• GIÁO LÝ CĂN BẢN

    CHƯƠNG 1
    SỰ LINH CẢM CỦA ĐỨC CHÚA TRỜI TRÊN KINH THÁNH

    (Inspiration of the Bible)
          Sự  Linh Cảm(hà hơi) (Inspiration) của Thượng-Đế trên Kinh Thánh có tầm
    quan trọng rất lớn, vì tất cả những tín lý Cơ-Đốc đếu được khai triển từ Kinh
    Thánh và dựa trên Kinh Thánh làm thẩm quyền tối hậu. Lòng xác tín rằng Thượng-Đế
    hằng hữu mặc khải chính mình Ngài cho con người luôn luôn là trọng tâm trong
    niền tin Cơ-Đốc. Vì cớ con người tự mình không thể khám phá ra Thượng-Đế, Cơ-Đốc
    Nhân luôn luôn tin rằng Đức Chúa Trời chính mình Ngài cho con người qua cách
    siêu nhiên. Những quyển sách đã tạo thành quyển Kinh Thánh nguyên thủy của Tân
    Cựu Ước đều được Thượng-Đế linh cảm toàn thể và hoàn toàn không sai lầm. Những
    quyển sách  này làm thành Lời văn của Đức Chúa Trời, là khuôn vàng thước ngọc
    duy nhất không sai trật của niềm tin và sự sống đạo Cơ-Đốc.
          Chấp nhận sự linh cảm của Đức Chúa Trời trên Kinh Thánh không có nghĩa
    rằng mỗi phân đoạn trong đó đều có thể giải thích và thông hiểu được hết. Có
    những chiều sâu trong Quyển Sách của Đức Chúa Trời mà trí óc loài người không
    thể dò thấu; nhưng thay vì là những dấu chỉ của khuyết và nhược điểm, những
    chiều sâu khó hiểu này đóng vai trò chứng minh sự nguyên thủy thần hựu của Kinh
    Thánh từ đầu chí cuối, thì những nghi về nguồn gốc thần hựu của Kinh Thánh đáng
    được đặt ra. Thượng-Đế đã bày tỏ một tri thức vừa đủ về tình yêu và ân sủng Ngài
    cho Cơ-Đốc Nhân để họ có cả niềm tin và hy vọng nơi Ngài, và họ được đảm bảo
    rằng:  "Nếu ai làm theo ý chỉ của Thượng-Đế,  thì sẽ biết đạo lý Ngài" (Phúc-Âm
    Giăng 7: 17). Nếu Cơ-Đốc Nhân học Kinh Thánh, không phải với định kiến và sự chỉ
    trích, nhưng với niềm tin và lòng yêu mến những vị tác giả của Kinh Thánh, thì
    họ sẽ hiểu được sứ điệp của Kinh Thánh là như thế nào.
          Có sự khác biệt giữa Măïc Khải và Linh Cảm. Mặc Khải là bản ghi nhận về
    việc Thượng-Đế truyền đạt qua con người. Linh Cảm là quyền năng của Thượng-Đế
    làm cho con người có thể ghi nhận cách đúng đắn chân lý được bày tỏ. Chữ "Linh
    Cảm" chỉ được dùng hai lần trong Kinh Thánh (Gióp 32: 8; II Ti-mô-thê 3: 16), có
    nghĩa là Đức Chúa Trời "thở hơi vào" trong con người để con người nói và viết
    xuống sự mặc khải chân lý của Đức Chúa Trời với thẩm quyền và xác thực (II
    Phi-e-rơ 1: 21).
          Không phải tất cả những sự việc trong Kinh Thánh đều được mặc khải trực
    tiếp trong con người. Kinh Thánh ghi chép bằng ngôn ngữ lịch sử của con người,
    thậm chỉ bằng cả những ngôn ngữ của những con người gian ác, nhưng không có phần
    nào lại không được Đức Chúa Trời linh cảm. Đức Thánh Linh ảnh hưởng và soi dẫn
    các tác giả để họ tránh khỏi bất cứ những sai trật gì về dữ kiện hoặc về tín lý.
          Linh cảm không có nghĩa là Thượng-Đế tán thành mọi câu văn được ghi lại
    trong đó. Kinh Thánh ghi lại những lời nói dối của Sa-tan (thí dụ "người sẽ
    chẳng chết đâu"), và hành vi sai trật của những kẻ ác, một vài người trong số
    này được Thượng-Đế dùng để truyền đạt sứ điệp  của Ngài, thí dụ, sách Gióp chứa
    đựng chân lý của Đức Giê-hô-va, những lời của Sa-tan, bài nói chuyện của
    Ê-li-hu, và sự tranh luận của Gióp với ba người bạn. Sa-tan, Gióp và ba bạn của
    ông không nói bởi sự linh cảm của Đức Chúa Trời. Những người này nói ra ý kiến
    riêng của họ. Sự linh cảm có nghĩa là không ai trong bọn họ bị hiểu sai trật với
    vai trò riêng từng người, nhưng là mỗi người nói những lời dựa theo cá tính của
    họ trong Kinh Thánh. Những dữ kiện về các hành động tội ác như việc Sau-lơ sát
    hại các thầy tế lễ, việc Vua Đa-vít kiểm tra dân số, việc Vua Hê-rốt thảm sát
    những đứa trẻ vô tội được ghi lại trong Kinh Thánh, không hàm ý rằng Đức Chúa
    Trời tán thành hành vi của họ, nhưng sự ghi chép thần hựu đảm bảo sự xác thực
    của những dữ kiện này.
    TẦM MỨC CỦA SỰ LINH CẢM
          Trong khi sự linh cảm được hầu hết các giáo phái Cơ-Đốc Nhân công nhận,
    nhưng không phải tất cả đều nhất trí về tầm mức sự linh cảm. Có nhiều thuyết
    khác nhau về sự linh cảm.
    Linh Cảm Tự Nhiên (Natural Inspiration)
          Thuyết này đồng hóa sự linh cảm với một đẳng bậc cao của khả năng con
    người. Họ phủ nhận bất cứ sự siêu nhiên nàotrong viện chuẫn bị hình thành của
    Kinh Thánh. Thuyết này cho rằng các tác giả của Kinh Thánh được sự cảm ứng không
    khác hơn sự cảm ứng của thuyết gia Milton, văn hào Shakespear, hoặc lãnh tụ tôn
    giáo Mohammed .
          Tuy nhiên, khi Vua Đa-vít nói:  "Thần của Đức Giê-hô-va đã cậy miệng ta mà
    phán, và lời của Ngài ở  nơi lưỡi miệng ta." (II Sa-mu-ên 23: 2), ông ta ta nói
    đến một việc gì đó vượt hơn cả xảo năng con người. khi tiên tri Ê-sai tuyên bố: 
    "Đức Giê-hô-va phán" (Ê-sai 43: 1), ông ta cho rằng có một điều gì đó trội hơn
    tài hùng biện của thi sĩ hùng mạnh nhất. Khi sứ đồ Phao-lô nói với người thành
    Cô-rinh-tô:  "Chúng ta nói về ơn đó, không cậy lời nói mà sự khôn ngoan của lời
    người đã dạy đâu, song cậy sự khôn ngoan mà Đức Thánh Linh đã dạy" (I Cô-rinh-tô
    2: 13), ông ta sử dụng ngôn ngữ mà không thể tìm thấy được nơi khả năng con
    người.
          Khi người ta so sánh các văn phẩm của các tác giả nổi tiếng ngoài đời của
    Kinh Thánh, sự khác nhau giữa hai bên không phải chỉ là thuộc về trình độ, nhưng
    còn là hạng loại. Kinh Thánh không những là một văn phẩm cao cấp nhưng còn là
    một khung cảnh hoàn toàn khác hẳn. Nếu giả sử những phẩm chất của các tác giả
    Kinh Thánh đều giống như của các tác giả ngoài đời, thì sẽ không có gì đảm bảo
    cho độc gia ûcủa Kinh Thánh rằng Môi-se, Vua Đa-vít, và sứ đồ Phao-lô đã không
    phạm những lỗi lầm của con người hoặc không dạy những quan điểm của con người về
    đời sống. Thuyết "linh cảm tự nhiên" phủ nhận thay vì ủng hộ lời Thượng-Đế.
    Linh Cảm Máy Móc (Mechanical Inspiration)
          Thuyết này bỏ qua tính cách con người là một công cụ trong việc chuẩn bị
    hình thành của Kinh Thánh họ cho rằng các tác giả Kinh Thánh giống như những
    người máy, làm việc cách vô tri vô giác không khác chi những phím đàn dương cầm
    khi bàn tay nhạc sĩ đụng đến. Hãy thử nghĩ đến một Môi-se cương quyết, một Vua
    Đa-vít đầy thi vị, một sứ đồ Giăng khả ái, và một Phao-lô học thức. Cẫn thận
    nghiên cứu Thánh Kinh cho ta thấy rằng Đức Chúa Trời đã sử dụng cá tính của các
    tác giả để đến với mọi tầng lớp dân chúng.
    Linh Cảm Từng Phần (Partial Inspiration)
          Thuyết Linh Cảm Từng Phần chủ trương bởi một số người có một kiến thức
    nông cạn về Thánh Kinh, họ chấp nhận những lí thuyết của khoa học gia làm dữ
    kiện thật. Dựa trên những cái không hòa hợp bề ngoài giữa những lí thuyết khoa
    học và Kinh Thánh, họ kết luận rằng Kinh Thánh chứa đựng lời Thượng-Đế nhưng
    phần lớn không phải là Lời Ngài, và vì thế không cần phải chính xác. Do đó, họ
    có thể chấp nhận thuyết tiến hóa và phủ nhận sự linh cảm của những phân đoạn
    Kinh Thánh chống lại thuyết này. Nếu kinh nghiệm của tiên tri Giô-na có vẻ không
    thích hợp với các khám phá khoa học, hoặc nếu các đọan văn về sự đồi trụy của
    bản chất con người và hình phạt đời đời dành cho những kẻ ác không thể chấp nhận
    được, thì thuyết linh cảm từng phần cung cấp một lối thoát thuận lợi. Nhưng ai
    là người có phẩm quyền quyết định phân đoạn nào được linh cảm và phân đọan nào
    không được linh cảm? Lý thuyết linh cảm từng phần làm cho người ta mơ hồ lưỡng
    lự.
    Linh Cảm Toàn Phần (Plenary Inspiration)
          Đây là niềm tin của giáo hội Cơ-Đốc. Thuyết linh cảm toàn phần hay toàn
    diện đối nghịch với thuyết linh cảm từng phần. Thuyết này tin là cả Kinh Thánh
    đều được linh cảm như nhau, dựa trên sách II Ti-mô-thê 3: 16:  "cả Kinh Thánh
    đều được Đức Chúa Trời linh cảm vào".
          Nhiều điều đã được nói và viết để trả lời cho câu hỏi:  "Có phải từng chữ
    một của Thánh Kinh được linh cảm không? " Có phải Đức Thánh Linh đọc từng chữ
    một, hay là những tác giả được chọn chính chữ của họ? Nếu toàn thể nội dung Kinh
    Thánh hoàn toàn xác thực, thì tất nhiên phải nhận rằng những chữ cũng ý tưởng
    trong đó phải được linh cảm. Vài đoạn văn Kinh Thánh ghi y nguyên Lời của chính
    Thượng-Đế viết hoặc nói. Mười điều răn được viết bằng "Ngón tay của Đức Chúa
    Trời" (Xuất 31: 18; 32: 16). Một chữ viết tay trên bức tường của cung điện Vua
    Bên-xát-sa được viết bằng "những ngón tay của bàn tay một người" (Đa-ni-ên 5:
    5). Trong Kinh Thánh Tân Ước, giọng nói được nghe thấy tại phép Báp-têm và sự
    hòa hình của Chúa là những lời không thể lầm lẫn được.
    Ngoài những lời chính xác này, thì không thể có sự chính xác nào khác, đặc biệt
    là sự chính xác nhưng không đòi hỏi Kinh Thánh. Sự tuyên bố của các tác giả, là
    những người được Thượng-Đế tuyển lựa để ghi chép Kinh Thánh, khẳng định sự thật
    rằng họ có trách nhiệm với những lời chứ không phải là với quan niệm.
          Kết quả của thuyết linh cảm toàn phần là sự vô ngộ của Kinh Thánh.
    TÍNH CHẤT CỦA SỰ LINH CẢM (Nature of Inspiration)
          Nghiên cứu kỹ lưỡng sẽ cho thấy Thượng-Đế truyền đạt lời Ngài qua nhiều
    cách khác nhau.
    Lời Chúa Phán (Divine Utterances)
          Trong cả Tân Ước và Cựu Ước từng lời một của Thượng-Đế được ghi lại bằng
    chữ viết (Xuất. 32: 16; I Sử. 28: 19; Đa-ni-ên 5: 5). Dân của Thượng-Đế rất
    thích được phép nghe giọng nói Ngài, về điều đó Môi-se đã nói:  "Há có một dân
    tộc nào nghe tiếng Đức Chúa Trời từ trong lửa phán ra như ngươi đã nghe, mà vẫn
    còn sống chăng?" (Phục. 4: 33). Những lời nói linh thiêng nầy sau đó được ghi
    trên tảng đá "bằng ngón tay của Thượng-Đế" (Xuất. 31: 18; Phục 4: 33), và được
    mang trong hòm giao ước. Trong Kinh Thánh Tân Ước,  Đức Chúa Trời làm vinh dự
    con Ngài qua việc nói xuống từ trời tại phép Báp-tem (Mat. 3: 17), tại núi hóa
    hình (Mat. 17: 5), và trước khi Chúa Giê-xu chịu đóng đinh ( Giăng 12: 28).
    Những lời nói linh thiêng này đã được các tác giả ghi chép lại kỹ lưỡng và đúng
    đắn.
    Lời Chúa Truyền (Divine Dictation)
          Thượng-Đế đặt để trong môi miệng của một số người những chữ nào đó mà họ
    sẽ phải nói và viết y như vậy (Xuất. 4: 10-15; 34: 27; Ê-sai 8: 1,11,12; Giêr.1:
    7; 7: 27; 13: 12; 30: 1,2; Ê-xê. 3: 10,11; 24: 2; Hab. 2: 2). Phi-e-rơ nói rằng
    khi các tiên tri viết về Chúa Cứu Thế họ thật sự phải suy xét tìm hiểu các lời
    tiên tri mà chính họ đã viết, thậm chí họ không thấu hiểu hết các lời nầy.
    (Phi-e-rơ 1: 10-12).
          Quan trọng hơn nữa, Đa-ni-ên nói về việc Chúa trực tiếp đọc cho ông:  "Tôi
    nghe, nhưng tôi không hiểu". Trả lời câu hỏi cho việc giải thích sau nầy, Chúa
    phán:  "Hỡi Đa-ni-ên hãy đi; bởi vì những lời nầy đã đóng lại và đóng ấn cho đến
    kỳ cuối cùng" (Đa-ni-ên 12: 9). Tiên tri Đa-ni-ên được ban cho quyền phép để ghi
    lại những lời chính xác không sai trật những gì ông đã nghe, mặc dù ông không
    hiểu. Tuy thế tiên tri Đa-ni-ên vẫn là người khôn ngoan thông giải giấc mộng của
    vua Nê-bu-cát-nết-xa và đọc được dòng chữ viết tay trên bức tường. Việc ghi chép
    của Đa-ni-ên về những gì Chúa trực tiếp nói mà ông không hiểu biết, không phải
    đơn thuần là những cảm ứng của ý tưởng, hoặc là sự cao diệu của trí tuệ, hay là
    sự gia tăng của năng lực trí thức. Nó là một sự mặc khải trực tiếp và đặc biệt
    về chân lý từ Thượng-Đế.
    Sự Diễn Tả Của Con Người
          Cá tính và cách hành văn của các tác giả Kinh Thánh không bị loại bỏ bởi
    sự linh cảm thiên thượng. Thí dụ, tác giả của bốn sách Phúc-Âm ghi lại khác nhau
    về những gì quan tổng đốc Phi-lát viết trên Thập tự giá. Tuy thế, qua sự so sánh
    kỹ lưỡng những bản tường thuật của họ (Mat. 27: 37; Mác 15: 26; Lu. 23: 38;
    Giăng 19: 19,20), cách dùng chữ chính xác, thì chúng ta có thể xác định được
    những phần gì trong đó mà Đức Chúa Trời muốn ghi lại. Toàn phần hàng chữ ghi
    xuống rỏ ràng là:  "Đây là Giê-xu người Na-za-rét, Vua đân Do Thái", dữ kiện
    quan trọng hơn hết được ghi lại tất cả bởi các tác giả là Giê-xu là:  "Vua dân
    Do Thái". Đây là dòng chữ làm phiền lòng dân Do Thái, vì họ yêu cầu quan tổng
    đốc Phi-lát đừng viết như vậy. Sự thật người Do Thái đã trưng dẫn chính xác
    những chữ này khi họ tranh luận buộc tội Chúa và loại bỏ phần cuối. Đó là những
    gì các tác giả của Phúc-Âm đã làm dưới sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh. Đức
    Thánh Linh đã sử dụng sự chú ý, điều tra, ký ức, cá tính, lý luận - thật ra là
    tất cả những năng lực của các tác giả - và làm việc qua các điều này.
    LỜI TUYÊN XƯNG VỀ SỰ LINH CẢM (The claims for Inspiration)
          Chính các tác giả đã tuyên xưng rằng họ viết Kinh Thánh dưới sự ảnh hưởng
    trực tiếp của Đức Thánh Linh.
    Các Tác Giả Cựu Ước
          Không người nào đọc Kinh Thánh Cựu Ước mà không chú ý đến sự lặp đi lặp
    lại của những câu như "Đức Giê-hô-va phán. ." xuất hiện 1900 lần. Câu này hầu
    hết xuất hiện trong các sách tiên tri, cũng có xuất hiện trong các sách sử ký,
    bày tỏ cho Thượng-Đế tiếp xúc gắn bó với dân Ngài.
          Những câu như " Đức Giê-hô-va nói. ." "Đức Giê-hô-va phán. ." " Lời của
    Đức Giê-hô-va đến. ." được thấy 3808 lần trong Kinh Thánh Cựu Ước. Những tác giả
    nầy nói rằng họ có sự mặc khải của ý chỉ Đức Chúa Trời,  gần như họ luôn luôn
    bắt đầu sứ điệp bằng những chữ "Đức Giê-hô-va phán. .". Các lờøi tuyên xưng của
    họ được xác chứng bằng các biên bản và chi tiết của những tên tuổi, thời điểm,
    địa điểm biểu thị đặc tính những sứ điệp của họ, và những ứng nghiệm chính xác
    của các lời tiên tri họ.
          Khi ông Môi-se giải thích về sự sáng tạo thế giới,  ông đã không đề cập gì
    đến những lí thuyết về sự khởi nguyên của các vũ trụ được tin nhận trong thời cổ
    Ai Cập hoặc Ba-tư  mà chắc chắn ông rất quen thuộc. Việc nầy chỉ có thể hiểu
    được rằng Môi-se thật sự được điều khiển bởi Đức Thánh Linh. Trong một chương
    ngắn ngủi về sự sáng tạo thế giới(Sáng. 1), không dưới 14 lần Môi-se tuyên bố
    rằng đã chép lại lời Thượng-Đế. Các chỗ khác được chép đi chép lại câu " Đức
    Giê-hô-va phán cùng Môi-se rằng. ."  " Đức Giê-hô-va truyền lệnh cho Môi-se
    rằng. .".
          Trong các sách lịch sử, Đức Chúa Trời phán với Giô-suê, Ghi-đê-ôn,
    Sa-mu-ên, Đa-vít, Ê-li, Ê-li-sê, Ê-xơ-ra, Nê-hê-mi và nhiều người khác nữa. Các
    tác giả Tân Ước không những xác nhận những câu nói trong Thánh Kinh Cựu Ước,
    nhưng còn nói rõ ràng rằng đó là những lời nói của Thượng-Đế. (Mat. 1: 22,23; 2:
    15; Mác. 12: 36; Lu.1: 70; Công 1: 16).
    Các Tác Giả Tân Ước
          Kinh Thánh Tân Ước chứa hơn 280 câu thích dẫn từ 30 trong số 39 sách của
    Kinh Thánh Cựu Ước, các câu trích dẫn xuất hiện ở 18 trong số 27 sách của Tân
    Ước(Mat. 10: 20; Mác 13: 14). Sứ đồ Phao-lô, một học giả Do Thái và là một thành
    viên của tòa công hội San-hê-rin, khi trở thành môn đệ Chúa đã không thay đổi
    lòng tin tưởng tuyệt đối về sự linh cảm của Kinh Thánh Cựu Ước. Thánh Kinh Cựu
    Ước luôn luôn là bộ Kinh Thánh có cùng một thẩm quyền linh thiêng trong việc
    thiết lập chân lý Cơ-Đốc cũng như những tác phẩm của Phao-lô mà ông tin là sự
    linh cảm của Đức Chúa Trời (I Cô. 2: 13; 14: 37; I Tê. 2: 13). Phao-lô trích dẫn
    Kinh Thánh từ Phúc-Âm Lu-ca cùng một cách với việc ông trích dẫn Kinh Thánh rừ
    sách Phục Truyền Luật Lệ Ký(I Ti. 5: 18; Phục. 25: 4; Lu-ca 10: 7). Sứ Đồ
    Phi-e-rơ xếp loại các tác phẩm của Phao-lô chung với "các phần Kinh Thánh khác"
    (II Phi. 3: 1,2,16). Những bài giảng của Phi-e-rơ, Ê-tiên, và Phao-lô trong sách
    Công-vụ được soạn thảo gần như toàn là của các câu trích dẫn của Kinh Thánh Cựu
    Ước.
          Ở đây và các phân đoạn khác, rõ ràng các tác giả của Thánh Kinh Tân Ước ý
    thức rằng những người được dùng viết ra Kinh Thánh Chúa, cũng như chính họ,  đã
    nhận sự mặc khải từ Thượng-Đế và xem mình được Thượng-Đế linh cảm để hòan thành
    quyển Kinh Thánh. Họ cảm thấy rằng khi đặt bút xuống viết họ diễn tả chân lý vô
    ngộ của Thượng-Đế qua sự vận hành của Đức Thánh Linh. Điều nầy giải thích tại
    sao Kinh Thánh lại không có mâu thuẫn trong khi các tác giả sống rất xa cách
    nhau về phương diện thời gian cũng như không gian.
    Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn
          Mục tiêu của Chúa Giê-xu Chí-tôn đến thế gian là "Làm nhân chứng cho chân
    lý" (Giăng 18: 37). Ngài không nói tự mình, nhưng Cha sai Ngài đến và đã truyền
    lịnh cho Ngài phải nói điều chi và phải nói thế nào (Giăng 12: 49). Trong lời
    cầu nguyện từ biệt Chúa Giê-xu đã nói, "Con đã truyền cho họ những lời Cha đã
    truyền cho Con". (Giăng 17: 6, 8). Những phần sau đây giải thích thái độ của
    Chúa Giê-xu đối với Kinh Thánh.
          * Chúa Xem Toàn Thể Kinh Thánh Là Xác Thực(Authentic in their Entirety)
    Ngài tỏ ra điều này bằng cách trích dẫn Kinh Thánh từ các sách Ngũ Kinh, Tiên
    Tri, và Thi Thiên (Lu-ca24: 27).
          *Chúa Aùp Dụng Toàn Bộ Kinh Thánh Cho Chính Ngài. Ngài dùng Ê-sai 61: 1
    trong nhà hội Do Thái tại Na-za-rét (Lu-ca 4: 16-21). Ngài cũng quở trách người
    Do Thái vì họ tìm kiếm trong Kinh Thánh mà họ không nhận ra Ngài, Chúa phán,
    "Aáy là Kinh Thánh làm chứng về Ta"  (Giăng 5: 39)
          * Chúa Trích Dẫn Từ Tất Cả Các Phần Của Kinh Thánh Và Xem Các Phần Này Có
    Thẩm Quyền Bằng Nhau. Đối với Đức Chúa Giê-xu và với những kẻ đối nghịch Ngài,
    thì một chữ của Kinh Thánh  cũng đủ để chấm dứt bất cứ cuộc tranh luận nào. Sự
    trích dân của Chúa từ sách Phục Truyền đã làm cho quỉ Sa-tan  im miệng (Mat. 4:
    4,7,10). Chúa hỏi các kẻ chỉ trích Ngài, "trong luật pháp có chép gì?" với câu
    hỏi này cũng đủ rõ ràng minh bạch rồi, không cần biện luận thêm nữa. Khi có
    người than phiền về việc các con trẻ ca tụng Ngài (Mat. 21: 16), Chúa chỉ đáp,
    "Các ngươi có bao giờ đọc thấy rằng, từ miệng con trẻ và các con đang bú Ngài có
    sự toàn hảo không?" (Thi. 8: 2).
          * Chúa Xác Nhận Sự Linh Cảm Từng Lời Nói Của Kinh Thánh. Chúa quả quyết
    mạnh mẽ sự linh cảm qua lời nói của Thánh Kinh:  " Đang khi trời đất chưa qua
    đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi
    sự được trọn" (Mat. 5: 18). "chấm" (Jot :  chữ thứ chín trong mẫu tự Do Thái) là
    mẫu tự nhỏ nhất của chữ Do Thái, "Nét" (Tittle) là một nét nhô ra của mẫu tự làm
    chữ này khác với chữ kia. Theo Chúa thì không phải chỉ những chữ nhưng màchính
    từng mẫu tự của Kinh Thánh cũng được Thượng-Đế linh cảm vào.
          * Chúa Chấp Nhận Những Phép Lạ Trong Kinh Thánh. Chúa Giê-xu Chí-tôn nói
    về trận lụt và sự hủy diệt thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ (Lu. 17: 26-32) là những dữ
    kiện xác thực cũng như con người ngày nay nói về việc làm của các phi hành gia
    là những sự kiện xác thực vậy. Chúa ám chỉ sự chết kỳ dị của vợ Lót là một tai
    nạn được nhiều người biết đến. Ngài chấp nhận kinh nghiệm kỳ diệu của ông Giô-na
    (mat. 12: 40), cũng như sách Đa-ni-ên với những diễn biến lạ lùng của nó (Mat.
    24: 15).
    TỔNG KẾT
          Giáo lý về sự linh cảm của Kinh Thánh vô cùng quan trọng vì tất cả các tín
    lý Cơ-Đốc đều được khai triển từ Kinh Thánh và dựa vào đó làm thẩm quyền. Chữ
    "linh cảm"  được định nghĩa là "quyền năng của Thượng-Đế khiến con người có thể
    ghi lại chính xác chân lý được mặc khải".
          Nhiều thuyết của sự linh cảm đã được đem ra biện luận. Thuyết Linh Cảm Tự
    Nhiên (natural inspiration) nhận biết sự linh cảm với một đẳng bậc cao của khả
    năng con người. những ủng hộ thuyết này nói rằng các tác giả Kinh Thánh đó được
    những cảm hứng không khác gì những cảm hứng của các văn sĩ ngoài đời. Chấp nhận
    thuyết nầy sẽ chối bỏ Lời của Thượng-Đế.
          Một thuyết khác là thuyết Linh Cảm Máy Móc (mechanical inspiration).
    Thuyết nầy bỏ qua phần của con người trong việc sửa soạn cho Kinh Thánh và cho
    rằng các tác giả Kinh Thánh như những người máy được Chúa dùng để viết xuống
    những gì Ngài đọc ra. Thuyết nầy không chấp nhận nhiều loại văn thể thấy trong
    Thánh Kinh.
          Thuyết thứ ba là thuyết Linh Cảm Một Phần  (partical inspiration), là
    thuyết kết luận rằng Kinh Thánh chứa đựng lời của Thượng-Đế nhưng phần lớn Kinh
    Thánh không phải là lời Ngài, nhất là khi Kinh Thánh không đồng ý với các tư
    tưởng hiện đại của các khoa học gia. Nan đề hiển nhiên là ai sẽ quyết định là
    phần nào được linh cảm và phần nào không? Thuyết nầy làm cho người ta có một sự
    lưỡng lự lớn lao.
          Thuyết thứ tư được giáo hội Cơ-Đốc giữ vững - thuyết Linh Cảm Toàn Phần
    (plenary inspiration). Dựa vào II Ti-mô-thê 3: 16 thuyết nầy cho rằng toàn thể
    Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời linh cảm. Thượng-Đế hướng dẫn các tác giả,
    ngay cả những thứ họ dùng cũng được linh cảm và chính xác cho toàn bộ sự ghi
    chép không sai trật.
          Khi Thượng-Đế truyền đạt lời Ngài đến các tác giả Thánh Kinh Ngài dùng
    nhiều phương pháp. Vài phần của Thánh Kinh được thực hiện qua Lời Chúa
    Nói(Divine utterances). Những phần này là bản sao y chính xác của lời Đức Chúa
    Trời. Những phần nầy được thực hiện qua Lời Chúa Đọc Trực Tiếp cho chép (Divine
    dictation). Trong các phần nầy Thượng-Đế đặt chính từng chữ vào môi miệng các
    tác gỉa. Điều nầy giải thích cho những điểm khác nhau thấy trong các sách
    Phúc-Âm. Đức Thánh Linh sử dụng tất cả khả năng của các tác giả Kinh Thánh và
    làm việc qua các khả năng này.
          Các tác giả của Kinh Thánh Tân Ước và Cựu Ước cho rằng họ viết Kinh Thánh
    dưới sự hướng dẫn trực tiếp của Đức Thánh Linh. Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn cũng xác
    nhận sự linh cảm của Kinh Thánh và còn bày tỏ rằng mục tiêu của sự Ngài đến thế
    gian là "làm nhân chứng cho chân lý".
          Thái độ của Chúa Chí-tôn đối với Kinh Thánh được bày tỏ qua sự thật rằng: 
    Ngài xem toàn bộ Kinh Thánh là xác thực; Ngài áp dụng Kinh Thánh cho chính Ngài;
    Ngài trích dẫn từ tất cả các phần của Kinh Thánh và cho các phần nầy có thẩm
    quyền bằng nhau. Ngài xác nhận sự linh cảm bằng lời nói của Kinh Thánh; và Ngài
    chấp nhận những phép lạ được ghi lại trong Kinh Thánh.

    BÀI LÀM
    1.     Tại sao thẩm quyền của Kinh Thánh quan trọng, thiết yếu như thế?
    2.     Định nghĩa và so sánh  các chữ :  sự mặc khải (revelation), sự linh cảm
    (inspiration), và sự soi sáng (illumination).
    3.     Định nghĩa và bác bẻ lại các thuyết linh cảm tự nhiên, linh cảm mày móc,
    và linh cảm từng phần?
    4.     Sự linh cảm toàn phần có ý nghĩa là gì?
    5.     Tại sao sự linh cảm không thể bị  giới hạn trong phạm vi "tư tưởng" hoặc
    trong phạm vi "quan niệm" của Kinh Thánh?
    6.     Kể tên hoặc cho thí dụ của ba tính chất quan trọng biểu thị bản chất của
    sự linh cảm.
    7.     Các tác giả Tân Ước và Cựu Ước cùng lời chứng của Chúa Giê-xu Chí-tôn
    tuyên nhận gì về sự linh cảm của Kinh Thánh?
    8.     Làm cách nào bạn biện giải (Justify) niềm tin nơi sự linh cảm của Kinh
    Thánh cho người không chịu tin vào giáo lý nầy?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Hannah, Jonh (ed). Inerrance and the church. Chicago:  Moody Press, 1984.
          Pache, Rene. The Inspiration and Authority of Scripture. Chicago:  Moddy
    press,1979.
          Saucy, Robert L. Is the Bible Reliable? Wheaton, IL:  Victor Book, 1983.

    Top


    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 1 | CHƯƠNG 3 >>
    CHƯƠNG 2
    SỰ TẠO DỰNG VÀ SA NGÃ CỦA CON NGƯỜI
    (Creation and Fall of Man)
    SỰ TẠO DỰNG LOÀI NGƯỜI
          Trong khi các học giả Thánh Kinh có những sự diễn giải khác nhau về phương cách và thời điểm mà Thượng-Đế tạo dựng thế giới, Kinh Thánh rõ ràng xác nhận rằng Thượng-Đế đã tạo dựng thế giới và đặt loài người trong đó.
    Nguồn Gốc loài Người
          Kinh Thánh nói rằng Thượng-Đế tạo dựng loài người tự bụi đất và ban cho người sự sống (Sáng. 2: 7). Hành động tạo dựng nầy xảy ra hòan toàn cách biệt với việc Ngài tạo dựng các loài thú. Loài người hoàn toàn cách biệt, trổi vượt lên loài thú cao cấp. Kinh Thánh ghi lại là có bàn tay Thượng-Đế đụng vào đặc biệt trái ngược với quan điểm cho loài cho người có nguồn gốc từ loài vật hay phát triển dần dần từ cấp thấp lên cấp cao hiện nay.
          * Tác Động Trực Tiếp Của Thượng-Đế
          Không chỉ Sáng Thế Ký (5: 2) mà những chỗ khác (Phục Truyền 4: 32; Thi Thiên 100: 3) cũng dạy rằng loài người ra từ một tác động sáng tạo riêng biệt của Thượng-Đế. Lời dạy này tách biệt loài người ra khỏi thú vật ở cấp thấp hơn; dù cho con người thời sơ khai cũng khác biệt hẳn với các loài vật. Thuyết tiến hóa không giải thích được bản chất thiêng liêng cao cấp của con người. sự thật về quyền tể trị của loài người trên  tất cả các loài khác sẽ khó có thể xảy ra nếu loài người chỉ là một trong các loài đó.
          * Con Của Thượng-Đế
          Gia phả trong Kinh Thánh truy nguồn gốc loài người đến A-đam, nhưng cẩn thận chú thích rằng con người đầu tiên, như những thiên sứ, là con trai của Thượng-Đế (Lu. 3: 38). Người Hy-lạp qúa kiêu hãnh và thông minh không thể nhận là họ có nguồn gốc động vật. Khi sứ đồ Phao-lô trích dẫn thi sĩ Hy-lạp (Công. 17: 28), ông đã thiết lập một chổ đứng chung cho lịch sử Hy-lạp và dữ kiện Kinh Thánh, và chứng minh rằng hai bên tương hợp nhau.
          Đặc Tính Của Loài Người
          Loài người được tạo dựng sau cùng trong tất cả muôn loài, nên không thể hãnh diện là mình có đóng góp      gì cho công cuộc sáng tạo. Là tạo vật cuối cùng của công cuộc tạo dựng, con người được vinh dự và được chỉ định làm cai quản muôn loài.
          * Bản Chất, Vật Chất Của Con Người
          Loài người được tạo ra bởi bụi đất( Sáng. 2: 7a), một chất liệu mà khó tưởng tượng có thể được dùng để tạ dựng loài người. thân thể được hình thành bằng những chất liệu do quả đất cung cấp. Kinh Thánh nói những gì mà ngành hóa học hiện đại xác nhận, rằng tất cả các yếu tố của cấu trúc vật lý của thân thể loài người được tìm thấy trong lớp đất bao phủ qủa đất( Gióp 33: 6). Tại phút lâm chung thân thể trở về với cội nguồn của nó - "Ngươi là bụi đất, ngươi sẽ trở về với bụi đất" (Sáng. 3: 19b); nhưng thần linh trở về chỗ khởi nguyên nó - " Về nơi Thượng-Đế là Đấng đã ban nó" (Truyền. 12: 7).
          * Bản Chất Thiêng Liêng Của Loài Người
          Thân thể được tạo dựng,  và Thượng-Đế hà sinh khí vào(Sáng. 2: 7b; Gióp 33: 4). Tiến trình nầy không được làm với các loài thú, mà chỉ với loài người. Thượng-Đế đặt hởi thở của Trời vào trong bụi của đất. Thần Linh ở trong nhà bằng đất sét, là sự sống và nâng đỡ thân xác. Thân xác sẽ vô giá trị và vô dụng nếu không có Thần Linh làm cho nó sống. Khi chết, thân thể bị chôn trong mồ mả, nhưng Thần Linh được trả về tay Thượng-Đế,  vì nó được ban cho từ tay Thượng-Đế.
          * Ảnh Tượng Của Thượng-Đế Trong Loài Người
          Sáng Thế Ký 1: 27 nói rằng Thượng-Đế tạo dựng loài người theo ảnh tượng Ngài. Loài người không được tạo dựng theo hình dung của bất cứ hình dung của Đất Tạo Hóa. Tuy thế, giữa Thượng-Đế và loài người có một khoảng cách vô hạn. Chỉ Chúa Giê-xu Chí-tôn là ảnh tượng của ngôi vị Thượng-Đế(God s Person), có cùng một bản tính với Thượng-Đế(Giăng 14: 9; Hê. 1: 3). Vậy loài người giống Thượng-Đế như thế nào?
        Nhân Cách (Personality) - làn hơi thở linh thiêng ban cho người một linh hồn (soul) cũng như một tâm thần(Spirit) (I Tê. 5: 23; Hê. 4: 12). Qua các giác quan con người có ý thức về thế giới (world-consciousness). Nhưng qua linh hồn con người có được ý thức về mình(self-consciousness) hay có nhân cách. Nhân cách gồm có lý trí, tình cảm và,  ý chí (intellect, emotion and will). A-đam không phải là một loài sơ khai, từ từ lần mò lên bập bẹ tiếng nói, nhưng mà là một người khôn ngoan, biết suy nghĩ, có thể cung cấp một tên thích hợp cho mỗi loài vật (Sáng. 2: 19). Ông cũng có sự tự do thi thố năng lực của ý chí trong những lựa chọn thuộc linh và đạo đức. Người không thể đánh mất điểm giống nhau nầy với Đấng Tạo Hóa mà vẫn còn là người.
        Đạo Đức (morality) - loài người được tạo ra trong sạch và ngay thẳng. Bản tính của con người hòa hợp với những lý tưởng của các cư xử đúng đắn của nhân sinh. Dù gì đi nữa, giai đoạn của loài người giống Đấng Tạo Hóa mình có thể bị lấy lại, và thật sự thì loài người đã đánh mất nó. A-đam được tạo dựng với khuynh hướng hướng về Thượng-Đế ; vì sự sa ngã của A-đam, loài người sanh ra với khuynh hướng xoay khỏi Thượng-Đế. Khi một người trở thành "một tạo vật mới trong Chúa Chí-tôn", người ấy được hồi phục lại về phương diện đạo đức. Người ấy được mời "lột bỏ người cũ cùng công việc nó"; và " Mặc lấy người mới là người đang đổi mới theo hình tượng Đấng dựng nên người ấy" (Cô. 3: 9,10).
        Người Bạn Giúp Đỡ
        Ban đầu A-đam chỉ có một thân một mình, không thuộc thế giới cao cấp của các thiên sứ hoặc là thế giơí hạ đẳng của loài thú. Thượng-Đế nhận biết điều nầy khi Ngài nói. "Loài người ở một mình thì không tốt" (Sáng. 2: 18a). vì thế Thượng-Đế đã ban cho A-đam một người bạn.
        Người nữ, cũng như người nam, được tạo dựng bởi một hành động đặc biệt của Thượng-Đế (Sáng. 2: 21,22; I Ti. 2: 13). Tuy nhiên, người nữ không được làm ra từ bụi đất, nhưng người từ người nam. Người nam là bụi đất tinh luyện thành, những người nữ là bụi đất tinh luyện đến hai lần, một bước xa hơn từ quả đất. Trong khi Ê-va được tạo dựng thì Chúa làm cho A-đam ngủ, không phải vì muốn cho A-đam khỏi cảm thấy đau đớn khi Chúa lấy xương sườn của ông, nhưng nhằm cho ông biết rằng chỉ có Thượng-Đế là tác giả của tạo vật mới nầy thôi.
        Sáng Thế Ký mô tả mối liên hệ chân thật giữa người nam với người nữ (2: 23,24). Người nầy là sự bổ túc cho người kia. Hai người với nhau tạo thành một sự hiệp nhất toàn hảo(Mat. 19: 4-6). Học giả Matthew Henry nói:  "Đàn bà được tạo thành từ người đàn ông, không phải từ cái đầu để cai trị người đàn ông, cũng không phải từ bàn chân để bị người đàn ông chà đạp, nhưng từ bên hông để thành bình đẵng với người đàn ông".
        Quyền Thống Trị Của Loài Người
        Loài người là vị đại diện của Thượng-Đế. Loài người cai trị trên vạn vật thiên nhiên. Đấng Taọ Hóa chỉ định loài người vào vị trí ưu việt nầy(Sáng. 1: 26-30; 2: 19,20; Thi Thiên 8: 3-8).
        * Quyền Hạn Của Loài Người
        Có nhiều bằng chứng sống về thẩm quyền của loài người trên thiên nhiên. Những tiến bộ không ngững của khoa học, đặc trưng của thời đại không gian của chúng ta, như sự du hành vòng quanh quỹ đạo, sự truyền thông thế giới, và những sự phát triển của khoa học kỹ thuật, phản ánh quyền lực thiên định (God - ordained power) của loài người để khống chế những mãnh lực huyền bí của thiên nhiên.
        * Trách Nhiện Của Loài Người
        Trong việc nhận lãnh thẩm quyền trên vườn Ê-đen, A-đam được ban cho một trách nhiệm. Ông được truyền lệnh "trồng và giữ làm cho chúng ta dể hiểu tại sao Sa-tan cố gằng chiếm quyền cai trị trên A-đam, ở trong cái vương quốc mà trước đây nó cầm quyền, Sa-tan ghen tức đến tột độ và tìm đủ mọi cách đánh bại Thượng-Đế và đoạt lấy gia sản khỏi tay loài người.
    SỰ SA NGÃ CỦA LOÀI NGƯỜI
          Trong câu chuyện của ông Gióp, chúng ta được đưa vào hội đồng thiên thượng và nghe Thượng-Đế cho phép Sa-tan thử thách Gióp. Có lẽ một quang cảnh tương tự như vậy đã diễn ra trước sự sa ngã của A-đam, vào thời điểm mà Sa-tan nói rằng A-đam không thể chống lại điều ác. Nó có thể đã tranh luận rằng một loài yếu ớt sa ngã trước cám dỗ sẽ không là đối tượng thích hợp để thay chổ một thiên sứ làm cai quản quả đất. Như Thượng-Đế sau đó cho phép Sa-tan thử  Gióp, Ngài chắc hẳn cũng đã cho phép Sa-tan thử A-đam.
    Sự Cám Dỗ
          Sa-tan bày bố kế hoạch thật kỹ lưỡng. Nó tấn công Ê-va trong sự vắng mặt của A-đam, vì biết rằng một người sẽ dễ bị khuất phục hơn là hai. Có lẽ cảm dỗ Ê-va gần cây biết điều thiện và điều ác. Bà có thì giờ để hồi tưởng và suy nghĩ. Sa-tan cẩn thận giấu bản chất thật của nó là kẻ thù của Thượng-Đế. Nó không bắt đầu bằng cách kể về sự sa ngã của chính nó, hoặc là nó khoe khoan về sự dấy loạn của nó. Nó giả vờ thân thiện với Ê-va.
          * Nghi Ngờ Sự Tốt Lành Của Thượng-Đế
          Sa-tan nói cách lễ phép về Thượng-Đế, Đấng Tạo Hóa, nhưng bằng một câu hỏi xảo quyệt nó gợi sự bất hảo của Thượng-Đế ẩn dật  dưới dạng một sự  cấm đoán không cần thiết và vô lý. Nó làm như thật khó mà tin rằng Thượng-Đế lại có thể đối xử  với họ một cách không tốt như vậy. Nó gieo vào tâm trí của Ê-va sự nghi ngờ về sự công bằng của Thượng-Đế. Điều nầy thể hiện rõ ràng trong câu trả lời của Ê-va. Mặc dù bà nói cho Sa-tan biết toàn bộ luật lệ mà Thượng-Đế đưa ra, bà đã thay đổi một số điều trong câu nói của bà, chứng tỏ rằng bà nghi ngờ trong lời dò hỏi của Sa-tan có sự thật. Thượng-Đế đã phán. "Ngươi được tự do ăn các thứ cây trong vườn" (Sáng. 2: 16,17);nhưng khi lặp lại thiên lịnh (3: 1-3) Ê-va lại bỏ chữ "tự do", do đó ám chỉ sự cấm đoán của Thượng-Đế thay vì lòng rộng lượng của Ngài.
          Bà cũng thêm vào những chữ "cũng chẳng nên đá động đến". Đức Chúa Trời không dò hỏi điều nầy nhưng bà đã cắt bớt lời cho phép của Thượng-Đế và thêm vào lời cấm đoán.
          Điểm thứ ba. Bà giảm nhẹ hình phạt đối với sự không vâng phục. Thượng-Đế đã phán. "Vì một mai người  ăn, chắc chắn sẽ chết" nhưng Ê-va làm nhẹ bớt "E khi ngươi phải chết chăng"
          * Phủ Nhận Sự Chân Thật Của Thượng-Đế
          Sa-tan, được khích lệ mạnh mẽ bởi câu trả lời của Ê-va, thấy rằng bà đã nao núng, nó bèn bạo dạn tuyên bố rằng A-đam và Ê-va sẽ không chết (Sáng. 3: 4). Rồi Ê-va đã nghe theo những lời gải dối của Sa-tan.
          Ma qủi không làm được gì đáng kể vào thời đó cũng như ngày nay (the devil could do little then, and he can do little now) ngoại trừ lúc những kẻ bị nó cảm dỗ mở cửa cho nó vào. Chính là vì lòng vô tín ban đầu của Ê-va, thể hiện qua câu "E khi hai người phải chết chăng" của bà, đã khuyến khích Sa-tan tấn công. Nó nói rằng mặc dù Thượng-Đế không có lòng tốt để A-đam và Ê-va được trọn sự tự do trong vườn Ê-đen, Ngài cũng không nỡ giết hại họ vì sự không vâng lời.
          * Khám Phá Những Bí Mật Của Thượng-Đế
          Sa-tan gợi dậy lòng tò mò và kiêu ngạo của Ê-va bằng cách nói bóng gió rằng Thượng-Đế giấu diếm bà một điều gì. Nó còn khiến bà tin rằng Thượng-Đế đưa ra sự cấm đoán vì sợ loài người ngang bằng với Ngài (Sáng. 3: 5). Sa-tan đã làm hại chính nó vì muốn giống như Thượng-Đế (Eâs. 14: 14) và tìm cách tàn hại A-đam và Ê-va bằng cách tiêm nhiễm cho họ cùng một ước muốn như nó.
    SỰ QUÁ PHẠM (Transgession)
          Ấn Tượng Bất Khả Kháng Của Tội Lỗi (Unresisted Impression Of Sin)
          Sa-tan sử dụng ba phương cách tiến công và đã không gặp sự chống đối nào. Những bước đầu tiên của Ê-va tiến đến sự cố ý không vâng lời và lắng nghe, ngắm nhìn, và ham muốn.
          Ê-va đã mất lập trường ngay khi và bắt đầu tranh cãi với Sa-tan(Sáng. 3: 2,3). Nếu bà nói sự tốt lành của Thượng-Đế thì chắc bà đã trả lời khác hẳn.
          Kế đến Sa-tan mở đôi mắt thèm thuồng của Ê-va hướng về phía trái cấm(Sáng. 3: 6a). Qua đôi mắt, ngọn lửa sùng kính hay những tia cám dỗ sẽ cháy bừng lên.
          Độc chiêu cuối cùng là đánh vào tấm lòng. Ê-va đã nghe, đã thấy, vào lúc nầy bà thèm muốn trái cấm đầy quyến rũ đó(Sáng. 3: 6b). nếu bà yêu mến Chúa hết lòng thì chắc bà đã loại bỏ ý nghĩ làm buồn lòng Thượng-Đế. Nhưng Sa-tan đã làm lung lạc lòng tin của bà nơi tình yêu của Chúa.
    Biểu Hiện Bất Khả Kìm Chế Của Tội Lỗi(Unrestranned Expression Of Sin)
          Lúc ban đầu thèm muốn có thể chỉ là một tội lỗi thầm kín bên trong:  nhưng nếu không chống cự, nó sẽ dẫn đến sự biểu lộ ra bề ngoài. Đây là ba bước đi xuống (Sáng. 3: 6c); sờ, nếm và cám dỗ.
          Sau khi nói cho Sa-tan biết Thượng-Đế đã truyền lệnh rằng không được đụng đến cây biết điều thiện và điều ác, Ê-va còn tin rằng bà chắc sẽ không chết nếu bà ăn trái cây đầy quyến rủ nầy.
          Cầm trái cấm trong tay cũng chưa đủ, bà phải ăn nó nếu bà muốn nhận được lời hứa mở trí khôn của Sa-tan. Ê-va thấy rằng bà phải có sự thông sáng, phải có bằng bất cứ giá nào, không thể trì hoãn được.
          Ngay khi Ê-va sa ngã, bà đã trở thành kẻ cám dỗ người khác. Thay vì hội ý với A-đam trước khi bà bước cái bước kinh khủng đó, hoặc cảnh cáo A-đam sau khi bà bị sa ngã, bà lại quyến rũ A-đam chia sẽ tội lỗi với bà. Nhưng giờ phút cặp vợ chồng phạm nhân phải chịu tội cũng đến theo.
    TÒA ÁN
    Sự Truy Tố
    Hai bị cáo bất tuân bị buộc tội trược vị quan tòa công chính của Trời đất (Sáng. 3: 9-11). Trước câu trách vấn của Đức Chúa Trời "Ngươi  ở đâu?", A-đam run rẩy không suy nhận tội,  nhưng thể hiện tình trạng mắc tội của mình bằng sự sợ hãi và xấu hổ. A-đam sợ phải đứng trước mặt Đức Chúa Trời vì ông đã lõa lồ. Quan tòa hỏi cặp phạm nhân rằng. "Ai nói cho ngươi biết rằng ngươi lõa lồ?" "ngươi có ăn trái cây mà ta đã truyền lệnh người đừng nên ăn không?"
    Sự Biện Hộ
          Cặp phạm nhận có cơ hội để trả lời tại sao không nên phạt tội lỗi của họ. Nhưng thay vì nhận tội, A-đam đỗ lỗi cho Ê-va và Ê-va đỗ lỗi cho con rắn (Sáng. 3: 12,13).
          A-đam không nói gì cho mình cả. A-đam không những chỉ đỗ lỗi cho Ê-va mà còn đổ lỗi cho Thượng-Đế. " người nữ mà Chúa để gần bên tôi cho tôi cây đó và tôi đã ăn rồi." Thượng-Đế không đáp lại lời bào chữa ngu xuẫn ấy nhưng xây qua hỏi Ê-va, "người có làm điều chi vậy?"
          Ê-va cũng không chịu thành thật nhận tội. "con rắn dỗ dành tôi và tôi đã ăn rồi", là câu trả lời của Ê-va. Nhưng sự xảo trá và lường gạt của Sa-tan không thể bào chữa cho bà trước mặt Chúa. Lời biện minh của bà cũng không khá gì hơn của A-đam.
    Hình Phạt
          Vị quan tòa tiến hành việc thông qua bản án (Sáng. 3: 14-19). Sự giáng cấp dành cho chính con rắn. Không có loài vật nào có sự tương phản rõ rệt giữa khả năng khôn ngoan sắc sảo với sự bò trườn, vặn vẹo hạ cấp như con rắn. Sự phán quyết cuối cùng cũng dành cho Sa-tan, kẻ xúi dục những hành động của con rắn. Đấng Chí-tôn, giòng giống của người đàn bà, một ngày nào đó sẽ chà đạp đầu con rắn.
          Thượng-Đế tiên đoán sự đau khổ và phục tùng của người đàn bà. Sự thai nghén và sinh nở sẽ bị đau đớn. Người đàn bà cũng sẽ phục tùng dưới chồng mình.
          Những cực khổ thể chất,  làm lụng mệt nhọc,  những nan đề đầy chán nãn, và đấu tranh gian khỗ đã được định cho số phận người đàn ông, là người cũng bị xử là một tội phạm. Trước đây đất sanh hoa quả dễ dàng và dư dật. Bây giờ người đàn ông phải làm lụng khó nhọc để khiến đất sanh ra các thứ cần dùng cho đời sống.
          Gai gốc sẽ sanh sản thêm nhiều cho đến khi chúng trở thành một gánh nặng trong người và loài thú. Sách Gióp 31: 38-40 và Ê-sai 7: 23,24 đề cập đến gai góc nhưng là sự đoán phạt, và Chúa chúng ta nói về chúng như sự độc hại (Mat. 13: 7).
          Hơn nữa,  tội của A-đam đã làm cho tội lỗi truyền vào trong lòng giống loài người, khiến tất cả mọi người đều phải mắc tội.
    TỔNG KẾT
          Chỉ có Thượng-Đế biết chính xác thế giới đã được tạo dựng khi nào và như thế nào. Chính Ngài đã tạo dựng nên thế giới và đặt để loài người trong đó. Loài người hiện hữu bởi hành động tạo dựng trực tiếp của Thượng-Đế khiến loài người là tạo vật cao cấp vượt lên trên thế giới của động vật.
          Cá tính của loài người có một bản chất bao gồm ba khía cạnh - thân thể, tâm thần, và linh hồn. Thượng-Đế hình thành thân thể loài người từ bụi đất. Tâm thần và linh hồn của loài người hiện hữu khi Thượng-Đế hà sinh khí vào trong loài người. Linh hồn  thể hiện chính nó trong nhân cách và đạo đức của con người.
          Không có ai bên cạnh san sẻ vui buồn trong đời sống khiến A-đam-đam cảm thấy cô đơn. Thượng-Đế biết điều nầy và ban cho một người đàn bà làm bạn với ông. Người đàn bà cũng được tạo dựng bởi Thiên Chúa. Nàng được tạo dựng trong lúc người đàn ông ngủ, cho thấy chỉ có Thượng-Đế là Đấng Tạo Hóa.
          Là vị đại diện của Thượng-Đế, loài người cai quản các loài thú và giữ  khu vườn nơi họ ở.
          Nhưng Sa-tan tranh giành quyền sở hữu của loài người. Sa-tan, lấy hình con rắn, đến cảm dỗ người đàn bà. Nó làm cho người đàn bà nghi ngờ sự tốt lành của Thượng-Đế ,  phủ nhận sự chân thật của Ngài, và cố khám phá những bí mật của Thượng-Đế. Kết quả là người đàn bà không chống nổi sự cám dỗ và ăn trái cấâm của cây biết điều thiện và điều ác. Và rồi A-đam-đam cũng làm đúng như vậy.
          Thượng-Đế giáng hình phạt trên các bên liên hệ đến tội lỗi đầu tiên nầy. Con rắn bị nguyền rủa vàphải bò bằng bụng. Sau khi, Chúa Cứu Thế đến, Ngài sẽ chà đạp đầu con rắn. Người đàn bà phải chịu đau đớn trong sự sanh nở và phải phục tùng người đàn ông. Người đàn ông sẽ phải làm lụng vất vả lâu dài mới đáp ứng được nhu cầu đời sống.
    BÀI LÀM
    1.     Dựa trên sự nghiên cứu của bạn trong câu chuyện sáng tạo thế giới của sách Sáng Thế Ký,  bạn trả lời thuyết tiến hóa như thế nào?
    2.     Ba đặc điểm có thể quan sát được trong sự tạo dựng loài người là gì?
    3.     Tại sao Sa-tan ganh ghét với loài người?
    4.     Khung cảnh của chương 1 của sách Gióp gợi lên một khung cảnh tương tự như thế nào trước khi sự sa ngã của A-đam xảy ra?
    5.     Bằng những cách nào Sa-tan đã tạo  nghi ngờ sự tốt lành của Chúa?
    6.     Làm thế nào Sa-tan đã gây dậy lòng tò mò của Ê-va?
    7.     Mô tả ba bước đầu tiên trong sự cố ý không vâng lời của Ê-va?
    8.     Mô tả ba bước hoàn thành sự biểu lộ không kìm chế được của Ê-va đối với tội lỗi?
    9.     A-đam và Ê-va đã có những lời nào bào chữa cho tội lỗi của họ?
    10.  Thảo luận mức độ hậu quả của sự không vâng phục của A-đam?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Flynn, Leslie B.  What Is Man? IL :  Vistor Books,  1983.
    Youngblood, Ronald. Now It All Began. Ventura, CA:  Regal Books, 1980.

    Top
    Bottom of Form


    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 2 | CHƯƠNG 4 >>
    CHƯƠNG 3
    ĐỨC TIN VÀ TÁI SINH
    (Faith and Regenneretion)
    ĐỨC TIN
          Bản dịch Kinh Thánh "Tiếng Việt" định nghĩa đức tin trong sách Hê-bê-rơ 11: 1 là "sự biết chắc những điều mình đang trông mong, là bằng chứng của những điều mình chẳng xem thấy". Bản dịch Kinh Thánh "New American Standard" dịch là "Bấy giờ đức tin là sự đảm bởi của những điều trông mong, là sự tin chắc của những vật chẳng xem thấy".
          Đức tin là niềm tin dựa trên dữ kiện thật. Phúc-Âm là một xác nhận của những dữ kiện lịch sử rõ ràng mà các vị thánh thời Tân Ước tin rằng đã xảy ra. Sứ Đồ Phao-lô nói "Tôi công bố với anh em Phúc-Âm mà tôi đã rao giảng cho anh em" và rồi ông giải thích chính xác Phúc-Âm là gì, "Aáy là Chúa Chí-tôn chịu chết vì tội chúng ta theo Kinh Thánh; Ngài đã bị chôn,  đến ngày thứ ba, Ngài sống lại,  theo lời Kinh Thánh" (I Cô. 15: 1-4). Đây là ba sự kiện vĩ đại ; sự chết chuộc tội của Đấng Chí-tôn ; sự chôn; và sự phục sinh của Ngài.
          Nhưng đức tin vượt hơn cả việc nhận biết những sự kiện. Một người có thể biết tất cả về Đấng Chí-tôn như đã bày tỏ trong Kinh Thánh,  có thể tin cả lời trong Kinh Thánh là thật, nhưng vẫn có thể  không có Đức tin thật nơi Chúa Chí-tôn là Chúa Cứu Thế  của cá nhân mình. Sự đồng ý bởi tâm trí thì không giống như sự đầu phục của tấm lòng. Sa-tan và các thiên sứ sa ngã cũng tin nơi Thượng-Đế, tin đến mức độ họ run rẩy vì sợ Ngài (Gia-cơ 2: 19). Đức tin không phải chỉ là chấp nhận nhưng mà còn tin tưởng và ứng dụng những dữ kiện. Đức tin liên quan đến tình cảm và ýchí,  lẫn lý trí. Đức tin hòa hợp ý chí và sự thông hiểu.
          Đức tin là "sự tin chắc của những điều chắng xem thấy" Đức tin làm cho một linh hồn tìm kiếm đủ sức xâm nhập vào thế giới thiêng liêng. Đức tin là cội nguồn của mọi thành đạt thiêng liêng. "Aáy là nhờ Đức tin mà các đấng thuở xưa đã được lời chứng tốt" (Hê. 11: 2). A-bên, Hê-nóc, Nô-ê, Aùp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, và nhiều vị khác nữa mà tên tuổi của họ đã được khắc ghi trong danh sách của Kinh Thánh,  không phải vì sự giàu có hoặc là sự khôn ngoan hay là những thành đạt thế gian của họ, nhưng vì đức tin họ. Đức tin là đòi hỏi tối cao để nhận lãnh mọi ân huệ của Thiên Đàng. "Không có đức tin, thì chẳng hề có thế ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Thượng-Đế phải tin rằng có Thượng-Đế,  và Ngài là Đấng hay thưởng cho những kẻ tìm Ngài" (Hê. 11: 6)
    Đức Tin Cứu Rỗi (Saving Faith)
          Tội lỗi của A-đam đã đem sự chết vào trong dòng giống loài người. "Vì ngươi là cát bụi, ngươi sẽ trở về với cát bụi" (Sáng. 3: 19) là thiên lệnh ban cho đôi cha mẹ đầu tiên. Câu hỏi tối trọng mà mỗi người phải hỏi là, "Nếu một người chết, người đó sẽ sống lại nữa không?" (Gióp. 14: 14). Người ta có thể muốn điều nầy hôm nay và điều khác ngày mai, nhưng vào phút lâm chung một điều mà họ muốn hơn mọi điều khác là sự sống. Là điều chỉ có thể có qua Chúa Giê-xu Chí-tôn. "Ta đến hầu cho chiên được sự sống" (Giăng 10: 10)
          Đức tincứu rỗi đem lại sự  cứu rỗi khỏi hình phạt của tội lỗi (Giăng 3: 16-18), và niềm tin nơi một Chúa Cứu Thế duy nhất được chỉ định cho mục đích nầy. Không có đức tin nơi Chúa Giê-xu Chí-tôn,  người ta sẽ bị tước mất vĩnh viễn hạnh phước của thiên đàng(Giăng 3: 36). Người ấy phải vĩnh viễn chịu chung hình phạt  đã được dành cho ma quỉ và các sứ thần của nó (Mat. 25: 41).
          Những người có đức tin cứu rỗi thì tin bằng tấm lòng (Công. 16: 3), và xưng nhận bằng môi miệng (Mat. 10: 32). Với tấm lòng thì có sự nhận biết rằng Chúa Giê-xu Chí-tôn là đấng chết thế cho tội nhân; và với môi miệng thì có sự xưng nhận là mình đang ở trong một tình trạng tuyệt vọng, và xưng nhận Chúa Giê-xu Chí-tôn là Chúa Cứu Thế  cho cá nhân mình (Rô. 10: 8-11).
          Tại ba thập tự gía trên đồi sọ treo ba người đại diện cho dòng giống loài người (Lu. 23: 39-43). Hai kẻ bất lương có tội giống nhau, hình phạt giống nhau. Nhưng trong phút cuối cùng của họ,  một người chế nhạo Chúa cách độc ác, gọi Ngài là một kẻ dối gạt, không thể tự cứu chính mình và cứu hai tội phạm cùng bị chung một hình phạt; trong khi người kia quở trách sự phạm thượng của bạn mình và làm những điều cần thiết để sự cứu rỗi. Ông ta nhận biết công lý và sự đoán phạt của Thượng-Đế,  nhìn nhận tội lỗi của mình,  xưng nhận Chúa Cứu Thế, và nài xin sự cứu rỗi. Ở đây chúng ta thấy một người đang hấp hối có đức tin đủ để nhìn nhận Chúa Giê-xu là vua. Do đó Chúa nói với ông ta rằng:  "Hôm nay người sẽ ở với ta trong thiên đàng" (Lu. 23: 43).
    Đức Tin Sống (Living Faith)
          Đòi hỏi cần phải có đức tin không những để gìn giữ khỏi hình phạt tội lỗi mà còn để giải phóng khỏi quyền lực tội lỗi nữa. Một khi người ta hiểu được tình yêu của Thượng-Đế như đã thể hiện trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn, thì họ không nên tiếp tục sống trong tội lỗi. Vậy họ làm thế nào khi gìn giữ mình khỏi bị cám dỗ?
          Thượng-Đế dùng sự cảm dỗ để thử thách đức tin. Đức Chúa Trời không cám dỗ người ta vì Ngài không phải là tác gải của điều ác (Gia-cơ 1: 13,14), nhưng Ngài cho phép Sa-tan là như vậy. Thượng-Đế thử thách, nhưng Sa-tan cám dỗ. Hơn nữa, chúng ta có thể nhận biết những sự cám dỗ của Sa-tan, vì chúng quen thuộc với tất cả mọi người và chúng ta có thể chống lại được, vì có một lối thoát khỏi sự cám dỗ đã được hứa ban (I Cô. 10: 13). Người tin Chúa phải vui mừng giữa sự cám dỗ vì đó là bằng chứng của sự kỷ luật yêu thương của Thượng-Đế. (Gia-cơ 1: 2,3)
          Đấng duy nhất có thể giải phóng chúng ta khỏi cám dỗ là Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn (Hê. 2: 18; II Phi. 2: 9), là nguồn gốc và cuối cùng của đức tin chúng ta (Hê12: 2). Ngài đã bị cám dỗ đủ mọi cách như chúng ta và Ngài không phạm tội. Đức Tin nơi chiến thắng và quyền lực của Ngài là tấm khiên mà chúng ta "có thể chống lại những tên lửa của ma qủi" (Êph.  6: 16)
    Đức Tin Hành Động (Working Faith)
          Tội nhân được cứu rỗi bởi đức tin, không phải bởi việc làm công đức,  nhưng chính bởi việc làm mà họ thể hiện và chứng minh đức tin của mình. Cơ-Đốc Nhân là "việc Thượng-Đế làm ra, đã được dựng nên trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn để làm việc lành mà Thượng-Đế đã sắm sẵn trước cho chúng ta làm theo" (Êph. 2: 10). Mặc dù không được dựng nên trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn bởi việc lành, người tin Chúa được tạo dựng cho hoặc để làm việc lành (Tít 2: 14). Việc làm lành  không khiến ngưòi ta được nên công chính, nhưng người công chính thì làm việc lành (works do not justify people, but justified people work).
          Việc làm là bông trái của đức tin. Đời sống của một Cơ-Đốc nhân thụ động thì trống vắng và không có kết quả. Việc làm không phải là nền tảng nhưng là sự hoàn thành của đức tin. Ông Gia-cơ được gọi là sứ đồ của việc làm,  nhưng ông không hạ thấp sự quan trọng của đức tin(2: 14-16). Đức tin thật sẽ thể hiện chính nó bằng hành động. Gia-cơ dạy rằng nơi nào không cóviệc lành thì nơi đó không có một tôn giáo chân chính, và đức tin không có hành động thì không cógiá trị. Hành động phải được xem là bằng chứng của một người được xưng công chính.
    SỰ TÁI SINH
          Đức tin cứu rỗi và sự tái sinh không thể nào tách biệt được. Ngay giây phút người ta tin nhận Chúa Giê-xu Chí-tôn thì họ được sinh ra bởi Thượng-Đế. Sự yếu đuối của đức tin họ có thể khiến họ không biết sự thay đỗi, giống như những trẻ sơ sinh biết rất ít hoặc  không biết gì về chính chúng. Nhưng nơi nào có đức tin cứu rỗi,  nơi đó luôn có sự sinh lại, và nơi nào không có đức tin thì nơi đó không có sự tái sinh.
    Cần Thiết Của Sự Tái Sinh
        * Sự Bại Hoại Của Con Người
        Sự sa  ngã của A-đam trở thành quan trọng hơn khi chúng ta khám phá đó là sự sa ngã của chúng ta, vì dòng giống loài người đã thừa hưởng bản chất tội lỗi của A-đam(Giê. 17: 9). Như vua Đa-vít, một người hết sức yêu mến Thượng-Đế,  đã xưng nhận:  "Tôi sinh ra trong sự gian ác" (Thi. 51: 5). Phao-lô còn nói mạnh mẽ hơn khi ông nói rằng:  "vì sự  chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời" (Rô. 8: 7). Không phải chỉ có tính chất bại hoại thôi đâu, nhưng là sự bại hoại tận trong gốc rễ. Không phải chỉ có tính chất gian ác tận trong huyết phản (Rô. 7: 18). (It is not on ly corrupt, but corruption. It is not only wicked, but wickedness itself).
        * Sự  Thánh Khiết Của Thượng-Đế
        Khi A-đam và Ê-va đánh mất sự công chính nguyên thủy, họ tức khắc mất đi mối tương giao với Đấng Tạo Hóa mình (Hab. 1: 13). Không hề có ai nhận được thiên đàng cùng với tội lỗi mình. Không ai có thể thấy Chúa nếu không có tấm lòng trong sạch (Mat. 5: 8). Không ai có thể vào trong sự hiện diện thiêng liêng của Thượng-Đế nếu không phải là người dự phần trong bản tánh thiêng liêng (II Phi. 1: 4). Sự thánh khiết của Thượng-Đế đòi hỏi con cái Ngài phải thánh khiết.
        Chỉ khi nào loài người bắt đầu hiểu được bản tính thánh khiết bất biến của Thượng-Đế thì lúc đó họ mới nhận thức rằng với tình trạng tự nhiên thì họ hoàn toàn không xứng đáng để có mối thông công với Ngài.
        * Tính Chất Chắc Chắn Của Sự Chết
        Mọi người đều phải chết(Rô. 5: 12; 7: 5). Như Kinh Thánh đã chỉ rõ, một trong những hậu quả trực tiếp của tội lỗi là sự chết. Giữa sách Sáng Thế Ký chương I ghi lại sự tạo dựng A-đam và chương 3 ghi lại sự chết của ông ta, nỗi bậc là sự sa ngã của loài người và sự xâm nhập của tội lỗi.
        Loài người không thể làm gì để thắng hơn sự chết. Mặc dù có những tiến bộ khoa học, họ vẫn phải chết.
        Tuy nhiên,  Thượng-Đế đã dự liệu cho tình trạng nầy của loài người. toàn bộ chương trình được trình bày cách đơn sơ và kỳ diệu trong một câu Kinh Thánh quen thuộc, Giăng 3: 16. Sự sống vĩnh phước được ban cho những ai chấp nhận món quà yêu thương của Thượng-Đế bày tỏ trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn. Phần trình bày trong sách Rô-ma chương 5 nói rằng trong khi A-đam đem sự chết vào trong dòng giống loài người, thì Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn lại đem đến sự sống. Một chỗ khác trong sách Rô-ma 6: 23, cũng phác họa rõ ràng sự tương phản giữa sự chết và sự sống.
    BẢN CHẤT CỦA SỰ TÁI SINH (Natural Of The New Birth)
          Nói chính xác khi nào sự tái sinh diễn ra thì cũng khó như là chứng minh ngay giây phút nào trong bóng đêm biến thành buổi rạng đông. Sự tái sinh diễn ra thế nào thì không thể giải thích được(Giăng 3: 7,8), nhưng Kinh Thánh nói rằng nó xảy ra ngay tức khắc cũng giống như việc sáng tạo thế giới của Thượng-Đế. "Ngài phán, thì liền có y như vậy". Dù không biến sự tái sinh diễn ra khi nào bằng cách nào nhưng chúng ta biết chắc chắn sự tái sinh diễn ra bởi những bằng chứng đi kèm theo phép lạ nầy.
          Có thể là người ta cải tiến tình trạng con người họ đến một mức độ mà họ có thể bị đánh lừa để tin tưởng rằng họ đã có kinh nghiệm tái sinh. Có hàng ngìn người tốt nhưng chưa bao giờ được tái sinh và vẫn đang "chết trong sự quá phạm và tội lỗi mình". Vì thế cần phải biết về bản chất của sự tái sinh.
    Hơn Hẳn Cả Dòng Dõi Tự Nhiên
          Người Do Thái là dân tuyển chọn của Thượng-Đế nhưng được sinh ra bởi cha mẹ Do Thái thì vẫn không có đảm bảo của sự cứu rỗi. Ê-sai là con của sự giao ước nhưng ông ta đã bán quyền trưởng nam đổi lấy một bữa ăn (Hê. 12: 16,17). Na-đáp và A-bi-hu là hai con trai của thầy tế lễ thượng phẩm nhưng họ sống bất kính trước mặt Thượng-Đế đến nỗi phải bị tiêu hủy bằng lửa (Lê. 10: 1,2).
          Phước hạnh của việc được sinh ra trong gia đình tin kính Chúa không tự động ban cho chúng ta sự cứu rỗi. Sự tái sinh không phải là kết quả từ việc sinh sản của loài người hay từ quan hệ trần thế.
    Hơn Hẳn Cả Quyết Định Của Loài Người
          Sự tái sinh không phải là sự tự cải cách, mặc dù nhiều người muốn suy nghĩ như vậy. Sự giáo dục và khai sáng sẽ không làm cho tội nhân trở nên thánh. Loại người vô lại đê tiện nhất là vô loại có học thức, và nên tội phạm ghê tởm nhất chính là những kẻ đạo đức giả thông sáng (the meanest kind of scoundrel is an educated scoundrel . and the most detestable criminal is the enlightened hypocrite). Vua Giô-ách được giáo dục kỹ lưỡng bởi thầy tế lễ thượng phẩm  Giê-hô-gia-da, nhưng vừa khi bị quân sư tín cẩn nầy qua đời, Giô-ách liền đi vào đường lối gian ác( II Sử . 24: 2,17,18). Sau-lơ ở thành Tạt-sơ cũng được sự giáo dục kỹ lưỡng nhưng điều đó không giữ ông ta khỏi bách hại Hội Thánh (Phi. 3: 4-6).
    Hơn Hẳn Cả Quyết Tâm Loài Người
          Nhiều bậc cha mẹ tin Chúa muốn và thúc hối con cái họ kinh nghiệm sự tái sinh, nhưng sự tái sinh chỉ đến từ Thượng-Đế mà thôi. Nhưng cha mẹ, là người tin Chúa và muốn cho con cái cũng có cùng một kinh nghiệm tái sinh như mình, không nên ép buộc con cái quyết định tin Chúa quá sớm. Tốt hơn hết là tuân theo mạng lệnh của Thượng-Đế "trưởng dưỡng con cái trong sự nuôi nấng và khuyên dạy của Chúa" và làm theo lời Chúa trong sách Châm Ngôn 22: 6 "Hãy dạy trẻ thơ con đường nó phải theo, để khi nó già thì cũng không lìa khỏi con đường đó". Thay vì quyết tâm của con người mình thì hãy cho con cái tiếp xúc với đức tin sống động và đức tin hành động, hãy cầu nguyện thường xuyên và tin cậy nơi Thượng-Đế.
    Được Sinh Ra Bởi Thượng-Đế
          Sự tái sinh bắt đầu với Thượng-Đế và chấm dứt với Ngài. Đức tin xưng công chính là công việc Thượng-Đế,  bởi đó bản chất cũ bị đóng đinh trên Thật Tự Giá và người tin Chúa được khiến trở nên giống ảnh tượng của Chúa Giê-xu Chí-tôn (Êph.  2: 1,4,5), vì thế trở thành tạo vật mới là con cái của Thượng-Đế. Sự tái sinh là một tạo dựng mới. Người tin Chúa được sinh lại từ trên cao, không bởi giống hư nát, nhưng bởi giống không hư nát. Sự tái sinh là công việc siêu nhiên của Đức Thánh Linh (Giăng 3: 5)
    TÍNH CAO QUÝ CỦA SỰ TÁI SINH
          A-đam không phải là con được sinh ra bởi dòng dõi tự nhiên,  cũng không bởi quyết định hay bởi quyết tâm của loài người, nhưng bởi Thượng-Đế. Một người con được phục chức hay được tái sinh là một tạo vật kỳ diệu như A-đam . Không có gì cao quý cho bằng được nhận làm con của Thượng-Đế.
    Kẻ Dự Phần Của Bản Tình Thiêng Liêng (II Phi.1: 4)
          Những người không được tái sinh thì về mặt tri thức họ bị mù lòa bởi những đặc quyền thiêng liêng và về mặt tình cảm họ bị bại hoại. Trong sự tái sinh, Thượng-Đế ban truyền chính sự khôn ngoan và bản tính thánh khiết của Ngài. Là một bản tính suy nghĩ như là Thượng-Đế suy nghĩ, cảm xúc như là Thượng-Đế cảm xúc, và muốn như Thượng-Đế muốn.
    Thân Thể Trở Thành Đền Thờ Của Đức Thánh Linh (I Cô. 6: 19)
          Thật là điều gần như không thể tin rằng Đức Thánh Linh  hiện xuống ngự trong loài người. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng món quà chia tay của chúa cho các môn đồ là sự hiện diện vĩnh viễn của ngôi ba Thượng-Đế. Kễ từ lễ Ngũ Tuần Ngài không những là vị thống lãnh và hướng dẫn của Hội Thánh, mà còn là bạn đồng hành của mỗi cá nhân tín hữu.
    Người Được Tái Sinh Có Thể Chiến Thắng Thế Gian (I Giăng 5: 4)
          Trên con đường thẳng tiến đến thiên đàng, những Cơ-Đốc Nhân chân chính có một thách thức phải vượt qua. Họ phải vượt thắng thế gian vì thế gian ở dưới quyền thống trị của Sa-tan. Là vua chúa cầm quyền trên thế gian, Sa-tan nhận thấy sự cám dỗ thích hợp cho mọi người. Nụ cười của thế gian và trông mong những ân huệ từ Sa-tan đã khiến nhiều người phản nghịch Thượng-Đế. Nhiều người không công nhận Chúa Giê-xu Chí-tôn vì sợ hãi cái chau mày nhíu mặt của ma quỉ. Nhưng Cơ-Đốc Nhân đãlột bỏ lòng yêu thế gian và những vật của thế gian, và xưng nhận rằng họ là lữ hành, là khách lạ trên dất, đang hướng về một thành do Thượng-Đế tạo lập.
    Người Được Tái Sinh Trở Thành Kẻ Chinh Phục Tội Lỗi (IGiăng 3: 9)
          Được tái sinh không có nghĩa là đã đạt đến mức toàn hảo. Tội lỗi vẫn còn đó, nhưng nó không có quyền lực gì nữa. Bản tính mới được truyền qua trong sự tái sinh khiến thói quen tiếp tục tội lỗi không thể xảy ra được. Sống trong tội lỗi là trái nghịch với bản tính mới mà người ấy trở thành kẻ dự phần trong bản tính mới đó. Như toàn thể bản tính của Thượng-Đế ghét tội lỗi, thì những kẻ dự phần của bản tính thiêng cũng gướm ghét và xoay khỏi tội lỗi.
    Ngưòi Được Tái Sinh Yêu Thương Nhau (I Giăng 3: 14; 4: 7)
          Bầu không khí của thiên đàng là tình yêu thương. Đức Chúa Trời không bao giờ nói, "không nên,  không được, hay đừng" với các thiên sứ vì họ luôn luôn yêu thương Ngài với cả sự sống của họ. Những người từng trải sự tái sinh yêu thương kẻ thù cũng như bạn của họ và vì vậy minh chứng rằng họ là những kẻ dự phần của bản tính thiêng liêng. "Hãy nhìn xem các Cơ-Đốc Nhân yêu thương nhau thế nào?" là câu nhận xét của những người theo dõi đặc tính của các tín hữu Hội Thánh đầu tiên.
    TỔNG KẾT
          Đức tin và sự tái sinh là cách của Thượng-Đế cho loài người chiến thắng bản tính tội lỗi mà họ thừa hưởng từ A-đam.
          Đức tin là niềm tin dựa trên những sự kiện. Có ba loại đức tin:  Đức tin cứu rỗi, đức tin sống động,  và đức tin hành động.
          Đức tin cứu rỗilà nhìn nhận sự cứu rỗi khỏi hình phạt tội lỗi. Để cho loài người có được đức tin cứu rỗi họ phải trước nhất nhận biết công lý và sự đoán xét của Thượng-Đế. Thứ hai,  họ phải thú nhận tỗi lỗi. Và thứ ba,  họ phải xưng nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu  trước mặt những người khác.
          Đức tin  rất cần yếu không những để cứu khỏi sự chết, nhưng còn để sống cuộc đời Cơ-Đốc. Đức tin sống giải thoát người tin Chúa khỏi quyền lực tội lỗi, những cám dỗ của Sa-tan thử thách đức tin của chúng ta. Trong lúc chịu thử thách, người tin Chúa cần phải đến gần hơn với Thượng-Đế và Ngài sẽ ban sức mạnh cần thiết để đứng vững trong mọi cám dỗ đó.
          Đức tin hành động  là sự biểu lộ bên ngoài của Đức tin sống. Đức tin hành động không thể hiện chính nó nhiều qua lời nói nhưng qua việc làm. Việc làm không khiến con người trở nên công chính, nhưng con người công chính thể hiện qua việc làm.
          Đức tin cứu rỗi và sự tái sinh không thể tách riêng được. Nơi nào có Đức tin chân thật nơi đó luôn có sự tái sinh.
          Sự tái sinh rất cần thiết vì sự bại hoại của loài người, sự thánh khiết của Thượng-Đế, và tính chất chắc chắn của sự chết đòi hỏi con người phải đươc tái sinh.
          Giăng 1: 13 giải thích bản tính của sự tái sinh. Nó hơn hẳn cả dòng giỏi tự nhiên, hơn hẳn sự quyết định hay là quyết tâm của loài người. Nó là sự sinh ra bởi Thượng-Đế. Tái sinh là một công việc siêu nhiên của Đức Thánh Linh.
          Người được tái sinh trở thành kẻ dự phần của bản tính thiêng liêng, thân thể họ là đền thờ của Đức Thánh Linh, họ có thể chiến thắng và chinh phục quyền lực của tội lỗi và thế gian,  và họ yêu thương những người khác.
    BÀI LÀM
    1.     Định nghĩa đức tin trong Kinh Thánh là gì?
    2.     Hãy định nghĩa đức tin cứu rỗi (saving faith)
    3.     Đức tin cứu rỗi được minh chứng như thế nào trong trường hợp của người tội phạm biết ăn năn trên Thập tự giá ở Đồi Sọ?
    4.     Cho một thí dụ cụ thể của Đức tin sống (living faith)?
    5.     Hãy định nghĩa đức tin hành động (working faith)?
    6.     Có quan hệ gì giữa Đức tin và sự tái sinh?
    7.     Tại sao tái sinh là điều cần thiết?
    8.     Sự bại hoại của loài người có nghĩa gì?
    9.     Sử dụng Giăng 1: 13 để giải thích bản tính của sự tái sinh?
    10.  Loài người đã cố gắng thế nào để cứu họ?
    11.  Về phương diện nào Cơ-Đốc Nhân là một tạo vật kỳ diệu như A-đam?
    12.  Người được tái sinh có thể chiến thắng những gì?
    13.  Làm thế nào bạn giải thích về sự tái sinh cho một người chưa được cứu?
    14.  Làm thế nào một người có thể kinh nghiệm sự cứu rỗi trong Chúa Giê-xu Chí-tôn?


    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Chafer,  Lewis S . Salvation . Grand Rapids :  Zondervan Pub. House. 1972.
          Ryrie, Charles C. A-dam Survey of Bible Doctrine. Chicago:  Moody Press,1972



    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 3 | CHƯƠNG 5 >>
    CHƯƠNG 4
    SỰ XƯNG CÔNG CHÍNH VÀ NHẬN LÀM CON
    (Justification and Adoption)

    SỰ XƯNG CÔNG CHÍNH
          Sự xưng công chính là một từ ngữ luật pháp ám chỉ sự làm minh bạch cho thanh danh một người nào đó, đạt được một bản án thuận lợi, hoặc là của tòa án, của dư luận, hay là của lương tâm. Sự xưng công chính là việc dành cho người ác chứ không phải cho người công chính. Kể từ đây, sự xưng công chính là hành động pháp lý của Thượng-Đế bởi đó tội nhân nào đặt đức tin nơi Chúa Giê-xu Chí-tôn nhận Ngài làm Chúa Cứu Thế và chủ của  mình thì sẽ được tuyên bố là công chính trước mặt Thượng-Đế và được giải phóng khỏi tội lỗi và hình phạt.
    Tiến Trình Của Việc Xưng Công Chính
          Tiến trình của sự xưng công chính rất đơn giản cho tất tất cả những ai hiểu và đón nhận và ân điển của Thượng-Đế. Nhưng bản chất tội lỗi đã làm cho loài người khó nhận biết được tầm mức của tình yêu và sự nhận từ của Thượng-Đế, khó tiếp nhận những ân huệ mà mình không đáng nhận từ Thượng-Đế.
          Tiến trình của sự xưng công chính gồm có sự tha tội, việc áp dụng sự công chính của Chúa Giê-xu Chí-tôn, và sự đòi hỏi phải có đức tin.
        Sau đây là các câu Thánh Kinh cho biết Thượng-Đế sẵn lòng tha tội và thay đổi hình phạt chết cho con người:  Thi. 130: 4; Mi.7: 18,19; Công. 13: 38,39; Rô.8: 1,33,34; Côl. 2: 13,14.
          Mọi người đều đã phạm tội. mọi tội đều xúc phạm đến Đức Chúa Trời. Bản tính thánh thiện của Ngài chống lại tội lỗi. Nếu tất cả tội lỗi của một đời người được ghi lại, thì người ta sẽ có được một bản liệt kê dài gần như vô tận, vì "chẳng có một người công chính nào hết, dẫu một người cũng không" (Rô. 3: 10).
          Chính Thượng-Đế là Đấng xưng công chính cho loài người. loài người không thể tự mình xưng mình công chính được. Chỉ nhờ sự chết và chuộc tội của Chúa Giê-xu Chí-tôn mà Thượng-Đế có thể tẩy sạch tội nhận và xưng họ công chính hoàn toàn. Thật là kỳ diệu, Thượng-Đế, Đấng kịch liệt ghét tội lỗi mà lại có thể yêu thương tội nhân nhiều đến như thế. Sự xưng công chính hơn cả sự xưng ân xá. Tội nhân rất cần được giải thoát khỏi tội để được cứu khỏi sự đáng phạt của một Thượng-Đế thánh và công chính. Tội nhân đã được tha thứ thì nhận lãnh nhiều quyền lợi hơn cả một can phạm được thả. Sự công chính của Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn, con yêu quý của Thượng-Đế,  được kể vào cho người tội được tha ấy (Rô. 3: 22; 5: 17-21).
          Một thí dụ cụ thể của nguyên tắc này được thấy trong lá thư sứ đồ của Phao-lô gỏi cho ông Phi-lê-môn tại thành Cô-lô-se đề cập đến ông Ô-nê-sim, người nô lệ bỏ trốn khỏi Phi-lê-môn. Ô-mê-sim đã ăn cắp một số tiền của chủ mình và trốn đến thành La Mã tiêu xài phung phí. Nhưng trong khi Ô-nê-sim đủ sức trốn chủ mình trong thành phố đồ sộ này, thì ông vẫn không thể trốn khỏi Đức Chúa Trời. Qua sự giảng dạy của Phao-lô, Ô-mê-sim tin Chúa. Ăn năn về tội lỗi của mình, Ô-nê-sim chuẫn bị trở về và đến bù lại cho chủ. Ông mang theo một lá thư quan trọng của Phao-lô viết cho Phi-lê-môn về sự thay đổi lớn lao đã xảy ra cho ông Ô-nê-sim và có lời yêu cầu như sau:  "Nếu người có làm hại anh hoặc mắc nợ anh điều chi, thì hãy cứ tính cho tôi" (Phi-lê-môn 18).
          Thượng-Đế chập nhận người tin Chúa qua Chúa Giê-xu Chí-tôn,  và trong bất cứ trường hợp nào người tin Chúa có làm điều gì sai trật với Thượng-Đế thì Chúa Giê-xu Chí-tôn đã gánh chịu tội lỗi và hình phạt thay cho rồi (I Cô. 1: 30). Những gì người tin Chúa thiếu nợ Thượng-Đế về sự vâng phục trọn vẹn mà không thể nào trả nổi,  thì Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn đã trả thay hết.
          Đức tin cứu rỗi là điều kiện cho tất cả sự tái sinh lẫn sự xưng công chính. Phao-lô dùng cuộc đời Áp-ra-ham làm thí dụ của sự xưng công chính bởi đức tin (Rô. 4). Ông nói rằng sự công chính đã được áp dụng, kể vào,  và qui cho phụ tổ phụ Áp-ra-ham không dựa vào việc làm công đức. Áp-ra-ham không bao giờ chất vấn những lời hứa của Thượng-Đế,  dù những lời hứa này trông dường như xa vời và không thể xảy ra được. Ông hoàn toàn tin cậy rằng bất cứ điều gì Thượng-Đế  đã hứa Ngài sẽ làm thành điều đó(v. 21). Đây là loại lòng tin cậy Thượng-Đế mà người tin Chúa phải có thể được xưng công chính.
          Sự công chính là một quà tặng miễn phí của Đức Chúa Trời (I Cô. 6: 11),  do ân sủng của Chúa mà quà tặng này được miễn phí(Rô. 3: 24). Thượng-Đế "làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi trong các nơi trên trời trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn,  dầu cho về đời sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển này, mà Ngài đã bởi lòng nhân từ đã dùng ra cho chúng ta trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn" (Êph.  2: 6,7).
          Cách duy nhất để một Thượng-Đế công chính và công bình có thể tha tội là phải cung cấp một Đấng Vô Tội để thay thế (Ês. 53: 11). Bỏ qua tội lỗi sẽ làm tiêu hủy sự thành khiết của Ngài và sẽ đem sự hỗn độn đạo đức vào trong thế gian. Chỉ bởi sự chết của Vị Con toàn hảo của Thượng-Đế mới có thể thay hình phạt cho cả nhân loại (Rô. 5: 9,11; II Cô. 5: 21). Những lễ vật thời Cựu Ước báo trước một lễ vật tối cao sẽ đến vì "không có sự đổ huyết thì không có sự tha tội" (Hê. 9: 22-28; I Giăng 1: 7).
    Kỳ Diệu Của Sự Xưng Công Chính
          Sự xưng công chính của Thượng-Đế có nghĩa hơn cả sự ân sá. Sự xưng công chính đem lại cứu rỗi và an ninh, bao gồm cả sự bình an, vui tươi,  và vinh hiển đời đời.
          Thập tự giá đã chấm dứt sự thù địch giữa Thượng-Đế và loài người. ngay giây phút tội nhân tin nhận Chúa Giê-xu Chí-tôn, họ liền được xưng công chính và hòa thuận lại với Thượng-Đế. Điều nầy không phải là một cuộc đình chiến hay là sự giải giáp, nhưng là một mối tương giao liên tục và trường tồn.
          Niềm vui được xưng công chính xuất phát từ hy vọng chắc chắn của một tương lai rực rỡ và là di sản đặc biệt của Cơ-Đốc Nhân. Trái lại, "vô vọng" là đặc điểm của những ai không có Chúa Giê-xu Chí-tôn. Trong tất cả mọi người thì người tin Chúa là người vui sướng và hạnh phúc nhất. Họ được hòa thuận với Thượng-Đế và sẽ vui hưởng Ngài mãi mãi.
          Chúa đã bảo cho các môn đệ Ngài:  "Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian" (Giăng 16: 33), và những người đã được xưng công chính hiểu mục đích của Ngài. Nhận biết được quyền làm con của Thượng-Đế sẽ thay đổi thái độ của người tin Chúa đối với sự đau khổ. Người công chính biết rằng "Những sự đau khổ bây giờ chẳng đáng so sánh với sự vinh hiển hầu đến, là sự sẽ được bày ra cho chúng ta". (Rô-ma 8: 18).
          Chúa Giê-xu Chí-tôn trong lời cầu nguyện tạm biệt của Ngài đã xin cho các môn đồ được ở với Ngài để làm kẻ dự phần của vinh hiển Ngài (Giăng 17: 22-24). Không gì có thể so sánh với ân điển kỳ diệu của Chúa Cứu Thế Giê-xu là Đấng bằng lòng cho phép loài nguời dự phần trong sự vinh hiển Ngài.
    SỰ NHẬN LÀM CON
          Đây là một từ ngữ La Mã vì sự nhận làm con nuôi được ít biết đến giữa vòng người Do Thái. Từ ngữ nầy có nghĩa là sự tình nguyện nhận một đứa trẻ của cha mẹ khác làm con của mình, và ban cho nó mọi đặc quyền của một đứa con ruột. Chữ nầy được dùng cho người tin Chúa khi câu hỏi về quyền hạn, đặc ân, và sự thừa hưởng gia sản được đặt ra. Sự việc người tin Chúa được Thượng-Đế nhận vào làm con trong gia đình Ngài bày tỏ ân sủng của Thượng-Đế và ban cho người tin Chúa một địa vị mới. Họ không phải là nô lệ nhưng là con, có mọi quyền của con cái cũng như được thừa hưởng gia tài từ cha.
    Những Người Được Nhận Làm Con
     * Quốc Gia Do Thái
          Sứ Đồ Phao-lô nói:  " Những người dân Do Thái,  là dân được sự nhận làm con nuôi" (Rô. 9: 4). So sánh câu nầy với Phục Truyền 43: 1, rõ ràng đây là sự đề cập đến người Do Thái là dân tuyển chọn của Thượng-Đế. Thượng-Đế phán cùng dân Do Thái,  "Ta đã chuộc ngươi, Ta đã gọi tên ngươi bằng tên Ta; ngươi thuộc về Ta".
          Quyền năng bảo vệ và giải phóng kỳ diệu của Thượng-Đế đã được thi thố trên dân Do Thái. Những lời hứa quý giá của Ngài ban cho họ. Họ là con cái bởi sự lựa chọn của Ngài. Nhưng họ đã chọn điều khác. Họ xây lưng nghịch cùng Thượng-Đế là Cha họ, và hoàn tất sự phủ nhận Thượng-Đế qua việc chối bỏ Đấng Cứu Chuộc mà Ngài đã hứa, Con của Thượng-Đế.
    * Nguời Tin Chúa
          Tấm lòng yêu thương của Thượng-Đế vẫn luôn mong mỏi có một dân riêng của Ngài, là dân mà Ngài đổ xuống ân điển tràn tuôn. Vì thế Thượng-Đế mở cánh cửa cho người ngoại bang. "Nhưng hể ai tin nhận Ngài thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Thượng-Đế,  và ban cho những kẻ tin Danh Ngài" (Giăng 1: 12). Dân Do Thái là con của Thượng-Đế nhưng bây giờ dưới ánh sáng Phúc-Âm thì mỗi cá nhân tín hữu, dù là Do Thái hay ngoại bang đều được nhận làm con.
          Được nhận làm con sẽ được ban cho một bản tính tin kính (Ga. 4: 6) - Tất cả những ai được nhận vào làm con trong gia đình của Thượng-Đế đều được dự phần trong bản tính Ngài vì Ngài sẽ làm cho các con cái Ngài đều giống Ngài.
          Được nhận làm con sẽ được ban cho quyền bình đẳng với tất cả mọi người con (Ga. 4: 7) - Tất cả con cái Thượng-Đế đều là kẻ kế tự. Trong một vài quốc gia, các người con không được chia gia tài của cha cách đồng đều trừ khi cha làm di chúc như vậy; thường người con cả sẽ là người kế tự. Trong gia đình của Thượng-Đế tất cả con cái Ngài được tuyên bố là kẻ đồng kế tự với Chúa Giê-xu Chí-tôn, là Con đầu lòng của Thượng-Đế (Rô. 8: 17).
          Được nhận làm con thì được ban cho mối tương giao với Chúa (II Cô. 6: 17,18) - Sự nhận làm con liên hệ đến mối thông công Cha con. Sự nhận làm con là một định ước đời đời; chỉ khi nào người tin Chúa phân rẽ khỏi tội lỗi, hướng lòng yêu mến về những điều trên trời, thì họ mới có thể biết được mối tương giao giữa cha với con .
    Thời Điểm Của Sự Nhận Làm Con
          Khi nào sự nhận làm con trong gia đình thiên đàng xảy ra? sự nhận làm con là một hành động ở quá khứ, hiện tại,  và tương lai.
    * Đời Sống Trong Chương Trình Của Thượng-Đế
          Sự chết hy sinh của Chúa Giê-xu Chí-tôn và sự nhận người tin Chúa làm con đã được Thượng-Đế hoạch định lâu đời trước khi các việc nầy xảy ra. Thượng-Đế,  trước khi tạo lập thế giới, không những đã chọn có mọt gia đình thiên thượng của những người sanh ra trên đất, nhưng Ngài còn biết trước ai sẽ được nhận làm con (Êph. 1: 4,5).
    *  Được Nhận Khi Tin
          Hành động nhận làm con thật sự không thể xảy ra cho một người cho đến khi người ấy được tái sinh, có nghĩa là cho đến khi người ấy tin chọn vẹn nơi Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn để được sự cứu rỗi. Một Thượng-Đế thánh khiết không thể nào nhận vào gia đình Ngài một đứa con không biết ăn năn. Tuy nhiên, sự nhận làm con xảy ra ngay giây phút người ấy tin nhận Chúa Giê-xu Chí-tôn. Người tin Chúa có quyền được làm có ngay trong hiện tại. (Ga. 3: 26; I Giăng 3: 2).
          Nhưng làm thế nào sự tiền định của Thượng-Đế cho những người được nhận làm con (Êph.  1: 5) có thể điều hòa với ý chí tự do của con người quyết định chọn sự nhận làm con? (Giăng 1: 12). Giả sử trên cánh cửa của một tòa nhà đồ sộ có viết hàng chữ:  BẤT CỨ AI MUỐN HÃY CỨ VÀO. Một người nhận lời mời ấy mới bước vào. Nhưng khi vào người ấy thấy phía bên trong cánh cửa có hàng chữ khác như:  ĐƯỢC TIỀN ĐỊNH ĐỂ NHẬN LÀM CON. Người ấy cảm thấy thỏa lòng. Người ấy chẳng có hàng chữ nào sai cả. Kẻ không tin không thể hiểu được sự nhận làm con này. Mối quan tâm trước hết của người chưa được tin là sự cứu rỗi,  nhưng một khi chấp nhận chương trình đại lượng của Thượng-Đế người ấy học biết rằng không những mình được tái sinh và xưng công chính, mà còn được nhận vào làm con trong gia đình của Thượng-Đế.
    * Hoàn Tất Khi Chúa Tái Lâm
          Sự mặc khải trọn vẹn của địa vị làm con Đức Chúa Trời của tín hữu được dành cho một ngày trong tương lai (Êph. 1: 10,11). Ngay trong thế gian nầy người tin Chúa chưa được người ta chấp nhận là con của Thượng-Đế toàn năng,  nhưng một ngày nào đó trong tương lai họ sẽ xuất hiện giống như Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn (Cô. 3: 4; I Giăng 3: 1,2).
    KẾT QUẢ CỦA SỰ NHẬN LÀM CON
    Không Còn Ở Dưới Gia-sư Hoặc Nô Lệ (No Longer Under Tutors Or Bondage)
          " Nhưng sau khi đức tin đã đến, chúng ta không còn ở dưới gia sư nữa" (Ga. 3: 25). Từ ngữ  Hy-lạp "gia sư" (tutor) dùng để chỉ một người nô lệ tín cẫn được giao phó chăm sóc một đứa con của chủ cho đến khi nó tròn 12 tuổi. Người nầy, sẽ gìn giữ đứa trẻ khỏi những điều xấu về mặt đạo đức và thể chất, và thường xuyên theo sát đứa trẻ. Người nầy ra lệnh. cấm đoán đứa trẻ, và giới hạn sự tự do của nó, nhằm huấn luyện cho đứa trẻ trách nhiệm của người trưởng thành. Như vậy, luật pháp được dùng dẫn người ta đến Đấng Chí-tôn để chỉ cho họ thấy tội lỗi và sự đoán phạt, và qua đó họ có thể nhận biết nhu cầu cần có một Đấng Cứu Chuộc. Mục đích nầy đã được hoàn tất, người ta không còn ở dưới luật pháp nữa nhưng được nhận làm con trưởng thành khi họ được tái sinh.
          Dân Do Thái bị đặt dưới luật pháp và như vậy thường xuyên ở dưới sự nô lệ và sự hãi do thiếu sự vâng phục trọn vẹn. Đức Giê-hô-va dạy một dân tộc tội lỗi về sự thánh khiết của Ngài,  và họ chỉ có thể đến gần Ngài bằng cách dâng tế lễ mà thôi. Nhưng khi Chúa Chí-tôn đến,  mọi sự đều khác hẳn.
    Nhưng Bây Giờ Là Con Của Thượng-Đế
          "Lại nếu chúng ta là con cái, thì cũng là kẻ kế tự; kẻ kế tự Thượng-Đế và là kẻ đồng kế tự với Đấng Chí-tôn" (Rô. 8: 17). Nếu một người thật sự là con của Thượng-Đế người ấy sẽ trở thành kế tự của Thượng-Đế. Con cái thừa hưởng gia sản của cha mẹ vì chúng được sanh ra trong gia đình đó, chứ không phải vì chúng có công trạng gì. Cha mẹ chúng để lại gia tài cho chúng. Trong câu chuyện vị quan trẻ giàu có,  vị quan này đã hỏi Chúa Giê-xu, " Tôi phải làm gì để được thừa hưởng sự sống đời đời?" Đây là một câu nói mâu thuẫn! Chúa đã ban ơn phước tuôn tràn muôn đời cho những người tin Chúa là những người đồng kế tự với Chúa Giê-xu Chí-tôn.
    PHƯỚC HẠNH CỦA SỰ NHẬN LÀM CON
    Một Gia Đình Thiên Thượng
          Được nhận làm con trong gia đình thiên thượng sẽ được ban cho tên, cho giống, và cho tình yêu thương của gia đình.
          Làm thế nào một người có thể giống Thượng-Đế?  điều nầy thường không thể xảy ra được cho loài người,  nhưng giống Đức Chúa Trời là giống của Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn, là "hình bóng của bản thể Ngài" (Hê. 1: 3). Chúa Giê-xu Chí-tôn là Thượng-Đế bày tỏ chính Ngài trong ngôn ngữ mà loài người có thể hiểu được. Chúa Giê-xu Chí-tôn là khuôn vàng thước ngọc gia đình thiên thượng. Làm "kẻ bắt chước Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn, Chúa chúng ta, theo ý nghĩa chân chính của Kinh Thánh tức là để lộ ra những đặc tính của gia đình thiên thượng.
          Cơ-Đốc Nhân không thể cầu nguuyện "lạy Cha của chúng con" và rồi khinh thường anh em mình. Tình yêu thương gia đình đòi hỏi họ sống và cư sử với nhau như là anh chị em. Giống như Chúa, họ phải yêu thương những người khác ngôn ngữ và phong tục, ngay cả những người chưa biết Cha trên trời (Giăng 13: 35; Rô. 5: 5; I Giăng 3: 14).
    Cha Thiên Thượng
          Chúa Giê-xu Chí-tôn dạy các môn đồ của Ngài cầu nguyện rằng, "Lạy Cha chúng con ở trên trời", để họ có thể hiểu và thích nghi với sự quan phòng, yên ủi, và sửa trị của Thượng-Đế. Vì Thượng-Đế là Cha Của Cơ-Đốc Nhân nên Ngài nghe, Ngài đáp lời cầu nguyện và cung cấp mọi sự cần dùng của họ. (Mat. 7: 11).
          "Đức Giê-hô-va thương xót kẻ kính sợ Ngài, khác nào cha thương xót con cái mình vậy" (Thi. 103: 13). Sự thương xót của Ngài đi cùng  với sự yên ủi trọn vẹn của Ngài. "Ta, chính ta, là Đấng Yên Ủi các ngươi" (Ê-sai 51: 12). Sự yên ủi của một người cha trần gian nhiều lắm cũng chỉ có thể là tạm thời. Trong cuộc sống không thể nào tránh khỏi sự buồn rầu và khổ sở,  nhưng "Thượng-Đế của mọi sự yên ủi. .yên ủi chúng tôi" (II Cô. 1: 3,4).
          Nếu Chúa Giê-xu Chí-tôn, là con Thượng-Đế,  mà phải chịu đau khổ để những người tin Chúa có thể được nhận vào làm con trong gia đình của thiên đàng, thì những người con nuôi làm sao có thể mong được đối xử tốt hơn? "Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình". Tại sao Cơ-Đốc Nhân lại mong rằng Thượng-Đế sẽ trưởng dưởng những đứa con nuôi của Ngài với tình thương ít hơn và kỹ luật nghiêm minh hơn là Ngài đối với con độc sanh của Ngài? Thượng-Đế phán, "Phàm những kẻ yêu ta thì ta quở trách sửa phạt" (Khải. 3: 19; Hê. 12: 5-11), và Ngài thường xuyên sửa trị con cái dấu yêu của Ngài vì lợi  ích của họ.
    Di Sản Thiên Thượng
          Vì Cơ-Đốc Nhân là con nuôi của Thượng-Đế nên thiên đàng là tài sản thừa kế của họ. Sự di sản Thiên Phụ ban cho để làm bằng chứng của tình yêu Ngài,  thì không hề hư nát và hoen ố.
          Di sản nầy sẽ không hư mất như những gia sản trần gian. Nó là một sở hữu đời đời mà không có mối mọt hay ten rét nào có thể ăn mòn, hoặc là trộm cướp nào có thể lấy mất được.
          Di sản này sẽ không bao giờ mất vẻ sáng chói và huy hoàng của nó. Mão miện vinh hiển, dù đã đội hàng triệu đời,  vẫn không hề phai tàn. Những con đường bằng vàng sẽ không bao giờ mất nước bóng láng của nó. Con cái Thượng-Đế sẽ không hề mệt mỏi trên Thiên Đàng.
    TỔNG KẾT
          Sự công chính là môït hành vi của Thượng-Đế mà nhờ đó những tội nhân tin nhận Chúa Chí-tôn làm Chúa Cứu Thế và Chủ thì được tuyên bố là công chính trước mắt Ngài và được tự do khỏi tội lỗi và hình phạt.
          Tiến trình của sự xưng công chính gồm ba bước. Bước thứ nhất, là sự tha tội. Vì mọi người đều đã phạm tội nên mọi người cần sự tha tội của Thượng-Đế. Bước thứ hai,  là việc áp dụng sự công chính của Chúa Chí-tôn cho người tin. Sự xưng công chính hơn cả sự tha tội. Khi tội nhận chấp nhận sự tha tội của Thượng-Đế họ khám phá ra rằng sự công chính của Đức Chúa Giê-xu đã được kể vào cho họ. Cuối cùng, tiến trình của sự công chính đặt điều kiện trên đức tin. Khi tội nhân được xưng công chính, họ trở nên tin tưởng hoàn toàn rằng bất cứ điều gì Thượng-Đế đã hứa, Ngài sẽ làm thành. Họ chấp nhận sự xưng công chính là một món quà miễn phí của Thượng-Đế qua sự đổ huyết của Chúa Giê-xu Chí-tôn.
          Khi tội nhân được xưng công chính thì họ nhận được nhiều ơn phước. Trong số các ơn phước nầy thì có:  Sự hòa thuận với Đức Chúa Trời, niềm vui, và được ban cho sự vinh hiển đời đời. Họ được nhận vào trong gia  đình của Thượng-Đế với đầy đủ quyền hạn và đặc ân của con cái.
          Những kẻ dự phần của sự nhận làm con trong thời Cựu Ước là dân Do Thái. Nhưng khi họ từ chối Đức Chúa Chí-tôn, Thượng-Đế mở rộng ra cho hết thảy mọi người tin.
          Từ buổi ban đầu Thượng-Đế đã hoạch định sự nhận làm con. Ngài hoạch định rằng sự nhận làm con sẽ xảy ra vào giây phút một người tin nhận sự cứu rỗi của Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn. Tuy nhiên,  sự măïc khải trọn vẹn của địa vị làm con sẽ không hoàn tất cho đến khi Chúa Chí-tôn trở lại, lúc đó những người tin Chúa sẽ được làm cho trở nên giống như Ngài.
          Khi một người tin Chúa được nhận vào trong gia đình của Thượng-Đế họ không còn ở dưới luật pháp nữa, nhưng họ được nhận làm con. Họ không còn nô lệ cho sự sợ hãi vì không giữ luật pháp trọn vẹn, nhưng bây giờ họ là con của Thượng-Đế và là kẻ đồng kế tự với Chúa Giê-xu Chí-tôn.
          Khi những người tin được Thượng-Đế nhận làm con,  thì họ trở thành thi thể của gia đình thiên thượng. Họ mang tên họ của Đức Chúa Trời, có những nét giống gia đình Ngài,  và chia sẻ tình yêu thương của gia đình Ngài. Là con cái Thượng-Đế Cơ-Đốc nhận được sự quan phòng, yên ủi, và sửa trị của Ngài. Sau cùng là Cơ-Đốc nhân được một di sản thiên thượng. Để làm bằng chứng của tình yêu Ngài,  vị Cha Thiên Thượng ban cho con cái Ngài Thiên Đàng, một di sản không hư nát không ô uế,  và không phai tàn.
    BÀI LÀM
    1.     Sự xưng công chính có nghĩa gì trong liên hệ với vị trí của tội nhân trước mặt Thượng-Đế?
    2.     Mô tả tiến trình mà nhờ đó tội nhân được xưng công chính?
    3.     Aùp dụng sự xưng công chính của Chúa Giê-xu Chí-tôn nghĩa là gì?
    4.     Đức tin liên hệ như thế nào với sự xưng công chính?
    5.     Sự nhận làm con nuôi có nghĩa gì trong liên hệ với người tin Chúa?
    6.     Trong sự nhận làm con nuôi của người tin Chúa thì họ được ban cho những quyền lợi gi?
    7.     Sự nhận làm con nuôi liên hệ như thế nào nào với quá khứ, hiện tại và tương lai?
    8.     Viết định nghĩa của bạn về sự xưng công chính và sự nhận làm con nuôi?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Henry,  Carl H. F. (ed) . Fundemental of the faith . Grand Rapids:  Zondervan Pub . House, 1969. Chapter 9.
          Ryrie, Charles C.A Survey os the Bible Doctrine. Chicago:  Moody Press, 1972. Chapter 7.

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 4 | CHƯƠNG 6 >>
    CHƯƠNG 5
    THỜ PHƯỢNG VÀ CẦU NGUYỆN
    (Worship and Prayer)
    THỜ PHƯỢNG
          Một chức năng quan trọng của Hội Thánh là lễ thờ phượng chung (Public worship service). Hàng ngày các phần tử trong trong gia đình nhóm họp lễ bái với nhau(family worship). Nhiều người dành ra thì giờ nhất định mỗi ngày cho sự thờ phượng riêng Tân Ước. Thờ phượng là gì? Đọc lời Chúa, lắng nghe một bài giảng, cầu nguyện, và ca hát là những yếu tố đóng góp cho sự thờ phượng, nhưng những điều nầy có thể được thực hiện mà không có sự thờ phượng, nhưng những điều nầy có thể được thực hiện mà không có sự thờ phượng.
          Từ ngữ "thờ phượng" ra chữ Do Thái trong Cựu Ước có nghĩa là "cúi xuống". Tuy nhiên,  thờ phượng không phải một hành động của thân thể hay sự vận động trí óc. Thờ phượng,  như đãđược dùng trong Thánh Kinh,  là tập trung tư tưởng hướng về Đức Chúa Trời, suy nghĩ về sự quyền năng và uy nghi của Ngài, và như vậy là xoay sự chú ý ra khỏi con người mình. Thờ phượng là một sinh hoạt thiêng liêng. "Thượng-Đế là thần; ai thờ lạy Ngài phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ lạy" (Giăng 4: 24).
          Nhu cầu thờ phượng thì cũng tự nhiên như nhu cầu được bảo vệ yêu thương. Loài người thờ phượng nhiều thứ để cố gắng thõa mãn cho nhu cầu nầy mới được đáp ứng đầy đủ.
    Đối Tượng Của Sự Thờ Phượng
    * Thượng-Đế
          Rõ ràng ngay từ đầu của 10 điều răn đã cho biết là loài người thờ lạy các thần khác (Xuất. 20: 3). Do Thái,  một dân tộc được rất nhiều sự ưu đãi, được Thượng-Đế bày tỏ cho biết uy nghiêm và sức mạnh của Ngài,  đã bị cấm thờ phượng các thần khác (Mat. 4: 10). Mặc dù có sự cảnh cáo nghiêm trọng bằng bất cứ người nào thờ phượng mặt trời,  mặt trăng hoặc là thiên binh đều bị ném đá cho chết (Phục. 17: 2-5), sự thờ phượng mặt trời vẫn tái diễn giữa vòng tuyển dân của Thượng-Đế.
          Các quốc gia chung quanh nước Do Thái thờ rất nhiều thần, một vật thống trị mạnh mẽ nhất trong thiên nhiên, được thờ lạy trên khắp các nước của thế giới ngày xưa. Người Ả Rập dường như  tỏ lòng tôn kính trực tiếp với mặt trời mà không cần xen vào những bức tượng hay là dấu hiệu gì cả (Gióp 31: 26-28). Tại Ai Cập, mặt trời được thờ lạy dưới danh hiệu là Ra. Thần Ba-anh của dân Phê-ni-xiên, thần Mô-lóc của dân Am-môn, thần Ha-đát của dân Sy-ri, và thần Bên của dân Ba-bi-lôn, cũng đều là những vị thần của mặt trời.
          Người Do Thái không những bị cấm thờ phượng tạo vật,  kể cả loài người và thiên sứ (Khải Huyền 22: 8-9) thay cho thờ Đấng Tạo Hóa, mà còn không được phép làm các ảnh tượng hay vật gì giống Thượng-Đế để thờ lạy. Đây là mục đích của điều răn thứ hai.
          Nhiều người ngày nay có thể không cúi thờ hình tượng, tuy nhiên, sự thờ phượng Chúa của họ không được Đức Chúa Trời vui nhận vì họ đã để các đối tượng khác cướp mất tình yêu và sự cảm mến của họ đối với Chúa. Có một nhà văn kể tên chín vị thần mà loài nguời đã thờ lạy:  vàng, thời trang, danh vọng, cuộc sống dễ dãi, trí thức; du lịch, cơ hội, đam mê,  và rược chè. Khi bất cứ gì trong các điều trên đây hay các điều khác chế ngự cuộc đời, thì nó trở thành như các thần tượng khác, và khi nó chiếm ngự tâm trí của một người nào trong thờ phượng Chúa,  thì người đó không để cho Thượng Đế chiếm ngự trọn vẹn.
    * Chúa Giê-xu Chí-tôn
          Vì Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn là Thượng-Đế, nên Ngài vui nhận sự thờ phượng (Mat. 14: 33; 28: 17; Giăng 9: 38). Khi người ta kiếm cách thờ lạy các sứ đồ Phi-e-rơ,  Phao-lô và Ba-na-ba, thì các vị nầy nỗi giận (Công. 10: 25,26; 14: 11-15). Hãy so sánh phản ứng của họ với việc Chúa chấp nhận sự thờ phượng (Mat. 14: 33; Lu. 5: 8; 24: 52; Giăng 20: 28). Phi-e -rơ và Thô-ma công khai làm chứng thần tánh của Chúa Giê-xu. (Mat. 16: 16; Giăng 20: 28,29). Và vì Chúa Giê-xu Chí-tôn là Thượng-Đế,  nên Ngài vui nhận những lời chứng nầy. Chúa Giê-xu đã nói "để ai nầy đều tôn kính Con, cũng như tôn kính Cha vậy" (Giăng 5: 23; 10: 30). Điều nầy hàm ý Chúa Giê-xu Chí-tôn đòi hỏi phải thờ phượng Ngài.
          Sứ Đồ Phao-lô trong các sách thư tín của ông giải nghĩa rõ rằng "hầu cho nghe đến danh Đức Chúa Giê-xu,  mọi đầu gốc trên trời, dưới đất, bên dưới đất, thảy đều quỳ xuống, và mọi lưởi thảy đều xưng Chúa Giê-xu Chí-tôn là Chúa,  mà tôn vinh Thượng-Đế, là Đức Chúa Cha" (Phi. 2: 10).
    * Sự Thờ Phượng Được Nhận
         Thượng-Đế là Đấng toàn năng, tòan chi, và tồn tại( omnipotent, omniscient, omnipresent), và sự thờ phượng của người tin Chúa,  phải làm vui lòng Ngài,  không bao giờ được thờ phượng một cách hời hợt hay cẩu thả. Để được Chúa vui nhận, sự thờ phượng phải cử hành trong danh Chúa Chí-tôn, hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh,  và đúng theo lời của Thượng-Đế .
        Cơ-Đốc Nhân có thể trực tiếp cầu nguyện vàthờ phượng Thượng-Đế vì Chúa Giê-xu Chí-tôn đã chết và phục sinh (Hê. 9: 7,14). Tấm màn đền thờ ngăn cách tất cả mọi người, ngoại trừ thấy tế lễ thượng phẩm, khỏi nơi chí thánh đã bị xé ra từ đầu đến cuối khi Đức Chúa Giê-xu tắt hơi trên Thập tự giá. Chúa Giê-xu đã mở ra một con đường vào sự hiện diện chí thánh của Đức Chúa Trời,  để cho người tin Chúa bây giờ có thể tiến vào thờ phượng Ngài.
        Sự thờ phượng thật,  được Thượng-Đế vui nhận, phải là sự thờ phượng được linh cảm bởi Thánh Linh. "Những kẻ sống bởi xác thịt thì không thể làm vừa lòng Thượng-Đế" (Rô. 8: 7,8). Thượng-Đế đang tìm kiếm những người thờ phượng trong Đức Thánh Linh và "không cậy xác thịt". Để làm vừa lòng Thượng-Đế trong sự thờ phượng,  Cơ-Đốc Nhân phải xoay mắt khỏi chính mình và nài xin Đức Thánh Linh dạy dỗ và "giúp cho sự yếu đuối của mình" (Rô. 8: 26,27).
        Thượng-Đế không bao giờ vui nhận sự thờ phượng giả dối. Người ta có thể cuối đầu và cuối cả người mà không cuối linh hồn trong sự kính sợ trước mặt Thượng-Đế. Người thờ phượng chân chính lại gần Thượng-Đế với sự mong muốn tôn vinh Ngài và vui hưởng Ngài. Người ấy đến không với sự phô trương  kiêu ngạo nhưng đến với lòng chân thật và lễ vật là lòng biết ơn và lời cầu nguyện ( Giăng 4: 24; I Giăng 3: 18).
    * Đáp Ứng Lại Trong Sự Thờ Phượng
        Sự thờ phượng thật tạo một sự đáp ứng trong lòng người thờ phượng. Khuôn mặt của Môi-se chói sáng như thế nào sau khi ông nói chuyện với Chúa (Xuất. 34: 29,30), thì hào quang Thiên Đàng cũng sẽ chói sáng như vậy trong đời sống của người thờ phượng chân lý. Thật sự không có niềm vui nào cao hơn,  sâu đậm hơn, thánh khiết hơn là niềm vui phát ra từ sự suy niệm chiêm ngưỡng Thượng-Đế. Niềm vui như thế tràn ngập linh hồn Cơ-Đốc Nhân cúi mình trong sự thờ phượng, được Thượng-Đế chiếm ngự và làm cho thõa mãn. Đây là điều duy nhất mà vua Đa-vít ước muốn hơn tất cả các điều khác (Thi. 27: 4) và thúc giục ông viết, "trước mặt Chúa có trọn sự khoái lạc" (Thi. 16: 11).
    SỰ CẦU NGUYỆN
          Đọc lời Chúa và cầu nguyện chiếm một vị trí quan trọng trong lễ thờ phượng. Khi một người tin Chúa đọc Kinh Thánh,  Đức Chúa Trời nói chuyện với người ấy; khi người ấy cầu nguyện, người ấy nói chuyện với Đức Chúa Trời. Thượng-Đế ban cho lời của Ngài ; con của Ngài phải đọc và nghiên cứu nó để nghe được giọng nói của Ngài. Thượng-Đế ban cho lời cầu nguyện:  Con của Ngài sẽ liên lạc với Ngài qua lời cầu nguyện để hiểu và áp dụng lời của Ngài.
    Lý Do Cầu Nguyện
          Một trong những sách xưa nhất trong Kinh Thánh đưa ra câu hỏi "Nếu chúng tôi cầu khẩn Ngài thì được ích gì?" (Gióp 21: 15). Thượng-Đế có thể hành động mà không cần lời cầu nguyện của Cơ-Đốc Nhân, và thông thường là như vậy nhưng Ngài thích Cơ-Đốc Nhân cùng cộng tác xúc tiến các chương trình của Ngài. "Chúng tôi là bạn cùng làm việc với Thượng-Đế",  bạn đồng gánh,  bạn dồng công( I Cô. 3: 9; Phi 4: 3).
    Có Nhiều Lý Do Tại Sao Cơ-Đốc Nhân Cầu Nguyện
    * Sự Mong Muốn Của Thượng-Đế
          Thượng-Đế mong muốn Cơ-Đốc Nhân có mối tương giao thường xuyên với Ngài. Bất cứ hoàn cảnh hay bất cứ lời yêu cầu gì cũng đều có thể trình dâng lên Ngài bất cứ lúc nào. Thượng-Đế đã hứa,  " Nếu các người nhơn danh Ta xin điều chi Ta sẽ làm cho", (Giăng 14: 14). Thượng-Đế làm việc khi Cơ-Đốc Nhân cầu nguyện. Qua những lời cầu nguyện, Thượng-Đế cảm động tấm lòng con người, phá vỡ những chướng ngại hé mở lối thoát, chu cấp sự cần dùng. Cả hai sự đảm bảo trong lời Chúa và bằng chứng của lời cầu nguyện được đáp ứng, bảo đảm lòng ước muốn của Ngài cho sự cầu  nguyện và sự sử dụng lời cầu nguyện.
    * Nhu Cầu Và Sự Khao Khát Của Cơ-Đốc Nhân
          Chỉ có Thượng-Đế mới có thể cung cấp đủ mọi sự cần dùng của Cơ-Đốc Nhân. Ngài ban cho sự dư dật hơn cả những gì Cơ-Đốc Nhân suy tưởng hay cầu xin (Êph. 3: 20). Nhu cầu cá nhân không phải là lý do duy nhất của Cơ-Đốc Nhân cầu nguyện. Mùa gặt thì trúng, song con gặt thì ít; vì thế Ngài cầu nguyện trong nhu cầu của toàn thể thế giới (Lu. 10: 2). Mọi  người cần được cứu rỗi:  vì thế Ngài cầu nguyện cho tất cả mọi người (I Tim. 2: 1-4). Hội Thánh của Chúa Giê-xu Chí-tôn cần sự nâng đỡ liên tục vì thế Ngài cầu nguyện cho tất cả Cơ-Đốc Nhân (Êph.  6: 18). Chỉ có Thượng-Đế mới có thể thõa mãn những sự khao khát. Nơi nào có sự vui mừng trong ý chỉ của Thượng-Đế thì nơi đó Ngài sẽ ban cho sự khát khao của tấm lòng (Thi. 37: 4).
    * Năng Quyền Thiêng Liêng( Mat. 6: 13; 26: 41)
          "Tâm thần thì muốn lắm, nhưng xác thịt thì yếu đuối". Cơ-Đốc Nhân thường xuyên bị kẻ thù chung quanh là thế gian cám dỗ; xác thịt là kẻ thù ở trong Cơ-Đốc Nhân; ma quỉ là kẻ thù bên cạnh họ. Sức lực của một người không thể thắng hơn nhiều về sự tham muốn gian ác. Nhưng Thượng-Đế đã ban cho lời cầu nguyện để qua đó Cơ-Đốc Nhân liên lạc với Ngài và tiếp nhận sức mạnh chống cự lại sự cảm dỗ.
    * Đánh Bại Sa-tan (Êph.  6: 11,12:  Gia. 4: 7,8)
          Lời cầu nguyện không phải chỉ là một sự kêu cầu Thượng-Đế, nhưng còn là một sự xung đột với ma quỉ. Để chống lại sự tấn công của ma quỉ, Cơ-Đốc Nhân phải đến gần hơn với Thượng-Đế trong sự cầu nguyện.
    Những Đòi Hỏi Cho Sự Cầu Nguyện (Requirements for Pârayer)
    * Biết Mối Quan Hệ Với Chúa (I Giăng 1: 9).
          Đặc ân cầu nguyện chỉ dành cho ai biết Chúa Giê-xu Chí-tôn là Chúa Cứu Thế của mình và biết rằng tội lỗi của mình đã được tha. Nhưng ngay cả lời cầu nguyện của con cái Thượng-Đế cũng có thể bị ngăn trở vì tội lỗi dấu kín (Thi. 66: 18). Nếu thật như vậy, người ấy có đặc ân xưng tội đó với Đấng thành tín và công bình để tha tội và làm cho người ấy sạch mọi điều gian ác. Sự cầu nguyện làm cho Cơ-Đốc Nhân có thể thấy  những điều sai:  cầu nguyện điều chỉnh linh hồn lại.
          Không phải chỉ có những tội lỗi lớn rõ ràng ngăn trở mói tương giao thật sự với Thượng-Đế. Thông thường thì chính những chướng ngại nhỏ nhặt làm hư hỏng sự thông công với Thượng-Đế và vô hiệu hóa sự cầu nguyện. Vua Sô-lô-môn nói nó là:  "Những con chồn nhỏ làm hư vườn  nho" (Nhã. 2: 15).
          Phải có sự hiệp nhất toàn hảo giữa Chúa và con cái Ngài. Cơ-Đốc Nhân chân chính ở trong Chúa và vâng lời Ngài. Việc trả lời cho sự cầu nguyện được đặt điều kiện trên sự vâng lời của Cơ-Đốc Nhân. Cơ-Đốc Nhân không  gian xảo cãi lại chỉ ý được bày tỏ của Thượng-Đế, nhưng phải tích cực cố gắng thi hành những mệnh lệnh của Chúa Giê-xu Chí-tôn.
    * Với Thái Độ Đúng (Giê. 29: 13; Gia 5: 16b).
          Sự cầu nguyện sốt sắng hiệu quả thì có ích lợi nhiều. Cầu nguyện với "tất cả tấm lòng" là đúng hết  tất cả năng lực thiêng liêng trong sự cầu nguyện, nhớ rằng ma quỉ, nếu có thể được,  sẽ ngăn chặn không cho cầu nguyện được nhậm. Ông Charles Finney đã nói, " Lời cầu nguyện đắc thắng, hay hiệu qủa,  là lời cầu nguyện đạt được ơn phước mà nó tìm kiếm đó là lời cầu nguyện làm động lòng Thượng-Đế. Lời cầu nuyện có hiệu qủa là lời cầu nguyện ảnh hưởng đối tượng cầu nguyện".
          Ông " Hyde cầu nguyện", vị giáo sĩ mà đời sống cầu nguyện đã khuấy động cả sứ Ấn Độ, thấy rằng trở ngại cho một lời cầu nguyện được nhận là vị thiếu sự ca ngợi. Rồi ông xưng điều nầy ra như là một tội,  và nài xin sự tha thứ và một tinh thần ca ngợi Chúa. Khi ông ca ngợi Chúa về những linh hồn,  thì những linh hồn luôn đến với ông. Cùng với việc cho Chúa nghe nhu cầu và ước muốn của mình,  Cơ-Đốc Nhân không được quên lãng ca ngợi và tạ ơn Ngài.
    * Không Ngừng Nghĩ (I Tê. 5: 17; Rô. 12: 12).
          Người ta có thể cầu nguyện không ngừng nghĩ cũng như hít thở không ngừng nghĩ vậy.
          Linh hồn cần những thì giờ nhất định mỗi ngày. " Giờ tĩnh nguyện" nầy đổ đầy linh hồn với năng quyền thiêng liêng và ơn phước, dẫn đến tinh thần cầu nguyện và thông công với Chúa. Khả năng của Cơ-Đốc Nhân với Chúa  trong giờ tĩnh nguyện đo lường khả năng họ bước đi với Chúa trong mọi lúc khác.
          Chữ tiếng Anh "ejaculatory prayer" (sự cầu nguyện ngắn mà khẩn thiết), đến từ tiếng La Tinh "Jaculum",  có nghĩa là một mũi tên hay mũi dao nhọn thích hợp diễn tả sự cầu nguyện được "phóng" lên Thượng-Đế bất cứ lúc nào. Lời cầu nguyện ngắn, khẩn cấp đạt được hiệu quả là nhờ những lời cầu nguyện lâu dài trước đó. Vì thế, cầu nguyện vừa là hành vi vừa là thái độ.
    * Theo Ý Chỉ Của Thượng-Đế (I Giăng 5: 14).
          Tất cả những lời cầu nguyện đều dựa trên sự mặc khải của Đức Chúa Trời về chính Ngài và ý chỉ của Ngài. Những lời hứa của Ngài khuyến khích và những mệnh lệnh của Ngài phát động Cơ-Đốc Nhân cầu nguyện, nhưng ý chỉ của Ngài sẽ đặt ra giới hạn cần thiết cho sự cầu nguyện. Cơ-Đốc Nhân cầu xin trong đức tin kẻo họ giống như sóng biển đưa đi (Hê. 11: 6; Gia 1: 6) họ cầu xin trong sự tuân phục Chúa kẻo họ cầu xin trái lẻ (Gia 4: 3). Một ý chỉ hoàn toàn đầu phục Chúa thì có thể nói rằng, " không phải  ý con nhưng ý Cha được nên".
          Lời cầu nguyện bằng sức lực xác thịt sẽ đem đến hậu quả xác thịt, "vì những gì sanh bởi xác thịt sẽ là xác thịt". Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất ban cho sự sống. Chức năng cao nhất của Cơ-Đốc Nhân là truyền sự sống của Chúa cho người khác. Việc nầy được hoàn thành do sự cầu nguyện. Sự cầu nguyện nối kết một người với nguồn của sự sống và sức mạnh.
    * Trách Nhiệm Cầu Nguyện
          Đối với Cơ-Đốc Nhân " ngưng cầu nguyện" là tội lỗi ( I Sa. 12: 23). Thượng-Đế giao cho Cơ-Đốc Nhân trách nhiệm thực hiện mọi việc bằng sự cầu nguyện. Cơ-Đốc Nhân nào có những khoản trống to lớn  trong đời sống cầu nguyện sẽ mất "cảm giác được Chúa nắm tay" trong lời cầu nguyện mình. Thượng-Đế bảo người ấy " Bắt hết các lý tưởng làm nô lệ vâng phục Chúa Giê-xu Chí-tôn" (II Cô. 10: 5). Có vài người sẽ nói,  "trả giá như vậy thì đắt quá!" nhưng hãy xem mua được với giá đó thì thật là quá rẻ!
    TỔNG KẾT
          Thờ phượng là tập trung tư  tưởng hướng về Thượng-Đế, suy nghĩ quyền năng và sự oai nghi của Ngài. Thờ phượng là một hành động thiêng liêng, và nhu cầu thờ phượng chỉ có thể được thỏa mãn khi Cơ-Đốc Nhân thờ phượng Thượng-Đế như Ngài đã truyền dạy. Những đồ vật hay con người không phải bao giờ cũng thay thế vị trí của Thượng-Đế . Là Thượng-Đế,  Chúa Giê-xu Chí-tôn vui nhận sự thờ phượng trong một ngày tới đây toàn thể vũ trụ sẽ nhìn nhận Ngài là Chúa và phủ phục mình trước mặt Ngài.
          Cơ-Đốc Nhân không nên thờ phượng một cách cẩu thả . Sự thờ phượng thật là thờ phượng trong danh của Chúa Giê-xu Chí-tôn, được hướng dẫn bởi Đức Thánh Linh, và theo đúng với lời Chúa. Sự thờ phượng tạo nên sự đáp ứng của một niềm vui thanh khiết vì người thờ phượng được thõa mãn và được chiếm ngự bởi chính một mình Thượng-Đế mà thôi.
          Khi Cơ-Đốc Nhân đọc Kinh Thánh,  Thượng-Đế nói chuyện với họ. Khi Cơ-Đốc Nhân cầu nguyện,  họ nói chuyện với Thượng-Đế. Cầu nguyện rất là thiết yếu cho Cơ-Đốc Nhân. Thượng-Đế mong muốn sự cầu nguyện và hành động qua sự cầu nguyện; Cơ-đốc nhân bày tỏ nhu cầu và ước muốn trong sự cầu nguyện;  bởi sự cầu nguyện Cơ-Đốc Nhân nhận được linh lực và đánh bại được Sa-tan.
          Khi cầu nguyện,  Cơ-Đốc Nhân phải để cho Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời hướng dẫn mình. Những tội lỗi không xưng ra sẽ ngăn trở sự cầu nguyện, và như vậy Cơ-Đốc Nhân phải xưng tội và nhận thức sự tha thứ. Trong nỗ lực phục vụ Chúa Giê-xu Chí-tôn, Cơ-Đốc Nhân ở trong sự liên kết với Thượng-Đế  - vâng lời và tuân giữ Lời Ngài. Để có thể tuân giữ lời Ngài, Cơ-Đốc Nhân cần phải cầu nguyện liên tục. Thêm vào trong những thì giờ cầu nguyện nhất định mà trong đó linh hồn được đổ đầy linh lực. Cơ-Đốc Nhân phải ở trong mối tương giao thường xuyên với Chúa. Lời cầu nguyện hiệu quả được dâng lên với tất cả tấm lòng, đầy sự ca ngợi và cảm tạ, và theo ý chỉ của Thượng-Đế.
          Đối với Cơ-Đốc Nhân không cầu nguyện là phạm tội. cầu nguyện là một trách nhiệm và là một ơn phước từ nơi Thượng-Đế.

    BÀI LÀM
    1.     Sự thờ phượng thật là gì?
    2.     Bạn nghĩ tại sao nhiều người cẩu thả trong sự thờ phượng?
    3.     Ba điều được đòi hỏi để làm cho sự thờ phượng của chúng ta được Chúa vui nhận là gì? Tại sao?
    4.     Làm thế nào Đức Thánh Linh hướng dẫn trong sự cầu nguyện?
    5.     Lời của Chúa và sự cầu nguyện liên hệ với  nhau như  thế nào?
    6.     Giải thích sự cầu nguyện của chúng ta bị ngăn trở như thế nào?
    7.     Làm thế nào mà Cơ-Đốc Nhân có thể "cầu nguyện không thôi?"
    8.     Tại sao sự ca ngợi và cảm tạ phải bao gồm trong sự cầu nguyện?
    9.     Chúng ta đã biết tất cả những nhu cầu của chúng ta trước khi chúng ta xin Ngài, thì sao chúng ta phải cầu nguyện?
    10.  Mối quan hệ của sự thờ phượng thật và sự cầu nguyện là gì?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Gibbs, Alfred P.Worship, the Christian s Highest Occupation. Kansas City, KS: Walterrick Pubishers, .d.
          Lavender, John Allan. Why prayers are Unanswered. Wheaton, IL:  Tyndale House, 1981.

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 5 | CHƯƠNG 7 >>
    CHƯƠNG 6
    NGUỒN GỐC VÀ MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH
    (Origin and Purpose of the Church)
          Chữ "Hội Thánh" được dịch từ chữ Hy-lạp "ecclesia". Nó có nghĩa là " những người được kêu gọi ra". Những thành viên của Hội Thánh được kêu gọi ra từ sự tạo dựng cũ để rồi tạo sự tạo dựng mới(II Cô. 5: 17). Dù họ đang ở trong thế gian, nhưng họ không thuộc về trong thế gian. Từ trong thế gian Đức Chúa Cha  đã ban họ cho Đức Chúa Con (Giăng 17: 6,11,14,16). Họ là thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn.
          Hội Thánh không phải chỉ là một tổ chức. Hội Thánh là một sinh thể hữu cơ (organism). Tổ chức là một nhóm người cùng tập hợp lại với nhau trong một hành động hiệp nhất. Sinh thể hữu cơ là một thân có sự sống bên trong, với những bộ phận nương tựa hổ trợ nhau, tất cả đồng chuyển vận cho cùng một mục đích chung. Và mục đích chung của Hội Thánh là truyền bá Phúc-Âm cho mọi ngưòi.
          Hội Thánh có một thành tích phục vụ qua nhiều thời  đại. Cách mà Hội Thánh bành trướng, từ những bắt đầu nhỏ bé trong một tỉnh lụy xa xôi của một đế quốc La Mã đã trở thành một cơ chế vĩ đại trên toàn thế giới, đã khiến Hội Thánh có một địa vị lịch sử mà không một tổ chức quốc tế nào có thể sánh kịp. Lịch sử thời trung cổ phần lớn xoay quanh Hội Thánh, Hội Thánh là một thành tố vĩ đại trong nền văn minh Âu Châu. Lịch sử hiện đại tập trung vào những mối quan hệ quốc tế và liên chủng tộc và đã đi theo dấu chân của phong trào truyền giáo thế giới của Hội Thánh. Hội Thánh chịu trách nhiệm việc khai sáng của nhiều dịch vụ từ thiện bao gồm các cô nhi viện, nhà dưỡng lão, và các chương trình thanh niên. Việc giáo dục quần chúng bắt đầu bởi Hội Thánh. Thật đúng như vậy, những phong trào nầy tất cả tuy đã không còn duy trì những tiêu chuẫn nguyên gốc Cơ-Đốc, nhưng đã được bắt đầu bởi những người tin kính Chúa vàđược Chúa sử dụng cho công việc tốt lành.
    NGUỒN GỐC CỦA HỘI THÁNH
          Hội Thánh là một cơ chế Tân Ước được khai sanh với sự đổ đầy Đức Thánh Linh  tại Lễ Ngũ Tuần, nhưng sự thai ngén Hội Thánh thì đã có từ lâu trước đó.
    Phát Xuất Từ Thượng-Đế
          Hội Thánh phát sinh ra từ trong trí của Thượng-Đế và là một phần quan trọng của chương trình của Ngài cho thế gian. Chương trình của Hội Thánh đã được ấn định và các  thuộc viên Hội Thánh được lựa chọn "trước khi sáng tạo thế giới trong Chúa Giê-xu Chí-tôn" (Êph.  1: 4). Sự kiện nầy xác chứng tầm quan trọng của Hội Thánh. Ở đây hoàn toàn không có vấn đề may rủi hay là mập mờ. Chương trình của Thượng-Đế là toàn diện và mục đích Chúa rõ ràng.
          Đức Chúa Cha là tác giả của sự cứu rỗi mà Hội Thánh rao truyền. Cơ-Đốc Nhân không thể làm công trạng gì để đạt được ân sủng của Thượng-Đế. Họ có được "mọi ơn phước thiêng liêng  từ các nơi trên trời" không phải nhờ những việc họ đã làm. Chính Thượng-Đế đã lựa chọn các thuộc viên của Hội Thánh, định trước  cho họ trở thành phù theo hình ảnh của Con Ngài, và nhận họ trong Chúa Giê-xu Chí-tôn(Êph. 1: 3-6).
          Những thành viên của Hội Thánh được cứu chuộc bởi Con Của Thượng-Đế. Sự chết và sự phục sinh của Chúa Giê-xu Chí-tôn mở đường cho chúng ta đến gần Thượng-Đế và bày tỏ ra chương trình hiệp nhất toàn thể vũ trụ của Ngài trong Chúa Giê-xu Chí-tôn (Êph.1: 7-11).
          Nhưng chúng ta không thể tin những điều được sự ghi chép của Thượng-Đế về Chúa Giê-xu Chí-tôn nếu chúng ta không có lòng tin cậy Ngài. Đức tin đến bởi việc nghe chân lý của Phúc-Âm,  và Thượng-Đế tôn trọng đức tin của những thuộc viên Hội Thánh bằng cách ấn chứng họ với Đức Thánh Linh Ngài. "Aáy là trong Ngài mà anh em đã tin và được ấn chứng bằng Đức Thánh Linh là Đấng Chúa đã hứa" (Êph.  1: 13,14).
    Tuyên Bố Bởi Chúa Giê-xu Chí-tôn
          Lần đầu tiên Hội Thánh được đề cập đến trong Kinh Thánh Tân Ước là trong sách Ma-thi-ơ 16: 16-18. Trong mấy câu nầy không thấy có ưu thế đặc biệt nào dành cho sứ đồ Phi-e-rơ cả; so sánh những câu nầy với các phần khác của Kinh Thánh (Mat. 18: 15-20; Giăng 21: 19-23) cho thấy rõ ràng rằng các môn đồ khác,  và toàn Hội Thánh cũng được đặc ân buộc và mở như vậy. Hòn đá mà trên đó Hội Thánh xây lên là Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn, là "đá góc nhà" (Êph.  2: 20). "Chẳng ai có thể lập một nền khác ngoài nền đã lập, là Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn" (I Cô. 3: 11).
    THÀNH LẬP HỘI THÁNH
          Hội Thánh nhận được nhũng người qui đạo đầu tiên vào ngày Lễ Ngũ Tuần (Công. 2). Lễ Ngũ Tuần được biết đến qua tên Lễ của các Tuần, và luật pháp Do Thái đòi hỏi tất cả mọi người nam phải có mặt tại buổi lễ trong đên thờ (Xuất. 13: 14-17;34: 22). Thành Giê-ru-sa-lem là nơi tụ họp chính yếu của cuộc sống, không những trong sứ Pa-lét-tin, nhưng mà còn toàn cỏi đế quốc La Mã. Điều nầy giải thích sự hiện diện của những nhóm người đông đảo, và nhất là những người từ các xứ khác, người Do Thái vẫn trung thành với luật của họ và triệt để tuân theo các luật nầy và kết quả là hàng ngàn người đến thành Giê-ru-sa-lem dự lễ nói trên. Những người Do Thái nầy nghe các sứ đồ nói tiếng của những người mà họ kiều trú. Là những người đại diện cho các xứ ngoại quốc, họ đã trở thành những vị giáo sĩ đầu tiên của Hội Thánh mà thành viên là những người được Chúa Giê-xu Chí-tôn ủy nhiệm đi rao truyền Phúc-Âm "cho đến tận cùng trái đất" (Công. 1: 8).
          Những người đàn ông và đàn bà trở thành tín hữu đầu tiên của Hội Thánh tất cả đều xuất thân từ Do Thái giáo. Tuy nhiên,  họ chia thành ba tầng lớp:  người Do Thái thuần tộc(Hebrew), người Hê-lê-nít(Hellenists), và người ngoại tòng(Proselytes).
          Người Do Thái thuần tộc là người mà tổ tiên đã sinh sống lâu đời trong sứ Pa-lét-tin. Họ trung tín đọc Kinh Thánh bằng tiếng Do Thái trong nhà hội, và diễn giải từng câu một ra tiếng A-ram(Aramaic) là thứ tiếng phổ thông nhất thời ấy.
          Người Hê-lê-nít là người Do Thái Hy-lạp, họ là những người nếu không có tổ tiên thì cũng không có nhà cửa, tại các xứ ngoại quốc. Sau khi A-lịch-sơn đại đế (Alexander the Great). Chinh phục các nước Đông Phương, tiếng Hy-lạp trở thành ngôn ngữ chính của thế giới,  bởi đó người Do Thái có tổ tiên ngoại quốc được gọi là Grecians, hay là người Hê-lê-nít. Họ đại diện cho nhóm người thông minh và giàu có nhất của dân Do Thái.
          Người ngoại tòng là người ngoại bang theo Do Thái giáo. Mặc dù là một nhóm thiểu số giữa vòng dân Do Thái,  họ có nhiều nhà hội trong đế quốc La MaÕ.
    MỤC ĐÍCH CỦA HỘI THÁNH
          Thế giới có nhiều quốc gia và thứ tiếng khác nhau, nhưng Thượng-Đế đã phân chia thành ba nhóm người chính yếu:  dân Do Thái,  ngoại bang, và Hội Thánh (I Cô. 10: 32). Chương trình cứu chuộc của Thượng-Đế có ba mục đích cho dân Do Thái. Dân Do Thái được ủy thác Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời ; họ là một phương tiện để giới thiệu Đấng Cứu Chuộc của thế gian.
          Nghiên cứu Kinh Thánh Cựu Ước cho thấy rằng trong khi dân Do Thái thực hiện hai mục đích đầu tiên mà họ đã được biệt riêng ra, thì họ lại thất bại trong mục đích thứ ba. Kinh Thánh Tân Ước giới thiệu Hội Thánh với các tín hữu được ủy nhiệm thực hiện mục đích thứ ba, làm những nhân chứng cho kế họach cứu rỗi của Đức Chúa Trời, nhân chứng cho người Do Thái lẫn người ngoại bang. Nhưng đó không phải là sứ vụ duy nhất mà Hội Thánh đã được ủy thác.
    Mầu Nhiệm Được Bày Tỏ
          Chữ "mầu nhiệm" được xuất hiện 47 lần trong Kinh Thánh Tân Ước, với khoảng phân nữa số nầy là đề cập đến Hội Thánh. Trong Kinh Thánh Tân Ước chữ nầy có nghĩa là môït bí mật được lộ ra, hay là một chân lý thiên thượng trước được giấu kín nay lại được bày tỏ. "Theo sự tỏ ra về lẽ mầu nhiệm, là lẻ kín giấu từ mọi đời trước mà bây giờ được bày ra" (Rô . 16: 25,26).
          Hội Thánh được "giấu trong Chúa" từ lúc ban đầu của thế giới. Ngay cả những thiên sứ hoặc các tiên tri cũng không biết "Hội Thánh" hay là những phần chính yếu trong kế hoạch của Đức Chúa Trời.
          Những gì cất giấu khỏi các thiên sứ và các tiên tri thì được bày tỏ ra cho sứ đồ Phao-lô để ghi lại. Sự mầu nhiệm "giấu trong Đức Chúa Trời" chính là mục đích thiêng liêng nhằm khiến người Do Thái và người ngoại thành một tạo vật mới, hình thành thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn, hình thành bởi phép Báp-tem của Đức Thánh Linh. Tạo vật mới nầy làm tan biến sự khác biệt  về mặt trần gian của người Do Thái và người không phải Do Thái (I Cô. 12: 12,13; Cô 3: 10,11).
          Chuyện người ngoại được cứu thì không phải là sự bí mật. Những người có Kinh Thánh Cựu Ước thì đã biết rằng đấng Cứu Thế Chí-tôn phải đến để cứu rỗi người Do Thái lẫn người ngoại. Điều nầy đã báo trước rõ ràng (Eâs 42: 4; 49: 6; Rô. 9: 24-33). Nhưng chưa bao giờ có một sự công bố kỳ diệu như vậy "Chúa Giê-xu Chí-tôn ở trong anh em là sự trông cậy về vinh hiển" (Côl. 1: 27). Sự mầu nhiệm được tỏ ra là Chúa Giê-xu Chí-tôn gom lựa ra một dân, sống trong họ, và hành động qua họ.
    Thân Thể Của Đấng Chí-tôn
          Hội Thánh bắt đầu tại Lễ Ngũ Tuần khi tất cả nhóm họp lại dựa theo sự hướng dẫn thiên thượng (Công. 1: 4). Chúa Giê-xu Chí-tôn ngự bên hữu Thượng-Đế, nhưng Ngài gởi Đức Thánh Linh đến  ngự trong lòng mỗ tín hữu. Đức Thánh Linh hiệp một những tín hữu lại với Chúa Giê-xu  Chí-tôn và với nhau, và như vậy thân thể,  là Hội Thánh,  được ra đời (Rô. 12: 4,5; Cô 12: 12-27)
          Thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn được hình thành "để tôn ngợi sụ vinh hiển của hồng ân Ngài đã ban cho chúng ta trong Con yêu dấu của Ngài" (Êph.  1: 6). Chúa Giê-xu Chí-tôn là đầu được hiệp một bởi sự ràng buộc thiêng liêng gần gũi nhất với các thành phần của thân thể Ngài. Một tinh thần yêu thương hiệp một lại trong mối thông công trọn ven. Chúa Giê-xu Chí-tôn không những cai trị chúng ta, mà còn ngự trong chúng ta là những chi thể của thân Ngài. Quan hệ giữa Chúa Giê-xu Chí-tôn và Hội Thánh không phải là quan hệ giữa ông vua và thuộc hạ, nhưng là quan hệ giữa chồng với vợ, một quan hệ mật thiết toàn hảo và liên kết thiêng liêng. Chúng ta được gọi vào trong mối thông công của Con Thượng-Đế (Êph. 3: 14-19; Côl. 1: 12-18).
          Thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn có công tác để làm trên đất. Một số viên chức được chọn bởi Hội Thánh "để các thánh đồ được trọn vẹn về công việc của chức dịch và sự gây dựng thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn" (Êph.  4: 12). Về phần của mỗi tín hữu thì mục tiêu của sứ vụ tổng quát là xây dựng thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn, gia tăng số lượng thuộc viên,  hoàn thành Hội Thánh như một sinh thể hữu cơ (Êph4: 15,16).
    Cô Dâu Của Đấng Chí-tôn
          Số lượng thuộc viện của Hội Thánh phải được hoàn thành trước khi Đức Nhân Tử (Son of Man) trở lại trong vinh hiển (Khải. 19: 7; II Cô 11: 2). Cơ-Đốc Nhân làm việc khó nhọc cho sự hoàn thành của Hội Thánh; vì khi mục đích nầy được thành đạt thì Chúa sẽ trở lại. Chàng rể sẽ gặp cô dâu,  nàng sẽ được trình diện chàng rể  và được kết hợp với chàng rể .
          Hội Thánh sẽ ở với Chúa Giê-xu Chí-tôn trên thiên đàng, vì Đức Chúa Trời "làm cho chúng ta đồng sống lại và đồng ngồi các nơi trên trời trong Chúa Giê-xu Chí-tôn, hầu cho về sau tỏ ra sự giàu có vô hạn của ân điển Ngài,  mà Ngài bởi lòng nhơn từ đã dùng ra cho chúng ta trong Chúa Giê-xu Chí-tôn" (Êph.  2: 6,7). Sự liên kết giữa Chúa Giê-xu Chí-tôn và Hội Thánh của Ngài là thiêng liêng và sẽ tiếp tục đời đời.
    TỔNG KẾT
          Chữ "Hội Thánh" có nghĩa là "những người được kêu gọi ra". Những thuộc viên của Hội Thánh được kêu gọi ra khỏi thế gian để làm thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn và làm người rao truyền Ngài trong thế gian.
          Khởi đầu trong  trí của Thượng-Đế,  Hội Thánh đã được ấn định trước khi khai sáng thế giới. Đức Chúa Cha khai sinh ra kế hoạch ; Đức Chúa Con chịu chết cho sự cứu rỗi của Cơ-Đốc Nhân ; và Đức Thánh Linh ấn chứng cho Cơ-Đốc Nhân và bày tỏ chân lý. Từ đây, cả ba ngôi Thượng-Đế tham gia trong sự sinh thành và tăng trưởng của Hội Thánh. Chính Chúa Giê-xu Chí-tôn công bố Hội Thánh đầu tiên.
          Hội Thánh được khai sinh và ngày Lễ Ngũ Tuần. Người Do Thái từ khắp đế quốc La Mã tề tụ tại thành Giê-ru-sa-lem tham dự Lễ của các Tuần, và trong ngày ấy Đức Thánh Linh phán qua nhóm nhỏ các tín hữu bằng nhiều thứ tiếng ngoại quốc. Những người Do Thái tin  Chúa trở về quê hương sứ sở rao truyền tin mừng: Người Do Thái thuần tộc  - ngưòi Do Thái ở xứ Pa-lét-tin nói tiếng A-ram;  người Hê-lê-nít - người Do Thái có tổ tiên ngoại quốc và sống các nới khac nhau; người  ngoại tòng - người ngoại bang theo Do Thái giáo.
          Sau cùng, được kêu gọi vào đời làm chứng nhân cho sự cưú rỗi của Thượng-Đế, Hội Thánh là một sự mầu nhiệm, một sự bí mật "giấu trong Thượng-Đế" từ khi sáng tạo thế giới. Không một thiên sứ hay là tiên tri nào biết về kế hoạch thiên thượng nhằm kéo người Do Thái và người ngoại lại với nhau thành một thân mà đầu là Chúa Giê-xu Chí-tôn. Thêm vào đó,  Đức Thánh Linh sẽ ngự trong tất cả tín hữu,  hiệp một họ với Chúa Giê-xu Chí-tôn và với nhau.
          Khi số lượng thuộc viên của Hội Thánh đã đầy đủ, Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ kết hiệp Hội Thánh với Ngài,  như cô dâu với chàng rể. Các tín hữu sẽ được ở với Ngài trên Thiên Đàng,  tôn vinh Ngài đời đời.
    BÀI LÀM
    1.     Giải thích ý nghĩa của chữ "Hội Thánh"?
    2.     Giải thích nguốn gốc của Hội Thánh?
    3.     Dựa theo Ma-thi-ơ 16: 18,  hòn đá mà Chúa Giê-xu Chí-tôn nói Ngài sẽ xây Hội Thánh của Ngài lên trên là nói về ai?
    4.     Tại sao có nhiều quốc gia được đại diện tại thành Giê-ru-sa-lem và ngày Lễ Ngũ Tuần?
    5.     Mô tả ba tầng lớp trong hàng ngũ thuộc viên đầu tiên của Hội Thánh?
    6.     Tại sao Hội Thánh được Chúa thiết lập?
    7.     Chữ "Mầu Nhiệm" trong Kinh Thánh Tân Ước có nghĩa là gì?
    8.     Giải thích sự mầu nhiệm của Hội Thánh như đã bày tỏ cho Phao-lô?
    9.     Mô tả Hội Thánh "thân thể của Chúa Giê-xu Chí-tôn".
    10.  Mô tả Hội Thánh là "cô dâu của Chúa Giê-xu Chí-tôn"?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Beyer, Douglas, Basic Beliefs of Christians. Valley Forge, PA:  Judson Press, 1981. Chapter 9.
          Demaray, Donald E. Basic Beliefs. Grand Rapids:  Baker Book House, 1958. Chapter 8.
          Dowley, Tim,  (ed). Eerman s Handbook to the History of Christianity. Grand Rapids:  Wm. B. Eermans Pub. Co., 1977.
    Shelley, Btuce L. What is the Church? God s People. Wheaton, IL:  Victor Books,  1983.


    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 6 | CHƯƠNG 8 >>
    CHƯƠNG 7
    SỰ TĂNG TRƯỞNG, ĐẶC TÍNH, VÀ TỔ CHỨC CỦA HỘI THÁNH
    (Growth, Character, and Organization)
    SỰ TĂNG TRƯỞNG CỦA HỘI THÁNH
          Hội Thánh Chúa được thành lập trong ngày Lễ Ngũ Tuần (Công. 2: 1), khi Đức Thánh Linh vận hành một cách kỳ diệu trong lòng mọi người. Các biến cố lạ lùng tiếp diễn sau đó và sự hình thành lịch sử đầu tiên của Hội Thánh (Công. 4: 31; 5: 32; 13: 2; 16: 6) thật ra là do tác động của Đức Thánh Linh.
    Sứ  Điệp
          Hội Thánh giữ vững ba niềm tin văn bản như sau:
    * Đức Chúa Giê-xu Là Đấng Mê-si-a (Jesus Is Messiah) (Công. 2: 36; 5: 31; 17: 3).
          Tất cả môn đồ đều làm chứng rằng Đức Chúa Giê-xu người Na-za-rét là Đấng Mê-si-a mà dân Do Thái trông đợi từ lâu; Ngài đã chết, phục sinh, và được tôn lên bên hữu Đức Chúa Cha. Mỗi tín hữu của Hội Thánh được đòi hỏi phải trung thành, kính sợ, và tuân phục Ngài là đấng Cứu Thế.
    * Chúa Giê-xu Từ Chết Sống Lại (Jesus Rose From The Deal) (Công. 4: 33; 13: 33; 17: 31)
          Sự phục sinh được rao truyền không chỉ như là bằng chứng của thần tính Chúa Giê-xu Chí-tôn,  mà còn là bằng chứng rõ ràng rằng Thượng-Đế đã vui nhận sự chết chuộc tội của Ngài cho tội lỗi của nhân loại và đã chỉ định Ngài đoán xét thế gian trong sự công chính.
    * Chúa Giê-xu Sẽ Trở Lại (Jesus Will Return) (Công. 1: 11; 15: 16).
          Các môn đồ tin và dạy rằng Chúa Cứu Thế Giê-xu đã về trời Ngài sẽ trở lại thế gian và cai trị muôn vật. Niềm hy vọng phước hạnh nầy nâng đỡ các tín hữu giữa cảnh thiếu thốn, nguy hiểm,và bách hại lớn lao.
    Phương Cách (Công. 1: 8,22; 5: 32; 10: 39; 13: 31).
          Phương cách Hội Thánh dùngđể chinh phục thế gian là sự làm chứng đạo của các thành viên trong Hội Thánh. Khi số lượng thuộc viên gia tăng thí số lượng  thuộc viên gia tăng  thì số người làm chứng về Chúa cũng gia tăng, vì mỗi thuộc viên dều thấy trách nhiệm của họ phải tích cực tiến hành công tác chứng đạo. Việc toàn thể Hội Thánh làm chứng nầy là một ảnh hưởng mạnh mẽ trong sự tăng trưởng nhanh chóng của Hội Thánh.
          Dầu vậy, tiến trình xây dựng không phải chỉ đơn thuần là sự gia tăng số lượng, Hội Thánh đầu tiên cũng gây dựng tín hữu bằng sự dạy dỗ họ qua một chương trình Cơ-Đốc giáo dục liên tục. Các môn đồ vâng sát theo lời ủy nhiệm vĩ đại của Chúa là đi và dạy. Chữ "dạy" xuất hiện hai lần trong lời nói chuyện từ biệt của Chúa, và chỉ dẫn trong việc ngày dỗ là " làm theo mọi điều mà Ta đã truyền cho ngươi".
    Phong Trào (Công. 4: 4; 5: 14; 6: 7; 9: 31; 14: 1; 16: 5; 17: 4).
          Số lượng tín hữu thêm vào hằng ngày, và chỉ trong một thời gian ngắn sau ngày lễ Ngũ Tuần con số nầy đã lên năm ngàn. Vào cuối thế kỷ đầu tiên, Quan Pliny nói cho hoàng đế Trojan rằng "có râùt nhiều người tin theo Chúa Giê-xu Chí-tôn đến nỗi các đền thờ tà thần bị bỏ hoang". Vào cuối thế kỷ thứ ba có độ 5 triệu tín hữu trở lên. Vào cuối thế kỷ thứ mười chín có khoảng 200 triệu người xưng nhận  Giê-xu Chí-tôn.
          Lịch sử cổ điển của La Mã xa xưa được Gibbon trình bày trong quyển sách tựa đề "Sự Suy Yếu và Sụp Đổ Của Đế Quốc La Mã"(Decline and Fall Of the Roman Empire),  viết vào thế kỷ mười tám bởi một học giả chống nghịch Cơ-Đốc giáo ra mặt. Gibbon kể ra bốn lý do đặc thù tại sao Cơ-Đốc giáo phát triển nhanh chóng trong thế giới ngày xưa:
    * Lòng Nhiệt Thành
          Những Cơ-Đốc Nhân tin và áp dụng lời dạy dỗ của Chúa Cứu Thế Giê-xu và từ chối thỏa hiệp với bất cứ tôn giáo thế gian hay quy tắc trần tục nào khác.
    * Giáo Lý Về Đời Sống Tương Lai
          Những Cơ-Đốc Nhân có một hy vọng về sự vinh hiển trong tương lai mà khôngthể hiểu được bằng tri thức loài người. Những Cơ-Đốc Nhân đầu tiên giữ mối hy vọng nầy và chia xẽ nó với các lòng tin quyết.
    * Quyền Phép Lạ Lùng
          "Các môn đồ lại lấy quyền phép rất lớn mà làm chứng" (Công. 4: 33). Các môn đồ làm phép lạ, minh chứng chân lý của sự dạy dổ của họ.
    * Đạo Đức Tinh Khiết
          Họ đã không thõa hiệp với những sự vô đạo đức của trần gian. Họ từ bỏ tội lỗi khi trở thành Cơ-Đốc Nhân,  sống đời gương mẫu, và phô bày tiêu chuẫn đức hạnh chưa từng có trong thế giới cổ xưa. Những Cơ-Đốc Nhân phô bày điều mà Phao-lô gọi là, "mầu nhiệm của sự tin kính Chúa". Mục tiêu của họ là trở nên giống như Chúa Giê-xu Chí-tôn trong mọi khía cạnh của cuộc đời.
    ĐẶC ĐIỂM CỦA HỘI THÁNH
          Ngày nay, đặc điểm của Hội Thánh trung bình khác biệt nhau rất nhiều. Trong các buổi nhóm của Hội Thánh địa phương có cả người đã được cứu lẫn người chưa được cứu. Đặc điểm của Hội Thánh địa phương là tổng hợp đặc điểm của các thuộc viên của họ. Đặc điểm của những tín hữu đầu tiên là:
    Đoàn Kết (United) (Công. 2: 44; 4: 32; Êph.  4: 1-7)
          "Những ngưòi tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung". Những Cơ-Đốc Nhân nầy đoàn kết với nhau không những như là một Hội Thánh, mà còn như là một gia đình và bạn bè từ bỏ,  nên các Cơ-Đốc Nhân giúp đỡ và động viên lẫn nhau. Có cùng một đức tin đặt nơi Thượng-Đế đã nối kết lại họ lại thành một nhóm. Kết quả của sự đoàn kết của họ là Đức Thánh Linh đã làm việc mạnh mẽ.
    Vững Vàng (Steadfast) (Công. 2: 42; Êph.  4: 14-16)
    Giáo lý của các Cơ-Đốc Nhân đầu tiên không soay từ sự kiện có thật qua những chuyện hoang đường. Họ vững vàng trong niềm tin nơi Lời Chúa và sự dạy dỗ của các sứ đồ.
          Họ nhận thức được nhu cầu thông công với nhau và kiên trì giữ sự thông công đó. Nếu các tín hữu dừng lại để chỉ trích nhau, thì hiển nhiên là họ có thể tìm thấy lỗi lầm của nhau.
          Ngược lại họ nhận thấy lỗi lầm của mình rất nhanh, nhưng lại rất chậm chỉ trích người khác.
          Chúa Giê-xu Chí-tôn là nội dung của những bài giảng và là trọng điểm của sự thờ phượng. Sự thiết lập của Lễ Tiệc Thánh và Lễ Báp-tem tiêu biểu cho công việc của ân điển trong lòng của những tín hữu đầu tiên và họ kiên tâm giữ các lễ nầy.
          Các tín hữu đầu tiên kiên trì tiếp tục cầu nguyện, "đồng một ý" mà cầu nguyện với nhau (Công, 1: 14). Hội Thánh đầu tiên nhận thức được sức mạnh của sự cầu nguyện và sự thành tín của Chúa trong việc đáp lời cầu nguyện.
          Từ Thiện (Charitable) (Công. 2: 45; 4: 34,35; Êph.  4: 28)
          Họ "bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùngcủa từng người". Các tín hữu ban cho một cách tự phát. Tình yêu Chúa và lòng khát khao ra ỏtuyền Phúc-Âm của họ thật lớn đến nỗi họ thấy tài sản vật chất của họ là quà tặng Chúa ban để dùng cho Chúa. Sự chia xẻ của họ là kết quả của lòng yêu thương và đức tin Cơ-Đốc, chứ không do luật lệ hay áp lực nào. Lòng từ thiện của họ là một lời chứng kỳ diệu của tình yêu Chúa Giê-xu Chí-tôn trong đời sống họ. Những người nhìn cuộc sống ấy có thể khen:  : Hãy xem những người tin Chúa,  họ yêu thương nhau vô cùng".
    Vui Mừng (Joyful) ( Công. 2: 46,47; Êph. 5: 18-21)
          Họ tiếp tục "chăm chỉ đến đền thờ. .vui vẻ thật thà". Chính lòng thật thà thuần nhất đã làm cho họ vui vẻ. Họ không bị phân tâm giữa Chúa Giê-xu Chí-tôn và thế gian, họ hoàn toàn là của Chúa,  họ mừng rỡ trong Chúa và đầy sự vui vẻ Ngài.
    Thành Công (Successful) (Công. 2: 41; 5: 14; 6: 7; 13: 44; 16: 5; 17: 6; 18: 8).
          Trong hai thế kỷ đầu tiên, Hội Thánh phát triển nhanh như một đám cháy lan rộng đến nỗi làm "đảo lộn" cả toàn thế giới.
          Hội Thánh đầu tiên rất được lòng Thượng-Đế và Ngài cho nhiều người thêm vào Hội Thánh. Ngày nay chúng ta thường chỉ có tên của các tín hữu được thêmvào Hội Thánh. Những cái tên nầy làm gia tăng con số, nhưng không tăng sức mạnh của Hội Thánh. Nhưng khi Chúa thêm người vào Hội Thánh thì các tín hữu sẽ đoàn kết, vững vàng giúp đỡ nhau và đầy vui mừng. Kết quả là sự hiện diện của họ làm cho Hội Thánh thành công.
          Điều đáng chú ý là mặc dù gặp sự chống phá và bách hại của các quan lại và chính quyền. Hội Thánh đầu tiên cũng được lòng mọi người, sự chân thật và vui mừng của các Cơ-Đốc Nhân đầu tiên đã gây một ấn tượng mạnh mẽ cho mọi người trên thế giới.
    TỔ CHỨC CỦA HỘI THÁNH
          Từ sự kiện Phao-lô gởi nhiều lá thư đến cho các nhóm tín hữu ở nhiều địa phương khác nhau cho thấy rõ ràng có những Hội Thánh tổ chức quy củ trong thế kỷ đầu tiên. Lá thư đầu tiên gởi đến Hội Thánh tại Cô-rinh-tô cho thấy có những hình thức của sự phụng vụ (I Cô. 12: 4-11). Các lá thư sau nầy của Phao-lô gởi đến Ti-mô-thê và Tít chứa đựng những chỉ dẫn cho một Hội Thánh có tổ chức quy củ. Sự điều hành của Hội Thánh địa phương bởi những chức viên được thừa nhận, và Giáo Hội Nghị tại thành Giê-ru-sa-lem (Công. 15), cho thấy chúng ta thấy một tôn tri trật tự đã được thiết lập trong Hội Thánh đang phát triển nầy.
    Các Chức Viên
          Trong buổi ban đầu của Hội Thánh không có hàng giáo phẩm. Phẩm trật nầy và các và các chức vụ khác được đặt ra khi nhu cầu nầy xuất hiện. Cũng như các vị vua,  quan xét, và các tướng lãnh đạo có mặt để đáp ứng nhu cầu của xã hội dân sự (civil society), thì hàng giáo phẩm cũng được đặt ra để đáp ứng nhu cầu và trách nhiệm của Hội Thánh đang tăng trưởng.
    * Trưởng Lão (Elders) (Công. 11: 29,30; 14: 23; 20: 17; I Ti. 5: 17; Tít 1: 5).
          Trong khi Kinh Thánh không nói rõ về định chế của chức vụ trưởng lão, thì chức vụ nầy đã được nhiều người biết đến và được thông hiểu nhiều đến nỗi đã được nhiều người ta tin rằng nó là một các thức quản trị quen thuộc trong những nhà hội Do Thái giáo (Mat. 15: 2; 21: 23; 26: 57).xuất phát từ sự tổ chức của nước Do Thái ngày xưa (Xuất 19;7; 24: 1; Giô-suê23: 2). Chữ "trưởng lão" gợi lên hình ảnh của người cao tuổi, nhưng chữ nầy được dùng để chỉ chức vụ thích ứng với một người có sự  khôn ngoan và trưởng thành của một người cao tuổi. Một vinh dự tương tự được người La Mã ban tặng cho các vị nghị sĩ hoặc bô lão, là những người tạo thành guồng máy cai trị nghị sĩ hoặc bô lão, là những người tạo thành guồng máy cai trị. Những viên chức của Hội Thánh đầu tiên  mang tước vị quen thuộc nầy tự gợi lên sự kiện họ là những người thi hành bổn phận quản lý và cai trị.
          Các sứ đồ được gọi là trưởng lão (I Phi. 5: 1), nhưng con số các sứ đồ bị giới hạn trong vòng những người đã thấy Chúa Giê-xu sau khi phục sinh (Công. 1: 21,22), và những người nầy không bao lâu sẽ qua đời. Do đó sự lãnh đạo của họ chỉ là tạm thời.
          Các trưởng lão cũng được gọi là giám mục (bishop) hay là giám thị (overseer( Tít 1: 5,7). Tước hiệu thứ nhất là một tên quen thuộc hơn đối với các tín hữu Do Thái tước hiệu thứ nhì thì quen thuộc với người dân ngoại. Đối với những người dân ngoại nó gợi lên ý cai trị, vì từ ngữ nầy đã thông dụng dưới thời cai trị của người La Mã.
          Các trưởng lão thường được chỉ định làm mục sư (Êph.  4: 11) nhằm nhấn mạnh sự kiện họ là những người được được Chúa bổ nhiệm làm người chăn bầy "để nuôi bầy chiên của Thượng-Đế". Vì thế họ là thầy giáo được bổ nhiệm,  là vị linh hướng trong Hội Thánh đầu tiên.
    * Chấp Sự (Deacons) (Công. 6: 1-6; Phi-líp. 1: 1; I Ti.3: 8).
          Chức vụ chấp sự bắt đầu với bổ nhiệm Phi-líp, Ê-tiên, và năm bạn đồng lao của họ. Chức vụ nầy chính yếu được đặt ra để gánh vác thay cho các sứ đồ những công tác phục vụ khác để  cho các sứ đồ có thể chuyên lo về sự cầu nguyện và giảng đạo. Các chấp sự không có bổn phận tuyên giảng hoặc dạy dỗ, dầu vậy họ đã ở trong số những người giảng đạo đầu tiên (first preachers)(Công. 6: 8-10; 8: 5). Họ cũng là những người truyền giáo đầu tiên(first evangelists), vì những bổn phận đặc biệt của chấp sự khiến họ phải đến những nhà của dân nghèo và truyền giảng cho những người nầy. Họ tạo thành khuôn mẫu (Frame Work) cho các cơ quan từ thiện trong Hội Thánh. So sánh với số lượng của các trưởng lão, thì số lượng chấp sự ít hơn, nhưng điều nầy là tăng thêm giá trị của chức vụ họ hơn là giảm.
    Phẩm Chất (Qualifications)
          Các trưởng lão được lựa chọn rất kỹ lưỡng. Phẩm chất cho chức vụ quan trọng nầy được liệt kê trong I Ti-mô-thê 3: 1-7. Người trưởng lão phải không chổ trách được và phải có tiếng tốt. Người ấy phải chứng minh khả năng cai trị Hội Thánh qua việc trước hết cho thấy khả năng cai trị chính gia đình mình. Thêm vào đó, người ấy  phải tiết độ, tài trí, hiếu khách, khéo dạy dỗ. Người ấy không hay cải cọ, không tham lam,  và không là người mới tin Chúa vì có thể tự kiêu.
          Cũng giống như vậy,  phân đoạn I Ti-mô-thê 3: 8-13 mô tả phẩm chất của các chấp sự. Chấp sự, giống như trưởng lão,  phải là chồng của một vợ (người vợ phải đứng đắn, thật thà, tiết độ và trung tín trong mọi sự), là một người cha có thể quan lý con cái và cai trị chính nhà mình. Nếu phải chọn từ những người trẻ tuổi, thì người trẻ nầy phải trước tiên chịu một thời kỳ tập sự thử thách, và khi được thừa nhận hoàn toàn thì sẽ bổ nhiệm làm chấp sự.
    Trách Nhiệm
          Trong Hội Thánh đầu tiên không có sự phân biệt giữa trưởng lão, giám mục,  và mục sư như ngày nay. Ngay cả chức chấp sự cũng không luôn luôn bị hạn chế trong việc săn sóc người nghèo, nhưng thường bao gồm cả các trách nhiệm chỉ định cho các trưởng lão, như trong trường hợp của Ê-tiên và Phi-líp. Tuy nhiên,  những trách nhiệm điều hành bởi các chức vụ nầy được chia thành ba công tác riêng biệt.
    * Truyền Đạo (evangelizing)
          Các nhà truyền đạo thành lập Hội Thánh. Họ là những giáo sĩ và nhân viên phát triển. Các Sứ Đồ phục vụ trong cương vị nầy. Phao-lô vị sứ đồ duy nhất mà công việc của ông được tường thuật chi tiết,  du hành từ nơi nầy sang nơi kia. Mục tiên chính yếu của ông là "rao giảng Tin Lành ở nơi nào danh Chúa Giê-xu Chí-tôn chưa được truyền ra" (Rô. 15: 20), và các bức thư của ông cho một danh sách dài của những Hội Thánh mà ông đã thành lập.
    * Chăn Bầy ( shepherding)
          Mục sư lo chăm sóc hoặc cai quản Hội Thánh. Ông ta được phân chức cho những Hội Thánh mà các sứ đồ đã thành lập và tiếp nối công việc của các nhà truyền đạo đã khai sáng trước đây. Công việc nầy gồm có giám sát, giảng dạy, và thăm viếng.
          Chúa Giê-xu Chí-tôn tóm tắt viện giám thị khi Ngài nói về sự chỉ định "công việc của mỗi người" (Mat. 13: 34) và công tác cho "mỗi người tùy khả năng" (Mat. 25: 15). Sự thành công không tiền khoáng hậu của Hội Thánh đầu tiên phần lớn là do sự kiện mỗi tín hữu tham gia tích cực và công việc Hội Thánh. Các sứ đồ nhận thức rằng Chúa Giê-xu Chí-tôn thiếp lập Hội Thánh nhằm để phát triển những người làm việc cũng như để thực hiện công việc (Êph.  2: 10).
          Phao-lô nói về việc giảng luận trong II Ti-mô-thê 4: 2 và Tít 2: 1. Ti-mô-thê là mục sư của Hội Thánh tại thành Ê-phê-sô, Tít là mục sư tại thành Cơ-rêùt. Trong lá thư có nói đến hai vị trẻ tuổi nầy, Phao-lô quan tâm dến bổn phận mục vụ của họ, nhất là về nội dung giảng dạy.
          Sự thăm viếng các tín hữu của Hội Thánh,  nhất là khi họ đau ốm hoặc buồn bã,  là một bổn phận đặc biệt của mục sư. Là người chăn bầy,  ông ta phải phục vụ kẻ yếu đuối và người cô thế,  kẻ nghèo và người thiếu thốn.
    * Dạy Dỗ (teaching)
          Người thầy cũng cố,  hoặc gây dựng Hội Thánh. Trong Hội Thánh đầu tiên người ta thường dạy hơn là giảng. Trong khi Giăng-báp-tít là thầy giảng, thì Chúa Giê-xu Chí-tôn là thầy giáo. Sáu mươi trong số chín mươi là người ta xưng gọi Chúa Giê-xu thì Ngài được gọi là giáo sư. Và Ngài ủy nhiệm các môn đồ dạy dỗ cũng như giảng luận (Mat. 28: 19,20). Trong khi chữ "giảng luận" xuất hiện khoảng 150 lần trong Thánh Kinh,  chữ "dạy dỗ" được đề cập đến độ 250 lần. Hội Thánh đầu tiên đã thấy tầm quan trọng chính yếu của dạy dỗ liên tục lời Chúa cho những tín hữu của họ.
    TỔNG KẾT
          Hội Thánh Cơ-Đốc được hành hình trong ngày lễ Ngũ Tuần và Đức Thánh Linh đã hành động trong sự tiếp tục phát triển và tăng trưởng của Hội Thánh. Cần nắm vững 3 điều cơ bản nầy:  1.- Chúa Giê-xu là Đấng Mê-si-a, phục sinh, và sẽ hồi lai. 2.- Hội Thánh phát triển mạnh mẽ bởi việc chứng đạo và 3. Các tín hữu tăng trưởng nhờ sự dạy dỗ liên tục mà họ nhận được.
          Cơ-Đốc giáo tràn lan nhanh chóng.  Gibbon đưa ra 4 lý do chính:  lòng nhiệt thành, giáo lý về đời sau, quyền phép lạ lùng, và đạo đức thanh khiết. Các tín hữu đoàn kết, vững vàng, yêu thương, vui mừng, và thành công.  Những yếu tố nầy là nỗi bậc hẳn sự tương phản với lối sống tà giáo đang vây quanh Hội Thánh.
          Sau ngày khai sinh tại lễ Ngũ Tuần, Hội Thánh nhanh chóng trở thành tổ chức có qui củ các chức vị được đặt ra khi có nhu cầu về đáp ứng những trách nhiệm về Hội Thánh tăng trưởng.
          Chức vụ trưởng lão có thể đã xuất phát từ chức vụ quen thuộc trong nhà hội Do Thái, có lẽ từ những thượng nghị sĩ trong chính quyền La Mã. Chức vụ nầy gợi ra sự khôn ngoan, trưởng thành về tuổi tác. Các sứ đồ được gọi là trưởng lão. Giám mục,  giám thị,  và mục sư  và những tên khác của chức vụ nầy.
          Chấp nhận nhiều công tác phục vụ khác nhau cho phép các sứ đồ tập trung chuyên lo sự cầu nguyện và chức vụ giảng đạo. Ê-tiên và Phi-Líp hai vị chấp sự đầu tiên. Và những người truyền đạo cũng như giảng Tin Lành chức vụ nầy hình thành một khuôn mẫu cho những cơ quan từ thiện trong Hội Thánh.
          Phẩm chất đòi hỏi cho mỗi chức vụ được mô tả trong I Ti-mô-thê 3. Bổn phận của họ gồm có truyền giảng, chăm sóc,  và dạy dỗ.
    BÀI LÀM
    1.     Mô tả ba điều căn bản của Hội Thánh đầu tiên?
    2.     Mô tả hai phương pháp của sự tăng trưởng trong Hội Thánh đầu tiên?
    3.     Tại sao Cơ-Đốc giáo lan rộng nhanh như vậy?
    4.     Giải thích tầm quan trọng của năm đặc tính của Hội Thánh đầu tiên?
    5.     Trong ánh sáng của năm đặc tính nầy, hãy so sánh Hội Thánh đầu tiên và Hội Thánh ngày nay?
    6.     Phân biệt giữa chức vụ trưởng lão và chấp sự?
    7.     Tại sao Phao-lô quá quan tâm đến phẩm chất của hai chức vụ nầy?
    8.     Mô tả bổn phận chính của các chức viên trong Hội Thánh đầu tiên?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Shelley, Bruce L.  What id the Church:  God s Pepple. Wheaton, IL:  Victor Books, 1983.
        Werning, Waldo J. Vision and Strategy for Church Growth. Chicago:  Moody Press, 1975.

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 7 | CHƯƠNG 9 >>
    CHƯƠNG 8
    THIÊN SỨ
    (Angels)
          Kinh Thánh có nhiều phân đoạn nói về thiên sứ. Tuy thế, ngay cả Cơ-Đốc Nhân lâu năm cũng biết rất ít về giáo lý Thiên sứ trong Kinh Thánh. Vì sự thiếu hiểu biết nầy, mà những hình ảnh méo mó và mê tín khác nhau đã làm hư hoại giáo lý liên quan đến các thiên thần. Kinh Thánh nói nhiều về nguồn gốc,  bản tính, và sự công việc của các Thiên sứ.
    SỰ TẠO DỰNG CÁC THIÊN SỨ
          Các Thiên sứ không phải tự nhiên mà có. Họ có một sự khởi đầu. Họ được tạo dựng ra bởi một thiên lệnh (Nê-hê-mi 9: 6; Cô-lô-se 1: 16).
    Số Lượng Và Đẵng Cấp ( Gióp 25: 3; Mat 26: 53; I Tê. 4: 16; Hê. 12: 22; I Phi. 3: 22; Khải. 5: 11).
          Những từ ngữ như "hàng muôn hàng ngàn Thiên sứ",  "một đám đông thiên binh", và " muôn vàn Thiên sứ" đề cập đến số lượng vượt cả sự tính toán của loài người nếu không muốn nói là không thể biết được.
          Có những loại hoặc cấp bậc khác nhau của các Thiên sứ, với nhiều chức vụ và khả năng khác nhau. Mặc dù Thượng-Đế tạo dựng họ rất giống nhau đủ để nhìn biết nguồn gốc Thiên Thượng của họ, Ngài cũng cho thấy nhiều sự khác nhau giữa các vị nầy. Thiên sứ được gọi là quyền lực (Powers), thiên sứ trưởng (archangels) Sê-ra-phin, Chê-ru-bin, và Thiên binh của đấng Chí Cao.
    Cao Cấp Hơn Loài Người  (Superior to humans) (Thi. 8: 4,5; II Vua 19: 35; Công. 5: 19; Lu. 20: 36).
          Loài người được tạo dựng thấp hơn các Thiên sứ. Thiên sứ vô hình và bất tử,  và hơn nữa không bị giới hạn vào trong thế gian nầy như loài người. Thiên sứ là những thần linh được tạo dựng riêng rẽ. Thượng-Đế ban thiên đàng làm nơi ở cho các Thiên sứ, nhưng " Ngài đã ban trái đất cho con cái loài người". chúng ta sẽ thấy thêm những sự tương phản giữa đặc tính giữa Thiên sứ và loài người.
    Phục Dưới Quyền Thượng-Đế (Subordinate to God) (Êph.  1: 20, 21; Côl. 2: 18; Hê . 1: 6-8,13; Khải 19: 10; 22: 8,9).
          Thiên sứ cao hơn loài người rất nhiều, nhưng họ thấp hơn Thượng-Đế rất xa. Chủ đề của sách Hê-bơ-rơ. Chương 1 là Chúa Giê-xu cao trọng hơn các thiên sứ. Ngài "nhập thể và sống ở giữa chúng ta",  và như vậy trở thành "thấp hơn các thiên sứ một chút". Tuy thế, khi trở về thiên đàng Ngài ngự bên hữu Thượng-Đế. "xâu xa hơn mọi chủ quyền, thế lực, sức mạnh, và sự thống trị".
          Thiên sứ không bao giờ cho phép loài người thờ lạy họ. Một trong những lý do chính của Phao-lô viết lá thư đến người Cô-lô-se là để sửa sai lối thờ lạy Thiên sứ đang thịnh hành mà một số tín hữu đầu tiên đã học đòi từ những người thờ tà thần - lối hành đạo nầy chứng minh rằng thế giới ngày xưa tin tưởng nơi sự thờ lạy Thiên sứ.
    ĐẶC ĐIỂM CỦA THIÊN SỨ (characteristics of angles)
          Thánh Khiết (Holy) (Mat. 25: 31; Lu. 9: 26; Công. 10: 22; Khải. 14: 10).
          Các Thiên sứ trong tình trạng chưa sa ngã thì hoàn toàn thuần khiết. Họ ở vào tình trạng thánh khiết cao cả được thiết định, và không bị cảm dỗ bởi điều ác. Việc họ phủ nhận sự thờ lạy từ phía loài người là một bằng chứng của một điều nầy. Toàn thể bản chất họ ghớm ghét những điều ác. Sự hoàn hảo đạo đức của họ biểu lộ qua những câu như "các thiên sứ thánh" và "các thiên sứ được lựa chọn".
          Các Thiên sứ là những hữu thể sáng láng. Chỉ có vài chỗ thì sự xuất hiện của các Thiên sứ đối với loài người được kèm theo sự mô tả nhân cách của họ. Để ý chúng ta thấy rằng Chúa Giê-xu Chí-tôn, lúc nói về sự tái lâm của Ngài,  đề cấp đến vinh quang của các Thiên sứ cũng như của Ngài( Lu. 9: 26).
    Thông Minh (Intelligent) (II Sa. 14: 20; I Cô. 13: 1; Ga. 1: 8).
          Cả Cựu Ước và Tân Ước đánh giá cho sự thông minh của các Thiên sứ. Học giả Phao-lô cũng công nhận sự thông minh vượt bực của thiên sứ. Tuy nhiên, họ không phải là toàn tri (omniscient) như Thượng-Đế. Chúng ta đọc thấy rằng Hội Thánh là sự mầu nhiệm cho các Thiên sứ cũng như cho các tiên tri thời Cựu Ước ( I Phi.1: 12), và họ cũng như chúng ta không hề biết ngày giờ Chúa tái lâm ( Mác. 13: 32).
    Mạnh Mẽ Và Quyền Năng ( Mighty and powerful) (Thi. 103: 20; II Tê. 1: 7).
          Không những các Thiên sứ có "sức mạnh vượt bực", mà còn được gọi là có "quyền năng" (mighty). Trong sách Khải Huyền, các Thiên sứ được chỉ định thi hành những sự đoán phạt khác nhau ảnh hưởng đến hàng triệu người. dù họ quyền năng nhưng không phải là toàn năng (almighty). Họ phải tuân phục dưới Thượng-Đế (I Phi. 3: 22).
          Các Thiên sứ chắc chắn vận hành nhanh hơn vận tốc ánh sáng(vận tốc ánh sáng là 186,000 dặm trong một giây). Có lẽ họ di chuyển nhanh như vận tốc của tư  tưởng. Đa-ni-ên được báo cho biết rằng vào lúc bắt đầu lời cầu nguyện của ông,  Thiên sứ Gáp-ri-ên được sai bay cấp tốc để có thể gặp Đa-ni-ên trong đoạn cuối của bài cầu nguyện.
    Khiêm Nhường Và Vâng Lời (Eâs. 6: 2; II Phi. 2: 11; Giu. 9).
          Sê-ra-phin mà Ê-sai thấy là một thiên sứ cao cấp,  nhưng họ khiêm nhường che mặt lại trước sự hiện diện của Chúa. Thiên sứ trưởng Mi-ca-ên khi chiến đấu với một quyền lực lớn hơn, đã biểu lộ sự khiêm nhường bằng cách kêu cầu Chúa quở trách quyền lực nầy. Sự kiện Chúa Giê-xu dạy các môn  đồ cầu nguyện xin ý Cha được nên trên đất cũng như trời, cho thấy trên thiên đàng tất cả đều vâng lời. Và sự vâng lời nầy được thôi thúc bởi tình yêu. Vì các thiên sứ thánh yêu Chúa, nên họ vâng lời Ngài.
    PHỤNG VỤ CỦA CÁC THIÊN SỨ (Ministry of Angles).
          Thiên sứ có các tính hoàn hảo. Mỗi Thiên sứ cung hiến sự chúc tụng lên Thượng-Đế. Thiên sứ vừa thờ phượng Thượng-Đế vừa là tôi tớ của loài người (Hê. 1: 4). Chúa Giê-xu bày tỏ chân lý nầy khi Ngài phán rằng các thiên sứ của con trẻ thường thấy mặt Đức Chúa Cha trên thiên đàng ( Mat. 18: 10).
    Dẫn Dắt (Lu. 2: 10-12; Công. 8: 26; 10: 3,7,8).
          Các Thiên sứ đôi khi xuất hiện trước con dân của Đức Chúa Trời để tuyên bố chương trình của Ngài cho đời sống họ hoặc là để chỉ đạo công việc mà Ngài dành cho họ làm. Điều đặc biệt đáng chú ý là các thiên sứ rất thích công việc của Cơ-Đốc Nhân. Trong trường hợp của Phi-e-rơ và Cọt-nây một thiên sứ hướng dẫn Cơ-Đốc Nhân Phi-e-rơ đến gặp tội nhân và ngược lại. Thiên sứ theo dõi những mối quan hệ của tín hữu và những người chưa tin Chúa. Thiên sứ vui mừng mỗi khi có người ăn năn tội và trở lại với Chúa . (Lu. 15: 10).
    Yên Uûi (Mat. 4: 11; Lu. 22: 43)
          Công tác yên ủi các thiên sứ thấy rõ ràng trong đời sống của A-ga, Ê-li, và Phao-lô . A-ga,  khi bà lần đầu tiên chạy trốn khỏi Sa-ra (Sáng. 16: 7,8); Ê-li, khi ông chạy vào đồng vắng tránh cơn giận của hoàng hậu  Giê-sa-bên (I Vua. 19: 2-8); Phao-lô,  khi ông bị đắm tàu (Công. 27: 23,24).
          Nhà truyền đạo Spurgeon nói : "Lòng tin vững chắc của tôi là các Thiên sứ thường được Thượng-Đế dùng để đem những ý tưởng yên ủi vào trong lòng dân Ngài. Các Thiên sứ đến và hầu việc Chúa Giê-xu, và tôi quả quyết rằng họ cũng hầu việc chúng ta nữa. Vài người trong chúng ta có lòng tin lớn nơi sự hiện hữu của các Thiên sứ".
    Bảo Vệ (Thi. 91: 11; Eâs. 63: 9)
          Các thiên sứ làm tròn công tác bảo vệ trên dân của Đức Chúa Trời. Các thiên sứ cũng là những vị bảo vệ nước Do Thái (Xuất 14: 19) và Đa-ni-ên (Đa. 6: 22).
          Những phần nầy của Kinh Thánh biểu lộ tình yêu vĩ đại của Thượng-Đế. Được các Thiên sứ của Thượng-Đế bảo vệ khỏi mọi nguy hiểm thì thật là một ơn phước vô cùng lớn lao cho Cơ-Đốc Nhân.
    Giải Cứu (Thi. 34: 7)
          Rõ ràng là nhiều lần các thiên sứ giải thóat các sứ đồ khỏi sự bách hại đang khi thi hành chức vụ.
          Khi người Do Thái bỏ tù Phi-e-rơ và các sứ đồ khác, thì một Thiên sứ đến vào ban đêm, mở cửa tù, và dẫn họ ra ngoài (Công. 5: 17-19).
          Sau đó khi vua Hê-rốt bỏ tù Phi-e-rơ dự định sẽ giết ông thì một Thiên sứ xuất hiện trong ngục thất,  đánh thức ông dậy, bứt đứt xiềng và giải thoát ông (Công. 12: 6-9).
          Các bức tường của nhà tù,  cổng sắt và 4 binh lính canh gác không thể ngăn cản các thiên sứ giải cứu các sứ đồ đang lâm nguy.
    Đoán Phạt (II Tê. 1: 7-9).
          Nhiều sự tường thuật trong Kinh Thánh nói về công tác đoán phạt của các Thiên sứ.
          Trong sách Sáng Thế Ký. 19, sự đoán phạt của Thượng-Đế giáng trên hai thành độc ác Sô-đôm, Gô-mô-rơ được thi hành bởi hai vị thiên sứ .
          Vua Đa-vít có sự lựa chọn trong 3 hình phạt về tội kiêu ngạo trong việc kiểm kê dân số để ước tính sức mạnh quân đội của ông. Đa-vít chọn hình phạt dịch hạch thay vì cơn đói kém hay là sự bại trận. Đa-vít phó mình vào sự nhân từ của Thượng-Đế và vị Thiên sứ thi hành án lệnh (II Sa. 24: 15,16).
          Quân đội A-si-ri dường như vô địch. Hết thành phố nầy đến thành phố khác lần lượt rơi vào tay đạo quân bách chiến bách thắng của thế lực đang lên trên thế giới. Thành Giê-ru-sa-lem đứng trước nguy cơ sụp đỗ. Nhưng nội trong đêm đó khi cả thành phố đang chìm trong tuyệt vọng, Ê-xê-chia cầu nguyện,  và thiên sứ của Thượng-Đế tàn sát 185.000 quân A -si-ri ( II Vua 19: 35).
    SỰ BẠI HOẠI CỦA THIÊN SỨ
          Nghiên cứu về bản chất thánh khiết và công chính của Đức Chúa Trời khiến chúng ta không thể nào tin rằng Ngài sẽ tạo dựng một thứ gì đó có bản chất ác, xấu từ  khởi thủy. Nghiên cưú về loài người ta thấy họ được tạo dựng nên một cách hoàn hảo, nhưng chỉ bởi một hành động cố ý không vâng lời, là người đã làm hư hoại bản tính của họ và trở nên tội lỗi. Các thiên sứ sa ngã cũng lâm vào một tình trạng  giống Phi-e-rơ nói rằng họ đã phạm tội (II Phi 2: 4), trong khi Gui-de tuyên bố rằng các thiên sứ "không giữ các thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình" (Gui. 6).
          Thật khó khám phá ra tất cả sự cư xử của Thượng-Đế đối với các tạo vật oai quyền này mà Ngài đã cho họ được chầu phụng chung quanh Ngài làm những bậc dự phần trong sự thánh khiết và vinh hiển của Ngài. Tuy nhiên, từ những lời nói bóng gió rải rác khắp nơi trong Kinh Thánh, chúng ta có thể chắp nối lại được những sự kiện xảy ra liên quan đến vấn đề này.
    Thiên sứ Chê-rúp (Cherub) Được Xức Dầu (Êx. 28: 14).
          "Chê-rúp" là cấp bậc cao nhất trong thế giới thiên sứ. Nghiên cứu chữ "Chê-bu-bim" (Số nhiều của chữ Chê-rúp) trong Kinh Thánh (Eâx. 1: 5-14; 10: 8-22; Khải. 4: 6-11;5: 11-14). Cho thấy trong các tạo vật của Thượng-Đế thì cấp bậc cao cấp nầy ngồi sát bên ngai Ngài và hướng dẫn sự thờ phượng của toàn vũ trụ. Chữ "được xức dầu" ở đây chỉ tỏ rằng Lu-xi-phe (Lucifer) Là trưởng của các  thiên sứ Chê-ru-bim cao cấp, một địa vị đặc biệt được Thượng-Đế chỉ định.
    Dấy Loạn
          Kinh Thánh kể lại nguyên nhân sự bất mãn, và dấy nghịch cuối cùng của Lu-xi-phe. Lu-xi-phe thấy sự vinh quang của địa vị và sự huy hoàng của nó quá lớn. Sự kiêu ngạo ngự trị và tràn ngập tấm lòng nó(I Ti. 3: 6). Vẽ mỹ lệ làm cho lòng nó tôn lên,  những lý lẽ của đầu óc thông sáng nó làm hư hỏng sự khôn ngoan của nó. Giống như Aùp-sa-lôm, người con đẹp trai của Đa-vít (II Sa. 15:3-6),ông nầy tìm cách lấy lòng những người kiện thưa trong vương quốc để đạt ngôi vua.
          Ê-sai mô tả một cách hết sức tượng hình tham vọng của tên vương tử Lu-xi-phe ngạo mạn nầy. Vì khi Ê-sai đề cập đến Vua Của Ba-bi-lôn, ông cũng mô tả một Lu-xi-phe mạnh mẽ cường thịnh, có tham vọng làm Thượng-Đế (Eâs. 14: 12-15; Công. 12: 21-23).
          Khi Lu-xi-phe tưởng tượng đến việc nó sẽ là Thượng-Đế, thì lòng dấy loạn chiếm ngự tâm trí nó, và nó âm mưu chống lại Chúa là Đấng nó đã từng trung thành và vâng phục. Chắc chắn là có sự bất mãn xuất hiện trong lòng các thiên sứ ;  sự bất mãn chỉ khiến cho nó càng thêm khinh thường và không vâng lời.
    Thua Bại
          Như Thượng-Đế đã biết trước, sự dấy lọan của Lu-xi-phe bị thất bại. Kết quả của sự chiến đâùu giữa các thế lực trên trời là sự đại bại của Lu-xi-phe và đồng bọn nó. Chúng nó " không thắng, và chẳng còn thấy nơi chúng nó ở trên trời nữa" (Khải. 12: 8). Kết quả của sự phản loạn ấy là Sa-tan mất địa vị, và một vị kế nghiệp được lập lên để thế vào chỗ trống của nó trên thiên đàng.
          Nhóm dấy loạn trên thiên đàng được xét xử nhanh chóng và nghiêm khắc. " Thượng-Đế chẳng tiếc các  phạm tội, quăng vào trong vực sâu địa ngục" (II Phi. 2: 4). Mặc dù chúng rất mạnh mẽ và đông đảo Thượng-Đế không vì thế mà giữ chúng lại. Ngay cả số lượng đông đảo của chúng cũng không nghĩa lý gì. Không chần chờ, hình phạt tiếp theo liền với tội phạm (Eâs. 14: 15; Eâx. 28: 17).
          Vì sự kiêu ngạo là nguyên nhân của hành động bất chánh kinh khủng đầu tiên,  hành động nầy đã làm hoen ố sự thánh khiết và hạnh phước của thiên đàng, cho nên Thượng-Đế  trong sự toàn tri của Ngài đã sắp đặt một hình phạt tương xứng sự quá phạm. Tội kiêu ngạo được hình phạt bởi sự phô bày của ân điển. Một dòng giống thấp hơn được tạo dựng và đặt xuống đất. Đức Chúa Trời tấy thích hợp để "truyền thụ sức mạnh" cho những tạo vật yếu hơn và thấp hơn (Sáng. 1: 26-28; Thi. 8: 2-5).

    TỔNG KẾT
          Đề tài thiên sứ không được biết đến nhiều trong vòng các Cơ-Đốc Nhân. Kết quả là có nhiều quan niệm sai lầm và mê tín đã làm méo mó giáo lý này. Nhưng Kinh Thánh nói nhiều về các thiên sứ.
          Thiên sứ là những hữu thể được tạo dựng nên. Họ có nhiều cấp bậc khác nhau và được Kinh Thánh đề cập qua nhiều từ ngữ. Các thiên sứ cao hơn loài người, nhưng thấp hơn Thượng-Đế.
          Kinh Thánh nói nhiều về những đặc tính của Thiên sứ : thánh khiết, khôn ngoan,  mạnh mẽ, và quyền năng, khiêm nhường và vâng phục.
          Các thiên sứ có nhiều công tác và mục đích khác nhau. Họ tiến hành công tác hướng dẫn, yên ủi, bảo vệ,  giải cứu và trừng phạt.
        Các thiên sứ,  cũng như loài người,  được tạo dựng ra hoàn hảo và phải giống như là người, bởi một hành vi cố ý không vâng lời mà trở thành suy bại. Kinh Thánh nói rằng Lu-xi-phe là thiên sứ trưởng,  phản nghịch lại Thượng-Đế và tìm cách trở thành Đức Chúa Trời. Lu-xi-phe (còn gọi là Sa-tan) bị đại bại, mất địa vị quyền thế, bị phạt và quăng ra khỏi thiên đàng.
    BÀI LÀM
    1.     Tại sao tín hữu ít biết về vấn đề các thiên sứ?
    2.     Kinh Thánh nói cho chúng ta biết gì về số lượng và cấp bậc của thiên sứ?
    3.     Đưa ra những dẫn chứng trong Kinh Thánh nói về địa vị của các thiên sứ trong mối liên hệ với loài người và với Thượng-Đế?
    4.     Kể ra những đặc tính của các thiên sứ?
    5.     Khi nào và tại đâu mà các thiên sứ phục vụ trong công tác hướng dẫn?
    6.     Kể ra vài nhân vật trong Kinh Thánh được bảo vệ bởi các thiên sứ?
    7.     Liệt kê vài dịp các thiên sứ thi hành công tác giải cứu?
    8.     Điều gì đưa đến sự dấy loạn và đại bại của Lu-xi-phe?
    9.     Kết quả của việc Sa-tan bị đại bại là gì?
    10.  Thảo luận địa vị và sự phụng vụ của các thiên sứ kể từ thời đại Kinh Thánh?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Beyer, Douglas, Basic Beliefs of Christians. Valley Forge, PA:  Judson Press, 1981. Chapter 6.
          Dickason, C. Fred. Angles: Elect and Evil. Chicago:  Moody Press, 1975.
          Ryrie, Charles C. A Survery of Bible Doctrine. Chicago:  Moody Press, 1972. Chapter 5

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 8 | CHƯƠNG 10 >>
    CHƯƠNG 9
    ĐẶC TÍNH, CÔNG VIỆC VÀ SỰ THỜ PHƯỢNG SA-TAN

    ( Character, Work, and Worship Of Satan)
          Sự chết và phục sinh của Chúa Giê-xu Chí-tôn đã chiến thắng Sa-tan, dầu vậy nó vẫn còn hiện diện như là kẻ cai trị thế gian. Các chương trước luận giải địa vị trước kia của Sa-tan là thiên sứ được xức dầu của Đức Chúa Trời, sự sa ngã của nó,  và việc nó cám dỗ loài người đầu tiên. Đặc tính của Sa-tan, công việc của nó trên đất, và nó được thờ lạy trên thực tế sẽ được xem xét trong chương nầy.
    ĐẶC TÍNH CỦA SA-TAN
          Nhiều phân đoạn Kinh Thánh nói rõ ràng về bản tính thật của Sa-tan. Trong Kinh Thánh Cựu Ước có nó được gọi là "Bê-li-an" (Belial) có nghĩa là vô luật pháp, và cho thấy đặc tính của nó hoàn toàn gian ác. Trong Kinh Thánh Tân Ước nó được gọi là "Bê-ên-xê-bun" (Beelzebul) kẻ cai trị những tà linh và "A-pô-li-ôn" (Apollion) kẻ hủy phá. Tên "Sa-tan" có nghĩa là địch thủ "Qủy ma" có nghĩa là kẻ báng bổ, kẻ phỉ báng.
    Gian Aùc (Wicked)
          Chúa dạy môn đồ Ngài xin sự giải thoảt khỏi "kẻ ác" (the evil one) (Mat. 6: 13). Chúa Giê-xu Chí-tôn cũng gọi Sa-tan là "quỉ dữ" trong ẩn dụ của người gieo giống (Mat. 13: 19). Sa-tan là một kẻ giết người và kẻ nói dối từ lúc ban đầu (Giăng 8: 44). Nó khích động người con đầu lòng của cặp cha mẹ đầu tiên giết em mình, và kể từ đó nó xông sáo gia tăng mọi điều ác (I Giăng 3: 8,12). Sa-tan làm đủ điều trong quyền hạn nó để làm hư hỏng sự công chính của những tín hữu và làm gia tăng những sự gian ác của loài người.
    Đầy Quyền Lực (Powerful)
          Nhìn thoáng qua về Sa-tan trong Kinh Thánh cho thấy "quyền lực, dấu kỳ về việc giả dối" (II Tê. 2: 9). Dưới quyền lực nó, những người không tin Chúa bị làm mù lòa và ở trong tăm tối (Công. 26: 18). Chỉ có đức tin nơi Chúa Giê-xu Chí-tôn người ta mới có thể nhận được ánh sáng và sự tha tội. các tín hữu bị ngăn trở phục vụ bởi quyền lực của Sa-tan (II Tê. 2: 18). Chỉ khi chống cự nó và đến gần Chúa tín hữu mới đạt được chiến thắng (Gia. 4: 7,8a)
          Sa-tan có quyền trên một vương quốc và cai trị những hữu thể cao cấp gọi là chủ quyền, thế lực,  vua Chúa của thế gian, các thần giữ ở các miền trên trời(Êph.  2: 2; 6: 11,12). Sa-tan bị gọi là " con rồng đỏ vĩ đại" (Khải. 12: 3) biểu thị đặc tính khủng khiếp cũng như quyền lực đáng sợ của nó.
    MƯU MÔ QUỈ QUYỆT (Scheming)
          Sa-tan là kẻ mưu mô quỉ quyệt. Nó sẽ lợi dụng mọi cơ hội và có mưu kế tấn công trong mọi điều kiện và mọi hoàn cảnh sau khi Chúa ở 40 ngày trong đồng vắng, Sa-tan đến cám dỗ Ngài qua sự yếu mệt thể xác (Mat. 4: 2,3). Tại tột đỉnh danh tiếng của Chúa Giê-xu, Sa-tan lại cố gắng cám dỗ Ngài qua ước muốn của đám đông tôn Ngài lên làm vua (Giăng 6: 15). Nhược điểm của loài người là mục tiêu cho ma quỉ đánh vào. Sa-tan nhấn mạnh những nhược điểm nầy và cố sử dụng nó cho việc ác. Sức mạnh và sự thành công cũng có thể được tô điểm cách khéo léo đáp ứng các mục đích của Sa-tan. Ma quỉ chưa bao giờ đáng nguy hiểm hơn khi nó giả vờ là "thiên sứ sáng láng" (II Cô. 11: 14), dối gạt mọi người với điều dường như tốt, trong sạch, và đúng đắn. Sa-tan sẽ tấn công tín hữu trưởng thành cũng như tín hữu non nớt. Tất cả tín hữu phải luôn luôn coi chừng sự quỉ quyệt của Sa-tan và đề cao cảnh giác không bao giờ cho ma quỉ có lợi thế tấn công ( II Cô. 2: 11).
    CÔNG VIỆC CỦA MA QUỈ
    Cám Dỗ ( Temptation)
          Những hoạt động của Sa-tan bày tỏ cá tính của nó. Sách Gióp cho thấy một vài điều nó đang làm trên đất. Trong sách Gióp chương 1 & 2 các thiên sứ hiện diện trước mặt Đức Chúa Trời để tường thuật công việc của họ. Sa-tan cũng có mặt giữa vòng các thiên sứ này. Khi được hỏi đến,  nó tuyên bố rằng nó đã mở cho một điều tra kỹ lưỡng về loài người và các vấn đề trên đất Đức Chúa Trời chỉ cho nó thấy Gióp là "một người công chính và hoàn toàn", và hỏi Sa-tan có thấy điều gì để cáo giác không. Sa-tan thách Đức Chúa Trời để cho nó thử lòng trung tín của Gióp và Ngài chấp nhận lời của nó.
          Đầu tiên Sa-tan được phép tàn hạ gia đình và tài sản của Gióp bằng những quân đội,  sấm sét, và cuồng phong. Nhưng Gióp vẫn một mực trung tín. Một cuộc họp lần thứ hai được diễn ra trên thiên đàng và Đức Chúa Trời lại chỉ cho Sa-tan thấy lòng trung tín của Gióp bất kể tai ương do Sa-tan đem đến. Về việc nầy, Sa-tan đáp rằng Đức Chúa Trời đã không cho phép nó thử Gióp hết sức. Nếu Đức Chúa Trời chỉ cho phép nó đụng đến thân thể Gióp và với các tai họa khác, Sa-tan chắc chắn rằng Gióp sẽ nguyền rủa Đức Chúa Trời. Và Sa-tan được cho phép thử thách Gióp nhiều hơn, nhưng " trong mọi việc đó Gióp không phạm tội bởi môi miệng mình" (2: 10).
          Tuy nhiên, Sa-tan không phải lúc nào cũng cám dỗ,  thử thách con người bằng những hoạn nạn. Nó biết con người sẽ từ bỏ Đức Chúa Trời nếu họ bị cám dỗ yêu mến thế gian. I Giăng 2: 15,16, nói đến "tất cả mọi sự trong thế gian" gồm có sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt,  sự kiêu ngạo của đời.
          Sa-tan khêu gợi tính dục trong con người, thôi thúc họ thõa mãn những tham muốn nhục dục với bất cứ giá nào. Sa-tan sẽ làm cho mọi người tin rằng sự làm thõa mãn mình vào khoái lạc là cứu cánh của cuộc sống.
          Những người tự trọng không phí phạm cuộc đời họ trong việc tìm thỏa mãn những ham muốn tình dục, thì Sa-tan lại cảm dỗ họ bằng vô số những vật chất xung quanh, nó thường rất thành công trong việc sữ dụng tài sản để cứu con người xây bỏ Chúa.
          Người nào không thể bị quyến rủ bởi khoái lạc và tài sản, thì Sa-tan thổi phồng cái tôi của họ lên kém với một sự ham muốn được trở thành quan trọng. Sa-tan tán tụng con người sa đọa khiến họ tin rằng năng lực và lí lẽ để sống là nằm trong chính họ. Như một nhà thần học đã nói, "sứ điệp của Sa-tan cho thời đại ngày nay là cải cách và tự phát triển trong khi sứ điệp của Đức Chúa Trời là tái sanh bởi quyền năng Thánh Linh".
    Dối Gạt (Deception)
          Sa-tan là vua nói dối. Tài lừa dối của nó đạt tột đỉnh khi nó có thể lường gạt người ta chối bỏ sự hiện hữu của nó(Vô thần),  hay là khi nó hành động như "thiên sứ sáng láng" để người ta không thấy nó đang hoạt động. Sa-tan len lỏi lên bục giảng hoặc là vào các lớp thần học và giả vờ dạy dỗ Cơ-Đốc giáo, nhưng trong thực tế nó lại pháù hại cho Cơ-Đốc giáo. Kẻ lừa dối trình bày điều giả trá như sự thật. Phúc-Âm mà Sa-tan dùng để đánh lừa mọi người. Gia. 1: 6,7 là ca tụng cuộc đời của Chúa Giê-xu Chí-tôn nhưng gạt bỏ sự chết của Ngài. Phúc-Âm này tán dương Ngài làm thầy những không dành chỗ cho Ngài làm Chúa Cứu Thế của mình. Là "Chúa đời này", Sa-tan làm mù "tâm trí của những người không tin, kẻo sự vinh hiển chói lói của Tin Lành Chúa Giê-xu Chí-tôn...chiếu sáng vào trong họ (II Cô. 4: 4).
          Trong ẩn dụ của người gieo giống, chính là"trong khi những người làm ruộng ngủ" Sa-tan lẻn vào gieo cỏ lùng vào trong lúa mì(Mat. 13: 25-30,37-40).Có lùng giống như lúa mì, thật khó mà phân biệt được. Sa-tan gài con cái của nó vào trong lòng các tín hữu trong Hội Thánh, và thường thì không thể nhận dạng chúng nó.Chúng làm suy yếu và ô uế Hội Thánh nhưng Đức Chúa Trời hứa sẽ đoán phạt chúng (Phải. 12: 9).
    Gây Thống Khổ  (Torment)
          Sa-tan như "sư  tử rống đi rình mò chung quanh anh em, tìm kiếm người nào nó có thể nuốt được" (I Phi.5: 8). Không ai có thể thoát khỏi cơn giận của Sa-tan chúng nghịch lệnh những ngườiđược tạo nên để thay thế chỗ của nó ở trên thiên đàng (Khải . 12: 12).
    * Sa-tan Tạo Ra Bệnh Hoạn Và Chết Chóc (Lu.13: 16; Hê. 2: 14).
          Xét cho cùng Sa-tan chịu trách nhiệm trong hầu hết mọi bệnh tật. Những bệnh tật mà Chúa Giê-xu chữa lành là do ma quỉ gây ra. Chính Chúa Giê-xu Chí-tôn giải thoát người phụ nữ bị Sa-tan hành hạ đau đớn trong 18 năm trường. Mọi chết chóc chia ly đều do nó gây ra.
    * Sa-tan khích động sự bách hại (Khải . 2: 10.
          Sa-tan khích đôïng người Do Thái và sau đó là người Hy-lạp, La Mã để bắt bớ Hội Thánh. Nó xui dục bạo chúa Nê-rô tiêu diệt các tín hữu. nó sáng lập ra tôn giáo Pháp Đình (Inquisition Chamber) và những lối tra tấn dã man trong thời kỳ cải chánh Tin Lành.
    * Sa-tan Khiến Tín Hữu Chối Chúa (Lu. 22: 31,61,62).
          Phi-e-rơ khóc lóc nức nỡ sau khi Sa-tan khiến ông phải chối Chúa.
    SỰ THỜ PHƯỢNG SA-TAN
          Thờ phượng Sa-Tan là một cách có ý thức là chuyện dường như không thể nào xảy ra được. Dầu vậy, trên thế giới ngày nay số người thờ lạy Sa-tan còn đông hơn số người thờ lạy Đức Chúa Trời .
          Thờ phượng hình tượng không chỉ là thờ gỗ thờ đá, trong thực tế thờ hình tượng chính là thờ lạy Sa-tan, và Kinh Thánh cảnh cáo chống  lại việc dâng lễ vật "cho những ma quỉ chẳng phải là Đức Chúa Trời" (Phục. 32: 17). Những người tuân phục theo tà thần đã "đổi chân lý của Đức Chúa Trời lấy sự dối trá, kính thờ và hầu việc loài được tạo dựng thay cho Đấng Tạo Hóa" (Rô. 1: 25). Chúng ta cần công bố chân lý để họ tỉnh ngộ mà gở mình khỏi lưới ma qủy vì đã được ma quỉ bắt lấy đặng làm theo ý nó" (II Ti. 22: 26).
    Sự Tin Tưởng Qủy Thần (Demonism)
          Sự thờ lạy quỉ thần là việc qủy ám xuất hiện không những trước khi Chúa Giê-xu Chí-tôn giáng sinh (Lê. 17: 7; Thi.  106: 37) mà vẫn còn có sau khi Chúa Cứu Thế chịu hy sinh trên Thập tự giá.
          Cần phân biệt giữa chữ "qủy vương"(devil) và chữ "qủy sứ"(demon) hay là "quỉ thần(spirit). Trong những bản dịch Kinh Thánh Tân Ước chữ ma quỉ luôn luôn được dùng để chỉ Sa-tan, tức "quỉ vương" kẻ chỉ huy hay là lãnh tụ của đạo binh quỉ sứ. Người ta không bị ám bởi quỉ vương(devil) như bởi các quỉ thần (spririts) hay là các quỉ sứ (demons). Dù có quyền năng, Sa-tan không phải là toàn năng (omnipotent) hay là toàn lại (omnipresent):  nhưng nó hoạt động  qua nhiều quỉ sứ(demons). Trong các vấn đề tối quan trọng, chính Sa-tan có thể xuất hiện đây là trường hợp cám dỗ Chúa Giê-xu Chí-tôn.
    * Chúa Giê-xu Chí-tôn Đuổi Qủy.
          Các tác giả Phúc-Âm ghi lại ít nhất sáu phép lạ đuổi qủy của Chúa Giê-xu.
          Qủy thần bất khiết (Mat. 1: 23-26; Lu. 4: 33-37).
          Qủy ám người mù và câm (Mat. 12: 22)
          Đạo binh quỉ sứ (Mat. 5: 1-20; Lu. 8: 26-39)
          Qủy ám một người người câm (Mat. 9: 32,33; Lu. 11: 14)
          Qủy ám một người con gái (Mat. 15: 22-28;Mác 7: 24,30 ).
          Qủy ám một bé trai (Mat. 17: 14-21; Mác 9: 14-29)
          Những trường hợp trên không phải là những trường hợp điên hay kinh phong, sức mạnh và tri thức siêu nhân (superhuman) của qủi sứ trong người đó trong nhận biết Đức Chúa Giê-xu là con Đức Chúa Trời, và xin phép nhập vào trong các thú vật. Các quỉ sứ, chứ không phải là người bị ám, nói với Chúa Giê-xu. Và Ngài nói với quỉ sứ chứ không nói với người bị quỉ ám.
    * Các Sứ Đồ Đuổi Qủy
          Chúa Giê-xu Chí-tôn ủy quyền cho các môn đồ đuổi quỉ (Mat. 10: 8; Mác 16: 17). Các lãnh tụ của Hội Thánh đầu tiên đương đầu với hiện tượng quỉ ám tại nhiều nơi mà họ dạy dỗ.
          Phi-e-rơ, tại thành Giê-ru-sa-lem (Công. 5: 14-16).
          Phao-lô tại thành Phi-líp (Công. 16: 12-18)
          Phao-lô tại thành Ê-phê-sô (Công. 19: 11-17)
          Thêm vào với những trường hợp trên, hiện tượng quỉ ám còn được thấy ở Sa-ma-ri và Pa-phô cho thấy đây là kinh nghiệm thông thường thời bấy giờ. Những quỉ thần này thể hiện một sự hiểu biết và quyền năng siêu nhân, nhưng qua Đức Thánh Linh các sứ đồ luôn luôn có khả năng cao vượt hơn các quỉ thần ( I Giăng 4: 4).
    Thuật Chiêu Hồn
          Chiêu hồn thật là sự tin tưởng rằng thần linh của người chết có thể liên lạc và hiện ra với người ta. người ta thường cho rằng quỉ thần làm việc nầy qua một người trung gian gọi là "đồng cốt"(Medium). Hồn(sprist) của người chết không thể sống lại. Chính là quỉ thần lấy hình dạng thân thể con người để dối gạt những người muốn liên lạc với người chết.
          Kinh Thánh nói rất mạnh mẽ về chiêu hồn thuật.
    *  Cấm Đoán Rõ Ràng (Lê. 19: 31; Eâs. 8: 19; Mi. 5: 12).
          Kinh Thánh kết án chiêu hồn thuật. Phù thủy và bói khoa được xem là những thực tại kinh khủng và được khẳng định là hoàn toàn ác. Toàn bộ việc thực hành chiêu hồn thuật bị Kinh Thánh kết án.
    * Kết Aùn Tử Hình (Xuất. 22: 18;Lê. 20: 27).
          Đức Chúa Trời quy định án tử hình cho những ai liên hệ đến tà thần. Mệnh lệnh của Đức Chúa Trời cho Giô-suê tiêu giệt dân Ca-na-an (Phục. 18: 9-14) là một sự thi hành bản án công chính của Đức Chúa Trời trên một dân gian ác. Dân Do Thái trở thành những đao phủ thi hành án lệnh này của Đức Chúa Trời, và họ bị cảnh cáo "không được học theo các điều gớm ghiếc của các quốc gia đó" kẻo họ cũng bị chung cùng một số phận tương tự.
          Những điều gớm ghiếc được liệt kê là bói toán(divination), bùa chú(enchantment), phù phép(sorcery), cầu với các thần (cầu hồn)quen thuộc(consulting with familiar), ma thuật(witchcraft),  và chiêu hồn thuật(necromancy spiritism). Chắc chắn dân Ca-na-an là những kẻ tà dâm,  trộm cắp và sát nhân, nhưng chính sự can hệ của họ với các tà thần đã dẫn đến sự tuyệt diệt cuối cùng.
          Sau khi Sa-mu-ên qua đời và Sau- lơ tàn nhẫn giết các thầy tế lễ của nước Do Thái thì không còn ai nữa để Sau-lơ có thể cầu vấn. Oâng ta truyền lệnh cho thuộc hạ tìm cho một người đàn bà biết cầu vong(a woman possessed of a familiar spirit) để Sau-lơ có thể cầu vấn và kết quả của cuộc chiến tranh tàn khốc với người Phi-li-tin. Người ta tìm được một bà đồng bóng ở Eân-đô-rơ. Được yêu cầu gọi hồn Sa-mu-ên, bà liền bắt tay vào việc. Nhưng Đức Chúa Trời khống chế quyền lực Sa-tan và cho Sa-mu-ên thật sự xuất hiện thay vì dung mạo của ông. Ông vua bất hạnh này đã tự giết hại mình, và không chỉ vì những tội giết người, nhưng mà còn vì "đã cầu vấn đồng bóng" (I Sử. 10: 13, 14; I Sa. 28: 3-20).
    Thuật  Chiêm Tinh (Astrology)
          Thuật chiêm tinh tin rằng các vì sao ảnh hưởng đến cuộc sống con người. Những chiêm tinh gia không cần viễn vọng kính(telescope), quang phổ kính(spectroscope), thước trắc vi(micrometer), hoặc là các bản cửu chương(multiplication), để định đoạt số mạng con người. một trí tưởng tượng nẩy nở và một quần chúng nhẹ dạ và tất cả những dụng cụ mà các chiêm tinh gia này cần đến.
          Sự chính xác của các lời tiên đoán của những tiên tri của Đức Chúa Trời so sánh với các lời tiên đoán của các chiêm tinh gia được thấy trong cách thức lạ lùng của Ê-sai với Ba-bi-lôn ngay trước khi ông tiết lộ Sy-ri-u là người chiến thắng sau nầy:  "vậy những kẻ hỏi trời, xem sao, xem trăng mới mà đoán việc ngày sau, bây giờ hãy đứng lenm và cứu ngươi cho khỏi những sự xảy đến trên ngươi" (Eâs. 47: 12,13).
    Cuộc tranh hùng của Đa-ni-ên với các chiêm tinh gai của Ba-bi-lôn cũng quen thuộc với chúng ta. vua Nê-bu-cát-nết-sa tỏ cho thấy sự hời hợt khoa tử vi của thời ông bằng cách đòi " các nhà thông thái"  tiết lộ giấc mơ đã quên của ông cũng như thông giải nó. Hãy lắng nghe sự đánh giá của vua Nê-bu-cát-nết-xa về những người nầy: "Nếu các ngươi không tỏ cho ta biết chiêm bao, ... vì các ngươi đã điều đình với nhau đem những lời giả dối bậy bạ nói cùng ta" (Đa. 2: 9). Các chiêm tinh gia xem sự đòi hỏi đó là hết sức phi lý, và dù mạng sống họ ở trong tình trạng chỉ mành treo chuông, họ phải thú nhận giới hạn sở thuật và nghành nghề của họ mà các nước đã tôn kính quá mức. Chỗ đứng thật của các chiêm tinh gia trong quá khứ và hiện tại, được tỏ ra qua câu trả lời quan trọng của Đa-ni-ên cho vua Nê-bu-cát-nêt-xa: "sự bí mật mà vua đã đòi hỏi, các nhà thông thái, các chiêm tinh gia, các thuộc sĩ, các thầy bói không thể tỏ ra cho vua được. Nhưng có một Đức Chúa Trời ở trên trời tỏ ra những điều kín nhiệm, và đã cho vua Nê-bu-cát-nét-xa biết điều sẽ tới trong những ngày sau rốt" (Đa. 2: 27,28).
          Khoa chiêm tinh ngày nay, cũng như khi xưa, gắn liền với Sa-tan và đưa ra những lời tiên đoán tương lai thay thế cho đức tin nơi một Đức Chúa Cha trên trời. Đức Chúa Trời " làm trật các điềm của kẻ nói dối, và khiến thầy bói ngu muội" (Ês 44: 25).

    TỔNG KẾT
          Mặc dù Sa-tan đã bị chế ngự, nó vẫn là kẻ cầm quyền trên thế gian. Đặc tính của nó hoàn toàn ác. Nó khuấy động đủ loại gian ác ; nó che mắt người vô tín và ngăn trở sự hầu việc Chúa của Cơ-Đốc Nhân. Là kẻ cầm quyền, Sa-tan sử dụng một quyền lực đáng sợ. Qua sự bày mưu tựu kế của nó, Sa-tan  có thể lợi dụng mọi hoàn cảnh, tốt hoặc xấu, cho mục đích của nó. Lợi dụng ưu điểm của con người cũng như khuyết điểm họ là một chiến thuật lừa dối khác của nó. Sa-tan đặc biệt nguy hiểm khi nó xuất hiện là một "thiên sứ sáng láng" .
          Là một kẻ cám dỗ,  Sa-tan dùng sự đau khổ cũng như "sự đam mê của xác thịt,  ham mê của mắt, và sự kiêu ngạo của đời" kéo con người xa cách Đức Chúa Trời. Nó khiến người ta yêu thế gian và các vật trong thế gian. Nó là kẻ lừa dối, phô bày sự dối trá làm sự thật,  tạo ra một phúc-âm chối bỏ công việc cứu chuộc của Chúa Giê-xu Chí-tôn. Bằng cách gieo " cỏ lùng" lẫn lộn với "lúa mì",  Sa-tan làm suy yếu Hội Thánh. Nó còn là kẻ làm khổ người khác, gây ra bệnh tật và chết chóc, bách hại,  và chối Chúa.
          Co ùnhiều người thờ lạy Sa-tan. Sự thờ hình tượng,  sự tin tưởng nơi quỉ thần, sự chiêu hồn, và khoa chiêm tinh là tất cả những thí dụ của việc liên can đến tà thần, và tất cả bị Đức Chúa Trời cấm đóan. Cơ-Đốc Nhân cần rao truyền chân lý để chống lại sự dối gạt của Sa-tan.
    BÀI LÀM
    1.     Những danh hiệu Kinh Thánh đặt cho Sa-tan cho thấy gì về đặc tính của nó?
    2.     Giải thích ba đặc tính nữa của Sa-tan?
    3.     Mưu đồ của Sa-tan được chứng minh thế nào trong Kinh Thánh?
    4.     Chúng ta có thể học hỏi gì về công việc của Sa-tan ở trong sách Gióp?
    5.     Ba sự lôi cuốn dùng trong tất cả sự cám dỗ là gì?
    6.     Sa-tan là kẻ phỉnh dổ trong phương diện nào?
    7.     Mô tả bốn cuốn sách mà Sa-tan lộ nguyên hình là kẻ làm người khác đau khổ?
    8.     Giải thích làm thế nào thờ hình tượng lại là thờ lạy Sa-tan?
    9.     Giữa quỉ vương (devil) và quỉ sứ(demon) có sự khác nhau nào?
    10.  Làm thế nào chúng ta biết những người bị quỉ ám trong các sách Phúc-Âm không phải là những trường hợp điên  khùng hoặc phong cùi?
    11.  Kinh Thánh dạy gì về thuật chiêu hồn?
    12.  Quan điểm Cơ-Đốc về việc sử dụng khoa chiêm tinh là gì?
    13.  Thảo luận mối quan hệ của những hoạt động của Sa-tan với những biến cố thời sự trên thế giới?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Beyer, Douglas, Basic Beliefs of Christians. Valley Forge, PA:  Judson Press, 1981. Chapter 6.
          Bubeck, Mark I. The adversary. Chicago: Moody Press 1975.
          Dickson, C. Fred. Angles:  Elect and Evil. Chicago:  Moody Press, 1975.
    Sanders, J. Osward. Sa-tan is no Myth. Chicago Moody:  Press 1983.

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 9 | CHƯƠNG 11 >>
    CHƯƠNG 10
    SỰ PHỤC SINH VÀ PHÁN XÉT
    (Resurrection and judgment)
          Sự phục sinh là một sự thật được đảm bảo chắc chắn. Xem xét kỹ lưỡng Lời của Đức Chúa Trời cho thấy có đầy dẫy bằng chứng về sự phục sinh. Người ta không thể phủ nhận sự phục sinh nếu trước hết không loại bỏ được những bằng chứng cụ thể. Những bằng chứng nầy nằm trong bốn sách Phúc-Âm với những chương kết thúc chép về sự phục sinh của Chúa Giê-xu Chí-tôn, nằm trong tính chất lịch sử đáng tin của các sách Công-vụ Các Sứ Đồ, và trong từng văn kiện khác còn lưu lại từ thế kỷ thứ nhất nói về sự phục sinh của Chúa. Phủ nhận tất cả những bằng chứng nầy tất là phủ nhận chính Cơ-Đốc giáo. Sự phục sinh của Chúa Giê-xu Chí-tôn là nền tảng Cơ-Đốc giáo. Phủ nhận sự phục sinh là phủ nhận lịch sử và phủ nhận chân lý.
    SỰ PHỤC SINH CỦA TÍN HỮU
          Sự phục sinh và sự sống đời đời là những lời hứa quý báu. Những người mà tên tuổi được ghi trong sách sự sống là những người nhận được những lời hứa nầy (Đa.12: 1; Khải 21: 27).
          Dành cho Con Cái Đức Chúa Trời
          Những người thuộc phái Sa-đu-sê là những người tự do (liberals) trong thời Chúa Giê-xu. Theo cách suy nghĩ của họ, tôn giáo là một điều quan trọng cho đời nầy mà thôi. Thiên đàng là một nơi mù mờ, và tất cả những ý tưởng về một sự hiện hữu tương lai chỉ là một giấc mộng vu vơ. Khi đặt nghi vấn với Chúa Giê-xu bằng một câu hỏi liên quan đến hôn nhân trong sự sống lại đời sau, những người Sa-đu-sê tưởng rằng họ đã hỏi Ngài một câu khôngthể trả lời được (Mat.22: 22-33). Họ hy vọng rằng Ngài sẽ phủ nhận sự phục sinh hoặc là đưa ra vài mâu thuẫn với luật pháp Môi-se về vấn đề hôn nhân của người đàn bà góa. Nhưng, như thường lệ, Chúa Giê-xu đã đáp lại một cách khôn ngoan. Sự khôn ngoan kỳ diệu của câu trả lời Ngài khiến họ hòan toàn câm miệng. Nhưng điều lý thú nhất là câu nói của Ngài về sự phục sinh đặc biệt của tín hữu. "Song những kẻ đã được kể xứng đáng dự phần đời sau và được sống lại từ cõi chết thì không còn cưới gả. Bởi họ sẽ không  chết nữa, mà giống như các thiên sứ, và là con của Đức Chúa Trời vì là con của sự phục sinh " (Lu.20: 35,36).
          Dành cho người công chính
          Trong ẩn dụ của Phúc-Âm Lu-ca 14: 12-14, Chúa Giê-xu đang nói chuyện với các tín hữu. Người của thế gian thiết đãi bạn bè với sự mong muốn rằng rồi đây họ sẽ được đáp lễ lại. Nhưng con cái Đức Chúa Trời nên ban cho những người không thể đáp trả lại. Tại sao?  Vì "ngươi sẽ được phước, vì họ không thể trả lại cho ngươi; cho đến kỳ sống lại của kẻ công chính ngươi sẽ được đáp trả"(Lu. 14: 14). Nếu những người thế gian dược kể vào trong kỳ sống lại của những kẻ công chính nầy thì không cần phải phân biệt rõ là "kỳ sống lại của kẻ công chính." Các chữ "của kẻ những công chính" sẽ trở thành dư thừa trong phân đoạn nầy trừ khi chúng đề cập đến một sự sống lại riêng biệt dành cho người tin Chúa.
         Hy vọng của Tín hữu
         Phao-lô đã bỏ mọi sự vì Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn (Phi.3: 5-8). Oâng là một học giả tiếng tăm, giữ một địa vị rất cao, và có nhiều bè bạn trong phái Pha-ri-si quyền thế, mà chính ông là một thành viên. Nhưng tất cả những vinh dự nầy không có nghĩa lý gì sau khi gặp được Chúa Giê-xu Chí-tôn và  sau đó ao ước duy nhất của ông là được kinh nghiệm hiệp thông trong sự chịu khổ của Chúa Giê-xu Chí Tôn và trong quyền phép của sự sống lại của Ngài. như đã bày tỏ, hy vọng duy nhất của ông là ông "được đạt đến sự sống lại từ cõi chết" (Phi 3: 11). Sự sống lại mà Phao-lô ham muốn không thể là sự sống lại tổng quát của thiện và ác. Vì sự sống lại tổng quát cho cả người thiện lẫn kẻ ác là sự sống lại chung cho cả mọi người mà ai cũng sẽ kinh nghiệm dù người đó sống thế nào đi nữa. Đay phải là sự sống lại mà kẻ dự phần là những người đã biết Chúa Giê-xu Chí-tôn mà thôi.
         Sự an ủi của Tín hữu
         Một phân đoạn Thánh Kinh quen thuộc trong sách I Tê-sa-lô-ni-ca 4: 13-18 thường được nghe tại các đám tang. Đó là lời an ủi của Phao-lô cho những Cơ-Đốc nhân bị mất những người thân yêu. Trong số những môn đồ ở thành  Tê-sa-lô-ni-ca có nhiều người vui mừng tiên đoán sự tái lâm sớm của Chúa. Rồi ngày qua tháng lại, vài người trong bọn họ qua đời mà chưa thấy Chúa tái lâm và không được dự phần vui mừng và vinh hiển của Chúa tái lâm; những người  Tê-sa-lô-ni-ca nầy lo lắng sợ những người thân yêu của họ đã chết không được chia xẻ sự vui mừng và vinh hiển của Chúa tái lâm. Vì thế Phao-lô an ủi họ với lời đảm bảo rằng những người còn sống lúc Chúa tái lâm không hơn gì những tín hữu đã qua đời. Nhưng cần chú ý rằng, khi ông nói cho những tín hữu, sống và chết, lẫn lộn nhau trong mối thông công với Chúa, ông không nói gì về những kẻ không tin. Thật rõ rằng là những người không thuộc về Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ không sống lại với các tín hữu lúc Chúa tái lâm.
         Thứ Tự Của Sự Sống Lại
         Trong I Cô-rinh-tô 15 có chỉ dạy quan trọng về sự sống lại; đây là một trong những chương dài nhất của Kinh Tân Ước. Có dữ kiện kỳ thú nhất tìm thấy ở đây là thứ tự của những biến cố trong tương lai. Lịch trình của những biến cố, bắt đầu với sự sống lại của Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn. Diễn tiến như sau
         Sự sống lại của Chúa Giê-xu Chí-tôn (c.23)
         Sự sống lại của các tín hữu (c.23)
         Sự trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn (c.25)
         Sự tiêu diệt sự chết (c.26)
         Sự hòan tất sự trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn (c.24)
         Ông James M. Gray, cựu viện trưởng của viện thần học Moody đã nói:
         "Sự sống lại của Chúa Giê-xu Chí-tôn đảm bảo cho tất cả mọi người (c.20-22); cho cả người gian ác cũng như người hiền lương, tín hữu cũng như kẻ vô tín, sẽ được sống dậy, một số sẽ vào sự sống đời đời và một số khác sẽ vào sự hổ thẹn và khinh miệt đời đời (cũng xem trong Giăng 5: 28,29). Nhưng tất cả không sống dậy ngay tức khắc. Chúa Giê-xu Chí-tôn là trái đầu mùa,  sự sống lại của Ngài đã xảy ra rồi. Đợt sống lại thứ hai gồm có những tín hữu thật, là những người sẽ bước ra trong lần trở lại thứ hai của Chúa. Đợt thứ ba và là đợt chót sẽ gồm có những người chết còn lại, là những người sẽ bước ra sau một ngàn năm bình an (millenium) vào lúc tận thế."
         Sách Khải Huyền 20: 4-6 không những xác nhận sách I Cô-rinh-tô 15, mà còn nói rõ ràng chi tiết và thời điểm. Câu nói, "một ngàn năm," được dùng sáu lần trong bảy câu, đầu của sách Khải Huyền 20, và nó phải được thông giải theo nghĩa đen. Điểm quan trọng cần chú ý là sự sống lại đầu tiên (first resurrection) phải đi trước sự trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn và những người dự phần trong đó là những người vui mừng và thánh khiết. Hơn nữa, những người chết còn lại "sẽ không sống lại cho đến khi hạn một ngàn năm đã mãn" (c.5)
    SỰ SỐNG LẠI CỦA NHỮNG KẺ VÔ TÍN
          Chỉ có hai hạng người liên quan đến sự sống lại. Một bên là những người bị thu hút vào sự theo đuổi giàu sang, khoái lạc, hoặc những lợi lộc vật chất  khác, và khôngbiết gì hơn là những vật thế gian nầy.
          Phía bên kia là những người tin nơi sự tái lâm của Con Đức Chúa Trời và làm hết sức để sẵn sàng chờ đón Ngài. họ cũng làm việc sinh sống trên thế gian, nhưng xem những công việc của Hội Thánh Chúa Giê-xu Chí-tôn là quan trọng hơn, và mục đích chính yếu của họ là hoàn thành công tác của Hội Thánh trên thế gian.
          Hai hạng người nầy không thể được phân biệt dễ dàng nhưng trong ngày của sự sống lại sẽ không còn lẫn lộn họ. Những người đã"làm lành" vì đức tin cá nhân đặt nơi Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn là Chúa Cứu Thế thì sẽ tiến ra trong sự sống lại lần thứ nhất, và những ai "làm ác" sẽ tiến ra trong sự sống lại lần thứ nhì (Giăng 5: 29)
          Phân đoạn Thánh Kinh trong sách Khải Huyền 20: 5 nói rằng những người vô tín - những người chết còn lại - "sẽ không sống lại cho đến khi hạn một ngàn năm đã mãn." Có những đặc tính khác đánh dấu sự sống lại lần thứ nhì.
          Sự Đóan xét (Judgment) (Đa 12: 2; Giăng 5: 28,29; Khải 20: 13)
          Tất cả những phân đoạn Kinh Thánh trên liên quan đến sự sống của những người vô tín có dính líu đến sự đóan xét trước ngai trắng lớn (the great white throne). Sự đóan xét nầy xảy ra vào phần cuối chứ không phải phần khởi đầu của sự trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn trên thế gian. Sự sống lại nầy có thể không bao giờ được nhắc đến trong Kinh Thánh vì sự đề cao nầy không cần thiết để giải thích sự hiện diện của tội nhân trước ngai đóan xét của Đức Chúa Trời.
          Hình Phạt (punishment) (Khải.20: 15)
          Sự sống lại đề cập trong Sách Khải Huyền 20: 15 có liên đến hình phạt. Vì thế nhất định những kẻ dự phần trong sự sống lại nầy sẽ là những người không tin Chúa.
    SỰ ĐÓAN XÉT CHO NGƯỜI CÔNGBÌNH
          Hầu hết mọi người nghĩ rằng tất cả những sự đóan xét sẽ xảy ra sau sự sống lại. Ít nhất có một sự đóan xét xảy ra trước khi chết. "Theo như đã định cho loài người phải chết một lần, rồi chịu phán xét, cũng vậy Chúa Giê-xu Chí-tôn đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội lỗi đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho những kẻ chờ đợi Ngài" (Hê.27,28). Vì tội lỗi mà sự chết đã được ấn định trên mọi người, và tội lỗi phải chịu đóan phạt. Sự đóan phạt cho những tín hữu mà trước đây là tội nhân đã được thực hiện xong qua công trình cứu chuộc của Chúa Giê-xu Chí-tôn trên thập tự giá (Giăng 3: 18; 4: 24)
          Sự Đóan Xét Tại Thập tự giá (Giăng 5: 24; 12: 31, 47,48; Công.13: 39; Rô.8: 1; II Cô 5: 21; Ga.3: 13; I Phi.2: 24)
          Phán xét trong những trường hợp tội phạm (criminal case) là giải quyết cho việc vi phạm luật lệ xã hội. Phán xét trong trường hợp dân sự (civil case) là một sự giải quyết cho việc tranh cãi giữa hai cá nhân. Nhưng không ai bị đưa ra xét xử trước một vị quan tòa nếu người đó đã nhìn nhận tội lỗi.
          Đáng Chí-tôn đã được chỉ định xét xử thế gian, và vào ngày phán xét của Ngài tội nhân sẽ bị xét xử vì tội của họ. Nhưng nếu tội nhân đã nhìn nhận tội và đón nhận sự tha tội được ban tặng qua Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn, thì theo Kinh Thánh "cho nên hiện nay chẳng còn có sự đóan phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn," vì bởi Chúa Giê-xu Chí-tôn "tất cả những kẻ tin đều được xưng công chính trong mọi sự, vì họ không được xưng công chính bởi luật pháp Môi-se." ngay khi loài người tự thú tội và chấp nhận sự dự phòng đại lượng (God s gracious provision) của Đức Chúa Trời cho tội lỗi họ. Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ trả lời thay cho họ. Những tín hữu sẽ không bị đóan xét tội trong tươnglai. Sự đóan xét đó đã thực hiện xong tại thập tự gía. Sự bình an và tha tội bắt đầu ngay tại cõi trần này, và tương lai chỉ có thể định án, "kẻ nào ô uế, cứ còn ô uế nữa; kẻ nào công bình cứ làm điều công bình nữa" (Khải.22: 11). Cuộc đời tương lai của chúng ta chỉ là một sự tiếp tục của thái độ hiện thời của chúng ta đối với tội lỗi và sự công chính.
          Sự Đóan Xét và Phần Thưởng (I Cô.3: 9-15; 4: 5; II Cô. 5: 10)
          Những phân đoạn Kinh Thánh nầy trong sách Cô-rinh-tô chỉ dành cho người tin Chúa mà thôi. Trong ba chương nầy hòan toàn không nói gì về kẻ gian ác, vì thế có thể nói là Phao-lô đang nói về những Cơ-Đốc nhân hiện diện trước ngai đóan xét của Chúa Giê-xu Chí-tôn. Tuy nhiên, đây không phải là một sự đóan xét tội nhưng là đoán xét công việc làm. Sự đóan xét tội cho Cơ-Đốc nhân đã hòan thành bởi Chúa Giê-xu Chí-tôn. Sự cứu rỗi là một món quà tặng không. Còn phần thưởng thì phải tạo lập (earn). Đây là đóan xét sự hòan thành công việc của một người. Cơ-Đốc nhân là "côngviệc do tay Chúa Giê-xu tạo nên...để làm việc lành."
          Tất cả tín hữu đặt nền tảng trên Chúa Giê-xu Chí-tôn, nhưng có người đặt "vàng, bạc, và đá quí" vào thượng tầng kiến trúc của họ, và người khác chẳng thêm gì hơn là "gỗ, cỏ khô, rơm rạ." Sự đoán xét nầy sẽ thử nghiệm công việc của các tín hữu bằng lửa. Người xây cất không ngoan và xứng đáng sẽ nhận được phần thưởng. Còn người ngu muội, mặc dù xây trên Chúa Giê-xu Chí-tôn làm nền tảng giống như những người khác, "sẽ mất phần thưởng, còn về phần mười đó, sẽ được cứu, song dường như qua lửa vậy" (I Cô.3: 15).
          Như mỗi một người tha thứ riêng rẽ, thì họ cũng được ban thưởng riêng từng người một. Kết quả của việc tin nhận cách cá nhân sự tha thứ của Đức Chúa Trời là sự cứu rỗi đời đời, nhưng kết quả của sự phục vụ cá nhân là hưởng gia tài cá nhân được chất chứa ở nơi không có mối mọt hay rỉ rét làm cho hư mất, và không có kẻ trộm đào lẻn vào lấy mất.
          Phao-lô nói thường xuyên về mão miện được ban thưởng trong ngày đóan xét nầy. Ông phác họa một quang cảnh trong thế vận hội nơi có nhiều vận động viên tranh tài chạy bộ,  dù chỉ có một người giựt giải Nhưng, như Phao-lô đã nói, có một sự khác biệt trong cuộc chạy đua nầy. Các tín hữu không chạy bá vơ, vì Đức Chúa Trời sẽ ban thưởng không những cho kẻ thắng cuộc, mà còn cho tất cả những người đã chạy theo sức mình.hơn nữa, phần thưởng không phải là một tràng hoa phai tàn, nhưng là một mão triều không hay hư nát (I Cô.9: 23-27).
    SỰ ĐÓAN XÉT CHO NGƯỜI VÔ TÍN
          Hai sự đóan xét đầu tiên liên quan đến sự  tha tội và phần thưởng của người công chính, hai sự đóan xét sau liên quan đến kẻ gian ác. Chắc chắn kẻ gian ác sẽ chết và sẽ sống lại, và hiện diện trước tòa đóan xét trắng lớn. Trong khi sự đóan xét đầu tiên của tín hữu diễn ra ngay lúc họ còn sống, thì để ý chúng ta cũng thấy rằng sự đóan xét đầu tiên dành cho người vô tín cũng diễn ra trước khi họ qua đời.
          Sự Đóan Xét Các Quốc Gia ( Judgement of the living Nations) (Mat.25: 31-46).
          Sự đóan xét nầy thường được nói đến như là sự đóan xét tổng quát, và cho rằng sẽ diễn ra ở trên trời trong ngày tận thế! Nhưng sách Ma-thi-ơ 25 không hề nói vậy. Nên chú ý rằng trong chương 24 Chúa Giê-xu Chí-tôn đang nói về sự tái lâm của Ngài,  và chương 25 đánh dấu những biến cố liên quan đến sự tái lâm của Ngài. Trước hết là tiệc cưới Chiên Con (cc.1-13); thứ hai, sự đóan xét của các Thánh đồ (cc.14-30); thứ ba, sự đóan xét của các quốc gia (cc.31-46).
          Sự đóan xét của các quốc gia sẽ diễn ra sau sự xét thưởng và ngay khi Chúa Giê-xu Chí-tôn trở lại với các thánh đồ (Giu.14,15). Trong khoảng thời gian giữa sự đóan xét để ban thưởng và sự tái lâm của Chúa Giê-xu Chí-tôn để đóan xét thế gian, sẽ xảy ra cơn đại nạ, như đã trình bày trong sách Khải Huyền 6: 19
          Tiên tri Giô-ên viết rằng Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ lập ngai đoán xét của Ngài trong trũng Giê-hô-sa-phát, có nghĩa là tại xứ Pa-lét-tin. Như vậy sự đóan xét nầy sẽ diễn ra trên thế gian (Giô-ên 3: 11, 12; Sô.3: 8). Điều nầy có lý và rất có ý nghĩa bởi vì xứ Pa-lét-tin là trung tâm lịch sử, địa lý và tôn giáo của thế giới, và người Do Thái lâu nay đã trở về nơi nầy thật đông.
          Đây không phải là một sự đóan xét tổng quát của thiện và ác, vì có ba hạng người được đề cập đến - hạng người thứ ba là những anh em(Mat.25: 32,40) "Anh em của ta" không thể là Hội Thánh, vì Hội Thánh đã được rước đi và ban thưởng rồi. Họ cũng không phải là trong những quốc gia bị qui tụ lại cho việc đóan xét. Trong  những lời tiên tri của Ba-la-am có nói rằng nước Do Thái "sẽ không được nhận biết giữa các nước" (Dân.23: 9). Vậy thì rõ ràng "anh em của ta" là những người Do Thái đã tin Chúa và nhận mệnh lệnh đi giảng Tin Lành của nước trời sau khi Hội Thánh được cất lên khỏi mặt đất.
          Chủ đề của sự đóan  xét trong sách Ma-thi-ơ 25 là mối quan hệ của các nước đối với những người Do Thái tin Chúa trong thời kỳ đại nạn. Các nước gian ác còn lại trên đất sẽ bách hại và chống lại người Do Thái và Chúa Giê-xu Chí-tôn khi Ngài trở lại với các thiên sứ và các thánh đồ sẽ gọi các nước nầy đến đóan xét tùy sự đối đãi của họ đối với người Do Thái. Những người đã ngược đãi người Do Thái thậm tệ sẽ bị tách riêng ra và bị kết án trong hình phạt đời đời. Còn những người hậu đãi người Do Thái-những người nầy phần lớn là những Mục sư và Giáo sĩ (Eâs. 66: 18,19)-sẽ tham gia trong một ngàn năm trị vì của sự công chính. Họ sẽ lập thành vươngquốc của Chúa Giê-xu Chí-tôn trên đất, và các thánh đồ, người Do Thái và người ngoại bang, sẽ đồng trị với Ngài.
          Sự Đóan Xét Tại Ngai Trắng Lớn (Khải.20: 11-15)
          Hãy chú ý những sự khác biệt giữa sự đóan xét của các nước, như vừa mô tả, và sự đóan xét cuối cùng diễn ra vào lúc khởi đầu của một ngàn năm trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn trên đất, và sự đóan xét cuối cùng diễn ra vào đoạn kết của một ngàn năm ấy. Sự đóan xét trước dành cho những người sống, sự đóan xét sau dành cho những người chết. Không có sự sống lại trong sự đóan xét trước; nhưng có sự sống lại trong sự đóan xét sau cùng. Sự đóan xét trước diễn ra trên thế gian; sự đóan xét sau cùng diễn ra trên thiên đàng. Sự đóan xét trước xử những hành vi đối với các anh em, sự đóan xét sau cùng xử những công việc đã được ghi nhận trong những sách.
          Sau khi Chúa Giê-xu Chí-tôn đã cai trị một ngàn năm khải hòan trên thế gian và đánh bại mọi kẻ thù, quyền tể trị của Ngài sẽ không đạt đến tột đỉnh cho đến khi tất cả những người trước đây đã từ chối Ngài bị đem ra xét xử. Vì mục đích nầy nên tất cả những kẻ cả gian ác của mọi thời đại sẽ bị cho sống lại từ cõi chết và bị dẫn đến trước mặt Ngài. Đã có một lần trong đời sống họ trên đất, mỗi một người đã đối diện với cùng một câu hỏi làm bối rối Phi-lát, "Vậy Giê-xu gọi là Đáng Chí-tôn, thì ta sẽ xử thế nào? (Mat.27: 22). Nhưng những người vô tín nầy sẽ không nhìn nhận tội lỗi họ. Họ không nhận sự khoan hồng trong Chúa Giê-xu Chí-tôn. Lúc bấy giờ họ sẽ bị xét xử bởi Chúa. Những quyển sách sẽ được mở ra, và họ sẽ khai ra mọi lời hư không đã nói (Mat.12: 36).
          Chúa phán: " Thật như ta hằng sống mọi đầu gối sẽ quỳ trước mặt ta và mọi lưỡi sẽ tôn ngợi Đức Chúa Trời" (Rô.14: 11). Có một Đức Chúa Trời hằng sống, thì nhất định sẽ có sự đóan xét xảy ra. Không có điều nào quả quyết mạnh mẽ trong Kinh Thánh hơn điều nầy. Ngài đã sáng tạo thế giới và Ngài sẽ đóan xét nó.
          Vào ngày ấy, "chẳng có việc gì giấu mà chẳng phải bày ra, cũng chẳng có việc gì kín nhiệm mà sau sẽ chẳng biết" (mat.10: 26). Người ta có thể đã lừa dối gia đình và bạn bè họ, nhưng họ không thể nào lừa dối Đức Chúa Trời. Họ đã có thể nói dối với những ngưòi cọng tác trong côngviệc làm ăn, nhưng không thể nói dối Đức Chúa Trời.
          Vào ngày ấy "mỗi người trong chúng ta sẽ khai trình việc mình với Đức Chúa Trời" (Rô 14: 12). Nhiều người quên đi những lời cảnh báo nầy. Họ cố đổ lỗi cho người khác đã gây ra tội lỗi của họ. Họ đã khinh thường một Chúa Cứu Thế bị đóng đinh. Họ đã chế nhạo luật pháp của Đức Chúa Trời. Nhưng họ sẽ không mở miệng chế nhạo được khi những quyển sách được mở ra và phô bày tội lỗi họ. "Không còn tế lễ chuộc tội nữa, nhưng chỉ có sự đợi chờ kinh khiếp về sự phán xét, và lửa hừng sẽ đốt cháy kẻ bội nghịch mà thôi" (Hê.10: 26,27).
    TỔNG KẾT
          Lời Chúa cung cấp bằng chứng bảo đảm có sự sống lại. Để phủ nhận sự sống laiï, con người phải biết trước hết làm sao phủ nhận được mọi bằng chứng về sự sống lại và phải chứng minh rằng những bằng chứng nầy là sai lầm.
          Các  tín hữu được gọi là "con cái của sự sống lại." Họ được đề cập là những kẻ dự phần trong sự sống lại của người công bình. Phao-lô trông mong và làm việc hướng về sự sống lại vì ông biết rằng có một sự sống lại riêng biệt cho các tín hữu. Khi Chúa tái lâm những người còn sống sẽ không hơn gì những người đã qua đời; tất cả sẽ liên hiệp với nhau. Đấng Chí-tôn sống lại trước hết, các tín hữu sẽ sống lại vào một thời điểm sau nầy, Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ cai trị, sự chết sẽ bị đánh bại, vf Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ cai trị hòan toàn.
          Những người vô tín sẽ liên quan đến một sự sống lại thứ hai. Vào hồi kết cuộc cuae sự trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn trên đất, họ sẽ sống lại để chịu đóan xét và hình phạt.
          Sự đóan xét của những tín hữu đã thực hiện xong tại thập tự giá, và vì các tín hữu đã biết tội của họ và tiếp nhận sự tha thứ trong Chúa Giê-xu Chí-tôn cho nên không cần sự đóan xét. Chỉ việc làm của họ được xét đến và được ban thưởng.
          Vào lúc khởi đầu của sự trị vì của Chúa Giê-xu Chí-tôn trên đất, Ngài sẽ đóan xét các nước tùy theo sự đối xử của họ đối với dân của Ngài, là người Do Thái. Sự phán xét cuối cùng vào phần kết thúc của sự cai trị thế gian của Ngài sẽ xét xử tất cả người chết dựa theo việc làm của họ. Mọi sự sẽ được bày ra và mỗi người sẽ nhận sự đóan phạt của Đức Chúa Trời.
    BÀI LÀM
    1.     Bằng chứng hùng hồn nào khiến cho sự sống lại là một sự kiện được đảm bảo chắc chắn?
    2.     Lòng trông mong của Phao-lô về sự sống lại có ý nghĩa gì?
    3.     Hãy viết một thứ tự (Schedule) của các biến cố liên quan đến sự sống lại bắt đầu từ sự sống lại của Chúa Giê-xu Chí-tôn.
    4.     Khi nào sự sống lại của những người vô tín xảy ra?
    5.     Sự đóan xét của thập tự giá có nghĩa là gì?
    6.     Hãy giải thích sự đóan xét của sự ban thưởng (judgement of rewards)
    7.     Khi nào và tại đâu sự đóan xét dành cho các nước sẽ diễn ra?
    8.     Sự khác nhau giữa sự đóan xét dành cho các nước và sự đóan xét của ngai trắng lớn là gì?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Ryrie, Charles C. Dispensationalism Today. Chicago:  Moody Press. 1973.
          _____________. A Survey of Bible Doctrine. Chicago:  Moody Press. 1972. Chapter 2.
          Walvoord, John F. The Rapture Question. Grand Rapids:  Zondervan Pub. House, 1970.

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 10 | CHƯƠNG 12 >>
    CHƯƠNG 11
    PHẦN THƯỞNG CỦA NGƯỜI CÔNG CHÍNH
    (Rewards of the Righteous)
         Trong Kinh Thánh người tin Chúa học biết rằng có nhiều phần thưởng cho những  tín hữu trung tín. Trái ngược với những tôn giáo khác, chỉ có Kinh Thánh mới trình bày về đời sống sau khi chết với phẩm chất cao cả và thánh khiết, điều nầy cho biết đây là một sự mặc khải thiên thượng. Rõ ràng chương trình của Đức Chúa Trời không phải là mặc khải tất cả những gì Ngài đã chuẩn bị cho con cái Ngài, nhưng Ngài cho chúng ta vừa đủ ánh sáng để đáp ứng nhu cầu hy vọng, an ủi, và khích lệ. Có ba nhân chứng được phép nhìn thoáng qua những sự vinh hiển sắp đến.
         Chúa Giê-xu biết rõ những điều thấy được và những điều không thấy được. Ngài có từ ban đầu tất cả mọi dữ kiện. "Ban đầu Ngài ở cùng Đức Chúa Trời. Muôn vật bởi Ngài làm nên, chẳng vật chi làm nên mà không bởi Ngài" (Giăng 1: 2,3)
         Phao-lô được đưa lên từng trời cao nhất và dù Đức Thánh Linh không cho phép ông tiết lộ tất cả những gì ông thấy và nghe, nhưng với kinh nghiệm như thế ông làm chứng rằng ra đi để ở với Chúa thì tốt hơn ở tại trên đất nầy (Phi.1: 23).
         Sứ đồ Giăng được Chúa chỉ định tiết lộ những điều nầy. Trên đảo Bát-mô, ông nhận một khải tượng về sự vinh quang trên thiên đàng, mà bởi sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh ông đã ghi lại trong sách Khải huyền (Khải 1: 19: 11,19).
    SẼ ĐƯỢC ĐI Ở VỚI CHÚA
          Tại phút lâm chung, các tín hữu tức khắc ra đi ở với Chúa.thật là một phần thưởng quý giá ! Họ sẽ không đi vào một bóng tối vô định hoặc vào một trình trạng vô thức, nhưng họ sẽ đi "ở với Chúa" (II Cô.5: 8).
          Thân thể đời đời và vinh hiển được ban cho khi Chúa Giê-xu Chí-tôn tái lâm. Và tất cả cac tín hữu đã "ngủ" trong Chúa sẽ được nhập với những người còn sống lại, và cùng với nhau họ sẽ gặp Chúa trên không trung và như vậy sẽ ở với Ngài đời đời (I Tê.4: 15-17). Nếu sự phân cách đời đời khỏi Đức Chúa Trời là sự đau khổ tột cùng của địa ngục, thì chắc chắn sự hiệp nhất đời đời với Ngài là niềm vui lớn nhất trên thiên đàng.
    VÀO MỘT NHÀ MỚI
          Nhà dưới đất chỉ là tạm bợ; nhưng tất cả các tín hữu sẽ ở đời đời trong nhà của Đức Chúa Trời. Nhà mới đã được đặc biệt sửa soạn cho các tín hữu bởi Đức Chúa Trời (giăng 14: 1-3). Những người biết Chúa sẽ không phải là người lạ hoặc khách trú trên thiên đàng.
          Phao-lô nói trong bức thư thứ nhất gởi đến người Cô-rinh-tô (I Cô.2: 9) rằng chỉ có Thánh Linh của Chúa mới có thể biết những điều Đức Chúa Trời sửa sạon cho con dân Ngài.
          Thành Thánh (Khải.21: 1-17)
          Vinh quang của nền văn minh nhân loại là những thành phố, nhưng tất cả sẽ bị tiêu hủy (II Phi.3: 10). Thành phố không những là sản phẩm nền văn minh nhân loại mà còn là nơi ngự trị của tội lỗi con người. Khi Aùp-ra-ham rời bỏ sự văn minh suy đồi của U-rơ để cư trú trong lều với Y-sác và Gia-cốp,"người chờ đợi một thành có nền vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập" (Hê.11: 10). Đây là thành Giê-ru-sa-lem do sự chinh phục của Đa-vít, nhưng (theo luật đề cập đôi, double reference) cũng là thành Giê-ru-sa-lem trên trời, sẽ được lộ ra trong thời kỳ cuối cùng.
          Bởi sự lật đổ Sa-tan lần cuối cùng và sự xét đóan của ngai trắng lớn, thế gian sẽ được thanh  lọc hết mọi kẻ ác. Một thiên đàng mới và trái dất mới sẽ thay thế cái củ; chuẩn bị cho sự xuất hiện của Thành Thánh (Holy City). Hãy chú ý đến những đặc điểm của thành nầy:
          * Vĩ đại
          Chiều cao sẽ bằng với chiều dài và chiều rộng,trong đó nó sẽ được xây giống như một kim tự tháp (Khải.21: 16,17). Sự vĩ đại của thành Ni-ni-ve, Ba-bi-lôn, La-mã, Pa-ri, Luân-đôn sẽ bị lu mờ bởi thành của Đức Chúa Trời. Thành nầy sẽ là trung tâm của mọi loài tạo vật.
          Mười hai cổng, mỗi cổng mang tên của một chi phái Do Thái, được các thiên sứ canh giữ chỉ có các thánh đồ mới có thể vào. Mười hai nền của bức tường thành mang tên mười hai vị sứ đồ đã đặt nền tảng cho nước của chiên con (Khải.21: 12-21).
          * Tinh sạch
          Thành nầy được tạo bởi vàng ròng và tô điểm với mọi loại đá qúi. (Khải.21: 18-21). Cả khung cảnh của thành đều là thanh khiết, vĩnh cữu, và hào quang chói lòa. Mặt trời và mặt trăng không còn cần thiết nữa. Thành thánh sẽ chói lọi hơn ánh mặt trời, hay là ánh sáng của các vì sao lớn nhất. Vinh quang của Đức Chúa Trời soi sáng thành và "Chiên con là ngọn đèn thành" (Khải. 21: 11,23; 22: 5). Chúa Giê-xu Chí-tôn sẽ luôn luôn là Đấng bày tỏ Đức Chúa Cha ra cho mọi người.
          * Đền thờ
          Vì thành nầy là một đền thờ nên không cần có một đền thờ đặc biệt khác. Tất cả những ngăn trở giữa Đức Chúa Trời và loài người đều không còn nữa; đấng Quyền Năng và Chiên Con ngự ở giữa như một đền thờ (Khải.21: 3,22). Em-ma-nu-ên, "Đức Chúa Trời ở cùng chúng ta," trở thành thực tế trọn vẹn một cách cao cả mật thiết nhất.
          Đền thờ là nơi hội ngộ giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài và là nơi quy vinh hiển tôn kính cho Ngài. Nhưng bấy giờ thế gian đã được tẩy thanh khỏi tội lỗi, Đức Chúa Trời sẽ trở lại thế gian và ngự giữa dân Ngài. sẽ có một ngai thay vì một đền thờ. Đây là một ngai độc vị; ngai nầy không chia xẻ với ai và là vĩnh viễn. Thay vì đem lễ vật đến đền thờ, các vua chúa thế gian sẽ đem vinh hiển và tôn kính dâng lên tại ngai Đức Chúa Trời.
    •        Dân Cư
         Chỉ những người có tên được viết trong sách sự sống của Chiên con mới được sống trong Thành Thánh mà thôi (Khải.21: 7,27). Người "công bình" trong thời Cựu Ước trông mong một thành như thế. Chắc chắn tất cả các thánh đồ của Chúa sẽ sống tại đó (Hê.11: 10,13-16).
         Nơi "Phước lạc của Đức Chúa Trời " (The Paradise of God) (Khải.22: 1-5).
         Sứ đồ Giăng mô tả trong sách Khải Huyền nơi phước lạc Đức Chúa Trời trong đó có Thành Thánh tọa lạc. Trong nơi nầy thấy có sông nước vĩnh sinh chảy ra từ ngôi trời, và có cây sự sống. Sự nguyền rủa đã được cất đi và con người có thể tự do sử dụng cả nước vĩnh sanh lẫn trái cây sự sống. Tuy thế họ vẫn phải tùy thuộc vào Đức Chúa Trời.
         Trên hai bên bờ sông nầy sẽ trồng cây sự sống, lá của nó sẽ được dùng để giữ gìn sức khỏe của các dân. "Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ăn trái cây sự sống ở trong nơi phước lạc của Đức Chúa Trời" (Khải.2: 7).

    NHẬN PHẦN THƯỞNG
          Trong khi đúng là mỗi tín hữu sẽ được ở trong Thành Thánh, thì không phải tất cả sẽ hưởng cùng một vinh dự, và đội cùng một mão triều như nhau, hay là nhận cùng một sự khen thưởng, "được lắm". Chỉ những ai trung tín trong đời sống và sự phục vụ sẽ nhận phần thưởng đặc biệt.
          Người tin Chúa đang thêm vào trong gia tài của họ những công việc mà sẽ tồn tại sau khi thử lửa và sẽ được ban thưởng, hoặc là thêm vào những rơm rác sẽ bị tiêu hủy, họ được cứu dường như qua lửa với hai bàn tay trắng. Những hành động trong đời sống hằng ngày là những vật liệu xây trên nền tẳng của Chúa Giê-xu Chí-tôn - xây bằng vàng, bạc, bửu thạch, hoặc là bằng gỗ, cỏ khô, và rơm rạ (I Cô.3: 12-15). Nhiều khúc Kinh Thánh đề cập đến sự ban thưởng trong tương lai:
          "Quả hẳn có phần thưởng cho kẻ công chính" (Thi.58: 11).
          "Con gặt đã lãnh tiền công mình và thâu chứa hoa lợi cho sự sống đời đời" (Giăng 4: 36).
          "Mỗi người đều sẽ nhận lãnh của Chúa tùy việc lành mình đã làm" (Êph. 6: 8).
          "Biết rằng anh em sẽ bởi Chúa mà được cơ nghiệp làm phần thưởng:  vì anh em hầu việc Chúa  Chí-tôn " (Cô.3: 24).
          Căn bản của phần thưởng
          Một người không thể nhờ việc làm để đạt được sự cứu rỗi. "Vả, ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu, điều đó không phải đến từ anh em, bèn là sự ban cho của Đức Chúa Trời. Aáy chẳng phải bởi việc làm đâu, hầu cho không ai khoe mình"  (Êph.  2: 8,9); nhưng sau sự cứu rỗi, Đức Chúa Trời hứa ban thưởng cho mỗi công việc lành. Có một sự khác biệt giữa những câu Kinh Thánh đề cập về sự cứu rỗi, "món quà miễn phí" và về phần thưởng do công việc mà đạt được. Sứ đồ Phao-lô không nghi ngờ gì về sự cứu rỗi chính mình khi ông sợ rằng ông có thể bị "bỏ" (hoặc là không được chấp nhận), nhưng ông cảm thấy rằng, dù giảng cho người khác, ông có thể giảng bằng năng lực của xác thịt hơn là giảng cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, và vì thế sẽ bị mất phần thưởng (I Cô.9: 26,27)
          Người tin Chúa sẽ được thưởng tùy theo lối sống của họ. Hãy chú ý những lời của Chúa, "ta biết công việc ngươi, lòng yêu thương ngươi, đức tin ngươi, sự hầu việc trung tín ngươi,lòng nhịn nhục ngươi, và công việc sau rốt ngươi còn nhiều hơn công việc ban đầu nữa" (Khải.2: 19). Người tin Chúa sẽ ban thưởng vì cách sống cũng như công việc họ làm. Bởi sự bước đi "cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành" (Cô.1: 10), và thêm sự sống đạo vào trong  đức tin nơi Chúa Giê-xu, họ sẽ được thênh thang vào trong nước đời đời của Đức Chúa Giê-xu Chí-tôn là Chúa và là Đấng Cứu Thế (I Phi.1: 5-11).
          Người tin Chúa cũng sẽ nhận phần thưởng tùy theo công việc của họ (I Cô.3: 8,13-15; Khải.14: 13). "Nầy, ta đến mau chóng đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm" (Khải.22: 12) là lời hứa của Con Đức Chúa Trời. Khi các tín hữu đứng trước ngai đóan xét của Chúa Chí-tôn để được xét thưởng, họ sẽ được ban thưởng không theo thiện chí, tham vọng thánh, hoặc theo lời hứa lớn lao của họ, nhưng họ được ban thưởng tương xứng với lòng trung tín làm gia tăng Ta-lâng họ đã nhận được (Mat.25: 21). "Hễ ai gieo ít thì gặt ít, ai gieo nhiều thì gặt nhiều" (II Cô.9: 6). Người ta không thể xét định điều gì là có giá trị thật trước mắt Đức Chúa Trời, vì con mắt loài người bị mù lòa bởi những sự phục vụ đẹp mắt bề ngoài và nhận định có thể sai lầm.
          Có thể làm nhiều điều trong danh Chúa Chí-tôn hoặc trong danh của Hội Thánh nhưng đó không phải làm cho Chúa Chí-tôn gì cả. Cũng có thể làm những công việc khiêm tốn và phục vụ âm thầm vì tình yêu thương đối với Chúa Chí-tôn mà thế gian không bao giờ nìn thấy. Một bài giảng thật hay được giảng với sự khôn ngoan và tài hùng biện của loài người làm hài lòng một hội chúng đông đảo, có thể không đứng nổi trong ngày thử lửa của Đức Chúa Trời, trong khi một bài làm chứng đơn sơ, giản dị về quyền năng cứu rỗi của Chúa Chí-tôn có thể chiếu sáng như kim cương.
          Mão Triều Làm Phần Thưởng
          * Mão Triều không hư nát (Incorruptible of Victor s Crown) (I Cô.9: 25-27)
          Khi thi tài các bộ môn thể thao Hy-lạp kết thúc, những vận động viên điền kinh đoạt giải tụ họp trước lễ đài của các giám khảo, các giám khảo ngồi trên một dãy ghế cao, và trong những vận động viên đoạt giải sẽ được ban tặng mão triều bằng lá nguyệt quế (crown of laurel leaves). Mặc dù đây là một  mão triều có thể hư nát và chóng phai tàn. Phao-lô có lẽ có ý nầy trong đầu khi ông nói về mão triều chiến thắng không hư nát. Một người tranh tài trong các bộ môn thể thao sẽ từ chối những khoái lạc của thân thể để thắng cuộc đua. Và như vậy Phao-lô nói với chúng ta, mão triều không hư nát là cho những kẻ "gìn giữ thân thể họ" có nghĩa là, cho những ai không chiều theo những ham muốn xác thịt. Những người chiến thắng nầy không cho phép mình để những ham muốn ích kỉ  làm mình trở thành yếu đuối trong sự phục vụ, hoặc là để những khoái lạc trần gian chuyển hướng mình khỏi công việc Chúa.
    * Mão Triều Sự Sống (Crown of Life) (Gia.1: 12; Khải. 2: 10; Mat.5: 12;Rô. 8: 17,18)
       Mão  triều nầy đôi lúc được gọi là mão triều tuận đạo và được đề cập trong sách Gia-cơ và Khải Huyền. Tuy nhiên, ngoài hai sách nầy còn có nhiều phân đoạn Kinh Thánh khác đề cập đến phần thưởng đặc biệt đang chờ đợi những người chịu khổ nhiều vì Chúa Chí-tôn. Đức Chúa Trời dành một mão triều sự sống cho những ai chịu được sự bách hại. Những người tuận đạo của mọi thời đại, và đặc biệt trong cơn đại nạn, sẽ được nhận  mão triều nầy.
             * Mão Triều vinh hiển (Crown of Glory) ( I Phi.5: 2-4)
       Đây là mão niện của các trưởng lão và Mục sư được ban cho bởi đấng Chăn Chiên Trưởng khi Ngài hiện ra. Mão niệm nầy dành cho sự trung tín phục vụ Chúa. Lời Chúa đã nói nhiều về những kẻ chăn chiên thật và  gia. Mục sư trung tín chỉ hướng về một phía duy nhất - là phía của thập tự giá. Nhiều Mục sư ngày nay phục vụ những lời ca ngợi hư nát từ khán thính giả của họ, hoặc sự giàu có của tín hữu họ, hoặc sự nhìn nhận của giới học thức hơn là tìm khiếm mão triều vinh hiển của Đức Chúa Trời. có những người khác trung tín giảng lời vô ngộ của Đức Chúa Trời và sứ điệp về sự đổ huyết của con Đức Chúa Trời, đấng đã bị bách hại tàn nhẫn. Mão triều vinh hiển chỉ dành cho những người chăn trung tín nầy.
       * Mão Triều Vui Mừng (Crown of Rejoicing) (I Tê.2: 19; Đ.12: 3; Phi.4: 1)
       Không phải tất cả mọi người đều đọat được mão triều vinh hiển, nhưng mỗi người tin Chúa đều có thể có được mão triều vui mừng, vì đây là mão triều của những kẻ chiếm hữu linh hồn cho Chúa. Không phải mọi tín hữu đều được kêu gọi để giảng dạy, nhưng mỗi người đều được kêu gọi để gieo hạt giống quý báu của Lời Đức Chúa Trời và thường xuyên tìm cách dắt dẫn người khác đến với Chúa Giê-xu Chí-tôn. Sự vui mừng của chúng ta trên thiên đàng sẽ lớn  lắm khi thấy những người trước đây được dẫn đến sự cứu rỗi qua sự làm chứng và kiên nhẫn dạy dỗ lời Đức Chúa Trời của chúng ta.
       * Mão Triều Công Chính (Crown of Righteousness) (II Tim.4: 7,8)
       Đây là mão triều dành cho những người yêu mến sự hiện ra của Chúa Chí-tôn. Tại sao có một mão triều cho những người yêu mến và trông mong sự tái lâm của Chúa?   Giăng trả lời câu hỏi nầy trong sách I Giăng 3: 2,3:  "Hỡi kẻ rất yêu dấu, chính lúc bây giờ chúng ta là con cái Đức Chúa Trời, còn về sự chúng ta sẽ ra thể nào, thì điều đó chưa được bày tỏ. Chúng ta biết rằng khi Ngài hiện đến, chúng ta sẽ giống như Ngài, vì sẽ thấy Ngài nhưvốn có thật vậy. Ai có sự trông cậy đó trong lòng, thì tự mình làm nên thanh sạch, cũng như Ngài là thanh sạch."
    TỔNG KẾT
          Có nhiều lời hứa trong Kinh Thánh liên quan đến những phần thưởng trong tương lai cho người công chính. Chúa Giê-xu Chí-tôn, Phao-lô và Giăng có thể nói về những sự vinh hiển nầy - Chúa Giê-xu Chí-tôn đã biết rõ, Phao-lô và Giăng cũng được cho thấy thoáng qua.
          Lúc chết, các tín hữu về với Chúa và sẽ ở với Ngài đời đời. Ngôi nhà mới của Đức Chúa Trời có một vẻ đẹp không thể nào diễn tả nổi được đặc biệt sửa sạon cho các tín hữu. Nó là một Thành Thánh, không giống như những thành của thế gian. Chỉ những người có tên trong sách sự sống mới được làm dân cư trong đó. Đền thờ sẽ không cần nữa vì sự hiện diện của Đức Chúa Trời đầy dẫy trong thành. Aùnh sáng sẽ chiếu rọi từ Đức Chúa Trời, và Chiên con sẽ sáng chói hơn mặt trời hay bất cứ ngôi sao nào. Bức thành và các cổng được làm bằng châu báu. Nền tảng của thành mang tên mười hai sứ đồ, mỗi cánh cổng mang tên một chi phái của Do Thái. Đồ sộ về kích thước; chiều dài, chiều ngang, chiều cao bằng nhau. Sự thanh khiết lan tỏa trong thành.thành nầy tọa lạc trong nơi Phước lạc của Đức Chúa Trời, nơi mà nước nầy hằng sống tuôn chảy, và cây sự sống ban lá gìn giữ sức khỏe của các dân.
          Những tín hữu đã tiếp nhận sự cứu rỗi, tất cả sẽ sống trong thành Thánh; nhưng phần thưởng cá nhân sẽ được ban cho tùy theo lối sống và công việc của mỗi Cơ-Đốc Nhân. Các hành động trong mỗi ngày sẽ bị đốt và thanh lọc tại sự xét thưởng nầy. Có thứ sẽ bị tiêu hủy, có thứ sẽ còn lại.
          Mão triều là phần thưởng. Đây là những mão triều không hư nát và vĩnh viễn dành cho những ai không cho phép những sự ham muốn ích kỷ ngăn trở sự phục vụ Đức Chúa Trời. mão triều sự sống là một phần thưởng dặc biệt cho những người bị bách hại. Đối với các vị mục sư và các nhà lãnh đạo Hội Thánh thì sẽ được ban cho mão triều vinh hiển. Những người chiến thắng linh hồn sẽ được ban tặng một mão triều vui mừng. Mão triều công chính đặc biệt cho những ai yêu mến và trông mong sự tái lâm của Chúa.
    BÀI LÀM
    1.     Điều gì xảy ra cho các tín hữu vào lúc lâm chung?
    2.     Hãy mô tả ngôi nhà mới của các tín hữu?
    3.     Hãy liệt kê những đặc tính của Thành Thánh?
    4.     Tại sao không có đền thờ trong Thành Thánh?
    5.     Các tín hữu có những phần thưởng chắc chắn nào ở trên thiên đàng?
    6.     Những phần thưởng nầy được ban cho dựa theo những căn bản nào?
    7.     Mão triều chiến thắng không hư nát có nghĩa gì?
    8.     Hãy so sánh mão triều  vinh hiển và mão triều sự sống.
    9.     Tại sao mão triều vinh hiển lại còn gọi là mão triều  của các Mục sư?
    10.  Mão triều của những kẻ chiếm hữu linh hồn cho Chúa là gì?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
          Smith, Wilbur M. The Biblical Doctrine of Heaven. Chicago:  Moody Press,1980.

    Top

    Top of Form
    Trang Đầu | Mục Lục | << CHƯƠNG 11
    CHƯƠNG 12
    HÌNH PHẠT KẺ ÁC
    (Punishment of the Wicked)
          Một số  tin rằng không có địa ngục. Quan niệm của họ về một Đức Chúa Trời yêu thương sẽ mâu thuẫn với một nơi như thế. Họ nói rằng hình ảnh về địa ngục quá kinh khủng, không thể có thật được. Trong vườn Ê-đen, Sa-tan đưa ra một thay đổi  nhỏ trong lời Chúa bằng cách thêm chữ "không" vào trong mệnh lệnh của Đức Chúa Trời làm mẹn lệnh nầy trở thành:  "Ngươi chắc sẽ không chết" (Sáng.3: 4; 2: 7). Sự thêm vào chữ nhỏ của Sa-tan được chấp nhận và thế gian đã bị hư vong.
          Một số khác không tin địa ngục là đời đời. Họ giải thích rằng một Đức Chúa Trời đầy tình thương sẽ không hình phạt loài người đến đời đời. Quan niệm nầy rất lợi cho Sa-tan.
          Rồi cũng có một số người tin có địa ngục, nhưng không đồng ý là sẽ có người đi vào nơi đó. Đối với họ, tất cả mọi người đều tốt khi họ qua đời. Tất cả mọi người đều thành thật, tốt và hy vọng tất cả vào thiên đàng. Đây là một ảo tưởng chung. Thật dễ hiểu cảm xúc của một bé gái hỏi mẹ rằng những người ác bị chôn tại đâu, vì trong nghĩa trang em không thấy một bia mộ nào ghi người ác cả, chỉ toàn là người tốt.
          Đây không phải là một giáo lý thú vị. Môi-se không hứng thú gì khi phải đứng trước Pha-ra-ôn và tuyên bố sự sụp đổ của Ai Cập; Ê-li cũng không hứng thú gì khi phải đứng trước vua A-háp và tuyên bố hình phạt trên dân Do Thái; Giê-rê-mi cũng không hứng thú gì khi phải nói tiên tri về sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem; cũng như Ê-tiên, Phi-e-rơ, Phao-lô khi phải giảng cho những kẻ bắt bớ họ.
          Không vị thầy nào đầy lòng yêu thương như Chúa Cứu  Thế của chúng ta, dầu vậy, không có ai quả quyết về hình phạt của kẻ ác cho bằng Ngài. Địa ngục và sự tàn diệt luôn ở trước mặt Ngài. đối với Ngài, thì hình phạt của kẻ ác là quá rõ ràng và thiết yếu. Đối với những người nhờ cậy Ngài làm Chúa Cứu Thế để giải thoát họ khỏi địa ngục thì những gì Chúa để lại dương thế là chân lý và đầy ý nghĩa.
          Thật kinh khiếp khi nghĩ đến sự đau đớn khốn khổ vĩnh viễn, nhưng điều nầy phải là sự thật, nếu không thì chắc Chúa đã chẳng nói đến. Cùng một môi miệng vàng ngọc đã tuyên giảng các phước lành và nói nhiều chỗ trên thiên đàng, cũng đã đề cập đến "hồ lửa đời đời" và nơi "có khóc lóc và nghiến răng." Không còn nghi ngờ gì về sự có thật của địa ngục cả. Chúa Giê-xu Chí-tôn đã xác định sự thật về hình phạt trong tương lai dành cho kẻ ác.
    NHỮNG KẺ LÃNH CHỊU HÌNH PHẠT
          Tất cả những người tên không được viết trong sách sự sống sẽ bị hình phạt (Khải.20: 15). Những người nầy sẽ sống lại trong kỳ sống lại thứ hai và chịu xét tội tùy theo  tội lỗi họ. Trong đám người đông đảo nầy sẽ có những người mà Kinh Thánh gọi là:  con cái Sa-tan, bọn giả hình, những người vô tín.
          Chúa  Chí-tôn  (Christ) đặc biệt chỉ ra rằng Sa-tan có con cái trong thế gian. Đặc điểm của chúng là không yêu thích sự công chính, trái lại chúng là kẻ thù của sự công chính. Và vì sự công chính của Đấng  Chí-tôn không ở trong lòng chúng, nên sự ganh ghét, ác độc, giết người, và gỉa dối cai trị cuộc đời của chúng (Mat.13: 38-42; Giăng 8: 44).
          Không ai nói nhiều về sự giả hình bằng Chúa Chí-tôn. Ngài thường xuyên phơi bày sự giả dối của chúng. Sa-tan là tên đại lừa dối (khải.12: 9), và những kẻ, giống như Sa-tan, giả vờ là điều nầy nhưng thật ra là điều khác, đương nhiên cũng phải bị hình phạt với Sa-tan (mat.23: 13-15; 24: 51). Người ta không cần phải là sát nhân hay là kẻ giả hình mới bị vào địa ngục. Mỗi một người phạm tội thì sẽ ở dưới sự đoán phạt. Chỉ có ai có tên trong sách sự sống, vì họ tin nơi sự chuộc tội của Chúa Giê-xu Chí-tôn, sẽ được cứu rỗi. Tất cả những kẻ vô tín đều bị hình phạt (Lu.12: 46; Giăng 3: 18; 8: 24).
    MỤC ĐÍCH CỦA HÌNH PHẠT
          Kinh Thánh nói kẻ ác "chết trong trong tội lỗi của chúng" (Giăng 8: 21). Chúng đeo theo tội lỗi cho đến giờ phút cuối. Chữ "Cơn thịnh nộ" chỉ về ý đã định của Đức Chúa Trời đối với bọn ngoan cố làm ác (Giăng 3: 36); "giận dữ" là bộc phát của cơn thạnh nộ ấy trong ngày đóan xét.
          Nhưng Đức Chúa Trời cũng "nín chịu mọi sự" và dẫn dắt tội nhân đến sự ăn năn (Rô.2: 4-9). Ngài không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn" (II Phi.3: 9). Ngài không vui sướng gì trong việc hình phạt kẻ ác (Eâx.18: 23,32;33: 11). Ngài không những đã cho con người cơ hội trong lúc ban đầu để sống vĩnh viễn, mà cũng cung cấp sự chuộc tội cho con người sau khi họ sa ngã. Là Đấng cai trị công chính, Ngài có thể làm gì hơn được nữa?  Một Đức Chúa Trời công chính phải trừng phạt tội lỗi.
    CHỖ HÌNH PHẠT
          Kẻ hoài nghi hỏi,"Địa ngục ở đâu? " câu trả lời là,"Bất cứ nơi nào ngoài thiên đàng". Thật đúng khi cho rằng ở ngoài thiên đàng là ở trong địa ngục, và rằng sự đau khổ đời đời có thể do nhận biết chân lý quá trễ; nhưng không phải "bất cứ chỗ nào  cũng là địa ngục.
          Địa ngục (Hell, Sheol, Hades) (Gióp 2: 2; I Phi.5: 8);Khải.20: 2,3,10)
          Hiện giờ Sa-tan không ở trong địa ngục. Nó là Chúa của thế gian nầy, và nó cũng như các thiên sứ của nó đang rất bận rộn trên thế gian. Chữ "địa ngục" trong tiếng Hy-Lạp là "Hades" và trong tiếng Do Thái là "Sheol" có nghĩa là nơi của những linh hồn đã lìa đời.
          Hồ lữa (Lake of Fire) (Gehenna) (Mat. 10: 28; Khải.19: 20; 20: 14)
          Bằng những lời thật rõ ràng và giản dị Chúa tuyên bố rằng trong đời tương lai người ta sẽ có thân thể, và thân thể của những người hư vong sẽ còn lại trong một nơi hành hạ thể chất đúng theo nghĩa đen. Chữ "Gehenna" mà Chúa dùng, tiêu biểu cho cùng một nơi và cùng một hình phạt là "hồ lửa" đề cập trong sách Khải huyền. "Gehenna" nghĩa là hình phạt sau khi chết.
          Gehenna là tên của một thung lũng gần thành Giê-ru-sa-lem nơi mà rác rưới và cặn bã của thành phố bị đốt liên tục. Chúa Giê-xu dùng nó tiêu biểu điều mà Kinh Thánh gọi là "đám lửađời đời" (Eâs.33: 14), "ngọn lửa đời đời" (Mat.25: 41), ngọn lửa không thể dập tắt được (Mác 9: 43; Eâs. 66: 24) và hồ lửa.
    THỜI GIAN HÌNH PHẠT
          Các chữ "vĩnh viễn" và "đời đời" được dùng lặp lại để cho biết rằng hình phạt kéo dài vô tận. Kinh Thánh dùng những chữ trên để nói đến phần thưởng của người công chính và cũng dùng chúng để chỉ rõ khoảng thời gian hình phạt của kẻ ác (Đa.12: 2;  Mat.25: 46; Giu 13; Khải.14: 11; 19: 3; 20: 10). Thời gian hình phạt kẻ ác ở địa ngục cũng kéo dài bằng thời gian vui sướng của người công chính trên thiên đàng và chỉ  khi có sự chấm dứt niềm vui sướng trên thiên đàng thì mới có sự bãi bỏ tình cảnh khổ não dưới địa ngục.
          Một số người thay đổi Kinh Thánh và tìm kiếm sự an ủi cho chính họ trong sự tin tưởng rằng chữ "hủy hoại" (destruction) Kinh Thánh dùng có nghĩa là tiêu diệt khôngcòn gì nữa (annihilation). Nhưng đây là hủy hoại của cơ hội hơn là hủy hoại sự hiện hữu. Làm thế nào có thể nói những người bị tiêu diệt (annihilated) không còn hiện hữu nữa lại bị thống khổ, khóc lóc và than vãn?  làm sao mà nói được là họ nài xin được vào thiên đàng, mà đối nại vấn đề?  (Lu.16: 23,24)
    BẢN CHẤT CỦA HÌNH PHẠT
          Mục sư Spurgeon đã nói "Có thể  nào bạn chịu đựng được khi thấy cảnh một đồng loại của mình chìm trong đau khổ?  Sự khổ ải của người ấy khơi dậy lòng trắc ẩn trong chúng ta. Nhưng bạn không thể so sánh những sự đau đớn của đời nầy với những đau đớn sẽ đến."
          Đày ải (Banishment) (Mat. 13: 49, 50; 25: 41; Lu.16: 26; II Tê.1: 9)
          Hiện nay Đức Chúa Trời ban nhiều phước lành cho kẻ ác. "Ban mưa xuống cho người công chĩnh lẫn kẻ gian ác," Nhưng một khi Ngài đã nói, "Hãy lui khỏi mặc ta, các ngươi là những kẻ làm ác," thì đó sẽ lần cuối cùng họ thấy điều tốt, công chính và đáng yêu. Sẽ không có những lời cầu nguyện, không một bài thánh ca khen ngợi trong địa ngục. Sẽ không có sự theo đuổi tri thức, không có thu hoạch, không có nghề nghiệp, không có giúp dỡ, không có hy vọng. Địa ngục đầy mọi đều ác và là nơi bị từ bỏ.
          Tối Tăm  (Darkness) (Mat.8: 12; 22: 13; 25: 30; Giu.13)
          Đây là bức tranh của một buổi dạ tiệc. Kẻ ác bị đuổi ra khỏi sự vui vẻ của buổi tiệc để vào trong sự tối tăm và buồn thảm bên ngoài. Những người đã từng ở bắc cực nói rằng cái lạnh buốt xương cũng không làm cho ta khổ bằng những tháng dài triền miên trong bóng đêm làm sa sút tinh thần. Bóng đêm của địa ngục sẽ không thể dò thấu được và kéo dài vĩnh viễn.
          Lửa (Fire) (Mal.4: 1; Mat.3: 12; 13: 40,50; Lu.16;23,24)
          Ai cũng nhìn nhận cho rằng ngôn ngữ hình dung (figure of speech) thì ít mạnh mẽ hơn thực tế. Không có sự đau đớn nào giống như bị thiêu đốt. Lửa là một thứ thiêu nuốt và tàn hại nhất trong tất cả mọi thứ. Lửa là thứ chống lại sự sống hơn cả. Các loài tạo vật có thể sống trong không khí, đất và nước, nhưng loài nào có thể sống trong lửa.
          Nhưng đặc tính khủng khiếp nhất của lửa địa ngục là nó không tiêu hủy. Không làm diệt mất những người phải ở trong lửa. Họ bị tra tấn trong ngọn lửa hừng, người giàu có mà Chúa phác họa, van nài một cách đáng thương hại xin cho một giọt nước để làm mát lưỡi bị phỏng của ông.
          Hối Hận (Remorse) (Eâs. 66: 24; Mat 8: 12; 13: 43, 50; 22: 13)
          Câu "vì sâu chúng nó chẳng hề chết" có nghĩa gì? Con sâu có lẽ là ký ức. Khi đct nói,"Nầy con, hãy nhớ" thì con người không bao giờ có thể quên được. Họ sẽ ghi nhớ tội lỗi của họ. Họ sẽ ghi nhớ mãi tình thương của Chúa. Họ sẽ chẳng bao giờ có thể quên rằng họ đã nghe Phúc-Âm và đã bỏ qua đặc ân cứu rỗi. Chính những ký ức nầy sẽ mang lại sự đau khổ đắng cay vì hối hận. Sẽ có sự than khóc đời đời cho những cơ hội đã đánh mất.
          Đấng Chí-tôn nói đến địa ngục và dường như người ta muốn hết sức làm đủ mọi thứ để trốn tránh nơi đó. Nhưng trường hợp nầy không phải như thế. Mặc dù Đức Chúa Trời đã làm tất cả mọi cách để cứu loài người khỏi định mệnh cay nghiệt nầy, nhưng họ vẫn cố tình bỏ qua sự cứu rỗi. Chúa Chí-tôn phacù họa cách sinh động bức tranh của người giàu mà ác ở trong địa ngục hết lòng van xin cho một người nào đó sống lại từ trong cõi chết để cảnh cáo những thân nhân còn sống trong vòng tội lỗi. Nhưng loài người có lắng nghe những người từ chết sống lại không?  La-xa-rơ đã sốnglại nhưng người Do Thái có lắng nghe ông không?  Không, họ còn tìm cách giết ông. Chúa Chí-tôn đã sống lại nhưng người ta vẫn không chịu nghe Ngài, không chịu nghe Phúc-Âm cứu rỗi của Ngài.
    TỔNG KẾT
          Nhiều người cố phủ nhận sự hiện hữu của địa ngục, chối bỏ rằng địa ngục không tồn tại đời đời và không ai sẽ vào nơi đó. Nhưng chính Chúa Chí-tôn đã thường nói đến địa ngục và hình phạt dành cho kẻ ác.
          Những người mà tên không được viết vào sách sự sống sẽ bị hình phạt. Họ gồm có con cái của Sa-tan là những người không yêu mến sự công chính, những kẻ giả hình, và tất cả những ai không tin nhận Chúa Chí-tôn làm Chúa Cứu Thế của họ. Những người nầy phải bị hình phạt vì Đức Chúa Trời là thánh, và vì thế Ngài phải trừng phạt tội lỗi.
          Sa-tan hiện thời được phép vận hành trong thế gian, nhưng một ngày tới đây nó sẽ bị quăng vào địa ngục và hồ lửa đời đời. Những kẻ ác sẽ bị hình phạt chung với Sa-tan mãi mãi.hình phạt nầy không có nghĩa là hoàn toàn bị tiêu diệt, nhưng bị khổ hình với sự ý thức. Sự thống khổ nầy bao gồm việc bị tách khỏi mọi điều tốt lành, ở trongbóng tối không thể dò được,lửa cháy không tàn, và sự hối hận triền miên vì đã bỏ mất cơ hội tiếp nhận Chúa Chí-tôn.
    BÀI LÀM
    1.     Bằng những cách nào Sa-tan đã cố gắng che giấu sự hiện hữu của một nơi hình phạt?
    2.     Hãy mô tả những kẻ dự phần trong hình phạt.
    3.     Đặc tính chính yếu của con cái Sa-tan là gì?
    4.     Mục đích chính của hình phạt là gì?
    5.     Hãy trình bày nơi cho những kẻ ác.
    6.     Trong phương diện nào Gehenna là biểu hiện của hồ lửa?
    7.     Hãy mô tả bốn hình phạt của kẻ ác.
    8.     Kinh Thánh mô tả lửa địa ngục như thế nào?
    9.     Hãy giải thích hình phạt hối hận.
    10.  Bài học nầy có ý nghĩa gì cho chính bạn?
    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    Demary, Doanld E. Bassic Belief. Grand Rapids:  Baker Book House, 1958. Chapter 14.
    <%Response.Clear%>
    Top
    Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form
     Bottom of Form



  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels