• SachSang-the-ky

    Bài 1: MỌI SỰ BẮT ĐẦU VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
    Câu gốc: “Vì muôn vật đã được dựng nên trong Ngài, bất luận trên trời, dưới đất, vật thấy được, vật không thấy được, hoặc ngôi vua, hoặc quyền cai trị, hoặc chấp chánh, hoặc cầm quyền, đều là bởi Ngài và vì Ngài mà được dựng nên cả. ” CoCl 1:16
    I. CUỘC TÌM KIẾM MUÔN ĐỜI
    1. Tầm quan trọng của mục đích cuộc đời: Mục đích của cuộc đời quan trọng hơn cả sự thành đạt, sự bình an trong tâm trí, hơn cả hạnh phúc.
    2. Cuộc tìm kiếm: Hàng ngàn năm qua, cuộc tìm kiếm mục đích của cuộc sống đã làm rối trí con người trên đất.
    II. BA LÝ DO LÀM BẠN BỐI RỐI
    1. Chọn sai khởi điểm: Con người bối rối vì chọn sai khởi điểm. Con người bắt đầu với chính mình: Tôi muốn trở nên như thế nào? Tôi phải làm gì cho đời mình?
    .
    Giop G 12:10 tuyên bố: “Trong tay Ngài cầm hồn của mọi vật sống và hơi thở của cả loài người”. Tập chú vào chính bản thân mình, con người không bao giờ có thể khám phá mục đích của đời mình ! Con người không tự tạo ra chính mình, nên không thể tự khám phá lý do mình được tạo dựng.
    2. Đảo lộn bản chất: Nhiều người cố dùng Chúa để hiện thực hóa bản thân, nhưng như thế là đảo lộn bản chất. Con người không thể dùng Đức Chúa Trời cho mục đích cá nhân của mình, vì con người do Đức Chúa Trời tạo dựng, chứ không phải ngược lại.
    3. Tự nỗ lực: Nhiều người khuyên chúng ta hãy tự nỗ lực. Họ nêu ra các bước có thể tiên đoán trước nhằm tìm kiếm mục đích của cuộc đời như: Hãy xem xét các ước mơ - Hãy làm rõ các giá trị - Hãy đặt ra vài mục tiêu - Hãy xem bạn giỏi ở lãnh vực nào - Hãy kỷ luật để đạt mục tiêu - Đừng bao giờ đầu hàng...
    . Những điều nầy có thể dẫn đến thành công lớn. Tuy nhiên, thành công và làm trọn mục đích cuộc đời không phải lúc nào cũng giống nhau: Chúng ta có thể thành công vang dội theo tiêu chuẩn thế gian, nhưng vẫn đánh mất những mục đích mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng chúng ta.
    . Hãy tập trung vào đúng điều Đức Chúa Trời muốn bạn trở thành !

    II. LÀM SAO KHÁM PHÁ MỤC ĐÍCH CUỘC ĐỜI ?
    1. Suy đoán: Đây là điều hầu hết mọi người đều chọn để cố gắng khám phá mục đích cuộc đời. Họ phỏng đoán, ước tính, đưa ra những giả thuyết...
    a. Giới hạn của triết học: Triết học là một bộ môn quan trọng và hữu ích, nhưng khi bàn đến vấn đề mục đích của cuộc sống, thì ngay cả những triết gia khôn ngoan nhất cũng chỉ có thể suy đoán mà thôi !
    b. Khảo cứu của tiến sĩ Hugh Moorhead: Phỏng vấn 250 triết gia, khoa học gia, nhà văn và nhà tư tưởng nổi tiếng nhất thế giới về “ý nghĩa của cuộc sống”, ông nhận được những lời phỏng đoán cùng với lời thừa nhận là họ không biết, và phần lớn đã yêu cầu ông cho họ biết ông đã khám phá mục đích của cuộc sống chưa !
    2. Mặc khải: Cách tốt nhất để khám phá mục đích của một phát minh là đến hỏi người sáng chế ra nó. Để khám phá mục đích của cuộc sống con người, chúng ta có thể hỏi Đức Chúa Trời, Đấng sáng tạo chúng ta.
    a. Qua Kinh Thánh: Chúng ta có thể đến với những điều Đức Chúa Trời bày tỏ về sự sống trong Kinh Thánh là Lời của Ngài.
    b. Năm mục đích: Qua Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã bày tỏ rõ ràng năm mục đích cho cuộc đời chúng ta. Kinh Thánh giải thích lý do tại sao chúng ta sống, cuộc sống phải như thế nào, phải tránh điều gì và phải mong đợi điều gì trong tương lai...
    III. BA Ý TƯỞNG CẦN NHỚ
    1. Nền tảng căn bản: Đức Chúa Trời không chỉ là khởi điểm mà còn là cội nguồn của cuộc đời chúng ta. Vì thế, để khám phá mục đích cuộc đời, chúng ta phải tìm đến Lời Ngài, chứ không phải sự khôn ngoan đời nầy.
    2. Ba ý tưởng căn bản:
    Eph Ep 1:11 nêu ra ba ý tưởng trong việc tìm kiếm mục đích của cuộc đời:
    a. Mối tương giao với Đức Chúa Jesus: Chúng ta chỉ có thể khám phá mục đích cuộc đời thông qua mối tương giao với Đức Chúa Jesus.
    b. Đức Chúa Trời có mục đích cho chúng ta: Mục đích cho cuộc đời chúng ta đã được Đức Chúa Trời suy nghĩ và hoạch định từ rất lâu trước khi chúng ta hiện hữu. Chúng ta có thể chọn nghề, chọn người bạn đời,... nhưng không thể lựa chọn mục đích cho mình !
    c. Mục đích hoàn vũ: Mục đích cuộc đời chúng ta phù hợp với một mục đích hoàn vũ lớn hơn mà Đức Chúa Trời đã vạch ra cho cõi đời đời.
    . Không có Đức Chúa Trời, cuộc sống sẽ chẳng có ý nghĩa gì cả !
    Bài 2: KHÔNG PHẢI NGẪU NHIÊN
    Câu gốc: “Đức Giê-hô-va, là Đấng đã làm nên ngươi, đã gây nên ngươi từ trong lòng mẹ, và sẽ giúp đỡ ngươi. ” EsIs 44:2a
    I. ĐỨC CHÚA TRỜI HOẠCH ĐỊNH
    1. Không phải tình cờ: Việc chúng ta sinh ra đời không phải là một nhầm lẫn, rủi ro hay may mắn.
    2. Đức Chúa Trời hoạch định: Cha mẹ bạn có thể đã không tính trước sự ra đời của bạn, nhưng Đức Chúa Trời đã hoạch định và trông đợi điều đó.
    . Đức Chúa Trời đã vẽ nên từng chi tiết nhỏ trên cuộc đời chúng ta, từ chủng tộc, màu da, màu tóc đến những tài năng bẩm sinh hay những nét đặc trưng của cá tính...
    II. ĐỨC CHÚA TRỜI QUYẾT ĐỊNH
    1. Quyết định thời gian: Đức Chúa Trời quyết định khi nào chúng ta sẽ ra đời và sẽ sống bao lâu trên đất (
    Thi Tv 139:16).
    2. Quyết định nơi chốn: Đức Chúa Trời quyết định chúng ta sẽ sinh ra ở đâu và sống ở đâu theo mục đích của Ngài. Như thế, chủng tộc hay quốc tịch của chúng ta cũng không phải là điều tình cờ.
    3. Quyết định phương cách: Ngài cũng quyết định chúng ta sẽ được sinh ra như thế nào, cha mẹ chúng ta là ai. Dù có những người cha, người mẹ không hợp pháp, nhưng không hề có những đứa con không hợp pháp.
    III. LÝ DO
    1. Đức Chúa Trời là tình yêu: Kinh Thánh không nói Đức Chúa Trời có tình yêu nhưng nói Đức Chúa Trời chính là tình yêu. Tình yêu là bản chất của Đức Chúa Trời. Tình yêu Ngài đã trọn vẹn trong mối quan hệ Ba Ngôi, nghĩa là Ngài không cần tạo dựng con người.
    2. Đức Chúa Trời bày tỏ tình yêu: Tuy nhiên, Ngài đã tạo dựng chúng ta để bày tỏ tình yêu Ngài cho chúng ta.
    a. Tình yêu sửa soạn thế giới: Ngài đã nghĩ đến chúng ta trước khi dựng nên thế giới và đây là lý do vì sao Ngài dựng nên thế giới thật chính xác để làm nơi ở cho chúng ta (
    EsIs 45:18).
    b. Tình yêu tái sanh chúng ta: Ngài đã dùng Lời chân thật sanh chúng ta, hầu cho chúng ta trở nên trái đầu mùa của những vật Ngài dựng nên.
    . Ngài xem chúng ta là tâm điểm của tình yêu Ngài (
    1:4). Chúng ta chỉ có thể khám phá mục đích khi xem Chúa là trọng tâm của cuộc đời.
    Bài 3: ĐƯỢC TẠO DỰNG CHO CÕI ĐỜI ĐỜI
    Câu gốc: “Phàm vật Đức Chúa Trời đã làm nên đều là tốt lành trong thì nó. Lại, Ngài khiến cho sự đời đời ở nơi lòng loài người; dầu vậy, công việc Đức Chúa Trời làm từ ban đầu đến cuối cùng, người không thế hiểu được. ” TrGv 3:11
    I. ĐỜI NẦY KHÔNG PHẢI LÀ TẤT CẢ
    1. Thời gian ngắn ngủi: Địa cầu chỉ là hậu trường, là sự nếm thử cuộc đời trong cõi đời đời. Dù cho một trăm năm cũng chỉ là một ngoặc đơn nhỏ bé so với cõi đời đời.
    2. Khát khao cõi đời đời: Bản năng bẩm sinh con người luôn hướng đến sự bất diệt, vì con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời để sống trong cõi đời đời. Ngài đặt khao khát đó trong chúng ta.
    3. Thân thể tạm thời: Thân thể trần tục chỉ là sự hiện diện tạm thời của tâm linh, và được gọi là “nhà tạm”(
    IICo 2Cr 5:1).
    II. CHUẨN BỊ CHO CÕI ĐỜI ĐỜI
    1. Hai sự lựa chọn: Cuộc đời trên đất có nhiều lựa chọn, nhưng cõi đời đời chỉ có hai lựa chọn: Thiên đàng hay địa ngục !
    2. Hai loại người: Nếu trông cậy Chúa Jesus, chúng ta sẽ sống với Chúa Jesus đời đời. Nhưng kẻ khước từ tình yêu Ngài sẽ mãi mãi xa cách Ngài. Như thế, có hai loại người: Những người nói với Chúa “ý Cha được nên” và những người Chúa phải nói rằng “Hãy cứ làm theo ý ngươi”!
    III. SỐNG TRONG ÁNH SÁNG CÕI ĐỜI ĐỜI
    1. Những giá trị sẽ thay đổi: Khi sống trong ánh sáng cõi đời đời trong mối tương giao gần gũi với Chúa, những giá trị sẽ thay đổi (
    Phi Pl 3:7). Chúng ta sẽ sử dụng tiền của và thì giờ khôn ngoan hơn.
    2. Thứ tự ưu tiên sẽ thay đổi: Những thứ tự ưu tiên sẽ được sắp đặt lại. Chúng ta sẽ chú ý đến các mối quan hệ và nhân cách hơn là danh tiếng, sự giàu có, sự thành đạt hay những trào lưu...
    3. Khải tượng về cõi đời đời: Khải tượng về cõi đời đời sẽ khiến chúng ta tận dụng trọn cuộc sống để chuẩn bị cho cõi đời đời. Nhưng cõi đời đời như thế nào con người không thể hiểu nỗi (
    ICo1Cr 2:9), nếu không có sự mặc khải của Đức Chúa Trời trong Lời Ngài.
    4. Sự nhắc nhở: Thời điểm mà con người nghĩ về cõi đời đời là trong các đám tang. Hãy sống mỗi ngày như là ngày cuối cùng của cuộc đời !
    Bài 4: ĐIỀU GÌ LÈO LÁI CUỘC ĐỜI?
    Câu gốc: “Ta cũng thấy mọi công lao và mọi nghề khéo là điều gây cho người nầy kẻ khác ganh ghét nhau. Điều đó cũng là sự hư không, theo luồng gió thổi. ” TrGv 4:4
    Lèo lái là “hướng dẫn, điều khiển hoặc định hướng”. Có hàng trăm hoàn cảnh, giá trị và những tình cảm có thể lèo lái cuộc đời con người.
    I. NĂM ĐỘNG CƠ PHỔ BIẾN NHẤT
    1. Mặc cảm tội lỗi: Nhiều người bị lèo lái bởi mặc cảm tội lỗi.
    a. Mô tả: Họ sống cả đời loanh quanh những nuối tiếc hoặc cố gắng che đậy sự xấu hổ của mình. Họ để ký ức, quá khứ điều khiển mình.
    b. Kết quả: Họ tự trừng phạt mình cách vô thức khi ngầm phá hỏng thành công của chính mình, khiến họ lang thang trong cuộc sống vô mục đích.
    c. Giải quyết: Chúng ta là sản phẩm của quá khứ, nhưng không cần phải làm tù nhân cho nó. Hãy xin Đức Chúa Trời Quyền năng ban cho chúng ta những khởi đầu mới (
    Thi Tv 32:1) bởi sự tha thứ và biến đổi.
    2. Lòng oán giận: Nhiều người bị lèo lái bởi lòng oán giận người khác.
    a. Mô tả: Họ cứ bám lấy những đau khổ của mình với lòng oán giận.
    b. Kết quả: Điều nầy khiến họ hoặc trở nên câm lặng khi đè nén cơn giận, hoặc nổi điên lên và tuôn đổ cơn giận trên nhiều người. Nó chỉ khiến họ đau đớn nhiều hơn người mà họ oán giận !
    c. Giải quyết: Chúng ta không thể thay đổi quá khứ nhưng có thể rút ra những bài học từ quá khứ rồi hãy bỏ đi. Đừng để nó làm khổ mình !
    3. Sự sợ hãi: Nhiều người bị lèo lái bởi sự sợ hãi.
    a. Mô tả: Sự sợ hãi có thể đến từ một kinh nghiệm đau buồn, những mong ước phi thực tế, hoặc sống trong một gia đình khắt khe...
    b. Kết quả: Họ sẽ bỏ lỡ những cơ hội lớn vì sợ thất bại, và thường cố gắng duy trì nguyên trạng, không dám mạo hiểm... Sợ hãi là nhà tù khiến họ không thể trở thành mẫu người Chúa muốn.
    c. Giải quyết: Hãy chống lại nó bằng đức tin và tình yêu (
    IGi1Ga 4:18).
    4. Chủ nghĩa vật chất: Nhiều người bị lèo lái bởi khao khát vật chất.
    a. Mô tả: Họ luôn muốn có nhiều hơn vì nghĩ rằng họ sẽ được hạnh phúc hơn, quan trọng hơn và an toàn hơn !
    b. Giải quyết: Hãy nhớ giá trị con người không quyết định bằng của cải, rằng chỉ có mối tương giao với Đức Chúa Trời mới giải quyết tất cả.
    5. Nhu cầu được chấp nhận: Nhiều người muốn được người khác chấp nhận.
    a. Mô tả: Họ cố gắng tìm sự chấp nhận nơi cha mẹ, vợ, chồng, con cái, bạn bè, tập thể, xã hội... cố gắng làm vừa lòng mọi người !
    b. Kết quả: Chạy theo đám đông, họ bị lạc mất trong đám đông và một trong những chìa khóa của thất bại là cố gắng làm đẹp lòng mọi người. Họ sẽ đánh mất những mục đích của Chúa cho đời mình (
    Mat Mt 6:24).
    c. Giải quyết: Hãy khám phá và thực hiện mục đích Chúa cho chúng ta. Không có gì quan trọng hơn là nhận biết mục đích của Chúa cho mình !
    II. NHỮNG ÍCH LỢI CỦA ĐỜI SỐNG THEO ĐÚNG MỤC ĐÍCH
    1. Khiến cuộc đời có ý nghĩa: Không có Đức Chúa Trời, cuộc sống không có mục đích, và không có mục đích thì cuộc sống thật vô nghĩa (
    EsIs 49:4, Giop G 7:16). Thảm kịch lớn nhất không phải là chết, mà là sống không có mục đích. Hy vọng bắt nguồn từ một mục đích và hy vọng thật sự chỉ có trong Đức Chúa Trời (Gie Gr 29:11, Eph Ep 3:20).
    2. Khiến cuộc sống đơn giản hơn: Nó xác định điều phải làm và điều không cần làm. Nó đánh giá tầm quan trọng của các công việc: Chúng ta không thể làm hết mọi điều người khác muốn, nhưng có đủ thời gian để làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời. Nó sẽ dẫn đến bình an trong tâm trí.
    3. Giúp tập trung cuộc đời: Nó sẽ giúp chúng ta tập trung nỗ lực và sức lực vào những điều quan trọng, không bị xao lãng bởi những việc thứ yếu như kẻ dại (
    5:17). Đời sống tập trung là đời sống hiệu quả nhất (Phi Pl 3:13-15) và đừng lầm lẫn giữa hoạt động và hiệu năng.
    4. Thúc đẩy cuộc đời: Mục đích luôn tạo nên nhiệt huyết. Chúng ta thường kiệt sức và mất đi niềm vui vì những việc thứ yếu chứ không phải vì có quá nhiều việc quan trọng. Niềm vui thật của cuộc sống đến từ sự hết lòng vì mục đích chúng ta đã xác định cho mình.
    5. Chuẩn bị cho cõi đời đời: Nhiều người cố gắng để lại một di sản trên trần gian. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là những gì người khác nói về cuộc đời chúng ta, bèn là những gì Đức Chúa Trời nói !
    . Những thành tựu rồi sẽ qua đi, những kỷ lục sẽ bị phá, danh tiếng sẽ phai mờ và những cống hiến rồi sẽ bị quên lãng...
    . Chúng ta có mặt trên trần gian không phải để người ta ghi nhớ mình mà là để chuẩn bị cho cõi đời đời (
    RoRm 14:10. IICo 2Cr 5:10). Có lẽ khi gặp Chúa, Ngài sẽ hỏi chúng ta hai câu hỏi quan trọng: “Con đã có mối tương giao thế nào với Con Ta?” và “Con đã làm gì với điều Ta ban cho con?”.
    Bài 5: NHÌN CUỘC ĐỜI TỪ QUAN ĐIỂM ĐỨC CHÚA TRỜI
    Câu gốc: “Vì, sự sống của anh em là chi? Chẳng qua như hơi nước, hiện ra một lát rồi lại tan ngay. Anh em phải nói trái lại: Ví bằng Chúa muốn, và ta còn sống, thì ta sẽ làm việc nọ việc kia. ” Gia Gc 4:14-15
    I. TẦM QUAN TRỌNG CỦA CÁCH NHÌN CUỘC ĐỜI
    1. Những cách nhìn cuộc đời: Nhiều người xem cuộc đời là một rạp xiếc, một bãi mìn, một tàu lượn cao tốc, một câu đố, một bản giao hưởng, một hành trình, một vòng quay ngựa gỗ, một canh bạc, một cuộc đua...
    2. Ảnh hưởng: Cách nhìn cuộc đời sẽ định hình cuộc đời, quyết định số phận, tác động đến cách đầu tư thì giờ, tiền của, tài năng, xác định những ưu tiên, những mục tiêu của chúng ta...
    . Nếu cuộc đời là một bữa tiệc thì mục tiêu sẽ là vui chơi thỏa thích !
    . Nếu cuộc đời là cuộc đua marathon thì sự chịu đựng sẽ được đề cao...
    3. Ba quan niệm của Kinh Thánh về cuộc đời: Kinh Thánh nêu ra ba quan niệm về cách Đức Chúa Trời nhìn cuộc sống con người: Cuộc sống là một thử thách, một sự tín nhiệm, và một sự tạm bợ.
    II. CUỘC SỐNG LÀ MỘT THỬ THÁCH
    1. Đức Chúa Trời thử thách: Kinh Thánh cho thấy Đức Chúa Trời liên tục thử thách nhân cách, đức tin, sự vâng phục, tình yêu, sự liêm chính và sự trung thành của con người. Từ “thử thách” xuất hiện hơn 200 lần.
    2. Phước hạnh của sự thử thách: Nhân cách vừa được phát triển, vừa được thể hiện qua thử thách. Đức Chúa Trời luôn xem xét cách chúng ta đối diện thử thách để chuẩn bị chúng ta vào chỗ cao hơn (
    IISu 2Sb 32:31).
    . Nhận biết cuộc đời là một thử thách, chúng ta sẽ nhận ra rằng không có điều gì là vô nghĩa trong cuộc đời, mà là cơ hội để phát triển nhân cách.
    3. Đức Chúa Trời muốn chúng ta đắc thắng: Đức Chúa Trời muốn và cũng dự liệu cho chúng ta sự đắc thắng, vượt qua những thử thách trong cuộc sống. Bên cạnh sự thất bại của Ađam - Êva, của Cain, Samsôn, Đavít..., chúng ta vẫn có thể thấy sự đắc thắng của Giôsép, Rutơ, Êxơtê, Đaniên...
    . Đức Chúa Trời không bao giờ đưa chúng ta vào sự thử thách quá sức, vì Ngài đã dự liệu con đường giải thoát (
    ICo1Cr 10:13), cũng như ban ân điển dư dật hơn những thử thách mà chúng ta phải đối diện.
    . Khi chúng ta vượt qua thử thách, Đức Chúa Trời có kế hoạch để ban thưởng cho chúng ta trong cõi đời đời (
    Gia Gc 1:12).

    III. CUỘC SỐNG LÀ MỘT SỰ TÍN NHIỆM
    1. Người quản lý của Đức Chúa Trời: Thời gian, sức lực, sự khôn ngoan, các cơ hội, các mối quan hệ cùng các tài nguyên đều là những món quà mà Đức Chúa Trời đã tin cậy phó thác cho chúng ta quản lý.
    . Như thế, Đức Chúa Trời là Chủ của mọi người và mọi vật trên trần gian nầy. Chúng ta chỉ là người quản lý của bất cứ điều gì Đức Chúa Trời ban cho chúng ta (
    Thi Tv 24:1).
    . Chúng ta không hề thực sự sở hữu bất cứ điều gì trên trần gian nầy vì mọi sự là của Đức Chúa Trời. Ngài chỉ cho chúng ta mượn khi chúng ta còn sống trên đất.
    2. Công việc người quản lý: Công việc đầu tiên Đức Chúa Trời giao phó cho con người là quản trị và chăm lo mọi tài sản của Đức Chúa Trời trên đất. Ngài đã tin cậy và giao phó những công trình sáng tạo của Ngài cho họ và chỉ định họ làm người quản lý tài sản của Ngài.
    . Ngày nay, công việc nầy vẫn còn hiện hữu và đó là một phần trong mục đích của chúng ta. Chúng ta cần lưu ý hai điều:
    a. Chúng ta không được quyền khoe khoang vì mọi điều chúng ta có đều bởi sự ban cho của Đức Chúa Trời để chúng ta làm chức vụ quản lý tài sản của Ngài (
    ICo1Cr 4:7).
    b. Chúng ta phải hết sức cẩn thận khi sử dụng mọi điều Chúa tín nhiệm giao phó vì chính Chúa đang là Đấng sở hữu, và đặc tính của người quản lý phải là trung thành (
    4:2).
    3. Sự thẩm định: Đến cuối cuộc đời, chúng ta sẽ được Chúa thẩm định và ban thưởng hay quở trách tùy theo cách chúng ta quản lý những gì Đức Chúa Trời tín nhiệm giao phó cho chúng ta. Chúa Jesus minh họa chân lý nầy bằng câu chuyện các ta lâng (
    Mat Mt 25:14-29). Trong đó Ngài xác định ba phần thưởng:
    a. Được Chúa xác nhận: Ngài xác nhận chúng ta là đầy tớ ngay lành, trung tín của Ngài và xác nhận công việc chúng ta là tốt lắm !
    b. Được Chúa đề bạt: Ngài sẽ ban cho chúng ta được lãnh trách nhiệm lớn hơn trong cõi đời đời, vì phần thưởng của người phục vụ Chúa là được phục vụ Chúa nhiều hơn.
    c. Được Chúa đề cao: Chúa mời gọi chúng ta vào chung hưởng niềm vui của Chúa chúng ta.
    . Như thế, có một mối liên hệ chặt chẽ giữa cách sử dụng tiền của và chất lượng đời sống tâm linh và càng nhận nhiều thì trách nhiệm càng cao.

    IV. CUỘC SỐNG CHỈ LÀ TẠM BỢ
    1. Hai sự thật cần nhớ: Để tận dụng tối đa cuộc sống, cần nhớ hai điều:
    a. Cuộc sống cực kỳ ngắn ngủi khi so với cõi đời đời: Nó được xem như cái bóng (
    Giop G 8:9), làn sương, hơi nước (Gia Gc 4:14) mỏng manh (Thi Tv 39:4)...
    b. Trần gian chỉ là nơi cư trú tạm thời: Chúng ta chỉ là khách lạ trên đất (
    119:19), kẻ ở trọ đời nầy (IPhi 1Pr 1:17).
    2. Lời khuyên và cảnh cáo: Chúng ta cần phải:
    a. Nhìn cuộc sống giống như Chúa Jesus nhìn: Cần nhận biết bản chất, giá trị và mục đích của nó để tận dụng nó cho cõi đời đời.
    b. Nhìn cuộc sống khác hơn kẻ vô tín nhìn: Dù phải sống ở thế gian, sinh hoạt với người thế gian, nhưng chúng ta phải khác họ (
    Phi Pl 3:19-20).
    . Làm bạn với thế gian là tà dâm thuộc linh, là thù nghịch với Đức Chúa Trời (
    Gia Gc 4:4).
    . Làm bạn với thế gian là phản bội: Chúng ta là những đại sứ của Đức Chúa Trời trong một thế giới thù địch. Chúng ta phải sống giữa thế gian, nhưng không được quyền yêu mến nó (
    IGi1Ga 2:15) để rồi thỏa hiệp với nó mà phản bội với Vua và Vương quốc của chúng ta (IICo 2Cr 5:20).
    3. Quê hương thật: Chúng ta cần nhận thức rõ ràng và dứt khoát:
    a. Trần gian không phải là quê hương của chúng ta: Điều nầy được thấy rõ qua sự kiện chúng ta phải gặp nhiều khó khăn, đau buồn và sự ruồng bỏ trong thế gian (
    GiGa 16:20, 33; 15:18-19).
    . Để giữ chúng ta khỏi gắn bó với thế gian, Đức Chúa Trời cho phép chúng ta cảm nhận khá nhiều bất mãn và không thỏa lòng trong cuộc sống. Chúng ta sẽ không bao giờ được thỏa lòng trọn vẹn trên trần gian vì chúng ta được tạo dựng không chỉ cho trần gian mà thôi.
    . Vì thế, đừng tập chú vào những vương miện tạm thời (
    IPhi 1Pr 2:11).
    b. Thiên đàng mới là quê hương thật của chúng ta: Nguồn gốc của chúng ta ở trong cõi đời đời và Thiên đàng mới là quê hương thật của chúng ta. Vì thế, chúng ta không còn lo lắng làm sao có đủ mọi thứ trên trần gian, làm sao thành đạt về vật chất như người thế gian.
    . Đó là lý do vì sao những anh hùng đức tin sẵn sàng chết trong tù, bị chém đầu cùng đủ mọi hình thức tuận đạo khác: Họ ham mến một quê hương tốt hơn (
    HeDt 11:13-16).
    . Đó là lý do họ không so bì với vinh quang và sự thạnh vượng của người thế gian: Họ sẽ nhận được điều muôn phần cao quý hơn khi họ “về nhà”.
    Bài 6: NGUYÊN NHÂN CỦA MỌI SỰ
    Câu gốc: “Vì muôn vật đều là từ Ngài, bởi Ngài, và hướng về Ngài. Vinh hiển cho Ngài đời đời vô cùng! A-men. ” RoRm 11:36
    I. MỤC ĐÍCH CỦA VŨ TRỤ
    1. Mục đích: Mục đích cuối cùng của vũ trụ là để bày tỏ vinh hiển của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã tạo dựng mọi sự vì sự vinh hiển của Ngài.
    2. Ý nghĩa: Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời là chính Đức Chúa Trời: Đó là ý nghĩa bản chất của Ngài, tầm quan trọng của Ngài, sự huy hoàng của Ngài, quyền năng và sự hiện diện của Ngài.
    . Mọi sự Đức Chúa Trời tạo nên đều phản ánh sự vinh hiển của Ngài theo một cách nào đó, từ sự sống vi sinh đến giãi Ngân hà vĩ đại... Qua thiên nhiên, chúng ta biết được Đức Chúa Trời là Đấng Toàn năng. Ngài thích sự đa dạng, vẻ đẹp, có tổ chức, khôn ngoan và sáng tạo (
    Thi Tv 19:1).
    II. SỰ VINH HIỂN ĐỨC CHÚA TRỜI ĐƯỢC BÀY TỎ
    1. Liên tục bày tỏ: Xuyên suốt lịch sử, Đức Chúa Trời đã bày tỏ sự vinh hiển của Ngài cho con người bằng nhiều cách. Đầu tiên tại vườn Êđen, sau đó qua đền tạm và đền thờ, qua Chúa Jesus và bây giờ là qua Hội Thánh.
    . Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được mô tả như một ngọn lửa hay thiêu đốt, một đám mây, sấm chớp và ánh sáng chói lòa (
    KhKh 21:23).
    2. Cao điểm: Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời được bày tỏ rõ ràng nhất trong Đức Chúa Jesus: Ngài là Anh sáng của thế gian, bày tỏ bản chất của Đức Chúa Trời.
    . Nhờ Chúa Jesus, chúng ta không còn ở trong bóng tối của tội lỗi và của sự thiếu hiểu biết Đức Chúa Trời (
    HeDt 1:3, IICo 2Cr 4:6, GiGa 1:14).
    III. THÁI ĐỘ CẦN CÓ
    1. Thái độ: Chúng ta phải nhìn nhận, tôn cao, công bố, ngợi khen, bày tỏ và sống vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời.
    2. Lý do: Chúng ta phải làm những điều đó vì Đức Chúa Trời xứng đáng được như thế. Chúng ta mắc nợ Ngài về điều đó, vì đó là mục đích chúng ta được Ngài tạo dựng.
    3. Lời cảnh báo: Chỉ có hai tạo vật không chịu dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời. Đó là ma quỷ và con người ! Đây là tội lỗi lớn hơn hết ! Mặt khác, sống vì vinh hiển Đức Chúa Trời là thành công lớn nhất (
    EsIs 43:7).
    Bài 7: LÀM SAO ĐỂ DÂNG VINH HIỂN CHO CHÚA?
    Câu gốc: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm. ” GiGa 17:4
    I. BÍ QUYẾT
    1. Gương Chúa Jesus: Chúa Jesus đã khẳng định “đồ ăn”của Ngài là làm theo và làm trọn ý muốn Cha, và Ngài đã kết thúc cuộc đời bằng câu nói lịch sử: “Con đã tôn vinh Cha trên đất, làm xong công việc Cha giao cho làm. ” Ngài tôn vinh Cha bằng cách làm trọn mục đích của Ngài trên đất.
    2. Áp dụng: Khi tạo vật nào làm thành mục đích của mình, tạo vật ấy dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời.
    . Đức Chúa Trời đã tạo dựng nên bạn để là chính bạn, chứ không phải một ai khác hay một tạo vật nào khác. Hãy khám phá mục đích của Đức Chúa Trời cho chính cá nhân bạn và hoàn tất để làm vinh hiển Ngài.
    II. NĂM MỤC ĐÍCH ĐỨC CHÚA TRỜI CHO BẠN
    1. Thờ phượng Đức Chúa Trời: Chúng ta dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời bằng cách thờ phượng Ngài.
    a. Thế nào là thờ phượng Đức Chúa Trời? Thờ phượng Chúa không chỉ là ngợi khen Chúa và cầu nguyện. Thờ phượng Chúa đích thật là sống tận hưởng Ngài, yêu mến ngài và dâng hiến chính mình để sử dụng cho những mục đích của Ngài (
    RoRm 12:1. 6:13).
    b. Động cơ của sự thờ phượng Chúa: Sự thờ phượng Chúa phải xuất phát từ tình yêu, lòng biết ơn và sự vui mừng, chứ không phải một nhiệm vụ. Sự thờ phượng Chúa thật sẽ đưa chúng ta vào sự thỏa lòng nhất trong Ngài.
    2. Yêu thương người khác: Chúng ta dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời bằng cách yêu thương người khác:
    a. Lý do: Chúng ta đã được tái sanh để thuộc về gia đình của Đức Chúa Trời nên phải biết yêu thương gia đình của mình. Tình yêu anh em là bằng cớ chứng tỏ chúng ta đã “vượt khỏi sự chết, qua sự sống”(
    IGi1Ga 3:14).
    b. Kết quả: Khi chúng ta yêu thương nhau, mọi người sẽ nhận biết chúng ta là môn đồ của Chúa Jesus và Đức Chúa Trời được vinh hiển (
    RoRm 15:7).
    3. Trở nên giống Đấng Christ: Chúng ta dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời bằng cách trở nên giống như Đấng Christ qua trưởng thành thuộc linh, nghĩa là giống Đấng Christ trong suy nghĩ, cảm nhận và hành động. Càng có nhân cách giống Chúa, chúng ta càng dâng vinh hiển cho Ngài.
    . Đức Chúa Trời ban cho chúng ta một bản chất mới và một cuộc đời mới. Ngài sẽ tiếp tục tiến trình biến đổi nhân cách chúng ta để đem lại nhiều kết quả, làm vinh hiển Danh Cha trên trời (
    Mat Mt 5:16).
    4. Phục vụ người khác: Chúng ta dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời bằng cách phục vụ người khác. Chúng ta cần lưu ý:
    a. Năng lực khác nhau: Mỗi người được Chúa “dệt” nên rất khác nhau với những tài năng, ân tứ, kỹ năng và năng lực khác nhau.
    b. Chức vụ quản gia: Tuy nhiên chúng ta chỉ là những quản gia, không được sử dụng năng lực Chúa ban với mục đích vị kỷ, mà phải sử dụng để phục vụ lẫn nhau, làm vinh hiển Đức Chúa Trời (
    IPhi 1Pr 4:10-11).
    5. Nói cho người khác về Chúa: Chúng ta dâng sự vinh hiển cho Đức Chúa Trời bằng cách nói cho người khác về Chúa:
    a. Lẽ thật phải được công bố: Lẽ thật về tình yêu Đức Chúa Trời và những mục đích của Ngài cho con người cần phải được bày tỏ cho mọi người.
    b. Một đặc quyền lớn: Đây không phải là một gánh nặng, nhưng là một đặc quyền lớn giới thiệu Chúa Jesus cho người khác, giúp họ khám phá mục đích của họ và chuẩn bị họ cho cõi đời đời (
    IICo 2Cr 4:15).
    III. BẠN SẼ SỐNG VÌ ĐIỀU GÌ?
    1. Phải có sự thay đổi: Muốn sống vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời, chúng ta phải có nhiều thay đổi trong các ưu tiên, lịch làm việc, các mối quan hệ...
    2. Ngã ba đường: Nhiều khi phải lựa chọn con đường khó: Dâng vinh hiển cho Đức Chúa Trời hay chọn cuộc đời an nhàn, khoái lạc của ý riêng?
    . Hãy nhớ đến phần thưởng đời đời và chính Chúa sẽ ban năng lực khi chúng ta quyết định lựa chọn sống cho Ngài (
    IIPhi 2Pr 1:3. GiGa 12:27-28).
    3. Sống chứ không phải hiện hữu: Chúa đang mời gọi chúng ta sống vì sự vinh hiển Ngài, hoàn thành mục đích cuộc đời, chứ không phải đơn thuần chỉ là hiện hữu trên đất.
    4. Hai điều cần làm trước tiên:
    1:12 kêu gọi mọi người trên trần gian phải trước tiên thực hiện hai điều:
    a. Trước hết, hãy tin: Hãy tin rằng Đức Chúa Trời yêu thương bạn và tạo dựng bạn vì những mục đích tốt lành của Ngài. Bạn không phải là một sự tình cờ, nhưng đã được tạo dựng cho cõi đời đời. Hãy tin rằng Chúa đã chọn lựa bạn để tương giao với Chúa Jesus, Đấng đã chết thay cho bạn.
    b. Thứ hai, hãy tiếp nhận: Hãy tiếp nhận Chúa Jesus làm Cứu Chúa, làm Chủ đời sống bạn. Hãy tiếp nhận sự tha thứ và Đức Thánh Linh, Đấng ban năng lực để bạn có thể làm trọn mục đích của Ngài cho bạn.
    Bài 8: THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI
    Câu gốc: “Lạy Đức Chúa Trời là Chúa chúng tôi, Chúa đáng được vinh hiển, tôn quí và quyền lực; vì Chúa đã dựng nên muôn vật, và ấy là vì ý muốn Chúa mà muôn vật mới có và đã được dựng nên. ” KhKh 4:11
    I. NIỀM VUI CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Khi tạo dựng chúng ta: Chính Chúa nắn, dệt nên chúng ta và Ngài vui mừng đón chào sự ra đời của chúng ta.
    . Ngài không cần phải tạo dựng chúng ta nhưng Ngài đã lựa chọn tạo ra chúng ta vì sự vui thích của Ngài.
    . Vì thế, chúng ta hiện hữu là vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời, vì mục đích và niềm vui của Ngài, để làm con của Ngài (
    Eph Ep 1:4-5).
    . Đức Chúa Trời đã yêu quý chúng ta, ban cho chúng ta một giá trị, một tầm quan trọng đối với Ngài, khiến chúng ta thấy cuộc đời thật ý nghĩa. Hãy nhớ rằng Đức Chúa Trời muốn chúng ta tận hưởng cuộc sống chứ không phải chịu đựng nó.
    2. Khi chúng ta thờ phượng Ngài: Đức Chúa Trời đẹp lòng người thờ phượng Ngài và tin cậy nơi tình yêu của Ngài (
    Thi Tv 147:11).
    . Các nhà nhân loại học lưu ý rằng sự thờ phượng là một sự thúc giục phổ quát đã được Đức Chúa Trời đan kết vào bản thể chúng ta, tự nhiên cũng như nhu cầu ăn uống và thở vậy.
    . Tuy nhiên, Đức Chúa Trời chỉ ưa thích và đẹp lòng những người thờ phượng Ngài với cả tâm thần và lẽ thật (
    GiGa 4:23).
    II. THẾ NÀO LÀ THỜ PHƯỢNG ĐỨC CHÚA TRỜI?
    1. Không phải chỉ là âm nhạc: Thờ phượng không đồng nghĩa với âm nhạc, vì thật ra thờ phượng có trước âm nhạc: Ađam đã thờ phượng Chúa tại Êđen trước khi có Giubanh (
    SaSt 4:21).
    . Thờ phượng hoàn toàn độc lập với phong cách, âm lượng, nhịp độ của bài hát hay các nhạc cụ.
    . Không hề có cái gọi là âm nhạc Cơ Đốc vì chỉ chính lời hát mới khiến bài hát trở thành Thánh ca, chứ không phải giai điệu “thuộc linh”!
    . Có nhiều loại nhạc và nhiều khi âm nhạc của dân tộc nầy là tiếng động chói tai đối với dân tộc khác, nhưng Đức Chúa Trời thích sự đa dạng của âm nhạc được dâng lên Ngài với tất cả tâm linh và lẽ thật.
    2. Không phải vì lợi ích của bạn: Chúng ta thờ phượng Đức Chúa Trời vì cớ chính Ngài chứ không phải vì lợi ích của chúng ta, dù thật ra, chúng ta rất được phước khi thờ phượng Đức Chúa Trời với tất cả tâm linh và lẽ thật.
    . Động cơ của sự thờ phượng thật là dâng vinh hiển và sự vui thỏa lên cho Đấng Sáng tạo mình, chứ không phải tìm kiếm vinh hiển cho mình hay làm thỏa lòng chính mình.
    . Chúa quở trách sự thờ phượng giả hình, nghi thức với những lời trống rỗng đầy vẻ sùng kính mà lòng đang cách xa Chúa (
    EsIs 29:13).
    3. Không phải là một phần cuộc sống bạn: Thờ phượng Chúa không phải chỉ là những điều được thực hiện tại nhà thờ với sự phân biệt hai phần đạo và đời trong cuộc sống.
    4. Nhưng là chính cuộc đời bạn: Chúng ta phải thờ phượng Chúa luôn luôn (
    Thi Tv 105:4) vì thân thể chúng ta luôn là đền thờ của Đức Chúa Trời (ICo1Cr 3:16) và cả cuộc đời là sự thờ phượng Chúa.
    . Chúng ta phải thờ phượng Chúa trong mọi nơi, mọi lúc, từ nơi “mặt trời mọc đến nơi mặt trời lặn” (
    Thi Tv 113:3. 34:1).
    . Chúng ta có thể thờ phượng Chúa bằng bất cứ một sinh hoạt bình thường nào của đời sống. Điều nầy sẽ đem lại niềm vui trong cuộc sống.
    III. BÍ QUYẾT
    1. Làm mọi sự vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời: Mỗi việc làm đều có thể biến thành một hành động thờ phượng khi chúng ta làm để ngợi khen, tôn vinh và dâng sự vui thỏa lên cho Đức Chúa Trời (
    ICo1Cr 10:31).
    2. Làm mọi sự như làm cho Chúa: Phao Lô dạy hễ làm việc gì hãy hết lòng mà làm, như làm cho Chúa, chứ không phải làm cho người ta (
    CoCl 3:23). Đây là bí quyết để có một lối sống thờ phượng Chúa, khiến những việc làm khó chịu, nhàm chán sẽ trở nên niềm vui, đem lại phước hạnh cho cả người phục vụ lẫn người được phục vụ...
    3. Làm trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời: Mọi công việc bình thường sẽ trở nên sự thờ phượng Chúa khi nó được dâng lên cho Chúa và thực hiện với sự nhận thức sâu sắc về sự hiện diện của Ngài.
    . Như một người đang yêu lúc nào cũng nghĩ đến người mình yêu, chúng ta cần luôn nghĩ đến Chúa Jesus trong mọi sinh hoạt thường nhật của cuộc đời. Nhận thức sự hiện diện của Chúa Jesus sẽ khiến chúng ta thận trọng trong việc làm, thêm sức mạnh để tiến tới và phát triển tình yêu chúng ta đối với Chúa càng sâu đậm hơn.
    Bài 9: ĐIỀU KHIẾN ĐỨC CHÚA TRỜI VUI LÒNG
    Câu gốc: “Cầu xin Đức Giê-hô-va ban phước cho ngươi và phù hộ ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va chiếu sáng mặt Ngài trên ngươi, và làm ơn cho ngươi! Cầu xin Đức Giê-hô-va đoái xem ngươi và ban bình an cho ngươi! Dan Ds 6:24-26
    Làm vừa lòng Đức Chúa Trời là mục đích đầu tiên của cuộc đời. Vì thế phải “xét điều chi vừa lòng Chúa” (
    Eph Ep 5:10). Trong thời Nô-ê, Đức Chúa Trời đã tìm được một người làm vui lòng Ngài khiến nhân loại vẫn còn tồn tại. Chúng ta sẽ học về năm hành động thờ phượng Đức Chúa Trời của Nô-ê khiến Ngài vui lòng.
    I. KHI CHÚNG TA YÊU NGÀI HƠN HẾT
    1. Tương giao mật thiết với Chúa: Kinh Thánh giới thiệu Nô-ê là người “công bình và trọn vẹn, đồng đi cùng Đức Chúa Trời”(
    SaSt 6:9). Đức Chúa Trời muốn chúng ta tương giao với Ngài trong tình yêu (OsHs 6:6).
    2. Nhận biết Chúa sâu sắc: Mối tương giao mật thiết sẽ đưa chúng ta vào sự nhận biết Chúa sâu sắc để càng yêu Chúa hơn và kinh nghiệm tình yêu Chúa ngọt ngào hơn. Đó là mục đích cuộc đời mỗi chúng ta.
    3. Điều răn lớn nhất: Vì thế, Chúa Jesus đã gọi đó là điều răn lớn hơn hết khi chúng ta “hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí yêu mến Chúa”.
    II. KHI CHÚNG TA TIN CẬY CHÚA HẾT LÒNG
    1. Ba nan đề Nô-ê phải đối diện: Khi nhận mạng lệnh Chúa truyền về việc đóng tàu để cứu gia đình khỏi nước lụt, Nô-ê phải đối diện ba vấn đề:
    a. Nô-ê chưa bao giờ thấy mưa, chỉ có hơi nước từ đất bay lên (
    SaSt 2:5).
    b. Nô-ê sống cách xa bờ biển vài trăm dặm.
    c. Tập hợp các súc vật để vào tàu là một nan đề quá lớn.
    2. Tin cậy Đức Chúa Trời là một hành động thờ phượng: Mặc cho những lời chỉ trích, Nô-ê vẫn cứ tin cậy Chúa, trông đợi Ngài (
    Thi Tv 147:11), vì biết Chúa sẽ ban thưởng điều tốt nhất cho người tin cậy Ngài (HeDt 11:6).
    III. KHI CHÚNG TA HẾT LÒNG VÂNG LỜI NGÀI
    1. Làm đúng như điều Chúa dạy: Nô-ê đã vâng phục Chúa cách trọn vẹn, chính xác, hết lòng (
    SaSt 6:22) trong niềm vui và nhiệt huyết (Thi Tv 100:2).
    2. Phước hạnh của sự vâng phục: Vâng phục ngay lập tức dẫn đến sự hiểu biết. Nó sẽ dạy chúng ta biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời. Chính sự vâng phục chứng minh đức tin thật của chúng ta nơi Chúa (
    Gia Gc 2:24) cũng như tình yêu của chúng ta đối với Ngài (GiGa 14:21), khiến Ngài vui lòng.

    IV. KHI CHÚNG TA NGỢI KHEN VÀ TẠ ƠN CHÚA KHÔNG THÔI
    1. Ý nghĩa: Khi chúng ta ngợi khen và tạ ơn Chúa là chúng ta bày tỏ sự tôn kính Chúa, biết ơn Ngài.
    . Sau cơn nước lụt, điều đầu tiên Nô-ê thực hiện là dâng một của lễ thiêu để tạ ơn Đức Chúa Trời. Ngày nay chúng ta có thể dâng “tế lễ” bằng lời ngợi khen Chúa (
    HeDt 13:15. Thi Tv 116:17).
    2. Ngợi khen tạ ơn Chúa về điều gì? Chúng ta ngợi khen Đức Chúa Trời về chính Ngài và tạ ơn Ngài về những việc Ngài đã làm (
    69:30-31).
    3. Hai chiều của sự thờ phượng Chúa: Chúng ta vui hưởng và tạ ơn Chúa về những điều Ngài đã làm. Điều đó sẽ khiến Ngài vui lòng, nhưng nó cũng làm tăng niềm vui của chúng ta nữa (
    68:3).
    V. KHI CHÚNG TA LÀM TRỌN SỨ MẠNG CHÚA GIAO
    1. Khi chúng ta làm mọi điều Chúa dạy: Đức Chúa Trời rất vui thích ngắm từng chi tiết trong cuộc đời chúng ta. Mọi hoạt động của con người, ngoại trừ tội lỗi, đều có thể khiến Đức Chúa Trời vui lòng nếu được thực hiện với thái độ ngợi khen Chúa, bất kể điều đó thuộc linh hay thuộc thể.
    2. Khi chúng ta tận dụng ân tứ Chúa ban: Đức Chúa Trời rất vui lòng khi chúng ta tận dụng những ân tứ và tài năng Ngài ban trong mọi phương diện của cuộc sống.
    . Đức Chúa Trời ban cho mỗi người những ta-lâng khác nhau về sức mạnh, khôn ngoan, tài khéo, năng khiếu âm nhạc, kỹ thuật...
    . Đức Chúa Trời rất buồn khi chúng ta chôn giấu những ta-lâng Chúa ban, hoặc cố gắng để trở thành một người khác, vì như thế là phủ nhận sự khôn ngoan, tình yêu và quyền tể trị của Ngài khi tạo dựng chúng ta (
    EsIs 45:9).
    3. Khi chúng ta tận hưởng sự sáng tạo của Ngài: Đức Chúa Trời ban cho chúng ta những giác quan để tận hưởng mọi vẻ đẹp của cuộc sống trong sự tạ ơn Ngài, vì mỗi ngày Ngài ban mọi sự dư dật cho chúng ta được hưởng (
    ITi1Tm 6:17). Ngài yêu chúng ta như thể trên trái đất nầy chỉ có một mình chúng ta !
    4. Khi chúng ta hết lòng làm đẹp lòng Chúa: Đức Chúa Trời biết chúng ta không thể toàn hảo và không phạm tội vì chúng ta chỉ là bụi đất (
    Thi Tv 103:14). Tuy nhiên, chúng ta phải biết làm hết sức để được đẹp lòng Chúa (IICo 2Cr 5:9). Ngài muốn thấy thái độ của tấm lòng chúng ta.
    KẾT LUẬN.
    Đức Chúa Trời đang tìm những người như Nô-ê, sẵn sàng làm đẹp lòng Ngài để Ngài ban phước và làm việc lớn của Ngài cho họ.
    Bài 10: TRỌNG TÂM CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG
    Câu gốc: “Hãy phó chính mình anh em cho Đức Chúa Trời, dường như đã chết mà nay trở nên sống, và dâng chi thể mình cho Đức Chúa Trời như là đồ dùng về sự công bình. ” RoRm 6:13
    I. TRỌNG TÂM CỦA SỰ THỜ PHƯỢNG LÀ GÌ?
    1. Phó mình: Trọng tâm của sự thờ phượng Chúa là phó mình cho Ngài. Đó chính là đáp ứng tự nhiên của chúng ta trước tình yêu và lòng nhơn từ kỳ diệu của Đức Chúa Trời.
    . Từ “phó mình” hàm ý một sự mất mát, một sự thất bại, một sự đầu hàng, nhưng lại là bí quyết của đời sống đắc thắng, một sự thờ phượng Chúa phải lẽ, đẹp lòng Ngài (
    12:1).
    2. Những từ khác: Hành động phó dâng đời sống cho Chúa còn được gọi bằng nhiều tên: Sự dâng hiến - Tôn Chúa Jesus làm Chủ - Vác thập tự giá - Làm chết bản ngã - Đầu phục Đức Thánh Linh...
    . Điều quan trọng không phải là từ ngữ mà là hành động tận hiến cho Chúa 100%.
    II. PHÓ MÌNH NGHĨA LÀ GÌ?
    1. Cần lưu ý : Phó mình không phải là sự trao dâng thụ động theo kiểu tiền định, cũng không phải là chấp nhận nguyên trạng hay một sự kềm chế nhân cách. Trái lại đây là hành động tích cực với sự tham dự của toàn bộ nhân cách - lý trí, tình cảm, ý chí - để phát huy nhân cách thật.
    2. Phó mình là vâng phục: Sự phó mình thể hiện rõ nhất trong sự vâng phục vì không vâng phục Chúa thì không thể gọi Ngài là Chúa. Chúa đòi hỏi một sự vâng phục tuyệt đối vì sự vâng phục nửa vời chính là sự bất tuân.
    3. Phó mình là trông cậy: Phó dâng cho Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ nương dựa nơi Ngài để Ngài toàn quyền làm việc (
    XuXh 14:14). Thay vì cố gắng nhiều hơn, chúng ta cần biết trông cậy Chúa nhiều hơn (Thi Tv 37:7).
    . Đối với nhiều người, lãnh vực khó khăn nhất của sự phó dâng là tiền bạc, của cải. Vì thế Chúa Jesus đã cảnh cáo: “Chẳng ai được làm tôi hai chủ” và “của cải ngươi ở đâu thì lòng ngươi cũng ở đó” (
    Mat Mt 6:24, 21).
    . Gương phó mình cao cả nhất chính là Chúa Jesus. Ngài thưa với Cha: “Không phải điều Con muốn mà theo điều Cha muốn” (
    Mac Mc 14:36), nghĩa là điều Cha muốn cũng sẽ là điều Ngài muốn. Phó mình là một việc khó khăn, một cuộc chiến đau đớn nhưng thật phước hạnh.

    III. BÍ QUYẾT ĐỜI SỐNG PHÓ MÌNH
    1. Ba rào cản: Ba rào cản ngăn trở chúng ta phó mình cho Chúa là:
    a. Sự sợ hãi: Nhiều người không nhận thức được tình yêu Chúa cho mình.
    b. Sự kiêu ngạo: Nhiều người chỉ muốn tự điều khiển cuộc đời của mình.
    c. Sự mơ hồ: Nhiều người hiểu lầm ý nghĩa của sự phó dâng.
    2. Hãy tin cậy Đức Chúa Trời: Lòng tin là điều cần yếu, là kết quả của sự biết Chúa để yêu Ngài và tình yêu sẽ xua tan mọi sợ hãi (
    IGi1Ga 4:18).
    a. Hãy biết Chúa yêu chúng ta dường nào: Ngài đã tạo dựng nên chúng ta, quan tâm chăm sóc chúng ta (
    Mat Mt 10:30), hy sinh vì chúng ta (RoRm 5:8), tha thứ, kiên nhẫn với chúng ta và cứ yêu chúng ta cho đến cuối cùng...
    b. Hãy biết rõ ý nghĩa sự phó mình: Chúa không phải là người cai nô lệ khắt khe mà là Cha, Cứu Chúa, Bạn, và là Người yêu dấu của chúng ta. Sự phó mình cho Chúa mới đưa chúng ta vào sự tự do thật (
    GiGa 8:36).
    3. Hãy thừa nhận giới hạn của mình: Nguyên nhân của mọi nỗi bất hạnh là vì con người muốn tự làm chủ, muốn “bằng Đức Chúa Trời” (
    SaSt 3:5). Hãy chấp nhận những giới hạn của mình. Đừng cố gắng làm mọi sự để rồi bực mình khi thất bại hay đố kỵ với người thành công hơn, mà hãy phó mình cho Chúa để Ngài làm được mọi sự qua chúng ta (Phi Pl 4:13).
    IV. PHƯỚC HẠNH CỦA ĐỜI SỐNG PHÓ MÌNH
    1. Được bình an:
    Giop G 22:21 cho biết khi chúng ta thôi tranh cãi với Đức Chúa Trời, nghĩa là khi bằng lòng đầu hàng, phó thác mọi sự trong Tay Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ kinh nghiệm sự bình an thật.
    2. Được tự do thật:
    RoRm 6:17 cho biết khi dâng phó chính mình cho đường lối Đức Chúa Trời thì tự do thật sẽ đến, những mạng lệnh của Chúa sẽ khiến chúng ta sống trong sự tự do của Ngài.
    3. Kinh nghiệm quyền năng của Đức Chúa Trời: Khi dâng phó chính mình cho Chúa, chúng ta sẽ kinh nghiệm quyền năng của Đức Chúa Trời. Những cám dỗ, nan đề... sẽ được giải quyết.
    . Đây là một nghịch lý: Chiến thắng đến nhờ sự đầu hàng. Nhưng đó là kinh nghiệm của Môise, Giôsuê... khi họ xưng mình là nô lệ của Chúa.
    4. Cách sống duy nhất: Nếu không thờ phượng Đức Chúa Trời, con người sẽ phải tôn thờ một điều gì hoặc một ai đó và sẽ nhận lấy hậu quả của quyết định đó. Vì thế thuận phục Đức Chúa Trời không phải là cách sống tốt nhất mà chính là cách sống duy nhất (
    RoRm 12:1. IICo 2Cr 5:9).
    . Tuy nhiên thuận phục không phải là một việc làm một lần đủ cả, mà là một thái độ sống mỗi ngày (
    ICo1Cr 15:31; LuLc 9:23).
    Bài 11: LÀM NGƯỜI BẠN TỐT NHẤT CỦA CHÚA
    Câu gốc: “Vì nếu khi chúng ta còn là thù nghịch cùng Đức Chúa Trời, mà đã được hòa thuận với Ngài bởi sự chết của Con Ngài, thì huống chi nay đã hòa thuận rồi, chúng ta sẽ nhờ sự sống của Con ấy mà được cứu là dường nào!” RoRm 5:10
    I. NGƯỜI BẠN TỐT NHẤT
    1. Mối tương giao lý tưởng: Đức Chúa Trời có nhiều mối liên hệ với con người nhưng Ngài muốn làm Người Bạn tốt nhất của mỗi chúng ta.
    . Tại vườn Êđen, Đức Chúa Trời thiết lập mối tương giao lý tưởng với con người: Mối tương giao mật thiết của tình yêu đơn sơ, không bị ngăn trở bởi sự sợ hãi và mặc cảm tội lỗi, nhưng đầy niềm vui trong Ngài.
    2. Thời Cựu Ước: Tội lỗi đã đánh mất mối tương giao lý tưởng. Vì thế, dù có một số ít người được hưởng đặc ân làm bạn với Đức Chúa Trời, nhưng sự kính sợ Đức Chúa Trời là điều phổ biến hơn.
    3. Thời Tân Ước: Bức màn trong đền thờ đã bị xé đôi bày tỏ con người lại có thể trực tiếp đến với Ba Ngôi Đức Chúa Trời bất cứ lúc nào (
    RoRm 5:11), nhờ ân điển và sự hy sinh của Chúa Jesus (HeDt 10:19; RoRm 5:18).
    4. Đặc ân lớn nhất: Biết và yêu Chúa là đặc quyền lớn nhất của mỗi chúng ta và đó cũng chính là niềm vui của Đức Chúa Trời.
    . Chúa Jesus không gọi chúng ta là đầy tớ, nhưng là bạn hữu Ngài vì Ngài sẵn sàng bày tỏ cho chúng ta mọi điều Ngài nghe nơi Cha (
    GiGa 15:15). Thật ra, Đức Chúa Trời khao khát chúng ta biết rõ Ngài (Cong Cv 17:26-27).
    5. Sáu điều bí mật về tình bạn với Đức Chúa Trời: Muốn kết bạn thiết với Đức Chúa Trời, chúng ta cần phải: Tương giao không ngừng với Ngài - Suy gẫm không ngừng về Ngài và Lời Ngài - Thành thật với Ngài - Vâng phục Ngài bởi đức tin - Coi trọng điều Ngài coi trọng - Khao khát Chúa nhiều hơn.
    II. TRỞ THÀNH NGƯỜI BẠN TỐT NHẤT CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Thông qua sự tương giao không ngừng: Không thể tương giao mật thiết với Chúa nếu chúng ta chỉ đi nhà thờ hoặc ngay cả có thì giờ tĩnh nguyện hằng ngày !
    a. Giờ tĩnh nguyện vẫn chưa đủ: Thói quen tĩnh nguyện với Chúa, ở riêng với Chúa là điều quan trọng vì Chúa Jesus đã làm gương cho chúng ta. Tuy nhiên Ngài muốn hiện diện trong từng công việc, nan đề,... thậm chí trong từng ý tưởng của chúng ta trong sự “cầu nguyện không thôi”.
    b. Thực hành sự hiện diện của Đức Chúa Trời: Brother Lawrence viết:
    . Hãy biến những công việc thông thường và nhỏ nhặt nhất thành những công việc ngợi khen và tương giao với Đức Chúa Trời.
    . Chìa khóa dẫn đến tình bạn với Đức Chúa Trời không phải là thay đổi công việc bạn làm, nhưng là thay đổi thái độ của bạn đối với công việc.
    . Hãy tập cầu nguyện những câu ngắn như nói chuyện với Chúa suốt cả ngày thay vì cố gắng cầu nguyện thật dài dòng và phức tạp.
    . Để có thể cầu nguyện không thôi, hãy dùng lời cầu nguyện “hơi thở” bằng những câu nói ngắn, câu Kinh Thánh ngắn...
    c. Luyện tập thói quen sống trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời: Phải bảo đảm rằng động cơ cầu nguyện là tôn vinh Đức Chúa Trời chứ không phải điều khiển Ngài.
    . Có thể chúng ta cần phải có điều gì để nhắc nhở mình về sự hiện diện của Chúa: Một câu ghi chú, một tiếng nhạc chuông mỗi 15 phút...
    . Đừng tìm kiếm cảm xúc mà hãy nhận thức liên tục về sự thực Đức Chúa Trời đang hiện hữu.
    2. Thông qua sự suy gẫm không ngừng: Kinh Thánh luôn thúc giục chúng ta suy gẫm về việc Đức Chúa Trời là Ai? Ngài đã làm gì? Ngài đã phán gì?
    . Không thể kết bạn với Chúa Jesus, yêu mến Ngài nếu không biết Ngài. Không thể biết Chúa nếu không biết Lời Ngài phán (
    ISa1Sm 3:21).
    . Chúng ta không thể dùng cả ngày để học Kinh Thánh, nhưng chúng ta có thể suy gẫm Lời Chúa suốt cả ngày, nhớ lại những câu chúng ta đã biết, đã học thuộc...
    . Suy gẫm không phải là một nghi thức huyền bí, khó khăn, mà đơn giản chỉ là suy nghĩ có tập trung.
    . Lo lắng là suy nghĩ có tập trung vào nan đề, còn suy gẫm là suy nghĩ có tập trung vào Lời Chúa. Càng suy gẫm Lời Chúa nhiều bao nhiêu, chúng ta sẽ bớt lo lắng bấy nhiêu.
    . Phải biết đánh giá cao Lời Chúa trong đời sống: Đức Chúa Trời xem Gióp và Đavít là những người bạn thiết của Ngài vì họ xem Lời Ngài giá trị hơn mọi sự (
    Giop G 23:12. Thi Tv 119:97, 77:12).
    . Kết quả của tình bạn chân thật là chia sẻ các bí mật: Khi chúng ta phát triển thói quen suy gẫm Lời Chúa suốt ngày, Chúa sẽ chia sẻ những bí mật của Ngài cho chúng ta (
    SaSt 18:17. Thi Tv 103:7a). Hãy tập ôn nhớ những lẽ thật trong khi học Kinh Thánh, nghe giảng... và suy gẫm luôn, chúng ta sẽ hiểu được những bí mật mà nhiều người chưa hề biết.

    Bài 12: LÀM NGƯỜI BẠN TỐT NHẤT CỦA CHÚA (tt)
    Câu gốc: “Vì Đức Giê-hô-va gớm ghiếc kẻ gian tà; Nhưng kết tình bậu bạn cùng người ngay thẳng. ” ChCn 3:32
    Tình bạn với Đức Chúa Trời cần được tích cực phát triển. Điều nầy đòi hỏi lòng khao khát, thời gian và sức lực của chúng ta.
    3. Phải thành thật với Đức Chúa Trời: Viên gạch đầu tiên để xây dựng tình bạn sâu sắc hơn với Đức Chúa Trời chính là sự thành thật.
    a. Thành thật trọn vẹn: Nếu sự toàn hảo là điều kiện để làm bạn với Đức Chúa Trời thì không ai có thể làm bạn với Ngài. Vì thế, Chúa không đòi hỏi sự toàn hảo mà đòi hỏi chúng ta thành thật hoàn toàn về những lỗi lầm và những cảm nhận của chúng ta, vì Ngài là “Bạn của những kẻ thâu thuế và kẻ có tội” (
    Mat Mt 11:9).
    b. Gương thành thật: Trong Kinh Thánh, những người bạn của Đức Chúa Trời rất chân thật về cảm nhận của họ và Chúa cho phép họ như thế:
    . Ápraham chất vấn Chúa về việc tiêu diệt Sôđôm, Gômôrơ (
    SaSt 18:1-33).
    . Đavít phàn nàn về những sự bất công, phản bội, bị bỏ rơi...
    . Gióp bày tỏ sự khốn khổ trong hoạn nạn mình phải đối diện...
    . Môise lưu ý Đức Chúa Trời về trách nhiệm của Ngài (
    XuXh 33:12-17).
    c. Cởi mở nhưng không cay đắng: Tình bạn chân thật được xây dựng trên sự cởi mở chân tình. Đức Chúa Trời chán ngấy những lời sáo rỗng, rập khuôn, có thể đoán trước... Ngài muốn chúng ta chia sẻ cảm xúc thật của mình chứ không phải những gì mình nghĩ là phải nói.
    . Tuy nhiên, sự cay đắng là rào cản lớn nhất của tình bạn với Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể thắc mắc, nhưng hãy nhận thức rằng Đức Chúa Trời luôn luôn hành động vì lợi ích của chúng ta, dù nhiều khi khiến chúng ta phải đau đớn (
    RoRm 8:28).
    d. Cẩm nang thờ phượng: Có thể nói Thi Thiên là cẩm nang của sự thờ phượng Đức Chúa Trời, với nhiều lời nói tích cực, đam mê lẫn với những sợ hãi, bối rối, thắc mắc, được kết thúc bằng lời cảm tạ, ngợi khen Chúa.
    4. Phải vâng phục Đức Chúa Trời bởi đức tin:
    a. Vâng phục là đặc tính của tình bạn: Chúa Jesus phán: “Ví thử các ngươi làm theo điều Ta dạy, thì các ngươi là bạn hữu Ta” (
    GiGa 15:14).
    b. Lý do: Dù là bạn của Đức Chúa Trời nhưng chúng ta không ngang hàng với Ngài. Ngài là người lãnh đạo yêu thương của chúng ta. Hơn nữa, khi vâng phục Chúa, chúng ta bày tỏ sự tin cậy nơi sự khôn ngoan của Ngài.
    c. Động cơ: Chúng ta vâng phục Chúa không vì nghĩa vụ, áp lực hay sợ hãi hình phạt, nhưng vì yêu Ngài, biết ơn Ngài và tin rằng Ngài yêu chúng ta, biết điều gì là tốt nhất cho chúng ta, khiến chúng ta vui mừng (
    GiGa 15:9-11).
    d. Khuôn mẫu: Khuôn mẫu cho tình bạn giữa chúng ta với Chúa Jesus chính là mối tương giao giữa Ngài với Cha. Ngài vâng phục Cha vì tình yêu. Đây là một tình bạn tích cực, khiến chúng ta dấn thân vào nếp sống thánh khiết, yêu thương, sốt sắng chia sẻ Phúc Âm cho mọi người...
    e. Những cơ hội nhỏ: Chúng ta thường khao khát làm việc lớn, nhưng Chúa muốn chúng ta làm những việc nhỏ cho Ngài bởi tình yêu.
    . Cơ hội lớn có thể hiếm hoi, nhưng những cơ hội nhỏ hằng ngày vẫn ở xung quanh chúng ta, và Chúa muốn chúng ta vâng lời, trung tín trong những việc nhỏ (
    ISa1Sm 15:22. LuLc 2:51).
    5. Phải coi trọng điều Đức Chúa Trời coi trọng:
    a. Thể hiện: Càng thân thiết với Chúa bao nhiêu, chúng ta lại càng quan tâm đến những gì Ngài quan tâm, đau buồn về những gì Ngài đau buồn, và vui mừng về những gì Ngài vui mừng.
    . Phao Lô (
    IICo 2Cr 11:2), Đavít (Thi Tv 69:9)... là những gương tốt về điều nầy.
    b. Đức Chúa Trời coi trọng điều gì? Điều Đức Chúa Trời quan tâm nhiều nhất là sự giải cứu con người. Ngài muốn tìm kiếm tất cả những người con lạc mất của Ngài (
    Exe Ed 34:6-16).
    . Điều ấn tượng nhất trong lòng Đức Chúa Trời là sự chết của Con Ngài.
    . Điều ấn tượng thứ hai là khi con cái Ngài công bố sự giải cứu nhờ sự chết của Con Ngài cho người khác. Vì thế, chúng ta phải quan tâm đến những người xung quanh là những người Chúa rất quan tâm.
    6. Phải khao khát Chúa nhiều hơn: Phải hết lòng tìm kiếm Chúa (
    Gie Gr 29:13).
    a. Gương khao khát Chúa: Đavít khát khao trọn đời được ở trong nhà Đức Giêhôva để chiêm ngưỡng Ngài, tương giao với Ngài (
    Thi Tv 27:4).
    . Giacốp vật lộn với Đức Chúa Trời và tuyên bố: “Tôi chẳng cho Người đi đâu, nếu Người không ban phước cho tôi” (
    SaSt 32:26).
    . Phao Lô hết lòng tìm kiếm Chúa đến nỗi sẵn sàng từ bỏ mọi sự để nhận biết Ngài, tương giao với Ngài (
    Phi Pl 3:8-10).
    b. Một sự lựa chọn liên tục: Gần Chúa bao nhiêu là do chúng ta lựa chọn, chứ không phải do tình cờ. Tuy nhiên, cần cẩn trọng kẻo đánh mất tình yêu ban đầu như các tín hữu Ê-phê-sô (
    KhKh 2:4).
    c. Nỗi đau trong đời: Nỗi đau có thể là nhiên liệu cho lòng nhiệt thành, tiếng gọi thức tỉnh để kéo chúng ta trở lại mối tương giao với Chúa.
    . Hãy khát khao cầu xin Chúa cho bạn biết Ngài hơn mọi điều khác...
    Bài 13: SỰ THỜ PHƯỢNG ĐẸP LÒNG ĐỨC CHÚA TRỜI
    Câu gốc: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi. ” Mac Mc 12:30
    Đức Chúa Trời đòi hỏi một sự tận hiến trọn vẹn. Sự thờ phượng đẹp lòng Đức Chúa Trời gồm có bốn đặc tính:
    I. THỜ PHƯỢNG CHÚA CÁCH CHÂN THẬT
    1. Thờ phượng Chúa bằng tâm thần: Chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời, nên có thể nói con người là một tâm linh cư ngụ trong một thân thể. Thờ phượng Đức Chúa Trời là tâm linh chúng ta đáp lại Thánh Linh của Đức Chúa Trời.
    2. Thờ phượng Chúa hết lòng: Chúa đòi hỏi chúng ta phải hết lòng, hết linh hồn... kính mến Chúa, nghĩa là sự thờ phượng thật phải xuất phát từ tấm lòng, nếu không, đó là một sự sỉ nhục Đức Chúa Trời.
    . Đức Chúa Trời không chỉ nghe lời chúng ta nói mà còn nhìn vào tấm lòng của chúng ta (
    ISa1Sm 16:7).
    . Sự thờ phượng có liên quan đến những tình cảm của chúng ta với những cảm xúc sâu xa. Tuy nhiên, đó phải là tình cảm chân thật, vì chúng ta có thể thờ phượng Chúa cách không hoàn hảo nhưng không thể thờ phượng Chúa cách không chân thật.
    II. THỜ PHƯỢNG CHÚA CÁCH CHÍNH XÁC
    1. Tâm thần và lẽ thật: Chân thật chưa đủ vì dù chân thật, chúng ta vẫn có thể sai lầm. Đó là lý do vì sao chúng ta phải thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật: Phải vừa chân thật, vừa chính xác.
    2. Nền tảng của sự thờ phượng: Sự thờ phượng thật phải đặt nền tảng trên lẽ thật của Kinh Thánh, chứ không trên điều chúng ta suy nghĩ, khao khát để trở thành một “thần tượng”. Sự thờ phượng Chúa mang tính chất tình cảm sâu sắc hòa hợp với một tín lý vững vàng.
    . Cần cẩn trọng với phong trào cảm xúc âm nhạc vì thờ phượng thật là tâm linh chúng ta đáp ứng với Đức Chúa Trời chứ không phải với một giai điệu âm nhạc, có thể kéo chúng ta ra khỏi Đức Chúa Trời !
    3. Nhiều hình thức thờ phượng: Có rất nhiều hình thức thờ phượng Chúa vì Đức Chúa Trời tạo dựng mỗi người là một cá thể khác nhau: Gần thiên nhiên - thích cảm xúc - truyền thống - khổ hạnh - năng động - hướng ngoại - hăng say - trầm tư - nghiên cứu... (Gary Thomas - Sacred Pathways). Hãy thờ phượng Chúa bằng tâm thần và lẽ thật.
    III. THỜ PHƯỢNG CHÚA CÓ SUY NGHĨ
    1. Với cả tâm trí: Mạng lệnh “yêu Chúa với cả tâm trí” được lặp lại bốn lần trong Tân Ước. Chúa không đẹp lòng việc hát Thánh ca theo thói quen, cầu nguyện cách chiếu lệ, với những lời cảm thán thiếu suy nghĩ.
    . Chúa Jesus gọi sự thờ phượng Chúa thiếu suy nghĩ là “những lời lặp vô ích”. Thậm chí những khái niệm Kinh Thánh cũng có thể khiến thành sáo rỗng khi bị lạm dụng và thiếu suy nghĩ (Alêlugia! Amen ! Thánh thay.. )
    . Hãy suy nghĩ chín chắn về những gì chúng ta muốn nói với Chúa và hãy nói bằng lời riêng của chính mình.
    2. Phải cụ thể: Chúa rất vui khi chúng ta thưa với Ngài về một vài điều cụ thể hơn là cả chục lời ngợi khen chung chung.
    . Chúng ta có thể tìm hiểu các Danh xưng mà Chúa đã bày tỏ trong Kinh Thánh, nói lên những khía cạnh khác nhau của bản tánh Ngài, để ca ngợi Chúa bằng ngôn ngữ của chính chúng ta.
    3. Phải trật tự: Phao Lô dành cả một chương để nói về chân lý “Mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (
    ICo1Cr 14:40). Cần cẩn trọng về chiêu bài “cảm động của Đức Thánh Linh” vì Ngài là Chúa của trật tự.
    . Phao Lô cũng lưu ý về sự hiện diện của những người chưa tin Chúa trong buổi nhóm. Hãy làm sao để buổi thờ phượng Chúa của chúng ta trở nên dễ hiểu đối với họ (
    ICo1Cr 14:16-17).
    IV. THỜ PHƯỢNG CHÚA CÁCH THỰC TIỄN
    1. Dâng thân thể: Trong
    RoRm 12:1, Phao Lô khuyên chúng ta dâng thân thể mình cho Chúa. Ông không bảo chỉ dâng tâm thần vì không có thân thể, chúng ta không thể làm việc gì trên đất cả. Như thế, ông muốn nói rằng hãy dâng cho Chúa điều chúng ta đang có với trọn vẹn lý trí, tình cảm và ý chí.
    2. Của lễ sống: Của lễ Cựu ước là của lễ chết, nhưng Chúa muốn chúng ta dâng lên Ngài một của lễ sống để liên tục sống cho Ngài (coi chừng sinh tế sống có thể bò khỏi bàn thờ !). Chúa rất đẹp lòng khi chúng ta chân thành dâng lên Chúa những lời tạ ơn, sự ăn năn, sự dâng hiến tiền của, sự phục vụ và chia sẻ cho người khác về mọi nhu cầu nhất là chia sẻ Phúc Âm cho họ...
    3. Của lễ có giá trị: Hãy dâng cho Chúa những của lễ có giá trị (
    IISa 2Sm 24:24). Phải loại bỏ bản ngã ra khỏi đối tượng thờ phượng. Hãy làm hết sức mình để ngợi khen Chúa ngay cả khi mệt mỏi, chán nản...
    . Hãy dâng chính tấm lòng để thực hiện sự thờ phượng Chúa, không chỉ là âm nhạc ! (Matt Redman).
    Bài 14: KHI CHÚA DƯỜNG NHƯ Ở XA
    Câu gốc: “Tôi trông đợi Đức Giê-hô-va, là Đấng ẩn mặt Ngài khỏi nhà Gia-cốp, tôi vẫn ngóng trông Ngài!” EsIs 8:17
    I. SỰ THỜ PHƯỢNG CHÚA THẬT
    1. Dễ hay khó? Thật dễ thờ phượng Đức Chúa Trời khi mọi sự trong đời sống đều tốt đẹp. Nhưng cuộc sống không phải lúc nào cũng dễ chịu !
    2. Tâm tình phải đạt tới: Mức độ sâu sắc nhất của sự thờ phượng Chúa là ngợi khen Chúa bất chấp những nỗi đau, tạ ơn Ngài trong mọi thử thách, tin cậy Ngài khi gặp cám dỗ, đầu phục Ngài khi chịu khốn khó, và yêu mến Ngài khi Ngài dường như ở quá xa !
    II. NHẬN BIẾT HAY CẢM NHẬN
    1. Vấn đề của cảm xúc: Không phải lúc nào chúng ta cũng có thể cảm thấy gần gũi Chúa. Có những lúc chúng ta cảm thấy Chúa dường như giấu mặt. Người ta gọi đó là “đêm tối của linh hồn”, “chức vụ bóng đêm” hay “mùa đông của tâm hồn”...
    . Đavít là một người được xưng là “một người theo lòng Ngài” cũng thường phàn nàn về sự vắng mặt của Đức Chúa Trời (
    Thi Tv 10:1, 22:1;, 43:2).
    . Trước hoàn cảnh đó, nhiều người cũng bối rối, cố gắng xét mình để xưng mọi tội lỗi vì sợ rằng mình đang bị Chúa kỷ luật, ân cần nhờ người khác cầu thay, ngay cả kiêng ăn cầu nguyện... nhưng chẳng có gì thay đổi !
    2. Câu giải đáp: Dĩ nhiên Chúa không lìa bỏ Đavít hay lìa bỏ chúng ta, vì Ngài đã hứa chắc rằng: “Ta sẽ chẳng lìa ngươi, chẳng bỏ ngươi đâu”.
    . Thông thường, cảm giác bị Đức Chúa Trời bỏ rơi lại không liên quan đến tội lỗi mà chính là một thử nghiệm cho đức tin. Đây là một kinh nghiệm bình thường để phát triển tình bạn của chúng ta với Chúa và mỗi Cơ Đốc nhân đều trải qua điều nầy ít nhất một lần. Gióp đã thấy được chân lý nầy trong
    Giop G 23:8-10 rằng “... Ngài đã thử rèn tôi, tôi sẽ ra như vàng”.
    . Sai lầm phổ biến của Cơ Đốc nhân ngày nay là tìm kiếm một kinh nghiệm thay vì tìm kiếm Đức Chúa Trời. Trên thực tế, Đức Chúa Trời thường cất bỏ những cảm xúc để chúng ta không còn lệ thuộc vào chúng.
    . Những con đỏ thuộc linh thường dựa vào cảm xúc và Đức Chúa Trời ban cho họ nhiều cảm xúc cùng sự đáp lời thật ngoạn mục. Nhưng trên đường trưởng thành, họ sẽ được “cai, dứt” những lệ thuộc nầy để chỉ tin cậy Ngài, tin vào sự thật Đức Chúa Trời là Đấng Yêu thương, Toàn tại.

    III. LÀM SAO NGỢI KHEN CHÚA KHI NGÀI “Ở XA”?
    1. Hãy nói với Chúa đúng điều bạn cảm nhận: Hãy tuôn đổ lòng mình ra trước mặt Chúa. Hãy nói hết mọi cảm xúc của chúng ta với Chúa (
    7:11. 29:4). Đavít đã viết: Tôi tin nên tôi nói, tôi đã bị buồn thảm lắm (Thi Tv 116:10). Đavít đã thẳng thắn bày tỏ đức tin sâu sắc:
    . Trước hết ông vẫn tin cậy Đức Chúa Trời.
    . Thứ hai, ông tin rằng Chúa sẽ lắng nghe lời cầu nguyện của ông.
    . Thứ ba, ông tin rằng Chúa cho phép ông nói điều ông cảm nhận.
    2. Hãy tập trung vào Đức Chúa Trời là Ai: Bất luận hoàn cảnh ra sao, hãy bám lấy bản chất bất biến của Đức Chúa Trời: Ngài luôn là Đấng Tốt lành, đầy tình yêu đối với chúng ta. Ngài luôn ở với, quan tâm, cảm thông, và có kế hoạch tốt nhất cho cuộc đời chúng ta.
    . Trong hoàn cảnh đen tối, Gióp vẫn có thể ngợi khen Chúa. Ông nói Ngài là Đấng Tốt lành và Yêu thương (
    Giop G 10:12), Toàn năng (42:2), quan tâm đến mọi chi tiết trong cuộc đời ông (23:10), là Đấng đang kiểm soát (34:13), có kế hoạch cho cuộc đời ông (23:14), và Ngài sẽ cứu ông (19:25).
    3. Hãy tin cậy Chúa luôn giữ lời hứa: Lúc khô hạn thuộc linh, cần phải:
    a. Nhẫn nại nương dựa nơi lời hứa của Đức Chúa Trời (
    23:12), chứ không dựa vào cảm xúc, vì tình bạn dựa vào cảm xúc thực sự rất nông cạn. Ngài vẫn ở với chúng ta và ân điển Ngài vẫn luôn đầy dư.
    b. Ý thức rằng Ngài đang đưa chúng ta vào một mức độ trưởng thành sâu sắc hơn. Vì thế, nan đề sẽ không còn làm cho chúng ta bối rối mà trái lại sẽ trở thành lý do cảm tạ Đức Chúa Trời.
    . Khi cảm thấy bị bỏ rơi mà vẫn tiếp tục tin cậy Đức Chúa Trời, bất chấp cảm nhận của mình, là chúng ta đang thờ phượng Ngài cách sâu sắc nhất.
    . Lòng tin cậy Đức Chúa Trời khiến Gióp vẫn trung tín, ngay cả khi không còn điều gì có ý nghĩa nữa ! Đức tin của ông thật mạnh mẽ trong cơn đau đớn khi ông nói: Dẫu Chúa giết ta, ta cũng còn nhờ cậy nơi Ngài (
    13:15).
    4. Hãy nhớ lại điều Chúa đã làm cho bạn: Nếu Chúa chưa làm điều gì khác cho chúng ta thì Ngài vẫn xứng đáng được ngợi khen suốt quảng đời còn lại của chúng ta vì điều Đấng Christ đã làm trên Thập tự giá.
    . Thật không may là chúng ta thường quên những sự đau đớn Chúa chịu vì cớ chúng ta. Lý do là sự quen thuộc dẫn đến xem thường !
    . Hãy nhớ Chúa đã chịu sự đối đãi tàn bạo, độc ác, kinh khiếp chính vì để chúng ta thoát khỏi hỏa ngục và được cùng chia sẻ vinh quang với Ngài.
    . Hãy đếm ơn phước Chúa và ngợi khen Ngài, chúng ta sẽ thấy ơn phước luôn luôn tuôn tràn !
    Bài 15: GIA ĐÌNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    Câu gốc: “Thật, Đấng mà muôn vật hướng về Ngài và bởi Ngài, vì muốn đem nhiều con đến sự vinh hiển, thì đã khiến Đấng làm cội rễ sự cứu rỗi của những con ấy, nhờ sự đau đớn mà nên trọn lành, là phải lắm. ” HeDt 2:10
    I. GIA NHẬP GIA ĐÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Ý muốn của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời muốn có một gia đình, và Ngài tạo dựng chúng ta để làm thành viên trong gia đình của Ngài.
    a. Câu chuyện về gia đình Đức Chúa Trời: Kinh Thánh là câu chuyện về việc Đức Chúa Trời xây dựng một gia đình gồm những người sẽ yêu thương, tôn kính Ngài và đồng trị với Ngài đời đời (
    Eph Ep 1:5).
    b. Lý do: Đức Chúa Trời là Tình yêu nên Ngài xem trọng các mối quan hệ và mối quan hệ giữa Ba Ngôi Đức Chúa Trời là một mẫu mực trọn vẹn. Vì thế Ngài không bao giờ cô đơn, Ngài không cần một gia đình. Tuy nhiên Ngài có kế hoạch tạo dựng chúng ta để đem chúng ta vào gia đình của Ngài, để chia sẻ với Ngài những điều Ngài có (
    Gia Gc 1:18).
    2. Bí quyết gia nhập: Cách duy nhất để gia nhập gia đình của Đức Chúa Trời là tái sanh: Khi chào đời, chúng ta là thành viên của gia đình loài người, và chúng ta chỉ trở nên thành viên của gia đình Đức Chúa Trời khi chúng ta được Ngài tái sanh (
    IPhi 1Pr 1:3. RoRm 8:15-16).
    . Đức Chúa Trời mời gọi mọi người gia nhập gia đình của Ngài, nhưng chỉ những người đặt đức tin nơi Chúa Jesus mới kinh nghiệm được điều đó (
    GaGl 3:26).
    3. Giá trị gia đình thuộc linh: Gia đình thuộc linh quan trọng hơn gia đình thuộc thể vì sẽ còn tồn tại đời đời.
    a. Gia đình thuộc thể là món quà Chúa ban nhưng rất tạm bợ và dễ tan vỡ bởi xa cách, ly dị.. và cái chết không sao tránh khỏi.
    b. Gia đình thuộc linh có giá trị đời đời. Đó là một sự hiệp nhất mạnh mẽ và bền vững (
    Eph Ep 3:14-15).
    II. NHỮNG ÍCH LỢI KHI THUỘC GIA ĐÌNH ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Quà sinh nhật kỳ diệu: Giây phút được tái sanh, chúng ta nhận được một số quà sinh nhật đáng ngạc nhiên: Được mang họ của gia đình, có những đặc điểm của gia đình, những đặc ân trong gia đình, mối thông công mật thiết trong gia đình, và cả di sản của gia đình nữa (
    GaGl 4:7).
    2. Một di sản giàu có: Tân ước nhấnh mạnh đến di sản giàu có của chúng ta, rằng Đức Chúa Trời sẽ làm cho đầy đủ mọi sự cần dùng của chúng ta y theo sự giàu có của Ngài ở nơi vinh hiển (
    Phi Pl 4:19). Ngay trong trần gian cũng như trong cõi đời đời, chúng ta cũng nhận được sự giàu có của ân điển Chúa. Di sản giàu có nầy gồm:
    a. Chúng ta sẽ được ở với Đức Chúa Trời đời đời.
    b. Chúng ta sẽ được Đức Chúa Trời biến đổi để trở nên giống Đấng Christ.
    c. Chúng ta sẽ được Chúa giải thoát khỏi mọi đau đớn, sự chết, khốn khổ.
    d. Chúng ta sẽ được ban thưởng và bổ nhiệm vào chức vụ phục vụ mới.
    e. Chúng ta sẽ được dự phần vào sự vinh hiển của Đấng Christ.
    3. Một di sản đời đời: Đây là cơ nghiệp không hư đi, không ô uế, không suy tàn, để dành trong các từng trời cho chúng ta (
    IPhi 1Pr 1:3-4). Vì thế, trong mọi việc, chúng ta làm như làm cho Chúa để có thể nhận cơ nghiệp Chúa ban như một phần thưởng cho người trung tín (CoCl 3:23-24).
    III. LỄ BÁP-TÊM
    1. Niềm tự hào gia đình: Những gia đình danh giá thường có niềm tự hào, nhưng có bao nhiêu người tin Chúa có niềm tự hào về gia đình của Chúa?
    2. Ý nghĩa lễ báp-têm: Lễ báp-têm không phải là một nghi thức tùy hứng. Nó xác nhận sự công khai tuyên bố gia nhập gia đình của Đức Chúa Trời, và hãnh diện về gia đình nầy.
    3. Tầm quan trọng của lễ báp-têm: Trong Đại Mạng lệnh, Chúa Jesus nhấn mạnh đến lễ báp-têm tương đương với công tác truyền giáo và chăm sóc vì nó tượng trưng cho mục đích thứ hai: Gia nhập gia đình Đức Chúa Trời.
    . Báp-têm không khiến chúng ta trở nên thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời vì chỉ có đức tin nơi Đấng Christ mới thực hiện điều đó. Tuy nhiên, báp-têm là một hình ảnh thuộc thể của một lẽ thật thuộc linh, giống như chiếc nhẫn cưới là biểu tượng của sự kết ước vợ chồng.
    4. Khi nào làm báp-têm? Tân ước dạy làm báp-têm ngay sau khi một người tin nhận Chúa Jesus (lễ Ngũ tuần, hoạn quan Êthiôpi, gia đình Cọt-nây, gia đình người đề lao tại Philíp... ).
    . Vì thế hãy làm báp-têm càng sớm càng tốt, đúng như mạng lệnh của chính Chúa Jesus.
    IV. ĐẶC ÂN LỚN NHẤT
    1. Chúa nhận chúng ta vào gia đình của Ngài: Chúa Jesus không thẹn khi nhận chúng ta là anh em (
    HeDt 2:11). Hãy vui thỏa trong lẽ thật nầy !
    2. Lý do: Chúng ta là thành viên trong gia đình Đức Chúa Trời vì Ngài đã thánh hóa chúng ta, khiến chúng ta làm theo ý muốn Cha (
    Mat Mt 12:49-50).
    Bài 16: ĐIỀU QUAN TRỌNG NHẤT
    Câu gốc: “Dầu tôi phân phát gia tài để nuôi kẻ nghèo khó, lại bỏ thân mình để chịu đốt, song không có tình yêu thương, thì điều đó chẳng ích chi cho tôi. ” ICo1Cr 13:3
    I. BÀI HỌC QUAN TRỌNG NHẤT
    1. Quan trọng nhất: Đức Chúa Trời là Tình yêu nên bài học quan trọng nhất Ngài muốn chúng ta học trên trần gian nầy chính là cách yêu thương:
    a. Chính trong tình yêu mà chúng ta giống Đức Chúa Trời nhất.
    b. Tình yêu là nền tảng của mọi mạng lệnh Chúa truyền (
    GaGl 5:14).
    2. Khó học nhất: Học yêu thương không vị kỷ vô cùng khó khăn vì nó đối kháng với bản chất hướng ngã của chúng ta:
    a. Chúa muốn chúng ta yêu thương mọi người, nhất là đối với anh chị em trong gia đình của Đức Chúa Trời (
    IPhi 1Pr 2:17. GaGl 6:10).
    b. Chúa muốn tình yêu phải là điểm đặc thù của gia đình Ngài (
    GiGa 13:35). Trước khi sống yêu thương đời đời trên Thiên đàng, chúng ta phải học để chuẩn bị chính mình cho nếp sống yêu thương đó.
    c. Tình yêu không thể học trong sự cô lập: Cần có những người xung quanh có thể làm chúng ta bực mình, bối rối, lo lắng... !!!
    3. Ba lẽ thật: Thông qua mối thông công, chúng ta sẽ học được ba lẽ thật:
    II. CÁCH TỐT NHẤT TẬN DỤNG CUỘC SỐNG LÀ YÊU THƯƠNG
    1. Cuộc sống không tình yêu thật là vô ích:
    a. Phần quan trọng nhất: Tình yêu không phải chỉ là một phần tốt mà là phần quan trọng nhất của cuộc sống, cần “nôn nả tìm kiếm” (I. Cô 14:1;). Không phải sự thành đạt hoặc của cải mà chính là các mối quan hệ mới là điều quan trọng nhất.
    b. Toàn bộ cuộc sống: Chúng ta thường cố nhồi nhét các mối quan hệ (thì giờ cho vợ, con... ) vào lịch làm việc của mình, nhưng Chúa muốn chúng ta nhận thức rằng các mối quan hệ là toàn bộ cuộc sống.
    c. Mười điều răn: Mười điều răn đều hướng về các mối quan hệ: Sau khi học yêu thương Đức Chúa Trời qua sự thờ phượng, chúng ta cần phải học yêu thương người khác (
    Mat Mt 22:37-40).
    d. Kẻ thù của các mối quan hệ: Sự bận rộn là kẻ thù của các mối quan hệ. Chúng ta thường bận rộn để kiếm sống, để thành đạt..., nhưng trọng tâm của cuộc đời chính là học biết yêu thương: Yêu Chúa và yêu người, nhất là đối với những người thân yêu trong gia đình.
    2. Tình yêu sẽ tồn tại đời đời: Tình yêu là ưu tiên hàng đầu vì tình yêu sẽ trường tồn (
    ICo1Cr 13:13).
    a. Tình yêu để lại một di sản: Cách đối xử với người khác, chứ không phải sự giàu có hay thành đạt, là yếu tố ảnh hưởng lâu dài nhất mà chúng ta có thể để lại trên trần gian nầy.
    b. Tình yêu chứ không phải công việc: Điều quan trọng không phải là việc làm mà chính là lượng tình yêu chúng ta đặt vào đó. Đừng đợi đến lúc sắp lìa đời mới khám phá rằng các mối quan hệ mới là toàn bộ cuộc sống !
    3. Chúng ta sẽ được đánh giá bằng tình yêu: Một trong những cách Đức Chúa Trời sẽ đánh giá chúng ta là dựa vào phẩm chất các mối quan hệ. Ngài sẽ xem xét cách chúng ta đối xử với người khác (
    Mat Mt 25:40).
    . Hãy bắt đầu mỗi ngày với lời cầu xin Chúa ban cho chúng ta thời gian để yêu Ngài và yêu thương người khác, vì đó là toàn bộ cuộc sống chúng ta.
    III. CÁCH BIỂU HIỆN TỐT NHẤT LÀ THỜI GIAN
    1. Món quà quý báu nhất: Tầm quan trọng của sự việc có thể đo lường bằng lượng thời gian chúng ta đầu tư vào đó. Vì thế, món quà lớn nhất chúng ta có thể tặng cho người khác chính là thời gian của chúng ta.
    . Lý do là vì chúng ta có thể làm ra tiền..., nhưng không thể làm ra thời gian; khi dành thời gian cho ai là chúng ta đã tặng cho họ một phần của cuộc sống mình.
    2. Món quà được khao khát nhiều nhất: Món quà được khao khát nhiều nhất không phải là sự chu cấp, tiền của, đồ trang sức..., mà là sự chú ý tập trung, là sự ban tặng chính mình cho người mình yêu (vợ, con... ).
    . Chúng ta có thể ban cho mà không có tình yêu, nhưng không thể yêu mà không ban cho, ban cho điều tốt nhất, ban cho chính mình (
    Eph Ep 5:2).
    IV. THỜI ĐIỂM TỐT NHẤT ĐỂ YÊU LÀ NGAY BÂY GIỜ
    1. Ngay bây giờ: Chần chờ là phản ứng bình thường trước một công việc không quan trọng, nhưng tình yêu là điều quan trọng nhất, nên hãy thực hiện ngay bây giờ, đang lúc có dịp tiện (
    GaGl 6:10. Eph Ep 5:16. ChCn 3:27).
    2. Tại sao? Vì chúng ta không biết mình sẽ còn cơ hội bao lâu nữa:
    . Vì hoàn cảnh luôn thay đổi, không thể lường trước được.
    . Vì không có gì bảo đảm cho ngày mai.
    . Vì có một ngày chúng ta sẽ đứng trước mặt Đức Chúa Trời để trả lời về cách chúng ta sử dụng thời gian Ngài ban trên đất.
    Tóm lại: Cuộc sống gồm ba lẽ thật quan trọng: Cách tận dụng tốt nhất cuộc sống nầy chính là yêu thương - Cách bày tỏ tình yêu tốt nhất là thời gian - Thời gian tốt nhất để yêu thương là ngay bây giờ.
    Bài 17: MỘT NƠI ĐỂ THUỘC VỀ
    Câu gốc: “Dường ấy anh em chẳng phải là người ngoại, cũng chẳng phải là kẻ ở trọ nữa, nhưng là người đồng quốc với các thánh đồ, và là người nhà của Đức Chúa Trời. ” Eph Ep 2:19
    I. ĐƯỢC TẠO DỰNG CHO CỘNG ĐỒNG
    1. Được kêu gọi để thuộc về: Ngay cả trong vườn Êđen hoàn hảo, Đức Chúa Trời đã phán: “Loài người ở một mình thì không tốt”. Chúng ta được tạo dựng cho cộng đồng, được nhào nặn cho mối thông công và được định hình cho một gia đình.
    . Trong gia đình của Đức Chúa Trời, chúng ta “hiệp nên một Thân trong Đấng Christ”, để thuộc về nhau suốt cõi đời đời. Kinh Thánh không hề nói đến một thánh nhân cô độc hay một nhà ẩn tu.
    2. Thành viên của Hội Thánh: Thành viên của Hội Thánh là một bộ phận sống của một Thân thể sống.
    . Để các bộ phận làm trọn mục đích, chúng phải gắn liền với thân, nghĩa là cùng gắn liền với các bộ phận khác. Chúng ta chỉ có thể khám phá vai trò của mình trong cuộc đời thông qua các mối liên hệ với người khác.
    II. HỘI THÁNH CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Giá trị của Hội Thánh: Hội Thánh là công việc của Đức Chúa Trời trên thế gian. Không điều gì có thể hủy diệt Hội Thánh của Ngài và Hội Thánh sẽ tồn tại đời đời, đắc thắng mọi quyền lực của âm phủ (
    Mat Mt 16:18). Hội Thánh quan trọng đến nỗi Chúa Jesus đã phải chịu chết trên Thập tự giá cho Hội Thánh (Eph Ep 5:25).
    2. Thái độ cần có đối với Hội Thánh: Kinh Thánh gọi Hội Thánh là “Cô dâu”, là “Thân thể” của Đấng Christ. Đức Chúa Trời ban lệnh cho chúng ta phải yêu Hội Thánh như chính Ngài đã yêu. Thật đáng buồn là có nhiều người chỉ sử dụng Hội Thánh chứ không yêu Hội Thánh !
    3. Mối thông công địa phương: Từ “Hội Thánh” thường ám chỉ một hội chúng địa phương hữu hình. Chỉ có những người bị kỷ luật, dứt phép thông công, là không thuộc một Hội Thánh địa phương nào cả !
    . Chúng ta không còn là người ngoại hay kẻ ở trọ, mà là “người nhà”...
    . Chủ nghĩa cá nhân độc lập đã tạo ra nhiều “trẻ mồ côi thuộc linh” hay những “con thỏ tín nhân” nhảy từ Hội Thánh nầy qua Hội Thánh khác mà không có một cam kết hay trách nhiệm gì với Hội Thánh cả.

    III. TẠI SAO CẦN CÓ MỘT GIA ĐÌNH HỘI THÁNH ?
    1. Gia đình Hội Thánh thừa nhận bạn là tín hữu thật: Chúa Jesus tuyên bố: “Nếu các ngươi yêu nhau thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ Ta”. Như thế, khi gia nhập Hội Thánh là Thân thể Đấng Christ để sống trong tình yêu, chúng ta mới là Cơ Đốc nhân thật.
    2. Gia đình Hội Thánh đưa bạn ra khỏi chỗ cô lập, hướng ngã: Hội Thánh địa phương là lớp học về cách hòa thuận trong gia đình Đức Chúa Trời. Đó là phòng thí nghiệm để thực hành tình yêu cảm thông, vô kỷ, qua đó chúng ta học được mối thông công thật để liên hệ và lệ thuộc nhau.
    . Cao điểm của mối thông công nầy là hết lòng hy sinh cho nhau (
    IGi1Ga 3:16), vì chúng ta làm điều nầy như làm cho Chúa chúng ta (CoCl 3:23).
    3. Gia đình Hội Thánh giúp bạn phát triển cơ bắp thuộc linh: Không ai có thể trưởng thành nếu chỉ là một khán giả thụ động của các chương trình thờ phượng Chúa. Chỉ có sự dự phần vào sinh hoạt của Hội Thánh địa phương mới giúp chúng ta phát triển cơ bắp thuộc linh, hoàn tất sứ mạng của riêng mình và giúp phát triển Hội Thánh chung (
    Eph Ep 4:16).
    . Hơn 50 lần Tân ước dùng cụm từ “lẫn nhau”, “cho nhau” để khuyên chúng ta cầu nguyện cho nhau, khích lệ nhau, khuyên bảo nhau, chào hỏi nhau, phục vụ nhau, chấp nhận nhau, tôn trọng nhau, tha thứ nhau, mang gánh nặng cho nhau, hết lòng vì nhau, cùng nhiều việc hổ tương khác.
    . Sự cô lập dễ rơi vào chỗ tự lừa dối về mức độ trưởng thành của mình: Sự trưởng thành thật sự chỉ được hình thành qua các mối quan hệ ! Tinh thần nhịn nhục, học hỏi lẫn nhau cùng tinh thần trách nhiệm cũng sẽ được phát triển qua các mối quan hệ để góp phần cho sự trưởng thành thuộc linh.
    4. Thân thể Đấng Christ cần bạn: Đức Chúa Trời có một vai trò duy nhất cho bạn trong gia đình của Ngài. Khi chúng ta khám phá và phát triển ân tứ Chúa ban, để làm trọn phần việc riêng Chúa giao cho mỗi người, chúng ta sẽ đem lợi ích chung cho cả Hội Thánh (
    ICo1Cr 12:7).
    5. Bạn sẽ chia sẻ sứ mạng Đấng Christ trong thế gian: Khi còn ở thế gian, Chúa Jesus đã làm việc qua thân thể vật lý của Ngài, ngày nay Ngài cũng đang làm việc qua Thân thể thuộc linh của Ngài là Hội Thánh.
    . Đây là một đặc ân kỳ diệu Chúa ban: Chúng ta là những bàn tay, bàn chân, đôi mắt và trái tim của Ngài, để làm việc Ngài chỉ định (
    Eph Ep 2:10).
    6. Gia đình Hội Thánh giúp bạn khỏi sa ngã: Không ai được miễn trừ cám dỗ và Chúa đã giao cho chúng ta trách nhiệm nâng đỡ lẫn nhau (
    HeDt 3:13). Hội Thánh địa phương sẽ bảo vệ người lãnh đạo tin kính cũng như giúp họ chăm sóc, bảo vệ bầy chiên của Chúa ở trong ràng chiên của Ngài.
    Bài 18: SỐNG VỚI NHAU
    Câu gốc: “Nguyền xin sự bình an của Đấng Christ cai trị trong lòng anh em, là bình an mà anh em đã được gọi đến đặng hiệp nên một thể; lại phải biết ơn. ” CoCl 3:15
    I. CUỘC SỐNG LÀ PHẢI SAN SẺ
    1. Thông công thật: Ngày nay, từ “thông công” thường ám chỉ cuộc trò chuyện, giao tế, ăn uống và vui chơi, hoặc buổi trà đàm sau giờ nhóm.
    . Thông công thật không chỉ là có mặt tại các buổi thờ phượng Chúa, nhưng là kinh nghiệm cuộc sống với nhau. Nó bao hàm những mạng lệnh yêu thương vô kỷ, chân thành chia sẻ, tập thói quen phục vụ, ban cho hy sinh, cảm thông yên ủi và những mạng lệnh “lẫn nhau” khác trong Kinh Thánh.
    2. Kích cỡ nhóm thông công: Kích cỡ là điều quan trọng. Chúng ta có thể thờ phượng Chúa với một đám đông, nhưng không thể thông công với cả một đám đông được.
    . Chúa Jesus chỉ chọn 12 môn đồ để được thông công mật thiết với Ngài. Thật ra 12 là số lượng lớn nhất của một nhóm thông công để mọi người đều có thể dự phần.
    3. Nhóm tế bào: Sự sống của Thân thể Đấng Christ cũng giống như thân thể chúng ta đều nằm trong các tế bào. Vì thế, mỗi tín hữu cần phải dự phần trong một nhóm nhỏ trong Hội Thánh để thông công với nhau: Nhóm thông công gia đình, lớp Trường Chúa nhật, nhóm nhỏ của ban ngành...
    . Chúa Jesus đã ban một lời hứa lớn cho những nhóm nhỏ tín hữu: “Nơi nào có hai ba người nhơn Danh Ta nhóm nhau lại, thì Ta ở giữa họ” (
    Mat Mt 18:20). Tuy nhiên, không phải nhóm nhỏ nào cũng kinh nghiệm điều đó !
    II. ĐẶC TÍNH CỦA MỐI THÔNG CÔNG THẬT
    1. Nơi con người kinh nghiệm sự chân thành: Mối thông công thật xảy đến khi các thành viên chân thật về việc họ là ai và điều gì đang xảy ra trong cuộc đời họ.
    . Điều đáng buồn là tại nhiều Hội Thánh, mối thông công chỉ là “nhập vai”, vận động cá nhân, giả vờ lịch sự và đề phòng lẫn nhau.
    .
    IGi1Ga 1:7-8 dạy rằng chúng ta chỉ thông công thật khi cùng bước đi trong sự sáng, để ánh sáng Chúa phơi bày sự thật. Gia Gc 5:16 cũng dạy chúng ta xưng tội cùng nhau và cầu nguyện cho nhau để được “lành bệnh”.
    . Dĩ nhiên, chân thật đòi hỏi cả lòng can đảm lẫn sự khiêm nhường.
    2. Nơi con người kinh nghiệm sự tương thuộc: Tương thuộc là nghệ thuật cho và nhận. Tương thuộc là trọng tâm của mối thông công: Xây dựng các mối quan hệ hỗ tương, chia sẻ các trách nhiệm và giúp đỡ lẫn nhau.
    . Dĩ nhiên Chúa không bắt chúng ta chịu trách nhiệm về mọi điều, Ngài chỉ muốn chúng ta làm những gì có thể làm để giúp đỡ nhau.
    . Kinh Thánh ban mạng lệnh chúng ta phải chia sẻ trách nhiệm hỗ tương (hơn 50 lần), với mục đích làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau (
    RoRm 14:18).
    3. Nơi con người kinh nghiệm sự cảm thông: Cảm thông là bước vào và chia sẻ nỗi đau của người khác. Là người thánh, chúng ta cần phải cảm thông, nhơn từ, khiêm nhường, lịch sự và nhẫn nại (
    CoCl 3:12).
    . Cảm thông đáp ứng hai nhu cầu căn bản của con người: Nhu cầu được hiểu và nhu cầu được thừa nhận những cảm xúc của mình. Khi hiểu và thừa nhận cảm xúc của một người nào là chúng ta đang xây dựng mối thông công.
    . Có nhiều mức độ thông công khác nhau: Thông công trong học hỏi, thông công khi phục vụ... nhưng có lẽ mối thông công sâu sắc nhất là thông công thương khó khi bước vào nỗi đau đớn, buồn khổ của nhau và mang lấy gánh nặng cho nhau (
    GaGl 6:2), vì chính lúc khủng hoảng, đau buồn, nghi ngờ sâu sắc là lúc chúng ta cần nhau nhiều nhất (Giop G 6:14).
    4. Nơi con người kinh nghiệm sự thương xót: Mối thông công là một nơi của ân điển, nơi những lầm lỗi được thứ tha, là nơi sự thương xót chiến thắng công lý. Thương xót là đặt mình vào vị trí của người khác để cảm thông và cứu giúp.
    . Tất cả chúng ta đều cần sự thương xót vì dễ vấp ngã, cần có sự giúp đỡ để có thể đứng dậy (
    IICo 2Cr 2:7).
    . Không thể có thông công nếu không biết tha thứ (
    CoCl 3:13), vì sự cay đắng và thù hận luôn phá hỏng mối thông công. Dù bị làm tổn thương cố ý hay vô tình, chúng ta cần phải có sự thương xót và ân điển để tái lập và duy trì mối thông công.
    . Lòng thương xót của Đức Chúa Trời đối với chúng ta là động cơ để chúng ta bày tỏ lòng thương xót đối với người khác: Chúa không đòi hỏi chúng ta tha thứ nhiều hơn những gì Ngài đã tha thứ chúng ta.
    . Tha thứ là để cho quá khứ trôi đi, là điều phải làm ngay dù có được yêu cầu hay không. Tuy nhiên sự tin cậy có liên quan đến hành vi trong tương lai cần phải được củng cố theo thời gian, và nơi tốt nhất để khôi phục lòng tin cậy là trong nhóm tế bào, nơi đem lại cả khích lệ lẫn trách nhiệm.

    Bài 19: VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG
    Câu gốc: “Bởi đó chúng ta nhận biết lòng yêu thương, ấy là Chúa đã vì chúng ta bỏ sự sống; chúng ta cũng nên bỏ sự sống vì anh em mình vậy. ” IGi1Ga 3:16
    I. VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG ĐÒI HỎI CAM KẾT
    1. Cộng tác với Đức Thánh Linh: Chỉ có Đức Thánh Linh mới tạo ra mối thông công thật, nhưng Ngài vun đắp nó bằng những lựa chọn và cam kết của chúng ta. Mối thông công cần quyền năng Đức Chúa Trời, nhưng cũng cần sự cam kết hết lòng xây dựng của chúng ta (
    Eph Ep 4:2-3).
    2. Thực trạng: Thật đáng buồn là có nhiều người lớn lên trong các gia đình có các mối quan hệ không lành mạnh, nên thiếu những kỷ năng cần thiết cho mối thông công thật. Họ cần học biết cách sống hòa thuận và quan hệ với người khác trong gia đình Đức Chúa Trời.
    . Nhưng Kinh Thánh Tân Ước có đủ những hướng dẫn cần thiết để phát triển mối thông công trong Chúa (
    ITi1Tm 3:14-15).
    II. VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG ĐÒI HỎI LÒNG CHÂN THẬT
    1. Nan đề: Mối thông công trong nhiều Hội Thánh hoặc nhóm nhỏ vẫn còn nông cạn khi người ta cố gắng che đậy nan đề để bảo tồn cảm giác bình an giả tạo. Mọi người biết nan đề, nhưng không ai dám nói công khai, để rồi tạo nên một môi trường bệnh hoạn của những điều bí mật, thích hợp để phát triển thói xấu nói hành !
    . Sự im lặng trước tội lỗi sẽ khiến người ta coi thường tội lỗi, làm hại cho chính họ và cho cả Hội Thánh của Đức Chúa Trời (
    ICo1Cr 5:3-12).
    2. Lý do: Thường chúng ta biết điều mình cần phải nói, nhưng nỗi sợ hãi đã ngăn chúng ta mở miệng. Chúng ta sợ sự xung đột “không cần thiết”!
    . Chúng ta chưa quan tâm đủ đến anh chị em mình, nên ít thấy tầm quan trọng của các vấn đề.
    . Chúng ta chưa yêu thương đủ để nói lên sự thật, vì im lặng khi anh chị em đang tự hại mình hay hại người khác là một tội đáng bị lên án (
    Gia Gc 4:17).
    3. Giải quyết: Kinh Thánh dạy chúng ta phải sẵn sàng nói thật, nhưng:
    . Phải “lấy lòng yêu thương nói ra lẽ chân thật” (
    Eph Ep 4:15. ITi1Tm 5:1-2).
    . Phải nói thật trong sự mềm mại (
    GaGl 6:1-2).
    . Phải thẳng thắn trong sự tế nhị, chứ không thô lỗ. Cần nói đúng lúc với sự suy nghĩ chín chắn, để giải quyết xung đột một cách đúng đắn, vì khi xung đột được giải quyết đúng đắn, mối thông công thật mới phát triển.

    III. VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG ĐÒI HỎI SỰ KHIÊM NHƯỜNG
    1. Lý do: Vun đắp cộng đồng đòi hỏi sự khiêm nhường vì cớ:
    a. Sự khiêm nhường tạo nên những chiếc cầu: Sự khiêm nhường tạo nên những chiếc cầu nối, là chất bôi trơn làm mát các mối quan hệ trong khi sự kiêu ngạo chỉ tạo nên những bức tường chắn, phá hỏng thông công.
    b. Người khiêm nhường được Chúa ban ơn: Đức Chúa Trời chống cự kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn cho kẻ khiêm nhường (
    Gia Gc 4:6. IPhi 1Pr 5:5).
    2. Phát triển: Cần thừa nhận sự yếu đuối của chính mình, nhẫn nại với sự yếu đuối của người khác, cởi mở đối với sự sửa sai, và tập trung sự chú ý vào người khác (
    Phi Pl 2:3-4) để phục vụ người khác cách quên mình.
    IV. VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG ĐÒI HỎI SỰ NHÃ NHẶN
    1. Thế nào là nhã nhặn? Nhã nhặn là tôn trọng sự khác biệt giữa mỗi người, và kiên nhẫn với những ai chọc giận mình ! Trong nhóm nhỏ luôn luôn có ít nhất một người “khó chịu”, dễ làm người khác phát cáu.
    2. Phát triển: Ai cũng có vài điều có thể làm phiền người khác. Cần phải:
    a. Nhận thức chúng ta thuộc về nhau: Căn bản cho mối thông công Cơ Đốc chính là mối tương giao với Đức Chúa Trời: Chúng ta là một gia đình, chấp nhận nhau, bảo vệ nhau vì nhận thức mình thuộc về nhau (
    RoRm 12:10).
    b. Hiểu rõ bối cảnh của nhau: Cần biết họ đã trải qua những gì trong đời. Thay vì đòi hỏi, hãy nghĩ đến việc họ đã đi được bao xa.
    V. VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG ĐÒI HỎI SỰ TIN CẨN
    1. Nhu cầu của sự tin cẩn: Tin cẩn không có nghĩa là dung dưỡng tội lỗi. Nó chỉ có nghĩa là những chia sẻ trong nhóm cần được giữ kín để cùng nhau giải quyết chứ không đồn ra ngoài.
    2. Phát triển: Cần nhận thức Chúa rất ghét sự nói hành (
    ChCn 16:28), đặc biệt là khi được ngụy trang dưới tiêu đề “nan đề cầu nguyện”. Nói hành gây ra nhiều đau đớn và chia rẽ, cần phải loại trừ dù phải trả giá.
    VI. VUN ĐẮP CỘNG ĐỒNG ĐÒI HỎI LIÊN HỆ THƯỜNG XUYÊN
    1. Cần phải có thời gian: Cần thường xuyên liên hệ với nhóm, phát triển thói quen thờ phượng Chúa chung (
    Cong Cv 2:46. HeDt 10:25). Cần tin chắc mình cần mối thông công, ngay cả khi mình không cảm thấy thích thú !
    2. Kết ước chín điểm: Mỗi thành viên nhóm nhỏ cần kết ước: Chia sẻ những cảm xúc thật của mình (chân thật), khích lệ nhau (tương thuộc), hỗ trợ nhau (cảm thông), tha thứ nhau (thương xót), nói lẽ chân thật trong tình yêu, thừa nhận yếu đuối của mình (khiêm nhường), tôn trọng những khác biệt(nhã nhặn), không nói hành (tín cẩn), và xem nhóm là ưu tiên (thường xuyên). Hãy từ bỏ hướng ngã để phụ thuộc vào nhau.

    Bài 20: PHỤC HỒI MỐI THÔNG CÔNG
    Câu gốc: “Chớ lấy ác trả ác cho ai; phải chăm tìm điều thiện trước mặt mọi người. Nếu có thể được, thì hãy hết sức mình mà hòa thuận với mọi người. ” RoRm 12:17-18
    I. CHỨC VỤ GIẢNG HÒA
    1. Chức vụ Chúa giao: Đức Chúa Trời ban cho chúng ta chức vụ phục hồi các mối quan hệ (
    IICo 2Cr 5:18). Vì thế, phần lớn các sách Tân ước đều có dạy chúng ta cách sống hòa thuận.
    2. Tầm quan trọng của chức vụ giảng hòa:
    a. Trước tiên, đây là chức vụ được Chúa ban phước (
    Mat Mt 5:9). Chúa không nói phước cho người yêu hòa bình hay sống an ổn, nhưng cho người làm việc vì hòa bình, tích cực giải quyết các xung đột.
    b. Khả năng hòa thuận là một dấu hiệu của đời sống trưởng thành thuộc linh, là dấu hiệu đặc thù của con cái thật của Chúa (
    GiGa 13:35. ICo1Cr 1:10).
    3. Ý nghĩa chức vụ giảng hòa: Hòa giải là một trong những kỹ năng quan trọng nhất cần phải phát triển, nhưng đa số lại chưa được trang bị !
    a. Hòa giải không phải là né tránh xung đột để có một sự hòa bình giả tạo. Đôi lúc cần né tránh xung đột, nhưng đôi lúc cần phải tạo ra xung đột để có thể giải quyết tận gốc, nhưng phải ở trong sự hướng dẫn của Chúa. b. Hòa giải không phải là nhân nhượng cách vô lý. Chính Chúa Jesus đã sẵn sàng đối đầu với sự xung đột khi vạch ra những sai lầm.
    II. LÀM THẾ NÀO ĐỂ PHỤC HỒI MỐI QUAN HỆ ?
    1. Nói với Chúa trước khi nói với người: Hãy bàn luận vấn đề với Đức Chúa Trời trước thay vì nhỏ to với người khác, chúng ta sẽ khám phá rằng Ngài sẽ thay đổi lòng chúng ta hoặc thay đổi người kia mà không cần chúng ta.
    a. Hãy thẳng thắn, chân thành trình bày với Chúa những bối rối, buồn bực, khốn khổ, bất an hay bất cứ tình cảm nào của chúng ta thật chính xác.
    b. Đừng mong đợi ai đó có thể đáp ứng những nhu cầu mà chỉ có Đức Chúa Trời mới đáp ứng được.
    c. Cần lưu ý rằng nhiều xung đột xảy ra chỉ vì chúng ta thiếu cầu nguyện.
    2. Hãy luôn bước bước đầu tiên: Đối với Chúa Jesus, hòa giải còn ưu tiên hơn cả sự thờ phượng (
    Mat Mt 5:23-24). Đừng chờ đợi hay đòi hỏi phía “bên kia”. Hành động nhanh sẽ giảm thiệt hại thuộc linh cho chúng ta (ngăn trở lời cầu nguyện, khiến khổ sở). Tuy nhiên phải hành động đúng thời điểm, đúng địa điểm trong tâm trạng và sức khỏe tốt nhất.
    3. Hãy cảm thông: Hãy cảm thông với suy nghĩ của người kia bằng cách:
    a. Hãy sử dụng đôi tai nhiều hơn cái miệng: Phao Lô khuyên phải chăm về lợi kẻ khác (
    Phi Pl 2:4). “Hãy chăm”(skopos) có nghĩa là hết sức chú ý.
    b. Bắt đầu với cảm thông chứ không phải giải pháp: Đừng vội lên án, mà hãy lắng nghe và tỏ vẻ cảm thông ngay cả khi bạn không đồng ý, vì sự oán giận khiến người ta trở nên khờ dại, dễ hành động như một con vật.
    c. Hãy nhẫn nại: Sự khôn ngoan khiến người ta chậm nóng giận. Nhẫn nại lắng nghe sự giận dữ của người khác nhiều khi là một sự hy sinh.
    4. Hãy sẵn sàng nhận lỗi: Nên bắt đầu bằng sự thừa nhận sai lầm của mình.
    a. Để thấy mọi sự rõ ràng hơn: Chúa Jesus dạy phải lấy cây đà khỏi mắt mình trước (
    Mat Mt 7:5).
    b. Vì ai cũng có những điểm mù: Nhiều khi cần có ý kiến khách quan bên cạnh sự soi sáng của Lời Đức Chúa Trời để thấy sai lầm của chính mình.
    c. Vì xưng nhận lỗi lầm là công cụ mạnh mẽ để hòa giải. Nó sẽ tháo bỏ vũ khí tấn công của người bên kia.
    5. Hãy nhắm vào nan đề chứ không phải con người: Chúng ta cần lưu ý:
    a. Lời đáp êm nhẹ làm nguôi cơn giận, còn lời xẳng xớm trêu thạnh nộ thêm (
    ChCn 15:1). Lời quở trách nhẹ nhàng có giá trị hơn lời nặng nề.
    b. Cách nói cũng quan trọng như điều chúng ta nói. Cách nói công kích sẽ đón nhận phản ứng phòng thủ.
    c. Hãy phá hủy những “kho vũ khí hạt nhân” đe dọa mối quan hệ như lên án, xem thường, so bì, chụp mũ, lăng mạ, mỉa mai...
    6. Hãy hợp tác càng nhiều càng tốt: Phao Lô dạy nếu có thể được, phải hết sức mình mà hòa thuận với mọi người.
    . Sự hòa thuận luôn có một giá trả: Chúng ta phải loại trừ sự kiêu ngạo hay sự hướng ngã của mình, để có thể quan tâm đến người khác.
    . Phước lành thứ bảy của Chúa Jesus trong bài giảng trên núi là “phước cho những kẻ làm cho người hòa thuận, vì sẽ được gọi là con Đức Chúa Trời” (
    Mat Mt 5:9).
    7. Hãy nhấn mạnh sự hòa giải chứ không phải giải pháp:
    a. Hòa giải chứ không phải giải pháp: Hòa giải tập trung vào mối quan hệ, trong khi giải pháp tập trung vào nan đề. Đừng bao giờ mong đợi mọi người sẽ đồng ý với chúng ta về mọi việc.
    b. Hiệp nhất chứ không phải đồng dạng: Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải hiệp nhất chứ không phải đồng nhất hay đồng dạng. Ngài muốn chúng ta có thể nắm tay nhau bước đi mà không cần phải đồng tình về mọi vấn đề.
    Bài 21: BẢO VỆ HỘI THÁNH CỦA BẠN
    Câu gốc: “Vậy chúng ta hãy tìm cách làm nên hòa thuận và làm gương sáng cho nhau. ” RoRm 14:19
    I. CÔNG VIỆC CỦA BẠN
    1. Tầm quan trọng của sự hiệp một: Sự hiệp một của Hội Thánh quan trọng đến nỗi Tân ước nói về hiệp một nhiều hơn nói về Thiên đàng Địa ngục. Sự hiệp một là linh hồn của mối thông công, là điều Đức Chúa Trời muốn thấy nơi các con của Ngài, là đề tài bài cầu nguyện của Chúa Jesus.
    2. Gương hiệp một: Gương mẫu hiệp một trọn vẹn nhất được tìm thấy trong Ba Ngôi Đức Chúa Trời. Ngài muốn con cái Ngài phải giống Ngài.
    3. Trách nhiệm của bạn: Không có gì quý giá đối với Đức Chúa Trời hơn là Hội Thánh Ngài: Ngài đã trả giá cao nhất cho Hội Thánh, và Ngài muốn bảo vệ Hội Thánh khỏi hiểm họa của sự chia rẽ. Ngài giao trách nhiệm bảo vệ sự hiệp một trong mối thông công cho chính bạn (
    Eph Ep 4:3).
    II. CÁCH BẢO VỆ SỰ HIỆP MỘT CỦA HỘI THÁNH
    1. Hãy tập trung vào những điểm chung: Chúng ta có những điểm chung rất cao quý: Chúng ta đang có một Cứu Chúa, một Thân thể, một mục đích, một Cha, một Thánh Linh, một hy vọng, một đức tin, một báp tem, một tình yêu... Chúng ta chia sẻ cùng một sự cứu rỗi, một cuộc sống, một tương lai. Hãy tập trung vào những điều phước hạnh nầy.
    . Hãy nhớ chính Đức Chúa Trời ban cho chúng ta nhân cách, nền tảng, chủng tộc và sở thích khác nhau để vui hưởng chứ không phải chịu đựng.
    . Hãy tập trung vào điều quan trọng nhất là chấp nhận và yêu thương nhau như Đấng Christ đã yêu thương chúng ta, thay vì để những khác biệt không quan trọng gây nên xung đột và chia rẽ (
    ICo1Cr 1:10).
    2. Hãy thực tế: Thật dễ để chúng ta trở nên thất vọng trước khoảng trống giữa lý tưởng và thực tế trong Hội Thánh ! Thế nhưng:
    . Chúng ta phải yêu thương Hội Thánh, bất chấp những bất toàn của Hội.
    . Hãy nhớ trưởng thành là sống thực tế đối diện với những căng thẳng, vì phê phán thực tế là dấu hiệu của sự không trưởng thành, còn bằng lòng với thực tại mà không tranh đấu để đạt đến lý tưởng là tự mãn.
    . Hội Thánh là gia đình của chúng ta, ngay cả khi chúng ta không cảm thấy và không tỏ ra như vậy: Chúng ta không thể tách rời khỏi anh chị em mình mà trái lại phải lấy lòng yêu thương mà chìu nhau (
    Eph Ep 4:2).
    . Hội Thánh được hình thành từ những tội nhân thực thụ, kể cả chúng ta. Chán nản lìa bỏ Hội Thánh là dấu hiệu của sự chưa trưởng thành vì Chúa muốn chúng ta ở lại để học. Hơn nữa, không có một nơi nào là toàn hảo để chúng ta có thể chạy đến, nếu có,sự sự toàn hảo đó sẽ loại chúng ta ra.
    3. Hãy khích lệ thay vì chỉ trích: Đứng ngoài lề để chỉ trích bao giờ cũng dễ dàng hơn là dấn thân đóng góp. Khi chỉ trích anh em, chúng ta đang làm công việc của Satan (
    KhKh 12:10), ngăn trở công việc Chúa (RoRm 14:4).
    . Khi chỉ trích anh em, chúng ta sẽ nhận lấy bốn hậu quả: Mất tương giao với Chúa - bộc lộ sự kiêu ngạo và bất an - bị Chúa đoán xét - gây hại cho mối thông công trong Hội Thánh.
    . Dù bất đồng đến đâu thì anh em vẫn không phải là kẻ thù. Hãy biến thì giờ chỉ trích thành thì giờ gây dựng sự hiệp nhất (
    RoRm 14:19).
    4. Đừng nghe nói hành: Nói hành là tội thì nghe nói hành cũng là tội. Hãy can đảm từ chối nghe và khuyên họ nói trực tiếp với đương sự, vì:
    . Người nào nói hành với chúng ta cũng sẽ nói hành về chúng ta !
    . Kinh Thánh gọi kẻ nghe nói hành là kẻ làm ác (
    ChCn 17:4. Giu Gd 1:19).
    . Vết thương lớn nhất trong bầy thường đến từ con chiên thay vì chó sói !
    . Kinh Thánh dạy phải lánh xa kẻ nói hành (
    GaGl 5:15. ChCn 20:19).
    . Không nghe nói hành là chận đứng sự tranh cạnh, xung đột (
    26:20).
    5. Hãy vâng theo lời dạy của Chúa Jesus: Chúa Jesus dạy khi anh em phạm tội với chúng ta thì chúng ta cần thực hiện theo tiến trình ba bước:
    . Sau khi cầu nguyện thì gặp gỡ riêng luôn là bước đầu tiên cần phải thực hiện càng sớm càng tốt. Nếu họ nghe thì nói lại mối thông công.
    . Nếu không được thì cần có một hay hai nhân chứng đi cùng để khẳng định vấn đề và hòa giải mối quan hệ anh em.
    . Nếu thất bại thì phải trình cho Hội Thánh xét xử. Nếu kẻ phạm lỗi không nghe Hội Thánh thì hãy đối xử với họ như người ngoại (
    Mat Mt 18:15-17).
    6. Hãy ủng hộ người lãnh đạo của bạn: Không có người lãnh đạo nào là hoàn hảo, nhưng Đức Chúa Trời giao cho họ trách nhiệm và thẩm quyền để duy trì sự hiệp nhất của Hội Thánh.
    . Chúa dạy chúng ta phải vâng lời và chịu phục người lãnh đạo vì họ tỉnh thức về linh hồn chúng ta trước mặt Chúa là Đấng họ phải khai trình (
    HeDt 13:17). Chúng ta cũng phải khai trình với Chúa về thái độ đối với họ.
    . Để bảo vệ mối thông công, cần tôn trọng người lãnh đạo mình, thể hiện bằng lời cầu nguyện, khích lệ, yêu thương và tôn trọng (
    ITe1Tx 5:12-13).
    . Bài học lớn trong mối thông công trong Hội Thánh là học vị tha (
    Phi Pl 2:4).
    Bài 22: GIỐNG NHƯ ĐẤNG CHRIST
    Câu gốc: “Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con nầy được làm Con cả ở giữa nhiều anh em. ” RoRm 8:29
    I. TRỞ NÊN GIỐNG ĐẤNG CHRIST
    1. Mục đích thứ ba: Mục đích thứ ba chúng ta được tạo dựng là để trở nên giống như Đấng Christ. Đức Chúa Trời đã công bố ý định nầy ngay trong sự sáng tạo (
    SaSt 1:26).
    . “Giống như Đức Chúa Trời”, chúng ta là những hữu thể thuộc linh, chúng ta có tri thức, có các mối liên hệ, có ý thức đạo đức... Đây là một đặc ân lớn, đưa chúng ta vào sự tôn trọng.
    2. Sự phục hồi: Mọi người đều có một phần ảnh tượng của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, ảnh tượng đó đã bị phá hỏng hoặc bóp méo bởi tội lỗi. Vì thế, Đức Chúa Trời đã sai Chúa Jesus đến thế gian để phục hồi ảnh tượng đó, và Ngài chính là ảnh tượng của Đức Chúa Trời (
    CoCl 1:15. HeDt 1:3).
    3. Thể hiện: Con người không bao giờ trở thành Đức Chúa Trời hay một vị thần, nên để có ảnh tượng của Chúa Jesus, chúng ta phải sống tin kính Chúa, mặc lấy thái độ và nhân cách của Ngài (
    Eph Ep 4:22-24).
    . Mục đích căn bản của Đức Chúa Trời cho cuộc đời chúng ta trên trần gian là để phát triển nhân cách để trở nên giống Đấng Christ. Tuy nhiên, để bảo vệ tính độc nhất của chúng ta, Ngài chỉ biến đổi nhân cách chứ không nhằm biến đổi cá tính của chúng ta.
    4. Lưu ý: Cần nhớ rằng trần gian chưa phải là Thiên đàng, nên cuộc sống đầy khó khăn, và chính đó là điều khiến chúng ta tăng trưởng để thích hợp với Thiên đàng. Hơn nữa, Chúa không phải là vị thần làm theo lệnh chúng ta, trái lại, chúng ta hiện hữu là cho những mục đích của Ngài.
    II. PHẦN CỦA ĐỨC THÁNH LINH
    1. Sản sinh một nhân cách: Công việc của Đức Thánh Linh là thánh hóa, sản sinh môt nhân cách giống Đấng Christ trong chúng ta (
    IICo 2Cr 3:18).
    2. Phương cách: Sự thánh hóa không bởi sức riêng mà phải có quyền năng của Đức Thánh Linh (
    Phi Pl 2:13): Không nhất thiết phải qua những phép lạ, mà thường theo những cách thầm lặng (IVua 1V 19:12) - Không do bắt chước, nhưng bởi sự ngự trị của Đấng Christ và sự hành động của Đức Thánh Linh trong đời sống chúng ta (CoCl 1:27).

    III. PHẦN CỦA CHÚNG TA : ĐỒNG CÔNG VỚI THÁNH LINH
    1. Đức tin và vâng phục: Thánh Linh sẽ hành động cách quyền năng ngay lúc chúng ta bước đi bằng đức tin và sự vâng phục (Giôsuê và Giôđanh). Đức Chúa Trời chờ chúng ta hành động: Hãy tiến lên và làm đúng điều Chúa muốn, bất chấp những sợ hãi, vì đây là cách phát triển nhân cách.
    2. Góp phần tích cực: Kinh Thánh so sánh sự tăng trưởng thuộc linh với một hạt giống, một tòa nhà và một em bé đang lớn. Mỗi hình ảnh đều đòi hỏi một sự góp phần tích cực: vun trồng, xây dựng, ăn uống hoạt động...
    . Nỗ lực không có phần gì trong sự cứu rỗi, nhưng vô cùng quan trọng trong sự tăng trưởng thuộc linh. Ít nhất tám lần Tân ước bảo phải “gắng sức”.
    3. Ba trách nhiệm: Ba trách nhiệm trong việc trở nên giống Đấng Christ là:
    a. Phải từ bỏ con đường cũ, thoát lốt người cũ (
    Eph Ep 4:22).
    b. Phải thay đổi cách suy nghĩ của mình (
    4:23). Từ biến đổi trong RoRm 12:2 là sự thay đổi từ con nhộng ra con bướm đẹp đẽ, tự do...
    c. Phải mặc lấy người mới (
    Eph Ep 4:24), mặc lấy nhân cách của Đấng Christ bằng cách phát triển những thói quen tin kính mới, vì nhân cách về cơ bản là toàn bộ các thói quen của chúng ta.
    IV. PHƯƠNG CÁCH KHUÔN ĐÚC
    Để khuôn đúc nhân cách chúng ta theo nhân cách Đấng Christ, Đức Chúa Trời sử dụng ba phương tiện không thể thiếu:
    1. Lời Đức Chúa Trời: Lời Chúa cung cấp Lẽ thật chúng ta cần để có thể lớn lên theo khuôn mẫu nhân cách của Đấng Christ.
    2. Người khác: Dân sự Đức Chúa Trời là nguồn hỗ trợ chúng ta cần để có thể tăng trưởng. Tự tách mình ra khỏi các mối liên hệ là một sai lầm lớn vì sự trưởng thành thuộc linh chính là học biết yêu thương giống như Chúa Jesus đã yêu thương.
    3. Hoàn cảnh: Hoàn cảnh là môi trường để chúng ta có thể luyện tập nhân cách. Chúng ta cần học biết tin cậy Đức Chúa Trời, sống như Đấng Christ đã sống trong những hoàn cảnh khó khăn.
    V. MỘT TIẾN TRÌNH LÂU DÀI
    1. Tiến trình từng bước: Sự trưởng thành thuộc linh là một sự phát triển từng bước và không tự động, đòi hỏi một sự phó thác liên tục để vâng phục Chúa tiến lên mỗi ngày càng cao hơn.
    2. Tiến trình suốt đời: Sự biến đổi nhân cách trở nên giống Chúa Jesus là một tiến trình sẽ diễn ra trong suốt phần còn lại của cuộc đời chúng ta cho đến khi chúng ta gặp Chúa và trở nên giống như Ngài (
    IGi1Ga 3:2).

    Bài 23: TĂNG TRƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ?
    Câu gốc: “Hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài. ” Phi Pl 2:12-13
    I. THỰC HÀNH SỰ TĂNG TRƯỞNG
    1. Mục đích của Cha: Mục đích của Cha Thiên thượng là khiến chúng ta trưởng thành và phát triển những đức tính của Đức Chúa Jesus.
    2. Thực trạng Hội Thánh: Đáng buồn là hàng triệu Cơ Đốc nhân ngày nay chỉ già hơn chứ không lớn lên. Họ ở trong tình trạng con đỏ suốt đời vì họ chưa bao giờ có ý định lớn lên !
    3. Đòi hỏi cam kết: Sự tăng trưởng thuộc linh không hề tự động. Nó đòi hỏi sự cam kết có chủ đích: Chúng ta phải muốn tăng trưởng, quyết định tăng trưởng, nỗ lực tăng trưởng và kiên trì tăng trưởng.
    a. Quyết định: Tiến trình môn đồ hoá trở nên giống Đấng Christ luôn bắt đầu với một quyết định (
    Mat Mt 9:9). Dù không hiểu hết những đòi hỏi trong quyết định, nhưng những môn đồ đầu tiên đã đáp lời mời gọi của Chúa Jesus chỉ vì họ muốn làm môn đồ của Ngài. Mọi quyết định đều để lại một hậu quả lâu dài. Vì thế, cần lựa chọn cách khôn ngoan (IIPhi 2Pr 3:11).
    b. Cam kết: Cam kết sẽ định hình cuộc đời chúng ta. Chúng ta sẽ trở thành điều mà mình cam kết. Tại đây nhiều người đã đánh mất cuộc đời chỉ vì:
    . Sợ không dám cam kết nên lang thang trong cuộc sống vô mục đích.
    . Cam kết nửa vời dẫn đến hoang mang và thất vọng chán chường.
    . Cam kết trọn đời vào các mục tiêu trần tục để rồi hoang phí cuộc đời.
    II. HIỆP TÁC VỚI ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Quyết tâm của chúng ta: Giống Đấng Christ là kết quả của sự lựa chọn giống Ngài và lệ thuộc vào sự giúp đỡ của Đức Thánh Linh để làm trọn.
    . Khi quyết tâm trở nên giống Đấng Christ, chúng ta phải bắt đầu hành động theo cách mới, phát triển một số thói quen mới, nhất là cách suy nghĩ. Thánh Linh sẽ giúp chúng ta thay đổi những điều nầy (
    Phi Pl 2:12-13).
    . Sự tăng trưởng là một nỗ lực có cộng tác giữa Đức Thánh Linh và chúng ta: Thánh Linh cảm động và ban năng lực, chúng ta phải thực hiện.
    . Sự cứu rỗi là điều Chúa Jesus đã hoàn tất. Phần của chúng ta là luyện tập để kinh nghiệm, cũng như chúng ta chỉ luyện tập thân thể chứ không tạo ra thân thể. Dầu vậy, cần phải nghiêm túc trong sự luyện tập để kinh nghiệm một thân thể thuộc linh khỏe mạnh.
    III. THAY ĐỔI CÁCH SUY NGHĨ
    1. Sức mạnh của ý chí: Ý chí có thể tạo nên một sự thay đổi ngắn hạn, nhưng nó lại tạo nên sự căng thẳng nội tâm liên tục nếu chúng ta chưa giải quyết được căn nguyên của vấn đề.
    . Thí dụ: Một người cố gắng ăn ít hơn, luyện tập nhiều hơn, bỏ thói quen bừa bãi, trễ nải... có thể thành công ít lâu và rồi nhanh chóng trở lại con đường cũ, giống như việc đi trên tàu cao tốc với bộ hoa tiêu tự động.
    2. Phải thay đổi cách suy nghĩ: Cách dễ dàng và tốt đẹp duy nhất là thay đổi bộ hoa tiêu tự động của chúng ta, nghĩa là phải thay đổi cách suy nghĩ. Trước khi làm một việc gì, chúng ta đều suy nghĩ. Mọi hành động đều được thúc đẩy bởi một niềm tin, xuất phát từ một thái độ. Đây là điều Đức Chúa Trời đã bày tỏ hàng ngàn năm trước khi các nhà tâm lý khám phá ra (
    ChCn 4:2. RoRm 12:2).
    . Bước đầu tiên trong sự trưởng thành thuộc linh là thay đổi cách suy nghĩ. Cách suy nghĩ quyết định cách cảm nhận và cách cảm nhận ảnh hưởng đến hành động của chúng ta.
    3. Phát triển tâm trí Đấng Christ: Phao Lô dạy phải làm nên mới trong tâm chí mình (
    Eph Ep 4:23). Để trở nên giống Đấng Christ, chúng ta phải phát triển tâm trí của Đấng Christ. Kinh Thánh gọi sự thay đổi nầy là “ăn năn”. Đó là thay đổi tâm trí, là thay đổi cách suy nghĩ về chính mình, về tội lỗi, về Đức Chúa Trời, về người khác, cuộc sống, tương lai... bằng cách tiếp nhận cách Đức Chúa Trời suy nghĩ, để có cách nhìn của Đấng Christ.
    IV. THỰC HÀNH
    1. Phải ngưng những suy nghĩ con trẻ: Trước tiên phải ngưng những suy nghĩ chưa trưởng thành, vốn là những tư tưởng hướng ngã, ích kỷ. Trẻ con chỉ suy nghĩ về chúng và nhu cầu riêng của mình, chỉ muốn nhận lãnh hơn là ban cho, và vị kỷ chính là nguồn gốc của hành vi tội lỗi (
    RoRm 8:5).
    . Điều đáng buồn là quá nhiều người chưa bao giờ lớn lên để thoát khỏi những suy nghĩ đó.
    2. Phải bắt đầu suy nghĩ cách trưởng thành: Phải bắt đầu suy nghĩ giống như Chúa Jesus, tức là tập trung vào người khác, chứ không phải chính mình, không chỉ phát triển kiến thức mà còn phát triển nhân cách.
    . Cơ Đốc giáo không phải là tôn giáo hay triết lý, mà là một mối quan hệ và một lối sống. Cốt lõi lối sống đó là suy nghĩ về người khác như Chúa Jesus đã làm (
    15:2-3). Đây chính là trái tim của Cơ Đốc giáo và là bằng chứng tốt nhất của sự tăng trưởng tâm linh bởi quyền năng của Đức Thánh Linh.

    Bài 24: BIẾN ĐỔI BỞI LẼ THẬT
    Câu gốc: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta;các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi. ” GiGa 8:31-32
    I. GIÁ TRỊ CỦA LỜI CHÚA
    1. Lời Chúa là Lời Sống: Đức Chúa Jesus phán: “Những lời Ta phán cùng các ngươi đều là thần linh và sự sống” (
    6:63). Khi Đức Chúa Trời phán, mọi sự liền thay đổi, mọi sự liền hiện hữu. Ngài đã lấy Lời chân thật sanh chúng ta (GiGa 1:18), làm cho chúng ta được sống.
    . Lời Chúa không phải chỉ là sách chỉ nam giáo lý, mà còn tạo ra sự sống, đem đến sự thay đổi, làm ma quỷ sợ hãi, khiến phép lạ xảy ra, chữa lành những vết thương, xây dựng nhân cách, khai phóng quyền năng, bảo đảm chúng ta một tương lai đời đời.
    2. Lời Chúa thánh hóa: Sự tăng trưởng tâm linh là quá trình thay thế những lời giả dối bằng Lẽ thật. Chúa Jesus cầu xin Cha lấy Lẽ thật khiến môn đồ Ngài nên thánh, và Lời Cha chính là Lẽ thật (
    GiGa 17:17). Thánh Linh sẽ dùng Lời Ngài khiến chúng ta trở nên giống Chúa Jesus. Tuy nhiên, muốn giống Chúa Jesus, chúng ta phải đầy dẫy Lời Ngài.
    3. Bữa ăn bốn món: Lời Chúa là chất dinh dưỡng thuộc linh chúng ta cần để hoàn thành mục đích của mình. Kinh Thánh gọi đó là sữa, bánh, đồ ăn đặc, và mật ngọt, nhờ đó tâm linh chúng ta được tăng trưởng trong quyền năng của Đức Thánh Linh (
    IPhi 1Pr 2:2).
    . Điều đáng buồn là hàng triệu Cơ Đốc nhân đang mắc chứng biếng ăn thuộc linh, nên đang suy dinh dưỡng, sắp chết đói ! Muốn khỏe mạnh, phải xem ăn nuốt Lời Chúa là ưu tiên hàng đầu của chúng ta.
    II. LÀM THEO LỜI CHÚA
    1. Phải chấp nhận thẩm quyền của Lời Chúa: Kinh Thánh phải là tiêu chuẩn quyết định cho cuộc đời chúng ta - chiếc la bàn để định hướng cuộc đời - nguồn tư vấn chúng ta phải lắng nghe - tiêu chuẩn để chúng ta đánh giá mọi sự, là lời đầu và lời cuối của cuộc đời chúng ta.
    a. Loại bỏ những tiêu chuẩn không đáng tin: Nan đề thường xảy ra chỉ vì chúng ta quyết định dựa trên những tiêu chuẩn không đáng tin cậy như văn hóa, truyền thống, lý luận con người hay tình cảm...
    b. Tin cậy Lời Chúa tuyệt đối: Hãy quyết tâm tin rằng khi nghe Đức Chúa Trời phán bất cứ điều gì, chúng ta sẽ tin cậy và làm theo dù chúng ta chưa hiểu thấu. Đây là kinh nghiệm kỳ diệu Chúa cho Billy Graham.
    2. Phải đồng hóa mình với Lẽ thật Kinh Thánh: Tin Kinh Thánh chưa đủ, phải làm đầy tâm trí mình bằng Lời Chúa, khiến Lẽ thật Kinh Thánh chi phối đời sống và Đức Thánh Linh hành động biến đổi chúng ta.
    a. Trước hết phải khiêm nhu tiếp nhận Lời Chúa với thái độ cởi mở (
    Gia Gc 1:21). Chúa Jesus xác định ba thái độ không tiếp nhận: Khép kín (đất đường đi), tâm trí nông nạn (đất đá), phân tâm (đất bụi gai) - và Ngài phán: Vậy hãy coi chừng về cách các ngươi nghe (LuLc 8:18).
    b. Thứ hai, phải thường xuyên đọc Kinh Thánh theo lịch. Thật đáng buồn là hàng triệu tín hữu trung tín đọc nhật báo, xem truyền hình hơn là trung tín đọc Kinh Thánh ! Không có gì đáng ngạc nhiên khi họ không lớn lên !
    c. Thứ ba, phải nghiên cứu hay học hỏi Kinh Thánh, tức là đặt câu hỏi và viết xuống những suy nghĩ của chúng ta. Chỉ cần những câu hỏi đơn giản như: Ai? Việc gì? Ở đâu? Khi nào? Thế nào? Tại sao? Lời Chúa cho biết những người xét kỹ Lời Chúa sẽ tìm được phước khi vâng lời (
    Gia Gc 1:25).
    d. Thứ tư, phải ghi nhớ Lời Chúa. Dù trí nhớ chúng ta có kém đến đâu, cũng có thể nhớ được hàng triệu ý tưởng, biến cố, dữ kiện và nhân vật. Hơn nữa, trí nhớ cũng giống như cơ bắp, càng luyện tập càng mạnh mẽ. Ngoài ra, chúng ta thường nhớ những gì chúng ta cho là quan trọng: nếu Lời Chúa là quan trọng, hãy dành thì giờ để ghi nhớ trong lòng.
    e. Thứ năm, hãy suy gẫm Lời Chúa mỗi ngày. Suy gẫm là suy nghĩ có tập trung. Suy gẫm Lời Chúa hằng ngày đòi hỏi nỗ lực lớn, nhưng chính là bí quyết đưa chúng ta vào đời sống được biến đổi (
    IICo 2Cr 3:18).
    3. Phải áp dụng những nguyên tắc Kinh Thánh: Tiếp nhận, đọc, nghiên cứu, học thuộc lòng và suy gẫm Lời Chúa sẽ chỉ là vô dụng nếu không được đem thực hành vào đời sống. Đây là bước khó nhất nhưng quan trọng nhất, khiến chúng ta trở nên người khôn ngoan “xây nhà trên vầng đá” (
    Mat Mt 7:24), người “làm theo Lời” (Gia Gc 1:22). Có nhiều lý do khiến con người né tránh việc áp dụng Lời Chúa cho cá nhân:
    a. Tự lừa dối mình rằng mình đã nghe, đã đọc, đã nghiên cứu tức là đã tiếp thu được Lời Chúa cho mình rồi: Ma quỷ thường khiến chúng ta bận rộn với nhiều khóa hội thảo, nhiều chương trình nghiên cứu Kinh Thánh đến nỗi chúng ta không có thì giờ để áp dụng Lời Chúa.
    b. Sợ khó khăn, trả giá: Lẽ thật sẽ giải phóng chúng ta, nhưng trước hết, nó có thể khiến chúng ta đau đớn vì phơi bày những sai lầm, cáo trách các tội lỗi, mà bản chất con người là kháng cự những sự thay đổi.
    . Hãy viết ra những áp dụng vào sổ tay riêng. Tuy nhiên áp dụng phải thực tiển và có thể đo lường được.

    Bài 25: ĐƯỢC BIẾN ĐỔI BỞI NAN ĐỀ
    Câu gốc: “Vả, chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho kẻ được gọi theo ý muốn Ngài đã định. ” RoRm 8:28
    I. ĐẰNG SAU MỌI NAN ĐỀ
    1. Mục đích của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời có một mục đích đằng sau mọi nan đề. Ngài dùng hoàn cảnh nhiều hơn việc đọc Kinh Thánh để phát triển nhân cách của chúng ta, vì chúng ta đối diện hoàn cảnh suốt ngày.
    2. Nan đề là việc bình thường: Chúa Jesus báo trước rằng chúng ta sẽ gặp nhiều hoạn nạn (
    GiGa 16:33) và không ai được miễn trừ nan đề. Cuộc sống đúng là tập hợp của những nan đề (IPhi 1Pr 4:12).
    3. Ở trong kế hoạch của Chúa: Không một nan đề nào xảy đến cho chúng ta mà không có sự chọn lọc và cho phép của Đức Chúa Trời. Lịch của Đức Chúa Trời về cuộc đời chúng ta đã được hoạch định từ trước (
    Thi Tv 139:16).
    II. PHƯỚC HẠNH CỦA NAN ĐỀ
    1. Thu hút chúng ta đến gần Chúa hơn: Chúa không ngăn nan đề xảy ra vì những kinh nghiệm thờ phượng sâu nhiệm thường đến trong những lúc tăm tối nhất của cuộc đời. Chúng ta sẽ chỉ chạy đến với Chúa với lời cầu nguyện chân thật nhất và sự nhận biết Chúa rõ ràng nhất.
    2. Khiến chúng ta lệ thuộc vào Ngài: Nan đề buộc chúng ta phải nhìn lên Đức Chúa Trời và lệ thuộc vào Ngài thay vì nương cậy vào bản thân.
    III. NGHIÊN CỨU RÔMA RoRm 8:28-29
    1. Chúng ta biết: Hy vọng của chúng ta dựa trên lẽ thật là Đức Chúa Trời Yêu thương đang tễ trị mọi sự.
    2. Đức Chúa Trời khiến: Ngài là Nhà Thiết kế vĩ đại có một kế hoạch lớn vì lịch sử chính là câu chuyện của Ngài. Không có gì là ngẫu nhiên cả !
    3. Mọi sự: Kế hoạch của Đức Chúa Trời bao gồm tất cả những gì xảy ra cho đời sống chúng ta, tốt cũng như xấu.
    4. Hiệp lại: Các biến cố trong cuộc đời chúng ta sẽ hiệp lại trong kế hoạch của Đức Chúa Trời. Chúng không đứng riêng lẽ, nhưng lệ thuộc nhau.
    5. Làm ích: Phần lớn những điều xấu đã được Đức Chúa Trời hiệp lại trong Bàn tay khéo léo của Ngài để biến thành điều ích lợi cho chúng ta.
    6. Cho kẻ yêu mến Chúa, được Chúa gọi: Không phải chung cho mọi người.
    7. Theo ý muốn Ngài đã định: Đó là trở nên giống như Đấng Christ. Mọi sự Chúa cho phép xảy ra trong cuộc đời chúng ta là vì mục đích đó.
    IV. XÂY DỰNG NHÂN CÁCH GIỐNG ĐẤNG CHRIST
    1. Cơ hội xây dựng nhân cách: Mỗi nan đề là một cơ hội xây dựng nhân cách và nan đề càng khó khăn bao nhiêu, nhân cách càng có cơ hội phát triển bấy nhiêu (
    RoRm 5:3-4). Những gì xảy đến cho cuộc đời không quan trọng bằng những gì xảy ra trong lòng chúng ta, vì hoàn cảnh chỉ tạm thời.
    . Chúng ta giống như đá quý được tạo hình bằng búa và đục của nghịch cảnh đễ đục bỏ những chỗ thô nhám.
    2. Mục đích cuối cùng: Thử thách được so sánh với lửa tinh luyện và bạc được tinh luyện là khi người thợ bạc có thể thấy được hình phản chiếu của mình trong đó. Vì thế, mục đích cuối cùng của nan đề là để người ta có thể thấy hình ảnh của Chúa Jesus trong chúng ta.
    3. Đồng chịu đau đớn với Đấng Christ: Đức Chúa Trời muốn đưa chúng ta đi qua những kinh nghiệm mà Chúa Jesus đã trải qua: cô đơn, cám dỗ, căng thẳng, chỉ trích, khước từ... để học tập vâng lời như Ngài (
    HeDt 5:8-9), đồng chịu đau đớn để cùng hưởng vinh quang với Ngài (RoRm 8:17).
    V. PHẢI ĐỐI DIỆN NAN ĐỀ THEO CÁCH CHÚA JESUS
    1. Hãy nhớ rằng kế hoạch Đức Chúa Trời là tốt lành: Ngài biết những gì là tốt nhất và biết những gì chúng ta thích nhất (
    Gie Gr 29:11. SaSt 50:20). Nếu Ngài sửa phạt, ấy là để chúng ta dự phần trong sự thánh khiết (HeDt 12:10).
    . Hãy chú tâm vào kế hoạch của Chúa chứ không vào nỗi đau hay nan đề của chúng ta (
    12:2), vì tập chú vào Chúa, chúng ta sẽ được yên nghỉ.
    . Hãy chú tâm vào kết quả cuối cùng, vì nan đề chỉ là tạm thời nhưng phần thưởng sẽ còn lại đời đời (
    IICo 2Cr 4:17. RoRm 8:17-18).
    2. Hãy vui mừng tạ ơn Chúa: Hãy vui mừng trong Chúa chứ không phải vui mừng trong nan đề (
    Phi Pl 4:4), tức là vui mừng trong tình yêu, sự khôn ngoan, quyền năng và sự thành tín của Đức Chúa Trời.
    . Hãy tạ ơn Chúa trong mọi hoàn cảnh (
    ITe1Tx 5:18), chứ không phải vì mọi hoàn cảnh. Chúa không muốn chúng ta tạ ơn Ngài vì điều ác, nhưng tạ ơn Ngài vì quyền năng tể trị của Ngài.
    3. Đừng bao giờ đầu hàng: Hãy nhẫn nại và kiên tâm, vì sự thử thách đức tin sinh ra sự nhịn nhục (
    Gia Gc 1:3-4).
    . Xây dựng nhân cách là một tiến trình tiệm tiến theo thời gian. Đừng cố tránh né khó khăn trong cuộc sống bằng cách đầu hàng hoàn cảnh, đi ngược ý muốn Chúa, vì nỗi đau sẽ lớn hơn mà thôi.
    . Khi gặp nan đề, đừng hỏi “tại sao lại là tôi?”, mà hãy hỏi “Chúa muốn con học điều gì?” và tin cậy Chúa bước tới (
    HeDt 10:36).

    Bài 26: TĂNG TRƯỞNG QUA SỰ CÁM DỖ
    Câu gốc: “Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài. ” Gia Gc 1:12
    I. CÁM DỖ LÀ MỘT CƠ HỘI LỰA CHỌN
    1. Một cơ hội để làm điều đúng: Nếu nhìn cám dỗ trên phương diện tích cực của nó thì cám dỗ là hòn đá nâng bước chứ không phải hòn đá vấp chơn. Cám dỗ là “giáo sư thần học” của chúng ta (Martin Luther).
    . Cám dỗ chỉ đơn giản mang đến cho chúng ta một sự lựa chọn. Satan muốn dùng cám dỗ để tiêu diệt, nhưng Đức Chúa Trời lại dùng nó để phát triển nhân cách của Đấng Christ trong chúng ta.
    2. Trở nên giống Đấng Christ: Phẩm chất trong nhân cách Đấng Christ chính là bông trái Thánh Linh. Chín phẩm chất nầy là sự khai triển của Đại Mạng lệnh và là một miêu tả đẹp đẽ về Chúa Jesus. Vì thế, có bông trái Thánh Linh là giống với Đấng Christ.
    3. Làm thế nào trở nên giống Đấng Christ? Cần nhớ bông trái luôn cần thời gian dài để chín muồi thì sự phát triển trở nên giống Đấng Christ không thể xảy ra ngay tức khắc mà phải trải qua những hoàn cảnh trong đó, chúng ta bị cám dỗ làm ngược lại các phẩm chất của Đấng Christ:
    . Để phát triển tình yêu, Chúa đặt xung quanh ta những người ‘đáng ghét”!
    . Để phát triển niềm vui, Ngài đưa chúng ta vào chốn buồn thảm, để chúng ta khám phá niềm vui thật chỉ đặt trên mối quan hệ với Đức Chúa Trời.
    . Để phát triển bình an, Ngài cho phép sự hổn loạn và hoang mang xảy ra..
    . Mỗi lần đánh bại một cám dỗ, chúng ta trở nên giống Đấng Christ hơn.
    II. CÁM DỖ TÁC ĐỘNG NHƯ THẾ NÀO ?
    1. Xác định một mong muốn trong lòng: Trong bước thứ nhất, Satan xác định một mong muốn trong lòng chúng ta.
    a. Hai loại mong muốn: Mong muốn đó có thể là một mong muốn tội lỗi, như mong muốn trả thù, chiếm đoạt... Nhưng cũng có thể là một mong muốn hợp lý nhưng xảy ra không đúng lúc hoặc đúng cách, như nhu cầu yêu thương, khoái lạc.
    b. Từ trong lòng: Chúa Jesus khẳng định cám dỗ bắt đầu từ trong lòng, trong tâm trí, chứ không phải từ hoàn cảnh (
    Mat Mt 7:21-23).
    2. Gieo nghi ngờ: Bước thứ hai là Sa-tan gieo nghi ngờ về những gì Đức Chúa Trời đã phán về tội lỗi (
    HeDt 3:12) với sự tự “thương hại” mình !.
    3. Lừa dối: Bước thứ ba của Sa-tan là lừa dối vì nó được gọi là “cha của sự nói dối”. Tất cả điều Sa-tan nói đều là lừa dối hoặc một nửa sự thật ! Hoặc Sa-tan sẽ nói với chúng ta rằng đó chỉ là một tội nhỏ, vô hại !
    4. Bất tuân: Nếu chúng ta nhượng bộ trước điều ma quỷ muốn mình lưu ý và suy nghĩ trong lòng, để rồi tin vào những lời dối trá của nó thì việc rơi vào bẫy là kết quả đương nhiên (
    Gia Gc 1:14-15).
    III. CHIẾN THẮNG CÁM DỖ
    1. Đừng để bị dọa dẫm: Nhiều Cơ Đốc nhân ngày nay sợ hãi và mất tinh thần trước cám dỗ, mặc cảm và xấu hổ chỉ vì gặp cám dỗ! Tuy nhiên, cần nhớ rằng:
    a. Chúng ta không bao giờ tránh được cám dỗ: Đó là một việc bình thường trong một thế giới sa ngã, là dấu hiệu chứng tỏ Sa-tan ghét chúng ta.
    b. Gặp cám dỗ chưa phải là tội: Chúa Jesus cũng đã đối diện cám dỗ, nhưng không phạm tội. Chỉ khi nào chìu theo cám dỗ mới là tội lỗi.
    c. Thật ra, càng gần Chúa chừng nào, chúng ta lại bị Sa-tan tấn công ráo riết hơn. Nó có thể gây “nhiễu” khi chúng ta đang cầu nguyện !
    2. Chuẩn bị sẵn sàng với cám dỗ mình hay gặp: Mỗi người có một số tình huống khiến mình dễ sa vào cám dỗ hơn các tình huống khác. Vì thế:
    a. Cần phải xác định điều gì khiến chúng ta dễ vấp ngã nhất, vì Sa-tan sẽ luôn tấn công mạnh vào điều đó (
    IPhi 1Pr 5:8). Hãy tìm hiểu khi nào, nơi nào, hoàn cảnh nào chúng ta dễ bị tấn công nhất?
    b. Cần phải chuẩn bị để tránh ngay: Hãy tránh càng xa càng tốt (
    Thi Tv 1:1. ChCn 4:27b). Nếu không tránh được phải chuẩn bị đối phó với sự dứt khoát chống cự (Gia Gc 4:7), không cho ma quỷ nhơn dịp (Eph Ep 4:27), vì ai canh giữ tánh nết mình là giữ lấy linh hồn mình (ChCn 16:17).
    c. Đừng đầu hàng: Chân thành mà nói, nhiều lúc chúng ta muốn chìu theo cám dỗ, dù biết nó sai ! Hãy nhớ rằng Chúa muốn chúng ta đắc thắng và sẵn sàng ban năng lực để chúng ta đắc thắng (
    ICo1Cr 10:13. HeDt 4:16).
    3. Cầu xin Đức Chúa Trời giúp đỡ: Hãy nhớ rằng:
    a. Thiên đàng là đường dây nóng 24/24: Đức Chúa Trời luôn sẵn sàng giúp đỡ chúng ta đắc thắng cám dỗ (
    Thi Tv 50:15). Tình yêu Ngài là đời đời và sự nhẫn nhục của Ngài là mãi mãi. Đừng ngại mình quấy rầy Ngài !
    b. Chúa Jesus cảm thông với chúng ta: Chúa Jesus cảm thông với sự tranh chiến dai dẵng mà chúng ta đang đối diện vì chính Ngài cũng đã chịu khổ trong khi bị cám dỗ (
    HeDt 2:18. 4:15).
    . Hãy lệ thuộc Chúa, nhìn lên Ngài, trông đợi Ngài cứu giúp và phần thưởng đang chờ đợi chúng ta (
    Gia Gc 1:12).

    Bài 27: ĐÁNH BẠI CÁM DỖ
    Câu gốc: “Những sự cám dỗ đến cho anh em, chẳng có sự nào quá sức loài người. Đức Chúa Trời là thành tín, Ngài chẳng hề cho anh em bị cám dỗ quá sức mình đâu; nhưng trong sự cám dỗ, Ngài cũng mở đàng cho ra khỏi, để anh em có thể chịu được. ” ICo1Cr 10:13
    “Cám dỗ quá mạnh !” chính là lời dối trá của Sa-tan, vì lời Chúa thật rõ ràng trong
    10:13. Tuy nhiên, chúng ta phải rèn luyện 4 điều:
    I. HÃY TẬP TRUNG CHÚ Ý VÀO MỘT ĐIỀU KHÁC
    1. Không tranh luận với kẻ cám dỗ: Kinh Thánh không bảo chúng ta chống lại cám dỗ mà bảo phải chống trả ma quỷ. Suy nghĩ đến cách chống cám dỗ chỉ làm chúng ta chú ý vào cám dỗ và thấy nó quyến rũ hơn mà thôi!
    a. Sức mạnh của sự gợi ý: Chúng ta thường bị ảnh hưởng bởi những gì mình thấy và nghe (nghệ thuật quảng cáo) và càng suy nghĩ nhiều về một điều gì đó, nó sẽ nắm giữ chúng ta chặt hơn !
    b. Tự kỷ ám thị: Hầu hết các chế độ ăn kiêng đều thất bại vì người ta cứ nghĩ đến thức ăn. Tự kỷ ám thị càng đẩy chúng ta vào việc làm điều ngược lại. Càng tập trung vào việc tự nhủ “tôi không muốn làm” bao nhiêu càng dễ khiến chúng ta sụp bẫy bấy nhiêu !
    2. Phải tập trung vào điều khác: Cách hay nhất không phải tranh luận mà là
    a. Phớt lờ cám dỗ: Cám dỗ bắt đầu với việc thu hút sự chú ý của chúng ta, dẫn đến những tình cảm, rồi tình cảm sẽ thúc đẩy hành vi. Vì thế, phớt lờ cám dỗ hiệu quả hơn nhiều so với việc chống lại nó.
    . Nhiều khi bỏ chạy là điều tốt nhất, và hãy tránh nó càng xa càng tốt. Gióp lập ước với mắt không nhìn người nữ đồng trinh (
    Giop G 31:1)...
    b. Tập trung vào một điều khác: Cám dỗ luôn bắt đầu bằng một ý tưởng, nên cách nhanh nhất để vô hiệu hóa sự quyến rũ của nó là chú ý vào một việc khác. Hãy làm bất cứ một điều gì để hướng sự chú ý của chúng ta vào một việc khác.
    c. Nguyên tắc thay thế: Trên phương diện thuộc linh, tâm trí là nơi dễ bị tổn thương nhất. Để giảm cám dỗ, hãy làm đầy tâm trí bằng Lời Đức Chúa Trời và các ý tưởng tốt lành (
    Phi Pl 4:8). Đây là nguyên tắc thay thế: Hãy chiến thắng điều ác bằng điều thiện.
    d. Sắp đặt lại tâm trí: Muốn đánh bại cám dỗ, chúng ta phải sắp đặt lại tâm trí của mình và giám sát luồng thông tin đưa vào tâm trí (
    ChCn 4:23). Hãy bắt các ý tưởng vâng phục Đấng Christ (IICo 2Cr 10:5).

    II. CHIA SẺ CUỘC CHIẾN
    1. Đừng cố che giấu: Sa-tan muốn chúng ta nghĩ rằng cám dỗ của mình là độc nhất nên phải giữ bí mật. Sự thật là tất cả chúng ta đều ở trên một con thuyền ! và đều thất bại (
    RoRm 3:23).
    . Sa-tan cũng muốn chúng ta che giấu do lòng kiêu ngạo, muốn người khác nghĩ rằng cuộc sống chúng ta đang ở trong tầm kiểm soát !
    2. Hãy xưng nó ra: Giải pháp của Đức Chúa Trời để cứu chúng ta thoát khỏi cám dỗ dai dẵng là xưng nó ra (
    ChCn 28:13) để được chữa lành.
    . Che giấu nỗi đau chỉ làm cho nó trầm trọng hơn mà thôi, nhưng khi phơi bày trong ánh sáng của Lẽ thật, chúng sẽ được tan biến.
    3. Tiến trình phục hồi: Tiến trình phục hồi gồm tám bước, đặt nền tảng trên tám phước lành của Chúa Jesus và được xây dựng bởi các nhóm nhỏ, đem lại sự chữa lành cho hàng ngàn đời sống.
    4. Hai người hơn một: Khi chúng ta đã thất bại trong cuộc chiến chống lại một thói quen xấu hay cám dỗ, thì tự bản thân chúng ta sẽ không thể làm cho mình khá hơn. Chúng ta cần sự giúp đỡ của người khác.
    . Kinh Thánh dạy rằng: “Hai người hơn một” (
    TrGv 4:9-10). Trong kế hoạch của Đức Chúa Trời cho sự tăng trưởng, mối thông công đáng tin cậy và chân thật là liều thuốc cho sự tranh chiến đơn độc (Gia Gc 5:16). Chúng ta cần một nhóm nhỏ hay một người bạn có trách nhiệm, sẵn sàng khích lệ, hỗ trợ, cầu thay và yêu thương nâng đỡ.
    III. HÃY CHỐNG TRẢ MA QUỶ
    1. Phải chống trả ma quỷ: Sau khi đã hạ mình đầu phục Đức Chúa Trời, hãy chống trả ma quỷ và đừng thụ động nhượng bộ trước sự tấng công của nó.
    2. Chống trả ma quỷ bằng cách nào?
    Eph Ep 6:17 dạy phải làm 2 điều:
    a. Phải tiếp nhận sự cứu rỗi của Chúa: Không thể nói không với ma quỷ trước khi nói vâng với Đấng Christ, vì không có Chúa, chúng ta sẽ thua.
    b. Phải sử dụng Lời Đức Chúa Trời: Chúa Jesus đã đắc thắng nhờ Lời Đức Chúa Trời là Lời quyền năng. Đừng tranh luận với ma quỷ bằng lý luận, nhưng hãy sử dụng thứ khí giới mà nó run sợ: Lẽ thật của Đức Chúa Trời. Vì thế hãy học thuộc lòng Lời Chúa mỗi tuần một câu cho đến cuối đời.
    IV. HÃY BIẾT GIỚI HẠN CỦA MÌNH
    1. Đừng tự phụ, tự tin: Tự phụ, tự tin là đường tắt dẫn đến thảm bại. Nên nhớ con người rất thạo trong việc tự lừa dối mình (
    Gie Gr 17:9).
    2. Phải tránh xa cám dỗ: Phải luôn cảnh giác. Đừng tưởng mình có thể thắng hoặc đã thắng cám dỗ rồi. Hãy nhớ rằng tránh cám dỗ dễ hơn là thoát ra khỏi nó ! Hãy tỉnh thức canh trong sự trông đợi Chúa.

    Bài 28: CẦN PHẢI CÓ THỜI GIAN
    Câu gốc: “Tôi tin chắc rằng Đấng đã khởi làm việc lành trong anh em, sẽ làm trọn hết cho đến ngày của Đức Chúa Jêsus Christ. ” Phi Pl 1:6
    I. SỨC MẠNH CHỨ KHÔNG PHẢI TỐC ĐỘ
    1. Không có đường tắt: Tăng trưởng thuộc linh cũng như tăng trưởng thuộc thể đều cần phải có thời gian (tuổi trưởng thành, trái cây chín... ). Khi cố gắng làm trái cây chín nhanh, nó sẽ mất vị ngon.
    . Chúng ta thường bị ám ảnh bởi tốc độ, nhưng Đức Chúa Trời lại quan tâm đến sức mạnh và sự ổn định. Vì thế, Ngài không hề vội vàng.
    2. Tiến trình tăng trưởng: Trước khi bước vào đời sống ta, Đấng Christ đã:
    a. Làm mềm chúng ta: Bằng những nan đề chúng ta không thể giải quyết.
    b. Chọn một vị trí đổ bộ: Khi chúng ta mở lòng cho Đấng Christ, Ngài chọn một vị trí “đổ bộ” và bắt đầu chiếm lĩnh từ từ cho Ngài (
    Phi Pl 1:6).
    3. Môn đồ hóa: Môn đồ hóa là một tiến trình biến đổi tín hữu trở nên giống Đấng Christ (
    Eph Ep 4:13). Đó là đích đến cuối cùng của chúng ta.
    . Tiến trình nầy được hình thành qua đức tin (thông qua sự thờ phượng), thuộc về (thông qua mối thông công) và trở thành (thông qua môn đồ hóa) để mỗi ngày chúng ta trở nên giống Chúa Jesus hơn (
    IICo 2Cr 3:18).
    II. TẠI SAO LẠI LÂU THẾ ?
    Chúa hoàn toàn có thể biến đổi chúng ta ngay tức khắc, nhưng Ngài chọn làm cho chúng ta lớn lên từ từ, như dân Ysơraên chiếm đất hứa, vì:
    1. Chúng ta là những học sinh chậm chạp: Chúng ta thường phải học một bài học bốn năm mươi lần mới thuộc ! Lịch sử Ysơraên chứng minh con người rất mau quên điều Chúa dạy để rồi quay trở lại lối cũ của mình.
    2. Còn quá nhiều điều chúng ta chưa học được: Nhiều người thật ngây thơ khi mong đợi một giải phóng nhanh chóng cho một nan đề lâu dài, sâu sắc. Kinh Thánh gọi đây là “bỏ người cũ” và “mặc người mới”, đòi hỏi công việc tháo gỡ và thay thế rất nặng nhọc. Vì lúc cải đạo, chúng ta đã nhận một bản chất hoàn toàn mới, nhưng vẫn còn những thói quen, kiểu cách, và phong thái cũ cần phải bỏ đi cũng như thay mới.
    3. Chúng ta sợ đối diện với sự thật về chính mình: Lẽ thật sẽ giải phóng chúng ta. Tuy nhiên, nó thường khiến chúng ta khổ sở trước. Nỗi lo sợ bị khám phá sẽ giam hãm chúng ta trong ngục tù của sự phủ nhận. Phải có thái độ khiêm nhường, chịu học, để ánh sáng Lẽ thật soi trên những sai lầm, thất bại và ray rức của chúng ta.
    4. Sự tăng trưởng thường đau đớn và đáng sợ: Không có tăng trưởng nào mà không cần thay đổi, từ bỏ hay mất mát, gây nhiều đau đớn.
    . Con người thường xây dựng cá tính quanh những thiếu sót của mình, chứ không chịu thay đổi: “Tôi là như vậy đó!”.
    5. Thói quen cần có thời gian để hình thành: Nhân cách là toàn bộ thói quen chúng ta đang có, hay nói một cách khác: Các thói quen định hình nhân cách.
    . Chỉ có một cách để phát triển thói quen nhân cách Đấng Christ là phải rèn luyện chuyên cần những “kỷ luật thuộc linh” (
    ITi1Tm 4:15).
    III. ĐỪNG VỘI VÀNG
    1. Hãy tin rằng Đức Chúa Trời đang vận hành: Hãy tin rằng Đức Chúa Trời đang vận hành trong cuộc đời chúng ta dù chúng ta có cảm nhận hay không. Đôi khi sự tăng trưởng thuộc linh là một điều buồn tẻ, chậm chạp, nhưng cũng có lúc sôi động, như thì tiết trong năm vậy (
    TrGv 3:1).
    . Đừng nản lòng khi chưa chiến thắng ngay được một số thói quen, nan đề nhức nhối vì theo thời gian, dưới sự vận hành của Đức Chúa Trời những “tảng đá” cứng nhất cũng sẽ bị xoi mòn bởi một dòng suối êm đềm...
    2. Hãy ghi lại những bài đã học: Không phải nhật ký các biến cố mà là ghi nhận những bài học. Hãy ghi lại những gì Chúa đã dạy chúng ta về chính Ngài, về chúng ta, về cuộc sống với các mối quan hệ...
    . Lý do chúng ta phải ôn lại như thế vì chúng ta rất dễ quên và rất dễ trôi lạc khỏi điều mình đã nghe (
    HeDt 2:1).
    3. Hãy kiên nhẫn với Chúa và chính mình: Một trong những rắc rối của cuộc đời là thời khóa biểu của chúng ta không ăn khớp với thời khóa biểu của Đức Chúa Trời: Chúng ta thường nôn nóng còn Chúa thì không !
    . Tuy nhiên, cần nhớ rằng Đức Chúa Trời luôn luôn hành động đúng thời điểm và Ngài muốn chuẩn bị chúng ta cho cõi đời đời (cây sồi - nấm).
    . Đừng tìm kiếm những bí quyết trưởng thành hay nên thánh ngay lập tức. Hãy nhớ Môi-se đã phải chờ đợi 80 năm trước khi được Chúa sử dụng. Vì thế, hãy nhịn nhục học tập chương trình huấn luyện của Đức Chúa Trời để chúng ta sẽ được trọn lành, toàn vẹn theo ý muốn Ngài (
    Gia Gc 1:4).
    4. Đừng thối chí: Trì hoãn không phải là lời từ chối của Đức Chúa Trời. Khi Ha-ba-cúc chán nản vì nghĩ rằng Chúa hành động chưa đủ nhanh, Chúa dạy ông rằng: Hãy đợi, nó chắc sẽ đến trong kỳ nhất định (
    HaKb 2:3).
    . Hãy nhớ rằng con ốc sên cũng bò được lên tàu nhờ nhẫn nại. Vì thế, hãy cảm tạ Chúa và nhẫn nại tiến tới trên linh trình.

    Bài 29: CHẤP NHẬN PHẦN VIỆC CỦA BẠN
    Câu gốc: “vì chúng ta là việc Ngài làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Jêsus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo. ” Eph Ep 2:10
    Chúng ta được Chúa tạo dựng không phải chỉ để tiêu thụ các tài nguyên, tận hưởng cuộc sống, mà để thêm vào, góp phần vào cuộc sống.
    I. ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Làm việc lành: Kinh Thánh dạy rằng chúng ta được dựng nên trong Đức Chúa Jesus Christ để làm việc lành mà Đức Chúa Trời đã định trước cho chúng ta (
    2:10). Việc lành ở đây là sự phục vụ chúng ta cống hiến cho trần gian và khi phục vụ người khác, chúng ta đang phục vụ Đức Chúa Trời, làm trọn mục đích thứ tư của Ngài cho chúng ta.
    2. Một công việc hẳn hoi: Đúc Chúa Trời đã đặt chúng ta trên hành tinh nầy với một công việc hẳn hoi, được định sẵn từ trước khi chúng ta được sinh ra (
    Gie Gr 1:5).
    II. ĐƯỢC CỨU ĐỂ PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Sự kêu gọi thánh: Đức Chúa Trời đã cứu để chúng ta có thể làm theo sự kêu gọi thánh (
    IITi 2Tm 1:9), để phục vụ. Ngài có một mục đích, một vai trò và một chức năng cho chúng ta để làm trọn trong vương quốc của Ngài.
    2. Động cơ phục vụ: Chúng ta đã được chuộc bằng một giá quá cao, nên chúng ta phải lấy thân thể mình làm sáng Danh Đức Chúa Trời (
    ICo1Cr 6:20), không vì áp lực mà bởi niềm vui và lòng biết ơn Chúa, tình yêu đối với Chúa thôi thúc (RoRm 12:1).
    . Chúng ta vui mừng vì nhờ sự cứu chuộc, quá khứ chúng ta được tha thứ, hiện tại chúng ta đầy ý nghĩa, tương lai chúng ta được bảo đảm.
    3. Ý nghĩa của sự phục vụ: Yêu thương, phục vụ người khác là dấu hiệu chúng ta đã thực sự được cứu (
    IGi1Ga 3:14), vì tấm lòng được cứu là tấm lòng muốn phục vụ.
    4. Mỗi người đều phục vụ: Nhiều người thường hiểu lầm công việc phục vụ Chúa hay chức vụ chỉ dành cho hàng giáo phẩm. Nhưng Chúa dạy rằng mỗi thành viên trong gia đình của Ngài đều là một người phục vụ.
    5. Làm trọn mục đích của Chúa: Chúa chưa đem chúng ta lên Thiên đàng vì Ngài muốn chúng ta làm trọn những mục đích của Ngài: Một chức vụ trong Hội Thánh và một sứ mạng trong thế gian.

    III. CHÚNG TA ĐƯỢC KÊU GỌI ĐỂ PHỤC VỤ CHÚA
    1. Sự cứu rỗi và sự phục vụ: Lời kêu gọi chúng ta đến với sự cứu rỗi bao hàm luôn cả lời kêu gọi phục vụ Chúa. Bất luận chúng ta làm nghề gì, chúng ta cũng được kêu gọi để phục vụ Chúa trọn thời gian. Không thể có loại Cơ Đốc nhân không phục vụ Chúa.
    . Chúng ta được kêu gọi để phục vụ Chúa qua việc rao giảng phẩm chất tuyệt vời của Chúa (
    IPhi 1Pr 2:9) và qua sự phục vụ người khác (Mat Mt 25:40).
    2. Kết quả cho Chủ: Chúa đã mua chúng ta bằng huyết, vì thế chúng ta thuộc về Ngài để sống kết quả cho Ngài (
    RoRm 7:4).
    3. Phục vụ anh chị em: Chúa ban cho chúng ta đôi mắt mới để nhìn, đôi tai mới để nghe, đôi tay mới để giúp đỡ và tấm lòng mới để yêu thương người khác. Đó là lý do chúng ta phải liên hệ với một Hội Thánh để làm trọn các bổn phận khác nhau trong Hội Thánh (
    ICo1Cr 12:27).
    . Hãy nhớ rằng không có sự phục vụ nào là nhỏ đối với Đức Chúa Trời, tất cả đều quan trọng, và những chức vụ ít người biết lại đem đến những thay đổi lớn nhất.
    . Mọi chức vụ đều quan trọng vì tất cả chúng ta đều lệ thuộc vào nhau.
    . Một cơ quan không làm việc, cả thân thể sẽ bệnh: Hàng ngàn Hội Thánh địa phương đang chết vì các “Cơ Đốc nhân” không sẵn lòng phục vụ.
    IV. CHÚA BAN MẠNG LỆNH PHỤC VỤ
    1. Phục vụ và ban cho: Chúa Jesus xác định mục đích của Ngài là phục vụ và ban cho chính sự sống Ngài để cứu chuộc con người (
    Mat Mt 20:28). Phục vụ phải là trái tim của đời sống Cơ Đốc chứ không phải công việc trong giờ rảnh rỗi. Phục vụ và ban cho là hai từ mô tả đúng đời sống Cơ Đốc.
    2. Tri thức và thực hành: Chúng ta phải làm theo điều chúng ta biết và rèn luyện điều chúng ta tin, vì học hỏi mà không thực hành sẽ dẫn đến sự trì trệ thuộc linh giống như Biển Chết (khác Biển Ga-li-lê đầy sự sống).
    3. Kinh nghiệm phục vụ: Chúng ta cần một nhóm nhỏ để rèn tập các cơ bắp thuộc linh của mình qua kinh nghiệm phục vụ. Những người trưởng thành sẽ mong ước phục vụ chứ không đòi hỏi được phục vụ.
    V. CHUẨN BỊ CHO CÕI ĐỜI ĐỜI
    1. Sự sống thật: Chúng ta chỉ thực sự sống khi chúng ta phục vụ người khác, vì sự sống là dành cho sự phục vụ. Mọi lời bào chữa hướng ngã đều rỗng tuếch và chúng ta sẽ mất phần thưởng đời đời nếu không biết phục vụ.
    2. Ý nghĩa thật: Phục vụ là con đường dẫn đến ý nghĩa thật của cuộc đời (
    RoRm 12:5). Mặc cho những thiếu sót của chúng ta, Chúa vẫn muốn dùng chúng ta để biến đổi thế giới nầy bằng sự đóng góp của chúng ta.

    Bài 30: ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI
    Câu gốc: “Có các việc làm khác nhau, nhưng chỉ có một Đức Chúa Trời, là Đấng làm mọi việc trong mọi người. ” ICo1Cr 12:6
    I. ĐƯỢC TẠO DỰNG ĐỂ PHỤC VỤ ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Vai trò cụ thể: Chúa tạo dựng mỗi loài với một vai trò cụ thể: Chạy, nhảy, bay… Con người được tạo dựng một cách đặc biệt để thực hiện một số công tác đặc biệt. Chúa hoạch định chính xác cách Ngài muốn chúng ta phục vụ, và Ngài tạo dựng chúng ta cho những nhiệm vụ cụ thể đó.
    2. Vai trò độc nhất: Mỗi người là một tác phẩm nghệ thuật thủ công của Đức Chúa Trời chứ không phải một sản phẩm được sản xuất hàng loạt. Chúng ta là một kiệt tác nguyên thuỷ của Đức Chúa Trời (
    Thi Tv 139:13-14), nên chức vụ mỗi người là độc nhất.
    3. Kế hoạch chi tiết: Chúa lập kế hoạch mỗi ngày cho cuộc đời chúng ta để không có điều gì xảy ra cho chúng ta là vô nghĩa. Ngài không hề lãng phí điều gì: Ngài không ban những khả năng, sở thích, tài năng, ân tứ, cá tánh, nếu Ngài không có ý định sử dụng chúng cho sự vinh hiển của Ngài.
    4. Cách Đức Chúa Trời định hình chúng ta cho chức vụ: Bất cứ khi nào Chúa giao nhiệm vụ, Ngài cũng trang bị cho chúng ta những điều cần thiết để hoàn thành. Có 5 yếu tố: Ân tứ Thánh Linh (S), Tấm lòng (H), Khả năng (A), Cá tính (P), Kinh nghiệm (E).
    II. KHÁM PHÁ CÁC ÂN TỨ THÁNH LINH
    1. Định nghĩa: Ân tứ Thánh Linh là những khả năng đặc biệt được Đức Chúa Trời ban cho tín hữu (
    ICo1Cr 2:14) để phục vụ Ngài, đem lại ích lợi chung cho cả Hội Thánh (12:7). Vì thế, mỗi tín hữu phải khám phá và phát triển các ân tứ thuộc linh Chúa ban cho mình.
    2. Đặc tính: Ân tứ Thánh Linh là điều chúng ta không thể làm ra, không xứng đáng nhận lãnh, cũng không thể chọn lựa, mà do Chúa quyết định.
    . Đức Chúa Trời yêu thích sự đa dạng. Vì thế, không có một ân tứ nào được ban đều cho mọi người, cũng không có người nào nhận được mọi ân tứ. Vì Ngài muốn chúng ta yêu thương và lệ thuộc lẫn nhau.
    3. Hai nan đề chung: Có hai nan đề chung:
    a. Đố kỵ về ân tứ: Nhiều người so sánh ân tứ mình nhận với ân tứ của người khác, rồi phẩn uất hay ghen tỵ về cách Chúa dùng họ.
    b. Dự đoán ân tứ: Nhiều người nghĩ rằng ai cũng có ân tứ giống nhau, nên đòi hỏi người khác phải giống mình, hoặc đùn đẩy việc cho người khác.

    III. LẮNG NGHE TẤM LÒNG
    1. Ý nghĩa: Kinh Thánh dùng khái niệm tấm lòng để mô tả những khát khao, hy vọng, sở thích, tham vọng, ước mơ và những cảm xúc của chúng ta. Tấm lòng là cội nguồn của mọi động cơ thúc đẩy (
    ChCn 4:23).
    2. Đặc tính: Tấm lòng bày tỏ:
    a. Sự thật về chúng ta: Tấm lòng bày tỏ chúng ta là người như thế nào (
    27:19). Tấm lòng quyết định lời nói, cách cảm nhận, suy nghĩ và hành động của chúng ta. Chúng ta gọi nó là tình cảm, nói lên điều chúng ta thích, thu hút sự quan tâm, chú ý của chúng ta.
    b. Tính đặc thù của chúng ta: Mỗi người có một nhịp tim tình cảm độc nhất (giống như dấu vân tay, dấu võng mạc, tiếng nói) sẽ rung lên mạnh mẽ khi chúng ta nghĩ về những điều chúng ta yêu thích.
    c. Sở thích: Đây là những điều chúng ta đặc biệt quan tâm mà người khác có thể không quan tâm. Đừng thờ ơ trước những sở thích của mình vì chúng đến từ Chúa và hãy sử dụng chúng cho sự vinh hiển của Ngài.
    3. Phục vụ Chúa với cả tấm lòng:
    a. Đòi hỏi của Đức Chúa Trời: Chúa muốn chúng ta hết lòng phục vụ Ngài, chứ không phải chỉ vì nhiệm vụ. Con người chúng ta chỉ hết lòng làm những điều chúng ta thích và Đức Chúa Trời muốn dùng các sở thích tự nhiên của chúng ta để phục vụ Ngài và phục vụ người khác.
    . Hãy lắng nghe những lời nhắc nhở từ bên trong để phục vụ Chúa kết quả.
    b. Làm sao biết mình đang phục vụ Chúa từ trong tấm lòng? Dấu hiệu rõ ràng đó là lòng nhiệt thành. Khi chúng ta làm điều mình thích thì chẳng cần ai kêu gọi, thúc giục cả. Chính tình cảm quyết định kết quả: Người phục vụ Chúa hết lòng sẽ đạt thành quả cao nhất.
    . “Đừng lãng phí cuộc đời vào những công việc mà mình không thể thực hiện với cả tấm lòng”.
    4. Đời sống phục vụ Chúa: Mỗi chúng ta cần nhận biết:
    a. Không phải vật chất: Điều quan trọng nhất trong cuộc sống không phải vật chất. Người giàu nhất thế gian đã nói: Thà có ít của mà kính sợ Đức Giê-hô-va, còn hơn tài sản nhiều mà bối rối cặp theo (
    15:16).
    b. Không phải đời sống tốt đẹp: Đời sống tốt đẹp với đầy đủ những điều để hưởng thụ cũng không đưa chúng ta vào sự thoả mãn thật.
    c. Nhưng là đời sống phục vụ Chúa hết lòng: Hãy nhắm vào đời sống tốt đẹp nhất của sự phục vụ Đức Chúa Trời với cả tấm lòng. Hãy xem chúng ta yêu thích điều gì và hãy thực hiện nó vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời.

    Bài 31: HIỂU BIẾT ĐỊNH DẠNG CỦA BẠN
    Câu gốc: “Mỗi người trong anh em hãy lấy ơn mình đã được mà giúp lẫn nhau, khác nào người quản lý trung tín giữ các thứ ơn của Đức Chúa Trời. ” IPhi 1Pr 4:10
    I. SỬ DỤNG CÁC KHẢ NĂNG CỦA BẠN
    1. Khả năng: Khả năng là các tài năng bẩm sinh như tiếng nói, thể thao, khoa học, âm nhạc hay cơ khí … Khi xây dựng Đền Tạm, Chúa đã sử dụng những người được Ngài ban khả năng về các nghề thợ (
    XuXh 31:3-5).
    2. Mọi khả năng đều đến từ Đức Chúa Trời: Vì những khả năng bẩm sinh đến từ Đức Chúa Trời nên chúng cũng quan trọng và thuộc linh như các ân tứ thuộc linh, không được sử dụng cách sai lầm hay lạm dụng.
    . Trung bình mỗi người có từ 500 đến 700 kỹ năng và khả năng khác nhau. Chẳng hạn não bộ có thể chứa 100. 000 tỉ sự kiện và đưa ra 15. 000 quyết định mỗi giây; mũi có thể phân biệt 10. 000 mùi khác nhau…
    3. Mọi khả năng đều có thể sử dụng cho sự vinh hiển Đức Chúa Trời: Sứ đồ Phao-lô dạy phải làm vinh hiển Đức Chúa Trời qua việc ăn uống hay làm bất kỳ việc gì (
    ICo1Cr 10:31).
    a. Một chỗ dành cho bạn: Chúa để dành một chỗ trong Hội Thánh để những khả năng đặc biệt của chúng ta có thể góp phần hữu hiệu.
    b. Cách dâng vinh hiển cho Chúa: Chúng ta dâng vinh hiển cho Chúa khi: 1. Nhận thức khả năng mình đến từ Chúa để dâng vinh hiển cho Chúa.
    2. Hãy dùng công việc của mình để đáp ứng nhu cầu người khác.
    3. Hãy dâng phần mười cho Chúa như một hành động thờ phượng Chúa.
    4. Hãy đặt mục tiêu cho bạn là người xây dựng Vương quốc của Chúa.
    4. Điều Chúa muốn tôi làm: Bạn là người duy nhất trên thế gian có thể sử dụng các khả năng của chính bạn và không ai có thể thay thế. Vì thế, cần tra xét mình thạo và không thạo việc gì.
    a. Đức Chúa Trời muốn chúng ta làm: Chúa không bao giờ đòi hỏi chúng ta dấn thân vào một nhiệm vụ mà mình không có khả năng. Mặt khác, những khả năng chúng ta có là dấu hiệu cho thấy điều Chúa muốn chúng ta thực hiện trong đời sống mình. Ngài không muốn chúng ta lãng phí.
    b. Phục vụ chứ không phải chỉ kiếm sống: Những khả năng Chúa ban cho chúng ta không phải chỉ để kiếm sống, nhưng để phục vụ Chúa và phục vụ lẫn nhau (
    IPhi 1Pr 4:10).
    . Hãy khám phá và sử dụng các khả năng của mình để phục vụ.
    II. SỬ DỤNG CÁ TÍNH CỦA BẠN
    1. Cá tính đặc thù: Có vô số cách để các phân tử DNA kết hợp với nhau. Con số đó là 10 luỹ thừa 2. 400. 000. 000. Vì thế, không bao giờ chúng ta có thể tìm được một người giống hệt mình, dù trong quá khứ hay tương lai.
    2. Đức Chúa Trời sử dụng mọi loại nhân cách: Đức Chúa Trời có thể sử dụng đủ mọi loại nhân cách khác nhau: Phierơ lạc quan, Phao-lô nóng tánh, Giê-rê-mi sầu muộn… dù đôi lúc khác cá tính có thể gây xung đột.
    a. Nhân cách sẽ tác động đến phương cách và nơi chốn chúng ta sử dụng các ân tứ thuộc linh cũng như các khả năng của mình.
    b. Phải phục vụ phù hợp với cá tính. Nếu bị buộc phải phục vụ cách không phù hợp với cá tính, chúng ta sẽ cảm thấy căng thẳng, tốn hao nhiều sức lực mà kết quả không được bao nhiêu. Vì thế, đừng bắt chước người khác mà hãy học hỏi kinh nghiệm người khác để áp dụng thích hợp cho chức vụ thông qua định dạng của mình.
    c. Cá tính khác biệt của chúng ta sẽ phản chiếu ánh sáng Của Đức Chúa Trời theo nhiều màu sắc khác nhau, khiến gia đình Đức Chúa Trời được sâu sắc và đa dạng, đem lợi ích khác nhau cho từng cá nhân.
    III. SỬ DỤNG CÁC KINH NGHIỆM CỦA BẠN
    1. Phân loại: Chúng ta được định hình bởi những kinh nghiệm trong cuộc sống mà đa số nằm ngoài tầm kiểm soát. Có 6 loại kinh nghiệm:
    a. Kinh nghiệm trong gia đình: Điều học được khi lớn lên trong gia đình.
    b. Kinh nghiệm giáo dục: Các môn học nào bạn thích nhất ở trường?
    c. Kinh nghiệm nghề nghiệp: Bạn làm tốt và yêu thích công việc nào nhất?
    d. Kinh nghiệm thuộc linh: Thời điểm nào có ý nghĩa nhất với Chúa?
    e. Kinh nghiệm chức vụ: Bạn đã phục vụ Chúa như thế nào trong quá khứ?
    f. Kinh nghiệm đau thương: Bạn học được gì qua kinh nghiệm đau thương?
    2. Phước hạnh của kinh nghiệm đau thương: Kinh nghiệm đau thương là điều Chúa thường dùng nhiều nhất để chuẩn bị chúng ta cho chức vụ. Ngài không hề lãng phí một nỗi đau nào, vì chức vụ tốt nhất phần lớn bắt nguồn từ nỗi đau lớn nhất !
    . Nhờ kinh nghiệm đau thương, chúng ta có thể phục vụ người khác hữu hiệu hơn (
    IICo 2Cr 1:4).
    3. Hãy sẵn sàng chia sẻ đau thương: Điều chúng ta hối tiếc, muốn che giấu lại là điều Chúa muốn chúng ta dùng để giúp đỡ người khác. Họ được khích lệ nhiều hơn khi chúng ta chia sẻ cách ân điển Chúa giúp chúng ta trong sự yếu đuối chứ không phải khi chúng ta khoe về sức lực mình có.

    Bài 32: SỬ DỤNG ĐIỀU CHÚA BAN CHO BẠN
    Câu gốc: “Hãy chuyên tâm cho được đẹp lòng Đức Chúa Trời như người làm công không chỗ trách được, lấy lòng ngay thẳng giảng dạy lời của lẽ thật. ” IITi 2Tm 2:15
    Đức Chúa Trời muốn chúng ta tận dụng tối đa những gì Ngài ban cho, chứ không phải thèm khát những khả năng mà Ngài không ban cho.
    I. KHÁM PHÁ ĐỊNH DẠNG CỦA BẠN
    1. Xác định những ân tứ và khả năng của bạn: Chúng ta cần phải:
    a. Chân thật nhìn lại mình một cách “khách quan” để thấy những ưu và khuyết điểm của mình một cách chính xác (
    RoRm 12:3).
    b. Nhờ những người khác cho ý kiến khách quan của họ. Hãy nói với họ rằng chúng ta đang tìm kiếm một sự thật chứ không phải một lời khen.
    c. Nhận thức rằng những trắc nghiệm ân tứ và khả năng chỉ có giá trị giới hạn vì: Chúng đã bị tiêu chuẩn hóa - Kinh Thánh không hề có những định nghĩa các ân tứ thuộc linh - Càng trưởng thành càng có nhiều đặc điểm của nhiều ân tứ.
    d. Nhận thức cách tốt nhất để khám phá ân tứ và khả năng là thử nghiệm trong nhiều lãnh vực phục vụ khác nhau.
    . Hãy bắt đầu phục vụ, thử nghiệm các mục vụ khác nhau, chúng ta mới có thể khám phá những ân tứ và khả năng của mình. Thật ra có hàng tá khả năng và ân tứ ẩn giấu mà chúng ta chưa khám phá chỉ vì chưa bao giờ thử.
    . Khi không đạt kết quả, đừng nản lòng, xem nó là thất bại, nhưng hãy gọi đó là “thử nghiệm”. Cuối cùng chúng ta sẽ khám phá mình thạo việc gì.
    2. Hãy xét tấm lòng và cá tính của bạn: Phao Lô khuyên mỗi người hãy xét việc làm của mình, vì sự khoe mình chỉ tại mình thôi, chứ không phải tại kẻ khác (
    GaGl 6:4). Một lần nữa, chúng ta cần:
    a. Sự phản hồi từ những người biết rõ mình nhất.
    b. Hãy tự hỏi những câu hỏi sau: Tôi thích làm việc gì nhất? Khi nào tôi thấy mình thực sự sống động? Tôi là người hướng nội hay hướng ngọai? Tôi thích tư duy hay cảm xúc? Tôi thích cạnh tranh hay hợp tác???
    3. Hãy xem xét các kinh nghiệm và rút ra bài học: Hãy ôn lại cuộc đời và suy nghĩ về cách nó đã định hình chúng ta. Môi-se khuyên dân sự ghi nhớ những điều mình đã học về Đức Giêhôva thông qua kinh nghiệm (
    PhuDnl 5:17). Thật ra, chúng ta hiếm khi thấy được mục đích của Chúa đang khi đối diện đau đớn, thất bại, nhưng về sau mới biết (GiGa 13:7).
    II. CHẤP NHẬN VÀ TẬN HƯỞNG ĐỊNH DẠNG CỦA BẠN
    1. Phải vui mừng tạ ơn Chúa: Vì Chúa biết điều gì là tốt nhất, nên chúng ta cần phải tạ ơn Chúa mà chấp nhận cách Ngài tạo dựng nên chúng ta trong sự thuận phục Chúa (
    RoRm 9:20-21).
    . Định dạng của chúng ta đã được Đức Chúa Trời quyết định theo mục đích tốt lành của Ngài. Vì thế, thay vì cố tái định hình chính mình thành một người khác, hãy vui mừng về điều Chúa chỉ ban cho chúng ta mà thôi.
    2. Phải nhìn nhận các giới hạn của mình: Không ai tài giỏi trong mọi chuyện và cũng không có ai được kêu gọi để làm mọi chuyện.
    . Mỗi người đều có một vai trò riêng biệt: Hãy tập trung vào chức vụ cụ thể mà Đức Chúa Trời đã định cho chúng ta (
    IICo 2Cr 10:13).
    . Định dạng quyết định chuyên môn của mỗi người. Khi cố gắng mở rộng chức vụ ra ngoài những gì Chúa đã định, chúng ta sẽ bị căng thẳng, mệt mỏi và không đạt hiệu quả.
    3. Đừng so bì hay ghen tị: Sa-tan sẽ cố gắng đánh cắp niềm vui phục vụ khỏi lòng chúng ta bằng nhiều cách: Hoặc so sánh chức vụ của mình với người khác, hoặc cố gắng lèo lái chức vụ theo những mong đợi của người khác... khiến chúng ta xao lãng khỏi chức vụ Chúa giao.
    . Kinh Thánh cảnh báo chúng ta đừng so sánh chức vụ của mình với người khác vì hai lý do: Hoặc chúng ta sẽ cảm thấy chán nản khi thấy có ai đó có vẻ làm tốt hơn mình, hoặc chúng ta sẽ lên mình kiêu ngạo khi thấy có người kém hơn mình. Cả hai sẽ đẩy chúng ta ra khỏi chức vụ Chúa giao.
    4. Phải chiến thắng sự chỉ trích: Nhiều người không hiểu định dạng của chúng ta sẽ chỉ trích và cố gắng khiến chúng ta làm theo điều họ muốn. Khi đối diện với hiểu lầm, chỉ trích, vu khống... Phao Lô đã: Tránh sự so sánh, chống lại lời nói phóng đại, và tìm kiếm sự định đọat của Đức Chúa Trời. Ông không bao giờ để người khác làm cho mình chệch hướng.
    III. TIẾP TỤC PHÁT TRIỂN ĐỊNH DẠNG CỦA BẠN
    1. Phải tận dụng tối đa: Chúa muốn chúng ta tận dụng tối đa những gì Ngài ban cho: Vun đắp các ân tứ và tài năng, giữ tấm lòng luôn nóng cháy, phát triển nhân cách và cá tính, đồng thời mở rộng các kinh nghiệm.
    2. Phải rèn luyện để tấn tới: Không luyện tập, các cơ bắp sẽ yếu và teo đi, thì không tận dụng các kỹ năng Chúa ban, chúng ta sẽ đánh mất chúng. Trái lại khi sử dụng đúng, Chúa sẽ cho thêm. Vì thế, hãy làm hết sức và học hỏi mọi điều có thể học để rèn luyện và tấn tới (
    IITi 2Tm 4:14-15).
    3. Phải chuẩn bị cho cõi đời đời: Hãy chuẩn bị cho việc phục vụ Chúa đời đời bằng cách luyện tập trên trần gian, để được mão triều không hư nát.
    Bài 33: NGƯỜI ĐẦY TỚ THẬT
    Câu gốc: “Song trong các ngươi không như vậy; trái lại hễ ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ; còn ai trong các ngươi muốn làm đầu, thì sẽ làm tôi mọi mọi người. ” Mac Mc 10:43-44
    I. TẤM LÒNG ĐẦY TỚ
    1. Quan điểm thế gian: Thế gian định nghĩa sự cao quý bằng các khái niệm quyền lực, của cải, uy tín và địa vị, và người thành công là người có thể bắt người khác phục vụ mình.
    2. Quan điểm của Chúa Jesus: Chúa Jesus đo lường sự cao quý bằng khái niệm phục vụ chứ không phải địa vị. Sự cao quý của chúng ta được đo lường bằng số người được chúng ta phục vụ.
    3. Thực trạng Hội Thánh: Tuy nhiên các sứ đồ của Chúa Jesus đã tranh luận về việc ai xứng đáng với địa vị cao trọng nhất, và 2. 000 năm sau, các nhà lãnh đạo Cơ Đốc vẫn tiếp tục dùng thủ đọan để tranh giành địa vị ! Ai cũng muốn làm lãnh đạo, làm sĩ quan, chứ không muốn làm đầy tớ...
    4. Tấm lòng đầy tớ: Muốn giống Chúa Jesus thì phải làm đầy tớ. Không có tấm lòng đầy tớ, chúng ta sẽ bị cám dỗ lạm dụng định dạng của mình vào lợi ích cá nhân. Định dạng cho biết chức vụ, nhưng tấm lòng đầy tớ bày tỏ sự trưởng thành.
    II. ĐẦY TỚ THẬT LUÔN SẴN SÀNG PHỤC VỤ
    1. Sẵn sàng phục vụ: Đầy tớ thật luôn sẵn sàng phục vụ ngay khi được lệnh, không để cho những việc thứ yếu làm mình bận rộn (
    IITi 2Tm 2:4).
    2. Sẵn sàng vâng phục: Đầy tớ thật luôn nhường quyền quyết định thì giờ, nơi chốn hay kế hoạch cho Chúa là Chủ của mình.
    III. ĐẦY TỚ THẬT QUAN TÂM ĐẾN CÁC NHU CẦU
    1. Chủ động đáp ứng nhu cầu: Đầy tớ thật luôn quan tâm tìm hiểu nhu cầu người khác và nắm bắt cơ hội để đáp ứng ngay (
    GaGl 6:10).
    2. Nhạy cảm với nhu cầu: Thiếu nhạy cảm và chủ động, chúng ta sẽ đánh mất nhiều cơ hội phục vụ. Những cơ hội lớn ít khi có và thường qua đi rất nhanh. Vì thế cần nhạy bén nhận ra nó để tận dụng ngay.
    3. Công việc nhỏ: Khẩu hiệu của John Wesley là hãy làm mọi việc tốt mà bạn có thể. Hãy bắt đầu bằng những công việc nhỏ chưa ai muốn làm.
    IV. ĐẦY TỚ THẬT LÀM HẾT SỨC MÌNH
    1. Làm ngay: Đầy tớ thật không trì hoãn để chờ thời, nhưng làm ngay những gì cần làm (
    TrGv 11:4).
    2. Không cần siêu sao: Nhiều người không dám phục vụ vì sợ mình không đủ giỏi để phục vụ, rằng họ không phải là “siêu sao”! Hội Thánh cần nhiều tín hữu bình thường sẵn sàng phục vụ hơn là chỉ một số ít người xuất sắc làm việc (Hội Thánh Saddleback).
    V. ĐẦY TỚ THẬT LÀM VIỆC VỚI TRỌN TẤM LÒNG
    1. Đừng tự dối mình: Nhiều người xem mình quá quan trọng đến nỗi không thể làm công việc tôi tớ. Phao Lô gọi đó là tự dối mình (
    GaGl 6:3). Thật ra, chính trong sự phục vụ hèn mọn, chúng ta mới lớn lên giống Chúa Jesus.
    2. Gương Chúa Jesus: Chúa Jesus thích làm những việc nhỏ mà người khác tránh né. Không có gì “ở dưới” Ngài vì Ngài đến để phục vụ và những công việc nhỏ thường bày tỏ tấm lòng lớn. Đầy tớ thật của Chúa Jesus cũng phải hết lòng mà làm (
    CoCl 3:23), bất kể việc nhỏ hay lớn, bất kể phục vụ hướng lên hay hướng xuống.
    3. Cơ hội lớn: Những cơ hội lớn thường ngụy trang trong các việc nhỏ và chính những việc nhỏ lại quyết định những việc lớn. Vì thế trước khi thử làm điều phi thường, hãy phục vụ Chúa cách bình thường.
    VI. ĐẦY TỚ THẬT LUÔN TRUNG TÍN
    1. Một phẩm chất hiếm hoi: Trung tín luôn là một phẩm chất hiếm hoi ! Hầu hết mọi người đều không biết ý nghĩa của sự cam kết. Họ sẵn sàng thất hứa chỉ vì một lý do nhỏ nhặt mà không chút ân hận hay hối tiếc !
    2. Một phước hạnh lớn lao: Người đầy tớ thật luôn đáng tin cậy vì họ luôn làm trọn công việc, giữ trọn lời hứa. Đức Chúa Trời đang thử thách sự trung tín của chúng ta và Ngài hứa ban thưởng cho người trung tín. Người trung tín có thể nghỉ hưu trong công việc nhưng không nghỉ hưu trong sự phục vụ Đức Chúa Trời.
    VII. ĐẦY TỚ THẬT LUÔN KHIÊM TỐN
    1. Không đề cao bản thân: Đầy tớ thật không đề cao hay chú ý đến bản thân, không để cho sự nổi tiếng làm xao lãng công việc mình.
    2. Không trình diễn: Không như người Pha-ri-si trình diễn cho người khác xem, đầy tớ thật không phục vụ để tìm sự tán thưởng (
    Eph Ep 6:6).
    3. Sống chỉ cho một Đấng: Đầy tớ thật sống chỉ cho một Đấng, vì người tìm kiếm đẹp lòng loài người không phải là đầy tớ của Chúa nữa (
    GaGl 1:10). Họ chỉ muốn yên lặng phục vụ Chúa trong bóng tối (Giô-sép).
    4. Ý nghĩa chứ không phải danh tiếng: Danh tiếng chẳng có ý nghĩa gì đối với đầy tớ thật của Chúa vì sự phục vụ có ý nghĩa nhất thường là sự phục vụ thầm lặng. Cần cẩn trọng với việc bắt đầu là một người đầy tớ rồi kết thúc là một người nổi tiếng !
    Bài 34: SUY NGHĨ NHƯ MỘt ĐẦY TỚ
    Câu gốc: “Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có” Phi Pl 2:5
    Đức Chúa Trời quan tâm đến lý do tại sao chúng ta làm một việc gì đó hơn là chính việc chúng ta làm. Đầy tớ Chúa thật phải có năm thái độ:
    I. NGHĨ ĐẾN NGƯỜI KHÁC NHIỀU HƠN
    1. Tự quên mình: Đầy tớ thật của Chúa nghĩ đến người khác nhiều hơn nghĩ về mình. Đây là khiêm nhường thật: Không phải suy nghĩ ít hơn về mình nhưng suy nghĩ ít hơn về cái tôi của mình.
    . Họ tự quên mình khi phục vụ người khác (
    2:4), giống như Chúa Jesus đã “tự bỏ mình đi” (2:7). Chỉ khi nào chúng ta quên mình đi và phục vụ thì những việc đó mới đáng ghi nhớ.
    2. Thực trạng: Thật đáng buồn là phần nhiều sự phục vụ trong Hội Thánh ngày nay thường là phục vụ bản thân, phục vụ để được người khác yêu thích, tôn trọng, hoặc để đánh đổi ơn phước với Đức Chúa Trời !
    . Đầy tớ thật của Chúa không sử dụng Chúa hay người khác cho mục đích của mình, nhưng để Chúa sử dụng mình theo mục đích của Ngài.
    3. Điều cực kỳ hiếm: Phẩm chất tự quên mình cũng như lòng trung tín là điều cực kỳ hiếm ! Đây là một điều khó làm vì nó thách thức bản ngã và sự ích kỷ. Đây là một cuộc chiến trường kỳ, một bài học phải học lại mãi, vì sự tự bỏ mình đi mới là cốt lõi của tinh thần phục vụ.
    4. Cách đo lường: Chúng ta có thể đo lường tấm lòng tôi tớ của mình qua cách chúng ta phản ứng với những người đối xử với chúng ta như tôi tớ: Khi bị bỏ rơi, bị xem thường, bị sai vặt... (
    Mat Mt 5:41).
    II. SUY NGHĨ NHƯ MỘT QUẢN GIA
    1. Một quản gia: Quản gia là người tôi tớ được phó thác việc quản lý tài sản của chủ (Giô-sép trong nhà Phô-ti-pha-, trong tù, khi làm tể tướng). Tinh thần phục vụ và tâm tình quản gia luôn đi đôi với nhau, và đặc tính quan trọng nhất của quản gia là phải trung thành (
    ICo1Cr 4:2).
    2. Quản lý tiền bạc: Tiền bạc là một ông chủ vô cùng nguy hiểm (
    LuLc 16:13) có thể thay thế Chúa trong cuộc đời chúng ta. Sống phục vụ và sống vì tiền là hai mục tiêu sẽ lọai trừ lẫn nhau, chúng ta chỉ có thể chọn một mà thôi. Cách sử dụng tiền bạc sẽ ảnh hưởng đến phước hạnh Chúa ban. Đức Chúa Trời sử dụng tiền bạc để thử lòng trung thành của những đầy tớ của Ngài. Giàu có không phải là một tội, nhưng không dùng nó cho sự vinh hiển Đức Chúa Trời lại là phạm tội bất trung.
    3. Người xây dựng Vương quốc: Người làm giàu chỉ lo tích lũy của cải cho mình, nhưng người xây dựng Vương quốc sẽ kiếm thật nhiều tiền để ban phát ra theo ý muốn Chúa.
    III. CHÚ TÂM VÀO CÔNG VIỆC CỦA MÌNH
    1. Không cạnh tranh: Đầy tớ thật của Chúa chú tâm vào công việc mình phải làm chứ không chúi mũi vào việc của người khác để so bì, phê phán hay cạnh tranh. Họ bận rộn với công tác phục vụ Chúa giao cho mình nên không còn thời gian để chỉ trích người khác.
    2. Xác định mục tiêu: Đầy tớ Đức Chúa Trời mà cạnh tranh với nhau là điều phi lý vì tất cả đều ở cùng một đội, với cùng một mục tiêu làm vui lòng Chúa và làm rạng Danh Ngài theo cách định hình Chúa ban (
    GaGl 5:26). Khi phàn nàn với Chúa về Ma-ri, Ma-thê đã đánh mất tấm lòng tôi tớ !
    3. Hãy tin cậy Chúa: Hãy tin cậy Chúa để tiếp tục công việc Chúa giao cho mình. Công việc của chúng ta không phải là đánh giá những đầy tớ khác của Chủ, vì đó là việc của Chủ (
    RoRm 14:4).
    . Công việc của chúng ta cũng không phải là tự bảo vệ mình trước sự chỉ trích của người khác, hãy để Chủ giải quyết nó như Môi se, như Nê-hê-mi (
    NeNe 6:3). Hãy nhớ rằng nếu chúng ta phục vụ như Chúa Jesus, chúng ta sẽ bị chỉ trích (Ma-ri dâng dầu cam tòng hương).
    IV. ĐẶT GIÁ TRỊ MÌNH NƠI ĐẤNG CHRIST
    1. Biết rõ mình là ai: Biết rõ mình đã được Chúa yêu thương và chấp nhận bởi ân điển, đầy tớ thật của Chúa không cần phải chứng minh giá trị của mình. Họ sẵn sàng chấp nhận những công việc bị xem là hèn kém, vì bản chất công việc không thể đe dọa nhận thức về bản thân (
    GiGa 13:3-4).
    . Đầy tớ thật của Chúa không cần treo trên tường các giấy khen và phần thưởng đạt được, không quan tâm đến chức danh và không tự trói buộc mình trong sợi dây kẻ cả, bề trên ! (
    IICo 2Cr 10:18). Càng gần Chúa Jesus bao nhiêu, chúng ta càng ít đề cao chính mình bấy nhiêu (Gia Gc 1:1).
    2. Phải chết cho bản ngã: Phải chết cho bản ngã để không còn đo lường giá trị của mình bằng thước đo của người khác, để có thể yên tâm phục vụ.
    V. MỘT CƠ HỘI CHỨ KHÔNG PHẢI NGHĨA VỤ
    1. Vui mừng nắm cơ hội: Đầy tớ thật của Chúa nghĩ đến chức vụ như một cơ hội chứ không phải một nghĩa vụ. Họ thích giúp đỡ người khác, họ hầu việc Chúa cách vui mừng (
    Thi Tv 100:2).
    2. Lý do: Họ vui mừng hầu việc Chúa vì yêu Chúa, biết ơn Chúa về ân điển Ngài. Họ biết phục vụ Chúa là cách tốt nhất để tận dụng cuộc sống và Chúa hứa ban thưởng cho người phục vụ Ngài (
    GiGa 12:26).
    Bài 35: QUYỀN NĂNG ĐỨC CHÚA TRỜI TRONG SỰ YẾU ĐUỐI
    Câu gốc: “Nhưng Chúa phán rằng: An điển ta đủ cho ngươi rồi, vì sức mạnh của ta nên trọn vẹn trong sự yếu đuối. Vậy, tôi sẽ rất vui lòng khoe mình về sự yếu đuối tôi, hầu cho sức mạnh của Đấng Christ ở trong tôi. ” IICo 2Cr 12:9
    I. ĐỨC CHÚA TRỜI THÍCH DÙNG NGƯỜI YẾU ĐUỐI
    1. Thế nào là yếu đuối? Sự yếu đuối hay “giằm xóc” không phải là một tội lỗi, một điều xấu xa hoặc thiếu sót trong nhân cách có thể thay đổi, nhưng là một giới hạn mà chúng ta không có khả năng thay đổi. Đó có thể là một giới hạn về thể chất, tình cảm, tài năng, hay tâm trí...
    2. Mọi người đều yếu đuối: Không ai là siêu hạng cả, mọi người đều có những giới hạn riêng, những thiếu sót, bất toàn. Chúng ta thường cố phủ nhận hoặc bào chữa, nhưng đó không phải là ý muốn Đức Chúa Trời.
    3. Ý muốn của Chúa: Chúng ta thường nghĩ rằng Chúa chỉ dùng những điểm mạnh của chúng ta, và khi nghĩ đến những giới hạn của mình, chúng ta thường nản lòng, nhưng trong thực tế, Chúa cũng muốn dùng những yếu đuối của chúng ta cho sự vinh hiển của Ngài nữa (
    ICo1Cr 1:27. IICo 2Cr 12:9).
    . Đức Chúa Trời yêu thích những người thừa nhận sự yếu đuối của mình (
    Mat Mt 5:3) chứ không phải những người cảm thấy mạnh mẽ và độc lập. Ngài muốn dùng những người khiếm khuyết, bình thường để làm những điều phi thường.
    II. HÃY THỪA NHẬN NHỮNG YẾU ĐUỐI
    1. Xác định những yếu đuối: Thay vì che đậy hay bào chữa, hãy xác định những yếu đuối, những giới hạn của của chúng ta và trình dâng lên Chúa..
    2. Hai lời xưng nhận trong Tân ước: Có hai lời xưng nhận quan trọng:
    a. Lời xưng nhận của Phi-e-rơ: Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời Hằng Sống (
    16:16).
    b. Lời xưng nhận của Phao-lô: Chúng ta chỉ là người (
    Cong Cv 14:15).
    Muốn được Đức Chúa Trời sử dụng, chúng ta cần biết Chúa là Ai và mình là ai. Hãy nhớ rằng chúng ta chỉ là con người !
    III. THỎA LÒNG VỚI NHỮNG YẾU ĐUỐI
    1. Ý nghĩa: Chúng ta thường mong được thoát khỏi những yếu đuối hơn là thỏa lòng với chúng, nhưng thỏa lòng là nói với Chúa rằng: “Chúa ôi, con tin rằng Ngài yêu thương con và biết điều gì tốt nhất cho con”.
    2. Lý do: Chúng ta cần thỏa lòng với những khiếm khuyết bẩm sinh vì:
    a. Chúng khiến chúng ta lệ thuộc vào Đức Chúa Trời (
    IICo 2Cr 12:10).
    b. Chúng ngăn ngừa chúng ta khỏi kiêu ngạo (
    12:7). Đây là điều Chúa đã làm cho đạo quân Ghi-đê-ôn từ 32. 000 xuống còn 300.
    c. Chúng khích lệ mối thông công Cơ Đốc, trái với sức mạnh sẽ tạo ra tinh thần độc lập. Mối thông công ấy sẽ tạo nên sức mạnh của tập thể.
    d. Chúng gia tăng khả năng cảm thông và phục vụ của chúng ta. Khi chúng ta dễ dàng cảm thông với những yếu đuối của người khác, chúng ta sẽ có một chức vụ phục vụ giống Chúa Jesus, Bạn của mọi tội nhân. Thật ra, người khác có thể tìm được sự chữa lành qua các vết thương của chúng ta.
    e. Tất cả những người khổng lồ của Đức Chúa Trời đều là những người yếu đuối: Áp-ra-ham sợ chết đã trở nên tổ phụ đức tin của mọi dân tộc. Môi-se với tính nóng nảy đã trở nên người khiêm hòa hơn hết (
    Dan Ds 12:3), Ghi-đê-ôn thiếu tự tin và bất an trở nên người dõng sĩ (Cac Tl 12:3)...
    IV. HÃY CHÂN THẬT CHIA SẺ NHỮNG YẾU ĐUỐI
    1. Gương Phao-lô: Chức vụ mới thường dễ bị tấn công. Vì thế, hãy giảm thế phòng thủ, gỡ bỏ mặt nạ và chia sẻ những tranh chiến của mình, Chúa sẽ sử dụng chúng ta cách phước hạnh, như sứ đồ Phao-lô chia sẻ những thất bại (
    RoRm 7:19), những cảm xúc (IICo 2Cr 6:11), những thất vọng (1:8), những sợ hãi của ông (ICo1Cr 2:3).
    2. Lý do: Dĩ nhiên điều nầy khá mạo hiểm vì nguy cơ bị loại bỏ nhưng:
    a. Nó sẽ giải phóng chúng ta về phương diện tình cảm, cởi mở những căng thẳng, xoa dịu nỗi sợ hãi và là bước đầu dẫn đến tự do.
    b. Chúa sẽ ban ơn cho kẻ khiêm nhường, chân thật thừa nhận những yếu đuối của mình (
    Gia Gc 4:6). Thật ra sự khiêm nhường sẽ thu hút người khác.
    c. Nó sẽ khích lệ người khác khi họ thấy Chúa có thể dùng những người yếu đuối như chúng ta. Chúng ta cần ảnh hưởng trên người khác khi sống gần gũi họ. Họ có thể thấy những khuyết điểm của chúng ta nhưng điều quan trọng nhất để lãnh đạo không phải là sự toàn hảo mà là sự tín nhiệm.
    V. VINH HIỂN TRONG SỰ YẾU ĐUỐI
    1. Một chiến lợi phẩm của ân điển: Thay vì làm ra vẻ tự tin với sức mạnh, hãy xem mình như một chiến lợi phẩm của ân điển Đức Chúa Trời (
    IICo 2Cr 12:5), vì Chúa Jesus cảm thông và Đức Thánh Linh sẽ giúp cho sự yếu đuối của chúng ta (RoRm 8:26).
    2. Biến điểm mạnh thành điểm yếu: Đôi khi Chúa sẽ biến điểm mạnh của chúng ta thành điểm yếu để chúng ta sẽ hoàn toàn lệ thuộc Chúa và kinh nghiệm quyền năng của Chúa trên đời sống (Gia-cốp và
    SaSt 32:1-32).
    Bài 36: ĐƯỢC TẠO DỰNG VỚI MỘT SỨ MẠNG
    Câu gốc: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế. ” Mat Mt 28:19-20
    I. MỘT SỨ MẠNG
    1. Sứ mệnh: Từ sứ mạng bắt nguồn từ một chữ La-tinh có nghĩa là “sai đi”. Làm một Cơ Đốc nhân có nghĩa là được sai đi trong thế gian như những đại diện của Chúa Jesus. Sứ mệnh của chúng ta vừa mang tính chia sẻ (với tín hữu khác), vừa mang tính chuyên biệt (dành riêng cho chúng ta).
    2. Một chức vụ và một sứ mạng: Đức Chúa Trời muốn chúng ta có một chức vụ trong thân thể Đấng Christ (phục vụ các tín hữu) và một sứ mạng trong thế gian (đưa thân hữu đến với Chúa Jesus).
    3. Gương Chúa Jesus: Chúa đã hiểu rõ sứ mạng của Ngài trên đất lúc 12 tuổi (
    LuLc 2:49) và 21 năm sau Ngài tuyên bố hoàn tất sứ mạng (GiGa 19:30). Ngày nay Ngài giao cho chúng ta tiếp tục sứ mạng của Ngài trên đất.
    4. Năm mục đích cho tôi: Chúa giải phóng chúng ta và hòa giải chúng ta với Ngài để làm trọn năm mục đích Ngài tạo dựng chúng ta: Yêu thương Ngài - làm thành viên trong gia đình Ngài - trở nên giống Ngài - phục vụ Ngài - làm chứng cho người khác về Ngài (
    IICo 2Cr 5:20).
    II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA SỨ MỆNG CHÚNG TA
    1. Tiếp tục sứ mạng Chúa Jesus trên đất: Đây là một sứ mạng:
    a. Chắc chắn: Chúa lặp lại năm lần, theo năm cách, trong năm sách để khẳng định Đại Mạng lệnh là chắc chắn, phải được thi hành.
    b. Bắt buộc: Đại Mạng lệnh dành cho mọi người theo Chúa mang tính bắt buộc: Không làm theo là phạm tội bất tuân.
    c. Mang tính trách nhiệm: Chúng ta phải chịu trách nhiệm về sự chết của những người không được chúng ta rao truyền Tin Lành (
    Exe Ed 3:18).
    2. Là một đặc ân kỳ diệu: Đây là một vinh dự khi được Chúa dùng:
    a. Đặc ân đồng công với Đức Chúa Trời: Chúng ta là cộng sự viên của Chúa trong việc xây dựng Vương quốc của Ngài (
    IICo 2Cr 6:1).
    b. Đặc ân đại diện cho Ngài: Chúa Jesus bảo đảm sự cứu rỗi chúng ta, đưa chúng ta vào gia đình của Ngài, ban Thánh Linh cho Chúng ta và biến chúng ta trở nên người đại diện cho Ngài trong thế gian (
    5:20).
    3. Điều lớn nhất có thể làm cho người khác là đưa họ và sự sống đời đời: Biết phương pháp chữa bệnh nan y mà không nói đã là phạm tội, huống chi chúng ta có tin mừng lớn nhất trên thế gian mà lại yên lặng ! Chia sẻ tin mừng lớn là điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho bất cứ ai.
    . Đừng quên rằng người không có Chúa thật tuyệt vọng, và chỉ có một phương pháp duy nhất có thể cứu họ (
    Cong Cv 4:12).
    4. Sứ mệnh của chúng ta có ý nghĩa đời đời: Đây là một công việc:
    a. Quan trọng nhất: Nó sẽ tác động đến số phận đời đời của người khác, nên không có một công việc nào quan trọng hơn là giúp người khác thiết lập mối tương giao đời đời với Đức Chúa Trời.
    b. Vô cùng cấp bách: Chúng ta phải cấp bách thực hiện sứ mạng của mình vì đồng hồ đang đếm ngược. Đừng trì hoãn thêm một ngày nào nữa. Hãy nhớ rằng chúng ta có cả cõi đời đời để vui mừng với những người mình dắt về Chúa, nhưng chúng ta chỉ có một cuộc đời để tiếp cận họ. Hãy tận dụng cơ hội để bày tỏ Chúa ngay trong công việc hằng ngày của mình.
    5. Sứ mệnh của chúng ta đem lại ý nghĩa cho cuộc sống: Cần lưu ý:
    a. Đầu tư đúng: Cách tận dụng cuộc sống tốt nhất là đầu tư vào điều tồn tại lâu dài hơn cuộc sống, đó là đầu tư cho Vương quốc của Đức Chúa Trời.
    b. Đừng lãng phí: Nếu không làm trọn sứ mạng Đức Chúa Trời giao, thì chúng ta đang lãng phí đời sống mình. Đừng đánh mất cơ hội làm chứng vì có một số người, chỉ chúng ta mới tiếp cận được.
    6. Sứ mệnh của chúng ta ảnh hưởng đến thời điểm chung kết lịch sử:
    a. Khi nào Chúa đến? Chúa Jesus cho biết Ngài sẽ không trở lại cho đến khi Tin Lành được giảng ra cho mọi dân tộc (
    Mat Mt 24:14). Vì thế, khi môn đồ hỏi chừng nào Ngài sẽ thiết lập Vương quốc, Ngài nhanh chóng chuyển sang việc truyền giáo (Cong Cv 1:7-8).
    b. Đừng chệnh hướng: Sa-tan muốn chúng ta làm mọi việc ngoại trừ việc truyền giáo, nhưng điều Chúa muốn chúng ta thực hiện là: Hãy tập trung làm trọn sứ mạng truyền giáo chứ không phải tiên đoán các lời tiên tri.
    III. TRẢ GIÁ ĐỂ HOÀN THÀNH SỨ MẠNG
    1. Từ bỏ chương trình riêng: Để làm trọn sứ mạng, phải từ bỏ lịch làm việc của mình và tiếp nhận lịch làm việc của Chúa, chứ không phải nhét thêm việc truyền giáo vào chương trình riêng của mình.
    2. Tận hiến: Chúa đòi hỏi chúng ta phó chính mình cho Ngài, dâng thân thể mình cho Ngài toàn quyền sử dụng (
    RoRm 6:13).
    3. Khao khát linh hồn tội nhân: Hãy luôn luôn tìm kiếm cơ hội để có thể cứu thêm một người cho Chúa Jesus cho đến khi bạn có thể nói: Xong rồi!
    Bài 37: CHIA SẺ SỨ ĐIỆP CUỘC ĐỜI
    Câu gốc: “Hãy thường thường sẵn sàng để trả lời mọi kẻ hỏi lẽ về sự trông cậy trong anh em, song phải hiền hòa và kính sợ, phải có lương tâm tốt, hầu cho những kẻ gièm chê cách ăn ở lành của anh em trong Đấng Christ biết mình xấu hổ trong sự mà anh em đã bị nói hành. ” IPhi 1Pr 3:15b-16
    Khi trở thành Cơ Đốc nhân, chúng ta cũng trở thành sứ giả của Chúa.
    I. BÀI LÀM CHỨNG CUỘC ĐỜI
    1. Chứng nhân chứ không phải luật sư: Chúa Jesus phán: Các ngươi sẽ làm chứng về Ta”, chứ không phải “làm luật sư cho Ta”. Hãy làm chứng về cách Đức Chúa Trời biến đổi cuộc đời chúng ta.
    2. Tầm quan trọng: Điều nầy vô cùng quan trọng vì nhiều lý do:
    a. Đây là bài làm chứng độc nhất, không giống với bất cứ ai.
    b. Nó hiệu quả hơn bài giảng vì thân hữu không thích sự chuyên nghiệp!
    c. Dễ nhớ: Chúng thu hút sự chú ý hơn và cũng được nhớ lâu hơn. Đây là chiếc cầu quan hệ để Chúa Jesus bước từ lòng bạn qua lòng người khác.
    d. Vượt rào cản lý trí: Không ai có thể tranh luận về kinh nghiệm và nó có thẩm quyền rất lớn nên Phao-lô đã sáu lần chia sẻ kinh nghiệm gặp Chúa.
    3. Câu chuyện cứu rỗi: Hãy viết ra bài làm chứng về sự cứu rỗi bạn kinh nghiệm, gồm bốn phần: Cuộc đời trước khi gặp Chúa - Nhận ra mình cần Chúa ra sao? - Dâng hiến đời sống cho Chúa ra sao? - Chúa đã biến đổi đời sống như thế nào?
    4. Bài làm chứng khác: Ngoài câu chuyện cứu rỗi, chúng ta có thể kể những câu chuyện ứng với mỗi kinh nghiệm, về sự dẫn dắt của Chúa trong cuộc đời, khi đối diện nan đề, khủng hoảng...
    II. NHỮNG ĐIỀU CHÚNG TA HỌC ĐƯỢC
    1. Kinh nghiệm cá nhân: Chúng ta có thể chia sẻ những lẽ thật Chúa đã dạy từ những kinh nghiệm cá nhân với Ngài thông qua các khía cạnh của cuộc sống. Đáng tiếc là có nhiều người không học được gì cả (
    Thi Tv 106:43).
    2. Kinh nghiệm từ người khác: Học từ kinh nghiệm người khác lại còn khôn ngoan hơn vì chúng ta không có đủ thời gian để học mọi thứ và có nhiều điều chúng ta không được phép thử để khám phá sự sai lầm của nó!
    . Salômôn đã viết lại kinh nghiệm qua Châm ngôn và Truyền đạo, với rất nhiều bài học thực tiển trong cuộc sống. Hãy liệt kê kinh nghiệm rút ra từ thất bại, thiếu thốn, nỗi đau, sự chỉ trích, sự chờ đợi, bệnh tật, thất vọng, từ gia đình, Hội Thánh, các mối quan hệ trong nhóm nhỏ, ngoài xã hội.
    III. CHIA SẺ SỰ SỐT SẮNG CỦA CHÚNG TA
    1. Sốt sắng về điều Chúa quan tâm: Chúa là một Đức Chúa Trời của sự sốt sắng, hết lòng yêu tội nhân mà cũng hết lòng ghét tội lỗi. Càng gần Chúa, chúng ta sẽ sốt sắng về điều Chúa quan tâm, được thúc giục để nói và làm điều Chúa muốn chúng ta nói và làm.
    2. Không thể không nói: Chúng ta không thể không nói về điều mình quan tâm hơn hết, vì “bởi sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra”(
    Mat Mt 12:34). Hai tấm gương rõ ràng trong Cựu ước là Đavít (Thi Tv 69:9) và Giêrêmi (Gie Gr 20:9), lòng được thiêu đốt, không thể không nói...
    3. Những lãnh vực của sự sốt sắng: Có nhiều lãnh vực phải thực hiện:
    a. Sốt sắng để thắng hơn: Chúa ban cho lòng sốt sắng để chúng ta chiến thắng một điều gì đó. Có thể là nan đề cá nhân, bị ngược đãi, bệnh tật, suy nhược, nghiện ngập hay một khó khăn nào đó.
    b. Sốt sắng để bênh vực người khác: Chúa cũng ban cho chúng ta lòng sốt sắng để bênh vực người không thể tự bênh vực...
    c. Sốt sắng để phát triển Vương quốc Đức Chúa Trời: Chúa muốn chúng ta dùng lòng sốt sắng để phát triển Vương quốc của Ngài trong lãnh vực chúng ta có thể tham gia: Truyền giảng, huấn luyện, mở Hội Thánh mới...
    d. Sốt sắng để hoàn tất ý muốn Đức Chúa Trời: Tóm lại, Chúa ban cho chúng ta lòng sốt sắng để khiến “ý Cha được nên ở đất” nầy. Tuy nhiên, đừng đòi hỏi người khác phải sốt sắng y như mình và cũng đừng xem thường lòng sốt sắng của họ vào một lãnh vực khác (
    GaGl 4:18).
    IV. CHIA SẺ TIN LÀNH
    1. Tin Lành là gì? Phao-lô giải thích Tin Lành bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời bởi đức tin mà được, lại dẫn đến đức tin nữa (
    RoRm 1:17), là khiến thế gian làm hòa với Chúa (IICo 2Cr 5:19), qua những gì Chúa Jesus đã thực hiện cho chúng ta...
    2. Học biết yêu thương như Chúa yêu: a. Chúa yêu mọi người: Ngài tạo dựng mọi người và mọi người đều quan trọng đối với Ngài.
    b. Không hề sợ hãi: Hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta tình yêu để chia sẻ Tin Lành không hề sợ hãi (
    IGi1Ga 4:18).
    c. Chúa muốn mọi người ăn năn: Phải cầu nguyện cho họ, phục vụ họ và chia sẻ Tin Lành cho họ trong tình yêu. Đừng bỏ lỡ cơ hội, nhưng hãy tiếp tục tiếp cận những người chưa gia nhập gia đình của Đức Chúa Trời.
    3. Điều duy nhất phải thực hiện tại trần gian: Trong 5 mục đích Chúa tạo dựng nên chúng ta thì chia sẻ Tin Lành là điều duy nhất phải được hoàn tất tại trần gian nầy mà thôi.

    Bài 38: CƠ ĐỐC NHÂN ĐẲNG CẤP THẾ GIỚI
    Câu gốc: “Nguyện Đức Chúa Trời thương xót chúng tôi, và ban phước cho chúng tôi, Soi sáng mặt Ngài trên chúng tôi. Để đường lối Chúa được biết trên đất, Và sự cứu rỗi của Chúa được biết giữa các nước. ” Thi Tv 67:1-2
    I. ĐẠI MẠNG LỆNH LÀ NHIỆM VỤ CỦA CHÚNG TA
    Chúng ta chỉ có một sự lựa chọn giữa hai tình trạng sau:
    1. Cơ Đốc nhân trần tục: Cơ Đốc nhân trần tục tìm kiếm những thành tựu cá nhân, hướng ngã. Họ thích hội họp đông vui, nhưng không bao giờ thấy họ trên cánh đồng truyền giáo. Đó là loại đức tin “tôi trước”!
    2. Cơ Đốc nhân đẳng cấp thế giới: Họ sốt sắng đón nhận nhiệm vụ và rất thích đặc ân được Đức Chúa Trời sử dụng cho mục đích của Ngài. Họ biết mình đang tạo nên một thay đổi và mong Chúa làm việc mới mẻ qua họ.
    II. SỨ MẠNG TOÀN CẦU
    1. Sẽ được hoàn tất: Đức Chúa Trời đang mời gọi chúng ta vào một công việc vĩ đại nhất, đa dạng nhất và ý nghĩa nhất. Đó là xây dựng Vương quốc của Ngài trên khắp thế giới. Lịch sử là câu chuyện của Ngài và Ngài đang xây dựng gia đình Ngài cho cõi đời đời.
    . Sứ mạng toàn cầu của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ được hoàn tất vì “mọi nước, mọi chi phái, mọi dân tộc, mọi tiếng” sẽ đứng trước mặt Đức Chúa Jesus để thờ phượng Ngài (
    KhKh 7:9). Vì thế, trở thành Cơ Đốc nhân đẳng cấp thế giới là trải nghiệm trước một phần nào đó của Thiên đàng.
    2. Có thể được hoàn tất: Đại Mạng lệnh của Chúa Jesus là “Đi khắp thế gian, giảng Tin Lành cho mọi người”. Điều nầy:
    a. Đối với các môn đồ đầu tiên: Đối với những môn đệ ít ỏi, nghèo nàn, phải đi bộ hay cưỡi trên những con thú chậm chạp, thì thật là “quá tải”. Tuy nhiên họ đã thực hiện đầy đủ tiến trình Giêrusalem - Giuđê - Samari - Đến cùng trái đất. Họ đã đem Tin Lành qua Âu châu, Phi châu, Ấn độ...
    b. Đối với chúng ta hôm nay: Thế giới ngày nay đang trở nên nhỏ bé với đủ loại phương tiện di chuyển xe hơi, tàu lửa, máy bay... Cơ hội hằng ngày để các tín hữu bình thường dự phần vào công tác truyền giáo ngày nay có thể nói là vô tận, không có một bào chữa nào cho sự thối thác.
    . Hơn nữa với mạng lưới Internet, thế giới càng trở nên nhỏ bé hơn: Thế giới đang nằm trên các đầu ngón tay của chúng ta !
    3. Rào cản lớn nhất: Rào cản lớn nhất không phải là khoảng cách, chi phí hay phương tiện mà chính là cách suy nghĩ của chúng ta !!!
    III. SUY NGHĨ NHƯ CƠ ĐỐC NHÂN ĐẲNG CẤP THẾ GIỚI
    1. Chuyển suy nghĩ hướng ngã sang suy nghĩ đến người khác: Đây là một:
    a. Thay đổi khôn ngoan: Đó là thay đổi của một người trưởng thành (
    ICo1Cr 14:20), theo mạng lệnh của Lời Chúa (Phi Pl 2:4). Tuy nhiên đây cũng là một thay đổi khó khăn giữa một thế giới chỉ quan tâm đến chính mình!
    b. Hãy từng bước lệ thuộc vào Đức Chúa Trời: Hãy cầu xin Đức Thánh Linh giúp chúng ta suy nghĩ về nhu cầu thuộc linh của người chưa tin - Hãy luyện tập thói quen cầu nguyện để khám phá người khác đang đứng ở đâu trong linh trình của họ và làm bất cứ điều gì để họ tiến đến gần Chúa hơn.
    2. Chuyển suy nghĩ địa phương sang suy nghĩ toàn cầu: Đây là một:
    a. Quy luật bất biến: Chúa là Đức Chúa Trời của hoàn vũ (
    GiGa 3:16) và Ngài muốn có những thành viên gia đình đến từ mọi dân Ngài đã tạo dựng. Hiện nay có nhiều Cơ Đốc nhân trên thế giới hơn bao giờ hết.
    . Phần lớn thế giới cũng đang có suy nghĩ toàn cầu và cuộc sống chúng ta đang ngày càng hòa trộn với những người ở các quốc gia khác.
    b. Cách chuyển sang suy nghĩ toàn cầu: Trước tiên hãy cầu nguyện cho các quốc gia trên thế giới. Hãy cầu xin Chúa ban cơ hội làm chứng, lòng can đảm, thêm nhiều con gặt, cho những người đang dấn thân vào mùa gặt...
    . Hãy có cặp mắt Đại Mạng lệnh khi đọc và xem tin tức thế giới, vì ở đâu có những thay đổi, xung đột, ở đó có nhiều người khao khát Tin Lành.
    . Hãy thực hành sứ mạng “Cơ Đốc nhân
    Cong Cv 1:8” không phải từng bước mà cùng một lúc với những dự án truyền giáo ngắn hạn...
    3. Chuyển suy nghĩ “ở đây, bây giờ” sang suy nghĩ đời đời: Chúng ta phải:
    a. Nhìn trong viễn cảnh đời đời: Chúng ta sẽ tận dụng đối đa thời gian trên đất, sẽ không đổi cuộc đời để lấy những thứ tạm bợ, dành cho lửa. Chúa muốn chúng ta hãy quăng mọi gánh nặng và tội lỗi dễ vấn vương...
    b. Đầu tư cho cõi đời đời:
    LuLc 16:9 phải được hiểu như sau: Hãy dùng tiền Chúa ban ở thế gian để đưa dắt người khác trở nên bạn của chúng ta trong cõi đời đời. Khi qua đời chúng ta không thể đem gì theo nhưng chúng ta có thể gửi đi trước bằng cách đầu tư vào những người sẽ đến cõi đời đời!
    4. Chuyển từ bào chữa sang suy nghĩ sáng tạo đề làm trọn nhiệm vụ: Hãy:
    a. Đừng bào chữa: Đừng để Sa-tan đưa ra những lý do thối thác như: Tôi không có gì để dậng - Tôi trẻ quá - Tôi già quá - Tôi chưa được kêu gọi. Hãy nhớ rằng mọi người đều đã được kêu gọi để làm trọn 5 mục đích.
    b. Đừng bỏ lỡ kế hoạch: Đức Chúa Trời có kế hoạch cho mỗi một người: Hãy kiểm tra những gì mình có và hãy nghiêm túc hỏi Chúa muốn chúng ta phải làm gì trong những tháng năm tới và hãy bắt tay làm ngay!

    Bài 39: QUÂN BÌNH ĐỜI SỐNG
    Câu gốc: “Vậy, hãy giữ cho khéo về sự ăn ở của anh em, chớ xử mình như người dại dột, nhưng như người khôn ngoan. Hãy lợi dụng thì giờ, vì những ngày là xấu. Vậy chớ nên như kẻ dại dột, nhưng phải hiểu rõ ý muốn của Chúa là thế nào. ” Eph Ep 5:15-17
    I. ĐỜI SỐNG QUÂN BÌNH
    1. Năm môn phối hợp: Một trong những bộ môn của Thế vận hội mùa hè là năm môn phối hợp (bắn súng, vượt rào, cưỡi ngựa, chạy và bơi lội). Mục tiêu của vận động viên là chiến thắng trong cả năm môn. Đời sống chúng ta cũng là cuộc đua năm môn phối hợp với năm mục đích.
    2. Thể hiện: Chúng ta cần giữ quân bình năm mục đích như các Cơ Đốc nhân trong Công vụ 2, được Phao-lô giải thích trong Êphêsô 4, được Chúa Jesus làm gương trong Giăng 17, và được Chúa Jesus tóm tắt trong Điều răn lớn và Đại Mạng lệnh.
    3. Bảng tóm tắt: Chúng ta có thể tóm tắt năm mục đích cho đời sống như sau
    2 Yêu người lân cận Để yêu thương phục vụ Chức vụ của bạn
    II. BÍ QUYẾT ĐỜI SỐNG QUÂN BÌNH 1. Thành lập một nhóm nhỏ: Cách tốt nhất để ghi nhớ những nguyên tắc, mục đích sống là thảo luận chúng với một nhóm nhỏ:
    a. Ích lợi: “Sắt mài nhọn sắt, cũng vậy người bổ dưỡng diện mạo bạn hữu mình” (
    ChCn 27:17). Trong nhóm nhỏ, tâm trí chúng ta trở nên sắc bén hơn và lòng tin chúng ta đậm đà hơn thông qua việc tâm tình. Chúa muốn chúng ta khích lệ nhau để cùng nhau lớn lên (ITe1Tx 5:11).
    b. Thực hiện: Nên thành lập một nhóm nhỏ để học ôn 40 bài học nầy mỗi tuần. Hãy thảo luận cách áp dụng bài học vào đời sống, gia đình, Hội Thánh chúng ta và hãy thực hiện ngay điều học được (
    Phi Pl 4:9).
    . Cũng hãy khích lệ nhau học Kinh Thánh cá nhân và học thuộc các câu Kinh Thánh có ghi trong bài học. Cần trung tín nghiên cứu Lời Chúa mỗi ngày và giấu Lời Chúa trong lòng (mỗi ngày học thuộc một câu).
    2. Thường xuyên kiểm tra tình trạng thuộc linh: Cần lưu ý:
    a. Tầm quan trọng: Ít nhất có năm lần Kinh Thánh bảo chúng ta phải tự tra xét tình trạng thuộc linh của mình: Tự xét đoán mình (
    ICo1Cr 11:28, 31), kiểm tra đức tin của mình (IICo 2Cr 13:5), tự xét đường lối mình (CaAc 3:40)...
    b. Kiểm tra điều gì? Giống như kiểm tra sức khỏe tổng quát, chúng ta phải thường xuyên kiểm tra năm mục đích là sự thờ phượng, mối thông công, sự tăng trưởng nhân cách, chức vụ và sứ mạng truyền giáo.
    . Có thể kiểm tra trong giờ tĩnh nguyện hay thảo luận với nhóm nhỏ.
    3. Viết lại tiến triển mỗi ngày: Đây không phải nhật ký biến cố mà là ghi nhận những bài học thuộc linh trong đời sống mà ta không muốn quên.
    a. Giá trị: Nó làm rõ điều Đức Chúa Trời đã làm trong cuộc đời, khiến chúng ta giữ vững điều mình đã học (
    HeDt 2:1). Đây là mạng lệnh Chúa truyền cho Môi-se, khiến ông ghi lại hành trình của dân sự (Dan Ds 33:2).
    b. Phương pháp: Không chỉ ghi lại những điều vui thỏa, nhưng cũng ghi lại những tranh chiến, nghi ngờ, sợ hãi... vì những bài học lớn nhất thường đến từ sự đau thương vì Chúa cất giữ nước mắt của chúng ta (
    Thi Tv 56:8).
    . Chúng ta mắc nợ các thế hệ sau về những lời làm chứng cách Đức Chúa Trời đã giúp chúng ta làm trọn những mục đích của Ngài trên đất !
    4. Chia sẻ cho người khác: Hãy chia sẻ những gì mình biết cho người khác.
    a. Ích lợi: Cách tốt nhất để học hỏi thêm và lớn lên là chia sẻ những gì mình học được cho người khác (
    ChCn 11:25).
    b. Mạng lệnh: Đức Chúa Trời kêu gọi chúng ta làm sứ giả của Ngài. Phao-lô bảo Ti-mô-thê phải chia sẻ những điều ông học cho mấy người trung thành, có tài dạy dỗ kẻ khác (
    IITi 2Tm 2:2). Hàng trăm người quanh bạn đang không biết mục đích của cuộc sống. Hãy chia sẻ những bài học nầy với gia đình, bạn hữu, xóm giềng của bạn.
    c. Một đặc ân: Tri thức gia tăng trách nhiệm, nhưng chia sẻ mục đích cuộc đời lại là một trong những đặc ân lớn nhất trong cuộc sống.
    IV. TẤT CẢ VÌ SỰ VINH HIỂN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    1. Mục đích tối cao: Mục đích tối cao của chúng ta phải là sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và sự phát triển Vương quốc của Ngài.
    2. Gương Chúa Jê-sus: Chúa Jê-sus đã tôn vinh Cha, làm xong công việc Cha giao, chuẩn bị các môn đồ để sống vì mục đích của Đức Chúa Trời: Giúp họ biết và yêu Chúa - Yêu thương nhau - Trưởng thành - Phục vụ vàsai phái họ ra đi chia sẻ cho người khác (
    GiGa 17:1-26).
    3. Áp dụng: Chúa kêu gọi chúng ta sống theo đúng mục đích của Ngài và giúp người khác cũng sống như thế.

    Bài 40: SỐNG THEO ĐÚNG MỤC ĐÍCH
    Câu gốc: “Trong lòng loài người có nhiều mưu kế; Song ý chỉ của Đức Giê-hô-va sẽ thành được. ” ChCn 19:21
    I. CÁCH DUY NHẤT ĐỂ THỰC SỰ SỐNG
    1. Ba vấn đề căn bản: Hầu như mọi người đều tranh chiến với ba vấn đề căn bản của cuộc sống: Nguồn gốc - Tầm quan trọng - Ảnh hưởng. Câu trả lời của ba vấn đề đó được tìm thấy trong năm mục đích của Đức Chúa Trời dành cho mỗi người. Sống theo đúng mục đích là cách duy nhất để thực sự sống. Mọi sự khác chỉ đơn thuần là hiện hữu !
    2. Hạnh phước thật: Chúa Jê-sus cho chúng ta bí quyết để được phước. Đó là hãy làm theo Ngài (
    GiGa 13:17). Chúng ta sẽ chỉ thật sự được phước khi làm theo năm mục đích Đức Chúa Trời dành cho chúng ta.
    3. Bám chắc mục đích: Chúng ta thường dễ xao lãng và quên đi điều quan trọng nhất. Vì thế cần có một tuyên ngôn về mục đích cuộc đời.
    II. TUYÊN NGÔN MỤC ĐÍCH CUỘC ĐỜI LÀ GÌ?
    1. Bản tóm tắt mục đích của Đức Chúa Trời cho cuộc đời: Hãy khẳng định cam kết của chúng ta về năm mục đích của Đức Chúa Trời cho mình. Không phải chỉ là danh sách các mục tiêu vì mục tiêu chỉ là tạm thời.
    2. Bản định hướng cuộc đời: Viết những mục đích ra giấy sẽ giúp chúng ta suy nghĩ về hướng đi cho cuộc đời (
    ChCn 4:26). Cần ghi rõ những dự định với thời gian, sự sống, tiền của cũng như những điều sẽ không làm.
    3. Định nghĩa thành công: Nó khẳng định điều chúng ta tin là quan trọng trong sự hướng dẫn của Chúa (
    Phi Pl 1:10).
    4. Làm rõ vai trò chúng ta: Mục đích không thay đổi nhưng chúng ta có nhiều vai trò khác nhau, thích ứng với từng giai đoạn của cuộc đời.
    5. Thể hiện định dạng của chúng ta: Nó phản ảnh thật độc đáo cách Đức Chúa Trời tạo dựng chúng ta để phục vụ Ngài.
    III. NĂM CÂU HỎI CHUẨN BỊ CHO TUYÊN NGÔN
    1. Trung tâm của đời tôi là gì? Đây là câu hỏi về sự thờ phượng. Chúng ta cần có một trung tâm bất biến vì trung tâm của cuộc đời chính là chủ của chúng ta (
    IISu 2Sb 14:4). Dấu hiệu của sự kiện Đấng Christ đang ở trung tâm cuộc đời là sự bình an. Lo lắng là lời cảnh báo đáng phải quan tâm !
    2. Nhân cách cuộc đời tôi là gì? Đây là kết quả của việc môn đồ hóa. Hãy nhớ rằng chúng ta sẽ mang nhân cách chứ không phải công việc vào cõi đời đời. Hãy liệt kê những phẩm chất bạn muốn phát triển (
    GaGl 5:22... ).
    3. Cuộc đời tôi sẽ đóng góp những gì? Đây là vấn đề chức vụ. Biết rõ những ân tứ thuộc linh, tấm lòng, các khả năng, cá tính và kinh nghiệm, bạn thấy vai trò nào trong gia đình Đức Chúa Trời là thích hợp với bạn nhất? Bạn muốn phục vụ đối tượng nào? Chúng ta được định hình để phục vụ người khác, vì phục vụ đem lại hai lợi ích: Đáp ứng nhu cầu người khác và gia tăng lòng biết ơn Chúa (
    IICo 2Cr 9:12).
    4. Đời sống tôi sẽ nói lên điều gì? Đây là vấn đề sứ mạng đối với người chưa tin. Tuyên ngôn sứ mạng là một phần trong tuyên ngôn mục đích của đời sống. Nó bao hàm cam kết chia sẻ Tin Lành cho người khác cùng với những bài học cuộc sống và sự sốt sắng của chúng ta...
    . Nhóm mục tiêu của chúng ta có thể là bạn đồng nghiệp, xóm giềng, con cái... Sứ mạng của cha mẹ không phải chỉ nuôi nấng con cái mà điều quan trọng nhất là giúp chúng biết Đấng Christ, hiểu mục đích của cuộc sống và sai phái chúng nó, để có thể nói như Giô-suê trong
    Gios Gs 24:15.
    . Bài làm chứng trước tiên phải là đời sống vì người ta muốn biết chúng ta có đáng tin không trước khi xét điều chúng ta trình bày có đáng tin không!
    5. Cộng đồng của đời sống tôi là gì? Đây là vấn đề mối thông công: Chúng ta có thể thực hiện những mạng lệnh “lẫn nhau” ở đâu? Càng trưởng thành bao nhiêu, chúng ta lại càng yêu mến và hy sinh cho Thân thể Đấng Christ bấy nhiêu (
    Eph Ep 5:25).
    IV. VIẾT TUYÊN NGÔN MỤC ĐÍCH CUỘC ĐỜI
    1. Bắt đầu ngay: Hãy cầu nguyện, suy nghĩ, suy gẫm Kinh Thánh, có thể chia sẻ với những bạn thân và viết xuống tuyên ngôn mục đích cuộc đời của bạn. Có thể sửa đổi nhiều lần trước khi hoàn chỉnh.
    2. Câu khẩu hiệu: Có thể soạn thêm những câu khẩu hiệu ngắn, dễ nhớ và ấn tượng, nhằm tóm tắt năm mục đích cho cuộc đời chúng ta và ôn lại mỗi ngày (
    ChCn 22:18). Thí dụ: Mục đích đời tôi là thờ phượng Đấng Christ với trọn tấm lòng, phục vụ Ngài theo định dạng của tôi, thông công với gia đình Ngài, lớn lên trong nhân cách của Ngài và làm trọn sứ mạng trên đất để Ngài được vinh hiển.
    3. Các vấn đề khác thì sao? Tất cả các vấn đề khác như hôn nhân, sự nghiệp, nơi sinh sống đều phải phù hợp với các mục đích của cuộc đời chúng ta. Thật ra, khi chúng ta sống theo năm mục đích của Chúa cho mình thì Ngài sẽ bày tỏ ý muốn tốt lành Ngài về những vấn đề khác (
    19:21). Vì thế hãy tập trung để trở nên người làm theo mục đích của Đức Chúa Trời trong thế hệ của mình, như Đa-vít (Cong Cv 13:22, 36). Chúa sẽ giúp sức cho ai trọn thành đối với Ngài (IISu 2Sb 16:9).
























































































































































































































































































































































































  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels