• SÁCH GA-LA-TI GIẢN LƯỢC

    Bài 1: SAULƠ : NGƯỜI BẢO VỆ DO THÁI GIÁO
    Kinh Thánh: GaGl 1:13-14
    I. HỌC VẤN CỦA SAULƠ
    1. Lý lịch Saulơ: Saulơ là tên Do Thái của Phaolô. Ông thuộc chi phái Bêngiamin (
    Phi Pl 3:5), là một người Hêbơrơ, được sinh ra tại Tạt Sơ, xứ Silisi (Cong Cv 22:3), phía bắc nước Do Thái, phía đông nam của xứ Galati. Cha Saulơ là một người Pharisi (23:6).
    . Dường như Phaolô không ở tại Giêrusalem trong thời gian Chúa Jesus thi hành chức vụ, mà ở lại Silisi để đi học. Có người cho rằng Phaolô đã tốt nghiệp đại học Tạtsơ.
    2. Học vấn thần học: Phaolô cho biết ông được trưởng dưỡng tại Giêrusalem, học thần đạo với vị giáo sư vĩ đại thời bấy giờ là Gamaliên (
    22:3). Sự chuẩn bị đầy đủ về Kinh Thánh đã khiến Phaolô có thể dùng Cựu Ước để chứng minh cho những lẽ thật Phúc Âm khi ông được Chúa soi sáng. Có thể nói Phaolô là một tiến sĩ về kinh luật.
    3. Người Pharisi : Phaolô là một hội viên nghiêm khắc của phe Pharisi, phe bảo thủ, trung thành với luật lệ, lời truyền khẩu, đối kháng với phe cấp tiến Sađusê, từ bỏ một số giáo lý (thần linh, thiên sứ, sự sống lại).
    II. NGƯỜI BẢO VỆ DO THÁI GIÁO
    1. Tấn tới trong giáo Giuđa hơn nhiều người: Phaolô không những tấn tới trong tri thức mà cũng tấn tới hơn mọi người về sự nghiêm khắc bảo vệ Do Thái giáo.
    2. Quá đổi sốt sắng về cựutruyền của tổ phụ: Phaolô thường giảng dạy trong các nhà hội và tranh luận với phe Sađusê. Sự sốt sắng nầy được thể hiện rõ trong cách cư xử của ông với các Cơ Đốc nhân.
    3. Bắt bớ và phá tánHội Thánh của Đức Chúa Trời: Phaolô là một trong những người Pharisi cuồng tín đã quyết định dập tắt Phúc Âm của Chúa Cứu Thế. Ông là một trong những người lãnh đạo việc ném đá Êtiên (
    7:54-60), ưng thuận bản án tử hình cho Êtiên (8:1).
    . Phaolô còn được xem là sứ đồ của kinh luật, được sai đi dập tắt Cơ Đốc giáo tại ngoại quốc. Nhưng trên đường Đamách, mọi sự đã thay đổi !
    Bài 2: SAULƠ và SỰ CẢI ĐẠO
    I. SỰ SAI LẦM CỦA SAULƠ
    1. Quan điểm sai lầm về Đấng Mếtsia: Dù thông thạo Cựu Ước, Saulơ cũng mắc vào sai lầm chung của người Do Thái. Ây là ông nghĩ rằng Đấng Mếtsia phải là nhà chính trị và quân sự vĩ đại.
    2. Bất bình: Sự giảng dạy của Chúa Jesus về vương quốc thuộc linh không phù hợp với quan điểm của Saulơ. Vì thế, lời tuyên bố Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời và sự lan tràn của Cơ Đốc giáo khiến Do Thái giáo suy yếu khiến Saulơ vô cùng phẩn nộ.
    3. Bắt bớ Đức Chúa Trời: Saulơ bắt đầu tranh đấu chống Cơ Đốc giáo. Ông tưởng mình đang làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, nhưng sự thật là ông đang bắt bớ Ngài, chống nghịch Ngài.
    II. NHỮNG ẢNH HƯỞNG DẪN ĐẾN SỰ CẢI ĐẠO
    1. Ảnh hưởng của Gamaliên: Gamaliên là thầy của Saulơ. Ông là người can ngăn Tòa Công luận giết các sứ đồ, với lời cảnh cáo rằng coi chừng họ đang "liều mình đánh giặc cùng Đức Chúa Trời" (
    5:39).
    2. Sự cải đạo của nhiều thầy tế lễ: Nhiều thầy tế lễ đã"vâng theo đạo" (
    6:7). Họ đã tin tưởng vào Phúc Âm, tin nhận Chúa Jesus là Chúa Cứu Thế và đi theo Ngài. Điều nầy khiến Saulơ phải suy nghĩ.
    3. Đời sống Êtiên: Êtiên có một đời sống đầy quyền năng với nhiều dấu kỳ phép lạ (
    6:8). Ông cũng đầy Đức Thánh Linh và trí khôn đến nỗi các nhà hùng biện phe "Tự do" xứ "Silisi" và Asi không thể thắng nổi. Nét mặt sáng như thiên sứ (6:15) và bài giảng của Êtiên chắc hẳn đã đụng đến tấm lòng Saulơ. Tuy nhiên, thay vì hạ mình xuống ăn năn, Saulơ đã trở nên giận dữ hơn !
    4. Sự tử đạo của Êtiên: Trước khi chết, Êtiên đã tuyên bố mình thấy Đức Chúa Jesus đứng bên hữu Đức Chúa Trời (ngôi danh dự và quyền năng : Chúa Jesus là Đấng Mếtsia). Ông cũng đã cầu nguyện xin Chúa tiếp rước ông và tha tội cho kẻ giết ông (
    7:60). Những hình ảnh nầy không bao giờ phai nhạt trong ký ức của Saulơ.
    5. Lời cầu nguyện của các tín hữu: Trong
    Mat Mt 5:44, Chúa Jesus dạy môn đồ Ngài cầu nguyện cho kẻ bắt bớ mình. Saulơ, kẻ cầm đầu sự bắt bớ, đã là trọng tâm lời cầu nguyện của các tín hữu. Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện của họ thật kỳ diệu.
    Bài 3: MÔN ĐỆ CỦA CHÚA CỨU THẾ
    Cong Cv 9:1-29
    I. TRÊN ĐƯỜNG ĐAMÁCH
    1. Lòng vô tínđáng sợ: Phaolô đã thất bại trong cuộc tranh luận thần học, bối rối trước đời sống và sự tử đạo của Êtiên, hoang mang trước sự kiện nhiều thầy tế lễ vâng theo đạo. Nhưng lòng vô tín khiến Phaolô nhắm mắt,bịt tai để lún sâu vào tội lỗi bắt bớ Hội Thánh.
    2. Sự mặc khảicủa chính Chúa: Chỉ có sự mặc khải của chính Chúa Jesus mới có thể thay đổi Phaolô hoàn toàn. Chúa cảnh cáo Phaolô về việc đá vào ghim nhọn (
    26:14). Điều đó chỉ làm hại, làm đau đớn hơn cho kẻ cứng đầu, cứng lòng.
    3. Ăn năn: Phaolô thấy được vị trí và tình trạng của mình khi té xuống đất và bị mù. Ông đã kiêng ăn cầu nguyện trong 3 ngày (
    9:9). Anania đã đại diện cho các tín hữu, mở mắt cho Phaolô , tiếp nhận ông như một anh em, hướng dẫn Phaolô công khai tuyên xưng đức tin, cũng như truyền sứ mạng Chúa dành cho Phaolô.
    II. GIÁO SĨ TIỀN PHONG
    1. Sứ mạngChúa giao: Anania cho Phaolô biết ông đã được Chúa chọn để làm giáo sĩ cho các dân, các vua và con cái Ysơraên (
    9:15), đặng mở mắt họ, hầu đưa họ từ tối tăm qua sáng láng, từ quyền lực quỷ Satan mà đến Đức Chúa Trời, để họ kinh nghiệm sự tha tội và sự đồng kế tự với các thánh đồ (26:18).
    2. Bắt đầu tại Đamách: Sau vài ngày thông công với các tín hữu tại Đamách, Phaolô đã bắt đầu chức vụ tại các nhà hội thành Đamách. Phaolô cố thuyết phục dân chúng rằng Chúa Jesus chính là Con Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, giống như Phaolô ngày trước, các tín hữu Do Thái giáo đã âm mưu giết Phaolô, thay vì hạ mình xuống để ăn năn.
    3. Tới thành Giêrusalem: Được tín hữu Đamách dùng thúng giòng Phaolô ra ngoài thành, Phaolô được thoát chết. Ông liền lên thành Giêrusalem. Trước tiên, ông đến với Hội Thánh, nhưng mọi người đều nghi sợ ông. Nhờ Banaba đứng ra bảo lãnh, Phaolô được thông công với Hội Thánh Giêrusalem.
    . Phaolô lại tiếp tục rao truyền Tin Lành. Trước tiên ,ông đến với những người Hêlênít, nhưng cũng bị mưu hại. Các môn đồ cử ông về Tạtsơ.
    Bài 4: KHỦNG HOẢNG TẠI GALATI
    A. CẦN CÓ NGƯỜI BẢO VỆ ĐỨC TIN
    I. NGƯỜI GALATI LÀ AI ?
    1. Tỉnh Galati: Theo
    GaGl 1:1-2 Phaolô gửi thư nầy cho các Hội Thánh ở xứ Galati. Tỉnh Galati hiện nay thuộc về nước Thổ Nhĩ Kỳ.
    . Trong thời Phaolô, từ Galati được dùng theo hai cách: Hoặc là cả tỉnh lớn Galati của đế quốc Lamã, hoặc chỉ phần phía bắc của tỉnh Galati.
    2. Thuyết miền Bắc: Phần phía bắc, gần Hắc Hải, là nguồn gốc của dân Galati. Họ là con cháu dân Gauls đến từ Pháp từ thế kỷ thứ Ba TC. Phía bắc có hai thành phố quan trọng là Germanicopolis và Ancyra. Tuy nhiên, KT không đề cập đến hai thành phố nầy trong hành trình Phaolô. Vì thế thuyết miền Bắc Galati không đứng vững.
    3. Thuyết miền nam: Phaolô đã thành lập rất nhiều Hội Thánh ở miền Nam Galati nằm trong tỉnh Lycaonia như Iconium, Lystra, Derbe, Antioch. Phaolô viết thư cho các Hội Thánh ông vừa thành lập. Vì thế, thuyết miền Nam Galati thường được công nhận.
    . Thuyết miền Bắc nói rằng sự giao động của người Galati (
    1:6) là cá tính của người Gauls. Thuyết miền Nam chứng tỏ sự giao động của người Galati bằng sự kiện trong Công vụ 13-14 (Sau khi hết lòng tung hô, họ đã nhanh chóng chống lại các sứ đồ tại Antiốt, Ycôni, Lítrơ).
    II. CUỘC KHỦNG HOẢNG TẠI GALATI
    1. Quan điểm của Phaolô: Trọng tâm sứ điệp Phaolô là sự cứu rỗi chỉ đến bởi đức tin trong Chúa Jesus. Chúa Jesus đã chết cho mọi dân tộc, và đức tin nơi Chúa Jesus đem lại sự cứu chuộc cho cả người Do Thái lẫn người ngoại bang.
    2. Quan điểm của Cơ Đốc nhân gốc Do Tháigiáo: Hội Thánh Galati gồm cả người Do Thái lẫn ngoại bang. Các Cơ Đôc nhân gốc Do Thái giáo nghĩ rằng người ngoại bang muốn được cứu rỗi phải trở thành người Do Thái (làm phép cắt bì, giữ kinh luật Môise) bên cạnh đức tin nơi Chúa Jesus .
    3. Chủ đề của thơ Galati: Vì thế, chủ đề của thơ Galati là
    3:11 "Người công bình sẽ sống bởi đức tin".
    Bài 5: TRÁCH NHIỆM CỦA PHAOLÔ
    I. PHAOLÔ VÀ LẼ THẬT PHÚC ÂM
    1. Lời dạy của Phaolô : Phaolô dạy rằng chỉ bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế, chúng ta được cứu chuộc khỏi tội lỗi để sống đời sống đẹp lòng Đức Chúa Trời. Giống như hàng ngàn tín hữu đầu tiên, Phaolô sẵn sàng chết hơn là chối bỏ lẽ thật của Phúc Âm.
    2. Công tác giảng dạy: Phaolô chỉ hài lòng khi người ta tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa của mình và vững vàng trong chân lý. Vì thế, ông dạy họ Kinh Thánh, thành lập các Hội Thánh trong nhà tín hữu mới và cho họ những lời khuyên thực tiển để sống cuộc đời Cơ Đốc Nhân.
    3. Công tác chăm sóc: Phaolô yêu mến các tín hữu do ông đem về với Chúa, xem họ như chính con cái của mình (
    4:19). Khi phải đi nơi khác để giảng Phúc Âm, Phaolô hằng ngày cầu nguyện cho tân tín hữu, liên lạc thư từ với họ, nhất là khi Hội Thánh sai người đi xin lời khuyên của ông cho những vấn đề trong Hội Thánh.
    4. Công tác bênh vựcPhúc Âm: Khi công bố Phúc Âm và bênh vực chân lý, Phaolô thường đối diện với nhiều sự bách hại (
    IICo 2Cr 11:23-27). Phaolô cũng rất quan tâm đến những người mới cải đạo (11:28-29). Vì thế, ông rất sốt sắng chống lại những tà thuyết làm các tín hữu xây khỏi lẽ thật của Phúc Âm.
    II. PHAOLÔ VÀ HỘI THÁNH ĐỨC CHÚA TRỜI
    1Phaolô và Hội Thánh Galati: Thư Galati là sự bảo vệ đưc tin Cơ Đốc chống lại sự câu nệ về Kinh luật. Chúa khải thị cho Phaolô viết thư Galati để vừa đáp ứng khủng hoảng địa phương tại Galati, vừa đáp ứng sự khủng hoảng tổng quát trong Cơ Đốc giáo lúc bấy giờ, cũng như áp dụng cho chúng ta hôm nay.
    2. Phaolô và Hội Thánh chung:
    11:28-29 cho biết mỗi ngày Phaolô lo lắng về tất cả các Hội Thánh. Lòng ông như nung, như đốt khi nghe tin các tín hữu yếu đuối, vấp ngã, hoặc đối diện với sự tấn công của tà giáo. . .
    . Sau khi thành lập các Hội Thánh tại Galati trong hành trình truyền giáo thứ nhất, Phaolô đã quay lại ghé thăm và làm cho các Hội Thánh được vững bền (
    Cong Cv 15:36, 41).
    . Sau đó, ông lại tiếp tục truyền giáo cho những vùng đất mới để thành lập và gây dựng các Hội Thánh mới cho Chúa Jesus.
    Bài 6: BẢN ĐỒ NIÊN ĐẠI VỀ PHAOLÔ
    Niên đại
    Biến cố và Nơi chốn
    Hành trình và Thư tín
    Kinh Thánh
    31/32
    Cải đạo gần Đamách

    Cong Cv 9:1-29
    33-36
    Thăm Arabia

    GaGl 1:17
    37
    Thăm Giêrusalem lần 1

    Cong Cv 9:26
    45
    Thăm Giêrusalem lần 2
    Cứu trợ nạn đói

    11:30
    45-49

    Hành trình T. G thứ I
    13:4
    49

    1. Thư Galati

    49/50
    Thăm Giêrusalem lần 3
    Giáo Hội nghị

    15:2-4
    50-53

    Hành trình T. G thứ 2
    15:40
    52/53

    1. Thư I. Têsalônica
    2. Thư II. Têsalônica

    53
    Thăm Giêrusalem lần 4

    18:21-22
    54-58

    Hành trình T. G thứ 3
    18:23
    57

    1. Thơ I. Côrinhtô
    2. Thơ II. Côrinhtô
    3. Thơ Lamã

    58
    Bị bắt tại Giêrusalem

    21:30-34
    58-60
    Bị cầm tù tại Sêsarê

    23:23-33
    60-63
    Bị tù tại Lamã lần 1

    28:16
    62

    1. Thơ Côlôse
    2. Thơ Êphêsô
    3. Thơ Philêmôn

    63

    4. Thơ Philíp

    63-67
    Được tha khỏi ngục
    Tiếp tục truyền giáo
    Tit Tt 1:5
    67

    1. Thư I. Timôthê
    2. Thư Tít

    68
    Bị tù lại Lamã lần 2
    3. Thư II. Timôthê

    68
    Tử đạo tại Lamã

    IITi 2Tm 4:6-8

    Bài 7: GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP
    Kinh Thánh: Cong Cv 11:19-26
    I. BỐI CẢNH
    1. Cơ Đốc giáo như một nhánh của Do Tháigiáo: Lúc đầu, Hội Thánh chỉ gồm những tín hữu Do Thái. Sách Công vụ cho thấy sự chuyển hướng từ Do Thái giáo qua Cơ Đốc giáo rất chậm chạp.
    . Các tín hữu thường vào đền thờ để cầu nguyện. Dù được đầy dẫy Đức Thánh Linh, họ vẫn còn cảm thấy cần giữ luật pháp Môise, thờ phượng trong đền thờ, bên cạnh những sinh hoạt riêng tại tư gia như dạy dỗ, thông công, bẻ bánh. . . Cơ Đốc giáo dường như là 1 nhánh của Do Thái giáo.
    . Ngay cả chính quyền Lamã lúc đầu cũng xem Cơ Đốc giáo như một nhánh của Do Thái giáo.
    2. Hội Thánh người ngoại bang được thành lập: Sự bành trướng nhanh chóng của các Hội Thánh người ngoại bang đưa Hội Thánh vào câu hỏi: Liệu các tín hữu ngoại bang có cần phải gia nhập Do Thái giáo trước khi tin Chúa Jesus hay không ?
    II. BỐN BIẾN CỐ TRONG THỜI GIAN CHUYỂN TIẾP
    1. Bước 1: Chức vụ của Philíptại Samari: Sau cái chết của Êtiên, các tín hữu tản lạc khắp nơi, rao giảng Tin Lành. Chấp sự Philíp đã đến Samari là nơi người Do Thái rất ghét, và ông rất thành công tại đây.
    . Phierơ và Giăng đã đến Samari và sự giáng xuống của Đức Thánh Linh là bằng chứng sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Tại Samari, Hội Thánh đã đắc thắng mọi thành kiến về chủng tộc.
    2. Bước 2: Sự cải đạo của Phaolô: Sự cải đạo của Phaolô và sứ mạng truyền giáo cho người ngoại bang của ông có lẽ là bước tiến quan trọng nhất chuyển hướng từ Do Thái giáo qua Cơ Đốc giáo.
    3. Bước 3: Khải tượng của Phierơvà biến cố tại nhà Cọtnây: Khải tượng tại mái nhà Simôn đã đưa Phierơ đến nhà Cọtnây. Sự đổ đầy của Đức Thánh Linh trong "Lễ ngũ tuần của dân ngoại" chứng tỏ Phúc Âm không phải chỉ dành riêng cho dân tộc Do Thái.
    4. Bước 4: Trung tâmtruyền giáo Antiốt: Sự chuyển hướng được hoàn tất tại Antiốt xứ Syri, trung tâm truyền giáo cho người ngoại bang.
    . Tại đây, các tín hữu được gọi là Cơ Đốc nhân (Người theo Chúa Cơ Đốc): Cơ Đốc giáo là một tôn giáo khác hẳn Do Thái giáo.
    Bài 8: ĐỐI DIỆN KHỦNG HOẢNG
    I. CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG
    1. Khủng hoảng tại Galati: Trong khi Phaolô dạy rằng đức tin nơi Chúa Jesus là nền tảng duy nhất của sự cứu rỗi, thì các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo bảo rằng phải giữ thêm Kinh luật mới được cứu rỗi.
    2. Khủng hoảng ngày nay: Đôi khi các Hội Thánh ngày nay cũng quá nhấn mạnh đến lễ nghi, đến Phúc Âm xã hội. Nhiều tín hữu còn cố gắng sống đời sống Cơ Đốc nhân bằng sức riêng để mong được cứu !
    II. HÌNH THỨC BẢO VỆ PHÚC ÂM
    1. Thư tín trong Tân Ước: Thư tín là một lá thư dài, ghi chép các sự dạy dỗ đặc biệt hay các sự chỉ dẫn. Nguyên ngữ Hylạp của "thư tín" là epistole có nghĩa là một lá thư. Tân Ước có tất cả là 21 thư tín.
    . Đức Chúa Trời mặc khải cho người viết thư tín. Ngài chỉ cho họ các giải pháp cho các nan đề của Hội Thánh. Ngài bày tỏ chân lý mới cho họ, hướng dẫn sự suy nghĩ của họ, dẫn dắt họ trong việc lựa chọn điều phải viết. Vì thế, dù được viết ra gần 2. 000 năm nay, các thư tín vẫn là sứ điệp được hà hơi của Đức Chúa Trời cho Hội Thánh mọi thời đại.
    2. Thư tín thời Cổ Hylạp: Thời Phaolô , thư tín không dùng để truyền thông cá nhân, mà để ghi các bài diễn thuyết. Thời Cổ Hy lạp (TK5-3TC), người ta dùng thư tín để đăng tải các công trình khoa học, triết lý, văn học. Thơ Lamậ thuộc loại nầy.
    3. Thư Galati: Được Phaolô viết vào năm 49 cho một nhóm Hội Thánh có cùng một nan đề do các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo gây nên. Các thư tín khác được Phaolô viết ra, hoặc để giải đáp thắc mắc, hoặc đối phó nan đề. . . với mục đích cung cấp các sự nghiên cứu giáo lý và lời khuyên thực tiển để các tín hữu sống đời sống Cơ Đốc nhân.
    III. THƯ GALATI
    1. Mục đích: Không những để đối phó nan đề, trình bày về sự cứu rỗi bởi đức tin, Phaolô còn nhằm mục đích bảo vệ chức vụ sứ đồ của ông, vì các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo cho rằng Phaolô là sứ đồ giả với Phúc Âm giả.
    2. Dàn bài Galati: Đoạn 1: Đức Chúa Trời ban Phúc Âm cho Phaolô. Đoạn 2: Các sứ đồ chấp nhận Phúc Âm của Phaolô. Đoạn 3: Cựu Ước hậu thuẩn Phúc Âm của Phaolô. Đoạn 4: Phúc Âm sản sinh con cái tự do. Đoạn 5-6: Phúc Âm trước sự thử thách của cuộc sống.
    Bài 9: SỨ ĐỒ PHAOLÔ
    I. TỪ SAULƠ ĐẾN PHAOLÔ
    A. CHỨC VỤ SỨ ĐỒ VÀ PHÚC ÂM CỦA PHAO LÔ (
    GaGl 1:1-12)
    Để giải quyết nan đề do các Cơ Đốc Nhân gốc Do Thái giáo gây nên, khiến các tín hữu Galati nghi ngờ chức vụ sứ đồ của ông, Phaolô đã trình bày ba loại tranh luận cho Phúc Âm ông rao giảng :
    . Galati 1-2 : Lịch sử : Lời làm chứng cá nhân của Phaolô.
    . Galati 3-4 : Thần học : Phaolô trình bày sứ điệp Kinh Thánh.
    . Galati 5-6 : Thực tế : Phaolô áp dụng sứ điệp vào cuộc sống tín hữu.
    1. Saulơ: Ngay từ đầu thơ, chúng ta có thể tìm thấy tên tác giả là Phaolô (khác với chúng ta hôm nay khi viết thư). Tuy nhiên, trước tiên, chúng ta biết Phaolô với tên gọi là Saulơ (
    Cong Cv 7:58).
    . Phaolô là công dân Lamã khi sinh ra tại Tạtsơ, xứ Silixi (Cilicia), nên ông đã có tên Lamã là Phaolô từ lâu, tương ứng với tên Do Thái là Saulơ. Phaolô là tên gọi thông thường của một người Lamã (là Paulus hay Paullus trong tiếng Latin, ngôn ngữ của người Lamã).
    2. Từ Saulơ đến Phaolô: Khi bắt đầu hành trình Truyền giáo, Phaolô vẫn được gọi là Saulơ, nhưng đến
    Cong Cv 13:9, ông được gọi bằng tên Phalô. Lý do có sự đổi tên từ Saulơ qua Phaolô là vì Phaolô được gọi là sứ đồ cho dân ngoại nên tên Lamã sẽ dễ được chấp nhận hơn. Nó đồng hóa ông với người ông được sai đi. Ngoài ra, khi không dùng tên Saulơ, Phaolô muốn tuyên bố từ bỏ cái hãnh diện về quá khứ Do Thái của mình.
    II. NGUỒN GỐC CHỨC SỨ ĐỒ CỦA PHALÔ:
    1. Ba lời tuyên bố căn bản: Phalô (c. 1) nói về chức sứ đồ của ông là: Không của loài người, không bởi loài ngươi, nhưng bởi Đức Chúa Jesus và Đức Chúa Cha. Như thế, sự kêu gọi làm giáo sĩ của Phalô không phải của loài người mà của Chúa, không đến từ người nhưng đến từ Chúa. Chúa đã chọn và xức dầu để ông làm giáo sĩ giảng Phúc Âm cho người ngoại.
    2. Chức sứ đồ: Sự kêu gọi của Chúa cho Phaolô đã thể hiện qua sự giảng lời Chúa đầy quyền năng và các phép lạ (
    IICo 2Cr 12:12). Trước đó, Phaolô đã từng là sứ đồ của Do Thái giáo, được gọi là “sheliach”có nghĩa là người được sai đi, là giáo sĩ hay sứ đồ, là một sứ giả đặc biệt với một địa vị độc đáo.
    Bài 10: LỜI CHÀO THĂM
    Kinh Thánh: GaGl 1:1-5
    I. TRƯỚC GIẢ
    1. Phaolô sứ đồ: Vị sứ đồ không phải của loài người, không bởi loài người, mà bởi Đức Chúa Jesus Christ và bởi Đức Chúa Trời là Cha.
    2. Cùng hết thảy anh emở với tôi: Phaolô thường đi với một nhóm bạn đồng lao, giúp ông giảng dạy và lập Hội Thánh mới. Họ gửi lời chào thăm, cũng như cùng đứng ra bảo vệ Phúc âm với ông.
    II. ĐỘC GIẢ:
    1. Các Hội Thánh: Đây là bức thư gửi cho nhiều Hội Thánh trong vùng Galati. Hội Thánh (ekklesia) có nghĩa là “gọi riêng ra”, chỉ về dân của Đức Chúa Trời, người đã được gọi ra khỏi thế gian để họp lại thờ phượng và phục sự Chúa.
    2. Ở xứ Galati: Đây là các Hội Thánh nằm trong vùng Nam Galati, đã được Phaolô thành lập trong hành trình truyền giáo thứ nhất.
    III. LỜI CHÚC:
    1. Lời chúc: Phaolô cầu chúc cho tín hữu Galati được Ân điển và Bình an, từ nơi Đức Chúa Trời là Cha, và từ Đức Chúa Jesus là Chúa.
    . Lời cầu chúc nầy đặc biệt quan trọng đối với những nan đề tại Galati vì Phaolô muốn nhấn mạnh Ân điển chứ không phải việc làm luật pháp, và Bình an chứ không phải sự gây rối của các giáo sư giả.
    2. Nguồn ơn phước: Phaolô cho biết ân điển và bình an đến bởi Đức Chúa Trời là Cha (Ngài là Cha của Chúa Jesus và cũng là Cha cao cả của mỗi một Cơ Đốc nhân), và bởi Đức Chúa Jesus Christ
    3. Trọng tâm Phúc Âm : Chúa Cứu Thế: Trong lời chào thăm, Phaolô đã giới thiệu về Chúa Cứu Thế, vì đối với ông, Cơ Đốc giáo là “Chúa Cứu Thế trong chúng tôi, hy vọng của sự vinh hiển”.
    . Phaolô giới thiệu Chúa Jesus là Đấng sống lại từ trong kẻ chết (c. 1), là nguồn của Ân điển và Bình an (c. 3), là Đấng phó mình để cứu chúng ta khỏi đời ác nầy (c. 5).
    . Theo từ ngữ thì “Jesus”nghĩa là Đấng giải cứu, “Christ”nghĩa là Đấng được xức dầu do Đức Chúa Trời sai đến, “Chúa”nghĩa là Đấng Chủ tể, là chính Đức Chúa Trời. Vì thế, chúng ta phải luôn tìm kiếm ý muốn của Chúa và làm theo, với mục đích làm sáng danh Chúa (
    ICo1Cr 6:19-20).
    Bài 11: CHỈ CÓ MỘT PHÚC ÂM CHÂN THẬT (GaGl 1:6-9)
    I. HAI ĐIỀU BỊ BỎ TRONG THƯ GALATI:
    1. Hai điều bị bỏ: Thông thường, sau lời chào thăm, Phaolô có lời tạ ơn Chúa và lời khen ngợi độc giả (
    ICo1Cr 1:4-7. CoCl 1:3-4. RoRm 1:8. ITe1Tx 1:2-3. IITe 2Tx 1:3. . ). Thư Galati không có cả hai điều trên.
    2. Lý do: Có lẽ vì Phaolô quá bức xúc về những điều các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo đang làm, và cách người Galati tiếp nhận các giáo lý. Vì thế, ông đi thẳng vào trọng tâm vấn đề ngay.
    II. KHÔNG CÓ PHÚC ÂM KHÁC:
    1. Bảychữ Tin Lành: Trong 4 câu nầy (
    GaGl 1:6-9), Phaolô đã dùng đến 7 lần chữ “Phúc Âm”(Tin Lành).
    . Trong tiếng Hylạp, Phúc Âm là evanglion, có nghĩa là sứ điệp tốt lành hay tin tức tốt lành (Evangel trong tiếng Anh). Phúc Âm nầy công bố sự cứu rỗi bởi đức tin nơi Chúa Cứu Thế Jesus.
    2. Tin Lành khác !: Phúc Âm khác mà các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo dạy dỗ, thực ra không phải là Phúc Âm, vì họ không có tin tức tốt lành mà có tin dữ về gánh nặng luật pháp (
    Cong Cv 15:10) làm tín hữu bị rối trí, vì họ đang đánh đổ Phúc Âm, phản Phúc Âm, xuyên tạc Phúc Âm (Xuyên tạc là cho ý nghĩa sai, diễn dịch nhầm, bóp méo hay giả mạo Phúc Âm).
    3. Sự trọn vẹn của Phúc Âm: Phúc Âm là sự mặc khải trọn vẹn, đã đầy đu, không cần phải cộng thêm, không cần phải thay đổi hay thay thế bằng một mặc khải nào khác.
    . Phúc Âm về sự cứu rỗi bởi đức tin trong Chúa Cứu Thế Jesus là con đường duy nhất, là chân lý còn lại đời đời.
    4. Quan hệ giữa sứ giả và sứ điệp: Phúc Âm của Chúa Cứu Thế chính là căn bản, là tiêu chuẩn để đánh giá cả sứ điệp lẫn sứ giả.
    . Phẩm chất sứ giả không làm cho sứ điệp họ được chấp nhận, mà trái lại, chính sứ điệp chân thật làm cho sứ giả được tiếng tốt.
    . Nguyên tắc nầy được áp dụng trong
    GiGa 14:26 (Đức Thánh Linh dạy và nhắc những điều phù hợp với lời dạy của Chúa Jesus), trong 16:13-14 (Đức Thánh Linh dạy về Chúa Jesus và làm vinh hiển Chúa Jesus), trong IGi1Ga 4:1-3 (Thần đến từ Chúa công nhận Chúa Cứu Thế mang thân xác con người).
    Bài 12: PHÚC ÂM ĐẾN TỪ ĐỨC CHÚA TRỜI (GaGl 1:10-12)
    I. KHÔNG ĐẾN TỪ CON NGƯỜI
    1. Nguồn gốc Phúc Âm của Phaolô: Trong
    1:11-12 Phaolô cho biết Phúc Âm ông rao giảng:
    . Không đến từ loài người (không do loài người tạo ra), Điều nầy được giải thích bằng hai cái không khác là: Không nhận từ con người và Không học từ con người (không do con người dạy dỗ).
    . Nhưng Phaolô đã nhận Phúc Âm bởi sự mặc khải của Đức Chúa Jesus Christ. “Mặc khải”có nghĩa là kéo màn lên. Chúng ta không thể biết gì cả cho đến khi Chúa mở màn lên, bày tỏ cho chúng ta thấy.
    2. Áp dụng: Dù chúng ta không có cùng kinh nghiệm như Phaolô, chúng ta phải có kinh nghiệm biết Chúa một cách cá nhân, phải nhận sứ điệp từ nơi chính Chúa.
    II. MÀ DO SỰ MẶC KHẢI THÁNH
    1. Hai tôn giáo khác nhau: Phaolô đã cải đạo (conversion) đã chuyển hướng. Như thế, ông nhận rằng Cơ Đốc giáo và Do Thái giáo là hai tôn giáo khác nhau.
    . Khởi đầu, Do Thái giáo là tôn giáo chính của chương trình cứu rỗi nhân loại. Chính qua Do Thái giáo mà Lời Đức Chúa Trời được mặc khải và Đấng Mếtsia đã đến.
    . Nhưng trong thời Phaolô, Do Thái giáo đã đi xa khỏi chương trình nguyên thủy của Chúa, khi họ từ khước Đấng Mếtsia.
    2. Sự mặc khảithánh: Phaolô nhấn mạnh ông là người Do Thái hoàn toàn trước khi ông chuyển hướng: Người Giuđa, nuôi tại Giêrusalem (
    Cong Cv 22:3), người Pharisi nghiêm khắc (26:4-5), dòng dõi Ysơraên, dòng dõi Ápraham (RoRm 11:1. IICo 2Cr 11:22), có lương tâm thanh sạch (IITi 2Tm 1:3), chịu cắt bì ngày thứ tám, người Hêbơrơ, Bêngiamin (Phi Pl 3:5-6). . . Vì thế, chính sự mặc khải thánh đã làm ông tin quyết vào chân lý của Phúc Âm.
    3. Đấng mặc khải: Phaolô cho biết chính Đức Chúa Jesus Christ đã mặc khải cho ông. Ngài đã ngăn ông lại trên đường Đamách, để cho ông thấy chính Ngài, nghe lời nói từ miệng Ngài, để ông sẽ làm chứng cho mọi người về Phúc Âm mà ông đã được Chúa mặc khải (
    Cong Cv 22:14-15).
    B. SỰ CẢI ĐẠO VÀ SỨ MỆNH CỦA PHAOLÔ (
    GaGl 1:13-24)
    Bài 13: TỪ CHỐNG ĐỐI ĐẾN BÊNH VỰC
    Kinh Thánh : 1:13-16
    I. SAULƠ CHỐNG ĐỐI PHÚC ÂM (1:13-14)
    1. Kinh nghiệm bản thân: Phaolô dùng kinh nghiệm bản thân để chứng minh Do Thái giáo đã đi sai đường. Ông đã sốt sắng và trung thành với Do Thái giáo, một tôn giáo từ khước chân lý, khiến ông trở nên kẻ bắt bớ Hội Thánh của Đức Chúa Trời.
    . Phaolô nhìn lại quãng đời quá khứ và tuyên bố nình là tội khôi, là kẻ ngu muội, kẻ bắt bớ Hội Thánh. . . (
    ITi1Tm 1:12-16. ICo1Cr 15:9).
    2. Mục đích lời làm chứng: Phaolô nhấn mạnh đến sự tận hiến trọn vẹn của ông cho Do Thái giáo để nói với người Galati rằng: Do Thái giáo không phải là điều mới lạ, Do Thái giáo đã bị ông từ bỏ vì tự nó đã sai lầm, và sự mặc khải của Chúa cho ông về Phúc Âm là thật.
    II. SAULƠ BÊNH VỰC PHÚC ÂM
    1. Được Chúa chọn (
    GaGl 1:15) Đức Chúa Trời đã tể trị trong sự kêu gọi Phaolô. Chúa đã “để riêng tôi ra từ lúc còn trong lòng mẹ”(New English Bible) hay “phân rẽ tôi từ trong lòng mẹ”(King James).
    . Kinh nghiệm nầy tương tự với Giêrêmi, trước khi sinh ra, đã được Chúa để riêng ra cho sứ mạng cho các nước (
    Gie Gr 1:4-5).
    2. Chúa tiền định: (
    GaGl 1:15-16) Chúa đã tiền định cho cả Giêrêmi lẫn Phaolô sự tiền định về sự hầu việc Chúa.
    . Hành động chính thứ nhất: Chúa biệt riêng tôi ra từ trong lòng mẹ.
    . Hành động chính thứ hai: Chúa kêu gọi tôi bởi ân điển của Ngài.
    . Mục tiêu cấp thời: Để bày tỏ Con Ngài ra trong tôi.
    . Mục tiêu tối hậu: Để tôi giảng về Chúa cho người ngoại bang.
    Khi biết Chúa đã kêu gọi mình để hầu việc Chúa, chúng ta sẽ thêm lòng sốt sắng, can đảm để buộc mình vào chức vụ Chúa ban.
    3. Được kêu gọivà cải đạo: Phaolô được kêu gọi về sự cứu rỗi cũng như chức vụ cùng một lúc. Sự mặc khải của Chúa Jesus cho và qua Phaolô cũng như cho chúng ta là một mặc khải để hầu việc Chúa. Điều nầy rất quan trọng, vì người ta phải thấy được Chúa trong chúng ta.
    Bài 14: PHAOLÔ VÀ SỨ MẠNG MỚI
    GaGl 1:16-24
    I. SỨ MẠNG MỚI CỦA PHAOLÔ
    1. Mặc khải sứ mạng: Chính Anania đã có sự mặc khải về việc Đức Chúa Trời sai Phaolô giảng cho người ngoại (
    Cong Cv 9:15) và Anania đã nói cho Phaolô biết (22:15). Sứ mạng của Phaolô là phải làm chứng cho dân ngoại về những điều ông đã thấy và nghe (22:15). Nghĩa là rao truyền Phúc Âm về việc ‘Bởi đức tin nơi Chúa Jesus sẽ được tha tội và chung hưởng gia tài với các thánh đồ”( 26:18).
    2. Người Ngoại đạo: “Người ngoại”(heathen trong King James) là các quốc gia trên thế giới ngoài nước Do Thái, tức là các quốc gia không thờ phượng Đức Chúa Trời chân thật. Người Galati là một “dân ngoại”đã được chính Phaolô là người đầu tiên đem Phúc Âm đến cho họ. Phúc Âm mà ông rao giảng là là sự mặc khải trực tiếp từ Đưc Chúa Trời.
    II. ĐƯỢC HƯỚNG DẪN ĐỂ PHỤC VỤ
    1. Ngay lập tức: Phaolô đã không hỏi ý con người, không đến với các sứ đồ vì Đức Chúa Trời đã ban cho ông sự kêu gọi, sứ điệp và hướng đi.
    2. Đamách: Ngay sau khi cải đạo, Phaolô đã giảng Phúc Âm tại Đamách (
    9:20) với sứ điệp "Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời".
    3. Đi Arabi: Từ Đamách, Phaolô đã đi về hướng đông để đến Arabi, có lẽ đến núi Sinai. Sau đó, ông trở về Đamách.
    4. Đến Giêrusalem: Sau ba năm, Phaolô mới lên thành Giêrusalem, được Banaba bảo lãnh, và ông ở đó, giảng dạy trong một thời gian ngắn. Tại đây ông có tiếp xúc với hai nhà lãnh đạo tại Hội Thánh Giêrusalem là Phierơ và Giacơ em Chúa. Hai người không hề chống đối Phaolô. Trái lại, có một bản tường trình thật tốt về Phaolô đến với các Hội Thánh tại Giuđê về việc Phaolô đang giảng đạo mà ông đã từng cố sức phá.
    5. Trở về Tạtsơ: Khi người Do Thái tìm giết Phaolô, các sứ đồ đưa ông qua Sêsarê và sau đó đến Tạtsơ và cứ ở đó cho đến khi Banaba mời về Antiốt. Điều nầy đúng với
    GaGl 1:21 rằng Phaolô đã hầu việc Chúa tại Syri và Silisi (có lẽ trong 4 năm ?). RoRm 15:19 cho biết Phaolô đã đem Tin lành khắp chốn.
    . Bằng cớ cuối cùng về chức sứ đồ của Phaolô là Hội Thánh ngợi khen Chúa vì cớ Phaolô (
    GaGl 1:24).
    Bài 15: CÁC SỨ ĐỒ CÔNG NHẬN PHÚC ÂM CỦA PHAOLÔ
    Kinh Thánh: 2:1-21
    THAM KHẢO VỚI CÁC NHÀ LÃNH ĐẠO HỘI THÁNH (2:1-5)
    Galati đoạn 2 tiếp tục bảo vệ Phúc Âm với các sự tranh luận trong lịch sư: Phúc Âm của Phaolô đã được các lãnh đạo HT Giêrusalem chấp nhận.
    I. VIẾNG THĂM GIÊRUSALEM (
    2:1-2)
    1. Thời gian: 14 năm sau ? Đây là cuộc viếng thăm lúc có nạn đói tại Giêrusalem vào năm 45. SC (
    Cong Cv 11:27-30 Agabút nói tiên tri), chứ không phải cuộc viếng thăm khi có Hội đồng tôn giáo vào năm 50. SC (15:1-29).
    2. Bạn đồng hành: Banaba (con trai của sự yên ủi, người khuyến khích) tên thật là Giôsép. Tính tình và chức vụ của Banaba thích hợp với tên của ông. Ngoài ra còn có Tít là người Hylạp cải đạo trong chức vụ Phaolô, được Phaolô bổ làm giám mục tại Cơrết.
    3. Mục đích: Gặp riêng các lãnh tụ HT Giêerusalem để giải bày Tin Lành Phaolô đã giảng cho dân ngoại, hầu cho chức vụ của ông giữa dân ngoại không trở nên vô ích, khi được chính các lãnh tụ nầy công nhận.
    4. Lý do: Sự hướng dẫn thiên thượng: Phaolô ra đi là theo sự khải thị của Chúa (
    GaGl 2:2a), hoặc là khải thị trực tiếp, hoặc do quyết định cả nhóm, hoặc theo lời tiên tri Agabút (Cong Cv 11:22-30). Ngày nay Chúa vẫn có thể bày tỏ ý muốn Ngài qua sự mặc khải trực tiếp (chiêm bao, tiếng phán trong lòng), qua quyết định cả nhóm, hay qua các tiên tri hay người có ân tứ đặc biệt. Tuy nhiên, ngày nay cách quan trọng nhất là qua Lời Chúa trong Kinh Thánh. Không thể xác định cách nào thiêng liêng hơn vì cách của Chúa cho từng trường hợp là cách tốt nhất.
    II. THỬ NGHIỆM CHO CƠ ĐỐC NHÂN NGOẠI QUỐC: (
    GaGl 2:3-5):
    1. Timôthê có làm cắt bì: Phaolô đã làm cắt bì cho Timôthê vì Timôthê là người “nửa DoThái”và ông không muốn tạo sự ngăn trở không cần thiết cho chức vụ của Timôthê.
    2. Tít không làm cắt bì: Vì cớ các “anh em giả”buộc Tít làm cắt bì nên Phaolô cương quyết khước từ để bảo vệ chân lý sự cứu rỗi chỉ đến bởi đức tin nơi Chúa Jesus mà thôi.
    3. Mục đích: Để lẽ thật Tin Lành được vững bền trong anh em (c. 5).
    Bài 16: ĐƯỢC CÔNG NHẬN CHÍNH THỨC
    Kinh Thánh : 2:6-10
    I. CÔNG NHẬN PHÚC ÂM CỦA PHAOLÔ: (2:6-9)
    1. Người công nhận: Giacơ em Chúa, Mục sư của Hội Thánh Giêrusalem, đại diện các lãnh tụ Hội Thánh, với Phierơ và Giăng là đại diện các sứ đồ tại Giêrusalem.
    2. Công nhận: Họ không thêm gì cả vào Phúc Âm của Phaolô (c. 6), chứng tỏ Phúc Âm Phaolô rao giảng là toàn hảo, trọn vẹn. Họ thừa nhận rằng chỉ có một Phúc Âm đồng nhất mà cả Hội Thánh Giêrusalem lẫn Hội thánh Antiốt đều cùng chia xẻ.
    II. CÔNG NHẬN PHAOLÔ LÀ SỨ ĐỒ: (2:8-10)
    1. Các sứ đồ công nhận: Họ công nhận chức vụ sứ đồ cho dân ngoại được trao cho Phaolô cũng như chức vụ sứ đồ cho người Do Thái của Phierơ (c. 7). Hai người đều có chức vụ riêng đặc biệt, mà không ai đối nghịch với ai.
    . Họ đã trao tay hữu kết thân với Phaolô và Banaba để cùng rao giảng Phúc Âm cho các đối tượng khác nhau.
    2. Lý do: Họ nhận biết Chúa đã cảm động Phaolô và đã sai Phaolô làm sứ đồ cho dân ngoại (c. 8) cũng như Chúa đã cảm động và sai Phierơ giảng Tin Lành cho người Do Thái.
    . Họ cũng nhận biết ân điển Chúa ban cho Phaolô. Nghĩa là họ nhận biết sự hiện diện và quyền năng Chúa qua Phaolô (
    IICo 2Cr 12:12).
    3. Các Cơ Đốc nhân xác nhận: Thật ra, Chúa đã dùng nhiều Cơ Đốc nhân xác nhận sự kêu gọi của Phaolô: Như Anania xác nhận với Phaolô (
    Cong Cv 9:10-17), Banaba xác nhận với Hội Thánh Giêrusalem (9:26-27).
    4. Hội Thánh địa phương xác nhận: Theo
    ITi1Tm 3:1-7, sự kêu gọi được xét và công nhận bởi Hội Thánh địa phương. Hội thánh Antiốt đã xác nhận sự kêu gọi của Chúa cho Phaolô (Cong Cv 12:4).
    . Chúng ta có thể được kêu gọi và phong chức bởi Đức Chúa Trời, tuy nhiên trong Tân Ước có những bằng chứng cho thấy đôi khi sự kêu gọi thiên thượng cần Hội Thánh địa phương công nhận.
    Công nhận sự Kêu gọi thiên thượng






    Nguồn Thiên Thượng


    Bạn
    Con người công nhận


    Cha
    Con
    Thánh Linh

    HT
    Chức vụ
    Người ngoại

    Bài 17: PHÚC ÂM PHAOLÔ SỬA SAI PHIERƠ
    Kinh Thánh: GaGl 2:11-21
    I. QUỞ TRÁCH PHIERƠ: (2:11-14)
    1. Địa điểm: Tại HT Antiốt xứ Syri, trung tâm hoạt động của tín hữu ngoại bang, là căn cứ hoạt động truyền giáo của Phaolô.
    2. Lỗi lầm của Phierơ: Ông đã không tiếp tục ăn chung với tín hữu ngoại bang (trong bàn tiệc thánh), mà đứng lui riêng ra, khi thấy mấy người Giacơ sai đến. Lý do là vì sợ (c. 12) nghĩa là muốn làm đẹp lòng người hơn là đẹp lòng Chúa. Hành động nầy bị xem là giả hình, giả dối hay đạo đức giẫ, một sự thỏa hiệp cần phải tránh, một sự phân biệt đối xử gây chia rẽ giữa các tín hữu Do Thái và ngoại bang. Điều nầy ảnh hưởng đến cả Banaba và anh em Do Thái khác.
    3. Sự quở trách công khai của Phaolô: Phaolô công khai quở trách Phierơ vì mức độ nghiêm trọng của lỗi lầm của Phierơ: Giả hình, gây chia rẽ, không đi ngay thẳng theo lẽ thật của Tin Lành.
    4. Mục đích quở trách: Sự quở trách không nhằm hạ nhục mà giúp đỡ thẳng thắn (
    ChCn 27:6) để chận đứng ngay một việc nguy hiểm và để cảnh cáo người khác. Dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng sửa sai trước mọi người. Đây chỉ là một ngoại lệ cần thiết (Mat Mt 18:15-17. ICo1Cr 5:1-5). Chúng ta cần có can đảm áp dụng Phúc Âm trong cuộc sống hằng ngày.
    II. LÝ LUẬN QUỞ TRÁCH
    1. Lời mĩa mai (c. 15): Phaolô gọi dân ngoại là “kẻ có tội”, vì phong tục Do Thái (chứ không phải Kinh luật) làm cho người Do Thái thấy mình tốt hơn người ngoại quốc nên không muốn ngồi ăn chung vì sợ lây ô uế.
    2. Xưng công bình bởi đức tin(c. 16): Phaolô đặt mình vào vị trí của Phierơ và người Do Thái khác để khẳng định rằng chính họ cũng đã cậy đức tin trong Đấng Christ để được xưng công bình, vì biết rằng không ai được xưng công bình bởi các việc luật pháp cả.
    3. Lời lên án (c. 17-18): Không thể xem việc người ngoại bang nhờ đức tin để được xưng công bình là tội lỗi, vì nếu thế là lên án cả Đấng Christ là Đấng mà họ nhờ cậy (c. 17). Hơn nữa, nếu bắt người ngoại bang làm theo luật pháp để được cứu rỗi thì các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo đã lập lại điều mình đã phá đổ (bắt anh em ngoại bang giữ kinh luật mình không nhờ cậy), sẽ bị xem là phạm phép.
    Bài 18: CHẾT VỚI KINH LUẬT, SỐNG TRONG ĐẤNG CHRIST
    Kinh Thánh: GaGl 2:19-21
    I. CHẾT VỚI KINH LUẬT(c. 19):
    1. Giá trị của Kinh luật: Kinh luật là nguồn của sự chết chứ không phải sự sống vì nó kết án chết chúng ta trong tội lỗi.
    2. Chết với Kinh luật: Chúa Jesus đã mang lấy tội lỗi chúng ta trên chính Ngài, và Ngài đã thế chỗ cho chúng ta để chịu chết. Vì thế, khi nhờ Chúa chết thay, chúng ta được chết đối với Kinh luật, để chúng ta có thể sống một đời sống mới trong Đức Chúa Jesus Christ.
    II. SỐNG TRONG ĐẤNG CHRIST(c. 20):
    1. Một sự thật phước hạnh: Đây là lời chứng cho sự đầy đủ và hiệu quả của công tác Đấng Christ: Khiến chúng ta chết với sự kết án của kinh luật khi bước vào kinh nghiệm đồng chết với Chúa trên thập tự giá để được đồng sống lại với Ngài.
    2. Hai lời tuyên bố về Chúa Jesus: Phaolô mô tả Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời, là Đấng đã yêu tôi và phó chính mình Ngài vì tôi. Điều nầy có thể tìm thấy trong
    GiGa 3:16Eph Ep 5:25.
    3. Đã chết với Đấng Christ: Phaolô tuyên bố: Tôi đã bị đóng đinh (thì present perfect: Đã và đang) vào thập tự giá với Đấng Christ. Đây là lời tuyên bố giản dị về quan hệ của Phaolô với Kinh luật. Ông đã chết đối với sự đòi hỏi và kết án của Kinh luật.
    4. Đang sống với Đấng Christ: Cơ Đốc giáo là một kinh nghiệm sống với Đấng Sống. Cùng chết với Đâng Christ thì cũng được cùng sống lại với Ngài trong đời sống mới, bằng sự sống của Đấng Sống, chứ không bằng sự sống của bản ngã cũ.
    . Vì thế, hãy để tình yêu của Đấng Christ cảm động để sống cho Chúa (
    IICo 2Cr 5:14-15) và sống trong đời sống mới (5:17) trong sứ mạng mới là sứ mạng giảng hòa, đem sự cứu rỗi đến cho mọi người.
    5. Sự cứu rỗi bởi Ân điển: Câu 21 khẳng định lại sự cứu rỗi không bởi kinh luật mà bởi ân điển Chúa mà thôi. Ai nhờ cậy luật pháp là làm cho ân điển Đức Chúa Trời ra vô ích. Sự thật nầy đã được nhấn mạnh trong
    GaGl 2:16 (xin học thuộc cả 2:16 lẫn 2:20).
    . Hãy dùng
    2:16 để khích lệ các tín hữu ngã lòng khi thất bại trong đời sống và dùng 2:20 để khích lệ họ sống với Chúa trong đời mới.
    Bài 19: PHÚC ÂM CỦA ĐỨC TIN đối với NGƯỜI GALATI
    Kinh Thánh: GaGl 3:1-5
    Phaolô bắt đầu đoạn 3 với phần tranh luận thần học. Ông trích rất nhiều câu Kinh Thánh Cựu Ước để bảo vệ Phúc Âm ông rao giảng. Lý do là vì:
    1. Rabi Do Thái như ông thường dùng Kinh Thánh trong tranh luận tôn giáo.
    2. Có lẽ các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo đã trưng dẫn Kinh Thánh Cựu Ước nên Phaolô dùng chính Kinh Thánh Cựu Ước để giải đáp.
    3. Chính Đức Thánh Linh soi dẫn Phaolô trưng dẫn để chứng minh rằng Phúc Âm dựa trên căn bản vững vàng của Cựu Ước, và là sự làm trọn những gì nói trong Cựu Ước.
    I. THẤY RÕ MÀ NHƯ MÙ
    1. Họ thấy rõ Đức Chúa Jesus bị đóng đinh: Phaolô giới thiệu cho người Galati Chúa Jesus là Đấng Mếtsia đã hứa, Đấng làm ứng nghiệm các lời tiên tri trong Cựu Ước. Ngài đã bị đóng đinh vì tội lỗi của họ.
    2. Họ để người ta bùa ếm: Sự thật tỏ tường như thế mà họ đã khước từ thì chỉ có một lối giải thích là họ đã ngu muội để người ta bùa ếm mình !
    II. BẮT ĐẦU MÀ KHÔNG TIẾP TỤC
    1. Họ đã bắt đầu nhờ Đức Thánh Linh: Họ đã bắt đầu bằng đức tin để nhận Đức Thánh Linh và đã kinh nghiệm quyền năng của Đức Thánh Linh cũng bởi đức tin.
    2. Họ lại nhờ xác thịt để hoàn tất: Họ thật là ngu muội vì đã bắt đầu nhờ Đức Thánh Linh mà không tiếp tục nhờ Đức Thánh Linh làm trọn. Họ đã nhờ cậy xác thịt là điều không thể đưa họ vào sự xưng công bình.
    . "Xác thịt" ở đây chỉ về bản chất con người không thiêng liêng, không có sức mạnh và quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ muốn sử dụng nổ lực cá nhân thay vì tiếp tục nhờ cậy Đức Thánh Linh quyền năng.
    . Chúng ta được cứu bởi đức tin, thì cũng phải tiến lên chỗ trọn lành bằng đức tin. Đức Thánh Linh đã khởi sự làm việc lành trong chúng ta cũng là Đấng sẽ hoàn tất công tác của Ngài trong chúng ta (
    Phi Pl 1:6).
    . Đức tin không được áp dụng vào cuộc sống sẽ trở nên yếu đuối, giống như bắp thịt không được sử dụng sẽ teo đi.
    . Đức tin không được nuôi dưỡng bằng sự đáp ứng tích cực và đều đặn với Lời Chúa sẽ không thể đương cự nổi với cơn bão thử thách, tà giáo.
    Bài 20: PHÚC ÂM CỦA ĐỨC TIN BAN CHO ÁPRAHAM
    Kinh Thánh: GaGl 3:6-9
    I. CON CHÁU THẬT CỦA ÁPRAHAM
    1. Ápraham được xưng công bình bởi đức tin: Phúc Âm của đức tin đã được ban cho Ápraham từ nhiều thế kỷ trước khi có Kinh luật. Chúng ta có thể nói rằng Ápraham được xưng công bình trong vị trí của một người ngoại bang, vì lúc ấy quốc gia Do Thái chưa được thành lập.
    . Chính Đức Chúa Trời ban Phúc Âm của đức tin cho Ápraham khi Ngài kể Ápraham là công bình chỉ bởi đức tin.
    SaSt 15:6 chép rằng:"Ápraham tin Đức Giêhôva thì Ngài kể sự đó là công bình cho người".
    2. Con cháu thật của Ápraham: Ápraham là tổ phụ của dân Do Thái và một số dân tộc sống trong sa mạc. Họ được kể là con cháu Ápraham nhờ mối liên lạc huyết thống thể xác và phép cắt bì.
    . Tuy nhiên, mối liên lạc đó không khiến họ trở nên con cháu thật của Ápraham (
    GiGa 8:39, 44; RoRm 2:28). Chỉ có những người có mối liên lạc thuộc linh với Ápraham mới là con cháu thật của Ápraham. Mối liên lạc thuộc linh đó chính là đức tin nơi Chúa Jesus, "Người Dòng dõi" của Ápraham.
    II. LỜI HỨA CHO DÂN NGOẠI QUA ÁPRAHAM
    1. Kinh Thánh biết trước: Sự xưng công bình cho dân ngoại đã được Đức Chúa Trời định sẵn từ trước khi có dân Do Thái. Phúc Âm cho người ngoại bang không phải là một sản phẩm của trí tưởng tượng của Phaolô, mà là chương trình cứu rỗi của chính Đức Chúa Trời, được ghi lại trong Kinh Thánh là Lời của Ngài.
    2. Kinh Thánh rao truyền Phúc Âm:
    SaSt 12:1-3 ghi lại lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham. Các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo chắc hẳn đã trích dẫn Môise để tranh luận, nhưng Phaolô trưng dẫn Ápraham là tổ phụ của Môise. Họ trưng dẫn Kinh luật, nhưng Phaolô trưng dẫn Lời Hứa có trước Kinh luật hơn 400 năm.
    . Lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham được Phaolô gọi là Phúc Âm : "các chi tộc nơi thế gian sẽ nhờ ngươi mà được phước".
    . Trong
    GaGl 3:6-9, bốn lần Phaolô tuyên bố rằng sự tương giao với Đức Chúa Trời (được xưng công bình, được phước) đến từ đức tin mà thôi. Như thế, ai tin thì được phước với Ápraham, là người có lòng tin.
    Bài 21: PHÚC ÂM CỨU TA KHỎI RỦA SẢ CỦA KINH LUẬT
    Kinh Thánh: GaGl 3:10-14
    I. MỌI NGƯỜI Ở DƯỚI SỰ RỦA SẢ CỦA KINH LUẬT
    1. Đòi hỏi của Kinh luật: Kinh luật đòi hỏi con người phải vâng giữ mọi điều răn để được sống (
    3:12). Chỉ phạm một điều răn thì cũng bị kết tội như đã phạm hết thảy (Gia Gc 2:10).
    2. Thất bại của mọi người: Không ai có thể cậy Kinh luật mà được xưng công bình, được sống (
    GaGl 3:11), vì không ai có thể bền đỗ trong việc làm theo mọi sự đã chép trong Kinh luật (3:10).
    3. Mọi người đều bị rủa sả: Mọi người đều thất bại nên mọi người đều bị rủa sả bởi Kinh luật (
    PhuDnl 27:26).
    II. ĐỨC CHÚA JESUS CỨU CHUỘC TA KHỎI SỰ RỦA SẢ
    1. Đấng Christ đã nên sự rủa sả vì chúng ta: Đức Chúa Trời đã làm cho Đấng vốn chẳng biết tội lỗi, trở nên tội lỗi vì cớ chúng ta (
    IICo 2Cr 5:21). Đấng Christ là Đấng Công Bình thay cho kẻ không công bình (IPhi 1Pr 3:18) để chết trên cây gỗ, trở nên bị rủa sả vì cớ chúng ta (PhuDnl 21:22-23). Đây là hình ảnh của một phạm nhân bị rủa sả, bị kết án trước khi bị treo trên cây gỗ.
    2. Đấng Christ cứu chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả: Đấng Christ đã trả giá chuộc để chuộc chúng ta ra khỏi sự rủa sả của Kinh luật. Giá trả đó là huyết báu của Ngài (
    IPhi 1Pr 1:18-19), là sự rủa sả mà Ngài đã chịu thế chỗ cho chúng ta.
    III. ĐỨC CHÚA JESUS BAN PHÚC ÂM CỦA ĐỨC TIN
    1. Nhờ đức tin hưởng hai quyền lợi do sự chết của Chúa Jesus: Phaolô cho biết, nhờ sự chết của Chúa Jesus, hết thảy mọi người đều có thể cậy đức tin để hưởng phước lành Chúa ban cho Ápraham và hưởng sự ban cho Đưc Thánh Linh như Chúa đã hứa (
    GaGl 3:14).
    2. Nhờ đức tin mà sống:
    3:11 là câu chìa khóa cho thần học của Phaolô và cho cả thơ tín Galati lẫn Rôma (RoRm 1:17). Phaolô trích dẫn HaKb 2:4 để nhấn mạnh rằng đức tin là nguyên tắc cai trị đời sống của người công chính.
    . Nguyên tắc sống của Kinh luật là "Làm" để được xưng công bình và chẳng ai làm được cả. Nguyên tắc của Phúc Âm là "Đức tin" không những để được xưng công bình mà còn để sống đắc thắng mỗi ngày.
    Bài 22: KINH LUẬT KHÔNG THỂ HỦY LỜI HỨA
    Kinh Thánh: GaGl 3:15-18
    I. GIÁ TRỊ CỦA GIAO ƯỚC
    1. Ý nghĩa: Ý niệm về giao ước rất quan trọng trong sự nghiên cứu Kinh Thánh. Giao ước có hai ý nghĩa chính là "hợp đồng" và "di chúc". Ở đây, giao ước có nghĩa là di chúc.
    2. Giá trị và hiệu lực của Di chúc: Di chúc chỉ có hiệu lực khi người viết di chúc đã chết, và sau khi người nầy chết, di chúc không thể bị thay đổi. Không ai có quyền xóa đi hay thêm vào sự gì cả (
    GaGl 3:15).
    3. Đức Chúa Trời chết ?: Sự cứu rỗi cho mọi người dựa trên giao ước của lời hứa ban cho Ápraham. Chính Đức Chúa Trời lập di chúc nầy, nên Ngài phải chết để giao ước nầy có hiệu lực. Vì thế, Ngài đã phải trở nên một Con Người là Đức Chúa Jesus Cơ Đốc, để chết.
    II. NGHIÊN CỨU HÊBƠRƠ HeDt 9:15-22
    1. Hai loại Giao ước:
    9:15-22 đề cập đến hai loại giao ước. Đó là Giao ước cũ của Kinh luật và Giao ước mới trong Chúa Jesus. Thật ra, Giao ước mới trong Chúa Jesus cũng chính là Giao ước của lời hứa đã ban cho Ápraham.
    2. Sự đổ huyết khiến Giao ước có hiệu lực: Cả hai Giao ước đều được hiệu lực nhờ sự đổ huyết:
    . Giao ước cũ của Kinh luật cần sự đổ huyết của sinh tế là những con vật. Môise đã dùng huyết rảy trên luật pháp, dân chúng và đền tạm.
    . Giao ước mới trong Chúa Jesus cần sự đổ huyết của Chúa Jesus một lần đủ cả để khiến lời hứa của Đức Chúa Trời cho Ápraham được thành tựu, mọi dân tộc đều được phước, hưởng cơ nghiệp qua Ápraham.
    III. GIÁ TRỊ CỦA GIAO ƯỚC LỜI HỨA
    1. Nhờ Người Dòng dõi: Giao ước lời hứa được ban cho Ápraham và "dòng dõi". Phaolô cho biết rằng chữ "Dòng dõi" ở số ít, chỉ về Chúa Jesus là người Dòng dõi của Ápraham, khiến phước hạnh dành cho Ápraham tuôn tràn ra cho mọi dân tộc tin nhận Ngài.
    2. Giao ước của lời hứa không thể bị bỏ đi: Giao ước của luật pháp chỉ được lập trên huyết sinh vật, và lại có sau giao ước lời hứa 430 năm nên không thể hủy bỏ giao ước của lời hứa, là giao ước đã được làm mới lại và làm hữu hiệu nhờ huyết của chính Đức Chúa Trời Ngôi Hai.
    Bài 23: KINH LUẬT DẪN ĐẾN ĐẤNG CHRIST
    Kinh Thánh: GaGl 3:19-22
    I. TẠI SAO CÓ KINH LUẬT ?
    1. Mục đích của Kinh luật: Kinh luật đã được đặt thêm vì cớ có những sự phạm phép. Như thế, Kinh luật được ban cho để kiềm chế bản chất hay sa ngã của con người. Hơn nữa, Kinh luật được thêm vào để định tội tất cả những hành vi tội lỗi, nghĩa là, ai không vâng theo Kinh luật là phạm tội.
    . Tóm lại, hai mục đích của Kinh luật là kiềm chế và lên án tội lỗi con người. Chúng ta có thể dẫn giải hai mục đích của Kinh luật bằng hình ảnh của tấm bảng chỉ tốc độ của xe. Nó nhắc nhở người lái xe giảm tốc độ, và nó sẽ lên án người đi quá tốc độ cho phép.
    . Kinh luật thật hữu ích, vì thế giới sẽ ra sao nếu không có luật lệ và tiêu chuẩn đạo đức ?
    2. Người trung bảo của Kinh luật: Theo lòng tin của các rabi Do Thái thì Kinh luật được ban cho thiên sứ, rồi thiên sứ mới ban cho Môise. Vì thế, Môise được gọi là người trung bảo của giao ước Kinh luật. Điều nầy khác hẳn với giao ước của lời hứa được Đức Chúa Trời ban trực tiếp cho Ápraham.
    . Ngoài ra, giao ước Kinh luật đòi hỏi cả hai bên ký kết đều phải tôn trọng. Nhưng con người đã không tôn trọng khiến giao ước Kinh luật bị phá hỏng. Trong khi đó, Giao ước của lời hứa chỉ lệ thuộc vào Đấng ban lời hứa là Đức Chúa Trời bất biến.
    3. Giới hạn của Kinh luật: Kinh luật chỉ có giá trị cho đến khi Người Dòng dõi đến. Người Dòng dõi ở đây là Đức Chúa Jesus, là Đấng sẽ khiến lời hứa cho Ápraham trở thành hiện thực.
    II. THÀNH TỰU CỦA KINH LUẬT
    1. Kinh luật nhốt mọi người dưới tội lỗi: Kinh luật thành công trong việc lên án loài người, nhốt mọi người dưới sự kết án cho tội lỗi.
    2. Kinh luật chỉ con người thấy con đường đức tin: Mọi người đều thất bại trong sự tuân giữ Kinh luật, nên mọi người chỉ còn một con đường duy nhất là con đường đức tin nơi Chúa Jesus để nhận lời Chúa hứa cho Ápraham. Như thế, Kinh luật không những không chống nghịch mà còn đưa con người đến với lời Chúa hứa.
    Bài 24: PHƯỚC HẠNH CỦA ĐỨC TIN
    Kinh Thánh: GaGl 3:23-29
    I. KHÔNG CÒN PHỤC DƯỚI KINH LUẬT
    1. Kinh luật là người giám hộ: Trong xã hội Hylạp, các gia đình thường có một tôi tớ gọi là "paidagogos". Người nầy không phải là thầy giáo, nhưng thường là một nô lệ đứng tuổi có đức hạnh, đáng tin cậy. Chủ nhân giao cho anh ta trách nhiệm chăm sóc đời sống đạo đức của các con còn nhỏ, dẫn chúng nó từ nhà đi đến trường.
    . Kinh luật là đầy tớ của Đức Chúa Trời, cho chúng ta thấy mình là tội nhân và dẫn chúng ta đến với Đức Chúa Jesus Christ.
    2. Người giám hộ dẫn đến Đấng Christ: Câu nầy có hai ý nghĩa :
    . Kinh luật dẫn chúng ta đến cùng Đấng Christ là con đường cứu rỗi, do Kinh luật bày tỏ sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và khẳng định sự bất lực của sức riêng và sự lên án vì tội lỗi.
    . Kinh luật dẫn chúng ta cho đến khi Đấng Christ đến. Khi Đấng Christ đến, chúng ta không còn phục dưới người giám hộ "Kinh luật" nữa (25).
    II. PHƯỚC HẠNH CỦA ĐỜI SỐNG ĐỨC TIN
    1. Con trai của Đức Chúa Trời: Xưng công chính bởi đức tin là tiếp nhận một bản chất mới, một địa vị mới là con cái Đức Chúa Trời có quyền năng để sống theo kinh luật của Đức Chúa Trời.
    . Biến cố nầy được gọi là sự tái sanh do Đức Thánh Linh, kết quả của một đời sống ăn năn tội và lấy đức tin tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa, tiếp nhận lời hứa của Đức Chúa Trời trong Chúa Jesus.
    2. Báptem trong Đấng Christ: Lễ báptem là biểu tượng của sự chết đời sống cũ và sống lại đời sống mới. Đó là nghi lễ bên ngoài của một sự thay đổi bên trong của người tin nhận Chúa Jesus.
    3. Mặc lấy Đấng Christ: Điều nầy không những khẳng định một địa vị thánh, một mối tương giao gần gũi với Chúa Jesus, mà còn khẳng định sự thể hiện ra bên ngoài những sự thay đổi bên trong tấm lòng.
    4. Hiệp một trong Đấng Christ: Trong Đấng Christ, mọi bức tường ngăn cách về chủng tộc, giai cấp, nam nữ . . . đều không còn tồn tại. Tất cả đều hiệp làm một trong Chúa.
    5. Kẻ kế tự: Chúng ta được thuộc về Đấng Christ thì cũng thuộc về Ápraham và được hưởng cơ nghiệp theo lời Chúa hứa.
    Bài 25: TỪ NÔ LỆ TỚI CON CÁI
    Kinh Thánh: 4:1-5
    I. NÔ LỆ LÚC CÒN VỊ THÀNH NIÊN (4:1-3)
    1. Paidagogos: Kinh luật là người giám hộ cho người Do Thái, cũng như các lề thói của thế gian là giám hộ của người ngoại bang.
    . "Các lề thói của thế gian" hay những yếu tố sơ đẳng của thế gian, còn được dịch là "những thần linh của vũ trụ". Những chữ nầy bao gồm những hệ thống sơ đẳng, các nghi lễ tôn giáo trên thế gian.
    2. Con cái nhưng bị xem như nô lệ: Cũng như con cái vị thành niên, phải ở dưới ách nô lệ của người giám hộ, thì cũng vậy, mọi người phải ở dưới ách nô lệ của người giám hộ là Kinh luật và các lề thói thế gian.
    II. ĐẤNG CHRIST ĐẾN (4:4-6)
    1. Khi kỳ hạn đã được trọn: Khi thời gian Đức Chúa Trời đã định cho Chúa Jesus đã đến, hoặc khi sự sửa soạn trong lịch sử nhân loại cho Phúc Âm đã đến, thì Đức Chúa Trời mới sai Con Ngài đến.
    2. Đức Chúa Trời sai Con Ngài: Chúa Jesus là Con Đức Chúa Trời trước khi được sanh ra tại Bếtlêhem. Ngài được sai xuống trong địa vị là Con Đức Chúa Trời, có cùng bản chất với Cha và đại diện cho Cha.
    3. Ba điều về sự giáng trần của Chúa Jesus: Câu 4 cho biết Chúa Jesus được Đức Chúa Cha sai xuống (Ngài có thần tánh), Ngài được sinh ra bởi một người nữ (Dòng dõi người nư : Ngài có nhân tánh), và sinh ra dưới luật pháp (để cứu những người ở dưới luật pháp).
    III. PHƯỚC HẠNH KHI ĐẤNG CHRIST ĐẾN
    1. Hai lý do Đức Chúa Trời sai Con Ngài: Đó là: Để chuộc những kẻ ở dưới luật pháp, và ban cho chúng ta được làm con nuôi Ngài (c. 5).
    2. Chuộc những kẻ ở dưới luật pháp: Chúa Jesus đã sanh ra dưới điều kiện của Kinh luật để mua chuộc những kẻ ở dưới Kinh luật. Ngài đã trả giá để mua chúng ta trở lại, giải thoát chúng ta khỏi bản án tử hình cho những ai không tuân giữ Kinh luật. Điều kiện của Đấng Cứu chuộc là Ngài phải là Đấng Thánh khiết mới có thể làm tế lễ chuộc tội trọn vẹn cho chúng ta là những tội nhân.
    3. Làm con nuôi Ngài: Con Đức Chúa Trời trở thành Con Người để con người được làm con Đức Chúa Trời.
    Bài 26: NGHI LỄ TÔN GIÁO và KINH NGHIỆM THUỘC LINH
    Kinh Thánh: 4:6-11
    I. KINH NGHIỆM THUỘC LINH
    1. Được Tái sanh: Không những chúng ta được mối liên hệ pháp lý với Đức Chúa Trời, được Ngài nhận làm con nuôi, chúng ta còn được Đức Thánh Linh ngự vào lòng, tái sanh chúng ta làm con cái thật của Đức Chúa Trời.
    2. Mối tương giao sống động: Aba là từ được các đứa trẻ dùng để gọi cha mình trong nhà. Cũng vậy, chúng ta có một mối tương giao sống động, gần gũi với Đức Chúa Trời, khiến chúng ta có thể đến trực tiếp với Đức Chúa Trời với sự tự tin của một người con ruột trong nhà.
    . Như thế, chúng ta không còn là nô lệ mà đã là con trong nhà Cha.
    3. Kẻ kế tự bởi ơn Đức Chúa Trời: Qua Đức Chúa Jesus, chúng ta được làm con cái Đức Chúa Trời và được hưởng cơ nghiệp Chúa ban qua Chúa Jesus. Hãy sống như người đang sở hữu một cơ nghiệp vĩ đại.
    - Con trẻ vị thành niên
    Dưới người giám hộ (Kinh luật)
    Địa vị: Giống như nô lệ
    Nô lệ dưới Kinh luật bên ngoài
    Trường sơ đẳng Kinh luật
    - Con đã trưởng thành
    Vui hưởng liên hệ Cha-con
    Con cái, kẻ kế tự, đầy đủ quyền lợi
    Tự do nhờ Thánh Linh bên trong
    Trường cao đẳng với Thánh Linh
    II. TÔN GIÁO NGHI LỄ và KINH NGHIỆM THUỘC LINH
    1. Tôn giáo nghi lễ: Là một phần trong mặc khải tuần tự của Chúa cho con người khi họ còn là con trẻ, chưa hiểu được các điều trừu tượng, chưa biết rõ chính Đức Chúa Trời (c. 8a). Vì thế, tôn giáo nghi lễ chú trọng đến các vật hữu hình, các nghi lễ, và sự cố gắng của con người.
    2. Tôn giáo của kinh nghiệm thuộc linh: Hiện nay, chúng ta biết Chúa một cách cá nhân, nhờ Chúa biết chúng ta và tự mặc khải Ngài cho chúng ta. Chúng ta không còn thờ phượng bằng nghi lễ mà thờ phượng trong Thánh Linh và lẽ thật (
    GiGa 4:24). Chúng ta cũng không tự nổ lực mà nhờ công việc của Đức Chúa Trời.
    - Tôn giáo của nghi lễ
    1. Cố gắng của loài người
    2. Các đồ vật biểu tượng hữu hình
    3. Các nghi lễ phải giữ.
    - Tôn giáo kinh nghiệm thuộc linh
    Công việc của Đức Chúa Trời
    Nhận biết Chúa =kinh nghiệm cá nhân
    Thờ phượng trong Thánh Linh
    Bài 27: THẢM KỊCH TẠI GALATI !
    Kinh Thánh : GaGl 4:12-20
    I. TIẾP NHẬN PHÚC ÂM CÁCH VUI MỪNG
    1. Lời khuyên: Phaolô gợi người Galati là anh em dù họ đã từ bỏ ông. Ông khuyên họ hãy giống như ông.
    . Ông đã từng cậy kinh luật để được xưng công bình. Nhưng từ khi gặp Chúa, ông bỏ hết mọi sự để đến gần Đức Chúa Trời chỉ bằng đức tin mà thôi. Ông khuyên họ hãy đi đúng đường mà ông đã đi.
    2. Nhắc lại thuở ban đầu: Phaolô nhắc tín hữu Galati nhớ sự tiếp rước mà họ dành cho ông dù lúc ấy ông có "xác thịt yếu đuối". Những chữ nầy nói đến tình trạng sức khỏe của Phaolô. Có lẽ ông bị đau mắt hoặc kiệt sức do lần bị ném đá tại Líttrơ (
    Cong Cv 14:19), hay bị sốt rét là bệnh phổ biến ở Nam Galati. Có người bảo Phaolô bị kinh phong ? (IICo 2Cr 12:7).
    . Dầu vậy, Phaolô vẫn rao giảng Phúc Âm và các tín hữu Galati đã tiếp đón ông như thiên sứ hay như chính Chúa Jesus. Họ vui mừng đến nỗi sẵn sàng dâng cho ông con mắt là điều quý nhất (
    GaGl 4:15).
    II. MỤC ĐÍCH và ĐỘNG LỰC của CƠ ĐỐC NHÂN gốc DO THÁI GIÁO
    1. Mục đích: Họ rất nhiệt thành sốt sắng, nhưng với ý xấu là gây chia rẻ giữa tín hữu Galati với Phaolô, hủy phá công việc và ảnh hưởng của Phaolô tại Galati.
    2. Động lực: Sự nhiệt thành phải xuất phát từ động lực tốt, nếu không nó chỉ gây đổ vỡ nghiêm trọng. Các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo đã không sốt sắng vì điều thiện, mà chỉ sốt sắng để người Galati sốt sắng vì họ, tôn trọng họ, khen ngợi họ và tùng phục họ.
    III. TÂM TÌNH PHAOLÔ
    1. Hỡi các con: Phaolô thay đổi cách xưng hô vì thật ra, tín hữu Galati là con thuộc linh của ông. Ông luôn quan tâm đến con cái mình.
    2. Ta lại chịu đau đớn của sự sanh nở: Phaolô đã đau đớn khi đưa họ đến với Chúa, nay ông lại sẵn sàng chịu đau đớn một lần nữa vì cớ họ, vì ông không thể để họ lầm lạc chuốc lấy sự chết tâm linh.
    3. Cho đến chừng Đấng Christ thành hình trong các con: Phaolô tự đưa cho mình một mục tiêu trong sự chăm sóc. Ây là cho đến khi họ được trưởng thành để ảnh tượng Đấng Christ lộ ra trong họ. Họ thật sự là con của Đấng Christ, bày tỏ Đấng Christ cho mọi người.
    Bài 28: NÔ LỆ HAY TỰ DO ?
    Kinh Thánh: GaGl 4:21-31
    I. AGA SARA VÀ HAI GIAO ƯỚC
    1. Hai con trai Ápraham: Phaolô cho biết người Galati muốn phục theo Kinh luật mà không biết Kinh luật dạy điều gì thì thật mù quáng. Ông nêu trường hợp hai người con của Ápraham để minh họa:
    . Íchmaên là con của Aga, người nữ nô lệ (c. 22a). Ông được sinh ra theo xác thịt (c. 23a), nghĩa là theo ý người, theo cách tự nhiên của con người. Ông được sinh ra chỉ để làm nô lệ (c. 24).
    . Ysác là con của Sara, người nữ tự chủ (c. 22b). Ông được sinh ra theo lời hứa (c. 23b), nghĩa là theo ý Chúa, nhờ quyền năng siêu nhiên của Chúa. Ông được sinh ra để làm chủ, là người tự do.
    2. Hai giao ước: Phaolô cho biết Aga tượng trưng cho giao ước Kinh luật tại núi Sinai. Thật đáng ngạc nhiên khi Phaolô so sánh Íchmaên với người Do Thái (con cái Giêrusalem) là hậu tự của Ysác. Nhưng đó là sự thật: Họ đang ở dưới ách nô lệ của Kinh luật.
    . Phaolô lại dùng lời tiên tri về dân Ysơraên trong
    EsIs 54:1 để áp dụng cho Sara là tượng trưng cho giao ước lời hứa với những đứa con là người lấy đức tin tiếp nhận lời hứa (đa số là ngoại bang !). Giao ước nầy được so sánh với Giêrusalem ở trên trời là "tự do và là mẹ chúng ta". Ông muốn đề cập đến kinh nghiệm tái sanh của mọi người tin khiến họ trở nên con cái của lời hứa.
    II. SỰ THỪA KẾ CỦA CON CÁI LỜI HỨA
    1. Chúng ta giống Ysác: Cả hai đều được bước vào gia đình Đức Chúa Trời bằng quyền năng siêu nhiên nhờ đức tin nơi lời hứa của Ngài.
    2. Dù bị bắt bớ: Ngày xưa Íchmaên cười cợt, xem thường Ysác thì lúc bấy giờ, người Do Thái là kẻ sinh theo xác thịt gây rắc rối, bắt bớ những người có đức tin, là kẻ sinh ra theo Thánh Linh, theo lời hứa.
    3. Nhưng con trai người nữ tự chủ mới được kế tự: Íchmaên cũng như Aga phải bị đuổi đi, không được quyền kế tự. Chỉ có Ysác, con trai người nữ tự chủ mới được quyền kế tự.
    4. Chúng ta là con cái người nữ tự chủ: Chúng ta là con cái của lời hứa, là người tự do, là người có quyền kế tự. Không có lý do gì lại sống như người nô lệ để mất quyền kế tự !
    Bài 29: PHÉP CẮT BÌ HAY ĐỨC TIN ?
    Kinh Thánh: GaGl 5:1-6
    I. KHẲNG ĐỊNH ĐỊA VỊ MỚI
    1. Đấng Christ đã giải phóng: Phaolô bắt đầu phần tranh luận thứ ba và cũng là phần quan trọng nhất. Đó là tranh luận đạo đức (thực tế). Ông nhắc cho tín hữu Galati biết địa vị tự do mà Chúa Jesus đã ban cho qua sự giải phóng của Ngài.
    2. Chớ trở lại ách nô lệ: Họ đã từng làm nô lệ cho các sơ học thế gian, nhưng nhờ đức tin nơi Chúa Jesus, họ đã được tự do. Nay họ lại muốn nhờ Kinh luật, tức là trở lại ách nô lệ cho những gánh nặng khó mang.
    II. SỰ NGUY HẠI CỦA VIỆC LÀM CẮT BÌ
    1. Vô hiệu hóa công việc của Đấng Christ: Họ làm cắt bì tức là họ hủy bỏ sự cứu chuộc bởi Chúa Jesus, vì giữa Chúa Jesus và Kinh luật, họ chỉ có thể chọn một. Chọn phép cắt bì là bỏ Chúa Jesus.
    2. Thách thức sự đầy đủ của công tác Đấng Christ: Họ làm cắt bì tức là xem công tác cứu chuộc của Chúa Jesus không đủ để cứu họ. Thật ra Ápraham cũng được xưng công bình trước rồi mới chịu cắt bì, nhưng phép cắt bì của Ápraham mang ý nghĩa khác hẳn (ấn chứng).
    3. Họ phải vâng giữ cả Kinh luật: Muốn được xưng công bình bởi Kinh luật, người Galati phải giữ trọn Kinh luật. Đây là một điều bắt buộc mà không ai làm nỗi, và đây cũng chính là lý do có Phúc Âm.
    4. Họ lìa khỏi Đấng Christ, mất ân điển Ngài: Nhờ Kinh luật là nhờ xác thịt và công đức, mà sự thất bại của họ sẽ đưa họ vào sự đánh mất tương giao với Đấng Christ, mất phần ân điển là ơn ban cho những người cảm nhận sự thất bại của mình, chạy đến với Đấng Christ.
    III. ĐIỀU CHÚNG TA PHẢI LÀM
    1. Phải nhờ đức tin và Đức Thánh Linh: Không thể nhờ xác thịt và công đức, nên điều duy nhất có thể làm là nhờ đức tin và Thánh Linh.
    2. Lãnh sự trông cậy của sự công bình: Chúng ta đã được xưng công bình, được cứu khỏi án phạt tội lỗi và đang được cứu khỏi quyền lực tội lỗi, chúng ta cần được cứu khỏi sự hiện diện của tội lỗi trong tương lai, trong nước Chúa.
    3. Đức tin và tình yêu: Đức Thánh Linh sẽ thay đổi tấm lòng người có đức tin để sống bằng tình yêu thiên thượng từ bên trong.
    Bài 30: SỰ TIẾN BỘ BỊ NGĂN TRỞ
    Kinh Thánh: GaGl 5:7-12
    I. LỜI NHẬN ĐỊNH VỀ TÍN HỮU GALATI
    1. Anh em chạy giỏi: Các tín hữu Galati đã bắt đầu rất tốt. Dù giữa khó khăn, họ đã tiếp nhận Tin Lành và sống theo Tin Lành họ đã nhận.
    2. Anh em không có ý khác: Phaolô quy trách nhiệm cho các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo về việc tín hữu Galati từ bỏ ông. Ông bảo họ rằng ông vẫn tin họ tốt. Đây là một nghệ thuật khuyên dạy: Hãy tìm một điểm tốt để khích lệ trước khi sửa dạy người khác, và hãy cho họ biết mình tin họ để họ cũng tin rằng họ sẽ đắc thắng sai phạm quá khứ.
    II. NHẬN ĐỊNH VỀ CƠ ĐỐC NHÂN GỐC DO THÁI GIÁO
    1. Kẻ ngăn trở tín hữu vâng phục lẽ thật (c. 7): Chính họ không vâng phục lẽ thật, và họ còn ngăn trở các tín hữu Galati vâng phục lẽ thật, mà đời sống không vâng phục lẽ thật sẽ thật vô phước !
    2. Không đến từ Chúa (c. 8): Chúa muốn mọi người đều biết và vâng phục lẽ thật. Vì thế, các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo không thể đến từ Chúa.
    3. Là men nguy hiểm: Lời dạy dỗ của các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo bị xem là lời xúi giục lầm lạc, là men tội ác. Như thế, một lời dạy sai lầm sẽ rất dễ ảnh hưởng đến nhiều người. Do đó, cần loại trừ ngay trước khi nó ảnh hưởng đến người khác.
    4. Kẻ gây rối: Phúc Âm đem bình an, nhưng các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo đã không có Phúc Âm nên họ chỉ đem sự rối trí, rối loạn, chứ không thể đem bình an và hiệp một.
    5. Kẻ vấp phạm về thập tự giá: Thập tự giá của Chúa Jesus là hòn đá vấp chơn cho người Do Thái, vì đối với họ, Đấng Mếtsia phải là Vua chiến thắng. Họ không muốn đề cao nó, ngay cả khi họ tin Chúa Jesus !
    III. KẾT QUẢ
    1. Phaolô vẫn sẵn sàng chịu bắt bớ: Sau khi gặp Chúa, Phaolô không còn bao giờ giảng cổ súy cho phép cắt bì, mà chỉ chuyên tâm giảng Phúc Âm của sự cứu rỗi bởi đức tin, dù phải chịu nhiều bắt bớ.
    2. Kẻ gây rối cần tự xử: Phaolô khuyên các Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo nên tự xử lấy mình trước khi bị Chúa xử phạt.
    3. Kẻ gây rối sẽ chịu hình phạt: Vì mức độ nguy hiểm của tội gây rối, họ sẽ phải bị hình phạt ! Đây là một lời cảnh cáo nghiêm trọng !
    Bài 31: TÌNH YÊU LÀM TRỌN LUẬT PHÁP
    Kinh Thánh: 5:13-15
    I. LỜI KHUYÊN DẠY
    1. Xác định địa vị phước hạnh: Phaolô khẳng định rằng mọi tín hữu đã được gọi đến sự tự do. Chính Chúa Jesus đã giải phóng họ để ban cho họ sự tự do thật (
    GiGa 8:36)
    2. Lời khuyên tiêu cực: Phaolô khuyên tín hữu đừng lạm dụng sự tự do để ăn ở theo tánh xác thịt. Kinh Thánh thường dùng từ "xác thịt" với ba ý nghĩa: Thể chất gọi là thịt, Thân thể con người hay chết, Bản chất cũ tự nhiên của con người hay là bản ngã. Ở đây, Phaolô dùng ý thứ ba.
    . Chắc hẳn ở Galati có đến ba nhóm: Nhóm theo Phaolô nhờ đức tin nơi Chúa Jesus để được cứu, Nhóm Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo thêm Kinh luật và đức tin, và Nhóm chống Kinh luật tuyên bố họ nhờ đức tin được tự do nên không cần tuân giữ bất cứ một đòi hỏi nào của Kinh luật. Lời khuyên nầy dành cho nhóm thứ ba. Đức tin thật phải dẫn đến sự nên thánh vì sự tự do trong Chúa là tự do để nên thánh.
    3. Lời khuyên tích cực: Phaolô khuyên hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau, phục vụ lẫn nhau trong khiêm nhu và tình yêu thiên thượng. Phaolô lại nhấn mạnh đến vị trí của Đức Thánh Linh: Ngài đặt tình yêu thiên thượng vào lòng chúng ta để chúng ta sống đời sống mới. Tình yêu thiên thượng đó kiểm soát tích cực trên bản ngã, khiến chúng ta yêu người khác và làm điều tốt lành cho họ.
    II. LÝ DO SỐNG TRONG TÌNH YÊU THIÊN THƯỢNG
    1. Kinh luật chỉ tóm trong một lời: Đó là "Hãy yêu kẻ lân cận như mình". Đúng ra Kinh luật chỉ tóm lại trong một chữ Yêu (Yêu Chúa và Yêu kẻ lân cận như Yêu mình
    Mat Mt 22:34-40). Hay nói một cách khác tình yêu sẽ khiến chúng ta làm trọn luật pháp.
    2. Thiếu tình yêu thiên thượng sẽ tự hủy diệt: Thiếu tình yêu thiên thượng, Hội Thánh sẽ chỉ là nơi "cắn nuốt", xâu xé. Chia rẽ là xé rách Hội Thánh của Đức Chúa Trời, và như thế là tự hủy diệt mình. Hội Thánh không làm trọn thiên chức của mình thì sẽ không có lý do tồn tại. Thuốc chữa cho sự chia rẽ là tình yêu thiên thượng.
    . Tình yêu thiên thượng mà Phaolô nói ở đây là chính tình yêu của Đấng Christ, là tình yêu hy sinh, tình yêu của Cha Thiên Thượng.
    Bài 32: THẤT BẠI CỦA CÔNG ĐỨC RIÊNG
    Kinh Thánh: GaGl 5:16-21
    I. XUNG ĐỘT GIỮA XÁC THỊT VÀ THÁNH LINH
    1. Sự xung đột: Thánh Linh và xác thịt có những điều ưa muốn hoàn toàn trái ngược nhau. Vì thế, chúng ta không thể làm những điều mình muốn cho đẹp lòng Chúa (
    5:17). Đó chính là lý do không ai giữ nỗi Kinh luật. Mọi người đều bị ở dưới sự lên án của kinh luật.
    2. Bí quyết đắc thắng xác thịt: Bí quyết để đắc thắng xác thịt là phải bước đi theo Thánh Linh (
    5:16) hay nhờ Thánh Linh chỉ dẫn (5:18). Điều nầy đòi hỏi một sự đầu phục liên tục, nhạy cảm với ý muốn của Đức Thánh Linh, để Đức Thánh Linh dẫn dắt đời sống.
    . Chính sự đầy dẫy Đức Thánh Linh sẽ giữ chúng ta khỏi làm theo ưa muốn của xác thịt (
    5:15). Ngài sẽ đặt tình yêu thiên thượng vào lòng, khiến chúng ta đáp ứng mọi đòi hỏi của kinh luật, giải phóng chúng ta khỏi ách nô lệ của tội lỗi và sự chết (RoRm 8:2).
    II. THẤT BẠI CỦA NỔ LỰC RIÊNG
    1. Bản liệt kê việc làm của xác thịt: Bản liệt kê chưa đầy đủ, nhưng nói lên những tội phạm quan trọng thường xảy ra trong thời Phao Lô. Đó là:
    a. Tội bất khiết: Gian dâm: Tội lỗi rất phổ biến và không bị lên án trong xã hội bấy giờ! . Ô uế: Chưa được tẩy uế: Không xứng đáng ra mắt Thượng Đế. Luông tuồng: Không tự chế, mà buông thả vào mọi phóng túng, dâm ô.
    b. Tội thờ ma quỷ: Thờ hình tượng: Tôn thờ vật thọ tạo, vật chất thay cho Thượng Đế. Phù phép: Tà thuật với những phương thuốc của ma quỷ.
    c. Tội thiếu tình yêu: Thù oán: Thù nghịch, ghen ghét, trái với tình yêu thiên thượng. Tranh đấu: Tranh chấp để giành phần thắng, không quan tâm hậu quả. Ghen tỵ : Ước muốn sai lầm đối với những điều mình không có. Buồn giận: Đúng ra là giận dữ hay giận lửa rơm.
    d. Tội bè đảng: Bất bình nghĩa đen là đứng riêng ra. Bè đảng: Khai triển điểm khác biệt để công kích nhau. Ganh gỗ: Ác cảm và cố chiếm đoạt điều không phải của mình.
    e. Tội ăn uống: Say sưa làm mất nhân cách. Mê ăn uống: Chè chén quá độ.
    2. Lời cảnh cáo: Phao Lô cảnh cáo ai phạm (thực hành: miệt mài, không ăn năn) những tội trên sẽ không được hưởng Nước Trời.
    Bài 33: CHIẾN THẮNG CỦA ĐỜI SỐNG TRONG THÁNH LINH
    Kinh Thánh: GaGl 5:22-26
    I. TRÁI CỦA THÁNH LINH
    1. Tráichứ không phải việc làm:
    5:19-21 liệt kê những việc làm của xác thịt, nhưng 5:22 nói đến trái của Thánh Linh. Trái của Thánh Linh không phải là kết quả của ý chí, lựa chọn hay cố gắng của con người, mà là sản phẩm tự nhiên của Thánh Linh trong đời sống Cơ Đốc nhân.
    2. Trái của Thánh Linh: Trái (số ít) của Thánh Linh gồm chín phẩm hạnh, có thể sắp vào ba loại :
    a. Thói quen tâm trí: Tình yêu (agape) là tìm cầu điều tốt nhất cho người khác, dù họ đối xử tệ bạc, sỉ nhục, làm thương tổn mình. Vui mừng (chara) là niềm vui tôn giáo đến từ Chúa. Bình an (eirene) chỉ sự an cư lạc nghiệp hay trật tự tốt, tương đương với “shalom”đem ích lợi tốt đẹp nhất.
    b. Quan hệ với người khác: Nhịn nhục (makrothumia) kiên trì chịu đựng, chậm giận, không trả thù dù có đủ khả năng. Nhơn từ (chrestoter) là ngọt ngào, khoan dung (Chúa Jesus tha cho người đàn bà tội lỗi). Hiền lành (agathosume) tốt lành toàn diện, nó có thể gồm sửa dạy (Chúa Jesus dẹp sạch đền thờ).
    c. Nguyên tắc hướng dẫn cách sống: Trung tín là đáng tin cậy. Mềm mại có 3 nghĩa (Thuận phục ý Chúa, Dễ dạy, Biết điều). Tiết độ là tự chủ đối với mọi ước vọng, đam mê, biết kỷ luật bản thân.
    II. BÍ QUYẾT CÓ TRÁI THÁNH LINH
    1. Đóng đinh: Những người thuộc về Chúa Jesus đã đóng đinh xác thịt với tình dục và dâm dục mình trên thập tự giá. Họ phải kể mình đã chết đối với chúng (
    RoRm 6:11).
    2. Nhờ Thánh Linh mà sống: Chúng ta đã nhờ Đức Thánh Linh tái sinh ban cho chúng ta sự sống, khi chúng ta ăn năn tội, tin nhận Chúa Jesus.
    3. Phải bước theoThánh Linh: Chúng ta phải nhạy bén với sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh và vâng phục tuyệt đối mọi mạng lệnh của Ngài.
    III. LỜI NHẮN NHỦ
    1. Đối tượng: Có lẽ đặc biệt cho nhóm chống kinh luật, nhưng cũng có thể áp dụng cho cả ba nhóm, cũng như cho chúng ta hôm nay.
    2. Lời khuyên: Chớ tìm kiếm danh vọng giả dối mà trêu chọc và ghen ghét nhau. Phao Lô khuyên mọi người đừng kiêu căng với hiểu biết của mình, chia phe lập đảng, chỉ phá hỏng việc Chúa làm cho mình.
    Bài 34: HƯỚNG DẪN MỐI LIÊN HỆ CÁ NHÂN
    Kinh Thánh: GaGl 6:1-6
    I. LIÊN HỆ VỚi ANH EM PHẠM LỖI
    1. Người tình cờ phạm lỗi: Ở đây Phao Lô không nói đến người cố ý phạm tội mà người tình cờ phạm lỗi, nghĩa là đột nhiên làm điều sai quấy, bị đem vào tội lỗi trước khi ý thức đó là tội, do xao lãng việc bước theo Thánh Linh.
    2. Anh em là kẻ có Đức Thánh Linh: Phao Lô gọi tín hữu Galati là người có Đức Thánh Linh, tức là người thiêng liêng, là người bước đi theo Thánh Linh (
    GaGl 5:25).
    3. Hãy lấy lòng mềm mại sửa họ lại: Người thiêng liêng thường mắc sai lầm là quá nghiêm khắc. Phao Lô khuyên họ phải quan tâm đến người phạm lỗi với lòng mềm mại để sửa họ lại. “Sửa”ở đây là hành động của một nhà phẫu thuật: Cắt bỏ bướu hay may lại chỗ đứt trong thân thể. Nó hàm ý chữa trị hơn là hình phạt.
    4. Lý do: Phao Lô cho biết khi quan tâm, mang gánh nặng quá lớn của anh em sẽ làm trọn luật tình yêu thiên thượng của Chúa Jesus, vì tình yêu sẽ làm trọn luật pháp.
    II. LIÊN HỆ VỚI CHÍNH MÌNH
    1. Chính mình phải giữ: Thiêng liêng không bảo vệ chúng ta khỏi cám dỗ. Nếu chúng ta kiêu ngạo về sự tốt đẹp của mình, chúng ta sẽ thất bại.
    2. Phải xét việc làm của mình: Phao Lô lên án những người tự so sánh mình với người khác rồi kiêu căng. Ông khuyên họ phải xét mình trong ánh sáng Lời Chúa để thấy mình là ai, để biết chân thật khiêm nhương, chứ không tự dối lấy mình.
    3. Phải gánh phần của mình cho trọn: Gánh nặng trong câu năm là gánh nặng riêng về việc làm của mình sẽ phải trình trước mặt Chúa, khác với gánh quá nặng của người khác đòi hỏi sự quan tâm trong tình yêu.
    III. LIÊN HỆ VỚI NGƯỜI DẪN DẮT MÌNH
    1. Người dạy đạo: Trong Hội Thánh bấy giờ có các giáo sư. Họ dạy chân lý đời đời của Chúa cho các tín hữu. Có thể đây là người mang gánh nặng thay cho người phạm lỗi, đưa họ trở về chân lý.
    2. Phải lấy trong hết thảy của cải mình mà chia cho họ: Phao Lô dạy rằng nếu người ta dạy chân lý vĩnh cữu cho anh em thì ít nhất anh em cũng nên lấy của cải mình để chia sẻ với họ.
    Bài 35: QUYẾT ĐỊNH THEO QUAN NIỆM KẾT QUẢ
    Kinh Thánh: GaGl 6:7-10
    I. NGUYÊN TẮC GIEO GẶT
    1. Đừng để bị lừa dối: Phao Lô kêu gọi sự chú ý của tín hữu Galati về quyết định đúng theo quan niệm về kết quả mà hành động sẽ đem tới. Đừng tự lừa dối mà cũng đừng để ai lừa dối mình về điều nầy.
    2. Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu: Có thể dịch là “không ai lừa dối Đức Chúa Trời được đâu”. Không ai có thể thay đổi điều Đức Chúa Trời đã quyết định. Mọi sự lựa chọn trong đời sống sẽ kết quả đúng như điều Ngài đã phán. Con người sẽ gặt kết quả tương xứng với điều mình đã gieo.
    II. HAI SỰ LỰA CHỌN
    1. Đức tin hay công đức?: Phao Lô đặt trước tín hữu Galati hai sự lựa chọn là đức tin và công đức. Lựa chọn bước đi theo Thánh Linh là lựa chọn của đức tin. Lựa chọn công đức, nổ lực làm theo Kinh luật là bước đi theo xác thịt. Như thế, Phao Lô không chỉ nói đến loại hạt giống chúng ta gieo, mà còn nói đến cánh đồng ( lãnh vực ) chúng ta gieo nữa.
    2. Sự sống đời đời hay sự hư nát?: Bước đi theo Thánh Linh sẽ bởi Thánh Linh mà gặt sự sống đời đời. Bước đi theo xác thịt sẽ bởi xác thịt mà gặt sự hư nát. Lưu ý là nguyên tắc gieo gặt áp dụng cho cả hiện tại lẫn tương lai.
    III. LỜI KHÍCH LỆ
    1. Chớ mệt nhọc: Phao Lô khích lệ tín hữu Galati cứ nhìn tới mùa gặt tương lai mà trung tín làm điều tốt lành Đức Thánh Linh muốn mình làm, dù trước mắt dường như “thả bánh trôi theo giòng nước”. Ông muốn nói rằng Chúa chắc chắn sẽ làm phần của Ngài vào đúng thời điểm của Ngài đã định trước.
    2. Chớ trễ nải: Phao Lô khích lệ tín hữu hãy nắm lấy cơ hội ngay để làm điều Chúa muốn, đang khi còn có dịp tiện, vì cơ hội sẽ trôi qua thì không ai có thể tìm lại được.
    3. Hãy thể hiện luật tình yêu : Phao Lô kêu gọi tín hữu thể hiện tình yêu thiên thượng bằng cách làm điều thiện (điều đạo đức, điều ích lợi cả về phương diện vật chất lẫn tâm linh) cho mọi ngươi, nhưng dĩ nhiên phải đặc biệt là nguồn phước trước nhất cho anh em cùng đức tin, là những người cùng thuộc về gia đình Đức Chúa Trời như mình.
    Bài 36: KẾT LUẬN : ĐỜI SỐNG MỚI TRONG CHRIST
    Kinh Thánh : 6:11-18
    I. CHÍNH TAY TÔI VIẾT THƯ NẦY
    1. Chính tay tôi viết thư nầy: Nan đề tại Galati quá cấp thiết nên chính Phao Lô viết cả lá thư nầy dù mắt rất yếu. Các thư khác do thư ký viết thay.
    2. Chữ lớn là dường nào: Có nhiều lối giải thích về điều nầy:
    . Phao Lô có nan đề về mắt, hoặc mắt yếu, hoặc đau đầu làm mờ mắt.
    . Phao Lô muốn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của điều ông muốn nói.
    . Phao Lô viết phần kết luận quan trọng bằng chữ lớn, khác với phần còn lại.
    II. NHẮC LẠI ĐỘNG LỰC CỦA CƠ ĐỐC NHÂN GỐC DO THÁI GIÁO
    1. Muốn cho đẹp lòng người: Người hầu việc Chúa phải làm đẹp lòng Chúa chứ không phải đẹp lòng loài người (
    1:10).
    2. Muốn tránh sự bách hại vì cớ Chúa: Phép cắt bì là giấy thông hành an toàn cho Cơ Đốc nhân gốc Do Thái giáo đối với cả dân Do Thái lẫn chính quyền La mã. Họ sẽ tránh được sự bắt bớ dành cho “đạo mới”Cơ Đốc giáo.
    3. Muốn khoe khoang về thành quả đạt được: Thuyết phục được một người ngoại bang làm phép cắt bì là một chiến thắng lớn của họ.
    III. TÂM TÌNH CỦA PHAO LÔ
    1. Chỉ khoe mình về thập tư giá: Phao Lô rất sung sướng nói về thập tự giá. Ông rất hãnh diện về sự đầy đủ của công việc của Chúa Jesus trên thập tự giá. Nhờ đó, ông đã chết đối với sự vinh quang của đời nầy và thế gian đối với ông cũng vậy.
    2. Tôi có đốt dấu vết của Chúa Jesus: Dấu đinh của Chúa Jesus luôn hấp dẫn đối với ông. Ngoài ra, vết sẹo đau đớn ông chịu vì Chúa chính là dấu ấn đóng trên ông để xác nhận ông là nô lệ của Chúa Jesus, thuộc về Ngài.
    IV. ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT
    1. Sự tân tạo: Cắt bì hay không cắt bì chẳng quan trọng. Điều quan trọng là sự tân tạo, là điều mà chỉ có Phúc Âm mới có thể đem đến, khiến chúng ta có thể đứng trước mặt Đức Chúa Trời cách vui mừng và sống đời sống đẹp lòng Đức Chúa Trời.
    2. Ân sủng của Chúa Jesus: Phao Lô cầu chúc sự bình an và sự thương xót giáng trên cả người Do Thái lẫn người ngoại bang tin nhận Chúa. Những điều nầy đến từ ân sủng của Chúa Jesus, được thể hiện rõ ràng nhất qua sự chết của Ngài trên thập tự giá.


  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels