• GIẢI NGHĨA SÁCH XUẤT-Ê-DÍP-TÔ-KÝ

    XUẤT – Ê – DÍP – TÔ -KÝ

    MỤC LỤC
    01. CẦN CÓ: MỘT NGƯỜI GIẢI CỨU
    02. CHIẾN TRANH ĐƯỢC TUYÊN BỐ
    03. ĐỨC-GIÊ-HÔ-VA, ĐẤNG MẠNH MẼ TRONG CHIẾN TRẬN
    04. MỘT TAI VẠ NỮA
    05. ĐƯỢC CỨU CHUỘC VÀ VUI MỪNG
    06. TRƯỜNG ĐỜI
    07. “ĐỨC GIÊ-HÔ-VA VẠN QUÂN Ở CÙNG CHÚNG TA”
    08. HÃY LẮNG NGHE TIẾNG PHÁN CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI
    09. QUYỂN SÁCH GIAO ƯỚC
    10. NƠI ĐỨC CHÚA TRỜI NGỰ VÀO. PHẦNI
    11. NƠI ĐỨC CHÚA TRỜI NGỰ VÀO. PHẦNII
    12. CHỨC TẾ LỄ THÁNH
    13. MỘT TẤM LÒNG TAN VỠ VÀ MỘT GƯƠNG MẶT RẠNG NGỜI
    14. LỜI BẠT
    1. CẦN CÓ: MỘT NGƯỜI GIẢI CỨU (Xu 1:1-4:31)
    Có một bé gái định nghĩa “radio” như là “tivi không hình có hình ảnh”; cô bé nói như thế tôi không đồng ý. Tôi đã lớn lên trong thời đại hoàng kim của radio, và tôi có thể đoan chắc với các bạn rằng khi tôi lắng nghe radio, tôi đã nhìn thấy được nhiều hình ảnh sinh động và thú vị – ngay trong trí tưởng tượng của tôi. Tivi không cho bạn điều này. Và những câu chuyện trên radio cứ tiếp tục, ngày này sang ngày kia, luôn khiến chúng ta phải thắc mắc, “Điều gì sẽ xảy ra tiếp sau đó ?”.
    Cựu Ước là “một câu chuyện liên tục” của Đức Chúa Trời về chương trình cứu rỗi vĩ đại mà Ngài đã báo trước cho A-đam và Ê-va (Sa 3:15) rồi cho Áp-ra-ham (12:1-3). Điều này giải thích vì sao bản văn Hê-bơ-rơ của sách Xuất Ê Díp Tô Ký bắt đầu bằng từ “và”, vì Đức Chúa Trời đang tiếp tục câu chuyện Ngài đã bắt đầu ở Sáng Thế ký. [1] Câu chuyện kỳ diệu của Đức Chúa Trời đưa dẫn tới cuối cùng là sự Giáng Sinhcủa Chúa Giê-xu trên đất và sự chết của Ngài trên thập tự giá, và câu chuyện này sẽ không kết thúc cho đến khi dân sự của Đức Chúa Trời được lên Thiên Đàng và được nhìn thấy Chúa Giê-xu đang ngồi trên ngôi. Thật là một câu chuyện tuyệt diệu !
    Chủ đề của Xuất Ai Cập ký là sự giải cứu, và bạn không thể có được sự giải cứu mà không cần đến một người giải cứu. Môi-se bước vào chức vụ từ đây, ông là người giải cứu, người lập pháp và là người cầu thay vĩ đại.
    1. Người giải cứu (Xu 1:1-22)
    Các ra-bi Do Thái gọi Xuất Ê Díp Tô Ký là “Sách của các Tên gọi” (hoặc “Đây là các Tên”) vì nó mở đầu bằng một danh sách tên của các con trai Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên), họ đã đem gia đình đến xứ Ai Cập để chạy trốn nạn đói ở Ca-na-an (Sa 46:1-34) [2] Đức Chúa Trời đã dùng những kinh nghiệm của dân Y-sơ-ra-ên tại xứ Ai Cập để chuẩn bị dân này cho những nhiệm vụ đặc biệt Ngài giao cho họ thực hiện trên đất: làm chứng về Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, viết nên bản Kinh Thánh, và đem Chúa Cứu Thế vào trong thế gian.
    Sự chúc phước (Xu 1:1-7). Suốt những năm Giô-sép làm quan tể tướng tại xứ Ai Cập, gia đình ông rất được trọng vọng; thậm chí sau khi Giô-sép qua đời, ký ức về ông vẫn luôn được tôn trọng thể hiện qua cách đối xử của dân Ai Cập với dân Hê-bơ-rơ. Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa về giao ước của Ngài với Áp-ra-ham qua việc chúc phước cho dòng dõi của ông và khiến họ gia tăng thêm bội phần (Sa 12:1-3 15:5 17:2,6 22:17). Vào thời điểm diễn ra cuộc hành trình rời khỏi xứ Ai Cập, có hơn 600.000 người nam từ 20 tuổi trở lên (Xu 12:37 38:26) và khi bạn thêm vào đó con số của phụ nữ và trẻ em thì tổng số có thể lên tới gần ba triệu người, tất cả đều là con cháu trong gia đình của Gia-cốp: Đức Chúa Trời chắc chắn đã giữ lời hứa của Ngài !
    Nhưng một Pha-ra-ôn của thế hệ mới thì lo lắng với sự gia tăng nhanh chóng của dân Do Thái, vì vậy ông ta đã đưa ra những biện pháp nhằm kiềm hãm lại sự gia tăng này.
    Bước 1: Đày đọa những người Do Thái đã trưởng thành (1:8-14). Đức Chúa Trời đã cho Áp-ra-ham biết rằng con cháu ông sẽ đi đến một xứ lạ và ở đó họ sẽ bị bắt làm nô lệ và bị ngược đãi, nhưng Ngài hứa rằng vào đúng thời điểm, Ngài sẽ giải phóng họ bởi quyền năng của Ngài (Sa 15:12-14). Đức Chúa Trời so sánh xứ Ai Cập với một lò lửa bốc khói (c.17 Phu 4:20), đây là nơi dân sự Ngài sẽ phải chịu khổ, nhưng kinh nghiệm sống trong lò lửa như thế này sẽ biến đổi Y-sơ-ra-ên trở nên một dân tộc mạnh mẽ (Sa 46:3).
    Trải qua nhiều thế kỷ dân Do Thái ở trong xứ Ai Cập (15:13 Xu 12:40-41), họ đã chứng kiến nhiều triều đại của Ai Cập đến rồi qua đi, nhưng ai là vị vua mới không biết đến Giô-sép cùng gia đình ông và đã tìm cách hủy diệt “dân sự của con cái Y-sơ-ra-ên” ? [3] Triều đại thứ 17, triều đại Hyksos [4] là những người ngoại quốc và “khách lạ” giống như dân Do Thái, nên có lẽ họ cảm thông với dân Y-sơ-ra-ên, nhưng triều đại thứ 18 là người Ai Cập và các nhà cai trị của họ đã trục xuất những người ngoại quốc ra khỏi xứ. Đây có thể là triều đại đã khởi đầu sự bắt bớ trên dân Y-sơ-ra-ên.
    Vì sao những người Ai Cập muốn làm cho cuộc sống của dân Do Thái trở nên khốn khổ ? Y-sơ-ra-ên là một nguồn phước trong xứ như trước đó Giô-sép cũng đã từng là một nguồn phước cho Ai Cập (Sa 39:1-6), và họ không hề gây nên những rắc rối. Lý do được Pha-ra-ôn đưa ra là sự hiện diện của quá nhiều người Do Thái sẽ làm ảnh hưởng đến sự an nguy của xứ ấy vì người Do Thái là những người ngoại bang, nếu có một sự xâm lược nào xảy ra trong xứ thì chắc chắn họ sẽ liên minh với kẻ thù. Tuy nhiên, dù Pha-ra-ôn có thực hiện điều này hay không thì nguyên nhân thật sự vẫn là sự mâu thuẫn đã được công bố trong (3:15), đó là sự thù địch giữa dân sự của Đức Chúa Trời và con cái của Sa-tan, và mâu thuẫn này vẫn còn tiếp diễn trong thế giới ngày nay.
    Trong sử sách được ghi chép lại thì không một dân tộc nào phải chịu cảnh khốn cùng như dân Hê-bơ-rơ đã gánh chịu, tuy nhiên, mọi quốc gia hay vị cầm quyền nào từng bắt bớ dân Do Thái cũng đã bị trừng phạt. Sau hết thì lời hứa của Đức Chúa Trời đối cùng Áp-ra-ham vẫn là: “Ta sẽ ban phước cho người nào chúc phước ngươi, và ta sẽ rủa sả người nào rủa sả ngươi” (12:3 NKJV). Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa này qua cách Ngài hành xử với người Ai Cập và Ba-by-lôn trong thời xưa, cũng như với những nhà độc tài trong thời nay. Đức Chúa Trời đã rất nhẫn nại khi trông thấy các dân tộc bắt bớ tuyển dân của Ngài, nhưng cuối cùng thì sự trừng phạt của Đức Chúa Trời cũng đã giáng xuống những kẻ áp bức.
    Các đốc công Ai Cập “bắt họ làm việc một cách nhẫn tâm” (Xu 1:13 NIV), buộc các nô lệ người Do Thái xây thành và làm việc trong những cánh đồng. Nhưng Đức Chúa Trời đã chúc phước khiến dân Y-sơ-ra-ên càng thêm lên nhiều hơn, và điều này khiến những kẻ bắt bớ họ càng thêm sợ hãi và tức giận. Cần phải thực hiện biện pháp khác để kiềm giữ dân Y-sơ-ra-ên.
    - Bước 2: Giết hại các bé trai Do Thái mới chào đời (1:15-21). Nếu kế hoạch này thành công, Pha-ra-ôn sẽ triệt hạ được toàn bộ dân Hê-bơ-rơ. Thế hệ những người nam sau này sẽ chết và những người nữ cuối cùng rồi sẽ lấy những tôi tớ Ai Cập và trở nên dòng giống của người Ai Cập. Thế nhưng (Sa 3:15 12:1-4) cho biết rằng Đức Chúa Trời sẽ không cho phép một việc như thế xảy ra, và Ngài đã dùng hai bà đỡ người Do Thái để đánh lừa Pha-ra-ôn [5].
    Đây là trường hợp đầu tiên trong Kinh Thánh cho biết về điều mà ngày nay chúng ta gọi là “sự không vâng phục của một công dân”, nghĩa là từ chối tuân theo một luật lệ không tốt để thực hiện được một điều tốt hơn. Lời Kinh Thánh trong (Mat 20:21-25 Ro 13:1-14 IPhi 2:11) khuyên Cơ Đốc Nhân phải vâng phục nhà cầm quyền của mình; nhưng (Ro 13:5) nhắc nhở chúng ta rằng sự vâng phục của chúng ta không được đi ngược lại với lương tâm của chúng ta. Khi các luật lệ của Đức Chúa Trời trái với luật lệ của con người thì chúng ta “phải vâng lời Đức Chúa Trời hơn là vâng lời người ta” (Cong 5:29). Bạn sẽ thấy rằng điều này không những được minh hoạ qua các bà đỡ, mà còn qua Đa-ni-ên cùng các bạn của ông (Da 1:1-21 3:1-30 6:1-28), cũng như qua các sứ đồ (Cong 4:1-5:42) [6]
    Các bà mụ đã nói dối Pha-ra-ôn chăng? Có lẽ là không [7] .Các em bé đã ra đời trước khi các bà mụ đến vì Siếp-ra và Phu-a đã bảo những người giúp đỡ họ đến trễ! Đức Chúa Trời đã chúc phước cho hai bà mụ vì đã đặt mạng sống của họ trên đường tơ kẽ tóc để cứu dân tộc Do Thái khỏi nạn diệt chủng. Tuy nhiên, Ngài đã ban vinh dự cho hai người đàn bà này một cách kỳ lạ: Ngài ban cho họ con cái vào thời điểm khi mà việc có con là nguy hiểm ! Có lẽ những đứa con của họ đều là con gái, hoặc có thể Đức Chúa Trời đã bảo vệ các con trai của họ như Ngài đã bảo vệ Môi-se. Tuy nhiên, sự chúc phước này từ Đức Chúa Trời cho chúng ta thấy con cái quý là dường nào đối với Chúa: Ngài muốn ban cho hai người đàn bà này phần thưởng tốt nhất của Ngài, vì vậy Ngài đã ban cho họ con cái (Thi 127:3).
    - Bước3: Nhận chìm các bé trai (Xu 1:22). Khi Pha-ra-ôn phát hiện ra mình bị lừa, ông ta thay đổi kế hoạch và truyền lệnh cho cả dân sự phải bảo đảm rằng các bé trai Do Thái phải bị nhận chìm dưới sông Nile linh thiêng. Người của Pha-ra-ôn không thể kiểm soát được tất cả các bà mụ người Do Thái nhưng người dân Ai Cập có thể để ý theo dõi các nô lệ người Do Thái và báo lại khi có một bé trai ra đời. Tuy nhiên, vẫn có một bé trai đã chào đời mà Pha-ra-ôn không thể giết chết được.
    2. Người giải cứu đã ra đời (Xu 2:1-10)
    [8] Am-ram và Giô-kê-bết là cha mẹ của Môi-Se (6:20), và trong khi Xuất Ê Díp Tô Ký nhấn mạnh đến đức tin của người mẹ, thì He 11:23 khen ngợi cả hai bậc cha mẹ vì đã tin cậy Đức Chúa Trời. Chắc chắn họ phải có đức tin để có những mối quan hệ bình thường trong hôn nhân trong suốt thời kỳ nguy hiểm khi mà các trẻ sơ sinh Do Thái phải bị giết. Môi-se đã trở nên một người có đức tin mạnh mẽ, và ông đã học được điều này trước hết từ hai bậc cha mẹ tin kính của mình. Am-ram và Giô-kê-bết đã có hai con: Mi-ri-am, đứa con cả và A-rôn, lớn hơn Môi-se 3 tuổi (Xu 7:7).
    Ngay từ đầu, Môi-se đã được nhận ra là “đứa trẻ khác thường” (Cong 7:20 NIV He 11:23) [9] và rõ ràng là Đức Chúa Trời đã có một mục đích đặc biệt dành cho ông. Tin rằng điều này sẽ trở thành sự thật, cha mẹ của Môi-se đã bất chấp sắc lệnh của Pha-ra-ôn và vẫn giữ cho con trai của họ còn sống. Điều này không dễ thực hiện vì mọi người Ai Cập giờ đây đều là thám tử của Pha-ra-ôn, và đang giám sát việc nhận chìm các con trẻ (Xu 1:22).
    Giô-kê-bết đã vâng theo sắc luật này khi bà đặt Môi-se trên dòng sông Nile, nhưng dĩ nhiên là bà đang bất chấp những mệnh lệnh của Pha-ra-ôn qua việc làm của mình. Bà đang tin cậy vào sự định liệu của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời đã không làm bà phải thất vọng. Khi công chúa đến sông Nile để tham gia lễ tắm gội theo nghi thức tôn giáo, nàng nhìn thấy cái rương, phát hiện ra đứa bé, và nghe tiếng nó khóc; bản năng của người mẹ bảo nàng phải cứu đứa trẻ và chăm sóc cho nó.
    Đức Chúa Trời đã dùng nước mắt của một em bé để điều khiển tấm lòng của một vị công chúa quyền thế, và Ngài đã sử dụng lời nói của Mi-ri-am để sắp xếp cho người mẹ của đứa bé nuôi dưỡng đứa con trai và được trả công cho việc ấy! Nhóm từ “yếu đuối như một em bé” không được áp dụng trong nước Đức Chúa Trời; vì khi Chúa muốn thực hiện một công việc vĩ đại, Ngài thường bắt đầu bằng cách ban cho một đứa bé. Sự thật này được thể hiện qua Y-sác, Giô-sép, Sa-mu-ên, Giăng Báp-tít và đặc biệt là Chúa Giê-xu. Đức Chúa Trời có thể sử dụng những điều yếu đuối nhất để đánh bại những kẻ thù mạnh mẽ nhất (ICo 1:25-29), nước mắt của một em bé là vũ khí trước nhất của Đức Chúa Trời trong cuộc chiến của Ngài chống lại Ai Cập.
    Công chúa đã nhận Môi-se làm con của nàng, điều này có nghĩa là Môi-se sẽ có được một địa vị cao trọng trong xứ và một nền học vấn đặc biệt để phục vụ trong bộ máy cai trị (Cong 7:22). Theo ngôn ngữ của Ai Cập thì Môi-se nghĩa là “được sinh ra” hoặc là “con trai” và nghe giống như một từ Hê-bơ-rơ có nghĩa là “kéo ra” (khỏi nước). Những năm sau này, tên của Môi-se sẽ nhắc nhở ông về Đức Chúa Trời là Đấng đã cứu vớt ông và làm những việc lớn cho ông tại xứ Ai Cập. Môi-se đã nhiều lần cứu dân sự của ông vì ông tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
    3. Người giải cứu được chuẩn bị (Xu 2:11-25)
    Môi-se trải qua 40 năm đầu tiên của ông (Cong 7:23) phục vụ trong triều chính của Ai Cập (một số học giả nghĩ rằng ông đang được chuẩn bị để kế vị Pha-ra-ôn). Ai Cập dường như là một nơi ít có khả năng nhất để Đức Chúa Trời khởi đầu việc huấn luyện cho một người lãnh đạo, nhưng đường lối của Đức Chúa Trời không phải là đường lối của chúng ta. Để trang bị về sự hầu việc cho Môi-se, Đức Chúa Trời đã dùng đến nhiều phương cách.
    Học vấn. “Và Môi-se đã được học mọi sự khôn ngoan của người Ai Cập, mạnh mẽ trong lời nói và việc làm” (Cong 7:22 NKJV). Điều này có liên quan đến việc gì? Vào thời bấy giờ, Ai Cập đã có một nền văn minh rất phát triển, đặc biệt là trong lãnh vực xây dựng, toán học và thiên văn học. Nhờ vào kiến thức về thiên văn học, họ đã phát triển một hệ thống lịch có tính chính xác đáng kinh ngạc, và các kỹ sư của họ đã vẽ sơ đồ và giám sát việc xây dựng các dinh thự hiện vẫn đang đứng vững. Các thầy tế lễ và các bác sĩ của họ là những người tinh thông về nghệ thuật ướp xác, còn các quan trưởng của họ rất có tài về mặt tổ chức và hành chính. Ngày nay khách tham quan Ai Cập không khỏi bị gây ấn tượng bởi những công trình của một dân tộc vào thời cổ đại này. Tôi tớ của Đức Chúa Trời phải học biết tất cả những gì ông có thể học được, cống hiến sự học của mình cho Đức Chúa Trời, và hầu việc Ngài cách trung tín.
    Sự thất bại (Xu 2:11-14). Dù vẫn có một số người chưa biết rõ về nguồn gốc của ông (c.19) nhưng Môi-se biết rằng ông là một người Hê-bơ-rơ chớ không phải người Ai Cập, và ông không thể ngăn được sự cảm thương trước cảnh ngộ khốn khổ của dân tộc mình. Một ngày nọ, ông đã có một quyết định can đảm để giúp người dân của mình, ngay cả khi việc này có nghĩa là đánh mất địa vị cao quý của ông với tư cách là con nuôi của công chúa (He 11:24-26). Những lạc thú [10] và châu báu của xứ Ai Cập mờ nhạt trước mắt khi ông thấy chính mình đang giải cứu cho tuyển dân của Đức Chúa Trời.
    Có thể vị quan người Ai Cập này không phải chỉ đang phạt người nô lệ Do Thái, mà đang đánh người ấy đến chết, vì từ ngữ Hê-bơ-rơ có thể mang ý nghĩa đó, vì vậy khi Môi-se can thiệp vào thì có lẽ ông đang cứu mạng sống của một con người. Và nếu vị quan Ai Cập quay sang chống lại Môi-se, việc này rất có thể xảy ra, thì khi ấy Môi-se cũng đang tự vệ cho mạng sống của mình.
    Nhưng nếu Môi-se dự định sẽ giải phóng những người Hê-bơ-rơ bằng cách giết những người Ai Cập từng người một thì ông sẽ rất thất vọng. Ngày hôm sau ông khám phá ra rằng những người Ai Cập chỉ là một phần của vấn đề, vì dân Do Thái thậm chí đã không thể hòa hợp được với nhau! Khi ông tìm cách hòa giải hai người Do Thái, họ đã từ chối sự giúp đỡ của ông ! Còn hơn thế nữa, ông biết rằng bí mật của ông đã bị bại lộ và Pha-ra-ôn đang tìm giết ông, Môi-se chỉ còn một việc có thể làm được và đó là chạy trốn.
    Hai sự kiện này đã cho thấy Môi-se là một người có đầy lòng thương xót, có động cơ ngay thật, nhưng hành động lại nóng nảy. Khi biết được điều này có thể bạn sẽ không tin được rằng sau đó ông sẽ được gọi là “người nhu mì nhất trên đất” (Dan 12:3). Thất bại của Môi-se trong việc giải cứu những người Do Thái chắc hẳn đã khiến ông bị suy sụp. Đó cũng là lý do mà Đức Chúa Trời đã đem ông vào xứ Ma-đi-an và cho ông trở nên một người chăn chiên trong suốt 40 năm. Môi-se phải học biết rằng sự giải cứu sẽ đến từ cánh tay của Đức Chúa Trời, không phải đến từ chính ông (Cong 7:25 Xu 13:3).
    Nơi vắng vẻ và sự phục vụ khiêm nhường (Xu 2:15-25). Môi-se đã trở thành một kẻ bỏ trốn và lánh đến xứ của dân Ma-đi-an là những người bà con của dân Do Thái (Sa 25:2). Với bản tính can đảm vốn có, ông đã giúp các con gái của Rê-u-ên, thầy tế lễ của xứ Ma-đi-an (Xu 2:18), bởi điều này gia đình họ đã tiếp đón ông, gả cho ông một trong những người con gái là Si-phô-ra, và bà đã sanh cho ông một đứa con trai [11]. Sau đó, bà sanh một con trai nữa, là Ê-li-sê (18:1-4 ISu 23:15). Rê-u-ên (“bạn của Đức Chúa Trời”) còn được biết đến dưới tên gọi là Giê-trô (Xu 3:1 18:12,27), nhưng Giê-trô (“sự xuất sắc”) có thể là danh hiệu thầy tế lễ hơn là tên gọi của ông Trong (Dan 10:29), [12]
    Người “mạnh mẽ trong lời nói và việc làm” giờ đây phải ở trong đồng cỏ vắng vẻ để chăn bầy chiên bướng bỉnh, nhưng đây chính là sự chuẩn bị cần thiết cho ông để lãnh đạo một dân tộc bướng bỉnh. Y-sơ-ra-ên là bầy chiên đặc biệt của Đức Chúa Trời (Thi 100:3) và Môi-se là người chăn chiên được chọn của Ngài. Giống như 13 năm làm tôi mọi tại xứ Ai Cập của Giô-sép và khoảng thời gian gần 3 năm của Phao-lô sau khi ông quy đạo (Ga 1:16-17), bốn mươi năm chờ đợi và làm việc của Môi-se đã chuẩn bị cho ông một cuộc đời chức vụ trung tín. Đức Chúa Trời không vội vã đặt tay trên các tôi tớ của Ngài rồi sai phái ngay nhưng vẫn dành thời gian để trang bị họ cho chức vụ.
    Sự trì hoãn của Đức Chúa Trời không phải là chứng cứ của sự không quan tâm, vì Ngài vẫn đang nghe những tiếng thở than của chúng ta, nhìn thấy nghịch cảnh của chúng ta, cảm nhận nỗi buồn rầu của chúng ta, và vẫn nhớ giao ước Ngài. Điều Ngài đã hứa Ngài sẽ thực hiện, vì Ngài không bao giờ phá vỡ giao ước của Ngài với dân Ngài. Khi đến thời điểm thích hợp, Đức Chúa Trời sẽ lập tức hành động.
    4. Người giải cứu được kêu gọi (Xu 2 :11-25) (Xu 3:1-4:17)
    Xu 2 :11-25.Môi-se đã trải qua 40 năm làm một người chăn chiên ở xứ Ma-đi-an (Cong 7:23 Xu 7:7) và trong suốt nhiều ngày và đêm ở trong đồng vắng, chắc chắn ông đã suy ngẫm về những việc thuộc về Đức Chúa Trời và cầu nguyện cho dân tộc của ông đang chịu sự họan nạn tại xứ Ai Cập. Việc Đức Chúa Trời kêu gọi những người đang bận rộn thật là có ý nghĩa: Ghê-đê-ôn đang đập lúa (Cac 6:1-40), Sa-mu-ên đang hầu việc trong đền tạm (ISa 3:1-21), Đa-vít đang chăm sóc bầy chiên (17:20), Ê-li-sê đang cày ruộng (IVua 19:19-21), bốn sứ đồ đang lo nghề đánh cá của họ (Mac 1:16-20) và Ma-thi-ơ đang thâu thuế (Mat 9:9). Đức Chúa Trời không có điều gì hay đẹp để nói về sự lười biếng (Ch 24 :30-34 Mat 25:26-27 IITe 3:10-12).
    -Điều Môi-se đã đuợc thấy (Xu 3:1-4). Đức Chúa Trời có thể sử dụng một bụi gai vô tri, đốt cháy nó lên, và biến nó thành một phép lạ; và đây cũng là điều Ngài muốn thực hiện đối với Môi-se. Một số người nhìn thấy nơi bụi gai cháy hình ảnh về dân tộc Y-sơ-ra-ên: họ là ánh sáng của Đức Chúa Trời giữa thế gian, họ bị bắt bớ nhưng không bị hao mòn đi. Nhưng bụi gai cháy cũng là hình ảnh về điều Đức Chúa Trời đã hoạch định cho Môi-se: ông là bụi gai yếu ớt nhưng Đức Chúa Trời là ngọn lửa ban cho quyền năng (19:18 24:17 Phu 4:24 Cac 13:20 He 12:29); và với sự vùa giúp của Đức Chúa Trời, Môi-se có thể hoàn thành được bất cứ công việc gì.
    -Điều Môi-se đã được nghe (Xu 3:5-10). Đức Chúa Trời phán cùng Môi-se và cho ông lòng tin quyết rằng Ngài là Đức Chúa Trời của tổ phụ ông và Ngài cảm biết được sự khốn cùng của dân Do Thái tại xứ Ai Cập. Giờ đây Ngài đã sẵn lòng giải cứu họ ra khỏi xứ Ai Cập và dẫn họ vào vùng Đất Hứa, và Môi-se sẽ là người lãnh đạo được Ngài chọn lựa [13] . Lời phán của Đức Chúa Trời “Này, ta sẽ sai ngươi” chắc hẳn đã khiến Môi-se kinh ngạc. Vì sao Đức Chúa Trời lại chọn một người thất bại ?
    -Điều Môi-se đã làm (3:1-4:17), Môi-se lẽ ra phải vui mừng vì Đức Chúa Trời cuối cùng đã đáp lời cầu nguyện, và lẽ ra ông phải đầu phục ý muốn Đức Chúa Trời mà thưa rằng “Có tôi đây, xin hãy sai tôi!”. Nhưng trái lại, ông đã lý luận với Chúa và cố tìm cách để trốn tránh sự kêu gọi thiêng liêng phải giải cứu Y-sơ-ra-ên ra khỏi ách nô lệ. 40 năm trước đó tại xứ Ai Cập, Môi-se đã từng hành động như một con ngựa hung hăng và vượt lao lên trước Đức Chúa Trời, nhưng giờ đây ông phản ứng như một con la bướng bỉnh và kháng cự lại với Đức Chúa Trời (Thi 32:9). Môi-se đã đưa ra 5 lý do ông không thể chấp nhận sự kêu gọi của Đức Chúa Trời.
    (1) “Tôi là một kẻ bất tài” (Xu 3:11-12). Điều Môi-se hay người khác nghĩ về ông thật sự không quan trọng. Đức Chúa Trời đã phán, và đó là tất cả những gì bảo đảm cho Môi-se rằng ông là người thích hợp cho công tác này. Phải chăng 40 năm chăn chiên đã dập tắt ngọn lửa trong tâm hồn ông, vì thế ông có ý nghĩ rằng ông không thể hầu việc Chúa ? Tại sao ông chỉ nhìn vào chính mình thay vì phải hướng về Chúa bởi đức tin ? “Ta sẽ ở cùng ngươi” là tất cả sự bảo đảm mà các tôi tớ của Đức Chúa Trời cần đến để được thành công (Gios 1:5 Es 41:10 43:5).
    (2) “Tôi không biết danh Ngài” (Xu 3:13-22). Với tư cách là người đại diện của Đức Chúa Trời, Môi-se phải giúp dân Do Thái biết rõ về đặc tính của Ngài. Dĩ nhiên, danh của Đức Chúa Trời là “Giê-hô-va” đã được biết đến từ những thế kỷ trước (Sa 4:26) và rất quen thuộc đối với các tộc trưởng (14:22 15:1 25:21-22 28:13 49:18). Điều Môi-se muốn hỏi là “Danh Ngài có nghĩa là gì ? Ngài là một Đức Chúa Trời như thế nào?” Đức Chúa Trời giải thích rằng Giê-hô-va là một danh xưng năng động, dựa trên động từ “là” hoặc “trở nên” của tiếng Hê-bơ-rơ. Ngài là Đấng tự hữu , là Đấng đã, đang và sẽ luôn là Đức Chúa Trời thành tín và đáng tin cậy, là Đấng tự xưng: “TA LÀ” [14]. Nhiều thế kỷ sau, Chúa Giê-xu sẽ sử dụng danh xưng “TA LÀ” và hoàn thiện nó: “Ta là bánh của sự sống” (Gi 6:35), “Ta là sự sáng của thế gian” (8:12), “Ta là gốc nho thật” (15:1) và vân vân.
    Đức Chúa Trời hằng hữu biết được sự kết cuộc ngay từ lúc khởi đầu, vì vậy Ngài có thể cho Môi-se biết chính xác điều gì sẽ xảy ra khi ông trở lại Ai Cập (Xu 3:16-22). Các trưởng lão Y-sơ-ra-ên sẽ chấp nhận Môi-se làm người lãnh đạo của họ và sẽ tin rằng Đức Chúa Trời sắp giải cứu họ. Hoàng đế của Ai Cập sẽ chống nghịch lại sứ điệp của Đức Chúa Trời và phải chịu những hình phạt khủng khiếp từ Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên sẽ được giải cứu khỏi xứ và sẽ tước đọat của cải của dân Ai Cập, và nhờ đó họ nhận lãnh được tiền công mà họ đã không được trả trong suốt những tháng năm làm nô lệ.
    (3) “Các trưởng lão sẽ không tin tôi” (Xu 4:1-9). “Họ sẽ không tin” cũng có nghĩa là “Tôi không tin”. Môi-se lo lắng về sự được ủy nhiệm của ông trước các trưởng lão Do Thái, vì thế Đức Chúa Trời ban cho ông ba dấu hiệu để thuyết phục các trưởng lão rằng ông thật sự là tôi tớ được chọn của Đức Chúa Trời. “Người Do Thái đòi một dấu hiệu” (ICo 1:22). Từ đây, Môi-se sẽ kinh nghiệm được quyền năng của Đức Chúa Trời và làm những phép lạ.
    (4) “Tôi không phải là một người nói lưu loát” (Xu 4:10-12). Môi-se hoàn toàn không hiểu sứ điệp về danh của Đức Chúa Trời và quyền năng mầu nhiệm của Ngài. Danh xưng ‘TA LÀ” là tất cả những gì chúng ta cần đến trong mọi hoàn cảnh của đời sống, và thật dại dột để chúng ta lý luận rằng “Tôi không phải là”. Nếu Đức Chúa Trời có thể biến gậy thành rắn và rắn thành gậy, nếu Ngài có thể gây ra và chữa trị bệnh phung, và nếu Ngài có thể biến nước thành huyết, thì Ngài cũng có thể giúp Môi-se rao ra Lời Ngài một cách năng quyền [15] Môi-se đang phạm sai lầm là chỉ nhìn vào chính mình thay vì phải hướng nhìn Đức Chúa Trời (Xu 6:12). Đức Chúa Trời là Đấng dựng nên chúng ta, vì thế Ngài có thể sử dụng những tài năng và năng lực Ngài ban cho chúng ta để hoàn thành những nhiệm vụ mà Ngài đã giao phó cho chúng ta.
    Môi-se đang bày tỏ một thái độ kiêu ngạo hay sự khiêm nhường thật ? Bốn mươi năm trước, ông cảm thấy mình hoàn toàn có thể đương đầu với kẻ thù và hành động thay cho dân tộc của ông, nhưng giờ đây ông đang thối lui và tự nhận mình là một kẻ thất bại vô dụng. Sự khiêm nhường không phải là tự đánh giá thấp mình; khiêm nhường là chúng ta không được nghĩ về chính mình nhưng phải để Đức Chúa Trời trở nên mọi sự. Tôi tớ khiêm nhường chỉ nghĩ về ý muốn và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, chớ không phải về sự bất xứng, sự thành công hay thất bại của chính người ấy. Môi-se đã che dấu sự kiêu ngạo và vô tín qua một lời thú nhận hời hợt về sự yếu đuối của mình.
    (5) Ai khác có thể làm việc ấy tốt hơn (Xu 4:13-17). “Ôi lạy Chúa, xin hãy sai ai khác làm việc ấy” (c.13 NIV). Môi-se gọi Ngài là “Chúa” nhưng từ chối vâng theo những mệnh lệnh của Ngài (Lu 6:46 Cong 10:14). Đa số trong chúng ta có thể hiểu được thái độ này vì chúng ta cũng đã phạm sai lầm giống như vậy. Nếu Đức Chúa Trời không phải là Chúa trên tất cả, thì Ngài chẳng phải là Cứu Chúa. Trong cơn giận dữ của Ngài, Đức Chúa Trời đã chỉ định A-rôn làm người phát ngôn cho Môi-se, nhưng A-rôn không luôn là một người giúp đỡ cho em của mình. Chính A-rôn đã hiệp cùng dân sự trong việc làm ra con bò vàng (Xu 32:35), và A-rôn cùng chị gái là Mi-ri-am đã chỉ trích Môi-se và vợ của người và đã đem sự rắc rối đến cho trại quân (Dan 12:1-16). Có một gợi ý trong (Xu 4:14) cho rằng khi tiếp nhận A-rôn, Môi-se đang làm lẫn lộn các chức vụ trong thời Cựu Ước, vì A-rôn phải là thầy tế lễ và Môi-se là tiên tri. Trong cơn giận của Ngài ĐCT ban cho chúng ta điều chúng ta đã đòi hỏi một cách ích kỷ thì sự ban cho ấy hiếm khi trở nên một phước hạnh (Dan 11:33 Os 13:11). Một trong những hình phạt đau đớn nhất Đức Chúa Trời có thể cho xảy ra là để mặc cho dân Ngài đi theo ý riêng của họ.
    Các sự kiện diễn ra sau đó chứng tỏ rằng Môi-se hoàn toàn có khả năng rao ra Lời Đức Chúa Trời bằng quyền năng mạnh mẽ, cả với dân sự của ông và với vua Ai Cập. Như lịch sử của Y-sơ-ra-ên bày tỏ, bạn sẽ thấy rằng Môi-se đã rao ra một vài sứ điệp hùng hồn trong quyền năng của Chúa. Sách Phục Truyền luật lệ ký đã ghi lại lời chúc tạm biệt đầy ý nghĩa của ông.
    Bài học ở đây thật rõ ràng: Đức chúa Trời biết chúng ta rõ hơn chúng ta biết về bản thân mình, vì thế chúng ta phải tin cậy Ngài và vâng theo điều Ngài bảo chúng ta làm. Khi chúng ta nói cùng Đức Chúa Trời về những sự yếu đuối của mình, không phải chúng ta đang chia sẻ với Ngài điều gì mà Ngài chưa biết (Cac 15:1-20 ISa 9:21 Gie 1:6). Ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ đưa bạn đến nơi mà quyền năng Đức Chúa Trời không thể giúp bạn, vì vậy hãy bước đi bởi đức tin nơi những lời hứa của Ngài.
    Xu 3:1-22; xem giải nghĩa Xu 2:11-25
    Xu 4:1-17; xem giải nghĩa Xu 2:12-25
    5. Người giải cứu được sai đi (Xu 4:18-31)
    Khi bạn đã sống ở một nơi trong suốt 40 năm, làm sao bạn có thể từ bỏ nơi đó để đi đến một nơi nào khác, đặc biệt là khi bạn sắp đi đến một nơi đầy nguy hiểm ? Đoạn Kinh Thánh đã mô tả 5 điều Đức Chúa Trời ban cho Môi-se để khích lệ ông khi ông biết tìm kiếm và vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
    Lời chúc phước của cha vợ ông (4:18). Môi-se không thể đi mà không trước hết thông báo cho cha vợ mình để được ông cho phép và chúc phước cho. Tuy nhiên, không có sự ghi chép nào cho thấy Môi-se đã kể cho Giê-trô về cuộc gặp gỡ của ông với Đức Giê-hô-va và sự kêu gọi của Ngài để giải cứu cho dân Y-sơ-ra-ên khỏi vòng nô lệ. Tất cả những gì ông cho Giê-trô biết, đó là ông muốn đi đến xứ Ai Cập để thấy gia đình ông có còn sống sót hay không.
    Những lời hứa của Đức Chúa Trời (4:19-23). Khi Môi-se bước ra bởi đức tin, Đức Chúa Trời đã phán cùng ông và khích lệ ông. Đức Chúa Trời bảo Môi-se đừng sợ phải trở lại xứ Ai Cập vì những kẻ thù của ông đã chết. Sau đó Ngài đảm bảo cho Môi-se rằng Ngài sẽ giúp cho ông làm được những dấu lạ nhưng Pha-ra-ôn sẽ cứng lòng và bởi đó ông ta càng chuốc lấy sự trừng phạt từ nơi Chúa. Thậm chí trước khi Môi-se đến xứ Ai Cập, ông đã biết mình sẽ phải chiến trận. Sẽ không dễ dàng để thuyết phục được Pha-ra-ôn cho những người nô lệ Do Thái ra đi một cách tự do.
    Đức Chúa Trời cũng bảo đảm với Môi-se về tình yêu đặc biệt của Ngài dành cho dân Y-sơ-ra-ên, là con đầu lòng của Ngài (Gie 31:9 Os 11:1). Trong thế giới cổ đại, con đầu lòng trong mỗi gia đình có những quyền hạn cùng những đặc quyền đặc biệt, và Đức Chúa Trời sẽ bảo đảm rằng Y-sơ-ra-ên, con đầu lòng của Ngài sẽ được giải cứu và được ban thưởng, trong khi con đầu lòng của Ai Cập sẽ bị giết. Đức Chúa Trời nhắc nhở Môi-se rằng ông là tôi tớ của một Đức Chúa Trời vĩ đại, là Đấng biết rõ những gì Ngài sẽ làm. Bí quyết cho sự chiến thắng là đức tin nơi Chúa.
    Sự vâng lời của Sê-phô-ra (Xu 4:24-26). Môi-se đã không chú trọng đến việc làm phép cắt bì cho Ê-li-sê, người con trai thứ hai của ông và Đức Chúa Trời quật ngã Môi-se bằng một căn bệnh gần như cất đi mạng sống của ông. Chúng ta có cảm tưởng rằng khi Môi-se làm phép cắt bì cho Ghẹt-sôn, con đầu lòng của ông, Sê-phô-ra đã bị kinh hoàng bởi nghi thức này và do đó không cho Ê-li-sê chịu phép cắt bì. Môi-se đã để cho bà làm theo ý riêng của bà, và điều này không làm đẹp lòng Chúa. Xét cho cùng, Môi-se không thể lãnh đạo dân Y-sơ-ra-ên nếu ông bất tuân một trong những mạng lệnh chủ yếu của Chúa (Sa 17:10-14). Thậm chí nếu dân Do Thái không biết được điều này thì Đức Chúa Trời vẫn biết về sự bất tuân của ông, và Ngài đã rất tức giận về ông.
    Tôi tớ của Chúa phải cẩn thận để “khéo quản lý gia đình riêng của mình” (ITi 3:4 NIV) nếu người đó muốn hưởng những phước hạnh của Chúa, vì “nếu có ai không biết quản lý gia đình riêng của mình người ấy làm sao có thể chăm sóc Hội Thánh của Đức Chúa Trời ?” (c.5, NIV).
    Sự đến của A- rôn (Xu 4:27-28). Tại Hô-rếp (tên khác của núi Si-nai 19:10-11 Phu 4:10) Môi-se đã gặp A-rôn anh của ông, người sẽ là bạn đồng hành và là người cộng tác của ông trong 40 năm kế tiếp. Khi nói đến sự hầu việc Chúa thì “hai người hơn một” (Tr 4:9). Chúa Giê-xu đã sai những môn đồ của Ngài đi ra theo từng cặp (Mac 6:7) và Đức Chúa Trời đã kêu gọi Phao-lô với Ba-na-ba cùng đem Tin Lành đến cho dân ngoại (Cong 13:2). Dù vẫn phạm nhiều sai lầm, như tất cả chúng ta đều phạm phải, nhưng A-rôn đã trung tín thi hành chức vụ cùng với Môi-se và đã trở nên người sáng lập chức tế lễ tại Y-sơ-ra-ên.
    Đức tin của một dân tộc (Xu 4:29-31). Môi-se đã bày tỏ nỗi lo sợ rằng các trưởng lão Do Thái sẽ không tin sứ điệp của ông hoặc sẽ không chấp nhận chức vụ lãnh đạo của ông, nhưng họ đã tin, và những người còn lại trong dân sự cũng tin khi thấy quyền năng Đức Chúa Trời được bày tỏ qua những dấu hiệu. Khi nghe rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến họ và sắp giải cứu cho họ, họ đã cúi đầu thờ lạy với lòng biết ơn Ngài. Thờ phượng là sự đáp ứng hợp lẽ của dân sự Đức Chúa Trời đối với ân điển và sự nhân từ của Ngài.
    Đây là thời gian tạm lắng trước thời kỳ sóng gió sắp xảy ra. Đức Chúa Trời sẽ tuyên chiến cùng Ai Cập và Pha-ra-ôn, và cuộc sống của người dân Do Thái sẽ trở nên khó khăn hơn, trước khi nó có thể trở nên tốt đẹp hơn.
    2. CHIẾN TRANH ĐƯỢC TUYÊN BỐ (Xu 5:1-8:19)
    Nếu A-rôn và Môi-se có vinh dự được nghe Jonathan Edwards giảng bài giảng nổi tiếng của ông “Tội nhân trong tay của một Đức Chúa Trời giận dữ” (Sinners in the Hands of an angry God) có lẽ họ sẽ la lên rằng “A-men !” khi Edwards nói :
    “Mọi vua trên đất, trước mặt Đức Chúa Trời, chỉ như cào cào; họ chẳng là gì cả, và còn thua con số không: tình yêu và sự thù ghét của họ thật đáng khinh. Cơn thạnh nộ của Vua muôn vua vĩ đại, còn kinh khiếp hơn cả cơn giận của họ vì sự uy nghi của Ngài vĩ đại hơn của họ” [16]
    Khi nghe được những lời này, Môi-se và A-rôn hẳn sẽ nhớ lại cái ngày mà họ đứng trước vị vua của một trong những vương quốc lớn nhất của thế giới cổ đại [17] . Họ được Đức Chúa Trời sai đi để thông báo cho Pha-ra-ôn rằng nếu ông ta không giải phóng cho dân Do Thái thì Đức Giê-hô-va sẽ tuyên chiến với ông ta cùng các thần của ông ta, và Ngài sẽ không ngừng tấn công xứ Ai Cập cho đến khi dân Y-sơ-ra-ên được tự do. Hai sứ giả của Đức Chúa Trời có một sứ điệp từ Chúa: “Hãy để cho dân ta đi, nếu không... .” [18] . Chúng ta có thể đoán được sự đáp ứng của Pha-ra-ôn đối cùng Môi-se và A-rôn: ông ta khước từ mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, khinh thường những phép lạ Môi-se và A-rôn đã làm, và cứng lòng cố tình chống lại Chúa.
    1. Pha-ra-ôn chối bỏ Lời Đức Chúa Trời (Xu 5 :1-23) (Xu 5:1-6:27)
    Yêu cầu của họ là một yêu cầu đơn giản: Môi-se và A-rôn muốn được phép đưa dân Do Thái vào đồng vắng khoảng ba ngày đường để đến một nơi mà họ có thể thờ phượng Chúa [19] . Sáu ngày đi về và một ngày dành để thờ phượng sẽ là một tuần dân sự không làm việc của mình, nhưng Môi-se không nói gì về việc họ sẽ đi trong bao lâu hay khi nào sẽ trở về. Sự thiếu sót này khiến Pha-ra-ôn nghi ngờ, và ông ta không biết mục đích chuyến đi của họ có phải là trốn thoát, thay vì là thờ phượng hay không. Có ba câu hỏi liên quan đến tình tiết này.
    Pha-ra-ôn: “Tại sao ta phải vâng lời Chúa?” (Xu 5:1-3). Đây là một câu hỏi hợp lý vì dân Ai Cập xem Pha-ra-ôn là một vị thần, và tại sao thần của họ phải vâng theo một vị thần xa lạ mà cả Pha-ra-ôn và dân chúng đều không biết ? Hơn nữa, vị thần mới này có quyền gì để gọi dân Y-sơ-ra-ên là “dân Ta” khi dân Do Thái đang là nô lệ của Pha-ra-ôn ? Nếu Pha-ra-ôn vâng theo sắc lệnh này, ông ta sẽ nhận biết một vị thần còn vĩ đại hơn chính ông, và ông ta không có ý định sẽ làm điều đó. Trong sự kiêu ngạo và sự an toàn sai lầm, Pha-ra-ôn sẽ không nghe theo lời của Đức Chúa Trời hằng sống.
    Môi-se nói đến việc dân Y-sơ-ra-ên có thể ở trong hiểm họa bị tiêu diệt nếu họ không vâng lời Chúa. Tại sao ông phải nêu lên điều đó ? Có lẽ Môi-se ngụ ý rằng sự bướng bỉnh của Pha-ra-ôn có thể khiến ông ta mất đi những nô lệ của mình, và rằng ông ta nên cho dân Do Thái nghỉ việc một tuần, như thế, sẽ bảo vệ được nguồn lao động rẻ mạt của mình. Tuy nhiên, điều này còn có liên quan đến một yếu tố khác: Môi-se đang cho Pha-ra-ôn biết rằng Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ là một Đức Chúa Trời năng quyền, Ngài có thể giết chết dân Ai Cập cũng như dân Do Thái. Pha-ra-ôn phải hiểu rằng ông ta không được xem nhẹ những yêu cầu mà Môi-se và A-rôn đã đưa ra vì đây là một vấn đề có liên quan đến sự sống và cái chết.
    Pha-ra-ôn: “Tại sao phải ngưng công việc?” (Xu 5:4-21). Sự nô dịch của dân Y-sơ-ra-ên đã đẩy mạnh sự tăng trưởng cho nền kinh tế của Ai Cập, và Pha-ra-ôn sẽ không từ bỏ một điều gì có lợi. Như những nhà độc tài đã thi hành hằng bao thế kỷ, Pha-ra-ôn đã bóc lột một dân tộc bị cầm hãm và không quan tâm gì đến phúc lợi của họ. Dù Pha-ra-ôn không hề nhận biết Ngài, Đức Chúa Trời vẫn thực hiện kế hoạch trọn vẹn của Ngài để giải phóng cho dân Ngài và làm vinh hiển danh cao quý của Ngài, và không một điều gì Pha-ra-ôn có thể làm lại ngăn trở được sự thành công trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.
    Thay vì giảm bớt sự vất vả trong công việc cho dân Do Thái, Pha-ra-ôn lại khiến họ phải lao động thậm chí càng cực nhọc hơn. Ông ta không cho họ rơm cần thiết để làm ra gạch, nhưng vẫn ra lệnh rằng họ phải đạt đến chỉ tiêu hằng ngày như đã định. Ông ta lý luận rằng: “Nếu họ có quá nhiều thời gian đến nỗi họ có thể nghỉ được một tuần thì hãy để họ tự đi tìm rơm cho mình. Công việc làm thêm này sẽ cất khỏi tâm trí họ những tư tưởng như thế”. Sứ điệp của Đức Chúa Trời qua Môi-se và A-rôn chỉ là “những lời vô ích” đối với vua (c.9, “những lời giả dối” NIV).
    Khi công việc của họ trở nên không thể chịu đựng nổi vì những luật lệ mới, dân Hê-bơ-rơ phái những đốc công đến phản đối Pha-ra-ôn . Các nô lệ được quyền đến gần vua là điều bất thường, nhưng Pha-ra-ôn biết rõ điều ông ta đang làm. Ông bảo với họ rằng Môi-se và A-rôn đã yêu cầu ông, và điều này khiến các đốc công Do Thái trở nghịch với những người lãnh đạo mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ. Các đốc công cho Môi-se và A-rôn biết điều họ nghĩ về hai người và nói xấu hai người giữa vòng dân Do Thái. Đây không phải là lần cuối cùng Môi-se bị dân sự của mình chống đối vì họ không hiểu được điều Chúa đang làm cho họ.
    Thay vì đi đến Pha-ra-ôn để phàn nàn, các đốc công lẽ ra nên đến cùng Môi-se và A-rôn để đề nghị họ mời các trưởng lão đến và có một buổi nhóm cầu nguyện. Họ lẽ ra phải nhắc nhở chính mình về những lời hứa Đức Chúa Trời đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên và bởi đức tin mà cầu xin để nhận được những lời hứa này. Quả là một sự khác biệt lẽ ra phải được thực hiện cho chính họ và những người lãnh đạo của họ. Than ôi, suốt 40 năm kế tiếp, việc phàn nàn về ý muốn của Đức Chúa Trời và chỉ trích những người lãnh đạo của Đức Chúa Trời là đặc tính của dân Y-sơ-ra-ên; nhưng liệu dân sự của Đức Chúa Trời vào ngày nay có khác biệt gì nhiều chăng.
    Môi-se: “Tại sao Ngài sai tôi đi?” (Xu5:22-6:27). Môi-se đã làm điều mà những nhà lãnh đạo thuộc linh cần phải làm khi sự ra đi là rất khó khăn: ông đem gánh nặng của mình đến với Chúa và thành thật nói với Ngài về hoàn cảnh này. Thật dễ thấy rằng Môi-se đã thất vọng và lo âu. Ông đổ lỗi cho Đức Chúa Trời về cách Pha-ra-ôn đã ngược đãi dân Do Thái, và ông lên án Ngài đã chẳng làm gì cả. Ông hỏi: “Có phải đây là lý do Ngài sai tôi ?” (5:22 NIV). Nói cách khác, “có phải Ngài sẽ giữ những lời hứa của Ngài với tôi hay không ?”.
    Những tôi tớ được chọn của Đức Chúa Trời phải chuẩn bị cho sự chống đối và hiểu lầm, vì đó là một phần của ý nghĩa về việc làm một người lãnh đạo: và các lãnh đạo phải biết làm thế nào để ở riêng với Đức Chúa Trời, tuôn đổ lòng mình ra, và tìm kiếm năng lực cùng sự khôn ngoan của Ngài. Những người lãnh đạo thuộc linh phải can đảm trước mặt con người, nhưng tan vỡ trước Đức Chúa Trời (Gie 1:19) và phải cầu xin để được nhận lãnh những lời hứa của Đức Chúa Trời và làm theo ý muốn của Ngài thậm chí khi mọi việc dường như chống nghịch lại với mình.
    Chúa đã khích lệ tôi tớ của Ngài trong cơn khốn khó như thế nào ? Trước hết, Đức Chúa Trời phán với ông và ban cho ông những lời hứa thật tuyệt vời (Xu 6:1-8). Ngày nay chúng ta có Lời Đức Chúa Trời đã được viết ra, nhưng Môi-se đã nghe rõ tiếng Đức Chúa Trời phán cùng ông (33:11 Phu 34:10). Bốn lần trong lời phán này, Đức Chúa Trời nhắc nhở Môi-se “Ta là Đức Giê-hô-va” (Xu 6:2,6,7,8) [20] và sử dụng danh xưng trong giao ước của Ngài là “Giê-hô-va”; và bảy lần Đức Chúa Trời phán “Ta sẽ”. Khi chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị, và chúng ta cầu hỏi những lời hứa của Ngài, thì chúng ta có thể kinh nghiệm được sự bình an và can đảm trong những cuộc chiến của đời sống. Đức Chúa Trời đã hứa đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, giải phóng họ khỏi ách nô lệ, và đem họ vào Vùng Đất Hứa. Điều quan trọng nhất trong bảy lời hứa “Ta sẽ” đó là: “Và ta sẽ nhận các ngươi làm dân ta” (c.7), đây là nền tảng cho tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm cho dân Do Thái.
    Đức Chúa Trời cũng nhắc Môi-se về danh giao ước của Ngài là “Giê-hô-va” (6:3). Một phương cách để biết về Đức Chúa Trời nhiều hơn là chú ý đến những danh xưng của Ngài. Các tộc trưởng biết Đức Chúa Trời là “Đức Chúa Trời Toàn Năng” [21] mà theo tiếng Hê-bơ-rơ là “El Shaddai- Đức Chúa Trời toàn năng, toàn quyền”, và họ biết rằng danh Đức Chúa Trời là “Giê-hô-va” (Yahwel); nhưng họ đã không hiểu được một cách trọn vẹn ngụ ý của danh xưng này. Đức Chúa Trời đã giải thích danh “Giê-hô-va” cho Môi-se khi Ngài kêu gọi ông ở Ma-đi-an (Xu 3:13-14), nhưng giờ đây Ngài kết hợp danh Ngài với giao ước mà Ngài sẽ lập với dân sự của Ngài (6:4). Giê-hô-va là danh đặc biệt của Đức Chúa Trời, liên kết Ngài với Y-sơ-ra-ên và những giao ước của Ngài, và danh này rất thiêng liêng đối với dân Do Thái, ngay cả ngày nay cũng vậy, đến nỗi họ sẽ không nói đến danh ấy khi đọc Kinh Thánh trong nhà hội. Thay vào đó, họ thay bằng danh “Adonai” (Chúa hay Thầy), hoặc chỉ nói là “Danh”.
    Thứ ba, Chúa bảo đảm với Môi-se rằng Ngài cảm nhận được những gánh nặng của dân Ngài và sẽ hành động thay họ (Xu 6:5 2:24). Đức Chúa Trời không phải không biết về những nhu cầu của họ hay không quan tâm đến sự hoạn nạn của họ, Ngài cũng không thêm vào những vấn đề khó khăn của họ bằng cách trì hoãn việc giải cứu cho họ. Mọi sự đang tiến hành theo kế hoạch của Ngài và không điều gì Đức Chúa Trời đã hoạch định phải thất bại. Bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy Chúa đã từ bỏ chúng ta và thật sự không quan tâm đến chúng ta, hãy nhớ những lời hứa bảo đảm của Ngài, “Hãy trao mọi điều lo lắng mình cho Ngài, vì Ngài hay chăm sóc anh em” (IPhi 5:7).
    Thứ tư, Chúa ra lệnh cho Môi-se đến nói với Pha-ra-ôn một lần nữa (Xu 6:9-13). Môi-se đã đi đến sự nản lòng cùng cực khi các trưởng lão Do Thái thậm chí không muốn nghe ông. Họ đã quên đi những dấu lạ và những lời hứa mà Môi-se và A-rôn đã bày tỏ cho họ (4:29-31), và trong nỗi thống khổ của mình họ bị thuyết phục rằng hoàn cảnh này hoàn toàn vô vọng. Môi-se và các trưởng lão đã bỏ cuộc nhưng Đức Chúa Trời đã không bỏ cuộc đối với Môi-se. Môi-se vẫn là tôi tớ của Đức Chúa Trời, và Ngài giao cho ông nhiệm vụ trở lại cung điện và đối diện với Pha-ra-ôn một lần nữa. Trong những lúc nản lòng, điều tốt nhất cần làm là bỏ qua những cảm xúc của mình và chỉ làm điều gì Đức Chúa Trời bảo chúng ta làm, để lại những hậu quả cho Ngài lo liệu.
    Không phải ngẫu nhiên mà có bản phả hệ ở đây (Xu 6:14-27), vì đây là cách thức của Chúa nhắc nhở chúng ta, là những độc giả, rằng Đức Chúa Trời đã chuẩn bị cho Môi-se và A-rôn chức vụ của họ tại xứ Ai Cập. Việc họ đến từ dòng dõi của Gia-cốp cũng nằm trong sự định liệu của Đức Chúa Trời. Ru-bên là con đầu lòng của Gia-cốp, đến Si-mê-ôn, rồi Lê-vi, tổ phụ của Môi-se và A-rôn. “Trước khi tạo nên ngươi trong lòng mẹ, ta đã biết ngươi, trước khi ngươi được sinh ra ta đã thánh hóa ngươi, và ta lập ngươi làm tiên tri cho các nước” (Gie 1:5 NKJV). Sự kêu gọi của Đức Chúa Trời nghĩa là sự ban cho năng lực của Đức Chúa Trời, và điều gì Đức Chúa Trời đã bắt đầu thì Ngài luôn hoàn tất (Eph 2:10 Phi 1:6)
    2. Pha-ra-ôn xem thường những phép lạ của Đức Chúa Trời (Xu 5 :1-23) (Xu 6 :28-8:7)
    Trong cuộc chạm trán với Pha-ra-ôn cho đến thời điểm này, Môi-se và A-rôn chỉ mới gởi đến tối hậu thư của Đức Chúa Trời. Giờ đây đã đến lúc họ bày tỏ quyền năng của Đức Chúa Trời và làm những dấu lạ để cho thấy rằng họ thật sự được Đức Chúa Trời sai phái. Vẫn còn điều gì đó chưa sẵn lòng, Môi-se nhất định rằng ông không phải là một người ăn nói giỏi; vì thế Đức Chúa Trời nhắc cho Môi-se nhớ rằng có thể A-rôn sẽ là người phát ngôn cho ông (6:26-7:2 4:15-16). Tuy nhiên, Chúa cho Môi-se và A-rôn biết rằng cần phải có hơn hai phép lạ để thực hiện mục đích của Ngài, vì Ngài sẽ thêm lên các dấu lạ và sự lạ trong xứ Ai Cập.
    Trước khi chúng ta nghiên cứu một loạt các phép lạ đáng chú ý này, chúng ta phải tập trung vào những lý do mà Chúa đã dùng phương cách này trong việc đối phó với Pha-ra-ôn và giáng sự trừng phạt qua các dấu lạ trên xứ Ai Cập. Dĩ nhiên, mục đích cuối cùng là khiến Pha-ra-ôn và dân Ai Cập phải nhượng bộ và sẵn sàng để cho dân Do Thái rời khỏi xứ. Nhưng đồng thời, Chúa đang bày tỏ chính Ngài cho dân Y-sơ-ra-ên và cả dân Ai Cập, và chứng minh rằng chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời (7:5)
    Những phép lạ và dịch lệ cũng là cách thức mà Đức Chúa Trời dùng để xét đoán các thần của Ai Cập và cho thấy rằng các thần này là giả dối và hư không. “Ta sẽ xét đoán các thần của xứ Ai Cập, ta là Đức Giê-hô-va” (12:12 18:11 Dan 33:4). Có hơn 80 thần khác nhau được thờ phượng tại Ai Cập, nhưng các thần này không thể làm được gì để giải cứu xứ này và dân sự của nó khỏi những sự trừng phạt khủng khiếp do Đức Giê-hô-va giáng xuống. Nếu không còn điều gì khác nữa, dân Ai Cập sẽ biết rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống.
    Nhưng dân Y-sơ-ra-ên cũng cần được học bài học này. Theo (Xu 20:1-9), một số người Do Thái đã bắt đầu thờ phượng các thần của Ai Cập, và khi họ được giải cứu khỏi nơi này, họ đã mang theo các thần của mình ! Phải chăng họ đã đi đến sự thỏa hiệp trong niềm tin của họ với hy vọng có thể làm hài lòng những người giam giữ họ và sẽ nhận được sự đối xử tốt hơn ? Nhưng làm sao họ có thể từ bỏ Đức Giê-hô-va sau khi đã được chứng kiến tất cả những sự bày tỏ về quyền năng của Ngài ? “Tại Ai Cập tổ phụ chúng tôi đã không hiểu những phép lạ của Chúa; họ cũng chẳng nhớ lại sự nhân từ dư dật của Chúa(Thi 106:7 NKJV).
    (1) Dấu hiệu về con rắn (Xu 7:8-13). Đức Chúa Trời đã ban cho Môi-se dấu hiệu này khi Ngài gọi ông ở Ma-đi-an (4:1-5), nhưng giờ đây chính A-rôn đang làm dấu đó trong cung điện của Pha-ra-ôn. Rắn là một trong những sinh vật đặc biệt trong tôn giáo của dân Ai Cập, đặc biệt là rắn hổ mang, nó là một biểu tượng của sự bất diệt. Cây gậy của A-rôn đã nuốt hết những con rắn do các thuật sĩ làm ra.
    Ba dấu lạ mà chúng ta đang xem xét – cây gậy biến thành rắn, nước biến thành huyết và sự xâm lấn của loài ếch – có chung một thực tế là tất cả các dấu lạ đều được các thuật sĩ trong hoàng cung của Pha-ra-ôn bắt chước lại. Có lẽ “giả mạo” là từ dùng chính xác hơn, vì điều họ làm có vẻ giống như một trò ma thuật lừa dối. Tuy nhiên, Sa-tan có thể ban cho người của hắn quyền phép để thực hiện những “phép lạ giả dối” (IITe 2:9-10 Mat 24:24 Kh 13:11-15), và có thể đây là nguồn quyền phép của họ.
    Sứ đồ Phao-lô đã dùng những thuật sĩ Ai Cập này để giảng dạy về một lẽ thật quan trọng: trong những ngày sau rốt, Sa-tan sẽ tấn công vào lẽ thật của Đức Chúa Trời và dân sự của Đức Chúa Trời bằng cách bắt chước những công việc của Ngài, Phao-lô thậm chí đã kể tên hai trong số những thuật sĩ hoàng cung: “Xưa kia Gian-nét với Giam-be đã chống trả Môi-se thể nào, thì những kẻ này cũng chống trả lẽ thật thể ấy” (IITi 3:8 NIV). Như Chúa Giê-xu đã dạy trong ví dụ về những hạt giống (Mat 13:24-30,36-43), Sa-tan là một kẻ giả mạo, và hắn đã “gieo” những Cơ Đốc nhân giả dối vào giữa thế gian này. Phao-lô gọi họ là “anh em giả dối” (IICo 11:26). Sa-tan có một phúc âm giả mạo (Ga 1:6-9), một sự công bình giả mạo (Ro 10:1-3), và thậm chí có cả những người thi hành chức vụ giả mạo để rao ra những lời giả dối của hắn (IICo 11:13-15). Một ngày nào đó Sa-tan sẽ tạo ra một Christ giả là kẻ sẽ lừa dối cả thế giới (IITe 2:1-12).
    Các thuật sĩ của Pha-ra-ôn đã biến những cây gậy thành những con rắn và nước thành huyết, và cũng có thể làm ra những con ếch ở trong xứ. Sa-tan chống đối công việc của Đức Chúa Trời bằng cách bắt chước những việc ấy, và qua cách này nó xem thường quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Thái độ của Pha-ra-ôn là: “Bất cứ việc gì Giê-hô-va có thể làm thì chúng ta có thể làm tốt hơn !” Dĩ nhiên, ông ta không thể thực hiện được điều này, nhưng điều đó đủ để bênh vực cho sự kiêu ngạo của ông ta và khiến ông ta không muốn đầu phục nơi Chúa.
    (2) Dấu hiệu nước biến thành huyết (Xu 7:14-25). Phép lạ này là tai vạ đầu tiên trong 10 “tai vạ” Đức Chúa Trời giáng xuống Ai Cập, và tai vạ cuối cùng (sự chết của con đầu lòng tại lễ Vượt qua) đã đưa đến việc rời khỏi xứ Ai Cập của dân Do Thái [22] . Từ “tai vạ” (9:14 11:1 12:13) có nghĩa là “một cú đánh, một đòn đánh” chỉ ra rằng bàn tay của Chúa đang trừng phạt dân Ai Cập.
    Pha-ra-ôn càng chống cự với Đức Chúa Trời thì những hình phạt càng trở nên nghiêm trọng hơn, ba tai vạ đầu rất khốn khổ (nước thành huyết, ếch nhái, và muỗi); ba tai vạ kế tiếp thật đau đớn và gây nhiều tổn hại (ruồi mòng, sự chết của súc vật, và ghẻ chốc), và bốn tai vạ cuối rất nguy hiểm và gây tàn hại (mưa đá, cào cào, sự tối tăm, và sự chết của con đầu lòng). Kẻ phạm tội càng chống lại ý muốn của Đức Chúa Trời và từ chối nghe Lời Ngài lâu bao nhiêu thì Ngài cần phải phán với họ “càng lớn” bấy nhiêu qua những hình phạt của Ngài.
    Không chỉ nước của sông Nile đã biến thành huyết, mà những nguồn nước khác trong xứ, và thậm chí là nước được trữ trong những bình gỗ và đá cũng trở nên như thế. Đây là một hình phạt trên chính sông Nile, là con sông được xem như một vị thần, và trên Hapi, thần của sông Nile, và Isis, nữ thần của sông Nile. Sông Nile là nguồn nước chính của xứ này, đem lại sự sống cho con người và mùa màng của họ, vì vậy việc cất đi nguồn nước của họ là một hình phạt mang tính tàn phá. Dân chúng đã đào những giếng nước gần sông này để lấy nước sạch, nhưng cá dưới sông đã chết và thối rữa bốc lên một mùi hôi thối khủng khiếp. Tai vạ này và những hậu quả của nó đã kéo dài trong suốt một tuần lễ (9:25) [23] .
    Các thuật sĩ sử dụng một ít nước giếng còn tinh khiết và bắt chước lại phép lạ này. Nhưng nếu họ thật sự có phép thuật, tại sao họ không đảo ngược lại phép lạ ? Điều này sẽ chứng tỏ họ có năng quyền hơn Giê-hô-va và sẽ khiến Pha-ra-ôn cùng dân sự mến chuộng họ. Dĩ nhiên, câu trả lời là họ không có quyền năng để đảo ngược việc Môi-se và A-rôn đã làm; các thuật sĩ đạt được kết quả như trên là bởi trò lừa phỉnh của họ, chớ không phải bởi quyền năng siêu nhiên nào.
    (3) Dấu về sự xâm lấn của loài ếch nhái (Xu 8:1-7). Một lần nữa Môi-se và A-rôn ra lệnh cho Pha-ra-ôn “Hãy để dân ta đi!” và cảnh cáo ông ta rằng một tai vạ khác sẽ đến “Đất chúng nó sanh ếch nhái nhiều lúc nhúc, trong cung thất của các vua chúng” (Thi 105:30). Ở Ai Cập, ếch nhái là một biểu tượng của sự màu mỡ, và Heqet, nữ thần của sự hồi sinh, sự màu mỡ và sự sinh sản, có cái đầu của một con ếch.
    Sự cảnh cáo của Chúa rất cụ thể. Ngài cho Pha-ra-ôn biết rằng ếch nhái sẽ vào nhà cửa, giường ngủ, lò bếp và các dụng cụ nấu ăn, và thậm chí sẽ bám vào thân thể của con người. Dĩ nhiên, các thuật sĩ một lần nữa đã giả mạo phép lạ này, vì nếu họ thật sự khôn ngoan và tài giỏi thì họ đã có thể làm vô hiệu hóa nó.
    Xu 6:1-29; xem giải nghĩa Xu 5:1-23
    Xu 7:1-24; xem giải nghĩa Xu 5:1-23
    Xu 8:1-7; xem giải nghĩa Xu 5:1-23
    3. Pha-ra-ôn cứng lòng nghịch với Đức Chúa Trời (Xu 8:8-19)
    Pha-ra-ôn bắt đầu cứng lòng khi Môi-se và A-rôn làm dấu lạ đầu tiên trước mặt ông ta như lời Đức Chúa Trời đã phán (7:3,13-14). Pha-ra-ôn còn cứng lòng hơn nữa khi các thuật sĩ của ông ta giả mạo được các dấu lạ này (c.22), và ngay cả khi họ không thể bắt chước lại việc Môi-se và A-rôn đã làm (8:19), khi Môi-se ngưng việc dừng tai vạ về ếch nhái, lòng Pha-ra-ôn lại trở nên cứng cỏi (c.15). Sự cứng lòng này cứ tiếp diễn trong suốt toàn bộ chuỗi tai vạ (8:32 9:7,34-38 13:15).
    Cứng lòng nghĩa là gì ? Điều đó nghĩa là đã thấy rõ bằng chứng về bàn tay Đức Chúa Trời đang hành động mà vẫn từ chối tiếp nhận Lời Ngài và đầu phục ý muốn Ngài. Điều đó có nghĩa là chống đối Đức Chúa Trời bằng cách bày tỏ sự vô ơn và sự bất tuân mà không hề có sự kính sợ Chúa hay sự xét đoán của Ngài. Những người cứng lòng cùng đồng thanh với Pha-ra-ôn “Giê-hô-va là ai mà ta phải vâng lời người ?” (5:2).
    Nhưng câu chuyện được ghi chép lại ở đây cũng cho thấy rõ là bằng cách giáng xuống những hình phạt khác nhau, Đức Chúa Trời đang làm cứng lòng của Pha-ra-ôn (4:21 7:3 9:12 10:1,20,27 11:10 14:4,8,17). Phải chăng điều này có nghĩa là Đức Chúa Trời bất công và Pha-ra-ôn không phải chịu trách nhiệm về những gì ông ta đã làm ? Không phải như thế, vì cùng một mặt trời làm tan chảy băng đá cũng có thể làm cứng đất sét. Tất cả tùy thuộc vào bản chất của vật chất.
    Cho đến lúc cuối cùng của cuộc tranh cãi (14:5), Pha-ra-ôn vẫn là một tội nhân kiêu ngạo mà không ăn năn, ông ta đã từ chối nghe Lời Đức Chúa Trời, không làm theo ý muốn của Ngài, hay thậm chí là không giữ lời hứa của mình với dân Do Thái. Chúa đã tỏ ra các chứng cớ quá đủ để thuyết phục ông ta tin rằng các thần của Ai Cập là giả dối và Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ là Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống. Pha-ra-ôn đã phạm tội nghịch với sự sáng; và dù Đức Chúa Trời đã sử dụng ông ta để thực hiện cho những mục đích của Ngài, Pha-ra-ôn đã tự mình quyết định và tự mình trở nên cứng lòng nghịch với Đức Chúa Trời [24]
    Ông ta cứng lòng trước sự thương xót của Đức Chúa Trời (Xu 8:8-15). Đời sống của dân Ai Cập thật là khốn khổ vì sự xâm lấn của ếch nhái, sự xâm lấn này nhiều đến nỗi Pha-ra-ôn phải yêu cầu Môi-se và A-rôn chấm dứt tai họa này. Ông ta thậm chí thừa nhận rằng loài ếch nhái là do Chúa giáng xuống. Pha-ra-ôn quá nôn nóng được giải thoát khỏi loài ếch nhái đến nỗi ông ta có ý muốn cho dân Do Thái tiến hành cuộc hành trình thờ phượng của họ nếu Môi-se và A-rôn làm theo yêu cầu của ông ta. Đây chỉ là một mưu mẹo để cất bỏ tai vạ này, dầu vậy Môi-se và A-rôn vẫn chìu theo ý ông ta.
    Tại sao Môi-se để Pha-ra-ôn lựa chọn thời gian cho ếch nhái bỏ đi ? Để chứng minh với ông ta và dân ở đây rằng Giê-hô-va là Đức Chúa Trời hằng sống, là Đấng nghe được lời của họ và đáp ứng những lời cầu nguyện của các tôi tớ Ngài. Tai vạ này không phải là một tai nạn quái đản; Đức Chúa Trời đang tể trị mọi sự. Nhưng tại sao Pha-ra-ôn không yêu cầu sự giải cứu tức thời khỏi loài ếch nhái ? Tại sao phải trì hoãn việc giải cứu cho đến ngày hôm sau ? Có lẽ ông đang đánh liều để may ra có thể ếch nhái tự chúng sẽ bỏ đi, và sau đó ông ta sẽ không phải giữ sự thỏa thuận của mình để dân sự ra đi trong cuộc hành trình của họ. Hoặc có thể là Pha-ra-ôn muốn tin này lan ra rằng sự giải cứu sắp đến hầu cho sự ngóng trông của dân sự càng gia tăng. Ngày hôm sau đám đông sẽ chờ đợi và theo dõi, và nếu Môi-se thất bại, Pha-ra-ôn là người chiến thắng, và Giê-hô-va cùng các tôi tớ của Ngài sẽ chẳng còn được dân sự tin tưởng nữa.
    Nhưng Môi-se sẽ không phải thất bại, vì ông và A-rôn đã cầu nguyện với Đức Chúa Trời để tai vạ này sẽ chấm dứt. Đức Chúa Trời đã đáp lời, không phải bằng cách khiến cho ếch nhái trở về với sông hồ, nhưng bằng cách giết chết ếch nhái và do đó buộc dân sự phải đem vứt bỏ các xác chết và khử chúng đi. Nhưng làm sao bạn có thể tống khứ đi hằng đống ếch nhái đã chết ? Điều này không dễ dàng, và mùi hôi thối càng nhắc nhở dân Ai Cập về sự chống nghịch của vua họ đối với Đức Chúa Trời.
    Môi-se và A-rôn đã giữ lời hứa của họ và Chúa cũng vậy; nhưng Pha-ra-ôn không giữ lời của ông ta để cho dân Do Thái ra đi. Ông ta thật sự không quan tâm đến việc giúp đỡ dân Y-sơ-ra-ên mà chỉ muốn được giải thoát khỏi tai vạ khủng khiếp về ếch nhái. Nhiều tội nhân không quan tâm đến việc ăn năn và tiếp nhận ân điển của Đức Chúa Trời. Họ chỉ muốn được giải cứu khỏi sự xét đoán của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, đây chỉ là một thời gian trì hoãn tạm thời; những sự xét đoán kinh khiếp nhất rồi sẽ đến.
    Trong chức vụ mục sư của tôi, tôi đã gặp những người gặp hoạn nạn cách này hay cách khác, họ nài nỉ tôi cầu nguyện để Chúa sẽ giải cứu họ. Họ hứa đủ điều với tôi và với Chúa, cho biết điều họ sẽ làm nếu Ngài giúp họ. Nhưng khi Ngài nhân từ giúp đỡ họ, họ lại quên đi những lời hứa của mình và thậm chí quên cả Chúa. Tôi chưa bao giờ gặp lại họ. Họ hoàn toàn không giống với tác giả Thi Thiên là người đã viết: “Tôi sẽ đến đền thờ của Chúa với những của lễ thiêu và thực hiện những hứa nguyện của tôi với Chúa – những hứa nguyện mà môi tôi đã hứa và miệng tôi đã nói khi tôi ở trong sự gian truân” (Thi 66:13-14 NIV).
    Ông ta cứng lòng trước quyền năng của Đức Chúa Trời (Xu 8:16-19). Trong việc cho dừng lại tai vạ về ếch nhái, Đức Chúa Trời đã nhân từ đối với Pha-ra-ôn, nhưng thay vì đầu phục sự thương xót của Đức Chúa Trời, vua càng cứng lòng hơn. Vì vậy Chúa đã giáng xuống tai vạ thứ ba và khiến bụi đất trở thành muỗi mòng [25] . Các thuật sĩ hoàng cung của Pha-ra-ôn không thể bắt chước phép lạ này và phải thừa nhận đây là “ngón tay của Đức Chúa Trời”. Nhưng ngay cả khi đối mặt với chứng cớ này, Pha-ra-ôn cũng không chịu đầu phục Chúa và chỉ càng cứng lòng hơn nữa. Sự thương xót của Đức Chúa Trời hay quyền năng của Ngài đều không khiến ông ăn năn và vâng lời Chúa.
    Việc bụi sa mạc biến thành muỗi là một sự xét đoán đối với Sết, thần sa mạc của dân Ai Cập. Đức Giê-hô-va vĩ đại đến nỗi Ngài có thể ban sự sống cho bụi đất vô tri và sử dụng sự sống đó để trừng phạt những kẻ tôn sùng Sết. Tuy nhiên còn có một điều gì khác có liên quan đến ở đây. Dân Ai Cập nói chung, và các thầy tế lễ nói riêng đều rất cuồng tín trong sự sạch sẽ, các thầy tế lễ thường xuyên tắm rửa thân thể và cạo râu tóc để được các thần của họ chấp nhận. Hãy hình dung sự thất vọng và khó chịu của các thầy tế lễ khi thân thể họ bị xâm phạm bởi muỗi mòng ô uế khiến cho cuộc sống họ trở nên thật khốn khổ ! Và các thần của họ chẳng thể làm được gì để giải cứu cho họ !
    Các thuật sĩ thất bại nhìn “ngón tay của Đức Chúa Trời” trong phép lạ này khi đó thật sự là “bàn tay mạnh mẽ (6:1) và “cánh tay duỗi thẳng” (6:6) của Đức Chúa Trời. Trong Kinh Thánh, “ngón tay của Đức Chúa Trời” cũng liên quan đến việc ban luật pháp (31:18 Phu 9:10), đến sự sáng tạo các từng trời (Thi 8:3), và việc đuổi tà ma (Lu 11:20). Tất cả những sự việc này đều bày tỏ về quyền lực và năng quyền của Đức Chúa Trời.
    Nhưng Đức Chúa Trời không dừng lại với việc phán cùng Pha-ra-ôn hay xét đoán các thần của Ai Cập, Ngài còn 7 tai vạ nữa để giáng xuống trên họ, và khi các tai vạ này được thực hiện xong, cả dân Ai Cập sẽ sụp đổ.
    “Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay” (He 10:31).
    3. ĐỨC GIÊ-HÔ-VA, ĐẤNG MẠNH MẼ TRONG CHIẾN TRẬN (Xu 8:20-10:29)
    Đức Chúa Trời nhân từ và nhẫn nại, nhưng sẽ đến một thời kỳ khi Ngài sẽ không còn khoan dung sự bất tuân và sự kiêu ngạo của tội nhân ngang ngạnh nữa. “Đối cùng kẻ trung tín Ngài tỏ mình thành tín, đối cùng kẻ trọn vẹn Ngài tỏ mình trọn vẹn, đối cùng kẻ thanh sạch Ngài tỏ mình thanh sạch, nhưng đối cùng kẻ trái nghịch Ngài tỏ mình nhặt nhiệm” (Thi 18:25-26 NIV). Nếu chúng ta bước đi đối nghịch cùng Ngài, Ngài sẽ nghịch lại với chúng ta (Le 26:23-24).
    Charles Spurgeon đã viết “Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài cho mỗi người tùy theo đặc tính của người ấy”, và không một cá nhân nào trong Kinh Thánh minh họa cho lẽ thật này rõ hơn vị vua xứ Ai Cập. Trong suốt nhiều tháng, Môi-se và A-rôn đã đối phó cùng Pha-ra-ôn nhưng vua không muốn tuân theo mạng lệnh của Đức Chúa Trời hoặc thậm chí không muốn thừa nhận uy quyền của Ngài. Các nguồn nước ở Ai Cập đã biến thành huyết, loài ếch nhái nhầy nhụa đã tấn công xứ, những bầy muỗi rất khó chịu đã châm chích dân sự, nhưng Pha-ra-ôn vẫn không chịu đầu phục.
    Đức Chúa Trời đã làm gì ? Ngài tuyên bố cuộc chiến toàn lực trên vua Ai Cập và trên cả các thần của xứ này. Chúa đã giáng 6 tai vạ đau đớn và gây tàn hại cho xứ, và sau đó tai vạ thứ 7 đã đem đến sự chết của mọi con trai đầu lòng. Khi bạn nghiên cứu những phản ứng của Pha-ra-ôn đối với những tai vạ này, bạn sẽ thấy được tình trạng suy đồi về đạo đức và thuộc linh của một người không muốn đầu phục Đức Chúa Trời và phải trả một cái giá khủng khiếp cho sự chống nghịch của mình.
    Chúng ta hãy xem xét những phản ứng của Pha-ra-ôn trước những sự xét đoán của Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời, chúng ta cũng hãy xét lòng mình để biết xem chúng ta có đang đáp ứng một cách tích cực với ý muốn của Đức Chúa Trời hay không.
    1. Mặc cả (Xu 8:20-32)
    Vào những thời điểm nào đó trong năm, Pha-ra-ôn sẽ đi đến sông Nile linh thiêng để tham dự những nghi lễ tôn giáo đặc biệt, và chắc hẳn ông ta rất tức giận khi mà vào dịp lễ thánh đăc biệt đó lại thấy Môi-se và A-rôn đang chờ ông ta. Trong mắt Pha-ra-ôn, hai người là sự phiền toái của cả xứ này. Thật ra, Pha-ra-ôn mới là nguyên nhân gây ra những sự hoạn nạn trong xứ, nhưng ông ta hẳn sẽ không thừa nhận điều đó. Đức Chúa Trời đang đối đãi với Pha-ra-ôn trong sự thương xót, Ngài muốn đem ông ta đến chỗ thuận phục; vì chỉ khi chúng ta vâng lời Đức Chúa Trời thì chúng ta mới có thể thật sự hưởng được những phước hạnh từ nơi Ngài. Chỉ với một tai vạ, Đức Chúa Trời đã có thể tiêu diệt Pha-ra-ôn và cả xứ của ông ta (9:15) nhưng Ngài đã chọn ban cho họ cơ hội để ăn năn.
    Sự cảnh cáo của Đức Chúa Trời (8:20-21). Chúng ta đã lưu ý rằng trước khi giáng xuống 7 trong số 10 tai vạ, Đức Chúa Trời đã cảnh cáo Pha-ra-ôn điều gì sẽ xảy ra, nhưng dĩ nhiên là ông ta đã không chịu tin Lời Đức Chúa Trời và cứ ghì mài trong sự bất tuân của mình. Việc mỗi tai vạ đều đã xảy ra như Đức Chúa Trời mô tả, vào thời gian đã được báo trước, lẽ ra phải khiến Pha-ra-ôn và quần thần của ông ta tin rằng Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên đang tể trị những sự kiện kỳ lạ này. Các sự kiện này không phải bởi các thuật sĩ của Pha-ra-ôn làm nên, họ đã không thể ngăn chận hay đảo ngược chúng được, và các sự kiện này cũng không phải chỉ là những sự trùng hợp. Bàn tay của Đức Chúa Trời đã chống nghịch cùng xứ Ai Cập.
    Ân điển của Đức Chúa Trời (8:22). Chúa thêm một đặc điểm mới cho tai vạ này bằng cách báo trước rằng dân Do Thái trong xứ Gô-sen [26] sẽ hoàn toàn thoát khỏi tai vạ này. Chỉ có Đức Chúa Trời vĩ đại của Y-sơ-ra-ên mới có thể điều khiển đường bay của những con ruồi bé nhỏ và ngăn cho chúng không vào xứ Gô-sen. Nhưng sự chăm sóc định liệu của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên thật quá rõ ràng trong cả 7 tai vạ cuối cùng này bởi vì dân Do Thái đã thoát khỏi được từng tai vạ (c.22-23 Xu 9:4-11) “mọi dân Ai Cập ” (c.26 10:6) “mọi dân Ai Cập” (c.23 11:7).
    Thông thường trong Kinh Thánh, xứ Ai Cập tượng trưng cho thế gian với sự kiêu ngạo và ách nô lệ của nó, và cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi xứ Ai Cập đặc tả sự giải cứu cho dân sự của Đức Chúa Trời nhờ huyết chiên con (Gi 1:29 Ga 1:4 IPhi 1:18-19). Trong suốt khoảng thời gian Giô-sép ở tại Ai Cập, Pha-ra-ôn đã ban xứ Gô-sen cho dân Do Thái, và giờ đây Đức Chúa Trời biệt riêng nó cho dân sự Ngài. Bằng cách này Đức Chúa Trời đã tạo ra một “sự phân rẽ” giữa dân Ngài và dân Ai Cập. Từ đã được dịch là “sự phân rẽ” trong (Xu 8:23) có nghĩa là “một sự cứu chuộc, một sự giải cứu”. Vì họ thuộc về Đức Chúa Trời một cách đặc biệt, dân Do Thái “khác” với dân Ai Cập nhưng Pha-ra-ôn không nhìn biết được điều này [27]
    Sự phẫn nộ của Đức Chúa Trời (Xu 8:24). Sự việc đã xảy ra y như lời Đức Chúa Trời đã hứa, vào ngày hôm sau, hàng đàn ruồi mòng đã xâm chiếm đất, xông vào nhà cửa của dân chúng và ngay cả vào cung điện của vua. Nhưng ruồi mòng còn hơn cả sự phiền toái tức thời đối với dân sự vì sự xuất hiện của chúng cũng gây ra những vấn nạn về lâu về dài. Những đàn côn trùng này nhất định sẽ mang mầm bệnh đến cho dân sự, và rất có thể sẽ đẻ trứng trên cây cỏ, các ấu trùng sau đó sẽ cắn phá hoa màu và tàn hại đất. Một số học giả nghĩ rằng ruồi là vật linh thiêng tượng trưng cho thần Uatchit của dân Ai Cập, vì thế tai vạ này cũng là một phương cách Đức Chúa Trời đã dùng để hạ thấp một vị thần giả dối khác của Ai Cập.
    Những đề nghị của Pha-ra-ôn (Xu 8:25-32). Trong suốt khoảng thời gian xảy ra những tai vạ này, Pha-ra-ôn đã bốn lần thương lượng cùng Môi-se và A-rôn. Hai lần thương lượng đầu được ghi lại ở đây khi xảy ra tai vạ về ruồi (c.25,28). Lần thương lượng thứ ba diễn ra trong lúc có tai vạ về cào cào (10:7-11), và lần thứ tư trong ba ngày có sự tối tăm (c.24-26). Việc Pha-ra-ôn thậm chí nghĩ rằng ông ta có thể mặc cả với Đức Chúa Trời là một bằng chứng khác về sự kiêu ngạo của ông ta. Loài người hay chết là chi, ngay cả ông ta là vua của một dân tộc hùng mạnh, lại dám mặc cả với ý muốn của Đức Chúa Trời ? Những đề nghị này đều nằm trong mưu đồ giả trá của Pha-ra-ôn nhằm để đánh lừa Môi-se và A-rôn vì lòng ông ta vẫn cứng cỏi và ương bướng. Ông ta không quan tâm đến ý muốn của Đức Chúa Trời hay lợi ích của dân Do Thái. Tất cả những gì ông muốn là những tai vạ phải được dừng lại.
    Dân sự của Đức Chúa Trời ngày nay phải đối diện với “những thỏa hiệp Ai Cập” như thế khi chúng ta mong muốn được hầu việc Chúa. Kẻ thù nói với chúng ta rằng không cần phải phân cách với tội lỗi, vì chúng ta có thể hầu việc Đức Chúa Trời ngay “trong xứ”. Câu trả lời của Đức Chúa Trời được chép trong (IICo 6:14-18). Kẻ thù thì thầm: “Đừng đi quá xa, nếu không thì người ta sẽ gọi ngươi là một kẻ cuồng tín”. Nhưng (Gia 1:27) và (Gia 4:4) đánh đổ lời đề nghị đó. Sự hầu việc thật trước mặt Đức Chúa Trời nghĩa là để cho Ngài có toàn quyền trên những gì thuộc về chúng ta và trên tất cả những người trong gia đình chúng ta mà chúng ta phải có trách nhiệm. Không thực hiện điều này là không làm theo (Mac 10:13-16 Eph 6:4 Phu 6:6-13). Một khi chúng ta bắt đầu thương lượng với ý muốn của Đức Chúa Trời và thấy rằng chúng ta càng gần với thế gian có nghĩa là trong lòng chúng ta đã không muốn vâng phục Ngài.
    Trong lời đề nghị đầu tiên của mình, Pha-ra-ôn muốn cho dân Do Thái giữ lễ thờ phượng của họ trong xứ Ai Cập (Xu 8:25), Môi-se và A-rôn đã khước từ lời đề nghị này. Họ biết rằng dân Do Thái sẽ dâng tế lễ một số thú vật được xem là linh thiêng đối với dân Ai Cập [28] , và buổi nhóm thờ phượng trang nghiêm sẽ nhanh chóng biến thành một cuộc bạo loạn. Dân Do Thái là một dân sống tách biệt, họ ở vùng Gô-sen là nơi đã được Đức Chúa Trời biệt riêng ra, và họ phải biệt mình trong một cuộc hành hình ba ngày ra khỏi xứ Ai Cập để làm hài lòng Chúa.
    Đề nghị thứ hai của Pha-ra-ôn là Y-sơ-ra-ên rời xứ nhưng đừng đi quá xa (c.28). Phụ lục về lời đề nghị của ông ta (“Nào, hãy cầu nguyện cho ta!” NIV) cho thấy rằng điều ông ta thật sự quan tâm là dứt ra khỏi những đàn ruồi. Bề ngoài, có vẻ như Môi-se và A-rôn đã chấp nhận đề nghị thứ hai này, vì Môi-se đã hứa sẽ đuổi khỏi những đàn ruồi. Có lẽ họ nghĩ họ có thể đi xa hơn một khi họ đã ra khỏi xứ, nhưng chắc chắn là họ đều biết rằng Pha-ra-ôn sẽ không giữ lời của mình. Pha-ra-ôn có thói quen hay nài xin sự giúp đỡ khi ông ta cần đến (c.8 9:28 10:16-17) và sau đó đổi ý khi tai vạ đã được cất đi (8:15,32 9:34-35 10:20). Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện của Môi-se và cất những đàn ruồi đi, nhưng Pha-ra-ôn chỉ càng cứng lòng nhiều hơn.
    2. Chống đối (Xu 9:1-12)
    Khi bạn nghiên cứu về những ghi chép về các tai vạ của Ai Cập, hãy luôn nhớ đến những mục đích mà Đức Chúa Trời đang làm thành qua những sự kiện quan trọng này. Trước hết, Ngài đang bày tỏ quyền năng Ngài trước Pha-ra-ôn cùng quần thần của ông ta và chứng minh với họ rằng chỉ một mình Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống. Đồng thời, Chúa đang phơi trần tính phù phiếm trong tôn giáo của Ai Cập và sự hư không của nhiều vị thần mà họ thờ lạy, kể cả chính Pha-ra-ôn. Tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm trên xứ Ai Cập là một sự nhắc nhở đối với dân sự Ngài rằng Đức Chúa Trời của họ đang chiến đấu cho họ và họ không phải lo lắng hay sợ hãi.
    Tai vạ thứ năm (9:1-7). Môi-se thông báo với Pha-ra-ôn rằng nếu ông ta không để cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi trong vòng 24 giờ thì mọi súc vật trong đồng ruộng của Ai Cập sẽ là mục tiêu kế tiếp cho sự bày tỏ quyền năng của Đức Giê-hô-va. Đức Chúa Trời sẽ giáng một dịch bệnh khủng khiếp trên ngựa, lừa, lạc đà, gia súc, chiên và dê trong các đồng ruộng, và chúng sẽ chết hết. Chúng ta không biết dịch bệnh này là gì và việc suy đoán cũng không đem lại kết quả gì. Có một điều chắc chắn là: Đức Chúa Trời đã giáng tai vạ này và gia súc trong những đồng ruộng đã chết [29] Vì một số thần của Ai Cập được đồng nhất hóa với bò đực, bò cái, chiên và một số gia súc khác nên sự xét đoán này là một đòn công kích hữu hiệu đối với tín ngưỡng của dân Ai Cập.
    Nhưng Đức Chúa Trời cũng giữ lời hứa của Ngài và bảo vệ cho đàn gia súc của dân Do Thái sống trong xứ Gô-sen. Khi Gia-cốp và gia đình ông đến Ai Cập trong khoảng thời gian đương quyền của Giô-sép, họ đã đem bầy chiên và bầy gia súc theo họ (Sa 45:10 47:1 50:8). Trong thời kỳ làm nô lệ, dân Do Thái được phép giữ lại gia súc, vì ở cuộc hành trình rời khỏi Ai Cập, họ đã đem theo bầy chiên và bầy gia súc của mình (Xu 12:37-38).
    Pha-ra-ôn đã đáp ứng ra sao với tai vạ khủng khiếp này ? Ông ta cứng lòng và chống lại quyền lực của Chúa. “Người nào hằng kính sợ luôn luôn lấy làm có phước thay; còn ai cứng lòng mình sẽ sa vào tai nạn” (Ch 28:4). Ngược lại với một tấm lòng cứng cỏi là một tấm lòng kính sợ Đức Chúa Trời, và sự kính sợ này sẽ thúc đẩy chúng ta vâng theo những mệnh lệnh của Chúa. “Kính sợ Đức Giê-hô-va ấy là khởi đầu sự khôn ngoan” (Ch 9:10), nhưng người cứng lòng không biết Đức Chúa Trời và lẽ thật của Ngài (Eph 4:18).
    Tai vạ thứ sáu (Xu 9:8-12). Không có sự cảnh cáo nào được bày tỏ trong khoảng thời gian này. Môi-se và A-rôn chỉ đi đến một trong các lò tro, đổ tro đầy bàn tay, rải ra trong không khí, và giao phó cho Đức Chúa Trời phần việc còn lại. Đức Chúa Trời đã giữ lời hứa của Ngài vì bất cứ nơi nào tro rơi trên dân Ai Cập và gia súc của họ đều sinh ra những mụt nhọt mưng mủ đau đớn. Một lần nữa, dân Do Thái ở xứ Gô-sen lại được bảo vệ (c.11) [30]
    Pha-ra-ôn cho mời các thuật sĩ hoàng cung của ông ta đến, nhưng họ không thể đi đến cung điện. Những mụn nhọt cứ bám vào họ, và họ đã không thể làm gì được về điều đó ! Kinh nghiệm này không chỉ đau đớn mà còn bẽ bàng vì dân Ai Cập hay bị ám ảnh bởi sự tinh sạch về thuộc thể. Họ tắm rửa thường xuyên nhưng vết mưng mủ khiến cho việc tắm rửa rất khó khăn.
    Xứ Ai Cập đang bị tàn phá và dân sự đang ở trong sự đau đớn cùng cực, nhưng Pha-ra-ôn vẫn không muốn khuất phục. Ông ta tiếp tục chống lại Chúa cùng các tôi tớ Ngài, và mỗi hành động của sự bất tuân chỉ càng làm ông ta cứng lòng hơn. “Người nào bị quở trách thường, lại cứng cổ mình, sẽ bị bại hoại thình lình, không phương cứu chữa” (Ch 29:1). Vì Pha-ra-ôn đã cứng lòng, điều tồi tệ nhất sẽ phải xảy ra.
    3. Lừa dối (Xu 9:13-35)
    Có vẻ như Môi-se đã không đạt được mục đích của mình, vì mỗi tai vạ mới chỉ làm cho tình thế trở nên tồi tệ hơn. Nhưng Đức Chúa Trời đang nắm quyền tể trị và Ngài biết điều Ngài đang làm. Chúa luôn có một lời hứa cho các tôi tớ Ngài. Tất cả những gì họ phải làm là lắng nghe, tin cậy và vâng lời.
    Lời cảnh cáo thứ năm (Xu 9:13-21). Cho đến bây giờ, đây là lời cảnh cáo dài nhất, có lẽ vì nó báo cho biết về tai vạ gây sự tàn hại nặng nề nhất mà Đức Chúa Trời đã từng giáng xuống. Một lần nữa Môi-se rao ra mạng lệnh của Đức Chúa Trời rằng Pha-ra-ôn phải để cho dân Do Thái rời khỏi xứ này để có một cuộc nhóm họp biệt riêng ra cho Chúa, nhưng lần này Chúa thêm vào một lời cảnh cáo đặc biệt: Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ sắp dốc “toàn lực” về những tai vạ của Ngài trên Pha-ra-ôn, trên dân sự và xứ này (c.14, NIV). Lòng Pha-ra-ôn trở nên cứng cỏi hơn, vì vậy sự trừng phạt của Đức Chúa Trời phải trở nên khắc nghiệt hơn.
    Môi-se đã nhắc nhở vua về lòng thương xót của Chúa: “Vì nếu bây giờ ta giơ tay ra hành hại ngươi với dân sự ngươi bằng bệnh dịch, thì các ngươi đã bị diệt khỏi đất rồi” (c.15, NASB). Chỉ bởi lời phán ra, Đức Chúa Trời có thể diệt sạch toàn bộ xứ Ai Cập, nhưng trong sự thương xót của Ngài, Đức Chúa Trời đã không giáng cho tội nhân tất cả những gì họ đáng phải nhận lãnh. Lẽ ra Pha-ra-ôn phải biết ơn Ngài, nhưng ông ta cứ tiếp tục chống đối Chúa.
    Môi-se cũng nhắc nhở Pha-ra-ôn về ân điển của Đức Chúa Trời (c.16), một bài học mà nhiều nhà độc tài đã phải học một cách khó khăn (Da 4:28-33 Cong 12:20-24). Nếu không nằm trong ý muốn tối cao của Đức Chúa Trời thì Pha-ra-ôn đã không thể làm vua Ai Cập. Mỗi lần Pha-ra-ôn chống nghịch cùng Đức Chúa Trời, Chúa đã dùng chính hoàn cảnh đó để bày tỏ quyền năng Ngài và làm vinh hiển danh Ngài. Nếu Pha-ra-ôn tự nhắc mình lên nghịch với Đức Chúa Trời thì Đức Chúa Trời sẽ tôn cao chính Ngài qua Pha-ra-ôn (Xu 9:16). Phao-lô đã trích dẫn c.16 trong (Ro 9:17) như một lời giải thích của ông về sự công bình và thương xót của Đức Chúa Trời có liên quan đến Y-sơ-ra-ên [31]
    Ngày hôm sau, Đức Chúa Trời giáng “cơn mưa đá lớn nhất chưa từng rơi trên Ai Cập” (9:18 NIV), vì vậy Môi-se khuyên dân sự tập trung tại một nơi an toàn cùng tất cả gia súc không ở trong đồng ruộng và còn sống sót qua tai vạ thứ năm. Ngay cả một số tôi tớ của Pha-ra-ôn giờ đây cũng tin Lời Đức Chúa Trời và làm theo lời ấy, nhưng vua của họ vẫn tiếp tục cứng lòng.
    Tai vạ thứ bảy (9:22-26). Ngày kế tiếp, Môi-se giơ cây gậy của ông lên trời, và Đức Chúa Trời giáng sấm động [32], mưa (c.33), đá và sét chạy trên đất. Bất cứ người hay thú vật vật nào không ở dưới mái che bị giết chết, còn thực vật và cây cối trong đồng ruộng đều bị hủy hoại. Vì cây gai và lúa mạch đã sẵn sàng cho mùa gặt (c.31) nên tai vạ này chắc đã xảy đến trong tháng 1 hoặc tháng 2. Một lần nữa, Chúa bảo vệ dân Ngài trong xứ Gô-sen và tai vạ đã không chạm đến họ.
    Lời nói dối khác của vua (Xu 9:27-35). Nhìn thấy sự tàn phá trong xứ mình, Pha-ra-ôn nhanh chóng cho mời Môi-se và A-rôn đến, là việc mà ông ta cũng đã làm trước đó (8:8) và sẽ làm lần nữa (10:16). Tuy nhiên, lần này vị vua kiêu ngạo đã nhận biết sự công bình của Đức Chúa Trời và thừa nhận rằng ông phạm tội ! (ông ta lại sẽ thừa nhận điều này. Xem 10:17). Tuy nhiên, sự xưng tội của ông ta không thành thật vì nó không dẫn đến sự vâng lời [33] . Môi-se biết rằng vua này thật sự không kính sợ Chúa. Tất cả những gì Pha-ra-ôn và quần thần của ông ta muốn là dừng lại cơn mưa đá khủng khiếp này.
    Đức Chúa Trời trong ân điển Ngài đã nhậm lời cầu nguyện của Môi-se và cho dừng lại tai vạ. Pha-ra-ôn trong sự lừa dối của mình đã thất hứa và không để dân Y-sơ-ra-ên ra đi. Cho đến khi nào ông ta mới hiểu được rằng không thể chống lại Đức Chúa Trời và chiến thắng Ngài ?
    4. Nài xin (Xu 10:1-20)
    Khi Đức Chúa Trời đưa ra những chỉ dẫn cho Môi-se trong lần gặp mặt kế tiếp của ông với Pha-ra-ôn, Ngài thêm vào một lý do nữa cho sự bày tỏ kỳ diệu về những việc lạ lùng Ngài đã làm qua các tai vạ: là để dân Do Thái có thể nói cho những thế hệ nối tiếp về quyền năng kinh khiếp của Đức Chúa Trời vĩ đại của họ.
    Mục đích này cũng đã được ghi lại trong kỳ lễ Vượt qua (Xu 12:26-27 13:8,14-15). Dù ở tại gia đình hay trong Hội Thánh địa phương, việc giúp cho mỗi thế hệ mới được biết và trân trọng cách thức mà Đức Chúa Trời đã hành động thay cho các thế hệ đi trước là cần thiết. Nhớ lại và cảm tạ về những công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời là một trong những chủ đề cơ bản của sách Phục Truyền luật lệ ký, kể cả về điều những mà Chúa đã làm cho Pha-ra-ôn (Phu 4:34 7:18-19 26:5-8 29:1-3).
    Sự chất vấn (Xu 10:3-11). Có 3 câu hỏi tóm tắt cho cuộc chạm trán này với Pha-ra-ôn. Thứ nhất, Môi-se và A-rôn hỏi Pha-ra-ôn ông ta sẽ chống cự trong sự kiêu ngạo và không chịu hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời cho đến chừng nào. Cần có nhiều can đảm để nói cho bất cứ vị vua nào vào thời xưa biết rằng ông ta kiêu ngạo, đặc biệt đối với vua Ai Cập là người được tôn sùng như một vị thần. Tuy nhiên, Môi-se và A-rôn biết rằng Chúa sẽ bảo vệ họ và đã làm theo Lời Ngài. Họ cảnh cáo Pha-ra-ôn rằng nếu ông ta không vâng lời, những đàn cào cào lúc nhúc sẽ vào trong xứ hủy hoại mọi vật gì chưa bị hủy hoại bởi mưa đá. Môi-se và A-rôn không chờ đợi một câu trả lời hay một lời hứa giả dối khác; họ rao ra sứ điệp và rời khỏi cung điện.
    Câu hỏi thứ hai đến từ các quần thần của Pha-ra-ôn “Người này sẽ là một cái bẫy cho chúng ta đến chừng nào ?” (c.7). Họ gợi ý rằng Pha-ra-ôn đã sai lầm trong việc không để cho dân Do Thái đi, và thậm chí họ còn dám nhắc nhở ông ta rằng chính sách bài Do Thái của ông đã tàn diệt xứ Ai Cập. Các quần thần chắc chắn đã rất can đảm để nói về điều này cách dạn dĩ với Pha-ra-ôn, nhưng dân tộc họ đang ở trong tình cảnh tuyệt vọng và cần có ai đứng ra để làm một điều gì đó. Việc dân Do Thái tạm thời rời bỏ công việc của họ để ra đi thì sẽ có thể gây ra những tổn hại gì ?
    Pha-ra-ôn đã cho gọi Môi-se và A-rôn trở lại cung điện và đưa ra câu hỏi thứ ba: “Ai là những người sẽ đi ?” (c.8 NASB). Môi-se cho biết rõ rằng Đức Chúa Trời muốn mọi người đều phải đi trong cuộc hành trình kéo dài 3 ngày này. Điều này nghĩa là phải có cả đàn ông, đàn bà, trẻ em, người trẻ tuổi và người già cả, cũng như cả bầy chiên và bầy gia súc sẽ được dùng để làm của lễ dâng lên cho Chúa. Pha-ra-ôn yêu cầu chỉ để những người nam thực hiện cuộc hành trình này vì biết rằng ông ta có thể giữ lại gia đình của họ để làm con tin, và có sự bảo đảm rằng họ sẽ trở lại Ai Cập, nhưng đó là một đề nghị mà Môi-se và A-rôn đã khước từ.
    Trong phản ứng giận dữ của mình (c.10-11), Pha-ra-ôn đã nói phạm đến danh Đức Chúa Trời. Theo nguyên văn, ông đã nói: “Nguyện Chúa ở cùng các ngươi nếu ta để cho ngươi và con cái các ngươi đi !”. The Living Bible đã chú giải lại câu đó rằng, “Trong danh Đức Chúa Trời ta sẽ không để cho các ngươi đem theo con cái của các ngươi đi !” Pha-ra-ôn hiểu lời yêu cầu của Môi-se và A-rôn như một âm mưu xấu xa để bảo đảm cho sự thoát khỏi ách nô lệ của họ tại xứ Ai Cập. Nếu mọi người đàn ông Do Thái đều ra đi đem theo gia đình cùng với gia súc của họ thì họ sẽ không bao giờ phải quay trở lại !
    Đó là phần kết thúc của cuộc thẩm vấn, và Pha-ra-ôn lệnh cho quần thần của ông ta đuổi Môi-se và A-rôn ra khỏi cung điện. Về phần mình, Pha-ra-ôn đã xong việc với Môi-se và A-rôn, và sẽ không bao giờ phải nghe những sứ điệp của họ đến từ Chúa. Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã có những kế hoạch khác, và chẳng bao lâu, Pha-ra-ôn sẽ lại nài xin sự giải cứu và sự giảm nhẹ khỏi hình phạt.
    Sự xâm lấn (10:12-15). Đức Chúa Trời đã nhìn thấy và nghe được toàn bộ cuộc đối đáp giữa Môi-se và Pha-ra-ôn , và Ngài đã sẵn sàng để đáp lại sự lộng ngôn và sự bất tuân của Pha-ra-ôn. Khi Môi-se giơ cây gậy của ông lên trời, Đức Chúa Trời sai một ngọn gió đông thổi vào buổi chiều và cả đêm hôm đó. Ngọn gió đã đem vô số đàn cào cào vào trong xứ, chúng bắt đầu cắn phá tất cả các loại hoa màu còn sót lại sau tai vạ trước (9:32). Vì các sinh vật này tấn công “mọi người dân Ai Cập” (10:6) nên có thể đưa đến kết luận rằng dân Y-sơ-ra-ên đã thoát khỏi tai vạ tàn hại này.
    Nếu từ vựng có thể bày tỏ được ý nghĩa thì cào cào là một sinh vật có ý nghĩa trong thế giới thời Cựu Ước, vì có ít nhất 7 từ Hê-bơ-rơ khác nhau trong Kinh Thánh đề cập đến nó. Dân Do Thái được phép ăn những loại cào cào nào đó (Le 11:20-23 Phu 14:19-20 Mat 3:1-4), nhưng đa phần, họ ghét các sinh vật này vì chúng có thể cắn phá toàn bộ hoa màu từ một khu vực nào đó với tốc độ thật kinh khiếp. Dân Y-sơ-ra-ên dùng hình ảnh đàn cào cào để mô tả bất cứ điều gì nhanh chóng xâm nhập và tàn phá xứ sở của họ (Cac 6:5 7:12 Es 33:4 Gie 46:23 51:14,27) và tiên tri Giô-ên đã ví sánh những con cào cào với một đội quân xâm lược (Gio 1:1-2:32 Am 7:1-3).
    Sự cầu thay (Xu 10:16-19). Nếu quần thần của Pha-ra-ôn nghĩ rằng Ai Cập đã bị sụp đổ (c.7), vậy ý kiến của họ về tình cảnh sau khi cào cào đến là gì ? Trong một thời gian ngắn, không một thứ cây cỏ nào còn lại bất cứ nơi nào trong xứ, và các sinh vật này đã xâm lấn nhà cửa cũng như các cánh đồng (c.6). Đó là thiên tai gây tàn phá nhất đã giáng xuống xứ Ai Cập trong lịch sử của xứ này. Qua việc hủy phá hoa màu, Đức Chúa Trời không chỉ làm cho xứ phá sản, Ngài còn đắc thắng trên Osiris, thần của sự màu mỡ và mùa màng tại Ai Cập. Ngài cũng cho thấy rằng Ngài có quyền tể trị trên gió.
    Một lần nữa Pha-ra-ôn lại tìm đến sự giải vây mà không muốn ăn năn, và Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót đã chấp nhận lời yêu cầu của ông ta. Đức Chúa Trời đã chứng minh sự vĩ đại của Ngài bằng cách đảo ngược những cơn gió và đem tất cả cào cào xuống Biển Đỏ. Trong một thời gian ngắn, Ngài sẽ làm cho quân đội của Pha-ra-ôn chìm dưới Biển Đỏ, và sau đó dân Y-sơ-ra-ên sẽ được tự do để tiến vào Vùng Đất Hứa của họ.
    5. Đe dọa (Xu 10:21-29)
    Chúng ta không biết bao lâu sau khi cào cào rời khỏi Ai Cập thì Đức Chúa Trời giáng xuống tai vạ thứ 9, nhưng sự tối tăm khắp xứ trong ba ngày đã chứng minh rằng Đức Giê-hô-va vĩ đại hơn Ra (hoặc Re) và Horus, cả hai đều được dân Ai Cập tôn sùng như thần mặt trời. Sự tối tăm không phải là kết quả tự nhiên của một cơn bão cát nhưng là một phép lạ từ bàn tay Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ. Dân Y-sơ-ra-ên vẫn có ánh sáng trong xứ Gô-sen, như họ vẫn sẽ có ánh sáng khi ra khỏi Ai Cập (14:19-20). Dân của thế gian (dân Ai Cập) bước đi trong sự tối tăm nhưng dân của Đức Chúa Trời bước đi trong sự sáng (Gi 3:19-21 IGi 1:5-10).
    Luôn cầu cứu ngay khi gặp hoạn nạn, Pha-ra-ôn đã cho gọi Môi-se và A-rôn đến và đưa ra một lời đề nghị nữa. Dân Do Thái có thể tiến hành cuộc hành trình của họ để thờ phượng Chúa, nhưng họ không được đem theo bầy chiên và bầy gia súc của họ. Ý định của Pha-ra-ôn là tịch thu toàn bộ gia súc của họ để thế vào những gì ông ta đã mất đi trong những tai vạ, và sau đó phái quân đội đem dân Do Thái trở lại với kiếp nô lệ cho Ai Cập. Môi-se và A-rôn đã bác bỏ đề nghị này, không chỉ vì họ nhìn thấy rõ bản chất của kế hoạch gian xảo của ông ta, mà còn vì họ biết rằng dân Y-sơ-ra-ên phải vâng theo mọi ý muốn của Đức Chúa Trời.
    Pha-ra-ôn là một người kiêu ngạo, và những người kiêu ngạo không thích bị đánh lừa bởi những người mà họ xem là thấp kém hơn họ. Môi-se và A-rôn đã từ chối bốn lời đề nghị của ông ta và họ cứ khăng khăng rằng ông ta phải để cho dân Y-sơ-ra-ên đi. Hai người Do Thái khiêm nhường này đã tỏ mình mạnh mẽ hơn cả Pha-ra-ôn cao quý của Ai Cập - con trai của các thần. Bằng những sự đoán phạt đầy quyền năng của Ngài, Đức Chúa Trời của dân Hê-bơ-rơ đã bắt dân tộc Ai Cập hùng mạnh phải khuất phục, và Môi-se đã được quần thần của Pha-ra-ôn cùng dân chúng trong xứ rất trọng vọng (Xu 11:3).
    Pha-ra-ôn là một người chiến bại, nhưng ông ta sẽ không thừa nhận điều đó. Trái lại, ông ta dùng quyền hành của mình để tìm cách đe dọa Môi-se. Ông ta cảnh cáo Môi-se rằng nếu ông trở lại cung điện để gặp Pha-ra-ôn thì ông sẽ bị giết chết. Sẽ không có một cuộc tiếp kiến chính thức nào nữa trước mặt Pha-ra-ôn.
    Nhưng trước khi Môi-se rời cung điện, ông đã rao ra lời cảnh báo sau cùng của Đức Chúa Trời về tai vạ cuối, đó là tai vạ về sự chết của con đầu lòng (c.4). Ở đây dường như đã có sự phân đoạn không thích hợp vì giữa (10:28) và (10:29), có lẽ Môi-se đã rao ra lời cảnh báo cuối cùng của ông, và sau đó ông đã rời cung điện trong sự phẫn nộ [34] Pha-ra-ôn đe dọa giết Môi-se, nhưng Đức Chúa Trời sẽ giết hết mọi con trai đầu lòng trong xứ Ai Cập và nhận chìm những toán quân thiện chiến của Ai Cập. Mặc cho điều Pha-ra-ôn nói về việc sẽ không gặp lại Môi-se, vào đêm lễ Vượt Qua, Pha-ra-ôn sẽ một lần nữa cho gọi Môi-se và cầu xin sự giúp đỡ của ông (12:31).
    Sự cứng lòng của Pha-ra-ôn là một lời cảnh cáo cho tất cả chúng ta. Nếu tấm lòng của tội nhân không đáp ứng với Lời Đức Chúa Trời bởi đức tin thì không thể được biến đổi bởi ân điển Đức Chúa Trời (Exe 36:26-27 He 8:7-13). Thay vào đó, nếu tấm lòng nào càng chống nghịch với lẽ thật của Đức Chúa Trời thì nó sẽ càng trở nên cứng cỏi hơn. Dù Đức Chúa Trời có thể giáng tai họa bao nhiêu lần chăng nữa thì điều này cũng chỉ làm thêm lên sự bất tuân. Vào những ngày sau rốt, khi Đức Chúa Trời giáng những sự xét đoán kinh khiếp của Ngài trên thế gian (Kh 6:1-16:21) [35] , người ta sẽ rủa sả Đức Chúa Trời và cứ ghì mài trong tội lỗi của họ, nhưng họ sẽ không ăn năn (Xu 6:15-17 9:20-21 16:9,11). Sẽ có cả một thế giới đầy dẫy những người nam người nữ giống như Pha-ra-ôn sẽ nhìn thấy những sự xét đoán của Đức Chúa Trời mà vẫn không ăn năn.
    “Ngày nay, nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, thì chớ cứng lòng” (He 8:7 NKJV).
    “Sa vào tay Đức Chúa Trời hằng sống là sự đáng kinh khiếp thay” (10:31)
    4. MỘT TAI VẠ NỮA (Xu 11:1-13:16)
    Phân đoạn này tập trung vào một chủ đề không ai thích nghe, đó là sự chết. Vua Giê-hô-va (Thi 95:3) sẽ đặt vua Pha-ra-ôn đối mặt với một vị vua khác – thần chết, là “vua của sự kinh khiếp” (Giop 18:14). Kẻ thù cuối cùng, sự chết (ICo 15:26), sẽ hoành hành Ai Cập qua tai vạ cuối cùng, và giáng một đòn cuối trên vị vua kiêu ngạo của Ai Cập. Trong một đêm buồn bã, tất cả các con trai đầu lòng cùng mọi súc vật đầu lòng ở Ai Cập sẽ chết, và sẽ có một tiếng kêu khóc lớn trong cả xứ (Xu 11:6 12:30). Chỉ đến khi đó Pha-ra-ôn mới để cho dân của Đức Chúa Trời ra đi.
    Tuy nhiên, sự chết sẽ không đến trên dân Do Thái và bầy gia súc của họ trong xứ Gô-sen vì dân Y-sơ-ra-ên thuộc về Chúa, và là một dân được biệt riêng cho Ngài. Trong cả xứ Gô-sen, chỉ những chiên con một tuổi vô tội mới là những con vật sẽ chịu chết, một con cho mỗi gia đình Do Thái. Đêm này sẽ đánh dấu sự mở đầu của lễ Vượt Qua, đây là quốc lễ đầu tiên của Y-sơ-ra-ên. Trong chương này, chúng ta cần xét đến năm khía cạnh khác nhau của lễ Vượt Qua.
    1.Lễ Vượt Qua và dân Ai Cập (Xu 11:1-10)
    Dân Ai Cập đã rất tức giận bởi 6 tai vạ đầu tiên, sau đó, xứ họ cùng những của cải của họ cũng đã bị tàn hại bởi hai tai vạ kế tiếp. Tai vạ thứ chín, ba ngày tối tăm, đã chuẩn bị cho tai vạ kinh khiếp nhất sẽ xảy ra, là lúc mà các sứ giả của thần chết sẽ đến trên xứ. “Ngài thả nghịch chúng nó với cơn giận dữ của Ngài, sự thạnh nộ, sự căm phẫn và sự thù địch – tức là một đoàn thiên sứ đem đến sự hủy diệt” (Thi 78:49 NIV).
    Môi-se nghe Lời Đức Chúa Trời (Xu 11:1-3). Những câu này mô tả điều đã xảy ra trước khi Môi-se được mời đến cung điện để nghe lời đề nghị cuối cùng của Pha-ra-ôn (10:24-29). Lời rao báo của Môi-se (11:4-8) được rao ra giữa các câu 26 và 27 của đoạn 10 và kết thúc với hành động Môi-se rời khỏi cung điện trong sự giận dữ tột độ (10:29 11:8).
    Đức Chúa Trời cho Môi-se biết Ngài sẽ giáng một tai vạ nữa cho Ai Cập, một tai vạ khủng khiếp đến nỗi Pha-ra-ôn không chỉ sẽ cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi mà còn sẽ hạ lệnh cho họ phải đi. Pha-ra-ôn sẽ duổi họ ra khỏi xứ, và vì thế làm ứng nghiệm lời hứa Đức Chúa Trời đã lập trước cả khi những tai vạ bắt đầu (6:1 12:31-32,39).
    Môi-se cho dân Do Thái biết rằng đã đến lúc họ sẽ nhận lấy tiền công chưa được trả cho tất cả các công việc mà họ và tổ tiên họ đã làm khi còn là nô lệ tại Ai Cập. Trong Kinh Thánh Authorized Version, từ dịch là “mượn” thì trong tiếng Hê-bơ-rơ chỉ có nghĩa là “đòi hỏi hay yêu cầu”. Dân Do Thái không có ý định trả lại những gì dân Ai Cập đã cho họ, vì của cải đó là khoản phải trả cho một món nợ còn tồn đọng mà Ai Cập đã nợ Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã hứa với Ap-ra-ham rằng con cháu ông sẽ rời Ai Cập “với nhiều của cải” (Sa 15:14). Và Ngài đã nhắc lại lời hứa đó với Môi-se (Xu 3:21-22). Đức Chúa Trời đã ban cho tôi tớ Ngài là Môi-se sự tôn trọng rất lớn giữa vòng dân Ai Cập, và giờ đây Ngài sẽ ban cho dân Do Thái đặc ân lớn với dân Ai Cập, họ sẽ cho dân Do Thái của cải của họ một cách rời rộng (12:36-37).
    Môi-se cảnh cáo Pha-ra-ôn (11:4-10). Đây là những lời cuối cùng của Môi-se trước Pha-ra-ôn, và ông ta đã chối bỏ điều đó như ông ta đã từng chối bỏ những lời cảnh báo khác. Pha-ra-ôn không có sự kính sợ Đức Chúa Trời trong lòng, do đó ông không xem trọng những lời của Môi-se. Nhưng qua sự chối bỏ Lời Đức Chúa Trời, Pha-ra-ôn đã khiến cho những người nam trẻ tuổi, tuấn tú trong xứ phải chết, và vì thế đã chuốc lấy sự đau buồn cho chính ông ta và dân sự của ông ta.
    Tại đây, có hai câu hỏi cần được nêu ra (1) Tại sao Đức Chúa Trời chỉ giết con đầu lòng ?(2) Hành động như thế thì liệu Ngài có công bình chăng khi Pha-ra-ôn mới là thủ phạm thật ? Nếu giải đáp được câu hỏi đầu tiên thì sẽ giúp cho chúng ta trả lời câu hỏi thứ hai.
    Trong hầu hết các nền văn hóa, con trai đầu lòng được xem là đặc biệt, và ở Ai Cập họ được xem là thiêng liêng. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Chúa Trời gọi Y-sơ-ra-ên là con trưởng nam của Ngài (Xu 4:22 Gie 31:9 Os 11:1). Ngay từ đầu cuộc xung đột của họ, Môi-se đã cảnh cáo Pha-ra-ôn rằng cách ông ta đối xử với con đầu lòng của Đức Chúa Trời sẽ quyết định cách Đức Chúa Trời đối xử với con đầu lòng của Ai
    Khi bạn đọc sách Sáng Thế ký, bạn biết rằng Đức Chúa Trời thường khước từ con trưởng nam và chọn con trai thứ để tiếp nối dòng dõi và nhận lãnh phước hạnh đặc biệt của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời chọn A-bên, và sau đó là Sết, chớ không phải Ca-in; Ngài chọn Sem, không phải Gia-phết; Y-sác chớ không phải Ích-ma-ên; và Gia-cốp chớ không phải là Ê-sau.
    Những sự chọn lựa này không chỉ bày tỏ ân điển lớn lao của Đức Chúa Trời, nhưng đây còn là một cách nói tượng trưng rằng sự sinh ra lần đầu tiên của chúng ta không được Đức Chúa Trời chấp nhận. Chúng ta phải kinh nghiệm một sự sinh ra thứ hai, một sự sinh ra về thuộc linh trước khi Đức Chúa Trời có thể chấp nhận chúng ta (Gi 1:12-13 3:1-18). Con trưởng nam tượng trưng cho điều tốt nhất của loài người, nhưng vẫn chưa phải là một điều tốt đẹp đối với một Đức Chúa Trời thánh khiết. Bởi sự sinh ra lần thứ nhất, chúng ta thừa kế bản chất tội lỗi của A-đam và bị hư mất (Thi 51:5-6) nhưng khi chúng ta kinh nghiệm được sự sinh ra lần thứ hai bởi đức tin nơi Đấng Christ, chúng ta sẽ tiếp nhận bản chất thiêng liêng của Đức Chúa Trời và được chấp nhận trong Đấng Christ (IIPhi 1:1-4 Ga 4:6 Ro 8:9).
    Pha-ra-ôn và dân Ai Cập đã phạm tội nghịch với sự sáng và sỉ nhục sự thương xót của Đức Chúa Trời – Chúa đã chịu đựng sự chống nghịch và sự thiếu hiểu biết của vua Ai Cập, cũng như cách đối xử độc ác của ông ta đối với dân Do Thái trong một thời gian quá lâu. Đức Chúa Trời đã cảnh cáo Pha-ra-ôn nhiều lần, nhưng ông vẫn không đầu phục Ngài. Đức Giê-hô-va đã công khai làm bẽ mặt các thần của Ai Cập và chứng Cập (Xu 4:22-23). Pha-ra-ôn đã tìm cách giết hại các bé trai Do Thái và quần thần của ông ta đã ngược đãi các nô lệ Do Thái một cách tàn bạo, vì vậy, qua việc giết các con đầu lòng của Ai Cập, Chúa chỉ đang đáp trả lại Pha-ra-ôn những gì mà ông ta đã làm.
    Sự vay trả là một luật cơ bản của đời sống (Mat 7:1-2), và Đức Chúa Trời không phải bất công trong việc cho phép luật này hoạt động trong thế gian. Pha-ra-ôn đã nhận chìm những em bé Do Thái, vì vậy Đức Chúa Trời nhận chìm quân đội của Pha-ra-ôn (Xu 14:26-31 15:4-5). Gia-cốp đã nói dối với Y-sác cha mình (Sa 27:15-17), và nhiều năm sau đó, những con trai của Gia-cốp đã nói dối với ông (37:31-35). Đa-vít đã phạm tội tà dâm và sai giết hại chồng của người đàn bà này (IISa 11:27), con gái của Đa-vít bị cưỡng hiếp và hai trong số những con trai ông bị giết (13:1-29 18:1-33). Ha-man đã dựng một giá treo cổ để treo Mạc-đô-chê lên đó, nhưng chính Ha-man đã bị treo lên đó (Exo 7:7-10). “Chớ hề dối mình, Đức Chúa Trời không chịu khinh dễ đâu, vì ai gieo giống chi lại gặt giống ấy” (Ga 6:7).
    Đối với sự công bằng của tai vạ thứ 10 này, ai có thể xét đoán những hành động của Chúa khi “sự công bình và sự chính trực là nền của ngôi Chúa” (Thi 89:14) ? Nhưng vì sao sự chống đối Đức Chúa Trời của một người lại gây nên sự chết của nhiều người nam trẻ tuổi vô tội ? Tuy nhiên, những sự kiện tương tự vẫn đang xảy ra trong thế giới của chúng ta ngày nay. Có bao nhiêu nam và nữ quân nhân đã chết có cơ hội bỏ phiếu để ủng hộ hay chống lại một cuộc chiến tranh ? Và về “sự vô tội” của những con trai đầu lòng này, chỉ có Đức Chúa Trời mới biết lòng người và có thể xét đoán một cách công bình trọn vẹn. “Đấng đoán xét toàn thế gian há lại không làm sự công bình sao ?” (Sa 18:25).minh chính Ngài là Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống duy nhất, nhưng dân Ai Cập vẫn sẽ không tin nhận Ngài.
    “Vì án phạt nghịch với việc ác không được thi hành nhanh chóng, nên lòng con loài người chuyên làm điều ác” (Tr 8:11 NKJV). Sự thương xót của Đức Chúa Trời, lẽ ra đã đem Pha-ra-ôn đến chỗ thuận phục; thay vì thế, ông ta lại nhiều lần cứng lòng. Quần thần của Pha-ra-ôn đã hạ mình trước Môi-se (Xu 11:8); tại sao Pha-ra-ôn không thể làm theo gương của họ ? “Sự kiêu ngạo đi trước sự bại hoại, và tánh tự cao đi trước sự sa ngã” (Ch 16:18 NKJV).
    2. Lễ Vượt Qua và dân Y-sơ-ra-ên (Xu 12:1-28,43-51)
    Lễ Vượt Qua đánh dấu một khởi đầu mới đối với dân Do Thái và kết hợp họ lại thành một dân tộc [36] . Khi Chúa giải phóng bạn khỏi ách nô lệ, đó là bình minh của một ngày mới và khởi đầu của một đời sống mới. Mỗi khi bạn gặp những từ “cứu chuộc” hay “sự cứu chuộc” trong Kinh Thánh Tân Ước thì chúng đang nói về sự tự do khỏi cảnh nô lệ (ước tính có 60 triệu nô lệ ở đế quốc La Mã). Các tín đồ Do Thái lại sẽ nghĩ ngay đến lễ Vượt Qua và sự giải cứu Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập nhờ huyết chiên con.
    Trong thời Cựu Ước, dân tộc Do Thái sử dụng hai hệ thống lịch, loại lịch thường bắt đầu vào tháng 9-10 của chúng ta, và loại lịch tôn giáo bắt đầu vào tháng 3-4 của chúng ta. Ngày đầu Năm Mới của một năm thường (“Rosh Hashana” - “bắt đầu của năm”) rơi vào tháng thứ bảy của lịch tôn giáo và mở đầu cho các sự kiện đặc biệt trong tháng Tishri: Lễ hội Kèn Trompet, Lễ Chuộc Tội, và Lễ Đền Tạm. Nhưng Lễ Vượt Qua đánh dấu cho sự khởi đầu của một năm tôn giáo, và tại Lễ Vượt Qua, sự tập trung chủ yếu là về chiên con.
    Câu hỏi của Y-sác “Chiên con ở đâu ?” (Sa 22:7) đã giới thiệu một trong những chủ đề chính của sách Tân Ước vì dân sự của Đức Chúa Trời vào lúc ấy đang mong chờ Đấng Mê-si-a. Câu hỏi này cuối cùng đã được Giăng Báp-tít trả lời khi ông chỉ Chúa Giê-xu và nói: “Kìa, Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi !” (Gi 1:29). Việc chiên con của Lễ Vượt Qua là một hình ảnh về Chúa Giê-xu Christ đã được khẳng định trong Tân Ước bởi nhà truyền giáo Phi-líp (Cong 8:32-35 Es 53:7-8), cũng như bởi sứ đồ Phao-lô (ICo 5:7), Phi-e-rơ (IPhi 1:18-20), và Giăng (Kh 5:5-6 13:8) [37]
    Chiên Con được chọn và xem xét (Xu 12:1-6a) vào ngày mùng 10 trong tháng và được kiểm tra kỹ lưỡng trong 4 ngày để bảo đảm đáp ứng được những điều kiện của Đức Chúa Trời. Không có nghi vấn gì khi Chúa Giê-xu đáp ứng mọi yêu cầu của một Chiên Con cho chúng ta, vì Đức Chúa Cha đã phán: “Này là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng” (Mat 3:17). Suốt những ngày trước lễ Vượt Qua, những kẻ thù của Chúa chúng ta đã chất vấn Ngài nhiều lần, chờ đợi Ngài sẽ nói điều gì đó khiến họ có thể công kích Ngài. Suốt những cuộc xét xử và thẩm tra, Chúa Giê-xu đã bị xét hỏi nhiều lần, và Ngài đã vượt qua mọi cuộc thử nghiệm. Chúa Giê-xu không biết đến tội lỗi (IICo 5:21), không phạm tội (IPhi 2:22) và trong Ngài không có tội lỗi (IGi 3:5). Ngài là Chiên Con toàn vẹn của Đức Chúa Trời.
    Ngày 14 trong tháng, vào lúc chiều tối [38] chiên con đã bị giết (Xu 12:6b-7,12-13,21-24) và huyết nó được bôi vào cột dọc và cột ngang cửa nhà của những gia đình Do Thái. Không phải sự sống, nhưng là sự chết của chiên con đã cứu dân sự ra khỏi sự đoán phạt của Đức Chúa Trời . “Không đổ huyết thì không có sự tha thứ” (He 9:22 Le 17:11). Một số người tuyên bố rằng họ thán phục đời sống và sự dạy dỗ của Chúa Giê-xu lại chính là những người không cần đến thập tự giá của Chúa Giê-xu; nhưng chính sự chết của Ngài trên thập tự giá đã trả giá cho sự cứu chuộc chúng ta (Mat 20:28 26:28 Gi 3:14-17 10:11 Eph 1:7 ITi 2:5,6 He 9:28 Kh 5:9). Chúa Giê-xu là người thay thế cho chúng ta; Ngài đã chết thay cho chúng ta và chịu sự xét đoán về tội lỗi chúng ta (Es 53:4-6 IPhi 2:24).
    Tuy nhiên, để có hiệu lực, huyết phải được bôi vào các cột cửa, vì Đức Chúa Trời đã hứa “khi ta nhìn thấy huyết, ta sẽ vượt qua các ngươi” (Xu 12:13). Nếu chỉ biết rằng Đấng Christ bị giết vì tội lỗi của thế gian thì chưa đủ, nhưng chúng ta phải áp dụng sự hy sinh đó cho chính mình và có thể đồng thanh với Phao-lô rằng: “Con Đức Chúa Trời đã yêu tôi, và đã phó chính mình Ngài vì tôi” (Ga 2:20), và với Ma-ri: “Tâm thần tôi mừng rỡ trong Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa tôi” (Lu 1:46). Kinh nghiệm về sự chuộc tội của chúng ta phải mang tính cá nhân: “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi” (Gi 20:28).
    Dân Do Thái nhúng chùm kinh giới mỏng manh vào chậu huyết và bôi huyết vào các cột cửa (Xu 42:22). Chùm kinh giới sau đó được sử dụng để rưới huyết làm trọn giao ước (24:1-8) và làm sạch những người bị bệnh phung (Le 14:4,6,49,51-52). Đức tin chúng ta có thể yếu đuối như chùm kinh giới, nhưng không phải đức tin nơi đức tin của chúng ta, nhưng là đức tin nơi huyết của Chúa Cứu Thế đã cứu chúng ta.
    Chiên con được quay lên và được ăn (Xu 12:8-11,46), và được thực hiện một cách vội vã, mỗi người trong gia đình phải sẵn sàng để ra đi khi hiệu lệnh được ban. Bữa ăn gồm có chiên con quay, bánh không men và rau đắng, mỗi thứ tượng trưng cho một lẽ thật thuộc linh quan trọng.
    Để có thể giữ được cả con chiên, người ta đã quay chiên con trong lửa chớ không luộc trong nước. Dường như dân Do Thái không có chậu lớn đủ để luộc cả một con chiên, nhưng thậm chí nếu họ có thì điều này cũng bị cấm. Xương sẽ bị gãy và thịt khi nấu sẽ rời ra khỏi xương. Không một chiếc xương nào bị làm gãy, và cũng không được đem những miếng thịt ra khỏi nhà (c.46 Gi 19:31-37 Thi 34:20). Chúng ta phải thấy rằng sự toàn vẹn của chiên con là một điều quan trọng.
    Chúng ta tin cậy nơi Đấng Christ rằng chúng ta có thể được cứu khỏi tội lỗi mình bởi sự hy sinh của Ngài, nhưng chúng ta cũng phải sống bởi Đấng Christ để có được năng lực cho chuyến hành hương mỗi ngày của chúng ta. Khi chúng ta thờ phượng, suy gẫm Lời Chúa, cầu nguyện và tin tưởng nghĩa là chúng ta đang dùng đồ ăn thuộc linh của Chúa Giê-xu Christ và được tăng trưởng trong ân điển cùng sự hiểu biết [39]
    Cùng với thịt chiên, dân Y-sơ-ra-ên còn ăn rau đắng và bánh không men (Xu 12:14-20,39 13:3-7). Việc nếm vị rau đắng sẽ nhắc dân Do Thái về những năm tháng nô lệ cay đắng của họ trong xứ Ai Cập. Tuy nhiên, khi hoàn cảnh trở nên khó khăn trong suốt cuộc hành trình ở trong đồng vắng của họ, dân chúng thường nhớ lại “những ngày xưa tươi đẹp” và muốn quay trở lại Ai Cập (16:3 17:1-3 Dan 11:1-9 14:15). Họ đã quên đi sự cay đắng của cảnh nô lệ trong lò lửa sắt kinh khiếp ấy.
    Bánh của họ không men vì hai lý do: không có thời gian cho bánh nổi lên (Xu 12:39), và men là một biểu tượng về sự bất khiết của dân Do Thái. Một tuần sau lễ Vượt Qua, họ buộc phải ăn bánh không men và phải cất bỏ hết men ra khỏi chỗ ở của họ.
    Men là một hình ảnh về tội lỗi: nó ẩn giấu; nó hoạt động lặng lẽ và bí mật; nó ăn lan và làm ô uế; và nó làm cho bột nhào nổi lên (“dậy lên” - ICo 4:18-5:2). Cả Chúa Giê-xu và Phao-lô đều so sánh sự dạy dỗ sai trật với men (Mat 16:6-12 Mac 8:15 Ga 5:1-9), và men cũng được ví sánh với sự giả hình (Lu 12:1) và đời sống tội lỗi (ICo 5:6-8). Phao-lô khuyên các hội thánh địa phương thanh tẩy mọi tội lỗi ra khỏi giữa vòng họ và dâng chính mình làm bánh không men cho Chúa.
    Nếu có phần thịt nào còn lại từ bữa tiệc thì phải bị thiêu đốt đi. Chiên con đặc biệt đến nỗi nó không thể bị xem như một loại thức ăn bình thường. Cũng như vậy, ma-na rất đặc biệt và không thể được tích trữ từ ngày này sang ngày khác trừ ngày trước lễ Sa-bát (Xu 16:14-22).
    Họ dự tiệc với tư cách gia đình và với tư cách hội chúng (12:25-28 13:8-10). Bữa ăn được chuẩn bị cho cả gia đình (12:3-4) và tất cả các thành viên trong gia đình phải cùng tham dự. Đức Chúa Trời quan tâm đến cả gia đình chớ không chỉ về cha mẹ. Nếu những đứa con quý báu trong các gia đình Do Thái không được bảo vệ bởi huyết và không được nuôi dưỡng bởi thức ăn thì chúng không thể được giải cứu khỏi xứ Ai Cập và đó sẽ là kết cuộc của dân tộc [40]
    Dù có nhiều gia đình Do Thái trong xứ Gô-sen, Đức Chúa Trời nhìn xem họ chỉ như một hội chúng (c.3-6). Khi những hội chúng Cơ Đốc địa phương ngày nay nhóm lại để kỷ niệm Tiệc Thánh, Đức Chúa Trời nhìn xem mỗi hội chúng như một bộ phận trong cùng một thân, là Hội Thánh. Đó là lý do Phao-lô có thể viết về “cả cái nhà… cả gia đình… cả thân thể” (Eph 2:21 3:15 4:16 NKJV). Bởi huyết chiên con Y-sơ-ra-ên đã trở nên một dân tộc, và bởi Chúa Giê-xu Christ Hội Thánh đã trở nên một thể hiệp nhất.
    Bữa ăn lễ Vượt Qua không chỉ là một lễ nghi cần phải tuân giữ (Xu 12:14,17,24,43), nhưng nó còn là một “kỷ niệm” được lập ra thành một lễ để nhắc nhớ trong Y-sơ-ra-ên câu chuyện về cuộc hành trình rời khỏi Ai Cập (c.14 13:8-10). Sau khi Y-sơ-ra-ên tiến vào và chinh phục vùng Đất Hứa, dân sự lo ổn định cuộc sống và dễ dàng quên đi những việc làm vĩ đại mà Đức Chúa Trời đã làm cho họ. Việc giữ lễ Vượt Qua hằng năm sẽ cho các bậc cha mẹ người Do Thái có thêm một cơ hội nữa để dạy cho con cái họ biết về ý nghĩa của sự tự do và về những gì mà Đức Chúa Trời đã làm cho họ. Những người lớn tuổi phải là “những mắt xích sống động” liên kết với quá khứ của Y-sơ-ra-ên hầu cho mỗi thế hệ mới sẽ hiểu được ý nghĩa của việc là một thành viên thuộc tuyển dân của Đức Chúa Trời (Phu 6:1-15 11:18-21 Thi 34:11 78:1-7 145:4).
    Vào những năm sau đó, cùng với (Phu 6:8-9) và (Phu 11:18), dân Do Thái chính thống đã hiểu (Xu 13:8-9,16) theo nghĩa đen. Môi-se nói rằng lễ Vượt Qua phải “giống như một dấu hiệu” (xem Xu 13:9 NIV), nghĩa là, một sự nhắc nhở họ về điều Chúa đã làm. Ngược lại, những người chính thống đã giải nghĩa điều này có nghĩa là những người nam Do Thái phải mang Kinh Thánh lên mình họ. Vì vậy, họ viết những đoạn Kinh Thánh trên giấy da và đặt chúng trong những chiếc hộp nhỏ và mang trên cánh tay trái và ở trán. Trong Tân Ước, chúng được gọi là “thẻ bài da” (Mat 23:5) [41]
    Việc dự tiệc bị cấm dối với những ai ở ngoài giao ước (Xu 12:43-51). Không chỉ “vô số người ngoại bang” đi chung với Y-sơ-ra-ên khi họ rời Ai Cập (c.38), nhưng dân Do Thái cũng gặp nhiều dân tộc khác trên đường đi và khi họ đến Ca-na-an.
    Y-sơ-ra-ên có thể bị cám dỗ để cho những láng giềng người ngoại bang tham dự cùng với họ trong việc dự lễ Vượt Qua - “Lễ Quốc Khánh” của họ, nhưng Chúa đã cấm việc làm này. Sau đó, Ngài cũng sẽ cấm dân Do Thái tham dự với những láng giềng của họ trong những lễ nghi tôn giáo ngoại bang, vì Y-sơ-ra-ên phải là một dân được biệt riêng cho Ngài (Phu 7:1-11) [42] .
    “Những người ngoại bang” này là ai mà Đức Chúa Trời phán dân Y-sơ-ra-ên không thể mời họ dự lễ Vượt Qua ? Họ không phải là dân Y-sơ-ra-ên, họ chưa bao giờ chịu phép cắt bì và do đó không phải là con cái của sự giao ước. Họ có thể là những nô lệ trong trại quân Y-sơ-ra-ên hoặc chỉ là những khách lạ (khách kiều ngụ) sống giữa vòng dân Do Thái. Bất cứ khách lạ hay tôi tớ nào cũng có thể chịu phép cắt bì và trở nên một thành viên của dân tộc này và được dự phần vào những đặc quyền của giao ước, nhưng họ cũng phải chấp nhận những trách nhiệm đi cùng.
    3. Lễ Vượt Qua và Đức Giê-hô-va (Xu 12:29-42,51)
    Chúng ta thường gọi sự kiện này là “Lễ Vượt Qua của dân Do Thái”, nhưng Kinh Thánh gọi đó là “lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va” (Le 23:5 Dan 28:16). Việc giữ lễ này còn hơn cả lễ kỷ niệm “Ngày Quốc Khánh”, vì lễ Vượt Qua được giữ “cho Đức Giê-hô-va” (Xu 12:48 Dan 9:10,14). “Ấy là tế lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va” (Xu 12:27). Trung tâm của mọi sự chú ý là Đức Giê-hô-va, vì những gì đã xảy ra vào đêm đặc biệt đó là vì cớ Ngài. Có ít nhất 17 lần trong (Xu 12:1-50) “Đức Giê-hô-va” được đề cập đến vì Ngài là Đấng đảm trách mọi sự.
    Đức Chúa Trời bày tỏ quyền năng Ngài (12:29-30). Sau khi dân Do Thái đã giữ lễ Vượt Qua “giữa các buổi chiều tối” thì họ chờ hiệu lệnh của Đức Chúa Trời để ra đi. Vào giữa đêm, Chúa đánh các con đầu lòng, sự chết đã đến trên mọi gia đình Ai Cập, có tiếng kêu la inh ỏi nổi lên khắp xứ (11:6 12:30). Sự chết không thiên vị một ai, và vào đêm đó nó đã đến trên gia đình của người tù nhân Ai Cập hèn hạ nhất cũng như của chính Pha-ra-ôn. Tuy nhiên, không có sự chết nào xảy ra giữa vòng dân Do Thái trong xứ Gô-sen. Bài học ở đây thật rõ ràng. Nếu bạn không được bảo vệ bởi huyết của Đấng Christ, thì khi sự chết đến, bạn sẽ hoàn toàn không có sự chuẩn bị, bạn không biết khi nào sự chết sẽ đến.
    Đức Chúa Trời đã giữ những lời hứa của Ngài (12:31-36). Đức Chúa Trời cho Môi-se biết điều sắp xảy ra và Môi-se đã thông báo điều đó cho Pha-ra-ôn (11:1-8), nhưng Pha-ra-ôn không tin. Tuy nhiên, lời của Đức Chúa Trời đã không qua đi. Như Ngài đã phán với Môi-se, các con đầu lòng ở Ai Cập đều chết, có một tiếng lạ rất lớn trong xứ, Pha-ra-ôn bảo dân Y-sơ-ra-ên phải ra đi, và dân Ai Cập cho đi của cải của họ cách rời rộng. Những lời hứa được thiết lập với Áp-ra-ham bao thế kỷ trước đây đã được ứng nghiệm trong đêm hôm đó (Sa 15:13-14). “Về các lời tốt lành mà Ngài đã cậy miệng Môi-se kẻ tôi tớ Ngài phán ra, chẳng có một lời nào không ứng nghiệm” (IVua 8:56).
    Đức Chúa Trời giải cứu dân Ngài (Xu 12:37-42,51). Dân Y-sơ-ra-ên đã dạn dĩ đi ra khỏi Ai Cập trước sự chứng kiến của dân Ai Cập là những người đang bận rộn chôn người chết của họ (Dan 33:3-4). Nếu có khoảng 600.000 người nam Do Thái tham dự trong cuộc hành trình rời Ai Cập, vậy tổng số dân Do Thái vào khoảng 2 triệu người. Giống như quân đội với những sư đoàn (Xu 12:17,50), họ bước đều nhanh nhẹn trong trật tự cùng những bầy chiên và gia súc của họ. Không một người Do Thái nào quá yếu mệt để không thể bước đi, và dân Ai Cập vui mừng khi thấy dân Do Thái ra khỏi xứ họ (Thi 105:37-38).
    Có hai từ khác nhau được dùng để mô tả điều mà bản dịch King James gọi là “đám đông pha tạp” đã rời Ai Cập cùng với dân Do Thái. Trong (Xu 12:38) từ này chỉ đơn giản là “đám người” hoặc “đám đông”, nhưng trong (Dan 11:4), từ được dùng là “đám người lộn xộn” (xem NIV). Điều này gợi ý rằng “đám đông pha tạp” là khởi đầu của mọi sự than phiền trong trại quân và từ đó đã gây ra nhiều chuyện rắc rối cho Môi-se. Một số người trong đám đông này có thể là dân Ai Cập đã kết hôn với dân Do Thái, đi ngược lại với luật pháp của Đức Chúa Trời; những người khác có thể là dân Ai Cập đã rất kính sợ và bị thu phục bởi quyền năng của Đức Giê-hô-va (Xu 9:20), và họ muốn cùng hưởng lợi khi ở với tuyển dân của Đức Chúa Trời. Có lẽ họ nghĩ rằng sẽ còn nhiều hình phạt nữa sẽ giáng trên xứ và họ muốn thoát khỏi những sự đoán xét ấy.
    Dù họ là ai, “đám đông pha tạp” này cũng là những đại diện cho thế gian - là những người tuy bên ngoài được đồng nhất với dân sự của Đức Chúa Trời, nhưng bên trong họ thực sự không phải là con cái Đức Chúa Trời. Họ có thể là thuộc viên trong Hội Thánh và thậm chí là những người lãnh đạo tôn giáo, nhưng thái độ và lòng ham muốn của họ về căn bản lại khác với những người thật sự thuộc về Chúa. Chúa Giê-xu đã cảnh cáo: “Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta ra rằng: Lạy Chúa, Lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của cha ta ở trên trời mà thôi” (Mat 7:21). Những đoàn dân đông đã đi theo Chúa Giê-xu trong suốt thời gian Ngài thi hành chức vụ trên đất, nhưng Ngài không có ấn tượng gì với những đám đông này. Xin xem (Mat 13:1-9,18-23 Lu 14:25-35 Gi 6:60-71).
    Những lời hứa của Đức Chúa Trời không bao giờ lầm lẫn và thời điểm mà Ngài đã định không hề sai trật (Xu 12:40-41). Cuộc hành trình rời Ai Cập đã xảy ra 480 năm trước năm trị vì thứ 4 của triều đại vua Sa-lô-môn (IVua 6:1), là vào năm 966 TC. Điều đó có nghĩa là niên đại của cuộc hành trình rời khỏi Ai Cập là 1446 TC, và con cháu của Gia-cốp đã ở Ai Cập từ năm 1876 TC. Cả (Sa 15:13) và (Cong 7:6) đều cho “400 năm” là một con số tròn, nhưng (Ga 3:17) ghi rõ là “430 năm”. Hầu hết các học giả Kinh Thánh thận trọng đều chấp nhận 1446 là niên đại của cuộc hành trình ra khỏi xứ Ai Cập.
    Rất nhiều chỗ trong Kinh Thánh đề cập đến cuộc hành trình của dân Y-sơ-ra-ên rời khỏi Ai Cập như một sự bày tỏ mạnh mẽ nhất về quyền năng của Đức Giê-hô-va trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Các đấng tiên tri nói về cuộc hành trình ra khỏi Ai Cập như một chứng cớ về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho Y-sơ-ra-ên (Gie 2:1-8 Os 11:1). Họ cũng liên hệ đến cuộc hành trình rời Ai Cập khi nói về sự giải phóng dân Do Thái ra khỏi cảnh giam cầm ở Ba-by-lôn (Gie 16:14 23:7-8). Ê-sai đã hứa hẹn về một tương lai sẽ nhóm họp Y-sơ-ra-ên lại trong xứ của họ và ông đã so sánh sự kiện này với cuộc hành trình rời Ai Cập (Es 11:15 43:14-21 51:9-11). Nhiều lần Ê-sai đã đề cập đến một “con đường cái” sẽ làm cho cuộc hành trình trong tương lai của dân Do Thái trở nên dễ dàng từ chính các dân tộc ngoại bang (11:16 19:23 35:8 62:10).
    4. Lễ Vượt Qua và các con đầu lòng (Xu 13:1-16)
    Phân đoạn này giải thích ý nghĩa của các con đầu lòng trong dân Y-sơ-ra-ên. Không chỉ mỗi năm một lần tại lễ Vượt Qua dân Do Thái mới được nhắc nhở về ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời, nhưng mỗi khi con đầu lòng, của con người hay súc vật, ra đời thì con đầu lòng đó phải được chuộc. Vì Đức Chúa Trời đã có những hành động mạnh mẽ để bảo vệ và cứu con đầu lòng của con người lẫn gia súc ra khỏi sự chết (12:12-13), nên mọi con đầu lòng đều thuộc về Đức Chúa Trời. Những con đầu lòng này được thánh hóa, nghĩa là được biệt riêng ra cho Đức Chúa Trời.
    Nghi lễ về sự cứu chuộc sẽ có hiệu lực khi dân Do Thái đã vào vùng Đất Hứa, và sau đó Môi-se sẽ giải thích cách thực hiện nghi lễ này (Le 12:1-8 Dan 18:14-19). Lừa là một con vật không thanh sạch nên con đầu lòng của nó không thể dâng làm của lễ cho Đức Chúa Trời, vì vậy nó phải được chuộc bởi chiên con. Là một con vật có sức lao động đáng kể, lừa chỉ được để lại bởi cách này, nhưng nếu con vật này không được chuộc thì nó phải bị giết đi. Các bậc cha mẹ sẽ đem con trai đầu lòng của họ đến với Chúa và dâng lên những của lễ thích hợp (Le 12:6-8). Khi Ma-ri và Giô-sép đến đền thờ để làm lễ chuộc tội cho Đấng Cứu Chuộc, họ đã đem đến của lễ khiêm nhường của những người nghèo (Lu 2:21-24).
    Khi một con trai hay một con vật đầu lòng được làm lễ chuộc tội thì vào dịp này những người lớn có cơ hội để giải thích thể nào Đức Chúa Trời đã cứu những con đầu lòng trong xứ Gô-sen vào đêm lễ Vượt Qua, và thể nào Ngài đã giết tất cả các con đầu lòng của Ai Cập, cả người lẫn gia súc. Ngay cả khi không phải thực hiện nghĩa vụ gì có liên quan đến thứ tự ra đời trong gia đình, mỗi con trai đầu lòng trong gia đình Do Thái cũng rất đặc biệt đối với cha mẹ của họ và với Chúa.
    5. Lễ Vượt Qua và Môi-se (Xu 13:1-16) (He 11:27-29)
    Chúng ta không được quên rằng chính Môi-se, từng là một người nhút nhát và hay viện dẫn lý do, đã cùng A-rôn anh mình chạm trán với Pha-ra-ôn hết lần này đến lần khác và cuối cùng đã chiến thắng được Pha-ra-ôn cùng mọi thế lực của Ai Cập. (He 11:1-42) nhắc nhở chúng ta rằng Môi-se đã thực hiện mọi điều này bởi đức tin nơi Đức Chúa Trời hằng sống. Lễ Vượt Qua và cuộc hành trình rời khỏi Ai Cập là những mốc kỷ niệm cho quyền năng của đức tin.
    (He 11:27) đề cập đến (Xu 10:28-29) lúc Pha-ra-ôn đe dọa sẽ giết Môi-se nếu người đến gặp ông ta một lần nữa. Môi-se tin những lời hứa của Đức Chúa Trời và chẳng hề sợ hãi về những điều vua có thể làm. Đức tin đơn giản chỉ là việc chúng ta nhờ cậy Đức Chúa Trời và vâng theo Lời Ngài, bất kể những cảm xúc, hoàn cảnh hay hậu quả. Bởi đức tin, Môi-se đã giữ lễ Vượt Qua cho dù việc giết chiên con và bôi huyết trên cửa có vẻ buồn cười đối với dân Ai Cập và chắc chắn đã gây xúc phạm đến họ. Bất cứ lúc nào, Pha-ra-ôn cũng có thể sai quần thần của ông ta đến cùng Môi-se và giết người, nhưng Đức Chúa Trời đã giữ người luôn được an toàn.
    Chính đức tin nơi Lời Đức Chúa Trời đã đem Môi-se trở lại Ai Cập để dẫn dắt dân sự ông; chính đức tin đã đem ông ra khỏi Ai Cập; và chính đức tin đã phân cách ông cùng dân sự khỏi Ai Cập khi họ vượt qua Biển Đỏ. Dù hoàn cảnh có thế nào đi chăng nữa thì chúng ta cũng có thể tin cậy Đức Chúa Trời sẽ giải cứu và giúp chúng ta vượt qua.
    Chúa Giê-xu đã thiết lập Tiệc Thánh sau khi Ngài hướng dẫn các môn đồ trong việc giữ lễ Vượt Qua, vì Ngài là Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng chết thay tội lỗi của thế gian, và vì thế Ngài chính là sự ứng nghiệm của lễ Vượt Qua. Mỗi khi chúng ta dự Tiệc Thánh, chúng ta có dịp nhìn lại và nhớ lại sự chết của Ngài, nhưng chúng ta cũng phải nhìn lên phía trước và trông đợi sự tái lâm của Ngài. Khi Chúa Giê-xu tái lâm, một cuộc hành trình kỳ diệu sẽ diễn ra ! Những người chết trong Đấng Christ sẽ được sống lại và những tín đồ đang sống sẽ được cất lên cùng với họ và được vào thiên đàng để ở với Chúa (ITe 4:13-18).
    Ha-lê-lu-gia ! Ngài thật là một Cứu Chúa siêu việt !
    5. ĐƯỢC CỨU CHUỘC VÀ VUI MỪNG (Xu 13:17-15:21)
    “Lịch sử không giao phó mãi sự tự do cho những kẻ yếu đuối hoặc những người nhút nhát lo liệu.”
    Tổng thống Dwight D.Eisenhower đã nói những lời này trong bài diễn văn khai mạc đầu tiên của ông, ngày 20/1/1953. Với tư cách là người lãnh đạo các nước Đồng minh đi đến chiến thắng trong cuộc Thế Chiến thứ 2, tướng Eisenhower hiểu rất rõ về cái giá phải trả của sự chiến thắng cũng như về gánh nặng tự do luôn đeo theo đó. Nhà viết tiểu thuyết người Anh Charles Kingsley đã phát biểu rất hợp lý rằng: “Có hai sự tự do: sự tự do sai trật - con người tùy ý làm theo những điều ưa thích; và sự tự do thật - con người được tự do để làm những điều cần phải làm”. Suốt lịch sử của họ, dân Y-sơ-ra-ên đã phải vật lộn với cả hai sự tự do này, và dân sự Đức Chúa Trời ngày nay vẫn như thế.
    Sẽ là một dấu hiệu về sự trưởng thành khi chúng ta học biết rằng sự tự do là một công cụ để xây dựng, không phải là một món đồ để chơi, và sự tự do đó còn đòi hỏi việc phải nhận lấy những trách nhiệm. Những kinh nghiệm về cuộc hành trình rời khỏi Ai Cập của Y-sơ-ra-ên đã dạy họ rằng sự thành công trong tương lai của họ tùy thuộc vào việc thực hiện ba trách nhiệm quan trọng: bước theo Chúa (13:17-27), tin cậy Chúa (14:1-31), và ngợi khen Chúa (15:12-21).
    1. Bước theo Chúa (Xu 13:17-22)
    Cuộc hành trình rời Ai Cập của Y-sơ-ra-ên không phải đã kết thúc những kinh nghiệm của họ với Đức Chúa Trời, nhưng đây lại là một sự khởi đầu mới. George Morrison đã nói: “Chỉ mất một đêm để đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, nhưng phải mất 40 năm để đem Ai Cập ra khỏi Y-sơ-ra-ên” [43] . Nếu Y-sơ-ra-ên vâng theo ý muốn của Đức Chúa Trời, Ngài sẽ đem họ vào Đất Hứa và ban cho họ sản nghiệp của họ. Bốn mươi năm sau đó, Môi-se sẽ nhắc nhở thế hệ mới rằng “Ngài đã đem các ngươi ra khỏi Ai Cập… để đem các ngươi vào Đất Hứa, ban cho các ngươi xứ làm sản nghiệp” (Phu 4:37-38 NKJV).
    Chúng ta cũng có thể nói về sự cứu chuộc mà chúng ta có trong Đấng Christ rằng: Đức Chúa Trời đã đem chúng ta ra khỏi ách nô lệ để Ngài có thể đem chúng ta đến với sự phước hạnh. A.W.Tozer thường nhắc nhở chúng ta rằng “chúng ta được cứu để đến với cũng như chúng ta đã được cứu ra khỏi [44] . Người tin nhận Chúa Giê-xu Christ được tái sinh trong gia đình Đức Chúa Trời, nhưng đó chỉ là sự khởi đầu của một cuộc mạo hiểm mới đầy thú vị sẽ dẫn đến sự tăng trưởng và đầu phục. Đức Chúa Trời giải phóng chúng ta và dẫn dắt chúng ta qua nhiều kinh nghiệm của cuộc sống, từng ngày từng giờ, hầu cho chúng ta có thể học biết Ngài rõ hơn và bởi đức tin cầu xin cho mình tất cả những gì Ngài muốn chúng ta có. Đồng thời, chúng ta sẽ ngày càng được biết về chính mình rõ hơn; chúng ta khám phá ra những điểm mạnh cùng những điểm yếu của mình và được tấn tới trong sự thông biết ý muốn Đức Chúa Trời và trong sự tin cậy nơi những lời hứa của Ngài.
    Đức Chúa Trời vạch ra đường đi cho dân sự Ngài (Xu 13:17-18). Không điều gì ngoài ý chỉ của Đức Chúa Trời, vì trong sự định liệu của Ngài, Ngài vạch ra đường lối tốt nhất cho dân sự Ngài. Chúng ta không phải lúc nào cũng có thể hiểu được đường lối Ngài đã chọn, hay thậm chí không đồng ý với điều đó, nhưng đường lối của Ngài luôn là đường lối đúng đắn. Chúng ta có thể nói cách quả quyết rằng: “Ngài dẫn tôi vào các lối công bình vì cớ danh Ngài” (Thi 23:3 NKJV), và chúng ta phải khiêm cung cầu nguyện: “Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy chỉ cho tôi các đường lối Ngài; xin dạy dỗ tôi các nẻo của Ngài. Xin hãy dẫn tôi trong lẽ thật của Ngài và dạy dỗ tôi” (25:4-5 NKJV).
    Nếu có một nhà chiến lược quân sự nào ở Y-sơ-ra-ên vào đêm đó, có thể họ sẽ không đồng ý với con đường tản cư mà Đức Chúa Trời đã chọn vì nó quá dài [45] . Nơi đến gần nhất của Y-sơ-ra-ên là núi Si-nai, nhưng tại sao phải đưa hằng triệu con người đi qua một đoạn đường dài thay vì nên chọn một con đường ngắn hơn và dễ đi hơn ? Câu trả lời là: vì có những trạm quân sự của người Ai Cập nằm dọc theo các con đường ngắn, và quân lính đóng ở đó sẽ chặn đường tiến của dân Do Thái. Hơn nữa, việc vượt qua biên giới Phi-li-tin sẽ rước lấy sự tấn công từ phía quân đội của nước này, và điều cuối cùng Y-sơ-ra-ên cần là tránh một cuộc chiến với các nước láng giềng. Đức Chúa Trời biết việc Ngài đang làm khi Ngài chọn cho Y-sơ-ra-ên con đường dài hơn.
    Nếu bạn để Chúa hướng dẫn những bước đi của bạn (Ch 3:5-6), hãy chuẩn bị để có lúc bạn sẽ được dẫn dắt để bước đi trên những con đường dường như loanh quanh và xa xôi một cách không cần thiết. Hãy tự nhắc nhở mình rằng Đức Chúa Trời biết rõ việc Ngài đang làm, Ngài không vội vàng, và cho đến khi bạn còn bước đi theo Ngài thì bạn vẫn được an ninh và ở trong nơi phước hạnh của Ngài. Ngài có thể đóng một vài cánh cửa rồi bất ngờ mở ra những cánh cửa khác, và chúng ta cần phải tỉnh thức (Cong 16:6-10 IICo 2:12-13).
    Đức Chúa Trời khích lệ đức tin của dân sự Ngài (Xu 13:19). Trước khi chết, Giô-sép đã bắt các anh em của ông hứa rằng khi Đức Chúa Trời giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập, con cháu họ sẽ đem hài cốt của ông đến Đất Hứa (Sa 50:24-25 He 11:22). Giô-sép biết rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ lời hứa của Ngài và cứu con cái của Y-sơ-ra-ên (Sa 15:13-16). Giô-sép cũng biết rằng ông thuộc về xứ Ca-na-an cùng với dân sự ông (49:29-33).
    Hài cốt này có ý nghĩa gì đối với các thế hệ dân Do Thái là những người đã sống qua những năm tháng dưới ách nô lệ khủng khiếp ở Ai Cập ? Chắc chắn là dân Do Thái có thể nhìn xem hài cốt của Giô-sép và được khích lệ. Xét cho cùng, Chúa đã gìn giữ Giô-sép qua suốt những hoạn nạn thử thách của ông, và sau cùng Ngài đã giải cứu ông, và rồi Ngài cũng sẽ gìn giữ dân tộc Y-sơ-ra-ên và cuối cùng giải phóng họ. Suốt những tháng năm trong đồng vắng, Y-sơ-ra-ên đã nhìn xem hài cốt của Giô-sép như một điều nhắc nhở với họ rằng Đức Chúa Trời có những thời điểm của Ngài và sẽ giữ những lời hứa của Ngài. Giô-sép đã chết, nhưng ông vẫn đang làm chứng cho sự thành tín của Đức Chúa Trời. Khi đã đến trong xứ mình, dân Do Thái giữ lời hứa của họ và chôn Giô-sép cùng với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp (Gios 24:32).
    Phải chăng những vật được dùng để nhắc nhở chúng ta về sự thành tín của Đức Chúa Trời là những thần tượng ? Sẽ không nhất thiết là như vậy, vì bạn sẽ thấy có nhiều tượng đài kỷ niệm quan trọng trong sách Giô-suê. Khi dân Y-sơ-ra-ên vượt qua sông Giô-đanh, họ đã dựng lên một đài kỷ niệm bằng đá trên bờ biển bên kia để kỷ niệm những điều mà Đức Chúa Trời đã làm cho Y-sơ-ra-ên (Gio 4:1-24). Họ cũng đặt những hòn đá trên núi Ê-banh và núi Ga-ri-xim để nhắc nhở họ về luật pháp Đức Chúa Trời (Xu 8:30-35). “Một đống đá” đã làm chứng cho sự giả dối của A-can (Gios 7:25-26), và “hòn đá làm chứng” là vật nhắc nhở về sự tái dâng hiến của Y-sơ-ra-ên sau khi chinh phạt xứ (Gio 24:24-28). Sa-mu-ên dựng lên một hòn đá để kỷ niệm chiến thắng của Y-sơ-ra-ên đối cùng dân Phi-li-tin và gọi nó là “Ê-bên Ê-xe, hòn đá giúp đỡ” (ISa 7:12).
    Khi chúng ta còn tiếp tục vâng lời Chúa thì những vật nhắc nhở như thế vẫn có thể khích lệ đức tin của chúng ta. Điều quan trọng là những vật đó phải hướng về Chúa chớ không phải về một quá khứ chết, và ngày hôm nay chúng ta vẫn phải tiếp tục bước đi bởi đức tin và vâng giữ Lời Chúa.
    Đức Chúa Trời đi trước dân sự Ngài để dẫn đường (Xu 13:20-22). Y-sơ-ra-ên được dẫn dắt bởi một trụ (cột) mây vào ban ngày và trở thành một trụ lửa vào ban đêm. Trụ này được xem là Thiên Sứ của Chúa đã dẫn đường cho dân sự (14:19 23:20-23 Ne 9:12). Đôi khi Đức Chúa Trời phán từ trụ mây (Dan 12:5-6 Phu 31:15-16 Thi 99:7), và trụ mây cũng che chở cho dân sự khỏi ánh nắng gay gắt khi họ ra đi vào ban ngày (Thi 105:39). Khi áng mây di chuyển thì trại quân di chuyển; khi áng mây dừng lại thì trại quân dừng lại (Xu 40:34-38).
    Ngày nay tuy không có sự hướng dẫn có thể trông thấy giống như vậy nhưng chúng ta thật sự có Lời Đức Chúa Trời là ánh sáng (Thi 119:105), và là lửa (Gie 23:29). Thật đáng chú ý rằng trụ lửa ban ánh sáng cho dân Do Thái nhưng là lại sự tối tăm cho dân Ai Cập (Xu 14:20). Dân sự Đức Chúa Trời được soi sáng bởi Lời Chúa (Eph 1:15-23), nhưng những người chưa được cứu không thể hiểu được lẽ thật của Đức Chúa Trời (Mat 11:25 ICo 2:11-16).
    Thánh Linh của Đức Chúa Trời, là Thần Lẽ thật, sẽ dẫn dắt chúng ta qua việc dạy dỗ Lời Chúa cho chúng ta (Gi 16:12-13). Như Đức Chúa Trời đã phán với Môi-se từ trụ mây, Chúa cũng giao thông với chúng ta qua Lời Kinh Thánh bằng cách khiến Lời ấy trở nên rõ ràng với chúng ta. Có những khi chúng ta không chắc chắn về con đường mà Đức Chúa Trời muốn chúng ta phải đi, nhưng nếu chúng ta biết chờ đợi Ngài thì cuối cùng Ngài cũng sẽ dẫn dắt chúng ta.
    Sẽ thật là dại dột nếu dân Do Thái dừng lại giữa chuyến đi của họ và bốc thăm để biết được con đường đi đến núi Si-nai ! Chắc chắn là sẽ có một nơi để mọi người cùng bàn luận và trưng cầu dân ý (Cong 6:1-7), nhưng khi Đức Chúa Trời đã phán bảo thì không cần đến sự tham vấn nữa. Hơn một lần trong Kinh Thánh cho thấy số đông đã sai lầm.
    2. Tin cậy Chúa (Xu 14:1-31)
    “Ngài cho Môi-se biết những đường lối của Ngài, cho con cái Y-sơ-ra-ên biết những hành động của Ngài” (Thi 103:7 NKJV). Dân Do Thái được cho biết điều Đức Chúa Trời muốn họ làm, nhưng Môi-se được cho biết lý do Đức Chúa Trời làm điều ấy. “Bí mật của Chúa ở cùng những người kính sợ Ngài” (25:14). Chức lãnh đạo của Môi-se là một yếu tố chính trong sự thành công của Y-sơ-ra-ên.
    Sự đuổi bắt của đội quân Ai Cập (Xu 14:1-9). Pha-ra-ôn và quần thần của ông ta nhận ra rằng khi để cho các nô lệ Do Thái trốn thoát thì sự đe dọa sẽ đến, nếu không muốn nói là phá hoại, toàn bộ nền kinh tế của Ai Cập, vì thế điều hợp lý cần phải làm là đuổi theo dân Do Thái và đem họ trở về. Giờ đây chúng ta được cho thấy một lý do khác vì sao Chúa đã chọn con đường này: những lời thuật lại sẽ thuyết phục Pha-ra-ôn tin rằng dân Do Thái đang lang thang như những chiên đi lạc trong đồng vắng và do đó là mồi ngon cho quân đội ông ta đuổi theo và bắt lại. Chúa đang đưa người Ai Cập vào bẫy của Ngài.
    Điều dường như là một chiến thắng dễ dàng đối với Ai Cập sẽ trở thành một sự thất bại nhục nhã, và mọi vinh hiển sẽ thuộc về Chúa. Một lần nữa, Ngài sẽ chiến thắng Pha-ra-ôn cùng các thần của Ai Cập. Pha-ra-ôn đã trưng dụng mọi xe ngựa của Ai Cập, cưỡi trên cỗ xe ngựa hoàng gia của ông ta và đuổi theo dân Y-sơ-ra-ên.
    Sự hoảng sợ của Y- sơ-ra-ên (Xu 14:10-12). Khi dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn hướng mắt về phía trụ lửa và bước đi theo Chúa thì họ vẫn đang bước đi bởi đức tin và không kẻ thù nào có thể gây hại cho họ. Nhưng khi họ rời mắt khỏi Chúa và nhìn lại, và rồi nhìn thấy dân Ai Cập đang đến đuổi gần, họ trở nên hoảng sợ và bắt đầu than vãn.
    Những câu này cho chúng ta biết về thái độ cư xử đáng buồn của dân Y-sơ-ra-ên trong suốt hành trình của họ từ Ai Cập đến xứ Ca-na-an. Khi mọi việc vẫn còn tiến triển theo chiều hướng tốt đẹp thì họ thường vâng theo Chúa và Môi-se, và được tấn tới. Nhưng nếu gặp phải hoàn cảnh khó khăn hay thiếu thốn thì họ lập tức phàn nàn với Môi-se và với Chúa và đòi được trở lại xứ Ai Cập. Tuy nhiên, trước khi chỉ trích dân Do Thái, có lẽ chúng ta nên xem xét chính lòng mình. Sự thất vọng và nản lòng nào đã khiến chúng ta không vui mừng với ý muốn của Chúa đến nỗi chúng ta không còn tin tưởng nơi Ngài và bắt đầu phàn nàn ? “Vì chúng ta bước đi bởi đức tin, chớ chẳng phải bởi mắt thấy” (IICo 5:7).
    Khi bạn quên đi những lời hứa của Đức Chúa Trời, bạn sẽ bắt đầu tưởng tượng ra câu chuyện tồi tệ nhất có thể xảy ra. Dân Do Thái tin chắc rằng họ và con cái họ sẽ chết trong đồng vắng ngay khi đội quân Pha-ra-ôn bắt kịp họ. Những con người sợ hãi nhắc nhở Môi-se rằng họ đã bảo ông hãy để mặc họ (Xu 5:20-23), nhưng ông cứ nhất quyết thách thức Pha-ra-ôn. Y-sơ-ra-ên giờ đây ở trong một tình thế thật đáng kinh khiếp, và Môi-se thật đáng bị khiển trách. Sự vô tín có thể xóa bỏ khỏi ký ức chúng ta mọi sự bày tỏ chúng ta đã được xem thấy về quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời và mọi điều chúng ta đã được biết về sự thành tín của Đức Chúa Trời đối với Lời Ngài.
    Quyền năng của Đức Chúa Trời (Xu 14:13-31). Môi-se là một người có đức tin, ông biết rằng quân đội của Pha-ra-ôn chẳng phải là một sự đe dọa đối với Đức Giê-hô-va. Ông đưa ra nhiều mệnh lệnh cho dân sự và mệnh lệnh đầu tiên là “chớ sợ chi” (c.13) [46] Đôi khi sự sợ hãi tiếp thêm nghị lực cho chúng ta và chúng ta nhanh chóng tìm cách tránh khỏi sự nguy hiểm, nhưng đôi khi sự sợ hãi lại làm chúng ta tê liệt và chúng ta không biết phải làm gì. Y-sơ-ra-ên đã rất bối rối và muốn chạy trốn vì vậy Môi-se đã ra mệnh lệnh thứ hai của ông: “Hãy đứng yên và xem sự giải cứu của Đức Giê-hô-va” (c.13). Bởi đức tin, dân Do Thái đã ra khỏi Ai Cập, và giờ đây bởi đức tin, họ sẽ đứng yên và quan sát Đức Chúa Trời tiêu diệt những kẻ đánh xe ngựa của Ai Cập.
    Môi-se không chỉ bảo họ đứng yên, mà còn bảo “hãy yên lặng” (c.14). Sẽ rất dễ để chỉ khóc lóc, phàn nàn và tiếp tục chỉ trích Môi-se, nhưng không một việc làm nào trong những điều đó giúp họ thoát khỏi tình thế khó khăn. Sự vô tín gây điều phàn nàn, nhưng đức tin luôn vâng lời và đem sự vinh hiển đến cho Chúa. “Hãy yên lặng và biết rằng ta là Đức Chúa Trời” (Thi 46:10). Có gì để phàn nàn khi chúng ta đã có lời hứa kỳ diệu: “Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho các ngươi” ? (Xu 14:14). Sau này trong cuộc hành trình của họ, Chúa sẽ giúp Giô-suê và đội quân Do Thái đánh trận (17:8). Nhưng lúc này, Đức Chúa Trời sẽ đánh bại dân Ai Cập mà không cần đến sự hỗ trợ của dân Y-sơ-ra-ên.
    Mệnh lệnh tiếp theo dành cho Môi-se đến từ Đức Chúa Trời: “Hãy đi tới !” (c.15). Việc Y-sơ-ra-ên đối diện với biển cả chẳng là vấn đề gì đối với Đức Chúa Trời, và Ngài đã cho Môi-se biết chính xác việc cần phải làm. Khi Môi-se giơ cây gậy của ông lên, dòng nước sẽ chia ra và dân Y-sơ-ra-ên có thể băng qua trên khoảng đất khô và thoát khỏi đội quân Ai Cập. Theo hiệu lệnh của Môi-se, khi ấy nước sẽ dồn lại, nhận chìm các tên lính của Ai Cập, và ngăn không cho dân Y-sơ-ra-ên trở lại Ai Cập. Trong những năm sau đó, mỗi khi dân Do Thái bày tỏ ước muốn được trở lại Ai Cập, lẽ ra họ phải nhớ lại rằng Đức Chúa Trời đã ngăn lại những con nước và khóa chặt những cánh cửa.
    Vì sao Đức Chúa Trời thực hiện các phép lạ này cho dân Do Thái ? Chắc chắn là họ không xứng đáng để nhận lãnh điều này khi họ đang đứng đó khúm núm trong sự sợ hãi và phàn nàn rằng Đức Chúa Trời dường như không biết điều Ngài đang làm. Trước hết, Ngài đang giữ lời hứa của Ngài rằng Ngài sẽ giải cứu dân Y-sơ-ra-ên và nhận họ làm dân sự của Ngài (3:7-8). Trong những năm sau đó, những người Do Thái mộ đạo sẽ đo lường mọi sự bằng sự bày tỏ về quyền năng vĩ đại của Đức Chúa Trời qua cuộc hành trình rời Ai Cập. Nhưng Đức Chúa Trời nghĩ đến một mục đích khác, đó là: bày tỏ một lần nữa quyền năng và sự vinh hiển của Ngài qua sự thất bại của đội quân Ai Cập. “Và dân Ai Cập sẽ biết rằng ta là Đức Giê-hô-va” (14:18).
    Cột lửa di chuyển giữa dân Y-sơ-ra-ên và Ai Cập cho thấy rằng Đức Chúa Trời đã trở nên một bức tường che chắn giữa dân sự Ngài và kẻ thù của họ. Cột lửa này ban ánh sáng cho dân Y-sơ-ra-ên nhưng đem lại sự tối tăm cho kẻ thù vì dân Ai Cập vô tín không thể hiểu được đường lối của Đức Chúa Trời. Khi Môi-se giơ tay ra, Chúa giáng một luồng gió mạnh dồn nước biển lại và mở ra một con đường cho dân Do Thái vượt qua. (Thi 77:16-20) cho thấy có một cơn mưa bão dữ dội đi kèm với những cơn gió cấp cao, và sau khi dân Y-sơ-ra-ên đã đi qua, cơn mưa bão này biến con đường khô ráo của Y-sơ-ra-ên thành một con đường bùn lầy. Khi quân lính Ai Cập cố sức đuổi theo, bùn lầy đã vô hiệu hóa những cỗ xe ngựa và ngăn trở bước tiến của họ, rồi khi nước biển đổ ập xuống trở lại, quân lính của Ai Cập đều bị nhận chìm vào trong biển cả. Đó thật sự là một đêm đáng nhớ.
    Biết kẻ thù đang đuổi theo mình, và nghe gió thổi cả đêm, dân Y-sơ-ra-ên chắc đang tự hỏi điều gì sắp xảy ra và vì sao Đức Chúa Trời lại hành động quá lâu. Nhưng khi chúng ta có đức tin nơi lời hứa của Đức Chúa Trời thì chúng ta sẽ có sự bình an trong lòng. Chúa Giê-xu đã hỏi các môn đồ sau khi Ngài làm yên một cơn bão: “Vì sao các ngươi quá sợ hãi ? Các ngươi không có đức tin sao?” (Mac 4:40 NKJV). Đức tin và sự sợ hãi không thể ngự trị trong cùng một tấm lòng, vì điều này sẽ hủy hoại điều kia. Đức tin thật tùy thuộc vào lời Đức Chúa Trời phán bảo, không phải dựa trên điều chúng ta thấy hay cách chúng ta cảm nhận. Thật là một điều hợp lý khi cho rằng đức tin không phải là sự tin tưởng bất chấp chứng cớ - đây là một sự mê tín; nhưng đức tin là sự vâng lời bất chấp hậu quả. dân sự. Các tác giả Thi Thiên sau này sẽ ca tụng Chúa về những công việc lớn lao của Ngài tại Biển Đỏ (Thi 66:78,80-81,105-106,136), và các tiên tri sẽ dùng cuộc hành trình rời Ai Cập để khích lệ những phu tù người Do Thái khi họ trở về xứ sau khi đã bị giam cầm tại Ba-by-lôn (Es 43:1-7)
    Một loạt các phép lạ từ trời chắc chắn là một sự mặc khải về sự vĩ đại và quyền năng của Đức Chúa Trời, về sự thành tín của Ngài đối với những lời hứa, và về mối quan tâm của Ngài dành cho 52:11-12 55:12-13 Gie 16:14-15 23:7-8), cũng như để thúc đẩy dân tộc sa ngã trở lại cùng Chúa (Gie 2:2-3 Exe 20:1-44 Os2:14-23 Am 3:1-15 Mi 6:3-4) [47]
    Vị trí của Môi-se (Xu 14:31 ICo 10:1-2). Phao-lô nhìn xem sự vượt biển của Y-sơ-ra-ên như một “sự làm phép báp-tem” vì nước ở hai bên giống như một bức tường và áng mây tượng trưng cho sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở phía sau và bên trên họ. Như đã xảy ra, dân Y-sơ-ra-ên được “nhận chìm” khi họ nhanh chóng vượt qua lòng biển khô ráo. Sự giải cứu họ chắc chắn là một hành động của Đức Chúa Trời, nhưng sự giải cứu này chỉ được thực hiện qua sự lãnh đạo biết vâng phục của Môi-se, kết quả là “Dân sự… tin Chúa và tôi tớ Ngài là Môi-se” (14:31). Giờ đây họ được lập thành một dân tộc có Môi-se là lãnh đạo của họ. Qua “phép báp-tem” này, dân Y-sơ-ra-ên đã được hiệp làm một với Môi-se, cũng như qua phép báp-tem bằng nước mà dân sự Đức Chúa Trời ngày nay được hiệp nên một thể với Chúa Giê-xu Christ. Phép lạ về Cuộc Hành Trình rời Ai Cập đã trở nên một phần trong sự xưng nhận đức tin của Y-sơ-ra-ên khi họ đem những của lễ dâng lên cho Chúa (Phu 26:1-11).
    3. Ngợi khen Chúa (Xu 15:1-21)
    Kẻ thù đã bị nhận chìm và sự tự do được bảo đảm, dân Y-sơ-ra-ên giờ đây cùng cất cao tiếng hát ca ngợi Chúa. Chúng ta không thấy dân Y-sơ-ra-ên ngợi khen Đức Chúa Trời trong lúc họ bị bắt làm nô lệ ở Ai Cập, và khi ra khỏi xứ này, họ vẫn tiếp tục phàn nàn cùng Môi-se và đề nghị ông cho họ quay trở lại. Nhưng cần phải có sự trưởng thành để dân sự Đức Chúa Trời có thể cất lên “bài ca trong đêm” (Giop 35:10 Thi 42:8 Mat 26:30 Cong 16:25) mà dân Do Thái lại có đức tin rất non nớt vào thời điểm đó.
    Bài thánh ca tôn vinh này có 4 phổ thơ, bao gồm: sự chiến thắng của Đức Chúa Trời được rao ra (Xu 15:1-5), những vũ khí của Đức Chúa Trời được mô tả (c.6-10), đặc tính của Đức Chúa Trời được ca tụng (c.11-16a), và những lời hứa của Đức Chúa Trời được thực hiện (c.16b-18).
    Chiến thắng của Đức Chúa Trời được rao ra (Xu 15:1-5). Chúa đã được đề cập đến 10 lần trong thánh ca này khi Y-sơ-ra-ên hát cho Chúa và hát về Chúa vì sự thờ phượng thật cần có những lời chứng trung thực về bản chất của Đức Chúa Trời và về những gì Đức Chúa Trời đã làm cho dân sự Ngài.
    Chiến thắng của Đức Chúa Trời là một chiến thắng đầy vinh hiển vì đây hoàn toàn là công việc của tay Chúa. Đội quân Ai Cập bị nhận chìm dưới biển (c.1-4), quân lính bị chìm như những hòn đá (c.5) và như cục chì (c.10). Họ bị thiêu cháy như rơm rạ bị đốt (c.7). Pha-ra-ôn đã hạ lệnh nhận chìm các bé trai Do Thái, vì vậy Đức Chúa Trời đã đáp trả lại ông ta và nhận chìm các đội quân của ông ta.
    Câu nhận định “Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ” (c.3) có thể gây khó chịu cho những người có cảm nghĩ rằng bất cứ điều gì có liên quan đến chiến tranh đều là xa lạ đối với Phúc Âm và đời sống Cơ Đốc. Một số giáo phái đã đem những thánh ca mang tính “chiến đấu” ra khỏi những sách thánh ca của họ, kể cả bài “Hãy Tiến Lên Hỡi Những Chiến Sĩ Cơ Đốc” (Onward Christian Soldiers). Nhưng Môi-se đã hứa với dân sự rằng: “Đức Giê-hô-va sẽ chiến cự cho các ngươi” (14:14 Phu 1:30), và một trong những danh của Đức Chúa Trời là “Jehovah-Sabaoth” nghĩa là “Đức Giê-hô-va vạn quân, Chúa của các đội quân”, một danh hiệu đã được sử dụng 285 lần trong Kinh Thánh Cựu Ước. Martin Luther đã viết trong Thánh ca cải cách của ông “A Mighty Fortress is Our God” (Đức Chúa Trời Chúng Ta Là Đồn Lũy Kiên Cố) rằng:
    “Nếu chúng ta dựa vào sức riêng của mình,
    Nỗ lực của chúng ta sẽ thất bại,
    Chẳng phải Con Người công bình ở cạnh chúng ta đó sao,
    Là Người do chính Đức Chúa Trời chọn lựa.
    Hãy hỏi xem đó có thể là ai ?
    Christ Giê-xu, ấy là Ngài;
    Danh Ngài là Chúa vạn quân,
    Và Ngài phải thắng mọi chiến trận”.
    Nếu trên thế giới này có một kẻ thù như Sa-tan, và nếu tội lỗi và điều ác thật đáng căm ghét đối với Đức Chúa Trời thì khi đó Ngài phải tiến hành cuộc chiến chống lại chúng. “Đức Giê-hô-va sẽ đi ra như người mạnh dạn, Ngài sẽ giục lòng sốt sắng mình như người lính chiến; Bằng một tiếng reo hò Ngài sẽ tuyên chiến và sẽ đắc thắng trên các kẻ thù mình” (Es 42:12 NIV). Chúa Giê-xu Christ vừa là Chiên Con chết thay tội lỗi chúng ta, vừa là Sư Tử xét đoán tội lỗi (Kh 5:5-6) và một ngày nào đó Ngài sẽ cưỡi ngựa chinh phục những kẻ thù của Ngài (19:11). Nếu chỉ nhấn mạnh đến “Đức Chúa Trời là tình yêu” (IGi 4:8,16) và bỏ qua “Đức Chúa Trời là sự sáng” (IGi 1:5) thì chúng ta đã tước đoạt của Đức Chúa Trời những thuộc tính về sự công nghĩa, sự thánh khiết và công chính của Ngài.
    Có ba trường hợp đặc biệt được ghi lại trong Kinh Thánh mà dân Do Thái đã hát “Đức Giê-hô-va là sức mạnh và bài ca của tôi, và Ngài đã trở nên sự cứu rỗi của tôi” (Xu 15:2), đó là: khi Đức Chúa Trời giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi Ai Cập, khi những người Do Thái còn sót lại đặt nền của đền thờ thứ hai (Thi 118:14) [48] , và khi dân Do Thái được nhóm lại và trở về xứ của họ để hưởng những phước hạnh của vương quốc (Es 12:2) [49]. Trong mỗi trường hợp, Chúa đều ban sức mạnh, sự giải cứu và một bài ca cho dân sự [50].
    Những vũ khí của Đức Chúa Trời được mô tả (Xu 15:6-10). “Đức Giê-hô-va là một chiến sĩ” không chiến đấu bằng những vũ khí thông thường. Sử dụng các đặc điểm của con người để mô tả về những thuộc tính của Đức Chúa Trời [51] , những người ca hát đã ngợi khen rằng tay hữu Ngài thật vinh hiển trong năng quyền, sự oai nghi của Ngài đánh đổ những kẻ dấy nghịch Ngài, và cơn giận của Ngài phừng phừng như lửa đốt cháy rơm rạ. Hơi thở từ mũi Ngài là gió dồn nước và làm chúng đông lại và dựng đứng lên như một bức tường thành. Khi những tên lính Ai Cập quá tự tin nghĩ rằng sẽ đuổi kịp dân Do Thái, Đức Chúa Trời chỉ thở ra thì nước lại đổ ập xuống và nhận chìm đội quân. Ngài thật là một Đức Chúa Trời mạnh mẽ !
    Đặc tính của Đức Chúa Trời được ca tụng (Xu 15:11-16a). Trong 10 tai vạ Chúa giáng trên xứ, Ngài đã chứng minh chính Ngài vĩ đại hơn các thần của Ai Cập. Chẳng có gì ngạc nhiên khi dân sự Ngài hát rằng “Hỡi Đức Giê-hô-va, trong vòng các thần, ai giống như Ngài ?” (c.11 Mi 7:18). Dĩ nhiên câu trả lời là không có ai cả, vì không vị thần nào khác trong vũ trụ “oai nghi trong sự thánh khiết, đáng sợ trong sự vinh hiển, hay làm các phép lạ” (Xu 15:11 NIV). Khổ thơ này tiếp tục ngợi khen Đức Chúa Trời về quyền năng của Ngài (c.12), về sự thương xót giải cứu cho dân sự Ngài, sự khôn ngoan để dẫn dắt họ (c.13), và sự đáng kinh sợ của chính Ngài trước những kẻ thù của Ngài (c.14).
    Dân Y-sơ-ra-ên mong đợi cuộc ra đi đến vùng Đất Hứa, và họ biết rằng tin tức về cuộc hành trình rời Ai Cập sẽ nhanh chóng lan đến các quốc gia khác và khiến những kẻ thù của họ đầy lòng sợ hãi (c.14-16a). Khi các thám tử của Y-sơ-ra-ên đi vào xứ Giê-rê-cô, họ khám phá ra rằng dân trong vùng thật sự đã bị tê liệt bởi sự sợ hãi khi dân Y-sơ-ra-ên vào đến xứ ấy (Gio 2:8-13,24 Dan 22:3 Thi 114:1-8). Những dân tộc ngoại đạo biết rằng Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống đầy quyền năng hơn các thần của họ và sẽ ban chiến thắng cho Y-sơ-ra-ên.
    Những lời hứa của Đức Chúa Trời được thực hiện (Xu 15:16b-18). Khổ thơ này diễn tả sự mong đợi của Y-sơ-ra-ên về cuộc chinh phạt xứ Ca-na-an và chỉ ra rằng Đức Chúa Trời đã chuộc Y-sơ-ra-ên, và họ là dân của Ngài. Các dân tộc ở Ca-na-an sẽ yên lặng và bất động như đá khi quân đội Do Thái chinh phạt xứ và các chi phái của Y-sơ-ra-ên sẽ giành lấy sản nghiệp của họ. Đức Chúa Trời đã đem dân sự ra khỏi Ai Cập để Ngài có thể dẫn họ vào xứ Ca-na-an và lập họ trong xứ của họ (Thi 44:2 80:8 Es 5:1-30). Đức Chúa Trời sẽ đặt nơi thánh của Ngài giữa vòng dân sự Ngài và ngự cùng họ trong sự vinh hiển. “Đức Giê-hô-va sẽ cai trị đời đời kiếp kiếp” (Xu 15:18) là đỉnh cao của bài ca, nhấn mạnh rằng Đức Chúa Trời là Đấng tối cao và đời đời.
    Khi đọc (15:19) trong Kinh Thánh Authorized Version, bạn sẽ có cảm tưởng rằng chính Pha-ra-ôn đã cùng đi với đội quân của ông ta và dẫn họ xuống biển và tất cả đều bị chết đuối tại đó, nhưng Kinh Thánh NASB đã làm rõ sự hiểu lầm này. Bản này ghi lại rằng “Vì ngựa của Pha-ra-ôn, binh xa, cùng lính kỵ người đã xuống biển”. Rõ ràng là Pha-ra-ôn đã có mặt tại nơi đó (14:6), nhưng chắc chắn là ông ta không dẫn đầu đội quân.
    Không chỉ Môi-se hướng dẫn dân sự trong việc hát bài thánh ca ngợi khen này (15:1) mà Mi-ri-am [52] còn lập một đội hợp xướng đặc biệt gồm nhiều phụ nữ Do Thái để cùng phụ họa khi bà hát lặp lại những lời đầu của bài thánh ca. Sự nhiệt thành vui mừng của họ lộ rõ khi họ ca hát, chơi trống và nhảy múa trước mặt Chúa (ISa 18:6 IISa 1:20). Mi-ri-am được gọi là “nữ tiên tri”, điều này giải thích lý do sau đó bà đã dám nói hành Môi-se (Dan 12:1-2) [53]
    “Vả nước chụp phủ những kẻ thù của họ, chẳng còn lại một người nào. Bấy giờ họ tin Lời Ngài. Họ hát ngợi khen Ngài” (Thi 106:11-12). Tuy nhiên, đó không phải là kết thúc của câu chuyện, vì sự ca hát của dân Y-sơ-ra-ên chẳng bao lâu đã trở nên sự phàn nàn khi họ đi vào đồng vắng và đi đến núi Si-nai. “Họ đã sớm quên những công việc của Ngài. Họ chờ đợi không phải vì lời khuyên của Ngài, nhưng tham muốn quá mức tại trong đồng vắng, và thử Đức Chúa Trời trong sa mạc” (Thi 106:13-14).
    Thật không dễ dàng cho họ để mang lấy gáng nặng về sự tự do, và Đức Chúa Trời đã dạy họ phải sống qua mỗi ngày như thế nào.
    6. TRƯỜNG ĐỜI (Xu 15:22-16:36)
    “Đừng cầu nguyện để có một đời sống dễ chịu. Hãy cầu nguyện để trở nên người nam và người nữ mạnh mẽ hơn. Đừng cầu xin những nhiệm vụ tương xứng với sức của bạn; Nhưng hãy cầu xin cho được sức lực đáp ứng với nhiệm vụ của bạn”.
    Lời khuyên khôn ngoan đó là của Phillips Brooks, nhà truyền giáo kiêm giám mục người Mỹ (1835-1893). Khi ông phát biểu những lời này với hội chúng ở Boston, có lẽ ông đang nghĩ đến dân Y-sơ-ra-ên vì mỗi khi đường đi trở nên càng gay go, dân Y-sơ-ra-ên lại bắt đầu lằm bằm và bàn về việc trở lại Ai Cập. Dân Do Thái đứng cạnh Biển Đỏ và vui mừng hát những bài ca ngợi khen Chúa là một vấn đề, còn việc họ tin cậy Đức Chúa Trời để mỗi ngày bước đi trong đồng vắng hoàn toàn là một vấn đề khác. Họ chẳng khác gì dân sự Đức Chúa Trời ngày nay. Cuộc đời vẫn là một trường học, và những kinh nghiệm đau đớn của đời sống đã dạy chúng ta nhiều bài học vô cùng quan trọng.
    Khi theo dõi những hoạt động của dân Y-sơ-ra-ên, chúng ta học được một số lẽ thật quan trọng giúp chúng ta trong cuộc hành trình đức tin của mình.
    1. Hãy đón chờ những thử thách sắp đến (Xu 15 :1-21) (Xu 15:22-16:3)
    Ông Andrew Bonar thánh thiện đã viết rằng: “Chúng ta phải thận trọng sau cuộc chiến thắng cũng như đã từng cảnh giác trước các chiến trận”. Có thể thắng trận nhưng lại đánh mất sự chiến thắng, đó là điều dân Do Thái đã phạm phải khi họ vượt qua Biển Đỏ và khởi hành đi đến núi Si-nai. Họ đã quên rằng cuộc đời là một cuộc hành hương mà trong suốt khoảng thời gian đó chúng ta cần phải học những bài học mới và đánh những trận chiến mới. Một chiến thắng vĩ đại không giải quyết được tất cả; chúng ta cần đối diện với những kinh nghiệm mới để được trưởng thành và làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Vâng, đời sống là một trường học và Chúa biết rõ sẽ cho chúng ta một kỳ thi vào thời điểm nào. [54]
    “Chúng tôi sẽ uống chi ?” (15:22-27). Trong tâm trí của dân Y-sơ-ra-ên, điều quan trọng hơn hết không phải là làm cách nào để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời nhưng là “chúng tôi sẽ ăn chi ?” và “chúng tôi sẽ uống chi ?”. Theo Chúa Giê-xu, những câu hỏi này cho thấy một tâm trạng lo lắng chớ không phải là một tấm lòng tin cậy (Mat 6:21,25-33), và điều này đã đưa dẫn đến nhiều vấn đề khác nhau.
    Chỉ một ngày trong đồng vắng mà không có nước thì còn có thể chịu đựng được, hai ngày sẽ trở nên khó khăn, nhưng ba ngày là không thể được, đặc biệt đối với trẻ con hay súc vật. Và khi ấy sự thất vọng bởi việc chỉ tìm thấy nước đắng càng làm cho tình hình trở nên tồi tệ hơn. (Từ “ma-na” nghĩa là “đắng”, và có liên quan đến từ “myrrh” nghĩa là nhựa trầm hương có vị đắng.) Nhưng Đức Chúa Trời đang thử nghiệm dân sự Ngài: không phải vì Ngài không biết lòng họ, nhưng vì chính họ không biết lòng mình. Người ta thường nói: “Ồ, tôi hiểu được lòng mình mà”, nhưng chúng ta quên rằng “lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa, ai có thể biết được ?” (Gie 17:9).
    Chúa thử nghiệm để giúp chúng ta tăng trưởng về mặt thuộc linh và chỉ ra điều tốt nhất trong mỗi chúng ta, nhưng ma quỷ lại cám dỗ để chúng ta chỉ nhìn thấy được điều tồi tệ nhất trong chúng ta và nó ủng hộ cho sự non nớt về mặt thuộc linh của chúng ta. Thái độ mà chúng ta chọn để đối phó với những khó khăn sẽ quyết định hướng đi cho cuộc đời của chúng ta vì cuộc sống ảnh hưởng trên chúng ta như thế nào tùy thuộc vào sự đáp ứng của chúng ta đối với cuộc sống ấy. Nếu chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài, chúng ta sẽ vượt qua được cuộc thử nghiệm và tăng trưởng; nhưng nếu trong sự vô tín của mình, chúng ta phàn nàn và không vâng phục Chúa thì chúng ta sẽ thất bại và cứ mãi ở trong tình trạng non nớt về thuộc linh (Gia 1:12-18 He 12:1-11).
    Dân Y-sơ-ra-ên là dân luôn luôn lằm bằm và phàn nàn (Xu 16:1-12 Dan 14:2,27-28 16:41 17:1-10 Phu 1:27 Thi 78:17 106:14). Trong lúc Đức Chúa Trời thử nghiệm họ, họ đã thử Ngài lại bằng chính thái độ và lời nói của họ. Thử Đức Chúa Trời nghĩa là cố tình chọn lấy thái độ bất tuân và thách thức Ngài đáp trả lại. Đã hơn một lần khi đang lang thang trong đồng vắng, dân Y-sơ-ra-ên đã chuốc lấy sự xét đoán của Đức Chúa Trời bởi thái độ bướng bỉnh và sự lằm bằm dai dẳng của họ. Cha trên trời của chúng ta nhẫn nại và nhân từ nhưng đôi khi Ngài phải “đánh” con cái Ngài để dạy dỗ chúng ta về cách cư xử.
    Sự phàn nàn không giải quyết được vấn đề, và nếu chúng ta tìm cách chạy trốn một hoàn cảnh khó khăn (“Hãy trở lại Ai Cập !”) thì chúng ta sẽ gặp những vấn đề tương tự trong môi trường mới và vẫn phải giải quyết chúng. Dĩ nhiên, cốt lõi của mọi nan đề là sự khúc mắc trong tấm lòng, và lòng của nhiều người Do Thái đã sai trật đối với Đức Chúa Trời. Họ nhớ đến thức ăn họ đã ăn ở Ai Cập nhưng quên những phép lạ Đức Chúa Trời đã làm cho họ (Thi 106:7), và vài người trong số họ bắt đầu thờ phượng các thần của Ai Cập mà Đức Giê-hô-va đã sỉ nhục và đưa ra sự đoán xét (Gios 24:14 Exe 20:6-9 23:8). Hãy tưởng tượng việc thờ lạy những hình tượng và sau đó đến phàn nàn với Đức Chúa Trời về những nan đề của bạn !
    Môi-se đã chọn giải pháp đúng đắn - giải pháp của đức tin: ông kêu khóc với Chúa và sau đó làm theo những mệnh lệnh của Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời có thể giải quyết những vấn đề của chúng ta bằng cách thay đổi mọi sự (như là khiến nước đắng trở nên ngọt), hay ban cho chúng ta những điều gì khác (như các giếng nước tại Ê-lim), hoặc ban cho chúng ta ơn để chúng ta có thể chịu đựng những khó khăn của mình và không phàn nàn. Giải pháp thứ ba sẽ dẫn đến sự tăng trưởng bền lâu về mặt thuộc linh (IICo 12:7-10).
    Việc khiến một “cái cây” trở nên hình ảnh về thập tự giá của Đấng Christ là đã đi xa hơn điều mà đoạn Kinh Thánh này muốn dạy dỗ. Chắc chắn là con cái Đức Chúa Trời sẽ tìm thấy chiến thắng trong những thử thách của họ qua việc đồng chết với Đấng Christ (Ro 6:1-23) và đồng sống lại với Ngài (8:1-39), nhưng đó không phải là bài học của đoạn Kinh Thánh này. Phân đoạn này nhấn mạnh đến sự tin cậy Đức Chúa Trời và vâng lời Ngài, và biết rằng ý muốn của Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ dẫn chúng ta đến nơi mà ân điển Ngài không thể gìn giữ chúng ta. Khi chúng ta trải qua những thử thách thì sự phàn nàn của chúng ta là bằng chứng của sự vô tín, nhưng sự vâng lời của chúng ta sẽ là chứng cớ cho đức tin.
    Qua sự thử thách này, dân Do Thái không chỉ biết được vài điều về chính họ và về cuộc sống nhưng họ còn được biết rõ hơn về Đức Chúa Trời và rằng Ngài là “Jehovah Ropha – Giê-hô-va Đấng chữa lành” (Xu 15:26) [55]. Đức Chúa Trời đã hứa ban cho Y-sơ-ra-ên những phước hạnh dư dật về vật chất nếu họ vâng lời Ngài, nhưng sẽ là những hoạn nạn về thuộc thể nếu họ bất tuân Ngài (Phu 7:12-15 28:1-68). Những lời hứa này là một phần trong Giao Ước Cũ của Đức Chúa Trời với Y-sơ-ra-ên và không được nhắc lại trong Giao Ước Mới cho các tín đồ ngày nay. Nếu đó là ý muốn của Ngài, Đức Chúa Trời chắc chắn có thể chữa lành mọi bệnh tật ngoại trừ căn bệnh cuối cùng, nhưng thái độ của chúng ta phải luôn là: “Không phải ý muốn của con nhưng ý Ngài sẽ được thực hiện”.
    Nếu đời sống chỉ là những cuộc thử nghiệm, chúng ta sẽ dễ nản lòng. Nếu đời sống chỉ là sự vui thú, chúng ta sẽ chẳng bao giờ học được sự kỷ luật và để được phát triển về nhân cách. Chúa biết cách làm cân bằng những sự từng trải trong đời sống của chúng ta, vì Ngài đã đem dân sự Ngài đến Ê-lim nơi họ có thể tìm thấy được nhiều nước và có cơ hội được nghỉ ngơi. Chúng ta hãy biết ơn Chúa đã ban cho chúng ta những phước hạnh có đủ để khích lệ chúng ta và những gánh nặng vừa đủ để khiến chúng ta biết hạ mình, và Ngài biết mức độ mà chúng ta có thể chịu đựng được.
    “Chúng tôi sẽ ăn gì ?” (Xu 16:1-3). Đồng vắng Sin nằm trên bờ biển phía đông của Biển Đỏ, chúng ta không nên lẫn lộn với Đồng vắng Sin nằm ở hướng nam của Palestine và hướng đông của Ê-đôm (Dan 13:21 33:11-12). Từ “Sin” không nên được hiểu theo nghĩa tiếng Anh, như thể Y-sơ-ra-ên đang đi qua một nơi “tội lỗi”. Từ “Sin” này có liên hệ với “Si-nai” nhưng ý nghĩa thì không được rõ.
    Cả hội chúng đã than vãn vì bị đói. Họ mới chỉ ra khỏi Ai Cập một tháng và vẫn còn nhớ đến những “nồi thịt” ở Ai Cập và những thức ăn mà họ đã ăn “no nê”. Nhưng vì lý do nào đó, họ đã quên đi ách nô lệ cùng những trận đánh và những sự lao khổ của kiếp nô lệ. Họ lên án Môi-se và A-rôn đã cố tình đưa dẫn họ vào đồng vắng để giết hại họ. Họ nói họ ước mong Chúa giết họ ở Ai Cập khi họ còn được no nê hơn là lại bị chết đói ở trong sa mạc ! Dân Do Thái này chẳng biết rằng một ngày nào đó họ sẽ đạt được nguyện vọng của mình, vì toàn bộ thế hệ đi trước sẽ chết trong đồng vắng và không bao giờ vào được vùng Đất Hứa.
    Xu 16 :1-3; xem giải nghĩa Xu 15:1-21
    2. Hãy tin cậy Đức Chúa Trời sẽ đáp ứng nhu cầu (Xu 16:4-18)
    Đức Chúa Trời nghe những lời lằm bằm của dân sự và đáp ứng những nhu cầu của họ trong ân điển cùng sự thương xót của Ngài. Ngài bảo họ rằng vào buổi chiều họ sẽ có thịt để ăn (c.8) và buổi sáng Ngài sẽ làm mưa bánh từ trời (c.4). Bằng cách chu cấp một cách đặc biệt cho họ, Ngài cũng thử nghiệm để biết họ có tin cậy và vâng lời Ngài hay không.
    Lời hứa của Đức Chúa Trời (16:4-5,8,11,12). Trong cuộc hành hương ở đời này, chúng ta sống nhờ vào những lời hứa chớ không phải những lời giải thích. Khi bị tổn thương, phản ứng bình thường của chúng ta là hỏi “Tại sao?”, nhưng đây là một giải pháp sai lầm. Trước hết, khi hỏi Đức Chúa Trời câu hỏi đó, chúng ta đang có thái độ trịch thượng và tạo ra cảm tưởng rằng chúng ta đang nắm quyền và Đức Chúa Trời phải có trách nhiệm với chúng ta. Đức Chúa Trời là tối cao và không cần phải giải thích điều gì với chúng ta trừ khi Ngài muốn. Việc hỏi “Tại sao ?” cũng ngụ ý rằng nếu Đức Chúa Trời giải thích những kế hoạch và mục đích của Ngài cho chúng ta, chúng ta sẽ hiểu hết được mọi sự và sẽ cảm thấy dễ chịu hơn.
    Khi bạn đọc sách Gióp, bạn thấy Gióp thất vọng nơi Đức Chúa Trời và liên tục nói “Tôi muốn gặp Đức Chúa Trời để hỏi Ngài một số việc !” Nhưng cuối cùng khi Đức Chúa Trời đến với ông, Gióp bị trấn áp đến nỗi ông không hỏi Đức Chúa Trời được một điều gì ! (Giop 40:1-5). Chúng ta có thể khởi đầu để hiểu được những đường lối và kế hoạch của Đức Chúa Trời khi những đường lối ấy vượt xa trí hiểu của chúng ta và sự khôn ngoan của Ngài là không thể dò xét được chăng ? (Es 55:8-0 Ro 11:33-36). Những lời giải thích không chữa lành được những tấm lòng tan vỡ, nhưng những lời hứa lại chữa lành được, vì những lời hứa tùy thuộc nơi đức tin, và đức tin sẽ đưa chúng ta vào trong ân điển của Đức Chúa Trời.
    Vinh hiển của Đức Chúa Trời (Xu 16:6-7,9-10). Điều quan trọng là dân Y-sơ-ra-ên phải hướng về sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chớ không phải nơi những ham muốn riêng của họ. Nếu họ bước đi bởi đức tin, họ sẽ làm vinh hiển Chúa và đem sự tôn trọng đến cho danh của Ngài. Việc chúng ta được thoải mái, tiện nghi trong cuộc sống không quan trọng, nhưng điều quan trọng là Đức Chúa Trời được vinh hiển.
    Khi hoàn cảnh trở nên khó khăn, chúng ta có xu hướng cầu nguyện rằng: “Lạy Chúa, làm sao con có thể thoát ra khỏi điều này ?”, trong khi điều mà chúng ta cần cầu nguyện phải là: “Lạy Chúa, con có thể rút ra được điều gì từ đây ?” Việc chúng ta theo ý riêng mình không quan trọng, nhưng điều quan trọng là Đức Chúa Trời sẽ thực hiện mục đích của Ngài và nhận lấy mọi sự vinh hiển về Ngài (Mat 6:33). Đức Chúa Trời cho phép những thử thách xảy ra để có thể tạo nên lòng tin kính trong con cái Ngài và khiến chúng ta được trở nên giống Chúa Giê-xu hơn. Sự tin kính không phải là kết quả tự nhiên của việc đọc sách và tham dự những buổi nhóm; nó cũng đòi hỏi việc mang lấy những gánh nặng, tham gia vào những trận chiến và cảm nhận được những nỗi đau đớn.
    Sự thành tín của Đức Chúa Trời (Xu 16:13-15). Chiều hôm đó, chim cút bay bên trên trại quân Y-sơ-ra-ên và dân sự đã bắt chúng làm thịt và nấu lên. Họ đã cầu xin cho được thịt tươi sống, và Đức Chúa Trời đã chu cấp cho họ. Dân Do Thái trước đó đã nhìn thấy thịt chim rừng, nhưng điều xảy ra sáng hôm sau là hoàn toàn mới, vì ma-na xuất hiện dưới lớp sương trải trên mặt đất. Đức Chúa Trời đã dọn bàn ăn cho dân sự Ngài trong đồng vắng và ban cho họ “bánh của các Thiên Sứ” (Thi 78:17-25).
    Từ “ma-na” có xuất xứ từ câu hỏi mà dân Do Thái đã hỏi vào buổi sáng đầu tiên ấy. “Vật chi vậy ?” (tiếng Hê-bơ-rơ là man hu) Ma-na sẽ là lương thực của họ trong suốt 40 năm sắp tới, cho đến khi thế hệ sau đi vào Đất Hứa thì ma-na mới chấm dứt (Xu 16:35 Gios 5:11-12). Mỗi buổi sáng dân Do Thái được tham dự vào một phép lạ khi từ các căn lều bước ra, họ đã thấy nguồn thực phẩm của họ có sẵn trên lớp sương. Ma-na nhỏ, giống như một hạt giống, nhưng có vị ngọt như mật (Xu 16:31).
    Con Đức Chúa Trời (Gi 6:22-59). Ngày hôm sau khi xảy ra sự kiện Chúa Giê-xu cho hơn 5000 người ăn chỉ với 5 ổ bánh lúa mạch và 2 con cá nhỏ, Ngài đã giảng một bài giảng về “bánh của sự sống” cho một đám đông trong nhà hội ở Ca-bê-na-um. Họ muốn Chúa Giê-xu chứng minh Ngài là Đấng Mê-si-a bằng cách làm lại phép lạ về Ma-na (c.30-31), nhưng thay vào đó, Ngài đã tuyên bố rằng Ngài là “bánh thật” đến từ trời. Ma-na thời Cựu Ước là một kiểu mẫu [56] hay là một hình ảnh về Con Đức Chúa Trời, Đấng đã đến để ban chính mình Ngài làm Bánh Sự Sống cho những tội nhân đang khao khát Bánh ấy.
    Những người Do Thái trong nhà hội đi theo Chúa Giê-xu chủ yếu là vì Ngài đã ban thức ăn cho thuộc thể của họ, nhưng điều họ còn cần hơn đó là thức ăn cho linh hồn (Es 55:2). Chúa Giê-xu là Bánh của Sự Sống, và cách duy nhất để được cứu là tiếp nhận Ngài vào con người bên trong của chúng ta giống như thân thể tiếp nhận thức ăn. Đức Chúa Trời chỉ ban ma-na cho dân Y-sơ-ra-ên, nhưng Ngài ban Chúa Giê-xu cho cả thế giới. Ma-na chỉ duy trì sự sống thuộc thể của họ trong đồng vắng nhưng Con Đức Chúa Trời ban sự sống đời đời cho cả thế gian. Như dân Do Thái đã phải cúi xuống lượm ma-na và ăn nó, thì tội nhân cũng phải hạ mình và tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ vào lòng mình. Dân Do Thái ăn ma-na và cuối cùng cũng đã chết, nhưng những ai tiếp nhận Chúa Giê-xu Christ sẽ sống đời đời.
    Có một ứng dụng thứ hai cho phép lạ về ma-na: mỗi ngày bạn và tôi phải “sống nhờ Chúa Giê-xu Christ” bằng cách đọc Lời Chúa, suy gẫm và làm theo lời ấy. Những người Do Thái trong nhà hội nghĩ rằng Chúa Giê-xu đang nói về việc ăn thịt và huyết Ngài theo nghĩa đen (Gi 6:52-56) là điều có vẻ mâu thuẫn với luật pháp Do Thái [57]. Chúa Giê-xu giải thích rằng Ngài đang nói bằng ngôn ngữ thuộc linh và đề cập đến việc tiếp nhận Lời Ngài (c.61-63). Tuy nhiên, Phi-e-rơ đã hiểu được sứ điệp này (c.67-68) và chúng ta cũng phải như vậy. Lời Đức Chúa Trời là lương thực từ trời nuôi dưỡng sự sống thuộc linh của chúng ta, và chúng ta phải sống nhờ vào Lời Chúa mỗi ngày (Giop 23:12 Gie 15:16 Mat 4:4 IPhi 2:2 He 5:12-14).
    3. Vâng theo những lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời (Xu 16:16-31)
    Vì Đức Chúa Trời chẳng phải là Chúa của sự loạn lạc (ICo 14:33) nên bất cứ khi nào tiến hành một điều gì đó mới mẻ, Ngài luôn đưa ra những chỉ dẫn cần thiết để giúp cuộc mạo hiểm được thành công. Nếu chúng ta vâng theo những chỉ dẫn của Ngài thì Ngài sẽ chúc phước, nhưng nếu chúng ta bất tuân, sẽ có sự thất vọng và kỷ luật. Nguyên tắc vẫn là “mọi sự đều nên làm cho phải phép và theo thứ tự” (ICo 14:40).
    Thu lượm ma-na (16:18,21). Trước tiên, dân Do Thái được hướng dẫn phải thu lượm ma-na mỗi ngày, nhưng chỉ vừa đủ ăn cho mỗi người trong gia đình (c.16). Một ô-me là đơn vị đo lường của dân Hê-bơ-rơ tương đương với hai ga-lông. Ma-na rất bổ dưỡng vì khi ăn vào sẽ giúp một người lớn đi được một ngày trong đồng vắng. Dường như những thành viên trong mỗi gia đình góp chung phần lương thực vào mỗi ngày và chưa bao giờ không có đủ thức ăn cho họ [58]. Vì dân Do Thái di chuyển và cắm trại theo chi phái (Dan 1:1-2:34) nên chắc chắn là mỗi thị tộc và mỗi gia đình đều góp chung phần ma-na họ đã thu lượm và bảo đảm cho mọi người đều có đủ ma-na để ăn.
    Điều quan trọng là dân Do Thái phải dậy sớm để thu lượm ma-na, vì mặt trời nóng bức của sa mạc sẽ làm tan chảy những hạt ma-na (Xu 16:21). Trong trại quân Y-sơ-ra-ên không có chỗ cho kẻ lười biếng nằm dài trên giường trong lúc những người khác phải thu lượm thức ăn cho anh ta. Có một bài học dành cho tín đồ ngày nay; chúng ta phải bắt đầu một ngày mới với Chúa, thu nhặt thức ăn thuộc linh từ Lời Chúa, vì nếu chúng ta gặp Chúa quá trễ thì ngày sẽ trở nên huyên náo, chúng ta sẽ bị phân tâm, và sẽ bị suy dinh dưỡng thuộc linh. “Những người dậy sớm” trong Kinh Thánh gồm có Áp-ra-ham (Sa 19:27 21:14 22:3), Gia-cốp (28:18), Môi-se (Xu 8:20 9:13 24:4), Giô-suê (Gios 3:1,6), Sa-mu-ên (ISa 15:12), Gióp (Giop 1:5), Đa-vít (Thi 57:8 108:2) và Chúa Giê-xu Christ của chúng ta (Mac 1:35).
    Bảo quản ma-na (Xu 16:19-21). Những người Y-sơ-ra-ên lười biếng có thể có ý định để dành phần ma-na lại để họ có thể ngủ vào buổi sáng hôm sau, nhưng Môi-se đã cảnh cáo họ không được làm như vậy. Tuy nhiên, một số người vẫn làm việc ấy, và ma-na của họ đã bị chua, có mùi hôi, sinh giòi bọ và phải bỏ đi. Những người này không những không vâng theo lời chỉ dẫn của Đức Chúa Trời mà họ còn đang sống trái lại với thông lệ của Ngài vì Chúa đã cho phép mặt trời làm tan chảy ma-na nào vẫn còn nằm trên mặt đất. Thật không ích chi khi chống đối lại điều Đức Chúa Trời đã phán bảo trong Lời Ngài và mẫu mực Ngài đã thiết lập trong sự sáng tạo của Ngài.
    Một lần nữa, lại có sự cảnh cáo riêng cho dân sự Đức Chúa Trời ngày nay: Chúng ta không thể tích trữ Lời Ngài và tìm cách sống nhờ vào nguồn dinh dưỡng thuộc linh của ngày hôm qua. Việc nghe chia sẻ Kinh Thánh vào Ngày của Chúa là một việc làm tốt, nhưng chúng ta cần ma-na tươi mới mỗi ngày nếu chúng ta muốn là những Cơ Đốc Nhân khoẻ mạnh. Không có sự thay thế tương xứng nào cho thời gian ở riêng với Chúa mỗi ngày để được hấp thu nguồn dinh dưỡng tươi mới từ Lời Ngài.
    Ma-na cho ngày Sa-bát (16:22-31). Trong c.23, đây là lần đầu tiên trong Kinh Thánh ngày Sa-bát được đề cập đến bằng tên gọi. Nó được gọi là “ngày thứ bảy” trong (Sa 2:1-3) và để kỷ niệm sự nghỉ ngơi của Chúa sau 6 ngày sáng tạo. Dường như dân Do Thái đã được dạy phải giữ ngày Sa-bát ngay cả trước khi Đức Chúa Trời ban cho Môi-se 10 Điều Răn.
    Mặc dù nhiều người thật thà gọi Chúa nhật là ngày Sa-bát nhưng điều này không đúng với Kinh Thánh vì ngày Sa-bát là ngày thứ bảy còn Chúa nhật lại là ngày đầu tuần. Ngày Sa-bát là một ngày đặc biệt được Chúa ban cho dân Do Thái như một sự nhắc nhở về giao ước của Ngài với họ (Xu 20:8-11 31:12-17 Ne 9:13-15). Từ “sa-bát” trong tiếng Hê-bơ-rơ nghĩa là “ngưng làm việc, nghỉ ngơi” và có liên hệ với từ “số bảy” trong tiếng Hê-bơ-rơ.
    Vì vậy dân Do Thái không phải làm việc vào ngày Sa-bát, nhưng họ phải có nhiệm vụ chuẩn bị trước bữa ăn của họ, bao gồm cả việc thu lượm ma-na. Họ được phép lượm ma-na gấp đôi vào ngày thứ 6, và những gì họ dự trữ sẽ không trở nên ôi thối. Việc ban ma-na 6 ngày một tuần không chỉ là một phép lạ, nhưng việc bảo quản ma-na cho ngày thứ bảy cũng là một phép lạ nữa. Luôn có một số người không thật sự hiểu được sứ điệp này. Một số người Do Thái ra ngoài vào ngày Sa-bát để tìm ma-na, và họ đã chẳng tìm thấy gì cả. Họ đã không vâng theo những chỉ dẫn của Môi-se ! Hãy nhớ rằng việc thu lượm ma-na là một thử nghiệm của Đức Chúa Trời để biết dân sự có tuân thủ theo Luật Pháp mà Ngài sắp ban cho họ hay không (Xu 16:4). Nếu họ không vâng theo một việc đơn giản như là việc lượm ma-na 6 ngày một tuần, làm sao họ sẽ vâng theo những quy chế và luật pháp mà Môi-se sẽ đem xuống từ núi Si-nai ! Được ăn “bánh của các thiên sứ” ban xuống từ trời là một đặc quyền, và bất tuân những chỉ dẫn mà Chúa đã ban ra là một sự xúc phạm đối với Ngài.
    4. Hãy nhớ những bài học mà Đức Chúa Trời đã dạy bạn (Xu 16:32-36)
    Những lời chỉ dẫn trong các c.33-34 báo trước về việc ban Luật Pháp (hoặc“bảng chứng” 31:18 32:18) và việc tạo ra hòm bảng chứng (25:16,22 26:33) cùng việc xây cất đền tạm. Thông tin ở (16:35) được thêm vào những năm sau đó để bổ sung cho câu chuyện được đầy đủ. Vào thời điểm đó, Môi-se vẫn chưa biết Y-sơ-ra-ên sẽ đi trong đồng vắng bao nhiêu năm.
    Như chúng ta sẽ thấy sau đó, hòm bảng chứng là ngôi của Đức Chúa Trời trong trại quân. Nó nằm ở nơi chí thánh trong đền tạm là nơi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời ngự vào, và trong hòm là hai bảng luật pháp, cây gậy của A-rôn và bình đựng ma-na bằng vàng (He 9:4). Chỉ có thầy tế lễ cả mới có thể vào nơi chí thánh, và chỉ một lần trong năm, nhưng dân Do Thái biết được những gì ở trong hòm và đã dạy lẽ thật này cho con cái họ. Mỗi một vật trong hòm này nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên về một lẽ thật quan trọng rằng Đức Chúa Trời là Vua và là Đấng ban Luật Pháp, rằng Ngài đã thiết lập chức tế lễ và đã nuôi nấng dân sự Ngài vì Ngài quan tâm đến họ.
    Đức Chúa Trời ban luật pháp cho Y-sơ-ra-ên vì Ngài yêu dân sự Ngài. Họ cần có ánh sáng để soi dẫn họ, và Luật Pháp Đức Chúa Trời là ngọn đèn và là ánh sáng cho họ, và vâng theo Luật Pháp nghĩa là đi theo con đường của sự sống (Ch 6:23). Khi dân sự bất tuân, họ cần một thầy tế lễ giúp họ được tha thứ và được làm hòa với Đức Chúa Trời. Họ cũng cần được nhắc nhở rằng chính Đức Chúa Trời là Đấng đã chu cấp lương thực cho họ, và họ sống không phải chỉ nhờ bánh nhưng còn bởi Lời Đức Chúa Trời (Phu 8:1-3).
    Hầu hết mọi người có xu hướng quên đi cách Đức Chúa Trời đã đối đãi với họ, và họ phải học lại những bài học mà họ đã quên. Một số người ghi nhật ký và thường xuyên mở ra xem lại, trong khi những người khác có “nhật ký thuộc linh” ở lề quyển Kinh Thánh của họ, ghi chú lại những câu Kinh Thánh và những kinh nghiệm đặc biệt có liên quan đến họ. Một bức ảnh có thể chẳng có ý nghĩa gì đối với chúng ta nhưng nó lại chứa đựng châu báu của lẽ thật thuộc linh đối với người sở hữu bức ảnh, là người biết rõ vì sao bức ảnh ở trên giá sách. Dù chúng ta có những cách thức khác nhau thì chúng ta cũng cần phải “giữ lại” những bài học quan trọng của cuộc sống và để chúng có thể giúp chúng ta bước đi với Đức Chúa Trời và vâng giữ Lời Ngài.
    Khi chúng ta bước đi với Chúa bởi đức tin, thì cuộc sống là một trường học; và những người hành hương hay những học viên thành công là những người đã cùng cầu nguyện với Môi-se rằng: “Cầu xin Chúa dạy chúng tôi biết đếm các ngày chúng tôi , hầu cho chúng tôi được lòng khôn ngoan” (Thi 90:12).
    Bạn có là một trong số họ hay không ?
    7. “ĐỨC GIÊ-HÔ-VA VẠN QUÂN Ở CÙNG CHÚNG TA” (Xu 17:1-18:27)
    Vào ngày 18/4/1874, thi hài của nhà truyền giáo cũng là nhà thám hiểm David Livingstone được đặt yên nghỉ trong một ngôi mộ ở trung tâm giáo đường tại Westminster Abbey. Trong suốt tang lễ, hội chúng cùng hát thánh ca của Philíp Doddridge và John Logan, lấy ý từ (Sa 28:20-21)
    Lạy Đức Chúa Trời của Bê-tên, Đấng mà bởi tay Ngài
    Dân sự Ngài vẫn được nuôi dưỡng;
    Đấng mà suốt cuộc hành hương trên đất này
    Đã dẫn dắt các tổ phụ của chúng tôi:
    Qua mỗi nẻo đường đời đầy gian khó
    Đã chỉ lối cho các bước chân lang thang của chúng tôi;
    Xin hãy ban cho chúng tôi đồ ăn mỗi ngày
    Và chu cấp quần áo thích hợp cho chúng tôi.
    Suốt những năm tháng khó khăn và vất vả tại Châu Phi, Livingstone đã đặt đức tin và tương lai của ông nơi những lời nhắn nhủ của Chúa Giê-xu: “Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế” (Mat 28:20). Nói về câu Kinh Thánh này, Livingstone đã viết trong nhật ký của ông ngày 14/1/1856: “Đây là lời của một người nghiêm túc và đáng kính trọng nhất, vì thế phải có một mục đích về lời này !” Ông đã biết rằng lời của Chúa mình là đáng tin cậy !
    Chính sự hiện diện của Chúa đã ban cho Môi-se sức mạnh và sự tin quyết cần có trong suốt khoảng thời gian ông dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên đi trong đồng vắng. Môi-se có một nhiệm vụ khó khăn là phải lãnh đạo một đội quân vô ơn gồm những người nô lệ trước đây, và ông đang cố gắng kết hợp họ lại thành một dân tộc, nhưng ông vẫn kiên trì vì Chúa ở cùng ông. Những sự kiện được ghi lại trong 2 chương này cho chúng ta thấy ý nghĩa về sự hiện diện của Chúa đối với dân sự Ngài và những người lãnh đạo khi họ đang trên đường hành hương.
    1. Đức Chúa Trời hướng dẫn những bước đi của chúng ta (Xu 17:1-7)
    Khi đi đến núi Si-nai, dân Y-sơ-ra-ên vẫn được dẫn dắt bởi trụ mây vào ban ngày và trụ lửa vào ban đêm. Nhưng Chúa vẫn đang dẫn Y-sơ-ra-ên vào trong những hoàn cảnh khó khăn và thử thách để bày tỏ quyền năng của Ngài và để gây dựng đức tin cùng tính cách của dân sự. Xét cho cùng, hành trình của đời sống còn bao gồm nhiều yếu tố khác ngoài việc chỉ tìm cách đạt được mục tiêu. Nếu chúng ta không tăng trưởng trong đức tin, trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời và trong sự tin kính thì chúng ta đang lãng phí đi những cơ hội của mình.
    Một thử nghiệm cũ được lặp lại (17:1-3) Cần phải mất một thời gian khá lâu để Y-sơ-ra-ên có thể trở nên một dân tộc tin kính. Cho đến thời điểm này mọi thử thách mới mà họ phải trải qua chỉ cho thấy điều tồi tệ nhất nơi họ. Khi dân sự đến Rê-phi-đim, trong đồng vắng Si-nai, họ lại thấy mình không có nước. Họ đã thất bại trong cuộc thử nghiệm này một lần trước đó, vì thế Đức Chúa Trời phải thử nghiệm họ một lần nữa. Ngài đã cho thấy rằng Ngài có thể cung cấp nước và thức ăn cho họ, vậy tại sao họ vẫn tranh cãi cùng Môi-se ? Vì lòng họ vẫn ở Ai Cập. Họ phạm tội vô ơn và vô tín, muốn trở lại với đời sống cũ, và kết quả là họ lại không vượt qua được cuộc thử nghiệm.
    Mọi sự khó khăn Đức Chúa Trời cho phép chúng ta đối mặt sẽ trở nên một cuộc thử nghiệm có thể khiến chúng ta trở nên tốt hơn hoặc là một cám dỗ có thể khiến chúng ta trở nên tồi tệ hơn, và chính thái độ của chúng ta sẽ quyết định cho điều này. Nếu chúng ta bắt đầu phàn nàn và oán trách Đức Chúa Trời trong sự vô tín thì sự cám dỗ sẽ ngăn chúng ta lại và cướp đi của chúng ta một cơ hội tăng trưởng về thuộc linh. Nhưng nếu chúng ta tin cậy Đức Chúa Trời và làm theo đường lối của Ngài thì thử thách sẽ có lợi chớ không gây hại cho chúng ta (Ro 8:28 Gia 1:12-15) và giúp chúng ta được tấn tới trong ân điển.
    Khi con người ở ngoài mối giao thông với Chúa, tức giận và cay đắng, họ thường muốn làm những điều trái lẽ chỉ khiến hoàn cảnh trở nên tồi tệ hơn. Trong trường hợp này, dân sự lại muốn ném đá người lãnh đạo của họ ! (Xu 17:5). Việc đó có làm thay đổi hoàn cảnh của họ hay không thì họ không nhận thức được, nhưng những người bất tuân thường tìm kiếm người để chịu tội thay cho họ [59]
    Một nguồn năng lực không bao giờ cạn (17:4-7). Môi-se đã làm điều ông thường phải làm với tư cách là một người lãnh đạo: ông kêu cầu Chúa giúp đỡ (15:25 32:30 Dan 11:1-2 12:13 14:13). “Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi, Ngài sẵn giúp đỡ trong cơn gian truân” (Thi 46:1). Chúa đã hướng dẫn ông đem theo một số trưởng lão cùng với cây gậy tượng trưng cho quyền năng của Đức Chúa Trời (7:20) và đập hòn đá trước mặt dân sự và bầy gia súc. Khi Môi-se làm theo thì nước phun ra từ hòn đá giúp cho dân sự và bầy gia súc qua khỏi cơn khát (Thi 78:15-16 105:41 114:8 Es 48:21). Một Đức Chúa Trời nhân từ đã đáp ứng cho nhu cầu của một dân hay phàn nàn [60]
    Hòn đá là một điển hình về Chúa Giê-xu Christ đã bị “đập” vì chúng ta trên thập tự giá (ICo 10:4) [61] và dòng nước là một điển hình về Đức Thánh Linh mà bởi sự chết, sự phục sinh và thăng thiên của Đấng Christ mà Ngài đã có thể đến với chúng ta (Gi 7:37-39). Điều này giải thích lý do Môi-se đã sai lầm khi đập vào hòn đá mà lẽ ra ông cần phải nói với hòn đá ấy (Dan 20:1-13) vì “(Đấng Christ) đã chết cho tội lỗi một lần đủ cả” (Ro 6:10 NKJV He 7:27 9:26-28).
    “Ma-sa” nghĩa là “thử” và “Mê-ri-ba” nghĩa là “bất hòa, cãi lộn”. Dân Do Thái chưa biết rằng Đức Chúa Trời thử nghiệm dân sự Ngài trong mọi từng trải của đời sống. Ngài dùng những từng trải gian nan của đời sống để củng cố đức tin chúng ta và hoàn thiện tính cách chúng ta. Nhưng đức tin của Y-sơ-ra-ên nơi Đức Chúa Trời rất yếu đuối, vì họ nghĩ Đức Chúa Trời của họ đã dẫn họ đến một nơi mà Ngài không thể chăm sóc cho họ ! Sự rắc rối với dân Y-sơ-ra-ên là họ có tấm lòng cứng cỏi không muốn đầu phục Chúa, vì vậy họ đã chống nghịch lại ý muốn của Ngài. Thật ra, trong suốt cuộc hành trình từ Ai Cập đến Ca-na-an, thế hệ đi trước cũng đã có những tấm lòng vô tín (Thi 95:6-11 He 3:1-19) [62]. Lúc khởi đầu cuộc hành hương họ đã phàn nàn về nước và 40 năm sau khi gần cuối cuộc hành hương họ cũng tiếp tục phàn nàn như vậy (Dan 20:1-13).
    Trên biểu đồ của đời sống chúng ta, có bao nhiêu chỗ phải được đặt tên là “Thử nghiệm và Tranh cãi” vì cách thức mà chúng ta phàn nàn về hoàn cảnh của mình và không tin cậy nơi Đức Chúa Trời ? Ngồi thoải mái trong nhà thờ và hát “Suốt đường Cứu Chúa tôi dẫn dắt tôi, tôi còn cầu xin điều gì hơn ?” là một việc, nhưng phải đối diện với sự khốn cùng và tuyệt vọng và nói cách khiêm cung rằng “không phải ý con nhưng ý Ngài được nên” hoàn toàn là một việc khác. Corrie ten Boom thường nói: “Không cần phải đưa ra những lời chỉ dẫn cho Đức Chúa Trời, chỉ hãy nhận lãnh lấy nhiệm vụ của mình.”
    2. Đức Chúa Trời đánh bại những kẻ thù của chúng ta (Xu 17:8-16)
    Trong cuộc hành trình của đức tin, chúng ta không chỉ trải qua những thử thách có liên quan đến những nhu cầu thiết yếu của đời sống, như là bánh và nước, mà chúng ta còn phải đương đầu với những cuộc chiến khi kẻ thù tấn công chúng ta. Chúng ta là những kẻ hành hương và cũng là những chiến sĩ, và điều này có nghĩa là đôi khi chúng ta phải chịu đựng sự hoạn nạn khi chúng ta bước theo Chúa (IITi 2:3-4).
    Kẻ thù (Xu 17:8). Ma quỉ là kẻ thù lớn nhất của chúng ta (IPhi 5:8), nó sử dụng thế gian và xác thịt để chống lại chúng ta (Eph 2:1-3). Như dân Y-sơ-ra-ên đã được giải phóng khỏi Ai Cập bởi quyền năng của Đức Chúa Trời, thì dân sự Đức Chúa Trời ngày nay cũng được giải cứu khỏi “đời ác này” (Ga 1:3-4) nhờ chiến thắng của Đấng Christ. Chúng ta đang ở trong thế giới vật chất chớ không thuộc về thế giới thuộc linh (Gi 17:14-16), và vì thế chúng ta không được làm theo đời này (Ro 12:2). Chúng ta phải từ bỏ những điều thuộc về xác thịt (Ga 5:16-21) và chống cự lại những sự tấn công của ma quỉ (Gia 4:7 IPhi 5:8-9).
    Dân A-ma-léc là con cháu Ê-sau, anh của Gia-cốp (Sa 36:12,16), ông là một “người khinh lờn” (He 12:16). Từ được dịch là “khinh lờn” (“bất kính”, NIV) đến từ một từ Hy Lạp có nghĩa là “ngưỡng cửa”; nó liên hệ đến một người nào đó dễ bị ảnh hưởng và có thể được “thay thế” bởi bất cứ ai đó hay bất cứ điều gì đó. Từ tiếng Anh “khinh lờn” có xuất xứ từ tiếng La-tinh có nghĩa là “bên ngoài đền thờ”, tức là không được thánh hóa và tầm thường. Ê-sau đã sống cho thế gian và cho xác thịt, xem thường những điều thuộc linh (c.17). Ê-sau đã đối chọi cùng Gia-cốp em mình và dọa giết Gia-cốp (Sa 27:41), con cháu Ê-sau cũng đối nghịch với con cháu Gia-cốp (Y-sơ-ra-ên) và đe dọa hủy diệt họ.
    Không có ghi chép nào cho biết dân Do Thái phải đánh bất kỳ cuộc chiến nào ở Ai Cập, nhưng khi đã được giải phóng khỏi ách nô lệ, họ lại khám phá ra rằng họ có những kẻ thù. Điều này cũng xảy ra trong đời sống Cơ Đốc Nhân. Khi chúng ta hiệp cùng Chúa Giê-xu, thì những kẻ thù của Ngài trở thành những kẻ thù của chúng ta (Lu 12:49-53) và chúng ta phải “đánh trận đức tin tốt lành” (ITi 6:12). Nhưng chúng ta cũng cần có những cuộc chiến để giúp quân bình những phước hạnh của đời sống; nếu không, chúng ta sẽ trở nên quá tự tin và quá hanh thông đến nỗi không còn tin cậy nơi Chúa nữa.
    Chiến lược (Phu 25:17-19). Dân A-ma-léc đã tấn công Y-sơ-ra-ên bất ngờ từ phía sau, tại nơi yếu nhất trong trại quân, vì họ nhắm vào những người Do Thái yếu đuối nhu nhược đang ở phía sau đoàn người. Dân A-ma-léc đã tấn công sau khi Y-sơ-ra-ên vừa kinh nghiệm được một phước hạnh lớn lao trong sự chu cấp nước từ hòn đá. Sa-tan và đội quân ma quỉ của nó (Eph 6:10-12) biết rõ đâu là điểm yếu nhất của chúng ta và khi nào chúng ta vẫn còn chưa sẵn sàng cho một cuộc tấn công. Đó là lý do chúng ta phải “tỉnh thức và cầu nguyện để khỏi sa vào chước cám dỗ. Tâm thần thật sự sẵn sàng nhưng xác thịt thì yếu đuối” (Mac 14:38 NKJV).
    Kẻ thù thường tấn công dân sự Đức Chúa Trời sau khi họ kinh nghiệm được những phước hạnh đặc biệt, nhưng Chúa có thể dùng những cuộc tấn công đó để khiến chúng ta không được đặt lòng tin nơi những phước hạnh được ban cho thay thế Đấng ban cho. Chính ngay sau chiến thắng trên bốn vua mà Áp-ra-ham đã bị cám dỗ để thu gom chiến lợi phẩm (Sa 14:17-24), và sau chiến thắng Giê-ri-cô, Giô-suê trở nên quá tự tin và đã bị bại trận tại A-hi (Gios 7:1-26). Sau khi Ê-li đánh bại các thầy tế lễ của Ba-anh, ông trở nên nản lòng và bị cám dỗ để rút lui (IVua 18:41-19:18), và chính sau những phước hạnh tại phép báp-têm của Ngài mà Chúa chúng ta được dẫn vào đồng vắng để chịu cám dỗ (Mat 3:13-4:1). “Vậy ai tưởng mình đứng vững hãy giữ kẻo ngã” (ICo 10:12).
    Chiến thắng (Xu 17:9-13). Không có bằng chứng nào về việc Y-sơ-ra-ên đã tiến hành bất cứ cuộc chiến nào ở Ai Cập. Thậm chí vào đêm họ được giải phóng khỏi Ai Cập, họ không phải chiến đấu với đội quân đang tấn công của Ai Cập vì Chúa đã chiến cự thay họ. “Chớ sợ chi, và hãy xem sự giải cứu của Đức Giê-hô-va sẽ làm cho các ngươi ngày nay” (Xu 14:13). Nhưng giờ đây Y-sơ-ra-ên đang ở trong cuộc hành hương và họ sẽ phải nhiều lần bước vào cuộc chiến và tin cậy Chúa để chiến thắng. “Và đây là chiến thắng chế ngự cả thế gian, thậm chí với cả đức tin của chúng ta” (IGi 5:4).
    Đây là sự đề cập đầu tiên về Giô-suê trong Kinh Thánh, nhưng trước khi kết thúc Kinh Thánh, tên ông sẽ được nhắc đến hơn 200 lần nữa [63] Ông sinh ra tại Ai Cập và được đặt tên là Hô-sơ, nghĩa là “sự cứu rỗi”. Sau này, Môi-se sẽ đổi tên lại cho ông là “Giô-suê – Đức Giê-hô-va là sự cứu rỗi” (Dan 13:8,16;), chính là từ Hê-bơ-rơ tương đương với “Giê-xu” (Mat 1:21 He 4:8;). Ông biết được sự khắc nghiệt của kiếp nô lệ ở Ai Cập, và chắc hẳn ông cũng có khả năng về lãnh đạo quân sự để Môi-se lập ông làm tướng lãnh quân đội. Ông đã trở nên tôi tớ hầu việc của Môi-se (Xu 24:13 33:11 Gios 1:1), vì đường lối của Đức Chúa Trời là trước hết chúng ta phải chứng tỏ mình là tôi tớ trung thành trước khi có thể được cất nhắc làm lãnh đạo (Mat 25:21,23). Giô-suê chỉ có một ngày để tập hợp đội quân để sẵn sàng cho cuộc tấn công nhưng ông đã làm được điều ấy.
    Chiến thắng huy hoàng của Y-sơ-ra-ên trước dân A-ma-léc đòi hỏi phải có ba yếu tố: quyền năng của Chúa ở trên trời, tài khéo léo của Giô-suê và đội quân trên chiến trường, và sự cầu thay của Môi-se, A-rôn và Hu-rơ [64] trên đầu nổng. Đức Chúa Trời có thể sai các thiên sứ hủy diệt kẻ thù (Es 37:38), nhưng Ngài đã cho con người cơ hội được Ngài sử dụng như những công cụ để thực hiện mục đích của Ngài. Giô-suê và quân đội của ông phải tin cậy Đức Chúa Trời và chiến đấu, Môi-se và các cộng sự của ông phải tin cậy Đức Chúa Trời và cầu thay, còn Đức Chúa Trời sẽ làm phần việc còn lại. Bằng cách này, dân sự Đức Chúa Trời sẽ được lớn lên trong đức tin và danh Đức Chúa Trời sẽ được vinh hiển.
    Dân Do Thái giơ tay lên khi họ cầu nguyện là một điều thông thường (Thi 28:2 44:20 63:4 134:2 IVua 8:22,38,54 ITi 2:8), và vì Môi-se cầm gậy của Đức Chúa Trời trong tay tức là ông đang xưng nhận sự phó thác nơi quyền lực và sức mạnh của Đức Giê-hô-va. Không phải Môi-se là người ban quyền phép cho Giô-suê và quân đội ông; nhưng đó là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp, là “Đức Giê-hô-va vạn quân”. Khi Môi-se vẫn còn giơ cây gậy trong tay của ông lên, Y-sơ-ra-ên vẫn thắng thế, nhưng khi ông hạ tay xuống, quân A-ma-léc sẽ thắng thế.
    Chúng ta có thể hiểu được Giô-suê và đội quân Y-sơ-ra-ên sẽ trở nên rất mệt mỏi khi đánh trận, nhưng tại sao Môi-se lại mệt mỏi khi giơ gậy của Đức Chúa Trời lên ? Cho đến tận ngày ông qua đời, Môi-se vẫn không mất đi sức mạnh tự nhiên của mình (Phu 34:7), vì thế nguyên nhân không thuộc về vấn đề thể xác. Sự cầu thay là một hoạt động đòi hỏi nhiều nơi người cầu thay. Việc phải tập trung mọi sự chú ý nơi Đức Chúa Trời và “cầu nguyện không thôi” (ITe 5:17) có thể làm bạn đuối sức cũng như đối với một công việc căng thẳng. Giống như Ê-pháp-ra, chúng ta phải “luôn lao động nhiệt thành” trong sự cầu nguyện của chúng ta (Cong 4:12) [65], chớ không chỉ là việc đề cập qua loa đến những lời thỉnh cầu của chúng ta đối với Chúa. Samuel M.Zwemer là nhà truyền đạo cho thế giới Hồi giáo, ông thường gọi sự cầu nguyện là “sự luyện tập của linh hồn”, và John Bunyan đã viết: “Trong sự cầu nguyện thì một tấm lòng không nói nên lời còn đáng giá hơn là những lời nói không có tấm lòng”. Bạn phải trả giá khi đặt trọn tấm lòng mình vào sự cầu thay, nhưng điều đó cũng sẽ đem đến sự phước hạnh cho bạn.
    Giô-suê không thể thành công nếu không có Môi-se, nhưng Môi-se không thể thắng thế nếu không có sự hỗ trợ của A-rôn và Hu-rơ. Không phải mọi người đều có thể là một Môi-se hay Giô-suê, một D.L.Moody hay Billy Graham, nhưng tất cả các Cơ Đốc Nhân đều có thể như A-rôn và Hu-rơ giúp giữ tay họ khi họ làm theo lời Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đang tìm kiếm những người sẳn lòng dự phần trong cuộc chiến và chiến thắng vì họ vẫn đang bền lòng trong sự cầu nguyện (Ro 12:12 Es 59:16).
    Có một lời nhắc nhở cho chúng ta tại đây: Cứu Chúa hằng sống của chúng ta ở trên trời đang cầu thay cho chúng ta khi chúng ta đang chiến trận với cuộc sống mỗi ngày, và sức lực của Ngài thì chẳng bao giờ cạn (He 7:25). Hơn nữa, Đức Thánh Linh trong lòng cũng đang cầu thay cho chúng ta và hướng dẫn chúng ta trong sự cầu nguyện (Ro 8:26-27). Đức Chúa Trời hứa ban chiến thắng cho những ai cầu nguyện và sử dụng gươm Thánh Linh (Eph 6:17-18).
    Lời chứng (Xu 17:14-16). Môi-se không xây một đài kỷ niệm cho chính ông hay cho Giô-suê, hoặc thậm chí cho đội quân chiến thắng của Y-sơ-ra-ên. Thay vào đó, ông biết dành mọi vinh hiển về chiến thắng của Y-sơ-ra-ên cho Đức Chúa Trời bằng cách xây một bàn thờ và đặt tên là “Giê-hô-va Cờ xí của tôi”. Ở Ai Cập, có lẽ Môi-se đã nhìn thấy nhiều đội quân khác nhau và mỗi đội quân được biết đến như một trong nhiều vị thần của họ, vì vậy ông giương cờ để tôn cao Đức Chúa Trời chân thật duy nhất của mình. Môi-se cũng đưa ra lý do cho đài kỷ niệm này rằng:“Vì tay đã được giơ lên trước ngôi của Chúa” (c.16 NIV), đề cập đến sự cầu thay của Môi-se trên đồi [66] Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện và cứu giúp cho dân sự Ngài, và Môi-se muốn ngợi khen danh Ngài.
    Nhưng Môi-se cũng đã ghi vào sử sách (Xu24:4-7 34:27 Dan 33:1-2 Phu 25:17-19 31:9-24). rằng Y-sơ-ra-ên phải chiến đấu với A-ma-léc cho đến khi dân tộc này hoàn toàn bị tiêu diệt. Y-sơ-ra-ên chiến trận với họ một lần nữa tại Ca-đe ba-nê-a nhưng bị thất bại (Dan 14:45), Ghê-đê-ôn đã chiến thắng dân này cùng với dân Ma-đi-an (Cac 6:33). Vua Sau-lơ đã không vâng lời Đức Chúa Trời mà tiêu diệt dân A-ma-léc, nên bị mất ngôi (ISa 15:1-25) và chính ông bị giết hại bởi một người A-ma-léc (IISa 1:1-16). Vua Đa-vít đã đánh bại dân A-ma-léc là những người đã đột kích trại quân của ông (ISa 30:1-31), và khi ông trở thành vua thì cuối cùng ông đã chinh phục được họ (IISa 8:11-12). Trong suốt thời trị vì của vua Ê-xê-chia, các đội quân của ông đã tiêu diệt một số ít dân A-ma-léc còn sót lại. Sự đoán xét của Đức Chúa Trời trên dân A-ma-léc cho chúng ta một bài học rằng bạn không thể phạm đến ngôi Đức Chúa Trời mà thoát khỏi sự trừng phạt.
    3. Đức Chúa Trời đáng được ngợi khen (Xu 18:1-12)
    Sau khi đọc về những thử thách, những sự phàn nàn và những cuộc chiến của dân Y-sơ-ra-ên, thật là một sự thư giãn để đi vào một chương mô tả trại quân Y-sơ-ra-ên như một nơi yên tĩnh của sự giao thông trong gia đình và của công việc hằng ngày. Cuộc sống không phải luôn luôn là sự đói khát và chiến tranh, dù đó là những điều mà chúng ta thường hay nhớ đến. Charles Spurgeon nói rằng dân sự Đức Chúa Trời có xu hướng khắc những hoạn nạn của họ vào đá hoa cương và viết những phước hạnh của họ trên cát, và có lẽ ông ấy đã nói đúng.
    Nhưng điều tuyệt vời nhất về phân đoạn này đó là mọi người đều ngợi khen Chúa về những việc Ngài đã làm cho dân sự Ngài. Ngợi khen Đức Chúa Trời thật tốt hơn là phàn nàn Đức Chúa Trời; thật ra, sự ngợi khen là liều thuốc giải độc hay cho một tinh thần hay than vãn. Nhà truyền giáo D.L.Moody đã nói rằng: “Có rất nhiều điều trong Kinh Thánh nói về sự ngợi khen hơn là sự cầu nguyện, nhưng chúng ta lại có quá ít buổi nhóm họp ngợi khen !”
    Sứ điệp của Giê-trô (Xu 18:1-6). Chúng ta đã gặp cha vợ của Môi-se (2:11-22), nhưng sự hiện diện của ông ở đây nêu lên hai câu hỏi quan trọng:
    1. Giê-trô đã được nghe về những công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời tại Ai Cập như thế nào?
    2. Vợ và hai con trai của Môi-se đã trở về nhà khi nào ?
    Có thể Môi-se đã đưa gia đình ông trở về xứ Ma-đi-an trước khi Chúa tuyên chiến trên Ai Cập. Rồi sau cuộc hành trình rời Ai Cập, Môi-se đã sai một sứ giả đến cùng Giê-trô và yêu cầu ông dẫn theo Sê-phô-ra với hai cậu con trai và gặp ông tại núi Si-nai. Một số học giả bác bỏ tình tiết này vì Môi-se chắc chắn muốn gia đình ông nhìn thấy sự đoán xét của Chúa trên Ai Cập và được tham gia vào sự giải cứu vĩ đại của Y-sơ-ra-ên. Môi-se sẽ là một người lãnh đạo như thế nào nếu chỉ muốn gia đình mình được yên ổn tại Ma-đi-an trong khi dân sự đang chịu cảnh khốn cùng ở Ai Cập ?
    Nếu gia đình cùng ở với Môi-se tại Ai Cập thì sau cuộc hành trình rời Ai Cập, có thể đôi lúc Môi-se đã đưa Sê-phô-ra và hai con trai của họ về Ma-đi-an để báo tin mừng cho gia đình bà. Sê-phô-ra và những người cùng đi với bà có thể đi nhanh hơn rất nhiều so với cả đoàn dân cùng với con cái và gia súc của họ, vì vậy gia đình này sẽ đến Ma-đi-an trước khi dân Y-sơ-ra-ên đi đến khu vực núi Si-nai. Sau khi nghe tin mừng, Giê-trô sai một sứ giả đến chỗ Môi-se để cho biết rằng ông sắp đến trại quân cùng với Sê-phô-ra và các con trai của nàng.
    Giê-trô đến (Xu 18:7-8). Ở Đông phương, những người trong gia đình và bạn bè dành khá nhiều thời gian để chào hỏi khi họ gặp mặt nhau (Lu 10:4), đặc biệt là khi họ đã không được gặp nhau trong suốt một thời gian dài (Sa 29:9-14 33:1-7 45:1-15). Môi-se bày tỏ sự kính trọng của ông đối với cha vợ bằng cách đi ra đón người, nhưng thật lạ khi Sê-phô-ra và hai người con trai không được đề cập đến tại đây [67].
    Sự hiếu khách là một phép tắc trên hết cần phải tuân giữ tại Đông phương, và Môi-se đã mời Giê-trô cùng những vị khách vào trại của ông. Ở đó ông thuật lại cho họ nghe một lần nữa những công việc kỳ diệu Đức Chúa Trời đã làm cho dân sự Ngài. Giê-trô đã biết một số sự việc về sự thất bại của Ai Cập, nhưng Môi-se trình bày lại cho ông những chi tiết và trả lời những câu hỏi của ông. Đó không phải là sự tường thuật về những điều Môi-se đã làm nhưng là điều Đức Chúa Trời đã làm!
    Sự thờ phượng của Giê-trô (Xu 18:9-12). Giống như Mên-chi-xê-đéc (Sa 14:17-24), Giê-trô là một thầy tế lễ người ngoại (Xu 2:16) mà những lời chứng của ông cho thấy rằng ông đã biết Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống. Ông cũng biết tầm quan trọng của Y-sơ-ra-ên trong kế hoạch của Đức Chúa Trời, vì ông nói rằng Chúa đã trừng phạt dân Ai Cập bởi họ đã “đối xử với Y-sơ-ra-ên một cách kiêu ngạo” (18:11 NIV).
    Chức tế lễ vẫn chưa được thiết lập một cách chính thức trong Y-sơ-ra-ên, nên Môi-se, A-rôn và các trưởng lão Do Thái không phạm tội khi cùng Giê-trô dâng của lễ cho Đức Chúa Trời và sau đó dự một bữa tiệc thông công với nhau. Suốt những năm sống ở Ma-đi-an, chắc chắn Môi-se đã tham dự nhiều bữa ăn về của lễ cùng với cha vợ của ông. Hình thức thông công này báo trước thời điểm Đấng Mê-si-a sẽ chết thay tội lỗi của cả thế gian và thực hiện sự cứu chuộc cho muôn dân muôn nước. “Vì từ nơi mặt trời mọc cho đến nơi mặt trời lặn, danh ta sẽ là lớn giữa các dân ngoại” (Mat 1:11).
    4. Đức Chúa Trời phân bổ những gánh nặng của chúng ta (Xu 18:13-27)
    Môi-se lẽ ra phải có một tuần vui chơi với gia đình và tiếp đón cha vợ của ông, nhưng là một người chăn bầy trung tín, ngay hôm sau ông đã trở lại để giúp đỡ dân sự giải quyết những vấn đề của họ.
    Nhiệm vụ (18:13-16). Dân tộc Y-sơ-ra-ên đã có những trưởng lão (c.13 4:29), nhưng họ không giúp đỡ Môi-se trong những công việc hằng ngày của trại quân, hoặc nếu họ giúp thì cũng có những vấn đề họ không thể tự giải quyết mà phải nhờ đến Môi-se. Trại quân của Y-sơ-ra-ên đã có những quy định cơ bản về sự quản lý (18:16), vì hai triệu dân không thể sống hòa hợp và đồng hành với nhau mà không tuân theo một số điều lệ nào đó. Nhóm từ “mạng lệnh và luật pháp” trong c.16 có thể chỉ về ý muốn của Đức Chúa Trời nói chung cũng như về những mệnh lệnh cụ thể của Chúa. Từ rất lâu trước khi Luật Pháp được ban ra, Đức Chúa Trời đã chúc phước cho Áp-ra-ham vì ông đã làm theo những mạng lệnh, quy tắc và luật lệ của Ngài (Sa 26:5).
    Những điều khoản trong Luật Pháp cần thiết cho tình hình trật tự và an ninh trong xã hội, nhưng các điều khoản này cũng luôn cần phải được giải thích, ngay cả khi những điều này đến từ Chúa. Sau này, các thầy tế lễ sẽ giúp đỡ trong nhiệm vụ này (Mat 2:4-7), nhưng vào lúc đó chức tế lễ vẫn chưa được thiết lập. Từ thời E-xơ-ra (Exo 7:10), các thầy thông giáo đã trở thành những người nghiên cứu và giải thích luật pháp.
    Hiểm họa (Xu 18:17-18). Giê-trô biết rằng chức lãnh đạo của Môi-se mang tính quyết định cho sự thành công trong tương lai của Y-sơ-ra-ên và bất cứ hoạt động nào làm cạn kiệt sức lực hay lãng phí thời giờ của ông đều có hại cho dân tộc. Thêm nữa, ông cũng không muốn con rễ của mình bị kiệt sức để Sê-phô-ra phải góa bụa và hai cháu nội của ông không có cha. Không ai có thể tự mình giúp đỡ cho hai triệu dân mà kéo dài được tuổi thọ. Thậm chí sau khi đã có những sự xếp đặt mới thì Môi-se vẫn phải thú nhận rằng việc điều hành cả dân sự là quá sức cho ông (Dan 11:4), vậy dưới hệ thống điều hành cũ thì gánh nặng này còn nặng nề đến mức độ nào ? Từ Hê-bơ-rơ được dịch là “dễ hơn” trong (Xu 18:22) có nghĩa là “lấy hàng hóa ra từ một chiếc tàu.” (“Điều đó sẽ khiến gánh của con nhẹ hơn”, NIV).
    Lời đề nghị (Xu 18:19-27). Lời đề nghị của Giê-trô rất hay. Môi-se phải tổ chức trại quân để cứ 10 người thì phải có người để họ trình bày về những vấn đề của họ. Nếu người phụ trách nhóm 10 người không thể giải quyết được vấn đề thì có thể giao lên cho người chịu trách nhiệm nhóm 50 người, rồi 100 người, rồi 1000 người [68] Sau mọi việc đó, (nếu vấn đề vẫn chưa được giải quyết) thì nó sẽ được giao cho chính Môi-se quyết định. D.L.Moody có thể đã nghĩ đến điều này khi ông nói: “Tôi thà để 10 người làm việc hơn là làm công việc của 10 người”.
    Một hệ thống điều hành như thế sẽ tách những vấn đề đơn giản khỏi những vấn đề phức tạp hơn để Môi-se không lãng phí thời gian của ông vào những vấn đề không quan trọng. (Nếu dân Y-sơ-ra-ên cũng giống như con người ngày nay thì tức là mọi người đều nghĩ vấn đề của mình là quan trọng nhất !). Sự sắp đặt này cũng sẽ thử nghiệm sự nghiêm túc của dân sự, vì không phải tất cả mọi người đều muốn người trưởng nhóm đem vụ kiện của họ lên tòa án cấp cao hơn để giải quyết”.
    Nhưng Giê-trô không khuyên Môi-se “đẩy trách nhiệm cho người khác”. Không, chính Môi-se sẽ dạy dỗ cho dân sự các luật lệ, và chắc chắn ông cần đến sự hỗ trợ của những trưởng nhóm đã được chọn lựa, vì thế họ có thể thực hiện được những quyết định khôn ngoan. Ông cũng phải là người đại diện cho dân sự trước mặt Đức Chúa Trời, điều này có nghĩa là phải cầu thay cho họ và tìm kiếm sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời trong những trường hợp khó khăn. Môi-se là người lãnh đạo được Đức Chúa Trời chỉ định, và không ai có thể thay thế ông cho đến khi công việc của ông đã được hoàn tất, nhưng ông không phải làm mọi công việc một cách đơn độc.
    Có người nói rằng Giê-trô là một người xen vào việc của người khác, và lẽ ra ông nên quan tâm đến công việc riêng của mình vì Đức Chúa Trời đã có thể giúp Môi-se làm xong công việc mỗi ngày. Họ lý luận: “Nếu Chúa muốn Môi-se có sự hỗ trợ, chính Ngài sẽ cho Môi-se biết.” Nhưng Giê-trô không ra lệnh Môi-se phải làm theo những mệnh lệnh của ông. Ông đã giục Môi-se thưa với Chúa về vấn đề này và làm theo bất cứ điều gì Đức Chúa Trời phán dạy (c.23). Vì Môi-se đã tiếp thu lời đề nghị của cha vợ ông, ông chắc đã hỏi ý Chúa và nhận được sự chấp thuận của Đức Chúa Trời.
    Môi-se không hỏi Giê-trô cách xây đền tạm hay cách dâng của lễ, vì những vấn đề đó đã được Chúa bày tỏ cho ông. Nhưng trong những vấn đề về tổ chức và quản lý, dân sự Đức Chúa Trời có thể học hỏi từ những người bên ngoài, vì “con đời này trong việc thông công với người đồng đời mình thì khôn khéo hơn con sáng láng” (Lu 16:8). Dĩ nhiên chúng ta không được làm theo một thói quen hay một cách giải quyết nào đó cho đến khi chúng ta hiểu được nguyên tắc xử lý của nó và biết chắc rằng nó phù hợp với lời Kinh Thánh (Gia 3:13-18).
    Điều quan trọng trong việc giao phó trách nhiệm là bạn phải có những người lãnh đạo có khả năng và nghị lực, “những người có năng lực, kính sợ Đức Chúa Trời, chơn thật, ghét sự tham lợi” (Xu 18:21) [69], những phẩm chất này nhắc nhở chúng ta về kinh nghiệm của Hội Thánh đầu tiên trong việc tìm người giúp đỡ các Sứ Đồ và đỡ đần những công việc nhẹ cho họ (Cong 6:1-7). Những người phụ tá này phải có tiếng tốt, đầy dẫy Đức Thánh Linh cùng sự khôn ngoan, và được dân sự chấp thuận.
    Theo (Phu 1:9-18), Môi-se đã nói về lời khuyên của Giê-trô cùng dân sự, ông thừa nhận sự yếu đuối và mệt mỏi của mình, và yêu cầu họ chọn ra những người lãnh đạo để giúp đỡ ông. Họ tán thành kế hoạch này và chọn ra những người sẽ phụ trách công việc, sau đó Môi-se đã giao trách nhiệm cho họ để cùng gánh vác. Khi Y-sơ-ra-ên vào Đất Hứa, họ bổ nhiệm các quan chức trong mỗi tỉnh để giúp trong việc giải quyết những việc kiện tụng (16:18-20). Đức Chúa Trời là Chúa của sự trật tự, và Ngài muốn dân sự của Ngài có được sự an ninh và công bằng trong trại quân và trong xứ.
    Bất cứ khi nào chức vụ và cơ cấu mâu thuẫn với nhau, và chức vụ bị ngăn trở thì dân sự của Chúa phải điều chỉnh lại cơ cấu để chức vụ được tấn tới. Khi Hội Thánh Giê-ru-sa-lem dành cho các Sứ đồ sự hỗ trợ mà họ cần đến thì công việc được tiến triển và nhiều người trở lại quy đạo (Cong 6:7). Trong thế giới đang thay đổi nhanh chóng này, những người đứng trong các chức vụ Cơ Đốc phải rất linh động để giải quyết các vấn đề và nắm bắt những cơ hội của mình. Kinh Thánh không nhấn mạnh các vấn đề về mặt tổ chức nhưng chú trọng về loại hình tổ chức bao gồm những người có phẩm chất để hoàn thành công việc. Những tổ chức thất bại cứ giữ nguyên cơ cấu của họ và không chịu thay đổi. Những chức vụ mà Đức Chúa Trời chúc phước luôn sẵn sàng để được thay đổi, miễn là các nguyên tắc của Lời Đức Chúa Trời phải được vâng giữ.
    8. HÃY LẮNG NGHE TIẾNG CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI (Xu 19:1-20:21)
    Khi Đức Chúa Trời phán với Môi-se ở bụi gai cháy, Ngài ban cho ông một lời hứa đầy khích lệ: “Khi ngươi đem dân sự ra khỏi Ai Cập, các ngươi sẽ hầu việc Đức Chúa Trời trên núi này” (9:12 NKJV). Lời hứa đó giờ đây đã được ứng nghiệm. Dân Do Thái đang ở tại núi Si-nai, “núi của Đức Chúa Trời”, (c.1 4:27 18:5 24:13), và sẽ cắm trại ở đó trong 7 tháng tiếp theo [70]. Đức Chúa Trời đã cứu chuộc dân sự Ngài, và giờ đây Ngài sẽ tuyên bố họ thuộc về Ngài và sẽ bắt đầu một mối liên hệ giao ước với họ (19:1-24:17) y như lời Ngài đã hứa (6:6-7).
    Có ít nhất 8 lần [71] Môi-se đã xin phép Pha-ra-ôn để dắt dân sự vào đồng vắng nơi họ có thể thờ phượng Đức Giê-hô-va, và mỗi lần như thế Pha-ra-ôn đều từ chối. Nhưng giờ đây Y-sơ-ra-ên sẽ gặp Đức Chúa Trời của họ tại núi thánh và thờ phượng Ngài. Nhiều việc kỳ diệu đã xảy ra tại Si-nai ngày ấy, nhưng việc vĩ đại nhất đó là dân sự Đức Chúa Trời đã nghe tiếng của Đức Chúa Trời phán trực tiếp với họ. “Có việc nào lớn như việc này đã xảy ra, hay người ta có nghe việc gì giống như vậy chăng ? Có dân tộc nào khác nghe tiếng Đức Chúa Trời phán ra từ lửa như các ngươi đã nghe mà còn sống chăng ?” (Phu 4:33 5:23-27).
    Khi Đức Chúa Trời phán với dân sự Ngài, thì bởi ân điển, Ngài đã kêu gọi họ đến một đời sống rất đặc biệt.
    1. Một đời sống trưởng thành (Xu 19:1-4)
    Nếu tự do không dẫn đến sự trưởng thành, vậy chúng ta sẽ đi đến chỗ bị giam cầm trong một ách nô lệ còn tồi tệ hơn điều chúng ta đã có trước đó, một ách nô lệ từ bên trong chớ không phải từ bên ngoài. Bị một đốc công Ai Cập bắt làm nô lệ cũng đủ tồi tệ, nhưng sẽ tồi tệ hơn khi một người tự nô lệ hóa mình và trở nên đốc công của chính mình.
    Môi-se đã đi lên núi để gặp Đức Chúa Trời, và ông đã đi xuống để chia sẻ với dân sự điều Đức Chúa Trời đã dạy bảo ông [72] Hình ảnh của sự trưởng thành mà Đức Chúa Trời sử dụng là hình ảnh của chim ưng, mang con nó trên đôi cánh và dạy cho chúng sự tự do tuyệt vời của việc bay lượn. Môi-se đã sử dụng hình ảnh tương tự trong bài ca ông dạy cho dân Y-sơ-ra-ên vào lúc cuối đời của ông. Hãy đọc kỹ (Phu 32:10-12). Loài chim ưng đã dạy chúng ta điều gì về một đời sống trưởng thành? [73]
    Vào giai đoạn nào đó trong sự phát triển của chim ưng con, những chim ưng cha mẹ đã phá vỡ chiếc tổ ấm cúng và buộc những chim ưng con phải bay lên. Những chú chim con có thể chẳng lo lắng khi rời bỏ chiếc tổ an toàn, nhưng chúng phải học cách bay nếu chúng muốn thực hiện những mục đích của mình trong cuộc đời. Những chim lớn ở gần các chim non, và nếu chim non rơi xuống thì chim mẹ sẽ mang chúng trên đôi cánh mạnh mẽ của mình cho đến khi chim non biết cách sử dụng đôi cánh của chúng, lướt trên những luồng khí, và tận hưởng những khả năng mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng.
    Chim ưng con là ví dụ minh họa cho ba khía cạnh của sự tự do: sự tự do được ra khỏi (chúng được ra khỏi tổ, điều mà đối với chúng ta là sự cứu chuộc); sự tự do ở bên trong (chúng ở nhà trên không, đối với chúng ta đó là sự trưởng thành), và sự tự do được đến (chúng có thể được thực hiện những mục đích trong đời sống, điều mà đối với chúng ta là chức vụ). Sự tự do thật có nghĩa là chúng ta được giải cứu khỏi việc làm những điều xấu xa, chúng ta có thể làm được những điều tốt đẹp, và chúng ta đang thực hiện ý muốn của Đức Chúa Trời trên đất.
    Theo cái nhìn của Đức Chúa Trời thì Ai Cập là một lò lửa hoạn nạn đối với Y-sơ-ra-ên (Phu 4:20 IVua 8:51 Gie 11:4), nhưng dân Do Thái thường xem Ai Cập như một “cái tổ” nơi mà ít nhất họ cũng có được lương thực, có chỗ nương thân và sự an ninh (Xu 16:1-3 Dan 11:1-9). Đức Chúa Trời đã giải cứu họ khỏi Ai Cập vì Ngài có điều khác tốt đẹp hơn để họ vui hưởng và thực hiện, nhưng điều này có nghĩa là họ phải “thử nghiệm đôi cánh của mình” và phải trải qua những cơn đau đớn trước khi họ thực sự trưởng thành.
    Khi chúng ta trưởng thành trong Chúa, cuộc sống là những cánh cửa mở tiếp nối nhau, đưa đến ngày càng nhiều cơ hội cho sự tự do có trách nhiệm. Nhưng nếu chúng ta không để Đức Chúa Trời hoàn thiện con người chúng ta thì cuộc sống sẽ trở thành một hàng rào sắt giam hãm chúng ta. Một đứa bé sẽ được an toàn và dễ chịu trong tử cung của người mẹ, nhưng đến thời điểm nào đó đứa bé đó phải được sinh ra để bước vào một thế giới mới mẻ và khắc nghiệt của sự tăng trưởng và chín chắn. Từ lúc sinh ra cho đến lúc chết, “những bước ngoặt” của cuộc sống đã đưa đến những sự tự do mới; sự tự do này làm nảy sinh những đặc quyền và những trách nhiệm mới: có thể tự bước đi thay vì được bồng ẵm; chạy xe đạp, rồi lái xe hơi, làm việc và kiếm tiền; học cách để sử dụng tiền cách khôn ngoan; kết bạn; lập gia đình; nuôi dạy con cái; nghỉ hưu. Ở mỗi “bước ngoặt”, chúng ta phải mất đi điều gì đó khi chúng ta đạt được điều gì đó, và đây chính là cách thức hoạt động của quá trình trưởng thành.
    Mỗi khi dân Do Thái phàn nàn về cách Đức Chúa Trời đã đối xử với họ và mong mỏi được trở lại Ai Cập là họ đang hành động như con trẻ, vì vậy Đức Chúa Trời phải kỷ luật họ. Câu nói mà tôi đã trích dẫn trước đó của George Morrison cần được trích dẫn lại lần nữa: “Chỉ cần một đêm để đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập, nhưng phải mất 40 năm để đem Ai Cập ra khỏi Y-sơ-ra-ên”. Chúa phải mất bao lâu để khiến chúng ta có thể bay, hay phải chăng chúng ta là những chim non không muốn bị làm cho kinh sợ ?
    2. Một đời sống có phẩm cách (Xu 19:5-8)
    Ở Ai Cập, dân Do Thái chỉ là những con người kiệt quệ, là những nô lệ chỉ biết thực hiện theo mệnh lệnh của chủ mình, nhưng Chúa đã hoạch định những điều tốt đẹp hơn cho họ. Họ phải là một dân đặc biệt của Ngài và Ngài sẽ dùng họ để làm một nguồn phước cho cả thế giới (Sa 12:3).
    Dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời (Xu 19:5 NIV). Tất cả các dân tộc trên đất đều thuộc về Chúa vì Ngài là Đấng tạo dựng và gìn giữ họ (9:29 Thi 24:1 50:12 Cong 14:15 17:24-28), nhưng Ngài đã chọn Y-sơ-ra-ên làm dân tộc thuộc riêng về Ngài (Phu 7:6 14:2 26:18 Thi 135:4 Mat 3:17). Sự chọn lựa này không phải vì Y-sơ-ra-ên xứng đáng hay bởi họ không có gì cả (Phu 26:5-11), nhưng chỉ bởi tình yêu và ân điển lớn lao của Đức Chúa Trời (7:6-8).
    Việc dân Do Thái là tuyển dân của Đức Chúa Trời không có nghĩa là họ tốt lành hơn bất cứ dân tộc nào khác, chỉ vì họ rất khác biệt, được Chúa biệt riêng ra cho công tác đặc biệt của Ngài. (Ro 9:4-5) nhắc nhở chúng ta về một số của báu thuộc linh Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên để họ có thể làm một nguồn phước cho cả thế giới, vì “sự cứu rỗi thuộc về dân Do Thái” (Gi 4:22). Y-sơ-ra-ên có những của báu và những đặc quyền này nên họ cũng có nhiều trách nhiệm hơn để yêu mến và vâng lời Đức Chúa Trời, vì “ai đã được giao cho nhiều, sẽ bị đòi lại nhiều hơn” (Lu 12:48 NIV) [74]
    Nước của các thầy tế lễ (Xu 19:6). Sau này A-rôn và các con trai ông sẽ được phong chức để hầu việc với tư cách là những thầy tế lễ của dân tộc (28:1-29:46), nhưng ý định của Đức Chúa Trời là cả dân tộc Y-sơ-ra-ên đều phải sống như những thầy tế lễ, bày tỏ lẽ thật của Ngài và chia sẻ những ơn phước của Ngài cho thế gian. Y-sơ-ra-ên phải là “người giới thiệu” về Đức Chúa Trời cho dân ngoại, cho họ thấy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống, và rằng hầu việc Ngài là con đường dẫn đến phước hạnh tràn đầy (Es 42:6 49:6). Tiếc thay, lẽ ra Y-sơ-ra-ên phải gây ảnh hưởng trên các dân tộc khác để họ thờ phượng Đức Giê-hô-va thì các dân tộc đó lại tác động đến Y-sơ-ra-ên khiến thờ lạy các hình tượng của họ ! Dân Do Thái đã tiếp nhận các tôn giáo cùng lối sống của dân ngoại và vì thế đã báng bổ chính bản thân họ, xứ sở và đền thờ của họ đến nỗi Đức Chúa Trời phải trừng phạt họ thật nghiêm khắc và đưa họ vào cảnh lưu đày tại Ba-by-lôn. Tuy nhiên, sẽ đến ngày mà Y-sơ-ra-ên được nhìn thấy Đấng Mê-si-a của họ, được tẩy sạch những tội lỗi (Xa 12:10-13:1), và trở nên một dân tộc có những thầy tế lễ thánh để hầu việc Chúa (Es 61:6).
    Một dân tộc thánh (Xu 19:6). “Các ngươi phải là dân thánh của ta” (22:31) nghĩa là một dân được biệt riêng cho Đức Chúa Trời, một dân thật khác biệt. “Hãy nên thánh, vì ta là thánh” được tìm thấy ít nhất 6 lần trong Lê-vi ký (Le 11:44-45 19:2 20:7,26 21:8) và được lặp lại 2 lần trong (IPhi 1:15-16). Trong mọi lãnh vực của đời sống, những hoạt động của Y-sơ-ra-ên được điều khiển bởi sự kiện họ là dân thuộc về Đức Chúa Trời, và điều đó bao gồm cả việc họ ăn gì, mặc gì, kết hôn với ai, chôn người chết như thế nào, và đặc biệt là họ thờ phượng như thế nào.
    Qua những tai vạ ở Ai Cập, Đức Chúa Trời đã đặt ra một sự khác biệt giữa dân Do Thái và dân Ai Cập (Xu 11:7), vì dân Do Thái không được sống như những dân tộc ngoại bang. Các thầy tế lễ Do Thái phải nêu gương và cũng dạy cho dân sự “phân biệt điều thánh và điều chẳng thánh, sự khiết và sự chẳng khiết” (Le 10:10 11:47). Các thầy tế lễ đã không thể làm được điều này (Exe 22:26 42:20 44:23 48:14-15) và tội lỗi của họ đã dẫn dân tộc vào tình trạng ô uế và hủy diệt (Ca 4:13).
    Khi Môi-se chia sẻ với dân sự tin mừng này, họ nhiệt tâm hứa vâng theo mọi điều Đức Chúa Trời bảo họ làm (Xu 19:7-8). Có thể họ thành tâm, nhưng Đức Chúa Trời biết rằng lòng họ có xu hướng làm ác (Phu 5:27-29). Sự kiện họ đã lập lại lời thề nguyện này hai lần nữa cũng không làm thay đổi tấm lòng hay củng cố được ý chí của họ (Xu 24:3,7). Chẳng bao lâu Y-sơ-ra-ên sẽ khuất phục trước sự thờ lạy hình tượng ngấm ngầm trong lòng họ và đã làm một con bò vàng rồi thờ lạy nó (32:1-35).
    Dân sự Đức Chúa Trời ngày nay (IPhi 2:5,9). Phi-e-rơ đã mượn hình ảnh (Xu 19:6) và gọi Hội Thánh ngày nay là “chức tế lễ thánh … là dân thuộc riêng về Ngài, hầu cho anh em có thể rao ra những sự ngợi khen về Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đến nơi sáng láng lạ lùng của Ngài” (IPhi 2:5,9 NKJV). Giống như dân Y-sơ-ra-ên ngày xưa, dân sự Đức Chúa Trời ngày nay phải hướng mọi người về Chúa và bày tỏ ra sự kỳ diệu của Ngài qua lời nói và việc làm của mình. Chúng ta phải là “những quảng cáo sống động” về ân điển và quyền năng của Đức Chúa Trời. Phải không thưa các bạn ?
    3. Một đời sống thánh khiết (Xu 19:9-25)
    Môi-se trở lại với Chúa trên núi và thuật lại lời hứa của dân sự sẽ vâng theo những điều răn của Ngài. Việc Đức Chúa Trời trực tiếp phán với Môi-sẽ lẽ ra phải cho dân sự lòng tin nơi người lãnh đạo của họ, nhưng các sự kiện xảy ra sau đó lại khác hẳn. Quả là một đặc quyền cho Y-sơ-ra-ên để có một người lãnh đạo như Môi-se, và thật là bi kịch khi họ đã nhiều lần làm cho ông phải khổ sở !
    Chương này chú trọng đến sự thánh khiết của dân tộc Y-sơ-ra-ên với tư cách là dân thánh của Đức Chúa Trời, và có ba hình ảnh nổi bật ở đây: việc thay đổi quần áo của dân sự, khoảng cách được thiết lập giữa dân sự với Đức Chúa Trời, và cơn bão trên núi Si-nai.
    Việc thay quần áo và tắm rửa (19:10-11,14-15). Ngày nay chúng ta đã quen với việc có sẵn xà bông và nước, cùng những bộ quần áo khác treo trong tủ, nhưng dân sự trong thời Kinh Thánh không có được những thứ xa xỉ đó. Họ không thể tắm mỗi ngày, và chỉ người giàu mới có nhiều quần áo để thay đổi. Đó là lý do mà việc tắm rửa và thay quần áo thường đánh dấu một sự khởi đầu mới, chẳng hạn như khi Đức Chúa Trời phục hồi lại cho A-đam và Ê-va (Sa 3:21) hay khi Gia-cốp và gia đình ông trở về Bê-tên (35:2). Những ví dụ khác đó là khi Giô-sép được ra khỏi ngục (41:14), những người phung được chữa lành và trở lại với xã hội (Le 14:8-9), Đa-vít trở lại với Đức Chúa Trời (IISa 12:20), và vua Giê-hô-gia-kin được những người bắt giữ bày tỏ lòng thương xót (Gie 52:31-34). Việc tắm rửa và thay quần áo là một vấn đề trong Cựu Ước tương đương với (IGi 1:9) và (IICo 7:1) trong Tân Ước [75]
    Khoảng cách giữa Đức Chúa Trời và dân sự (Xu 19:12-13,20-25). Việc phải tránh xa núi Si-nai là một vấn đề có liên quan đến sự sống còn của cả dân sự vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời đã thánh hóa ngọn núi. Vì vậy Môi-se đã dựng lên những vật cản để giữ cho dân sự không được lại gần. Ông cũng đặt những lính canh có quyền giết bất cứ người nào vượt qua rào cản từ xa, và không ai được đụng đến xác chết. Khi tiếng kèn vang lên, Môi-se tiến lên núi để gặp Đức Chúa Trời, nhưng ngay cả vào thay điểm đó, Đức Chúa Trời đã sai ông trở về để cảnh cáo dân sự đừng đến quá gần núi Si-nai.
    Một cách nghiêm khắc, Đức Chúa Trời đã dạy cho dân sự biết khoảng cách giữa một Đức Chúa Trời thánh khiết và những người nam và người nữ tội lỗi, cũng như hiểm họa của việc xông lên núi một cách đường đột khi đang có sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Sau này Na-đáp và A-bi-hu đã quên nguyên tắc này, và Đức Chúa Trời đã giết họ (Le 10:1-20). Sự thờ phượng trong thời Cựu Ước nhấn mạnh đến sự phạm tội của con người và “sự khác biệt” của Đức Chúa Trời về: hàng rào bao quanh đền tạm; bức màn trước nơi chí thánh; sự kiện chỉ những thầy tế lễ mới có thể hầu việc trong đền tạm, chỉ thầy tế lễ cả mới có thể vào nơi chí thánh, và chỉ có thể được vào một lần trong năm. Sự nhấn mạnh luôn là “Hãy giữ khoảng cách của các ngươi !”
    Nhưng Tân Ước nhấn mạnh việc đến gần Đức Chúa Trời, vì Con Đức Chúa Trời đã trở nên xác thịt và đến ở trên đất (Gi 1:14), và danh Ngài là “Em-ma-nu-ên – Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta” (Mat 1:23). Bởi sự chết và sống lại của Ngài, Chúa Giê-xu đã mở một con đường mới và sống động vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời (He 10:1-25), và câu tiêu đề trong Tân Ước ghi lại rằng: “Chúng ta hãy đến gần !” Điều này không có nghĩa là chúng ta trở nên “thân mật” với Đức Chúa Trời hơn và hành động giống như chúng ta ngang hàng với Ngài, nhưng Ngài là Cha của chúng ta và Ngài muốn đón nhận tình yêu của chúng ta dành cho Ngài. Xin hãy xem (He 12:18-29).
    Sấm chớp (Xu 19:16-19 20:18-20). Trong Kinh Thánh, sấm chớp thường là biểu tượng về sự hiện diện kinh khiếp và đầy quyền năng của Đức Chúa Trời (Thi 18:1-15 29:1-11 Ha 3:1-16). Mây và sự tối tăm, sấm và ánh chớp, cơn động đất và lửa, tất cả đều bày tỏ sự vĩ đại của Đức Chúa Trời (Phu 5:22-23,27) và tạo nên một sự kính sợ thánh khiết trong lòng dân sự. Cả Môi-se cũng run rẩy sợ hãi và ông đã thừa nhận điều đó ! (He 12:21 Phu 9:19). Đức Chúa Trời sẽ dạy cho dân sự Luật Pháp của Ngài, và “sự kính sợ Đức Giê-hô-va là khởi đầu sự tri thức” (Ch 1:7). Dân Do Thái cũng đã nhìn thấy những tai vạ ở Ai Cập, và sự bày tỏ mạnh mẽ về quyền năng lần này của Đức Chúa Trời lẽ ra cũng đã sửa soạn tấm lòng của họ để vâng lời Ngài (Thi 105:26-45).
    Sự kết hợp của việc tắm rửa và thay quần áo, việc chứng kiến cơn sấm chớp, và việc họ phải tránh xa núi Si-nai, không thể không gây ấn tượng cho dân sự về tội lỗi của chính họ và sự thánh khiết uy nghi của Đức Chúa Trời. Họ được kêu gọi làm một dân thánh, không sống giống như những dân tộc quanh họ. Chỉ khi họ vâng lời Đức Chúa Trời, họ mới có thể thật sự hưởng được những đặc ân của việc làm một nước của các thầy tế lễ, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời và là một dân thánh của Ngài.
    4. Một đời sống có trách nhiệm (Xu 20:1-17)
    [76] Đặc quyền về sự tự do dẫn đến trách nhiệm phải sử dụng sự tự do đó một cách khôn ngoan vì vinh hiển của Đức Chúa Trời và vì ích lợi của những người khác. Tuy nhiên, Mười Điều Răn không chỉ là những luật lệ điều phối đời sống của dân tộc Y-sơ-ra-ên. Chúng còn là một phần trong giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với Y-sơ-ra-ên khi chính Ngài nhận họ làm một dân thuộc riêng về Ngài (6:1-8 19:5-8). Trong Giao Ước lập cùng Áp-ra-ham Đức Chúa Trời đã ban cho dân Do Thái quyền sở hữu vùng Đất Hứa (Sa 12:3 13:14-18), nhưng việc Y-sơ-ra-ên được sở hữu và được hưởng vùng đất đó tuỳ thuộc vào sự vâng lời của họ đối với giao ước lập cùng Môi-se. Bi kịch ở đây là dân tộc đã bất tuân Luật Pháp, làm ô uế xứ, và làm buồn lòng Chúa, vì vậy họ phải bị sửa phạt.
    Luật Pháp chưa bao giờ được ban ra như là một phương cách của sự cứu rỗi dành cho dân Do Thái hay dân ngoại, vì “không xác thịt nào bởi việc làm của luật pháp mà được xưng công bình” (Ga 2:16). Sự cứu rỗi không phải là một phần thưởng cho việc làm thiện nhưng là sự ban cho của Đức Chúa Trời bởi đức tin nơi Đức Chúa Giê-xu Christ (Ro 4:5 Eph 2:8-9). Luật Pháp bày tỏ sự công bình của Đức Chúa Trời và đòi hỏi sự công bình, nhưng Luật Pháp không thể ban sự công bình (Ga 2:21), chỉ Chúa Giê-xu Christ mới có thể làm điều đó (IICo 5:21). Luật Pháp là một chiếc gương cho thấy bạn bị dơ bẩn ở đâu, nhưng bạn không thể rửa mặt mình trong gương (Gia 1:22-25). Chỉ huyết Chúa Giê-xu mới có thể tẩy sạch chúng ta khỏi tội lỗi (IGi 1:7,9 He 10:22).
    Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho chúng ta không phải vì cớ chúng ta vâng phục Luật Pháp (Ga 3:2), nhưng vì chúng ta tin Đấng Christ (4:1-7), và Ngài cũng không ban cơ nghiệp cho chúng ta qua Luật Pháp (3:18). Điều duy nhất một tội nhân hư mất cần đến là sự sống (Eph 2:1-3), nhưng Luật Pháp không thể ban sự sống (Ga 3:21). Vậy mục đích của Luật pháp là gì ? Đó là cách Đức Chúa Trời chỉ cho chúng ta thấy tội lỗi của chúng ta và cởi bỏ sự công bình riêng của chúng ta để chúng ta kêu cầu sự thương xót và ân điển của Đức Chúa Trời [77] Đức Chúa Trời ban Thánh Linh Ngài cho tất cả những ai tin nơi Con Ngài, và Đức Thánh Linh giúp chúng ta có thể vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời và bởi đó làm trọn vẹn sự công bình của Luật Pháp (Ro 8:1-3) [78]
    Một trong những nhiệm vụ chính của Luật Pháp là chuẩn bị cho sự Giáng sinh của Đấng Christ (Ga 4:1-7). Dân tộc Y-sơ-ra-ên giống như một đứa trẻ non nớt cần đến một người “bảo hộ” để chăm sóc, chỉ dạy và bảo hộ cho nó, và đây là cách mà người nô lệ trong thời của Phao-lô phải chăm sóc cho con cái của người chủ. Nhưng khi đứa trẻ trưởng thành, người bảo hộ này không còn cần thiết nữa. Hệ thống lễ nghi Do Thái được trình bày trong sách Xuất Ê Díp Tô ký và Lê-vi ký đã được Đấng Christ thực hiện, nhưng nội dung đạo đức của Luật Pháp Đức Chúa Trời vẫn còn tồn tại, và 9 trong số 10 Điều Răn đã được nhắc đến trong các thư tín thời Tân Ước để Hội Thánh tôn trọng và làm theo. Điều răn về ngày Sa-bát không được lặp lại, và sau này chúng ta sẽ bàn đến nhiều hơn về vấn đề đó.
    Mặc dù Mười Điều Răn đề cập đến những trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời nhưng bốn điều răn đầu tiên đặc biệt hướng về Đức Chúa Trời và sáu điều răn cuối nói đến con người. Cách chúng ta liên hệ với những người khác tùy thuộc vào cách mà chúng ta tương giao với Đức Chúa Trời, vì nếu chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời và vâng giữ lời Ngài thì chúng ta cũng yêu mến những người lân cận của chúng ta và phục vụ họ (Mat 22:34-40 Ro 13:1-14).
    Nhận biết một Đức Chúa Trời chân thật (Xu 20:1-3). Nhóm từ “Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi” được lặp lại 5 lần trong phân đoạn này (c.2,5,7,10,12) để nhắc nhở dân sự về thẩm quyền phía sau những điều răn này. Môi-se không phải đang thuật lại “mười ý kiến” ông đã nghe từ một người cố vấn thân cận, nhưng là Mười Điều Răn do Đức Chúa Trời toàn năng phán ra. Dân Do Thái đang sống trong một thế giới mù lòa và giữa những dân tộc mê tín thờ lạy nhiều thần khác nhau, là điều mà Y-sơ-ra-ên vẫn thường thấy hàng bao thế kỷ tại Ai Cập [79]. Y-sơ-ra-ên phải làm chứng về Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống (Thi 115:10-18) và mời gọi những người lân cận của họ đặt niềm tin nơi Ngài.
    Nhóm từ “trước mặt Ta” có thể có nghĩa là “trong sự đối lập với ta”. Đối với dân Do Thái, việc thờ lạy thần khác có nghĩa là tuyên chiến cùng Đức Giê-hô-va và phải gánh lấy cơn thạnh nộ của Ngài. Mỗi buổi sáng, một người Do Thái trung tín sẽ rao lên rằng:“Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai” (Phu 6:4).
    Thờ phượng chỉ một mình Chúa (Xu 20:4-6) [80]. Một hình tượng sẽ là một sự thay thế cho Đức Chúa Trời và do đó không phải là một thần, vì chỉ có một Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống. Thuyết đa nguyên trong tôn giáo thời nay (“bạn thờ thần của bạn và tôi sẽ thờ thần của tôi, vì cả hai đều đúng”) vừa không đúng với Kinh Thánh và vừa mang tính phi lý, vì làm sao có hơn được một thần ? Nếu Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời thì Ngài là Đấng vô hạn, đời đời, tối cao và không thể chia sẻ ngôi vị với một thần nào khác cũng vô hạn, đời đời và tối cao.
    “Ta là Đức Giê-hô-va, ấy là danh Ta. Ta chẳng nhường sự vinh hiển Ta cho một đấng nào khác, cũng không nhường sự tôn trọng Ta cho những tượng chạm !” (Es 42:8). Sự thờ hình tượng của các dân tộc ngoại bang không những phi lý và không đúng với Kinh Thánh, mà còn hết sức đồi bại (về những kỹ nữ trong đền thờ và những nghi lễ liên quan đến khả năng sinh sản), vô nhân đạo (giết con cái), và thuộc về ma quỉ (ICo 10:10-22). Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi Chúa ra lệnh Y-sơ-ra-ên phải phá hủy những đền thơ, bàn thờ và hình tượng của dân ngoại bang khi họ vào chiếm xứ Ca-na-an (Phu 7:1-11).
    “Hỡi các con cái bé mọn, hãy giữ mình khỏi những hình tượng” (IGi 5:21) là lời khuyên sau cùng của sứ đồ Giăng đối với Cơ Đốc Nhân trong thời của ông, và lời khuyên này vẫn cần được lưu ý trong thời đại ngày nay. Nếu một hình tượng là điều gì đó chiếm vị trí của Đức Chúa Trời, là điều gì đó mà chúng ta dành sức lực và thời gian cho nó, hoặc dành những của lễ cho nó vì chúng ta yêu mến và hầu việc cho nó, do vậy lời cảnh cáo của Sứ đồ Giăng vẫn cần thiết vào ngày nay. Những hình tượng đã cám dỗ dân sự Đức Chúa Trời ngày nay là những thứ như: tiền bạc, danh vọng, sự thành công, tài sản vật chất (xe cộ, nhà cửa, thuyền bè, những thứ có thể tích góp được), tri thức, hoặc thậm chí đó là những người khác.
    Đức Chúa Trời là một “Đức Chúa Trời ghen tương” không phải trong ý nghĩa Ngài ghen về các thần khác, vì Ngài biết rằng tất cả các “thần” khác đều là những điều tưởng tượng và không thật sự tồn tại. Từ “ghen” bày tỏ tình yêu của Ngài đối với dân sự Ngài vì Ngài muốn điều tốt đẹp nhất cho họ. Giống như cha mẹ ghen về con cái của họ và vợ chồng ghen về nhau, Đức Chúa Trời cũng ghen về những con cái yêu dấu của Ngài và sẽ không tha thứ cho sự bất trung (Xa 1:14 8:2). Trong Kinh Thánh, sự thờ hình tượng đồng nghĩa với sự mãi dâm và sự tà dâm (Os 1:1-3:5 Gie 2:1-3:25 Exe 16:1-63 23:1-49 Gia 4:4-5). Đức Chúa trời muốn có và đáng nhận được tình yêu duy nhất của dân sự dành cho Ngài (Xu 34:14 Phu 4:24 5:9 6:15).
    Đức Chúa Trời cũng rất nghiêm túc về việc chỉ chấp nhận sự thờ phượng và sự yêu mến duy Ngài đến nỗi Ngài sẽ trừng phạt những ai khước từ vâng theo lời Ngài. Đức Chúa Trời không trừng phạt con cháu vì cớ tội lỗi của ai đó (24:16 Exe 18:4), nhưng những hậu quả đáng buồn do tội lỗi của tổ tiên có thể truyền từ đời này sang đời khác và con cháu vô tội phải gánh chịu hậu quả vì những gì cha mẹ hay ông bà họ đã gây nên. Trong thời Kinh Thánh, không có gì khác thường khi bốn thế hệ chung sống trong một gia đình đông đúc và vì thế rất dễ để gây tác động và làm ảnh hưởng đến nhau.
    Đồng thời, sự tin kính của tổ tiên có thể đem lại phước hạnh cho những thế hệ sau. Đức tin của Áp-ra-ham đã đem phước hạnh đến cho con cháu ông, và chức vụ của Đa-vít vẫn giúp ích cho dân sự khi ông qua đời đã lâu. Ông cố tôi đã cầu nguyện để qua mỗi thế hệ trong gia đình sẽ có một người rao giảng Phúc Âm, và Đức Chúa Trời đã đáp lời cầu nguyện đó !
    Tôn trọng danh Đức Chúa Trời (Xu 20:7). Tên của bạn thể hiện cho tính cách và thanh danh của bạn, cho bản chất của bạn và điều bạn làm (Gi 17:6,26). Khi bạn nói rằng ai đó có một “tên xấu” thì bạn không chỉ đang phê bình những gì được viết trên khai sinh của người đó. Bạn đang cảnh giác tôi rằng người này không thể tin cậy được. Nếu Đức Chúa Trời là Đấng vĩ đại nhất trong vũ trụ, vậy danh Ngài là danh vĩ đại nhất và phải được tôn trọng. Lời cầu xin đầu tiên trong bài cầu nguyện của Chúa là “Danh Ngài được tôn thánh” (Mat 6:9). Con người đã báng bổ danh Đức Chúa Trời qua việc phát ngôn thô tục. Nhưng việc sử dụng danh Đức Chúa Trời để hứa nguyện hay thề nguyền, mà sau đó không thực hiện lời cam kết là đã xem thường danh Ngài và báng bổ Đức Chúa Trời (Le 19:12).
    Tôn trọng ngày Sa-bát (Xu 20:8-11). Từ “sa-bát” nghĩa là “nghỉ ngơi”. Việc giữ lễ Sa-bát đã là một phần trong đời sống của Y-sơ-ra-ên (16:23,25), nhưng giờ đây nó trở thành một bộ phận trong Luật Pháp của Y-sơ-ra-ên và trong mối liên hệ giao ước của họ với Đức Chúa Trời. Mặc dù ngày Sa-bát có nguồn gốc từ buổi sáng thế (Sa 2:1-3), nó cũng là một dấu hiệu đặc biệt giữa Y-sơ-ra-ên và Chúa (Xu 31:12-17 Ne 9:13-15 Exe 20:12,20). Và không có chứng cớ nào trong Kinh Thánh cho rằng Đức Chúa Trời đã ra lệnh bất cứ dân tộc nào cũng phải giữ lễ vào ngày thứ bảy (Thi 147:19-20). Sau này, Môi-se đã kết hợp ngày Sa-bát với sự giải cứu Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai Cập (Phu 5:12-15), đây là một sự mường tượng trước về sự nghỉ ngơi họ sẽ được hưởng trong cơ nghiệp đã hứa ban cho họ (3:20 12:10 25:19).
    Khi dân Do Thái giữ ngày Sa-bát, đó không chỉ là một dấu hiệu về sự tận tuỵ của họ đối với Chúa, nhưng đó còn là một lời chứng cho những người lân cận ngoại đạo mà đối với họ ngày thứ bảy chỉ như một ngày khác. Qua việc nghỉ ngơi vào ngày thứ bảy, dân Do Thái đang bồi bổ lại sức lực cho chính họ cũng như cho tôi tớ và gia súc của họ, họ cũng nhận biết được uy quyền của Đức Giê-hô-va trên thời gian và trên tạo vật (Xu 23:12). Từ những ngày đầu tiên, dân sự Đức Chúa Trời đã nhóm lại vào ngày đầu tuần để tôn vinh sự phục sinh của Chúa Giê-xu Christ (Gi 20:19,26 Cong 20:7 ICo 16:2), nhưng nguyên tắc về một ngày trong bảy ngày vẫn không thay đổi (Co 2:16-17 Ga 4:1-11 Ro 14:1-15:7).
    Đáng tiếc rằng dân Y-sơ-ra-ên đã không tôn trọng ngày Sa-bát như Đức Chúa Trời đã chỉ dạy và phải bị kỷ luật (IISu 36:14-21 Exe 20:1-44 Es 58:13-14 Gie 17:19-27). Cũng thật đáng tiếc rằng các thầy thông giáo và người Pha-ri-si đã thêm 39 hành động bị cấm vào điều răn này đến nỗi việc giữ ngày Sa-bát trở thành một gánh nặng thay vì một phước hạnh (Mac 2:23-3:5).
    Tôn kính cha mẹ (Xu 20:12). Trong một thế giới đang tôn thờ và làm theo những người trẻ tuổi, sử dụng đến phương pháp “tự sát có sự trợ giúp” (chết không đau đớn) để loại bỏ những người già vô ích thì điều răn này nghe như có một sự sai lệch nào đó về thời gian. Nhưng dân Do Thái được dạy dỗ phải tôn kính người già cả và chăm sóc những người cao niên (21:15,17 Le 19:3,32 Phu 27:16 Ch 1:8 16:31 20:20 23:22 30:17), đây là một gương tốt cho chúng ta noi theo ngày nay (Eph 6:1-3 ITi 5:1-12) [81]. Ai đó đã nói rằng những người già là nhóm người duy nhất bị ruồng bỏ mà mọi người đều muốn gia nhập vì không ai muốn bị chết sớm. Nhưng cách chúng ta đối xử với họ hôm nay sẽ quyết định cách chúng ta được đối xử trong tương lai vì chúng ta gieo giống chi thì sẽ gặt giống ấy.
    Quí trọng nhân mạng (Xu 20:13). Sự sống là một món quà từ Đức Chúa Trời, và chỉ có Ngài mới có quyền để cất đi sự sống. Vì chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời nên sát nhân tức là chống lại Đức Chúa Trời (Sa 1:26-27 9:6). Bảo vệ sự sống là trách nhiệm của mọi người trong xã hội, không chỉ là trách nhiệm của các quan chức (Ro 13:1-14). Vấn đề ở đây là tội sát nhân có mưu tính trước, là điều mà Chúa Giê-xu đã nói rằng nó có thể phát xuất trong cơn nóng giận (Mat 5:21-26). Dân Do Thái được phép tự bảo vệ mình (Xu 22:2) và Luật Pháp có sự nhân nhượng về cái chết không chủ ý, nhưng tội sát nhân là một tử tội (Xu 21:12-14).
    Trân trọng hôn nhân (Xu 20:14). Tà dâm là một tội nghiêm trọng đến nỗi nó bị ghép vào tội tử hình (Le 20:10 Phu 22:22). Gia đình là đơn vị cơ bản của quốc gia, và sự chung thủy đối với giao ước hôn nhân là nền tảng cho gia đình. Tà dâm là trộm cướp (ITe 4:1-8), nhưng cuối cùng, những ai phạm tội tà dâm đều cướp đi chính bản thân mình (Ch 6:20-35). Mặc dù Chúa có thể tha thứ cho tội tà dâm (ICo 6:9-11 Gi 8:1-11) như Đa-vít, nhưng người nam và người nữ phạm tội tà dâm phải sống với những hậu quả đau buồn của tội đã được tha (IISa 12:13-14 Thi 51:1-16). Tội tà dâm khởi đầu bằng sự ham muốn trong lòng phát xuất từ cái nhìn thứ hai (Mat 5:27-30).
    Tôn trọng tài sản riêng (Xu 20:15). Đức Chúa Trời đã ban cho Y-sơ-ra-ên một bộ luật tỉ mỉ để chi phối cách họ sử dụng đất vì đất thuộc về Ngài và họ chỉ là những người quản gia (Le 25:2,23,38). Đây là cơ sở cho ngành sinh thái học ôn hòa, (Eph 4:28) cho biết rằng chỉ có ba cách để có được của cải, đó là: làm việc, được ban cho, hoặc trộm cắp nó, và việc trộm cắp là sai trật.
    Nói sự thật (Xu 20:16). Nói sự thật và tôn trọng lời hứa là chất kết dính làm vững các mối quan hệ trong xã hội. Việc nói dối trong một phiên tòa chính là phá hoại Luật Pháp, điều này giải thích lý do Môi-se đòi hỏi những người làm chứng phải là những người sẽ hành hình trong các án xử tử (Phu 17:6-13). Nói dối là một việc, nhưng giết người để bảo vệ sự giả dối của bạn hoàn toàn là một việc khác. Điều răn này cũng nghiêm cấm việc vu cáo cho người khác (Xu 23:1 Ch 10:18 12:17 19:9 24:28 Tit 3:1-2 Gia 4:11 IPhi 2:1).
    Kiềm chế những tham muốn (Xu 20:17). Điều răn thứ nhất và thứ 10 đề cập đến những điều diễn ra trong lòng, còn 8 điều răn còn lại tập trung vào những hành động bên ngoài phát xuất từ trong lòng. Những người tham lam sẽ vi phạm tất cả các điều răn của Đức Chúa Trời để thỏa mãn cho những tham muốn của họ, vì tâm điểm của tội lỗi chính là tội lỗi ở trong lòng (Mat 15:19). Thèm muốn tức là nuôi dưỡng cho các tham muốn trong lòng về bất cứ điều gì Đức Chúa Trời cho là tội lỗi. Chính điều răn này đã “giết chết” Sau-lơ ở thành Tạt-sơ và khiến người Pha-ri-si thành đạt này thừa nhận rằng ông là một tội nhân (Ro 7:1-14 Lu 12:15 Eph 5:3 Co 3:5).
    Mười Điều Răn đã kết thúc với sự nhấn mạnh đến việc làm một người láng giềng tốt, vì điều răn quan trọng thứ nhì đó là yêu kẻ lân cận của bạn như chính bạn (Mat 22:34-40 Le 19:18). Nếu chúng ta yêu những người lân cận của mình, chúng ta sẽ không tham những gì họ có, không ăn cắp của họ, nói dối về họ, hoặc làm bất cứ điều gì khác Đức Chúa Trời răn cấm trong Lời Ngài. Đây là lý do vì sao sự yêu thương là sự làm trọn Luật Pháp (Ro 13:8-10). Nhưng chỉ Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi tấm lòng tội lỗi của chúng ta (He 10:14-18) và ban cho chúng ta tình yêu để có thể vâng lời Ngài và quan tâm đến những người khác (Ga 5:22-26 Ro 5:1-5) [82]
    9. QUYỂN SÁCH GIAO ƯỚC (Xu 20:22-24:8)
    Phân đoạn này bao gồm những luật lệ căn bản có liên hệ đặc biệt đến sự bảo vệ nhân mạng và tài sản. Bằng cách tiếp nhận “Quyển sách giao ước” (24:3-4), dân sự đã bước vào một mối liên hệ đặc biệt với Đức Giê-hô-va và ràng buộc chính họ trong sự vâng giữ Lời Ngài. Các luật lệ này không mang tính độc đoán; chúng dựa trên đặc tính của Đức Chúa Trời và những nguyên tắc đạo đức không thay đổi đã được trình bày trong Mười Điều Răn.
    Luật pháp không có quyền năng làm thay đổi bản chất con người; nó chỉ có thể bảo vệ sự sống và tài sản của con người qua việc điều chỉnh hành vi của họ. Một trong những giai đoạn nguy hiểm và thảm khốc nhất trong lịch sử Do Thái là vào thời của các quan xét khi mà “mọi người làm điều đúng theo mắt mình” (Cac 17:6 18:1 19:1 21:25). Việc thi hành các luật lệ tốt lành không bảo đảm cho một xã hội toàn hảo, nhưng nó thật sự thúc đẩy trật tự trong xã hội và ngăn ngừa tình trạng vô chính phủ.
    1. Đức Chúa Trời là vô hình: Hãy nghe Lời Ngài (Xu 20:22-26)
    Bốn mươi năm sau đó khi Môi-se ôn lại Luật Pháp với thế hệ mới, ông nhắc nhở họ rằng tổ tiên họ đã nhìn thấy những sự bày tỏ về vinh hiển và quyền năng của Đức Chúa Trời tại núi Si-nai và đã được nghe Lời Ngài, nhưng họ “không thấy có một hình trạng nào” Phu 4:15 NIV). Đức Chúa Trời đã không tỏ mình ra trong bất cứ hình dạng nào để dân Do Thái không thể biến Đức Chúa Trời hằng sống thành một hình tượng chết. “Vậy các ngươi sẽ ví Đức Chúa Trời với ai ? Hay các ngươi sẽ so sánh Ngài với ảnh tượng nào ?” (Es 40:18 NKJV).
    Dân Do Thái được gọi là một dân có Lời Chúa. Sự thành công của dân tộc tùy thuộc vào việc nghe Lời Đức Chúa Trời, tin cậy và vâng lời. Các dân tộc lân cận Y-sơ-ra-ên đã lập ra những tôn giáo của họ dựa trên những điều họ có thể thấy được, là những hình tượng do tay người làm ra, nhưng Y-sơ-ra-ên phải thờ phượng một Đức Chúa Trời không thấy được [83]. và không có liên hệ đến những hình tượng. Nhà triết gia Cơ Đốc Jacques Ellul đã viết: “Những thần giả dối luôn là những thần mà một người có thể thấy (và chạm vào) được và chính đặc điểm này đã phơi bày ra sự giả dối và sự không tồn tại của họ với tư cách là những vị thần.” [84]
    Học giả Do Thái Abraham Joshua Heschel đã tóm tắt thần học của Y-sơ-ra-ên về Kinh Thánh khi ông viết rằng: “Để tin, chúng ta cần có Đức Chúa Trời, một linh hồn, và Lời Ngài” [85]
    Đức Chúa Trời đã cảnh cáo Y-sơ-ra-ên đừng làm ra những hình tượng và đừng xây nên những bàn thờ công phu như những bàn thờ của các dân ngoại xung quanh họ (IIVua 16:10-20). Một bàn thờ đơn giản bằng đất hoặc đá không đẽo vẫn được Chúa chấp nhận. Nếu đá được đục đẽo, chúng sẽ trở nên giống như những hình tượng, và công trình do con người tạo ra sẽ trở nên quan trọng hơn sự thờ phượng Đức Chúa Trời. Đá tự nhiên do Chúa chu cấp là tất cả những gì Ngài sẽ tiếp nhận cho chúng ta.
    Sự lõa lồ và sự giao hợp với kỹ nữ đền thờ là một hình thức trong nhiều nghi lễ ngoại giáo, và những điều này rõ ràng bị Chúa nghiêm cấm. Đức Chúa Trời đã ra lệnh các thầy tế lễ Do Thái mặc vào chiếc áo đặc biệt để che phủ sự lõa lồ của họ (Xu 28:42-43 Le 6:10), và nếu họ không vâng lời, họ sẽ có nguy cơ bị giết chết (Xu 28:35,43).
    Mặc cho những lời hứa nhiệt tình của họ, Y-sơ-ra-ên đã nhanh chóng bất tuân những điều răn này. Trong lúc Môi-se ở với Đức Chúa Trời trên núi, dân sự đã làm một bò con vàng và dự phần vào cuộc truy hoan mang tính thờ hình tượng đã dẫn đến cái chết của 3.000 người (32:1-6,25-29). Bất cứ điều gì trong nghi thức tế lễ tôn giáo khuyến khích các vấn đề có liên quan đến thuộc thể thay vì thuộc linh thì không thể đến từ Đức Chúa Trời hay sẽ được Đức Chúa Trời chúc phước cho.
    2. Đức Chúa Trời là công chính: Hãy vâng theo những luật lệ của Ngài (Xu 20:20-26) (Xu 21:1-23:19)
    Công lý là việc làm thực tế thể hiện sự công bình của Đức Chúa Trời trong lịch sử của nhân loại, vì “Chúa yêu chuộng sự công bình và chánh trực” (Thi 33:5 Es 30:18 61:8). Có thể có rất nhiều sự bất công trong thế giới chúng ta ngày nay, nhưng cũng đến thời điểm khi Đức Chúa Trời trong sự công bình Ngài sẽ đoán xét thế gian bởi Chúa Cứu Thế mà thế gian đã chối bỏ, và sự xét đoán của Ngài là công chính (Cong 17:31).
    Luật về tôi mọi (Xu 21:1-11 Le 25:39-43 Phu 15:12-18). Mặc dù dân Do Thái được phép có tôi mọi từ các dân khác, thường là tù binh, nhưng họ không được phép bắt người trong dân tộc của họ làm nô lệ. Hai chuỗi sự kiện được trình bày ở đây: một người đàn ông tình nguyện làm tôi tớ (Xu 21:1-7), và một cô gái bị bán để làm một con đòi (c.8-11).
    Nếu vì bần cùng, một người Do Thái phải trở nên một tôi tớ bị ràng buộc bằng giao kèo, chủ người ấy phải đối xử nhân đạo với anh ta và sẽ thả ra sau 6 năm phục vụ. Nếu vì cớ tình cảm gia đình, người này muốn ở lại phục vụ cho chủ, và đã được các quan xét cho phép, vậy người ấy sẽ được đánh dấu ở trái tai và cứ làm một đầy tớ suốt đời. Tuy nhiên, người ấy không bao giờ bị đối xử như một tôi mọi.
    Một đầy tớ gái sẽ không được thả tự do sau 6 năm hầu việc. Nếu một người nghèo bán con gái mình làm con đòi hay nàng hầu [86], vậy cha của cô gái này sẽ nhận được tiền bán con, cô gái sẽ có một gia đình tươm tất hơn và chồng cô sẽ không phải tốn kém cho của hồi môn đắc giá. Nếu sau khi trở thành vợ lẽ của người đàn ông mà nàng không vừa lòng người, ai đó trong gia đình cha mẹ nàng có thể chuộc nàng và nàng sẽ được tự do.
    Nếu người đàn ông chọn nàng cho con trai ông, và đến một lúc nào đó người con trai trở nên ghét nàng rồi cưới một cô gái khác, vậy cha của người con trai phải bảo đảm cho nàng được đối xử như một con gái đã lập gia đình. Điều này có nghĩa là bảo đảm cho nàng có quần áo, thức ăn và mọi quyền lợi trong cuộc hôn nhân của nàng (ICo 7:1-6). Nếu người cha không làm điều này, người con gái được tự do trở về gia đình nàng và không bị xem là một tôi mọi nữa.
    Những tội xử tử (Xu 21:12-17). Những luật lệ này là sự ứng dụng hợp lý cho điều răn thứ sáu, “Ngươi chớ giết người” (20:13 Le 24:17). Chúng ta được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời, do đó việc giết hại một đồng loại nghĩa là công kích hình ảnh của Đức Chúa Trời (Sa 9:6). Nếu một người bị phát hiện đã phạm tội giết người dựa trên lời chứng của hơn hai nhân chứng (Dan 35:30-31), thì kẻ sát nhân sẽ bị xử tử.
    Luật pháp phân biệt giữa tội giết người có mưu tính trước và tội ngộ sát. Nếu bạn vô tình giết chết ai đó, bạn có thể chạy trốn đến bàn thờ Đức Chúa Trời để được sự an toàn (IVua 2:29) cho đến khi các trưởng lão có thời gian để xem xét vấn đề. Một khi dân Y-sơ-ra-ên vẫn còn ở trong xứ họ, họ đã dành ra 6 thành ẩn náu để kẻ giết người có thể chạy trốn và được bảo vệ cho đến khi vấn đề được điều tra (Dan 35:1-34 Phu 19:1-21 Gios 20:1-9). Vào thời ấy, Y-sơ-ra-ên không có lực lượng cảnh sát; gia đình của nạn nhân chắc chắn mong đợi công lý sẽ được thực hiện. Nhưng trong cơn nóng giận, họ có thể mong muốn được trả thù hơn là trông vào công lý, vì vậy luật này can thiệp vào nhằm bảo vệ bị cáo cho đến khi anh ta được chứng minh là có tội.
    Con cái và cha mẹ (Xu 21:15-17). Sau khi liên hệ đến tội sát nhân nói chung, luật này đề cập đến những trường hợp cụ thể. Trường hợp đầu tiên nói về việc một người ngược đãi cha mẹ, đánh đập hoặc chửi rủa họ, vi phạm đến điều răn thứ năm (c.15,17 Le 20:9 Phu 27:16). Có thể áp dụng “luật về đứa con bội nghịch”(Phu 21:18-21) ở đây và đứa con này rất cần đến sự kỷ luật. Những đứa con không kính trọng cha mẹ thường không có sự tôn trọng đối với bất cứ quyền hạn nào khác và chỉ muốn làm theo ý riêng ích kỷ của mình. Đặc điểm “không có tình cảm tự nhiên” (IITi 3:3) nói về một số người trong những ngày sau rốt, nhưng trong thời của Môi-se cũng có những loại người đó.
    Việc bắt cóc bị nghiêm cấm (Xu 21:16 Phu 24:7). Việc ăn cắp tài sản đã là sai trái (Xu 20:15), thì việc bắt cóc những người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và bán họ làm nô lệ là một tội ác còn nghiêm trọng hơn.
    Những sự đả thương (21:18-32). Con người không nên tranh cãi đến độ phải xô xát nhau (Ch 15:1 25:15), nhưng điều đó đã xảy ra, và khi nó xảy ra sẽ gây ra nhiều điều tác hại. Nếu nạn nhân chết, kẻ gây hấn sẽ đền mạng, nhưng nếu nạn nhân hồi phục và cuối cùng có thể bước đi được thì kẻ gây hấn được miễn những trách nhiệm có liên quan. Tuy nhiên, người ấy phải bồi hoàn cho nạn nhân về khoản thời gian bị mất việc và các chi phí thuốc men.
    Tôi mọi (Xu 21:20-21). Nguyên tắc này giờ đây được áp dụng cho một người chủ và tôi tớ của người ấy. Chúa không muốn tôi tớ bị xem như những món đồ, nhưng họ phải được đối xử như những con người được dựng nên theo hình ảnh Đức Chúa Trời và đáng được hưởng những quyền con người của họ. Nếu trong việc kỷ luật một tôi tớ (Ch 10:13 13:24), người chủ đã quá tay và giết người tôi tớ ấy thì người chủ này phải bị phạt. Chúng ta không được cho biết hình phạt này là gì. Điều này có thể do các quan án quyết định (Xu 21:22) và tùy thuộc vào việc người chủ có ý định giết người thật sự hay không. (Thật khó tin rằng một người chủ lại muốn hủy hoại tài sản riêng của mình và để phải mất đi một nguồn lợi tức từ người này). Nếu sau một vài ngày người tôi tớ bình phục trở lại, chủ người ấy sẽ không bị phạt, vì ông ta đã mất đi nguồn lợi từ người đầy tớ trong khoản thời gian người này phục hồi sức khoẻ.
    Làm bị thương một người đàn bà có thai (Xu 21:22-23). Chúng ta không được biết người đàn bà này có phải là vợ của một trong những người đánh nhau và chồng bà ta có thua trận hay không ? Các học giả không đồng ý về cách dịch của c.22. Phải chăng câu ấy là: “và người phải sanh non” (NIV), hay là: “và người bị sẩy thai”? (ghi chú của Kinh Thánh NIV, NASB). Mệnh đề “nhưng không có sự tổn hại nghiêm trọng nào” (đối với mẹ hoặc con) gợi ý rằng cách dịch thứ nhất hợp lý hơn, vì sẩy thai chắc chắn là một sự kiện nghiêm trọng.
    Cho dù không có sự tổn hại nghiêm trọng nào xảy ra cho người mẹ hoặc đứa con, tòa xử án cũng phải phạt người có lỗi về hành động gây hấn của người ấy đối với một ai đó không phải là người tham gia vào cuộc đánh nhau. Nếu không nói đến ý định của người này thì điều mà người ấy đã làm có thể gây nên cái chết của đứa con hay của người mẹ, hoặc cả hai. Nhưng nếu có sự tổn hại nghiêm trọng, tức là người mẹ hoặc đứa con bị thương tật hoặc bị chết thì tòa án sẽ xét xử theo luật ăn miếng trả miếng (c.23-25), nghĩa là “hình phạt phải tương ứng với tội ác” [87]
    Nguyên tắc này đã bị một số người chỉ trích gay gắt là “dã man”, nhưng sự việc có ý nghĩa trái ngược hẳn. Trong một thời đại mà hệ thống Luật pháp đang được đẩy mạnh thì luật này bảo đảm rằng hình phạt do các quan án định đoạt tương xứng với sự nghiêm trọng và khắc nghiệt của tội ác, không hơn không kém. Nếu kẻ gây hấn có tội đã làm mù mắt kẻ thù mình, thì mắt hắn phải bị làm cho mù. Không điều gì có thể công bằng hơn. Nếu bạn bẻ gãy ngón tay kẻ thù mình và tòa xử bạn phải bị mù thì điều đó sẽ không công bằng gì cả, vì án phạt phải thật thích đáng với tội ác. Nguyên tắc này chỉ duy nhất một lần không được áp dụng đó là khi một người chủ gây thương tích cho một tôi tớ, và sự đền bù cho người đầy tớ này là sự tự do của chính người ấy (c.16-27).
    Chúa Giê-xu cấm các môn đồ Ngài trả thù những ai làm tổn thương họ (Mat 5:38-44 IPhi 2:19-21). Ngài đang đề cập đến sự trả thù cá nhân (“Ta sẽ trả thù ngươi !”) và khuyến khích sự tha thứ cá nhân. Ngài không chỉ trích Môi-se, và cũng không can thiệp vào hệ thống Luật pháp, vì Ngài đến để làm trọn Luật pháp chớ không phải để hủy hoại nó (Mat 5:17-20). Là những Cơ Đốc nhân chúng ta có đặc quyền khước từ “những quyền lợi hợp pháp” của chúng ta vì vinh hiển của Đức Chúa Trời mà không cần đòi hỏi một sự đền bù nào (ICo 6:1-8). Tuy nhiên, một quan án phải bảo đảm rằng công lý được thực hiện và luật pháp phải được tôn trọng.
    Bị đả thương bởi một con vật (Xu 21:28-32). Luật pháp cho biết rõ rằng người chủ có trách nhiệm bảo đảm cho con vật của mình không đả thương người khác. Một con bò nguy hiểm trước đây đã tấn công con người thì phải bị nhốt lại. Nếu nó không bị nhốt lại và làm chết ai đó thì người chủ phải chịu trách nhiệm, và cả chủ lẫn con vật đều phải bị xử tử. Người ta không được làm thịt con vật để ăn vì nó đã bị ô uế bởi hành động kinh khiếp của nó. Tuy nhiên, tòa án có thể phạt người chủ và cho phép người này trả một khoản tiền chuộc và được thả ra (Dan 35:31). Hãy chú ý rằng luật pháp không phân biệt giữa cái chết của một người nam hay người nữ (Xu 21:29,31). Tuy nhiên, có một sự khác biệt khi sự việc xảy ra với những người nô lệ vì người sở hữu con vật có thể trả cho người chủ nô lệ 30 miếng bạc để đền bù cho sự mất mát này (Mat 26:14-16).
    Thiệt hại về tài sản (Xu 21:33-22:15). Trong vùng Đất Hứa, Y-sơ-ra-ên sẽ là một xã hội nông nghiệp, và súc vật có vai trò rất quan trọng đối với một người nông dân vì nếu không có chúng, anh ta sẽ không thể cày xới đất đai được.
    Những con vật bị thương hoặc bị giết chết (Xu 21:33-34). Nếu sự bất cẩn và lơ đễnh của một người (mở miệng hầm hoặc đào hầm) khiến một con vật bị thương hoặc chết, thì người ấy phải bồi thường cho người chủ của con vật, nhưng người chủ hầm có thể giữ lại con vật đó cho mình. Nếu một con vật giết hại con vật khác, hai người chủ sẽ chia nhau xác con vật đã chết và tiền có được từ việc bán con vật còn sống. Luật này không chỉ cho thấy rằng Đức Chúa Trời quan tâm đến công lý nhưng Ngài cũng mong rằng con người cần phải cẩn thận và đừng khiến cho những con vật dễ bị thương và do đó phải bị giết đi.
    Ăn cắp súc vật (22:1-4). Luật pháp phân biệt giữa những con vật bị đánh cắp đã bị giết hoặc bị bán, và những con vật bị ăn cắp vẫn còn ở trong tay của kẻ cắp. Khi kẻ cắp bị bắt gặp đang phạm tội, trong trường hợp đầu tiên, hắn phải bồi thường 5 con bò cho một con và 4 con chiên cho một con (bị đánh cắp). Trong trường hợp thứ hai, hắn phải trả hai con vật cho một con. Ăn cắp một con vật cũng đã là xấu xa, nhưng việc giết hoặc bán đi những gì không phải của bạn là nhận lấy những quyền hạn không thuộc về bạn. Nếu kẻ cắp không thể bồi thường, hắn sẽ bị bán làm nô lệ và tiền được giao lại cho người bị mất cắp.
    Luật này cũng phân biệt giữa hành động ăn trộm ban đêm và ăn trộm ban ngày. Vào ban ngày, người chủ có thể nhận diện tên trộm đột nhập vào chuồng súc vật của mình và thậm chí có thể kêu gọi sự giúp đỡ của những người láng giềng. Việc giết kẻ trộm vào ban ngày sẽ là một hành động trả thù không cần thiết. Nhưng vào ban đêm, người chủ không thể nhận diện ra kẻ đột nhập, cũng không biết được kẻ này có vũ trang hay không, và do đó mạng sống của người chủ rất nguy hại; thêm nữa, vào ban đêm cũng phải mất thời gian lâu hơn để kêu cầu sự giúp đỡ.
    Luật về sự bồi thường súc vật bị mất cắp nhắc chúng ta nhớ đến lời của Đa-vít trong (IISa 12:6) và lời hứa của Xa-chê trong (Lu 19:8). Tiên tri Na-than nhìn thấy vua Đa-vít như một kẻ đánh cắp chiên và Bát-sê-ba như con chiên bị đánh cắp, vì tội tà dâm là tội trộm cắp (ITe 4:1-7). Đa-vít đã phải bồi thường gấp bốn lần: con trẻ bị chết, Am-nôn và Áp-sa-lôm đều bị giết, và Ta-ma bị cưỡng hiếp (IISa 12:15-13:33 18:1-18).
    Mùa màng (Xu 22:5-6). Ranh giới đồng ruộng được đánh dấu bởi những hòn đá đặt ở các góc, chớ không phải là những hàng rào quanh khu vực này (Phu 19:14 27:17 Ch 22:28 23:10). Những súc vật ăn cỏ sẽ không phân biệt được đồng ruộng này với đồng ruộng khác và sẽ lang thang bất cứ nơi nào có sẵn cỏ. Người chủ phải luôn ở bên cạnh để trông chừng súc vật. Nếu người chủ lơ là để cho súc vật của mình ăn cỏ trong đồng ruộng của người láng giềng thì phải bồi thường thỏa đáng cho người láng giềng, và hãy chú ý giao cho người này hoa lợi tốt nhất của mình, vì vật bồi hoàn không phải là một thứ có thể xem thường được.
    Trong mùa khô, đồng ruộng luôn có nguy cơ bị hỏa hoạn làm hủy hoại mùa màng (Xu 22:6). Những chữ “bồi thường” và “sự hoàn trả” được dùng đến sáu lần trong đoạn 22 (c.1,3-6,12) đã được dịch từ tiếng Hê-bơ-rơ “shalam” nghĩa là “làm cho trọn vẹn, làm cho hoàn toàn”, và có liên hệ với từ Hê-bơ-rơ tương tự là “shalom” (“hòa bình, sức khỏe”). Người phạm tội không phải chỉ xưng nhận tội lỗi của mình là có thể giải quyết được mọi sự; bản thân anh ta cũng cần phải nỗ lực rất nhiều để đền bù cho những người bị nạn. Chỉ khi đó những mối liên hệ bị đỗ vỡ mới có thể được hàn gắn và xã hội mới có thể trở nên trọn vẹn.
    Vật sở hữu của người khác (Xu 22:7-15). Sự thành thật và liêm chính tạo nên chất kết dính trong một xã hội lành mạnh và thịnh vượng. Nếu những người lân cận không thể tin cậy nhau thì cuộc sống sẽ trở nên rất khó khăn. Nếu bạn nhờ tôi giữ gìn tiền bạc, vật dụng hay súc vật của bạn thì tôi phải trung tín làm phần việc của mình. Mặc cho sự cần mẫn của tôi, một kẻ trộm có thể đột nhập vào nhà và ăn cắp tài sản của bạn, nhưng khi hắn bị bắt, hắn phải bồi thường gấp đôi. Nếu kẻ trộm không bị bắt, vậy tôi phải chứng minh trước tòa rằng tôi đã không bất cẩn và tôi không phải là thủ phạm. Khi điều này xảy ra thì có thể nghĩ đến một trong ba khả năng sau: tôi phải đưa ra những nhân chứng có thể xác nhận cho sự cần mẫn của tôi; cho thấy những mảnh còn lại của súc vật để chứng minh chúng đã bị những con thú giết hại (Sa 31:39 Am 3:12), hoặc nếu không có những bằng chứng này thì tôi phải thề trước Chúa về sự vô tội của mình, đây là một vấn đề nghiêm trọng khi cần phải thực hiện. Các quan tòa, là những người đại diện của Đức Chúa Trời trước cả dân tộc sẽ nhận biết được tôi có nói sự thật hay không. Nếu người ta chứng minh được rằng súc vật của người láng giềng của tôi đã chết, bị lạc hay bị đánh cắp bởi sự cẩu thả của tôi, vậy tôi sẽ phải bồi thường thỏa đáng.
    Nếu tôi mượn một con trong bầy gia súc của bạn để làm công việc đồng áng của tôi và con vật lại bị thương tích hoặc chết trong sự bảo dưỡng của tôi, vậy tôi phải bồi thường sự tổn thất cho bạn. Nếu bạn ở cùng tôi lúc đó, điều khiển chính con vật của bạn thì tôi không bị buộc phải bồi thường bất cứ khoản nào. Nếu tôi thuê con vật của bạn và trả tiền, vậy số tiền này bao gồm cả khoản bồi thường thiệt hại.
    Những luật khác (Xu 22:16-23:19). Đa số những luật này không cần sự giải thích đặc biệt nào, nhưng chúng ta sẽ chú ý đến một số lẽ thật gắn liền với những luật lệ này.
    Sự cưỡng hiếp (c.16-17). Những cô gái chưa kết hôn thuộc về cha của họ, và một cô gái không đồng trinh sẽ không được hỏi để làm vợ, vì vậy sự mất trinh tiết của cô ấy là một sự thiệt hại về tiền sính lễ cho người cha. Kẻ phạm tội buộc phải cưới người con gái này, nhưng nếu cha nàng không muốn nhận anh ta làm con rễ thì kẻ này có thể trả khoản tiền sính lễ và được tự do. Nếu người con gái đã được hứa gả thì sự cưỡng hiếp bị xem là tội tà dâm và sẽ áp dụng một luật khác để giải quyết (Phu 22:23-29).
    Phù phép (Xu 22:18). Điều mà ngày nay chỉ bị xem như một sự giải trí vô hại thì trong thời Môi-se đã được nhận định một cách đúng đắn là việc làm tà ma nguy hại. Dân Do Thái được lệnh phải tránh xa mọi thứ có liên hệ đến những điều huyền bí (Le 20:6 Phu 18:10-14 ISa 28:1-24 Es 47:12-14). (Ga 5:20) đã liên hệ đến ma thuật là thờ hình tượng.
    Hành động thú tính (Xu 22:19) cũng là một trong những tập tục tôn giáo của các dân tộc ngoại bang và bị Chúa lên án (Le 18:23 20:15-16 Phu 27:21). Nó cũng là một sự phỉ báng về món quà sinh lý kỳ diệu mà Chúa đã ban.
    Sự thờ hình tượng (Xu 22:20 23:13). Dân sự không được tế các thần khác, nếu trái nghịch thì sẽ bị diệt, và họ cũng không được nhắc đến danh của các thần này. Sự thờ hình tượng là sự cám dỗ lớn nhất cho Y-sơ-ra-ên trong suốt cuộc hành trình trong đồng vắng và sau khi họ vào Đất Hứa, và Chúa đã cảnh cáo họ phải hủy phá các đền thờ và bàn thờ ngoại giáo (Phu 4:14-24).
    Sự ích kỷ (Xu 22:21-27 23:9) Những luật này khuyên bảo dân Do Thái phải cư xử tử tế với khách lạ và khách kiều ngụ, người góa bụa và trẻ mồ côi cùng người nghèo. Dân Do Thái từng là khách lạ ở Ai Cập và trong suốt nhiều năm đã được đối xử tử tế, góa phụ và cô nhi cũng còn là mối quan tâm đặc biệt của Chúa (Le 19:9-10 Phu 14:28-29 16:11,14 24:19-21 26:12-13 Thi 10:14,17-18 68:5 82:3 146:9 Es 1:23 10:2 Gie 7:6 22:3 Xa 7:10 Ma 3:5). Người giàu không nên bóc lột người nghèo nhưng phải sẵn sàng giúp họ (Le 25:35-38 Phu 15:7-11 23:19-20 24:6 10:13 Ch 28:8). Đức Chúa Trời nghe thấu tiếng kêu van của người khốn khổ (Xu 22:23,27).
    Rủa sả nhà cầm quyền (22:28). Họ có thể báng bổ Đức Chúa Trời qua môi miệng của họ hay qua việc xem thường những luật lệ Ngài ban cho vì lợi ích của họ, đặc biệt là những luật lệ có liên quan đến sự rời rộng đối với người khác (c.21-27). Báng bổ Đức Chúa Trời là một tội phạm phải bị xử tử (Le 24:10-16). Việc nói xấu một người cai trị là chống lại Luật pháp (Ch 24:21-22 IPhi 2:17). Phao-lô đã phải xin lỗi khi ông không cố ý nói điều xấu về thầy tế lễ cả (Cong 23:4-5 IISa 19:19 IVua 21:10). Đức Chúa Trời đã thiết lập chính thể của loài người (Ro 13:1-14), ngay cả khi chúng ta không tôn trọng các quan chức thì chứng ta cũng phải tôn trọng chức vụ của họ.
    Trì hoãn việc vâng lời (Xu 22:29-30). Trái đầu mùa thuộc về Chúa, dù đó là con trai đầu lòng, con đực đầu lòng (13:1-22), hay quả đầu mùa của đồng ruộng và vườn cây ăn quả (Ch 3:9-10). Việc cầm giữ áo xống (22:26-27), hay tiền công (Gia 5:4) của một người là không hợp lẽ. Sẽ tệ hại là dường nào nếu giữ lại của Chúa những món quà Ngài đã ban cho để chúng ta dâng lên cho Ngài ?
    Thịt bị ô uế (Xu 22:31). Lý do đằng sau luật này vừa mang tính tôn giáo vừa mang tính vệ sinh. Xác của những con vật bị giết bừa bãi vẫn còn đọng huyết, và việc ăn huyết đã bị cấm (Le 22:8). Hơn nữa, một xác súc vật ở trong đồng ruộng chẳng bao lâu sẽ trở nên hôi thúi và gieo rắc mầm bệnh. “Thịt miễn phí” có thể phải trả giá rất đắt. Một người tinh sạch sẽ không muốn chạm đến thịt ấy, đừng nói gì đến việc ăn nó.
    Sự công bình (Xu 23:1-8). Đây là điều răn thứ 9 được mở rộng (20:16), một lời cảnh cáo không được làm chứng dối và hùa theo sự bất công như số đông vẫn đang làm (Le 19:15-16 Phu 22:13-19). Dân sự Đức Chúa Trời không nên để bị tác động bởi sự giàu có hay nghèo khổ của bị cáo hoặc bởi của hối lộ mà người ta đút lót để xét xử thiên vị (Phu 16:18-20 Es 1:23 Mi 3:11). Kết án một người vô tội để tư lợi là có tội trước mặt Đức Chúa Trời, và Ngài sẽ không tha thứ cho tội lỗi này (Xu 23:7 NIV) [88] . Nhưng Môi-se cũng nhắc nhở họ phải đối xử tử tế với kẻ thù và súc vật của kẻ ấy (c.4-5 Phu 22:13-15). Những việc làm tốt lành của chúng ta phải là kết quả của việc tuân thủ luật lệ nhưng có vận dụng đến tình yêu thương.
    Giữ những kỳ lễ (Xu 23:10-17). Đức Chúa Trời quản lý thời giờ và Ngài truyền cho dân Do Thái phải nghỉ làm việc vào mỗi tuần để kỷ niệm ngày Sa-bát. Cứ 7 năm một lần họ phải kỷ niệm một Năm Sa-bát, trong suốt khoảng thời gian đó đất sẽ được nghỉ ngơi và người nghèo có thể dùng lượng lương thực đang cho hoa lợi mà không cần phải gieo trồng nữa (Le 25:1-7). Đã từ lâu, dân Do Thái đã được ban cho những luật lệ có cơ sở về phương diện sinh thái. Nhưng vào năm đặc biệt này, đức tin và sự vâng lời của họ sẽ được thử nghiệm.
    Khi dân sự đã định cư trong xứ, các người đàn ông phải nhóm họp lại để thờ phượng ba lần trong một năm, vào lễ Vượt Qua, lễ Ngũ Tuần và lễ Lều Tạm (Le 23:1-44 để biết về lịch tôn giáo của Do Thái). Những người nam này thường đi cùng với gia đình họ (ISa 1:1-28 Lu 2:40).
    “Chớ nên nấu dê con trong sữa mẹ nó” (Xu 23:19 NIV 34:26 Phu 14:21). Dê con là một món ăn ưa thích của dân sự, và khi nấu trong sữa sẽ làm cho món ăn ngon hơn. Việc dùng sữa mẹ để nấu con của nó cho thấy được một cách nhìn nhận trong lòng có thể dẫn đến mọi thứ tội lỗi. Hơn nữa, việc nấu dê con cách này là một phần trong nghi lễ ngoại giáo của dân Ca-na-an, và Đức Chúa Trời không muốn dân sự Ngài tranh đua với những kẻ thờ lạy hình tượng. Vì luật này có liên hệ với lễ Lều Tạm, lễ Mùa Gặt, nên có lẽ nghi lễ này có liên quan đến sự thịnh vượng. Sữa khi ấy được rắc trên cây cối và đồng ruộng để làm gia tăng sự màu mỡ, đây là một hành động ma thuật bị ngăn cấm đối với Y-sơ-ra-ên [89]
    3. Đức Chúa Trời là khôn ngoan: Hãy theo sự dẫn dắt của Ngài (Xu 20:20-26) (Xu 23:20-24:8).
    (Xu 23:20-26). Dân Y-sơ-ra-ên sẽ ở tại núi Si-nai khoảng 11 tháng, sau đó họ sẽ đi đến Ca-đe Ba-nê-a trước khi vào trong xứ (Dan 10:11-14:45). Họ đã không tin cậy Đức Chúa Trời để giành lấy cơ nghiệp cho mình nên họ bị kết án phải lang thang trong đồng vắng cho đến khi thế hệ từ 20 tuổi trở lên đều đã chết, ngoại trừ Ca-lép và Giô-suê. Trong 38 năm, Đức Chúa Trời sẽ dẫn dắt dân sự Ngài và sau đó đem họ trở về biên giới Ca-