• Giảng lý thuyết và phương pháp soạn bài giảng

    BÀI 2



    BỐ CỤC VÀ ĐỀ TÀI BÀI GIẢNG



    A.     Bài Học:

    I.        Mục Đích Bài Học:

    Bài học này nhằm g iúp học viên có một cái nhìn tổng quát về cấu trúc bài giảng cũng như thấy được sự cần thiết của sự thống nhất  của tất cả những yếu tố trong bài giảng hầu giúp cho việc truyền đạt sứ điệp của Chúa có hiệu quả hơn.

    II.     Muïc tieâu baøi hoïc:

    Sau khi học xong bài này, học viên có thể:  

    •        Hiểu được tầm quan trọng của việc có được sự thống nhất của bố cục của một bài giảng và sự ích lợi của nó trong việc giúp cho sứ điệp được truyền đạt một cách có hiệu quả.

    •        Có được những gợi ý cần thiết khi tìm kiếm đề tài cho bài giảng

    III.   Nội Dung Bài Học:

    1.  Sự Thống Nhất Của Một Bài Giảng:

    Nhà tuyên đạo bước lên bục giảng cần có ba điều tin chắc trong lòng: (1) Sứ điệp mà mình mang trọng trách rao giảng có tầm quan trọng lớn lao vì là sứ điệp của Chúa cho con dân Chúa; (2) Sứ điệp với tầm quan trọng như vậy sẽ đủ sức mạnh để đi vào lòng người nghe, cho dù đôi khi vị “sứ giả” thiếu kỷ thuật diễn thuyết hay nghệ thuật ăn nói; và quan trọng hơn cả  là  (3) Chính Đức Thánh Linh sẽ mở “đôi tai thuộc linh” của người nghe.  Tuy nhiên, với những điều tin chắc này, nhà truyền đạo cũng không thể tự cho phép mình được miễn trừ khỏi sự làm việc cần cù trong khi chuẩn bị bài giảng.  Nói một cách chính xác, nhà tuyên đạo phải “cộng tác” với Đức Thánh Linh một cách tích cực trong mục vụ giảng luận.  Những nhà tuyên đạo cầu nguyện với tinh thần “tất cả mọi sự tùy thuộc vào Chúa” cũng cần phải làm việc với tinh thần “tất cả mọi gánh nặng dường như ở trên vai mình.”

    Trong những năm khi còn ngồi ở băng ghế nhà thờ để nghe giảng, chắc có lẽ chúng ta đã có đôi lần nghe được những bài giảng mà trong đó vị mục sư “hạ cánh” xuống tất cả mọi vấn đề liên quan đến phân đoạn Kinh Thánh của ngày hôm đó để rồi khi ra về thì chúng ta không hiểu vị mục sư thực sự muốn nói gì.  Mọi vấn đề đều có vẻ quan trọng, nhưng hình như không vấn đề nào đi đến nơi đến chốn.  Công bằng mà nói, những bài giảng như vậy khá là “phong phú” vì đã chạm đến rất nhiều vấn đề, đưa ra nhiều lời bình giải khá tốt, tôn trọng Kinh Thánh vì đã trưng dẫn rất nhiều câu hoặc đoạn có liên quan đến những vấn đề nêu ra, có nổ lực tôn cao sự vinh hiển của Chúa, đầy thiện chí trong việc kêu gọi con dân Chúa hưởng ứng những việc tốt đẹp, v.v... nhưng nhìn một cách tổng quát từ góc độ chuyên môn thì chúng hình như không có một An-pha (khởi đầu) vững vàng và một Ô-mê-ga (kết luận) chắc chắn.  Những bài giảng như vậy là những bài giảng thiếu trọng tâm, thiếu sự thống nhất trong hướng đi.  Trong những trường hợp tệ hơn, chúng có thể hóa thành những bài nói chuyện lan man, hoa mỹ, (còn tệ hơn nữa là đôi khi nhằm mục đích khoa trương kiến thức) mà không có chủ đích.   Những bài giảng thiếu trọng tâm như vậy rơi vào tình trạng được diễn tả bằng câu nói sau: “nhắm vào tất cả mọi mục tiêu cùng lúc có nghĩa là không thể nhắm gì cả, và không thể nhắm gì cả có nghĩa là sẽ trật tất cả mọi mục tiêu.”  Điều này giải thích việc tại sao người nghe thì nghe thật nhiều nhưng cuối cùng cứ mơ hồ không hiểu điều nào là quan trọng nhất trong bài giảng hôm ấy.

    Việc nhà truyền đạo có một sứ điệp để nói ra không thể bảo đảm được việc người nghe sẽ chắc chắn nhận được sứ điệp đó.  Muốn bảo đảm người nghe chắc chắn “nghe” được sứ điệp đó, người giảng phải biết làm thế nào để “nói ra.”  Muốn làm được như vậy, người giảng cần đặt trọng tâm của bài giảng vào chính sứ điệp đó, và mọi phần triển khai chung quanh trọng tâm đó phải phục vụ cho việc làm nổi bật trọng tâm đó lên.  Nói một cách khác, bài giảng phải có một bố cục rõ ràng và một hướng đi chắc chắn, cũng như toàn bộ bài giảng phải kết hợp thành một khối thống nhất chung quanh một trọng tâm cụ thể.  Trọng tâm này có thể triển khai thành vài điểm chính, nhưng kinh nghiệm cho thấy là không nên quá ba điểm.

    Nhiều người “than phiền” rằng những đoạn kinh văn thường chứa đựng nhiều ý nghĩa cùng một lúc, cho nên việc tập trung vào một trọng tâm cụ thể là việc khó có thể thực hiện được.  Việc có những đoạn kinh văn ẩn tàng nhiều ý nghĩa, nhiều chủ đề cùng một lúc là sự thật, nhưng chúng ta cần nhớ rằng không phải tất cả ý nghĩa này cần phải được nói ra cùng một lúc.  Có nhiều cơ hội khác để chúng ta trở lại đoạn kinh văn này để suy gẫm những ý nghĩa khác mà trước đó chúng ta đã tạm gát qua.  Thậm chí, có những vấn đề mà chúng ta cần phải trở lại để suy gẫm ở một góc độ khác.  Ví dụ như từ cùng một đoạn kinh văn 2 Cô-rinh-tô 5: 16 – 21, nhà truyền đạo có thể soạn nhiều bài giảng với những đề tài khác nhau như “Tạo Vật Mới” hay “Giữa Hai Thế Giới,” v.v... Cho nên, nhiệm vụ của  nhà truyền đạo khi đối diện một đoạn kinh văn trong khi chuẩn bị một bài giảng không chỉ là quyết định những gì cần phải nói mà còn là phải quyết định những gì không cần phải nói trong bài giảng đó.

    Ích lợi của việc bài giảng có một bố cục rõ ràng, nghĩa là có một trọng tâm cụ thể và có môt sự thống nhất giữa những phần khác nhau, thì thật là rất nhiều.  Trước hết, nhà truyền đạo có một bài giảng với một bố cục rõ ràng sẽ tự tin hơn trong việc chuẩn bị bài giảng cũng như khi đứng giảng.  Một trọng tâm rõ ràng cũng giúp cho người soạn bài được dễ dàng hơn trong việc thu thập tài liệu và trí tưởng tượng cũng như sự sáng tạo sẽ được tự do để phát triển hơn.  Việc bài giảng tập trung vào một đề tài duy nhất giúp cho nhà truyền đạo thấy rõ được hướng đi trong quá trình chuẩn bị cũng như khi giảng.  Việc này cũng giúp cho người giảng ít lệ thuộc vào bài giảng ghi trên giấy, và do đó bài giảng sẽ tự nhiên và sống động hơn.  Một tư tưởng hay đề tài đóng vai trò trung tâm của một bài giảng cũng sẽ giống như một viên nam châm chỉ thu hút những tài liệu thật sự thích hợp để đưa vào bài giảng, những tài liệu không phù hợp sẽ tự động “đứng ngoài.”  Đối với người nghe, bài giảng có một bố cục rõ ràng và tập trung vào một đề tài chủ đạo sẽ giúp cho họ dễ hiểu và dễ tập trung hơn.  Việc người giảng “tự giới hạn” mình vào một tư tưởng cô đọng cũng giúp gia tăng sự thích thú trong người nghe vì  “năng lượng” của người giảng không bị phân tán và tản mạn như trong những bài giảng thiếu bố cục chắc chắc và chứa đựng quá nhiều vấn đề cùng một lúc.

    Người mới bước vào chức vụ giảng luận có thể cảm thấy hơi khó khăn đối với việc xây dựng một bố cục rõ ràng cho bài giảng, nhưng thời gian sẽ giúp tăng thêm kinh nghiệm.  Ở mức độ căn bản, nhà truyền đạo có thể theo một tiến trình đơn giản sau đây để đảm bảo sự rõ ràng của bố cục và tính thống nhất của bài giảng:  đoạn kinh văn nền tảng cung cấp chủ đề chính, chủ đề chính đưa đến đề tài của bài giảng,  đề tài của bài giảng sẽ dẫn đến tiêu đề hay đề tựa của bài giảng.  Ví dụ sau đây sẽ cho thấy rõ tiến trình này:

     Đoạn Kinh Thánh:                    Ma-thi-ơ 5: 21 - 27

    Chủ đề chính có thể là:            Trong hội thánh, mối thông công trong Chúa quan

                                                    trọng hơn nghi lễ

    Đề tài bài giảng:                      Sự ưu tiên của việc hòa giải

    Tiêu đề bài giảng:                   “Ra đi trước giờ chúc phước”

    Ở đây, cần chú ý sự khác nhau giữa đề tài và tiêu đề của bài giảng.  Đề tài là do người soạn bài giảng đề ra cho riêng mình như là một điểm tập trung để rồi chung quanh đó người này sẽ khai triển bài giảng.  Tiêu đề phải phản ánh trực tiếp đề tài này nhưng là một mệnh đề dành cho người nghe, thường là một câu ngắn gọn và dễ gây chú ý.                              

      2. Đề Tài & Lịch Giảng Luận

    Khi bước vào chức vụ giảng luận, nhà truyền đạo phải chuẩn bị để rao ra sứ điệp của Chúa từ tuần này qua tuần khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, không phải chỉ giảng đôi ba bài rồi thôi.  Lịch trình giảng luận là sự sắp xếp chuỗi bài giảng này vào một lịch trình thời gian nhất định.  Lịch trình giảng luận sẽ giúp cho chức vụ của nhà truyền đạo có tổ chức và trở nên nhẹ nhàng hơn.  Khi xem xét sự liên quan giữa chủ đề của từng bài giảng và lịch trình giảng luận, chúng ta có thể nhận dạng được ba loại bài giảng khác nhau: (1) Bài giảng theo những đề tài ưa thích (topical preaching); (2) Bài giảng trong một loạt bài giảng nhằm khai thác một chủ đề lớn hoặc một sách nào đó trong Kinh Thánh (in-course preaching); và (3) giảng theo lịch giảng luận chung (lectionary).  Trong loại thứ nhất (topical), những nhà tuyên đạo chọn những đề tài (cùng với đoạn Kinh Thánh nền tảng) được xem như là quan trọng và thích thú nhất (ít nhất là đối với họ).  Những đề tài này cũng thường được sắp xếp chung quanh lịch những ngày lễ quan trọng của Hội Thánh hoặc nhân những biến cố trọng đại xảy ra chung quanh.  Trong loại thứ hai (in-course) thì chính chủ đề lớn hoặc nội dung của một sách nào đó trong Kinh Thánh sẽ quyết định đề tài và đoạn kinh văn của từng bài giảng.  Trong loại thứ ba (lectionary) thì nhà tuyên đạo đi theo một lịch giảng luận được soạn chung cho cả giáo hội.  Theo lịch này thì toàn bộ Kinh Thánh (đúng ra là những đoạn kinh văn và những chủ đề quan trọng của tất cả các sách trong Kinh Thánh) sẽ được giảng theo một chu kỳ ba năm.  Lịch trình này giống như một đường trôn ốc nghĩa là sau ba năm thì người giảng lại quay trở về sách đầu tiên, nhưng có thể ở một mức độ khác với lúc ban đầu.  Khó có thể nói rằng loại bài giảng nào là ưu việt hơn những loại khác vì những nhà tuyên đạo đầy ơn trong lịch sử Hội Thánh đều có mặt trong cả ba “trường phái” này.  Tuy nhiên, càng ngày càng nhiều nhà tuyên đạo chọn loại thứ ba vì nó đem lại cho họ những lợi ích thực tế trong việc lập kế hoạch giảng luận.

    Ở đây, chúng ta cần khẳng định một điều: dù theo hình thức nào đi nữa, nhà tuyên đạo phải có một kế hoạch giảng luận được thiết lập trước, hoặc ba tháng hoặc sáu tháng hoặc lâu dài hơn nữa tùy theo khả năng.  Ở đây, chúng ta sẽ không bàn đến những bài giảng thuộc loại (2) hoặc (3) vì chúng tự động buộc nhà tuyên đạo phải theo một lịch trình giảng luận soạn trước (do chính mình như loại thứ 2 hoặc do giáo hội theo loại thứ 3).  Những nhà tuyên đạo theo loại thứ nhất (giảng theo đề tài) phải cẩn thận vì sẽ rất có thể rơi vào tình trạng “ngẫu hứng,” nghĩa là giảng luận mà không theo một lịch trình soạn trước nhưng theo do sự cảm hứng riêng của mình theo từng thời điểm.  Do đó, nếu theo lối giảng theo đề tài, nhà truyền đạo phải sắp đặt những đề tài này theo một lịch giảng soạn trước.  Việc giảng mà không có lịch trình có nhiều hậu quả tai hại mà những nhà tuyên đạo lâu năm đều hiểu rõ, nhất là việc “bí đề tài.”  Đã có trường hợp một vị mục sư sau một thời gian đứng trên bục giảng than thở: “Tôi không biết phải giảng đề tài gì nữa.”  Đây là trường hợp tiêu biểu cho những nhà tuyên đạo không có kế hoạch giảng luận soạn trước.  Họ thường đợi đến trong tuần rồi mới “cảm động” một đề tài nào đó hay là nhân một sự kiện (một tai nạn, một sự khủng hoảng, v.v...) vừa mới xảy ra ngoài xã hội hay trong hội thánh mới nảy sinh ra đề tài.  Dĩ nhiên, chúng ta cần phải d ành sự chú ý đúng mức cho những sự kiện “nóng hổi” mới phát sinh, nhất là trong hội thánh, nhưng nếu cứ đợi đến giờ phút chót mới “cảm động” để nảy sinh ra đề tài thì chắc chắn sẽ không thể nào tránh khỏi những lúc phải lo “sốt vó,” nhất là khi gần đến cuối tuần rồi mà vẫn chưa thấy “cảm động” đề tài nào hay là vẫn chưa có sự kiện “nóng hổi” nào xảy ra.

    Ngoài ích lợi của việc tránh tình trạng “bí đề tài,” lịch giảng luận được soạn thảo trước còn giúp cho những bài giảng được “chín mùi” hơn vì người giảng có nhiều thời gian để nghiền ngẫm và thu thập tài liệu hơn.  Chúng ta không loại trừ trường hợp Đức Thánh Linh đã đại dụng những bài giảng được chuẩn bị trong thời gian rất ngắn, nhưng đây là những trường hợp khá cá biệt.  Trên bình diện chung và đối với đại đa số các nhà truyền đạo, một bài giảng được chuẩn bị trước nhiều tuần lễ vẫn “trưởng thành” hơn một bài giảng nảy sinh ra trong vòng hai ba ngày.  Nói rằng nhà tuyên đạo cần phải có lịch giảng luận soạn thảo trước không có nghĩa là chúng ta vẫn khư khư bám theo lịch này và nhắm mắt đối với những biến cố quan trọng trong đời sống của Hội Thánh và xã hội chung quanh.  Khi có những sự kiện quan trọng xảy ra, nhà truyền đạo có thể tạm gát lịch giảng luận lại để đáp ứng những nhu cầu cấp bách và thiết thực của con dân Chúa trước, rồi sau đó lại trở lại với lịch giảng luận của mình.  Là những người rao giảng sứ điệp của Chúa cho con dân Chúa, chúng ta có thể “yên tâm” rằng những dòng chữ của Kinh Thánh đều chứa đựng những sứ điệp quan trọng đối với dân sự Chúa và rằng những đoạn kinh văn được chọn cho một lịch giảng luận soạn trước thoạt tiên có vẻ như không “cảm động” gì mấy sẽ trở nên “nóng hổi” khi được Đức Thánh Linh thăm viếng và chúng ta “đào sâu” đủ, cho dù có hay không có sự kích thích của những biến cố trọng đại chung quanh.  Hơn nữa, những nhà truyền đầy kinh nghiệm hình như lúc nào cũng có thể tìm được mối liên hệ (hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp) giữa những đoạn kinh văn soạn trước và những biến cố chung quanh một cách khéo léo.

    Một ghi chú cuối cùng ở đây đó là khi nói về lịch giảng luận soạn thảo trước, chúng ta đừng hiểu lầm rằng những bài giảng trong lịch giảng luận này phải là những bài giảng đã được soạn hoàn chỉnh, chỉ cần chờ đến ngày đã định là giảng ra.  Lịch này có thể chỉ cần trước những đoạn kinh văn và những đề tài hoặc đề mục được sắp xếp theo một trình tự thời gian rõ ràng.  Thời gian từ ngày lên lịch cho đến ngày bài giảng được giảng ra là khoảng thời gian mà người soạn bài giảng sẽ “thai nghén” và thu thập tài liệu cho đề tài đó.  Một thời gian chuẩn bị tương đối dài như vậy (nhưng cũng không cần phải quá dài) sẽ giúp cho bài giảng được thực sự chín mùi.  Nhìn về hình thức và nói một cách máy móc, việc soạn bài giảng có vẻ như chỉ bắt đầu vào một hay hai tuần trước khi giảng, nhưng thực ra quá trình soạn bài giảng đã diễn ra một cách âm thầm trong thời gian thai nghén bài giảng và thu thập tài liệu cho nó. Trong thời gian này, người giảng đã soạn bài giảng hoặc những phần của bài giảng trong tiềm thức và chỉ chờ đến ngày để viết ra trên giấy.  Một nhà truyền đạo đầy ơn đã làm việc một cách có hiệu quả theo một tiến trình sau.  Trước hết, ông lập một lịch trình giảng luận (từ 6 tháng đến 1 năm) với những đoạn Kinh Thánh và những đề tài.  Sau đó, mỗi đề tài được dành cho một bìa đựng hồ sơ, và tất cả bìa này được xếp vào một tủ hồ sơ theo lịch trình đã định.  Mỗi khi gặp một câu chuyện gì liên quan đến một đề tài nào đó--từ những biến cố xảy ra trong cuộc sống chung quanh, những tin tức trong TV hoặc radio, những cuộc đối thoại, cho đến những câu chuyện minh họa ông đọc ở đâu đó--thì ông ghi lại và bỏ vào hồ sơ của bài giảng đó.  Chúng ta có thể dễ dàng hình dung ra sự thoải mái nhẹ nhàng của ông khi đến ngày soạn và viết ra bài giảng trên giấy cũng như sự phong phú của những bài giảng của ông.  Dù không phải ai cũng có thể theo được tiến trình này một cách dễ dàng, nhất là đối với các vị mục sư truyền đạo luôn luôn bận rộn với hàng trăm thứ công việc trong hội thánh, nhưng nó là một tiến trình làm việc có tổ chức mà tất cả những nhà tuyên đạo nên cố gắng noi theo để khi nó đã trở thành một thói quen thì phần thưởng (cho mình và cho cả hội chúng) sẽ không nhỏ.      

    Phương Pháp Soạn Bài Giảng 2
    Tác giả: Harold E. Knott

    TỰA
    Quyển sách này bắt nguồn từ điều mà tác giả xem là một nhu cầu đích thực. Trong những năm gần đây, một số sách về tuyên đạo pháp đã được xuất bản, nhưng phần lớn những phần của sách đều mang tính chất thảo luận tổng quát về chủ đề. Nhiều người muốn tìm sự trợ giúp trong việc soạn bài giảng đã không được trợ giúp gì, trừ phi khi họ phải nhờ vào các tác phẩm về thuật tuyên đạo.
    Chủ đích của quyển sách này là đưa ra một phương pháp tiếp cận vắn tắt hữu ích với khoa học xây dựng một bài giảng theo các nguyên tắc tuyên đạo thích đáng.
    Các câu hỏi đặt ra ở cuối mỗi chương sách nhằm gợi ý cho các nhóm nghiên cứu và các lớp huấn luyện đem ra thảo luận với nhau. Mong rằng quyển sách này sẽ đáp ứng một nhu cầu đã được mong đợi từ lâu.
    DẪN NHẬP
    Chẳng có gì thay thế được công tác tuyên đạo trong sinh hoạt và sự tăng trưởng của Hội Thánh. Điều vẫn luôn luôn được nghiệm đúng, ấy là Thượng Đế phải cứu rỗi thế gian này bằng “lời truyền giảng khờ dại”. Lời khuyên của nhà truyền đạo vĩ đại nhất thời mình cho đứa con trai của ông trong Phúc Âm phải được chúng ta ngày nay noi theo, nếu chúng ta muốn thực hiện sứ mạng “Hãy giảng đạo (Lời)” mà Chúa đã ủy thác.
    Có một điểm đáng lưu ý trong thời đại này, đó là trong khi vô số người đang hoang mang đối với nhiều điều của lời mặc khải, thì không hề có một nhà truyền đạo nổi tiếng nào lại không có thính giả. Các nhà thờ của những người biết phương pháp đưa Lời sự sống đến với tấm lòng và lương tâm một cách có quyền, đều đầy ắp đến tận các cửa ra vào.
    Từ lâu, chúng ta rất cần một phương pháp vắn tắt, rõ ràng đề cập các nguyên tắc căn bản để soạn bài giảng. Có một số nguyên tắc quan trọng luôn luôn phải được xem là cơ bản cho công tác truyền giảng đích thực; ta không thể bỏ qua chúng mà khỏi bị mất nhiều quyền năng. Trên các kệ sách của chúng ta cũng có một số tác phẩm tuyên đạo pháp rất hay nhưng phần lớn chúng đều đề cập nghệ thuật truyền giảng và những điều mà một người bình thường phải biết, và đều quá thường được đề cập một cách hết sức tóm tắt. Nếu ai có thì giờ và thiên hướng, người ấy sẽ tìm thấy trong tác phẩm “The Theory of Preaching” của tiến sĩ Phelps, một phần thảo luận ưu việt về “phương pháp” xây dựng một bài giảng. Nhưng một người bình thường thì không thể chịu vất vả đọc suốt mấy trăm trang sách của nỗ lực kiến thức ấy để góp nhặt nhhững phần cốt lõi mình có cần.
    Trong tác phẩm này, giáo sư Knott đã đưa ra điều hãy còn thiếu từ lâu nay. Ở đây bằng một hình thức có thể dễ dàng tiếp thu, là những nguyên tắc cơ bản để soạn bài giảng thật đúng đắn. Qúy vị trưởng lão và chấp sự, các vị truyền đạo không nhiệm chức, các cán bộ năng nổ thêm vào đó là các sinh viên cao đẳng sẽ nhận thấy là quyễn sách này đáp ứng đúng nhu cầu của mình. Kinh nghiệm phong phú của giáo sư Knott tại trường cao đẳng Thánh kinh Glen Iris ở Melbourne, Úc châu và nhiều năm tại Eugene, Ore, trong việc giảng dạy cho các thanh niên phương pháp tốt nhất để sắp xếp các sứ điệp của họ hầu chinh phục được nhiều người cho Chúa Cứu Thế, và để gây dựng những người trước đó đã mang danh Ngài, khiến ông có đầy đủ phẩm cách để nói cách có thẩm quyền về đề tài luôn luôn mới và hứng thú này.
    Jesse R. Kellems

    BÀI GIẢNG: ĐỊNH NGHĨA VÀ CHỦ ĐÍCH
    Từ “bài giảng (sermon)” của chúng ta do từ ngữ La-tinh sermon mà ra, có nghĩa là “thuyết giảng” (discourse). Theo nghĩa hiện đại, từ này được dùng chỉ bài thuyết giảng có tính cách nghi thức, một phần của buổi thờ phượng trong nhà thờ. Vinet từng định nghĩa nó là “một bài thuyết giảng kết hợp chặt với buổi thờ phượng công cộng, nhằm... đưa người chưa tin đến với chân lý Cơ Đốc giáo và giải thích, ứng dụng nó cho những ai đã tin nhận rồi”.
    Nghệ thuật soạn thảo và trình bày các bài giảng đã trở thành một ngành nghiên cứu trong thần học, được biết dưới cái tên là tuyên đạo pháp (Homiletics). Phương diện này của công tác huấn luyện mục vụ đã được nêu lên cách trang trọng là “Khoa học dạy các nguyên tắc căn bản để thuyết giảng trước công chúng được áp dụng vào việc công bố và dạy chân lý của Thượng Đế trong những buổi họp thường xuyên nhằm mục đích thờ phượng của Cơ Đốc giáo”. Thế thì, bài giảng ám chỉ phần thuyết giảng chính thức được công bố trong liên hệ với các buổi họp tôn giáo, còn giáo trình chủng viện nhằm đào tạo người trong nghệ thuật soạn và trình bày các bài giảng thì được gọi là việc nghiên cứu học hỏi tuyên đạo pháp.
    Có lẽ câu định nghĩa bao quát và ngắn gọn, đầy đủ nhất cho bài giảng từng được công bố, là của Tiến sĩ Phelps trong tác phẩm của ông nhan đề “The Theory of Preaching” trong đó ông đã dành hai chương cho việc định nghĩa và thảo luận về nó. Ông định nghĩa nó là “một bài thuyết giảng (miệng) cho quảng đại quần chúng về chân lý tôn giáo theo Kinh Thánh, được gọt dũa trau chuốt nhằm thuyết phục”.
    Theo định nghĩa này thì bài giảng là một bài thuyết giảng “cho quảng đại quần chúng.” Do đó, khác với một bài diễn văn, có thể có đặc tính kỹ thuật chớ không có tính cách quảng đại, và đặt nó vào một loại khác với một cuộc thảo luận về một giai đoạn nào đó của tư tưởng tôn giáo, điều mà chỉ có thể một số ít người hiểu được mà thôi. Biết bao người đã thất bại ngay tại đây khi đem một bài diễn thuyết thay thế cho một bài giảng mà không ý thức được rằng tòa giảng không thể chu toàn chức năng của một bài diễn thuyết.
    Nó cũng đề cập “chân lý tôn giáo”. Những bài diễn thuyết, diễn văn (discourses) về các lý tưởng công dân, khảo luận tiểu sử, và nhiều luận đề cùng loại có thể rất lý thú và cũng bổ ích như một buổi hòa nhạc làm hưng phấn tinh thần, nhưng theo đúng nghĩa của từ thì chúng không phải những bài giảng. Chúng không đem đến cho những người đang thờ phượng đúng điều mà họ đang trông chờ một cách phải lẽ từ tòa giảng.
    Hơn nữa, nó phải là chân lý “theo Kinh Thánh”. Có rất nhiều phương cách lý thú để tiếp cận tôn giáo, theo quan điểm triết học và lãnh vực này có thể đem lại nhiều điều thích thú cho người có tâm trí phân tích sắc bén, nhưng một cuộc thảo luận theo các chiều hướng như thế vốn thuộc lãnh vực suy lý, chớ không phải là về chân lý “trong Kinh điển”. Việc không nhận thấy chỗ khác nhau giữa chân lý Kinh Thánh và ý kiến con người là một trong những tội ác gây đổ vỡ tệ hại nhất trong lịch sử Hội Thánh. Lần rạn nứt quan trọng đầu tiên của Hội Thánh nảy sinh từ việc suy lý triết học. Cùng một khuynh hướng muốn định nghĩa điều không thể định nghĩa được, hay thử nghiệm một mối giao hảo (fellowship) của điều không được bày tỏ rõ ràng, đã dẫn tới phần lớn những chia rẽ trong Giáo hội Cải Chánh hiện đại. Trong những điều cơ bản của Phúc Âm, thật lý thú khi lưu ý đến phương pháp của Chúa Giê-xu, như điều có thể được minh họa trong cách đối phó với vấn đề tội lỗi. Nguồn gốc của tội lỗi hay điều ác luôn luôn là một luận đề hấp dẫn, thế nhưng Chúa Giê-xu đã không hề thảo luận một lý thuyết nào liên hệ đến nó. Khi nào Ngài đề cập tội lỗi, thì bao giờ Ngài cũng thừa nhận đó là một sự kiện, rồi chỉ nói về phương thuốc để chữa trị nó. Chúng ta chắc chắn sẽ đến gần nhất với phương pháp của Chúa Giê-xu và chu toàn hoàn hảo nhất chức năng của tòa giảng, khi nào chúng ta bám sát vào các sự kiện, “chân lý trong Kinh Thánh”.
    Chân lý này phải được “gọt dũa trau chuốt”. Một bài nói chuyện ngắn cho một buổi họp của thanh niên hay một buổi nhóm cầu nguyện có thể là về chân lý tôn giáo trong Kinh Thánh, nhưng vì thì giờ quá ngắn nên nó có thể không phải là một bài giảng. Muốn tăng phẩm giá để đặt cho nó cái tên ấy, phải có sự nghiên cứu, thảo luận sâu rộng về đề tài ấy. Câu “gọt dũa trau chuốt” lẽ dĩ nhiên, chỉ là một diễn đạt tương đối. Muốn đáp ứng đòi hỏi này thì xưa kia phải dành ra một giờ hoặc một giờ rưỡi, trong khi ngày nay, cùng một câu phát biểu ấy có thể chỉ áp dụng cho hai mươi phút hoặc nữa giờ; ngay cả ở điểm này, ý kiến và sự thực hành chiếm ưu thắng vẫn bị phó mặc cho rủi may. Ít lâu trước đây, một số các nhà truyền đạo đã họp nhau lại trong một thành phố Hoa Kỳ để thảo luận về vấn đề số thì giờ phải dành cho một bài giảng. Họ đã đi đến kết luận rằng có thể thu hoạch được kết quả tốt nhất bằng cách giảng khoảng hai mươi ba phút. Phần lớn các nhà truyền đạo đều biết rằng dầu sao thì công việc soạn bài giảng cũng có khuynh hướng bị rút ngắn lại. Ở đây còn có một vấn đề tâm lý chen vào nữa. Nhiều người trong đám hội chúng trung bình không quen với việc tập trung tư tưởng trong những giai đoạn kéo dài, và nếu bài giảng không lý thú, thì sự căng thẳng sẽ gây ra mệt nhọc, nhiều người lâm vào tình trạng này sau khoảng 20 phút. Khi diễn giả là một người lạ hay một nhân vật đặt biệt, tình trạng này có thể không xảy ra, nhưng với vị mục sư vốn không phải là một thiên tài, giảng cho cùng một số người ấy nghe mỗi Chúa nhật, thì đặc điểm công tác của ông ta phải nhạy cảm và cả sự khoan dung nữa.
    Phần cuối cùng trong câu định nghĩa của tiến sĩ Phelps dẫn chúng ta đến với chủ đích của bài giảng. Nó phải là “nhằm thuyết phục”. Từ quan điểm về chủ đích của bài thuyết giảng, Vinet còn dứt khoát và “cụ thể” hơn nữa. Ông bảo rằng chủ đích đó là “dẫn đến với chân lý Cơ Đốc giáo những người không tin đạo ấy và để giải thích, ứng dụng nó cho những ai tin nhận “đạo”. Điều này thật đúng với chủ đích truyền giảng như Chúa Giê-xu đã dạy khi Ngài sai phái các môn đệ và bảo rằng “Vậy các con hãy đi dìu dắt tất cả các dân tộc làm môn đệ của ta, làm Báp-tem cho họ nhân danh Cha, Con và Thánh Linh và dạy họ vâng giữ mọi mệnh lệnh ta! chắc chắn ta ở với các con luôn luôn, từ nay cho đến ngày tận thế !” (Mat Mt 28:19, 20 -DBY). Nhận ra hai nhóm người này, những người đã là môn đệ Chúa và những người chưa phải là môn đệ Ngài, là số người cấu thành hội chúng hiện đại, nhiều nhà truyền đạo đã dùng thì giờ nhóm lại thờ phượng buổi sáng để giảng dạy cho các Cơ Đốc nhân và giờ nhóm lại buổi tối tập chú hơn vào việc dẫn đưa người ta đến chỗ tiếp nhận các chân lý của Cơ Đốc giáo hầu cùng đứng về phía với những người đang theo Chúa Cứu Thế. Kế hoạch này đã có giá trị rất cao, cả cho nhà truyền đạo lẫn cho hội chúng của mình. Nó giúp làm sáng tỏ mục tiêu giảng dạy của ông ta, và giúp ông có thể truyền đạt mỗi lần cho một cử tọa nhất định. Nếu không có một vài phưưong pháp như thế, lời kêu gọi người ta đến dự nhóm cả hai buổi họp vào Chúa nhật sẽ bị yếu đi rất nhiều và lẽ dĩ nhiên là buổi nhóm tối sẽ rất vắng vẻ. Tuy nhiên, nếu hội chúng hiểu rằng buổi nhóm tối có một chủ đích khác hẳn buổi họp ban sáng, và nhằm hướng dẫn đặc biệt những người khác quyết định ăn năn tin nhận Chúa Cứu Thế, họ có thể được thúc giục để hành động nhằm vào cứu cánh ấy và người ta có thể trông mong họ đến nhóm để chứng tỏ tinh thần cộng tác của mình. Mục tiêu của việc giảng dạy theo Kinh Thánh đã phù hợp lạ lùng với hai buổi nhóm lại vào Chúa nhật của chúng ta, và là phương pháp toàn hảo nhất dù được xét đến như một vấn đề về chính sách, hay về việc tuân thủ mệnh lệnh của Thượng Đế.
    Có một việc khác nữa thiết tưởng cũng cần phải nói khi định nghĩa một bài giảng. Nó không phải là một cuộc thảo luận tổng quát về tôn giáo, dù theo tính chất là một câu chuyện phiếm hay một đoạn kịch đưa vào Kinh Thánh. Để xứng danh là một bài giảng nó phải được giới hạn bằng một mệnh đề rõ ràng, dứt khoát, và do đó, phải là một đơn vị tư tưởng. Tuy nhiên, vấn đề này sẽ được xét kỹ hơn về sau.
    Công tác giảng dạy là một vận dụng tâm hồn thuộc cấp bậc cao nhất. Được đứng trước một cử tọa, phần đông đều khá giống nhau, có những cuộc chiến đấu cũng như nỗi thất vọng, những niềm hi vọng và những điều lo sợ, và tất cả số cảm thức hỗn tạo ấy đều rất phổ biến với nếp sống hiện đại của chúng ta - được trực diện với một hội chúng như thế để truyền cho một bức thông điệp duy nhất có thể nâng họ vượt khỏi cái tạm thời và cái đê tiện để vươn tới cái vĩnh hằng và cao siêu; được ngỏ lời với mọi người bằng ngôn ngữ của chính từng trải cá nhân của mình, của niềm vui không lời lẽ nào mô tả được về sự tương giao với Đấng vô hạn - quả là một đặc ân mà bất cứ ai cũng rất ao ước. Mới đây, một nhà truyền đạo đã tuyên bố rằng ông sẽ không chịu đổi vị trí của mình với Tổng thống Hoa Kỳ. Ông đã có một chức vụ tuyệt với, và tình cảm ấy có thể được lập đi lập lại trong đời sống của bất cứ người nào nhận thấy nhu cầu quan trọng của thế gian này, và đã có lòng tin quyết nơi chân lý của Thượng Đế, đã từng trải ân phúc cứu rỗi của Phúc Âm trong chính linh hồn mình.
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG I
    1. Đâu là mối liên hệ của một bài giảng với tuyên đạo pháp?
    Trong một buổi họp tôn giáo, bạn phân biệt một bài thuyết giảng là một bài giảng với một bài thuyết giảng không phải là bài giảng như thế nào?
    3. Có nên duy trì chủ đích giảng dạy của Kinh Thánh như đã được chỉ rõ trong Mat Mt 28:19, 20 trên tòa giảng hiện đại hay không?
    Bạn có xem những đề tài như chủ nghĩa thượng phê bình (higher criticism) và thuyết tiến hóa, là những chủ đề thích hợp để thảo luận trên tòa giảng hay không? Hãy biện minh cho câu trả lời của bạn.
    BỐ CỤC BÀI GIẢNG
    Dàn bài của một bài giảng về căn bản, vốn chẳng khác gì cách sắp xếp của những hình thức bài diễn văn, diễn thuyết trước công chúng khác. Lẽ dĩ nhiên là một bài giảng được giảng dạy mà không dựa trên một phần Kinh Thánh thì chẳng có gì khác về hình thức hoặc phương pháp triển khai với một bài thuyết giảng theo một đề tài ngoài đời. Nó chỉ khác với các loại diễn văn, diễn thuyết khác khi nào nó chú tâm khảo xét một phần Kinh Thánh mà thoạt đầu có thể đòi hỏi phải giải thích, hoặc có thể trở thành cơ sở cho các phần lớn, như chúng ta sẽ thấy về sau. Tuy nhiên, ngoài những sự kiện trên, các nguyên tắc liên quan đều giống y nhau cho mọi loại diễn văn, diễn thuyết. Dàn bài này cho một bài giảng, hay như tên thường được gọi là bố cục của bài giảng, là một bản tóm tắt hay toát yếu của điều muốn nói được diễn tả bằng hình thức và ngôn ngữ khiến những người khác có thể nhớ lại thật dễ dàng các ý niệm của diễn giả. Tất cả các tư tưởng rõ ràng đều phải có thể được thu gọn vào trong một bố cục bất chấp tính chất của đề tài có là gì đi chăng nữa. Khi việc tập họp này không thể thực hiện được, ta có thể xem đó như một dấu chỉ khá chắc chắn rằng diễn giả đã không thể suy nghĩ xuyên suốt chủ đề của ông ta. Bố cục hoàn hảo nhất cho từng cá nhân là những gì được đưa ra theo một hình thức và được diễn tả bằng một ngôn ngữ gợi lên một tư tưởng rõ rệt nhất mà ông ta muốn triển khai.
    Một số các nhà truyền đạo đã tỏ ra có tinh thần hầu như muốn coi thường mọi bố cục có tính cách hình thức, có lẽ cũng có một số lý do khác đã góp phần tạo ra thái độ ấy. Có một số người nghĩ rằng soạn thảo cẩn thận những gì mình muốn nói mà không để cho Đức Thánh Linh được tự do biểu lộ chính Ngài, là hạn chế công tác của Đức Thánh Linh. Chẳng có gì để nghi ngờ, là lý thuyết ấy đã được xây dựng trên một nền móng sai lầm. Tìm cầu sự trợ giúp của Thượng Đế trong khi soạn bài giảng chính là lệ thuộc sự hướng dẫn của Đức Thánh Linh cũng chẳng kém gì việc chờ cho đến khi sắp bước lên tòa giảng mới kêu cầu Thượng Đế. Những nhà truyền đạo lừng danh nhất thế giới đều thuộc số người mà các bố cục của họ cho thấy họ đã soạn chúng cẩn thận nhất.
    Một lý do khác nữa của thái độ này đối với các bố cục là sự kiện có một số người - vốn rất có tài và có thể được xem là những nhà truyền đạo thành công, thường cảm thấy khó khăn trong việc sắp xếp, tổ chức tư tưởng của họ. Muốn làm việc này, người ta buộc phải có một loại tâm trí biết lý luận và tổng hợp, một loại tâm trí ít khi kết hợp với một tính khí thần bí và ở đây với một số thiếu tài năng cùng với các đòi hỏi mục vụ quá bận rộn, cho nên chúng tôi sợ rằng thì giờ và công việc cần thiết để hoàn chỉnh việc chuẩn bị bài giảng thường bị xao lãng.
    Cũng còn một lý do, đúng hơn là lý do rất thực tế cho thái độ dững dưng này. Hầu như tất cả các nhà truyền đạo đều đã soạn bài giảng trong một thời gian rất ngắn. Ông ta chỉ viết ra giấy mấy câu, và nhận thấy chủ đề của mình được khai triển dường như điều nói ra là do linh cảm vậy, và bài giảng của mình có vẻ như rất thành công. Mặc khác có lẽ ông ta đã từng soạn một bài giảng thật kỹ, dành cho nó mọi nỗ lực cần thiết - theo như ông ta tưởng - để mình sẽ giảng nó thật thành công, nhưng rồi nỗ lực của ông ta đã bị thất bại thảm hại. Lẽ tự nhiên, ông ta tự hỏi “Thế thì chịu khó nhọc để soạn một bố cục nào có ích lợi gì?”. Tuy nhiên, các lý do cho sự thành công trong trường hợp này và thất bại rõ ràng trong trường hợp kia vốn có những nguyên nhân ở một điều gì đó khác hơn là phần bố cục. Có thể có những nguyên nhân như tình trạng cơ thể của nhà truyền đạo vào lúc giảng; thái độ tinh thần của ông ta đối với chủ đề, như niềm tin hay tính cách rõ ràng khi ông ta suy nghĩ về nó; rồi còn có bầu không khí của buổi họp bị ảnh hưởng của những tiết mục trước đó, cơ hội, cách đáp ứng hoặc nhiều điều khác từ phía cử tọa và điều kiện tâm lý muốn tránh né việc phân tích. Với tất cả các yếu tố vừa kể cùng tác động, ta có thể thấy câu kết luận rằng có lẽ bố cục bài giảng là nguyên nhân của sự thất bại hay việc không có nó là lý do để người ta thành công, là sai lầm như thế nào. Điều cũng thường xảy ra nữa, là khi một người chọn đề mục trong một thời gian ngắn, người ấy sẽ dùng một đề mục hết sức quen thuộc, và lý do để thành công sẽ không tùy thuộc nhiều vào một bố cục không được soạn kỹ nhưng là nhờ diễn giả đã quá quen thuộc với luận đề. Trong lúc họp Quốc hội và có việc tranh luận nảy sinh, Webster đã đọc một bài diễn văn rất hùng hồn dường như chẳng cần phải chuẩn bị chi cả. Sau đó, có người khen ông về bài diễn văn ứng khẩu tuyệt diệu đó, thì được ông trả lời rằng: “Vâng, tôi chỉ tốn 20 năm để chuẩn bị nó thôi”. Chẳng hề có những nguyên tắc tuyên đạo pháp nào đã được khám phá ra mà có thể bảo đảm sự thành công trong việc giảng dạy bất cứ lúc nào.
    Nhưng nếu chúng ta không thể loại trừ khả năng có thể bị thất bại, chúng ta có thể giảm bớt nó đến mức tối thiểu. Thỉnh thoảng chúng ta vẫn có thể bảo rằng một số thất bại thảm hại là những thành công lớn lao của chúng ta. Một bố cục tốt chẳng bao giờ là nguyên nhân thất bại của một bài giảng.
    Người ta chẳng bao giờ có thể nói rằng mình đã đánh giá quá cao một bố cục tốt cả. Nó có nghĩa là diễn giả đã phải tổ chức được tư tưởng của mình, và chính bố cục phải giúp đem lại sự vững tin cho diễn giả, giúp ông ta có thể làm tốt nhất trong mọi trường hợp. Nó giúp diễn giả phát biểu mục tiêu cách dứt khoát, trực tiếp và rõ ràng, dẫn tới việc triển khai và trình bày sứ điệp cách có thứ tự. Có được cái cảm thức là mình đã soạn kỷ bài giảng sẽ gia tăng vô hạn niềm vui được giảng dạy cũng như sự thành công của công việc mình làm.
    Một bố cục rõ ràng khiến diễn giả khỏi cần phải nhớ nhiều chi tiết trong bài giảng của mình. Thay vì phải suy nghĩ về nhiều ý niệm quan trọng dường như chúng là những đơn vị riêng biệt, chỉ có thể được kết hợp lại một cách mơ hồ như những viên bi đựng trong chiếc túi, tất cả những gì người ấy cần nhớ chỉ là ba hoặc bốn câu bao trùm tất cả, trong đó mỗi phần của bài giảng đều ăn khớp với nhau đâu vào đấy. Nếu các nguyên tắc đứng đắn về cách sắp xếp và triển khai đều được tuân thủ thì sẽ có mối liên hệ hợp lý giữa các phần với nhau khiến cho đoạn kết của phần này thường gợi ý cho phần tiếp theo và cũng một định luật liên đới và tiếp tục nhau đó, đến lượt nó, lại gợi ý cho phần triển khai độc đáo sẽ phải noi theo trong mỗi phần nhỏ. Cách truyền giảng ấy giúp người ta có thêm năng lực tinh thần để nhấn mạnh từng điểm một, mà như thế thì cũng giúp việc tập trung (tư tưởng) và sinh lực. Một bố cục đơn giản, hợp lý, rõ ràng bao giờ cũng khiến cho nhiệm vụ của diễn giả trở thành dễ dàng hơn là khi tâm trí ta bị rối bời vì đủ thứ chi tiết vụn vặt.
    Tất cả những gì đã được đề cập trên đây đều có lợi cho diễn giả và cũng có thể nói là có lợi cho thính giả nữa. Tư tưởng được trình bày như trên sẽ dễ dàng được lãnh hội và ghi nhớ. Đó há không phải là nguyên tắc vĩ đại vốn có trong cách truyền giảng của Chúa Giê-xu hay sao? Ngài đã dùng những thí dụ minh họa đơn sơ trong sinh hoạt hằng ngày để làm nổi bật phần ý nghĩa thuộc linh, khiến dân chúng hiểu và nhớ rõ nhờ liên tưởng tới ý nghĩa Ngài đã đưa vào đó. Ngài nói về loài chim, hoa huệ, hột giống, ngọc châu, lưới cá, men, và đó là những thành phần trong lời truyền dạy của Ngài mà mọi người chúng ta đều ghi nhớ dễ dàng nhất. Như một diễn giả lừng danh từng nói, Ngài đã ban cho họ những chiếc “giỏ” để thu lượm và mang theo phần linh lương đã được cung cấp cho mình. Muốn cho một tư tưởng được người ta hiểu, nó phải rõ ràng, và một tư tưởng sẽ không thể được diễn tả thật rõ ràng nếu nó chưa được suy đi nghĩ lại thật chín chắn. Một bố cục phải là những câu phát biểu đã được suy nghĩ thật kỹ và được sắp xếp thật hợp lý với các ý niệm được tập hợp lại dưới những tiểu mục thật đơn giản và đầy ý nghĩa, sao cho chỉ cần nhớ hai hoặc ba câu người nghe sẽ nhớ lại hết những gì đã được nói ra. Chúng phải là những chiếc “giỏ”.
    Trong một bài diễn văn gần đây đọc trước cử tọa của một trường Đại học, một diễn giả nổi tiếng đã dành nữa giờ để thảo luận về đề tài sự thành công. Bài diễn văn tập trung vào hai điểm, cả hai đều được triển khai và minh họa thật tài tình. Trước hết, ông ta bảo rằng thành công không phải là thu góp cho nhiều tài sản vật chất. Thứ hai, thành công là một cuộc đời hữu dụng, được sống cách trung thực. Hai câu phát biểu trên đã được gọt dũa trau chuốt đến độ tất cả những gì cần phải nhớ của cả bài diễn văn và phần khai triển của nó chỉ là phải nhớ lại có hai câu ngắn ngủi mà thôi. Vì lý do đó, nó rất dễ hiểu và cũng rất dễ nhớ nữa.
    Sau khi đã nói nhiều về giá trị của một bố cục tốt như trên, có một vấn đề quan trọng được đặt ra là: bố cục của một bài giảng có phải có phải theo đúng một dàn bài (plan) cá biệt nào hay không, và nếu có, thì dàn bài đó là gì? Trong nhiều cách trình bày các nguyên tắc của tuyên đạo pháp, đã có rất nhiều ý kiến khác nhau về số những phần chính xác mà một bố cục phải có, nhưng tất cả đều đồng ý rằng phải có một phần đầu, một phần giữa và một phần kết thúc hợp lý. Trong tác phẩm đã được trích dẫn trước đây của ông, Tiến sĩ Phelps chia bài giảng ra thành bảy phần, tức là Kinh Thánh, giải nghĩa, nhập đề, mục tiêu (proposition), các phần lớn, phần triển khai và kết luận. Về cùng một chủ đề này, một nhà văn tài ba khác hạn chế chỉ trong ba phần mà thôi: Nhập đề, khai triển và kết luận. Cả hai đều phù hợp với cùng một ý niệm, nhưng Phelps thì đưa ra một phần phân tích tỉ mỉ hơn và đứng về phương diện kỹ thuật thì hình thức mà ông đề nghị được ưa chuộng hơn. Khẳng định rằng bài giảng phải đặt trên cơ sở một phần Kinh Thánh, thì tự nhiên nó phải bắt đầu bằng việc giải thích về bối cảnh của nó, hay có lẽ là khi cần, là một phần giải thích về chính bản kinh văn ấy. Sau khi đã làm như thế rồi, bước tiếp theo sẽ là đưa ra phần nhập đề để vạch rõ tầm quan trọng ý nghĩa, và có lẽ cùng nêu rõ lý do cá biệt nào đã đưa vấn đề này ra để trình bày với mọi người. Và tiếp theo đó phải là một câu vạch rõ mục đích đặc thù hay đề án mà diễn giả muốn chứng minh. Tiếp theo là các phần lớn, phần triển khai và phần kết luận. Tuy nhiên, dầu việc làm như trên đây là phải lẽ, nó có bất lợi là quá tỉ mỉ để có thể đem ra thực hành cho nên đã có rất ít quý vị mục sư cố theo tất cả các bước ấy. Mặt khác, một dàn bài với chỉ ba phần mà thôi lại quá tổng quát để có thể thật sự hữu dụng. Hình thức tốt nhất là hầu như là dàn bài tiêu biểu của phần đông các diễn giải danh tiếng nhất, là phương pháp nằm giữa hai đối cực trên đây, và mục tiêu của quyển sách này là ghi khắc vào tâm trí rằng chẳng những các phương pháp như thế là chính xác về phương diện khoa học, mà còn dễ ứng dụng nhất vào thực tế nữa. Với mục đích trước mắt đó, hình thức của một bố cục tốt sẽ như sau: Đề tài và Kinh Thánh, nhập đề các phần lớn, triển khai, và kết luận. Hình thức này tránh được cái khó là quá tỉ mỉ trau chuốt về một mặt, và quá tổng quát về mặt kia. Xin đưa ra dưới đây một thí dụ minh họa đơn sơ về một bố cục vốn là cơ sở của nhiều bài giảng về Phúc Âm. Sở dĩ nó chinh phục được tâm trí của nhiều người vì tính cách đơn giản, bao quát và theo Kinh Thánh của nó.
    PHÚC ÂM
    RoRm 1:16
    Nhập đề: Chủ đích của bài giảng là đưa ra một quan điểm bao quát về Phúc Âm, để xem nội dung của nó chứa đựng điều gì đáng cho người ta phải xấu hổ không.
    I. CÁC SỰ KIỆN PHẢI TIN
    Sự chết
    Sự chôn cất ICo1Cr 15:1-3
    Sự sống lại
    II. CÁC ĐIỀU KIỆN PHẢI TUÂN THỦ
    Đức tin. Cong Cv 16:31
    Ăn năn. 2:38
    Xưng tội. RoRm 10:9, 10
    Chịu báp-tem. Cong Cv 2:38
    III. CÁC LỜI HỨA ĐƯỢC HƯỞNG
    Tha tội. 2:38
    Ân tứ của Đức Thánh Linh. 2:38
    Sự sống vĩnh hằng. GiGa 3:16; Mac Mc 16:16
    Kết luận
    Bạn có tin các sự kiện ấy không?
    Bạn có sẵn lòng tuân thủ các lệnh truyền ấy không?
    Nếu có, bạn sẽ được hưởng các lời hứa.
    Trên đây là cách sắp xếp chủ yếu đối với tất cả những bài giảng tốt và có thể chỉ có một ngoại lệ nhỏ mà thôi. Đó là không phải bao giờ cũng cần thiết phải có một câu gốc. Có thể dùng một đề mục mà không cần đến nó, nhưng vẫn phù hợp với câu định nghĩa về một bài giảng của chúng ta. Tuy nhiên, câu gốc là một khởi điểm rất tự nhiên, và cũng là một cách thường rất phù hợp để dẫn vào việc thảo luận về đề tài. Nó cũng có giá trị buộc chặt bức thông điệp của diễn giả với một câu (đoạn) Kinh Thánh nhất định nào đó, rồi nếu phần giải nghĩa, lý giải hoặc ứng dụng câu ấy là độc đáo, thì mỗi lần khúc Kinh Thánh ấy được đọc lên, thính giả sẽ tự nhiên liên tưởng tới bài giảng mình đã nghe; trong khi nếu giảng mà không có một câu (đoạn) Kinh Thánh thì không tạo được cho tâm trí người nghe sự liên tưởng ấy. Việc sử dụng một câu gốc khi giảng dạy vốn là một tập quán lâu đời với nhiều ưu điểm và không nên bỏ qua, ngoại trừ một vài trường hợp thật hiếm hoi. Tòa giảng phải đem đến cho mọi người càng nhiều Kinh Thánh hơn, chớ không phải là kém bớt đi.
    Liên hệ với vấn đề này cũng có thể đặt câu hỏi: Chẳng hay một bài giảng có thể có câu gốc mà thiếu luận đề hay không? Rất có thể rằng thay vì một luận đề làm khởi điểm cho một bài giảng, một bản kinh văn có thể tạo cảm nghĩ về nó. Trong trường hợp như thế, cách lý giải hoặc giải nghĩa Kinh Thánh mới là mục tiêu mà nhà truyền đạo nhắm vào, nhưng ngay cả khi ông ta không nêu lên đề tài của mình bằng những lời lẽ dứt khoát, ít ra ông ta cũng phải có một ý niệm rõ ràng về quan điểm ông ta muốn nói; ông ta phải có một mục tiêu định nghĩa thật đầy đủ. Hễ khi nào đã có một mục tiêu rõ rệt như thế thì người nghe có thể hiểu về một đề tài nào đó tuy nó không được nói trắng ra. Các phần khác của bố cục ngoài chủ đề và câu gốc, đều phải xuất hiện trong các bài giảng, vì sẽ không có một bài thuyết giảng nào có thể được gọi là hoàn chỉnh nếu bị thiếu mất một phần nào trong số đó.
    Với sáu phần mà chúng tôi vừa gợi ý thì việc giải thích Kinh Thánh, phần nhập đề và đề tài đều được thu vào bên trong phần dẫn nhập, sử dụng từ ngữ ấy theo nghĩa đó, sẽ mở rộng thêm phần nào ý nghĩa của nó, hầu bao gồm vào đó tất cả phần đi trước phần thảo luận của đề tài. Có ba lời biện minh cho sự thay đổi này. Trước hết phần lớn các nhà truyền đạo xem tất cả những gì đi trước phần thảo luận về đề mục là nhập đề, và chẳng có gì ngoài hình thức có các tính chất chuyên môn sẽ khiến được người ta phải dành thì giờ để thảo luận về chúng như những đơn vị riêng biệt. Hơn nữa, sự việc rất thường xãy ra là một phần này hoặc một phần kia của ba phần ấy đã được bao gồm trong nghĩa rộng hơn của từ ngữ “dẫn nhập” bị thiếu đi trong bài giảng, có thể không phải bao giờ cũng có một phần giải nghĩa câu gốc, nếu không có câu gốc, thì không thể có phần giải nghĩa ấy. Nếu câu gốc có, và có thể rất đơn giản nếu không cần giải thích, hoặc cần giải nghĩa, sẽ liên hệ mật thiết với phần nhập đề, khiến cho việc phân biệt sẽ có vẽ như hoàn toàn ngớ ngẩn. Một lý do thực tiễn khác để xếp tất cả những gì đã được kể trên trước phần thảo luận dưới chỉ một tên duy nhất mà thôi, ấy là vì phần đó của bài giảng chỉ đòi hỏi mấy câu ít ỏi, có lẽ chỉ chiếm ba hoặc bốn phút mà thôi. Do đó, dường như tốt nhất là muốn cho các mối quan tâm có được vẻ tươi mới và đa dạng, thì không nên phân biệt thật chính xác các bước liên quan đến việc chuẩn bị của vài câu mở đầu kia. Ở đây tự do và không bị gò bó là cần thiết để có được mối liên hệ tốt đẹp với cử tọa hơn là với bất kỳ một phần nào khác của bài giảng.
    Phần thứ tư của bố cục là các phần lớn hay các tiêu đề, với các tài liệu của bài giảng được xếp bên dưới. Đây là những thành phần quan trọng nhất của bố cục, vì diễn giả tùy thuộc vào chúng để gợi ý cho mình về nội dung tư tưởng của minh. Khi chúng đã có phần hình thức đầy đủ làm công việc ấy, đồng thời cũng là phần tóm tắt hay toát yếu của bài giảng, chúng là phần trợ giúp lớn lao cho diễn giả. Hơn thế nữa, toàn bộ cuộc thảo luận hay luận cứ chỉ có thể được người nghe giữ lại tùy theo mức độ rõ ràng khi các bước khai triển được vạch rõ ràng và giá trị của chúng để người nghe ghi nhớ phần lý luận:
    ĐỜI SỐNG THÍCH HỢP LuLc 2:52
    Nhập đề “Càng thêm khôn (ngoan)” - về mặt trí khôn hay sự phát triển trí thức - “càng thêm...lớn” - phát triển thân thể “Càng đẹp lòng Thượng Đế” - phát triển thuộc linh. “Càng đẹp lòng...mọi người” - phát triển đạo đức.
    Bất cứ một khả năng nào trong số đó cũng có thể bị thoái hóa.
    Để ngăn ngừa sự thoái hóa, nỗ lực có ý thức là cần thiết.
    Cố gắng làm cho một tính năng yếu kém phát triển, có thể thâu đoạt được kết quả như ý.
    Kết luận: Kêu gọi phải cố gắng đạt được sự phát triển đầy đủ trọn vẹn, nhất là đối với phần cao quý nhất của bản tính chúng ta - phần thuộc linh.
    Trong các phần chính được dùng ở đây, có sự gợi ý về tài liệu mà theo lẽ tự nhiên, sẽ được thảo luận trong một đề tài thuộc loại này. Đặc tính tiên tiến của ba câu trong ba phần khiến cho phần này dọn đường và trong một chừng mực nào đó, gợi ý cho phần tiếp theo, và như thế nó giúp cho diễn giả dễ nhớ lại tư tưởng của mình, đồng thời cũng giúp người nghe dễ hiểu những gì diễn giả nói. Như thế, tầm quan trọng của phần này của bố cục đã rõ ràng. Bất chấp một người có đầy đủ thông tin, tài liệu đến đâu về bất cứ một đề tài nào, số thông tin tài liệu của người ấy sẽ chẳng có giá trị bao nhiêu cả cho chính người ấy lẫn những người khác, nếu chúng không được sắp xếp nhằm diễn tả thật rõ ràng trong các phần chính của bố cục. Trừ phi một diễn giả thực hiện được tiến trình tri thức ấy, các ý niệm của ông ta sẽ như một bức ảnh chụp không rõ nét. Chúng ta sẽ có một loại quan điểm mơ hồ, chung chung về những gì ông ta cố gắng muốn nói ra nhưng không nắm được mối liên hệ giữa các sự kiện với nhau, và công tác của ông ta chỉ được thực hiện có một nửa. Trong cách đặt tiêu đề cho các phần chính, chúng ta có được cơ hội tuyệt vời để chứng tỏ tài năng và làm sáng tỏ chủ đích chính.
    Phần tiếp theo của bố cục là phần khai triển. Vấn đề này sẽ được thảo luận chi tiết trong chương nói về đề mục này, ở đây chúng tôi chỉ lưu ý đến phần hình thức của nó. Phần này của bài giảng nhiều khi được đề cập như là các phần nhỏ (Subdivisions) tuy đúng hơn thì từ ngữ này ám chỉ việc trình bày các ý niệm dưới các tiểu mục (headings) chính. Bạn có thể có nhiều phần nhỏ mà chẳng triển khai bao nhiêu cho đề tài nhưng một sự triển khai có thứ tự đòi hỏi phải có nhiều phần nhỏ. Tuy nhiên, ở đây chúng ta tạm xem hai từ ngữ ấy như đồng nghĩa. Phần triển khai phải là việc rút ra từ các phần lớn cách hợp lý, y như cách các phần lớn vốn có liên hệ với mục tiêu vậy. Trong các phần nhỏ, các ký hiệu thường được dùng đến, hoặc bằng hình vẽ hoặc bằng chữ viết tắt. Dùng phương pháp nào thì chẳng có gì quan trọng; cách tốt nhất là phương pháp nào giúp cho ta nhiều nhất trong việc phân biệt các ý chính với các ý phụ và muốn được như thế, một số người đã sử dụng các hình vẽ, một số khác lại dùng các chữ viết tắt. Trong các bài giảng của nhiều diễn giả tài ba, người ta không thấy họ dùng các ký hiệu chỉ các phần phụ; thí dụ như trong bộ “Chú giải” (Expositions) của Maclaren, trong khi Spurgeon thì rất ít khi dùng lối ghi chú kia. Với những người chỉ căn cứ vào các ghi chú vắn tắt để giảng, thì phương pháp ký hiệu có rất nhiều ý nghĩa để từ đó mà lý giải, bình luận, nhưng nó không có cùng một giá trị như thế với những người viết ra đầy đủ các bài giảng của mình, chúng tôi đã đưa ra một bố cục với các phần lớn và những phần nhỏ trong bài giảng về “Phúc Âm”.
    Phần chót của bố cục là kết luận. Vai trò và tầm quan trọng của nó thì mọi người đều phải thừa nhận. Phương pháp sử dụng khiến nó có hiệu quả sẽ được xét trong chương có đề mục ấy.
    Có một vấn đề đáng chú ý khác nữa, là người ta phải viết ra bao nhiêu ghi chú để sử dụng trên tòa giảng? Vấn đề này tùy thuộc mỗi người, tùy thuộc từng đề tài và mức độ mà diễn giả nắm vững đề tài ấy. Có người ngay từ đầu chức vụ công khai của mình đã tập thói quen nói mà không cần các ghi chú, và chẳng có gì để thắc mắc đó là phương pháp thật lý tưởng. Nó tạo nhiều cơ hội hơn để diễn giả có thể nói ra những điều có tính cách riêng tư, tạo niềm tin quyết cho sứ điệp của mình và khiến được cử tọa chú ý dễ dàng hơn. Tuy nhiên, với một số đông người vẫn giảng thường xuyên cho cùng một hội chúng, phương pháp này rất khó thực hành. Nói chung thì một nhà truyền đạo sử dụng một bố cục viết tay phải có đầy đủ số ghi chú cần thiết để nhắc nhở cho tâm trí mình nội dung của bài giảng. Trong nhiều trường hợp, có thể dùng lối viết tắt và những chữ then chốt. Nếu việc triển khai bài giảng là bằng thí dụ minh họa, thì chỉ một câu vắn tắt đã đủ nhắc ta nhớ lại phần tư tưởng. Mặt khác, một đề tài về giáo lý gồm nhiều câu Kinh Thánh tham khảo, nhiều câu trích dẫn hoặc nêu rõ sự kiện, thường sẽ đòi hỏi nhiều câu tỉ mỉ và cẩn thận hơn. Tuy nhiên, ngay cả ở đây, nếu có ai có thể trích dẫn thuộc lòng nhiều câu Kinh Thánh, và quen thuộc với các sự kiện của mình, thì có thể sử dụng một số kí hiệu viết tắt. Vậy, nếu cách giảng của một người gồm nhiều thể loại bài giảng (như việc đáng lẽ phải có), thì số tài liệu viết tay sẽ tùy thuộc đề tài và mức độ mà người ấy đã thâu hóa được nó.
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG II
    Câu 1: Một nhà truyền đạo có nhất thiết cần phải có lần bị thất vọng về bài giảng của mình không?
    Câu 2: Giải thích tại sao một bố cục bài giảng tốt là trợ lực cho sự thành công trong sự giảng dạy?
    Câu3: Có cần phải mang theo bố cục của bài giảng lên tòa giảng không?
    Câu 4: Những nguyên nhân nào có trách nhiệm chủ yếu trong việc giảng dạy mà không dùng các câu gốc?
    Câu 5: Tại sao hầu như mỗi bài giảng đều nhất thiết phải có một luận đề, cả khi nguồn gốc của nó là giải nghĩa một bản Kinh văn?
    Câu 6: Có cách biện minh nào cho việc xem toàn thể phần tài liệu của bài giảng đi trước các phần lớn, như là phần nhập đề?
    Câu 7: Tại sao phải nêu rõ các phần chính của một bài giảng?
    Câu 8: Đâu là các lý do chính giải thích cho việc thiếu các phần chính, hay dùng các tiêu đề quá kém?
    Câu 9: Đâu là các ưu điểm của việc sử dụng ký hiệu cho các phần nhỏ của một bài giảng?
    Câu 10: Mô tả tiến trình soạn bố cục của một bài giảng?
    ĐỀ TÀI
    Trong chương trước, phần đầu tiên của một bài giảng được gọi là đề tài (theme). Vì có nhiều từ ngữ có ý nghĩa rất giống nhau, thiết tưởng ở đây cần phải phân biệt chúng, để rồi từ đây trở đi chúng sẽ được dùng theo nghĩa đã nêu. Đề mục tổng quát của một bài giảng là chủ đề (subject) của nó. Thí dụ như “Đức tin” hay “Sự Phục Sinh”. Khi chúng ta lấy một phần nào đó của chủ đề, và thảo luận nó theo một ý nghĩa hạn chế, như trường hợp của hầu hết tất cả các bài giảng tốt, thì nó trở thành đề tài (theme). Như đức tin là chủ đề tổng quát có thể bị giới hạn vào “Cuộc phiêu lưu của đức tin” hay “Sự Phục Sinh” có thể được giới hạn trong “Ý nghĩa của sự sống lại” thì cả hai cách sửa đổi trên đều sẽ thay đổi hai chủ đề ấy thành các đề tài. Giờ đây, sau khi đã quyết định giảng về đề tài này hoặc đề tài kia trong hai đề tài trên, điều quan trọng là phải có một mục tiêu dứt khoát, một điểm cá biệt độc đáo nào đó mà nhà truyền đạo muốn nhấn mạnh. Như với đề tài “Cuộc phiêu lưu của đức tin”, diễn giả có thể chứng minh rằng đức tin là cần thiết cho bất kỳ một thành tựu quan trọng nào trong đời sống, hoặc diễn giả có thể bàn về “Ý nghĩa của sự Phục Sinh” nhằm chứng minh rằng niềm tin vào sự sống lại của chúa Giê-xu là căn bản trong Cơ Đốc giáo. Câu phát biểu về đích của bài thuyết giảng này trở thành mục tiêu (proposition). Vậy, đề mục tổng quát là chủ đề, phần đặc biệt tạo ra nhan đề cho bài giảng là đề tài, còn điểm đặc thù phải vạch ra trong cuộc thảo luận là mục tiêu.
    Có nhiều ảnh hưởng tác động vào nhà truyền đạo khi ông ta quyết định đặc tính của đề tài. Chẳng hề có hai người có cùng một cách phát biểu giống nhau. Cũng không hề có hai người đều sử dụng cùng một số tài liệu như nhau cả khi họ giảng về cùng một đề tài. Sở dĩ như thế, là do số yếu tố khác nhau cấu thành nhân cách của họ, mà chẳng bao giờ lại có hai người giống hệt nhau. Trong bối cảnh của mỗi đời sống, có tính khí của một con người, có phần đào tạo huấn luyện và kinh nghiệm, từng trải của người ấy, và những yếu tố đó quyết định phần lớn số tài liệu của bài giảng của người ấy, và cũng quyết định một phần lớn cho chủ đề của người ấy nữa. Khi một người chuẩn bị trực diện với hội chúng của mình, thì câu hỏi luôn luôn nảy sinh là “tôi sẽ giảng gì đây?” Rồi, có lẽ là vô tình, ông ta quyết định giảng về một đề mục nào đó mà từng trải của ông ta hoặc môi trường trong đó ông ta đang sinh sống gợi ý cho.
    Có lẽ ảnh hưởng quan trọng nhất quyết định cho việc chọn đề tài của một nhà truyền đạo là các nhu cầu hội chúng, theo như ông ta hiểu về họ. Bất cứ ai có lòng nghĩ đến lợi ích đạo đức và thuộc linh của tín đồ mình, thì điều tự nhiên và trước tiên là tìm cách dùng bài giảng đem đến cho họ một sứ điệp nhằm nâng đỡ họ trong những khó khăn, bối rối, đồng thời tăng cường sức lực và khích lệ họ trong những hoài bão cao thượng hơn. Có lẽ quí vị mục sư nói chung đều không nhận thức được đầy đủ như đáng phải có, về các nhu cầu mà phần đông những người đến nhà thờ đang muốn được giúp đỡ và khích lệ. Chỉ khi nào chúng ta giảng một bài và nhận thấy sự đáp ứng cá biệt của đời sống một số người, thì chúng ta mới hiểu được giá trị của vấn đề này. Trong tất cả những buổi nhóm lại đều có những người đang trông mong một điều gì đó mà khả năng của đời sống hiện tại không thể cung ứng được. Họ đang sốt ruột trông mong được thấy cái vô hình và vĩnh cữu được biến thành hiện thực trong sinh hoạt hằng ngày của họ. Theo một ý nghĩa, thì họ đang thật sự đói khát “bánh hằng sống” nếu chúng ta có thể vận dụng được óc tưởng tượng của mình để thấy nhiều người nam người nữ trong các công việc hằng ngày của họ, thường gặp trở ngại vì một số bổn phận đòi hỏi nào đó, có khi phải chống lại với bệnh tật hoặc bị bối rối về tài chính, hay nếu chỉ cần chúng ta biết được đời sống tinh thần của những người đang gặp thất vọng chồng chất trong công việc làm ăn của họ, và có khi tâm trí cũng đầy thắc mắc còn tấm lòng thì rất lo phiền - tôi xin nói là nếu chúng ta có thể thấy được tất cả những điều đó, thì phải chăng các nhu cầu của hội chúng sẽ giục giã chúng ta càng sâu sắc hơn khi suy nghĩ đến việc soạn các bài giảng của mình? Mà như thế vẫn không phải là thêm thắt quá đáng về đời sống con người như nó vốn có. Thế thì, hiện đang có những người muốn sống cởi mở thoáng đạt hơn, muốn có được một điều gì đó thỏa lòng mình hơn, một cái gì đó giúp họ lý giải hay hơn, tốt hơn về đời sống này. Với tất cả những điều đó, nhà truyền đạo đều có phương thuốc để chữa trị, nếu ông ta biết phân phát Lời Thượng Đế thật đứng đắn, phải lẽ, mà không nuôi dưỡng các tín đồ của mình bằng cái vẻ nôm na của suy lý hay đáp lại những hoài bão của họ chỉ bằng cách ban phát cho họ những gì chỉ có tính chất thẩm mỹ hoặc luân lý đạo đức mà thôi. Dầu sao thì do bản năng, con người vẫn cảm thấy rằng phương dược để chữa trị các nhu cầu sâu xa nhất của họ được tìm thấy trong tôn giáo. Linh hồn người ta khao khát kêu gào Thượng Đế, và trong khi qua âm nhạc, văn chương và các lý tưởng của các công tác xã hội, người ta có thể đến với bản tính cao thượng hơn hay thuộc linh, thì về cơ bản, những điều đó chẳng làm thỏa mãn được tâm hồn người ta hơn là một quyển sách hay có thể xoa dịu một cơn đói của thể xác. Các nhu cầu của các tín đồ phải đè nặng trong lòng của tất cả những ai đang soạn bài giảng, và có lẽ trong đời sống của Chúa Giê-xu, chúng ta đã tìm ra được sự gợi ý về cách thức để có thể làm việc ấy, vì Ngài đã tìm thấy các gánh nặng đang nằm ở đâu để Ngài có thể giúp họ cất chúng đi. Thái độ sẵn sàng tìm kiếm và khả năng “cảm nhận” được các nhu cầu của đời sống con người là các điều kiện tiên quyết để tiếp cận cách phải lẽ việc soạn thảo một bài giảng giúp ích được mọi người.
    Sau khi đã ghi nhận các nhu cầu của người ta, yếu tố cần xét đến tiếp theo có ảnh hưởng đến việc chọn một đề tài là tính khí (temperament). Người thuộc loại lạc quan - và tất cả mọi người đều nên có thái độ như thế - sẽ tìm cách khích lệ mọi người trong nếp sống công chính, bất chấp các ảnh hưởng của duy vật chủ nghĩa đang vây quanh họ, và cả khi có một vài thành viên trong hội chúng bày tỏ các cơ hội tốt và những điều ràng buộc của họ, ông ta vẫn cố gắng củng cố cho số người trung tín. Người thuộc loại bi quan hoặc tiêu cực sẽ tự để cho mình bị hoàn cảnh khiến sa sút tinh thần, và sẽ vừa than phiền, vừa thất vọng nhắc lại cho hội chúng các đặc điểm xấu xa gian ác của thời đại mình, và các bài giảng của ông ta sẽ nhấn mạnh nhiều điều tội lỗi trần gian, hơn là việc khích lệ sống trung tín. Chẳng ai có thể trông mong giúp được nhiều điều cho tín đồ mình bằng lời giảng tiêu cực, và mọi tư tưởng bi quan phần lớn đều không có chỗ đứng trên tòa giảng, vì nó không đại diện cho đặc tính toàn diện của Cơ Đốc giáo. Nó là một tinh thần xa lạ với Phúc Âm, vì Phúc Âm vốn là “Tin Lành”, “Tin Mừng”.
    Tuy nhiên với những người truyền giảng có cá tính tích cực thì về tính khí cũng có chỗ khác nhau. Có con người có học vấn mà mối bận tâm chính là sách vở, vào các ý niệm hơn là vào con người. Do bản thân ông ta, qua các đề tài của bài giảng, ông ta thường tìm cách trình bày các chủ đề về giáo lý và những chủ đề có tính cách lý luận, hoặc có lẽ là nhằm giải thích các vấn đề của đời sống bằng cách triết lý. Các bài giảng của ông ta có thể là những gương mẫu về nét đẹp văn chương vì phần lớn chúng đều được minh họa bằng những câu trích dẫn chọn lọc từ các đại văn hào. Do chỉ đề cập một phần, một mặt nào đó của đời sống mà thôi, những bài giảng như thế chỉ đến được một số phần trăm ít ỏi của hội chúng. Ngay tại Hoa Kỳ cũng phải hiểu rằng số người tốt nghiệp các trường cao đẳng cũng chỉ đại diện cho ba phần trăm tổng số dân chúng, và nhiều nhà truyền đạo tài ba và có nhiều khả năng đã không tiếp cận được với số đông trong hội chúng, vì họ đã không có những bài giảng cho đời sống của 97 phần trăm tín đồ. Rồi cũng có một tính khí liên quan đến phần tình cảm. Người thuộc loại này sẽ đến được gần hơn với tấm lòng tín đồ và sẽ tự bộc lộ bằng những đề tài chứa chan cảm xúc. Làm như thế, ông ta cũng chỉ thỏa mãn nhu cầu cho một phần hội chúng của mình mà thôi. Nói chung có thể bảo rằng đa số thích những bài giảng có tính cách đụng đến tình cảm hơn những bài giảng cần đến trí tuệ, nhưng một tâm trí được đào tạo, huấn luyện đầy đủ hơn thì phải có “khả năng suy nghĩ, khả năng cảm xúc và khả năng ý chí” nữa. Tuy nhiên điều có thể là rất đúng, ấy là phần đông các nhà truyền đạo đều hoặc quá là trí thức hoặc quá tình cảm, và để cho chắc chắn là có đủ thực phẩm trong bài giảng của mình cho mọi nhóm trí thức tiêu biểu trong hội chúng, nhà truyền đạo thỉnh thoảng nên lập một bảng kiểm kê các bài giảng của mình để xem chúng có đầy đủ các loại để đáp ứng đầy đủ các nhu cầu của toàn thể hội chúng hay không. Nhiều sách khác nhau trong Kinh Thánh và những phần Kinh Thánh chọn lọc sẽ là những dấu chỉ hợp lý về khuynh hướng của các nỗ lực của một người trên tòa giảng.
    Một yếu tố khác nữa tạo ảnh hưởng quan trọng trong việc chọn đề tài, là từng trải của nhà truyền đạo, các thí dụ minh họa của ông ta sẽ được rút ra thật tự nhiên từ môi trường chung quanh trong đó có người ấy đang sống hoặc đã sống. Nếu ông ta quen với nếp sống kỹ nghệ và giảng cho những người làm kỹ nghệ, thì các vấn đề về tiền vốn (tư bản) và lao động thường là bối cảnh tư tưởng của ông ta, và nhiều khi còn là một phần trực tiếp hơn trong các bài giảng của ông ta nữa. Các bài giảng của những người sống trong trung tâm kỹ nghệ với công việc và sự giao tiếp chủ yếu liên hệ với giới lao động thường được nhận thấy nhuộm màu xã hội chủ nghĩa. Đây là một hậu quả hoàn toàn tự nhiên của các đều kiện môi sinh.
    Những người mà công tác suốt đời là tại các trung tâm có học thức thường cho thấy rằng những gì họ nói trên tòa giảng là cuộc phấn đấu trí thức họ đã kinh qua, hay qua những gì họ đang tìm cách để chỉ dẫn cho người khác. Vì vậy các đề tài của họ phần lớn có màu sắc của những cuộc chiến đấu chống lại sự nghi ngờ, hoặc các nỗ lực nhằm đem đến sự hài hòa cho các mối xung đột rõ rệt giữa khoa học và tôn giáo.
    Một phần khác nữa của kinh nghiệm sống thỉnh thoảng cũng được bộc lộ qua nỗi buồn bã hoặc thương đau đã xâm nhập đời sống một người. Nêu lên lời làm chứng về những cơ hội hiếm hoi và qua đức tin mà mình đã nhận được sự giúp đỡ trong một thì giờ đen tối, cũng hoàn toàn tự nhiên và lẽ phải. Một nhà truyền đạo giảng cho một nhóm người rất có thiện cảm với mình, nhưng có hai cách qua đó ông ta có thể đề cập đến những buồn phiền của đời của mình một cách hoàn toàn không đúng chỗ. Một là quá thường nói đến chúng, đến nỗi mọi người bắt đầu nghi ngờ những gì được nói đến không phát sinh từ sự cảm xúc dịu dàng hay bởi ký ức thân thương, nhưng chỉ do ước muốn tạo được hiệu quả. Bất kỳ một cử tọa nào cũng ghét cách làm không thích hợp như thế. Một nguy cơ khác cho người từng trải qua hay đang sống dưới một đám mây đen là chọn những đề mục sâu vào trong bài giảng với “giọng nói đầy nước mắt”. Lối giảng như thế chẳng gây được linh cảm, giúp ích hoặc lành mạnh chút nào. Ách của Chúa Cứu Thế vốn nhằm giúp chúng ta gánh nổi những điều nặng nề của mình, mà một thái độ như thế cho thấy bản thân nhà truyền đạo không phải ‘đang mang’ một chiếc ách như vậy. Các nhà truyền đạo phải giảng các đề tài tích cực, giúp ích nâng cao tinh thần và gây linh cảm (cảm hứng), vượt trên những đau buồn và bất hạnh của chính mình, như lúc Chúa Giê-xu hầu như đang ở dưới bóng của thập tự giá, đã báo với các môn đệ Ngài: “Lòng các con đừng xao xuyến. Các con đang tin cậy Thượng Đế thế nào, hãy tin ta thế ấy ”. Quá khứ của chúng ta đã trở thành một phần bản thân chúng ta: chúng ta không tài nào tự gỡ mình ra khỏi nó hay loại trừ nó. Như Ulysses nói sau chuyến du hành của mình “Tôi là một phần của tất cả những gì tôi đã gặp”, vì vậy từng trải quá khứ của chúng ta đã trở thành cơ sở để chúng ta lý giải hiện tại, nhưng chúng ta phải cẩn thận để xóa đi mọi yếu tố nào trong từng trải của chúng ta đang phá hủy niềm hy vọng và tánh lạc quan yêu đời của chúng ta mà kết quả là có ảnh hưởng đến hiệu quả công tác của chúng ta.
    Điểm cuối cùng cần ghi nhận trong các yếu tố quyết định đề tài là chính quan niệm về chân lý tôn giáo của nhà truyền đạo. Cách đào tạo huấn luyện tôn giáo hiện đại tạo ra những con người có nhiều cách lý giải Cơ Đốc giáo rất khác nhau. Điều này thật ra có nghĩa rằng nó là một phần của kinh nghiệm quá khứ, nhưng tính chất đặc thù của kinh nghiệm này dường như rất đang được dành cho một đề mục thảo luận riêng biệt. Nếu quan điểm của một người về Kinh Thánh là xem đó như Lời đầy uy quyền của Thượng Đế, thì các đề tài của người ấy sẽ sáng ngời miền tin, quyết lòng trông cậy và hy vọng. Người ấy sẽ chọn các luận đề bằng một viễn ảnh tích cực chớ không phải là triết học, và sẽ thảo luận chúng bằng thái độ dứt khoát như chúng đã được trình bày trong Kinh Thánh, và chẳng cần phải biện giải gì cho thái độ của mình. Mặt khác nếu người ấy không biết điều mình tin hay không chắn chắn gì cả về những gì mình tin, thì chắc chắn người ấy chỉ đưa đến cho hội chúng một phần duyệt xét cho những cơn ác mộng của chính mình, như tiến sĩ Chapman từng diễn tả rất đúng điều đó; nếu không người ấy sẽ cũng đi tìm các đề mục tranh luận chỉ có liên hệ gián tiếp với lãnh vực tôn giáo mà thôi. Cho nên nếu có hai nhà truyền đạo cùng phân tích các nhu cầu của con người, và về phương diện nhân bản cả hai đều cùng có tính khí, cùng kinh nghiệm và cả hai đều cùng quyết định giảng về cùng một đề tài, thì hai quan điểm khác nhau về chân lý sẽ quyết định một cách thảo luận hoàn toàn khác nhau về chủ đề ấy. Do đó có thể bảo rằng trong phạm vi một người có thể am hiểu tường tận nhu cầu của người ta, kiểm soát được tính khí của mình, phong phú hóa kinh nghiệm của mình và có được quan điểm đúng đắn về Cơ Đốc giáo, người ấy sẽ phát triển tài năng của mình để sự giảng dạy được thành công.
    Vậy đâu là các đặc điểm của một đề tài tốt? Có những nguyên tắc nào để giúp người ta quyết định trước xem bài giảng của mình có được hoan nghênh hay không? Chẳng nghi ngờ gì, điều thiết yếu đầu tiên của một đề tài tốt là nó phải có một nối quan tâm sống động. Nói khác đi, nó phải liên hệ mật thiết với đời sống. Trong mỗi phương diện hoạt động của con người đều có một cách lý giải, hay một cách giải quyết lý tưởng theo Cơ Đốc giáo. Trong lãnh vực thuộc thể, chúng ta được truyền dạy rằng thân thể chúng ta là đền thờ của Đức Thánh Linh. Mọi hình thức phóng đãng phung phí hoặc cả đến giải trí tiêu khiển hủy diệt tính cách hữu dụng và kiến hiệu của thân thể con người đều trái với chương trình về đời sống của Cơ Đốc nhân. Nguyên tắc này có thể áp dụng vô giới hạn, cũng như áp dụng cho cả đời sống thuộc thể của chúng ta. Trong lãnh vực xã hội chúng ta phải theo sự hướng dẫn của nguyên tắc hữu dụng, hoặc phản ánh phần lý tưởng của một nhân cách Cơ Đốc nhân trong lãnh vực này. Một tiêu chuẩn như thế chẳng những xác định đặc tính sinh hoạt xã hội của chúng ta, mà còn định ranh giới cho phạm vi và quyết định cho chủ đích mà nó tìm cầu. Nó sẽ đề ra một số hình thức thú vui, nó sẽ giải thích cách mới mẽ cho tha nhân, và chỉ ra các giới hạn cả cho những trò giải trí tiêu khiển lành mạnh nhất nữa. Trong lãnh vực tư tưởng, chẳng có một ý nghĩa nào là không có liên quan tới Thượng Đế. Tất cả những tư tưởng nghiêm túc về mối liên hệ của con người với vũ trụ mà con người đang sống trong đó đều có liên quan với các vấn đề quan trọng của sự sống, cái chết, sự bất tử, bất diệt, tội lỗi và sự thánh khiết. Có những đề mục chẳng bao giờ trở thành xưa cũ cả; chúng chỉ chờ đợi những cách trình bày và ứng dụng mới mẽ mà thôi. Hiện nay cũng như từ trước đến giờ, người ta vẫn bị thôi thúc như nhau đối với nhiều vấn đề quan trọng, bao lâu việc thảo luận, tranh cãi về chúng vẫn chưa kết thúc bằng một dấu chấm hỏi. Bất kỳ một cử tọa nào cũng sẽ lắng nghe một cách thích thú những bài giảng về tính cách ngắn ngủi và bấp bênh của đời sống con người, nếu bóng tối được cất khỏi mồ mả. Sự bất tử, bất diệt vẫn còn có thể được chứng minh là một khao khát phổ quát, tuy việc suy lý bao giờ cũng chẳng thỏa mãn được ai, trong khi lời khẳng định của Chúa Cứu Thế như “Ta đến là để cho các con được sống ” vẫn vực dậy niềm hi vọng trong lòng mỗi người, và lời Ngài hứa rằng: “Người nào tin ta dù chết rồi cũng sẽ sống ” vẫn còn là tia sáng duy nhất cho những linh hồn đang ở trong bóng tối. Tội lỗi vẫn còn có thể được chứng minh là kinh nghiệm phổ quát cho nhân loại. Tuy nhiên kẻ điên dại có thể cười nhạo nó, và các triết gia có thể giải thích nó khác đi, sự kiện không ai có thể chối cãi vào đâu được vẫn là “mọi người đều đã phạm tội ”. Tại sao ý thức sợ hãi vẫn len lỏi vào trong những tâm hồn đang hấp hối? Chắc chắn nọc độc của sự chết là tội lỗi và khi tội lỗi được cất đi rồi, thì trong cái chết không còn nọc độc nữa. Sự thánh khiết không phải là một giấc mơ, cũng không phải là nỗi ám ảnh của một trí tưởng tượng sai lầm. Nó vẫn còn là điều mà những tâm hồn cao thượng nhất trần gian theo đuổi, là sự thỏa mãn cao nhất của đời sống và là sự an ủi lớn nhất khi phải chết. Bất luận một đề tài quan trọng nào cũng phải đụng chạm đến đời sống, nhưng nhà truyền đạo phải tìm cách ứng dụng và khám phá ra những phương pháp trình bày mới.
    Một đề tài tốt cũng phải có một mục tiêu rõ ràng. Ta không thể chỉ nói về chủ đề của mình mà còn phải nói đến một điểm nào đó. Đôi khi nhan đề của một bài giảng có thể chỉ ra mục tiêu của ta, nhưng cho dù nó chỉ ra hay không, bao giờ cũng phải có vài đối tượng nhất định. Điều này thường được đề cập như một mục tiêu (proposition) hay là lời tuyên bố của một chân lý cá biệt cần được bày tỏ. Mục tiêu của mỗi bài giảng cần phải được phát biểu chỉ bằng một câu mà thôi. Nếu không làm được như thế, thì hoặc là nhà truyền đạo chỉ thảo luận về những cái chung chung bao quát, hoặc nó là dấu chỉ cho thấy ông ta đã chưa suy nghĩ chín chắn, đến nơi đến chốn chủ đề của mình. Đôi khi có thể là không nên nói mục tiêu ấy ra. Một mục tiêu trước mặt ta có thể tạo ra thành kiến nếu được vạch rõ ngay lúc bài thuyết giảng bắt đầu, và có lẽ tốt hơn hết là nên giấu mục tiêu ấy đối với cử tọa, cho đến khi nào các luận cứ của mình đã thuyết phục được họ. Tuy nhiên, có một điều bao giờ cũng đúng, đó là, cho dù cơ hội có như thế nào và chủ đề có là gì đi chăng nữa, nhà truyền đạo phải thấy rõ trong trí mình cái cứu cánh mà mình muốn đạt tới, cho dù ông ta có nói rõ nó ra trong bài thuyết giảng của mình hay không. Đặc điểm của bài giảng đã được đề cập trong Tân Ước, ấy là chúng đều được rao truyền với một chủ đích trong tâm trí, là khiến cho người ta phải đưa ra một quyết định. Chúng đều nhằm hoàn tất một điều gì đó thật dứt khoát, cho nên, trong ngày lễ Ngũ Tuần, công chúng đã phải hỏi “Thưa các anh, chúng tôi phải làm chi?” Rồi chúng ta lại đọc thấy: “Khi nghe Phi-lip giảng giải về Chúa Cứu Thế Giê-xu và Nước Trời, dân Sa-ma-ri cả nam lẫn nữ đều tin Chúa và chịu báp-tem”. Phi-lip đã giảng về Chúa Giê-xu cho người Ê-thi-ô-bi rồi làm phép báp-tem cho ông ta trong Chúa Cứu Thế trước khi từ giã ông ta. Khi có một chủ đích dứt khoát tạo cảm hứng (linh cảm) cho bài giảng, thì phần tài liệu được thu thập và sắp xếp nhằm vào cứu cánh ấy và bài giảng có được sức tiếp cận trực tiếp và hấp dẫn mà nhiều tiền lệ đã được thấy rõ trong Tân Ước. Bạn sẽ chẳng bắn trúng một mục tiêu nào cả nếu bạn không có một mục tiêu, cũng vậy, bạn sẽ chẳng có một khả năng tâm lý để thực hiện một điều gì dứt khoát cả với một bài giảng không có một điểm nhắm hay mục tiêu rõ ràng.
    Một đặc điểm khác nữa của một đề tài tốt là nó phải có hình thức tích cực. Tuyên bố rằng nhan đề của một bài giảng là “Thượng Đế có hiện hữu không?” “Chúa Giê-xu có từ chết sống lại không?” hay “Phải chăng Hội Thánh đã thất bại?”, thì đã có một ý niệm sai lầm từ căn bản. Lý do để dùng thể nghi vấn là vì nhà truyền đạo không chịu dấn thân vào chủ đề của mình muốn gợi ý tò mò. Tuy nhiên, bất cứ ai đọc các nhan đề của những bài giảng trên đều có một phút để nghi ngờ thái độ của ông ta. Ông ta biết là phải có một nỗ lực để chứng minh rằng Thượng Đế thực hữu, rằng Chúa Giê-xu đã từ chết sống lại, rằng Kinh Thánh đã được linh cảm, và rằng Hội Thánh đã không bị thất bại. Hơn nữa, bao giờ gợi ý về khả năng có thể có các giáo lý căn bản của Cơ Đốc giáo là không đúng cũng đã là không khôn ngoan rồi. Cách phát biểu đề tài trong hình thức đã được nêu trên đây còn một bất lợi khác, là nó khiến có một cuộc tranh luận về chủ đề trong đó những phản bác đối với Cơ Đốc giáo được nêu lên. Cách làm như thế hầu như chỉ thích hiệp khi có việc tranh luận về chủ đề ấy. Việc làm này bào giờ cũng nguy hiểm. Trong một nỗ lực muốn tỏ ra công bằng, ta có thể đưa ra những phản bác mà câu trả lời của mình có thể không đánh đổ được, và như thế là để lại trong hội chúng những mối nghi ngờ mà họ không hề có trước khi nghe bài giảng. Phần đông người ta đều có quá đầy đủ những thông tin sai lầm được áp đặt trên họ bởi những người không tin mà họ phải tiếp xúc trong cái thế giới bận rộn hằng ngày, hoặc do hoàn cảnh, những yếu tố này không nên chất thêm trên họ khi họ đến nghe giảng Phúc Âm. Người ta đang trông mong việc chân lý Cơ Đốc giáo sẽ được bênh vực trên tòa giảng, và từ quan điểm là tính cách hấp dẫn của đề tài, thì đưa ra một câu phát biểu tích cực về các chủ đề liên quan bằng cách nói rằng “Các lý do để tin Thượng Đế”, hay biến nó thành riêng tư bằng cách nói rằng: “Tại sao tôi tin Thượng Đế”, “Các chứng cứ về sự phục sinh”, “Tại sao tôi tin Kinh Thánh”, và “Chứng cứ về Kinh Thánh”, “Tại sao tôi tin Kinh Thánh” và “Những chiến thắng khải hoàn của Hội Thánh”, sẽ là tốt hơn rất nhiều. Một khi đã được nêu ra dưới hình thức ấy, ta có thể thảo luận thật hợp lý đề tài của mình mà khỏi có “những cuộc tranh luận do nghi ngờ”. Những người từng thắc mắc vì nghi ngờ có thể nghe được những gì họ cần nghe khi đến nhà thờ, nghĩa là những chứng minh tích cực cho chân lý Cơ Đốc giáo và những lời giải thích về đời sống hài hòa với chúng. Tòa giảng vốn đã quá thường được sử dụng làm một nơi để nhà truyền đạo triển lãm chính những nghi ngờ của mình. Ông ta chẳng cần gì phải nêu lên sự nghi ngờ hay gây bối rối cho hội chúng bằng những hoài nghi điều ông ta có nhằm chứng minh cho sự thành thật của mình. Cả đến Hume, một người từng nổi tiếng về thái độ hoài nghi đối với các chân lý căn bản của Cơ Đốc giáo, vẫn thường đi nghe nhà truyền đạo rất chính thống là Rowland Hill truyền giảng, và khi bị các bạn bè chế giễu về sự bất nhất đó, ông đã bảo rằng ông muốn nghe một người có lòng tin quyết truyền giảng. Quý vị truyền đạo sẽ bị sai mục tiêu khi tưởng rằng các chủ đề gợi nghi ngờ sẽ hấp dẫn được những kẻ mà tâm trí đang thật sự hoang mang. Người thế gian đang chờ đợi từ tòa giảng một bức thông điệp tích cực về các chân lý căn bản của Cơ Đốc giáo. Phần đông quần chúng đã có quá đủ những điều nghi ngờ của riêng họ rồi. 
    Trong đời sống một nhà truyền đạo, thiết tưởng chẳng có vấn đề nào thường xuất hiện hay có đòi hỏi nào cấp bách hơn là câu hỏi : “Chúa nhật sau, tôi sẽ giảng gì đây?” Ông ta bị bắt buộc phải ra mắt công chúng vào đúng giờ quy định với một bài giảng, cho dù ông ta đã được linh cảm hay không. Phải thành thật thú nhận rằng điều khó khăn trong việc giảng dạy, là nó đòi hỏi một con người thật xuất sắc để “tạo” ra hai bài giảng tươi mới, sinh động và độc đáo mỗi tuần. Lẽ dĩ nhiên, phải là một thiên tài mới làm nỗi công việc ấy, và số người làm được việc ấy tại tòa giảng hay ngoài tòa giảng, thì không phải là nhiều lắm. Tuy nhiên, có một số trợ cụ làm giảm thiểu được tính cách phức tạp của vấn đề này. Có một phương pháp hiệu quả nhất để có được nhiều gợi ý về các đề mục bài giảng là nghiên cứu thật sâu rộng từng quyển sách một trong Kinh Thánh. Giá trị của sự gợi ý này không những chỉ là một niềm tin sâu xa nhờ từng trải của cá nhân mà còn là lời làm chứng của rất nhiều nhà truyền đạo.
    Các kho báu của Kinh Thánh vốn có giá trị cao nhất khi nào bản thân chúng ta tự phát giác ra chúng cho chính mình, vì chúng sẽ trở thành của riêng ta theo nghĩa thật đúng của nó. Phương pháp này chẳng những tạo được một nguồn luôn luôn tuôn trào ra nhiều gợi ý về tài liệu cho tòa giảng mà còn là một kỹ luật tuyệt vời cho sinh hoạt bồi linh, (devotional) cá nhân. Phương pháp đó xây dựng một cách có hệ thống phần kiến thức về Kinh Thánh của người ấy, người ấy ham thích Kinh Thánh cách sâu nhiệm hơn và phong phú hóa mọi từng trải tôn giáo của mình. Nó khiến việc lý giải Lời Thượng Đế của người ấy trở thành việc tự bộc lộ chính tâm hồn mình, vì các chân lý ấy vốn được đan dệt với sinh hoạt hằng ngày của người ấy. Những ai từng đem kế hoạch này ra làm một cuộc thử thách đích thực cho mình, thì ngoài việc tự khép mình vào một kỷ luật hữu ích, còn phải kinh ngạc nhận thấy nó là một gợi ý rất hiệu quả cho các bài giảng. Nó cũng là một đại lộ thênh thang cho công việc được ưa chuộng nhất trong tất cả các công việc của nhà truyền đạo - là phương pháp trình bày Kinh Thánh đại chúng. Có một sự kiện là hội chúng vốn biết rất nhiều về Kinh Thánh, nhưng lại không biết nội dung của bộ sách ấy, và bao giờ cũng hoan nghênh những lời giải thích hay cách ứng dụng một phần Kinh Thánh, khi nó được trình bày rõ ràng, sinh động và đầy lý thú. Phương pháp nghiên cứu sâu rộng này cũng tiến cử chính mình với tất cả những ai muốn trở thành những người học hỏi nghiên cứu Lời Thượng Đế cho thật thấu đáo, những nhà truyền đạo muốn quan tâm chú ý hoặc các Cơ Đốc nhân mạnh mẽ.
    Một phương pháp rất hữu ích khác nữa để khám phá ra các đề tài cho bài giảng, và cả các tài liệu cho nó nữa, là phải tìm trong từng trải hằng ngày của mình. Những cuộc trò chuyện với những người kể lại niềm vui của họ trong công tác phục vụ Hội Thánh, những lời thú nhận của những người không phải là Cơ Đốc nhân, những bộc lộ sự ao ước muốn có được một đời sống tốt hơn, tất cả đều giúp dẫn đến những đề tài có giá trị phổ quát. Lẽ dĩ nhiên là những gì chúng ta thấy được trong đời sống tùy thuộc vào vấn đề bản thân chúng ta là những con người như thế nào. Có một đoàn du khách được hướng dẫn đi xem vài lâu đài cổ bên Tây Ban Nha; một người trong đám họ đưa ra một nhận xét với một người khác: “Hôm nay là một ngày quá mệt mỏi, phải không bạn?” Người được ngỏ lời đó, về sau bảo với các bạn thân khác của mình rằng hôm ấy quả là một ngày hạnh phúc nhất của đời sống mình. Việc vun bồi các khả năng quan sát và tài năng nắm bắt được các yếu tố có ý nghĩa đạo đức và thuộc linh trong một câu chuyện vốn có ích lợi rất lớn. 
    Ngoài hai gợi ý trên đây ra, không có những quy luật ký thuật nào cung cấp được cho người ta các đề tài cho bài giảng. Rốt cuộc, tốc độ theo đó các đề mục tự chúng gợi ý cho chúng ta, sẽ gia tăng tỷ lệ thuận với sự tăng trưởng của một người. Nếu một nhà truyền đạo trẻ có gặp vài khó khăn trong giai đoạn đầu của chức vụ mình, ông ta sẽ nhận thấy rằng khi các chân trời càng được mở rộng nhờ thói quen nghiên cứu và phục vụ đều đặn cho Hội Thánh, các khó khăn ấy sẽ tan biến đi. Giải pháp “nghèo nàn” nhất cho vấn đề này, là của người khi chuyển đến một Hội Thánh khác, lại trông cậy vào các bài giảng cũ của mình. Khi làm như thế, khả năng khám phá và lợi dụng các tài liệu mới mẻ và độc đáo bị suy yếu đi, và nếu cứ tiếp tục quá lâu, người ta sẽ bị mất đi khả năng tăng trưởng để đạt tới điều vẫn được gọi là “đường giới hạn của chức vụ”.
    Trước khi kết thúc chương sách này, thiết tưởng nên nói vài lời về vấn đề quảng bá trước các đề tài của mình, có lẽ cũng có phần nào giá trị. Với những ai cứ giảng đều đặn cho cùng một hội chúng, thì thông báo trước các đề mục của bài giảng sẽ chẳng có lợi bao nhiêu. Chỉ nhân những cơ hội có một chủ đề đặc biệt đáng chú ý thì mới cần có một thông báo như thế, có lẽ là trong một loại bài giảng, trong một cuộc thảo luận về một biến cố thời sự nào đó, hoặc trong một vấn đề nào đó có ảnh hưởng đến chương trình hành động đang được Hội Thánh quan tâm đến. Nó lệ thuộc phần lớn vào tình hình địa phương và vào tầm quan trọng của đề tài.
    Tuy nhiên, để thu hút hội chúng qua lời quảng bá trước, thì các bài giảng phải có những đặc điểm gì? Có hai kế hoạch có thể lợi dụng. Một là gợi tánh hiếu kỳ. Có thể làm việc này bằng cách giấu đi phần tài liệu sẽ được thảo luận “Những phương pháp lạ lùng để hoàn tất các mục tiêu quan trọng” là nhan đề một bài giảng về sự sụp đổ của Giê-ri-cô. Nó nêu rõ vấn đề, tuy câu nói có vẻ luộm thuộm. Mới đây, có bài giảng thật đúng lúc về “Lời rao truyền cho một thiểu số” (The Minority Report) căn cứ trên lời lẽ của EsIs 53:1 “Ai tin điều đã rao truyền cho chúng ta ?” Khêu gợi tánh tò mò là một phương pháp hợp pháp để gợi chú ý, và ít khi bị đẩy đi quá xa. Tuy nhiên, có một nguy cơ, và phải cẩn thận đừng khiến cho hội chúng phải thất vọng với một cuộc thảo luận tầm thường sau khi đã đánh thức người ta bằng cách dự báo rằng họ sẽ được nghe một điều khác thường, đáng kinh ngạc, vì người ta chỉ có thể bị lầm như thế một lần mà thôi.
    Một phương pháp khác có thể sử dụng để khiến hội chúng đặc biệt chú ý đến một bài giảng là thông báo một chủ đề tự nó vốn đã lý thú rồi. Những chủ đề vào những thời điểm và địa điểm đặc biệt như “Tôi không thể tha thứ”, “Thượng Đế chữa bệnh”, “Chúa Tái lâm”, “Ngày Sa-bát”, “Người công chính qua đời sẽ ở đâu?” và những đề mục tương tự, thuộc vào loại này. Vấn đề đưa ra một quảng đại đặc biệt thường liên quan nhiều đến lãnh vực truyền giảng Phúc Âm, hoặc những cuộc họp dài ngày, hơn là công việc bình thường trên tòa giảng, dầu vậy điều cần lưu ý là trên thực tế, tất cả các nhà truyền đạo nổi tiếng đều quảng bá trước hầu hết, nếu không phải là tất cả, các đề tài của những bài giảng của họ. Tuy nhiên, tâm trí của quần chúng, vốn đã quen trông mong nơi các nhà truyền giảng Phúc Âm một điều gì đó khác thường về vấn đề sẽ được đề cập hoặc về các phương pháp trình bày. Chẳng có lý do gì để một kế hoạch thỉnh thoảng thu hút được đông đảo quần chúng lại không được sử dụng liên tục, ngoại trừ khi nó đòi hỏi một người phải có tài mới duy trì được. Lẽ dĩ nhiên luôn luôn có cơ nguy trong khi có việc quảng bá trước trong những buổi nhóm tôn giáo là gây sự dung hòa thị hiếu và hạ thấp phẩm giá của tòa giảng. Thật ra, các nhân vật lỗi lạc chẳng bao giờ bị sa vào lỗi lầm này. Quả thật là với một số các trung tâm, nơi mà tiêu chuẩn văn hóa của cộng đồng không cao lắm, thì những bài giảng và phương pháp tiếp cận khác thường nhiều khi là đều có thể biện minh được. Tuy nhiên điều bao giờ cũng hay cũng tốt là nên suy nghĩ về phương pháp của Chúa Giê-xu. Ngài công tác giữa đám quần chúng đông đảo và đã sống chan hòa với họ. Họ vui vẽ lắng nghe Ngài. Ngài dùng những điều thông thường của sinh hoạt hằng ngày để làm ví dụ minh họa, nhưng chưa có lần nào lời lẽ của Cứu Chúa lại có chút gợi ý về điều những gì không đẹp hay không đạt tiêu chuẩn ý vị, thanh cao. Nói thật đơn sơ giản dị là một nghệ thuật tinh vi, và mục tiêu đáng cho bất kỳ một nhà truyền đạo nào cũng phải đạt tới, nhưng điều đê tiện, lỗ mãng và tục tằn đều không có chỗ đứng và không xứng đáng với bất cứ một người phải ăn nói trước công chúng nào, và trên hết, là với người truyền giảng Phúc Âm. Bất cứ người nào có đầu óc sáng suốt muốn học đòi tác phong và phương pháp của Chúa Giê-xu đều không thể để cho mình đi sai lạc quá xa. 
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG III
    1. Điều gì là cần thiết để hiểu đúng các nhu cầu thuộc linh của một hội chúng?
    2. Đâu là một số điều quyết định cho tính khí của một nhà truyền đạo?
    3. Làm thế nào để một người có thể phong phú hóa (làm giàu cho) từng trải truyền giảng của mình?
    4. Có thể bào chữa gì cho các đề tài tiêu cực không?
    5. Những yếu tố nào trong phần tài liệu của bài giảng khiến nó trở thành sinh động nhiều nhất?
    6. Tại sao mục tiêu dứt khoát là cần thiết để việc truyền giảng đạt thành công?
    7. Hãy trình bày đề tài của một bài giảng rồi nêu lên mục tiêu của nó.
    8. Nhà truyền đạo phải làm gì để có phần tài liệu cho bài giảng thật sự giúp ích cho người ta?
    9. Cho một thí dụ minh họa khác hơn các ví dụ đề cập trong sách này, về một bài giảng tự nó vốn lý thú mà cũng hấp dẫn như bản tính của phần thảo luận được dấu kín.
    CÂU GỐC

    Một trong những điều lý thú trong lịch sử giảng dạy là việc sử dụng các câu gốc. Trong hội trường Do-Thái, các bài thuyết giảng gồm việc giải thích Kinh Thánh Cựu Ước. Chúng ta có được vài thí dụ về việc này trong phần ký thuật về công tác của Chúa Giê-xu và các sứ đồ. Trong chương thứ tư sách Lưu-ca, chúng ta đọc thấy:
    “Chúa Giê-xu về Na-xa-rét, nơi Ngài sống từ thuở bé: ngày thứ bảy, như thường lệ, Chúa vào hội trường, đứng dậy đọc Kinh Thánh. Người ta trao sáng tiên tri Ê-sai, Ngài mở ra đọc :
    Thánh Linh Chúa ngự trên tôi, Ngài ủy nhiệm tôi truyền giảng Phúc Âm cho người nghèo, sai tôi loan tin tù nhân được giải thoát, người mù được sáng, người bị áp bức được tự do và Thượng Đế sẵn sàng ban ân lành cho người tin nhận Ngài .
    Chúa gấp sách trả cho người giúp việc hội trường và ngồi xuống.Mọi người chăm chú nhìn Ngài,Chúa mở lời: “Hôm nay lời Thánh Kinh đó được ứng nghiệm ”.
    Rồi trong Cong Cv 13:14 và tiếp theo, chúng ta đọc thấy Phao-lô và phái đoàn của ông “từ Bẹt-găm… đến An-ti-ốt xứ Bi-si-đi. Ngày thứ bảy, họ vào thăm hội trường Do-Thái. Sau khi đọc sách luật Mai-sen và các sách tiên tri, các quản lý hội trường sai người mời Phao-lô và Ba-na-ba: Thưa các ông, nếu các ông có lời khích lệ hội chúng, xin cứ nói !” Phao-lô bắt đầu một bài thuyết giảng, trong đó ông căn cứ vào Luật pháp và các sách tiên tri để giải thích về chức vụ Mê-si-a của Chúa Giê-xu.
    Trong các buổi họp của các Cơ Đốc nhân nguyên thủy, có lẽ đã có những cuộc thảo luận hoặc khuyên bảo nhau căn cứ vào các lời dạy của Chúa Giê-xu và các sứ đồ: “Các tín hữu chuyên tâm vâng giữ lời dạy của các sứ đồ ” (2:42). Một số câu chuyện ngắn ngủi này rất có thể đã được thực hiện vào mỗi cơ hội họ họp mặt (xem CoCl 3:16; Eph Ep 5:19). Những lần đề cập đến các buổi họp thờ phượng trong Kinh Thánh cũng cho thấy chúng không có tính cách chính thức. Không có những nhà truyền đạo được đào tạo hẳn hoi, và mỗi người đều đóng góp điều mình có thể đóng góp được để gây dựng hội chúng. Trong việc phát triển các buổi nhóm về sau của Hội Thánh, việc giảng dạy theo đề mục và có tánh cách nghi thức hơn đã trở thành quy luật. Tuy nhiên, các nhà cải chánh do nhiệt tâm muốn phục hồi quyền đọc Kinh Thánh cho mọi người, đã đưa vào phương pháp sử dụng một câu gốc làm nền tảng cho bài giảng và phương pháp này vẫn tồn tại như một tập tục mãi đến chúng ta ngày nay.
    Hiện nay, đang có khuynh hướng muốn xa lìa phương cách này. Sở dĩ nó được đưa vào một phần lớn là do người ta đã thay đổi quan điểm liên hệ đến chức năng của tòa giảng. Tôn giáo vốn có mối liên hệ sống động với mọi hoạt động của đời sống cho dù là xã hội, chính trị, kinh tế hay giáo dục, do đó một số các nhà truyền đạo đã xem tòa giảng như một nơi thích hợp để thảo luận các vấn đề thuộc về các lãnh vực ấy. Rõ ràng là những bài thuyết giảng như thế sẽ chẳng cần gì đến một câu gốc trong Kinh Thánh, và nói chung thì việc dùng một câu phù hợp với ý nghĩa ấy, cho thấy nó chỉ được dùng vì có phần hình thức mà thôi, trong những trường hợp như thế điều tự nhiên nên làm là hoàn toàn miễn trừ câu gốc, còn hơn chỉ bám chặt vào phần hình thức mà thôi.
    Có lẽ một ảnh hưởng khác nữa có khuynh hướng muốn từ bỏ cách dùng các câu gốc là khuynh hướng giảng theo đề mục. Trong thời trước việc quảng bá chủ đề của các bài giảng là không cần thiết. Hễ đến Chúa nhật là người ta đi nhà thờ như một việc làm tự nhiên bình thường, tất cả những gì có cần để ông truyền đạo phải làm, là đọc lên câu gốc của mình rồi giải thích và triển khai nó. Nhưng tình hình đã đổi thay. Hiện nay điều cần thiết là phải thu hút hội chúng mà muốn làm thế thì các đề mục phải “quảng bá” trước và phải áp dụng nhiều phương pháp đặc biệt. Nỗ lực tiếp cận những người đã tỏ ra lãnh đạm với tôn giáo này đã dẫn tới việc phải thay đổi cách nhấn mạnh từ chỗ căn cứ vào một phần câu gốc để giảng, sang việc giảng theo đề mục, và trong lúc có nhiều đề tài hấp dẫn vốn được các phần câu gốc gợi ý, thì khuynh hướng bỏ qua sử dụng các phần câu gốc vẫn tiếp tục.
    Tuy nhiên, cách thử nghiệm thực tế, là điều sẽ quyết định vấn đề. Điều nào sẽ đem lại kết quả tốt hơn, dùng các phần câu gốc hay loại bỏ chúng đi? Ta sẽ được lợi ích gì, nếu có, khi sử dụng các phần câu gốc? Trước hết, Kinh Thánh vốn là một nguồn được thừa nhận của chân lý, do đó một câu trích dẫn từ Kinh Thánh khiến cho bài giảng trở thành có uy quyền. Kinh Thánh luôn luôn ở vị trí tốt đẹp nhất so với những lời truyền dạy trong bất cứ quyển sách nào khác. Khi nhà truyền đạo tự đưa ra lời giải thích của riêng mình về chân lý mà không đưa ra một nền tảng nào của Kinh Thánh cả, thì chúng ta cảm thấy mình có quyền tự do chấp nhận hoặc chối bỏ nó, cũng y như chúng ta có thể nghe quan điểm của một diễn giả về bất cứ một chủ đề nào khác. Tuy nhiên, khi ông ta có thể chứng minh rằng mình đang giải thích hay nhấn mạnh những gì Kinh Thánh đã truyền dạy, chúng ta cảm thấy sứ điệp của ông ta có giá trị hơn, đáng suy nghĩ và tỏ lòng kính trọng để nghiền ngẫm hơn.
    Vậy, nhiều phần câu gốc diễn tả được chân lý bằng một hình thức giúp chúng ta biến bài giảng trở thành có hiệu quả. Phần câu gốc rất thường được dùng làm phần tóm tắt cho cả bài giảng. Chẳng những nó nêu ra phần tư tưởng, mà thường diễn tả bằng một ngôn ngữ rõ ràng, mạnh mẽ và thuận tai, hoàn toàn đứng riêng rẽ với bất cứ thẩm quyền nào khác mà ta có thể gán cho nó bởi vì nguồn gốc của nó. Tất cả các học giả đều nhất trí với nhau về giá trị văn chương của Kinh Thánh. Có điều kì lạ là nhiều trường học và cao đẳng, là nơi có thể loại mẫu mực về văn chương đã được giới thiệu và nghiên cứu, từ lâu đã không còn dùng nó làm sách giáo khoa nữa. Người ta không hề tìm được những hình thức văn chương nào hay hơn thế ở bất cứ nơi đâu, cũng chẳng hề có nền văn chương nào lại có được những lý tưởng cao siêu hơn thế. Nếu đó không phải là lời Thượng Đế nhưng chỉ là lời của người ta mà thôi thì giá trị văn chương vốn có của nó cũng đã đủ để giữ cho nó khỏi bị mai một rồi.
    Trong một số các câu gốc, chúng ta có những chủ đề sinh động nhất, được trình bày hết sức đơn sơ và một nhịp điệu đẹp đẽ khiến chúng ta vẫn còn nhớ rất lâu sau khi đã quên mất bài giảng. Có ai, khi giảng về tội lỗi lại có thể tin được những lời lẽ chân xác một cách phổ quát, nhưng hàm xúc hơn là mấy lời trong sách La-mã: “Vì mọi người đều phạm tội , không còn phản chiếu vinh quang Thượng Đế ” (RoRm 3:23). Sự kiện này đã ăn sâu bám rễ vào các tập tục và nghi lễ của các dân tộc. Khi đề cập đặc tính của Thượng Đế, người ta sẽ chẳng bao giờ tin được những lời lẽ hấp dẫn hơn GiGa 3:16 “Vì Thượng Đế yêu thương nhân loại đến nỗi hi sinh con một của Ngài, để tất cả những người tin nhận con Thượng Đế đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cữu ”. Chẳng hề có những lời an ủi nào đã được tìm ra mà lại thiết thân với tấm lòng con người ta hơn là lời lẽ của Thi thiên thứ hai mươi ba: “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi, tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì ”, hay là lời lẽ của Chúa Giê-xu trong 14:1-3 “Lòng các con đừng xao xuyến. Các con đang tin cậy Thượng Đế thế nào hãy tin ta thế ấy ”. Nói khác đi hầu như tất cả mọi chân lý chúng ta muốn diễn tả về một đặc tính tôn giáo nào cũng có thể truyền đạt qua những đoạn Kinh Thánh. Nếu chúng ta có thể ghi khắc vào tâm trí người ta ấn tượng về một phần Kinh Thánh nào thì cho dù những gì chúng ta nói ra thật hoa mỹ, trau chuốt đã bị quên mất đi, chúng ta đã khiến nó trở thành có giá trị vĩnh viễn cho đời sống những người nghe.
    Một giá trị quan trọng khác nữa nảy sinh từ cách dùng các phần câu gốc là năng lực tạo liên tưởng kì diệu khiến tâm trí có được một cách để ghi nhớ các bài giảng của chúng ta. Rất lâu sau khi đã quên mất bài giảng, các phần câu gốc được dùng vẫn còn được người ta nhớ. Nói như thế không có nghĩa là tất cả những gì được người ta nói ra đều đã bị quên mất đi, mà đúng hơn là ngụ ý bảo rằng phần thảo luận đã thêm ý nghĩa cho phần Kinh Thánh. Nhiều người có quá trình dài quan tâm đến những điều thuộc linh sẽ không có mấy khó khăn nhắc lại những bài giảng mình đã được nghe từ nhiều năm rồi, tuy tất cả những gì họ nhớ chỉ là phần câu gốc. Có lần một người đã nói với tác giả sách này rằng ông ta đã không đi nhà thờ từ hai mươi lăm năm rồi, thế nhưng ông ta có thể đọc lại phần câu gốc của bài giảng mà ông ta đã nghe, và có thể chỉ rõ trong Kinh Thánh để người ta có thể tìm ra nó. Vậy, việc gì sẽ xảy ra cho bài giảng nếu nó không được kết chặt với một khúc Kinh Thánh? Nhưng hãy còn một điều vượt hẳn việc nhớ lại đại ý của bài giảng liên quan đến sự liên tưởng này. Chúng ta thường kết hợp bài giảng với những người đã giảng nó và đời sống của chúng ta sẽ được phong phú nhờ nhớ lại nhân cách của ông ta. Trau chuốt giải thích hay ứng dụng một khúc Kinh Thánh thế nào cho nó gây ấn tượng trên người ta, là cho nó một ý nghĩa, sẽ tồn tại mãi với họ qua suốt cả cuộc đời.
    Trên quan điểm của nhà truyền đạo, thì việc sử dụng phần câu gốc, ta vẫn có lợi về phương diện tuyên đạo. Nó thường rất có ích để nhập đề một bài giảng, nhờ đó khiến ta tiếp cận dễ dàng với đề tài. Nhiều chủ đề có ít nhiều khó khăn tinh tế, có thể được giới thiệu theo cách này. Điều này quả đúng như thế, ví dụ trong một loại bài giảng mà các chủ đề rất khó dẫn nhập (giới thiệu) bằng phương pháp khác, có thể được đề cập chỉ vì chúng có liên hệ với các chủ đề khác trong nhóm. Ngày nay, những loại bài giảng như với Mười điều răn, đã được sử dụng như thế. Công cuộc truyền giáo và quản lý cũng là những đề mục mà phần nhập đề có thể dễ dàng hơn khi phần câu gốc đã được sử dụng ngay từ đầu. Mỗi một giai đoạn, một phương diện của đời sống hiện đại đều có phần ứng dụng cho nó trong Phúc Âm, và mỗi cái xấu, điều ác, đều có một phương thuốc duy nhất cho nó. Vì lý do đó chẳng hề có một đề tài về một đặc tính tôn giáo nào mà lại không có một khởi điểm trong một khúc sách nào đó của Kinh Thánh.
    Tuy nhiên phần câu gốc không những giúp ích cho phần dẫn nhập, nhưng còn cho việc triển khai nó nữa. Nó giúp chỉ thẳng vào một mục tiêu và mô tả môi trưòng trong đó phần triển khai phải được thực hiện. Cách giới hạn phạm vi này dẫn đến việc phải nghiên cứu đề tài thấu đáo hơn và cũng tiếp tay loại bỏ bớt tài liệu không thích hợp.
    Tuy nhiên, có lẽ một trong những ưu điểm lớn nhất trong tất cả là việc sử dụng các phần câu gốc khiến cho mọi người làm quen với Kinh Thánh. Một khi đã được thực hiện tốt, sẽ chẳng có gì lý thú hơn là được đọc, giải thích và lý giải Kinh Thánh. Khi chúng ta có thể nói được với hội chúng một điều gì đó về một phần Kinh Thánh mà họ không biết, hay minh họa nó bằng một phương pháp mới mẽ nào đó, hay ứng dụng nó như chưa hề nghe nói có ai làm như thế trước đó, đem được sức sống và quyền năng vào trong một bài giảng, thì sẽ chẳng hề có lời nói trước công chúng nào về bất luận một vấn đề nào, trong một lãnh vực nào, được phân phát trong một trường hợp nào là lý thú và hữu ích hơn. Trên hết mọi sự không phải nhờ sự khôn ngoan nào của riêng mình, mà chỉ vì chúng ta biết phân phát lời Thượng Đế cho mọi người mà chúng ta có thể hy vọng “Khiến họ nhận được sự cứu rỗi nhờ đức tin vốn có trong Chúa Cứu Thế Giê-xu”.
    Tuy nhiên, cần phải có óc suy xét khi sử dụng các câu gốc trong Kinh Thánh. Vì tất cả các khúc sách không có cùng một giá trị như nhau, cũng không phải tất cả đều có thể sử dụng theo một phương cách. Một loại cần dùng với sự thận trọng là phần Kinh Thánh được thên vào (Interpolated). Một nhà truyền đạo biết rõ một câu Kinh Thánh có đặc tính ấy, sẽ không dùng nó làm cơ sở giáo lý duy nhất cho một bài giảng; cả khi rất có thể là những người nghe giảng không biết rằng nó thuộc vào loại ấy. Nếu có ai đó trong đám cử tọa tình cờ biết được rằng khúc sách ấy vốn được xem là một đoạn đã được thêm vào, và nó vốn không đủ phẩm chất, thì rất có thể người ấy sẽ bị mất đi niềm tin vào chính nhà truyền đạo, là điều sẽ còn nghiêm trọng hơn. Mặt khác, nếu diễn giả lưu ý sự kiện khúc sách ấy vốn không thấy có trong vài cổ bản sớm hơn của Kinh Thánh, rất có thể rằng một số đông người trong đám cử tọa sẽ không hiểu vấn đề liên hệ và điều đó chỉ làm suy yếu niềm tin của họ vào uy quyền của Kinh Thánh mà thôi. Vậy, đâu là cách giải quyết đúng mức nhất đối với những khúc sách như thế? Hãy thấy Cong Cv 8:37 chẳng hạn là khúc sách nổi tiếng bị nghi ngờ đến nỗi câu này bị hoàn toàn loại ra trong bản Revised Version phần Tân Ước. Ở đây chúng ta thấy câu hỏi của Phi-Lip và câu trả lời của quan thái giám người Ê-phi-ô-bi trước khi chịu pháp báp-tem. Đây là trường hợp quy đạo duy nhất trong Tân Ước có ghi lại một lời xưng nhận đức tin trực tiếp trước khi chịu phép báp-tem. Thế thì trích giảng đoạn sách ấy có hợp lẽ không? Xin đáp là có, nếu nó được dùng làm thí dụ minh họa cho khúc sách có uy quyền không ai chối cải được trong RoRm 10:9, 10 chép rằng: “Nếu miệng anh em xưng nhận Giê-xu là Chúa và lòng anh em tin Thượng Đế đã khiến Ngài sống lại thì anh em được cứu rỗi ”. Khúc Kinh Thánh ấy bổ sung thật đầy đủ cho vấn đề và khúc sách trong Cong Cv 8:37 có thể được trích dẫn kết hợp với nó mà không cần đề cập đến vấn đề nó chỉ là một khúc sách được thêm vào. Phương pháp này giúp nhà truyền đạo cảm thấy mình có lương tâm trung thực đồng thời không khiến cho kiến thức của ông ta bị nghi ngờ.
    Có những khúc sách trong Kinh Thánh đã ghi lại lời lẽ của những người không được linh cảm. Thí dụ như các câu nói của Ê-li-pha, Binh-đát và Sô-pha khi họ trò chuyện với Gióp, trong đó phần tình cảm mà họ bộc lộ chẳng bao giờ là đúng thật cả và các luận cứ họ đưa ra điều chống lại con người công chính là Gióp. Trong phần kết của quyển sách ấy, Đức Giê-hô-va đã bảo Ê-li-pha: “Các ngươi không có nói về ta cách xứng đáng y như Gióp, kẻ tôi tớ ta đã nói ”. Như thế, khi trích dẫn lời lẽ của bất cứ ai trong ba người này, ta có thể trình bày như là chân lý điều mà ở cuối quyển sách ấy đã dán cho cái nhãn hiệu là sai lầm. Rõ ràng là sau khi đã nghiên cứu nhiều khúc sách riêng lẻ thuộc dạng này, một phần lớn trong số đó có thể rất hữu ích, bao lâu bản tính của người nói và hoàn cảnh khiến ông ta thốt ra những lời ấy đều đã được lưu ý. Vua Ac-ríp-ba đã nói với Phao-lô: “Chỉ trong khoảnh khắc mà người muốn thuyết phục ta trở thành tín đồ Chúa Cứu Thế sao ” (26:28). Nhưng vua Ac-ríp-ba là người ngoại đạo nên có thể đưa ra nhận xét ấy hoặc như một câu nói mỉa mai, hoặc do cái nhìn tôn giáo thành thật hoặc ngay cả tinh thần trong đó những lời này chỉ nói lên là một vấn đề nhỏ theo chừng mực giá trị của chúng đối với phần Kinh Thánh liên quan. Ý kiến riêng của một người về vấn đề này rất có thể giúp tạo ra được một nhập đề lý thú, nhưng phần Kinh Thánh thì có thể được dùng để kêu gọi những người đang còn phân vân trong vấn đề tin nhận Phúc Âm, bất chấp tâm trạng của Ac-ríp-ba khi vua ấy thốt ra câu nói đó. Tuy nhiên, điều nên làm là phải biện biệt rõ ràng giữa những câu nói được linh cảm và những câu nói chẳng bao giờ được cho là được linh cảm, và còn có thể là sai nữa. “Nghề nghiệp của nhà vua đòi hỏi ông ta phải vội vã” có thể được dùng trong một ý thức phù hợp, như trong trường hợp của một bài ca tôn giáo hiện đại, nhưng trong văn mạch mà nó xuất hiện trong Kinh Thánh, nó là một điều sai lầm, và thật sự phản ảnh bản tính của người nói.
    Nhiều khi một khúc Kinh Thánh có thể chỉ nói lên một phần chân lý về một chủ đề, mà khi được dùng riêng rẻ, có thể nói lên một quan điểm phiến diện. Gặp trường hợp như thế, cần phải kết hợp nó với những khúc sách tương tự để có được ý niệm hoàn chỉnh. Một thí dụ cho trường hợp này, là GaGl 6:2 “Hãy ghé vai chung gánh với nhau những nhiệm vụ lớn lao ”. Một câu khác (6:5) “Vì mỗi người phải có những bổn phận riêng phải làm cho trọn ”. Câu trên nhấn mạnh sự bó buộc mà các Cơ Đốc nhân đều có đối với nhau trong mối liên hệ tập thể của họ; câu dưới là gánh nặng không thể tránh được mà mỗi người phải tự mình mang lấy, bất chấp những người khác có sẵn sàng muốn trợ giúp người ấy đến đâu đi chăng nữa. Thêm vào hai câu này, còn có cả một câu Kinh Thánh thứ ba nữa: “Hãy trao gánh nặng ngươi cho Đức Giê-hô-va ” (Thi Tv 55:22), diễn tả sự trợ giúp của Thượng Đế khi ta lâm hoạn nạn. Cần phải xét thật kỹ cả ba phương diện này, khi bàn đến vấn đề mang gánh nặng, nếu không, chủ đề có thể được thảo luận khiến người ta có thể tưởng rằng các Cơ Đốc nhân khác có bổn phận mang gánh nặng của mình, hoặc khiến cho đương sự ngã lòng khi tưởng rằng chỉ có một mình là phải gánh vác tất cả, hoặc có thể khiến người ấy chẳng quan tâm gì đến chúng cả vì như Chúa đã dạy là chúng ta cứ trao hết chúng cho Ngài. Sử dụng kết hợp nhiều phần Kinh Thánh với nhau khi gặp trường hợp như thế thì bao giờ cũng phải lẽ, và thường rất được ưa chuộng nữa. Tuy nhiên, việc thỉnh thoảng có thể xảy ra là cách dùng những phần Kinh Thánh song hành như thế có thể mở rộng quá nhiều một lãnh vực để rồi bài giảng không thể nhấn mạnh điểm độc đáo mà chúng ta muốn đưa ra. Thí dụ có thể chúng ta chỉ muốn giới hạn chủ đề mang gánh nặng vào điểm “Khía cạnh riêng tư của việc mang gánh nặng” hoặc “Trách nhiệm hai chiều trong vấn đề mang gánh nặng” mà thôi. Một khi chủ đề đã bị giới hạn như vậy, và ta chỉ muốn dùng một điểm trong số đó để làm đề tài, thì tình hình thường có thể được trợ lực bằng cách đề cập các khía cạnh khác của chủ đề. Việc này giúp mọi người thấy rằng tư tưởng của ta vốn có mối liên hệ phải lẽ với các câu gốc và sự kiện cùng loại, và rằng ta không hề bị chỉ một ý niệm nào đó ám ảnh mà loại bỏ các quan điểm khác. Việc làm này giúp ta thêm tin quyết vào cách phán đoán và nhấn mạnh sự sống do đó, các ý kiến của ta càng được mọi người coi trọng hơn để suy gẫm.
    Một loại khác nữa là câu gốc được thu gọn hay không sử dụng trọn vẹn. Bài giảng của tiến sĩ Chapman nhan đề: “Và Thánh Phê-rơ”, hay bài giảng sau đó của Spurgeon nhan đề “Đã thế nào...thì cứ thế ấy” là các loại bài giảng thuộc hạng này. Nói chung thì cách rút gọn như thế vốn chẳng hay gì lắm. Có thể chỉ những trường hợp hết sức hiếm hoi mới có một bậc thiên tài dám thách thức cả các quy luật lẫn nguyên tắc, nhưng các thiên tài vốn hiếm hoi, cho nên các cơ hội để họ có thể làm như vậy cũng thế. Những khúc sách như vừa kể trên vốn chẳng có ý gì cả khi chúng vừa được nêu ra. Shakespeare, Milton và có thể là một số ít những con người tài trí khổng lồ khác nữa thỉnh thoảng vẫn có thể vi phạm các mẹo luật căn bản của ngữ pháp và mỹ từ pháp, nhưng những người kém hơn thì nhận thấy phải làm việc hài hòa với các mẹo luật ấy vẫn có lợi cho mình hơn. Nếu có ai tin chắc rằng mình là một Spurgeon, một Moody, một Chapman hay một Maclaren và khi gặp cơ hội hiếm có xảy ra thì người ấy sẽ được an toàn để sử dụng các phần câu gốc không đúng mẹo luật văn phạm và không đầy đủ như thế, trong khi chờ đợi, việc thay đổi một phương pháp khác có thể đuợc ưa chuộng hơn.
    Tương phản với loại vừa kể là một loại ở một thái cực khác - những câu gốc dài. Có lần nhà truyền đạo thông báo rằng văn bản của ông ở ITi1Tm 3:16 “Huyền nhiệm của Đạo Chúa thật quá vĩ đại:Đấng Tạo hóa đã hiện ra trong thân xác, được Thánh linh chứng thực, được thiên sứ chiêm ngưỡng, được công bố cho mọi dân tộc, được lên trời trong vinh quang ”.
    Thường thường thì dùng những câu gốc như thế là không khôn ngoan vì nhiều lý do. Trước hết , chúng vốn quá dài nên khó nhớ cho nên không thể được dùng như phần tóm tắt của bài giảng. Thứ hai , những câu gốc như thế có phạm vi quá rộng; chúng chiếm quá nhiều lãnh vực chỉ cho phép một phần triển khai bất thường, nhờ việc nghiên cứu hết sức sâu rộng. Bất kỳ điểm nào trong số sáu điểm đã được đề cập trong câu này, chỉ một mình nó thôi, cũng rộng đủ để người ta giảng cả một bài. Một bất lợi khác nữa của một câu gốc dài là thay vì làm phát sinh cái cảm thức thúc đẩy như đáng ra nó phải làm, lại thường gây ra cái cảm giác gần như một hình phạt cho những thành viên còn non trẻ của hội chúng, và có lẽ không phải là hoàn toàn không đúng sự thật khi bảo rằng ngay đến những người tuổi tác nữa cũng chia xẻ một phần cái cảm giác ấy nữa.
    Bây giờ đến phương diện tích cực hơn của công tác thảo luận các phần câu gốc, chúng ta hãy điều nghiên xem điều gì đã cấu thành một câu gốc phù hợp cho bài giảng. Lẽ dĩ nhiên là giá trị của nhiều khúc sách khác nhau trong Kinh Thánh đều khác nhau đối với từng cá nhân, vì tính khí và bối cảnh đào tạo huấn luyện dị biệt của họ. Mỗi người đều có thể viết ra cho mình cả chục tá các khúc sách được mình ưa thích, và rồi tìm trong đó phần phẩm chất độc đáo khiến mình tán thưởng chúng, và một khảo sát nội quan như thế sẽ đem lại phần thưởng của họ. Tuy nhiên, có nhiều khúc sách vốn được mọi người ưa chuộng. Khi tìm đến chúng, chúng ta thấy ít nhất cũng có ba phẩm chất dường như đã đem lại giá trị cho chúng.
    Trước hết, có phần hình thức văn chương. Người tán thưởng giá trị của văn chương không thể không bị tiết tấu và vẻ đẹp của câu “Hỡi linh hồn ta , hãy ca tụng Đức Giê-hô-va, và mọi điều chi ở trong ta, khá ca ngợi danh thánh của Ngài ”, hoặc: “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm ” làm cho mình say mê.
    Tuy nhiên, những câu gốc quan trọng đã được mọi người đánh giá cao còn chứa đựng một cái gì vượt trên hình thức văn chương nữa. Chúng hàm chứa một vài lời hứa phong phú, hoặc bày tỏ một vài nguyên tắc quan trọng nào đó của đời sống chẳng hạn như, đem đến một ý nghĩa sâu hơn cho cuộc đời. Có lẽ không khúc sách nào trong Kinh Thánh lại được nhiều người biết hơn là GiGa 3:16 “Vì Thượng Đế yêu thương nhân loại đến nỗi hy sinh con Một của Ngài, để tất cả những người tin nhận con Thượng Đề đều không bị hư vong nhưng được sự sống vĩnh cữu ”. Chẳng có gì để nghi ngờ về ý nghĩa của câu này vốn nằm trong phần mặc khải, nêu lên đặc tính của Thượng Đế. Nếu chúng ta mở Cựu Ước ra, là nơi dường như có rất nhiều điều chẳng đụng chạm gì tới sinh hoạt hiện đại của chúng ta, thỉnh thoảng chúng ta sẽ tìm được những viên ngọc quý, chẳng hạn chúng ta thấy trong tác phẩm của một tiểu tiên tri có chép: “Cái điều mà Đức Giê-hô-va đòi ngươi há chẳng phải là làm sự công bình, ưa sự nhân từ, và bước đi cách khiêm nhường với Đức Chúa Trời ngươi sao ?” (MiMk 6:8). Có cách gì toàn hảo hơn để một câu ngắn gọn như thế trình bày về lý tưởng của đời sống hay không? Khi tiếp cận Kinh Thánh, điều chúng ta nhận thấy là thật sự có giá trị cho riêng mình, là điều mà khúc sách ấy tỏ ra gần gũi thiết thân với chúng ta. Chỉ khi nào chúng ta tán thưởng chân lý của nó, chúng ta mới có thể hi vọng khiến nó trở thành thực tại cho nhiều người khác vì giảng dạy là cách diễn đạt chân lý qua nhân cách con người, và điều gì chưa trở thành một phần của chúng ta, thì không thể nào san sẻ nó cho người khác.
    Tuy nhiên, có một vài câu gốc mà ý nghĩa của chúng chỉ được tán thưởng tối đa khi đem sử dụng nhân những cơ hội đặc biệt. Chẳng có cách gì để một nhà truyền đạo chứng tỏ tốt nhất điều tâm đắc và óc phán đoán ý nhị của mình hơn là việc lựa chọn những câu gốc thích hợp cho nhiều buổi nhóm bất thường mà ông ta được mời tham dự hoặc tự mình chủ trì, hướng dẫn. Biết cách sử dụng các câu gốc quan trọng nhân những cơ hội ấy là cả một thành tựu vĩ đại. Những cơ hội bất thường như thế thường mời gọi phải sử dụng một khúc sách trong một ý thức thích hợp. Khi dùng như vậy, người truyền đạo lấy những từ ra khỏi văn mạch của nó và làm cho nó phù hợp với trường hợp. Thí dụ mới đây có một bài giảng theo GiGa 18:12 “Chúng bắt trói Chúa Giê-xu ”. Sau khi vạch rõ mối liên hệ giữa các lời lẽ đã được dùng trong câu ấy, câu gốc được ứng dụng cho các Cơ Đốc nhân hiện đại, chứng minh thế nào bằng các thói quen xấu của đời sống họ, các Cơ Đốc nhân đã ngăn trở không cho Chúa Giê-xu tự bày tỏ chính Ngài ra qua nhân cách của họ. Nếu được sử dụng tốt, một văn bản khéo lèo lái, điều chỉnh, nhiều khi có thể được khiến thành nổi bật và thành công thật bất ngờ.
    Như thế, chúng ta thấy rõ các câu gốc thật sự quan trọng có giá trị là nhờ chúng được diễn tả đẹp đẽ, có chứa đựng chân lý sinh động, và phù hợp với cơ hội chúng được sử dụng. Làm thế nào để chúng ta phát giác ra những khúc sách như thế?
    Chẳng có câu trả lời nào hay hơn là bảo rằng mỗi người đều phải tự tìm ra chúng bằng cách chính mình phải đọc (Kinh Thánh), nhưng cũng còn phải thêm vào đó tài quan sát và một từng trải phong phú. Đọc mà không có kinh nghiệm sẽ làm cho tài liệu bài giảng trở thành lý thuyết thuần túy; kinh nghiệm không sẽ không đạt được sự giải thích cao nhất cho đến lúc được liên hệ với chân lý vĩnh cửu. Do đó, việc phải luôn luôn xảy ra là chỉ khi nào chính nhà truyền đạo tự đọc Kinh Thánh để khám ra phần ý nghĩa sâu nhiệm của nó, thì ông ta mới tự mình biết rõ các câu gốc quan trọng. Người khác chẳng bao giờ có thể chọn được chúng cho ông ta, vì từng trải của mỗi người cũng như các điểm đặc trưng của họ đều khác nhau. Nếu như thế thì người ta chỉ đơn giản tiếp thu phản ứng của người khác đối với chân lý của Thượng Đế, chớ không phải của chính mình. Có một số người đi tìm sự trợ giúp và có thể tìm được nhiều gợi ý trong các bộ từ điển về các câu Kinh Thánh quan trọng, nhưng trông cậy vào các nguồn tài liệu ấy chỉ là một phương pháp nhân tạo trong việc chọn câu gốc, và sẽ chẳng bao giờ đem đến cho mình niềm vui có được khi chính mình tự phát hiện được chúng cho riêng mình. Trong Kinh Thánh có rất nhiều đoạn sách quan trọng, và “ai tìm sẽ gặp ”, chớ chẳng còn có cách nào khác.
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG IV
    Trong chừng mực nào, bạn có thể biện minh cho việc sử dụng tòa giảng để thảo luận những chủ đề khác hơn những chủ đề đặc biệt có tính cách tôn giáo?
    Có xung khắc nào giữa các bài giảng theo đề mục với việc sử dụng các câu gốc hay không?
    Trong chừng mực nào, Kinh Thánh có thể được trích dẫn, như một thẩm quyền cho ngày nay?
    Theo ý bạn, thì lý do vững chắc nhất để sử dụng các câu gốc để giảng dạy là gì?
    Bạn có thể gợi ý về một trường hợp nào thì dường như tốt nhất là không nên dùng một câu gốc hay không?
    Khi nào thì bạn khuyên nên dùng nhiều hơn là một câu gốc cho một bài giảng, và khi nào thì chỉ nên dùng một câu duy nhất mà thôi?
    Hãy chọn sáu khúc Kinh Thánh mà bạn tâm đắc, khảo sát chúng, và nêu lý do cho phần giá trị mà bạn gán cho chúng?
    Bạn có thể gợi ý về một phương pháp nghiên cứu hay đọc Kinh Thánh nào sẽ cho thấy nhiều câu gốc quan trọng trong Kinh Thánh không?
    Bạn biện minh thế nào cho việc sử dụng một câu gốc chứa chan tình cảm?
    NHẬP ĐỀ
    Khi đề cập đến các phần chủ yếu của một bài giảng, chúng tôi đã tập họp dưới tiêu đề “Nhập đề” tất cả phần tài liệu đi trước các phần chính hay phần thảo luận đề tài. Đồng thời, chúng ta có thể nhận thấy các phần có tính cách kỹ thuật bao gồm trong phần này của bài giảng. Nếu muốn đi vào các chi tiết để tiếp cận phần nhập đề, có lẽ phương pháp rõ rệt nhất phải làm sẽ là bám theo tiến trình qua các bước ấy.
    Tuy nhiên, trước khi khảo xét phương pháp soạn phần nhập đề, chúng tôi xin chú trọng vào chủ đích của nó, vì đến một chừng mực nào đó, việc làm này sẽ xác định phương pháp của chúng ta. Ta có thể nhằm vào ba chủ đích trong phần này của bài thuyết giảng. Một trong số đó là thu hút sự chú ý. Ngay từ lúc bắt đầu thì dễ thu hút sự chú ý hơn bất kỳ phần nào của bài giảng. Đứng về mặt tâm lý thì điều này rất đúng, vì tâm trí (thính giả) vẫn chưa bị loại mộng mơ nào thu hút cũng chưa bị tiếng gọi của một nguồn ảnh hưởng nào. Những người đến nhà thờ thường được chuẩn bị tốt để sẵn sàng hướng vào việc nghe giảng, mà phần bắt đầu của bài giảng chính là chỗ phải chú tâm vào nếu nuốn duy trì sự quan tâm chú ý của hội chúng xuyên suốt bài giảng. Lẽ dĩ nhiên là theo nghĩa hẹp nhất của nó. Chủ đích của phần nhập đề là giới thiệu đề tài, mà bước đầu tiên trong chiều hướng này chắc chắn là phải khiến cho mọi người chú ý đến những gì sắp phải nói ra.
    Việc được thính giả chú ý tùy thuộc một phần vào nhân cách của diễn giả. Khi các nhân vật có thiên tài bắt đầu truyền giảng và mọi người đều sốt ruột muốn nghe họ, thì chẳng có gì cần thiết phải xét đến trong một dàn bài hay phương pháp đặc biệt nào cả. Tuy nhiên, có một mẹo nhỏ về điệu bộ thỉnh thoảng thoảng vẫn được dùng khi bắt đầu một bài diễn văn chính thức mà người ta biết vài nhà truyền đạo vẫn sử dụng thành công. Khi sắp bắt đầu lên tiếng, họ có một cách nhìn vào mặt đám cử tọa một cách thật bình thường và cố ý, nhưng không phải là nhìn chăm “châm bẩm”, nhìn “xoi mói”. Có một khoảnh khắc nào đó mọi người đều tự nhủ “chẳng biết bao giờ thì ông ta mới bắt đầu đây?” Đây là thì giờ để giảng bằng tâm lý, cử tọa đang ở trong tâm trạng trông chờ.
    Một mục đích nữa là phần nhập đề cần triển khai mối quan tâm. Một khi đã được nghe thông báo về đề tài hay câu gốc, người ta có thể tự nhủ: “Ồ vấn đề này thì chẳng có gì đáng quan tâm, mình đã chú ý đến nó từ rât lâu rồi mà” và đây là chỗ để nhà truyền đạo chứng minh rằng mình muốn thảo luận một góc cạnh nào đó rất mới mẽ - nếu ông ta có loại tài liệu gì đó thật độc đáo. Hoặc cũng có thể ông ta đã thông báo rằng mình sẽ nói về một chủ đề hoặc câu gốc nào đó chẳng có chi hấp dẫn đối với cá nhân ấy cả, nhưng giờ đây nhiệm vụ của nhà truyền đạo là phải làm thế nào để bắt buộc người ấy phải chú ý. Có thể thực hiện đều này bằng cách vạch rõ vai trò của chủ đề ấy trong chương trình của Cơ Đốc giáo, hay trình bày một cách mới mẽ một phần thảo luận sẽ khiến mọi người dù có dửng dưng đến đâu cũng phải quan tâm chú ý. Trong phần lớn cách truyền giảng của mình, chúng ta cần phải đánh đổ nhiều thiên kiến tôn giáo, hay có lẽ là thái độ ù lì, hậu quả của lối giảng quá quen thuộc do đã có nhiều bài giảng từng được trình bày về cùng một đề tài không có sức khích động hay đem lại lợi ích gì đến cho hội chúng cả. Cả khối quần chúng đông đảo còn quan tâm đến Kinh Thánh. Họ vẫn còn có thể bị những lời truyền dạy của bộ sách ấy làm cho cảm động, nhưng chỉ khi nào chúng được truyền giảng một cách độc đáo và sinh động mà thôi. Điều này có nghĩa rằng ta phải có khả năng trình bày một sứ điệp thế nào cho sau đó, mọi người đều có thể nói rằng “Tôi chưa từng được nghe đề tài ấy được trình như thế trước đây”. Chính trong phần nhập đề chúng ta phải vạch rõ tính cách độc đáo mà chúng ta sẽ thảo luận trong chủ đề, do đó khơi dậy tánh tò mò về những gì chúng ta sắp nói. Chính tại đây nhà truyền đạo phải nắm được cử tọa của mình.
    Điều cuối cùng phải nhằm vào nhập đề là vấn đề tạo ra một không khí. Tại nhiều buổi nhóm, mục đích tôn giáo thường được thực hiện bằng những bài thánh ca và đọc Kinh Thánh, và về phần mình nhà truyền đạo chẳng cần phải nỗ lực nhiều. Tất cả những gì ông ta cần làm là đưa vào bầu không khí chung một chút gì đó để có một hương vị đặc thù. Nó phải có tính cách ca ngợi tán tụng khi ông ta định đề cập việc các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Thượng Đế. Nó phải có một chút gì đó cho người ta hy vọng nếu ông ta đề cập “Quê hương ở thế giới bên kia?”, hoặc chủ đích của ông ta có thể là gợi ra cho họ một ý thức về tội lỗi để đánh thức lương tâm và kêu gọi người ta ăn năn. Tâm trạng đặc thù này nói chung có thể tạo được nhờ đặc tính độc đáo của những bài thánh ca và những đoạn Kinh Thánh được chọn. Một khi ta đã thu hút được sự chú ý, đánh thức mối quan tâm và đưa mọi người vào tâm trạng thuận lợi cho việc triển khai đề tài như thế rồi, là ta đã sử dụng được một phần nhập đề kiểu mẫu vậy.
    Nhưng tôi có thể tưởng tượng một người chưa có từng trải bao nhiêu trong việc giảng dạy và muốn được chỉ dẫn ít nhiều về phương pháp, bảo rằng: “Giả sử tôi bắt đầu soạn một bài giảng. Tôi có câu gốc ở trước mặt, hay tôi đã quyết định một chủ đề rồi, thế tôi phải làm sao nữa?” Vậy, chúng ta hãy chú tâm vào vấn đề này để minh họa nó bằng một vài bài giảng đặt cơ sở trên câu gốc và một số khác đặt cơ sở trên chủ đề. Chúng ta cần ghi khắc vào tâm trí ba bước đã được tập họp dưới cùng một tiểu mục, và điều này sẽ có thể giúp ích cho chúng ta trong việc hướng dẫn chúng ta đến với phương pháp tiếp cận. Đó là các bước giải thích, nhập đề và mục tiêu.
    Trước hết, chúng ta hãy lấy bài giảng đặt cơ sở trên một câu gốc. Nói chung, chúng ta có thể tìm được một khởi điểm bằng cách vạch rõ bối cảnh hay mối liên hệ giữa nó với văn mạch, mà trong tiến trình giảng dạy thường đượcgọi là phần giải thích. Việc này có thể thực hiện bằng cách vạch ra mối liên hệ của câu gốc với quyển sách trong đó nó được rút ra; thí dụ như: “Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài, ấy là trọn phận sự của ngươi ” (TrGv 12:13). Ở đây, trước giả đang độc thoại về đời sống, đang kiểm điểm lại các hình thức khác nhau của tham vọng đang cầm quyền kiểm soát các hoạt động của con người, và thử nghiệm phần giá trị tối hậu của các lý tưởng duy vật. Ông nhận thấy những điều đó vốn chẳng bao giờ làm cho con người toại nguyện. Rồi sau khi bày tỏ thái độ bất mãn với các đối tượng của trần gian được đưa ra làm cứu cánh cho cuộc đời, ông vạch rõ điều gì thỏa mãn được các nhu cầu của loài người, và nói: “Chúng ta hãy nghe lời kết của lý thuyết này: Khá kính sợ Đức Chúa Trời và giữ các điều răn Ngài, ấy là trọn phận sự của ngươi ”. Như thế ý nghĩa của câu gốc được thấy trong mối liên hệ giữa nó với một quyển sách có mục đích là trình bày một triết lý về cuộc đời. Hoặc một lần nữa, chúng ta có thể lấy câu đã được chép trong GiGa 20:31 “Chỉ xin ghi lại một số phép lạ để giúp người đọc tin nhận Chúa Giê-xu là Chúa Cứu Thế, là con Thượng Đế. Nhờ niềm tin đó, chúng ta hưởng được sự sống vĩnh cửu trong Danh Chúa ”. Ở đây, tầm quan trọng của câu gốc được thấy là có liên hệ với cả sách Phúc Âm, tiết lộ chủ đích của trước giả, và cho thấy các sự kiện mà trước giả xem là đầy đủ để dẫn người ta đến chỗ có đức tin vào Chúa Cứu Thế. Một thí dụ minh họa khác có thể dành cho mấy lời của Phao-lô trong Phi Pl 4:4 “Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn, tôi xin nhắc lại: Hãy vui mừng !” Sự kiện mấy lời này là một phần của bức thư đã được viết trong nhà tù tại Rô-ma do một người chỉ còn rất ít những gì thuộc về đời này để khích lệ, an ủi mình, chứng minh cho quyền năng và ảnh hưởng của đức tin đặt nơi Chúa Cứu Thế. Hoặc một câu gốc cũng có thể được giải thích tùy theo vị trí của nó trong một chương sách. Câu nói của Chúa Giê-xu: “Các cánh đồng đã vàng, sẵn sàng cho mùa gặt ” tự nhiên đòi hỏi việc mô tả các hoàn cảnh trong đó câu ấy đã được nói ra, cho thấy nét tương phản giữa các cánh đồng lúa xanh, với mùa gặt thuộc linh đã được đem ra để so sánh. “Tôi phải làm chi để được sự sống vĩnh cửu ” là câu hỏi của vị quan trẻ tuổi nêu lên với Chúa Giê-xu. Đây là một câu Kinh Thánh rất quen thuộc và thật lạ lùng. Việc kiểm điểm lại tình hình, một lần nữa, sẽ là một phương pháp tiếp cận hết sức tự nhiên, vạch rõ cho thấy của cải, cả khi được tiếp tay bởi tinh thần luân lý đạo đức, một sự kết hợp hết sức hiếm hoi, vẫn bỏ mặc cho chàng thanh niên nọ với tâm trạng không hài lòng về sự an vui của linh hồn mình. Hay nếu giới hạn nó chặt chẽ hơn nữa, một câu gốc có thể được giải thích mà chẳng cần nhờ vào việc kết hợp nó một cách đặc biệt với quyển sách nói chung hoặc với chương sách từ đó nó được rút ra. Những câu gốc như thế là những câu trong Thi Thiên, nơi mà thường thường thì mối liên hệ duy nhất với văn mạch chỉ là thái độ tình cảm mà thôi. Một thí dụ khác nữa là trong sách Châm ngôn, nơi một số các châm ngôn đã được kết lại với nhau mà chẳng cần có mối liên hệ hay sự nối tiếp sinh động nào cả. Trong các thư tín của Phao-lô cũng có thể tìm thấy nhiều thí dụ minh họa tương tự, nhất là ở phần cuối các bức thư, sau khi ông đã kết thúc phân đoạn về giáo lý và khuyên răn các độc giả. Nhiều trường hợp cũng có thể được tìm thấy trong cả Kinh Thánh, nơi một câu được rút ra khỏi văn mạch của nó và được xem như độc lập đối với bản văn. Những khúc sách như thế thường hấp dẫn chúng ta do phần chân lý nội tại của chúng, hoặc vì chúng diễn tả một hình thức tiết tấu hay nổi bật một tình cảm nào đó mà chúng ta muốn nhấn mạnh. Trong trường hợp gặp những câu gốc như thế, phương pháp tiếp cận sẽ có thể là một câu tham khảo nội dung tôn giáo của khúc sách hoặc chúng ta lý giải nó. Chúng ta hãy thử một khúc sách xem sao. Trong Thi Tv 84:11 và ở phần sau của câu ấy, chúng ta đọc thấy: “Đức Giê-hô-va… sẽ chẳng từ chối điều tốt lành gì cho ai ăn ở ngay thẳng ”. Thế bây giờ tôi phải bắt đầu làm sao? Vâng, tôi sẽ tự hỏi tại sao câu gốc này lại khiến tôi chú ý? Tôi trả lời vì nó trái ngược với cái ấn tượng là đời sống của nhiều người phục vụ Thượng Đế vốn khắc khổ u buồn. Khúc Kinh Thánh này nhắc nhỡ tôi rằng nó vốn là từng trải vui vẻ hạnh phúc. Các phước hạnh tốt nhất của thiên đàng vốn dành cho những người thuộc về Thượng Đế; chúng ta vốn có phước hơn con cái của các nhà triệu phú nữa. Ý này sẽ là phần đầu của đoạn nhập đề; nói cách khác, điều khiến tôi chú ý đến câu gốc đó và đưa tôi đến chỗ chọn nó, có thể là điểm mà tôi sẽ nhấn mạnh trong phần nhập đề cho một bài giảng.
    Sau khi đã giải quyết xong bước thứ nhất là giải thích câu gốc, giờ đây chúng ta đến với điểm tiếp theo tạo nên phần nhập đề của mình. Thật ra, việc này là gắn liền chủ đề mà câu gốc đã gợi ý với những điều mà hội chúng chú ý quan tâm. Bây giờ, giả sử chúng ta cứ tiếp tục thảo luận về những khúc sách chúng ta đã dùng làm thí dụ minh họa. Chúng ta gắn liền TrGv 12:13 với việc thảo luận của cả quyển sách trong đó chúng ta đã tìm thấy nó. Bây giờ chúng ta sẽ tiếp tục chứng minh rằng mỗi cá nhân đều có một triết lý sống như được bày tỏ bằng những gì người ấy quan tâm chú ý nhất, mặt dầu rất có thể rằng người ấy vẫn chưa có đủ điều kiện để đề cao lối sống của mình bằng một từ ngữ có tính chat học thuật là “triết lý”. Nói khác đi là chúng ta tiếp tục vạch rõ ý nghĩa của câu gốc đối với chính cuộc đời của chúng ta. Đó là việc đặt tình cảm của câu gốc trong mối liên hệ với tư tưởng của mọi người nhằm mục đích khai triển đều họ quan tâm chú ý trong đề tài. Hãy lấy thí dụ minh họa tiếp theo, là GiGa 20:31 câu này nêu rõ chủ đích của sự mạc khải và tính chất đầy đủ của phần ký thuật để làm nảy sinh đức tin, vì chỉ nhờ đó mới có được sự cứu rỗi. Điều này kết chặt vấn đề về số phận con người và thái độ của chúng ta đối với Chúa Cứu Thế. Một lần nữa nó chỉ ra ý nghĩa về quy tắc đối với đời sống. Khúc sách trong Phi-lip vạch rõ quyền năng của đức tin nơi Chúa Cứu Thế nhằm thắng vượt mọi khó khăn trần gian chính là điều mà người ta đang tìm kiếm cho đời sống. Trong tất cả các thí dụ trên, cùng một điểm đã được chứng minh bằng nhiều câu gốc khác, bước thứ hai là một phần thảo luận tổng quát lãnh vực tư tưởng của câu gốc đưa chúng ta vào, và điều quan tâm chú ý đã được triển khai bằng việc nêu rõ ý chính của chủ đề một cách tổng quát cho mọi người.
    Bây giờ chúng ta đến điều cần xét thứ ba trong việc hình thành phần nhập đề là phác họa mục tiêu. Xin chúng ta kiểm điểm lại lần nữa vài khúc sách đã được dùng làm thí dụ minh họa, lấy ra một ví dụ từ mỗi nhóm. Liên hệ với TrGv 12:13, thứ nhất chúng ta đã ghi nhận mối liên hệ giữa câu gốc với quyển sách; tiếp theo chúng ta đã gợi ý thế nào chân lý của khúc sách là điều mà tất cả mọi người đều quan tâm; và bây giờ chúng ta đến phần chót, là vạch rõ mục tiêu của chúng ta nhằm chỉ ra đối tương đặc thù là chủ đích của bài giảng. Mỗi một bài giảng đều có một mục tiêu. Gần như nó phải luôn luôn được nêu rõ. Chỉ có những trường hợp hết sức hiếm hoi, nhưng khi nếu tiết lộ phần kết luận của chúng ta về một chủ đề là thiếu khôn ngoan, thì mới có thể bỏ qua việc ấy. Trong những trường hợp như thế, nhờ các bước liên tục, chúng ta đi tìm một mục tiêu, bởi đó chúng ta mong được mọi người chấp nhận nhờ việc từ từ khai mở tư tưởng của chúng ta. Nhưng cả khi không có một mục tiêu nào được trực tiếp nêu rõ, trong tâm trí của diễn giả cũng phải luôn luôn có một điểm rõ ràng, dứt khoát, mà mình muốn đưa ra. Câu gốc trong sách truyền đạo này là một trong số những câu gốc có thể chuyển thành một mục tiêu tốt. Như mục tiêu có thể được vạch rõ như thế này “Nhằm chứng minh rằng sự kính sợ và vâng lời Thượng Đế là lý tưởng cao đẹp nhất của cuộc đời”. Tiếp theo đó, phần triển khai bài giảng phải là chứng minh rằng điều này là đúng, là thật. Nếu không có một mục tiêu, thì cuộc thảo luận sẽ chẳng dẫn đến đâu cả và tuy ta có thể nói ra nhiều điều thật lý thú và có lẽ là rất đẹp đẽ nữa, bài giảng sẽ thiếu mất ấn tượng rõ ràng, dứt khoát và còn mãi đối với tâm trí người nghe. Bây giờ, chúng ta hãy lấy một thí dụ từ nhóm thứ hai, là câu nói của Chúa Giê-xu: “Các cánh đồng đã chín vàng, sẵn sàng cho mùa gặt .” Khi hình thành phần nhập đề cho khúc sách này, chúng ta chú ý trước nhất đến việc giải thích câu gốc căn cứ vào vị trí của nó trong văn mạch của chương sách. Tiếp theo, chúng ta sẽ nêu rõ lợi ích của những lời ấy đối với chúng ta, vì câu nói của Chúa Giê-xu vẫn còn nghiệm đúng. Thứ ba, chúng ta nêu rõ mục tiêu của mình bằng những lời lẽ thật dứt khoát, chẳng hạn như: “Hiện có nhu cầu cấp thiết về các cán bộ phục vụ trong các khu vực truyền giáo hải ngoại” hay “Đây là lời kêu gọi các người trẻ của Chúa Cứu Thế để bước vào sự phục vụ”. Cả hai câu trên đều có thể là những mục tiêu căn cứ trên câu gốc này. Nếu chúng ta lấy khúc sách trong Thi Tv 84:11 chúng ta đã ghi nhận, một lý do khiến khúc sách này có nghĩa là ở chỗ nó trái ngược với quan niệm thông thường về ý nghĩa của sinh hoạt Cơ Đốc nhân. Tiếp theo, chúng ta ghi nhận rằng khúc sách này có một lời kêu gọi mọi người chúng ta, vì nó chỉ ra con đường để được hưởng điều mà mọi người chúng ta đều tìm, “Bây giờ, chúng ta đến chỗ phải vạch rõ câu kết luận mà chúng ta mong đạt tới qua phần thảo luận của chúng ta, chẳng hạn như: “Những điều tốt nhất trên đời là tài sản của con dân Thượng Đế”.
    Trước khi từ giả vấn đề nhập đề, thiết tưởng nên nói một lời về các câu gốc đã được thích ứng hóa khi được dùng như thế là chúng đã bị tách rời khỏi văn mạch và được gán cho một cách ứng dụng khác hẳn trong nguyên bản. Nếu những nguyên tắc tổng quát như thế vẫn còn được áp dụng, thì trong những trường hợp như thế, một dàn bài tốt nhất phải chỉ rõ sự kiện câu gốc sắp được sử dụng theo một chiều hướng (ý nghĩa) khác hẳn với chiều hướng trong Kinh Thánh rồi sau đó giải thích cách nó sẽ được sử dụng rất ít nếu không nói là chẳng bao giờ, người ta có thể dùng một câu gốc được thích ứng hóa mà không giải thích được cách thích đáng ý hướng mà người ta dùng nó.
    Tiếp theo, chúng ta hãy xét đến phương pháp xây dựng những nhập đề cho các bài giảng căn cứ vào một chủ đề, chớ không phải là một câu gốc. Những bài giảng như thế khá bất thường, nhưng ta có thể quan niệm vấn đề tại sao có khi ta chẳng có suy nghĩ rõ ràng về một câu gốc nào trong tâm trí cả, nhưng lại có cảm tưởng về nhu cầu phải giảng về một chủ đề nào đó. Vậy phải bắt đầu như thế nào? Ở đây, ta không thể giải thích câu gốc và văn mạch (bối cảnh) của nó. Các nhà truyền đạo trẻ thường giảng về những chủ đề bao trùm cả một lãnh vực hết sức rộng lớn, có lẽ vì lý do thận trọng, cho nên chúng ta hãy giải thích chủ đề được chọn là “Sự cầu nguyện”. Có một đặc điểm khác nữa của các nhà truyền đạo trẻ mà tất cả mọi người đều phải cảnh giác, là bắt đầu chủ đề như thế bằng cách đề cập việc thiếu cầu nguyện hay bất kỳ một phương diện tiêu cưc nào có thể có trong đề mục của mình, rồi chê bai thái độ dửng dưng hiện tại ngay trước cửa của sự chểnh mãng ấy. Thái độ tiêu cực ấy rất ít khi chứng tỏ được sự hữu dụng. Trong sự giảng dạy chúng ta cần phải tích cực, phải khích lệ, phải gợi ý để thúc giục người ta có đức tin, phải nhen lên hy vọng. Vậy chúng ta phải bắt đầu như thế nào với chủ đề cầu nguyện để giới thiệu (nhập đề) nó? Tầm quan trọng hay ý nghĩa của đề mục thường tạo ra một khởi điểm tốt. Trừ phi chủ đề vốn bắt nguồn từ một biến cố hiện hành hay từng trải cá nhân, nó thường là điểm để bắt đầu. Nói khác đi phải áp dụng cùng một phương thức y như điều đã được gợi ý khi ta dùng một câu gốc, ngoại trừ bước thứ nhất - việc giải thích câu gốc sẽ không có. Thay vào đó, bài thuyết giảng sẽ được bắt đầu bằng vài nhận xét lưu ý mọi người về chủ đề một cách tổng quát, sau đó mối quan tâm sẽ được khai triển bằng cách kể ra đặc tính của cuộc thảo luận. Điều gợi ý trước đây đối với các câu gốc độc lập với văn mạch có thể cũng có giá trị ở đây nữa, tức là điểm độc đáo của đề mục khiến người ta đặc biệt chú ý đến diễn giả, cũng được chứng minh là một phương pháp thích hợp để giới thiệu cho hội chúng. Một khi đã làm nảy sinh mối quan tâm đến chủ đề một cách tổng quát, việc tiếp theo là phải đưa ra một câu đề cập khía cạnh độc đáo của vấn đề cầu nguyện mà ta muốn nhấn mạnh. Điều này có thể được chứng minh bằng: “Vai trò của sự cầu nguyện trong đời sống của Chúa Giê-xu” hoặc “Sự cầu nguyện trong sinh hoạt của Hội Thánh nguyên thủy như đã được tiết lộ trong sách Công vụ”, hay “Vị trí của sự cầu nguyện trong đời sống Phao-Lô” hoặc “Cầu nguyện rất cần thiết cho công tác của Hội Thánh thành công” hay bất cứ phương diện nào của đề mục mà ta muốn thảo luận. Vậy phương pháp xây dựng một nhập đề vốn giống nhau cho một bài giảng đặt cơ sở trên một chủ đề cũng như một bài giảng bắt nguồn từ một câu gốc, ngoại trừ không có bước thứ nhất nhưng chỉ áp dụng cho bước thứ hai và thứ ba mà thôi.
    Khi một nhà truyền đạo cứ đứng lên trước các tín đồ của mình từ tuần lễ này sang tuần lễ khác, chẳng bao lâu, họ sẽ quen biết với nhân cách và nhân sinh tổng quát của ông ta. Điều này làm cho việc khiến họ chú ý và duy trì sự chú ý đó trở thành một nhiệm vụ ngày càng gay go hơn, trừ phi nhà truyền đạo cũng lần lần nắm vững hơn tâm trí họ. Một nhà truyền đạo đặc biệt có nguy cơ làm mất sự chú ý ngay từ đầu bài giảng của mình, nếu sa vào thói quen cứ luôn nhập đề bằng cùng một cách nói giống nhau, như: “Câu gốc tôi chọn sáng nay là trong...” hay “Đề tài của tôi tối nay là...” Những hình thức như thế, nếu trở thành thói quen sẽ là quá tầm thường, và cất đi mọi dự đoán hoặc cảm giác trông mong chờ đợi, và tăng thêm khó khăn cho việc duy trì sự chú ý. Chẳng có gì giúp ích đem sự tươi mới đến cho phần đầu của bài giảng hơn là việc thay đổi phần hình thức. Chẳng cần gì “Sốt dẻo” hay “giật gân”, mấy câu ngắn ngũi đầu phải gây được ngạc nhiên đến mức tối đa. Không có phần nào trong bài giảng lại dành một phạm vi rộng rãi cho tính cách sáng tạo, và có thể được thực hiện nếu ta có tinh thần chịu khó và có bất cứ trực giác của nhà hùng biện.
    Trong khi chẳng có gì thay thế được hoặc có những gợi ý cho sáng kiến riêng của nhà truyền đạo trong vấn đề này, có lẽ vài ám chỉ sau đây có thể giúp chỉ ra con đưòng đi đến thành công. Một nhà truyền đạo của Hội Thánh Trưởng Lão khi giảng về chủ đề cấm rượu đã nhập đề bằng cách kể lại một từng trãi mới đây của ông ta. Ông ta kể chuyện một người say rượu. Ông mô tả tình trạng thảm hại đáng thương của người ấy. Nhiều người trong hội chúng vốn gốc người Tô-cách- lan. Ông ta làm nảy sinh các cảm thức thương hại pha lẫn sự khinh thị. Rồi ông ta nói về điều khiến cho vấn đề trở nên đáng buồn gấp đôi. Lúc ông ta nói chuyện với người say nọ, anh ta đã trả lời bằng một giọng nói mang âm điệu Tô-cách-lan. Đây là một nhập đề thật khéo. Ông ta đã kể lại một từng trãi riêng tư là điều bao giờ cũng lý thú nếu nó không đề cao chính người kể chuyện, và được mọi người có thiện cảm với bài giảng ngay từ lúc mới được bắt đầu. Một nhật báo địa phương kể lại việc người ta mới phát giác một ngôi mộ của người Da Đỏ trong đó có nón, giày bằng da nai, dao và nĩa, và nhà truyền đạo đã lợi dụng biến cố thời sự này làm khởi điểm cho bài giảng của ông ta về đời sống tương lai. Một vị khác, lúc các vấn đề kinh tế đang gây rắc rối cho cả công đồng, đã giảng cho Hội chúng của mình một bài giảng hoàn toàn tương phản về “Sự bình an của Chúa Cứu Thế”. Những điều đang chiếm hàng đầu trong tâm trí quần chúng bao giờ cũng là điểm dễ tiếp xúc nhất nếu chúng được lợi dụng thật khôn khéo và bén nhạy, nhưng rốt cuộc, thành công trong vấn đề này tùy thuộc vào sáng kiến của nhà truyền đạo. Xin nhớ là mình cần phải khiến được cho người ta chú ý, và một khi đã làm được như thế rồi, thì phải nỗ lực tối đa để duy trì nó.
    Trước khi kết thúc chương sách này, thiết tưởng cần đặt câu hỏi: “Phần nhập đề phải chiếm bao nhiêu thì giờ?” Điều này tùy thuộc thì giờ của bài giảng. Vì bài giảng vốn giống bất cứ một bài diễn văn, giảng thuyết theo hình thức nào, ngoại trừ khi việc sử dụng câu gốc có thể quyết định cho khởi điểm rồi, thì phần nhập đề của một bài giảng dài hai mươi lăm phút phải chiếm cùng một thì giờ với phần nhập đề của một bài nói chuyện hai mươi lăm phút về bất kỳ một đề tài nào khác. Nó không nên vượt quá năm phút - như là một quy luật - vừa đủ để thu hút sự chú ý phát triển mối bận tâm cần thiết và tạo được bầu không khí thuận lợi cho việc thảo luận đề tài. Tuy nhiên, yếu tố thời gian không phải là điều quan trọng. Nó có một chủ đích thực tiễn, chớ không phải là một mục tiêu lý thuyết hay kỹ thuật. Nếu phải dành cho nó thì giờ dài gấp đôi để có được kết cuộc ta mong muốn, thì cứ lợi dụng nó. Phải hoàn tất chủ đích của bạn. Phải đạt cho kì được mục tiêu “phải đả thông nó”. Người ta kể rằng Spurgeon nhiều khi đi lạc đề để kể lại một câu chuyện hay thuật lại một giai thoại nhằm khiến cho một người trong đám cử tọa có thái độ dửng dưng trước đó phải chú ý, hay khiến mọi người hãy chú ý sau một phút lơ đãng và ông đã bị chỉ trích là đã không bám sát chủ đề. Tuy nhiên, để đáp lời cho lời tố cáo ấy, ông trả lời là dù sao thì ông cũng vẫn “bám sát đối tượng” của mình đấy chứ.
    Tuy nhiên, một khi đã đạt được mục tiêu (đối tượng) do đó mà phần nhập đề đã được sử dụng, xin đừng trì hoãn mà phải đi ngay vào việc thảo luận chủ đề. Trong tác phẩm “The Theory of Preaching”, Tiến sĩ Phelps có ví sánh phần nhập đề của bài giảng với khung cửa của một ngôi nhà. Thí dụ minh họa này gợi lên rất nhiều ý hay. Chúng ta không nên giữ thiên hạ lại quá lâu trước cửa khi họ đang chờ đợi muốn vào trong nhà. Về một mặt nó không phải là cử chỉ tốt, mặt khác đó không phải là một phương pháp giảng đạo khôn khéo.
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG V
    Hãy chứng minh là có những yếu tố chung trong cách nhập đề cho các bài giảng đặt cơ sở trên chủ đề với những bài giảng có nền tảng là một câu gốc.
    Trực giác của nhà hùng biện trợ giúp như thế nào để thay đổi hình thức của phần nhập đề?
    Có lý do đặc biệt nào để giải thích tại sao ngay những lời nói đầu tiên của một bài giảng phải thu hút được sự chú ý của mọi người hay không?
    Theo ý bạn có thể nào khiến cho mọi người hãy chú ý đến tất cả các đề tài về tôn giáo hay không?
    Có những nhận định tổng quát nào khiến có thể thay đổi chiều dài của phần nhập đề?

    CÁC PHẦN CHÍNH
    Các phần chính với việc triển khai chúng - hay phần thảo luận - như cách đôi khi phần này của bài giảng vẫn được gọi là phần khai mở đề tài. Những gì đã xảy ra trước đó chỉ là hiên cửa để vào nhà, cho nên bắt đầu từ sự kiện này mà tầm quan trọng của các phần chính sẽ hiện ra ngay. Khi ghi chú cho một bài giảng, điều hiển nhiên là chúng đã được rút ngắn lại rất nhiều, nhất là nếu chúng phải được dùng đến trên tòa giảng. Về bản tính, chúng phải là phần tóm tắt hay toát yếu cho cả bài giảng. Phần tóm tắt hay toát yếu này, một khi đã được xếp thành hình thức bố cục dưới các tiêu đề súc tích thì sẽ được gọi là các phần chính.
    Nhưng ta có thể hỏi: Đâu là giá trị đích thực của các phần chính này? Phải chăng đó chỉ là việc giữ theo hình thức, hay các phần chính vốn nhằm vào một chủ đích hữu ích? Xin chúng ta hãy xét qua tiến trình soạn một bài giảng. Ngay khi bắt đầu làm việc về bất kỳ một đề tài cá biệt nào, việc phải làm đầu tiên là thu thập tài liệu. Ta phải viết ra hai hoặc ba tiêu đề để xếp vào phía dưới chúng các ý niệm đã thu thập được hoặc là chỉ cần viết ra các sự kiện lúc chúng đến lộn xộn với tâm trí và chờ cho đến khi số tài liệu thu thập được đã đầy đủ rồi mới tập họp chúng lại theo đúng phần hình thức. Hoặc cũng có thể là ta phải đọc tất cả các sách vở liên hệ đến chủ đề của mình trước, và chỉ viết ra những ý niệm mình nghĩ là sẽ có giá trị khi gặp chúng. Bây giờ thì ta đã tập họp được số tài liệu mà mình muốn sử dụng. Tiến trình tiếp theo là phân loại và phân nhóm có liên hệ với việc đưa ra một mục tiêu. Thế thì có gì xảy ra trong việc kiểm điểm vắn tắt lại tiến trình giảng dạy? Nó có nghĩa rằng, trước hết ta cần phải có các sự kiện, rồi đến công việc xếp chúng lại theo nhóm một cách hợp lý sao cho trước hết, tất cả các phần chính đều là một trợ cụ cho tư tưởng rõ ràng. Hơn thế nữa, các phần hay các phần chính đã được liên kết lại với nhau, nghĩa là cả bài thuyết giảng đã được sắp xếp lại theo thứ tự. Tiếp theo đó, các phần ấy đều được nối liền với mục tiêu và thế là tất cả đều đã kết hợp lại với nhau. Vậy, tư tưởng rõ ràng, được sắp xếp cách thứ tự và tư tưởng hợp nhất là kết quả không thể tránh được khi ta đã có một bài giảng được xây dựng theo cách ấy, và ngược lại, khi nào phương thức này không được noi theo, thì sẽ không có các kết quả ấy. Dầu sao thì vấn đề không phải là giá trị của việc người ta đã có được các phần chính; sự kiện là khi đã có một mục tiêu dứt khoát, với phần tư tưởng rõ ràng và việc sắp xếp các ý niệm hợp lý, thì những phần này là điều dĩ nhiên. Đây là một phương pháp chẳng riêng gì cho tòa giảng mà thôi, nhưng là phổ biến cho mọi hình thức thuyết giảng trước công chúng khi tư tưởng đã được tổ chức đâu ra đấy, được sắp xếp hợp lý và sẵn sàng để được giới thiệu cho một đám cử tọa bình dân.
    Một lợi điểm quan trọng khác nữa khi có được các tài liệu cho bài giảng đã được tổ chức lại thành nhóm như thế thì nỗ lực đòi hỏi nhà truyền đạo phải nhớ bài giảng của mình đã được giảm bớt đến mức tối thiểu. Sẽ là một gánh nặng khủng khiếp cho ông ta, nếu ông ta phải nhớ lại một số các ý niệm rời rạc không tài nào kết hợp lại nổi bằng mọi thứ liên tưởng nào đó. Điều thường xảy ra trong việc giảng dạy khi thiếu mất sự sắp xếp này, ấy là những người đã có một đầu óc hợp lý viết ra thật nhiều để rồi bị nô lệ ít nhiều cho những gì mình đã biết, hoặc là nếu họ chỉ nói mà không có cách ghi chú thì sẽ không có sự liên tục phải lẽ trong tư tưởng. Lẽ dĩ nhiên là về mặt lý thuyết, người ta không thể nào có được những ý niệm hoàn toàn cô lập, vì toàn thể hoạt động tinh thần của chúng ta đều bị buộc chặt vào nhau bằng thứ liên tưởng nào đó. Tuy nhiên đứng về mặt tương đối mà nói, thì quả thật, trừ phi các ý niệm của chúng ta có một sự sắp xếp hợp lý nào đó, tư tưởng của chúng ta sẽ hoặc ít hoặc nhiều bị rời rạc lộn xộn và vô hiệu quả. Mặt khác, khi nào tư tưởng tổ chức phải lẽ, thì các ý niệm nối tiếp nhau thật tự nhiên như nước đổ trên đồi xuống vậy. Khi nỗ lực tinh thần của ta được giảm bớt đến mức tối thiểu, như thế phần năng lực mà nếu sự việc xảy ra khác đi phải dành cho việc nhớ lại các ý niệm, sẽ được giải phóng được tập trung nhiều hơn vào những gì ta đang nói. Điều này giúp cho diễn giả diễn tả được tự do hơn, và cả nhờ đã suy nghĩ thông suốt mục tiêu của mình, lẫn vì nguồn năng lực của mình đã được giải phóng, niềm vui được giảng dạy của ta sẽ được tăng lên rất nhiều. Ta biết rõ con đường mình đang đi, biết rõ nơi đến mà cũng biết rõ khi nào mình muốn đến nữa. Tất cả các nhà truyền đạo đều biết rõ chỗ khác nhau của cảm giác mà mình từng trải trước một hội chúng khi mình hoàn toàn nắm vững được tư tưởng của mình, với những trường hợp như mình cảm thấy một thứ cảm giác rằng mình đã không soạn kỹ bài giảng. Kinh nghiệm trước quả là hởi lòng, hởi dạ; kinh nghiệm sau thì chúng tôi không thể dùng hình dung từ nào để mô tả nó cả. Cứ theo tỷ lệ thuận, khi ta làm cho các phần chính xác rõ ràng và cẩn thận thì nỗ lực trí năng trên tòa giảng của ta sẽ được giảm bớt đến mức tối thiểu và từng trải thỏa lòng nảy sinh từ việc mình nắm vững được chủ đề của mình.
    Còn một lợi điểm tối quan trọng khác nữa cũng cần phải ghi nhận. Mục tiêu của việc giảng dạy là thuyết phục để người nghe cải tà quy chánh. Nó phải nhằm mục đích thuyết phục. Bây giờ tâm trí chúng ta thuần lý cộng với một phần trình bày các ý niệm cách rõ ràng và đơn sơ. Ý niệm bao giờ cũng vừa đem đến sự thích thú lẫn lợi ích cho người nghe. Tất cả chúng ta đều thích một cách triển khai được sắp xếp có thứ tự về một đề tài, nhất là khi đó là một đề tài mà chúng ta đặc biệt quan tâm. Giờ đây, khi chúng ta đã sắp xếp tư tưởng cho riêng mình trước khi giảng dạy, chúng ta cũng đã làm y như thế cho những người nghe mình. Nhiều khi chúng ta lắng nghe một diễn giả có tài đề cập một chủ đề gì đó vốn là một vấn đề từng khiến chúng ta hoang mang, nhưng chỉ trong một giờ, hoặc có lẽ là ít hơn, các ý niệm của chúng ta về chủ đề ấy đã có được một dạng thức rõ ràng; hay nói khác đi, chỉ trong một tiếng đồng hồ, diễn giả đã làm được cho ta điều mà bản thân ta đã không làm được cho mình sau nhiều năm. Kết luận đạt được đã trở thành niềm tin quyết ngay tức khắc của chúng ta, nhưng chúng ta thường muốn ghi nhớ các diễn biến lý luận đã dẫn tới kết quả đó. Đâu là điều hữu hiệu nhất mà một diễn giả có thể làm để thực hiện việc ấy. Đó không phải là tập hợp tư tưởng lại dưới một tiêu đề dễ nhớ, là các phần chính, hay các bước trong lý luận sao? Một khi đã được ghi nhớ, các phần chính phải nhắc lại được cho người nghe, cả phần tài liệu cũng như phần khai triển của cả bài thuyết giảng. Một khi đã được vạch rõ và sắp xếp lại, chẳng những chúng tăng thêm niềm vui và quyền năng cho diễn giả, mà còn đem sự thích thú và sự lợi ích trường tồn chi thính giả nữa. Ở đây, chúng ta hãy xem một thí dụ để chứng minh rằng việc này là thật. Chúng ta hãy lấy đề tài “Hạnh phúc bền vững” có thể có mục tiêu là “Người ta chỉ tìm được hạnh phúc bền vững trong Chúa Cứu Thế mà thôi”. Chúng tôi xin gợi ý các điểm sau đây:
    1. Mọi người đều tìm cầu hạnh phúc.
    2. Mọi lợi ích trần gian đều có tính chất tạm thời.
    3. Hạnh phúc tìm được trong Chúa Cứu Thế cũng bền vững với đời sống.
    Khai triển các điểm trên tương đối khá dễ dàng và phần tài liệu cho toàn bài giảng có thể được ghi nhớ dễ dàng chỉ bằng cách nhớ lại mấy câu trên.
    Một câu hỏi cần lưu tâm ở điểm này là “Các phần chính của bài giảng có cần phải được nhấn mạnh rõ ràng mỗi khi giảng dạy hay không?” Thế thì, có những trường hợp một hình thức phát biểu nào đó sẽ không nên nói ra. Trong một bài giảng nhằm vào tình cảm nhiều hơn là phần trí tuệ thì bất cứ điều có vẻ như muốn kêu gọi sự chú ý cho một trường hợp như thế, để cho những gì được nói ra có thể trở thành có giá trị trường tồn cho người nghe, các phần chính phải tạo ra được những ấn tượng mạnh mẽ cũng như thể chúng đã được nêu lên cách rõ ràng. Tuy nhiên, chẳng có mấy bài biễn văn hay bài giảng thuộc dạng mà, đến độ lằn ranh tư tưởng không thể đề cập cách hoàn toàn rõ ràng. Điều cũng nên rất thường làm, là khi bắt đầu một phần chính mới của một bài thuyết giảng, nên gắn liền nó với phần đi trước, sao cho tính cách tiệm tiến của phần thảo luận có thể trở nên rõ ràng. Trong tất cả các bài giảng thuộc loại giáo lý hoặc nghị luận - cũng như phần chính các bài giảng khác - chúng ta sẽ tạo được ấn tượng hữu hiệu hơn là bằng cách chỉ rõ các bước trong phần khai triển tư tưởng. Điều này cũng thêm phần thích thú cho người nghe và giúp ngưới ấy dễ nhớ những gì đã được nói hơn.
    Với người chỉ mới bắt đầu giảng dạy và nhiều người khác nữa chưa thụ huấn một giáo trình tuyên đạo pháp có hệ thống; câu hỏi tự nhiên sẽ nảy sinh tại điểm này là: “Tôi phải làm sao để xây dựng các phần chính của một bài giảng?” Đây là một vấn đề quan trọng và là một vấn đề cũng không phải là không khó khăn ngay cả với những người đã từng viết nhiều. Sau khi đã quyết định chọn một đề tài rồi, chúng ta phải bắt đầu lập một bố cục, hay phải thu thập các tài liệu trước, và lập bố cục sau? Lẽ dĩ nhiên là về mặt lý thuyết, người ta không thể lập một bố cục về một chủ đề nào đó liên quan tới những gì mình chưa biết. Tuy nhiên, trong thực tế chúng ta rất ít khi hay chẳng bao giờ chọn một đề tài với một tâm trí hoàn toàn rỗng tuếch, nhưng thường thường, do sự quan tâm nảy sinh nhờ đọc một câu Kinh Thánh, hoặc nhờ một từng trải nào đó, đã thúc đẩy chúng ta. Chủ đề được chúng ta biết hay không, chỉ theo nghĩa tương đối mà thôi. Cho nên khi cần trả lời cho câu hỏi trên ta có thể bảo rằng cả hai phương pháp đều được áp dụng. Lắm khi, do chúng ta đã có đầy đủ kiến thức về chủ đề cần khai triển, chúng ta có thể bắt đầu bằng cách lập bố cục, sau đó mới chọn chất liệu để triển khai các ý niệm của mình. Phương pháp này rất dễ bị chỉ trích là không khoa học, nhưng ta có thể biện minh rằng trong một phạm vi rộng nó sẽ giúp phương hướng và mục tiêu cho việc đọc hay nghiên cứu của chúng ta. Dầu sao thì phần đông quí vị truyền đạo đều tin quyết vào những vấn đề họ trình bày trên toà giảng, cho nên việc hình thành một chủ đề vốn được thực hiện bằng cách chọn lọc các sự kiện hơn là việc sưu tầm chúng. Niềm tin quyết tiềm ẩn sau các sự kiện sẽ tạo sức mạnh cho việc giảng.
    Phương pháp thu thập tài liệu hoặc các sự kiện trước bất kỳ một cố gắng nào nhằm xây dựng một bố cục thì khoa học hơn, vì cách tiếp cận phải lẽ, đứng đắn đến việc thảo luận bất kỳ một đề mục nào, cũng là phải tập hợp các sự kiện, sau đó mới phân loại và sắp xếp chúng lại. Chẳng có gì để nghi ngờ việc làm đó là tiến trình đúng để bắt đầu bất cứ một công trình nghiên cứu nào mà ta nhận thấy là mình đang có quá ít thông tin. Kế hoạch này thường được các tác giả tuyên đạo pháp gợi ý là phương pháp tiến hành đúng.
    Rất có thể đa số người đã sử dụng cả hai phương pháp, tùy theo họ đang có ít nhiều kiến thức về đề tài cần khai triển. Khi có một bố cục tạm được xây dựng, ngay lúc bắt đầu cuộc truy tầm nghiên cứu, tâm trí bao giờ cũng phải chuẩn bị sẵn cho phần nhập đề của số tài liệu mới và bất ngờ. Rất có thể điều nầy chẳng những làm thay đổi bố cục, mà còn phải sửa đổi cả mục tiêu, và đưa tới chỗ phải đổi thay luôn điểm nhấn mạnh. Như thế, một bố cục lập ngay từ đầu có thể không được xem là một cái khuôn để ta phải ép vào đó mọi tư tưởng, mà đúng hơn đó là một cách thử hay một gợi ý nhằm tổ chức phần tài liệu; một bố cụa như thế phải có tính chất uyển chuyển đến độ cuối cùng có thể được điều chỉnh đến với bất luận các sự kiện nào được khám phá thêm trong sự nghiên cứu của chúng ta.
    Nhưng giả sử đề tài đã được quyết định rồi, mục tiêu đã được vạch ra rồi, và các tài liệu đã được sưu tập xong xuôi, thì nguyên tắc nào sẽ chỉ đạo việc sắp xếp và minh định các phần chính ấy? Vâng, trước hết chúng phải liên quan với đề tài, và có liên hệ trực tiếp với việc khai mở hay thể hiện mục tiêu. Cũng như trong văn chương, mỗi câu đều phải góp phần vào ý niệm được diễn tả trong một phân đoạn, và mỗi chương đều phải phù hợp với vấn đề thảo luận trong chương ấy, rồi tất cả các chương đều có liên hệ với toàn bộ quyển sách làm sao, thì cũng vậy, mỗi phần chính của một bài giảng phải tạo ra một bước trong việc xác lập chân lý của mục tiêu. Nếu phẩm chất nầy bị thiếu mất trong các thành phần cấu tạo nên bài giảng, thì thường là do các tài liệu vốn không phù hợp, hoặc vì chúng không được vạch đủ rõ trong các tiêu đề.
    Tiếp theo, chúng phải là một sự triển khai hợp lý, hay vạch rõ diễn tiến của tư tưởng. Như tất cả mọi bài giảng đều phải có một phần mở đầu, một nội dung và một kết luận thì mỗi phần cũng phải có chuyển biến đi tới. Phần chính thứ nhất phải bắt đầu sự thảo luận và tiếp tục nó cho đến hết phần đặc biệt đã được dành cho nó trong đề tài. Chỗ phần chính thứ nhất chấm dứt, thì phần chính thứ hai phải tiếp tục thật hợp lý và đẩy mạnh tư tưởng về phía trước mà không được lặp lại điều mà phần thứ nhất đã bàn cãi xong rồi. Khi có một tài liệu có thể đưa vào cả phần nầy lẫn phần kia, thì bài giảng bị mất đi cách sắp xếp phải lẽ, vì bất kỳ một sự kiện đặc thù nào cũng phải có một chỗ cho nó, và chỉ nên có một chỗ duy nhất mà thôi, trong phần khai triển đề tài. Cho nên mỗi phần chính phải dẫn tư tưởng tới gần hơn với điểm mà ta nhằm vào làm mục tiêu của bài giảng hay nói khác đi gần hơn với phần bày tỏ cho chân lý của mục tiêu.
    Cần lưu ý trong những bài giảng theo câu gốc, khi các phần của câu gốc tạo thành các phần chính thì diễn tiến của tư tưởng nhất thiết phải theo cùng một thứ tự như nó đã xuất hiện trong Kinh Thánh. Một thí dụ cho điểm này là trong một bài giảng của Spurgeon có nhan đề: “Đã thế nào... thì cứ thế ấy” đặt nền tảng trên CoCl 2:6 câu gốc chép: “Anh em đã nhận Đức Chúa Giê-xu Christ thể nào, thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy ” Cách chia các phần chính của Spurgeon như sau:
    1. Sự kiện được minh định: “Anh em đã nhận Chúa Giê-xu Christ”
    2. Lời khuyên đưa ra: “Hãy bước đi trong Ngài thể ấy”
    3. Kiểu mẫu giới thiệu: “Như anh em đã nhận Ngài”
    Cần chú ý là ở đây, phần thứ nhất của câu gốc nhằm nhấn mạnh cho phần thứ ba của bài giảng. Tại sao vậy? Vì mục tiêu của bài giảng quyết định cho thứ tự của các tài liệu. Nó được sắp xếp để tạo thành một lời kêu gọi người Cô-lô-se cứ duy trì lòng nhiệt thành mà trước đó họ đã dùng tin nhận Chúa Cứu Thế Giê-xu làm khuôn mẫu cho sinh hoạt hằng ngày của họ. Vậy, dàn bài hợp lý là sử dụng các phần của câu gốc theo thứ tự mà chúng xuất hiện, để đưa phần thứ ba lên đầu dành chỗ cho tác động tâm lý. Tuy nhiên, phương pháp này không xung khắc với nguyên tắc mà chúng ta đã nhấn mạnh. Đây là một thí dụ về trường hợp nếu được phép dùng cách nói nghịch lý, thì phương pháp tâm lý trở thành hợp lý. Như thế, phương pháp hợp lý để đạt được tột đỉnh tâm lý là dùng phần câu gốc có tác dụng đối với phương diện tình cảm trực tiếp nhất cuối cùng.
    Cùng một bố cục ấy của C. H. Spurgeon có thể được dùng để minh hoạ cho phẩm tính thứ ba của mọi phần chính tốt. Chúng phải được đưa ra càng đơn giản càng hay. Như trong bố cục trên ông nói: “Sự kiện được minh định, lời khuyên đưa ra và kiểu mẫu giới thiệu.” Trong tu từ học, bút pháp đơn sơ bao giờ cũng có hiệu quả tốt, và không có trong hình thức văn chương hay cách nói nào, nó lại có giá trị hay tầm quan trọng lớn hơn là khi xây dựng một bố cục. Thỉnh thoảng chỉ cần một hoặc hai từ để ghi khắc một tư tưởng vào tâm trí. Thí dụ một bài giảng theo câu gốc về đề tài “Sự sống phục sinh” trong CoCl 3:1, 2 (bản dịch cũ) được gợi ý như sau:
    1. Một lời thách thức: “Vậy nếu anh em được sống lại với Đấng Chirst.”
    2. Một lệnh truyền: “Hãy tìm các sự ở trên trời, là nơi Đấng Christ ngồi.”
    3. Một nét tương phản: “Đừng ham mến các sự ở dưới đất.”
    Tuy nhiên, tính cách giản đơn không hạn chế tiêu đề bằng một hoặc hai từ mà thôi. Lắm khi chúng có thể gồm những câu thật dài vì điều này thường cần thiết để được rõ ràng. Những bài giảng theo phương pháp suy luận, khi các phần chính gồm một loạt các suy luận rút ra từ một câu gốc, hầu như nhất thiết phải có đặc tính này. Trong một bài giảng của Maclaren đặt nền trên Gia Gc 2:23 “Ông còn được gọi là bạn của Thượng Đế”, năm điều suy diễn hay phần chính đã được đưa ra và được trình bày thành năm câu như sau: 
    1. Bạn hữu thì tin cậy và yêu thương nhau
    2. Bạn hữu thì đối xử với nhau với thành thật, thân tình
    3. Bạn hữu thì thích đáp ứng các ao ước của nhau
    4. Bạn hữu hay tặng quà cho nhau
    5. Bạn hữu thì nâng đỡ nhau.
    Mỗi câu trên đây đều khá dài, nhưng câu nào cũng đơn giản và cần thiết cho loại triển khai này. Tuy nhiên, cần lưu ý là cùng một sự cân đối về dạng thức hay cách diễn đạt cần được thực thi cách tốt nhất trong các giới hạn của cùng một bài giảng, nghĩa là không thể có một phần chính chỉ gồm một chữ duy nhất, còn những phần khác lại là những câu dài. Trong thực tế không nên có một dạng thức trái qui tắc trừ phi ta không có trong tâm trí một khởi điểm hay mục tiêu rõ ràng. Trong các thuật ngữ, sự việc ấy thường do hậu quả của sự thiếu kém trong việc thiết lập “fundamentum divisionis”, hay căn bản của chính, như được gọi trong các từ luân lý. Khi có được sự đồng nhất hay cân đối trong cách đặt câu dùng chữ này, nét dịu dàng đẹp đẽ được thêm vào cho vẻ quyến rũ của sự giản đơn. Nó thêm cho nét hào hoa của bút pháp sức hấp dẫn của cách trình bày, chẳng những đem đến sự thích thú tạm thời cho thính giả, mà còn giúp cho ấn tượng được lưu giữ dài lâu.
    Phẩm chất thứ tư của việc chia các phần chính cho một bài giảng thật khéo léo là các phần ấy phải là một mệnh đề trọn vẹn. Chúng ta từng ghi nhận là phải có một khởi điểm hợp lý cũng như một điểm dừng lại thật rõ ràng dứt khoát. Phần chính thứ nhất phải bắt đầu sự thảo luận và đưa nó đi xa đến mức cần thiết để bao phủ một vùng đất do nhan đề chỉ định, phần chính thứ hai phải tiếp nối đúng ngay nơi phần chính thứ nhất đã dừng lại và cứ thế cho các phần lớn tiếp theo, rồi đến khi phần chính cuối cùng chấm dứt, nó phải rõ ràng đối với tâm trí của nhà truyền đạo là mình đã hoàn tất mục tiêu qui định.
    Tóm lại, diễn tiến của việc này rất đơn giản, thế nhưng điều đáng ngạc nhiên về nó, ấy là có rất nhiều người có học vấn, vẫn giảng dạy luôn, nhưng dường như lại thất bại thật đáng buồn khi ứng dụng các nguyên tắc sơ đẳng này. Điều dường như rất cần phải lưu ý, căn cứ vào tầm quan trọng của việc giảng dạy và cơ hội quý báu mà tòa giảng dành cho mình, ấy là đã có quá ít người lãnh hội được thật đầy đủ các đặc tính căn bản của những bài giảng thành công. Kinh Thánh vẫn còn cả một kho tàng phong phú như bao giờ; hiện vẫn còn đầy đủ các nguồn tài nguyên trong từng trải hằng ngày của chúng ta, dồi dào chẳng kém gì trong quá khứ, nhưng chúng vẫn đang bị bỏ không cho đến khi nào chúng ta học biết được phương pháp sử dụng chúng. Đến đây thì câu hỏi tự nhiên được đặt ra là: “Một bài giảng phải có bao nhiêu phần chính?” Ý niệm cổ xưa là phải có đúng ba phần chính chớ không được nhiều hơn. Tuy nhiên một dàn bài như thế là hoàn toàn độc đoán theo hình thức và giả tạo. Khi xếp nhiều bố cục lại với nhau, việc vẫn thường xảy ra là sẽ có ba phần chính, nhưng không phải vì việc đó đã được nhất định trước theo con số đòi hỏi ấy mà vì chúng chu toàn được mục tiêu, và do chẳng cần chi phải có nhiều hơn nữa. Trong thực tế, con số ấy có thể là từ hai đến sáu. Rõ ràng là không thể có ít hơn hai, vì nếu chỉ có một thì câu nói lên điều duy nhất đó sẽ thành mục tiêu, và đến lượt chúng, các phần phụ sẽ trở thành những phần chính. Mặt khác, trong giới hạn bài giảng dài hai mươi lăm phút, người ta chỉ có thể khai mở hay gọt dũa trau chuốt cho một con số giới hạn các lập trường, và tăng con số ấy lên trên năm hoặc sáu, chỉ còn là một cách liệt kê các quan điểm, chớ không có thể là mài dũa đẽo gọt chúng nữa. Thông thường sẽ có ba hoặc bốn tiêu đề chính cho mỗi bài giảng, nhưng trong mọi trường hợp, điều này phải do mục tiêu quyết định, vì cách hoàn tất nó luôn luôn quyết định cho con số sử dụng.
    Ở đây, thiết tưởng cần gợi ý đôi điều về vài loại bài giảng tổng quát và việc chia các phần chính liên quan đến chúng. Trước hết có một loại bài giảng chỉ cần hai phần chính. Chúng được căn cứ vào những đoạn Kinh Thánh trình bày hai nét tương phản. Có thể thấy các thí dụ minh họa cho loại bài giảng này trong những khúc sách như phần cuối của IICo 2Cr 4:18 “Vì điều thấy được chỉ là tạm thời, còn điều không thấy được là trường tồn, bất diệt .” Cũng có nhiều khúc Kinh Thánh như con đường khoảng khoát và đường hẹp, ngôi nhà xây trên tảng đá và ngôi nhà xây trên cát. F. W. Robertson có một bài giảng lý thú về loại này chẳng những chỉ là một mẫu bài giảng gồm hai phần mà nó còn hấp dẫn vì phương pháp khai triển nữa.
    Một nhà viết tuyên đạo pháp có tiếng giới thiệu bốn điểm “Thường xuyên”: Thường xuyên nuôi dưỡng một ý thức sống động hơn về các thực tại của bức thông điệp Phúc Âm; thường xuyên nuôi dưỡng thói quen tuyên đạo; thường xuyên nuôi dưỡng thái độ quen thuộc với các nguồn tài liệu; thường xuyên có sự hiện diện của một tiêu chuẩn giảng dạy thật cao.
    THẦY BIỆT LẬP VÀ NGƯỜI THU THUẾ (LuLc 18:9-14)
    Nhập đề : Bài giảng này là một công trình nghiên cứu hai loại người, vạch rõ nguy cơ của thói tự thị tự mãn và giá trị của đức khiêm hạ.
    I. TINH THẦN TỰ MÃN
    1. Hài lòng với điều tốt mã. Ông ta kể ra các tội mà mình không phạm. Câu 11
    2. Hài lòng với các hành động theo nghi lễ “Mỗi tuần tôi nhịn ăn hai ngày.” Câu 12
    3. Tự thị tự mãn làm nảy sinh lòng khinh thường người khác “Khác hẳn tên thu thuế kia.” Câu 11
    4. Hài lòng dẫn đến đạo đức giả “Cảm tạ Thượng Đế, tôi không có tội như người ta.” Câu 11
    5. Hài lòng dẫn tới việc cầu nguyện đầu môi chót lưỡi. Đây là một bài giảng cho Thượng Đế nghe, không phải là cầu nguyện.
    II. TINH THẦN ĐAU THƯƠNG THỐNG HỐI
    1. Ý thức phạm lỗi. “Con là đứa tội lỗi.”
    2. Kêu xin được thương xót: “Xin thương xót con.”
    3. Thú tội: “Con là đứa tội lỗi.”
    Kết luận : Đâu là người mẫu cho bạn?
    Bạn có noi theo ngay bây giờ không?
    Cách lập bố cục ở đây thật đơn giản. Ngay khi quyết định giảng về một đề tài như thế, sẽ chẳng có gì khó khăn liên hệ với các phần chính, vì chúng đều đã được quyết định cả rồi. Chỗ khéo léo trong một bài giảng như thế là tài năng gợi lên được những loại người hiện đại tương hợp với thầy biệt lập và người thu thuế và dùng những suy diễn như thế để ứng dụng, hầu làm nảy sinh tinh thần tự xét mình nơi các thính giả. Thực hiện toàn hảo việc này là một nhiệm vụ vô cùng tế nhị, và đòi hỏi phải có tài năng khác thường.
    Với những người mới bắt đầu giảng dạy, hay những người gặp khó khăn trong việc xây dựng các bố cục, xin có một gợi ý có lẽ là có giá trị liên hệ với các bài giảng đặt cơ sở trên những đoạn thuật sự. Cũng như với những đoạn Kinh Thánh mà các nét tương phản đã nằm ngay trong đó rồi, lẽ tự nhiên sẽ tự cho chúng ta “vay mượn” những bài giảng chỉ gồm hai phần chính mà thôi; có những đoạn thuật sự cũng sẵn sàng để được chia làm ba phần. Lẽ dĩ nhiên, cần phải hiểu rằng gợi ý này không hề ngụ ý bảo rằng tất cả các đoạn Kinh Thánh ấy đều phải chia ra thành đúng ba phần chính không được nhiều hơn mà cũng không được ít hơn, như trường hợp có sự tương phản, mà chỉ ngụ ý bảo rằng với những ai cần được trợ giúp, thì luôn luôn có thể soạn ra một bài giảng gồm ba phần. Tất cả các đoạn thuật sự trong Kinh Thánh và điều này có thể ứng dụng đặc biệt với các sách Phúc Âm và sách Công Vụ đều (có thể) chia làm ba phần: Cơ Hội, Biến Cố và Hậu Quả. Đó là những từ ngữ hết sức bao quát, có thể được sửa đổi theo từng đoạn thuật riêng rẽ được nghiên cứu, nhưng ba phần chính của đoạn thuật sự đó bao giờ cũng có thể có được. Bản tính của việc sửa đổi có thể thấy nhờ một thí dụ. Xin chúng ta lấy phần ký thuật về vị quan trẻ tuổi giàu có được chép trong Mac Mc 10:17-31. Ba phần của bài giảng có thể chia thành: 1. Cuộc gặp gỡ 2. Cuộc đối thoại 3. Hậu quả. Nếu muốn, các phần này có thể được quảng diễn để gợi ý trực tiếp hơn đặc tính của mỗi phần như sau đây.
    1. Cuộc gặp gỡ đầy phước hạnh.
    2. Cuộc đối thoại đầy lý thú
    3. Hậu quả đáng buồn
    Một thí dụ khác nữa có thể đưa ra từ sách Công Vụ (chương 16) nơi chúng ta có phần ký thuật về việc Phao-lô bị bắt giam rồi được trả tự do. Trong trường hợp này, cơ hội, biến cố và hậu quả có thể được chuyển thành bị bắt, bị giam và được thả. Hay nếu muốn thì có thể diễn rộng thêm và có thể đưa ra như sau:
    1. Cuộc bắt người bất hợp pháp
    2. Vụ bỏ tù tàn bạo
    3. Sự phóng thích vui vẻ
    Lẽ dĩ nhiên, đặc tính của sự sửa đổi sẽ tùy thuộc vào mục tiêu, điểm nhấn mạnh cá biệt mà ta muốn dành cho phần thuật sự. Thí dụ có thể được tiếp tục hầu như vô tận.
    Dàn bài này chỉ đơn giản có nghĩa là bạn phải làm cả phần ký thuật từ đầu chí cuối, ngắt nó ra thành nhiều đoạn phù hợp với việc tập hợp tài liệu. Khi sử dụng dàn bài này, ta có thể tránh được cho các bố cục có phần mặt ngoài rất giống nhau bằng cách sửa đổi chúng căn cứ vào các câu đề cập những biến cố riêng biệt cho từng đoạn thuật sự.
    Tuy nhiên, vẫn còn có cách triển khai bố cục sâu rộng hơn nữa, liên hệ với các nội dung của từng đoạn sách. Việc này bao hàm trong cách đặt các tiêu đề của bài giảng, không những nhắc lại bản tính của vấn đề được thảo luận, mà còn chỉ rõ thái độ của nhà truyền đạo đối với những gì đã được nói trong đó. Khả năng để thực hiện hoàn hảo điều này là dấu hiệu của thiên tài. Đây là một trong những nét đặc trưng gây kinh ngạc của các bài giảng của Maclaren. Sau đây là một thí dụ minh hoạ: Ông có một bài giảng nhan đề là: “Danh Trên Hết Mọi Danh”, đặt nền trên Cong Cv 2:31. Câu Kinh Thánh ấy chép rằng: “Vậy, xin toàn thể đồng bào nhận thức cho chắc chắn: Chúa Giê-xu mà đồng bào đóng đinh trên cây thập tự đã được Thượng Đế tôn làm Chúa Tể vũ trụ và Cứu Tinh của nhân loại ”. Câu gốc đã được xử lý bằng một phương cách hầu làm sáng tỏ ý nghĩa của mấy câu “Giê-xu”, “Chúa”, “Đấng Cứu Thế” và ba phần chính của bài giảng được căn cứ vào ba “danh” ấy. Vậy có một cách để vạch rõ ba phần đó là:
    1. Tầm quan trọng của danh “Giê-xu”
    2. Ý nghĩa của danh “Chúa”
    3. Sự diễn đạt của danh “Chúa Cứu Thế”
    Tuy nhiên cách chỉ ra các phần như thế không đưa ra được đầu mối cho những gì nhà truyền đạo sắp nói trong phần thảo luận từng phần một, ngoại trừ việc chúng đều được định nghĩa. Nhưng hãy chú ý cách chia phần của Maclaren.
    1. Danh “Giê-xu” là tên của một người, và nói với chúng ta về một người anh em.
    2. Danh “Chúa Cứu Thế” là tên của một chức vụ (chức danh), dẫn chúng ta đến với một vị Cứu Tinh (Cứu Chúa).
    3. Danh “Chúa” là tên chỉ phẩm giá và đưa đến trước mặt chúng ta một vị vua.
    Trong các tiêu đề trên, ý nghĩa của các các từ ngữ đã được minh giải thành một trong các phần chính. Cũng xin lưu ý vẻ cân đối lộng lẫy của các câu. Lắm lúc người ta phải nhìn thấy cái lợi của việc tạm giấu đi quan điểm của mình để tạo ra một bầu không khí “hồi hộp”, hay khi một câu vạch rõ lập trường của mình tốt nhất cần được che giấu vì nhiều lý do khác nữa, nhưng ngoài các vấn đề này, việc áp dụng phương pháp này sẽ là một lợi điểm lớn. Xin chúng ta hãy khảo sát những trường hợp được nêu lên ở trên và áp dụng phương pháp này. Trong trường hợp vị quan trẻ tuổi giàu có, bố cục được gợi ý như sau: Cuộc gặp gỡ, cuộc đối thoại, và hậu quả. Các từ ngữ ấy chỉ đơn giản chia phần cho đoạn thuật sự, nhưng không cho thấy gì về số tài liệu được đưa vào. Vậy, để đưa phần thảo luận vào, chúng ta hãy sửa đổi chúng bằng cách bảo rằng:
    1. Vấn đề viên quan đặt ra cho Chúa Giê-xu
    2. Cuộc đối thoại về sự sống vĩnh hằng
    3. Viên quan không bằng lòng đáp ứng các đòi hỏi của Chúa Giê-xu
    Phần thứ nhất cho biết những ai đã gặp nhau, điều gì khiến họ gặp nhau; phần thứ hai cho biết câu chuyện bàn về gì, và phần thứ ba cho biết kết quả ra sao. Như thế, cả câu chuyện đã được tóm tắt trong các phần chính.
    Tuy nhiên, những bài giảng gồm ba phần mà chúng ta đã thảo luận cho đến điểm này, đều thuộc loại qui nạp (inductive) khi đoạn thuật sự hay một phần khá lớn của Kinh Thánh được dùng làm cơ sở cho bài giảng. Cũng còn một loại khác, khi một bài giảng được xây dựng chỉ trên một câu Kinh Thánh, hoặc có lẽ chỉ là một phần của một câu Kinh Thánh mà thôi. Một gợi ý để giúp bạn trong loại bài giảng này cũng được đưa ra trong phương pháp giảng theo một bản Kinh văn rồi. Một thí dụ minh họa thuộc loại này đã được đưa ra trong một chương khác dưới nhan đề: “Đã thế nào...thì cứ thể ấy”, khi chính các phần câu gốc được dùng làm cơ sở để chia phần. Có rất nhiều câu gốc có thể sử dụng theo cách đó. Sau đây là một thí dụ. Trong Thi Tv 34:5, chúng ta đọc thấy: “Chúng ngửa trông Chúa thì được chói sáng, mặt họ chẳng hề bị hổ thẹn ”. Sau đây là một bài giảng về “Một cuộc đời ngời sáng.” Ba phần chính được gợi ý ngay:
    1. Nguồn gốc của đời sống ngời sáng. “Họ ngửa trông Chúa.”
    2. Ảnh hưởng trên người ngửa trông Chúa. “Họ được chói sáng.”
    3. Phản ứng trước người thế gian: “Mặt họ chẳng hề bị hổ thẹn.”
    Nhưng có nhiều loại bài giảng không nằm trong số các loại vừa kể trên, và chẳng có cách nào để mô tả từng câu và từng loại văn bản có thể được tiếp cận như thế nào, sao cho các phần chính đều trở thành rõ ràng. Phần trên đây chỉ nhằm nêu ra vài ích lợi nhất định cho những ai chỉ vừa mới bắt đầu, hoặc những ai đang gặp khó khăn trong công tác của mình, còn nắm vững được đủ loại bài giảng như thế sẽ là một trợ giúp lớn lao trong mọi nỗ lực tuyên đạo.
    Từ nội dung của chương sách này, chắc các bạn đã thấy rõ niềm tin sâu sắc của tác giả vào công tác giảng dạy giải kinh. Nghệ thuật này, hầu như đã bị đánh mất. Tuy nhiên, Kinh Thánh vẫn lý thú, như tự bao giờ. Đó là bộ sách duy nhất chẳng bao giờ ngưng xuất bản. Theo sở thích của con người, thì Shakespeare và Milton không thuộc cùng một hạng với nhau. Những ai tưởng rằng thiên hạ chẳng còn quan tâm muốn nghe Kinh Thánh được giải nghĩa nữa, chắc chắn là đang hiểu lầm những ước ao khao khát của lòng người. Họ rất cần nó, nếu được trình bày một cách mới mẻ, độc đáo, giúp ích được cho người ta. Niềm hy vọng duy nhất của nền văn minh chúng ta là một kiến thức sâu nhiệm hơn về Kinh Thánh và ứng dụng những lời truyền dạy của nó vào đời sống. Kinh Thánh càng được truyền dạy và giải nghĩa nhiều bao nhiêu, thì giảng dạy cũng sẽ chu toàn được chức năng của mình càng đầy đủ hơn bấy nhiêu.
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG VI
    1. Nếu không minh định được các phần chính thì có thể có tư tưởng rõ ràng về một đề tài hay không?
    2. Một khi đã chia phần cho bài giảng của mình thật rõ ràng, nhà truyền đạo còn được thêm niềm vui thú phụ trội nào nữa?
    3. Tại sao các ẩn dụ của Chúa Giê-xu đều rất dễ nhớ? Hãy cho thí dụ minh họa cho câu trả lời của bạn.
    4. Có mối liên hệ nào giữa nguyên tắc nằm ngay trong các ẩn dụ, với các phần lớn của một bài giảng tốt?
    5. Tất cả các bài giảng có cần phải được khai triển thật hợp lý?
    6. Cho một thí dụ minh họa bằng một bố cục thật độc đáo (original) về chỗ khác nhau giữa cách triển khai hợp lý và tâm lý một bài giảng.
    7. Cho một thí dụ minh họa về một bài giảng độc đáo hay chọn lọc có một bố cục hội đủ các phẩm chất từng được đề cập và được xem là cần thiết để lập một bố cục tốt.
    8. Bạn có cho rằng một bài giảng có đến tám phần (lớn) là quá nhiều không? Nếu có thì tại sao?
    9. Cho một bố cục độc đáo về một đoạn thuật sự nào đó của Tân Ước, trong đó chỉ cần có hai phần chính mà thôi.
    10. Bạn đánh giá thế nào các bố cục bài giảng được đăng trên các tạp chí? Đâu là các nguy cơ khi sử dụng chúng?
    KẾT LUẬN
    Các phần chính và công tác triển khai, chúng hoàn thành mục tiêu. Thế tại sao cần có phần kết luận? Đây là phần bài giảng để kiểm điểm nhắc lại, hay đưa ra một lời kêu gọi nhằm ứng dụng chân lý của mục tiêu. Ưu hay nhược điểm của lời kêu gọi này được quyết định phần chính là do tính cách rõ ràng mà mục tiêu đã được trình bày, và mức độ thành công mà bài giảng đã được truyền rao. Nó đã có ý nghĩa gì cho nhà truyền đạo - nói khác đi là niềm tin của ông ta vào bài giảng của mình - cũng ảnh hưởng quan trọng đến sức mạnh của lời kêu gọi. Khi soạn thảo phần kết luận, nhà truyền đạo cần tự hỏi: “Bài giảng này có thuyết phục được thiên hạ về chân lý của mục tiêu hay không, nếu trước khi nghe nó họ vẫn chưa tin, và nghe nó bằng một tâm trí cởi mở?” “Bài giảng này có thức tỉnh, thuyết phục tôi nếu tôi là một người lãnh đạm được nghe nó?” Trừ phi bản thân ông ta tin như thế, và tin thật mãnh liệt như thế, thì rất khó trông mong rằng nó sẽ thuyết phục được người khác. Nếu đó là lời kêu gọi phải sống thiện hảo hơn, thì phần quan trọng mà nhà truyền đạo phải thực hiện, là chính mình phải sống theo cái lý tưởng ấy. Thiên hạ thường lý giải điều một người nói trên tòa giảng căn cứ vào những gì người ấy làm khi xuống khỏi đó. Một bài giảng về giáo lý hoặc lý luận có thể thành công nhiều hoặc ít khi không có yếu tố về cá tính (của nhà truyền đạo) chen vào tuy nó rất được ưa chuộng; nhưng muốn đưa thiên hạ đến chỗ chấp nhận và ứng dụng các lý tưởng luân lý, đạo đức và tôn giáo, nhà truyền giáo phải có cùng một cao vọng như thế. Cho nên, điều mà một người làm khi xuống khỏi tòa giảng rồi, ảnh hưởng rất quan trọng đến những gì ông ta đã làm lúc đứng trên đó. Ta phải có một niềm tin sâu sắc vào vấn đề ấy, và có cảm giác rằng nó có quan hệ sinh tử cho đời sống của mọi người, rồi giảng nó ra với lòng trông mong họ tiếp nhận sứ điệp của nó. Trong các bài giảng của các sứ đồ, đã không có gì rõ ràng hiển nhiên hơn sự kiện ấy, tức là khi truyền giảng, các vị đều trông mong thiên hạ tin và nhận Chúa Cứu Thế. Chỉ khi nào có niềm tin quyết đó thì mới có được một kết luận tốt, vì kêu gọi người ta tin và ứng dụng những gì bản thân chúng ta chẳng hề tin và áp dụng, là điều vô lý.
    Về mặt văn chương và tu từ pháp phải có việc chuẩn bị chu đáo cho phần kết thúc của một bài giảng, vì tầm quan trọng của năm phút cuối cùng của một bài giảng vốn có tác dụng tương đương với cả thời gian của trọn bài giảng. Nếu ta dành ra hai mươi phút dể mài dũa trau chuốt, chứng minh hay minh họa mục tiêu, và đã làm việc ấy thật hoàn hảo, nhưng lại cẩu thả trong việc soạn phần kết luận chỉ chiếm có năm phút, thì thiên hạ sẽ ra về với cái cảm giác rằng đó chỉ là một bài giảng tầm thường. Mặt khác, giả sử bản chất của hai mươi phút đầu là nghèo nàn về phẩm, nhưng năm phút chót lại vô cùng lý thú, thì thiên hạ sẽ ra về và bảo rằng bài giảng thật hay, rằng nghe nhà truyền đạo giảng thì chẳng thấy mỏi mệt chút nào và họ sẽ rất lý thú dự đoán về bài thuyết giảng sau của ông ta. Một kết luận “yếu” bao giờ cũng để lại cho hội chúng một cảm giác dửng dưng, và phương pháp duy nhất để ngăn hậu quả ấy là phải cất đi nguyên nhân tạo ra nó. Không một nhà truyền giáo đạo đức nào được phép vô tâm, chểnh mảng đối với phần này của bài giảng của mình. Cho dù ai đó có thể cảm nghĩ gì về phần còn lại của bài giảng, một kết luận chẳng có gì là một sự hụt hẩng, thất bại. Điều này lại càng đáng trách hơn nữa, vì chỉ có vài phương pháp đơn giản có thể đem ra ứng dụng để chúng ta tự cứu mình khỏi sự thất bại, và cứu cử tọa khỏi thất vọng, chán nản.
    Trong số nhiều phương pháp có thể sử dụng để khiến phần kết luận có giá trị thuyết phục, chúng tôi xin lưu ý trước hết là phương sách ôn duyệt. Như ngữ nguyên của nó đã nói lên đây là việc nhắc lại các phần chính. Nếu các phần chính đã được vạch rõ và triển khai thật hợp lý, thì việc ôn duyệt, nhắc lại, sẽ là phần tóm tắt, rút ngắn cả bài thuyết giảng. Đề án là phần cô đọng của bài giảng, và giờ đây nó phải được đưa ra bằng một hình thức nào đó để mọi người có thể lãnh hội ghi nhớ, và biến nó thành một giả thuyết để đem ra thực hành trong đời sống. Phương pháp này là trình bày trước hội chúng chỉ bằng vài câu, tất cả những gì đã được nói, để sau khi tâm trí đã thấy được từng bước một phần khai triển, giờ đây có thể có được một cái nhìn thoáng qua và bao quát tác dụng đang chồng chất lên nhau của cả phần thảo luận.
    Ôn duyệt như một hình thức kết luận, phù hợp nhất với các bài thuyết giảng nghị luận, khi có việc trình bày hợp lý một lập trường giáo lý hay nhân sinh quan nào đó. Sau khi đã trình bày một số luận cứ thì phương pháp tự nhiên nhất để nhấn mạnh là tạo cho người nghe cái cảm giác là chúng vốn có liên quan chặt chẽ với nhau. Trong các bài giảng thuộc loại này, thì nói chung, vạch rõ mục tiêu và các bước tiến khác nhau của phần triển khai, sẽ rất có lợi. Với những loại bài giảng khác mà phương pháp ôn duyệt được áp dụng, nó phải nhẹ hơn về phần hình thức và nặng hơn về phương diện tu từ pháp, vì theo bản tính, nó thuộc vào điều mà Vinet gọi là một toát yếu (resume) hay tổng ôn duyệt diễn biến của tư tưởng, chớ không phải là các bước theo hình thức của những gì được phơi ra. Phương pháp này rất đơn giản, giúp diễn giả dốc toàn lực vào lời kêu gọi của mục tiêu.
    Một phương pháp khác cho một kết luận tốt là sử dụng thí dụ minh họa. Kế hoạch này có nhiều lợi điểm, và có lẽ là đơn giản nhất. Nếu đó là một sự tích hay một giai thoại thì rất dễ khiến mọi người chú ý, và như thế là diễn giả được toàn thể hội chúng chú ý tới tại chỗ được mong muốn nhất trong cả bài giảng của mình. Tiếp theo đó, kết luận là điểm đòi hỏi phải có sự xúc động cao nhất, mà một thí dụ minh họa đưa ra được lời kêu gọi trực tiếp và hữu hiệu nhất hướng về các cảm xúc, hơn hẳn mọi kế hoạch từng trình bày tư tưởng khác. Các thí dụ minh họa rút ra từ sinh hoạt gia đình, có các mối liên hệ cha mẹ - con cái, cũng như các thí dụ minh họa là cơ sở là lòng yêu nước, yêu quê hương bao giờ cũng gây được nhiều ấn tượng, nên dùng để kết thúc một bài thuyết giảng. Tình yêu đối với mẹ và đối với tổ quốc là hai lời kêu gọi chẳng bao giờ gây mệt mỏi cho con người ta, và các biến cố bắt nguồn từ hai tình yêu đó luôn luôn đánh thức được sự hưởng ứng thật hài hòa, nếu chúng ta có lòng chân thành khi kể lại chúng. Cuối cùng, kết luận nhằm dẫn tới hành động, và những tiếng gọi bằng thí dụ minh họa do giá trị có tính chất tình cảm của chúng, vốn có năng lực hơn tất cả.
    Một phương pháp rất hữu hiệu khác nữa để kết thúc một bài giảng là sử dụng những câu trích dẫn được chọn thật kỹ và thật thích hợp. Tuy nhiên, những trích dẫn như thế phải được đọc thuộc lòng. Nhìn vào bản thảo viết tay để đọc vào phần cuối của một bài giảng bao giờ cũng là nhược điểm. Khi biết sử dụng khéo léo, những trích dẫn từ các bài thánh ca và văn thơ chọn lọc, bao giờ cũng là một kết thúc bài giảng lý thú. Khi phần trích dẫn diễn tả các tình cảm của mục tiêu, thì đó đặc biệt là một ưu điểm. Nhiều đoạn văn thơ trích tuyển vốn có cả giá trị về tình cảm lẫn sự phong phú của ngôn ngữ, và một khi thêm vào, chúng còn diễn tả được phần tình cảm của sứ điệp nữa, chúng hoàn tất được tất cả các yếu tố mà một kết luận tốt mơ ước.
    Một phương pháp khác nữa được nhiều diễn giả và các nhà truyền đạo nổi tiếng sử dụng, là viết ra ba hoặc bốn câu cuối cùng của bài thuyết giảng. Như thế, chẳng những ta biết được mình sắp chấm dứt ở đâu, mà còn biết là sẽ chấm dứt như thế nào nữa. Nó giúp được cho ta khỏi mò mẫm tìm xem đâu là một chỗ tốt để kết thúc. Trong quyển sách mới đây, nhan đề “The Art of Preaching”, của mình, Dean Brown nhận định: “Tôi muốn có bôn câu cuối cùng thật dứt khoát trong tâm trí để khỏi lâm vào hoàn cảnh cứ phải bay loanh quanh trên trời như một vài con quạ tuyệt vọng nào đó, cứ bay đi bay lại trên một hàng rào bằng các cọc nhọn, phí công tìm một chỗ đậu thích hợp.”
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG VII
    1. Tại sao việc soạn thảo phần kết luận lại quan trọng hơn bất cứ phần nào khác của bài giảng?
    2. Phần kết luận phải nhằm mục đích gì?
    4. Đâu là đặc điểm tâm lý để kết thúc một bài giảng.
    5. Soạn một bố cục, với phần kết luận được viết ra trọn vẹn.

    CÁC LOẠI BÀI GIẢNG
    Các bài giảng có thể được phân loại theo nhiều cách, tùy chủ đích mà ta nhắm vào. Chẳng hạn có thể làm việc này tùy theo cử tọa sẽ nghe giảng, do đó, được xếp thành loại các bài giảng cho các tín hữu và cho những người chưa tin Chúa, hoặc dưới cùng một tiêu đề ấy, là những bài giảng cho thanh thiếu niên hay cho người lớn. Hoặc có thể căn cứ vào cơ hội sẽ giảng mà các nhóm bài giảng sẽ là nhân các cơ hội bình thường hay đặc biệt. Tuy nhiên, vì chủ đích là yếu tố chủ yếu trong cách phân loại, căn cứ có vẻ hữu ích nhất là cách sử dụng câu gốc. Điều này tạo khó khăn cho những bài giảng không sử dụng một văn bản trong Kinh Thánh, cho nên rõ ràng là chúng không thể được đưa vào phạm vi của sự phân loại này. Tuy nhiên, các bài giảng ấy có đặc tính của những bài giảng theo đề mục, cho nên nhằm các chủ đích thực tiễn, có thể được nhận ra với tư cách ấy.
    Theo cơ sở đã gợi ý, các bài giảng có thể được chia làm bốn loại. Theo văn bản, theo đề mục, giải kinh và suy luận. Chúng tôi xin duyệt lại từng loại một trong số vừa kể trên theo thứ tự đã nêu.
    1. Bài giảng theo kinh văn .
    Loại này là loại trong đó câu gốc là đề tài, và các phần của câu gốc được dùng làm các phần lớn của bài giảng. Xin nêu dưới đây một thí dụ minh họa cho các loại bài giảng ấy bằng một số bố cục của C. H. Spurgeon mà chúng tôi đã từng đề cập. Trong bài giảng này, ta có thể thấy các phần lớn của bài giảng được căn cứ vào các phần khác nhau trong câu gốc.
    ĐÃ THẾ NÀO... THÌ CỨ THẾ ẤY (CoCl 2:6)
    “Anh em đã nhận Đức Chúa Giê-xu Christ thể nào, thì hãy bước đi trong Ngài thể ấy ” (bản dịch cũ)
    Nhập đề : Việc nhắc họ nhớ lại từng trải lúc ăn năn quy đạo, được dùng làm nền tảng để cứ tiếp tục tận trung với Chúa Cứu Thế.
    I. SỰ KIỆN ĐƯỢC MINH ĐỊNH
    “Anh em đã nhận Đức Chúa Giê-xu Christ .”
    1. Nhận vật được nhận: Chúa Cứu Thế Giê-xu
    2. Chúng ta nhận Ngài theo đặc tính gồm ba phương diện: Đấng Cứu Thế, Giê-xu, Chúa
    3. Trong hành động “nhận” ta từ bỏ bản ngã
    4. Tính cách chắc chắn của từng trải ấy: anh em đã nhận (Ngài)
    II. LỜI KHUYÊN ĐƯA RA
    “Hãy bước đi trong Ngài thể ấy ” Bước đi gợi ý
    1. Sống
    2. Tiếp tục
    3. Hoạt động
    4. Tiến bộ
    III. KHUÔN MẪU GIỚI THIỆU
    “Anh em đã nhận… thế nào ?”
    Ngài đã được nhận thế nào?
    1. Như nhận một ân huệ
    2. Cách khiêm hạ
    3. Đầy lòng vui vẻ
    4. Công hiệu
    5. Không do dự
    Kết luận : Chúng ta hãy tiếp tục biểu hiện các đức tính ấy trong sinh hoạt hằng ngày.
    Sở dĩ các bài giảng có đặc tính này có giá trị là do cách chúng có thể được soạn thảo nhằm lý giải Kinh Thánh. Thiên hạ vẫn còn thích nghe giải nghĩa Kinh Thánh và người giải Kinh Thánh sẽ không thiếu thính giả nếu ông ta được ban đầy đủ ân tứ cho công tác như trong những cách giảng khác. Thiên hạ vẫn thích nghe khi có người giải nghĩa các câu gốc quen thuộc, sao cho các phương pháp này cũng có nét hấp dẫn vì tính cách đơn giản, và kích thích việc đọc và nghiên cứu Kinh Thánh.
    2. Bài giảng theo đề mục
    Với loại bài giảng này, câu gốc chỉ gợi ý cho chủ đề mà thôi. Chẳng hạn như HeDt 11:1 chép: “Đức tin là thực thể của những điều ta hy vọng, là bằng chứng của những việc ta chưa thấy ” có thể dùng đề mục “Đức tin”, nhưng ngoài việc gợi ý cho chủ đề ra, nó không còn được dùng vào việc gì khác nữa. Bất cứ câu gốc nào trong số rất nhiều câu gốc khác cũng có thể được dùng cho đề mục chẳng hạn như “Hãy có đức tin nơi Thượng Đế”. Trong một bài giảng thuộc loại này, chủ đề thường là điều phát sinh ra bài thuyết giảng, còn câu gốc được dùng là một điểm thứ yếu. Bố cục sau đây là một khuôn mẫu cho loại bài giảng này.
    CHÚA GIÊ-XU LÀ ĐẤNG LẠ LÙNG (EsIs 9:6)
    “Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ Lùng ”
    Nhập đề : Lạ lùng là một hình dung từ ứng dụng rất thích hợp cho Chúa Giê-xu. Tất cả các giai đoạn của cuộc đời Ngài đều phi thường. “Tôi từng biết nhiều người và tôi sẽ nói với bạn rằng Chúa Giê-xu không phải là một con người (tầm thường). Tất cả những gì Ngài có đều khiến tôi kinh ngạc. Tâm linh Ngài vượt xa tôi, còn ý chí Ngài thì khiến tôi phải xấu hổ. Người ta không thể đem Ngài ra để so sánh với bất cứ ai khác trên đời này. Quả thật Ngài là Đấng Tự Hữu” - Nã-phá-luân.
    Ngài lạ lùng trong:
    I. SỰ GIÁNG SINH
    Trên đời này, có rất nhiều điều mà chúng ta không thể hiểu nổi. Sự ra đời của Chúa Giê-xu là một thí dụ. Với Thượng Đế thì mọi sự đều có thể thực hiện được
    II. CHỨC VỤ
    1. Những lời truyền dạy
    Lời truyền dạy của Chúa Giê-xu vượt trên uy quyền Mai -sen. “Các ông từng nghe”, “Nhưng tôi nói cho các ông biết”, “Tôi nghĩ rằng hệ thống luân lý đạo đức và tôn giáo mà Chúa Giê-xu đã để lại cho chúng ta là hệ thống toàn hảo nhất mà thế gian từng được thấy hoặc có thể thấy được” - Benjamin Franklin.
    2. Các phép lạ
    Các phép lạ của Chúa Giê-xu là phần cốt lõi của các đoạn thuật sự trong các sách Phúc Âm, mà nếu cất đi yếu tố siêu nhiên cũng là hủy diệt luôn phần thuật sự. “Tôi tin Chúa Cứu Thế Giê-xu là Con Thượng Đế. Các phép lạ Ngài đã làm ghi khắc vào tâm trí tôi uy quyền của chính ngài và khiến tôi tin những gì Ngài khẳng định là đúng” - Daniel Webster.
    3. Sự vô tội
    Sự vô tội của Chúa Giê-xu là một phép lạ trong lãnh vực luân lý đạo đức. Trong Kinh Thánh chỉ có một người duy nhất đã được giới thiệu là một con người trọn vẹn và thừa nhận cách đánh giá về chính Ngài. Tính cách của Ngài đã thách thức mọi lời phê bình chỉ trích suốt hai ngàn năm qua.
    “Sự vô tội của Chúa Giê-xu là phép lạ tột đỉnh mà cũng là phép lạ gốc khiến cho tất cả các phép lạ khác trở thành đáng tin: Một phép lạ độc nhất vô nhị và tách rời Ngài khỏi mọi người khác, một phép lạ thuyết phục được chúng ta rằng tại điểm này hơn trong tất cả các biến cố khác, Ngài đã siêu vượt trên mọi từng trải của con người để bước vào môt lãnh vực vượt trên mọi tính toán của loài người.”
    “Nếu có người nào là Thượng Đế hay Thượng Đế là người, thì Chúa Cứu Thế Giê-xu là cả hai trường hợp đó” - Byron.
    III. SỰ CHẾT
    Đặc tính kỳ diệu của nó được thấy trong:
    1. Các nhân tố (agents ) phái biệt lập
    Đó là những người được xem là đạo đức trong thời của Chúa Giê-xu.
    2. Các hoàn cảnh
    Chọn tha cho một kẻ sát nhân thay vì Chúa Cứu Thế
    3. Cách chịu đựng, cầu nguyện cho kẻ thù mình
    Lạ lùng đến độ viên đại đội trưởng phải nói: “Quả thật người này là Con Thượng Đế.”
    III. SỐNG LẠI
    Kỳ diệu đến độ các môn đệ Ngài cũng không hiểu nổi. Thô-ma nói: “Nếu mắt tôi không thấy dấu đinh trên bàn tay Chúa, nếu ngón tay tôi không sờ vết thương, nếu bàn tay tôi không đặt vào sườn Chúa, thì tôi không tin ”.
    Kết luận : “Tất cả các giai đoạn trong cuộc đời và công tác của Chúa Giê-xu đều lạ lùng. Chúa Giê-xu là con người không ai sánh kịp mà lương tâm nhân loại đã dành cho cái danh hiệu “Con Thượng Đế” và như thế là công bằng. Cho dù trong tương lai, còn có những điều gì gây kinh ngạc nữa, sẽ chẳng có gì vượt nổi Chúa Giê-xu” - Renan.
    Trên đây là một thí dụ minh họa rất hay về ưu và khuyết điểm của loại bài giảng này. Nó thuộc loại đặc biệt cho các nhà truyền đạo trẻ. Điều mà nhiều người trẻ tuổi e sợ, là họ không có đủ tài liệu để soạn thành một bài giảng, do đó, họ chọn một chủ đề bao quát. Do đó mà các đề mục như “Cầu nguyện”, “Đức tin” và những đề mục tương tự đã được chọn, và khi đặt cho ba bốn tiêu đề bên dưới một đề tài bao quát, phần khai triển trở thành hết sức tầm thường. Thiếu tính độc đáo là nhược điểm nổi bật của các bài giảng theo đề mục. Phương pháp để tránh nguy cơ này, là thu hẹp môi trường, và tạo cho đề tài có chiều sâu chớ không phải là chiều rộng. Những gì mà trên bề mặt hầu như tất cả mọi người đều biết, thì họ vẫn chưa biết ở bên dưới còn có những gì. Như thể có thể giới hạn chủ đề “Đức tin” bằng “Đức tin như một yếu tố chủ yếu để tiến tới” hoặc “Những chiến thắng khải hoàn nhờ có đức tin” là những đề tài đòi hỏi phải có phần triển khai sâu nhiệm hơn là chủ đề “Đức tin” mà không có một giới hạn nào.
    Còn một nét đặc trưng đáng chú ý khác nữa trong bài giảng theo đề mục đã được minh họa trên đây là: Phương cách để khiến cho lối thuyết giảng tổng hợp thuộc loại này, đã bao trùm một lãnh vực hết sức rộng lớn, trở nên có hiệu quả. Bất cứ một phần nhỏ nào cũng có thể biến thành cơ sở cho một bài giảng. Cố gắng thảo luận chúng thật chi tiết sẽ là một công tác không tài nào thực hiện nổi. Tuy nhiên, mỗi phần đều chỉ được đề cập bằng vài lời ngắn ngủi, rồi một câu trích dẫn từ môt thẩm quyền nào đó đã được đưa ra để thay thế cho một phần thảo luận. Làm như thế, bài giảng sẽ đầy đủ và bao quát, và những câu trích dẫn là những thay thế toàn hảo mà nếu không có sẽ là một phần thảo luận dài. Cũng cần lưu ý rằng toàn thể bài giảng chỉ được triển khai chung quanh chữ “lạ lùng.”
    Đây là loại bài giảng dễ soạn nhất và nói chung, là loại bài giảng ít công hiệu nhất, vì nguy cơ thiếu tính độc đáo. Nó ít dùng đến Kinh Thánh hơn bất kỳ loại bài giảng nào khác, và khi chủ đề bao trùm cả một lãnh vực bao la, thì nhà truyền đạo rất ít bị đòi hỏi.
    3. Bài giảng giải kinh
    Bài giảng giải nghĩa Kinh Thánh là loại bài giảng trong đó phần Kinh văn là đề tài, và toàn thể bài giảng là một cuộc thảo luận về nó. Phần Kinh Thánh có thể là nửa câu Kinh Thánh, trọn một câu, nhiều câu hoặc nguyên một chương. Tuy nhiên lấy một đoạn Kinh Thánh và giải thích nó, thì không tạo ra được một bài giảng giải kinh. Một bài giảng là một đơn vị, phải có một mục tiêu, một điểm (vấn đề) rõ ràng để thảo luận và toàn thể phần giải thích phải góp phần làm sáng tỏ vấn đề ấy. Dưới đây là một bài giảng giải nghĩa Thi Tv 19:1-14, được thu gọn trong phạm vi có thể được mà vẫn còn giữ được phần ý nghĩa cao đẹp và nhất quán.
    VÀI KHÍA CẠNH CỦA ĐẠO GIÁO (19:1-14)
    Nhập đề: Một bài Thi Thiên để suy gẫm
    I. ĐẠO GIÁO TỰ NHIÊN
    “Các từng trời rao truyền …”, chúng nói lên cho mọi người biết. Chúng truyền giảng
    “Ngày này… cho ngày kia ”. Không phải là những bài giảng dài hai mươi phút, hai lần một tuần, mà liên tục.
    “Tỏ sự tri thức ” các bài giảng của chúng tôi chẳng san sẻ được kiến thức cho quý thính giả; các nhà truyền đạo của Thiên Đàng “tỏ tri thức.”
    “Chẳng có tiếng chẳng có lời nói ”. Chúng không dùng lời lẽ, ngôn ngữ, nói, giảng như các nhà truyền đạo là những con người bằng một thứ tiếng nào đó, nhưng bằng ngôn ngữ phổ quát.
    “Cũng không ai nghe tiếng của chúng nó ”. Nét tương phản được thấy rõ một lần nữa. Chúng truyền giảng, dạy bảo mà không phải nói.
    “Dây chúng nó bủa khắp .” Dây đàn hoặc dây cung, tác dụng kết quả là “ban sự sống cho người sống” hoặc “đem cái chết cho kẻ chết.”
    II. ĐẠO GIÁO MẶC KHẢI
    “Luật pháp của Đức Giê hô va là trọn vẹn .” Nó là trọn vẹn cho chủ đích của nó - để tiết lộ, bày tỏ Thượng Đế ra, và để chỉ con đường sự sống cho loài người.
    “Chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn ” cũng đáng tin như trọn vẹn vậy. Ngài “không phải là loài người để mà nói dối”. Lời Ngài cũng không phải cứ thay đổi “như chong chóng” như các kiến thức bác học của loài người “Làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan ”. Sự khôn ngoan cao nhất mà thế gian được biết là sống hài hòa với ý chỉ Ngài.
    “Giềng mối Đức Giê hô và là ngay thẳng .” Luật pháp của loài người thường bất toàn, chỉ phản ảnh các tiêu chuẩn của những nước làm ra chúng mà thôi. Luật pháp của Thượng Đế thì hài hòa với cá tính Ngài.
    “Làm cho lòng vui mừng ”, làm theo ý chỉ Thượng Đế là bí quyết để vui vẻ trong đời sống.
    III. ĐẠO GIÁO CÁ NHÂN
    “Các lỗi tôi không biết ” là các lỗi mà mắt loài người không nhìn thấy được. Tội lỗi của tư tưởng “Cố ý phạm tội”. Tội lỗi do đam mê, “Tội trọng” bị phân cách với Thượng Đế.
    Kết luận . Phần suy gẫm kết thúc khi mọi tư tưởng về Thượng Đế chấm dứt, bằng một lời cầu nguyện cho đời sống và sẽ được tốt đẹp hơn.
    Bài Thi Thiên này là một tư tưởng hoàn chỉnh về chủ đề đạo giáo, được thảo luận theo ba quan điểm. Tuy nhiên, thay vì xem toàn bài Thi Thiên này như chỉ là một bài giảng, bất cứ một phần nào trong ba phần lớn đều có thể được dùng làm một bài giảng giải kinh. Thí dụ mấy câu 7 - 11 có thể được dùng dưới nhan đề “Các đặc điểm của lời Thượng Đế”. Phần triển khai sẽ vạch rõ lời Chúa vốn trọn vẹn, chắc chắn (c.7), ngay thẳng trong sạch (c.8), trong sạch, chân thật (c.9), có giá trị ngọt ngào (c.10), hữu ích (c.11) như thế nào. Các bài giảng giải kinh có giá trị như các bài giảng theo câu gốc ở chỗ chúng đều được xây dựng trên câu gốc của Kinh Thánh. Dầu sao thì cũng có biết bao nhiêu điều để giải thích cả trên những khúc sách rất quen thuộc như thế. Có hội chúng nào lại không phấn khởi lắng nghe bất cứ một người nào tin Kinh Thánh, khi người ấy giải bày về những khúc sách trên?
    4. Bài giảng suy luận
    Trong trường hợp của bài giảng suy luận, phần khai triển gồm một loạt những suy luận rút ra từ phần Kinh Thánh, bài sau đây của Alex. Maclaren sẽ minh họa cho điểm này.
    CHÚA GIÊ-XU BỊ PHẢN NỘP (Mat Mt 26:50)
    Nhập đề 1. Câu Kinh văn là tiếng gọi cuối cùng của Chúa Cứu Thê dành cho Giu-đa. 2. Câu Kinh Thánh cho thấy giới hạn mà Thượng Đế có thể đi đến để chinh phục người ta, và thái độ ngoan cố của loài người đáp lại Ngài.
    I. TÌNH YÊU THƯƠNG KIÊN TRÌ CỦA CHÚA CỨU THẾ
    1. ‘Bạn’ là một từ ngữ đầy biểu cảm nói lên sự thân quen, tình bạn
    2. Có ý nghĩa sâu nhiệm hơn khi được Con Thượng Đế sử dụng
    3. Tình yêu thương được mở rộng cho Giu-đa cũng không từ chối chúng ta, cho dù chúng ta có thể làm gì đi chăng nữa.
    II. TÌNH YÊU THƯƠNG VAN NÀI KHẨN KHOẢN CỦA CHÚA GIÊ-XU
    1. Tội lỗi nào không khiến cho tình yêu thương của Thượng Đế phải quay lưng thì sửa đổi nó (minh họa bằng từ ngữ Hi văn chỉ “yêu thương” trong câu Kinh Thánh).
    2. Đây là một lời quở trách nhẹ nhàng dường như Chúa yêu cầu Giu-đa hãy nêu đích danh công việc ông ta sắp làm.
    3. Suy gẫm về các hậu quả của hành động xấu xa gian ác, thường có ảnh hưởng kìm chế ảnh hưởng của nó.
    III. TÌNH YÊU THƯƠNG CỦA CHÚA GIÊ-XU BỊ KHƯỚC TỪ
    1. Bất chấp mọi lời kêu gọi, con người có quyền từ chối
    2. Giới hạn có thể bị những người có cơ hội thuận tiện nhất đẩy đi thật xa
    3. Tội lỗi có tính cách tiệm tiến, trong đời sống của Giu-đa, các bước tiến của nó là:
    a) Trách cứ Ma-ri
    b) Ngã giá với các thầy tế lễ cả
    c) Phản Chúa
    Kết luận . Chận đứng bước tiến của tội lỗi bằng cách tiếp nhận tình yêu thương của Thượng Đế vào lòng.
    Căn cứ vào câu Chúa Giê-xu hỏi Giu-đa: “Bạn ơi vậy thì vì việc này mà ngươi đến đây sao ?” (bản dịch cũ), ở đây tác giả đưa ra ba chuổi suy diễn. Trước hết, ông chứng minh tình yêu thương kiên trì của Chúa Giê-xu. Trong tất cả những kẻ bất trung với Chúa Giê-xu, chắc chắn Giu-đa là kẻ tồi tệ nhất. Nếu Chúa Giê-xu có quở trách ai và được cho là đúng, thì kẻ ấy chính là Giu-đa. Nhưng Ngài đã không hề tỏ ra nóng vội, không hề quở trách, nhưng chỉ có một thí dụ minh họa để tình yêu thương của Chúa Cứu Thế có thể đi tới giới hạn cuối cùng, và siêu vượt trên mọi hiểu biết.
    Thứ hai, ông rút ra cách suy diễn rằng Chúa Cứu Thế đang khẩn khoản, van nài người ta, và nếu tiếng gọi của Ngài vốn vô giới hạn thì nếu chúng ta cứ tiếp tục phạm tội, việc làm ấy vẫn không làm thay đổi tình yêu thương của Ngài. Khi tiếng “bạn” đến với tai Giu-đa, chắc một cảm thức xấu hổ phải tràn ngập trong ông ta, khi ông ta thấy thầy mình đã phải khẩn khoản van nài mình như thế. Chắc đối với Giu-đa thì hầu như là Chúa Giê-xu đã hỏi rằng: “Ngươi dám làm thế sao Giu đa?”
    Suy luận cuối cùng là người ta có thể khước từ Chúa Cứu Thế cả khi mình đã biết rất rõ Ngài. Như thế nó ngụ ý bảo rằng ngay cả với kẻ ít có lý do để tự bào chữa nhất, vẫn có thể có việc khước từ.
    Các bài giảng suy luận là loại khó soạn thảo nhất trong tất cả các loại bài giảng. Thí dụ vừa nêu minh họa vài phẩm chất cần thiết. Nó cho thấy cách sử dụng phần Kinh Thánh thật tài tình, một cái nhìn thông tuệ (insight) vào nhân tính, và một sự thấy hiểu thật tinh tế cá tính nội tại của Thượng Đế. Cách triển khai mỗi phần chính trực tiếp dẫn tới điểm ứng dụng cá nhân. Chỉ có một nhà truyền đạo ‘vĩ đại’ mới có thể xây dựng một bài giảng như thế. Nguy cơ chính của loại bài giảng này là đưa phần suy luận đi quá xa, nghĩa là thật ra nó không phải là suy luận, mà là sản phẩm của óc tưởng tượng thay vì là một suy diễn từ các phần Kinh Thánh hay hoàn cảnh lịch sử.
    Tuy một vài loại bài giảng trong số các loại bài giảng vừa kể trên có thể có ưu điểm hơn một vài loại khác, thật ra điều được mong ước là nên sử dụng tất cả các phương pháp ấy. Cứ đeo đuổi mãi cùng một phương pháp nào trong số đó mà thôi, sẽ tạo hậu quả là lời giảng nào cũng giống với bài giảng nào, hay cứ đều đều đơn điệu. Tuy nhiên, cho dù có noi theo phương pháp triển khai nào, điều quan trọng là phải làm sao cho các bài giảng của mình được tươi mới và độc đáo, vì khi thiếu đi phẩm chất này, chúng sẽ là những thất bại, bất chấp phương pháp sử dụng có là gì.
    CÁC CÂU HỎI CHO CHƯƠNG VIII
    1. Hãy soạn một bài giảng theo câu gốc.
    2. Bạn thấy có những nguy cơ nào khi sử dụng các bài giảng theo câu gốc?
    3. Sử dụng bài giảng theo đề mục được những lợi điểm gì?
    4. Giảng một bài giảng theo đề mục có thể gặp những nguy cơ nào?
    5. Điều gì là cần thiết cho việc soạn một bài giảng giải kinh lý thú?
    6. Bạn có thể đưa ra một lý do nào để giải thích tại sao trong thời hiện đại, lại có rất ít bài giảng giải kinh không?
    7. Tại sao các bài giảng suy luận rất khó soạn thảo?
    8. Có thể nào có một bài giảng kết hợp, có một phần chính theo phương pháp giải kinh, một phần chính khác theo phương pháp suy luận, một phần chính khác theo đề mục, hay không?
    SƯU TẬP TÀI LIỆU
    Các nhà truyền đạo trẻ, chưa từng sử dụng một phương pháp sưu tập tài liệu nào cả, sẽ muốn biết vài phương pháp chủ yếu đã được sử dụng và được gợi ý một số điểm liên hệ đến giá trị của mỗi phương pháp.
    Ngay từ đầu, phải hiểu rằng mọi kiến thức đều hữu ích cho nhà truyền đạo, chẳng có điều gì về mặt thông tin dưới gầm trời này mà lại không thể giúp ích được cho ông ta vào một lúc này hoặc một lúc khác trong công tác của mình. Thêm vào với bộ Kinh Thánh, các chủ đề như sử học, khoa học, tâm lý học, triết học, văn học, xã hội học và chính trị, kinh tế đều có vai trò, có chỗ đứng của chúng,
    Tuy nhiên, kiến thức có giá trị không phải chỉ có trong sách vở mà thôi mà còn có thể thu nhận từ kinh nghiệm nữa. Chẳng có từng trải nào trong đời sống mà không đem lại ích lợi cho người có tâm trí mẫn cảm. Đi thăm người bệnh, trò chuyện khi đi du lịch, nói chuyện tại các tư gia, đều cung cấp cho nhà truyền đạo tài liệu để suy nghĩ về các nhu cầu và vấn đề của đời sống, nhất là khi chúng có liên hệ với thế giới thuộc linh.
    Tuy nhiên, chúng tôi chỉ muốn thảo luận ở đây về số tài liệu, có tính chất rõ ràng và đích thực, như việc cắt và lưu trữ những bài viết trong các nhật báo và tạp chí. Một vài hệ thống đồng bộ và thường xuyên nhằm lưu trữ chúng là điều nên làm, nên có, đối với tất cả các nhà truyền đạo. Chẳng những ta phải thu thập các bài báo ấy, mà còn phải giữ chúng theo một hình thức nào đó để có thể đem sử dụng ngay khi cần đến. Các bảng thống kê đặc biệt hữu ích, vì chúng đem tính độc đáo đến cho các bài thuyết giảng trong lãnh vực nghiên cứu sâu rộng, và bất luận một đóng góp thích hợp nào của các tạp chí định kỳ và các chủ đề như giáo dục, cấm rượu (ma túy), yêu nước hay tôn giáo, đều hầu như chắc chắn là rất cần cho nhà truyền đạo vào một lúc này hoặc lúc khác. Thế thì, nhà truyền đạo phải lưu trữ các tài liệu ấy theo hình thức nào?
    Phương pháp thứ nhất cần ghi nhận là hệ thống các phong bì lớn, có bảng mục lục theo chủ đề, khi gặp một bài báo có giá trị trong các nhật báo hoặc tạp chí, ta cắt chúng ra và xếp chúng vào các phong bì ấy. Sau đó, khi cần tài liệu cho một bài giảng hay diễn thuyết, tất cả những gì phải làm chỉ là lấy phong bì ấy, và các tài liệu đều có sẵn trong đó, ta chỉ cần xem lại và sắp xếp chúng mà thôi. Việc làm này giúp cho tất cả những ai đăng ký mua các tạp chí định kỳ chỉ cần xem chúng khi rảnh rỗi rồi cắt những bài nào mình cho là có giá trị cho công tác cho mình. Như thế, đang lúc đọc báo, ta còn làm giàu thêm một cách có hệ thống cho kho báu mình sẽ dùng đến khi có cần. Khi đọc xong các tạp chí định kỳ của mình như thế trong lúc nhàn rỗi, ta cũng tự lưu trữ cho mình những gì tốt nhất, hay nhất để sử dụng trong tương lai, và nhờ cách làm này, ta giảm bớt được đến mức tối thiểu điều mà công tác soạn bài giảng và diễn thuyết đòi hỏi mình.
    Một phương pháp thứ hai nữa là giữ lại những ghi chú vụn vặt, vắn tắt trong một tập vở hay quyển sổ (a scrap - book); chủ đích của việc là này là ghi lại những câu vắn tắt đề cập các sự kiện, những bài thơ, những trích dẫn lấy ra từ các thư từ giao thiệp có ý nghĩa luân lý đạo đức hoặc thuộc linh, hoặc bất cứ những gì khác đáng cho ta lưu trữ. Một quyển sổ lớn cỡ bằng tập lưu ảnh có thể được dùng cho chủ đích này, và với thời gian, nó sẽ trở thành cả một kho tàng đích thực về tư tưởng. Có thể áp dụng cách phân loại, xếp hạng thật tổng quát nào đó cho hệ thống này.
    Rồi một kế hoạch thứ ba nữa mà những người đăng ký mua các tạp chí định kỳ có các tài liệu cho bài giảng và muốn lưu trữ các bài giảng hay, có thể noi theo. Hình thức này quá cồng kềnh để có thể giữ trong các phong bì. Muốn lưu giữ loại tài liệu ấy, ta có thể dùng những tập hồ sơ lớn bằng giấy dày hay giấy dầu xám. Những tài liệu được cắt ra đó sẽ được đánh số và xếp theo bảng mục lục theo câu gốc và chủ đề, khi bắt đầu soạn bài giảng, nếu thuộc dạng câu gốc thì tất cả những gì phải làm sẽ chỉ là nhìn vào bảng mục lục để xem có loại tài liệu nào thuộc dạng khai triển mà mình muốn nói theo hay không. Hay nếu ông ta muốn giảng về chủ đề ông có thể lại nhìn vào bảng mục lục để tìm sự trợ giúp. Khi nào chỉ có quá ít điều trong bài giảng để ta có thể sử dụng trực tiếp, thì hầu như bao giờ cũng có thể tìm được (nếu bài giảng đáng để cho ta lưu trữ) trong những bài giảng có cùng một chủ đề, những gợi ý hoặc thí dụ minh họa có thể giúp ích cho chúng ta. Kế hoạch này thoạt nhìn có vẻ khá hạn chế, nhưng theo từng trải nó có thể được nhắn nhủ như một trong những phương pháp tiết kiệm được nhiều thì giờ nhất, và là một phương tiện gợi được nhiều ý và rất có hiệu quả trong việc soạn bài giảng.
    Ở đây, cũng xin gợi ý một kế hoạch khác nữa liên hệ với việc đọc sách. Có người viết ngay ngoài lề các sách họ đọc để khỏi gặp khó khăn, rắc rối gì trong việc định rõ vị trí của những trích đoạn mà họ muốn sử dụng sau này. Tuy nhiên với các sách mượn, ta chỉ cần ghi lại vài câu để trong tương lai, khi cần trích dẫn quyển sách ấy, ta có thể ghi xuất xứ thật chính xác, thật đặc thù, nó sẽ giúp ta tin chắc, và đó là một đức tính lý tưởng của diễn giả. Một người ghi chú vài câu hay trích dẫn vài đoạn những quyển sách mình đã đọc rồi thì không phải là một vấn đề khó khăn gì lắm, và một khi chúng được chép vào một quyển sổ để ghi nhớ rồi, thì chúng trở thành tài sản riêng vĩnh viễn, xin viết lại điểm này bằng ngôn ngữ của một người khác:
    Khi đọc các tác giả, khi bạn gặp những khúc sách đặc sắc đánh mạnh vào tâm trí mình.
    Xin bạn đừng hài lòng với thị giác mà thôi
    Nhưng hãy ghi chúng ra trên giấy trắng mực đen
    Điều này đã được chứng minh là khôn ngoan
    Để biến tư tưởng của một người khác thành của riêng mình
    Nó đòi hỏi rất ít thì giờ, giúp ta biết đọc sách bằng óc biện biệt, và biết nói đâu ra đấy.
    Phương pháp cuối cùng được gợi ý là một phương pháp có giá trị chủ yếu cho các sinh viên và những người luôn luôn đi đây đi đó hoặc thường xuyên dự các hội nghị. Đó là quyển sổ ghi chú bỏ túi áo. Nó được dùng để ghi vội vài thí dụ minh họa vắn tắt, các bố cục bài giảng, bài diễn văn, những câu nói trào phúng, những nhận xét và nhiều điều có giá trị khác nữa. Phương pháp này thường chứng minh là cả một kho tàng tư tưởng khi ta đi đây đi đó, hoặc khi ta phải xa nhà, do đó, không thể có được những nguồn tài liệu khác trong tầm tay. Điều chắc chắn là bất cứ ai có đời sống dành để tách rời lúa mì khỏi vỏ trấu và rơm rác, thì bao giờ cũng phải có một điều gì đó mới mẻ và lý thú để nói ra, nên cần thu thập tài liệu, để nhờ đó mà có óc chọn lọc thuộc linh hầu có thể lưu trữ đầy đủ nhất những gì của quá khứ để sử dụng cho hiện tại, và cũng tốt cho tương lai nữa.
    Trong khi thu thập tài liệu cho các bài giảng, điều quan trọng không phải là phương pháp, nhưng là chúng ta phải có một hệ thống nào đó. Sau khi đã nhất định giảng về một câu gốc hay chủ đề nào đó, điều hiển nhiên có thể giúp ích cho chúng ta là có thể đến được một kho chứa nào đó và tìm được đúng những gì chúng ta có cần về mặt tài liệu. Một người có thể làm thủ quỹ cho một ngân hàng và có rất nhiều tiền bạc đi qua tay mình, nhưng vẫn rất nghèo. Một nhà truyền đạo có thể đọc rất nhiều mà chẳng có phương pháp nào để giữ lại tài liệu ngoài ra những gì mình nhớ được, và khi cần, thì chỉ có rất ít hoặc chẳng có chi cả; trong khi một người khác có thể đọc và nhớ ít hơn, nhưng lại có cách dự trữ một nguồn trợ giúp luôn luôn hiện diện khi cần đến. Không phải những gì đi vào tay lưới đều có giá trị đáng kể cả mà chỉ có những gì có thể giữ lại mà thôi.
    CÂU HỎI CHO CHƯƠNG IX
    1. Phương pháp nào để sưu tập tài liệu quyến rũ bạn nhất? Nêu lý do khiến bạn chọn nó.


    Chủ đề: SỰ THA THỨ
    Đề tài: THA THỨ VÌ ĐƯỢC THA THỨ
    Kinh thánh: Ma-thi-ơ 18:21-35
    Câu gốc: Ê-phê-sô 4:32
    I.    Nhập đề: 
    Nhiều người tỏ rằng họ không thể tha thứ, bài học về sự tha thứ là khó vô cùng, Kinh Thánh nói gì về điều này? Tại sao phải có lòng tha thứ? Tha thứ như thế nào? Làm thế nào có thể tha thứ cho người khác được? Khi thực hiện việc tha thứ, chúng ta sẽ được gì?
    II.    Nội dung:
    1.    Lý do cần phải có lòng tha thứ:
    a.    Vì chúng ta được tha thứ (Eph 4:32b) (Esai 1:18, Thi thiên 103:2)
    b.    Vì so ra chúng ta còn tồi tệ hơn người khác nhiều. (1 người nợ 1 vạn ta-lâng, 1 người nợ 100 đơ-ni-ê)
    2.    Tha thứ như thế nào?
    a.    Như Chúa tha (Eph 4:32)
    b.    Tha thứ cách bền bĩ (Math 18:21-22, Luca 17:3-4)

    3.    Bí quyết để có thể tha thứ cho người khác
    a.    Bằng tình yêu thương của Chúa (IPhi 4:8)
    b.    Suy nghĩ đến hậu quả mà chúng ta phải nhận lãnh nếu không tha thứ như Chúa đã tha thứ (Math 6:14-15)
    4.    Kết quả của việc tha thứ cho người khác
    a.    Phục hồi được người cần tha thứ (Luca 15:20-24)
    b.    Bản thân được sự khích lệ, thỏa lòng (II Cor 2:7-8; Mác 11:25)

    III.    Kết luận:
    Tha thứ là mệnh lệnh Chúa truyền cho chúng ta (Math 18:21-22; Luca 17:3-4), vì Chúa đã yêu chúng ta và đã tha thứ mọi tội lỗi chúng ta nên chúng ta cũng cần học cách tha thứ như vậy để bày tỏ tình yêu thương Chúa đã dành cho mình.
  • 0 nhận xét:

    Post a Comment

    PAGEVIEWS

    Labels