn dài, thế nhưng chúng ta chỉ học thuộc có một phần, rồi xem phần nằm trong ký ức chúng ta như là một câu trọn vẹn. Chúng ta thường áp dụng những lời hứa trong Kinh Thánh theo cách đó. Nhiều lúc có những điều kiện cho lời hứa nằm trong câu trước, nhưng chúng ta chỉ học thuộc và yêu thích lời hứa mà không biết đến điều kiện Thượng Đế đòi hỏi cho lời hứa đó. Một ví dụ sáng tỏ nhất là EsIs 58:11 “Đức Giê-hô-va sẽ cứ dắt đưa ngươi. ..” trước lời hứa là hai mệnh đề điều kiện cách bắt đầu bằng chữ nếu: “Nếu ngươi cất bỏ cái ách… nếu ngươi mở lòng cho kẻ đói. ..” (c.9, 10).
    Một thói quen tốt khác đôi khi cũng đem lại hậu quả có hại là việc dùng sách phù dẫn để học các từ ngữ trong Kinh Thánh tra tìm những câu có từ ngữ ân điển hay kiên nhẫn thì dễ hơn là nghiên cứu mỗi câu trong cả mạch văn của nó. Vì vậy chúng ta cứ lấy từng câu 1, liên kết nó với đề tài rồi rút ra áp dụng. Điều nầy dễ khiến chúng ta đánh mất ý nghĩa của nhiều đoạn trong Kinh Thánh.
    Chúng ta thử áp dụng nguyên tắc văn mạch trong GiGa 9:3. Câu nầy trong bản Authorized Version dịch là: “anh ta cũng như cha mẹ anh ta đều không phạm tội ”. Nếu chỉ đọc riêng câu nầy thì ta tưởng Chúa nói gia đình nầy không hề phạm tội. Nhưng nếu tham khảo những nơi khác trong Kinh Thánh, ta sẽ thấy Kinh Thánh dạy rõ rằng ngoài Chúa Giê-xu ra, không một người nào trên trần gian nầy là không có tội (RoRm 3:9-10, 23). Giả sử có người bào chữa, “Câu nầy cũng là Kinh Thánh, không cần biết nơi khác nói gì, chỉ biết câu nầy nói rằng ba người nầy không phạm tội.” Làm sao ta biện bác với họ?
    Chúng ta phải dùng văn mạch. Đây là một câu Chúa trả lời cho một thắc mắc của môn đồ. Họ không hỏi, “Những người đó có phạm tội không? mà hỏi, “Ai phạm tội mà người đó sinh ra bị mù?” Nói cách khác, “Người nầy bị mù là hậu quả tội lỗi ai, của anh ta hay cha mẹ anh ta?” Chúa Giê-xu đã trả lời trực tiếp, như bản tiếng Việt dịch, “Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ người đã phạm tội, nhưng ấy để cho việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. ”
    Như vậy, văn mạch giúp soi sáng những chỗ khó hiểu hoặc mâu thuẩn với những sự dạy dỗ trong các đoạn Kinh Thánh khác.
    NHỮNG QUI TẮC HƯỚNG DẪN VIỆC GIẢI KINH.
    Không phải lúc nào cũng có thể thấy được sức mạnh của văn mạch. Sau đây là một số quy tắc hướng dẫn để giúp ta.
    1. Hãy suy nghĩ tìm ra tất cả những nghĩa mà câu (hay chữ) đó có thể có
    Bạn có thể nghĩ ra một hay nhiều nghĩa. Hãy viết ra (Điều nầy không có nghĩa là bạn phải thêu dệt tưởng tượng). Bạn có thấy nan đề nào trong việc thông giải không? Hãy viết ra. Làm vậy bạn sẽ thấy luôn luôn có ích lợi.
    2. Hãy đọc câu đó trong văn mạch
    Bạn cần phải làm quen với nội dung của khúc sách có chứa câu đó, bởi vậy, phải nhớ bao gồm đủ văn mạch. Cần đủ để bao quát hết diễn tiến của tư tưởng hay biến cố. Nếu chỉ đọc vài câu bạn có thể không thấy hết. Lần đầu đọc lướt qua, không để thì giờ giải quyết thắc mắc. Lần sau đọc lại kỹ càng, ghi những liên hệ giữa các chữ và ý.
    3. Nghiên cứu câu đó cẩn thận hơn
    Để ý những liên từ (thường nằm ở đầu câu), xem những chữ đó nối kết các câu ra sao. Hãy xem phần bàn luận về liên từ ở chương 6.
    4. Ghi những chữ chính được dùng nhiều lần
    Không cần ghi những chữ không quan trọng như và, thì. Đặc biệt chú ý tới những chữ trong câu đó có lặp lại trong văn mạch. Rất có thể nó cho biết chủ đề và tương quan giữa các phần với nhau. Để ý những chữ đồng nghĩa, ví dụ những chữ dự, ăn, uống, trong ICo1Cr 10:14-31.
    5. Thử viết lại cả khúc sách bằng lời mình
    Làm vậy để thấy bạn có hiểu khúc sách không và có thể diễn đạt ý rõ ràng không.
    6. Thử trả lời câu hỏi
    Câu nầy có nghĩa gì trong văn mạch của nó? Nếu bạn không thể trả lời, có thể bạn cần phải nghiên cứu thêm. Tuy nhiên, có những câu khó mà cả những học giả cũng không đồng ý với nhau, vậy đừng nản lòng nếu bạn không thể hiểu được rõ ràng. Hãy bằng lòng để dành cho Chúa một vài điều, về sau Ngài có thể soi sáng chúng ta.
    MỘT VÍ DỤ
    Chúng ta hãy thử áp dụng các qui tắc trên cho 10:23. “Mọi sự đều có phép làm nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt. ” Câu nầy có nghĩa gì? Chữ mọi sự có nghĩa là bất cứ điều gì chăng? Như vậy thì tội lỗi như giết người, gian dâm, ích kỉ, thờ hình tượng-đều có phép làm chăng? chắc không thể có nghĩa như vậy. Nhưng làm sao chúng ta biết được?
    Bằng cách đọc cả chương. Câu 6 bảo chúng ta “chớ buông mình theo tình dục xấu ”; câu 7 và 14 truyền lệnh “đừng thờ hình tượng ”; câu 8 nói “chớ dâm dục. ” Như vậy là có một số điều không được phép làm. Văn mạch cho ta thấy có một số giới hạn. Khi viết câu 23, Phao-lô không thể tự mâu thuẫn với mình và với các phần khác trong Kinh Thánh. Văn mạch cho ta thấy giải thích theo ý riêng của câu đó là sai. Văn mạch có thể giúp ta biết được nghĩa đúng của nó không?
    Đọc chương 10 một lần nữa và quan sát. Chủ đề là gì? Có chữ nào lập nhiều lần không? Có lẽ bạn để ý ngay rằng chữ ăn, uống đều liên hệ đến chữ dự phần. Cũng hãy để ý đến cơ hội và hoàn cảnh xảy ra những chữ đó. Rồi bạn lại để ý xung quanh câu 23 đều nói về ăn uống. Ăn và uống gì? Nếu ta so sánh câu 19 và 28 ta sẽ thấy câu trả lời rõ ràng-thức ăn cúng cho thần tượng.
    Trong câu 23 Phao-lô đưa ra một đối chiếu: Mọi sự đều có phép làm nhưng không phải đều ích lợi; không phải tất cả đều xây dựng. Trong những câu sau ông có nói đến điều gì được phép làm mà không ích lợi không? Rõ ràng là có. Để ý đặc biệt câu 32, 33, ông rất quan tâm đến vinh hiển của Thượng Đế và giúp ích kẻ khác. Như vậy có những hành động được phép làm, như ăn của cúng thần tượng, nhưng cần phải tránh nếu nó khiến kẻ khác vấp phạm và không làm vinh hiển danh Chúa. Đó là ý nghĩa của câu 23.
    LÚC NÀO CŨNG CẦN VĂN MẠCH SAO?
    Phải chăng văn mạch luôn luôn quan trọng trong Kinh Thánh? Có trường hợp nào không cần đến nó không? Chẳng hạn, những câu trong sách Châm Ngôn hay một vài sự việc trong các sách Tin Lành (như LuLc 13:18-24).
    Chắc chắn có nhiều đoạn sách không nằm trong văn mạch. Nhiều câu châm ngôn là những câu độc lập không dính dáng gì đến những câu trước và sau nó. (Châm Ngôn là những câu ngắn, tự nó có đầy đủ ý nghĩa). Các tác giả những phần trước thuật trong Kinh Thánh phải tuyển lựa một số sự việc, dữ kiện, hay diễn văn, và bỏ đi một số khác. Như vậy không thể nào có sự liên tục trọn vẹn được. Nhiều khi họ ghép lại với nhau những đơn vị không cùng xảy ra với nhau. Có khi dễ thấy điểm nối kết, có khi không. (Ví dụ, trong 12:49-59, có nhiều đề tài không liên hệ gì với nhau bao nhiêu) Đừng nghĩ rằng lúc nào cũng có một điểm liên kết.
    Cần nên nhớ hai điều. Đừng vội cho rằng không có liên lạc gì khi mới nhìn qua, vì bạn có thể tìm ra manh mối sau khi nghiên cứu thêm. Cũng đừng cố nghĩ ra một điểm liên kết không có thật. Chúng ta đừng ép buộc bản văn hoặc gán cho nó ý nghĩa mà nó không có.
    Dầu có vài ngoại lệ, nguyên tắc giải kinh đầu tiên vẫn là: giải kinh theo ánh sáng của văn mạch.
    HIỂU NGHĨA CHỮ
    Nguyên tắc thứ hai của việc giải kinh là: thông giải theo nghĩa đúng của chữ. Dĩ nhiên, vấn đề là làm sao tìm ra nghĩa đúng, muốn vậy, ta cần phải nghĩ đến chữ một cách tổng quát, chữ là gì, chữ có nghĩa gì? Chữ là viên gạch xây dựng tư tưởng, lời nói và sự thông đạt. Chữ đem ghép lại một cách có ý nghĩa sẽ làm thành ngôn ngữ là công cụ chính để con người giao thông lẫn nhau. Hơn nữa, Thượng Đế trong Kinh Thánh sử dụng ngôn ngữ, phần lớn là ngôn ngữ thông dụng, để truyền đạt cho con người.
    Chữ hay từ là một đơn vị ngôn ngữ tự nó có ý nghĩa; nhưng vì thường thường một chữ có hai ba ý nghĩa nên một chữ dùng một mình không thể rõ nghĩa. Ví dụ khi tôi chỉ nói chữ đá, bạn không biết là tôi nói về thứ khoáng chất cứng, hay một cái vung chân. Bạn cần phải có chữ khác để làm rõ nghĩa.
    Trong KhKh 5:5, chữ sư tử chỉ về Chúa Giê-xu Cơ-Đốc, nhưng trong IPhi 1Pr 5:8 nó lại chỉ về ma quỉ. Trong hai trường hợp trên, những chữ khác đã làm rõ nghĩa của chữ sư tử. Ta sẽ càng thấy rõ tầm quan trọng của văn mạch khi biết thêm những yếu tố của chữ.
    1. Chữ hay tiếng thay đổi theo thời gian
    Người ta dùng chúng theo cách khác thời trước. Ví dụ, chữ “bác sĩ” nguyên ngữ có nghĩa là người học rộng, về sau dùng quen thành có nghĩa là thầy thuốc hay một tiến sĩ y khoa. Bản tiếng Anh Authorized Version có nhiều chữ cổ ngày nay không còn dùng hoặc đã đổi nghĩa.
    Nếu muốn giải đúng ý nghĩa của chữ, ta cần phải biết chắc rằng chữ dùng trong bản Kinh Thánh chúng ta đang học ngày nay vẫn còn hiểu đúng nghĩa như vậy.
    2. Những chữ khác nhau có thể cùng nghĩa
    Một số học giả nói rằng nghĩa của hai chữ khác nhau không bao giờ giống hệt nhau, nhưng đôi khi chúng gần nhau đến nỗi các khác biệt không còn thành vấn đề nữa. Ví dụ anh ta đang đi chậm rãi, từ từ hay thong thả, đối với bạn chẳng khác gì mấy, điều bạn muốn là anh ta hãy đi nhanh lên, mau lên, gấp lên. Nhiều lúc Kinh Thánh dùng chữ khác nhau. Chúng ta thường dùng những chữ đồng nghĩa để khỏi trùng lặp, Kinh Thánh cũng vậy. Xem cách Mat Mt 20:21Mac Mc 10:37 dùng chữ nước và vinh hiển.
    Mặc khác, đôi khi chúng ta đổi một chữ đang dùng để nhắm một nghĩa khác. Có thể chúng ta muốn có một nghĩa mạnh hơn hay chính xác hơn. Chữ thứ hai có thể đồng nghĩa với chữ trước nhưng hơn khác. Các người viết Kinh Thánh cũng vậy.
    Hai chữ khẩn nguyện, cầu xin, trong ITi1Tm 2:1 là đồng nghĩa. Chúng có diễn tả hai loại cầu nguyện khác nhau, hay chỉ lặp lại để nhấn mạnh lời khuyên?
    3. Kinh Thánh đề cập đến những sự việc không nằm trong lối suy nghĩ thông thường của thế gian
    Nghĩa của chữ dùng trong quán cà phê có thể không giống với nghĩa chữ đó khi dùng trong Kinh Thánh. Ví dụ, khi bạn nghe nói một người công bình, bạn nghĩ ngay đến một người không thiên vị, ngay thẳng. Đó là một phần ý nghĩa khi Kinh Thánh nói Thượng Đế là công bình. Nhưng khi nói người chưa tin Chúa là công bình hay công chính trước mặt Thượng Đế, thì nó có ý nghĩa đặc biệt. Người tin được Thượng Đế xem là công bình nhờ sự chết chuộc tội của Con Ngài. Nghĩa thông thường của từ ngữ công bình không áp dụng ở đây.
    4. Cùng một chữ có thể khác nghĩa
    Có khi dùng một chữ nằm trong một khúc sách có thể khác nghĩa. Thường thường cái khác nhau là ở nơi nghĩa bóng và nghĩa đen. Exe Ed 44:5-6 soi sáng điều này. Trong câu 5, chữ nhà có nghĩa đen là đền thờ. Nhưng trong câu 6 cả quốc gia được gọi là nhà. Chữ nhà được dùng theo nghĩa đen và nghĩa bóng trong hai câu liên tiếp.
    Có một số chữ, nhất là những chữ thuộc về tôn giáo, Tân Ước thường cho nghĩa đầy đủ, chính xác hơn là Cựu Ước. Ví dụ chữ công bình trong Cựu Ước thường dùng để chỉ cá tính của một người. Nhưng trong Tân Ước, đó là sự công bình của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc mà Thượng Đế kể cho người tin khi họ tin nhận Chúa Giê-xu làm Đấng Cứu chuộc mình (RoRm 5:17, Phi Pl 3:9). Thật ra Cựu Ước đôi khi cũng ngụ ý nhưng không rõ ràng như trong Tân Ước (xem SaSt 15:6). Một chữ nữa là hi vọng. Hi vọng của người tin trong Cựu Ước chỉ có tính cách chung chung rằng mình sẽ nhờ ơn Chúa được phước trong đời sau. Nhưng người Cơ-đốc thì hi vọng rõ ràng nơi sự tái lâm của Chúa và sự viên thành của sự cứu rỗi để trở nên giống như Ngài (IGi1Ga 3:2-3).
    LÀM THẾ NÀO ĐỂ TÌM HIỂU CHỮ
    Muốn hiểu Kinh Thánh phải hiểu rõ nghĩa chữ. Ta rất dễ lướt qua một chữ mình không hiểu. Khi làm vậy, ta không thể nào hiểu trọn vẹn nghĩa một câu hay một đoạn được. Khi gặp một chữ mình không hiểu thì đừng tiếp tục đọc tới. Hãy dừng lại và tìm hiểu nghĩa chữ. Lời Thượng Đế rất quan trọng không thể đọc qua loa được. Có những phương cách nào để tìm hiểu nghĩa chữ?
    1. Tra từ điển
    Có những chữ khó cần phải tra từ điển. Có những chữ trong Kinh Thánh tiếng Việt không thể tìm thấy trong từ điển Việt Nam. Muốn tìm hiểu phải xem chữ tương đương trong tiếng Anh hoặc Pháp, Đức, Hy Lạp, Hy-bá-lai...rồi tra từ điển tiếng đó.
    Từ điển thông dụng ít khi cho ta biết nghĩa của chữ khi nó được dùng trong Kinh Thánh, vì vậy nó chỉ giúp ích được phần nào thôi.
    2. Tìm hiểu chữ trong văn mạch
    IISa 2Sm 2:14 nói, “Áp-ne nói cùng Giô-áp rằng: Những kẻ trai trẻ nầy hãy chổi dậy và trững giỡn trước mặt chúng ta ” Câu ấy nghe có vẻ như ông ta sắp bày ra một trò chơi, nhưng văn mạch cho biết đây là một cuộc chiến đấu, giữa hai ông vua và hai đạo quân. Câu 16 cho thấy rằng các gã thanh niên đó đã thật sự giết nhau. Như vậy, chữ trững giỡn trong văn mạch có ý hài hước.
    “Vì Đức Giê-hô-va biết đường người công bình. ” (Thi Tv 1:6). Có lẽ chúng ta nghĩ câu nầy có nghĩa rằng vì Thượng Đế biết hết mọi sự, nên Ngài biết những người công bình làm gì. Nhưng khi chúng ta nhìn vào văn mạch gần đó, tức là phần thứ nhì của câu, chúng ta sẽ thấy chữ biết có một ý nghĩa mạnh mẽ hơn. Đường nầy được Đức Giê-hô-va biết đến, còn đường kia thì bị diệt vong. Đem đối chiếu, ta thấy trong sự biết của Ngài có bao hàm sự bảo vệ và chăm sóc. Có những câu khác trong Kinh Thánh cũng nói đến sự biết của Thượng Đế theo nghĩa nầy (SaSt 18:19).
    Thêm một ví dụ nữa. ChCn 14:15 trong bản tiếng Anh nói: “Người đơn sơ tin mọi sự. ” Câu nầy mới nhìn có vẻ là một câu nói tốt về đức tin của một người có tâm hồn giản dị không thắc mắc, chỉ tin cậy Thượng Đế một cách đơn sơ. Nhưng xem lại văn mạch thì thấy nghĩa thật của nó là đối chiếu giữa người đơn sơ đây là người nhẹ dạ, khờ khạo dễ bị lừa. Sự đơn sơ ở đây là một nhược điểm. Tin mọi sự không phải là khôn ngoan mà là khờ dại.
    Kinh Thánh có rất nhiều chữ nhờ có văn mạch mới làm cho rõ nghĩa. Nếu bạn thấy có một chữ không rõ nghĩa, hãy dừng lại, xem cả khúc sách có chứa chữ đó. Nếu cần hãy đọc lại nữa, hầu hết bạn có thể tìm được một chìa khóa nào đó cho ý nghĩa của chữ.
    3. Dùng sách phù dẫn
    Trên kia tôi đã nói qua về ích lợi của sách phù dẫn (chương 5). Lý tưởng nhất là ta có thể biết hết những câu tham chiếu trong Kinh Thánh. Nhưng những sách phù dẫn nhỏ không liệt kê hết mọi câu tham chiếu, còn những sách lớn thì lại có quá nhiều câu. Vậy bạn phải làm sao?
    Hầu hết các quyển Kinh Thánh tham chiếu có chứa ngoài lề những câu khác có chứa một chữ quan trọng trong câu đang đọc. Điều đó giúp ích rất nhiều. Rồi bạn càng học Kinh Thánh, bạn sẽ thêm nhiều câu tham chiếu khi bạn nhớ lại những khúc sách có chứa những chữ đặc biệt. Vì chữ có nhiều nghĩa khác nhau, nên không phải lúc nào những khúc sách tương ứng cũng soi sáng cho phần sách bạn đang học.
    Trong Tit Tt 3:5 có câu “Ngài cứu chúng ta. ” Cả câu cũng như văn mạch của nó đều cho thấy nó có nghĩa là cứu tâm linh khỏi tội lỗi. Nhưng khi Lu-ca viết “Chúng ta chẳng còn trông cậy được cứu nữa ” (Cong Cv 27:20), thì ông không nói về sự cứu tâm linh mà về sự cứu khỏi đắm tàu. Đem so sánh như vậy có vẻ ngây ngô vì điều đó quá rõ ai cũng thấy cả. Nhưng trong Kinh Thánh nhiều khi ý chính không rõ ràng như vậy, chúng ta cần xem xét kỹ lưỡng khi thấy chữ đó trong các đoạn khác. Chẳng hạn, trong Mat Mt 24:13, thì sao?
    Bạn thử tìm xem những chữ sau đây: Gian ác, trong Gie Gr 18:11 (hai lần, một nghĩa?); chó, trong IIVua 2V 9:10Thi Tv 22:16, thân thể, Eph Ep 3:6 (xem các nơi khác trong Ê-phê-sô có dùng chữ nầy), anh em, Mat Mt 25:40, mão triều thiên, Thi Tv 103:4, lời hứa, Eph Ep 3:6 (xem cả sách).
    HIỂU VĂN PHẠM
    Nguyên tắc thứ ba là: thông giải theo văn phạm của câu. Văn phạm là gì? Những nhà văn phạm cho là gồm hai thứ: hình thức giữa các chữ và tương quan giữa các chữ. Cả hai đều ảnh hưởng tới ý nghĩa, nhưng chúng ta đặc biệt để ý tới phần thứ hai.
    Chữ luôn luôn được dùng trong kết hợp chứ không riêng rẽ, và chỉ cách nầy nó mới rõ nghĩa. Khi chữ kết hợp với chữ khác thì nghĩa nó hiện rõ. Có lẽ một chữ như chữ ui tự nó có thể có nghĩa là tiếng kêu của người bị đau. Nhưng tại sao? có phải tại anh ta bị ong chích, bị ngồi phải gai, hay bị ngắt véo? Vẫn cần có những chữ khác để làm cho nó rõ nghĩa hơn.
    Muốn giao thông với nhau, cả hai người phải hiểu các chữ liên hệ với nhau ra sao trong một câu. Như vậy nghĩa là cả hai phải hiểu văn phạm phân loại cách kết hợp các chữ.
    Lấy ví dụ câu ICo1Cr 11:27, “Bởi đó, ai ăn bánh hoặc uống chén của Chúa cách không xứng đáng. .” Khi ta hỏi nghĩa của cách không xứng đáng ta muốn hỏi nó nói về ai hay về ăn và uống. Nói cách khác, câu nầy muốn nói ‘ai’ không xứng đáng hay “ăn ”, “uống ” không xứng đáng? Nhiều người tưởng là nói đến chữ đầu - rằng một người không xứng đáng thì không được phép dự lễ hội thông (tiệc thánh). Rồi vì họ cảm thấy mình không xứng đáng nên không tham dự nữa. Tuy nhiên, khi nhìn vào văn phạm, ta thấy ngay nó không có nghĩa đó. Cách không xứng đáng là trạng từ. Nó bổ nghĩa cho động từ chứ không phải danh từ, vậy nó bổ nghĩa cho ăn và uống chớ không thể cho người được.
    Trong GiGa 21:15, Chúa Giê-xu hỏi Phi-e-rơ, “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những thứ nầy (tiếng Anh: these) chăng? ” Chúng ta nghĩ ngay, hơn cái gì, hơn ai? Những thứ nầy (these) trong tiếng Anh là một chỉ định từ để chỉ người hay vật ở gần, vừa được hay sắp được nhắc tới. Những người ở gần lúc đó là ai? Một số môn đồ. Những vật gần đó là gì? Cá vừa mới kéo lên. Như vậy, hiểu văn phạm giúp ta thấy được hai ý mà từ ngữ trên có thể có. Chúng ta lại dùng các nguyên tắc khác để chọn xem ý nào là đúng. Văn mạch (c.1) cho biết rằng Phi-e-rơ đã quay lại nghề đánh cá, dù ông đã được Chúa kêu gọi rời bỏ. Như vậy ông có thể yêu cá (nghề) hơn Chúa Giê-xu. Trước đó ông đã từng tuyên bố rằng ông yêu Chúa Giê-xu hơn các môn đồ khác (Mat Mt 26:33), như vậy có lẽ Ngài muốn thách thức ông về lời ông đã khoe.
    Văn phạm không phải lúc nào cũng cho ta biết ý nghĩa thật, nhưng nó cho thấy nghĩa có thể có. Ta không thể chấp nhận một nghĩa dẫm lên văn phạm. Như vậy văn phạm cần thiết để hiểu Kinh Thánh. Điều nầy không lạ, vì Kinh Thánh phải được hiểu theo những qui luật ngôn ngữ của con người.
    BIẾT CÁC YẾU TỐ VĂN PHẠM
    Nếu chúng ta phải thông giải Kinh Thánh theo văn phạm, thì chúng ta cần phải biết về văn phạm. Phải xem lại các sách về văn phạm. Phải biết rõ các thành phần trong ngôn ngữ: danh từ, động từ, đại danh từ, tĩnh từ, trạng từ, giới từ, liên từ và thán từ. Điều quan trọng là biết các thành phần liên hệ với nhau ra sao trong câu. Bạn không cần phải biết hết những điểm tinh tế, nhưng phải biết hết những điều căn bản.
    Trong một câu thông thường, những gì ở trong câu đều nói về chủ từ. Chủ từ là cái gì đó, làm cái gì đó, hay được hoặc bị một điều gì đó: Nam là một đứa bé. Nó hái trộm trái cây và bị ba nó đánh đòn. Thường thường chủ từ nằm ở đầu câu. Thượng Đế là tình thương, câu nầy nói về Thượng Đế. Có đôi khi trong thi ca người ta đảo ngược chủ từ ra sau. Nhưng phải cẩn thận, khi ta nói “tình thương là Thượng Đế” thì câu nói đã đổi nghĩa. Có người cho rằng hai câu trên cũng cùng một nghĩa, nhưng như vậy là đồng hóa Thượng Đế với tình thương. Tình thương của bà mẹ không phải là Thượng Đế. Vậy ta phải để ý xem thứ tự của chữ ảnh hưởng tới ý nghĩa như thế nào.
    ĐỘNG TỪ VÀ THÌ CỦA ĐỘNG TỪ.
    - Động từ là những chữ biểu lộ “hành động” trong câu.
    - Phải biết thì của động từ: “tôi ăn” “tôi đã ăn” “tôi sẽ ăn”.
    1. Quá khứ
    Nói về chuyện đã xảy ra trong quá khứ. Có thể chỉ xảy ra một lần trong quá khứ. RoRm 7:9, “Tội lỗi đã sống lại và tôi đã chết ” có thể xảy ra nhiều lần, lặp đi lặp lại như một thói quen trong quá khứ. ICo1Cr 13:11, “tôi nói như con trẻ… suy xét như con trẻ. ”
    2. Hiện tại
    Chỉ một chân lý phổ quát, không bị giới hạn bởi thời gian. GiGa 4:24 “Đức Chúa trời là sự yêu thương ” hay là diễn tả một điều gì luôn luôn là như vậy. LuLc 12:54 “Ngài lại phán cùng đòan dân rằng: Khi các ngươi thấy đám mây nổi lên phương tây, liền nói rằng: Sẽ nóng nực, thì quả có vậy. ” Việc nầy luôn luôn xảy ra như thế. Mat Mt 23:13 “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! Vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta, các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở. ” Chỉ một thái độ và hành động cứ tiếp tục xảy ra. Cũng có thể chỉ về tương lai thường xảy ra ngay sau đó. 26:2 “ Đến lễ Vượt Qua”.
    3. Tương Lai
    Thường thỉ về những gì xảy ra trong tương lai. GiGa 14:3 , “ta sẽ đến ”. Nhưng cũng có khi dùng như một mệnh lệnh. Mat Mt 5:21 “Ngươi không được giết người. ” Vấn đề đặc biệt thuộc lời tiên tri, nhất là Cựu Ước (Chương 19 số 4). Hầu hết những lời tiên tri về tương lai đều dùng thì tương lai nhưng không phải tất cả. Ví dụ : EsIs 53:1-12 hầu hết dùng quá khứ nhưng chỉ về Chúa Cứu Thế trong tương lai, đôi khi thì hiện tại lại dùng chỉ tương lai. IGi1Ga 3:6, người nào phạm tội thì đã không thấy hoặc biết Đức Chúa Trời. Có phải theo nghĩa tuyệt đối không?
    Xem thì hiện tại của “phạm tội”. Thì hiện tại có nhiều nghĩa. Cần xem văn mạch.
    a. IGi1Ga 2:11-14 Giăng viết cho tín hữu.
    b. Rõ ràng là ông nói họ có thể phạm tội.
    c. Ông gồm luôn cả ông trong đó (1:8, 3:16-18).
    Vậy ai phạm tội đều không phải là Cơ-đốc nhân không? Nếu vậy tại sao ông nói: “Tôi viết cho anh em để anh em không phạm tội ” (2:1) và “Nếu chúng ta nói chúng ta không có tội, thì chúng ta lừa dối mình. ” (1:8). Thì hiện tại đây có ý chỉ liên tục, thói quen cứ làm hoài hoài, chứ không phải một lần vấp ngã.
    ĐẠI DANH TỪ, CHỦ HỮU TỪ LIÊN TỪ (Pronouns, Genetives and Conjunctions)
    Động từ là hành động của chủ từ đối với túc từ. Đôi khi tương quan này không có nghĩa. Ví dụ: tôi thương con tôi hơn vợ tôi. Câu này có thể có nghĩa: “tôi thương con tôi hơn tôi thương vợ tôi.” Hoặc, “tôi thương con tôi hơn vợ tôi thương con tôi.”
    Đại danh từ này dùng thay thế danh từ làm chủ từ hay túc từ, đôi khi không rõ nghĩa lắm, nhất là khi có nhiều nhân vật trong cùng một câu chuyện.
    Thay đổi liên từ trong một câu thường làm đổi nghĩa câu đó. Xem câu : “Tôi ăn rau và tôi mạnh”. Thay liên từ và bằng những liên từ nên, vậy mà, mặc dầu, nhưng và xem nghĩa câu thay đổi như thế nào.
    Ví dụ: 3 chữ “vì” trong LuLc 12:15, 22, 32 khác nhau.
    Vài qui tắc hướng dẫn
    1. Nếu có câu hay đoạn không rõ nghĩa, hãy tìm chữ chìa khóa và xem văn phạm của nó, nó thuộc loại từ gì, liên hệ với các từ ngữ khác như thế nào.
    2. Xem liên hệ của từ ngữ này với những từ ngữ chung quanh nó.
    3. Xem trong phần này nó có thể có bao nhiêu nghĩa.
    4. Nếu có nhiều nghĩa, hãy xét tới nguyên tắc khác.
    Xem IICo 2Cr 5:19. “Đức Chúa Trời ở trong Đấng Christ làm cho thế gian hòa lại với Ngài. ” Đại danh từ Ngài chỉ về Đức Chúa Trời hay Đấng Christ? Đức Chúa Trời ở trong Đấng Christ làm cho thế gian hòa lại, hay Đức Chúa Trời làm cho thế gian hòa lại trong Đấng Christ?
    HIỂU Ý ĐỊNH TÁC GIẢ
    Nguyên tắc thứ tư là giải kinh theo chủ đích và bố cục của tác giả. Hai điều này có liên hệ mật thiết với nhau nên ta có thể xét chung với nhau, dầu ta biết là chúng khác nhau.
    Chủ đích của tác giả là điều tác giả định trong trí khi viết. Khi Giăng viết IGi1Ga 5:13, “Ta viết những điều này cho các con, hầu cho các con biết mình có sự sống đời đời ”. Ông đã nói rõ chủ đích của ông.
    Bố cục của tác giả là cách của ông sắp sếp bài viết để đưa đến chủ đích trên. Thư Ê-phê-sô cho ta thấy rõ kết cấu: Ba chương đầu nói về sự kêu gọi người tín đồ, ba chương sau bàn về hành vi cư xử của người. Ta biết được điều này phần nào nhờ chữ vậy ở đầu chương 4.
    Trong những ví dụ trên đây ta dễ thấy chủ đích và bố cục, nhưng không phải luôn luôn như vậy. Hầu hết các sách trong Kinh Thánh đều không nói đến chủ đích, và đa số rất khó biết. Bố cục sách thường dễ thấy hơn chủ đích. Nguyên tắc thư tư này khó áp dụng vì thường thường nó tìm ra chủ đích và bố cục của tác giả, bởi vậy chúng ta không dùng nhiều. Nhưng nó rất quan trọng, vì vậy chúng ta thử xem ví dụ về cách áp dụng nó.
    CHỦ ĐÍCH TÁC GIẢ
    Trong GiGa 20:31, Giăng nói chủ đích của ông khi viết sách Phúc Âm: “Nhưng những việc này đã chép để cho các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời, và để khi các người tin rằng Ngài là Con Thượng Đế và nhờ đức tin đó mà được sự sống đời đời ” (cứu rỗi). Ở đây có ba thực tế quan trọng: con người Chúa Cứu Thế, đức tin và sự sống. Giăng nói rằng ông viết về các phép lạ để người ta kinh nghiệm được những thực tế đó.
    Như vậy có thể suy ra rằng, mọi phép lạ có lẽ phát hiện một điều gì đó về Chúa và về đức tin và sự sống. Chúng ta cần ghi nhớ trong trí khi tìm hiểu ý nghĩa của mọi phép lạ. Hãy lấy ví dụ phép lạ lấy trong 2:1-11 . Nó cho biết gì về con người Chúa Giê-xu? Chắc chắn nó cho biết rằng Ngài là Đấng Tạo Hóa, tể trị thế giới vật chất. Các môn đồ cũng nhận biết phép lạ của Ngài đã “bày tỏ vinh hiển của Ngài” như trong câu 11 .
    Dấu lạ cũng bày tỏ một điều gì đó về cuộc sống tâm linh. Cuộc sống con người đầy dẫy những thất bại, giống như buổi tiệc hết rượu ở Ca-na. Nhưng Chúa Cơ-Đốc ban sự sống sung mãn, không thiếu thốn, với phẩm chất cao (rượu ngon) . Đó là một cuộc sống đầy đủ và vui thỏa.
    Ở đây cũng có sự dạy dỗ về đức tin nữa. Lòng tin cậy của Ma-ri bày tỏ trong câu 5: “Người bảo chi, hãy vâng theo cả ”. Đức tin dẫn đến hành động vâng phục, những người đầy tớ đã vâng theo lời Chúa Giê-xu. Ngài đã hành động qua sự tin cậy và vâng phục nó, nên người ta đã thấy phép lạ. Các môn đồ đã chứng kiến điều đó và “tin Ngài ” ( c. 11). Như vậy, nhờ biết được mục đích của Giăng ta thấy được động lực tinh thần của các phép lạ.
    BỐ CỤC CỦA TÁC GIẢ
    Ta có thể lấy sách Sáng-thế-ký làm mẫu để học giải kinh qua bố cục của sách. Đọc kỹ sách Sáng-Thế-Ký, ta sẽ thấy câu “Đây là dòng dõi của. ...” lặp đi lặp lại nhiều lần trong SaSt 2:4, 5:1, 6:9, 10:1, 11:10, 27, 25:12, 19, 36:1, 9, 37:2 ). Một câu được dùng nhiều lần như thế không phải là ngẫu nhiên. Nó có ý nghĩa gì , có thể giúp ta hiểu quyển sách không? Để thấy sức mạnh của câu đó ở mỗi chỗ, hãy lập một bản chia cột, ghi những sự kiện liên hệ đến mỗi câu.
    Trong khi tìm tòi như thế, sẽ có nhiều dữ kiện được đưa ra ánh sáng. Ví dụ: Sáng-thế-ký có hai phần: phần đầu từ đầu cho đến Áp-ra-ham; phần thứ hai, Áp-ra-ham và các thánh tổ sau ông. Phần đầu chỉ tác giả, phần nhì kể những sự tích của cá nhân. Cả quyển sách chúng tỏ kế hoạch của Thượng Đế được thực hiện qua “hột giống” hay đường dây kỉnh kiền. Nó cho ta thấy Thượng Đế đích thân chăm sóc cho Ích-ma-ên và Ê-sai, nhưng cũng cho biết họ không nằm trong đường dây của mục đích Ngài. Áp-ra-ham và Gia-cốp được dành cho chỗ quan trọng, dầu họ có nhiều khuyết điểm, vì họ đã được Thượng Đế chọn cho mục đích của Ngài.
    Như vậy, khi nào có thể biết được chủ đích và bố cục của quyến sách, chúng ta phải thông giải theo ánh sáng đó.
    TÌM CHỦ ĐÍCH VÀ BỐ CỤC
    Sau đây là vài gợi ý để tìm hiểu chủ đích và bố cục của tác giả.
    1. Thử để ý xem sách có nói rõ chủ đích không
    Nếu không, có chỗ nào ám chỉ không? Trong hai thư Cô-rinh-tô, không có chỗ nào Phao-lô nói rõ chủ đích của ông, nhưng chúng ta có thể tìm thấy bằng cách so sánh những khúc như ICo1Cr 1:11, 3:4, 4:6, 5:6, 7:1, 18, 8:1, 12:1, 16:1, IICo 2Cr 2:3-4, 7:5-8, 10:13. Nhờ những đoạn này, ta biết rằng một số tín hữu là thân nhân của Cơ-lô-ê đã báo cho Phao-lô tin không vui về Hội Thánh bác bỏ thẩm quyền của Phao-lô vì có một giáo sư khác ăn nói hùng biện hơn. Rồi các tín hữu Cô-rinh-tô đã viết cho Phao-lô một thư, hỏi ông một số vấn đề. Ông trả lời (I Cô-rinh-tô), dùng những lời lẽ rất mạnh bạo, nên ông sợ có người phiền lòng. Khi Tít trở về báo tin rằng người Cô-rinh-tô đã đáp ứng thuận lợi, ông lại viết nữa (II Cô-rinh-tô), cho họ biết ông cảm tạ Thượng Đế nhưng đồng thời cũng cảnh báo họ về những sứ đồ giả. Do những sự kiện đó, ta có thể suy luận ra chủ đích của ông khi viết mỗi thư.
    Tuy nhiên phải cẩn thận khi chỉ dùng những sự kiện gián tiếp để suy đoán. Cần phải có những dấu chỉ rõ ràng. Nếu chỉ phỏng đoán từ những câu mơ hồ thì không tốt. Ta không buộc phải biết chủ đích mỗi sách mới hiểu được sách đó, nhưng nếu biết rỏ chủ đích sẽ giúp ích cho ta nhiều trong việc tìm hiểu.
    2. Những lời đề cập đến cá nhân thường cho thấy chủ đích của sách
    Ngoài ra, những chủ đề được lặp nhiều lần hay nhấn mạnh có thể cho biết chủ đích. Chắc Ma-thi-ơ viết sách Phúc Âm ít nhất là để biểu dương chân lý của Nước Trời, vì ông nói đến nó nhiều lần.
    3. Tìm cấu trúc của quyển sách
    Có thể có những điểm phân chia rõ ràng, như RoRm 12:1, Eph Ep 4:1. Có thể có những câu lặp lại nhiều lần như trong Sáng Thế Ký. Nhưng cũng phải cẩn thận. Nhóm chữ “các nơi trên trời” dùng năm lần trong thư Ê-phê-sô nhưng không đánh dấu sự phân chia quyển sách.
    4. Khi đã thấy rõ mục đích hay bố cục, phải ghi nhớ nó khi học các phần trong sách, phải thông giải cho phù hợp với nó
    Phi Pl 2:1-8 là một khúc sách cho thấy chủ đích của tác giả. Các nhóm từ đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng, hiệp ý, chứng tỏ rằng Phao-lô quan tâm đến phẩm chất của tình thân hữu giữa các tín hữu Phi-líp. Vì vậy, trong câu 5-8 ông đem gương Chúa Giê-xu ra nhắc họ. Ngài có một tâm tình, và hành động theo tâm tình đó. Ngài chẳng nắm giữ lấy sự bình đẳng với Thượng Đế (c.6); Ngài tự làm cho trống không (c.7); Ngài hạ mình xuống đến đỗi chịu chết cái chết nhục nhã của tên phạm nhân trên thập tự giá (c.8). Như vậy cái chết của Chúa Giê-xu được đưa ra để làm gương cho sự hạ mình. Ở đây, điểm chính về sự chết của Ngài không phải là bày tỏ tình thương Thượng Đế hay để chuộc tội như ta thấy trong các đoạn khác. Những điểm tác giả nhấn mạnh trong mỗi đoạn đều phản chiếu phần nào chủ đích của ông.
    Sau đây là một số đoạn để bạn có thể áp dụng nguyên tắc giải kinh thứ tư:
    ChCn 1:1-6: chủ đích ghi ở đây ảnh hưởng đến ý nghĩa các đoạn khác như thế nào?
    Trong sách Truyền Đạo, nhóm chữ dưới mặt trời có thể là chìa khóa cho quyển sách nầy. Biết như vậy có giúp ích cho việc tìm hiểu các câu khó như 20:17, 20, 24, 9:4 không?
    LuLc 1:1-4 : Trả lời câu hỏi giống như của Châm Ngôn.
    Trong GaGl 1:1-24 hãy xét chủ đích của Phao lô căn cứ vào chữ Tin Lành được gặp lại nhiều lần và cách mở đầu đột ngột của ông (không có cảm tạ).
    Nghiên cứu CoCl 2:4, 8, 16, 20-22, và đưa ra những gợi ý về chủ đích của Phao-lô cho sách Cô-lô-se.

    NGHIÊN CỨU BỐI CẢNH
    Nguyên tắc thứ năm là: thông giải dưới ánh sáng của bối cảnh lịch sử, địa lý, văn hóa, được nhiều chừng nào tốt chừng nấy.
    Các biến cố trong Kinh Thánh xảy ra vào một thời điểm nào đó trong lịch sử. Chúng có dự phần trong văn hóa của những người sống lúc đó, phần lớn là người Do Thái. Tân Ước liên hệ với văn hóa của Palestine vào thế kỷ đầu tiên cũng như lịch sử lúc đó và trước đó. Chúng ta sẽ hiểu sai Tân Ước nếu ta giải thích theo văn hóa chúng ta ngày nay.
    Chúng ta nên nhớ rằng, cùng một hành động, lời nói hay sự việc rất có thể có những ý nghĩa rất khác nhau trong những nền văn hóa khác nhau. Ví dụ ở Ấn Độ bạn gọi ai là con cú hay con loài cú là bạn nhục mạ người đó, nhưng ở Mỹ thì đó là lời khen. Đối với người Ấn Độ nó có nghĩa là ngu ngốc, nhưng đối với người Mỹ thì lại là khôn ngoan!
    Một thành ngữ có nghĩa nào đó trong một nền văn hóa hay trong một thời kỳ nào đó có thể không có ý nghĩa trong một nền văn hóa khác, trong một thời kỳ khác. Vì ý nghĩa thay đổi nên ta cần biết ý nghĩa của câu Kinh Thánh trong bối cảnh văn hóa của nó. Trong IIVua 2V 2:9, Ê-li-sê xin Ê-li được phần gấp đôi thần linh của Ê-li. Nhưng xét theo bối cảnh văn hóa của hai vị nầy (nhất là PhuDnl 2:1-7) thì hình như Ê-li-sê được phần gia tài của người con đầu lòng: ông ấy muốn làm người kế nghiệp Ê-li.
    Vậy hãy nhớ rằng, ý nghĩa đầu tiên sơ khởi của một khúc sách là ý nghĩa mà nó có trong bối cảnh văn hóa và lịch sử, nghĩa là ý nghĩa của nó đối với những người đang sống lúc đó. Chúng ta cần phải hiểu nghĩa đó càng đúng càng tốt.
    Trong LuLc 9:23, Chúa Giê-xu nói rằng ai muốn theo Ngài phải “Vác thập tự giá mình mỗi ngày ”. Chúng ta nói đến thập tự giá là nói đến những nỗi khó khăn, khổ sở, thử thách. Tuy nhiên vào thời Chúa Giê-xu người vác thập tự giá là người tử tội đi đến pháp trường. Người ấy vác thập tự giá đi đến chỗ chết. Người thời Chúa Giê-xu hiểu lời Ngài theo nghĩa đó. Họ biết rằng Ngài nói về sự chết (thể xác hay tinh thần), chứ không phải về sự khổ sở. Các đoạn khác trong các sách Phúc Âm, nhất là những đoạn nói về sự chết của Chúa, nêu rõ ý nghĩa nầy. Chúng ta chỉ nên diễn giải theo ý nghĩa đó.
    Chúng ta biết rằng chúng ta không thể nào tìm biết ý nghĩa nguyên thủy của tất cả các đoạn, chẳng hạn như XuXh 28:30 “ U-rim và Thu-mim ” ICo1Cr 15:29 “Vì người chết chịu báp-têm …” không một học giả nào có thể biết chắc nghĩa nguyên thủy của nó là gì. Tuy nhiên, nhờ dùng các nguyên tắc giải kinh, ta có thể biết ý nghĩa nguyên thủy của phần lớn, và căn cứ vào đó mà thông giải.
    Chúng ta cũng nhận biết rằng nhiều phần Kinh Thánh có những ý nghĩa đầy đủ hơn mức độ hiểu biết của người đương thời. Khi Thượng Đế phán lời hứa đầu tiên về sự ra đời của Đấng Cứu Thế trong SaSt 3:15, không ai lúc ấy có thể biết ý nghĩa trọn vẹn “Gót chân ” của “dòng dõi người nữ ” và đầu “bị giày đạp là gì. ”
    ISa1Sm 12:17 có thể dùng làm ví dụ về bối cảnh văn hóa giúp ta hiểu ý nghĩa như thế nào. Sa-mu-ên nói rằng ông sẽ kêu cầu Chúa giáng mưa xuống vào mùa giặt lúa mì. Bình thường từ tháng tư cho đến tháng mười không có mưa, vì mùa gặt lúa mì là từ giữa tháng tư đến giữa tháng năm. Đây là bằng chứng về quyền năng của Thượng Đế, chứng tỏ cho dân chúng biết rằng Sa-mu-ên nói theo lệnh Ngài.
    Trong Mac Mc 11:12-14 (và Mat Mt 21:18-19) ghi lại chuyện Chúa rủa cây vả. Mac Mc 11:13 dường như nói rằng Chúa rủa cây vả vì nó không có trái dầu lúc đó không phải là mùa vả, nghe qua có vẻ bất công. Nhưng dầu không phải mùa, những cây vả tốt vẫn có một ít trái. Cây vả nầy không có chút trái nào chứng tỏ là nó đã cằn cỗi.
    Bối cảnh gồm nhiều yếu tố:
    1. Yếu tố lịch sử
    DaDn 5:7 Đa-ni-ên được lập làm quan cai trị đứng hàng thứ ba vì Bên-xát-xa và cha vua đang cùng cai trị, nghĩa là đã có hai người cai trị hàng đầu rồi.
    Mat Mt 2:22: Lịch sử cho biết rằng vua Ạc-chê-lau đe dọa tính mạng Chúa Giê-xu nhiều hơn cha ông ta.
    2. Yếu tố địa lý
    GiGa 4:4 Chúa Giê-xu phải đi ngang qua Sa-ma-ri vì tỉnh nầy nằm giữa Giu-đê và Ga-li-lê.
    Gio Ge 2:23: Có hai mùa mưa chính, mưa sớm hay mùa thu vào gieo cấy, mưa muộn hay mưa vào mùa xuân lúc mùa màng sắp chín.
    3. Yếu tố văn hóa (xã hội , tôn giáo hay vật chất)
    LuLc 9:59. Chôn cha là nghĩa vụ thiêng liêng của người con trai trưởng và có thể phải đợi nhiều năm nếu người cha chưa chết.
    GiGa 13:3-5: Rửa chân cho khách là bổn phận của đầy tớ, ắt hẳn không một môn đồ nào lúc ấy tình nguyện làm công việc nầy.
    TÌM HIỂU BỐI CẢNH
    Muốn dựa vào bối cảnh để giải kinh thì phải tìm hiểu bối cảnh đó. Làm thế nào để biết bối cảnh? Chúng ta có thể có những tài liệu quí báu nhờ công trình của các học giả Kinh Thánh trong các từ điển Kinh Thánh, sách địa lý bình giải vv... Nếu bạn có quyển nào, hãy dùng quyển đó. Một nguyên tắc mà chúng ta đã ghi nhận là Kinh Thánh chính là người giải kinh tốt nhất. Kinh Thánh cho ta các thông tin cần biết về bối cảnh của những đoạn khó hiểu nhất.
    Sau đây là vài bước cần theo để biết được tin tức cần thiết.
    1. Học Kinh Thánh
    Hãy đọc, đọc và đọc Kinh Thánh. Bạn càng quen với toàn bộ Kinh Thánh, thì càng biết nhiều về bối cảnh để thông giải nó. Hãy đọc các sách lịch sử: Lịch sử Cựu Ước và Tân Ước. Bộ sách Ngũ Kinh chứa đựng nhiều bối cảnh văn hóa cho phần còn lại của Kinh Thánh, nhất là Tân Ước. Những phần sau cũng có thể soi rọi cho những phần trước. Nhờ đọc nhiều và nghiền ngẫm, bạn có thể biết được những thời kỳ và văn hóa của những người trong Kinh Thánh.
    2. Ghi chép trong khi đọc
    Hãy ghi chi tiết về những nhân vật trong Kinh Thánh, các phong tục, đặc điểm của xứ. Để ý những điều bất thường, những chữ lạ v.v... rồi đem tra từ điển và ghi nghĩa ra. Khi ghi một sự kiện nào thì ghi luôn câu Kinh Thánh tham chiếu. Nó sẽ giúp bạn dễ tìm sau nầy và kiểm tra cho chính xác. Ghi chép là một dụng cụ hữu ích để hiểu Kinh Thánh. Nó giúp bạn ghi nhớ và làm gia tăng kho kiến thức của bạn.
    3. Nếu bạn có quyển Kinh Thánh có phần chú dẫn, hãy dùng nó
    Thường những câu Tân Ước hay chú dẫn Cựu Ước. Bên cạnh GiGa 3:14 nói về Môi-se treo con rắn lên, có chú dẫn câu Dan Ds 21:9. Tuy nhiên, những chú dẫn ghi trong Kinh Thánh không đầy đủ, nên bạn cần ghi những chú dẫn riêng của bạn trong khi tra cứu. Khi một câu nào nhắc tới câu khác, hãy ghi nó vào lề.
    4. Dùng bản đồ trong Kinh Thánh để tìm các địa điểm
    Nếu bạn đọc sách Giô-suê mà biết được những địa điểm trong đó, bạn sẽ hiểu được kế hoạch chinh phục Ca-na-an.
    5. Nếu bạn có các loại sách khác, hãy dùng chúng
    Trước hết là từ điển. Chữ nào có liên quan đến văn hóa được giải thích trong phần định nghĩa nó. Những chữ như trống cơm, đờn cầm, diêm sinh, v.v. Đều có liên hệ đến văn hóa. Các từ điển và sách bình giải đều có giải thích những sự vật có tính cách văn hóa, vì chúng ảnh hưởng đến việc giải kinh.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN
    Sau khi đã có tin tức về bối cảnh của đoạn sách, bạn bắt đầu nghĩ đến việc thông giải. Có ba qui tắc hướng dẫn hữu ích:
    1. Xem xét cẩn thận những điểm chưa biết hoặc lẫn lộn và để ý xem, nếu biết bối cảnh sẽ giúp ta hiểu hơn như thế nào.
    2. Nghĩ xem khúc sách có nghĩa gì đối với người thời đó.
    3. Tìm hiểu nghĩa nào thích hợp cho chúng ta trong nền văn hóa chúng ta ngày nay áp dụng nó.
    Chúng ta hãy lấy Cac Tl 13:3-5 làm ví dụ, trong khúc nầy thiên sứ của Chúa nói với vợ Ma-nô-a rằng con trai mà bà sắp có thai sẽ là “người Na-xi-rê cho Đức Chúa Trời từ trong lòng mẹ ”. Thiên sứ nói người Na-xi-rê có nghĩa gì? Một quyển Kinh Thánh có chú dẫn chắc chắn sẽ chú dẫn Dân số ký 6. Nếu bạn không có Kinh Thánh chú dẫn, có thể tra từ điển Kinh Thánh, nó sẽ định nghĩa chữ đó và chỉ cho bạn Dân số ký đoạn 6 để bạn hiểu tường tận hơn. Theo sách Dân Số Ký, người Na-xi-rê là người tuyên thệ biệt mình riêng ra và dâng đời mình cho Chúa. Để thực hiện lời hứa nguyện đó, người ấy phải cử kiêng nhiều thứ trong cuộc sống hàng ngày: cử uống rượu nho và ăn những vật gì có liên hệ đến cây nho, cử cắt tóc và không được dụng đến người chết.
    Ý nghĩa của việc nầy hình như là khi một người muốn biệt mình ra cho Chúa cho một mục đích đặc biệt nào đó để làm một công tác gì đó, và hứa nguyện sẽ làm như vậy, thì người ấy tự tách mình ra khỏi một số hoạt động mà bình thường vẫn được phép. Nho là một nông phẩm chính ở Palestine, một nguồn thức ăn và thức uống chính của người Do Thái. Cắt tóc hình như là bình thường đối với người đàn ông, vì không cắt tóc là dấu hiệu biệt riêng. Khi có đám tang, phải đụng chạm đến xác chết để chuẩn bị việc chôn cất, đó là một nghĩa vụ bình thường, dầu Dan Ds 19:1-22, LeLv 21:1-24 dạy rằng các thầy tế lễ không làm được việc đó ngoại trừ cho những thân nhân ruột thịt, nhưng người Na-xi-rê phải kiêng cử hoàn toàn. Kinh Thánh không nói lý do tại sao phải kiêng cử hoàn toàn. Kinh Thánh không nói lý do tại sao phải kiêng cử đặc biệt những thứ nầy mà không kiêng thứ khác. Chắc chắn là người Na-xi-rê vẫn được tự do trong hầu hết các nghề nghiệp bình thường.
    Như vậy, điều dạy dỗ cho người thời bấy giờ là khi một người muốn biệt riêng ra cho Chúa, họ phải tuyên hứa, và để giữ lời hứa đó họ phải kiêng cử một số hoạt động và nhiệm vụ bình thường. Đây là điều kiện đặt cho cậu bé Sam-sôn từ trong lòng mẹ. Hẳn nhiên ở đây cha mẹ phải đứng ra tuyên hứa thay cho Sam-sôn.
    Nếu chúng ta muốn áp dụng cho mình, thì Tân Ước không có những huấn thị chỉ dẫn rõ ràng phải làm cách nào. Thật ra trong Tân Ước không có dùng chữ Na-xi-rê. Như vậy chúng ta phải áp dụng nguyên tắc đã đề ra trong Cựu Ước. Một tín đồ thời nay có thể muốn biệt riêng ra cho một mục đích nào đó của Chúa. Như vậy người đó có thể hứa nguyện, và để thực hiện lời hứa đó, người ấy phải tách mình ra khỏi một số hoạt động. Các hoạt động trong Dân số ký đoạn 6 có lẽ không thích hợp, nhưng người ấy có thể nhờ Chúa hướng dẫn cần phải làm gì để đánh dấu sự biệt riêng của mình. Người ấy có thể hỏi ý kiến những người lãnh đạo tinh thần. Tuy nhiên, người ấy không bị ràng buộc pháp lý nào trong việc nầy.
    Trên đây là phương hướng giải kinh nhờ ánh sáng của bối cảnh. Đối với nhiều đoạn kinh, việc tìm hiểu bối cảnh và ý nghĩa đương thời của nó áp dụng nó vào thời đại nầy là cả một vấn đề gai góc. Nhưng càng tra cứu nhiều những đoạn như vậy, ánh sáng càng đến nhiều hơn: bạn sẽ hiểu lời Chúa nhiều hơn.
    Tra cứu thêm: IVua 1V 13:1-34 (ý nghĩa của Bê-tên trong tương quan với Giu-đa); IIVua 2V 3:11 (Ê-li-sê đổ nước) 4:1-7 (tình cảnh người đàn bà) Mat Mt 8:4 (tỏ mình cho thầy tế lễ) Cong Cv 15:20, 29 (tới mức độ nào những điều cần thiết nầy là những điều nền tảng, và tới mức độ nào chúng là những tiểu tiết phù phiếm của người Do Thái?) ICo1Cr 11:1-16 (mạng che mặt phụ nữ có phải là yếu tố văn hóa không?) IITi 2Tm 1:8 (kẻ tù của Chúa).
    LẤY KINH THÁNH GIẢI KINH THÁNH
    Nguyên tắc thứ sáu là: thông giải mỗi khúc nhờ vào giáo huấn của toàn bộ Kinh Thánh. Nói cách khác là “dùng Kinh Thánh để giải Kinh Thánh.” Nếu bạn theo đúng những nguyên tắc khác mà kết quả lời giải của bạn đi ngược giáo huấn của Kinh Thánh, thì cần phải xét lại lời giải của bạn. Kinh Thánh không tự mâu thuẩn với chính mình. Kinh Thánh từ đầu chí cuối là một mặc khải, đưa ra một sứ điệp về Thượng Đế.
    Chúng ta đã thấy rằng học một câu hay khúc Kinh Thánh phải nghiên cứu văn mạch của nó - tức là những câu, những khúc hay những chương trước và sau nó. Nguyên tắc thứ tư nầy hàm ý rằng toàn bộ Kinh Thánh là văn mạch tối hậu của khúc sách. Ta chỉ có thể tìm thấy sứ điệp Kinh Thánh về một đề tài nào bằng cách nghiên cứu tất cả các đoạn sách có liên hệ tới nó. Nếu ta chỉ nghiên cứu một vài đoạn, có lẽ chúng ta sẽ không hiểu được giáo huấn của Kinh Thánh.
    Giả sử bạn đi ngang qua một cánh rừng. Trước mặt bạn là một con sông rất khó vượt qua. Nếu bạn không biết gì về toàn thể khu vực, bạn sẽ cố gắng lội qua sông, nhưng nếu bạn biết rằng sau một phần tư dặm về phía tay phải, con sông bắt đầu lượn quanh và đổi hướng, thì bạn chỉ cần chịu khó đi theo khúc quẹo của con sông. Kiến thức tổng quát sẽ giúp bạn vượt được khó khăn lớn, có khi tránh được nguy hiểm.
    Biết toàn thể Kinh Thánh sẽ giúp chúng ta khỏi tưởng rằng mình đã hiểu một câu Kinh Thánh trong khi thật ra chúng ta đã hiểu lầm nó. Ví dụ, chúng ta đọc Eph Ep 3:14 Phao lô viết: “Vì cớ đó mà tôi quỳ gối trước mặt Cha. ” Chúng ta có thể kết luận rằng vì Phao-lô quì gối cầu nguyện, nên Kinh Thánh dạy chúng ta cũng phải quì khi cầu nguyện. Kết luận đó không đúng với những câu khác cho thấy rằng đứng hay nằm sấp đều là những tư thế cầu nguyện tốt, cũng như có những câu nói rằng đều đẹp lòng Thượng Đế là thái độ của tấm lòng chứ không phải tư thế của thân thể.
    Các tà giáo có vẻ như có thẩm quyền của Kinh Thánh, tuy nhiên những người dạy các giáo lý đó chỉ dùng một số đoạn Kinh Thánh hợp với tà thuyết của họ và bỏ qua các đoạn khác. Muốn khỏi tin những giáo lý sai lầm, chúng ta phải dùng sứ điệp của toàn bộ Kinh Thánh để kiểm tra lại câu ta hiểu có đúng không. Chúng ta giữ thái độ khiêm nhường không vội đưa ra những kết luận chung quyết và giáo điều nếu chưa xét nó dưới ánh sáng của toàn thể lời Thượng Đế.
    Một số học giả Kinh Thánh chỉ xét có một phần Kinh Thánh khi thông giải hay thiết lập giáo lý. Ví dụ, họ đem những hạn chế về ăn uống trong Cựu Ước áp dụng cho tín hữu Cơ-đốc ngày nay. Hay họ chỉ dựa vào những lời Thượng Đế hứa ban phước cho những người giữ luật pháp Ngài trong Cựu Ước, rồi không kể đến những giáo huấn của Tân Ước về cách Thượng Đế xưng công bình, kết luận rằng người thời Cựu Ước có thể là công bình trước mặt Thượng Đế nhờ tuân theo luật pháp.
    Đối với giáo lý ngày Sa-bát, nguyên tắc nầy cũng rất hệ trọng. Trong Cựu Ước, huấn thị bảo giữ ngày Sa-bát tức là ngày thứ bảy làm ngày nghỉ là điều rất rõ ràng, nhưng nếu muốn biết sự dạy dỗ đầy đủ của cả Kinh Thánh, nhất là ý nghĩa của giáo lý đó đối với ngày nay, chúng ta phải xét cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, kể cả tương quan giữa hai giao ước và ý nghĩa của sự phục sinh Chúa Giê-xu và thói quen của Hội Thánh ban đầu.
    Mặt khác, có những người chỉ lấy Tân Ước mà không đến xỉa gì đến Cựu Ước. Dầu họ có đọc Cựu Ước để hiểu Tân Ước, họ cho rằng Tân Ước có đủ mọi chân lý cần thiết cho người tín đồ Cơ-đốc. Trong chương 21, chúng ta sẽ xét đến tương quan giữa Cựu Ước và Tân Ước, nên ở đây chúng ta chỉ ghi nhận rằng toàn bộ Kinh Thánh là mặc khải của Thượng Đế, và mỗi phần phải được hiểu theo ý nghĩa của toàn bộ.
    Những người chỉ rút chân lý ra từ các sách Phúc Âm hay Công vụ Sứ đồ mà không đối chiếu với sự dạy dỗ của các thư tín cũng không tôn trọng nguyên tắc nầy. Một số tín hữu rút giáo lý về báp-têm bằng Thánh Linh hầu như hoàn toàn từ sách Công Vụ. Báp-têm bằng Thánh Linh là một chân lý quan trọng, ta chỉ có thể hiểu nó khi xét sự dạy dỗ của toàn bộ Tân Ước.
    NHỮNG KHÚC SÁCH SONG HÀNH
    Một cách để biết sự dạy dỗ của toàn thể Kinh Thánh là nghiên cứu những khúc song hành: những câu ở những nơi khác nhau cùng nói về một điều, ví dụ một số lời dạy của Chúa Giê-xu và sự việc ghi trong các sách Phúc Âm. Một phần lịch sử trong sách Sa-mu-ên và các Vua song hành với nhau dầu không đúng hẳn.
    Khi xét những đoạn song hành, cần nhớ những điều nầy:
    1. Chúng phải đúng là song hành
    Nhiều khi chúng có những chữ giống nhau nhưng không phải song hành. Phải có ý giống nhau mới gọi là song hành.
    2. Để ý cẩn thận những dị biệt cũng như tương đồng
    Hãy viết ra và xem cho rõ. Xem thử những chỗ dị biệt ảnh hưởng đến ý nghĩa như thế nào.
    Trong Mat Mt 10:34 Chúa Giê-xu nói, “Ta đến không phải để đem hòa bình nhưng đem gươm giáo. ” Câu này có nghĩa đen chăng? Khi chúng ta đọc văn mạch, chúng ta thấy có chữ thù nghịch (c.36) gợi lên hình ảnh chiến đấu.
    LuLc 12:51 là một khúc song hành. Hai câu gần như giống ý nhau nhưng không hẳn như vậy. Gươm giáo đổi thành chia rẽ. Cả hai câu đều nói về người nhà và sự chia rẽ trong gia đình, nhưng với những chi tiết khác nhau. Như vậy ý hai câu giống nhau vì văn mạch cũng tương đương. Gươm giáo tượng trưng cho chiến đấu, bởi vậy cũng có nghĩa chia rẽ. Từ đây, chúng ta có thể hỏi câu trong Ma-thi-ơ có ý dùng chữ gươm thật không. Khi chúng ta đọc Mat Mt 10:37-38, chúng ta thấy vấn đề phải đối diện ở đây là đặt ai ở hàng đầu. Nếu ta đặt Chúa ở hàng đầu trong cuộc sống thì ta sẽ có thể phải chia rẽ với gia đình.
    Không phải lúc nào cũng có những khúc sách song hành, bởi vậy nguyên tắc nầy không quan trọng bằng nguyên tắc văn mạch. Nhưng bạn cũng nên nghiên cứu thêm vài ví dụ: (1) So sánh ICo1Cr 8:6CoCl 1:16. Có người cho rằng 1:16 nói về cuộc tạo dựng tâm linh mới (2) Có người liên kết EsIs 9:6-7 với ISa1Sm 17:40 qua số năm (năm tên, năm cục đá). Bạn thấy có liên hệ gì không.?
    BIẾT TOÀN BỘ KINH THÁNH
    Làm sao ta có thể biết toàn bộ Kinh Thánh? Sau đây là vài chỉ dẫn.
    1. Tích cực đọc Kinh Thánh
    Cần có một kế hoạch đọc Kinh Thánh trong một thời gian đều đặn, liên tục trong một năm chẳng hạn. Một phương cách đơn giản để học hết Kinh Thánh trong một năm là mỗi ngày đọc ba chương và Chúa nhật đọc năm chương. Nếu giữ đều đặn và ghi chú, bạn có thể nhớ được nhiều khúc sách và tập so sánh Kinh Thánh vói Kinh Thánh. Không làm như vậy, việc học Kinh Thánh của bạn sẽ tiến chậm hơn.
    2. Học Kinh Thánh đều đặn
    Đọc không chưa đủ. Bạn cần kết hợp đọc với học và dành đủ thì giờ cho việc đó. Cố gắng lập chương trình học từng sách một cho đến khi hoàn tất.
    Có lẽ bạn cảm thấy nản chí, nghĩ rằng mình không bao giờ có thể biết toàn thể Kinh Thánh, hoặc là phải mất nhiều năm mới đạt được. Ý đó cũng phần nào đúng. Không ai có thể biết Kinh Thánh trọn vẹn dù đã học hàng chục năm. Tuy nhiên, cứ đọc và học đều đặn một cách có hệ thống và với tinh thần cầu nguyện, chắc chắn sự hiểu biết lời Chúa của bạn sẽ gia tăng.


    NHỮNG NGHĨA BÓNG TRONG NGÔN NGỮ
    Trong phần nầy chúng ta nhìn vào một số tiêu biểu đặc biệt của ngôn ngữ và các nguyên tắc giúp chúng ta hiểu chúng.
    Chữ có nghĩa bóng hay dụ ngữ (figures of speech) là chữ hay nhóm chữ dùng để diễn đạt một điều gì khác hơn là nghĩa đen, nghĩa tự nhiên của nó. Chúng ta ai cũng có dùng những thành ngữ như vậy. Khi chúng ta nói, “anh ta đâm bị thóc thọc bị gạo” chúng ta không có ý nói đến tóc gạo mà nói đến sự xúi giục chia rẽ. Nếu tôi nói, “Tôi tức cười muốn chết”, bạn khỏi cần phải lo sợ hay buồn rầu cho tôi vì câu nói đó không có ý nghĩ là “tôi muốn chết” mà có nghĩa là tôi cười tột độ, lúc nầy tôi đang vui.
    Nhưng ý bóng mà người ta dùng trong ngôn ngữ bình thường không đúng với nghĩa đen nhưng vẫn đúng. Chúng chỉ diễn đạt sự thật bằng một lối khác, linh động và thú vị hơn. Chúng ta nhận được nghĩa của chúng ngay mà không phải dừng lại để suy nghĩ hay tưởng tượng; trí óc chúng ta tự động dịch nó ra.
    Tuy nhiên, việc nhận biết nghĩa bóng trong ngôn ngữ Kinh Thánh rất quan trọng. Đôi khi việc hiểu chữ theo nghĩa đen hay bóng không có gì quan trọng, nhưng lắm lúc là cả một vấn đề có tầm mức lịch sử. Vào thời kỳ Cải Cách Giáo Hội, Martin Luter và Ulrich Zwingly là hai nhà đại lãnh tụ bất đồng ý kiến về câu Chúa nói, đây là thân thể ta trong lễ Tiệc Thánh. Giáo Hội Công Giáo La Mã dạy rằng câu đó hiểu hiểu theo nghĩa đen. Luther cũng hiểu theo nghĩa đen dầu không đến mức độ của quan điểm Công Giáo nhưng Zwingly thì nhấn mạnh rằng đó ý bóng, rằng bánh và rượu tiêu biểu cho thân thể và huyết của Chúa, và Chúa hiện diện trong lễ hội thông (Tiệc Thánh) một cách thiêng liêng chứ không phải vật chất. Sự bất đồng ý kiến của hai ông đã khiến cho giáo hội phân rẽ.
    CÁC DỤ NGỮ SO SÁNH
    1. Ẩn dụ (Metaphor)
    Ẩn dụ hàm ý so sánh hai thứ mà căn bản không giống nhau. Nếu bạn so sánh con chó và con đà điểu thì bạn không có ẩn dụ vì cả hai đều là con vật; nhưng nếu bạn so sánh con người với cây cối là bạn đã làm một ẩn dụ. Hình thức thông thường của ẩn dụ là “A” và “B”, nghĩa là A cũng giống như B: Tôi là một con sâu. Nó là một con lừa. Thượng Đế là tảng đá của tôi.
    Còn có nhiều hình thức nói bóng khác như: chén cứu rỗi (cứu rỗi là cái chén), bánh khổ nạn v.v.. hoặc nói con chó chết nầy thay vì nói người nầy là con chó chết. Có khi đó là một hành động: Ngài thắt lưng tôi bằng sự vui mừng (thay vì nói sự vui mừng là thắt lưng tôi ).
    Tất cả những ẩn dụ nầy cho thấy rằng có một điểm so sánh giữa hai thứ mà phần chính là không giống nhau. Hãy xét ẩn dụ chót ở trên. Làm sao sự vui mừng lại giống như thắt lưng, hay giây nịt? Cái nịt dùng để làm gì? Nó giữ quần áo và chuẩn bị cho con người đi ra làm việc. Có phần nào sức mạnh và an ninh trong đó. Cũng vậy, sự vui mừng đem sức mạnh và an ninh cho tâm linh.
    Hãy nhìn vào những câu tham chiếu dưới đây và suy nghĩ từng câu một: Gios Gs 1:8, IIVua 2V 7:2, Giop G 13:25, 41:14, Thi Tv 109:29, EsIs 1:31, 7:4, Mat Mt 26:26, LuLc 11:39, IICo 2Cr 5:1-4, Eph Ep 1:18.
    2. Tỉ dụ (Simile)
    Tỉ dụ cũng rất giống như ẩn dụ, nhưng nói rõ so sánh, dùng chữ giống như hay cũng như. Nếu chúng ta nói, “Tôi cũng như sâu bọ” hay “Thượng Đế giống như tảng đá cho chúng ta”, ý nghĩa cũng giống như những ẩn dụ trên kia. Ẩn dụ thì sống động hơn, nhưng có lẽ không được rõ ràng và dễ bị hiểu lầm hơn.
    Giop G 41:15 là một tỉ dụ: “Trái tim nó cứng như đá. ” Câu nầy nêu lên điểm so sánh: Cả hai thứ đều cứng. Dĩ nhiên chúng ta biết rằng một bên là cứng của vật chất và một bên là cứng phi vật chất. Đó là một cách nói sống động để mô tả trái tim cứng, nghĩa là tính khí bướng bỉnh, ngang tàng.
    Hầu hết các tỉ dụ đều có đưa ra điểm so sánh, nhưng có khi nó chỉ nói hai thứ giống nhau và để cho chúng ta nghĩ ra chúng giống nhau thế nào. MiMk 7:4 nói, “người lành hơn hết trong chúng nó giống như chà chuôm. ” Giống như con chà chuôm là thế nào? Vì câu văn không nói rõ nên chúng ta phải xem văn mạch để tìm điểm so sánh.
    Thường những vật thiên nhiên được dùng để so sánh. Có khi cùng một sự vật mà một đặc tính được dùng cho tỉ dụ nầy, còn đặc tính khác lại được dùng cho một tỉ dụ khác hẳn. Có khi hai tỉ dụ tương phản nhau. OsHs 6:4 “Lòng nhân từ các ngươi như sương móc tan ra buổi sáng mai ”, dùng đặc tính mau tan của sương móc. Câu nầy mô tả tình yêu bất trung. Trong 14:5, Thượng Đế phán, “Ta sẽ là sương móc cho Y-sơ-ra-ên. ” Những hàng kế tiếp chứng tỏ rằng Ngài có ý nói về đặc tính của sương là làm cho cây cối sống và lớn lên. (Hãy xem những tỉ dụ khác nhau dùng từ ngữ bồ câu: Thi Tv 55:6, EsIs 59:11, Gie Gr 48:28, OsHs 7:11).
    Đây là một số câu tham chiếu, dùng tỉ dụ về hành động cũng như đặc tính: Cac Tl 7:12, Thi Tv 59:6, 92:12, 133:2-3, ChCn 10:26, EsIs 9:18, 19, Gie Gr 17:6, Mat Mt 17:20, 25:32-33, LuLc 17:24, IPhi 1Pr 2:2.
    QUI TẮC HƯỚNG DẪN
    Để thông giải những dụ ngữ so sánh, chúng ta hãy áp dụng các bước sau đây:
    1. Để ý xem điểm so sánh có nằm trong câu hay văn mạch không
    Nếu có, hãy lấy đó làm chìa khóa để giải, ví dụ, trong IVua 1V 12:4 dân chúng nói với Rô-bô-am, “Thân phụ vua đã làm cho ách chúng tôi nặng quá. ” Chúng ta có thể xem trong văn mạch để biết câu đó có ý nghĩa gì.
    2. Nếu trong đó không có nói tới điểm so sánh, hãy lấy nghĩa tự nhiên của vật dùng so sánh làm nghĩa căn bản
    EsIs 1:30, “Ngươi sẽ như… vườn không nước. ” Một cái vườn như vậy vào mùa hè sẽ như thế nào? Dĩ nhiên là nó chết. Đó là ý nghĩa tự nhiên của hình ảnh đó. Văn mạch xác nhận ý nghĩa tiêu diệt.
    3. Dùng những khúc sách song hành (nếu có)
    Nên nhớ rằng một vật có thể có hai nghĩa trong hai tỉ dụ khác nhau, và phải cẩn thận. Đừng tưởng tượng quá đến độ đưa ra những lời giải kỳ cục. Trong Mat Mt 11:29 Chúa Giê-xu nói, “Hãy mang lấy ách của ta. ” Rõ ràng đó là một ẩn dụ. Nhưng nó có nghĩa gì? Chúng ta không cần suy nghĩ để tìm một nghĩa bí ẩn. SaSt 27:40, EsIs 47:6, Gie Gr 27:8, 28:14 đã chỉ rõ ý nghĩa việc mang ách của một người khác.
    CÁC DỤ NGỮ TƯƠNG QUAN
    Trong hai loại dụ ngữ dưới đây, người ta dùng một từ ngữ thay thế cho từ ngữ khác tương quan với nó, người ta nhắc tới A nhưng kỳ thật có nghĩa B.
    1. Hoán dụ (Metonymy)
    Hoán dụ là một loại dụ ngữ gợi ra một ý nào đó bằng một từ có ý niệm liên tưởng tới ý đó. Có thể hai ý đó có tương quan nhân quả (Giop G 34:6 bản AV “Cung thương tích của tôi không chữa lành được. ” Chữ cung ở đây được dùng thay thế cho thương tích do cung gây ra); có thể là dấu hiệu của một cái gì đặc biệt (“chìa khóa của Đa-vít, ” KhKh 3:7, ở đây chìa khóa biểu hiện và thay thế cho chữ quyền lực); có khi tên tác giả thay thế cho tác phẩm (IICo 2Cr 3:15, “Mỗi khi đọc Môi-se, ” tên Môi-se thay thế cho tác phẩm của ông); hay địa danh thay thế cho nhân dân ở đó (Mat Mt 3:5, “Cả xứ Giu-đê đều đi ra, ” Giu-đê thay thế cho nhân dân của nó).
    Hãy xem thêm SaSt 49:10, PhuDnl 17:6, Gios Gs 10:21, ChCn 10:21, Gie Gr 21:7, OsHs 1:2, Cong Cv 6:7, 11:23, ICo1Cr 10:21.
    2. Cải dụ (Synecdoche)
    Cải dụ là một loại dụ ngữ dùng một từ bao quát thay cho một từ đơn lẻ hay ngược lại. Một phần thay thế cho toàn thể, hay toàn thể thay cho một phần; số ít thay cho số nhiều hay số nhiều thay cho số ít. SaSt 42:38 bản AV, “làm cho tóc bạc của ta đau lòng xuống âm phủ ” nhưng là tất cả con người ông. Một phần thay cho toàn thể. Gie Gr 25:29, “ta gọi một thanh gươm nghịch cùng dân cư trên đất. ” Một thanh gươm ở đây đại diện cho nhiều gươm, số ít dùng thay cho số nhiều.
    Nghiên cứu thêm Gios Gs 7:1, 11, SaSt 14:15, IISa 2Sm 16:21, Giop G 29:11, EsIs 2:4, Mat Mt 6:11, 12:40.
    Để giải hai loại hoán dụ và cải dụ, hãy theo hai điều chỉ dẫn dưới đây.
    a. Quan sát cẩn thận
    Hiểu theo nghĩa đen của chữ đó có vô lý hay lộn xộn không? EsIs 22:22 nói, “Ta sẽ đặt trên vai ngươi chìa khóa của nhà Đa-vít. ” Nếu hiểu nghĩa đen ta sẽ bật cười, nhưng đó là một dụ ngữ chỉ thế lực quyền hành.
    b. Dùng văn mạch và hoàn cảnh trong đoạn văn để tìm nghĩa bóng
    PhuDnl 19:15 nói về “Miệng của hai người chứng. ” Nghiên cứu văn mạch, miệng có nghĩa gì? nay thay thế cho “nói, làm chứng”.
    CÁC LOẠI DỤ NGỮ KHÁC
    1. Hô ngữ (Apostrophe)
    Đây là một lối nói trực tiếp với người hay vật vắng mặt tưởng tượng. Thi Tv 68:16, “Hỡi các núi có nhiều chót, sao các ngươi ngó cách ganh ghét? ” Tác giả nói với núi như là chúng có thể nghe được. EsIs 54:1, “Hỡi kẻ son sẻ, hãy hát ”; văn mạch cho thấy rằng Chúa nói với một dân tộc, không phải với một người đàn bà. Hô ngữ là một cách nói linh hoạt để thêm sức sống cho chữ viết. Thường thì nghĩa nó đã rõ ràng như vậy và văn mạch cũng cho biết đó không phải là nghĩa đen, nên việc giải nó không có gì khó khăn. Xem IISa 2Sm 18:33, IVua 1V 13:2, EsIs 14:12, Gie Gr 22:29, 47:6, Exe Ed 37:4. Các tiên tri Cựu Ước thường hay dùng loại hô ngữ nầy.
    2. Nhân cách hóa (Personification)
    Nói về một vật hay sự việc như là một người, nghĩa là gắn nhân tính cho những sự vật không phải là người. Thi Tv 98:8, “Nguyện các sông vỗ tay. ” Tác giả biết rằng sông có tay. Ông chỉ dùng một lời bóng bẩy, linh động để nói rằng thiên nhiên cũng được phước do sự hiện diện của Chúa.
    Nhân cách hóa thường được dùng chung với hô ngữ. Chúng ta đọc trong PhuDnl 32:1, “Hỡi các từng trời, hãy lắng tai ” và trong EsIs 44:23, “Hỡi các từng trời, hãy hát. ” Vì nghĩa đen không thể nào có và thường là khôi hài, nên ta nhận ra nghĩa bóng không khó. Nhưng làm sao để giải nó? Xem Thi Tv 19:2: “Ngày này giảng cho ngày kia. ” Ngày không nói được nhưng trong câu 1 các động từ rao truyền và giải tỏ song hành nhau, và cả đoạn nói rằng thiên nhiên bày tỏ Thượng Đế và công việc của Ngài. Như vậy văn mạch làm sáng tỏ ý nghĩa.
    Xem thêm Gios Gs 24:27, Thi Tv 77:16, 114:3, ChCn 1:20, 6:22, Gie Gr 14:7, 46:10, Mat Mt 6:34, Gia Gc 1:15.
    3. Ngoa dụ (Hyperbole)
    Đây là lời nói cố tình phóng đại để nhấn mạnh. Cả người viết cũng như người đọc đều phải nhận biết đó là cố ý. Nếu không độc giả sẽ tưởng tác giả đánh lừa hay coi thường sự thật. Khi tác giả Thi Thiên nói, “Những suối lệ chảy từ mắt tôi ” (Thi Tv 119:136), ông không nói theo nghĩa đen. Suối không thể nào chảy trong mắt được. Ông hết sức buồn vì người ta không chịu giữ luật Thượng Đế; dụ ngữ nầy diễn tả niềm đau vô hạn của ông.
    Lời Chúa nói về những người bị đày khỏi xư, “tiếng lá khua sẽ làm cho họ chạy trốn ” (LeLv 26:36), có phải là nghĩa đen không? Hẳn là không, đây chỉ là nhấn mạnh hoàn cảnh khốn khó khi bị lưu đày: Họ luôn luôn sống trong nguy nan sợ hãi.
    Cũng hãy đọc PhuDnl 1:28, IVua 1V 1:40, IISa 2Sm 1:23, Thi Tv 119:20, Gie Gr 19:4, 23:9, GiGa 21:25.
    4. Vấn dụ (Interrogation)
    Dụ ngữ nầy là một câu hỏi đặc biệt - câu hỏi chỉ có một câu trả lời. Vì câu trả lời đã rõ ràng, nên người viết không cần phải viết ra. Trong Gie Gr 32:27, Thượng Đế hỏi, “Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của mọi xác thịt, có điều gì quá khó cho ta chăng? ” Đây không phải là câu hỏi để thảo luận. Độc giả không thể nói, “Có thể có và có thể không.” Chỉ có một câu trả lời là không. Câu hỏi đó nói cùng một ý với Giê-rê-mi trong câu 27 cùng chương, “Không có sự gì quá khó cho Ngài. ” Trong câu 27 Chúa cũng nói một câu tương tự, nhưng bằng cách đặt câu hỏi để làm nổi bật điểm chính ấy bằng cách tự trả lời trong trí, không phải là nghe Chúa trả lời.
    Vấn dụ, có thể dùng cho những mục đích khác nhau. Có khi nó muốn lưu ý một điều gì đó, có khi nó giới thiệu một đề tài. Thi Tv 8:4. “Loài người là chi mà Chúa nhớ đến? ” Gie Gr 23:29, “Lời ta há chẳng như lửa sao? ” Thông giải những vấn dụ không có gì khó khăn. Chỉ cần đổi câu hỏi ra câu xác định là thấy nghĩa ngay. Ví dụ, lời ta giống như lửa.
    Nghiên cứu thêm Giop G 21:22, Gie Gr 2:11, 13:23, 30:6, AmAm 3:3-4, ApOv 1:5, Mat Mt 7:16, ICo1Cr 10:22.
    5. Châm biếm (Irony)
    Dụ ngữ này khác với những loại khác, vì nó nói ngược lại với ý nó muốn nói. Nó được dùng để nhấn mạnh. Cũng như ngoa dụ, người nghe có thể nhận thấy ngay nên không phải là chuyện lừa gạt. Thường thường giọng người nói cho biết ngay đó là châm biếm. Nhưng vì Kinh Thánh là chữ viết không phải là tiếng nói, nên chúng ta khó nhận ra châm biếm.
    Trong IISa 2Sm 6:20, vợ vua Đa-vít nói, “Hôm nay vua Y-sơ-ra-ên, được vinh hiển thay. ” Lời nói tiếp theo cho thấy bà ấy muốn nói vua tự làm nhục mình. Trong IVua 1V 22:15, vị tiên tri của Chúa tiên báo sự thành công của cuộc viễn chinh, giống y như các tiên tri giả tiên đoán. Tuy nhiên, rõ ràng là ông ấy nói châm biếm, vì văn mạch cho thấy vị tiên tri biết là nó sẽ thất bại. Nếu câu 15 không phải là châm biếm, thì vị tiên tri đã nói dối.
    Thật khó biết được một đoạn văn châm biếm, nhưng phần nhiều đều tỏ rõ. Khi nào bạn thấy không chắc, thì hãy suy nghĩ cả hai lối. Hãy xét nó như một câu thật tình và coi thử nó có hợp lý trong văn mạch không, rồi sau đó lại xét nó như một câu châm biếm. Thường thường, nó hiện rõ nghĩa để ta lựa chọn.
    Xem thêm Dan Ds 24:11, IIVua 2V 18:27, Giop G 12:2, 38:21, XaDr 11:13, ICo1Cr 4:8, IICo 2Cr 11:19.
    Còn có ba thứ dụ ngữ nữa ít khi dùng nên không quan trọng bằng.
    Uyển ngữ (euphemism) là thay thế một tiếng tục hay một tiếng bị kiêng kỵ, bằng một tiếng thanh, nhẹ nhàng hơn, Cong Cv 7:60 dùng chữ “người ngủ ” thay vì người chết. Cac Tl 19:22 dùng “để chúng ta biết hắn ” thay cho đồng tính luyến ái.
    Giảm ngữ (Litotes) nói một điều gì bằng cách phủ nhận phản nghĩa của nó, như ta nói không xa lắm khi muốn nói là gần. Trong Thi Tv 51:17 Chúa không “khinh dể ” có nghĩa là Chúa chấp nhận. Trong ISa1Sm 16:8 “Sẽ không đâm hai lần ” có nghĩa là sẽ giết bằng nhát gươm đầu tiên.
    Thặng ngữ (Pleonasm ) dùng những tiếng dư thừa, như trong IISa 2Sm 7:22, “chúng ta nghe bằng tai chúng ta ”, hay PhuDnl 3:27, “hãy lấy mắt ngươi mà nhìn nó. ” Một số bản dịch bỏ những chữ thừa đi.
    Các dụ ngữ làm tăng vẽ đẹp, sự sinh động và nhấn mạnh cho ngôn ngữ. Nếu chúng ta nhận ra và giải thích chúng trong Kinh Thánh, Lời Thượng Đế sẽ đến với chúng ta mạnh mẽ và trong sáng hơn. Biết được chúng sẽ giúp chúng ta hiểu được nhiều câu có vẻ như mâu thuẩn. Lời Chúa thật giàu ý nghĩa. Hãy cám ơn Ngài vì những dụ ngữ giúp ta hiểu thêm ý nghĩa đó.
    BIỂU TƯỢNG
    (Symbols )
    Biểu tượng là một cái gì gợi ra hay tượng trưng cho một ý nghĩa nào đó ngoài nghĩa chính của nó. Nó có thể là một vật tự nhiên như con bồ câu, hoặc một vật chế tạo, như thập tự giá. Trong đời sống thường ngày của chúng ta hay dùng biểu tượng. Người ta mang huy chương phù hiệu để biểu hiệu cho các thành tích của mình. Các gián điệp và thám tử dùng những chữ có nghĩa đặc biệt chỉ có người trong bọn mới hiểu.
    Kinh Thánh cũng dùng biểu tượng. Chúng có thể là tự nhiên hay siêu nhiên. Có thể là những sự vật có thật hay chỉ thấy trong thị tượng. Chúng có thể là đồ vật (như muối hay chân đèn), hành động (như ăn cuốn sách hay xây một thành phố tí hon), nghi lễ (như Báp-têm hay Vượt Qua), vật liệu (như vải trắng); con số, màu sắc, tên (như Sô-đôm và Ai-cập dùng cho Giê-ru-sa-lem), kim khí (như vàng hay đồng), nữ trang (như ngọc châu) sinh vật (như sư tử hay bồ câu) hoặc các vật khác.
    Biểu tượng có thể minh giải chân lý mà cũng có thể che khuất nó. Nó che khuất chân lý đối với những người không hiểu ý nghĩa tượng trưng mà chỉ thấy nghĩa tự nhiên. Kinh Thánh thường không chỉ rõ biểu tượng mà để cho người đọc tự nhận ra. Vì vậy chúng ta phải tra cứu cẩn thận, không bỏ qua biểu tượng nhưng cũng không phải thấy biểu tượng ở những nơi không có nó. Biểu tượng là một phương tiện diễn đạt chân lý, nhưng chúng ta có thể phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng nếu chúng ta không nhận định đúng.
    Các ẩn dụ của Kinh Thánh thường là những biểu tượng, ví dụ, “đây là thân thể ta… đây là máu huyết ta ” (Mac Mc 14:22, 24). Chúng ta có thể nhận thấy ở đây là bánh biểu tượng của thân thể Chúa và rượu là biểu tượng cho máu huyết Ngài. Nhìn vào văn mạch ta thấy ngay ý nghĩa căn bản: Vì thân thể Ngài bị tan nát và máu Ngài bị đổ ra cho đến chết, chúng ta bẻ bánh và rót rượu để tượng trưng cho sự chết đó. Nhưng còn ý nghĩa khác nữa. Tại sao chúng ta ăn và uống? Có nhiều khúc, như GiGa 6:32-35, 48-63, 7:37-39, cho thấy rằng ăn và uống là những hành động tượng trưng. Tượng trưng cho cái gì? Nếu chúng ta hiểu lời Chúa bảo hãy ăn thịt Ngài và uống máu Ngài theo nghĩa đen (GiGa 6:53), là Ngài đã buộc chúng ta phải ăn thịt người, một trong những hành động sa đọa nhất của con người tội lỗi. Biết được biểu tượng, ta có thể tránh được lỗi lầm tai hại.
    Cùng một vật có thể tượng trưng cho nhiều thứ, như nước tượng trưng cho cả tẩy sạch và hủy diệt. Chúng ta đừng nên cho rằng ý nghĩa biểu tượng trong một đoạn thể nào thì trong các đoạn khác cũng như vậy. Màu đỏ đối với chúng ta là màu của máu và tượng trưng cho sự chết chuộc tội của Chúa Giê-xu. Nhưng chúng ta sẽ khá ngạc nhiên khi tra cứu tất cả những câu có chữ này và những chữ đồng nghĩa như đỏ điều, đỏ sặm. Trong EsIs 1:18 chỉ tội lỗi 63:2 chỉ sự đoán phạt, nó thay tội lỗi; trong ChCn 23:31, rượu màu đỏ; trong Mat Mt 16:2, là màu trời, và trong NaNk 2:3 là lính tráng. Hình như không có một đoạn nào nói rõ màu nầy tượng trưng cho sự chết của Chúa. Nếu chúng ta tin nghĩa đó, chúng ta cứ việc tin nhưng không có bằng chứng rõ ràng của Kinh Thánh, như vậy chúng ta cho nghĩa đó là có thể có chứ không chắc chắn. Còn con rắn có nghĩa gì? (GiGa 3:14, KhKh 20:2).
    CÁC CON SỐ TƯỢNG TRƯNG
    Kinh Thánh dùng nhiều con số theo nghĩa tượng trưng. Con số nổi bật nhất là số bảy. Không có câu nào nói nó là biểu tượng, nhưng khi chúng ta nghiên cứu các câu có dùng nó thì chúng ta cảm thấy nó hàm ý cao hơn là nghĩa đen. Nếu đem xét hết các câu đó thì rất khó - vì có hơn 600 câu - nhưng bạn có thể xem những câu sau đây: SaSt 29:18, 41:2, 18, 50:10, XuXh 12:15, 25:37, LeLv 4:6, 26:24, Dan Ds 23:1, PhuDnl 28:7, Gios Gs 6:4, Ru R 4:15, Thi Tv 119:164, ChCn 24:16, 26:16, XaDr 4:2, Mat Mt 12:45, Cong Cv 6:3KhKh 1:4. Những câu nầy cho thấy con số bảy thường mang theo ý nghĩa trọn vẹn, hoàn thành, hay toàn thể. Tuy nhiên có những câu không mang ý nghĩa đó, vì vậy chúng ta phải xét cẩn thận.
    Những con số khác được dùng theo nghĩa tượng trưng là số ba (thường liên hệ đến Ba Ngôi - Dan Ds 6:24-27, EsIs 6:3, Mat Mt 28:19, IICo 2Cr 13:14, KhKh 4:8), số bốn (thường liên hệ đến toàn thể trái đất hay tạo vật - Gie Gr 49:36, Exe Ed 37:9, EsIs 11:12, LuLc 13:29, KhKh 7:1), số mười hai (thường liên hệ đến toàn thể dân Chúa - SaSt 49:28, XuXh 28:21, Gios Gs 4:9, Mat Mt 10:1, KhKh 21:12, 14), và số bốn mươi (thường liên hệ đến sự thử thách hay phán xét - SaSt 7:4, XuXh 24:18, Dan Ds 14:34, PhuDnl 8:1-5, Mat Mt 4:2).
    Những con số nầy có lẽ một số con số nữa được dùng với nghĩa tượng trưng trong Kinh Thánh, nhưng đừng nên nghĩ rằng chỗ nào có chúng đều có nghĩa tượng trưng. Nếu không, bảy con trai của Gióp sẽ có nghĩa trọn vẹn và ba con gái sẽ chỉ về Ba Ngôi, ba chữ thánh thay, thánh thay, thánh thay, trong EsIs 6:3 có thể tượng trưng cho Ba Ngôi, nhưng ba tháng Môi-se được cha mẹ đem giấu (Cong Cv 7:20) và ba ngày Phao-lô không thấy ánh sáng (9:9) dường như chẳng có nghĩa gì rõ rệt.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN.
    Để tìm hiểu những biểu tượng trong Kinh Thánh, ta nên theo một số qui tắc hướng dẫn.
    1. Nghiên cứu cách Kinh Thánh giải thích biểu tượng
    Chú ý chữ sư tử trong IPhi 1Pr 5:8 và mưa trong EsIs 55:10-11. Trên kia chúng ta thấy chữ sương móc trong OsHs 6:414:15, và mỗi tỉ dụ có ý nghĩa tượng trưng khác nhau. Nếu đó là biểu tượng tổng quát, như màu sắc, hãy dùng sách phù dẫn để tìm những câu tham chiếu càng nhiều càng tốt và xem Kinh Thánh đưa ra bao nghĩa tượng trưng. Có thể bạn cần giữ một danh sách những biểu tượng mà bạn tìm được trong khi nghiên cứu.
    2. Khi nghiên cứu những sự vật thiên nhiên, hãy ghi chú những đặc tính thiên nhiên của chúng
    Nghĩa tượng trưng sẽ tìm thấy trong đó; ví dụ, chiên con gợi ý nhu mì, muối nói về sự bảo tồn, con heo chỉ sự dơ dáy. Xem đặc tính nào chỉ ý nghĩa trong đoạn văn bạn đang đọc.
    3. Nghiên cứu bản văn
    Bản văn là nguồn trợ lực chính để quyết định ý nghĩa biểu tượng. Chẳng hạn, Gie Gr 24:1-3 tả thị tượng của Giê-rê-mi về hai giỏ trái vả, một giỏ trái tốt, một giỏ trái xấu. Trong câu 4-10, Chúa giải nghĩa biểu tượng: Trái vả biểu tượng cho hai nhóm dân. Những người đi đày là trái vả tốt; vua và những người còn ở lại trong thành phố là trái xấu.
    4. Tránh gán cho nó ý nghĩa chỉ có trong đầu bạn mà không ra từ Kinh Thánh
    Nếu không có bằng chứng rõ ràng thì cùng lắm bạn chỉ có thể nói là nó có thể có nghĩa nầy nọ, chứ không thể võ đoán rằng ý nghĩa nó là thế nầy.
    Một số câu có lẽ có biểu tượng trong đó là XuXh 13:21, Thi Tv 69:2 với EsIs 44:3, Exe Ed 1:13 với HeDt 12:29, Exe Ed 37:1-4, MiMk 4:13 với Thi Tv 107:16, Mat Mt 17:2 với KhKh 19:8.
    TIÊU BIỂU
    Tiêu biểu (types) là một lãnh vực quan trọng và phức tạp trong viêc giải kinh. Các học giả Kinh Thánh nhiều khi không đồng ý nhau về những vấn đề liên quan đến các tiêu biểu. Các tiêu biểu làm nổi bật nhiều khía cạnh của chân lý quý báu và cần yếu.
    Có nhiều loại tiêu biểu: người (như A-đam, Môi-se, Ê-li, Mên-chi-xê-đéc), biến cố (nước lụt, treo con rắn bằng đồng lên), vật dụng (bàn thờ dâng tế, hương, chiên con), nơi chốn (Ca-na-an, Giê-ru-sa-lem), và chức vụ (tiên tri, tế lễ).
    Tiêu biểu có thể định nghĩa là những điều được Thượng Đế định đặt trong Cựu Ước để dự báo về thực tại thuộc linh trong Tân Ước. Ba điểm then chốt là:
    1. Tiêu biểu do Thượng Đế định đặt. Chúng ta phải thấy bằng chứng trong Kinh Thánh về tương quan giữa tiêu biểu và sự thành nghiệm của nó. Nếu Tân Ước có đề cập đến những điều song hành với sự kiện nào đó trong Cựu Ước thì không còn gì hoài nghi cả. Nếu Tân Ước không nhắc tới, thì chúng ta phải cẩn thận. Trong trường hợp đó, mối tương liên phải rõ ràng để không có gì ngờ vực được. Có thể có những hình ảnh song song nhỏ giữa Cựu Ước và Tân Ước mà người giàu tưởng tượng mới có thể tìm thấy dễ dàng. Tuy nhiên giải kinh không thể dựa vào tưởng tượng. Chúng ta phải xem xét bằng chứng và chỉ xem là tiêu biểu những điều nào có những song hành rõ ràng không thể do tình cờ được.
    2. Tiêu biểu ở trong Cựu Ước, điều thành nghiệm (gọi là kháng biểu-antitype ) ở trong Tân Ước. Điều này phân biệt tiêu biểu với các loại dụ ngữ (figures) khác như biểu hiệu (symbols) và dụ ngôn (parables), những loại nầy có thể áp dụng ý nghĩa thuộc linh cho sự việc xảy ra cùng trong lúc ấy.
    3. Tiêu biểu là “cái bóng ”. Có thể là một sự vật hữu hình, như lều tạm chẳng hạn; tuy nhiên đó chỉ là cái bóng nếu đem so với thực tế thuộc linh thành nghiệm của nó. Trong một bức hình của cái cây, không có “cây thực tế” trong tấm hình, dầu có những “thực tế giấy”, “thực tế hóa chất”; tuy nhiên tấm hình vẫn giống cây thật. Cũng vậy, lều tạm là có thật - nó là thực tế hữu hình và có ý nghĩa riêng - nhưng nó cũng có ý nghĩa chỉ về thực tế Chúa Giê-xu Cơ-Đốc là đường dẫn đến Thượng Đế.
    Một tiêu biểu thường hay gồm có một vài biểu tượng, như vậy ta giải thích chúng trong ý nghĩa tiêu biểu. Ví dụ viên thượng tế là tiêu biểu cho Chúa Giê-xu Cơ-Đốc. Vậy áo của ông tượng trưng cho cái gì (XuXh 28:39, HeDt 4:14)? Tân Ước có thể không áp dụng biểu tượng khi nói đến tiêu biểu đó.
    Vấn đề trước tiên và có lẽ là vấn đề chính yếu, là làm sao nhận ra những tiêu biểu không được nhắc đến trong Tân Ước. Các học giả Kinh Thánh có hai quan điểm cực đoan về vấn đề nầy. Một số chủ trương rằng chúng ta chỉ nên xem và tiêu biểu những gì Tân Ước cho là tiêu biểu. Quan điểm nầy phát hiện từ niềm tin quyết rằng Thượng Đế đặt ra các tiêu biểu, khi chúng ta gọi các điều khác là tiêu biểu, chúng ta chỉ dùng óc tưởng tượng chứ không phải giải kinh. Một số khác chủ trương rằng mọi điều trong Cựu Ước đều chỉ về Tân Ước: như vậy ý nghĩa của tiêu biểu có thể tìm thấy trong từng chi tiết. Ý nghĩa đã có ở đó, chúng ta chỉ cần tìm ra thôi.
    Một nguyên tắc tốt trong việc giải kinh là chúng ta nên tìm ra ý nghĩa trong Kinh Thánh chứ không phải gán ý nghĩa cho nó. Vì vậy, tốt hơn ta nên chọn lập trường trung dung về vấn đề tiêu biểu, chấp nhận những tiêu biểu có đề cập trong Tân Ước và sự kiện nào trong Cựu Ước có những thực tế song hành rõ ràng trong Tân Ước không phải do tình cờ. Dĩ nhiên, người học Kinh Thánh phải sử dụng óc phán đoán với tinh thần cầu nguyện để tránh thái độ giáo điều hay chỉ trích những người khác ý kiến với mình.
    Chúa Giê-xu đã giải thích cho hai môn đồ (LuLc 24:47) những điều chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh Cựu Ước. Trên đoạn đường buổi chiều Chúa Nhật hôm đó, Ngài không thể nào bàn luận hết mọi đoạn (mọi việc, mọi người) trong Cựu Ước. Không thể gán ép cho câu này ý nghĩa là mọi điều trong Cựu Ước đều là tiêu biểu, nhưng nó chứng tỏ rằng Cựu Ước đầy dẫy hình ảnh Chúa Giê-xu Cơ-Đốc.
    THÔNG GIẢI TÂN ƯỚC
    Để giúp chúng ta nhìn thấy những sự kiện song hành, chúng ta cần quan sát cách Tân Ước giải thích một số tiêu biểu.
    1. Treo con rắn bằng đồng lên đồng vắng (GiGa 3:14-15).
    Trước hết chúng ta liệt kê hết các sự kiện trong Dân 21, rồi ghi chú những điều song hành với chân lý Tân Ước.
    Dan Ds 21:4-9 GiGa 3:14-15
    Dân chúng lằm bằm Không nhắc tới
    Thượng Đế sai rắn lửa đến, Không nhắc tới
    nhiều người chết
    Dân chúng xưng nhận, chúng tôi Không nhắc tới
    phạm tội
    Môi-se cầu nguyện cho họ Không nhắc tới
    Thượng Đế ra lệnh cho ông Thượng Đế ra lệnh cho ông Chúa Giê-xu Cơ-Đốc bị
    làm một con rắn lửa làm một con rắn lửa treo lên
    Môi-se làm con rắn Môi-se làm con rắn bằng Không nói đồng là biểu
    bằng đồng treo lên cây sào đồng treo lên cây sào tượng gì
    Ai nhìn đều được lành Hễ ai tin thì được sự sống đời đời.
    Hãy để ý rằng Tân Ước bỏ qua hầu hết các chi tiết trong biến cố của Cựu Ước. Điều nầy không có nghĩa là chúng không có ý nghĩa tiêu biểu, nhưng nó cho thấy rằng sự giải kinh trong Tân Ước không quan tâm tới chúng. Tân Ước chỉ quan tâm tới sự kiện chính yếu: Con rắn được treo lên, dân chúng nhìn vào nó được lành. Một số học giả Kinh Thánh cho rằng những chữ Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào cho ta có quyền tìm ý nghĩa trong các chi tiết khác. Có lẽ như vậy, nhưng chúng ta nên nhớ rằng chính Kinh Thánh không cho ta biết điều đó.
    2. Lễ Vượt Qua
    Chúng ta liệt kê các đặt tính của tiêu biểu và cách thông giải của Tân Ước.
    XuXh 12:3-13 ICo1Cr 5:7-8
    Mỗi nhà dâng một Chúa Giê-xu Cơ-Đốc
    chiên con làm sinh tế là sinh tế
    Một con chiên hay dê đực một Không nhắc tới
    tuổi vào ngày thứ mười và giữ
    tới ngày thứ mười bốn
    Con chiên bị giết vào buổi tối Không nhắc tới
    Rảy máu lên cột cửa và đà cửa Không nhắc tới
    Thịt đem nướng ăn Không nhắc tới
    Ăn thịt với bánh không men và rau đắng Ăn thịt với bánh không men Tín đồ Cơ-đốc phải
    và rau đắng ăn với bánh không men
    của thành tâm thực ý
    Đồ ăn thừa đem đốt Không nhắc tới
    Ăn vội vã-lưng thắt, tay cầm gậy, Không nhắc tới
    chân mang giày
    Thượng Đế thấy máu và vượt qua Không nhắc tới
    Hãy để ý cách thông giải của chính Kinh Thánh có nhiều điều song hành rõ ràng mà Kinh Thánh không nói tới: sinh tế là giống đực, bị giết vào buổi chiều; Thượng Đế vượt qua khi thấy máu sinh tế bôi trên cửa. Có nhiều điểm song hành khác nữa, không có nơi nào trong Kinh Thánh nhắc đến.
    CÓ THỂ CÓ NHỮNG TIÊU BIỂU TA KHÔNG NHÌN THẤY
    Chúng ta cần xét đến những sự việc mà nhiều học giả xem là tiêu biểu mà Tân Ước không nhắc tới. Một trong những sự việc quan trọng là việc Áp-ra-ham dâng I-sác trên núi Mô-ri-a chép trong SaSt 22:1-24. Sự kiện nầy rất quen thuộc. Thượng Đế bảo Áp-ra-ham lên núi dâng con làm sinh tế. Áp-ra-ham vâng lời: Ông lập một bàn thờ trên núi và đặt I-sác lên để giết. Rồi Chúa bảo ông dừng tay, nói rằng hành động của ông đã chứng tỏ lòng vâng phục của ông. Chúa dự bị một vật khác thay cho I-sác, một con dê rừng, Áp-ra-ham đã dùng nó để dâng sinh tế thay cho I-sác trước khi dẫn I-sác trở về nhà. Cốt lõi câu chuyện là Chúa thử thách Áp-ra-ham và tinh thần vâng phục của ông.
    Tân Ước bình luận chuyện nầy hai lần. Trong HeDt 11:17 nói Áp-ra-ham chịu thử thách và bởi đức tin ông đã hy sinh I-sác. Ông tin rằng Thượng Đế có thể đem đứa con lời hứa trở về từ cõi chết, nói theo nghĩa bóng, ông có thể nhận lại I-sác, khi I-sác sống lại. Gia Gc 2:21-22 nói rằng Áp-ra-ham được xưng công bình nhờ hành động dâng I-sác, và bởi hành động đó đức tin ông được trọn vẹn. Không có đoạn nào nói rằng sự việc trên là dự tả sự việc Thượng Đế hiến dâng con Ngài là Chúa Giê-xu Cơ-Đốc trên thập tự giá. Sứ điệp ta nhận được ở đây nói về kinh nghiệm của Áp-ra-ham: ông chịu thử thách, chứng tỏ lòng tin và tinh thần vâng phục. Dầu ở đây nói đến một sinh tế thay thế trên bàn thờ, đó là thay thế cho người con, không phải người con thay thế làm sinh tế. Điều này đảo ngược lại kháng biểu (anti-type, điều thành nghiệm của tiêu biểu) trong đó Chúa Giê-xu Cơ-Đốc hi sinh cho tội nhân.
    Vậy nếu chúng ta nói rằng điều nầy tiêu biểu sự chết của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc, chúng ta nói rằng có thể có nghĩa như vậy, chứ không phải là chắc chắn như vậy. Chúng ta phải nhấn mạnh điều gì Kinh Thánh nhấn mạnh. Cả Sáng-thế-ký và các đoạn Tân Ước đều nhấn mạnh sự thử thách và tinh thần vâng phục của Áp-ra-ham. Biến sự hi sinh I-sác thành sự chết của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc là thay đổi điểm nhấn mạnh này. Chúng ta có thể nói tới sự hy sinh của Áp-ra-ham khi ông dâng con mình làm sinh tế, nhưng sự thử thách và tinh thần vâng phục của ông ăn khớp với kháng biểu, vì Thượng Đế là Cha không thể nào chịu thử thách hay vâng phục một ai lớn hơn Ngài.
    Một câu chuyện phổ thông nữa là Giô-sép. Từ khi còn nhỏ cho đến khi làm quan cai trị xứ Ai-cập, đời ông có những chi tiết song hành lạ lùng với đời sống Chúa Giê-xu Cơ-Đốc. Chúng ta có thể nghiên cứu Sáng 37-50, ghi ra những chi tiết và xem thử những điểm song hành có phải là trùng hợp ngẫu nhiên không. Nếu không, chúng ta có thể có lý do chính đáng để xem Giô-sép là tiêu biểu của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc.
    Trong GaGl 4:21-31 một câu chuyện Cựu Ước được trình bày theo ý nghĩa thuộc linh hay tiêu biểu. Một số học giả cho đây là phúng dụ (allegory) hơn là tiêu biểu, nhưng có vài điểm trong câu chuyện của A-ga và Ích-ma-ên, Sa-ra và I-sác được đem ra đối chiếu song hành. Như vậy chúng ta kết luận rằng tiêu biểu không cần phải chỉ có một điểm; tuy nhiên đó là cách Tân Ước thường giải thích chúng.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN
    Chúng ta cần dựa vào một số nguyên tắc khi nghiên cứu các tiêu biểu:
    1. Chỉ trừ một số thị tượng, các tiêu biểu là những việc thực sự xảy ra trong lịch sử, các kháng biểu cũng vậy; thường có một căn bản lịch sử. Lễ Vượt Qua trong lịch sử Y-sơ-ra-ên chỉ về sự chết của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc trong lịch sử (nhưng có một ý nghĩa thuộc linh).
    2. Tiêu biểu là hình ảnh vật chất dự tả những thực tế thuộc linh. Ví dụ trong GiGa 3:14 việc nhìn cụ thể con rắn tiêu biểu cho việc nhìn bằng tâm linh qua đức tin.
    3. Sự thành nghiệm cao hơn tiêu biểu. Xem GiGa 1:29. Chiên con của Thượng Đế cao hơn chiên con thật biết chừng nào!
    4. Trong sự so sánh có một trung tâm điểm, đôi khi còn có những chi tiết phụ nữa. Chúng ta đã thấy điều nầy khi bàn về 3:14-15ICo1Cr 5:7-8.
    5. Sự thành nghiệm thuộc linh ra từ ý nghĩa tự nhiên của tiêu biểu. Ý nghĩa song hành phải tự nhiên, không phải liên kết gượng ép hay tưởng tượng: “Như Môi-se - thì Con Người. ” Vài đoạn trích sau đây chứng tỏ nhiều nhà giải kinh đã không tôn trọng nguyên tắc nầy.
    Một người viết về con chiên lễ Vượt Qua: “Con chiên bị bắt vào ngày thứ mười và được giữ đến ngày thứ mười bốn, chứng tỏ rằng Chúa Giê-xu Cơ-Đốc đã định trước trong cõi đời đời, nhưng đến kỳ Ngài mới tỏ mình ra cho chúng ta.” Có bằng chứng gì về điều nầy không?
    Một người khác lấy một số vật thanh sạch làm tiêu biểu (LeLv 11:4-6); “Hành động nhai lại có lẽ là cách mô tả sự giữ mình tốt, như vậy biểu minh cho một người Cơ-đốc chân thật. Một người Cơ-đốc chân thật phải ăn nói đúng đắn (nhai lại), và bước đi đúng đắn (móng rẽ ra). Rồi nữa, “ Nhai lại chỉ sự suy gẫm Kinh Thánh nói về những điều thuộc về Thượng Đế và những điều đẹp lòng Ngài. Nó chỉ về sự suy nghĩ kỉnh kiền như trong Thi Tv 1:2 v.v. nếu chúng ta bước đi với Chúa và nói về những điều thuộc về Thượng Đế, thì chúng ta là những tín đồ ‘thanh sạch’, và được chấp nhận trước mặt Thượng Đế.” Trong câu 7 của chương Kinh Thánh trên có nói con heo có móng rẽ nhưng không nhai lại. Nếu vậy, con heo có bước đi “thanh sạch” không, dầu nó nói không đúng đắn? Chúng ta hãy coi chừng những ý cưỡng ép.
    6. Đừng căn cứ tiêu biểu trên những thứ như màu sắc, con số, vật liệu hình dáng v.v. Nếu có một tiêu biểu và có một chi tiết như con số ăn khớp với nó khít khao, cũng vẫn nên để tiêu biểu dựa vào cái gì căn bản hơn là con số.
    7. Đừng nên chủ trương giáo điều khi Tân Ước không nói rõ. Đây là một số đoạn có thể có tiêu biểu hoặc không. Hãy nghiên cứu cẩn thận.
    SaSt 2:2-3: Sự an nghỉ của Thượng Đế có phải là tiêu biểu cho sự an nghỉ của người Cơ-đốc trong Chúa Giê-xu Cơ-Đốc không?
    7:1-5: Chiếc tàu là tiêu biểu cho sự cứu rỗi trong Chúa?
    XuXh 30:17-21: Chậu rửa là tiêu biểu cho sự rửa sạch tội?
    LeLv 4:1-35 Của lễ chuộc tội tiêu biểu cho sự chuộc tội của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc?
    PhuDnl 18:15: Môi-se là tiêu biểu về Chúa Giê-xu Cơ-Đốc là vị tiên tri?
    IVua 1V 17:12: Hai cây gậy tiêu biểu cho thập tự giá?
    HeDt 9:24: Lều tạm tiêu biểu cho Chúa Giê-xu Cơ-Đốc, con đường đến Thượng Đế?
    TIÊU BIỂU VÀ BIỂU TƯỢNG
    Trước khi sang chương khác, tôi tóm tắt dưới đây những điểm khác biệt giữa biểu tượng và tiêu biểu, vì chúng thường trùng hợp nhau.
    1. Tiêu biểu là có thật (sự kiện lịch sử) còn biểu tượng có thể không.
    2. Tiêu biểu nằm trong Cựu Ước, sự thành nghiệm của nó ở trong Tân Ước. Biểu tượng không kể thời gian.
    3. Tiêu biểu là đặc biệt (một sự việc). Biểu tượng có thể tổng quát.
    4. Tiêu biểu có thể có vài chi tiết. Biểu tượng có một điểm chính thôi.
    5. Tiêu biểu có thể bao gồm nhiều biểu tượng.

    NGỤ NGÔN VÀ PHÚNG DỤ
    (Parables and Allegories )
    NGỤ NGÔN
    Ngụ ngôn thường được định nghĩa là một câu chuyện kể với mục đích đưa ra một chân lý về luân lý hay tâm linh. Đó là một chuyện thường có trên đời nhưng không thật sự xảy ra. Có người gọi ngụ ngôn là “một chuyện trần gian có nghĩa thiên thượng.” Chúng ta cũng có thể gọi nó là một tỉ dụ (simile) nới rộng vì nó cũng so sánh. Thường trong các sách Phúc Âm, Chúa Giê-xu mở đầu các ngụ ngôn bằng câu “Nước thiên đàng giống như …” (xem Mat Mt 22:1). Tuy nhiên nhiều ngụ ngôn không bắt đầu giống như vậy, như trong 21:33, “Hãy nghe lời ví dụ khác: Có một chủ nhà kia. ..”
    Trong Tân Ước có nhiều ngụ ngôn , nhưng hầu hết ở ba sách Phúc Âm đầu. Sách Phúc Âm Giăng không có ngụ ngôn nào, nhưng Giăng có ghi một số phúng dụ, như trong chương 10 và 15.
    Ngụ ngôn có ba yếu tố: khung cảnh, câu chuyện và ứng dụng. Một số ngụ ngôn của Chúa không có ghi khung cảnh, một số khác không có phần ứng dụng. Một vài ngụ ngôn chỉ kể chuyện, Chúa kể ngụ ngôn về Người Sa-ma-ri Nhân Từ để trả lời cho câu hỏi của vị luật sư, đến phút chót, Ngài ứng dụng sứ điệp (LuLc 10:25-37). Trong Mat Mt 21:33-41 khung cảnh là vụ tranh cãi về quyền hành, lời cảnh cáo về sự phán xét là phần ứng dụng. Trong 13:3-9LuLc 13:18-19 thiếu một vài yếu tố - trong phần đầu thiếu khung cảnh, phần sau thiếu cả khung cảnh lẫn phần ứng dụng. Nơi nào văn mạch cho biết khung cảnh và cách ứng dụng, thì việc giải ngụ ngôn dễ dàng hơn; nếu không có một hay cả hai yếu tố đó ta sẽ khó khăn hơn.
    Thường khung cảnh là chìa khóa mở vào câu chuyện. Ví dụ, trong 15:1-32, những lời phản đối của nhóm Pha-ri-si và các thầy thông giáo đã khiến Chúa kể ba ngụ ngôn. Cả ba ngụ ngôn đều xoay quanh bài học dạy rằng Thượng Đế vui mừng khi tội nhân ăn năn, như vậy không nên phản đối khi Chúa Giê-xu tiếp nhận họ.
    Các ngụ ngôn thường có một điểm chính. Chúng ta không cần phải tìm cho ra ý nghĩa trong mọi chi tiết nhưng tìm sứ điệp trung tâm. Chúng ta làm như vậy vì chính Chúa Giê-xu áp dụng cách đó cho các ngụ ngôn của Ngài. Trong 15:1-32, Chúa Giê-xu ứng dụng ngụ ngôn về Con Chiên lạc: “Trên trời sẽ vui mừng vì một tội nhân ăn năn hơn là chín mươi chín người công bình không cần ăn năn ” (c.7). Câu 10 cũng giải thích tương tự cho ngụ ngôn kế tiếp. Phần cốt lõi của Con Trai Phóng Đãng cũng ý như vậy, tuy có thêm nhiều chi tiết. Chúa giải thích ngụ ngôn Người Sa-ma-ri Nhân Từ như thế nào? Ngài để cho ông luật sư giải thích: Người Sa-ma-ri chứng tỏ là người lân cận. Chúa bảo, “Hãy đi và làm như vậy. ” Ngài chẳng nhắc gì đến ý nghĩa của tên cướp, hai người qua đường, con lừa, đồng tiền và chủ quán.
    Trong ngụ ngôn không phải lúc nào Chúa cũng chỉ nêu có một điểm. Ngài ứng dụng nhiều chi tiết trong ngụ ngôn về Người Làm Công Trong Vườn Nho cũng vậy (Ma 20). Trong khi chúng ta tìm hiểu những khác biệt của chúng, chúng ta vẫn cần nhớ rằng đó là ngoại lệ, qui luật chung là ngụ ngôn chỉ có một bài học chính.
    Trong thời sơ khai của Hội Thánh, một số nhà thần học hình bóng hóa các đoạn Kinh Thánh đã tìm ra những ý nghĩa lạ lùng trong các chi tiết ngụ ngôn. Origen là một trong các nhà thần học đó, ông đã đưa ra lời giải thích như sau về người Sa-ma-ri Nhân từ: A-đam là người bị lọt vào tay bọn cướp. Giê-ru-sa-lem tượng trưng cho thiên đàng, Giê-ri-cô là thế gian. Bọn cướp là ma quỉ và quỉ sứ, còn thầy tế lễ đại diện cho lụât pháp và người Lê-vi đại diện cho các vị tiên tri. Dĩ nhiên Chúa Giê-xu là người Sa-ma-ri, thân thể Ngài là con vật cỡi, Hội Thánh là quán trọ. Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con là hai đồng Đơ-ni-ê. Sự tái lâm của Chúa là lời hứa trở lại của người Sa-ma-ri. Sự giải nghĩa nầy ăn khớp với một số chi tiết, nhưng trong đoạn Kinh Thánh chẳng có một chút xíu nào gợi ý cho những lời giải thích đó. Như vậy lời giải của Origen không dựa căn bản trên Kinh Thánh, nếu chúng ta theo ông chúng ta sẽ đi lông bông.
    Có lẽ Chúa Giê-xu đã kể một số ngụ ngôn nhiều lần. Chuyện Con Chiên Lạc thấy có hai khung cảnh. Trong Ma 18 nó liên quan đến sự săn sóc của Thượng Đế đối với trẻ em, còn trong 15:1-32 thì lại liên hệ đến sự quan tâm Ngài đối với tội nhân. Tuy nhiên, cả hai trường hợp đều nhấn mạnh sự săn sóc yêu thương của Thượng Đế.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN
    1. Trước hết nghĩ đến nghĩa tự nhiên của câu chuyện
    Bài học thuộc linh phải căn cứ trên đó.
    2. Để ý cơ hội kể chuyện nếu có
    Ví dụ, hãy xét tình hình đã đưa đến ngụ ngôn ngắn Chúa kể trong nhà người Pha-ri-si (7:41-43). Bạn không cần phải bận tâm nếu đoạn sách không ghi rõ khung cảnh, vì bạn có thể nhờ những điều khác để hiểu ý nghĩa. Nếu có ghi rõ khung cảnh thì nó rất quan trọng; và bạn phải nhận ra tương quan giữa nó và sứ điệp.
    3. Kiểm tra ý nghĩa với giáo huấn trực tiếp của Kinh Thánh
    Vì ngụ ngôn là ngôn ngữ hình bóng, nên chúng ta không dùng chúng để thiết lập giáo lý; nhưng chúng xác nhận chân lý đã được trình bày ở nơi khác trong Kinh Thánh. Ví dụ, nếu chúng ta dùng ngụ ngôn Con Trai Phóng Đãng để qui định phương cách tội nhân trở về cùng Thượng Đế, thì chúng ta sẽ bảo chỉ cần ăn năn là đủ, không cần phải có sự chuộc tội của Chúa Cứu Thế.
    4. Nếu câu chuyện có những nan đề khó hiểu, hãy tìm ánh sáng trong bối cảnh văn hóa và lịch sử.
    Ví dụ, nhiều học giả biết rằng theo phong tục, người chủ tiệc cưới phân phát áo lễ cho khách đến dự. Điều nầy giải thích tại sao người không có áo lễ lại bị đối xử nghiêm khắc như thế (Mat Mt 22:11-13): Ông ta đã được cung cấp mà không chịu dùng.
    NHỮNG NGƯỜI LÀM CÔNG TRONG VƯỜN NHO
    Chúng ta thử áp dụng qui tắc hướng dẫn trên để giải ngụ ngôn những Người Làm Công Trong Vườn Nho (20:1-16).
    Trước hết theo nguyên tắc căn bản là đọc và quan sát khúc sách với cả văn mạch của nó. Vì câu 1 bắt đầu bằng chữ vả, chúng ta biết rằng ngụ ngôn liên hệ với chương 19. Để ý chữ cuối cùng của chương 19 và liên kết nó với câu 16 của chương 20. Trong mấy câu nầy, những chữ nào có ý nghĩa nhấ? Bạn có thấy những chữ đó nhiều lần trong câu chuyện không (xem c.8, 10, 12, 14)? Bạn có thấy mối liên hệ giữa chữ vả trong câu 20:1 với chữ như vậy trong 20:16 không?
    Tiếp theo, xem câu chuyện soi sáng hai câu nầy thể nào? Trong câu chuyện có điều gì chót trở thành đầu và đầu trở thành chót không? Dĩ nhiên họ được trả trước, nhưng họ là người dẫn đầu không? Nếu so sánh lương giờ thì sao?
    Tại sao người chủ lại đối xử với những người công nhân đến sau đặc biệt vậy? So sánh điều kiện làm việc của hai nhóm người (c.2, 7). Bạn thấy có tinh thần khác nhau giữa hai nhóm người không? Trở lại chương 19 xem Phi-e-rơ tỏ ra tinh thần như thế nào, nên nhớ rằng lời ông nói đã đem lại cơ hội để Chúa kể câu chuyện. Người luật sư giàu trẻ tuổi (19:22) có tỏ ra tinh thần như Phi-e-rơ không? Có lẽ những chữ có và nhận được trong 19:21, 27, 2920:9, 10 có thể cho thấy mối liên kết. Bây giờ bạn có thể nói ra ý nghĩa trung tâm của ngụ ngôn không?
    Chúng ta đã xét cẩn thận khung cảnh của ngụ ngôn và cách Chúa Giê-xu ứng dụng nó. Chúng ta đã quan sát cẩn thận những chữ lặp nhiều lần và những liên từ. Ngụ ngôn trong văn mạch của nó có một sứ điệp mạnh mẽ - một lời cảnh báo nghiêm trọng cho những người giống như Phi-e-rơ quá chú tâm tới những sự gì mình sẽ nhận được. Chúa Giê-xu muốn bảo họ rằng, coi chừng, những kẻ đứng hàng đầu sẽ xuống hàng chót trong ngày cuối cùng.
    Sau đây là một số ngụ ngôn để nghiên cứu:
    Mac Mc 4:30-32: Hột cải
    LuLc 7:41-43 : Hai con nợ
    11:5-8 : Người bạn giữa đêm khuya
    16:19-31 : Người giàu và La-xa-rơ (đây có phải là ngụ ngôn không?)
    18:1-8: Quan tòa bất công
    PHÚNG DỤ (Allegory)
    Tưởng cần nên xét qua loại phúng dụ cùng với ngụ ngôn vì chúng có phần giống nhau. Một phúng dụ cũng có thể gọi là một ẩn dụ (metaphor) nới rộng. Ẩn dụ đơn giản nói A là B. Phúng dụ nói A là B, C là D và E là F, khi A, C và E biểu thị những phần liên quan trong một câu chuyện hay một bức tranh. Phúng dụ trong Giăng 10 là một câu chuyện nhiều hơn, còn trong chương 15 là một bức tranh nhiều hơn.
    Trong GiGa 15:1-27 Chúa Giê-xu nói, “Ta là cây nho thật, Cha ta là người trồng nho, ...các ngươi là nhánh ” (c.1, 5). Đây là cấu trúc căn bản của phúng dụ. Rồi Chúa Giê-xu đưa ra ý nghĩa thuộc linh của những đặc điểm khác trong mối liên hệ nầy: Nhánh phải ở trong cây nho và sinh trái; người trồng nho tỉa sửa nhánh nho để có trái và cắt bỏ những nhánh không ra trái; trái đem vinh dự cho người trồng nho.
    Chúng ta có thể thấy ý nghĩa cơ bản ngay trong phúng dụ, không cần phải đi ra ngoài (Vì lý do đó, phúng dụ thường dễ thông giải hơn các hình thức ngôn ngữ khác). Nói thế không có nghĩa là mọi đều trong phúng dụ đều rõ ràng. Có một số đặc điểm bị bỏ qua không giải đến, và chúng ta gặp khó khăn khi tìm ý nghĩa đúng cho chúng. Những nhánh không trái bị chặt đi và đem đốt. Ý nghĩa thuộc linh của nó là gì? Câu 6 nói đây là một thật sự kinh khiếp nhưng không nói rõ ý như thế nào. Như vậy chúng ta phải tự tìm lấy.
    10:1-42 dùng phúng dụ về Người Chăn Tốt và Bầy Chiên. Chúng ta thử ghi ra những đặc điểm và những điều diễn giải trong đó:
    Người chăn Chúa Giê-xu
    Chiên Không nói tới
    Người giữ cửa Không nói tới
    Chuồng chiên Không nói tới
    Cửa Chúa Giê-xu
    Quân cướp Những kẻ “đến trước” Chúa
    Người lạ Không nói tới
    Muông sói Không nói tới
    Kẻ chăn thuê Không nói tới
    Có điều lạ là Chúa nói rất ít ý nghĩa của phúng dụ nầy, và để cho chúng ta tự tìm thấy. Ngài chẳng nói gì nhiều hơn là tự nhận mình là người chăn và cái cửa. Chúng ta còn phải tìm những ai đã đến trước Ngài. Trong phân đoạn này có những gợi ý giải thích những đặc điểm khác. Ngài biết chiên mình và họ biết tiếng Ngài, điều đó chỉ cho biết họ là những người tin Ngài (môn đồ Ngài ). Quân cướp không đi vào cửa chính chắc phải là những lãnh tụ tôn giáo giả không chịu nhìn nhận Chúa Giê-xu. Kẻ chăn thuê cũng là người chăn giả, như vậy là chỉ về lãnh tụ tôn giáo. Nhưng chuồng chiên, muông sói và người lạ thì không biết là gì. Từ đó ta kết luận rằng không cần thiết phải tìm cho hết ý nghĩa của từng chi tiết. Tuy trong phúng dụ có những chi tiết có ý nghĩa, nó vẫn tập trung vào một số diểm chính, như chúng ta thấy cách Chúa giải 10:1-42.
    Cựu Ước có một số phúng dụ trong Thi Tv 80:8-15, ChCn 5:15-20, TrGv 12:3-7.
    QUI TẮC HƯỚNG DẪN
    1. Chú ý những chi tiết hay đặc điểm của phúng dụ. Nên liệt kê ra như đã làm trên kia.
    2. Để ý cách thông giải mọi đặc điểm. Cũng liệt kê ra
    3. Xét những đặc điểm khác, xem có thể tìm hiểu ý nghĩa từ những khúc Kinh Thánh khác không? Ví dụ, hình ảnh ấy có dùng nơi nào khác trong Kinh Thánh không? Tuy vậy, đừng vội căn cứ vào đó mà quyết giải, nên nhớ rằng một vật có thể dùng cho những ẩn dụ có nghĩa trái ngược nhau. Hãy xem cách giải đó là có thể chấp nhận, chứ không phải là chắc chắn.
    4. Đừng cố tìm cho ra hết ý nghĩa của mọi đặc điểm. Chúa đã không làm điều nầy cho các phúng dụ trong GiGa 10:1-42, 15:1-37. Chỉ xét những cách giải nào thật rõ ràng, không thể nghi ngờ. Đừng gán ép ý nghĩa tưởng tượng.
    ĐẶC NGỮ DO THÁI
    (Idioms )
    Đặc ngữ là một lối diễn ý đặc biệt của một ngôn ngữ nào đó. Mỗi ngôn ngữ đều có một lối nói riêng khi đề cập đến một vấn đề hay sự việc. Đặc ngữ là những khuôn mau diễn ý của một dân tộc khi họ nói thứ tiếng của họ.
    Trong tiếng Ấn người ta nói, “Ikkis bis ka farq hai” có nghĩa đen là “đó là cái khác biệt giữa 20 và 21.” Thật ra nó có nghĩa là “chẳng có gì khác biệt cả,” cũng giống như tiếng Việt có câu “Nửa đêm, giờ Tí, canh ba; vợ tôi con gái, đàn bà, nữ nhi”.
    Tiếng Do Thái cũng có đặc ngữ như vậy. Một số đặc ngữ là lối nói hình bóng, nhưng vì chúng có tính cách đặc thù của lối suy nghĩ Do Thái nên chúng ta xét riêng ở chương nầy. Những đặc ngữ đó nằm trong cả Cựu Ước lẫn Tân Ước, vì người viết hầu hết là người Do Thái.
    Bản dịch Anh ngữ cũ AV có nhiều thành ngữ Do Thái hơn những bản dịch mói như RSV. Ví dụ, Exe Ed 44:12, bản AV dịch, “Ta đã đưa tay ta lên ” là một hành động tuyên thệ trước tòa án, nên bản RSV dịch, “Ta đã thề về chúng nó. ” Làm như vậy là đúng, miễn là ý dịch ra diễn tả đúng ý chính. Phải hết sức cẩn thận để theo đúng nguyên tắc đó.
    Ví dụ một tín đồ Sudan đọc câu GiGa 14:1 trong tiếng Suduk nói rằng: “Lá gan các ngươi đừng run rẩy. ” Và dịch nguyên văn như thế ra cho ta nghe, ta sẽ không hiểu ông ta muốn nói gì. Những đặc ngữ như vậy cần phải chuyển nghĩa để người đọc hiểu.
    Một số đặc ngữ có những tên gọi đặc biệt. Dưới đây ta sẽ xét một số đặc ngữ thường gặp.
    1. Nhân dạng ngữ (Anthropomorphism)
    Những đặc ngữ nầy dùng những từ ngữ mô tả hình dạng con người khi nói về Thượng Đế. Đây là một loại ẩn ngữ rất thường dùng trong Kinh Thánh. Trong các ngôn ngữ khác cũng thường có, đặc biệt ở đây ta chỉ xét trong ngôn ngữ Do Thái.
    Nhiều câu Kinh Thánh nhất là Cựu Ước nói về Thượng Đế như là Ngài có những bộ phận trong thân thể. Mặt: XuXh 33:23, Thi Tv 10:11, Gie Gr 21:10. Mắt: IISu 2Sb 7:16, Thi Tv 11:4, Gie Gr 16:17, Tai: Thi Tv 10:17, EsIs 37:17, DaDn 9:18, Mũi: XuXh 15:8, Thi Tv 18:15, EsIs 65:5, Miệng: IVua 1V 8:24, EsIs 34:16, MiMk 4:4, Tiếng: Giop G 40:9, DaDn 9:11, 14 Tay: PhuDnl 11:2, EsIs 62:8, Gie Gr 21:5 Bàn tay: XuXh 33:23, EsIs 50:2, Gie Gr 1:9, Lưng: XuXh 33:23, EsIs 38:17, Gie Gr 18:17 Linh hồn và lòng (tim ): SaSt 6:6, IISu 2Sb 7:16, Thi Tv 11:5 Bàn chân: XuXh 24:10, Thi Tv 77:19, EsIs 60:13 Hình dạng: Thi Tv 17:15.
    Loại đặc ngữ nầy cũng có thể nhận thấy dưới hình thức khác, không nhắc đến các bộ phận thân thể nhưng ngụ ý đến bằng những từ ngữ mô tả hành động như ngồi hoặc bước đi. (Xem Thi Tv 78:65, 113:5, EsIs 26:21, AmAm 7:7).
    Nếu những đặc ngữ trên không thể hiểu theo nghĩa đen, thì ta phải hiểu chúng như thế nào? Chìa khóa để hiểu là hỏi xem chi thể nầy dùng làm gì? Chúng ta làm việc, đòi hỏi sức mạnh. Thường thường tay mặt bao giờ cũng mạnh hơn tay trái. Vì vậy khi Kinh Thánh muốn nói đến sức mạnh của Thượng Đế thì dùng hình ảnh tay mặt của Ngài thi triển năng lực. Mắt chúng ta dùng làm gì? Để xem và biết người hoặc vật khác. “Mắt” của Thượng Đế ngụ ý Ngài biết chúng ta và mọi tạo vật. Tai chúng ta để làm gì? Để nhận những lời truyền đạt. Như vậy khi Thượng Đế “mở tai” Ngài ra có nghĩa là Ngài sẵn sàng nghe lời ta nói.
    Chúng ta cũng có thể liên kết những câu dùng hình dạng con người để nói về Thượng Đế với những mô tả Ngài bằng tình cảm con người. Thượng Đế buồn rầu, nhớ lại, ăn năn (SaSt 6:6, 19:29, Gie Gr 18:8, 10) Những câu trên diễn tả một thực tại về Thượng Đế vượt lên trên tình cảm thông thường của con người rất nhiều. Tuy nhiên, sự ăn năn của Ngài là một trường hợp đặc biệt. ISa1Sm 15:9 nói rằng Ngài chẳng phải là người để phải ăn năn. Vì Thượng Đế là bất biến nên nói cho đúng nghĩa thì Ngài chẳng thể ăn năn được. Nhưng Thượng Đế đối xử với con người theo thái độ của họ, nên khi họ thay đổi thái độ, cách cư xử của Ngài cũng thay đổi theo. Bởi vậy, trông như Ngài là ăn năn, nhưng kỳ thật là không (Xem Gie Gr 26:12-13).
    2. Dùng tuyệt đối thay cho tương đối
    Tuyệt đối ở đây có nghĩa là “hoàn toàn không liên hệ gì đến những điều khác”; tương đối là “có liên hệ hay so sánh”. Nó ưa ăn thịt là một câu nói tuyệt đối. Nó thích thịt bò hơn thịt gà là một câu tương đối, vì có sự so sánh giữa thịt bò và thịt gà.
    Trong một số câu Kinh Thánh, đặc ngữ nầy rất quan trọng, phải hiểu nó mới hiểu được nghĩa của câu Kinh Thánh. Trong Gie Gr 7:22-23 Thượng Đế phán, “Vì khi ta đem tổ phụ các ngươi ra khỏi đất Ai-cập, ta chẳng hề phán và chẳng truyền mạng lệnh gì về của lễ thiêu và các của lễ. Nhưng nầy là mạng lệnh ta đã truyền cho họ, “Hãy vâng theo tiếng ta. ..” Các sách Xuất Ai-cập và Lê-vi-ký có nói rằng Thượng Đế đã truyền lịnh về các của lễ khi Ngài đem dân Do Thái ra khỏi Ai-cập. Những người cấp tiến đã dùng câu trên để quả quyết rằng các sách xuất Ai-cập và Lê-vi ký không phải là những sự kiện lịch sử chính xác, mà chỉ phản ánh một số ý niệm cổ sơ, sai lầm về Thượng Đế. Tuy nhiên, câu Kinh Thánh trong Giê-rê-mi là một trường hợp dùng cái tuyệt đối thay thế cho tương đối. Thượng Đế có nói về các của lễ, nhưng Ngài còn quan tâm tới tấm lòng con người và sự vâng phục của họ hơn cả những thứ đó. Xem thêm XuXh 16:8, PhuDnl 5:2-3, Thi Tv 51:16-17, ICo1Cr 1:17, 9:9-10, Phi Pl 2:4, GiGa 3:18.
    Một hình thức khác của đặc ngữ nầy được dùng trong những câu như LuLc 14:26. Có ai thật sự ghét gia đình mình, ngay cả vợ con mình nữa, để theo Chúa không? Làm vậy là trái với Eph Ep 5:25 và nhiều câu khác nữa. Câu nầy dùng phương thức tuyệt đối để diễn tả ý nghĩa tương đối: tất cả các tình yêu cũng như quyền lợi khác đều đặt hàng thứ yếu sau sự tận hiến cho Chúa (so sánh Mat Mt 10:37). Xem RoRm 9:13.
    Làm sao bạn biết được đặc ngữ nầy? Trước hết hãy xét nó như một câu nghĩa đen. Nó có nghĩa không? Nếu không, hãy xem như một thành ngữ. Nghiên cứu nó trong văn mạch, bạn sẽ thấy một vài điểm giúp bạn xác định được nghĩa đúng của nó.
    3. Dùng tương đối thay cho tuyệt đối
    Loại đặc ngữ nầy trái ngược với loại trên. Ở đây nghĩa thì tuyệt đối mà hình thức lại tương đối. Trong LuLc 11:31-32 Chúa Giê-xu nói “Có một cái gì còn hơn Sa-lô-môn (và) một cái gì hơn Giô-na” Cái gì được đem so sánh với Sa-lô-môn và Giô-na ở đây? Không có cái gì khác ngoài Chúa ra? Ngài lớn hơn họ biết chừng nào? Nếu chỉ là người thì sự so sánh còn có lý, đằng nầy Ngài là con Thượng Đế, làm sao có thể so sánh được. Cái khác biệt là tuyệt đối nhưng được diễn tả bằng phưong thức tương đối.
    Thường thường loại thành ngữ nầy rõ ràng, nhờ văn mạch cho thấy. Muốn nói rõ, ta có thể hỏi, lớn hơn chừng nào? Suy nghĩ một lúc ta có thể hiểu ngay đó là nghĩa đen hay đặc ngữ. Hãy xem những câu ISa1Sm 15:22, Exo Er 9:13, Thi Tv 118:8-9, ChCn 21:3, HeDt 1:4, 3:3, 6:9.
    4. “Con trai hay con gái của ”
    Đặc ngữ nầy diễn tả nhiều nghĩa:
    a. Con trai là dòng dõi thế hệ sau, dùng để chỉ cả chắt chít nữa. Người Do Thái dùng chữ sinh cũng với nghĩa tương tự. Chữ đó có thể nói về con trai thật hay một người khác về sau cùng trong một dòng dõi. Không phải là họ quên tên cha hay là viết cẩu thả, nhưng là họ dùng đặc ngữ nầy. Điều nầy giải thích những chỗ ta có thể tưởng là lầm lỗi. Mat Mt 1:8 nói là Giô-ram sinh Ô-xia, nhưng ISu1Sb 3:11-12 cho thấy giữa hai người nầy còn có ba đời nữa (tên A-xa-ria cũng là một với Ô-xia, cũng như tên Vũ và Võ trong tiếng Việt). Xem thêm IVua 1V 15:3, ISu1Sb 26:24.
    b. Một người có đức tính nào đó thì được gọi là con trai của đức tính đó. Trong Cong Cv 4:36, các sứ đồ đặt tên một người Ba-na-ba, nghĩa là con trai của sự khích lệ, vì người nầy có đức tính ấy (Cũng xem Giop G 41:34, EsIs 14:12, Mat Mt 8:12, LuLc 10:6, Eph Ep 2:3, 5:6, ITe1Tx 5:5).
    c. Con trai ta để tỏ sự âu yếm, con trai của ông để tỏ lòng tôn kính, khi không có liên hệ huyết thống. Xem ISa1Sm 24:1625:8.
    d. Thượng Đế gọi cả dân tộc là con trai như trong Gie Gr 31:9 (xem OsHs 11:1).
    e. Công dân được gọi là những con trai của dân tộc. Xem CaAc 4:2XaDr 9:13. Cả dân tộc được gọi là con gái hay gái đồng trinh của Si-ôn (CaAc 2:13).
    Giải các đặc ngữ nầy không có gì khó khăn. Khi bạn đã hiểu những trường hợp trên, bạn có thể xét từng câu trong văn mạch của nó.
    Các gia phả thì không được rõ ràng như thế, nhiều khi bạn phải so sánh với đoạn khác, có lúc bạn phải so sánh với những đoạn khác, có lúc bạn không thể đoán quyết được.
    Cũng cần nên nhớ rằng hầu hết những chữ con trai của bạn gặp là nghĩa đen chứ không phải đặc ngữ. Ngoài ra có vài trường hợp đặc biệt. Các con trai của Đức Chúa Trời trong Giop G 1:62:1 nói về thiên sứ. Các con trai loài người hình như chỉ có nghĩa là “những người”, và con trai loài người cũng chỉ về “người” như trong nhiều câu sách Ê-xê-chi-ên.
    Có một cách dùng đặc biệt nữa của nhóm từ ngữ con trai của, một trong những danh hiệu của Chúa Giê-xu, đó là Con Trai (Con ) của Thượng Đế. Trong hầu hết các đoạn văn Tân Ước, chữ nầy dùng để chỉ thần tính của Ngài, đồng thể tính với Đức Chúa Cha. Từ ngữ này, không có nghĩa là Chúa Giê-xu thấp kém hơn Thượng Đế, nhưng có nghĩa Ngài là chính Thượng Đế. Xem GiGa 10:33-36, 19:7, HeDt 1:8.
    Những người tin cũng được gọi là con cái (những con trai ) của Thượng Đế. Điều nầy để chỉ rằng họ cũng được “dự phần trong bản tính thiên thượng ” ( IIPhi 2Pr 1:4) và được vinh hiển như Chúa (IGi1Ga 3:2). Họ không bao giờ trở thành Thượng Đế, nhưng họ luôn luôn là tôi tớ và thờ phượng Thượng Đế mãi mãi (KhKh 22:3).
    5. Mãi mãi
    Nghĩa đen chữ nầy là đời đời, như trong Thi Tv 9:745:6. Nó có thể là đặc ngữ với nghĩa “liên tục không gián đoạn suốt đời hay suốt thời gian tồn tại của đối tượng.” XuXh 21:6 nói rằng người đầy tớ nào thương mến chủ, muốn tiếp tục ở với chủ thì hãy xỏ lỗ tai để chỉ dấu rằng anh ta “sẽ phục vụ chủ mãi mãi ”. Vì chủ ở đây có lúc chết nên việc phục vụ phải có lúc chấm dứt. Chữ mãi mãi ở đây có nghĩa là việc phục vụ sẽ cứ tiếp tục bao lâu người chủ và tớ còn sống. Thi Tv 72:17 “Danh ngươi sẽ còn mãi mãi. Hễ mặt trời còn đến chừng nào danh ngươi sẽ noi theo chừng nấy. ” Chữ mãi mãi tương đương với “mặt trời còn tồn tại”.
    Nghĩa đặc biệt của từ mãi mãi không làm giảm cường độ của nghĩa chính. Cái gì mãi mãi sẽ cứ tồn tại bao lâu người hay sự vật vẫn còn, nhất là khi nói về lời hứa hay tuyên bố của Thượng Đế. Lời hứa của Thượng Đế là chắc chắn. Chẳng ai dám nêu câu hỏi là một sự vật đó có thật là bất tận không. Tuy nhiên, để hiểu chính xác ngôn ngữ Kinh Thánh, chúng ta cần biết đặc ngữ đó. Xem thêm IVua 1V 5:27, IISu 2Sb 7:16, Thi Tv 49:11, EsIs 32:14-15, Gie Gr 31:35-36.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN.
    1. Học các đặc ngữ và cách dùng chúng.
    2. Xét một câu theo nghĩa đen trước. Nếu thấy không có nghĩa thì hãy xem trong đó có đặc ngữ không.
    3. Nghiên cứu văn mạch. Hầu như lúc nào bạn cũng có thể tìm được chìa khóa để giải nghĩa.
    Kinh Thánh còn nhiều đặc ngữ nữa ở đây chưa đề cập đến. Nếu được, bạn hãy tra cứu thêm các sách khác để tìm hiểu chúng.
    THI PHÚ DO THÁI
    Thi phú là phương tiện diễn đạt những tư tưởng và cảm xúc sâu xa cũng như cao thượng nhất trong tâm hồn con người. Chúng ta biết thi phú là gì nhưng có lẽ không thể nào định nghĩa được. Đó là văn thể có cấu trúc nhịp nhàng và thường viết theo âm vận. Ngôn ngữ của nó thường thanh thoát và đẹp đẽ.
    Kinh Thánh có rất nhiều thi phú: không phải chỉ Thi Thiên; Châm Ngôn mà còn có Gióp, Nhã Ca, Ca Thương và một phần các sách tiên tri nữa. Ngay cả những lời Chúa Giê-xu cũng có vẻ thơ nữa (Xem Mat Mt 7:6GiGa 6:35). Nhiều khúc thi phú trong Kinh Thánh không in thành dòng theo hình thức thơ nên khó nhận ra.
    CÁC ĐẶC ĐIỂM THI PHÚ
    Các đặc điểm thi phú của Kinh Thánh có thể thấy rõ trong nguyên văn tiếng Do Thái, nhưng khi dịch ra, một số đặc điểm bị mất đi. Để giúp việc giải kinh, chúng ta cần biết những khúc nào là thi phú trong bản dịch Kinh Thánh của chúng ta.
    1. Song hành (Parallelism)
    Đặc điểm chính của thi phú Do Thái là tiết tấu của ý tưởng (không phải của âm vận) gọi là song hành. Điều nầy có nghĩa là thi phú được viết thành câu kép, một câu gồm hai dòng liên hệ với nhau. Thỉnh thoảng có những câu ba dòng (EsIs 41:5) hoặc có khi bốn (Thi Tv 27:1), nhưng thường là hai.
    Ví dụ:
    Xin hãy rửa hết các gian ác tôi
    Và tẩy sạch tội lỗi khỏi tôi ! (51:2)
    Tương quan giữa hai dòng trong câu thơ không phải luôn luôn giống nhau. Thật ra, chúng ta có thể nói đến nhiều loại song hành, mỗi loại có một tên riêng như sau:
    a. Song hành điệp ý (Repetition ): diễn đạt bằng những câu tương đồng, hay đồng nghĩa. Ví dụ, EsIs 1:3
    Y-sơ-ra-ên chẳng biết
    Dân ta chẳng thông hiểu,
    dòng thứ hai lập lại ý dòng đầu để làm sáng tỏ ý, hay nhấn mạnh. Thi Tv 33:2 cũng vậy:
    Hãy dùng đờn cầm cảm tạ Đức Giê-hô-va,
    hãy dùng đờn sắt mười dây mà ngợi khen Ngài.
    Dòng thứ nhì dùng nhạc cụ và hành động khác nhưng cũng cùng một ý với dòng trên.
    Trong những câu song hành như thế này, ta có thể nhờ ý dòng nầy mà hiểu được dòng kia. Ví dụ EsIs 45:7:
    “ Ấy chính ta là Đấng gây nên sự sáng và dựng nên sự tối tăm, làm nên sự bình an và dựng nên sự tai vạ. ”
    Ở dòng trên, hai chữ “sự sáng” và “tối tăm” là phản nghĩa, thì dòng dưới hai chữ “bình an” và “tai vạ” cũng phải phản nghĩa.
    Trong bản tiếng Anh Authorized Version, chữ “tai vạ” dịch là: “evil” là “sự xấu xa, gian ác” thì thành ra Thượng Đế dựng nên sự ác. Bản tiếng Việt dịch thành “tai vạ” như vậy là đúng.
    b. Tương Phản (Contrast ): dùng lối song hành đối nghịch (antithetic). Hai dòng diễn tả những tư tưởng trái ngược hay có khi mâu thuẫn nhau. Thường thường dòng thứ hai bắt đầu bằng chữ nhưng để tỏ ý tương phản. Như trong ChCn 15:1
    Lời đáp êm dịu làm nguôi cơn giận
    Nhưng lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm
    Mười bốn câu đầu trong Châm Ngôn 10 đều là những câu song hành đối nghịch.
    c. Bổ ý (Addition ) dùng lối song hành tổng hợp (synthetic). Trong lối nầy, dòng thứ hai bổ túc ý cho dòng trước (Thi Tv 9:10, 104:5). Một số học giả cho rằng đây không đúng là loại thơ song hành, nhưng vì hai dòng của câu thơ có liên quan nhau và cấu trúc cân đối nên chúng ta có thể liệt vào loại đó.
    d. Trương (Expansion ) dùng lối song hành tiệm tiến (climatic). Dòng sau lặp lại một phần dòng trước nhưng thêm vào đó ý mới. 34:4
    Tôi tìm cầu Đức Giê-hô-va, Ngài đáp lời tôi
    và giải cứu tôi khỏi mọi điều sơ hãi.
    Phần nào ở dòng trên được mở rộng ở dòng dưới?
    e. Chuyển hình (Transformation ) dùng lối song hành biểu hiện (emblematic), có nghĩa là dùng biểu tượng, biểu hiệu. Vì cả hai dòng cùng nói một điều, nên đây cũng là song hành đồng nghĩa. Ví dụ 42:1.
    Hỡi Đức Giê-hô-va, linh hồn con ao ước Chúa
    như nai cái thèm khe nước
    Hình ảnh con nai cái khát nước làm tăng sức mạnh và vẻ sống động cho tác giả mô tả tấm lòng ngưỡng vọng Chúa.
    EsIs 46:11 nói về Đức Giê-hô-va “gọi chim ó đến từ phương đông và gọi người làm mưu của ta đến từ xứ xa. ” Nhờ biết cách kết cấu theo lối song hành của câu thơ, ta hiểu rằng chữ “chim ó” không có nghĩa đen mà là chỉ người làm mưu sĩ.
    Bạn sẽ thấy nhiều câu không ăn khớp với một dạng nào trên đây cả. Không gọi tên loại nào được thì cũng không sao, vì thường bạn có thể thấy ý nghĩa rõ ràng (ví dụ Thi Tv 47:4, 9).
    Có rất nhiều hình thức song hành, mà không phải lúc nào cũng rõ ràng. Có những dòng có cấu trúc hay ý dở dang. Những người viết Kinh Thánh không máy móc khi họ viết thi phú. Nhiều khi họ kết hợp hai hay ba câu khép thành một câu song hành.
    Chúng ta thông giải các câu song hành như thế nào? Khi chúng ta biết những dòng thơ có liên quan với nhau, chúng ta sẽ không xét từng dòng riêng mà phải tìm cho ra mối liên hệ. Chúng ta cũng đã biết qua một số quan hệ của chúng thế nào rồi, như vậy khi nào có nghi ngờ gì về ý nghĩa thì hãy thử qua những dạng khác để xem dạng nào thích hợp nhất. Ví dụ, xem 22:16
    Vì những chó bao quanh tôi
    một lũ hung ác vây phủ tôi,
    chúng nó đâm lũng tay chân tôi
    Có lẽ là người viết đã bị bầy chó bao vây thật, dầu điều nầy có vẻ hơi lạ. Nếu đó là câu song hành biểu hiện thì chó tượng trưng cho lũ hung ác trong dòng thứ hai. Khi ta đọc trong chương Thi Thiên nầy, ta thấy có một số hình bóng khác như “tôi là một con trùng ” (c.6), ta hiểu câu trên là loại song hành biểu hiệu.
    2. Ảnh tượng (Imagery)
    Tất cả thi phú đều có ngôn ngữ hình bóng: những hình ảnh đẹp đẽ, táo bạo, gây cảm xúc. Chúng ta đã học về những dụ ngữ tức là những hình ảnh ví von trong Thi ca Do Thái, và cũng học qua cách giải chúng.
    3. Ngoa ngữ (Hyperbolic language)
    Thi phú thường diễn tả cảm xúc mạnh mẽ. Nhà thơ có khuynh hướng dùng lời lẽ khoa đại (quá lố) để diễn tả cảm xúc mãnh liệt của mình. Nếu chúng ta không nhận biết được những câu như vậy, chúng ta sẽ thấy nhiều đoạn Kinh Thánh thật khó hiểu.
    Ví dụ Giop G 6:26, “Lời nói của người ngã lòng chỉ như luồng gió. ” Đó là một lối nói khoa đại. Ông cũng dùng lối nói ngông cuồng như vậy trong 16:12-13. Ông nói Đức Chúa Trời “Nắm cổ tôi và nghiền nát tôi. .. Ngài bắn lủng hông tôi. ” Ở đây ông không nói theo nghĩa đen nhưng muốn nhấn mạnh cảm xúc mạnh mẽ sâu xa của mình.
    Đây cũng là loại ngôn ngữ thường thấy trong các Thi Thiên gọi là Thi Thiên nguyền rủa, trong đó tác giả kêu xin Thượng Đế rủa sả hay phán xét kẻ thù ông. Xem Thi Tv 58:6-11, 59:5, 13, 69:22-23, 109:6-15, 137:8-9, 139:19-22, 143:12.
    Thông giải những Thi Thiên nầy là một nan đề, vì thái độ của người viết đi ngược lại thái độ từ bi, yêu thương của Thượng Đế đối với tội nhân. Nếu ta bảo rằng tác giả nói thật những cảm nghĩ của mình nhưng những cảm nghĩ đó không phù hợp với ý muốn và mục đích của Thượng Đế, thì ta sẽ trở nên hoang mang không biết trong tất cả Thi Thiên, chỗ nào là ý người, chỗ nào là ý Thượng Đế. Nan đề nầy không thể nào giải đáp cách đơn giản được. Chúng ta cần xét cả đoạn cẩn thận, nhất là dựa theo ý của đề mục Thi Thiên. Sau đây là một số điểm gợi ý:
    a. Một số câu nói mạnh bạo có nghĩa bóng, không phải nghĩa đen. Những câu Thi Thiên như “nguyền mắt chúng nó bị tối tăm, ” “bẻ gảy răng trong miệng chúng nó, ” “người công bình sẽ dầm chân mình trong máu kẻ ác, ” “những kẻ bắt con nhỏ chúng nó đập vào đá thật là sung sướng, ” nếu hiểu theo nghĩa đen thì thật bất công cho người viết. Người viết muốn tỏ tấm lòng nồng nàn yêu mến Thượng Đế, không muốn thấy danh dự, chân lý và sự thánh khiết của Ngài bị hoen ố vì những kẻ phản loạn chống nghịch Ngài và khinh bỉ lòng nhân từ Ngài. Cảm xúc mãnh liệt đưa tới ngôn ngữ mạnh bạo. Có lẽ lý do khiến chúng ta khó hiểu họ là vì chúng ta không có nhiệt tình với Chúa bằng người viết Thi Thiên.
    b. Người viết không chỉ nói đến kẻ thù riêng của mình mà nói đến kẻ thù Thượng Đế. Đó không phải là cuộc tranh cải cá nhân. 139:1-24, cho thấy rõ người viết nói: Ông ta ghét kẻ ác vì họ chống nghịch Thượng Đế. Bạn có thể thấy một số câu Tân Ước, kể cả lời của Chúa Giê-xu cũng có ý tương tự. Mat Mt 18:5-6, ICo1Cr 16:22, GaGl 1:8-9, KhKh 6:10, 18:20.
    c. Hãy để ý cách Đavít đối xử với Sau-lơ khác xa những lời ông viết về kẻ thù của ông, trong đó có Sau-lơ. Trong Thi Tv 18:40 ông nói “Còn những kẻ ghét tôi, tôi đã diệt chúng nó rồi. ” Hãy xem đầu đề Thi Thiên. Trong ISa1Sm 24:1-7, 26:1-11, chúng ta thấy hai lần ông đối xử với Sau-lơ rất nhẫn nhục, kiềm chế không làm hại Sau-lơ. So sánh hai phần Kinh Thánh với nhau giúp ta xác nhận lời nói trên kia là ngoa ngữ.
    Thi phú trong Kinh Thánh đi thẳng vào tấm lòng chúng ta vì nó phát xuất từ những người tội lỗi như chúng ta, những người cần và nhận biết ơn thương xót của Thượng Đế. Họ đã trút đổ những nỗi niềm hổ thẹn, yêu mến, biết ơn và tận hiến. Trong thi phú Kinh Thánh, chúng ta thấy chính mình và tập nhìn thấy Thượng Đế.
    QUI TẮC HƯỚNG DẪN GIẢI KINH
    1. Phân tích những dòng câu thơ kép để xem chúng liên hệ với nhau như thế nào. Tìm những chữ đồng nghĩa, phản nghĩa và những chữ quan trọng như: “nhưng, vì vậy, cho nên...” Xem thử có chỗ nào chỉ cho biết một dòng là nghĩa thật còn dòng kia là nghĩa bóng không.
    2. Tìm những ẩn dụ, dụ ngữ. Xem chương 13.
    3. Khi xét những câu thơ mạnh bạo nên nhớ rằng thi phú không dùng một ngôn ngữ như văn xuôi. Nên nhớ rằng ngôn ngữ đó diễn tả cảm xúc của người viết đối với kẻ thù của Thượng Đế, không phải chỉ là kẻ thù của mình.
    LỜI TIÊN TRI
    Theo nghĩa nguyên thủy, nhà tiên tri là một phát ngôn viên, một người nói thay cho người khác. XuXh 4:16 nói A-rôn là nhà tiên tri của Môi-se, nói những lời Môi-se dặn. Như vậy nhà tiên tri của Thượng Đế là người nói thay Thượng Đế, truyền lại thông điệp của Thượng Đế. Ông ta nói với người ta chính yếu là về hiện tại; ông có thể nói hoặc không nói về tương lai. Nhưng phần đông chúng ta đều hiểu lời tiên tri nói về vị lai, nên ở đây sẽ dùng chữ nầy theo nghĩa đó trong khi giải kinh. Chúng ta sẽ tìm hiểu những câu Kinh Thánh Thượng Đế dùng để mặc khải tương lai.
    Có rất nhiều lời tiên báo về tương lai trong Kinh Thánh, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Chúng gồm có nhiều loại:
    1. Những lời tiên báo tức thì
    Ứng nghiệm trong một thời gian ngắn sau khi nói. 14:4, 13-17 Gie Gr 38:18.
    2. Những lời tiên tri của Cựu Ước ứng nghiệm trong thời Cựu Ước
    PhuDnl 28:53CaAc 4:10, Gios Gs 6:26IVua 1V 16:34.
    3. Những lời tiên tri của Cựu Ước ứng nghiệm trong thời Tân Ước
    Những lời nầy phần lớn nói về Chúa Cứu Thế, về ngôi vị và thánh vụ của Ngài. Đây là phần chính mà chúng ta sẽ đến.
    4. Những lời tiên tri của Tân Ước ứng nghiệm trong thời Tân Ước
    Phần lớn những lời nầy liên hệ đến sự tái lâm của Chúa, chúng ta sẽ nghiên cứu kỹ. Mat Mt 16:2127:1-66.
    5. Những lời tiên tri của Cựu Ước và Tân Ước chưa được ứng nghiệm
    Phần lớn những lời nầy liên hệ đến sự tái lâm của Chúa, chúng ta cũng sẽ nghiên cứu kỹ.
    Có một số những nhóm nầy trùng nhau. Ví dụ một số lời kinh Cựu Ước có liên quan đến cả 2 lần đến trần gian của Chúa Giê-xu.
    Lời tiên tri có khi không phải chỉ tiên đoán tương lai, như ITi1Tm 4:1. Nhiều chỗ dùng biểu tượng để nói tiên tri. Khải tượng cũng thường được Thượng Đế dùng để truyền đạt sứ điệp tiên tri. Ngay cả vị tiên tri cũng cần được thông giải những khải tượng đó, như Đa 4 và Khải 7.
    CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA LỜI TIÊN TRI.
    1. Quan điểm tiên tri
    Ở đây là điểm nhìn của nhà tiên tri. Nhà tiên tri nhìn từ xa những biến cố được Thượng Đế mặc khải cho ông. Như người đứng nhìn dãy Hi-mã-lạp-sơn từ xa, tưởng các ngọn núi rất gần nhau, nhưng khi đến nơi thì mới biết là rất xa. Cũng vậy các nhà tiên tri thường nói gộp hai biến cố giáng sinh và tái lâm của Chúa Cứu Thế lại với nhau, tưởng chừng như hai “đỉnh” đó gần nhau, nhưng chúng ta đã biết khoảng cách thời gian giữa các việc đó chẳng gần chút nào.
    Ví dụ, Chúa Giê-xu Cơ-Đốc đã đọc EsIs 61:1-3 và nói lời đó đã được ứng nghiệm ngày hôm đó (LuLc 4:16-21). Tuy nhiên, trong Ê-sai có nói đến “năm ban ơn ” và “ngày báo thù ”. Chúa đọc phần đầu nhưng dừng lại trước phần thứ nhì. Tại sao? Ngày báo thù nói về thời kỳ nào? hẳn nhiên không phải là lúc Ngài đến lần đầu. Phần nầy chưa được ứng nghiệm nên Ngài không đọc tới, nhưng trong lời tiên tri, cả hai được đặt bên cạnh nhau. Xem SaSt 3:15Thi Tv 22:1-31.
    2. Ứng nghiệm gần và ứng nghiệm xa
    Nhiều lời tiên tri nói trước hết về một biến cố gần, nhưng Thượng Đế là Đấng cai quản lịch sử, nên Ngài cũng cho lời đó về sau được ứng nghiệm trọn vẹn hơn. Ví dụ IISa 2Sm 7:12-16 là lời Thượng Đế hứa ban một con trai nối ngôi Đavít. Lời nầy nói về Sa-lô-môn có những chi tiết như câu 14b chỉ có thể nói về Sa-lô-môn thôi. Nhưng trong HeDt 1:5, câu 14 lại được ứng dụng cho Chúa Cứu Thế: Ngài là con trai lớn của Đavít và Sa-lô-môn là tiêu biểu cho Ngài. Sa-lô-môn là con Vua Đa-vít và là con của Đức Chúa Trời. Chúa Giê-xu cũng vậy, nhưng với một ý nghĩa sâu xa hơn.
    Xem HaKb 1:5-6Cong Cv 13:41. HaKb 1:5-6Cong Cv 13:41 là một trường hợp khác mà thẩm quyền Tân Ước cho chúng ta thấy ý nghĩa đôi của lời tiên tri được ứng nghiệm. Khi thấy như thế nầy thì chúng ta biết chắc được lời giải thích. Nếu không có thì chúng ta không nên xác quyết một cách độc đoán, giáo điều.
    Một lời tiên tri có đặc điểm nầy nhưng rất khó là lời Ê-sai nói về sự sinh ra đồng trinh của Chúa (EsIs 7:14). Đây là lời tiên tri nói về thời A-háp. Văn mạch (c.16, 17) cho thấy lời tiên tri được ứng nghiệm vào lúc đó, như vậy lúc đó phải có một em bé sinh ra. Nhưng Ma-thi-ơ áp dụng lời tiên tri nầy cho Chúa (Mat Mt 1:22-23). Điều nầy nêu lên một nan đề khá lớn: phải chăng thời A-háp đã có một gái đồng trinh sinh con? Không có bằng chứng tài liệu nào cả. Có lẽ lúc vị tiên tri nói thì có một trinh nữ, rồi sau đó trinh nữ nầy lấy chồng sinh con cái. Có người nêu nghi vấn về ý nghĩa chữ Do Thái được dịch thành chữ “gái đồng trinh”. Tuy nhiên, văn mạch trong Ma-thi-ơ cho thấy ông dùng theo nghĩa đồng trinh thật sự. Lời tiên tri nầy rất khó giải, nhiều học giả không đồng ý nhau, nhưng rõ ràng là có nghĩa đôi, và có chỉ về Chúa Giê-xu.
    3. Ngôn ngữ hình bóng
    Lời tiên tri dùng rất nhiều biểu hiện, hình bóng, nhưng cũng có những câu có nghĩa đen. Cái khó trong việc giải lời tiên tri là không biết nó được ứng nghiệm theo nghĩa đen, nghĩa bóng, hay nghĩa thiêng liêng. Phương hướng của chúng ta là dựa vào lời tiên tri đã ứng nghiệm để hiểu lời chưa ứng nghiệm. Chúng ta phải xem Tân Ước giải lời tiên tri Cựu Ước như thế nào.
    a. Phải chăng theo Tân Ước những lời tiên tri sau đây được ứng nghiệm theo nghĩa đen?
    MiMk 5:2Mat Mt 2:6: nơi Chúa sinh là Bết-lê-hem.
    XaDr 9:9MaMl 21:5 Chúa vào thành Giê-ru-sa-lem như vị vua, cưỡi lừa.
    EsIs 56:7Mat Mt 21:13 nhà Đức Chúa Trời, đền thờ theo nghĩa đen, nhà cầu nguyện.
    EsIs 7:14Mat Mt 1:22-23: gái đồng trinh sinh con.
    Thi Tv 22:18GiGa 19:23-24: quân lính chia nhau áo xống Chúa và bắt thăm.
    b. Phải chăng những lời tiên tri sau đây được ứng nghiệm theo nghĩa bóng?
    Thi Tv 118:22Cong Cv 4:11, IPhi 1Pr 2:7: Chúa là hòn đá bị loại.
    EsIs 22:22KhKh 3:7: chìa khóa trên vai chỉ về vương quyền.
    XaDr 13:7Mat Mt 26:31 Chúa là người chăn bị hành hung
    c. Phải chăng những lời tiên tri sau đây được ứng nghiệm một cách thiêng liêng, một thực tại nghĩa đen trong Cựu Ước dự chỉ về một thực tại thiêng liêng trong Tân Ước?
    Gie Gr 31:31-34HeDt 8:8-12, 10:15-17
    EsIs 2:2-3HeDt 12:22
    AmAm 9:11Cong Cv 15:16-17
    Nếu Tân Ước giải những lời tiên tri theo ba cách đó thì chúng ta cũng có thể giải các lời tiên tri bằng một trong ba cách đó. Điều nầy không giúp chúng ta biết dễ dàng phải dùng cách nào để giải cho đúng, nhưng ít ra cũng biết được có những cách nào để dùng.
    4. Văn phạm đặc biệt
    Đôi khi lời tiên tri có cách dùng đặc biệt.
    a. Động từ ở thì quá khứ có thể dùng cho những biến cố tương lai. Lời tiên tri về Chúa trong EsIs 53:1-12 cho đến câu 10a đều dùng động từ ở thì quá khứ, tuy nó nói về tương lai. Câu 10b-12 là ở thì tương lai (nói về sự xảy ra sau khi Chúa chịu đau khổ), dầu nó không phải là tương lai xa hơn phần đầu so với thời kỳ nói tiên tri.
    b. Thì hiện tại có dùng cho tương lai. XaDr 9:9 “Kìa vua ngươi đến ” ở thì hiện tại, nhưng nó hướng về tương lai.
    5. Những lời tiên báo có điều kiện và vô điều kiện
    Tuy phần lớn những lời tiên tri là vô điều kiện, nghĩa là Thượng Đế tuyên bố những điều xảy ra không tùy thuộc vào một yếu tố nào khác, nhưng có những lời ứng nghiệm tùy thái độ đáp ứng của dân chúng. Thường thường đó là những lời nói về phước lành hay sự phán xét. Tuy nhiên chúng vẫn là những lời tiên tri thật, như PhuDnl 28:1-68, Gie Gr 18:8, 10, 26:12-13, EsIs 18:30-32, 33:13-15, GiGa 3:4 (xem văn mạch). Văn mạch của lời tiên tri rất quan trọng, vì nếu có một điều kiện nào thì điều kiện đó nằm ngay trong văn mạch.
    6. Bày tỏ và che giấu sự thật
    Có người cho rằng lời tiên tri chỉ là lịch sử viết trước, vì có những lời tiên tri nói trước cả những chi tiết của biến cố. Thật ra có những lời tiên tri che giấu cũng như bày tỏ sự thật. Trong DaDn 7:15-16 nói Đa-ni-ên thấy một thị tượng về bốn con thú, ông xin giải thích và được một vị cho biết đó là bốn vua hay bốn nước, nhưng rồi không cho biết hết các chi tiết nên chắc ông không biết trước được là những vua nào. Sự thật đã bị che dấu trong thị tượng. Như vậy chúng ta phải cẩn thận đừng nghĩ rằng mình có thể giải được các lời tiên tri cách chắc chắn.
    MỘT LỜI TIÊN TRI CHÍNH YẾU
    Những đặc điểm nêu trên của lời tiên tri trong Kinh Thánh rất quan trọng cần phải nhớ, chúng hướng dẫn ta trong việc nghiên cứu và giải thích lời tiên tri. Chúng giúp ta hiểu được một trong những lời tiên tri quan trọng nhất sau dây của Cựu Ước.
    Lời tiên tri đầu tiên nói trực tiếp về Chúa Cứu Thế là SaSt 3:5. Ta có thể thấy câu nầy mang nhiều đặc điểm như đã nói trên, ngoài ra còn chứa những chủ đề trung tâm của lời tiên tri trong cả Kinh Thánh.
    1. Quan điểm tiên tri
    Những biến cố tương lai nào được nói đến trong việc cắn gót chân dòng dõi người nữ và giày đạp đầu con rắn? Dầu ở đây nói chung cả hai, nhưng chúng được ứng nghiệm cho cả hai lần của Chúa Cứu Thế để chịu đau khổ và để toàn thắng.
    2. Ứng nghiệm gần và xa
    Sự thù nghịch giữa giữa Ê-va và con rắn ứng nghiệm gần trong đời Ê-va. Ứng nghiệm xa của nó là cuộc xung đột giữa Chúa Cứu Thế và Sa-tan.
    3. Ngôn ngữ hình bóng
    “Đạp đầu ” và “cắn gót chân ” không thể là nghĩa đen; chúng có ý nghĩa thiêng liêng vượt xa sự tổn hại thể chất.
    4. Bày tỏ và che giấu sự thật
    Có sự thật đã được bày tỏ, nhưng ý nghĩa trọn vẹn của lời tiên tri có thể hiểu được nhờ những lời tiên tri và những biến cố về sau soi sáng.
    5. Chủ đề xung đột
    Cả Kinh Thánh nói về cuộc xung đột nầy: giữa Thượng Đế và Sa-tan; giữa dân Thượng Đế và thế lực ma quỉ. Đấng Cứu Thế, dòng dõi người đàn bà, bước vào lịch sử để chiến thắng cuộc xung đột.
    6. Chủ đề về mục đích tể trị của Thượng Đế
    Thượng Đế phán: “Ta sẽ khiến.” Trong suốt Kinh Thánh, mục đích của Thượng Đế cứ lần lượt được thực hiện, dầu dường như có lúc Sa-tan nắm lợi thế. Sách Khải Thị bày tỏ mục đích ấy cuối cùng được thực hiện ra sao.
    7. Chủ đề về Đấng Thiên Sai (Mê-si-a)
    Nhóm chữ “dòng dõi người nữ” và đại danh từ “người” (giống đực) chứng tỏ câu nầy nói về một người.
    8. Chủ đề về đau khổ của Đấng Thiên Sai
    “Mầy sẽ cắn gót chân người ” Thương tích đó không làm cho chết nhưng chắc chắn gây đau đớn.
    9. Chủ đề về sự chiến thắng của Đấng Thiên Sai
    “Người sẽ chà đạp đầu mày ” chỉ về chiến thắng tối hậu của Đấng Thiên Sai. So sánh sự cách biệt giữa đầu và gót chân để thấy tính cách quyết định của trận đấu.
    Hai chủ đề cuối cùng là những chủ đề trung tâm của lời tiên tri. Chúa Giê-xu cũng như các sứ đồ đều chú trọng những chủ đề nầy (LuLc 24:25-26, IPhi 1Pr 1:11): sự chịu khổ nạn và sự vinh quang của Chúa Giê-xu. Đó cũng là hai trọng điểm của lời tiên tri Cựu Ước. Tất cả những chủ đề khác đều liên hệ ý nghĩa đến hai chủ đề nầy.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN GIẢI KINH
    1. Nghiên cứu cách Tân Ước giải lời tiên tri
    Không phải chỉ trong khi tìm cách thông giải lời tiên tri mà cũng cả trong những lúc học Tân Ước bình thường nữa. (Hãy ghi vào một cuốn sổ những đoạn, câu Kinh Thánh tiên tri và những gì bạn học được).
    2. Tìm hiểu ý nghĩa của lời tiên tri trước hết cho người đồng thời, sự ứng nghiệm gần và sứ điệp thực tiễn của nó
    Cần học điều nầy trước khi tìm hiểu về sự ứng nghiệm tương lai. Ví dụ, sách A-ghê nói gì về sự xây nhà Chúa? Xem Exo Er 4:24-5:2 để biết bối cảnh của lời A-ghê. Lời ông kêu gọi nhà Thượng Đế liên kết với lời ông tiên báo về hành động của Thượng Đế trong tương lai để chứng tỏ quyền uy của Ngài trên trời, dưới đất và ban phước cho dân Ngài. HeDt 12:26-29 nêu ra ứng nghiệm xa.
    3. Xét nghĩa đen
    Nghĩa có rõ ràng không; văn mạch hay những phần Kinh Thánh liên hệ khác có khó hiểu không? EsIs 11:6-9 vẽ bức tranh đại đồng trong tương lai nầy có thể hiểu theo nghĩa đen không? Thú hoang có thể sống chung với thú nhà và trẻ con không? Bạn có nhận thấy những chỗ nào chỉ ra nghĩa bóng trong khúc sách không? Xem c.1, 4-5. Những câu nầy có thể cho ta hiểu câu 6-9 theo nghĩa bóng không?
    4. Luôn ghi nhớ trong trí những đặc điểm của lời tiên tri đã học trên
    Tìm xem trong khúc sách có đặc điểm nào trong số đó không, nếu có, hãy giải theo đặc điểm đó. Ví dụ, GiGa 5:28-29 là lời tiên tri về sự sống lại. Hay nó nói trước về hai sự sống lại? Ngôn ngữ cho ta hiểu cả hai cách. Nên nhớ đôi khi lời tiên tri gộp các biến cố cách biệt xa nhau lại chung với nhau. Bạn biết rằng hai sự phục sinh có thể cách biệt nhau về thời gian. Vậy bạn phải nghiên cứu các đoạn khác để xem chúng có cách biệt hay không.
    5. Tìm xem trong khúc sách có những dụ ngữ, biểu hiệu, đặc ngữ...nào không
    Nếu có, hãy giải thích theo các qui tắc hướng dẫn của những loại đó.
    Lời tiên tri không phải là đề tài dễ học, nhưng đó là một trong những phương tiện Thượng Đế dùng để truyền dạy chân lý của Ngài cho chúng ta. Chúng ta sẽ được đền bù nếu dành thì giờ cầu nguyện và học hỏi lãnh vực quan trọng nầy.
    GIÁO LÝ
    Từ ngữ “giáo lý” được dùng theo hai cách: (1) nói về chân lý tổng quát, một hệ thống chân lý, và (2) nói về một chân lý đặc biệt, như sự tái lâm của Chúa. Kinh Thánh làm căn bản cho cả hai. Vậy, muốn hình thành giáo lý đúng, phải hiểu ý nghĩa Kinh Thánh.
    Kinh Thánh không phải là quyển sách giáo khoa, luận về từng giáo lý một. Một lý do là giáo lý không phải là một ngành học là mà chân lý giúp ta sống. Thượng Đế ban Kinh Thánh cho chúng ta để chúng ta sống trong tương giao với Ngài và theo theo ý Ngài muốn (IITi 2Tm 3:16). Trong những phân đoạn như IGi1Ga 3:2-3 “khi Chúa hiện ra chúng ta sẽ trở nên giống như Ngài. .. Ai có hy vọng đó thì tự mình làm sạch mình như chính Ngài là tinh sạch. ” Việc chúng ta tin vào sự tái lâm của Chúa khiến chúng ta phải sống một đời sống thanh sạch (Cũng xem thêm các phần giáo lý quan trọng như EsIs 40:27-31, Phi Pl 2:5-8).
    Vì vậy, Kinh Thánh đem chân lý Thượng Đế cho chúng ta qua hoàn cảnh sống. Chúng ta học giáo lý qua cuộc đời Áp-ra-ham, qua những cuộc tranh đấu của Đavít, qua những lời của các vị tiên tri kêu gọi dân Y-sơ-ra-ên. Ngay cả những thư tín giáo lý trong Tân Ước cũng là những bức thư viết cho các tín đồ để giúp họ sống cuộc đời Cơ-đốc. Vì vậy một chân lý có thể nằm rải rác ở nhiều chỗ.
    PHƯƠNG HƯỚNG HỌC GIÁO LÝ
    Chúng ta cần bắt đầu bằng những xác tín nào?
    1. Kinh Thánh đem cho chúng ta giáo lý mà Thượng Đế muốn chúng ta biết
    Xem IITi 2Tm 3:16-17 thì thấy rõ (chữ “dạy dỗ” có thể dịch “giáo lý”).
    2. Kinh Thánh là nguồn giáo lý đầy đủ
    Ngoài Kinh Thánh ra không có nguồn thẩm quyền nào khác. Dù truyền thống của giáo hội, lý trí hay trực giác của con người hay bất cứ điều gì khác cũng phải lấy Kinh Thánh làm căn bản.
    3. Kinh Thánh trình bày giáo lý cách nhất quán
    Giáo lý trong Tân Ước không mâu thuẩn với Cựu Ước. Phao lô không mâu thuẩn với Gia-cơ. Kinh Thánh là sự mặc khải tỏ tường và nhất quán chân lý của Thượng Đế.
    Tuy nhiên, ở những phần khác nhau trong Kinh Thánh có những chỗ nhấn mạnh khác nhau. Giê-rê-mi nhấn mạnh sự phán xét của Thượng Đế, trong khi Ô-sê nói nhiều về lòng thương xót của Ngài. Nhưng chúng ta không thể bảo là Cựu Ước dạy về sự thịnh nộ của Thượng Đế còn Tân Ước nói về tình yêu Ngài. Cả hai đều nói về tình yêu và sự thịnh nộ của Thượng Đế.
    Hơn nữa, sự mặc khải chân lý của Thượng Đế có tính cách tiệm tiến. Tân Ước là tuyệt đỉnh của mặc khải Thượng Đế nên nó khác Cựu Ước.
    4. Chúng ta học biết giáo lý bằng cách nghiên cứu tất cả các đoạn có đề cập đến một đề tài đặc biệt
    Vì chúng ta cần biết Kinh Thánh nói thế nào về một đề tài nào đó, chúng ta phải nghiên cứu tất cả để tìm biết. Chúng ta không đem ý kiến chúng ta vào để nhờ Kinh Thánh xác nhận. Chúng ta cũng không thể thiết lập giáo lý của chúng ta dựa trên chỉ một hai câu Kinh Thánh.
    5. Chúng ta không trông mong biết hết mọi điều về Thượng Đế
    Thượng Đế là Đấng Tạo hóa vô hạn, chúng ta không thể nào biết hết mọi chân lý về Ngài. Do đó chúng ta sẽ tìm thấy trong Kinh Thánh những điều khó hiểu, những vấn nạn không thể trả lời được. Chúng ta tiếp nhận và sống với những điều chúng ta có thể hiểu được, và tin cậy Thượng Đế về những điều vượt quá tầm hiểu của chúng ta.
    6. Chúng ta biết có những nghịch lý trong Kinh Thánh
    Một nghịch lý (paradox) là chân lý ở một vài giai đoạn có vẻ mâu thuẩn nhau, nhưng vẫn được dạy rằng Chúa Cơ-Đốc vừa là Thượng Đế vừa là người. Thượng Đế là vô hạn, người thì hữu hạn. Làm sao Chúa Giê-xu Cơ-Đốc có thể là vô hạn vừa là hữu hạn được? Nhưng theo lời Kinh Thánh, Ngài là như vậy. Các học giả không thể giải đáp nan đề đó, nhưng họ cũng như chúng ta phải chấp nhận điều Kinh Thánh dạy và xem cả hai chân lý đều là hai mặt của chân lý về Chúa Giê-xu Cơ-Đốc.
    CÁC QUI TẮC HƯỚNG DẪN GIẢI KINH
    1. Giáo lý phải dựa vào những câu nghĩa đen hơn là những khúc Kinh Thánh có nghĩa bóng
    Những đoạn có nghĩa bóng (như ngụ ngôn) thường được dùng để dạy một bài học gì đó. Chúng ta dễ lấy chi tiết của câu chuyện làm thành một phần của giáo lý vốn không phải là chủ đích của câu chuyện. Hơn nữa giải nghĩa hình bóng thì rắc rối hơn giải nghĩa những câu xác định thường. Ví dụ, một số nhà thần học phóng lý (liberal) đã lấy câu chuyện con trai hoang đàng để dạy về cách tội nhân trở về cùng Thượng Đế là vì vị cha yêu thương chỉ đòi hỏi tội nhân phải ăn năn thôi. Theo họ, việc Chúa Cứu Thế chịu khổ thay cho tội nhân là không cần thiết.
    Xem phóng dụ cây nho và cành (GiGa 15:1-27). Một số cành bị đốt. Có phải những cành nầy chỉ về những người tin Chúa thật hay không? Có thể nào tin Chúa thật mà cuối cùng lại bị đốt? Nếu vậy thì theo nghĩa như thế nào? Giải đáp cho những câu hỏi nầy phải tìm trong những câu nói rõ ràng thì phân đoạn này mới minh chứng được cho chân lý. Nếu thiết lập giáo lý từ đoạn Kinh Thánh nầy thì không khôn tí nào.
    2. Giáo lý phải dựa vào những câu rõ nghĩa hơn là những câu tối nghĩa
    Ví dụ, IPhi 1Pr 3:19 nói Chúa Giê-xu “đi giảng cho những linh hồn bị tù. ” Các học giả bất đồng ý kiến về ý nghĩa câu nầy. Vì vậy, nếu dùng câu nầy để kết luận rằng tội nhân còn cơ hội ăn năn sau khi chết là không khôn ngoan. Vì các câu nói rõ ràng thì cho thấy không có cơ hội thứ hai.
    3. Giáo lý phải dựa vào những đoạn giáo huấn hơn là những đoạn lịch sử
    Phần lớn những sách tiên tri , những bài giảng của Chúa, những thư tín đều có tính cách giáo huấn. Các khúc sách lịch sử chỉ ghi lại biến cố, nên sự dạy dỗ trong đó chỉ có tính cách gián tiếp hoặc ngụ ý của hành động một người nào. Ví dụ Mat Mt 8:24 kể câu chuyện Chúa Giê-xu ngủ giữa cơn bão trong khi các môn đồ sợ hãi. Chúng ta có thể dựa vào đó để kết luận rằng Thượng Đế không biết và cũng không cần để ý đến những cơn hiểm nguy của chúng ta chăng?
    4. Giáo lý phải dựa vào tất cả những khúc sách liên hệ, không phải chỉ một vài đoạn
    Nếu chỉ dựa vào một số phân đoạn nhỏ để thiết lập giáo lý, rồi cố giải thích các đoạn khác cho phù hợp với giáo lý nầy, là làm một điều sai lầm.
    Ví dụ, có người xem ITe1Tx 1:105:9 thấy chép “Chúa Giê-xu là Đấng giải cứu chúng ta khỏi cơn thạnh nộ ” và kết luận rằng Thượng Đế sẽ chẳng để Hội Thánh trải qua cơn đại nạn (great tribulation), như vậy là ông ta đã không chịu đọc Mat Mt 24:29-51. Giải kinh cách đó không thể nào tìm được giáo lý đúng.
    Vấn đề là có những giáo lý có hàng trăm câu, đoạn Kinh Thánh liên hệ. Phải mất rất nhiều thì giờ để đọc qua hết những khúc sách đó chưa nói đến thì giờ nghiên cứu tìm hiểu cặn kẽ. Có thể bạn không thể nào làm nổi. Nhưng ít ra bạn cũng nên cố gắng nghiên cứu vài giáo lý theo lối nầy, vì nó sẽ giúp bạn rất nhiều trong việc hiểu chân lý của Chúa.
    Đừng thất vọng nếu bạn không thể tự mình học hết các giáo lý. Bạn có thể học với các giáo sư qua sách vở, bài giảng hay các lớp học Kinh Thánh. Đó là những người Chúa dùng trong thiên chức dạy dỗ gây dựng đức tin Hội Thánh.
    5. Tìm nghĩa từ ngữ để học một số giáo lý
    Nhất là khi giáo lý tóm tắt trong một chữ của Kinh Thánh như chữ Sa-bát. Hãy dùng Thánh Kinh Phù Dẫn, và ghi nhớ những điểm nầy:
    a. Có những giáo lý mà Kinh Thánh không có chữ nào để gọi. Ví dụ, giáo lý Ba Ngôi.
    b. Có những khúc sách trình bày một giáo lý mà không nhắc đến tên gọi giáo lý ấy. Ví dụ ITe1Tx 4:3 có dùng chữ “thánh hóa” IGi1Ga 1:1-10, 3:1-24 tuy cũng bàn về vấn đề nầy nhưng không dùng tới chữ đó.
    c. Một số giáo lý có hơn một tên gọi. Như giáo lý thánh hóa, còn có những chữ thánh khiết, tẩy sạch, .v.v... Không phải chỉ nghiên cứu một chữ mà bỏ qua những chữ khác.
    6. Phải hiểu một khúc sách theo nguyên tắc giải kinh chung
    Đừng bao giờ rời bỏ những qui tắc căn bản cho việc giải kinh.
    7. Phải cẩn thận về việc thiết lập giáo lý bằng cách suy diễn
    Bạn học được một chân lý nào đó trong Kinh Thánh rồi kết luận rằng nếu điều đó là đúng thì điều nầy hay điều kia cũng sẽ đúng. Bạn chỉ suy diễn ra chứ Kinh Thánh không có dạy rõ ràng.
    Ví dụ, có học giả thấy Kinh Thánh dạy rõ Thượng Đế lựa chọn một số người. Rồi họ suy luận rằng Thượng Đế chắc cũng có lựa chọn một số khác để chịu trầm luân. Nhưng đó chỉ là suy diễn, Kinh Thánh không có nói gì về điều đó. Suy diễn có thể đúng có thể sai, nhưng dầu có đúng đi nữa chúng ta cũng chỉ có thể xem đó là suy diễn mà thôi.
    8. Cẩn thận về những phỏng đoán (Speculation) về giáo ly
    Thường trong khi suy gẫm Kinh Thánh, chúng ta dễ suy tưởng rộng ra. Chẳng hạn, chúng ta có thể nghĩ như trong cõi đời đời có những trẻ em và người lớn, hoặc trong tương lai mình sẽ ở trên những hành tinh khác. Đúng hay sai, đó chỉ là những phỏng đoán, Kinh Thánh không có dạy, chúng ta phải cẩn thận.
    9. Trong khi thiết lập, tin tưởng, hay dạy dỗ giáo lý, cần phải nhấn mạnh điều Kinh Thánh nhấn mạnh
    Mỗi chân lý điều quan trọng, nhưng có những chân lý quan trọng hơn những chân lý khác. Chân lý về sự tái lâm của Chúa Giê-xu là quan trọng hơn về vấn đề Hội Thánh có ở lại dưới đất trong thời kỳ đại nạn không. Phao lô trong ICo1Cr 1:17 cho thấy ông nhận biết những gì ưu tiên trong chức vụ của ông, gợi ý cho thấy rằng trong giáo lý cũng có ưu tiên.
    10. Tìm trọng điểm thực tế của giáo lý
    Thường thì Kinh Thánh cho biết điểm thực tế đó, vì đó là mục đích của Thượng Đế khi Ngài mặc khải chân lý.
    GIÁO LÝ BA NGÔI
    Chúng ta sẽ xét qua giáo lý Ba Ngôi, một giáo lý quan trọng hàng đầu của Kinh Thánh.
    Tên gọi của giáo lý này là do các học giả đặt ta sau khi nghiên cứu những chân lý đã được bày tỏ trong Kinh Thánh:
    1. Có một Thượng Đế mà thôi: PhuDnl 6:4, ITi1Tm 2:5, v.v...
    2. Có một hữu thể thiên thượng gọi là “Cha ”, cũng là Thượng Đế: RoRm 1:7, Eph Ep 4:6, Phi Pl 2:11.
    3. Có một hữu thể thiên thượng gọi là “Giê-xu Cơ-Đốc, Con Thượng Đế ”, Ngài cũng là Thượng Đế : GiGa 5:18, HeDt 1:8, IIPhi 2Pr 1:1, IGi1Ga 4:15.
    4. Có một hữu thể thiên thượng nữa gọi là “Thánh Linh ”, Ngài cũng là Thượng Đế: Cong Cv 5:3-4.
    5. Có sự phân biệt giữa ba hữu thể nầy:
    Mat Mt 3:16: Chúa Giê-xu, Thánh Linh, và tiếng từ trời.
    GiGa 14:26: Đức Chúa Cha sẽ sai Đấng Tâm Vấn (Counseler) đến.
    15:26: Đức Chúa Giê-xu sẽ sai Đấng Tâm Vấn đến.
    5:20: Đức Chúa Cha yêu thương Đức Chúa Con.
    Làm sao kết hợp cả năm chân lý ấy của Kinh Thánh? Cả ba vị đều là Thượng Đế, vậy mà chỉ có một Thượng Đế. Cả ba đều khác biệt nhau, vậy không thể bảo đó là những phẩm tính, những phương diện, hay những thể dạng của một hữu thể. Như vậy, đây là chân lý chúng ta không thể nào hiểu trọn vẹn. Nhưng Hội Thánh trải qua các đời đã chấp nhận như vậy. Giáo lý ấy được xác nhận trong các đoạn khác, như Mat Mt 28:19, IICo 2Cr 13:14, KhKh 1:4-5.
    6. Giáo lý phải sản sinh sự thành kính. Khi học giáo lý, chúng ta phải tìm hiểu và vâng theo sứ điệp của Thượng Đế. Việc sống theo ý Chúa tùy thuộc vào sự tăng trưởng hiểu biết của chúng ta về Chúa. Cần chịu khó tìm học chúng ta sẽ gặt được nhiều kết qủa thiêng liêng.
    TƯƠNG QUAN GIỮA CỰU và TÂN ƯỚC
    Nhiều người thấy Cựu Ước rắc rối nên họ bỏ qua không chịu tìm hiểu, họ chỉ đọc là Tân Ước và có lẽ thêm Thi Thiên mà thôi. Nhưng Thượng Đế đã ban toàn bộ Kinh Thánh cho chúng ta gồm cả Cựu và Tân Ước, và Ngài muốn chúng ta hiểu trọn vẹn Lời Ngài. Vậy chúng ta nên học toàn bộ Kinh Thánh như thế nào?
    NHỮNG ĐIỂM ĐỒNG NHẤT
    Muốn hiểu Cựu Ước thì phải xem Tân Ước nhìn nó như thế nào. Chúng ta có thể tìm thấy câu trả lời trong một số đoạn.
    1. Thượng Đế là tác giả
    Theo HeDt 1:1-3, Thượng Đế phán với các tổ phụ qua các vị tiên tri. Các sách tiên tri đều nằm trong Cựu Ước nên Cựu Ước là lời Thượng Đế. IITi 2Tm 3:14-17 nói rằng “Cả Kinh Thánh đều là bỏi Đức Chúa Trời soi dẫn. ” Vào thời Ti-mô-thê chỉ có Cựu Ước là Kinh Thánh vì Tân Ước lúc đo chưa được thiết lập. Như vậy cả hai câu Tân Ước trên đều tuyên bố Thượng Đế là tác giả của Cựu Ước, và đó là quan điểm của cả Tân Ước. Hãy xem thêm Cong Cv 26:23, RoRm 1:17, 9:25, IICo 2Cr 6:2, 16.
    2. Một kế hoạch cứu chuộc
    Tân Ước còn có nhiều điều để nói về Cựu Ước hơn là chỉ nói đó là lời Thượng Đế. Trong IITi 2Tm 3:15, Phao-Lô nói với Ti-mô-thê rằng “Kinh Thánh có thể khiến con khôn ngoan để được cứu ” (c.15). Nói cách khác, nó chứng tỏ kế hoạch cứu chuộc của Thượng Đế, nó cho người ta biết làm sao để được cứu khỏi tội lỗi.
    Trong RoRm 4:1-9 Phao-lô nói về kinh nghiệm tâm linh của Áp-ra-ham và Đavít. Theo ông, họ được Thượng Đế xưng là công chính không phải do việc làm của họ, mà nhờ hồng ân Thượng Đế và bởi lòng tin của họ. Chúng ta cũng vậy. Đó là căn bản để cho họ cũng như chúng ta được cứu chuộc. Trong thời Cựu Ước, người ta đã biết kế hoạch cứu chuộc của Thượng Đế. Xem Cong Cv 24:14-15, RoRm 4:10-25, 8:1-3, 11:13-24, GaGl 3:6-29, Gia Gc 2:18-26.
    Chẳng những cho chúng ta biết mình được cứu cách nào, Cựu Ước còn dạy chúng ta đi trong đường lối Thượng Đế. (Xem ICo1Cr 10:6, 11, IITi 2Tm 3:16-17).
    3. Chúa Cứu Thế là trung tâm
    Cựu Ước chẳng những nói về sự cứu chuộc, mà còn đặt trọng tâm nơi ngôi vị của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc. Ngài xuất hiện nhiều cách trong Cựu Ước.
    a. Trong những công tác vĩ đại
    Theo GiGa 1:1-3, CoCl 1:16HeDt 1:2, Chúa Cứu Thế có dự phần trong cuộc sáng tạo. Chúng ta không biết Ngài dự phần cách nào, nhưng Tân Ước nói rõ Ngài có dự phần. CoCl 1:17 còn nói “muôn vật được dựng nên trong Ngài, ” nghĩa là mọi sự tồn tại là nhờ ơn thần hựu của Ngài.
    b. Trong những lần xuất hiện
    Trong Cựu Ước có nhiều chỗ nói Thượng Đế hiện ra dưới dạng người. Cựu Ước ghi lại một số lần Thượng Đế xuất hiện dưới dạng người. Có bằng chứng cho ta hiểu rằng khi Thượng Đế xuất hiện theo cách đó thì đấy chính là Chúa Cơ-Đốc (Đấng Christ). Điều nầy không có nghĩa là lúc ấy Chúa Cơ-Đốc đã trở thành người bằng xương bằng thịt, nhưng chỉ có nghĩa là Ngài hiện ra trong hình người mà thôi. SaSt 16:1-16 là một ví dụ. “Thiên sứ của Đức Giê-hô-va ” xuất hiện trước A-ga (c.7), tỏ ra uy quyền (c.10). A-ga nhận biết Vị nầy là ai (c.13). Có một số chỗ trong Kinh Thánh cho thấy “Thiên sứ của Đức Chúa Trời ”, là linh thiêng đó chính là Ngài; còn khi nói “một thiên sứ ” là chỉ thiên sứ thường (phân biệt mạo từ xác định và bất định). (xem 22:11-12, 31:11-13).
    Chúng ta có thể thấy rõ vị nầy chính là Thượng Đế, nhưng tại sao chúng ta lại nghĩ đây chính là Chúa Cơ-Đốc (Christ)? Một lý do: Chúa Cơ-Đốc (Christ) là mặc khải Thượng Đế. Nhiều câu Kinh Thánh nói vậy. Vì vậy chúng ta có thể cho rằng khi Thượng Đế xuất hiện thì đó chính là Chúa Cơ-Đốc (Christ).
    c. Trong sự giải cứu dân tộc Do Thái
    Trong ICo1Cr 10:1-11 Phao-Lô nhắc lại lịch sử Thượng Đế giải cứu dân Do Thái khỏi Ai-cập đưa họ vào đồng vắng trước khi vào định cư nơi đất hứa. Những biến cố đó là bài học dạy chúng ta cách Thượng Đế đối đãi với dân Ngài. Nhưng Phao-lô cũng cho thấy Chúa Giê-xu Cơ-Đốc cũng có mặt trong lịch sử đó (c.4). Lịch sử đó là lịch sử giải cứu, nó nằm trong bức tranh giải cứu lớn mà Chúa Giê-xu Cơ-Đốc thực hiện cho chúng ta.
    d. Trong sự giải cứu cá nhân
    Trong thời kỳ Cựu Ước, Thượng Đế đã tìm kiếm những cá nhân như Áp-ra-ham, Đa-vít, và nhiều người khác, đưa họ đến đức tin và vâng phục (Hê 11). Họ được cứu chuộc về phương diện tâm linh, sự cứu chuộc này chỉ qua Chúa Giê-xu Cơ-Đốc. Dầu họ không biết trọn vẹn mặc khải về sự chết, phục sinh và giải cứu của Đấng Cứu Thế (LuLc 24:45-47). Thượng Đế bày tỏ nguyên tắc chuộc tội qua hệ thống tế lễ và các lời tiên tri. Người nào có tâm linh được soi sáng đã thấy ngày của Đấng Cứu Thế và có một khái niệm về công tác của Ngài (GiGa 8:56). Hê 11 cho thấy rằng dầu có những cách biệt quan trọng, người tin thời Cựu Ước cũng có cùng một căn bản như người tín đồ Cơ-đốc.
    e. Trong các tiêu biểu
    Chúng ta đã học qua trên kia và đã thấy Chúa Cứu Thế được bày tỏ trong các tiêu biểu như thế nào (xem chương 15).
    f. Trong những lời tiên tri trực tiếp (xem chương 19).
    Toàn thể Kinh Thánh đều tập trung vào Chúa Cơ-Đốc (Christ) và làm chứng cho Ngài (5:39). Chính Chúa dạy các môn đệ về Ngài trong Kinh Thánh (LuLc 24:25-27) và quở trách họ vì họ không hiểu Kinh Thánh nói về Ngài. Vì thế chúng ta phải tìm biết Chúa Cơ-Đốc mặc khải trong Cựu Ước. Nhưng chúng ta phải dùng Tân Ước để kiểm chứng Cựu Ước và Tân Ước mặc khải đầy trọn về Chúa Cơ-Đốc .
    Ba điểm chỉ đồng nhất căn bản của cả Kinh Thánh là: (1) Cả Cựu Ước và Tân Ước đều đến từ Thượng Đế, (2) cả hai đều bày tỏ cùng một kế hoạch cứu rỗi của Thượng Đế, (3) kế hoạch đó tập trung trong Chúa Cứu Thế Giê-xu.
    CÁC ĐIỂM TƯƠNG PHẢN
    Thượng Đế cũng chỉ tỏ có những điểm trong Cựu Ước tương phản với những mặc khải trong Tân Ước. Ít nhất có ba loại. Thứ nhất, tương phản giữa toàn thể thời Cựu Ước với những thời kỳ của Tân Ước trong đó có sự mặc khải của Thượng Đế. Thứ hai là tương phản giữa luật pháp của Cựu Ước, hay giao ước Thượng Đế lập với dân Do Thái, với mặc khải của Tân Ước trong Giao Ước Mới. Thứ ba, tương phản, có thể là mâu thuẫn nữa giữa cách hiểu lầm của Do-thái-giáo về sự giải cứu nhờ việc làm với mặc khải với Tân Ước về ơn cứu độ bởi đức tin. Đây không phải là sự mâu thuẩn của Thượng Đế mà là sự hiểu biết của con người về chương trình của Thượng Đế.
    Ba điểm đầu trong chương nầy cho thấy Thượng Đế không có hai cách cứu rỗi hay hai cách sống đối nghịch nhau. Nên chúng ta không cần phải tốn thì giờ với sự hiểu lầm của người Do Thái, chúng ta chỉ cần biết những điểm nầy nằm ở đâu trong Kinh Thánh thôi (Cong Cv 15:7-11, RoRm 9:30, 10:13, GaGl 3:1-29).
    Chúng ta chỉ xét hai đoạn đầu vì loại sau không phải là việc của Thượng Đế mà chỉ là sự hiểu biết của con người đối với kế hoạch Thượng Đế.
    1. Thời đại cũ và thời đại mới
    HeDt 7:16, 24, 28 9:10 chỉ ra sự tương phản về thời gian. Cựu Ước chỉ có một thời, còn Tân Ước thì vĩnh viễn. Đó là sự tương phản giữa cái tạm thời và cái thường hằng.
    Mac Mc 1:15, GaGl 4:3-4 có nói đến kỳ đã trọn. Điều đó hàm ý một thời kỳ chưa trọn, thời kỳ chuẩn bị. Tân Ước xem Cựu Ước là thời kỳ đó. Thế giới và dân Do Thái phải chuẩn bị cho Đấng Cơ-Đốc giáng thế. Có một sự tương phản giữa chuẩn bị và hoàn thành.
    Tân Ước có đề cập đến nhiều điều trong Cựu Ước được ứng nghiệm (như Mat Mt 1:22, 2:17-18, 4:14-16, Cong Cv 3:18, 21-24, 8:32-35, 13:27-29). Đây là sự tương phản giữa tiên báo và ứng nghiệm.
    Cựu Ước đề cập chính yếu đến một dân tộc, dân Do Thái. Trong Tân Ước, Thượng Đế đối xử với mọi dân tộc như nhau (Mat Mt 10:5-6, Cong Cv 3:26, 10:34-35, 18:5-6) đây là tương phản giữa một dân tộc và mọi dân tộc.
    Còn một tương phản nữa đề cập trong HeDt 7:19, 9:15, 10:4-7, 10, 14, 11:39-40, đó là giữa một phần (partial) và toàn phần (full); giữa bất toàn (imperfection) và toàn vẹn (perfection). Sự toàn vẹn và bất toàn không có liên hệ trực tiếp gì đến tội lỗi như là có sự toàn vẹn không tội lỗi (sinless perfection), nhưng là liên hệ đến sự hoàn tất (completeness) công việc của Thượng Đế trong giai đoạn.
    2. Giao ước cũ và giao ước mới.
    Ngoài sự tương phản giữa hai thời kỳ nói trên còn có sự tương phản giữa hai giao ước.
    HeDt 8:5, 9:11, 12:18-24 nói đến giai đoạn thế hạ hay vật chất của Cựu Ước tương phản với đối tượng thiêng liêng của Tân Ước. Có những đặc điểm thế hạ chỉ về những thực tại thiêng liêng. Tuy nhiên, tương phản nầy không phải là tuyệt đối; HeDt 11:1-46 cho thấy những người tin trong Cựu Ước cũng có những mục tiêu và hy vọng thiên thượng.
    8:2, 5, 10:1, CoCl 2:16-17 cho biết những sự việc vật chất, thế hạ trong Cựu Ước là cái bóng, là bản sao cho cái thật. Cái thật ở trên trời nhưng được bày tỏ trong Tân Ước. Lều tạm tương phản (contrast) với thực tại trên trời và thực tại tâm linh chúng ta có ngày nay, chỗ cho sự hiện diện của Thượng Đế.
    Điều nầy cho thấy trong phần nghi lễ của luật Môi-se, những chỉ dẫn về dâng lễ vật (LeLv 1:1-8:36), giữ các ngày lễ (23:1-44), xây cất lều tạm (XuXh 25:1-28:43) và theo đúng nghi thức (29:1-30:38) là những phần nổi bật. Các luật dân sự (LeLv 13:1-59 về bệnh phung cùi, và 25:1-55 về cho mượn tiền và nô lệ)...Tại sao ta không giữ theo những luật nầy? Vì như HeDt 9:11-14, 10:1-10 trong Tân Ước ta thấy luật đó là cái bóng của những thực tại thiêng liêng mà Đấng Cơ-Đốc đã thiết lập và Thượng Đế đã dẹp bỏ cái bóng. Bây giờ chúng ta tìm theo cái thực chứ không theo cái bóng. Khó phân định rõ phần nào trong luật Cựu Ước chỉ là cái bóng hay có giá trị vĩnh cửu. Càng học lời Chúa chúng ta càng dễ phân biệt hơn.
    Chúng ta thấy rõ cái tương phản thứ ba nói trong Gie Gr 31:31, 34, RoRm 8:3HeDt 7:8, đó là tương phản yếu đuối và mạnh mẽ. Nói vậy không phải là quyền năng Thượng Đế không bày tỏ trong Cựu Ước. Nhưng luật pháp Thượng Đế có một nhược điểm là con người không thể giữ được. Đó là căn bản của sự tương phản giữa luật pháp và Tân Ước. Trong Tân Ước, Thượng Đế đặt luật Ngài trong lòng người để họ nhờ Thánh Linh mà giữ luật Ngài.
    Một số học giả thấy một tương phản giữa Cựu Ước và Tân Ước, đó là luật pháp và ân huệ. Rồi họ kết luận rằng tín đồ thời nay không dính dáng gì đến Mười Điều Răn, vì Mười Điều Răn là một phần hay có thể là trung tâm của luật pháp.
    Để giải đáp vấn đề nầy, ta nghiên cứu nhiều câu Tân Ước như Mat Mt 15:3-7, Mac Mc 10:19, LuLc 4:8, 11:2, RoRm 1:23, ICo1Cr 5:11, v.v... và thấy rằng Tân Ước nhắc đến chín trong mười điều răn, như vậy Mười Điều Răn là một phần của Tân Ước, luật của Thượng Đế cho chúng ta. Chỉ có một điều không nhắc tới là điều răn thứ tư: “Hãy nhớ ngày nghỉ đặng làm nên ngày thánh. ” Nhưng Hội Thánh sơ khai có bỏ ngày Sa-bát không? Có bằng chứng nào cho thấy họ đã giữ ngày thứ nhất trong tuần thay cho ngày Sa-bát (Xem Cong Cv 20:7, ICo1Cr 16:2).
    Như vậy, dầu Mười Điều Răn được ban cho dân Do Thái trong bộ luật, rõ ràng đó là tiêu chuẩn vĩnh viễn của Thượng Đế cho dân Ngài. Dầu điều răn thứ tư không lập lại nguyên văn, nhưng nguyên tắc về “ngày của Chúa ” dường như đã thịnh hành vào thời các tín hữu đầu tiên. Chúng ta cũng nên nhớ rằng thứ bảy được Thượng Đế biệt riêng từ lúc tạo thiên lập địa, không phải đến khi ban luật pháp mới có.
    Nhiều người còn cho rằng luân lý Cựu Ước cũng không hòa hợp với Tân Ước không những vì tiêu chuẩn thời đó không đạt tới trình độ của Tân Ước mà đôi khi Thượng Đế cũng không quở trách người ta về phẩm hạnh của họ.
    Trong một số trường hợp, dường như luật của Cựu Ước kém đạo đức hơn Tân Ước. Thượng Đế ra lệnh dân Do Thái tuyệt diệt dân A-ma-léc (XuXh 17:8-16). Các dân tộc khác cũng phải bị tiêu diệt (34:12-26PhuDnl 7:1-5). Trong vài trường hợp, Thượng Đế còn truyền lệnh giết cả đàn bà và trẻ em (20:16-18). Hành động của Thượng Đế dường như không phù hợp với bản chất yêu thương nhân từ của Ngài đối với thế gian. Vậy chúng ta phải hiểu vấn đề nầy thế nào?
    Trước hết, chúng ta nên nhớ rằng các dân tộc bị tiêu diệt rất là bại hoại. Họ chẳng có một tiêu chuẩn thánh thiện hay thờ phụng chân chính nào. Thượng Đế không tìm cách làm trong sạch một quốc gia vì Ngài yêu quốc gia đó hơn những nước khác. Dân Do Thái không tốt gì hơn, họ chẳng có tiêu chuẩn gì cho đến khi Chúa dạy họ. Nhưng Ngài chọn họ để làm họ thành một dân công chính, biệt riêng họ, dạy cho họ những tiêu chuẩn của Ngài, họ cần phải lánh xa sự bại hoại xung quanh.
    Hơn nữa Thượng Đế đã kiên nhẫn với các dân tộc đó lâu rồi. Mấy trăm năm trước khi Do Thái ra khỏi Ai-cập, Ngài đã nói, “Tội của dân A-mô-rít chưa trọn ” (SaSt 15:16). Tội ác của một dân tộc tới thời điểm đầy trọn khi họ không chịu ăn năn từ bỏ gian ác để quay lại cùng Thượng Đế. Trước đó Ngài vẫn chờ đợi, nhưng tới điểm đó rồi, Ngài phải phán xét. Sự phán xét của Ngài có thể là bằng chiến tranh, giết chóc. Hành động của Ngài cũng giống những giải phẩu cắt đi một ung nhọt của cơ thể bệnh hoạn. Sự thật đã chứng tỏ; vì dân Do Thái không tiêu diệt những dân tộc đó nên họ đã bị những dân tộc đó làm bại hoại (Dan Ds 25:1-2, 31:1-20Cac Tl 2:1-4).
    Còn một thắc mắc nữa là Thượng Đế cho phép đa thê và ly dị dễ dàng. Những lãnh tụ tinh thần như Áp-ra-ham, Đa-vít có nhiều vợ mà không cảm thấy sai và không bị Chúa quở trách. Luật Do Thái cho phép người đàn ông bỏ vợ chỉ cần trao cho vợ “một tờ ly dị ” là đủ (PhuDnl 24:1-4).
    Để giải quyết vấn đề nầy, ta cần nhờ ánh sáng của Chúa Giê-xu giải đáp về vấn đề li dị trong Mat Mt 19:3-9. Ngài nói rằng sở dĩ Thượng Đế hạ thấp tiêu chuẩn trong Cựu Ước là vì “lòng các ngươi cứng cỏi ”. Họ chưa học được những nguyên tắc cao hơn nên Ngài không đòi buộc họ. Ngài dạy họ từ từ, cũng như với trẻ em vậy.
    Tóm lại, chúng ta cần nhớ những nguyên tắc căn bản khi so sánh luân lý của Cựu Ước và Tân Ước.
    a. Thượng Đế bày tỏ ý Ngài cho loài người cách tiệm tiến
    Trong thời kỳ trước Thượng Đế chưa bày tỏ cho họ những tiêu chuẩn đầy đủ như thời của Chúa Giê-xu Cơ-Đốc.
    b. Nhiều khi những điều các vị thánh thời xưa làm không hẳn là điều Thượng Đế bảo họ làm
    Có khi họ còn lìa bỏ ý muốn Thượng Đế nữa (Xem IVua 1V 10:23, 26, 11:1-3, PhuDnl 16:16-17).
    c. Có khi Thượng Đế cho phép những điều mà Ngài không chuẩn y
    Nói cách khác, Ngài không ưng thuận, nhưng Ngài dung chịu (Mat Mt 10:3-9).
    d. Ngôn ngữ bạo động
    Thường có trong Thi ca để bày tỏ xúc cảm mạnh mẽ đối với những kẻ xúc phạm danh dự và chân lý Thượng Đế không nên diễn giải như văn xuôi (Xem Thi Tv 58:6).
    Ta thấy tương quan giữa Cựu Ước và Tân Ước, những tương đồng cũng như tương phản giữa hai phần của Kinh Thánh, và biết rằng cả hai đều là mặc khải của Thượng Đế cho người ở mọi thời đại.

    HƯỞNG ỨNG LỜI THƯỢNG ĐẾ
    Chúng ta đã xét qua một số nguyên tắc, chung cũng như riêng, trong việc học và giải Kinh. Trước khi bạn bắt đầu học và giải Kinh Thánh, bạn nên đọc lại chương sáu. Những đề nghị trong đó rất quan trọng, sẽ giúp ích nhiều cho bạn.
    Trước khi thật sự học, chúng ta cần nghĩ về mục tiêu thật sự của sự hiểu biết Lời Thượng Đế. Mục đích của Thượng Đế là gì khi Ngài ban Kinh Thánh cho chúng ta? Chính lời Ngài cho chúng ta biết : để chúng ta trở nên con cái Thượng Đế và làm vinh hiển danh Ngài.
    Một người có thể học Kinh Thánh rất nhiều về mặt lý thuyết và kỹ thuật, nhưng người ấy chỉ hiểu biết thật sự khi hưởng ứng đòi hỏi của Thượng Đế qua lời Ngài. Kinh Thánh có một chiều kích tâm linh mà con người chỉ lãnh hội được khi đem ý chí hưởng ứng lời Ngài phán, chứ không phải khi lấy lý trí phân tích ngôn ngữ.
    Ví dụ, chúng ta học RoRm 12:1, phân tích và hiểu biết hết những công dụng và ý nghĩa của những chữ trong đó như vậy nên, của lễ, sống và biết câu nầy dạy rằng chúng ta phải sống tận hiến cho Thượng Đế. Nhưng nếu tất cả những hiểu biết đó chỉ là một mớ lý thuyết thì chúng ta chưa thật sự hiểu câu Kinh Thánh.
    Hiểu Kinh Thánh một cách thuần lý thuyết chỉ là hiểu nghĩa “chữ” của Kinh Thánh, nhưng “chữ làm cho chết ” (2:29, IICo 2Cr 3:6). Học chân lý thiêng liêng hay đạo đức mà không chấp nhận sự thánh thức của nó thì càng làm cho tâm linh chai lỳ. Vì vậy ta phải cẩn thận đừng học Kinh Thánh như một ngành học của đời.
    Hơn nữa, những đòi hỏi của Kinh Thánh có tính cách thẩm quyền, không phải để lựa chọn. Thượng Đế không đề nghị mà Ngài ra lệnh cho chúng ta. Chúng ta chỉ có một lựa chọn là vâng phục. Vâng phục là chìa khóa để hiểu Kinh Thánh.
    HƯỞNG ỨNG THÔNG ĐIỆP THƯỢNG ĐẾ
    Hưởng ứng thông điệp Thượng Đế không phải chỉ là vâng phục theo những lệnh trực tiếp của Ngài mà còn có nhiều cách khác nữa.
    1. Bằng cách tuân theo những lệnh truyền và cấm chỉ của Thượng Đế
    Thượng Đế bảo chúng ta phải làm điều gì đó hoặc đừng làm điều gì đó.
    Một số mệnh lệnh Ngài truyền cho cá nhân hay một nhóm người trong một hoàn cảnh đặc biệt nào đó. Như Chúa Giê-xu bảo một thanh niên, “Hãy đi, bán hết gia tài mà phân phát cho kẻ nghèo rồi đến đây theo ta ” (Mat Mt 19:21). Văn mạch cho thấy của cải anh ta là một một trở ngại cho anh theo Chúa. Như vậy Ngài bảo anh ta làm điều đó, nhưng không bảo mọi người như vậy. Một lần Chúa bảo một người được chữa lành muốn theo Ngài: “Hãy về nhà thuật lại những điều Chúa đã làm cho ngươi. ” Đó là lệnh đặc biệt cho người đó vì Ngài có việc cho anh ta làm. Cũng như trước lễ Ngũ Tuần Chúa đã bảo môn đồ, “Hãy ở lại trong thành, cho đến khi các ngươi được mặc lấy quyền phép từ trên cao. ”
    Tuy mệnh lệnh đặc biệt chỉ áp dụng cho một người hay một nhóm người, nhưng nơi gốc rễ thâm sâu của mệnh lệnh đó có những nguyên tắc mà Thánh Linh muốn cho ta áp dụng. Ví dụ trong lệnh truyền cho người thanh niên có một nguyên tắc, có lẽ đó là mỗi người nên gạt bỏ mọi trở ngại để theo Chúa. Có thể Chúa muốn tất cả chúng ta đều áp dụng nguyên tắc đó.
    Có những mệnh lệnh khác tổng quát hơn: “Hỡi anh em, hãy vui mừng trong Chúa ” (Phi Pl 3:1). “Vậy, anh em hoặc ăn hoặc uống hay làm điều gì cũng hãy vì vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm ” (ICo1Cr 10:31) hay ChCn 27:1 “Đừng khoe về ngày mai, vì không biết ngày mai sẽ ra sao ”, và rất nhiều mệnh lệnh khác nữa. Chúng ta hãy tìm hiểu và thông giải cho đúng, rồi vâng theo.
    Nhiều câu Kinh Thánh (như GiGa 14:15, RoRm 8:4, IGi1Ga 2:3, 5:3) chỉ ra rằng chúng ta có nghĩa vụ phải tuân lệnh Chúa, vì sự tuân phục đó chứng tỏ chúng ta yêu mến Ngài. chúng ta phải thực hiện sự công chính của luật pháp Thượng Đế. Phao-lô đề cập đến vấn đề nầy trong ICo1Cr 9:1-27. Ông trở nên mọi cách cho mọi người nhưng không có nghĩa là ông không bị luật Chúa ràng buộc.
    Như vậy luật pháp Thượng Đế đặt trên chúng ta. Khi chúng ta học Cựu Ước, chúng ta phải thấy cái nào cho thời đó và cái nào là vô thời hạn. Ngay trong Tân Ước, cũng có những điều Chúa truyền có tính cách văn hóa đặc biệt của thời đó, nhưng trong đó có những nguyên tắc chung cho mọi thời. Xem GiGa 13:14-15, Chúa Giê-xu rửa chân cho môn đồ và bảo họ theo gương Ngài. Một số học giả cũng liệt những chỉ thị của Phaolô về việc đàn bà để tóc và trùm đầu, giữ yên lặng trong buổi nhóm (ICo1Cr 11:2-16, 14:33-35) cũng thuộc vào loại đó.
    2. Bằng cách lãnh nhận những điều Chúa hứa và tránh những điều Ngài răn đe
    Trước hết chúng ta phải biết có nhiều loại lời hứa và ngăm đe khác nhau. Có những lời hứa vô điều kiện, Thượng Đế nói Ngài sẽ ban điều tốt cho con người bất kể họ hành động ra sao. Ví dụ lời hứa trong SaSt 9:11 nói rằng Ngài sẽ không dùng nước lụt hủy diệt trái đất nữa. Nó không tùy thuộc hành vi con người, đó là lời hứa vô điều kiện của Thượng Đế. Chúng ta nhận và cảm ơn về những lời hứa đó, nhưng cũng nghiên cứu cẩn thận xem có thật và vô điều kiện không. Vì có khi có điều kiện nhưng không thấy rõ ngay (Xem 15:14-16, Gie Gr 22:5).
    Hầu hết các lời hứa trong Kinh Thánh là có điều kiện. Những lời hứa có điều kiện có khi nói rõ điều kiện theo sau bằng chữ Nếu ngươi hay những chữ nào khác tương tự. (xem PhuDnl 28:2-3, RoRm 10:9, KhKh 2:7) có khi lời hứa đưa ra điều kiện gián tiếp, như ISa1Sm 2:30, “ta sẽ tôn trọng người nào tôn trọng ta. ” Có khi điều kiện không nằm trong cùng một câu với lời hứa (Xem Gie Gr 31:34 và văn mạch EsIs 58:1-14). Một khi đã là lời hứa có điều kiện, chúng ta không thể nào nhận lời hứa nếu không làm theo điều kiện, tìm cách thực hiện nó, rồi bởi đức tin vui nhận lời hứa.
    Những lời hứa của Kinh Thánh cũng có thể là trực tiếp hay gián tiếp. Những lời hứa trực tiếp thì rõ ràng, như “ta sẽ bổ sức cho ngươi ” (41:10). Những lời hứa gián tiếp thì không dễ dàng nhận thấy như vậy, như câu HeDt 10:34 “vì anh em biết có của quý hơn hằng còn luôn. ” Một số học giả cho rằng đó là câu diễn tả sự kiện hơn là lời hứa vì nó nói về cái người ta có hơn là cái sẽ được. Nhưng vì đây là của cải trên trời tương phản với của cải dưới đất, ta chỉ có thể hưởng trọn trong tương lai, nên chúng ta có thể xem là lời hứa gián tiếp.
    Dù là trực tiếp hay gián tiếp, các lời hứa cần được học hỏi cẩn thận, với tinh thần cầu nguyện và lòng tin, ta tiến tới nhận lãnh.
    Ngăm đe là những lời tuyên bố nghiêm trọng về sự trừng phạt của Thượng Đế. Ngài phạt người ta vì điều họ làm, vì tội họ phạm; như vậy, tất cả những lời ngăm đe đều có điều kiện. Trong PhuDnl 28:1-68 có một danh sách rủa sả dài tiếp theo một danh sách phước lành. Các phước lành mở đầu bằng Nếu các ngươi chăm chỉ vâng theo và các điều rủa sả mở đầu bằng Nếu các ngươi không vâng theo.
    Chúng ta áp dụng lời ngăm đe bằng cách tìm hiểu cả lời ngăm đe và điều kiện, rồi vâng theo điều kiện, như vậy sẽ tránh được điều ngăm đe.
    3. Bằng cách học hỏi những gương tốt cũng như gương xấu
    Chúng ta có thể học hỏi qua những điều các nhân vật trong Kinh Thánh nói về mình và những điều Kinh Thánh nói về họ. Như trong các lời làm chứng của các thi thiên, tiên tri và Phao lô, Phi-e-rơ trong các thư tín.
    Đôi khi thật khó mà bình giải những hành động, lời của các nhân vật trong Kinh Thánh. Không thể định được đó là gương tốt hay gương xấu. Phao-lô và Ba-na-ba đều đúng cả hay sai cả trong vụ cải vả nhau về Mác (Cong Cv 15:36-41), hay có một người đúng một người sai? Hành động của Phaolô trong 16:3 hay trong 21:26 thì sao? Có người cũng nêu lên câu hỏi tương tự về các Thi Thiên Rủa Sả. Không dễ gì trả lời những câu hỏi nầy. Chúng ta phải học tập cẩn thận với tinh thần cầu nguyện.
    Chúng ta phải tìm ra nguyên tắc nằm sau mỗi gương mà áp dụng vào hoàn cảnh chúng ta. Ví dụ, RoRm 2:17-25, câu 25 nói về người Do Thái có cắt bì, có luật pháp mà không làm theo. Nguyên tắc là: bạn có sự mặc khải và răn giới của Chúa mà nếu bạn không làm theo thì việc giữ nghi lễ chẳng ích lợi gì. Áp dụng cho chúng ta là chúng ta có những nghi lễ như Tiệc Thánh, Báp-têm, những nghi lễ chỉ có ích cho ta khi vâng phục Lời Thượng Đế, còn không thì chẳng ích lợi gì cả. Những gương trong Kinh Thánh là nhắm cho chúng ta (ICo1Cr 10:6, 11). Chúng ta phải tìm hiểu những nguyên tắc thuộc linh trong đó rồi nhờ ơn Chúa mà làm theo.
    4. Bằng cách tin vào những lời tuyên bố về chân lý của Thượng Đế
    Nhiều câu không có những lời kêu gọi hay mệnh lệnh trực tiếp, mà chỉ khẳng định một điều gì đó là chân lý. Thường thường đó là những câu tuyên bố về Thượng Đế có kèm theo một lời kêu gọi con người phải làm gì. Ví dụ câu GiGa 4:24 “Đức Chúa Trời là thần nên ai thờ phượng Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy. ” (Xem XuXh 19:4-6, Thi Tv 9:7-10.). Có câu chỉ tuyên bố chân lý, không có kêu gọi (Xem XuXh 34:6-7, Thi Tv 8:1, 24:1-2). Có thể những câu gần đó có nói tới mệnh lệnh liên hệ ít nhiều tới chân lý đó, nhưng không trực tiếp liên hệ.
    Không phải vì chúng ta tin mà những lời đó trở thành chân lý. Đó là chân lý dù chúng ta tin hay không. Chúng ta chỉ tiếp nhận và cảm ơn Thượng Đế. Tuy nhiên, kinh nghiệm chúng ta về chân lý còn tùy thuộc chúng ta có hành động theo ý đó hay không. Thượng Đế là Đấng tha thứ, nhưng kinh nghiệm về sự tha thứ của tôi còn tùy thuộc tôi có ăn năn tội lỗi, xưng ra và nhận sự chết của Chúa làm căn bản cho sự xóa tội không. Chúng ta cần có đức tin như trẻ thơ để nhận những điều Kinh Thánh nói về Thượng Đế và những điều Ngài làm.
    5. Bằng cách làm theo những điều giáo huấn trực tiếp
    Những điều giáo huấn nầy không hẳn phân biệt với 4 điểm kia, nhưng dạy trực tiếp về Thượng Đế và công việc Ngài. Những giáo huấn nầy không có hình thức mệnh lệnh hoặc kêu gọi trực tiếp.
    Như I Cô 13 nói về tình yêu thương của người Cơ-đốc. Phao-lô không hề bảo, “anh em phải yêu thương như thế nầy” Ông chỉ dạy, “Tình thương là như vậy” nhưng sự kêu gọi và thách thức gián tiếp rất mạnh mẽ. Tôi cảm thấy ngay đó là điều tôi phải làm. Nếu tôi không có, tôi phải nhờ Thượng Đế giúp tôi yêu thương như chương Kinh Thánh đã mô tả. Đối với những lời dạy dỗ như vậy, tôi cần đáp ứng như thế nào? Trước hết, tôi nhìn nhận đó là ý muốn Thượng Đế đối với tôi. Rồi tôi tìm cách tuân theo, nhờ vào sức mạnh của Thượng Đế.
    HIỂU BIẾT KINH THÁNH
    Sau khi bạn biết những điều cần thiết để học và giải kinh, vẫn còn một đòi hỏi căn bản nữa là bạn phải khát khao lời Thượng Đế. Nếu bạn đói khát Thượng Đế và chân lý Ngài, bạn sẽ đọc Kinh Thánh đọc đi đọc lại mãi cho thấm nhuần chân lý.
    Nếu bạn không có niềm xác tín sâu xa rằng Lời Thượng Đế là 100% chân thật và cần thiết cho đời sống bạn, thì hãy cầu nguyện như Đavít rằng: “Xin hãy dựng trong con một tấm lòng trong sạch, và làm mới lại con một thần linh ngay thẳng ” (Thi Tv 51:10), và cầu xin Ngài giúp bạn có thể nói như Đa-vít: “Tôi yêu luật pháp Ngài biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm về luật pháp ấy ” Hãy cầu nguyện trong khi đọc và đọc trong khi cầu nguyện.
    Rồi phải biết rằng sự học hỏi của bạn đòi hỏi bạn đáp ứng Lời Thượng Đế. Đó không phải chỉ là phân tích phê bình một quyển sách, nhưng là đối diện với Thượng Đế hằng sống. Thượng Đế chờ đợi bạn tăng trưởng trong sự vâng phục, tin tưởng, và yêu thương đối với Ngài và Lời Ngài, và Ngài sẽ giúp bạn từng bước một. Tóm lại, nhờ hồng ân Ngài, bạn sẽ hiểu biết Kinh Thánh.
    –®—
    Trang trắng: 2,4,8,44,46,54,62,90,102,108,120,130,158,168,180,182


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels