• KHẢO CỔ KINH THÁNH - 1

    KHẢO CỔ KINH THÁNH - 1
    Dẫn Nhập
    Thượng Đế đã giữ hai bản ghi chép lịch sử về sự đối xử đặc biệt của Ngài với con người cũng như sự khải thị với con người. Một bản ghi chép là Kinh Thánh đã được viết trên da cừu và được đặt vào bàn tay của con người với nỗ lực cực kỳ to lớn. Bản ghi chép kia được viết trong các tàn tích và các ngôn ngữ lạ của những vùng đất mà Kinh Thánh đã đến đó.
    Con người đã tiếp cận Kinh Thánh và có thể đọc cũng như phác họa cuộc đời của Ngài một cách tương ứng; nhưng chỉ có một số ít người của thế giới phương Tây có thể thăm viếng các vùng đất phương Đông, nhìn xem lãnh thổ của đất nước, quan sát những gì còn sót lại của tàn tích nền văn hóa đã qua đi, và mường tượng ý nghĩa của những mảnh chữ viết kỳ lạ khác nhau được tìm thấy đó đây.
    Bằng chứng trên mặt đất thì nhỏ nhoi so với kho tàng vật liệu được chôn vùi trong các mô đất của thành phố thượng cổ. Một số tài liệu được tìm thấy một cách tình cờ, nhưng phần lớn đã được phát hiện khi con người phát triển các công cụ đặc biệt và những phương pháp thích hợp cho công việc sưu tầm - để giải mã những ngôn ngữ còn là ẩn số cũng như xác định mốc thời gian cho từng cuộc khám phá. Sự tiến bộ đến một cách chậm chạp nhờ vào các nỗ lực hiến dâng của con người thuộc nhiều quốc gia và nhiều ngành nghề khác nhau như giáo sư đại học, nhà ngôn ngữ học, mục sư, quân nhân, giáo sị, kiến trúc sư, kỹ sư, hoạ viên, nhiếp ảnh gia và các tài năng vĩ đại khác.
    Công cụ ngôn ngữ để hiểu được các ký hiệu và chữ viết huyền bí thì rất là cần thiết, và để nắm vững được các công cụ đó thì một vài lãnh đạo tài ba phải trả giá rất lớn. Hai chìa khóa chính đã được khám phá - Tảng đá Rosetta và câu khắc trên bia Behistun .
    Một trong những kỹ sư của Napoleon đại đế đã tìm thấy Tảng đá Rosetta tại Rosetta, Ai Cập, gần cửa sông nhánh phía Tây của sông Nile. Đó là một phiến đá granít màu đen, phần đỉnh hình bầu dục hay có thể là tấm bia có đề khắc với kích thước: cao 3feet2inches, ngang 2feet4inches; dày 7inches. Trên bề mặt của nó là 3 thứ ngôn ngữ thông dụng đối với người thượng cổ tại thung lũng sông Nile. Một là tiếng Hy Lạp, nhưng hai thứ tiếng còn lại thì vẫn là ẩn số. Nhiều người đã cố gắng thử đọc hai ngôn ngữ nầy, tuy nhiên một thanh niên người Pháp lỗi lạc tên là Jean Champollion đã dâng hiến trọn cuộc đời để giải mã các ngôn ngữ chưa được biết nầy. Trong suốt 23 năm ròng rã vật lộn với nội dung của phiến đá với sự ủng hộ của người anh ruột thịt. Cuối cùng vào năm 1822, ông ta đã xuất bản toàn bộ bản dịch tam ngữ của câu khắc trên bia: chữ Hy Lạp cùng với chữ tượng hình và chữ dân gian Ai Cập , như vậy đã chứng tỏ rằng Tảng đá Rosetta được viết bằng ba thứ tiếng - loại tiếng nói của Pha-ra-ôn, nhờ nó mà sau nầy các nhà khảo cổ đã mở ra vô số kho tàng lịch sử và văn học chưa ai biết đến tại thung lũng sông Nile.
    Câu khắc Behistun là một ký hiệu nổi-thấp, lớn, ở ngoài trời với kích thước 25feet x 50 feet và cao 350 feet trên bờ vách đá của núi Zagros, ở phía tây nam của Hamadan, Ba Tư. Nó được khắc bằng 3 thứ ngôn ngữ - đều được sử dụng bởi người thượng cổ, nhưng lại rất xa lạ với các học giả thời nay. Công việc giải mã những ngôn ngữ cực kỳ quái lạ, mặc dù rõ ràng là trau chuốt đã thách thức một sĩ quan quân đội Anh tên là Henry C.Rawlinson. Ông ta đã leo lên trên gờ dưới 14 đến 18 inches hoặc ngồi trong một cái lồng lơ lửng, sau 14 năm lao động nguy hiểm, một bảng câu khắc hoàn chỉnh đã làm xong. Sau 18 năm ông ta đã giải mã hoàn toàn ba thứ tiếng - chữ hình nêm Ba Tư cổ, chữ Elamite (Susian) và chữ hình nêm Ba-by-lôn. Với chiếc chìa khóa nầy, Rawlinson cùng với các học giả khác đã mở ra bí mật quí báu của nền văn hóa đã biến mất của Assyria, Ba-by-lôn và Ba Tư - đó là những vùng đất mà con người đóng vai trò quan trọng trong các vở kịch được bày ra trong Kinh Thánh.
    Việc sử dụng các ngôn ngữ này trong liên lạc thư từ và liên lạc ngoại giao đã được khám phá vào năm 1887; khi một phụ nữ người Ả Rập du cư đang lúc tìm kiếm các mảnh đất màu mỡ để trồng vườn, bà ta đã đào xới vào mô đất của Tell el Amarna, tại đó, ở bờ đông của sông Nile, có tàn tích của thành phố đẹp thơ mộng của Pha-ra-ôn Akhenaton. Bà ta đã tìm thấy phiến đá có câu khắc và đã bán với giá 50 xu. Giáo sĩ Chauncy Murch hay tin về sự khám phá đó và đã chuyển thông tin ấy đến các viên chức Ai Cập. Sau khi xem xét, người ta đã minh chứng các phiến đá đó chính là các hồ sơ ngoại giao chính thức của bộ ngoại giao Ai Cập dưới thời trị vì của Amenhotep III (1413-1376 TC) và con của ông ta và người kế vị Amenhotep IV (Akhenaton 1375-1358 TC). Trong số các hồ sơ đó có các thông báo chính thức đến từ các quốc vương của Ba-by-lôn, Mitanni và các quốc gia khác của châu Á, nhưng đại đa số các bức thư đều được viết bởi quan tổng đốc của các thành phố và khu vực khác nhau thuộc Palestine, Phoenica và nam Syria (khoảng 150 lá thư của xứ Palestine).
    Các phiến đá Tell el Amarna đã tỏ ra là hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, đến nỗi nhiều người đã xem nó như là việc cấu thành khám phá quan trọng nhất từng có ở Ai Cập. Chính sự thật rằng hầu hết các phiến đá đều được viết bằng chữ hình nêm của người Ba-by-lôn, dù rằng các phiến đá đã đến từ nhiều quốc gia khác nhau, nói lên rằng chữ hình nêm Ba-by-lôn là một hệ thống chung về văn tự mà hầu hết những con người trong vùng đất Kinh Thánh đều hiểu được trong suốt thời kỳ đặc biệt ấy, và có lẽ cả một thời gian dài trước và sau thời kỳ ấy. Vì vậy các nhân vật Kinh Thánh có thể chuyện trò khá dễ dàng với những người khác nhau khi họ di chuyển từ nước này qua nước khác như đã được chỉ ra trong Kinh Thánh.
    Người ta cảm thấy thích thú nhiều hơn với các cuộc khám phá về mặt khảo cổ, và người ta kêu gọi nhiều cuộc nghiên cứu về địa hình hơn cũng như kêu gọi khai quật nhiều hơn nữa các mô đất thành phố. Nước Anh, Đức, Pháp, Hoa Kỳ và nhiều nước khác hưởng ứng ngay. Chính phủ, đại học, viện bảo tàng, cá nhân có sức ảnh hưởng đã tài trợ cho việc thám hiểm, và công việc đã tấn tới dưới sự chỉ đạo của những người có tài năng, đó là những con người đã xúc tiến công việc, khám phá được rằng tàn tích của các nền văn hóa thượng cổ đã ăn khớp như thế nào với những gì được ghi trong Kinh Thánh và các tài liệu cổ khác về các tàn tích đó.
    Giờ đây, sau 200 năm nghiên cứu về khảo cổ và địa hình, có thể nói rằng một đội ngũ học giả đông đảo đã và đang tìm ra dòng đời thượng cổ từ hàng ngàn mô đất thành phố và đan kết lại thành một mô hình hoàn toàn khớp với các đời sống và việc làm được ghi lại của các nhân vật Kinh Thánh.
    Hàng ngàn các chứng cớ "ngoại tại" chứng thực các câu chuyện kể trong Kinh Thánh đang được phơi bày.
    ABEL BETH MAACAH (Cánh đồng của gia đình bị đàn áp) là một thành phố công sự cổ xưa tọa lạc tại miền cực bắc của Palestine; với một vai trò quan trọng trong thời đại Kinh Thánh thượng cổ dù hơi bi thảm. Thủ lĩnh của nhóm phiến loạn là Sheba đã lánh nạn tại đây và Joab cũng đã đuổi theo đến đó. Một người "phụ nữ khôn ngoan" trong thành phố đã ném thủ cấp của kẻ phiến loạn qua khỏi bức tường thành và vì vậy đã cứu thành phố (IISa 2Sm 20:14-22). Dưới thời Bên-ha-đát (IVua 1V 15:20) thì thành phố nầy đã bị người Sy-ri chiếm đóng và sau đó bị người A-si-ri chiếm đóng vào thời Tiếc-la Phi-lê-sê (IIVua 2V 15:29). Trong thời kỳ La Mã thì thành phố nầy mang tên Abila. Ngày nay nơi này được gọi là Tell Abil và là một mô đất (tell) chưa khai quật điển hình, đứng sừng sững trên vùng cao đồng bằng khoảng 6 dặm phía tây Đan, nhìn xuống vùng đất trũng trải dài tới phía đông nam của hồ Huleh.
    CỘT ABSALOM (Bia Áp-sa-lôm) là đài tưởng niệm đẹp dù có phần nào kỳ lạ khi mang tên cột Áp-sa-lôm, tọa lạc tại thung lũng Kidron phía đông Giê-ru-sa-lem, giúp củng cố thêm lời giải thích trong Kinh Thánh nói rằng: "Trong lúc sinh thời Áp-sa-lôm đã chạm một cái cột và dựng lên tại thung lũng Vua như là một đài tưởng niệm cho bản thân, bởi vì ông ta nghĩ rằng "ta không có con trai đặng lưu danh ta" (IISa 2Sm 18:18).
    Đài tưởng niệm này cao 47 feet (khoảng 14,1m), phần dưới là một khối đá rắn khoảng 20 feet vuông và cao 21 feet, hoàn toàn tách khỏi vách đá bởi lối đi được đẽo rộng 9 feet và trang trí bằng kiểu cột Ionic (một kiểu cột Hy Lạp cổ).
    Phần trên là cấu trúc vòng tròn viền quanh bằng đường gờ dây thừng và trên đỉnh là một tảng đá tạc một cách nghệ thuật có hình phễu uốn cong vào phía trong. Trong đó là một căn phòng với diện tích 8 feet vuông với các kệ để phần mộ ở hai bên.
    Đài tưởng niệm này có thể đã do Áp-sa-lôm và thuộc hạ của mình đẽo tạc, nếu có đúng như vậy thì phần trang trí bên ngoài có thể đã được thêm vào sau đó. Theo như sự tồn tại đến hiện nay của bia Áp-sa-lôm thì nó có từ giữa thế kỷ thứ 2 TC và đầu thế kỷ thứ 5 TC - trừ phi Áp-sa-lôm cũng giống như người anh của mình là Sa-lô-môn, đã vay mượn các thiết kế kiến trúc khá lâu trước đó.
    ACCO hay ACRE Được biết đến trong thời đại Kinh Thánh Cựu Ước với cái tên Acco (Cac Tl 1:31) và trong thời Tân Ước thì có tên là Ptolemais, tọa lạc tại đầu cùng phía bắc của bãi biển hình vòng của vịnh Acre.
    Nơi đó đầy dẫy các hồi ức lịch sử ngược dòng thời gian về những năm tháng trước khi người Y-sơ-ra-ên có mặt tại Palestine. Nó được nhắc đến như là một địa điểm quan trọng trong các văn bản của người A-si-ri, người Ai Cập, người Maccabe, người Hy Lạp, người La Mã, thập tự quân và trong thời kỳ Napoleon cũng như mãi sau nầy. Tuy vậy, những người Cơ Đốc sẽ luôn luôn ghi nhớ nó như là nơi mà Phao-lô, trong hành trình cuối cùng của ông đến Giê-ru-sa-lem đã "chào hỏi các anh em và lưu lại đó một ngày" (Cong Cv 21:7).
    Các tàn tích cổ xưa hơn của Acco không thể khai quật được vì cớ các tòa cao ốc trên đó, còn phần các bức tường và công trình đắp bằng đất là những mẫu mực hoàn toàn cho các công trình xây bằng đá của thế kỷ 18 sau nầy, được xây dựng phần lớn trên nền tảng của thập tự quân bằng những tảng đá lấy từ bức tường thập tự quân.
    ACZIB Ngày nay được gọi là es-zib, đó là một hải cảng cổ xưa của người Phoenix làm chật ních đường bờ biển 9 dặm ở phía Bắc Acco. Bộ tộc Asher được phân chia vùng này, nhưng họ đã không thể tiếp quản thành phố. Ngày nay đây là một làng chài êm đềm giáp biển Địa Trung Hải ở phía tây, một nhánh sông ở phía nam, và sông Chezib ở phía bắc.
    Những người khai quật đã mở các ngôi hầm mộ và hố mộ ở phía nam và nghĩa trang ở phía đông, tại đó 400 thi thể đã được hỏa táng và chôn cất trong suốt 300 năm - từ thế kỷ 10 TC cho đến cuối thế kỷ thứ 8 TC. Trong các ngôi mộ nầy có những khí mạnh nghi lễ, các tượng người nặn bằng đất sét, các bình nước đỏ bóng tao nhã, bình (có quai và vòi) với các sớ màu đỏ nổi tiếng của người Phoenic. Tro thi hài của từng người được đặt trong hố hỏa táng phía trên có một cái nắp và niêm phong bằng đất sét bùn.
    Một khoảnh đất ở phía nam của mô đất đã được khai quật, tại đó người ta đã phát hiện các tàn tích của thập tự quân, người Ba Tư, người Hê-lê-nít, người La Mã, và các tàn tích trước thời La Mã. Ở phía bắc của mô đất một cái hào dài 40m bộc lộ một công sự thành lũy của thời kỳ Đồ Đồng Giữa mà nó đã bị phá hủy ở đầu thời kỳ Đồ Đồng Muộn. Thành phố đã được tái thiết, và trong sự san bằng của thời kỳ Đồ Sắt là tàn tích của một số tòa nhà công cộng, một trong những tòa nhà đó có vô số các bình (có quai và vòi) đứng cạnh nhau. Một số bình có câu khắc Arama, chẳng hạn như: "Kính dâng chúa tôi, quốc vương."
    ADULAM Đây là hang động thường xuyên được dùng làm bộ chỉ huy bí mật của Đa-vít và số thuộc hạ đông đảo khoảng 400-600 người. Theo truyền thống thì hang nầy toạ lạc tại miền đồng vắng ở vách đá cheo leo thuộc miền nam Wadi Khareitun, khoảng 2 dặm về phía nam của Herodium và 3 dặm về phía đông bắc của Tekoa.
    Nơi này có vẻ hoang dã và bí hiểm, với các mảnh đá đồ sộ rải quanh hang, còn cái hang thì nằm trên một gờ dài, hẹp ở phía trên cao của đáy khe núi. Một tảng đá lớn gãy khúc nặng hàng tấn, gần như chắn ngang lối vào. Gần đó là một con suối với dòng nước mát và trong vắt.
    Lối vào duy nhất của hang là một khe hở hình tròn với chiều cao khoảng 2,1m (7feet). Bên trong có một lối đi thấp và hẹp dẫn vào một cái hang nhỏ, từ cái hang nhỏ nầy có một lối đi quanh co dẫn vào một phòng rộng khoảng 464,5m2 (5000feet vuông). Các lối đi hẹp chẻ nhánh và dẫn đến các phòng lớn khác, một số phòng ở mức thấp hơn. Có một căn phòng rộng đủ chứa 1000 người, Nơi này dường như đáp ứng được yêu cầu nêu trong lời tường thuật của Kinh Thánh, và Đa-vít đã thường xuyên lẩn trốn vua Sau-lơ trong vùng đất nầy.
    AI (Đống tro tàn). Là địa điểm thứ nhì bị người Do Thái nhập cư tấn công dưới thời Giô-suê, là nơi thường được đồng nhất với Et-Tell, cách phía đông Bethel khoảng 2 dặm.
    Dựa vào việc khảo sát các mảnh sành trên mặt đất và việc đào bới thử nghiệm vào năm 1928, Giáo sư Garstang và Tiến sĩ Albright kết luận rằng AI có thể đã thất thủ cùng thời điểm với Giê-ri-cô (1400 TC). Vào năm 1934-1935 Juddith Marquet-Krause và S.Yeivin tiến hành hai chiến dịch ngắn gọn mà qua đó họ đã tìm thấy di tích của một thành phố khá phồn vinh nhưng đã bị một trận hoả hoạn thiêu rụi vào khoảng năm 2200 TC. Người ta không tìm thấy các dấu vết xác định về việc chiếm đóng sau đó, ngoại trừ một làng nhỏ của người Hê-bơ-rơ được xây dựng giữa năm 1200 và 1100 TC.
    Việc qua đời đột ngột của bà Marquet-Krause làm kết thúc công cuộc khai quật mà phải sau một thời gian dài nữa mới có thể hoàn tất. Báo cáo các kết quả của công cuộc khai quật, M.Dussaud nhấn mạnh những điều khám phá có tính chất phủ định từ năm 2200 TC - 1100 TC.
    Một số người đã vội vã tuyên bố rằng, cuối cùng thì Kinh Thánh đã được chứng minh là không đúng sự thật. Tuy vậy, các lời tường thuật được viết cẩn thận trong chương 7 và 8 của sách Giô-suê nói rằng nơi đó có tên gọi là AI (đống tro tàn); đó là một địa điểm nhỏ ở phía đông Bethel; lúc ban đầu chỉ có "vài người đàn ông ở đó" nhưng sau đó, một công sự đã được xây lên nhanh chóng bởi tất cả đàn ông ở AI và Bethel (Gios Gs 7:3 8:17;), cho nên khi họ dại dột bỏ thành phố để đuổi theo Y-sơ-ra-ên, "không còn một người đàn ông nào ở lại AI và Bethel." Sau đó người Y-sơ-ra-ên mai phục ở giữa AI và Bethel. bò vào trong và đốt cháy thành phố. Quân đội của Giô-suê đã đánh bại liên minh AI-Bethel; quân đội Giô-suê trở lại và sau khi mang theo trâu bò cùng chiến lợi phẩm đã đốt rụi AI, để lại "đống hư tàn" (Gios Gs 8:28).
    Theo lời kể lại trong Kinh Thánh, ta có lý do vững vàng để tin rằng không hề có sự chiếm cứ trải rộng trên địa điểm của AI vào thời Giô-suê - chỉ hơn một công sự gỗ tạm thời, do các đàn ông của AI và Bethel đồn trú. Vì vậy mà "đống" còn lại sau đám cháy ắt có thể gồm có tro, than và vài viên đá. Chắc hẳn là sau đó người ta đã lượm lặt những viên đá xây sạch sẽ, họ là những người đi tìm các viên đá đẽo sẵn; sau nhiều thế kỷ chia cắt và sự xói mòn mạnh mẽ của gió khiến cho các di tích kể từ thời Giô-suê gần như không thể nhận ra trong thời đại chúng ta. Tuy nhiên, với sự khai quật nhiều hơn và cẩn thận hơn, thì một số tàn tích ít ỏi còn sót lại của AI vào thời Giô-suê có lẽ sẽ được tìm thấy. Hoặc giả, AI với tiếng tăm trong Kinh Thánh sẽ được phát hiện vị trí ở một nơi nào khác.
    AKELDEMA hay "ruộng của người thợ gốm" nhắc nhở chúng ta về trường hợp bi thảm của Giu-đa khi ông ta bán Chúa lấy 30 miếng bạc, sau đó mang tiền đi trả với nỗi dày vò tâm linh và cuối cùng treo cổ mà chết. "Các thầy tế lễ cả lượm bạc và …bàn với nhau dùng bạc đó mua ruộng của kẻ làm đồ gốm để chôn những khách lạ. Nhơn đó ruộng ấy đến nay còn gọi là "ruộng huyết" (Mat Mt 27:6-9).
    Ở đầu cùng phía đông của dốc phía nam thung lũng Hinnom là một vùng đá gồ ghề ước chừng 8093m2 (2 mẫu Anh). đã được biết dưới tên "ruộng của kẻ làm đồ gốm kể từ thời Jerome (400 SC). Tại đây, nơi trải dài từ một cái hang thiên nhiên cũng chính là nơi chôn cất khách lạ và kẻ bất hạnh qua nhiều thể kỷ.
    Truyền thống thì khăng khăng cho rằng đây chính là vị trí của "nhà của người thợ gốm" mà Giê-rê-mi đã thăm viếng (Gie Gr 18:1-4) và sau đó các thầy tế lễ cả đã mua nó bằng đồng tiền phản bội để làm nơi chôn cất các khách lạ. Điều này có lẽ đúng vì nó đáp ứng được yêu cầu của Kinh Thánh và được nhiều chuyên gia chấp nhận.
    ALEXANDRIA Nơi sanh của Apollos, do Alexander đại đế làm nền móng vào năm 331 TC. Tại đây có cung điện của Ptolemies, các viện bảo tàng tuyệt vời, các thư viện lừng danh, với các dân chúng thông minh sắc sảo của Hy Lạp, Do Thái và Ai Cập, làm cho nơi đây trở thành một trong các trung tâm lớn nhất về tri thức và văn hóa của đế quốc La Mã.
    Bản Bảy Mươi (280-170 TC) của Cựu Ước được viết tại Alexandria, và cũng tại đây trong thời Tân Ước, Philo Judaeus lúc sinh thời là một người Do Thái tài ba và kỉnh kiền, đã viết những bài về Ngôi Lời (Logos) ở một phương diện nào đó tương tự như các sách do sứ đồ Giăng viết.
    Người Ả Rập chiếm Alexandria vào năm 641 SC, phá hủy các viện bảo tàng tráng lệ, đốt cháy đại thư viện với tất cả sách quý trong đó cùng với các bản thảo, các hồ sơ. Người Thổ Nhĩ Kỳ kế tục vào 1517. Những bức tường của Alexandria và các tòa nhà chỉ còn là đống hư tàn, và sự huy hoàng trước đây của Alexandira không còn nữa. Thành phố hiện đại được xây dựng bên trên các đổng đổ nát; vì vậy các khám phá về khảo cổ học bị hạn chế rất nhiều đối với các di tích như Cột Pompey và hai tháp kỷ niệm của thế kỷ 16 TC tên là "Những Cây Kim của Cleopatra." Vào năm 1878 một trong những tháp nầy được mang đến nước Anh và dựng trên đê sông Thames, gần Toà nhà Quốc Hội. Tháp còn lại được dựng lên ở Công viên Trung Ương, New York vào năm 1881.
    AMARNA, TELL EL (Mô đất của Amarna) Nằm giữa chừng của Memphis và Thebes, và là di tích của thủ đô kiểu mẫu của Pha-ra-ôn Akhenaton (Amenhotep IV) đã bị cướp phá và bỏ mặc cho tàn lụi vào khoảng 1358 - 50 TC.
    Văn bản, lịch sử, chính trị và quan hệ buôn bán cũng như phương thức và tập quán của vùng đất Kinh Thánh đã được soi sáng rất nhiều, vào năm 1187, một bà nông phu đào bới để tìm đất phì nhiêu trong mô đất của Amarna và đã khám phá văn thư lưu trữ hoàng gia của Amenhotep III và con hoàng tộc của ông là Amenhotep IV, Amenhotep IV khi mới bắt đầu sự nghiệp đã thay đổi tôn giáo và được biết đến như là Akhenaton.
    Cuối cùng, hơn 350 phiến đã chữ hình nêm được phục hồi, hầu hết là các bức thư cá nhân chân tình và được gửi từ vua, quan tổng đốc và sĩ quan tại các thành phố và thành luỹ của Ba-by-lôn, Mitanni, Phoenic, Sy-ri và Palestine. Các phiến đá được viết được viết trong khoảng thời gian 1400-1358 TC và gửi đến hai vị Pha-ra-ôn tại cung đình Ai Cập. Một số phiến đá nầy hiện nay đang ở trong Viện Bảo Tàng quốc gia của Anh, Pháp, Ai Cập và Đức; một số khác do những nhà sưu tập tư nhân sở hữu. Các phiến đá nầy có chiều rộng 2-3 inches (5,08-7,62cm), dài 3-9 inches (7,62-22.86cm), khắc chữ ở cả hai mặt.
    Hầu hết các phiến đá nầy đều viết bằng chữ hình nêm của Ba-by-lôn, và tiết lộ một sự thật rằng các dân tộc khác nhau của quốc gia Tây Á đã sử dụng chữ hình nêm như là một ngôn ngữ chung trong một thời kỳ dài. Vì vậy, khi Áp-ra-ham đến Sy-ri, Ca-na-an và Ai Cập ông có thể chuyện trò ngay với những con người khác nhau.
    Còn về nội dung, những phiến đá bằng đất sét này miêu tả Palestine và các quốc gia xung quanh như là đang ở trong một tình trạng hỗn loạn bên trong, và đang bị tấn công từ bên ngoài. Chẳng hạn, quan tổng đốc và sĩ quan phụ trách Gezer đã viết cho Pha-ra-ôn và nói rằng, sau đây xin trích một phần:
    "Xin chúa tôi vua tôi, thái dương trên trời, lưu tâm đến đất đai của Ngài, bởi vì Khabiri hùng mạnh chống lại chúng ta; và xin vua tôi, chúa tôi đưa bàn tay của Ngài đến tôi và xin Ngài giải thoát tôi khỏi bàn tay của họ. Như vậy họ sẽ không tiêu diệt được chúng tôi.
    Một số lá thư đến từ Abddi-Heba, quan tổng đốc của Urusalem (Giê-ru-sa-lem), khẩn cầu sự giúp đỡ của Pha-ra-ôn Akhenaton để tránh cho đất nước rơi vào sự thống trị của người Ai Cập. Một đoạn của lá thư đã viết:
    Kính gửi chúa tôi,vua tôi. Đầy tớ Ngài là Abdi-Heba xin thưa. Dưới chân của vua, chúa tôi, tôi xin sấp mình 7 lần và 7 lần… Toàn vùng đất đai của vua đang nổi loạn. Chẳng có một quan tổng đốc nào trung thành với vua, tất cả đều nổi loạn. Nguyện xin vua lắng nghe Abdi-Heba và gửi quân đội đến, bởi nếu quân đội không đến trong năm nay thì toàn bộ lãnh thổ của vua sẽ bị mất. Habiru sẽ cướp lấy thành lũy của vua. Nguyện xin vua quan tâm đất đai của Ngài. Habiru đang chiếm lấy các thành phố của vua…nếu không có xạ thủ nội trong năm nay, vậy thì xin vua gửi một đại diện để ông ta có thể giúp đỡ tôi cùng anh em của tôi và chúng tôi chết cùng vua, chúa chúng tôi.
    Những phiến đá này thường xuyên sử dụng danh xưng Khabiri khi nói về những kẻ đang dày xéo đất nước. Nhiều học giả đã xem Khabiri như là người Hê-bơ-rơ, và nhiều tài liệu ăn khớp với những ngaỳ tháng đầu tiên (1400 TC) khi người Hê-bơ-rơ bắt đầu chinh phục xứ Ca-na-an dưới thời Giô-suê. Nhưững phiến đá nầy đang nói rằng "Tại đây chúng ta có một câu chuyện về sự chinh phục xứ Ca-na-an của Giô-suê được kể từ phía quân thù."
    ANATHOTH Nhà của thầy tế lễ A-bia-tha (IVua 1V 2:26) và nhà của tiên tri Giê-rê-mi (Gie Gr 1:1), toạ lạc khoảng ba dặm đôgn bắc của Giê-ru-sa-lem. Tên của nơi nầy tồn tại trong một làng nhỏ của Anata , nhưng tàn tích của chính Anathoth cổ lại nằm khoảng 731,5m (800yards) về phía tây bắc, trên đỉnh một ngọn núi rộng ngày nay có tên là Ras el - Kharrubeh . Những người khai quật khám phá rằng nơi đây bắt đầu có người cư ngụ khoảng 1000 trước công nguyên, như là một thành phố của thầy tế lễ Y-sơ-ra-ên, và tiếp tục cho đến thế kỷ thứ 7 SC. Người ta không tìm thấy những vật gì chắc chắn là của Giê-rê-mi, nhưng quang cảnh về phía đông của đồng vắng Giu-đa và biển Chết thì gây ấn tượng mạnh, nhắc nhở chúng ta về lời nói của Đức Chúa Trời thông qua Giê-rê-mi "…Ta há là một đồng vắng hay là một đất tối tăm mờ mịt cho dân Y-sơ-ra-ên sao?"
    ANTIOCH Là nơi mà những người theo Chúa Giê-xu được gọi là Cơ Đốc nhân, cách Giê-ru-sa-lem khoảng 300 dặm về phía bắc, trên bờ tây của sông Orontes. Vào thời cổ đại nó được gọi là "Hoàng hậu đông phương" do hoàn cảnh xung quanh đẹp đẽ, cũng như tầm quan trọng về thương mại của nơi đây, đây cũng là một vị trí chiến lược nằm trên giao lộ của các đoàn lái buôn giữa đông, tây, nam, bắc.
    Đại học Princeton và Viện Bảo Tàng Quốc Gia Pháp bắt đầu khai quật vào năm 1932 tại Antioch, và trong 6 năm tiếp sau đó, hơn 20 nhà thờ đổ nát, vô số nhà tắm, hai nghĩa trang, một sân vận động và nhiều sàn nhà lắp ghép lộng lẫy đã được khái quật. Một số sàn lắp ghép nầy miêu tả sự thờ cúng thần Isis (nữ thần sinh nở của người Ai Cập). Một tranh hình lắp ghép lớn và được giữ gìn tốt (30 x 40 feet ) khoảng 9 x 12m, miêu tả truyền thuyết về chim phượng hoàng, trong khi đó thì một tranh lắp ghép được tìm thấy tại sàn nhà thế kỷ thứ 6 của một tòa nhà gần Cổng Thánh Phao-lô, đã mang câu khắc như sau: "Bình an cho những ai vào đây, những ai nhìn vào tranh nầy; vui mừng và phước hạnh cho những ai ở lại đây."
    Tuy nhiên, khám phá gây xúc động mạnh nhất là ột cái cốc uống nước xinh đẹp bằng bạc, tạc từ một cục bạc và bên ngoài được bao bởi một cái ly tiệc thánh được chạm trổ tinh xảo với hình tượng trưng cành nho, ở giữa có 12 nhân vật đang ngồi mà nhiều người đã nghĩ hình ấy tượng trưng cho Đấng Christ và 11 sứ đồ của Ngài. Phần ly bên trong chứa được khoảng 2,35 lít (2,5 quarts chất lỏng), và hiển nhiên đó là một thánh tích thượng cổ với tính thiêng liêng vô cùng. Một vài người, không phải là tất cả, xem đó là Ly Tiệc Thánh của Chúa Giê-xu, được Ngài dùng vào Bữa Ăn Tối Cuối Cùng. Ly này có từ thế kỷ 1 đến thế kỷ thứ 6, hầu hết các học giả lại tán đồng rằng nó có từ thế kỷ 4-5 SC. Cái ly đôi nầy hiện đang để tại Tu viện Cloister, thành phố New York, và nổi tiếng là Ly Tiệc Thánh của Antioch.
    ANTIPATRIS Ngày nay có tên là Ras el Ain, nằm trên một mô đất cao, trên xa lộ cách Giê-ru-sa-lem 42 dặm, vào thời cổ đại, nơi này dẫn xuống thủ đô dọc bãi biển của Caesarea. Hê-rốt Đại đế đã xây dựng nó ngay phía thượng nguồn của sông Aujeh, để tỏ lòng tôn kính cha của ông là Antipater, đồng thời để làm nơi nghỉ chân vui vẻ của lữ khách.
    Bảy mươi kỵ binh và 200 bộ binh đã áp tải sứ đồ Phao-lô như một tù nhân đã đi lạc đường lộ này sau khi nghỉ ngơi tại Antipatris, bộ binh đã ở lại và Phao-lô tiếp tục hành trình với kỵ binh để tới Caesarea, 26 dặm về phía bắc (Cong Cv 23:23-33). Nhiều đoạn của đường phố cổ La Mã nầy, từ Giê-ru-sa-lem đến Caesarea, đang được phát hiện gần Antipatris và vẫn còn cho đến ngày nay.
    ARABAH Ngày nay được biết với tên Wadi Arabah, bắt đầu tận phía nam của biển Chết và trải dài 120 dặm về phía nam cho đến vịnh Aqaba. Đó là một vùng lõm, khô cằn với bề rộng 6-12 dặm - thực tế là sự nối dài của thung lũng Great Rift, khu vực này đã được biết từ thời Kinh Thánh cổ đại dưới tên là Arabah. Bắt đầu từ 393,8m (1292 feet) dưới mực nước biển thung lũng cao dần dần về phía nam khoảng 67 dặm cho tới đường phân nước mà tại đây cao 201,2m (660 feet) trên mực nước biển. Từ đây nó xuống thấp nhanh chóng cho tói 45 dặm về phía nam trải dài tới vịnh Aqaba tại Ezion Geber.
    Sự thăm dò bề mặt cùng với những cuộc đào bới qui mô nhỏ do Tiến sĩ Nelson Ghueck tiến hành đã khám phá một số làng mạc đổ nát với nhiều mỏ đồng, mỏ bạc mà trong thời Sa-lô-môn (900-1000 TC), người ta đã lấy quặng tại đó cũng như trong thời Nabateans (300 TC-100 SC).
    ASHDOD Niềm kiêu hãnh về quân sự của người Phi-li-tin cổ đại được đặt tại một đồi thấp tròn, cách Ashkelon cổ đại 9 dặm về phía đông bắc, 3,5 dặm phía đông nam của Ashdod - thuộc địa cận đại của người Do Thái. Mô đất có diện tích khoảng 100 acres (40,468 hécta), trong đó gồm có một thành lũy kiên cố và một thành phố ở phía dưới.
    Khi người Phi-li-tin cướp lấy hòm giao ước. họ đã đưa hòm đến đây và đặt trong đền thờ Đa-gôn. Sáng hôm sau dân chúng kinh ngạc khi thấy tượng thần Đa-gôn ngã gục trước hòm giao ước của Đức Chúa Trời (ISa 5:3). Tiên tri Ê-sai (EsIs 20:1) báo cáo rằng Sargon, vua A-si-ri (721-705 TC) đã sai Ta-tân là vị tướng của mình đến chiếm lấy thành Ách-đốt. Một vài nhà bình luận có sự tranh cãi về điều này bởi lịch sử thế tục chẳng hề đề cập đến một vị vua như vậy. Nhưng vào năm 1842, M.Botta đã khai quật khorsabad và tìm thấy một cái ống hình tám cạnh có ghi hàng chữ: "Trong cuộc viễn chinh lần thứ 9 đến miền đất bên ngoài biển lớn, đến Phi-li-tin và Ách-đốt tôi đã đi…các thành phố của Ách-dốt và Gimzo của người Ách-đốt, tôi đã bao vây và chiếm lấy."
    Herodotus thuật lại rằng Psamtik I (633-610 TC) là Pha-ra-ôn của Ai Cập, bao vây Ách-đốt trong 29 năm trước khi những lá cờ của Ai Cập tung bay trên thành phố. Sau khi làm báp-tem cho viên hoạn quan người Ê-thi-ô-pi thì Phi-líp đã đến thành A-xốt (Ashdod) để giảng Tin Lành.
    Trong lúc khai quật tại đây vào năm 1962 thì Moshe Dothan và David Noel Freedman đã khám phá 20 tầng lớp cư ngụ cho thấy sự cư ngụ của con người từ thế kỷ 17 TC đến thời Byzantine. Trong ba tầng lớp xã hội của người Phi-li-tin (XIII-XI) họ tìm thấy một cái cổng vào thành phố, một đền thờ, tàn tích của những ngôi nhà, kho ngũ cốc, máy ép rượu, lò nướng bánh, dụng cụ nông nghiệp, vũ khí, và những con dấu được khắc với chữ viết không ai biết. Việc khai quật xác minh sự ghi chép của Kinh Thánh về sự tàn phá của Uzziah, vua xứ Giu-đa (IISu 2Sb 26:6) và khám phá ba trăm bộ xương người vào lúc Sargon chinh phục thành phố. Việc xác minh được chính xác hơn nhờ mảnh vụn của bia Sargon do ông ta dựng lên vào năm 712 TC.
    ASHKELON Là một trong năm thành phố liên bang của người Phi-li-tin, nằm trên bờ biển Địa Trung Hải, cách Gaza 12 dặm về phía bắc. Trông nó chẳng khác gì một cây cung đang giương về phía biển, và tàu bè của nhiều nước khác nhau đã đến bến cảng cổ đại của thành phố nầy để mua ngũ cốc và chở đi. Tại đây Hê-rốt đại đế đã ra đời, sau nầy ông trang trí thành phố bằng nhiều tòa nhà và phố xá với các dãy cột.
    Tiến sĩ J.Garstang và W.J.Phythian-Adams khai quật tại đây vào 1921-1922 và tìm thấy nhiều tàn tích chứng tỏ nhiều người đã sống ở đây - người Ca-na-an, người Phi-li-tin, người Mác-ca-bê, người Hê-lê-nít, người La Mã, thập tự quân và người Ả-rập. Trong số những di tích quan trọng là hoàng cung lớn do Hê-rốt đại đế xây dựng và một ngôi mộ trang trí rất đẹp.
    ASSHUR Đây là nơi đầu tiên trong bốn thủ đô của đế quốc A-si-ri hùng mạnh, ngày nay được gọi là Qala'at Sherqat, toạ lạc tại bờ tây của sông Tigris, cách Mosul hiện đại 60 dặm về phía nam.. Lịch sử của Asshur bắt đầu từ khoảng 3000 TC, các thành phố lần lượt trở nên thịnh vượng, rồi bị phá hủy, thành phố cuối cùng bị tàn phá vào năm 614 TC.
    Việc khai quật mô đất nầy lần lượt do Layard, Rassam và Koldewey đảm trách. Layaard cảm thấy hứng thú khi ông ta nghe người Ả-Rập bàn về cái mô đất có chứa "những hình người kỳ lạ tạc bằng đá đen." Ngay sau khi các nhân viên của Layard bắt đầu làm việc, họ tìm thấy một tượng ba-dan đen bằng với cỡ người mà ba phía được phủ đầy các câu khắc chữ hình nêm nói về Shalmaneser III. Sau đó ông ta tìm thấy các viên gạch có khắc chữ, các viên đá làm ranh giới, mảnh vỡ của các phiến đá mỏng có khắc chữ và vài ngôi mộ với đầy đủ nội dung bên trong.
    Trong năm 1853 Hormuzd Rassam cùng với công nhân đang đào bới mô đất thì Rawlins gửi một thông điệp khuyến cáo Rassam nên tìm kiếm "viên đá góc nhà" tại nền móng của ngôi miếu cổ (ziggurat: miếu hình kim tự tháp của người A-si-ri và Ba-by-lôn). Ngay sau khi điều tra, Rassam tìm thấy hai "phiến đá móng" của Tiglath - Pileser I (1110-1103 TC) và về sự tái thiết của Tiglath-Pileser khi ông còn sống. Một phiến đá đề cập rằng đây là thành phố Asshur.
    Năm 1903, những người Đức dưới sự chỉ đạo của Robert Koldewey, bắt đầu công cuộc khai quật có hệ thống và tiến hành cho đến khi thế chiến thứ nhất bùng nổ. Họ thu thập được khối lượng lớn đồ sứ, dấu vết về đường nét của các đền thờ, miếu thờ, cung điện, phố xá và các công sự, cũng như khám phá nhiều bia có khắc chữ của các vị vua A-si-ri. Họ tìm thấy một bài thơ song ngữ của người A-si-ri nói về sự sáng tạo thế gian và sự khai sinh của nhân loại. Những dấu hiệu cùng với bài viết trông giống như "các nốt nhạc." Quy mô khám phá của người Đức tại Asshur có lẽ sẽ không được người ta biết đến, bởi vì chiến tranh cắt đứt công việc và các báo cáo đầy đủ và ấn phẩm cũng sẽ không bao giờ được thực hiện.
    ATHENS Một trong những trung tâm văn hóa lớn nhất trong thời Phao-lô, phát triển trên một cao nguyên đá ở độ cao 158,5m (520feet) có tên là Acropolis. Tại đây, trên vùng đất cao nầy đứng sừng sững Parthenon nhiều cột, đó là kỳ quan kiến trúc nổi tiếng, và cũng có nhiều công trình xây dựng lớn dành cho việc thiêng liêng, nên chỗ nầy được gọi là "Acropolis nhiều đền thờ."
    Về phía bắc của Acropolis là trung tâm hành chánh danh tiếng và khu vực thương mại, mang tên Agora, tại đó người ta không những buôn bán mà còn thăm viếng và thảo luận các vấn đề sôi nổi lúc bấy giờ. Từ Acropolis tiến về phía đông bắc là một đồi đá có tên Areopagus hay Đồi Hoả Thần, tại đây các hội đồng và Tòa Án Tối Cao nhóm họp. Cả hai nơi này đều quen thuộc đối với Phao-lô. Tại khu thương mại, Phao-lô "biện luận…hằng ngày với những người tình cớ có mặt ở đây" (Cong Cv 17:17). Trong số những người theo phái Khắc Kỷ và phái Khoái Lạc đang nghe Phao-lô, có người hiếu kỳ, hâm mộ nhận xét rằng: "Ông ta dường như đang giảng về các thần ngoại quốc." (Cong Cv 17:18). Vì vậy họ đưa Phao-lô lên đồi để nói trước phiên họp không chính thức của tối cao pháp viện. Đứng giữa Đồi Hỏa Thần, trước các vị đại biểu uyên bác vào bậc nhất thời đó, cũng có nhiều người khác đến lắng nghe Phao-lô nói về việc "Thờ Thần Không Biết" và công bố một trong những sứ điệp mạnh mẽ của mọi thời đại. Một số người cười nhạo, một số người xúc động sâu xa, và những người khác đã tiếp nhận Đức Chúa Trời.
    Nhờ vào nhóm Nghiên Cứu Cổ Điển Hoa Kỳ, khu thương mại đã được khám phá, các đường sá được vẽ thành sơ đồ, các tòa nhà đổ nát được nhận dạng.
    Bậc thang bắng đá gồm 35 nấc được tạc bằng đá ở tận trên đồi Hỏa Thần, và các dấu vết của bàn thờ và nhiều băng ghế đá trên đỉnh đồi có thể thấy được mãi đến nay. Hàng ngàn du khách từ các nơi trên thế giới, đến đứng trên các nấc thang nầy trên đồi Sao Hỏa, họ vẫn còn cảm xúc bởi ngôn từ và sức mạnh tinh thần trong bài thuyết giảng của Phao-lô.
    Về phía tây nam là con đường cổ dẫn đến Cô-rinh-tô
    Tại A-thên người ta không tìm thấy tàn tích của câu khắc bàn thờ "Kính Lạy Thần Không Biết" mà Phao-lô đã đề cập, nhưng vào năm 1903 người ta tìm thấy một câu khắc giống như vậy trên một bàn thờ khi khai quật thành phố Pergamum (xem thêm 4422).
    BAALBEK Ở giữa bình nguyên Bekaa phì nhiêu, giữa rặng núi Li-băng và Đối Li-băng chính là đống hư tàn khổng lồ của Baalbek, nơi mà người Hy Lạp và người La Mã gọi đó là Heliopolis, "thành phố mặt trời."
    Khởi thủy thành phố này có từ rất lâu đến nỗi nó thất lạc trong truyền thuyết cổ đại của Ba-anh "vị thần kiểm soát vận mệnh con người." Trong các thế kỷ đầu tiên của thời đại Cơ Đốc chúng ta, Baalbek đã hết sức thịnh vượng mà còn nổi tiếng nữa. Các tòa nhà mà chúng ta biết ngày nay là do Hoàng đế La Mã Antonius Pius (138-161 SC) khởi công và được tiếp tục bởi Septimius Severus và những nhà cai trị khác cho đến Caracalla (211-217). Người La Mã xây dựng Baalbek để tôn vinh thần Jupiter, Ba-anh và thần Bachus. cũng nhằm tạo ấn tượng về sức mạnh và vĩ đại của La Mã đối với các quốc gia Cận Đông. Là một trung tâm thờ phượng mặt trời, nó được vinh dự như ngôi đền thánh vì được nhiều nhà cai trị cũng như những nhân vật lừng danh xa gần đến viếng thăm.
    Dưới thời Constantine, đền thờ Baalbek trở thành nhà thờ Cơ Đốc, nhưng khi người Ả-rập chiếm thành phố vào năm 634 SC thì họ biến toàn bộ đền thờ thành một pháo đài vững chắc có vai trò quan trọng trong chiến tranh thập tự quân vào thời Trung Cổ. Baalbek đã bị cướp phá và hầu như bị tàn phá một đôi lần nhưng vẫn tồn tại. Vào năm 1664 và năm 1750 là các trận động đất dữ dội làm cho nó mãi mãi không phục hồi nữa.
    Lần đầu tiên châu Âu biết đến Baalbek thông qua hai kiến trúc sư người Anh, Wood và Dawkings, họ đã thăm viếng hiện trường vào năm 1751. Sau chuyến đi Giê-ru-sa-lem và Đa-mách vào năm 1898, Kaiser Wilhelm II và hoàng hậu Đức đã viếng Baalbek. Họ đến nơi vào lúc chiều tối, dựng lều trại trên khu đất trống giữa đống hư tàn, và rời khỏi đó vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, cuộc dừng chân ngắn ngủi nầy cũng đủ để thuyết phục vị vua người Đức này làm hết sức mình để bảo tồn đống hư tàn hùng vĩ ấy cho thế hệ mai sau. Sau khi trở về Berlin, vua Kaiser Wilhelm II đã có những biện pháp cần thiết, trong vài tuần sau đó các chuyên gia Đức đã có mặt tại hiện trường. Vào năm 1900, dưới sự giám sát của nhà khảo cổ Otto Pucchstein và kiến trúc sư Bruno Schutz, các chuyên gia và công nhân bắt đầu dọn đống gạch vụn, một tháng sau thì công việc khai quật bắt đầu. Khoảng năm 1904 công việc chính yếu coi như hoàn tất; hàng tấn gạch vụn được dọn sạch và trật tự thay cho sự hỗn độn trước đó. Hiện trạng của thành phố là kết quả công việc được thực hiện cách đây khoảng 75 năm.
    Kể từ khi Baalbek được người ta viếng thăm và nhiều du khách đã kinh ngạc về nơi nầy, họ dễ dàng nhận ra rằng Baalbek là một trong những đống hư tàn nổi tiếng nhất vùng Địa Trung Hải. Chỉ có đền thờ Amon tại Karnak, đống hư tàn tại Palmyra và Parthenon (đền thờ nữ thần Athena của Hy-lạp, xây xong vào khoảng 438 TC) tại Athens mới sánh nổi với Baalbek. Baalbek tồn tại được lâu dài một phần nhờ sự xây dựng kiên cố, dầu đây là một công trình có qui mô khổng lồ. Đống hư tàn chỉ có diện tích khoảng 290m x 198m (950feet x 650 feet), nhưng nó là hỗn hợp của công trình kiến trúc La Mã lẫn đông phương, như một nhà quan sát đã nhận xét "đó là sự pha trộn giữa sự đồ sộ và sự duyên dáng", để đem lại cho người xem "một cảm giác thanh thản sâu xa."
    BABYLON Thành phố hùng vĩ nhất của thế giới cổ đại, phần lớn được xây dựng bởi nỗ lực của Hammurabi (1728-1686 TC) và Nê-bu-cát-nết-sa II (604-562 TC). Nó suy tàn theo sự sụp đổ của Nebuchadnezzar, và càng suy sụp hơn dưới thời Bên-xát-sa, cuối cùng tàn lụi dưới tay của người Parthian vào năm 130 TC.
    Nieebuhr, Rich và Rassam đã thăm dò kỹ lưỡng đống hư tàn của Ba-by-lôn nằm dọc hai bên sông. Nhưng công lao thuộc về Robert Koldeway và các nhân viên của ông với sự khai quật kỹ lưỡng trong suốt 14 năm ròng rã tại Ba-by-lôn từ 1899 đến 1913.
    Các khám phá tại Ba-by-lôn không kém gì những khám phá phi thường. Trong số các khám phá quan trọng hơn gồm có: (1) một bức tường quanh thành phố chính với chiều dài hơn 14 dặm, bề dày khoảng 41,5m (136,5feet); (2) nhiều cổng thành phố, trong số đó có cổng Ishtar có 575 bức hình tráng men các con rồng, bò đực, sư tử là nổi bật nhất; (3) "con đường lễ rước" đi vào thành phố theo Cổng Ishtar ở phía bắc, đi ngang hoàng cung, rồi xuyên thẳng qua thành phố chính đến đền thờ Marduk "Đấng Sáng Tạo, Vua của vũ trụ"; (4) cung điện trang hoàng lộng lẫy của Nê-bu-cát-nết-sa với phòng yến tiệc và phòng đặt ngai vua 51,2m x 17m (168feet x 56feet; (5) nền móng và đường nét bên ngoài của Tháp Ba-bên, có tên là "E-Temen-an.Ki" (Nhà của bệ móng Trời và Đất), người ta tin rằng đó là tàn tích của tháp Ba-bên xấu số được đề cập trong sách Sáng Thế Ký; (6) Vườn Treo hay một đống hư tàn trải rộng như hình tứ giác, tạo nên một hầm mộ với mái vòm cao, hoặc như căn phòng nằm dưới mặt đất được chống đỡ bởi vòm gạch, phía trên phủ bằng bụi bẩn và gạch vụn. Các nhà khai quật tin rằng những đống hư hàn nầy là tàn tích của cấu trúc nền Vườn Treo lừng dành (một trong Bảy Kỳ Quan Của Thế Giới Cổ Đại); (7) và khoảng 300 phiến đá chữ hình nêm đều nói về sự phân phối dầu ăn và lúa mạch cho các tù nhân, công nhân lành nghề đến từ nhiều nước và sống ở Ba-by-lôn và những vùng lân cận, trong khoảng thời gian 595-570 TC. Trong số những con người được đề cập là "yow-keen" (Joiachin) "Vua của xứ Yehud" (Judah hay Giu-đa) và năm người con trai trẻ của ông đang nằm trong tay của Keniah chính là người hầu cận của họ.
    BEERSHEBA Trung tâm của đời sống tộc trưởng, có nghĩa là "Giếng của lời thề", tên nầy bắt nguồn từ lời thề giữa Áp-ra-ham và A-bi-mê-léc, vua của Ghê-ra (SaSt 21:31). Hai trong số những cái giếng ở vùng này đã có từ xưa, người ta nghĩ rằng chúng liên quan đến các tộc trưởng - rất có thể là chính những cái giếng mà tộc trưởng và gia nhân đào lấy. Những cái giếng hình tròn và giếng lớn có đường kính khoảng 3,8m (12,5feet) và sâu chừng 20,1m (66feet). Vào năm 1874, trên một trong những viên đá xây nền được lót trong thành giếng, Condor đã tìm thấy dòng chữ ghi ngày tháng cho biết việc sửa chữa đã được thực hiện vào thế kỷ 12 SC. Thành giếng bằng gạch cũ xưa này bị dây thừng xói rãnh trong nhiều thế kỷ nay được thay bằng một miệng giếng mới hơn và một cái bơm nước có phần nào cận đại. Nhưng nhiều lạc đà, trâu bò, cừu vẫn uống nước ở đây hàng ngày bằng các viên gạch đẽo và máng xi-măng.
    BELVOIR Là một pháo đài danh tiếng của thập tự quân với một trong những bức tường công sự đẹp nhất, trải dài về phía đông từ núi Moreh. Belvoir ở độ cao 426,7m (1400feet), phía trên thung lũng Giô-đanh và cũng chính nhờ tọa lạc ở độ cao như vậy nên có thể quan sát các hoạt động xảy ra trên mọi nẻo đường giữa Ti-bê-ri-át và Beth Shan. Belvoir có thể nhìn rõ hai xa lộ đi lên từ thung lũng Giô-đanh về hướng tây vào trong nội địa, một hướng theo ngã thung lũng Jezreel và một hướng theo lối đi của thung lũng Tabor.
    Trong thời La Mã, thì pháo đài của Agrippina được xây tại đây. Vào năm 1168, thập tự quân chiếm nơi nầy và dựng lên Belvoir như là một trong các pháo đài của họ. Belvoir đẩy lùi lực lượng hùng mạnh của người Hồi giáo cho tới tháng 1.1191, khi tháp phía đông bị phá hoại ngầm và bị tiêu diệt. Thấy được cảnh tiếp tục chiến đấu vô vọng, các thập tự quân cầu hòa và được phép tự do đi đến Ty-rơ. Belvoir bị phá hủy vào năm 1241, và một làng Ả-rập đã mọc lên trên đống đổ nát của Belvoir và cuối cùng bị bỏ hoang từ năm 1948.
    Vào năm 1966-1967, M.Ben-Dor đại diện Cơ Quan Phụ Trách Công Viên Quốc Gia Do Thái tiến hành việc khai quật khu vực nầy, đã tìm thấy chuồng trại, nhà kho, bể chứa nước, một nhà bếp, một đại sảnh rất đẹp với các cộ bằng đá bazan đen được khám phá gần đống đổ nát của một nhà thờ.
    BETHANY Nhà của Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ, ngày nay gọi là el-Azarieh ("nơi của La-xa-rơ"). Nó nằm trên dốc phía đông của núi Ô-li-ve, cách Giê-ru-sa-lem hai dặm về hướng đông.
    Tàn tích cổ xưa gồm có một cái hang mộ, một số người coi đó là mồ của La-xa-rơ, và có một đống đổ nát của hai căn nhà được người ta nói với du khách rằng đó là nhà của người phung có tên Simon và nhà của Ma-ri, Ma-thê, La-xa-rơ nhưng thật ra chẳng có gì đáng tin cậy cả.
    Nơi gọi là "mồ của La-xa-rơ" là một hang động, đi xuống bằng 25 bậc thang. Ta thấy ít có khả năng cái hàng nầy lại có liên quan gì đến mồ mả của La-xa-rơ, tuy vậy người ta đã gọi như thế từ 300 SC. Đống đổ nát hai tháp được người ta biết đến như là nhà của người phung tên Si-môn, tại đó Chúa Giê-xu đã được xức dầu cam tòng hương qúi giá (Mac Mc 14:3-9) thì có nguồn gốc từ thời trung cổ. Nơi tàn tích không mái nhà được cho là nơi Ma-thê "đã mở cửa để chào đón Chúa" (LuLc 10:38) thì khó có thể là că nhà mà Chúa Giê-xu và các môn đồ của Ngài đến thường xuyên tại Bê-tha-ni. Tuy vậy, thì ba đống đổ nát nầy đã tưởng niệm các sự kiện thiêng liêng trong cuộc đời của Chúa chúng ta.
    BETHEL - ("Nhà của Đức Chúa Trời") Là nơi mà Áp-ra-ham xây bàn thờ thứ nhì, tại đó Gia-cốp đã thấy khải tượng thiên sứ đi lên đi xuống trên thang bắc lên đến tận trời, cũng tại đó, sau hai mươi năm. Gia-cốp đã trở lại theo lời thề hứa để xây một bàn thờ cho Chúa và đặt tên là "El Bethel, vì là nơi Đức Chúa Trời đã hiện ra cùng người…" (SaSt 35:2-7). Giê-rô-bô-am đã làm ô uế nơi này khi ông ta dùng một con bê bằng vàng dâng làm của lễ.
    Tiến sị Albright của Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương Hoa Kỳ tiến hành thăm dò chiều sâu tại đây vào năm 1927, và có thêm sự tham gia của Tiến sĩ J.L.Kelso của Thần Học Viện Pittsburgh Xenia cùng với nhóm các nhà khảo cổ trẻ vào năm 1934. Công việc khai quật được Tiến sĩ J.L.Kelso thực hiện tiếp tục vào năm 1954.
    Các khám phá cho thấy tại đây có sự định canh định cư vào khoảng năm 2000 TC, rồi một đám cháy dữ dội đã phá hủy nơi này vào thế kỷ 13 TC, có thể là vào thời kỳ hỗn loạn của Các Quan Xét, hoặc như một số người đã đồng ý, người Y-sơ-ra-ên nhập cư vào thời Giô-suê đã tàn phá nơi đây. Thị trấn đã được tái thiết vào thế kỷ thứ 9, bị người A-si-ri tàn phá vào 724-722 TC, cùng thời gian với sự bao vây Sa-ma-ri, Bê-tên đã phục hồi nhưng lại bị một đám cháy lớn làm tàn lụi vào năm 597 TC, có lẽ là do quân đội của Nê-bu-cát-nết-sa. Tái thiết vào cuối thời kỳ Ba Tư, Bê-tên phồn thịnh cho đến 70 SC thì bị người La Mã tàn phá, cùng lúc với người La Mã tàn phá Giê-ru-sa-lem.
    Những bức tường thành có sớm hơn trước đó là một trong những vật được khám phá quan trọng nhất tại Palestine của thời kỳ ấy và tại đó có một hệ thống mương lót đá được xây dựng cực kỳ tốt đi phía dưới sàn trát thạch cao và dẫn nước mưa cũng như nước tiêu (?) bên ngoài tường thành. Ở cấp độ thành phố ban sơ người ta thấy có nhiều đồ vật cúng tế của người Ca-na-an, nhưng sau khi người Y-sơ-ra-ên chiếm thành phố thì chẳng còn hình tượng nào hoặc đài tưởng niệm dành cho thần giả - chẳng hề còn bết tích của con bê bằng vàng.
    BETHESDA Là một cái ao được cấp nước từ một con suối, xung quanh có năm vòn cửa, tại đây Chúa Giê-xu đã chữa lành người bệnh 38 năm (GiGa 5:2).
    Sự ghi nhận duy nhất chỉ ra vị trí của Bê-tết-đa "gần Cửa Chiên." Hiển nhiên Bê-tết-đa nằm ở phần đông bắc của thành phố, bởi vì dựa theo Josephus và các chuyên gia cổ đại thì khu chợ chủ yếu bán chiên cừu tại Giê-ru-sa-lem nằm phía bắc khu vực Đền Thờ, cũng như chợ cừu Ả-rập trong thời đại gần đây được đặt bên ngoài Cổng Hê-rốt. Bản đồ Medeba (thế kỷ thứ 5) cũng cho biết vị trí của cái ao trong khu vực nầy mang tên là Bezetha.
    Vào năm 1888 việc trùng tu được thực hiện ở nhà thờ Thánh Ann nằm tại khu vực đông bắc của Giê-ru-sa-lem, lúc đó dường như có một cái hồ lớn chứa nước ở đây. Giáo sư Conrad Schick đã làm tư vấn và tổ chức cho một cuộc thám hiểm và đã khám phá toàn bộ khu vực xuống đến cấp độ La-mã, họ phát hiện hai cái ao lớn có nằm vòm cửa và vô số mảnh vụn của trụ và cột - tất cả theo kiểu kiến trúc La-mã, nhưng hiển nhiên có phần nào muộn hơn thời kỳ của Chúa Giê-xu. Dẫn xuống ao là những bậc thang dốc, ngoằn ngoèo và trên một bức tường lồi ra từ một vòm cửa ao, người ta thấy một bức tranh tường đã phai mờ vẽ một thiên sứ trong nước đang khuấy động. Theo truyền thuyết của giáo hội ban đầu thì đây chính là Bê-tết-đa.
    BETHLEHEM Thành phố Đa-vít cách Giê-ru-sa-lem về phía nam khoảng 5 dặm. Tại đây Ra-chên đã được chôn cất và Ru-tơ đã mót lúa trên cánh đồng của Bô-ô, Đa-vít đã được xức dầu để làm vua, Đấng Christ đã ra đời trong máng cỏ và các nhà thông thái đến từ đông phương để tìm thờ Cứu Chúa.
    Ngày nay ngôi mộ của Ra-chên nằm bên cạnh xa lộ, tại lối vào thành phố. Người Hồi giáo, Do Thái giáo, Cơ Đốc giáo đều quí trọng ngôi mộ này, và nó được coi là một trong những địa điểm xác thực nhất của Thánh Địa.
    Nhà thờ Chúa Giáng Sinh do Helena (mẹ của hoàng đế Constantine) xây vào năm 328-330 SC trên mảnh đất truyền thống nầy, ngày nay nhiều người tin rằng đó chính là nơi sinh ra Chúa Giê-xu. Hoàng đế Justinian (527-565 SC) tái thiết nhà thờ vào thế kỷ thứ 6. Dù điêu tàn nhưng ngôi nhà thờ nầy vẫn tồn tại ở Bết-lê-hem. Vào 1934, ông William Harvey tiến hành việc khai quật hạn chế, ở độ sâu 45,8cm (18 inches) dưới sàn nhà của nhà thờ hiện tại, ông đã khám phá một phần của sàn lắp ghép của nhà thờ nguyên thủy do Helena và Constantine xây dựng. Một số tranh lắp ghép có hình hoa lá, hoa quả, chim chóc; những hình khác là các hình học. Trong các hình trang trí nầy chẳng hề có cảnh tôn giáo bởi vì sàn này được dùng để bước trên đó.
    Dưới khu vực ban hát, ở tận phía đông của nhà thờ là dãy cầu thang dẫn xuống hang của Nơi Giáng Sinh, cách sàn nhà độ 7,6m (25feet). Nguyện đường có dạng caai hang này có kích thước 3,65m x 12,2m (12 x 40feet). Các bức tường hoàn toàn bị ẩn khuất bởi các tấm thảm và có những đèn treo rất đẹp trên trần nhà. Ở cuối phía đông của nguyện đường là một cái hầm mộ nhỏ, sàn đá hoa được lắp một sao bằng bạc màu đỏ son và thắp sáng bằng 16 ngọn đèn bằng bạc và sàn được bao quanh bởi một câu khắc đơn giản bằng tiếng La-tinh tuyên bố một sự kiện lạ lùng nhất của lịch sử: "Tại đây, Giê-xu Christ sinh bởi Nữ Đồng Trinh Ma-ri". Gần đó là một máng cỏ làm đầy đủ ý nghĩa của lời tuyên bố sâu sắc: "người sinh con trai đầu lòng, lấy khăn bọc con mình, đặt nằm trong máng cỏ, vì nhà quán không còn chỗ cho họ ở." (LuLc 2:7).
    BETHSAIDA Quê hương của Phi-líp, Anh-rê, Phi-e-rơ, nằm tại bình nguyên Batiha, phía đông và phía bắc là nơi sông Giô-đanh chảy vào biển Ga-li-lê. Bình nguyên trải dài 2 dặm dọc theo Giô-đanh và dọc theo núi hướng đông khoảng 1 dặm.
    Et Tell, là một mô đất nhỏ trên rìa bắc của bình nguyên, thường được người ta xác nhận là Bết-sai-đa. Nhưng một đống đổ nát mang tên el-Araj nằm trên bờ biển, và ngay tại phía đông là nơi mà con sông chảy vào thì được một số người nghĩ rằng đó là địa điểm của Bết-sai-đa "làng chài." Một số giả thuyết cho rằng "Bết-sai-đa tại Ga-li-lê" theo sứ đồ Giăng (GiGa 12:21) ám chỉ rằng có hai nơi mang tên Bết-sai-đa, một nơi ở phía tây Giô-đanh gần hơn Ca-bê-na-um. Nhưng theo lời thuật lại trong sách Tin Lành, thì nói chung, dường như chỉ có một Bết-sai-đa, và các truyền thuyết xa xưa hơn đồng ý với quan điểm này. Việc khai quật trong tương lai có lẽ sẽ giải quyết được vấn đề, nhưng có điều chắc chắn là vị trí chính xác của nơi này không ảnh hưởng đến sự tường thuật trong sách Tin Lành.
    BETH SHAN Nằm tận cuối phía đông của thung lũng Jezreel, và nằm trên bơ2 sông phía nam của sông Jalud. Nó canh giữ xa lộ giữa các thung lũng Jezreel và Jordan và vì vậy nó hết sức quan trọng về mặt chiến lược.
    Công cuộc khai quật của Đại học Pennsylvania giữa năm 1921 và 1933 do Clarence Fisher, Alan Rowe và G.W.Fitz Gerald tuần tự diễn ra đã mang lại nhiều khám phá và đưa ra ánh sáng cho phần lịch sử của thành phố cùng vai trò của nó trong vở kịch mà Ai-cập, Y-sơ-ra-ên và Phi-li-tin đóng vai chính. Khoảng chín cấp độ cư ngụ đã được khai quật, và người ta đã tìm thấy trong những địa tầng khác nhau những bằng chứng văn hóa như đồ sứ, tượng, đá quý, đồ trang sức hình bọ hung, dấu ấn và hủ bằng vàng nặng cỡ 3kg (6 pound) để dâng thần Ba-anh. Mười ba bia khắc hoặc đài tưởng niệm có khắc chữ đã được khám phá. Hai bia khắc trong số đó có mang câu khắc của Seti I (1318-1301 TC) và một bia của Rameses II (1301-1234 TC) và một cái là tượng của Rameses III (1198-1167 TC).
    Bia khắc đầu tiên của Seti I kể lại rất chi tiết rằng ông ta đã gửi "quân đội đầu tiên của Ra" đến Bết-sê-an bằng cách nào để lật đổ liên mih của nhân dân địa phương đang đe dọa sự thống trị của người Ai-cập. Bia khắc đi có nội dung liên quan đến việc đẩy lùi "người Apiru trên núi của Jordan" là người đang muốn bành trướng. Bia khắc này hàm ý nói rằng rất có thể bộ tộc Ma-na-se "không đuổi được dân cư của Bết-sê-an…và các dân cư ở xung quanh họ" (Cac Tl 1:27).
    Bia khắc cao 2,74m (9 feet) của Rameses II được đề ngày là năm thứ chín lúc ông trị vì. Hai mươi bốn dòng chữ trên bia khá mòn, nhưng nó đã mô tả vị vua như là "một con chim ưng giữa bầy chim" là người khiến kẻ thù "bay như lông hồng trước gió." Trong những lời khoác lác của mình, có đề cập đến thành phố Rameses (hoặc Raamses) ở Ai-cập. Đáng tiếc là nguời ta cho rằng bia khắc có đề cập đến thành phố Rameses có nghĩa là các lao công nô lệ châu Á đã xây dựng thành phố đó. Báo chí tuyên truyền rộng rãi khám phá này khiến cho nhiều người tin rằng Rameses II phải là Pha-ra-ôn áp bức, còn Merenptah cùng con trai và người kế vị là Pha-ra-ôn trong Xuất Ê-díp-tô Ký. Sau đó, khi báo cáo chính thức được công bố thì công chúng được thông báo rằng dù thành phố Rameses được đề cập nhưng chẳng hề ám chỉ đến việc xây dựng thành phố, cũng chẳng có liên quan gì đến việc thuê mướn người Hê-bơ-rơ hay người châu Á. Alan Rowe, người khai quật đã nói thẳng thắn rằng: "bài văn chẳng đề cập đến hoạt động xây dựng nào mà cũng chẳng nhắc đến người Do Thái."
    Tàn tích của nhiều công trình lớn về tôn giáo đã được khám phá trong lúc khai quật mô đất lớn của Bết-sê-an - một đền thờ Hồi giáo, một nhà thờ Cơ Đốc, một đền thờ Do Thái giáo, và khoảng 5 hay 6 đền thờ dùng để tiến hành lễ nghi tôn giáo được mô tả là "của người Ca-na-an nhưng với bề ngoài là của Ai-cập." Vị thần được tôn thờ trong hầu hết những đền thờ đó là "Mekal, Chúa (Ba-anh) của Bết-sê-an". Ở cấp độ thứ 5 người ta phát hiện hai đền thờ mà cả hai đều bị tiêu hủy vào khoảng năm 1000 TC. Theo các dấu hiệu cho biết thì cái đền ở phía bắc mô đất là đền Át-tạt-tê (Asbtoreh) và bên trong bức tường của đền có treo áo giáp của Sau-lơ như là một chiến lợi phẩm sau cái chết thê thảm của ông tại núi Ghinh-bô-a (ISa1Sm 31:8). Ngôi đền ở phía nam có kích thước 24,4m x 18,9m (80feet x 62feet) theo hướng từ đông sang tây. Nó gồm một đại sảnh ở chính giữa với ba tảng đá tròn ở mỗi bên. Những nhà khai quật kết luận rằng đây phải là đền thờ Đa-gôn tại đó có treo đầu của Sau-lơ (ISu1Sb 10:10; ISa1Sm 31:10). Bên ngoài tường thành treo xác của Sau-lơ cùng các con trai của ông.
    Thành phố của cấp độ thứ năm dường như đã bị Đa-vít chiếm lấy và tàn phá vào khoảng năm 1000 TC, sau đó nó tiếp tục là đống đổ nát cho đến khi các tòa nhà Hellenistic mọc lên vào năm 300 TC.
    BETH SHEARIM Một ngày của tháng 3 năm 1936, hai đứa bé trai đi ngang qua con sông cạn (chỉ có nước vào mùa mưa) chảy qua phía tây của mô đất Sheikh Abreik, nằm tại một sườn đồi ở phía tây nam của Ga-li-lê, ngay lúc đó chúng nó thấy một con cáo chui tọt vào trong một miệng hang. Bò theo con cáo vào trong hang thì chúng khám phá mình đang ở bên trong một hầm mộ, với các khoang chôn cất mà trên tường có những câu viết và hoa văn được khắc hay sơn đỏ.
    Hai đứa bé liền thông báo cho Tiến sĩ Benjamin Maisler về những gì chúng đã thấy, tiến sĩ bèn tập họp ngay một nhóm học giả cùng đi vào hầm mộ, họ đã phát hiện một vài câu khắc trên tường có tên của những hiền nhân Do Thái. Tiếp tục đi theo con lộ lớn dưới mặt đất, họ khám phá rằng mình đang ở trong một nghĩa trang lớn được ẩn giấu bên dưới mô đất Sheikh Abreik, họ kết luận đó phải là hiện trường của Beth Shearim cổ đại.
    Theo Josephus, bộ luật Talmud dân sự và tôn giáo Do-thái cùng với các văn hiến Do -thái cổ đại thì Beth Shearim phải có vị trí đâu đó trong khu vực nầy, và thị trấn ấy có một nghĩa trang lớn. Một vài học giả Do-thái đã từng sống ở đây và quản lý một học viện giáo sĩ Do-thái. Thỉnh thoảng toà án Do Thái tối cao họp tại đây. Cái làng trở nên hết sức nổi tiếng bởi vì đó là nơi cư ngụ của "Rabbi", tộc trưởng của Judah I. Bộ luật Talmud Do-thái mô tả về cuộc đời và việc làm của vị tộc trưởng nầy, về học viện mà ông đã dạy, về sự chôn cất trong ngôi mộ được ông chuẩn bị lúc sinh thời. Những kẻ khác muốn được chôn cất gần đó và nó trở thành nơi mai táng không những chỉ dành cho người Do-thái ở Beth Shearim mà còn cho nhiều người ở các xứ sở khác.
    Các thủ lĩnh của nhà hội tại Ty-rơ, Si-đôn, Beirut, cũng như các lãnh tụ và thân nhân trong gia đình của các quốc gia lân cận được đưa đến mai táng tại đây - ra-bi, văn sĩ, viên chức nhà nước, thương gia và thợ thủ công. Niềm tin trở nên phổ biến cho rằng "hễ ai được chôn cất trong Đất của Y-sơ-ra-ên cũng chẳng khác gì được chôn dưới bàn thờ," và hơn một thế kỷ Beth Shearim là nơi chôn cất của vô số người Do-thái - cả khi họ đã qua đời tận Ba-by-lôn hay miền Nam Ả-rập. Như một học giả đã bình luận "Thật ra đây là một dạng tụ tập những người Do-thái sau khi chết vì khi sống họ phân tán ở ngoài Đất Thánh."
    Tiến sĩ Maisler nhanh chóng tổ chức một cuộc khai quật dưới sự tài trợ của Hiệp Hội Thám Hiểm của Người Do-thái tại Palestine, với Pessach Bar-Adon là trưởng trợ lý và kiến trúc sư Zvi Bar-Adon. Khi tiến hành thám hiểm sơ bộ thì Zvi Bar-Adon bị nhiểm sốt hang và Jacob Kaplan đã thay thế ông.
    Việc khai quật tại Beth Shearim được triển khai quanh năm từ 1936-1939. Tổng cộng 11 hầm mộ được dọn sạch, thêm vào đó là một nhà hội ở trên đỉnh mô đất cũng được khai quật. Nhiều hầm mộ có sân, hành lang và đại sảnh. Đại sảnh có nhiều phòng, có kích thước khác nhau với vô số hốc huyệt mộ lõm vào tường. Sân ở phía trước sảnh mai táng thì khá rộng và một vài sân được lót với các mảnh ghép màu mè. Lối vào có cửa bằng đá, hầu hết vẫn còn quay được bằng bản lề. Vài cửa còn nguyên vẹn, nhưng hầu hết đã bị bọn xâm lược làm vỡ.
    Trong hầm mộ số 11,16 đại sảnh với cửa đá được phơi bà. Những đại sảnh này có nhiều phòng với vô số hốc huyệt mộ lõm vào tường. Người ta đếm được khoảng 400 chỗ mai táng. Các quan tài làm bằng gỗ, đá, chì hoặc đá hoa và thường được trang trí bằng một trong những biểu tượng truyền thống của người Do-thái như: đèn bảy ngọn (XuXh 37:17-24), tù và bằng sừng dê, xẻng hương. Hầm mộ số 20 có một cái sân rộng với ba lối vào có vòm dẫn tới một đại sảnh dài 50m (164feet) trải dài cả hai phía. Tại đây người ta tìm thấy 130 quách bằng đá vôi, cùng với vô số mảnh vụn của quách cẩm thạch. Hầu hết quan tài đều được chạm trổ đẹp và có ghi những câu khắc đầy ý nghĩa. Khoảng 200 câu khắc được phát hiện, đại đa số bằng tiếng Hy-lạp, chỉ có khoảng 10% bằng tiếng Hê-bơ-rơ. Có lẽ câu khắc nổi bật nhất là ở trên một phiến đá vỡ bằng đá hoa mà nguyên thủy thì nó được gắn trên tường của lăng tẩm hầm mộ số 11. Văn bia trên phiến đá mỏng này cung cấp bằng chứng xác thực rằng các tàn tích khảo cổ tại Sheikh Abreik là thực sự tuộc về Beth Shearim cổ đại. Câu khắc ấy, được cố giáo sư Moshe Schwabe công bố trước tiên như sau:
    1. Justus, con trai của Leontios và Sappho, nằm yên nghỉ tại đây, và sau khi ta đã hái trái của mọi trí khôn, ta đã để lại ánh sáng, người cha mẹ khốn khổ thương khóc không dứt. Và những huynh đệ của ta. Thống khổ cho ta tại Besa (ra) (của ta).
    Sau khi xuống âm phủ, ta, Justus nằm ở đây.
    Với nhiều người của ta, cho số phận ngặt nghèo đã được định như vậy.
    Hãy yên ủi, Justus, chẳng có ai là bất tử.
    BETH SHEMESH "Nhà của mặt trời" được tọa lạc cách Giê-ru-sa-lem 24 dặm về phía tây, trên một đỉnh đồi nhìn xuống thung lũng Sorek. Đây là nơi quan trọng bởi vì nó là thành phố của người Lê-vi, và là một đồn biên phòng giữa Giu-đa và Phi-li-tin. Đây cũng là nơi hòm giao ước được đưa trở về trên một chiếc xe do hai con bò sữa kéo, sau khi hòm giao ước bị lọt vào tay người Phi-li-tin.
    Mô đất được Tiến sĩ Duncan Mackenzie (1911-1912) khai quật thay cho Quỹ Thám Hiểm Palestine, và bởi Elihu Grant (1928-1931) của Đại học Haverford. Những nhà khai quật tìm thấy năm thành phố chồng lên nhau - thành phố đầu tiên có từ năm 2000 TC, và thành phố cuối cùng bị Nê-bu-cát-nết-sa tàn phá vào 586 TC.
    Họ phát hiện các kiến trúc rộng có từ thời kỳ người Ca-na-an, người Y-sơ-ra-ên và người Phi-li-tin. Người ta tìm thấy một lượng lớn đồ sứ rất đẹp, vũ khí, đá quý, đồ trang sức hình bọ hung và vài tay quai của bình có câu khắc. Một tay quai đáng hết sức quan tâm đã ghi "Thuộc về Ê-li-a-kim, quản gia của Yokin (Giê-hô-gia-kin)." Trong cấp độ thế kỷ 14, Grant tìm thấy một mảnh sành có các ký tự Hê-bơ-rơ cổ khắc bằng mực. Ông ta cũng tìm thấy một phiến đá bằng đất sét viết bằng chữ hình nêm tương tự với nhiều văn bản của Ras Shamra (Ugarit). Những thứ nầy cho thấy chữ viết theo chữ cái đã được sử dụng rộng rãi vào thời ấy.
    BETH ZUR Một thành phố pháo đài quân sự nổi tiếng cách Hếp-rôn 4 dặm về phía bắc, được O.R.Sellers và W.F.Albright cùng với năm nhà khảo cổ trẻ khai quật vào 1931.
    Họ phát hiện rằng Beth Zur đã có người cư ngụ trong Thời Đại Đồ Đồng giữa (2000-1500 TC), nhưng bị tàn phá vào khoảng 1580 TC, lúc đó Hyksos bị trục xuất khỏi Ai-cập và Palestine. Beth Zur được xây vào thời các quan xét, bị cháy vào khoảng 1000 TC, được Giê-rô-bô-am xây công sự vào khoảng 930 TC và đóng một vai trò quan trọng trong cuộc chiến Mác-ca-bê. Một pháo đài đã được xây và bị phá hủy ba lần trong thời Giu-đa, Giô-na-than và Si-môn. Thành phố nầy suy sụp dưới thời John Hyrcanus và bị bỏ hoang trước khi kỷ nguyên Cơ Đốc bắt đầu.
    Trong một chiến dịch khai quật ngắn ngủi, người ta tìm thấy những bức tường xây hồ vững chắc, một pháo đài, một nơi nhóm chợ, một phòng chứa của tiệm tượu, nhiều cái lò, một hầm chứa, một hồ chứa nước, các phòng tắm rộng, tất cả là của thời kỳ Hê-lê-nít. Tại đây cũng có đồ trang sức hình bọ hung của Rameses II và Thutmose III, và một dấu ấn Hê-bơ-rơ với dòng chữ "Của Ge'alyahu, con trai của Vua." Người ta cũng tìm thấy nhiều đồ vật nhỏ, chẳng hạn những quả cân có khắc chữ và không có khắc chữ, con lăn cọc sợi và con sút, nút, khuy, hạt (của xâu chuỗi), nhẫn, kim, đầu tên, mũi giáo và 279 đồng xu - một tuyển tập tuyệt hảo nhất về các đồng tiền xưa được phát hiện từ trước đến nay trong một chiến dịch ngắn ngủi như vậy. Tuy nhiên "ở đây không có nơi chôn giấu báu vật, và chỉ có hai trường hợp là hai đồng tiền được tìm thấy cùng lúc." Sáu đồng tiền trong số nầy là của thời kỳ Ba-tư, và nhằm chỉ rằng người Do-thái đã sử dụng các tiêu chuẩn đo lường A-tên (?)trong thời Nê-hê-mi, E-xơ-ra như đã nói trong các sách Sử Ký.
    Các tài liệu văn học liên quan đến Beth Zur như ta thấy trong Kinh Thánh, I Mác-ca-bê và Josephus cho ta sự xác nhận nổi bật thông qua những đồng tiền và các chứng cớ khảo cổ dồi dào được phám phá trong lúc khai quật.

    CAESAREA Thủ đô La-mã của Giu-đê trong thời của Đấng Christ và Phao-lô, nằm gần Địa Trung Hài, cách Joppa 32 dặm về phía bắc và cách Giê-ru-sa-lem 60 dặm về phía tây bắc. Hê-rốt đại đế khởi công xây dựng thành phố vào 25 TC và hoàn tất vào năm 13 TC. Trong lễ dâng thành phố vào năm 12 TC, Hê-rốt đã đặt tên là Sê-sa-rê để tỏ lòng tôn kính Sê-sa và biến nó thành thủ đô La-mã của Giu-đê. Chẳng bao lâu nơi đây trở thành một hải cảng sầm uất, một trung tâm thương mại lớn, và một trong những thành phố thu hút nhất của thời ấy. Thành phố nầy được xây dựng hoàn hảo và trên cơ sở một kế hoạch tuyệt vời đến nỗi nó thường xuyên được gọi là "tiểu La-mã." Nhà truyền giáo Phi-líp sống ở đây, sứ đồ Phao-lô đã từng bị cầm tù ở đây trong 2 năm, trong thời gian đó ông ứng hầu trước Phê-lít, Phê-tu và vua Ạc-ríp-ba.
    Thành phố đã đứng vững với nhiều vận mệnh khác nhau mãi cho đến năm 1256 SC thì vua Bibars của Ai-cập, theo Hồi giáo đã chiếm lấy thành phố và tàn phá các bức tường và hầu hết các công trình kiến trúc trong đó. Nó tiếp tục bị điêu tàn trong nhiều thế kỷ tiếp sau đó chỉ còn lại đồ sứ bể vụn, những phần của cổng và lâu đài, mảnh vụn của các cột đá hoa và đá granít , chỉ một phần nhô lên khỏi cát và phần kia chìm trong nước biển cạn.
    Sở Đồ Cổ của chính phủ Y-sơ-ra-ên đang tiến hành khai quật Sê-sa-rê. Cho đến nay thì các khám phá lớn gồm có một lâu đài thập tự quân rất tráng lệ; hí viện, nhà hát tròn, trường đua xe ngựa, và lề đường của nhà hội - có thể chính là cái nhà hội mà Cọt-nây đã từng tham gia thờ phượng và được Phi-líp, Phi-e-rơ, Phao-lô thăm viếng. Trong hí viện họ tìm thấy một phiến đá có khắc chữ mang danh hiệu của Phi-lát và Ti-bê-ri-út. Đây là lần đầu tiên tên của Phi-lát được tìm thấy trên một dòng chữ khắc trên đá. Người ta cũng tìm thấy một đền thờ lớn dâng cho Sê-sa của La-mã, trong đó có một tượng lớn phi thường của hoàng đế.
    Vào năm 1960 Cơ quan The Link Expedition to Israel đã thăm dò và vẽ sơ đồ hải cảng rộng do Hê-rốt đại đế xây dựng. Chỉ có phần đỉnh của những tảng đá làm công phu của đê chắn sóng nhô khỏi mặt nước đó đây, nhưng việc thám hiểm dưới biển đã xác nhận sự miêu tả của Josephus về hải cảng Sê-sa-rê là đồ sộ và rộng lớn.
    CAESAREA PHILIPPI Được tọa lạc tại chân núi Hẹt-môn, như một dòng suối lấp lánh, nguồn nước cực đông của sông Giô-đanh trào ra từ một cái hang dưới nền của một vách đá lớn và gặp các nguồn nước khác của những con sông nổi tiếng. Nhờ được cấp nước đầy đủ, nơi này có đủ loại cây cối, dây leo, và bụi cây có trổ bông và là một trong những nơi đẹp nhất của Đất Thánh. Trong thời Cựu Ước tại đây có một cái miếu thờ thần Ba-anh, sau đó người Hy-lạp xây một miếu thờ cho thần Pan, thần thiên nhiên, và đặt tên là Paneas (thành phố của Pan).
    Vào năm 20TC, Hê-rốt đại đế xây một đền thờ lớn bằng đá hoa tại đây và dâng cho Augustus Caesar. Khi Hê-rốt băng hà thì thành phố nầy giao cho con trai của ông là Hê-rốt Phi-líp, ông này đã mở rộng và chỉnh trang thành phố ấy rồi đặt tên là Sê-sa-rê Phi-líp, nhằm đẹp lòng Hoàng đế Tiberius Caesar, cũng để phân biệt với các thủ đô và hải cảng khá nổi tiếng khác ven bờ biển của Caesarea.
    Đây cũng là nơi với vẻ đẹp thiên nhiên mà Chúa Giê-xu đã dẫn các môn đệ của Ngài đến nghỉ ngơi và cầu nguyện trong khoảng thời gian ngắn, cũng tại đó, sau khi cầu nguyện, Ngài đã hỏi họ: "Các con nói ta là ai?" Si-môn Phi-e-rơ đã đưa ra lời tuyên bố hùng hồn: "Ngài là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời hằng sống" (Mat Mt 16:16; Mac Mc 9:18). Vào thời trung cổ (1120 SC) Thập tự quân đã xây một lâu đài tại đây trên sườn núi nhô cao khoảng 350,5m (1150feet) phía trên suối phun, và đặt tên là Lâu đài của Subeibeh.
    Ngày nay, hàng khối đá xây dựng, những mảnh cột gãy, và mái vòm chôn một phần dưới mặt đất được rải rác khắp nơi trong thành phố. Trên mặt của một vách đá thật lớn quanh cái hang là nơi dòng suối chảy qua, ta thấy vài cái hốc và một câu khắc Hy-lạp với ý nghĩa "thần Pan và các nữ thần của Ngài hiện ra ở nơi đây." Một câu khắc khác thì nói rằgn "Thầy tế lễ của thần Pan."
    Một nơi cất giấu các đồng tiền đã được khám phá. Trên đồng tiền có hình cái khèn của Pan; trên đồng tiền khác ta thấy hình Pan tựa vào cây và thổi sáo; trên đồng tiền thứ ba có hình miệng hang và Pan thổi sáo trong đó; trên đồng tiền thứ tư là tên của thành phố "Caesarea Paneion."
    Từ trên núi nhìn xuống Caesarea Philippi, ta thấy Lâu đài Subeibeh bao bọc bởi những bức tường dày 3,9m (10feet) và cao 34,9m (100feet), được củng cố bởi vô số tháp tròn. Bên trong của pháo đài cổ nầy là một khoảng đất không bằng phẳng với diện tích 16.187-20234m2 (4-5 acres), lác đác đó đây vài căn nhà, bể chứa nước, tường cao và các sân rộng. Lâu đài trở nên cũ kỹ và hư hao theo thời gian cùng mưa gió, nhưng nó vẫn được bảo tồn tốt hơn các lâu đài khác trong vùng.
    CALAH Ngày nay được gọi là Nimrud, ở cách Ni-ni-ve 20 dặm về phía nam, trên bờ sông phía tây của ông Tigris. Theo SaSt 10:11 thì nơi đây được Nim-rốt xây trước tiên: "Nim-rốt đi đến A-si-ri tại đó ông xây Ni-ni-ve, Rehoboth Ir, Calah."
    Henry Layard bắt đầu thăm dò mô đất vào năm 1845 và tìm thấy tàn tích của những bức tường thành phố cổ đại có kích thước 2134m x 168m (7000feet x 5500feet). Phía trong những bức tường ấy ông tìm thấy tàn tích cung điện của ba vị vua: Ashurnasirpal (885-860 TC), Shalmaneser III (860-825 TC) và Esarhaddon (680-669 TC) cùng với nhiều công trình điêu khắc trên tường. Trong số đó, công trình điêu khắc gây hứng thú nhất là một loạt những ghi nhận về sự thắng lợi của Tiglath-Pileser III, Phun vua của A-si-ri trong IIVua 2V 15:19 Những hình vẽ nầy cho thấy, theo kiểu đồ thị, việc triệt thoái khỏi thành phố, những cuộc hành quân gắn liền với một cuộc vây hãm, và việc đối xử thô bạo đối với tù nhân. Những công trình điêu khắc nầy dường như được vua Esarhaddon dọn khỏi hoàng cung cũ và đặt trong hoàng cung ở Calah.
    Tượng Nebo, thần thông thái và sáng tác, được khai quật tại Nimrud và có từ thời của Adadnirari III (812-782 TC). Sau đây là dòng chữ khắc trên pho tượng: "Tin cậy Nobo; đừng tin cậy thần khác."
    Phù điêu tại hoàng cung của Tiglath-Pileser III cho thấy bốn bức tượng thần được vác trên vai binh sĩ A-si-ri ra khỏi thành phố bị chinh phục.
    Tuy vậy, khám phá quan trọng nhất tại Calah chính là Tượng Đài Đen do Shalmaneser III dựng lên tại tòa nhà trung tâm. Đó là một đài tưởng niệm rất rộng, bệ làm bằng đá hoa đen cao 1,97m (6feet6inches) và nhọn dần lên phía đỉnh. Tượng đài có 20 phù điêu thỏ sơ nhỏ, 5 cái mỗi bên, thể hiện việc các viên chức của năm quốc gia khác nhau mang cống vật đến dâng cho vua. Bên trên, bên dưới và ở giữa các phù điêu là 210 dòng chữ khắc hình nêm kể về thành tựu của vua trong cả chiến tranh lẫn hoà bình, trong suốt 31 năm trị vì. Trong số những cá nhân được đề cập, có Ha-xa-ên của Đa-mách và Giê-hu của Y-sơ-ra-ên. Trên tưởng niệm đài của Shalmaneser nói rằng:
    Trong thời gian 18 năm trị vì của ta, ta băng qua Ơ-phơ-rát 16 lần. Ha-xa-ên của Đa-mách đặt sự tin tưởng vào đội quân hùng hậu của ông ta, triệu tập quân đội với con số khổng lồ, biến núi Senir (sa-ni-ru) đối ngang Li-ban, thành pháo đài của ông. Ta đã đánh trận với ông ấy và đánh bại ông ta, giết 16.000 binh sĩ tinh nhuệ bằng lưỡi gươm. Ta đoạt được 1121 cỗ xe ngựa, 470 ngựa cưỡi cùng với doanh trại. Ông ta tháo chạy thoát thân nhưng ta đuổi theo đến Đa-mách tận hoàng cung của ông ta. Tại đó, ta phá hỏ những vườn hoa bên ngoài thành phố và tiến quân cho đến núi Hauran, ta phá hủy, đốt cháy vô số thị trấn, mang về chiến lợi phẩm nhiều không đếm xuể. Sau đó ta tiến quân đến tận các ngọn núi của Ba'lira'si, gần bờ biển và dựng lên một bia khắc có hình ta như là đấng quân vương. Trong thời gian đó ta nhận cống vật của các dân cư thuộc Ty-rơ, Si-đôn và của Giê-hu, con trai Ôm-ri.
    Sau đó trong câu khắc có một đoạn gây nhiều hứng thú cho cả sinh viên nghiên cứu Kinh Thánh. Nội dung là:
    Cống vật của Giê-hu, con trai Ôm-ri: Ta nhận từ hắn bạc, vàng, một cái chén vàng, một bình vàng đáy nhọn, những chiếc ly (có chân) bằng vàng, những bức hình bằng vàng, những thỏi chì, vương trượng và những cây lao, ta đã nhận.
    Giê-hu đang quỳ trước mặt Shalmaneser cùng cống vật. Vị quân vương A-si-ri có hai viên hầu cận đứng cạnh (một người cầm dù che nắng cho vua), vua đứng kiêu hãnh với biểu tượng của Ashur và Ishtar khắc ở phía trên. Vua Giê-hu của Y-sơ-ra-ên có chòm râu ngắn, tròn, đội mũ da mềm và áo ghi-lê không tay, áo đánh dấu ông ta như một tù nhân. Theo sau Giê-hu là những người Do-thái mặc áo choàng dài mang theo vàng bạc cùng các cống vật khác. Phù điêu này hết sức quan trọng bởi đó là bức phù điêu chạm trổ duy nhất mà chúng ta có được về một vị vua Do-thái.
    CALVARY hay GÔ-GÔ-THA Cả hai từ - từ thứ nhất bắt nguồn từ tiếng La-tinh, từ thứ nhì bắt nguồn từ tiếng A-ram - đều có nghĩa là "cái sọ" hoặc "chỗ cái sọ", đều chỉ nơi Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên cây thập tự (Mat Mt 27:33; LuLc 23:33). Nơi nầy thường được gọi là "đồi sọ" vì là nơi hành hình (có nhiều sọ người ở đó), hay vì nó giống hình cái sọ người thì cũng chỉ là sự phỏng đoán.
    Địa điểm chính xác chưa được biết đến vì Titus tàn phá Giê-ru-sa-lem vào năm 70 SC và thành phố đã hoang tàn trong suốt 60 năm. Một số ít Cơ Đốc nhân trở về đó, và những người đã di tản khi trở về được cũng không còn nhận dạng được thành phố vì đã bị tàn phá hoàn toàn suốt thời gian dài đến 60 năm. Kinh Thánh chỉ đề cập đến sự kiện ác nghiệt (?) xảy ra bên ngoài bức tường thành, trên một chỗ mà ai cũng có thể thấy từ xa. Nó gần một cổng thành, gần một lòng đường, hiển nhiên là đi xuyên qua cổng và gần nơi hành hình (GiGa 19:20; HeDt 13:12; LuLc 23:49; Mat Mt 27:39). Giăng đề cập đến ngôi mộ nằm trong một vườn hoa gần đó (GiGa 19:47).
    Nhiều địa điểm khác nhau đã được gợi ý nhưng chỉ có hai nơi là đáng nghiên cứu cáchnghiêm túc. Thứ nhất là trong Nhà Thờ Thánh Mộ; hai là Calvary của Gordon với Ngôi Mộ Hoa Viên ở đó.
    Nhà Thờ Thánh Mộ đã tồn tại như sau: Vào năm 312 SC, Constantine thấy một khải tượng về một thập tự giá trên không trung, với dòng chữ "Chiến thắng bởi vật nầy." Ông đã chọn thập tự làm quân kỳ, sau sự thành công lạ thường cùng với nỗ lực của ông, cuối cùng Constantine trở thành đại đế của châu Âu và Tây Á. Ao ước được đền ơn Đấng Christ và Cơ Đốc giáo, ông đã nhờ mẹ ông là Helena sang Đất Thánh để tìm kiếm ngôi mộ đã chôn Chúa Giê-xu. Với sự giúp đỡ của Eusebius là giám mục của Sê-sa-rê và Macarius là giám mục của Giê-ru-sa-lem, người ta đã dọn đống gạch vụn khỏi một mô đất, phát hiện một ngôi mộ gần đó. Tại đây người ta tìm thấy ba cây thập tự, và các bằng chứng khác đã làm cho họ gọi nơi đó là Calvary, và ngôi mộ phải là một trong những ngôi mộ mà Chúa đã nằm.
    Helena loan truyền tin ấy, cộng đồng Thiên Chúa giáo hồ hởi và hoàng đế Constantine dựng lên một nhóm tòa nhà tráng lệ trên địa điểm "được khám phá một cách kỳ diệu." Tất cả những công trình ấy hoàn tất và làm lễ dâng vào năm 335 SC, đặt tên là Nhà Thờ Thánh Mộ. Vào năm 333 SC, lúc nhà thờ chưa hoàn tất, một nhóm người mộ đạo từ Bordeaux (Pháp) hành hương đến dây đã mô tả đó là "một nhà thờ với vẻ đẹp thần kỳ."
    Tòa nhà đã đứng vững cho tới năm 614 SC thì bị Chosroes II san bằng. Nhờ sự quyên góp của dân chúng mà nhà thờ được tái thiết và bị tàn phá vào năm 1010 bởi cái gọi là "Caliph Hakem điên cuồng." Với thời gian 38 năm tái thiết, rồi sau đó bị thập tự quân chiếm đóng khi họ tiến quân vào Giê-ru-sa-lem năm 1099. Ngay tức thì, họ nới rộng và chỉnh trang công trình ấy, để rồi bị cháy vào tháng 9 năm 1808. Sau đó người ta quyên góp được ba triệu đô-la và một nhà thờ khác mọc lên ở đó, dầu không lớn và đẹp như ngôi nhà thờ trước, và nó tồn tại đến hôm nay, và là niềm kiêu hãnh vinh quang của những Cơ Đốc nhân phương đông. Đó là một kiến trúc kép, che lên cả phần đóng đinh Chúa và phần mộ được cho là của Chúa. Ở đây có những nhà nguyện ngăn riêng ra cho người Công giáo La-mã, Chính thống Hy-lạp, người Ạc-mê-ni Gregory, người Copt, người Gia-cô-bi.
    Chính Thánh Mộ được đặt trong gian phòng lớn hình tròn ở tận phía tây của gian giữa nhà thờ, tại đó từng nhóm tín đồ Cơ Đốc thay phiên nhau thờ phượng vào những dịp đặc biệt. Cách đó vài mét, cao hơn ngôi mộ khoảng 1,52m là "cây thập tự thật" gắn đầy những ngọc chạm và đá quý trị giá hằng triệu đô-la. Gần đó là một khe nứt trong tảng đá được người ta cho là do động đất mà có vào lúc Chúa bị đóng đinh.
    Đối với người Cơ Đốc thì không có nơi nào bị cho là khủng khiếp và lại được tôn kính bằng tòa nhà có tên "Nhà Thờ Thánh Mộ". Không có nơi nào đã được đấu tranh và mong mỏi bằng nơi ấy. Người ta ước tính rằng hai phần ba tín đồ Cơ Đốc trên thế giới yêu mến nơi nầy hơn hẳn những nơi khác bởi vì họ tin rằng cái đồi phải là Gô-gô-tha và ngôi mộ là nơi Chúa bị đóng đinh và chôn ở đấy. Tuy vậy thì nơi đó nằm phía trong những bức tường hiện nay của Giê-ru-sa-lem và nhiều người thắc mắc ước gì nó không nằm phía trong các bức tường của thành phố Hê-rốt.
    Calvary của Gordon và Ngôi Mộ Hoa Viên nằm trên ngọn đồi riêng lẻ màu xám ở phía bắc Giê-ru-sa-lem, "một khoảng ngắn có thể ném đá tới" từ bức tường cổ, và khoảng 213,4 (700feet) bên ngoài cổng Đa-mách, là một địa điểm nổi bật trải ra trên một diện tích độ 12140,4m2 và có thể nhìn thấy rõ ràng từ mọi hướng. Là một ngọn đồi cao hơn khu vực chung quanh khoảng 12,2m-15,2m (40-50feet), sườn đồi quay về phía thành phố, đỉnh đồi có hình tròn trông hao hao giống như chiếc sọ người. Có những hang như là hốc mắt, một tảng đá nhô ra như là cái mũi, một cái khe dài như là cái miệng và một cái gò phía dưới như là cái cằm - "một sự giống nhau khá rõ rệt được bắt gặp trong hầu hết những tương đồng thiên nhiên, được người ta nhân ra một cách phổ biến tại nhiều nơi khác nhau trên thế giới."
    Vào năm 1842 Otto Thenius của Oresden nghiên cứu tỉ mỉ ngọn đồi nầy và cho rằng nó là Gô-gô-tha. Ông ta chỉ ra rằng theo truyền thuyết của người Do Thái thì đó là nơi để ném đá, nơi đó nằm ngoài thành phố, vì lẽ ấy nó có hình dạng cái sọ người (!). Rồi đến một ngày của năm 1885, một đại tướng trong quân đội Anh là Charles G.Gordon, cũng là một Cơ Đốc nhân danh tiếng đang đi bộ bên ngoài bức tường phía bắc của Giê-ru-sa-lem. lúc đó ông ta quan sát, nghiên cứu sự hình thành các tảng đá có hình sọ người. Ngay khi trở về khách sạn, ông nói "Hôm nay tôi phát hiện đúng chỗ của Calvary." Tướng Gordon viết thư cho em gái và những người khác về sự phát hiện nầy, ba năm sau ông bị sát hại tại Khartoum, châu Phi. Lew Wallace, Captain Condor và những người khác đều đồng ý với quan điểm của Gordon. Vì thế mà sau một thời gian, người ta đã mua một phần mảnh đất phía tây đồi sọ. Trong khi khai quật người ta tìm thấy một vườn hoa cổ đại, trong đó một ngôi mồ đã từng bị niêm phong bởi một hòn đá lăn. Sự khai quật gần đó cho thấy những phần mộ của Cơ Đốc nhân ngày xưa.
    Một công ty của tín đồ Tin Lành người Anh đã mua nơi đó và đặt một người canh giữ ngôi mộ. Ngày nay nơi nầy được nổi tiếng với tên Calvary của Gordon và Ngôi Mộ Hoa Viên. Ngôi mộ chẳng có sự trang trí hoặc phô trương, và chính như vậy càng làm cho ngôi mộ gây ấn tượng hơn. Chẳng có ai thờ phượng nơi đó và chúng ta tin tưởng rằng họ sẽ chẳng bao giờ làm vậy, nhưng nhiều buổi lễ Phục Sinh tiếng tăm đã được cử hành ở đây. Moody và Talmage đã giảng đạo tại đây, và hàng trăm ngàn người từ bốn phương trời tụ tập ở đây một cách tôn kính, trong một chừng mực bé nhỏ, họ cảm nhận được năng lực và tính bình dị trong lời nói của thiên sứ: "Hãy đến xem chỗ Ngài đã nằm" (Mat Mt 28:6).
    Nhiều cuộc khai quật đã được thực hiện và nỗ lực nhằm lần ra dấu vết của lộ trình mà bức tường phía bắc phải được lấy đi trong thời của Chúa Giê-xu (?). Công trình xây dựng Herodian bên dưới cổng Đa-mách nói lên sự hiện diện của bức tường trong vùng ấy vào thời Chúa Giê-xu, nhưng lộ trình chính xác của bức tường từ cổng Jaffa đến Đa-mách phải đước đánh dấu trước khi quyết định được lộ trình ấy nếu vị trí đó nay bị Nhà Thờ Thánh Mộ choán lấy có hoặc không có kèm theo bức tường thành. Cho đến lúc ấy mới có thể nói được vị trí chính xác của Calvary.
    CANA Của GALILEE Ngôi làng Chúa Giê-xu đã làm phép lạ đầu tiên, thường được người ta cho rằng chính là Kefr Kenna, cách Na-xa-rét khoảng 4 dặm về hướng đông bắc. Làng này nằm trên đường đi Ca-bê-na-um và là một địa điểm truyền thống. Làng có nhiều vườn nho, vườn cây vả sai trái và nguồn nước dồi dào. Sự khai quật hạn chế đã được thực hiện ở đây, trong lúc chưa đưa ra được bằng chứng xác thực thì nơi đây rất khớp với tất cả những gì mà Giăng đã kể về Ca-na.
    Tuy nhiên, nhiều học giả hiện đại lại muốn cho rằng Ca-na chính là Khirbet Kana, một đống đổ nát trên đỉnh một ngọn đồi cách Na-xa-rét khoảng hơn 8 dặm về phía bắc. Người ta chưa khai quật nơi đây, nhưng Josephus và vài khách hành hương thời trung cổ miêu tả nơi này như là "Ca-na của Ga-li-lê" khi họ biết Khirbet Kana.
    CAPERNAUM Tọa lạc tại bờ tây bắc biển Ga-li-lê tại một nơi có tên Tell Hum. Đó là một trung tâm thương mại và xã hội của vùng nầy vào thời Chúa Giê-xu thi hành chức vụ. Tại đây, trên một xa lộ rộng lớn giữa Sy-ri và Palestine, người ta thu thuế hải quan và có một đội quân đồn trú La-mã đóng tại đây. Sau khi rời Na-xa-rét thì Chúa Giê-xu đã đến dây và nhà của Phi-e-rơ trở thành nơi trú ngụ của Ngài. Tại đây Ngài kêu gọi Ma-thi-ơ cũng như đã dạy dỗ, giảng đạo và làm nhiều công việc lớn lao.
    Chúa Giê-xu tiên đoán Ca-bê-na-um sẽ sụp đổ, ngày nay còn những đống đá bazan đen nằm rải rác trên suốt chiều dài dọc theo bờ biển. Đó đây người ta còn thấy những đường nét mờ nhạt của những tòa nhà hiện ra trên mặt đất. Điều quan trọng hơn trong số đó chính là đống hư tàn của một kiến trúc hình bát giác mà ngày nay được cho là nhà của Phi-e-rơ (càng có khả năng hơn đó là một tòa nhà tưởng niệm ngay trên vị trí của nhà sứ đồ Phi-e-rơ), và di tích của một trong những nhà hội đẹp nhất và được bảo tồn tốt nhất tại Ga-li-lê.
    Mọi công tác khai quật ở đây đều nhằm vào nhà hội ấy, đó là nhà hai tầng, mái có đầu hồi, nhà có diện tích 18,3m x 24,4m (60 x 80 feet) hướng về Giê-ru-sa-lem. Ở phía tây nhà hội có một cổng vòm trông hấp dẫn. Chính nhà hội được xây bằng đá vôi trắng, và bên trong có một hàng cột ở mỗi bên để gia cố tòa nhà và tạo thành bao lơn để phụ nự có thể thờ phượng ở tầng hai.
    Những trang trí của trụ ngạch bên trong, trên mái đua, và trên ngạch cửa của các cánh cửa thuộc nhà hội ấy thì vô cùng đa dạng. Đó là những hình giống như cây cối, chim muông, những sinh vật trong huyền thoại, cũng như những hình vẽ hình học. Người ta cũng bắt gặp những biểu tượng thiêng liêng quen thuộc của người Do Thái như chân đèn cầy bảy ngọn, sao sáu cạnh.
    Trên trụ ngạch là một phù điêu tiêu biểu cho hòm giao ước đi phía trước đoàn dân Do Thái đang lang thang trong đồng vắng. Trên một trong những trụ đá vôi trắng ta thấy dòng chữ khắc bằng tiếng A-ram ghi rằng "HLPW, con của Zebidah, con của Johanan, đã dựng nên cột nầy. Nguyền xin người ấy được phước." Theo tiến sĩ Glueck thì "những tên gọi ấy đại để tương ứng với A-phê, Xê-bê-đê, và Giăng được đề cập đến trong danh sách của môn đệ Chúa Giê-xu và gia đình họ (Mac Mc 3:17-18).
    Nhiều người tin rằng đó là nhà hội do thầy đội xây cất và được Chúa Giê-xu thăm viếng tại Ca-bê-na-um, nhưng hầu hết những nhà khảo cổ lại nghĩ rằng nó được dựng lên nào thế kỷ thứ 2 hoặc thứ 3 SC, ngay trên địa điểm của nhà hội vào thời Chúa Giê-xu. Họ đưa ra kết luận trên cơ sở kiến trúc và nhất là đựa trên những hình tiết trang trí.
    CARCHEMISH Hiện nay được gọi là Jerablus, là thủ đô phía đông của đế quốc Hittite cổ đại, và là trung tâm thương mại và quân sự chiến lược của bắc Sy-ri. Nó nằm phía tây của sông Ơ-phơ-rát, nơi chỗ cạn của thượng nguồn con sông, cách thành phố Aleppo hiện đại 65 dặm về phía đông bắc.
    Carchemish đã từng là nơi xảy ra những trận chiến sống còn. Kinh Thánh và lịch sử đại cương đã đề cập như thế và khảo cổ học cũng đã làm sáng tỏ, nhất là trận chiến Carchemish A-si-ri thất thủ, thủ đô Ni-ni-ve rơi vào tay liên quân Ba-by-lôn vào năm 612 TC và vào tay Haran vào 610 TC. Sau đó thủ đô được đặt tại Carchemish. Pha-ra-ôn Neco II trên đường đi đến Carchemish để tiếp viện người A-si-ri chống lại liên quân Ba-by-lôn khi vị vua tốt bụng Giô-si-a mất mạng lúc đón Neco tại đèo Mê-ghi-đô (IISu 2Sb 35:20). Đón lần nữa tại Riblah(IIVua 2V 23:31). Cuối cùng, Pha-ra-ôn đã đến Carchemish quá trễ. Nê-bu-cát-nết-sa đột kích và chiếm lấy Carchemish của người A-si-ri; sau đó chống lại người Ai-cập dưới sự lãnh đạo của Neco và đánh bại hoàn toàn người Ai-cập trong cuộc chiến xáp lá cà. Nê-bu-cát-nết-sa đuổi theo người Ai-cập đến Hamoth đến nỗi, như sự tích của người A-si-ri kể rằng: "chẳng còn một người đàn ông nào thoát được về nhà." Trận chiến Carchemish năm 606 TC đã chấm dứt đế quốc A-si-ri, Ai-cập chỉ còn là cường quốc hạng nhì và Ba-by-lôn dành được uy thế khắp Trung Đông lúc bấy giờ.
    Địa điểm nầy được khai quật trong thời gian 1912-1914 bởi Sir Leonard Woolley và T.E.Lawrence (sau đó trở thành Lawrence của Ả-rập), họ làm việc cho Viện Bảo Tàng Anh. Họ tìm thấy tàn tích đáng kể của một thành phố hùng mạnh với pháo đài, cung điện, đền thờ, nơi nhóm chợ và một bức tường khổng lồ điêu khắc hình một đoàn hiệp sĩ và vua cùng thái tử ăn mừng chiến thắng. Người ta tìm thấy nhiều món đồ, và vô số những câu khắc trong một nguyên bản đã làm lúng túng nhiều nhà khảo cổ học và nhà ngôn ngữ học mãi cho đến gần đây. Những khám phá nầy chứng thực và làm sáng tỏ những gì tường thuật trong Kinh Thánh và các tài liệu lịch sử khác.
    COLOSSE Tọa lạc tại thung lũng Lycas, cách Lao-đi-xê 11 dặm về phía đông. Nhờ nằm trên tuyến thương mại đông-tây, từ Ê-phê-sô đến Ơ-phơ-rát, Cô-lô-se nổi tiếng và phồn vinh mãi cho đến thế kỷ thứ 8 SC; khi ấy có sự thay đổi lớn về hệ thống đường sá làm cho Lao-đi-xê có được lợi thế nầy. Người Thổ Nhĩ Kỳ tàn phá Cô-lô-se vào thế kỷ 12 và cứ để cho nó hoang tàn cho đến nay.
    Vào năm 1835, William J.Hamilton đã xác minh và thăm dò tàn tích của thành phố và những thành quách. Ông quan sát thấy nhiều cột đá hoa, một nhà hát điêu tàn với nhiều chiếc ghế được bảo tồn, một nghĩa trang thành phố với phần mộ bằng đá đẽo.
    Những khám phá về khảo cổ hạn chế trong vài câu khắc, một số đồng xu và một ngôi nhà thờ cổ. Dù hạn chế như vậy, chúng cũng tăng thêm ý nghĩa cho lá thư của Phao-lô gửi tín hữu Cô-lô-se.
    CORINTH Một thành phố kiêu hãnh, giàu có và gian ác của thế giới cổ đại, tọa lạc trên một dải đất rộng bốn dặm nối liền Peloponnesus ở miền Nam với đại lục Hy-lạp. Bởi tọa lạc trên xa lộ bắc-nam, có hai hải cảng sầm uất của Cenchrea ở phía đông và Lechaeum ở phía tây, nó đúng nghĩa là "giao lộ", và dễ dàng trở thành trung tâm thương mại lớn nhất của Hy-lạp. Xung quanh Cô-rinh-tô là những vùng đất mầu mỡ, trồng ô-li-ve, nho, chà là và những loại cây trái khác.
    Với tư cách là lãnh tụ của liên minh Achaean , nó bị Mumnius tàn phá vào năm 146 TC , đó là một lãnh tụ côn đồ của La-mã và đã đưa xuống tàu những pho tượng của Cô-rinh-tô , những bức tranh và kho tàng nghệ thuật về La-mã . (Phân đoạn nầy nên xem lại ).
    Julius Caesar đã tái thiết thành phố vào năm 46 TC, tạo cho Cô-rinh-tô những đường phố rộng, những nơi họp chợ, những đền thờ, những nhà hát, những pho tượng, những suối phun, và những diễn đàn bằng đá hoa trắng hay màu lam, tại đó thường có những cuộc hùng biện hay xét xử. Về phía nam là ngọn đồi tên Acrocorinth cao hơn thành phố khoảng 152,4m (500feet). Trên mô đất là tượng nữ thần Aphrodite (Astarte) , biểu tượng về tình yêu và sinh sản, đó là vị thần không những có ảnh hưởng lớn đến đời sống tôn giáo và xã hội của thành phố mà sự tôn thờ vị thần có xu hướng ấp ủ và làm phổ biến tính phi đạo đức trong dân cư lẫn khách du lịch.
    Phao-lô đến Cô-rinh-tô khoảng năm 52 SC, ở lại đó một năm sáu tháng, sống tự túc bằng nghề may trại để dạy đạo, nhờ đó nhiều người Do-thái lẫn Hy-lạp đã đầu phục Chúa, nhóm lại thờ phượng Chúa và trưởng thành, ông đã viết cho họ hai bức thư bất hủ.
    Thành phố hầu như liên tục có người định cư mãi cho đến 1858, một trận động đất khủng khiếp đã tàn phá nơi nầy. Những cư dân sống sót đã phải dọn ra xa bốn dặm và xây một Cô-rinh-tô mới. Thành phố cũ chỉ con là đống đổ nát, dần dần bị vùi lấp dưới lớp đất cao hằng thước, cho đến năm 1896 thì Học Viện Nghiên Cứu Cổ Điển Hoa Kỳ tại A-thên đã sở hữu chỗ ấy, đào bới hai mươi đường hào thử nghiệm tại nhiều vị trí khác nhau. Tại đường hào số 3 họ phát hiện một con đường lát rộng 14m (46feet), có lề đường và rãnh nước nhưng không dấu vết bánh xe có nghĩa là con đường đó chỉ dành cho người đi bộ. Con đường đi ra hướng nam và hướng bắc, vì vậy người đào bới cứ theo con đường với hy vọng sẽ tìm ra nơi tụ tập của người Hy-lạp hoặc nơi họp chợ.
    Trong nhiều chiến dịch khác nhau tiếp sau đó, những người khai quật thực hiện được nhiều cuộc khám phá chẳng hạn như những mảnh vụn điêu khắc, mảnh vụn bình chậu, phù điêu, đồ sứ, một tiền cổ bằng vàng, một ngạch cửa bằng đá hoa trên có khắc câu "Nhà hội của người Hê-bơ-rơ" và một khối đá vôi trên đó có dòng chữ khắc của thế kỷ đầu tiên nói rằng Erastus, Uỷ viên thành phố, đã lát quảng trường này (khoảng 5,5742m2) bằng tiền của ông. Phao-lô có viết về quan coi kho bạc thành phố tên Ê-rát (RoRm 16:24) và có thể chính là tên của người được đề cập trên câu khắc mà sau đó ông nầy đã trở thành Cơ Đốc nhân và là một trợ thủ đắc lực cho Phao-lô.
    Những khám phá to tát hơn gồm một nhà hát Hy-lạp, đền thờ Apollo, một tòa án cổ đại và suối phun Peirene, nơi họp chợ và diễn đàn xét xử, rất có thể tại đó Phao-lô được dẫn đến hầu trước mặt Ga-li-ôn và đang tuyên bố vô tội. Lề đường phía dưới mà tại đó người Hy-lạp chống lại Sốt-then, chủ nhà hội, đánh đòn trước toà án. Nhưng Ga-li-ôn tỏ ra có quan tâm (Cong Cv 18:15-17)
    DAMASCUS "Hòn ngọc phương đông" được nói như là một thành phố cổ xưa của thế giới với một lịch sử liên tục - từ thời Uz (cháu nội trai của Nô-ê) cho đến nay. Trong suốt những thế kỷ nầy, Đa-mách luôn luôn là "đầu não của Sy-ri" và là thủ phủ của người dân xứng đáng (???). Sở dĩ Đa-mách tồn tại lâu dài như thế là nhờ vào một thực sự, nó tọa lạc trong một bình nguyên 60.000 acre, cao hơn mực nước biển khoảng 688,8m, là một trong những ốc đảo phì nhiêu nhất thế giới. Sự sống và sự phồn thịnh của thành phố cùng với bình nguyên chung quanh là nhờ hai con sông nổi tiếng là Abana và Pharpar với tiếng tăm trong Kinh Thánh (IIVua 2V 5:12). Sông Abana, ngày nay có tên là Barada, chẻ thành bảy nhánh như hình cái quạt, rồi chia nhỏ thành những dòng suối, dẫn nước đến khu dân cư, vườn hoa, vườn cây trái, vườn nho của khoảng 400000 người, rồi chảy về phía sa mạc khoảng 18 dặm về phía đông. Sông Pharpar, nay có tên là Awaj, bắt nguồn từ chân đồi của Núi Hermon và chảy khoảng 7 dặm phía nam của Đa-mách, tại đó nước sông tưới cho các vườn trái cây của các nước lân cận.
    Tàn tích của những bức tường và cổng thành khá cổ xưa - một số có từ thời La-mã. Tại hai nơi khác nhau, một cửa sổ bằng gạch được người ta giải thích là cái cửa mà Phao-lô "được thòng xuống trong cái thúng" (IICo 2Cr 11:33). Tuy nhiên, những điều này chỉ minh họa cho câu chuyện, bởi về phần xây dựng chung quanh hai cái cửa sổ khó lòng mà có từ thời La-mã.
    Con phố "Ngay Thẳng" bắt đầu từ cổng đông và đi về phía tây vào giữa trung tâm thành phố. Nhà của A-na-nia, như người ta thấy hôm nay, là một nhà nguyện thấp trông giống cái hang, thấp hơn mặt đường khoảng 4,9-6,1m (16-20feet). Đây có thể đúng là vị trí của căn nhà, nhưng đường Ngay Thẳng lúc bấy giờ ở một mức nước chuẩn thấp hơn, như là tàn tích của con đường được phát hiện đã cho thấy như vậy. Con đường hiện nay không còn là đại lộ nữa - dài một dặm và rộng khoảng 30,48m (100feet) - mà những cỗ xe ngựa (chiến xa) La-mã chạy lạch cạch trên đó. Nhưng con đường khá thẳng, ở cuối đường phía tây có một chợ trời có mái che mà nó tiêu biểu cho một mô hình nổi bật và đang biến đổi về mua bán sống động - cũng như người phương đông chân chính sẽ được tìm gặp trên bất cứ nơi nào trên thế giới. (tối nghĩa quá).
    Đại Giáo Đường Hồi Giáo về mặt thiêng liêng được xếp hạng gần với Giáo đường Hồi giáo tại Mecca, Medina và Giê-ru-sa-lem, là tòa nhà cổ nhất, đáng kính nhất ở Đa-mách. Nó tiêu biểu cho ba kỷ nguyên lớn trong lịch sử, và ba tôn giáo chiếm hữu nó theo thứ tự là: Ngoại giáo, Cơ Đốc giáo và Hồi giáo. Nền móng nhà rộng lớn và dãy cột bên ngoài là của một đền thờ Hy-lạp hay La-mã. Một số ít người nghĩ rằng rất có thể đây là vị trí của đền thờ Rimmon hay Hadad, tại đó tướng Na-a-man xin ban cho "đủ đất bằng hai con la chở nổi" và dựng lên một bàn thờ riêng của ông ta (IIVua 2V 5:17-18). Sau đó, A-háp thấy bàn thờ ấy trong đền thờ nầy và làm y theo một cái tại đền thờ Giê-ru-sa-lem (IIVua 2V 16:10-13). Dưới thời La-mã đền thờ nầy được dâng cho thần Jupiter, sau khi Constantine theo Cơ Đốc giáo vào thế kỷ thứ 4 SC, đền thờ được tái thiết thành một nhà thờ rộng lớn và được Theodosius dâng cho Giăng Báp-tít. Sau khi người Hồi giáo chiếm lấy Đa-mách vào năm 634 SC, tòa kiến trúc đã được thay hình đổi dạng thành một nhà thờ Hồi giáo tráng lệ. Ba trận hỏa hoạn đã làm thiệt hại tòa kiến trúc, nhưng nó đều được phục hồi sau mỗi lần bị hỏa hoạn.
    Theo hiện trạng, Đại Giáo Đường Hồi Giáo gồm có một cấu trúc rộng 146,3 x 98,6m (480feet x 324feet), bao quanh bởi những bức tường xây rất đẹp và một vòm cổng tráng lệ với ba tháp cao, cùng nhiều tháp chuông xinh xắn. Một trong số ấy được gọi là "tháp chuông của Giê-xu", bởi theo truyền thuyết Hồi giáo thì "Giê-xu sẽ xuất hiện trên đỉnh tháp này vào ngày Phán xét lớn."
    Ở phía nam của Giáo đường Hồi giáo, trên ngạch của một ô cửa lộng lẫy nhưng ít được sử dụng, có dòng chữ khắc bằng tiếng Hy-lạp:
    "Ôi Đấng Christ, Vương quốc của Ngài là một Vương quốc vĩnh hằng."
    DAN Ngày nay có tên gọi là Tel el-qadi (mô đất phán xét), lâu nay được xem là tuyến biên phòng phía bắc của xứ Y-sơ-ra-ên - "Từ Đan cho tới Bê-e-sê-ba." Và đó cũng là thành phố mà Giê-rô-bô-am dựng nên con bò vàng.
    Ngày nay đó là một mô đất hình vuông, cao hơn bình nguyên độ 9,1 - 24,4m (30-80feet) và dài khoảng 45,7m (150feet) và rộng 213,4m (700feet). Những đống đổ nát nhỏ, ba cây cối to, một số mùa màng nhỏ, nhiều vườn hoa, và một ngôi mộ của một thánh nhân đạo Hồi trên mô đất. Suối nước lớn nhất trong các vùng đất Kinh Thánh, nếu chưa nói là của thế giới, bắt nguồn từ tận cùng phía tây của mô đất, và là một trong những nguồn nước chính của sông Giô-đanh.
    Người ta chỉ thực hiện khai quật bề mặt tại đây, tuy nhiên sự khai quật đó cũng cho thấy nơi này đã có người đến cư trú từ năm 2600 TC - 600 TC. Lịch sử tôn giáo và lịch sử thế tục đã gặp gỡ tại đây bằng những sự kiện kỳ lạ và gây xúc động, mô đất thì đầy hứa hẹn như vậy đến nỗi nó dễ dàng trở thành một trong những vị trí đầy thách thức nhất cho việc khai quật trong tất cả mọi vùng đất của Kinh Thánh.
    CUỘN BIỂN CHẾT Là tên được đặt cho một bộ sưu tập những bản viết tay bằng tiếng Hy-lạp cổ, Hê-bơ-rơ cổ và A-ram cổ (những phần, đoạn của bản viết tay), được tìm thấy trong một số hang động tại những chân đồi cằn cỗi của đồng vắng Giu-đê, phía tây Biển Chết. Những tài liệu này tiêu biểu cho sự khám phá khảo cổ quan trọng nhất và gây xúc động nhất trong thời đại chúng ta. Hơn một phần ba của tài liệu này là các sách trong Kinh Thánh Cựu Ước, cổ xưa hơn ít nhất 1000 năm so với các bản viết tay Kinh Thánh Cựu Ước xa xưa nhất được biết cho đến nay. Hàng ngàn các bài viết uyên bác và hàng chục quyển sách được viết về Cuộn Biển Chết nầy, nhưng cho đến nay thì chúng vẫn chưa được nghiên cứu và dịch thuật.
    Việc khám phá những cuộn sách bắt đầu từ mùa xuân năm 1947, lúc đó một cậu bé chăn cừu người Ả-rập đi tìm một con dê bị lạc. Trong lúc đi tìm, cậu bé đến một thung lũng dốc, cậu ném viên đá vào cái hang ở chân đồi và nghe có tiếng gì như tiếng vỡ của sành sứ. Gọi thêm một em khác đến phụ giúp, cả hai đã tìm thấy vài cái hũ sành cao từ 25 - 29 inches, bề ngang độ 10 inches. Chúng tìm thấy những đồ vật trông giống những xác ướp nhỏ, nhưng thực ra đó là những cuộn da được gói trong miếng vải gai mịn hình vuông, bên ngoài bọc bằng chất gì giống hắc ín có thể lấy từ Biển Chết. Với suy nghĩ đơn sơ rằng đã tìm thấy "của quý" có thể mang lại món tiền lớn, chúng nó chia nhau những cuộn da và đem về Bết-lê-hem, tại đây họ rao bán những cuộn da nầy cho một nhà buôn đồ cổ với giá 20 bảng Anh, nhưng ông nầy từ chối.
    Sau đó hai đứa bé đi thẳng lên Giê-ru-sa-lem, sau khi mặc cả hằng tuần ở đây, họ đã bán bốn cuộn cho Tổng giám mục Athanasius Samuel của Tu viện Chính Thống Giáo Thánh Mác của người Sy-ri, và ba cuộn cho E.L.Sukenik, giáo sư khảo cổ học tại Đại Học Hê-bơ-rơ, Giê-ru-sa-lem.
    Tổng giám mục Samuel đã đưa cho vài chuyên gia xem những cuộn da mà các chuyên gia ấy cũng không chắc chắn về nội dung và giá trị của chúng. Cuối cùng thì cuộn da được mang đến cho Tiến sĩ John C.Traver, quyền giám đốc của Học Viện Hoa Kỳ về Nghiên Cứu Đông Phương (Giê-ru-sa-lem), ông Traver đã chụp hình và nghiên cứu vài cuộn da, sau đó gửi bản sao đến Tiến sĩ W.F.Albright của Đại học Johns Hopkins. Chuyên gia lừng danh nầy tạm thời nói các cuộn da ấy có từ "khoảng năm 100 TC" và tuyên bố rằng "đó là sự khám phá kỳ lạ."
    Cậu bé chăn cừu người Ả-rập đã tìm ra cái hang tại đó có cuộn da, nhưng chiến tranh giữa người Ả-rập và Do Thái làm cho cuộc điều tra khoa học bị ngưng cho tới tháng 2/1949, lúc đó Tiến sĩ Laukester Harding của Ban Cổ Vật Jordan và Pere R.de Vaux của Trường Kinh Thánh Dominican của Giê-ru-sa-lem cẩn thận khai quật mức sàn của hang (?). Trong vòng ba tuần lễ, họ tìm thấy khoảng 800 cuộn rời rạc thuộc về khoảng 75 cuộn da khác nhau, một vài cuộn giấy chỉ thảo, những mảnh vải gai mịn dùng gói cuộn da, đèn La-mã, những cái bình, miếng sứ của khoảng 50 bình, hũ khác nhau. Rõ ràng là khoảng 200 cuộn da đã được cất giấu trong hang. Origen, giám mục nhà thờ Alexandri sống vào khoảng thế kỷ thứ 3 SC, kể rằng ông ta đã sử dụng vài bản viết tay mà ông đã tìm thấy "trong một cái bình gần Giê-ri-cô." Timotheus, Tộc trưởng Bagdad, cũng đã viết một lá thư cho Sergius là Tổng giám mục của Elam vào khoảng năm 800 SC, nói rằng một người nào đó đến từ Giê-ru-sa-lem, kể cho ông ta về một con chó săn Ả-rập, di vào cái hang gần Giê-ri-cô rồi không trở về. Sau một thời gian, chủ nhân của nó đi tìm và phát hiện mình đang ở trong "một cái nhà bé nhỏ ở trong tảng đá", mà trong đó có nhiều bản viết tay. Chủ nhân ấy đã báo cáo sự kiện nầy cho các học giả Do Thái tại Giê-ru-sa-lem, họ đi xuống khuân lên nhiều cuộn da mà họ cho là các sách trong Cựu Ước và những tác phẩm Hê-bơ-rơ khác.
    Trong lúc khai quật cái hang, Harding và de Vaux chú ý thấy một đống đổ nát trên một nền đất cao trăng trắng (?) mà người Ả-rập gọi đống đổ nát đó là Khirbet Qumran. Phỏng đoán về một liên hệ giữa các cuộn da và đống đổ nát, họ đã trở lại vào năm 1951 và bắt đầu khai quật. Trong năm chiến dịch tiếp sau đó, họ phát hiện tàn tích của một phức hợp cao ốc trung tâm xây dựng công phu, sàn nhà chính gồm hơn 1384,5m2 (15000feet). Đó là một trung tâm cộng đồng hay một tu viện với một tháp đồ sộ để phòng vệ, một nhà bếp rộng, một phòng họp vừa làm phòng ăn to lớn, nhà giặt, nhà kho, phòng trữ đồ ăn, những sân rộng, hệ thống cấp nước gây nhiều chú ý và nó dẫn nước từ một thác tại ngọn đồi phía tây, xuyên qua những kênh đẽo trong đá để về những hồ chứa lớn. Gần đó là những chuồng ngựa, một xưởng đồ gốm cho cộng đồng, và ba nghĩa trang, một trong nơi đó có hơn một ngàn ngôi mộ.
    Điều gây xúc động nhất cho các nhà khai quật là một phòng viết 13m x 4m (43 x 13 feet). Trong phòng này có tàn tích của một cài bàn xây bằng gạch đá, hẹp, dài 5,03m (16feet) cùng với hai cái bàn ngắn hơn và một băng ghế dính vào tường. Trong đống gạch vụn của phòng này có ba lọ mực, hai cái làm bằng đất nung và một cái bằng đồng thiếc. Một cái lọ mực nói trên thực sự còn đọng lại mực đã khô làm bằng muội đèn và chất nhựa lấy từ cây. Gần đó là một cái bồn đôi, có khả năng được dùng đề giặt rửa theo nghi lễ trước và sau khi làm việc với những bản viết tay thiêng liêng.
    Nhiều phát hiện tại Qumran (gồm hơn 700 đồng xu của thời gian liên tục 200 năm) đã tạo khả năng phục chế lại lối sống của một cộng đồng Do Thái sống ẩn dật từ khoảng 100 TC đến 68 SC. Phòng viết, xưởng đồ gốm, một cái bình giống những cái đã tìm thấy trong hang, nhiều phần, đoạn của cuộn da, cách viết, lối sống không những gắn liền những người này với những cuộn da được bắt gặp trong những hang gần đó, nhưng được nhận dạng như là "con người trong những cuộn da" hay tín đồ Essenes (dòng khổ hạnh của Do-thái cổ đại). Các sử gia như Josephus, Philo và Pliny the Eider đã miêu tả những người này đã tách khỏi Do-thái giáo chính thống của Giê-ru-sa-lem và "tách mình khỏi những sự xấu xa, sai lầm trổid ậy trong các đô thị" để sống trong khu nông nghiệp, trong chính nơi này của đất nước và mãi tận phía nam của En Gedi. Căn cứ vào những bài viết, họ tự xem mình là được kêu gọi "để đi vào đồng vắng, dọn đường sẵn cho Chúa, căn cứ vào nội dung bài viết, trong đồng vắng sửa soạn đường đi cho Ngài, ban bằng các nẻo đường Ngài." Họ có thái độ im lặng, và họ sống hết sức giản dị và thanh sạch. Họ cầu nguyện mỗi sáng từ lúc mặt trời mọc cho đến giờ thứ năm, tắm rửa trong nước lạnh, mặc y phục trắng, ăn bữa cơm chung có cầu nguyện tạ ơn trước và sau khi ăn. Sau đó, thay quần áo lao động đi làm việc hoặc miệt mài với công việc mỹ thuật (kể cả việc viết các bản thảo) cho tới chiều tối, trở về ăn bữa cơm chiều với cung cách như trên. Trong giờ cầu nguyện chiếu tối, họ dốc mình cho sự cầu nguyện và nghiên cứu luật pháp của họ - chủ yếu là sách Cựu Ước và các sách Thứ Kinh.
    Một trận động đất đã làm gián đoạn cuộc sống của cộng đồng Qumran mà theo Josephus thì trận động đất ấy đã làm rúng động Giu-đê vào mùa xuân của năm 31 TC. Sau tai họa, nơi ấy không có ai cư trú suốt 30 năm. Vào khoảng năm 4 TC, cộng đồng trở về. Những tòa nhà được sửa sang, cái tháp và những bức tường lung lay được gia cố lại, xây thêm những căn phòng mới. Từ đó, đời sống ẩn dật cho sự cầu nguyện và nghiên cứu tại Qumran được bắt đầu lại với quy mô rộng lớn hơn.
    Đức tin, mục tiêu và sứ mệnh của họ trong cuộc sống ắt đã nhận được sự nâng cao cách lớn lao, và cho dù một mức độ nhỏ về sự kiên tín tù bài giảng của Giăng Báp-tít và sự xuất hiện của Chúa Giê-xu Christ. Họ được dạy dỗ rằng ăn năn là điều kiện tiên quyết cần có để làm lễ báp-tem - như Giăng đã làm. Cuốn Sổ Tay Hành Xác của họ ghi rằng: "Họ không được đi sai lệch khỏi sự khuyến cáo của luật pháp…cho đến khi một tiên tri và đấng Mê-si-a của A-rôn và Y-sơ-ra-ên đến trần gian nầy." Sự răn dạy thường xuyên của họ là "thời kỳ làm trọn" sắp gần kề - tức là Thượng Đế sắp hành động, và đấng Mê-si-a sắp xuất hiện "mang theo một thanh gươm." Tuy nhiên chúng ta không biết được là bao nhiêu tín đồ Essenes này đi theo Giăng Báp-tít và sau đó đi theo Chúa Giê-xu. Dĩ nhiên là Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu chẳng mang theo thanh gươm. Những tín đồ Essenses cho rằng sự cứu rỗi chỉ dành riêng cho thành viên trong tập thể họ vì họ là người được Đức Chúa Trời tuyển chọn, họ được quản lý theo "từng cấp bậc" mà tột đỉnh là một cấp bậc tôn ti chân chính. Vì vậy mà một cộng đồng như vậy không thể trở thành tín đồ Cơ Đốc. Cộng đồng ấy tiếp tục lề thói kỷ luật bản thân, đi đến một chung cuộc bất thình lình vào năm 68 SC là lúc Qumran bị san bằng và thiêu hủy bởi đội quân lê dương thứ 10 của La-mã, khi đoàn quân nầy đến Palestine để vây hãm Giê-ru-sa-lem và dập tắt cuộc khởi nghĩa đầu tiên của người Do-thái. Vào ngày hôm trước của cuộc tàn sát thì các thành viên của cộng đồng đã đào thoát, bỏ lại gần như hầu hết những bản viết tay quý báu của họ được cất giấu trong những cái hang quanh quẩn nơi họ sống. Một toán binh sĩ La-mã cắm trại trên đống gạch vụn, chia những căn phòng lớn điêu tàn, thành những doanh trại, xây một ống dẫn nước sơ sài tại nơi có hệ thống cấp nước xây tinh xảo. Sau một thời gian các binh sĩ La-mã bỏ đi, nơi đó tiếp tục bị bỏ hoang mãi cho đến cuộc khởi nghĩa lần thứ hai của người Do-thái vào năm 132 - 135 SC, lúc đó đống đổ nát được trưng dụng tạm thời như một đồn luỹ hoặc làm nơi ẩn náu. Sau đó, những con người đáng kính đã sở hữu phần đất cho đến khi cậu bé chăn cừu Ả-rập tìm thấy những cuộn da đầu tiên và những nhà khảo cổ đã cứu lấy những kho tàng văn học quý báu nầy.
    Khoảng 37 hang tại Qumran được khảo sát vào năm 1952 và tìm thấy đồ gốm trong đó; nhưng 11 hang cũng có bản viết tay. Hang số 2 có những đoạn của Kinh Thánh và Thứ Kinh, trong đó có một phần của sách Jubilees, và một tài liệu tiếng A-ram mô tả Giê-ru-sa-lem mới. Trong hang số 3 có 274 phần nhỏ của bản viết tay, hai cuộn đồng mà lúc nguyên thủy được làm từ ba miếng đồng, dính nhau bởi những chiếc ốc vặn, dài 2,44m (8feet). Trong hang số 4, tìm được trên 100 bản viết tay, khoảng 100.000 đoạn khác nhau về kích thước, nhỏ từ cỡ móng ngón tay cái đến cỡ một trang đánh máy.
    Nhìn chung, những gì còn sót lại của 500 bản viết tay khác nhau, gồm hàng ngàn những mảnh lớn nhỏ khác nhau đã được tìm thấy trong 11 cái hang nầy, một phần ba là các sách trong Cựu Ước, phần còn lại là lời bình và chú giải về các sách Cựu Ước, các sách Thứ Kinh, những sách Khôn Ngoan, Thánh Thi và Thánh ca, Nghi thức tế lễ, các công tác thần học, và công việc liên quan đến những con người sống tại Qumran và đã viết tay hoặc những đoạn về từng sách trong Cựu Ước ngoại trừ sách Ê-xơ-tê. Những sách quen thuộc nhất, đánh gía bằng số bản được tìm thấy đối với từng sách, là Ê-sai, Thi Thiên, Phục truyền luật lệ ký, Sáng thế ký. Những sách nầy viết trên cuộn da được chỉ dẫn một cách cẩn thận để hướng dẫn các thầy thông giáo. Một vài sách được viết trên giấy chỉ thảo và một sách viết trên miếng đồng.
    Bản viết tay quan trọng nhất, được bảo tồn tốt nhất trong số bản thảo được phát hiện chính là do cậu bé chăn cừu tìm gặp trong hang số 1. Bốn cuộn do Tu Việcn Thánh Mác mua lại là: (1) cuộn Ê-sai, được biết với tên gọi "cuộn Ê-sai Thánh Mác", được viết ttên 17 tờ da cừu khâu giáp lại với nhau, tạo thành một cuộn dài 7,3 m (24feet), cao 26cm (10,2 inches). Đây là cuộn lớn nhất, được bảo tồn tốt nhất, được viết bằng dạng ban đầu của chữ vuông; theo tiến sĩ Albright thì nó có từ thế kỷ thứ 2 TC. Đây là bản viết tay tiếng Hê-bơ-rơ hoàn chỉnh và cổ nhất so với bất cứ sách Kinh Thánh nào, ăn khớp với bản viết Hê-bơ-rơ truyền thống của chúng ta về mọi phương diện, như là đã được sử dụng trong việc phiên dịch ra Ấn bản King James. (2) Sổ Tay Hành Xác, được viết trên năm tờ da màu kem khâu vào nhau, thành một cuộn dài 1,8m (6feet), cao 24,1 cm (9,4 inches). Nội dung gồm các quy định chi tiết về mọi trình tự (hay thủ tục) và nghi lễ của giáo phái, và mô tả khá tỉ mỉ "Hai con đường" của thiện ác, của ánh sáng và tối tăm mà Thượng Đế đặt trước nhân loại. (3) Chú giải Ha-ba-cúc, được viết trên hai tờ da nâu, khâu liền với nhau, thành cuộn dài 1,52 m (5feet), cao dưới 12,7cm (6 inches). Đó là bài viết về sách Ha-ba-cúc bằng tiếng Hê-bơ-rơ, hai chương đầu là lời chú thích. Sách này nói về "tinh thần của chân lý và tinh thần của lầm lỗi", và trong lời bình về câu 1:13 của sách Ha-ba-cúc ghi rằng: "Thượng Đế sẽ giao việc đoán xét mọi dân tộc trong bàn tay của dân sự Ngài." (4) Thứ Kinh Sáng thế ký, một cuộn da dài độ 2,74m (9feet), cao độ 30,5 cm (12 inches). Đó là một bản viết bằng tiếng A-ram gồm vài chương của sách Sáng thế ký với những câu chuyện thêm thắt về Lê-méc, Hê-nóc, Nô-ê và Áp-ra-ham.
    Ba cuộn lấy từ hang số 1 do giáo sư E.L.Sukenik của Đại học Hê-bơ-rơ thủ đắc, gồm có: (1) một cuộn thứ nhì của sách Ê-sai, trong đó 37 chương đầu thì khó phân biệt, nhưng từ chương 38-66 thì tình trạng có khá hơn; (2) "Cuộc chiến giữa con sự sáng với con tối tăm" gồm 19 cột chữ viết, dài 3m (9,5feet), cao 15,2cm (6 inches). Đây là cuốn sổ tay quân sự đưa ra những chỉ dẫn về cách tiến hành cuộc chiến thiêng liêng giữa "Con của sự sáng" và những kẻ thù được dự kiến trước là nhằm nỗ lực áp bức dân sự của Đức Chúa Trời trong thời kỳ sau rốt; (3) Thánh Thi Tạ Ơn, trong đó các bài thánh ca được biên soạn và thu thập bởi cộng đồng Essenes - sách thánh ca của họ.
    Chính phủ Y-sơ-ra-ên, thông qua General Yigael Yadin, đã mua bốn cuộn da của Tổng giám mục Samuel thuộc Tu Viện Thánh Mác, với giá 250.000 đô-la, xây một phòng đặc biệt trong Đại học Hê-bơ-rơ tại Giê-ru-sa-lem mà họ gọi là "Thư Miếu" (miếu của quyển sách). Miếu này hiện cất giữ bảy cuộn gốc lấy từ hang số 1, mà chính phủ Y-sơ-ra-ên coi là "những kho tàng lịch sử vĩ đại nhất thế giới." Những cuộn khác, với vài cái bình nguyên gốc lấy từ hang số 1, đồ gốm từ cuộc khai quật Qumran và hàng ngàn hàng vạn những mảnh của cuộn da, được cất giữ trong Viện Bảo Tàng Khảo Cổ Palestine tại Giê-ru-sa-lem. Tại đây một nhóm học giả quốc tế làm sạch và phục chế, ghép lại và dịch những bản viết tay, những mảnh da, cũng như những món đồ tìm thấy trong lúc khai quật tại những hang và tại Qumran.
    Những khám phá tại khu vực WADI MURABBA'AT:
    Vào năm 1952, người Ả-rập của bộ tộc Ta'amireh báo cáo về những cái hang có nhiều đồ vật tại khu vực Wadi Murabba'at, cách Qumran 11 dặm về phía nam, cách Biển Chết 2 dặm về phía tây. Những cuộc khai quật tiếp theo (21.1 đến tháng 3.1952) phát hiện rằng bốn cái hang được đẽo sâu 45,7m (150feet) ở mặt vách đá phía bắc, từng được dân tỵ nạn và toán quân du kích sử dụng từ lâu trước khi Đa-vít và thuộc hạ của ông cắm trại ở những cái hang nầy, hoặc tương tự, những cái hang trong lúc chạy trốn khỏi Sau-lơ cách đây 3000 năm. Trong hai cái hang nhà khai quật tìm thấy những tài liệu viết một cách đáng kể, trong số đó có một tấm da dê có ghi một danh sách và con số bằng tiếng Hê-bơ-rơ ở thế kỷ thứ 7 hoặc thứ 8 TC; những mảnh của bốn cuộn da - một của Sáng thế ký, hai của Xuất Ê-díp-tô ký, và một của Phục Truyền Luật lệ ký; "một cuộn rất tuyệt với" của sách tiểu tiên tri; và một số bức thư và khế ước bằng tiếng Hê-bơ-rơ, thuộc về thời kỳ khi những cái hang bị đơn vị tiền đồn của quân đội Bar Kochba chiếm đóng, ông là lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa Do-thái lần thứ 2 chống lại La-mã vào năm 132-135 SC.
    Hai bức thư trong số nói trên có chữ ký của Bar Kochba, "hoàng tử của Y-sơ-ra-ên" và những bức thư của người khác gửi cho ông.
    Vào năm 1959, tiến sĩ Yigael Yadin tổ chức một cuộc thám hiểm khảo cổ bằng trực thăng và lùng sục những lãnh thổ xa tận phía nam của Y-sơ-ra-ên, dọc theo bờ tây của Biển Chết. Họ định được vị trí và thăm dò những cái hang khác được các toán quân của quân đội Bar Kochba sử dụng đến. Người ta tìm thấy những đồng xu, tài liệu viết gồm một mảnh của cuộn được khắc với câu Xuất Ê-díp-tô ký 13:1-16 và cuộn khác gồm bảy dòng của Thi Thiên 15.
    Những khám phá tại KHIRBET MIRD:
    Vào năm 1950 thành viên của bộ tộc Ta'amireh Bedouin tìm thấy tài liệu viết tay rất đáng quan tâm tại Khirbet Mird, một Tu Viện Cơ Đốc điêu tàn ở trên đỉnh núi hình chóp, cách Mar Saba 2,5 dặm về phía đông bắc. Một đoàn thám hiểm Bỉ tiến hành lùng sục xa hơn tại đó vào tháng hai, tháng ba năm 1953. Nhìn chung, những khám phá này gồm có những mảnh thư cá nhân bằng giấy chỉ thảo, viết bằng tiếng Ả-rập, một mảnh thư của Andromache của Euripides, và một số bài viết Kinh Thánh bằng tiếng Hy-lạp và Sy-ri. Bài viết bằng tiếng Hy-lạp gồm những đoạn của sách Tin Lành Mác, Giăng và sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Bài viết bằng tiếng Sy-ri gồm những đoạn của sách Giô-suê, Lu-ca, Giăng, Công Vụ Các Sứ Đồ và Cô-lô-se. Tất cả đều có từ thế kỷ thứ 7,8 của kỷ nguyên Cơ Đốc chúng ta.
    DERBE Tại nơi này Phao-lô "giảng Tin Lành" và khiến nhiều người trở lại tin Chúa, trong số ấy có Gai-út (Cong Cv 14:6, 20; 20:4) không thể xác định vị trí một cách chắc chắn. Tuy nhiên, ngày nay địa điểm này nói chung được xác minh là một mô đất kích thước vừa phải khoảng 15 dặm đông nam Lystra, nơi mà một câu khắc đề tặng viết bởi hội đồng và nhân dân của Đẹt-bơ được tìm thấy, nhằm tỏ lòng tôn kính Antonius Pius vào năm 157 SC. Cột mốc chỉ khoảng cách đường của người La-mã được tìm thấy trong khu vực nầy, và các mảnh sứ, đồng xu trên mặt đất chỉ ra rằng nơi này có người ở trong thời Hellenist và thời La-mã.
    DIBON Từng là thủ đô của Mesha, vua của Mô-áp, được tọa lạc trên một xa lộ cách sông Arnon ba dặm về phía bắc. Đống đổ nát rộng của Dibon phủ lên chỗ dốc của hai mô đất kế cận, mô đất phía nam bị choán bởi một đồn lũy và một cái làng hiện nay, và may mắn là nhằm cho mục đích khảo cổ, mô đất phía bắc thì hoàn toàn không bị choán chỗ. Cả hai mô đất đều được rào quanh bởi những bức tường trông có vẻ cổ xưa.
    Dibon đã làm người ta chú ý về mặt khảo cổ học kể từ 1868, lúc ấy một tù trưởng thân thiện người Ả-rập, lưu ý Mục sư F.A.Cline tới một tảng đá có đỉnh hình bầu dục và nhô lên khỏi đất bụi. Trên bề mặt tảng đá là một câu khắc bằng ký tự Hê-bơ-rơ, điều làm cho Tiến sĩ Cline tin rằng nó phải có giá trị lịch sử. Sau khi chép lại một vài chữ từ bia tưởng niệm và gửi về Viện Bảo Tàng Berlin, đề nghị trả cho vị tù trưởng 400 đô-la để mua tảng đá, nhưng người tù trưởng cứ chần chừ không đồng ý.
    Cùng lúc ấy, tin tức đến tai M.Clermont Ganneau, một nhà đông phương học xuất sắc của Tòa lãnh sự Pháp tại Giê-ru-sa-lem. Ông dàn xếp để có một bản in bằng bột giấy từ tảng đá khắc chữ và trả giá cao bằng tiền mặt. Ý thức được giá trị khả hữu của tấm bia, những người Ả-rập đã làm nóng tấm bia và dội nước lạnh, làm vỡ ra và theo đúng phong tục Ả-rập, họ phân phát từng mảnh vụn cho những gia đình lãnh tụ trong bộ tộc.
    Clermont Ganneau, thông qua viên trợ lý người Ả-rập, đã mua lại hầu hết những mảnh vụn của tảng đá từ nhiều gia đình khác nhau. Sau đó, với sự hỗ trợ của bản in bột giấy, ông đã ghép lại tấm bia tưởng niệm từ các mảnh vụn và đặt nó trong cung điện Louvre, Paris. Viện Bảo Tàng và những tổ chức tương tự được cho phép có những bản sao của tấm bia.
    Tảng đá Mô-áp được làm bằng đá bazan đen và trông giống mộ chí của thế kỷ 19. Nó cao khoảng 1,17m, ngang 0,6m, dày 35,6 cm. Trên bề mặt có 34 dòng chữ cái, về nội dung, giống như và bổ sung thêm về sự tích nổi loạn của Mesha được nêu trong chương 3 của sách Các Vua thứ nhì. Mesha đã dựng lên tảng đá vào khoảng năm 850 TC tại Dibon. Một đoạn của câu khắc như sau:
    Ta là Mesha, con của Chemosh…Vua của Mô-áp, người Dibon…Cha ta đã cai trị Mô-áp trong 30 năm, và ta cai trị tiếp cha ta. Và ta lập nên bàn thờ nầy cho Chemosh vì sự sinh thành của Mesha, bởi vì người đã cứu ta khỏi mọi vua chúa và khiến ta thỏa nguyện đối với kẻ nào căm ghét ta. Ôm-ri, vua của Y-sơ-ra-ên, đã đàn áp Mô-áp nhiều ngày bởi vì Chemosh không hài lòng với xứ sở của mình. Và con của Ôm-ri đã kế vị, người ấy cũng nói rằng ta sẽ đàn áp Mô-áp. Trong thời gian trị vì của ta, người ấy cũng nói như vậy, nhưng ta thấy mình thỏa nguyện những gì ta muốn đối với người ấy và gia đình người ấy, và Y-sơ-ra-ên đã bị hủy diệt với sự tổn thất đời đời. Bây giờ Ôm-ri sở hữu mọi đất đai của Medeba và ở đó trong thời gian trị vì và nửa thời gian trị vì của con ông ấy… nhưng Chemosh đã khôi phục nó trong thời gian trị vì của ta…
    Những khai quật quan trọng được Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ bắt đầu tại đây vào 1950 và tiếp tục trong nhiều ngày. Cho đến nay, năm bức tường thành phố đã được khám phá, một cái tháp lớn hình vuông, nhiều tòa nhà, lúa mì bị carbon hóa khá nhiều, một mảnh vụn nhỏ của một bia khắc trông phần nào giống Tảng Đá Mô-áp.
    Một trong những bức tường được xây bằng những khối đá vuông vức và to với bề dày từ 2,9m - 3,3m. Bức tường nầy được cho là thuộc về thành phố Dibon trong thời Mesha. Người ta tìm thấy đồ gốm từ Thời Kỳ Đồ Đồng Sớm (3000 - 2000 TC) đến thời Ả-rập, nhưng có rất ít đồ gốm có từ Thời Kỳ Đồ Đồng Giữa và Muộn. Hiển nhiên là nơi đây khó có tên gọi khác trong lúc Y-sơ-ra-ên đi ngang qua gần đó trên đường đi đến Ca-na-an.
    DOTHAN Ngày nay có tên là Tell Dotha, tọa lạc cách thành phố cổ Sa-ma-ri 12 dặm về phía bắc. Đó là một mô đất có đỉnh rộng độ 40468m2 và sườn dốc khoảng 60702m2. Tại đây Giô-sép bị ném vào một cái giếng, sau đó bị những người anh bán cho một đoàn lái buôn người Ích-ma-ên và Ma-đi-an đi ngang qua (SaSt 37:17-28). Đây cũng là nơi mà Ê-li-sê thấy khải tượng những ngọn núi đầy dẫy chiến mã và chiến xa, đến nỗi làm cho ông phải khuyến cáo người đầy tớ của mình rằng "những người ở với chúng ta đông hơn những người ở với họ" (IIVua 2V 6:13-23).
    Việc khai quật thực hiện tại đây từ mùa xuân 1953 bởi Tiến sĩ Joseph P.Free của Đại học Wheaton, đã tìm thấy 11 tầng cư ngụ liên tiếp từ Thời Kỳ Đồ Đồng Sớm (3000 - 2000 TC) đến Thời Kỳ Đồ Sắt Giữa (1000 - 586 TC). Cổng, tường, những đồ vật khác đáng quan tâm được tìm gặp ở mọi tầng cư ngụ, nhưng đặc biệt đáng chú ý là tầng Đồ Đồng Thiếc Giữa (2000 - 1500 TC), thành phố trong thời Giô-sép, tầng Đồ Sắt Giữa (900 - 586 TC), thành phố trong thời Ê-li-sê. Về tầng có trước hơn là một bức tường nặng, ở một góc tường có bộ xương của một đứa trẻ bị đốt cháy, đựng trong một cái hũ gốm của Thời Kỳ Đồ Đồng Giữa. Những nhà khai quật nghĩ rằng đây rất có thể là một tế lễ cho nền móng tương tự như Hiel đã làm dưới bức tường thành phố, khi ông tái thiết Giê-ri-cô (IVua 1V 16:34). Những khu vực của thị trấn vào thời Ê-li-sê sau khi được dọn sạch để lộ ra những con đường hẹp và những căn nhà nhỏ với những hồ chứa và lò bánh mì. Ở tầng thứ 15, người ta tìm thấy những mảnh bạc đựng trong một cái hộp đất nung - có thể là tiền dành dụm của ai đó.
    EBLA (TELL MARDIKH) Ở tây bắc Sy-ri, giữa Ai-cập và A-si-ri, đó là một dãy những mô đất mà trong nhiều thập niên được người ta giải thích cách cẩu thả như là những mô đất do Hyksos đắp lên trên các công trường thành phố khi họ bành trướng về phương nam vào thế kỷ 16 và 15 TC. Một số người khác cho đó là những đồn lũy của người Ả-rập từ thế kỷ 7 và 8 SC. Mô đất gây được sự chú ý nhất trong số mô đất nầy mang tên là Tell Mardikh, nằm 30 dặm phía nam Aleppo hiện đại, cao 15,24m (50feet) so với bình nguyên và chiếm diện tích khoảng 67.852,2m2 (140 acres).
    Vào mùa xuân năm 1964, Tiến sĩ Paolo Matthiae, giáo sư khảo cổ học Cận Đông của Đại học Rô-ma, cùng với vợ là Gabriela nhận được giấy phép để khai quật Tell Mardikh, cùng đi có một trợ lý giỏi về khảo cổ. Họ đã đào những lỗ khoan 4m2 với các bờ lỗ 1m - nhiều như Kathleen Kenyon đã làm tại Giê-ri-cô và Giê-ru-sa-lem. Mỗi mét vuông có một người cuốc, người khác dùng xẻng xúc và một người đẩy xe cút-kít. Tổ đốc công gồm một người chỉ huy, một phụ tá, một kiến trúc sư và một thực địa viên.
    Trong vài năm đầu họ thực hiện việc đo độ sâu tại nhiều nơi khác nhau của mô đất. Người ta phát hiện những cổng thành giống như cửa Sa-lô-môn tại Gezer và Mê-ghi-đô, và hai đền thờ nhỏ, dạng như nhà nguyện, trông giống cái đền nổi tiếng của Si-chem, Mê-ghi-đô và Hazor - tất cả có từ 2000 - 1600 TC, được xem là Thời Kỳ Đồ Đồng Thiếc Giữa I&II.
    Năm 1968 nhà khảo cổ khám phá một tượng vua trên đó mang một câu khắc đề tặng cho một Ibbit-Lim. "Chúa Của Thành Phố Elba, dâng nữ thần Ishtar." Chẳng mấy chốc vấn đề trở nên sáng tỏ, thì ra họ đang khai quật thủ phủ đáng kính của Vương quốc Ebla, một đế quốc Semit rộng lớn có trung tâm đặt tại bình nguyên của Sy-ri cận đại. Qua những câu khắc cổ đại vương quốc nầy được tình cờ nhắc đến - từ Uz, Lagash, Nippur, Mari và Ai-cập - các nhà khảo cổ từ lâu đã nghi rằng có sự hiện diện của một nền văn minh như vậy ở bắc Sy-ri. Ngày nay nhiều địa điểm và sự kiện lịch sử có thể rơi vào đúng chỗ nầy.
    Vào năm 1973 công việc được bắt đầu tại Ebla, Thời Kỳ Đồ Đồng Thiếc Sớm có giữa năm 2400 - 2225 TC. Các nhà khai quật tìm thấy một phiến đá nói rằng thành phố lúc bấy giờ được chia ra hai phần - một thành phố cao và một thành phố thấp, thành phố cao gồm 4 phức hợp xây dựng: cung điện của thành phố, cung điện của vua, cung điện của đám người hầu, và các chuồng trại. Thành phố thấp được phân ra 4 phần, mỗi phần có một cái cổng: cổng thành phố, cổng Dagan, cổng Rasap, cổng Sipis.
    Vào năm 1975, trong lúc đang khai quật tại cung điện thành phố là trung tâm hành chánh đầu não, họ tình cờ bắt gặp tàn tích của một tòa nhà rộng, là một hoàng cung ba tầng với bốn thế hệ thịnh vượng trước khi Áp-ra-ham ra đời. Nó gồm một cung thính giả rộng lớn 30,48m - 51,82m (100-170feet, với cổng vòm bằng gỗ chạm trổ và cột đá trang trí bằng vàng và đá thiên thanh) một buồng tháp, hai phòng nhỏ hơn tại lối vào của sân trong. Trong buồng tháp có 42 phiến đá ghi công việc bằng chữ hình nêm và một phiến đá nhỏ làm bài tập ở trường.
    Trong năm tiếp theo họ làm việc trong hai căn phòng tại lối vào của sân trong. Phòng thứ nhất có khoảng 1000 phiến đá công việc và hành chánh mà họ tìm thấy chúng "đặt rải rác và lộn xộn." Phòng thứ nhì là một thư viện lớn - phòng lưu trữ văn thư hoàng gia chân chính - chứa 15000 phiến đá xếp đều đặn trên các kệ gỗ. Tuy nhiên, khi cung điện bị hỏa hoạn tàn phá, ngọn lửa đã thiêu rụi giá gỗ và các phiến đá đã xếp chồng lên nhau. Bà Mathiae báo cáo rằng "Đó là một cảnh tượng đáng kinh ngạc - tôi không thể tin rằng chúng ta lại khám phá một kho tàng quan trọng, đẹp đẽ và to tát như vậy. Ngay cả chồng tôi là người ít khi mất bình tĩnh, cũng đã tỏ ra xúc động xiết bao! Bất chợt ông cảm nhận được cái cảm giác tuyệt vời mà các nhà khảo cổ trải qua như Botta khám phá cơ quan lưu trữ của Ashurbanipal, hoặc Hilprecht đã tìm thấy những phiến đá của Nippur."
    Trong một phòng gần đó có 1000 phiến đá khác, cùng những dụng cụ để viết. Như vậy trông giống như phòng của thầy thông giáo. Trong phòng khác nữa có 800 phiến đá cùng với những hình bằng gỗ chạm trổ đẹp, vết in của con dấu, và những tấm gỗ vàng, và đá thiên thanh. Người ta cũng tìm gặp một tấm vàng.
    Ý thức được nhiệm vụ cực kỳ to tát đang chờ họ, Giáo sư Mathiae cho mời Giáo sư Giovanni Pettinato, chuyên gia môn A-si-ri và Sumero của Đại học Rô-ma. Giáo sư G.Pettinato phát hiện rằng phần lớn các phiến đá được viết bằng chữ hình nêm dạng hình V của người Sumeri - ngôn ngữ cổ nhất thế giới. Tuy vậy, bản thân các phiến đá lại có từ giữa thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên. Một phiến đá lớn là một quyển từ điển đưa ra tiếng tương đương của Sumeri với khoảng 3000 từ Ebla. Với sự hỗ trợ của quyển từ điển, Pettinato giải mã được nhiều phiến đá Ebla khác. Khoảng 20% các phiến đá được viết bằng ngôn ngữ Semit tây bắc mà Pettinato gọi là Paleo-Canaanite hoặc tiếng Ca-na-an cổ, mặc dù chữ viết được dùng cũng là chữ hình nêm Sumeri. Ông nói đây là ngôn ngữ được nói tại Ebla và gần với tiếng Hê-bơ-rơ Kinh Thánh về mặt từ vựng và văn phạm so với các tiếng địa phương khác của Ca-na-an, kể cả tiếng Ugarit.
    NỘI DUNG VÀ Ý NGHĨA CỦA NHỮNG PHIẾN ĐÁ
    Tính đến nay số lượng phiến đá đã được khai quật là gần 20.000, đại đa số có kích thước khá lớn. Những bảng đá được phiên dịch - nhưng chỉ là phần nhỏ - kể về nền kinh tế, hành chánh, giáo dục, tôn giáo, thương mại và những chiến thắng của một đế quốc thương mại vĩ đại mà tất cả ký ức đã bị đánh mất trong những truyền thuyết lịch sử Cận Đông.
    Từ lúc bắt đầu công việc, cho đến tháng 11 năm 1982, những nhà khai quật gợi ý rằng có thể mất 200 năm mới thăm dò hết phần còn lại của Tell Mardikh và các địa điểm xung quanh, và xử lý hết các dữ liệu. Nhưng cái mà họ tìm thấy dã soi sáng họ trên nhiều khía cạnh trong lãnh vực nghiên cứu lịch sử cổ đại và khảo cổ học Kinh Thánh, trong nhiều khu vực thì những phiến đá Ebla nay được xem là có nhiều ý nghĩa hơn cho sự diễn giải lịch sử cổ đại và những bối cảnh ban sơ của Kinh Thánh so với sự khám phá về khảo cổ khác đã từng được khai quật.
    Dựa trên một phiến đá thì thành phố Ebla có 260.000 dân, còn đế quốc thì hình thành một trong những cường quốc lớn mạnh nhất tại Cận Đông Cổ Đại vào thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên. Ảnh hưởng thương mại và chính trị của đế quốc vươn ra xa khỏi biên thùy - từ Si-nai ở phía tây nam cho đến Mê-sô-bô-ta-mi ở phía đông. Như là một trung tâm thương mại chính yếu, đế quốc nầy kiểm soát tuyến buôn bán đông tây, cho ngũ cốc và gia súc từ phương tây, gỗ bá hương từ Li-băng, kim loại, sợi dệt từ Anatolia - quê hương của Hittites - cùng với việc buôn bán vàng bạc và một số hàng hóa khác từ Chíp-rơ và các quốc gia khác của vùng Địa Trung Hải.
    Ebla là một nền văn minh Semit phồn vinh. Nghệ thuật của Ebla phát triển mạnh và thợ thủ công của Ebla nổi tiếng về chất lượng của sản phẩm kim loại, sơi dệt, đồ sành sứ và hàng gỗ. Họ làm vải bằng phẩm đó và vàng, vũ khí bằng đồng thiếc, bàn ghế, tủ bằng gỗ. Hệ thống giáo dục rất tiên tiến. Họ cất giữ hồ sơ bằng ngôn ngữ riêng của mình trên các phiến đá đất sét mà họ cất trong phòng lưu trữ sâu dưới tầng hầm của hoàng cung. Tất cả những điều nầy đã tồn tại hơn 1000 năm trước khi nền văn minh sáng lạn của Đa-vít và Sa-lô-môn ra đời.
    Ebla có một vua và một hoàng hậu. Giống như Y-sơ-ra-ên, vua và tiên tri được xức dầu tại Ebla. Vua phụ trách quốc gia đại sự, hoàng hậu cũng được kính trọng như vua. Hoàng thái tử phụ giúp việc nội chính và hành chính, còn hoàng tử thứ nhì thì giúp vua cha trong công việc ngoại giao. Những phiến đá nói khá rõ ràng về cơ cấu nhà nước và về vương triều. Sáu vị vua có tên trong danh sách, trong số đó có Ebrum. Theo Sáng 10:21, việc giống nhau của tên vua ấy với Eber, cha của Semit khiến người ta phải kinh ngạc, bởi đó là tên rất giống với tên Eber trong Kinh Thánh, một con cháu trực hệ của Nô-ê và tổ tiên của Áp-ra-ham.
    Những tên họ khác được tìm thấy trong bài viết trên phiến đá và sau đó được các nhân vật Kinh Thánh sử dụng như: Áp-ra-ham, Ê-sau, Sau-lơ, Mi-ca-ên, Đa-vít, Y-sơ-ra-ên, Ích-ma-ên (Ish-ma-il).
    Có khoảng 500 thần tượng được thờ tại Ebla, gồm có El và Ya. El kà cách gọi tắt của Elohim, sau nầy được người Hê-bơ-rơ dùng tới và được dùng trong các phiến đá Ugarit. Ya là cách gọi vắn tắt mà một số người nghĩ là Yahweh, hay Giê-hô-va, được sử dụng cho thần chí cao và các thần khác của họ. Các thần khác là Dagan, Rasap (Resef), Sipis (Samis), Astar, Adad, Kamis và Malik.
    Trong việc ghi chép những cách giải quyết mậu dịch và hiệp ước của Ebla, những phiến đá đưa ra hàng trăm địa danh riêng biệt, trong số đó có Urasalim (Giê-ru-sa-lem), Geza, Lachish, Joppa, Ashtaroth, Dor và Mê-ghi-đô cũng như các thành phố phía đông Jordan. Một phiến đá (số 1860) đề cập các thành phố trên bình nguyên - theo đúng thứ tự trong Sáng Thế Ký 14:2 (Sô-đôm, Gô-mô-rơ, Admah, Zeboiim, Bela hoặc Zoar) - như là những thành phố mà Ebla tiến hành buôn bán trên diện rộng. Đây là lần đầu tiên những địa danh nầy được tìm thấy bên ngoài Kinh Thánh. Tiến sĩ David Noel Freedman giải thích rằng sự ghi chép nầy có trước trận đại nạn có dính líu tới Lót mà nhiều học giả cận đại cho rằng là hoàn toàn giả tưởng.
    Bài viết hàm chứa những câu chuyện của người Ca-na-an về sự Sáng tạo và về cơn đại hồng thuỷ và một bộ luật của người Ca-na-an. Phiến đá Sáng tạo vũ trụ - một bài thơ 10 dòng được khắc rất đẹp - gần gũi với sự ghi chép trong Sáng thế ký hơn bất kỳ khám phá nào khác. Về ý chính, một phần của bài thơ ấy như sau:
    Có một thời mà chưa có trời, và đấng chí cao (Lugal) đã hình thành trời từ con số không; lúc đó cũng chưa có đất và Lugal đã dựng nên nó; lúc đó cũng chưa có ánh sáng và Ngài đã tạo ra nó.
    Câu chuyện đại hồng thủy được nêu lên trong năm cột chữ trên một phiến đá nhỏ. Tính cho đến lúc viết bài này thì người ta chỉ mới giải mã được hai cột.
    Ebla chỉ mới được khai quật một phần, tuy nhiên một phần hoàng cung, hai cái đền, một pháo đài, ba cái cổng thành và gần 20000 phiến đá đã được đưa ra ánh sáng. Những phiến đá này là một bộ phận của hồ sơ lưu trữ chính thức của một đại đế quốc. Có một thời Ebla thậm chí cai trị và nhận cống vật của Mari-Reverses, do vậy mà Ebla đã bị tàn phá. Rõ ràng là sự tàn phá đó không triệt để, bởi vì Ebla lại có được phần nào sự sống lần thứ nhì trong giai đoạn đầu của thiên niên kỷ thứ hai trước Công nguyên. Các nhà khai quật chỉ phát hiện tàn tích kiến trúc và tượng vua Ibbit-Lim của thời kỳ nầy.
    Khoảng năm 1800 TC, Ebla trở thành nước chư hầu của đại vương quốc Aleppo, được nói đến trong những lá thư Mari qua tên Yamhad. Khoảng 1600 TC, Naram Sin là vua của Akkad đã đánh bại Ebla và tàn phá thành phố. Sau tai họa đó thành phố Ebla không bao giờ khôi phục được nữa, và nó bị chôn vùi dưới đống gạch vụn của chính nó cho đến khi những nhà khai quật cận đại bắt đầu đào bới.
    Cống hiến của Ebla đối với khảo cổ học và địa lý lịch sử làm cho cảnh trí Kinh Thánh phong phú và xác thực hơn nhiều - dù rằng nó có trước Y-sơ-ra-ên ban sơ từ 400-1000 năm. Nó giúp cho sinh viên thần học hiểu biết đầy đủ hơn về cuộc sống và thời đại của thế giới đông Địa Trung Hài vào thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên, và về nền văn minh thuộc một phần của di sản Áp-ra-ham.
    ECBATANA Hiện nay được gọi là Hamadan, là thủ đô đầu tiên của Medes, sau đó trở thành thủ đô mùa hè của Cyrus đại đế (tức là Cyrus II).
    Trong Exo Er 6:2 kể rằng một cuộn giấy trên đó Cyrus viết chiếu chỉ phóng thích những người Do-thái và tái thiết Giê-ru-sa-lem không thể tìm thấy trong cơ quan lưu trữ của Ba-by-lôn." Cuộn giấy ấy sau nầy được tìm gặp trong cung lưu trữ tại Ecbatana, nơi đây, người ta đã giả định đó là nơi mà Darius de Mede (Gobryas), viên đại tướng lão thành của Cyrus, được đưa lên làm vua một thời. Ngay khi về hưu tại thành phố của mình tại Ecbatana, ông ta đã đem theo tờ chiếu chỉ, cất nó trong cung lưu trữ tại Ecbatana. Các tác giả cổ đại nói rằng thành phố này có 7 bức tường, mỗi bức tường có một màu riêng, bức tường trong được giát vàng. Semiramis, một hoàng hậu người A-si-ri, xây một cung điện đẹp tại đây vào 800 TC; và 546 TC. Cyrus chinh phục Lydia và đưa vị vua cùng tài sản của ông về Ecbatana.
    Thành phố cận đại Hamadan được xây dựng trên mô đất của Ecbatana cổ đại, làm cho việc khai quật tàn tích của thành phố thủ đô trù phú đầy tính thần thoại nầy gần như không thể thực hiện được. Nhưng thỉnh thoảng người ta cũng tìm thấy những món đồ bằng bạc và vàng, và cái đầu bò có lỗ trục và trang trí bằng hình con sư tử trên phù điêu cũng được phát hiện. Món đồ nầy hiện đang ở Viện Bảo Tàng Anh, và có từ khoảng năm 1200 TC. Người ta cũng tìm thấy một câu khắc bằng ba loại ngôn ngữ là Ba-tư, Susi và Ba-by-lôn, những ngôn ngữ của Ạt-ta-xét-xe Mnemon, vua của xứ Ba-tư từ 405-362 TC. Trong Viện Bảo Tàng Anh có một mảnh của một phiến đá bằng đất sét khắc biên niên sử của Nabonidus, trong đó ghi chép việc Cyrus đánh chiếm thành phố.
    Khoảng 80 dặm về phía tây Ecbatana, lơ lửng trên cao một sườn núi, là câu khắc Behistun danh tiếng - bức hình ngoài trời lớn nhất được dựng từ trước đến nay. Nó vẽ hình Đa-ri-út đại đế đang trong tư thế nhận sự thần phục của 10 vị vua bị chinh phục. Câu chuyện đầy đủ của sự kiện nầy được kể trong câu khắc ba thứ ngôn ngữ kèm theo bức tranh.
    EDREI Là nơi mà người Y-sơ-ra-ên đánh bại vua của Ba-san là Óc, hiện nay có tên gọi cận đại là Der'ah và là một giao điểm quan trọng cách Đa-mách 60 dặm về phía nam.
    Mô đất cổ đại nằm gần thành phố cận đại, có nhiều đống đổ nát, câu khắc, những mảnh sành sứ trên mặt đất chứng minh rằng nơi đây có người cư ngụ liên tục từ thiên niên kỷ thứ ba trước Công nguyên cho đến thời đại hiện nay. Tuy nhiên, tiếng tăm chủ yếu của nó thuộc về một thành phố độc đáo dưới mặt đất nằm dưới mộ đất hiện hữu. Để đi vào thành phố ẩn tàng nầy, họ phải băng qua một sân dài và một lối đi hẹp dẫn xuống một cửa đá chắc chắn để vào thành phố đúng đường, chống đỡ bằng những cột cao 3,05m (10feet), và thông gió bằng những giếng không khí, người ta thấy ở đây có nhiều phòng, lối đi quanh co, một con đường rộng với nhà ở và cửa tiệm ở cả hai bên, và ngã tư, một nơi họp chợ, và một đại sảnh tráng lệ có trần nhà làm bằng một phiến ngọc bích duy nhất.
    Người ta nghĩ rằng thành phố ngầm đáng chú ý này được xây dựng vào thời Hê-rốt đại đế hoặc có thể trước đó, được dùng làm nơi trú ẩn trong thời chiến tranh hoặc các cuộc tấn công. Người dân ở đây sẵn sàng chống lại cuộc bao vây của kẻ thù "miễn là khi nào trong nhà kho còn đầy đủ lương thực, chuồng trại còn trâu bò và hồ chứa còn nước." Thành phố dưới mặt đất đã có người ở hầu hết thời gian kể từ lúc nó được kiến tạo.
    ELAM Là một đất nước cấu thành bởi rặng núi Zagros, và những lãnh thổ khác rất đáng khao khát ơ phía đông Ba-by-lôn. Thủ đô là Shushan.
    Cyrus đại đế đã sát nhập Media, Elam và Anshan ("đất Ba-tư") thành một đế quốc mang tên Ba-tư. Elam rất nổi tiếng trong các văn bản của A-si-ri và Ba-by-lôn, vì Elam ở kế hai nước nầy, và chính Elam đã mang lại nhiều phát hiện khảo cổ làm xác thực một vài khía cạnh lịch sử của Kinh Thánh. Người Elam có mặt tại Giê-ru-sa-lem vào ngày Ngũ tuần lúc Đức Thánh Linh giáng lâm (Cong Cv 2:9).
    EMMAUS Sau khi Chúa bị đóng đinh, hai môn đệ của Ngài trên đường đi từ Giê-ru-sa-lem đến Em-ma-út, trong khi ấy Chúa Giê-xu phục sinh đi cùng họ và bàn luận với họ "về mọi điều đã xảy ra" mà họ không nhận biết Ngài (LuLc 24:13-33)
    Bốn thị trấn cận đại được đề xuất như là Em-ma-út. Tuy nhiên, nơi đáp ứng chính xác những mô tả do Lu-ca và sử gia Josephus đề ra là một làng hiện nay được gọi là El-Qubeibeh. Làng này ở một vị trí rất thuận lợi, cách tây bắc Giê-ru-sa-lem độ 7 dặm, trên một con lộ hơi chệch về phía bắc của người La-mã đi về hướng tây do Nebil Samwill tạo dựng. Từ làng nầy ta có thể nhìn rõ mọi hướng trong tầm vài dặm - nhất là về hướng tây nơi mà bình nguyên Sharon và Địa Trung Hải hiện ra mênh mông theo đường chân trời.
    Vào năm 1099, Thập Tự Quân tìm thấy gần nơi này một pháo đài La-mã cũ kỹ có tên Castellum Emmaus. Khi Franciscans dựng lên nhà thờ Thánh Cleophas tại đây vào năm 1878, họ đào lên những di tích của một nhà thờ được đánh giá là của thập tự quân. Hiện nay tại đây có một nhà thờ rất đẹp của người Đức, cũng vừa là nhà tế bần, trong vườn hoa của nhà thờ có trồng thông, sồi và dương xỉ.
    EN GEDI (ain Jidy, "nguồn nước của con trẻ") Là một địa điểm nổi tiếng khoảng 400 feet phía trên bờ biển phía tây của Biển Chết, tại đó có suối nước nóng mênh mông trào ra từ những vách núi đá vôi và thác nước xuống một bình nguyên tuy nhỏ nhưng phì nhiêu, bề ngang 0,5 dặm, bề dài 1 dặm.
    Vào đời thượng cổ, tại đây có trồng nho, cây cọ, cây bóng nước, cây long não, cây bạch đàn Ả-rập, mía, cây dưa tây và nhiều loại cây ăn trái và cây cỏ làm cho nó trở nên một trong những khu vườn nổi tiếng trên thế giới.
    Làng hay thị trấn Ên-ghê-đi có thể nằm phía dưới con suối ở triền bình nguyên, điều đó ta có thể thấy qua những tàn tích của công trình xây dựng rải rác đó đây. Phía trên và chung quanh nguồn nước là vách đá cao và một vùng hoang dã được gọi là đồng vắng Ên-ghê-đi mà có thể nói cách không quá đáng rằng đó là nơi để trú ẩn. Ở đây có nhiều hang, mà một số hang đã được Đa-vít và thuộc hạ ở "trong đồn Ên-ghê-đi" (ISa1Sm 24:1).
    Vua Sau-lơ cùng với 3000 người đến lùng sục Đa-vít và những thuộc hạ của ông cho đến "các hòn đá của dê rừng" (ISa1Sm 24:3) đó là một trong những hang mà Đa-vít đã cắt vạt áo tơi của Sau-lơ (ISa1Sm 24:5).
    Tiến sĩ Yigael Yadin khai quật nhiều cái hang nầy và tìm thấy đồ gốm cùng với những di vật khác của những người đã cư ngụ tại đây vào thời xa xưa.
    EN ROGEL Hiện nay được gọi là Giếng Gia-cốp. Một mốc ranh giới phân chia lãnh thổ giữa Bên-gia-min và Giu-đa (Gios Gs 18:16-17). Nó nằm tận phía thấp của thung lũng Kidron - ngay tại giao điểm của thung lũng Hinnom và thung lũng Kidron. Tuy gần Giê-ru-sa-lem, nhưng từ phía thành phố lại khó nhìn rõ nơi đây, vì vậy Giô-na-than và A-hi-mác đã đứng tại Ên-rô-ghên khi họ chờ để thông báo cho Đa-vít về động tĩnh của Áp-sa-lôm, "bởi vì họ sợ bị người ta thấy khi vào thành" (IISa 2Sm 17:17). Khi A-đô-ni-gia nói "Ta sẽ làm vua" (IVua 1V 1:5), tại đây ông đón nhận lễ đăng quang được thực hiện luống công, trong khi đó Sa-lô-môn và lực lượng hoàng gia, đến muộn, gặp nhau tận thung lũng Kidron tại suối Gihon (nay gọi là Suối Trinh Nữ), vội vã hoàn tất lễ đăng quang, tại đó nhân dân tung hô "Sa-lô-môn vạn tuế!" (IVua 1V 1:9-39)
    Giếng Ên-rô-ghên hiện nay sâu 38,1m (125feet), tràn nước trong mùa đông mưa lớn từ hai đến ba ngày. Lúc ấy giếng thu hút nhiều người ở Giê-ru-sa-lem đến thành từng đoàn để tham quan "Kidron trào dâng."
    EPHESUS Trung tâm thương mại, chính trị và tôn giáo của vùng Tây Á, có vị trí gần sông Cayster và Meander chảy vào biển Aegean. Pliney nói rằng vào thời thượng cổ "biển thường tràn lên đến đền thờ Đi-anh", nhưng hải cảng tự nhiên và khu vực chung quanh dần dần ngập bùn cho đến ngày nay, đống đổ nát của thành phố nằm trong một bình nguyên sâu trong nội địa, cách biển bốn hay năm dặm.
    Giống như những thành phố cổ đại khác, Ê-phê-sô mang nặng màu sắc tôn giáo. Thành phố tôn thờ nữ thần Đi-anh (người Hy-lạp gọi là thần Artemis), thần sinh nở của vùng châu Á. Đền đầu tiên có từ cuối thế kỷ thứ 8 TC, và hai đền thờ đẹp dành cho nữ thần Đi-anh trên cùng địa điểm nầy. Đền thờ thứ nhất bắt đầu xây dựng từ 550 TC, làm lễ dâng vào 430 TC, bị cháy vào 356 TC vào chính đêm Alexander đại đế chào đời. Đền thứ hai phải mất 30 năm xây dựng. Phụ nữ tại Ê-phê-sô đã bán nữ trang của họ để gây quỹ cho đền thờ. Các nhà vua thì tặng trụ cột, quà bằng vàng, dâng vào đó đủ thứ từ nhiều nước khác nhau. Khi đền thờ hoàn tất vào 323 TC, đó là tòa kiến trúc tráng lệ nhất trong thế giới Hy-lạp, và được tôn là một trong Bảy Kỳ Quan của thế giới cổ đại. Đền thờ trở nên cực kỳ giàu có nhờ vào đồ hiến tế và di sản, được nổi tiếng nhờ vào tượng thần Đi-anh mà người ta nói với những kẻ cả tin rằng tượng thần ấy từ trời giáng xuống (Cong Cv 19:35)
    Phao-lô đã làm việc tại đây khoảng ba năm, đặt nền tảng cho Hội Thánh Cơ Đốc mạnh mẽ nhất của thế kỷ đầu tiên. Chức vụ của ông có kết quả đến nỗi những người tin Chúa "trước đây hành nghề phù phép nay đem sách vở đốt trước mặt thiên hạ" (Cong Cv 19:19) và sự tôn thờ Đi-anh suy giảm cho đến Đê-mê-triu là người thợ bạc khuấy lên một cuộc bạo động chống lại Phao-lô (Cong Cv 19:24, 38). Ti-mô-thê và Giăng tiếp tục công việc tại đây và trong sáu nhà thờ khác trong khu vực nầy. Bởi vì Cơ Đốc giáo phát triển, việc tôn thờ Đi-anh suy tàn dần. Vào năm 262 SC, đền thờ Đi-anh bị cướp bóc và đốt phá bởi người Goth, cuối cùng bị bỏ hoang sau khi có chỉ dụ của hoàng đế Theodosius của La-mã, nhằm đóng cửa các đền thờ ngoại giáo. Thành phố bị suy giảm về quy mô do nạn sốt rét ngã nước, và các tòa nhà của nó trở nên nghẽn đầy bùn sông và bị chôn vùi dưới cát bụi theo thời gian.
    Việc khai quật bắt đầu tại Ê-phê-sô vào ngày 2 tháng 5 năm 1863 do Viện Bảo Tàng Anh thực hiện dưới sự chỉ đạo của kiến trúc sư J.T.Wood và tiếp tục cho đến 1874. Mục tiêu chính của Wood là xác định vị trí của đền thờ Đi-anh, nhưng ông làm việc suốt 6 năm mà chẳng mang lại kết quả nào. Sau đó, vào một ngày nọ, khi đang khai quật nhà hát, ông tìm thấy một câu khắc bằng chữ La-mã nói về tượng thần Đi-anh được mang từ đền thờ đến nhà hát như thế nào vào sinh nhật của nữ thần, đám rước đi vào thành phố qua cổng Magnesia, trở ra theo cổng Coressia như thế nào. Khi tìm thấy những cổng nầy, ông ta khám phá được con đường dẫn đến đền thờ là nơi ông cùng đội công tác đã khai quật năm năm tại đó. David C.Hogarth tiếp tục công việc tại đền thờ trong thời gian 1904-1905. Học viện khảo cổ Úc bắt đầu vào 1898, trong hơn 30 năm họ tiến hành việc khai quật để nhằm có được bức tranh tổng thể của thành phố.
    Những nhà khai quật tìm thấy các bức tường của thành phố Ê-phê-sô có chiều dài khoảng 5 dặm, rào quanh một diện tích hơn 1000 acres. Bức tường cao, một số đường phố được lát đá hoa. Đây là con đường quan trọng nối từ nhà hát đến hải cảng, khoảng 0,5 dặm. Đường rộng 10,67m (35feet), sườn được gia cố bằng những hàng cột, phía sau là cửa tiệm và những tòa nhà lộng lẫy khác. Ở hai đầu có những cổng đồ sộ.
    Vị trí của ngôi đền "Artemis của người Ê-phê-sô" là khoảng 1 dặm về phía đông bắc của bức tường thành. Nó được xây dựng trên một nền cao khổng lồ bằng bê-tông 71,3m x 127,4m (234 x 418feet), trong khi đó đền thờ có diện tích 49,7 x 104,2m (163 x 342feet). Mái đền được nâng đỡ bằng 127 cây cột Iomia có đường kính 1,8m (6feet) và cao 18m (60feet). Trong số những tàn tích Wood phát hiện được một bàn thờ, khi Hogarth vỗ lên "bàn thờ" và khám phá âm thanh của một lỗ hổng. Sau đó Hogarth đập ra, tìm thấy một bộ sưu tập lớn, có ý nghĩa nhất về đá quý, đồng tiền và các sản phẩm nghệ thuật. Nhiều người xem đó là bộ sưu tập của viên đá góc hoặc vật chôn cất theo nền móng, nghĩa là đặt ở nền nhà khi xây cất đền thờ.
    Ở giữa thành phố là một khoảng rộng (agora) hay nơi họp chợ, đó là khu hình chữ nhật dài 109,73m (360feet), bao quanh bởi những đại sảnh có cột, cửa tiệm, và phòng ốc. Ở giữa khoảng trống ngoài trời có một cái đồng hồ cổ (dùng nước và mặt trời).
    Ở phía đông bắc khoảng sân trống trên sườn phía tây của núi Pion, nhà khai quật tìm thấy một nhà hát với những hàng ghế xếp thành bậc để có thể ngồi được tối thiểu 24000 người. Trong các thành phố Hy-lạp, nhà hát là nơi gặp gỡ thông thường của quần chúng, nhà hát đặc thù nầy tiêu biểu cho một trong những địa điểm sống động nhất trong Tân Ước, bởi đó chính là nơi mà người thợ bạc Đê-mê-triu và tập đoàn thợ bạc dẫn một đám đông quần chúng dấy loạn chống lại Phao-lô, về việc tôn thờ nữ thần Đi-anh và việc buôn bán giảm sút do sự kiện Cơ Đốc giáo phát triển tại đây (Cong Cv 19:23-41).
    Phía bắc nhà hát, gần cổng Coressia, họ tìm thấy một sân vận động cổ hay nhà hát hình tròn, tại đó diễn ra các trò chơi, đấu gươm và các cuộc giác đấu, có thể Phao-lô đề cập đến nơi nầy khi viết "Nếu cân nhắc lợi hại như người đời, tôi dại gì xông pha chiến đấu với hùm beo rắn rết tại Ê-phê-sô?" (ICo1Cr 15:32)
    Những khám phá khác gồm có một nhà tắm bằng đá hoa đẹp, có nhiều phòng, một thư viện lớn, một nhà thờ lớn xây sâu với hai dãy cột dâng cho "Thánh Giăng, nhà thần học", "Hầm Mộ của bảy người ngủ" trong đó có hàng trăm chỗ chôn cất, và một đền thờ nhà vua. Trong đó có tượng Domitia, đó là nhà vua đã lưu đày sứ đồ Giăng ra đảo Bát-mô và là kẻ bức hại các Cơ Đốc nhân vào lúc Chúa Giê-xu mặc khải cho Giăng.
    Không thành phố nào lại được khai quật triệt để như Ê-phê-sô, và những công cuộc khai quật ở đây soi sáng đáng kể cho thư tín của Phao-lô và bài viết của Giăng - nhất là về sự Mặc Khải đối với bảy hội thánh.
    ERECH Cách tây bắc U-rơ 20 dặm, có một đống đổ nát lớn của thành phố cổ Erech (Uruk hay Warka) do Nim-rốt khởi công; ông là một nhà xây dựng đại tài và tay "thợ săn can đảm trước mặt Chúa" (SaSt 10:9-10). Đây cũng là mơi có hoàng cung và thành phố pháo đài của vua Gilgamish, người anh hùng trong Đại hồng thủy của truyền thuyết Ba-by-lôn.
    Công việc khai quật tại đây bắt đầu vào 1852 và được tiến hành cách quãng trong hơn 100 năm. Một vài vật phát hiện sớm nhất là một bức tường gạch cao 15,2m (50feet) bao quanh thành phố với chiều dài 5,5 dặm. Đền thờ Parthia được trang trí bằng tấm khảm màu, một nghĩa trang Parthia rộng cung cấp hầu như vô tận những cỗ quan tài bóng hình dép, miếu cổ hình tháp cao 30,4 m (100feet) và hàng ngàn phiến đá chữ hình nêm tân Ba-by-lôn, một vài phiến còn có vẻ bao bằng đất sét.
    Những cuộc khai quật sau đó thâm nhập xuống tận đất chưa khai phá, và thành lập ra một sự phân bố tương đối có từ gần 4000 năm TC. Trong những địa tầng lâu hơn nầy, người ta khai quật được tàn tích của một bức tường khổng lồ có từ 3000 TC, những dấu ấn hình trụ và khoảng 575 phiến đá viết bằng chữ tượng hình rất cổ. Những phiến đá nầy ghi chép nhiều lịch sử tôn giáo, và nói rằng những cư dân ban đầu của Erech (Warka) tin rằng chỉ có hai vị thần, vị thần này có trước vị thần kia.
    Hai địa tầng của trầm tích lũ lụt đã được thâm nhập, nhưng các nhà khai quật chưa thể xác định mối quan hệ đúng đắn giữa chúng với nạn Hồng Thủy.
    EZION GEBER Nơi dừng chân thứ 20 của người Y-sơ-ra-ên trong hành trình từ Ai-cập đến Ca-na-an, và sau đó là cảng hải quân của vua Sa-lô-môn, nằm tại đầu vịnh Aqaba, một nhánh của Biển Đỏ. Cho đến nay thì vị trí chính xác của nó chưa biết được; vào năm 1937, nhà thám hiểm người Đức là Fritz Frank đã khám phá mô đất Tell el-Kheleifeh cách bờ biển không tới nửa dặm. Trên mặt mô đất có những mảnh vụn đồ gốm mà ông ta nghĩ là cổ xưa - đủ xưa đến nỗi khiến ông đưa ra giả thuyết là địa điểm đó phải là Ezion Geber.
    Năm sau đó, một đoàn khảo cổ do tiến sĩ Nelson Glueck dẫn đầu, đi từ Giê-ru-sa-lem và chẳng mấy chốc đã đến Wadi el-Arabah, thung lũng Great Rift (nghĩa là cái khu nứt lớn) ở phía nam Biển Chết. Tại nhiều nơi, khi họ đi về phía nam dọc theo thung lũng này, họ chợt gặp những đống xỉ của quặng sắt và đồng, và những đường hầm dẫn vào trong sườn đồi đầy đá - tất cả đều còn quặng trước khi bị bỏ hoang trong thời gian dài. Đi tiếp toàn bộ chiều dài 106 dặm, thung lũng giống sa mạc, cuối cùng họ tới Tell el-Kheleifeh, một mô đất đơn độc của thành phố nhô lên khỏi bình nguyên, không một chút bóng mát, cách nửa dặm về phía bắc vịnh Aqaba. Từ những giếng khoan thí điểm đào vào trong mô đất họ tìm thấy những lưỡi câu cá bằng đồng, ngói, đồ gốm và những mảnh còn lại của các bức tường. Đồ gốm có từ 900-1000 TC, đó là thời vua Sa-lô-môn "sắm sửa một đội tàu tại Ê-xi-ôn Ghê-be, gần Ê-lốt (Elath) trên bờ Biển Đỏ, trong xứ Ê-đôm" (IVua 1V 9:26).
    Trong ba mùa khai quật tiếp theo đó, các nhà khai quật tìm thấy tàn tích của một vùng định cư rộng trong đó có vô số khuôn gang, khối lượng xỉ lớn, và một tòa nhà rộng lớn với các bức tường màu xanh lục đã phai nhạt. Người ta chứng minh tòa nhà ấy là một lò cao được xây dựng hết sức hoàn hảo. Những tường gạch ở bên phía bắc có hai dãy lỗ được xây vào phía trong như ống thông một cách tài tình, mà qua đó gió bắc thổi không bao giờ ngừng từ Wadi el-Arabah, những ống thông nầy có tác dụng như ống thổi cho lò tinh luyện được xây dựng như các hệ thống Bessemer của thế kỷ 19.
    Việc khai quật thị trấn cùng với khu dân cư và thương mại của nó, những bức tường có hầm xây cuốn, cổng rất chắc, và lò cao rất lớn (cùng với nhiều phát hiện khác), không những chứng minh được đó là thành phố cổ Ezion Geber, mà còn làm cho tiến sĩ Gluech viết rằng:
    Ezion Geber là kết quả của sự quy hoạch chu đáo và được xây dựng như một công trình thiết bị kiểu mẫu với sự khéo léo về kiến trúc và kỹ thuật rất đáng chú ý tới. Thật ra về mặt thực tiễn thì cả thị trấn Ezion Geber, xét về mặt không gian và thời gian, là một địa điểm công nghiệp lạ thường mà không có gì bì nổi trong toàn bộ lịch sử của Đông phương cổ đại. Ezion Geber là Pittsburgh của Palestine cổ, và đồng thời nó cũng là hải cảng quan trọng nhất của Palestine cổ đại.
    GAZA Thuộc năm thành phố liên minh của người Phi-li-tin, ở cực nam và nổi tiếng nhất, có vị trí cách biển 2,5 dặm; trên một ngọn đồi tròn cao 60 feet so với bình nguyên chung quanh.
    Toạ lạc trên một xa lộ ven bờ biển lớn nằm giữa Ai-cập và Mê-sô-bô-ta-mi, tại giao lộ của tuyến mậu dịch từ nam đến trung Ả-rập, là một trung tâm quân sự và thương mại quan trọng kể từ thời của người Ca-na-an. Gaza có vẻ như là một thị trấn qua nhiều thế kỷ, có những nhân vật danh tiếng đã có thời lưu trú đại đây như: Sam-sôn, Alexander đại đế, Napoleon và Allenby.
    Ông M.J.Phythian-Adams, quyền giám đốc môn Cổ Vật đã thực hiện sự thăm dò tại đây vào mùa thu 1922 và tìm thấy một "đồng gạch đổ nát rất khó giải quyết". Nhưng không thể tiến hành công việc khảo cổ mang ý nghĩa bởi vì sự hiện diện của thành phố mới trên vị trí cũ.
    GERAR Là nơi mà cả Áp-ra-ham lẫn Y-sác đã có một thời lưu trú, tại đây có nhiều giếng, phát đạt dưới sự đối đãi thân thiện của "A-bi-mê-léc vua Gê-ra" (SaSt 20:1-18, 26:1-35), đã có lần người ta đồng nhất Ghê-ra với Tell Jemmeh, cách Gaza khoảng 8 dặm về phía nam. Địa điểm này được khai quật từng phần do W.J.Phythian - Adams (1922) và Sir Flinder Petrie (1927) thực hiện. Trong lần khai quật của Phythian Adams, người ta tìm thấy 4 cấp độ thành phố, trải ra từ thời kỳ phụ hệ đến thời kỳ La-mã. Trong một mùa, tiến sĩ Petrie và vợ ông đã khám phá các dấu ấn, vật trang trí hình bọ hung, đá quý, hình tượng, vũ khí, vật dụng gia đình, công cụ nông nghiệ, hố lớn chứa ngũ cốc, một "lò gươm" tại đó các công cụ bằng sắt và vũ khí được làm sắc bén, và rất nhiều đồ gốm đủ loại. Tuy nhiên, người ta không tìm thấy gì để xác minh địa điểm nói trên là Gera.
    Những thăm dò gần đây đã khiến nhiều chuyên gia lỗi lạc nhất tin rằng Gerar rất có thể là Tell Abu Hureiah nằm trên bờ Wade Es-Sariah, cách Gaza 7 dặm về hướng tây nam. Mô đất choán khoảng 40 acres, trên bề mặt có nhiều mảnh sứ vỡ biểu thị rằng thành phố đã có sự phồn vinh đáng kể vào Thời Kỳ Đồ Đồng Thiếc Giữa - thời kỳ phụ hệ.
    GERIZIM Núi Ga-ri-xim và núi Ê-banh là hai ngọn núi tọa lạc tại trung tâm Palestine. Núi Ê-banh cao 937,56m (3067feet) so với mặt biển và núi Ga-ri-xim cao 868,07m (2848feet). Hai ngọn núi này có vai trò quan trọng trong lịch sử của người Sa-ma-ri từ 700 TC đến nay. Giữa hai ngọn núi có thung lũng Si-chem phì nhiêu, ngang 0,5 dặm, là thung lũng có nhiều nước nhất tại trung tâm Palestine.
    Núi Ga-ri-xim thường được gọi là Núi Chúc Lành, bởi vì sau khi băng qua sông Giô-đanh, Giô-suê đã đặt phân nửa dân sự phía trước núi Ga-ri-xim và phân nửa kia phía sau núi Ê-banh. Sự Chúc Lành dành cho những ai tuân thủ luật pháp được tuyên bố từ núi Ga-ri-xim và sự rủa sả dành cho những ai vi phạm luật pháp đến từ núi Ê-banh (Gios Gs 8:30-35).
    Truyện ngụ ngôn Giô-tham về cây cối sau này được kể lại cho người Si-chem từ một khoảng nổi bật giữa đường trên dốc núi. Chỗ nầy này được gọi là bục giảng kinh của Giô-tham.
    Ngay sau khi trở về từ thân phận phu tù của người Ba-by-lôn, người Do-thái từ chối sự giúp đỡ của người Sa-ma-ri trong việc tái thiết đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Vì lẽ ấy mà người Sa-ma-ri lập nên chức thầy tế lễ của riêng họ và xây dựng đền thờ riêng trên núi Ga-ri-xim. Đền thờ bị John Hyrcanus tàn phá vào khoảng 128 TC; nhưng người đàn bà Sa-ma-ri đã nói với Chúa Giê-xu tại giếng nước "tổ phụ chúng tôi thờ phượng trên ngọn núi nầy" (GiGa 4:20). Cho đến ngày nay, một nhóm nhỏ người Sa-ma-ri sống ở Nablus và kỷ niệm lễ Vượt Qua, lễ Ngũ tuần và lễ Lễu tạm hằng năm trên núi Ga-ri-xim. Họ tôn kính tàn tích rộng lớn của một đền thờ mà họ cho là do San-ba-lát (NeNe 2:10, 19) xây cất. Những người khác thì nói các tàn tích này là của một nhà thờ do Justinia xây vào thế kỷ thứ 5. Còn có những đống đổ nát khác nằm trên đỉnh ngọn núi, còn tại chân núi Ga-ri-xim thì có đống đổ nát của một đền thờ Ca-na-an có từ khoảng 1600 TC và được xác định là miếu Ba-anh.
    GETHSEMANE Vườn Ghết-sê-ma-nê là một vườn ô-li-ve với máy ép dầu, tính từ Giê-ru-sa-lem thì nó ở bên kia suối Kidron, trên dốc tây của núi Ô-Ii-ve. Nó là một nơi hẻo lánh, Chúa Giê-xu thường cùng môn đệ đến đây để cầu nguyện, và lần cuối cùng đã bị bắt do Giu-đa bán Ngài (LuLc 22:39-44)
    Một truyền thuyết có từ thế kỷ 4 nói vườn có vị trí khoảng 45,72m (50yards), phía đông cầu Kidron, tại đó có một khu vực đóng kín (khoảng 4046,8m2), trong đó có nhiều hoa đẹp, 8 cây ô-li-ve đầy mắt với đường vòng quanh thân cây rất lớn và sống lâu đời - được nói rằng có từ thời của Chúa chúng ta. Tính chất bình dị êm ái và yên tịnh của vườn làm cho nó trở thành một nơi gây nhiều ấn tượng cho sự trầm tư mặc tưởng. Hàng triệu người đến viếng nơi nầy và đều có cảm xúc mạnh mẽ.
    Tuy vậy, đôi khi người ta nên nghi ngờ, phải chăng vườn quá nhỏ và cây cối thì đã quá già cỗi như vậy??
    Josephus nói rằng Titus đốn hết cây ở xung quanh Giê-ru-sa-lem vào lúc thành phố bị bao vây vào năm 70SC. Điều này có lẽ đúng, nhưng cây ô-li-ve khi bị đốn thì lại đâm chồi từ gốc cây, mọc lên tươi tốt. Về phía bắc, khoảng 90,44m cách đường, có một chỗ mà người ta nghĩ là "phù hợp hơn và ít bịa đặt hơn". Dẫu sao đi nữa thì vườn ô-li-ve mà Con Đức Chúa Trời từng thống khổ vì cớ nhân loại sẽ nằm đâu đó trong khu vực nầy.
    GEZER Ngày nay có tên là Tell el-Jezer, tọa lạc trên một đỉnh đồi 27 acres, nhìn xuống bình nguyên Maritime, 18 dặm phía tây Giê-ru-sa-lem. Nó canh giữ ngọn đèo từ Joppa đến Giê-ru-sa-lem, và xa lộ từ Ai-cập đến Sy-ri, vì vậy nó là một trong những thành phố chiến lược của Palestine. Đôi khi Gezer thuộc về Ai-cập, lúc khác thì lại thuộc về Palestine, bởi lẽ ấy nó đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hai nước này. Trong cuộc hôn nhân của vua Sa-lô-môn với công chúa Ai-cập, vua Ai-cập đã tặng Gezer cho con gái như là món quà. Sa-lô-môn tái thiết và biến nó thành một thành phố chiến xa (IVua 1V 9:16-17)
    Từ những cuộc khai quật do R.A.S Macalister thực hiện vào 1902 -1905 và 1907 -1909, do A.Rowe vào 1934 thì người ta biết rằng những cư dân đầu tiên của Gezer không phải là người Semit, một số là người sống trong hang. Một vài cái hang là có tự nhiên, trong khi đó thì những hang khác được đục cẩn thận từ đá vôi mềm. Một số cư dân thậm chí còn đục cẩn thận cả cầu thang, Nhiều bức tường của những căn phòng lớn hơn được trang trí bằng hình biểu thị rằng họ có tôn giáo và họ sống bằng trồng trọt và săn bắn - cũng y như họ đã sống như vậy cho hết thời đại của họ. Khoảng 2500 TC, một dân tộc Semit đã chiếm lấy nơi này và giữ nó cho đến cuối chế độ quân chủ của người Hê-bơ-rơ. Các nền văn minh khác tồn tại ở đây cho tới năm 100 TC.
    Một tế đàn cổ của người Semit được tìm thấy và tế đàn đó đã làm sáng tỏ nhiều về việc thờ lạy thần Ba-anh và Át-tạt-tê của người Ca-na-an. Trung tâm thờ phượng này có một dãy cột đá nhẹ, đục sơ sài, cây cột cao nhất là 3,276m (10feet 9 inches) và cây cột ngắn nhất là 1,752m, vài chỗ trên cột rất bóng láng do sự thành kính hôn vào cột của những người mộ đạo. Trên một bục, xung quanh những cột này, có những tấm sành về thần Át-tạt-tê với sự phô trương thô bỉ về cơ quan sinh dục, và những điều khác nói về sự tôn thờ xác thịt của người Ca-na-an, mọi thứ đó nêu lên hiện thực sống động về điều răn nghiêm ngặt của Đức Giê-hô-va.
    "Phải phá đổ bàn thờ, đập bể pho tượng, và thiêu những trụ A-sê-sa của chúng nó trong lửa, lại làm tan nát những tượng chạm về các thần chúng nó, và xóa tên các thần ấy cho khỏi chỗ đó (PhuDnl 12:3).
    Bên trong phần đông nam thành phố, có từ 2000-1400 TC, là một đường hầm có bậc thang và đục từ đá, bề rộng 3,96m (13feet), bề cao 6,1m (20feet), chiều dài 66,75m (219 feet) xuyên qua đá dẫn đến một suối lớn, ở phía dưới mặt đất 28,8m (94,5feet). Hốc trong tường dốc xuống có đèn để soi đường cho người mang nước từ suối lên. Các vết ố do khói trên những hốc này là bằng chứng của việc sử dụng các cây đèn dầu ô-li-ve cách đây 4000 năm. Ở một chỗ khác, gần trung tâm mô đất, Macalister phát hiện một hồ chứa nước to lớn có sức chứa 2 triệu gallons nước. Hiển nhiên là hồ chứa nầy được xây sau khi con suối ở đáy đường hầm cạn dần.
    Một viên đá bàn thờ có đề khắc cho Heraclus cũng được tìm thấy. Viên đá nầy là của một bàn thờ người Hê-bơ-rơ vì trên dòng chữ khắc có đề cập đến Đức Giê-hô-va.
    Macalister phát hiện một phức hợp xây dựng với những bức tường chắc chắn, một cổng đẹp, một loạt tháp mà ông ta giả định rằng đó là những lâu đài do Simon Maccabeus xây để làm "nơi cư ngụ" của mình vào năm 142 TC (1Mcb 13:47-48). Nhưng những khám phá gần đây hơn về các cổng Sa-lô-môn và các bức tường tại Mê-ghi-đô và Hazor khiến cho các chuyên gia tin rằng đó là cổng và tường do vua Sa-lô-môn dựng lên khi ông tái thiết và xây công sự cho Gezer. Kích thước cái cổng ở đây "hoàn toàn giống" với những cổng do Sa-lô-môn xây cất tại Mê-ghi-đô và Hazor.
    Trong cấp độ Semit thứ 4, có từ cuối thế kỷ 10 TC, Macalister tìm thấy một tấm đá vôi nhỏ dài 11,4cm, rộng 6,98cm, được chứng minh là một bài tập của học sinh về cách lập ra một cái lịch cho biết thứ tự của các tác vụ chính trong nông nghiệp suốt các mùa trong năm. Bằng ngôn ngữ Hê-bơ-rơ cổ điển hoàn thiện, nội dung của nó như sau:
    Hai tháng thu hoạch ô-li-ve
    Hai tháng gieo hạt
    Hai tháng trồng muộn
    Một tháng cuốc cây lanh
    Một tháng thu hoạch lúa mạch
    Một tháng hội hè thu hoạch
    Hai tháng chăm sóc nho
    Một tháng trái cây mùa hè.
    GIBEAH Thủ đô đầu tiên của liên hiệp Y-sơ-ra-ên, và nơi cư ngụ của vua Sau-lơ, cách 4 dặm về phía bắc Giê-ru-sa-lem. Là một ngọn đồi hình chóp, có bậc thang từ đáy lên đỉnh và tàn tích chồng lên đỉnh, lâu nay nó làm bối rối những khảo cổ, mãi cho đến 1922 và 1933 Tiến sĩ Albright dẫn đoàn thám hiểm khám phá bảy cấp cư ngụ của con người, có từ năm 1100 TC đến 70 SC. Trên cấp cư ngụ đầu tiên tức là lớp cư ngụ xưa nhất, Albright tìm thấy tro và tàn tích hoá thành than của một thị trấn người Y-sơ-ra-ên, bị cháy gần cuối thế kỷ 12. Người ta tin rằng tàn tích này tiêu biểu cho sự phá hủy được ghi chép trong chương 19 và 20 của sách Các Quan Xét.
    Ở cấp độ thị trấn thứ nhì, được xây dựng khoảng 1000 TC, những nhà khai quật tìm thấy một pháo đài hai tầng trông giống lâu đài của vua Sau-lơ, có diện tích 47,2m x 51,8m, Những bức tường đá đẽo có bề dày bình quân 2,43m - 3,04m và có một cầu thang đá rất đẹp dẫn đến tầng hai. Phòng thính giả mà người ta nghỉ tại đó Đa-vít đã chơi đàn hạc để yên ủi vua Sau-lơ, phòng có diện tích 4,27 x 7,01m - tức là kích thước của phòng khách trung bình ngày nay. Trong tàn tích người ta tìm gặp những nồi nấu ăn, vật dụng đánh bóng, đá mài, con lăn cọc sợi dệt và một cái bảng đánh bạc. Trong tầng hầm của lâu đài Sau-lơ có những bình chứa rượu và dầu, và một kho thóc gạo mà trong đó còn có một lượng thóc đáng kể bị hoá than và bị đen gần ba ngàn năm.
    GIBEON Hiện nay có tên là Al Jib, cách 8 dặm tây bắc Giê-ru-sa-lem. Đây là quê hương của người Ghi-bê-ôn, họ đi đến Ginh-ganh và đánh lừa Giô-suê ký một hòa ước với họ như là một nước chư hầu (Gios Gs 9:3-27), nơi mà binh lính của Áp-ne và Giô-áp giao chiến nhau "tại lối hồ Ga-ba-ôn" (IISa 2Sm 2:12-17) và là nơi ở của hội mạc, sau khi hội mạc được dời từ Nob cho đến khi đền thờ Sa-lô-môn xây xong. Tại đây Sa-lô-môn tổ chức một bữa tiệc lớn và nằm thấy một giấc mơ lạ lùng, và chọn Đức Chúa Trời và sự khôn ngoan hơn là sự giàu có, danh vọng (IISu 2Sb 1:3-13).
    Khai quật tại đây từ 1956-1957 do Tiến sĩ James B.Pritchard tiến hành, ông dọn sạch những đống gạch đổ nát từ một cái hồ đục từ đá, có chiều sâu 10,06m và đường kính 10,67m. Một cầu thang xoắn ốc, bề ngang xấp xỉ 1,52m dẫn xuống đáy hồ, tại đây người ta tìm thấy 27 cái quai bình, tất cả được đóng dấu bằng chữ Hê-bơ-rơ, cùng với tên Ghi-bê-ôn. Nhiều cái quai trong số nầy cũng được khắc với những tái tên như Amariah, Azariah, và Hananiah - tất cả là tên của nhân vật Kinh Thánh. Hananiah là đối thủ của Giê-rê-mi và đến từ Ghi-bê-ôn (Gie Gr 28:1).
    Tại đáy hồ, các bậc thang dẫn xuống một địa đạo tiếp tục đi xuống một độ sâu 14,93m, để tới một cái buồng lớn có suối trong lòng đất. Điều này khiến cho nhà khai quật phải la lên "phải chăng đây là một kỳ công kỹ thuật đầy ấn tượng; một cái hồ đẽo từ đá với những bậc thang dẫn xuống con suối 24,99m dưới mặt đất, có phải đây là chính cái dốc lịch sử được nhắc đến như là nơi giao chiến giữa người của Giô-áp và người của Áp-ne?" Tiến sĩ Prichard nghĩ phải là như vậy và nhiều người đồng ý với những kết luận của ông.
    Trong ba mùa đào bới, nhiều thánh tích khảo cổ được khám phá có từ Thời Kỳ Đồ Đồng Thiếc Giữa, nhưng cái làm cho sinh viên Kinh Thánh thích thú và thấy có ý nghĩa quan trọng chính là những thánh tích của thời kỳ người Y-sơ-ra-ên.
    GIHON Nay có tên là Suối Phun Trinh Nữ, là một suối phun có nước trong theo mùa và phun lên từ dưới sâu trong thung lũng Kidron, phía đông Giê-ru-sa-lem và đối diện ngang với làng Siloam. Từ thời ban sơ nó đã được biết đến như là con suối có nước liên tục, gần Giê-ru-sa-lem. Thật ra thì thành phố được đặt tại bình nguyên này là vì nguồn cấp nước tuyệt vời này.
    Những cư dân Giê-bu-sít của Giê-ru-sa-lem đã đào một đường hầm sâu dưới mặt đất về phía tây từ suối phun, dưới bức tường và vào trong thành phố, vì vậy mà họ có thế lấy nước mà không cần đi ra phía ngoài những bức tường, cũng làm cho họ có thể nhận được đủ nước cho nhu cầu trong thời gian bị bao vây mà khỏi lộ mình trước quân địch. Con đường hầm từ suối phun nầy được cho là cái "giếng nước" mà Giô-áp đã dẫn các hiệp sĩ đi vào trong thành phố, cướp lấy tiền đồn một cách bất ngờ và trở thành tướng của Đa-vít (IISa 2Sm 5:8)
    Sau cuộc chinh phạt của Đa-vít, con đường hầm dưới mặt đất càng ngày càng ít cần đến, bởi hình như Đa-vít xây dựng một hồ chứa cao và một hồ thấp để trữ nước cho nhu cầu của mỗi gia đình, và để tưới các vườn hoa trong Thung Lũng Các Vua ở bên dưới.
    Vào 1867 Warren khám phá cái giếng và đường hầm mà qua đó người Giê-bu-sít có được nước. Cuối đường hầm là một cái ao, và một cái giếng dẫn lên đỉnh một ngọn đồi trong thành phố. Ở đỉnh giếng có một vòng sắt để qua đó kéo nước từ ao lên.
    Sa-lô-môn được tôn lên làm vua tại con suối ở Ghi-hôn, và cưỡi con la hoàng gia của Đa-vít trở vào thành phố, vì vậy báo hiệu cho nhân dân biết ông là vua của họ, như vua cha đã làm trước đây.
    Rất nhiều gạch đổ nát từ nhiều cuộc tàn phá Giê-ru-sa-lem lấp đầy lòng Thung Lũng Kidron, mãi cho đến ngày nay, ta có thể xuống con suối Ghi-hôn bằng 30 nấc thang dốc đứng. Suối vẫn chảy mạnh nhưng lúc chảy lúc dừng, chảy bốn hay năm lần mỗi ngày vào mùa mưa, và một hay hai lần mỗi ngày vào mùa hè khô hạn.
    GIGAL Là điểm cắm trại đầu tiên của Y-sơ-ra-ên sau khi họ băng qua sông Giô-đanh. Tại đây họ dựng 12 hòn đá tưởng niệm lấy từ dòng sông Giô-đanh (Gios Gs 4:20), làm lễ cắt bì cho nam giới (5:10) và giữ Lễ Vượt qua (5:10). Tại đây Giô-suê gặp vị nguyên soái của quân đội Chúa (5:14), Y-sơ-ra-ên cắm trại ở đây trước khi chiếm thành Giê-ri-cô (4:19), họ ký hiệp ước với người Ga-ba-ôn (9:6), phát động chiến dịch chống năm vua A-mô-rít (10:6). Ghinh-ganh vẫn là một địa điểm tập họp của người Y-sơ-ra-ên cho nhiều thế hệ sau nầy.
    Thành phố theo sự ghi chép của Kinh Thánh có vị trí "trên biên giới phía đông của Giê-ri-cô" (Gios Gs 4:19). Sử gia Josephus nói rằng người Y-sơ-ra-ên sau khi băng qua sông Giô-đanh, tiếp tục đi 50 stadia rồi sau đó cắm trại 10 stadia cách Giê-ri-cô (Ant V, 1, 4). Trong Onomasticon, Eusebius chỉ rằng Ghinh-ganh có vị trí taị "khoảng mốc dặm thứ nhì tính từ Giê-ri-cô."
    Khirbet el-Mefjir, một mô đất 1,25 dặm phía đông bắc Giê-ri-cô, gần như nhất trí hoàn toàn với ước tính của ba chuyên gia nầy. Tính một stadium La-mã bằng 185,01m (607feet), thì địa điểm nầy là 2011,09m (10,87 stadia), tính từ Giê-ri-cô cổ và 9250,68m (50 stadia) kể từ sông Giô-đanh. Trong việc thăm dò tại một trong những mô đất nhỏ ở Khirbet el-Mefjir vào năm 1955, James Muilenburg phát hiện tàn tích có từ thời kỳ Đồ Sắt Sớm và Giữa, tương ứng khá chính xác với những năm dài mà Ghinh-ganh không có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên.
    HAMATH Từng là thành phố hoàng gia của Hittites, được tiêu biểu trong thành phố hiện tại là Hama, nằm phía bắc Baalbek trên sông Orontes. Vua của Ha-mát gửi quà đến Đa-vít khi Đa-vít đánh bại vua của Xô-ba (IISa 2Sm 8:6) và nơi này thường được đề cập đến trong Kinh Thánh như là một biên giới phía bắc lý tưởng của Y-sơ-ra-ên (IIVua 2V 14:25). Nhưng đó chỉ là một khoảng thời gian ngắn ngủi, dưới thời Đa-vít, Sa-lô-môn và Giê-rô-bô-am II, quốc gia Ha-mát thần phục Y-sơ-ra-ên, và lúc đó, người ta giả định rằng sự thống trị chỉ là trên danh nghĩa.
    Thành phố cận đại Hama có dân số khoảng 100.000 người, được xây dựng chung quanh mô đất cổ, mô đất cổ đó khá gây ấn tượng, nhô cao 39,62m (130feet) trên mực nước sông.
    Vào năm 1812 Burckharht tìm thấy một câu khắc chữ tượng hình tại Hama, và vào năm 1872 Tiến sĩ Wright của Anh, giành được câu khắc ấy cho Viện Bảo Tàng tại Constantinople, tạo điều kiện cho sự nghiên cứu khoa học. Câu khắc Hittites trên đài tưởng niệm được phát hiện vào năm 1871 và thỉnh thoảng cũng có vài phát hiện nhỏ; nhưng đối với đại bộ phận sự hiểu biết của chúng ta về Ha-mát, chúng ta phải ghi công cho một cuộc khai quật của Đan-mạch do Giáo sư H.Ingholt thực hiện từ 1932-1938. Ông ta phát hiện 12 cấp độ cư dân, cấp độ sớm nhất có từ thời Neolitho (đá mới). Thời kỳ Ba-by-lôn cổ (1830-1550 TC) và thời đại Amarna (1300 TC) thì quan trọng trong đời sống của thành phố, nhưng công cuộc khai quật thì còn lâu mới hoàn tất.
    HARAN Nơi dừng chân đầu tiên của Áp-ra-ham trên đường đến xứ Ca-na-an, đó là một trung tâm thương mại và giao điểm quan trọng nằm trên sông Balikh khoảng 40 dặm phía đông Corchemish, trên xa lộ mà các đoàn nhà buôn và quân đội thường xuyên diễu hành. Nơi nầy cách U-rơ của người Canh-đê 600 dặm về phía tây bắc và khoảng 400 dặm đông bắc Ca-na-an.
    Trên các phiến đá Mari và nguồn chữ hình nêm khác, thường xuyên nhắc đến Haran như là một thành phố thịnh vượng trong thế kỷ 19 và 18 trước công nguyên; lúc đó Áp-ra-ham, Rê-bê-ca, Nahor, Gia-cốp sống trong vùng nầy.
    Sau sự sụp đổ của Ni-ni-ve (612 TC), người A-si-ri rút lui về Haran, và nó trở thành thủ đô của A-si-ri cho đến khi người Ba-by-lôn chiếm vào 609 TC.
    Mô đất cổ Haran chưa có ai cư ngụ, nhưng sát bên nó là một làng người Hồi giáo, đại đa số nhà có dạng "tổ ong" phổ biến ở bắc Sy-ri. Cư dân hiện nay có nhiều truyền thuyết về Áp-ra-ham và một cái giếng gần đó mà họ kể là Ê-li-ê-xe gặp Rê-bê-ca ở đó khi ông tìm kiếm một cô dâu cho Y-sác.
    Công việc khai quật tại mô đất tiết lộ một lịch sử liên tục từ khoảng 2000 TC đến khoảng 1000 SC hoặc muộn hơn. Trong suốt thời kỳ đó, dường như thành phố chỉ thờ một thần duy nhất là Sin, thần mặt trăng. Người ta không tìm thấy câu khắc nào, nhưng các mảnh vỡ của một con sư tử A-si-ri, tàn tích của một lâu đài rất xưa, và di tích của một nhà thờ Công giáo được tìm thấy.
    HAZOR Quê hương của "Jabin vua xứ Hazor, tọa lạc 4 dặm tây nam "Các nguồn nước của Merom" trên một mô đất hùng vĩ khoảng 80,93 héc ta (200 acres). Có vị trí tại ngã tư của hai tuyến thương mại quốc tế, vị trí của Hazor đủ uy nghi để được xưng là "thủ phủ của mọi vương quốc" phương bắc của người Ca-na-an (Gios Gs 11:10). Giô-suê tàn phá nơi này nhưng nó được Sa-lô-môn tái thiết cùng với Mê-ghi-đô và Ghê-xe (IVua 1V 9:15). Tiglath-Pileser III của A-si-ri phá hủy nó vào 733 TC.
    Garstang tiến hành sự khảo sát sơ bộ mô đất (nay gọi là Tell el-Qedah) vào năm 1928 và ông kết luận Hazor bị Giô-suê tàn phá vào khoảng 1400 TC nhưng sự khảo sát của ông thì quá ngắn để có thể kết luận được.
    Vào năm 1955, Giáo sư Yigael Yadin bắt đầu khai quật dưới sự bảo trợ của James A.de RothChild. Việc khai quật nầy được tiến hành nhiều năm với số lao động nhiều tới 200 người, dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Yadin và 45 nhà khảo cổ, kiến trúc sư, nhiếp ảnh gia, hoạ viên và các sinh viên ngành khảo cổ.
    Địa điểm gôm hai khu vực khác biệt. Thành quách cao 36,6m (120feet) và choán một diện tích 10,1 hécta (25 acres), trong khi đó tại chân thành quách ở phía bắc có một cao nguyên rộng hình chữ nhật có diện tích 70,8 hécta (175 acres) mà thỉnh thoảng nơi ấy được dùng làm khu cắm trại và lúc khác lại được dùng làm khu nhà ở. Toàn bộ thành phố được xây công sự với những bức tường thật lớn và thành lũy rộng bằng đất nện, đủ vững chắc để tạo lòng tin cho bất cứ ai cố thủ nơi này.
    Trên khu vực thành quách, nhà khai quật tìm thấy mười cấp độ thành phố, điều đó có nghĩa là thành quách và đền thờ xây chồng lên nhau. Trên cấp độ Sa-lô-môn có một cổng tráng lệ gần giống y về kích thước và kiểu dáng với cái được phát hiện tại Mê-ghi-đô, cũng như cái được tìm thấy sau nầy tại Ghê-xe. Yadin kết luận các cổng nầy do cùng một kiến trúc sư hoàng gia xây khu định cư của người Y-sơ-ra-ên hạn chế trong khu vực thành quách 10,1 hécta (25 acres).
    Trên cao nguyên hình chữ nhật phía dưới người ta tìm thấy một đền thờ người Ca-na-an 16,8m x 24,4m (55 x 80feet). Trong "nơi chí thánh" của đền thờ người ta tìm thấy một bộ trọn vẹn về bàn ghế và dụng cụ cho nghi lễ cúng tế, ngoài ra còn có bốn bức tượng nhỏ bằng đồng thiếc, nhiều dấu ấn hình trụ, và một dấu ấn trang trí hình bọ hung của Ai-cập thuộc về Amenhotep III (1413-1376 TC). Sự tàn phá thành phố vào năm 733 TC bởi Tiglath-Pileser được minh họa một cách sống động bằng các lớp tro và mảnh vụn hóa than được tìm thấy trong thành qúch và tại các nơi khác của thời kỳ nầy. Nhiều khí mạnh vẫn ở tại vị trí cũ của chúng, như vậy có vẻ là sự tàn phá ập đến bất chợt.
    Vẫn còn rất nhiều điều mà Tiến sĩ Yadin chưa khám phá, nhưng ông nói: "Tay này cầm Kinh Thánh và tay kia cầm cái xẻng dường như là phương pháp thành công nhất để khám phá thánh tích của thành phố thuộc Kinh Thánh ấy."
    NÚI HERMON "Thủ lĩnh của những ngọn núi" tại Palestine, bề ngang 5 dặm và bề dài 20 dặm. Hẹt-môn có ba đỉnh núi, đỉnh cao nhất là 2793,8m (9166 feet) trên mực nước biển Địa Trung Hải. Trước thời Áp-ra-ham nhiều thế kỷ thì ngọn núi được tôn kính vì có quan hệ với Ba-anh.
    Sự thờ lạy Ba-anh là tôn giáo hàng đầu ở Ca-na-an. Trên hầu hết các đỉnh núi của đất nước đều có miếu thờ được biết như là "đất cao" - càng cao càng thánh khiết. Tại đây người ta trồng các lùm cây và dựng lên những miếu thờ. Bởi vì núi Hẹt-môn cao hơn tất cả các ngọn núi khác trong vùng, nó là "đất cao chính", là miếu của tất cả miếu. Người Ca-na-an hướng về núi Hẹt-môn chẳng khác gì người đạo Hồi hướng về Mecca khi họ cầu nguyện.
    Tương phản với tập tục nầy, Đa-vít nêu câu hỏi "tôi ngước mắt lên trên núi, sự tiếp trợ tôi đến từ đâu?", rồi ông trả lời "sự tiếp trợ tôi đến từ Đức Giê-hô-va, là Đấng đã dựng nên trời và đất" (Thi Tv 121:1-2).
    Trong mùa hè năm 1934, Tiến sĩ J.Stewart Crawford và người viết bài nầy dẫn một đoàn thám hiểm nhỏ để nghiên cứu các miếu thờ Ba-anh cổ xưa xung quanh núi Hẹt-môn. Chúng tôi tìm ra vị trí của nhiều tàn tích, và trong từng trường hợp miếu đều được định hướng để khi thầy tế lễ và người mộ đạo có mặt tại bàn thờ thì họ đều hướng về nơi thánh chính của Ba-anh. hay còn gọi là Quibla, tọa lạc tại đỉnh cao nhất trong ba đỉnh của Hẹt-môn.
    Sau đó chúng tôi đi lên núi và tìm thấy ngôi đền Ba-anh điêu tàn, công trình xây dựng từ thời Hê-rốt, có từ trước khi kỷ nguyên Cơ-đốc bắt đầu. Trong một nơi thấp gần góc tây bắc đền thờ, chúng tôi khai quật và tìm thấy hàng đống tro và xương bị đốt, bị đổ tại đây như là đồ thải của của lễ cúng tế. Hiển nhiên đền Ba-anh này được dùng đến khi Chúa Giê-xu hóa hình trên đỉnh núi về phía nam. (?)
    JABNEH Jamnia hay Giáp-nê-ên (Gios Gs 15:11; 19:33) nằm sâu trong nội địa cách Địa Trung Hải 4 dặm, và 9 dặm đông bắc Ashod. Uzziah (783-742 TC) chiếm lại Giáp-nê-ên từ tay người Phi-li-tin bằng cách phá đổ tường thành (IISu 2Sb 26:6).
    Nơi này được người Sy-ri gốc Hy-lạp sử dụng như một cứ địa cho cuộc hành quân chống lại người Hasmonea (1Mcb 5:58) nhưng bị Simon Mác-ca-bê chinh phục vào năm 147 TC, và trở thành một phần của vương quốc Do-thái trong thời gian dài. Cùng với sự lên ngôi của Hê-rốt, nó trở thành một phần của vương quốc thuộc vị vua nầy, và ông đã tặng nó cho em gái là Siloam. Sau đó, Giáp-nê-ên được Antony tặng cho Cleopatra là Hoàng hậu Ai-cập như là một quà cưới. Cùng với sự sụp đổ của Antony, nơi này lại thuộc về Hê-rốt. Giáp-nê-ên đóng một vai trò hàng đầu trong các sự kiện đưa dẫn đến Cuộc Nổi Loạn lần thứ 1 của người Do-thái và tiếp theo sự tàn phá Giê-ru-sa-lem vào năm 70 SC. Titus cho phép thành lập khu định cư người Do-thái tại Giáp-nê-ên. Tại đây họ mang theo những cuộn sách thiêng liêng và Giáp-nê-ên trở thành "trung tâm lưu đày" cho Tòa án tối cao Do-thái và một trung tâm thịnh vượng cho sự nghiên cứu pháp luật. Hội nghị Tôn giáo Jamia đã họp mặt ở đây vào năm 100 SC và công nhận Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ là Kinh điển chính thức gồm 39 sách trong Cựu Ước mà chúng ta có ngày nay.
    Vào lúc đầu của Cuộc Nổi Loạn lần thứ nhì dưới thời Bar Kochba vào năm 132, Giáp-nê-ên dần dần bị bỏ. Tiêu điểm của chủ nghĩa Do-thái người Palestine chuyển sang phía bắc vào Ga-li-lê, tại đó tập trung các thành phố như Safed, Tiberius, Meiron và Beth Shearim.
    Giáp-nê-ên được đồng nhất với mô đất Yabneh nổi bật. Chưa có sự khai quật ở địa điểm nầy, nhưng các mảnh sứ vỡ của Thời Đại Đồ Sắt và Thời Kỳ Ba-tư được tìm thấy trên mặt đất, và có các di tích về tòa nhà, mồ mả của thời kỳ La-mã và Ba-by-lôn.
    GIẾNG GIA-CỐP Cách nửa dặm phía nam Sychar, trên con đường cao từ Giê-ru-sa-lem tại đó nó đi quanh co vào thung lũng giữa núi Ga-ri-xim và núi Ê-banh. Có vị trí gần mộ Giô-sép, trên mảnh đất do Gia-cốp mua, đó là một trong những vị trí xác thực nhất trong tất cả các vùng đất của Kinh Thánh. Người Do-thái, người Sa-ma-ri, Cơ-đốc nhân, người Hồi giáo đều quý trọng cái giếng do Gia-cốp đào và cái giếng mà Chúa Giê-xu đã ngồi trên thành giếng, khi Ngài nói chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri đến lấy nước. Truyền thuyết của người Sa-ma-ri có từ hơn 23 thế kỷ và được phản ánh qua người phụ nữ nầy khi bà ta nói với Chúa rằng "Tổ phụ chúng tôi là Gia-cốp…đã cho chúng tôi cái giếng" (GiGa 4:12). Truyền thống của tín đồ Cơ-đốc giáo có từ 333 khi đoàn hành hương Bordeaux viếng thăm cái giếng. Một nhà thờ Cơ-đốc được xây tại đây vào thế kỷ thứ 4, Thập Tự Quân khám phá nhà thờ đó trong đống đổ nát và tái thiết, nhưng nhà thờ của họ bị tàn phá vào thế kỷ 12, và đống đổ nát của nó, như là "một đống đá màu nâu" nằm trên cái giếng.
    Vào năm 1838, Robinson tìm thấy lối vào miệng giếng, đo đạc cái giếng và thấy nó sâu tới 45,72m (150feet). Vào 1881, Tiến sĩ C.A.Barclay khai quật quanh cái giếng, và phát hiện đống gạch đổ nát rơi hoặc được ném xuống giếng mà nó chỉ còn sâu 20,42m (67feet). Sau nầy cái giếng được dọn sạch cho đến phần đáy (105 feet) nhưng nhiều du khách và khách qua đường lại ném đá xuống, để nghe thử xem bao lâu thì tiếng nước tung toé vọng lên, và nó bị lấp dần chỉ còn 22,86m (75feet). Vào thời điểm ấy nhà thờ Hy-lạp mua lại miếng đất và sau nhiều năm thì một nhà thờ mọc lên trên địa điểm cái giếng.
    Thành giếng cổ xưa thì thấp hơn mặt bằng hiện nay và cho thấy những đường rãnh do dây thừng ma sát khi người ta múc nước bằng thùng hoặc bầu bằng da thú. Chu vi miệng giếng đo được khoảng 2,286m, phần trên miệng xây chắc chắn, còn phần dưới đào xuyên qua đá vôi. Nước giếng mát lạnh và giúp người khoan khoái, bởi "giếng thì sâu" và nó vừa là hồ chứa, vừa là con suối - tức là, giếng được cấp nước vừa bằng nước trên mặt đất vừa bằng nguồn nước ngầm.
    Cái giếng làm chúng ta liên tưởng trở về lịch sử trong khung cảnh đồng quê và các tập quán phụ hệ, và sự bắt đầu chức vụ Chúa Giê-xu, trong lúc trò chuyện với người phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng nước, Ngài tiết lộ thần tánh của Ngài, khiến người phụ nữ nầy cảm thấy khó hiểu và Ngài đã phán về một chân lý tồn tại đời đời "Phàm ai uống nước ta cho thì chẳng hề khát nữa. Quả thật, nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó văng ra cho đến sự sống đời đời." (GiGa 4:14).
    JERICHO Thành phố đầu tiên bị người Y-sơ-ra-ên đánh chiếm dưới thời Giô-suê, nay là một mô đất khoảng 32374m2 (8 acres), gọi là Tell es-Sultan nằm cạnh con suối dồi dào sản vật gọi là Suối Elisha.
    Nơi đây được khai quật bởi Charles Warren (1868), Ernst Sellin (1907-1911), John Garstang (1929-1936) và Cô Kathleen Kenyon (1952-1958).
    Người khai quật đầu tiên chỉ nhắm sự chú ý vào mô đất, trong khi đó thì người khai quật thứ nhì thực hiện được một sự khám phá đầy đủ để khơi dậy sự quan tâm rộng rãi. Sau đó Garstang tìm thấy một phần của bốn thị trấn tồn tại liên tiếp nhau từ năm 3000 TC. Đào bới xuyên xuống phần nền của mô đất, ông tìm thấy dấu vết của các nền văn minh cổ xưa nhất được phát hiện tại Palestine.
    Cấp độ cư ngụ thứ tư mà Garstang gọi là "thành phố D" được minh chứng là quan trọng bậc nhất đối với sinh viên Kinh Thánh và nhà sử học cũng như nhà khảo cổ, họ thường bàn luận về năm tháng chính xác của Xuất Ai-cập của người Y-sơ-ra-ên từ Ai-cập và việc đi vào Palestine sau đó. Các học giả có quan điểm khác nhau khoảng 2 thế kỷ hoặc nhiều hơn nữa về việc định năm tháng cho sự kiện nầy. Giê-ri-cô chính là nơi mà vấn đề được nghiên cứu triệt để nhất. Cấp độ cư ngụ thứ tư này dường như chính là thành phố do Giô-suê đánh chiếm và các nhà khai quật đã tiến hành công việc với sự cẩn trọng đặc biệt.
    Những bức tường cao 9,14m (30feet) chạy gần như song song nhau, vòng quanh đỉnh mô đất. Tường được xây bằng gạch phơi khô dưới mặt trời, gạch có bề dày 10,16cm (4 inches) và chiều dài thay đổi từ 0,3048 - 0,6096m (1-2feet); tường trong dày 3,,35m - 3,66m (11-12 feet), được xây trên nền của bức tường trước đó. Tường ngoài sau nầy dày khoảng 18,29 m (6feet), đứng trên bìa mô đất. Khoảng cách giữa hai bức tường thay đổi từ 3,66m - 8,30m (12-27feet), giữa những khoảng cách đều đặn được nối nhau bằng những hàng gạch.
    Ở ngoại ô của mô đất thành phố cũ, Garstang phát hiện một nghĩa trang, tại đó ông mở hàng chục ngôi mộ, có rất nhiều khí mạnh bằng gốm, rất nhiều đá quý và khoảng 170 con bọ hung. Trong các ngôi mộ nầy ông tìm thấy đồ gốm có từ các thời kỳ Đồ Đồng Thiếc Sớm, Giữa và Muộn, nhưng chỉ có vài mảnh gốm là của người Mycenia được bắt đầu nhập khẩu khoảng 1400 TC. Đồ trang trí bọ hung Ai-cập có thể xác định ngày một cách chắc chắn bởi vì chúng đề cập tên của các Pha-ra-ôn và tiêu biểu từng cái từ thời Thutmose III (1490-1436 TC). Một món trang sức hình bọ hung có mang tên Hoàng hậu Hat-shep-sut và Thutmose III, cái khác thì mang tên Amenhotep II là người được miêu tả như là một tay bắn cung, rất đúng với các ghi chép trên ngôi mộ của ông ở Ai-cập. Một chuỗi những đồ trang trí hình bọ hung có đê ngày chấm dứt bằng hai dấu ấn hoàng gia của Amenhotep trị vì từ 1413-1376 TC. Không có gì thêm trong các ngôi mộ gợi ý về ngày tháng muộn hơn.
    Ngay khi trở lại mô đất thành phố, Garstang so sánh cẩn thận các mảnh vỡ đồ gốm với những phát hiện các ngôi mộ và thấy rằng một số là của thời kỳ Đồ Đồng Thiếc Muộn. Sau khi khảo sát khoảng 100.000 mảnh vỡ của đồ gốm, 1500 khí mạnh chưa vỡ, cũng như 80 món đô trang trí hình bọ hung, các bức tường sụp đổ và những bằng chứng khác, chẳng do dự gì Garstang xác định thời gian sụp đổ của thành phố là khoảng 1400 TC, và đồng nhất nó như là thành phố Giê-ri-cô của người Ca-na-an, sụp đổ trước mặt người Y-sơ-ra-ên do Giô-suê lãnh đạo. Các di tích hóa than là bằng chứng mọi nơi trong thành phố "bị người Y-sơ-ra-ên đốt cháy thành phố và đốt cả mọi thứ trong đó" (Gios Gs 6:24), xác nhận sự tường thuật trong Kinh Thánh, và sự sụp đổ của các bức tường là một sự xác nhận người Y-sơ-ra-ên "leo thẳng lên thành" như thế nào (Gios Gs 6:20).
    Ao ước có được sự cẩn thận tối đa và trong tinh thần của một nhà khoa học chân chính, Garstang mời đến ba nhà khảo cổ bậc nhất của Palestine và các chuyên gia đồ gốm: Pere Vincent, Clarence S.Fisher và Alan Rowe. Khi những chuyên gia này khảo sát cẩn thận và độc lập nhau những đồ gốm, tàn tích hóa than và bức tường sụp, họ đã ký vào bản báo cáo có xác nhận của Garstang về thời gian là 1400 TC, kèm theo một khả năng khác về ngày tháng là không trễ hơn 1377 TC. Thời điểm này đúng với niên đại theo Kinh Thánh (IVua 1V 6:1).
    Sự trị vì của Sa-lô-môn có thể bắt đầu từ khoảng 961 TC, nếu năm ấy là đúng thì năm thứ 4 trị vì của ông sẽ gần đúng là 957. Khi cộng thêm 480 năm thì năm 1437 sẽ là năm người Y-sơ-ra-ên rời Ai-cập. Cho phép 40 năm lang thang trong đồng vắng, chúng ta đi đến nhật kỳ 1397 cho sự tàn phá Giê-ri-cô - rất hợp với tầm giới hạn của Garstang.
    Tuy vậy thì sự khám phá và giải thích như vậy không làm hài lòng một số người, vì họ không thể tìm ra nơi nào, theo sự suy đoán của họ, cho một Giê-ri-cô gần y như sự ghi chép trong Kinh Thánh. Trong gần hai thập niên có sự phản đối thường xuyên đối với kết luận của Garstang, và áp lực đòi khảo sát lại Giê-ri-cô.
    Ao ước nầy được thỏa mãn vào đầu năm 1952, khi một đoàn thám hiểm hỗn hợp gồm Học Viện Khảo Cổ của Anh, Tổ Chức Thám Hiểm Palestine, Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ và Ban Cổ Vật của Giô-đanh đã bắt đầu khai quật lại Giê-ri-cô dưới sự chỉ đạo của cô Kathleen Kenyon. Công việc được tiếp tục một cách cần cù trong năm mùa, trong thời gian đó các nhà khai quật đã đào những hố chạm tới nền đá tại sáu vị trí khác nhau trên mô đất. Tại một trong những vị trí nầy, một địa điểm về tận phía đông bắc, người ta tìm thấy bằng chứng về sự định cư đầu tiên của Giê-ri-cô.
    Hai thời kỳ Đá Mới (Neolith) đặc trưng cho sự định cư đầu tiên nầy. Trong thời kỳ đầu người ta xây những căn nhà tiên phong mà qua các di tích thì chúng có vẻ như nhỏ hơn cái chòi. Sau đó họ xây dựng những căn nhà gạch hình tròn, lâu bền, phát triển những công cụ đá silic thuộc loại tốt, và làm những đĩa đá vôi rất bóng. Bao quanh thị trấn là một bức tường đá kiên cố có bề dày 1,98m (6,5feet) và cao 3,66m - 7,01m (12-23feet); trong thị trấn có một tháp canh đồ sộ bằng đá cao 9,14m (30feet) và đường kính 8,53m (28feet). Một cầu thang bên trong có 22 nấc thang, mỗi nấc thang làm bằng một phiến đá ngang 0,91m (3feet) dẫn lên đỉnh tháp. Ngay cả những cư dân sớm nhất nầy đã có một nền văn minh khá phong phú.
    Tiếp theo sự tàn phá thị trấn nầy, một thị trấn khác được xây trên đống đổ nát của nó và cũng được bao bọc bởi một tường đá được dựng trên nhiều nền móng mới. Con người ở đây xây những căn nhà lớn, hình chữ nhất và vững chắc bằng gạch bùn, thon dài, trái vữa sàn nhà và tưởng bằng vữa màu đỏ hoặc màu kem, và đánh thật bóng. Những cái dao đá, lưỡi liềm đá silic, cối xay quay tay, chày và cối, cùng với đủ loại thóc lúa, đánh dấu những cư dân ở đây phần lớn sống bằng nông nghiệp.
    Nhân dân thành phố đã chôn người chết dười sàn nhà, trong một số trường hợp tạo chân chân dung của người thân quá cố bằng cách bao xương sọ một cách cẩn thận bằng đất sét, sau đó bằng khuôn đất sét, họ tạo ra điểm đặc trưng của người thân quá cố, một cách tài tình đầy nghệ thuật. Một số sọ người có cặp mắt bằng vỏ sò óng ánh.
    Sự phân tích carbon 14 đối với thành phố cổ xưa nhất đã đề xuất các nhật kỳ khác nhau, vào các khoảng trên dưới 5850, 6250, 6800 trước công nguyên. Các thử nghiệm tiếp theo nêu lên những niên đại lớn hơn 7705, 7800 và thậm chí 8350 TC. Đối với thành phố thứ nhì, các thử nghiệm carbon phóng xạ nêu lên những năm khác nhau. Chính vì những sai biệt quá lớn nầy mà nhiều người xem chúng là không đáng tin cậy. Khi các niên đại bị đặt nghi vấn, vì quá xa xưa, cô Kenyon nhận định: "Nhật kỳ trải dài các giai đoạn giữa nhật kỳ do thử nghiệm và khoảng 3000 TC (tức là sự định cư lần tiếp theo) đến một mức độ gây khó chịu." Một lần khác, cô nói thêm "Trong tình trạng hiểu biết hiện nay của chúng ta, ta phải sử dụng carbon 14 để xác định thời gian một cách cẩn trọng, bởi vì độ tin cậy của nó vẫn còn phải chịu được sự thử nghiệm với kinh nghiệm trọn vẹn." Tuy vậy thì thành phố Giê-ri-cô thường gọi là "thành phố cổ nhất thế giới" nhưng đối với các học giả cẩn trọng hơn thì tuổi thực sự của Giê-ri-cô vẫn còn là điều chưa thể khẳng định.
    Trong suốt Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Sớm (3000-2100 TC), Giê-ri-cô được phòng ngự bằng một bức tường đá bùn dài, nhưng thị trấn này bị hủy diệt một cách tàn khốc dưới bàn tay của kẻ mới đến vào khoảng năm 2300 TC. Ngay sau đó một thị trấn cỡ trung bình, phồn vinh lại được mọc lên với hệ thống phòng ngự tinh xảo bằng tường gạch bùn. Vào khoảng 1800-1750, nhân dân của Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Giữa này bổ sung thêm một hào sâu phủ bằng đá với dốc bằng trát vữa và dốc đứng cao 6,096m (20feet). Theo thời gian, hai dốc khác lại được thêm vào trên đỉnh dốc cũ. Cái dốc cuối cùng làm bằng đá mà bức tường ngoài thành phố đã được xây trên đó.
    Di tích của con người thuộc thời kỳ Đồ Đồng Thiếc Giữa này đã được bảo tồn rất tốt như được tiết lộ trong một nghĩa trang gần đó được tọa lạc tại chân đồi phía tây mô đất. Trong năm mùa công tác, cô Kenyon và cộng sự viên khai quật 59 ngôi mộ, hầu hết là được dùng chôn cất nhiều người, mặc dù cũng có một số hầm mộ gia đình và một số hầm mộ cá nhân. Trong một ngôi mộ có 7 thi thể nằm thành một dãy và chẳng cho ta thấy được ai quan trọng hơn ai. Hầu hết người chết được đặt trên chiếc chiếu bấc. Chỉ có một cá nhân nằm trên giường, đó có thể là người quan trọng vì thi thể nầy choán vị trí trung tâm ngôi mộ, còn các thành viên khác thì được đặt quanh ông. Hầu hết các thi thể đều có một dấu ấn hình bọ hung trên chiếc nhẫn đồng thiếc hoặc trên dây chuyền đeo cổ. Trong trường hợp những ngôi mộ được tái sử dụng, thì những xác chết cũ được đẩy ra phía sau để dành chỗ cho xác chết mới.
    Những món đồ được chôn cùng người chết nhằm ý nghĩa phục vụ người chết trong cõi đời sau. Từ những khám phá nầy nhà khai quật có thể bổ sung đáng kể cho các thông tin rút tỉa từ mô đất về những con người sống trong các thời kỳ trước đây - đặc biệt là trong thời đại phụ hệ.
    Những đồ vật thu hồi từ các ngôi mộ gồm những khí mạnh đủ loại bằng gốm, giường và ghế đẩu bằng gỗ, bàn có ba hoặc bốn chân, các hộp khảm xương được dùng đựng đồ trang sức, linh tinh, rổ và chiếu, dao găm kim loại, kim bằng đồng thiếc, lược, xâu chuỗi hạt, vật trang sức hình bọ hung, chén nhỏ bằng gỗ và thạch cao tuyết hoa, lựu, nho khô, súc thịt và thậm chí nguyên xác con cừu. Một trong những khám phá lạ nhất là một bộ óc con người thực sự nằm trong cái sọ với các nếp xoăn của óc trông còn rõ nét.
    Trong một ngôi mộ có những đồ trang sức hình bọ hung bằng thạch anh tím có khung vàng, bốn cái có đủ các vòng trong tình trạng hoàn hảo. Cái thứ năm chỉ còn cái băng vòng, và một cái xuyến nhỏ. Một cái buồng đã được xây lại và có đầy đủ bàn ghế tủ và những đồ vật tìm thấy trong các ngôi mộ.
    Người ta giả định rằng các chất khí nào đó hình thành và tạo nên bầu không khí để bảo tồn những đồ vật tìm thấy trong các ngôi mộ nếu không thì chúng đã bị hư hoại, nhưng nhiều cuộc xét nghiệm khoa học vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng.
    Trong quá trình khai quật sau nầy của cô Kenyon, một số người không hài lòng với cách giải thích của Giáo sư Garstang, đã hỏi cô Kenyon về cách giải thích những khám phá do cô tìm ra. Đặc biệt, họ muón biết về cách cô giải thích những bức tường ngã sụp. Cô thông báo rằng Garstang đã xác minh nhầm lẫn các bức tường của Giê-ri-cô rằng các bức tường bên trong thuộc về Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Sớm - khoảng 2300 - 2200 TC.
    Ngay lập tức, tin trên được truyền qua viễn thông về sự xác minh nhầm lẫn các bức tường ngã sụp của Giê-ri-cô do Garstang khám phá; rằng phương pháp địa tầng chính xác hơn của Kenyon đã phản bác lại Garstang, bởi không tìm thấy di tích của Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Muộn và vì vậy không có thành phố nào tồn tại để Giô-suê đánh chiếm. Bản báo cáo ghi rằng: "Những bức tường ấy có trước cả ngàn năm so với thời gian mà Garstang đã xác định". Hoặc một bản báo cáo điển hình đã ghi: "Những bức tường ngã sụp do Garstang phát hiện nay được biết là có trước cả ngàn năm để có thể liên hết với sự tấn công của Giô-suê." Bản báo cáo dễ dàng chiếm vị trí nổi bật trong các bản tin, trong các tập san tri thức và trong sách vở hầu như khắp mọi nơi.
    Tuy nhiên, bản báo cáo chỉ hàm chứa một nửa sự thật. Cô Kenyon chỉ cho biết thời gian xây dựng của bức tường trong đồ sộ bề rộng 3,66m (12feet) của Giê-ri-cô. Sự khai quật các thành phố cổ khác tiết lộ rằng những bức tường đồ sộ được xây trong thời kỳ này đã đứng vững qua nhiều thế kỷ. Thực ra, khai quật tiếp theo của Kenyon là thành phố Giê-ru-sa-lem mà tại đó cô phát hiện di tích của "bức tường lớn, nặng nề" bao quanh thành Giê-bu-sít mà Đa-vít đã đánh chiếm vào năm 1000 TC. Sau khi khảo sát cẩn thận, cô đi đến kết luận (với sự đồng ý của các nhà khảo cổ khác) rằng đây là bức tường Thời Kỳ Đồ Đồng Thiếc Giữa được xây dựng khoảng 1800 TC. Vì vậy mà bức tường là 800 năm tuổi vào lúc Đa-vít và Giô-áp đánh chiếm thành phố. Đa-vít, Sa-lô-môn và những người khác đã sử dụng bức tường này hơn 200 năm - mãi cho đến gần thời đại của Nê-hê-mi0. Những bức tường nầy với sự sửa chữa và mở rộng nào đó đã tồn tại khoảng 1000 năm.
    Người Giê-bu-sít chỉ đơn thuần sử dụng những bức tường đồ sộ của Giê-ri-cô được xây trước đó nhiều thế kỷ. Họ hết sức tin tưởng vào tính không thể đánh chiếm được của bức tường đến nỗi họ nhạo báng Đa-vít và Giô-áp với hàm ý gây hoảng sợ rằng "người đui và kẻ què" đủ sức phòng ngự bức tường và thành phố (IISa 2Sm 5:6). Bức tường thực sự vững chắc và cuối cùng chỉ ngã sụp bởi quyền năng của Đức Chúa Trời Toàn Năng.
    Trong lần khai quật sau đó, cô Kenyon viết báo cáo rằng đã phát hiện "nền móng và thân tường với khoảng một mét vuông nền nhà còn nguyên vẹn", di tích của tòa nhà giữa, một cái lò, một bình nhỏ - tất cả thuộc về Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Muộn (1500 - 1200 TC). Cô Kenyon đã nói về những di tích nầy rằng "những đồ vật ấy ít nhất cũng chứng tỏ sự tồn tại của một thị trấn vào thời kỳ ấy… thời gian là thế kỷ 14 TC, rất khớp với những phát hiện có thể xác định thời gian một cách chính xác hơn tìm thấy trong các ngôi mộ do Giáo sư Garstang thực hiện… Có lẽ mảnh vụn nhỏ của tòa nhà mà chúng ta phát hiện là một bộ phận của căn nhà bếp của người đàn bà Ca-na-an, chính là bằng chứng đối với chúng ta, người đàn bà ấy có lẽ đánh rơi cái bình nhỏ bên cạnh cái lò và bỏ chạy khi nghe tiếng kèn của lính Giô-suê."
    GIÊ-RI-CÔ TÂN ƯỚC
    Ngày 10 tháng 1 năm 1950, Tiến sĩ James L.Kelso và cộng sự viên bắt đầu khai quật Giê-ri-cô Tân Ước. Họ tìm thấy thủ đô mùa đông của Hê-rốt đại đế, thành quách, sân đấu, hồ bơi, suối phun, vườn hoa, biệt thự và tàn tích của những kiến trúc khác được xây dựng kiểu Hê-rốt cổ điển, với gió lùa thông thoáng ở cả bốn phía. Các biệt thự nhỏ dần về hướng đông, xa hơn một tí là Giê-ri-cô cận đại mà Tiến sĩ Kelso nghĩ rằng có thể nó được xây trên vị trí của khu vực nghèo hơn của Giê-ri-cô Tân Ước.
    JERUSALEM Các nhà khảo cổ chưa bao giờ nêu câu hỏi về vị trí của Giê-ru-sa-lem cổ; nhưng tập trung vào việc khám phá và nhận dạng các bức tường, cổng và các nơi thánh của thành phố cổ. Tuy nhiên đã có nhiều khó khăn trong việc khám phá và xác minh bởi Giê-ru-sa-lem từng bị vây hãm, bị đánh chiếm hoặc tàn phá toàn bộ hoặc từng phần hơn 40 lần. Hư tàn chất lên hư tàn, gạch đổ nát lăn xuống thung lũng, thậm chí ở một nơi hơn 10,67m (35feet), nếu tính từ mặt bằng hiện tại so với mặt bằng đường sá mà Chúa Giê-xu đã đi trên đó - và nơi khác tới 9,14m (30feet) so với mức mặt bằng mà các nhân vật Cựu Ước đã đi qua. Thêm vào đó, hầu hết các khu vực của Giê-ru-sa-lem cổ được che phủ bởi các tòa nhà hiện đại hoặc nghĩa trang, đến nỗi phần lớn thành phố không thể đào bới được. Các nhà nghiên cứu đã thực hiện sự đào bới trực tiếp bất cứ lúc nào có thể được và đào địa đạo tại những nơi được phép. Nhiều người tài năng như: Robinson, Warren, Wilson, Bliss, Guthe, Schick, Clermont-Ganneau, Parker, Weile, Macalister, Duncan, Crowfoot, Myer, Sukenik… đã tìm kiếm khoảng dưới mặt đất của Giê-ru-sa-lem. Nhiều khám phá đã thực hiện được nhờ công lao động của họ cũng như do sự tình cờ.
    Vào 1838, Tiến sĩ Wdward Robinson phát hiện những tảng đá hình cong tạo thành đường cong của cửa vòm rộng 12,8m (42feet) nhô lên từ góc tây nam của khu vực đền thờ. Một số tảng đá tạo thành vòm có chiều dài tới 7,92m (26feet). Đó là bộ phận phía đông của một trong những chuỗi vòm được dùng nâng đỡ cái cầu, mà trong thời Hê-rốt cầu ấy bắc nhịp qua Thung lũng Tyropoeon và nối liền khu vực đền thờ trên núi Mô-ri-a với đồi phía tây băng qua thung lũng.
    Nhiều năm sau đó trong lúc Charles Warren đang đào trực tiếp ngang qua thung lũng từ khu vực nầy, thì ông phát hiện chân trụ nâng đầu phía tây của cái cầu vòm tương tự. Nó tựa trên mặt đường 9,14m (30feet) phía dưới bề mặt. Phía dưới mặt đường ở độ sâu 7,01m (23feet), ông tìm hấy một cầu máng dẫn nước cống cổ xưa với chiều sâu 3,66m (12feet) và chiều ngang 1,21m (4feet) chạy song song với thung lũng Tyropoeon.
    Sir Charles Wilson khám phá thêm một vòm khác xuất hiện từ cùng một bức tường, nhưng cách 170,69m (560feet) về phía bắc của vòm do Robinson phát hiện. Vòm nầy tương tự như cái của Robinson, mặc dù nó hoàn chỉnh hơn bởi vì có 25 lớp đá - mỗi bên 12 lớp trên đá đỉnh vòm. Nó cũng là móng của một cái cầu bắc qua thung lũng Tyropoeon. Theo Josephus thì sân ngoài đền thờ có thể đi vào từ phía tây hoặc phía thành phố bằng bốn cổng, hai cổng chính nằm tại hai điểm được chỉ ra bởi vòm của Robinson và vòm của Wilson.
    Vào 1850 Felicien de Sauley tìm thấy một phức hợp mồ mả lớn phía bắc Giê-ru-sa-lem mà ông ta tin rằng đó là phần mộ của các vị vua Giu-đê. Có một hòn đá lăn rất đẹp chắn tại lối vào, và không gian bên trong đủ để chôn cất 60 người hoặc hơn. Cho đến hôm nay, phức hợp mồ mả này vẫn còn là ngôi mộ đẹp nhất được phát hiện tại khu vực Giê-ru-sa-lem. nhưng người ta đã chứng minh được đó là lăng tẩm của hoàng hậu Helena của Adiabene tại Mê-sô-bô-ta-mi và các hậu duệ của bà, Hoàng hậu đã theo Do-thái giáo và đến ở tại Giê-ru-sa-lem khoảng thế kỷ 1 SC.
    Vào năm 1852 trong lúc Joseph Barclay đang đi bộ dọc bức tường phía bắc của Giê-ru-sa-lem, thì con chó của ông chạy mất hút vào trong một khe hở trông giống như cái hang dưới bức tường khoảng 91,4m (300feet) tại phía đông cổng Đa-mách. Ông dọn dẹp đống gạch đổ nát, khoan rộng cái khe nứt, khám phá có một lối ra vào của một cái hang đá vôi được xếp thành tầng chạy dài về phía nam, nằm phía dưới thành phố khoảng 213,4m (700feet). Những dấu hiệu dọc hai bên và trên những bức tường ở phía cuối cho thấy chính hình dạng và kích cỡ của những viên đá xây dựng được lấy ở đây, và đếm được khoảng mấy chục ngàn viên. Viên đá trắng và mềm, từ những đống đá đẽo và các bằng chứng khác, nhiều người tin rằng đây phải là nơi lấy đá của Sa-lô-môn, nơi đây những người thợ đã tạo hình, đẽo cho hoàn chỉnh trước khi đưa lên xe trượt về đền thờ "nên không nghe tiếng búa, rìu hay là khí dụng khác bằng sắt tại nơi đền đang khi cất" (IVua 1V 6:7).
    Vào 1865 Warren và Wilson đào 7 cái giếng sâu độ 27,4m (90feet) tại thung lũng Tyropoeon. Họ khảo sát các bức tường của ngôi đền dưới mặt đất, phát hiện những bức tường ấy được xây bằng những viên đá to và "đẽo gọt công phu"; "đặt khít khao với nhau cách kỳ diệu, những chỗ nối khó mà thấy được." Những viên đá lớn nầy thuộc về thời đại của Hê-rốt Đại đế hoặc sớm hơn. Họ cũng tìm thấy một lượng lớn đồ gốm, nhiều cây đèn, và một mặt đường thứ nhì 6,7m (22feet) dưới mặt bằng hiện nay; dưới mặt đường họ tìm thấy viên đá có ấn tín "A-ghê con trai của Shebaniah." Lời tiên tri đề cập đến một ấn tín như vậy (AgKg 2:23). Họ cũng đào ba cái giếng gần góc đông nam của khu vực bức tường ngôi đền - một cái giếng sâu 27,4m (90feet), một cái 30,48m (100feet), một cái 38,1m (125feet). Tại nhiều khoảng cách, các đường hầm nằm ngang được đào trở ngược về bức tường và người ta cũng thực hiện sự kiểm tra kỹ lưỡng. Công trình xây cất được sắp đặt với các chỗ nối một cách chính xác và hoàn thiện đến nỗi chỉ có công trình kim tự tháp của người Ai-cập xưa mới vượt qua được. Ở góc đông nam, ở độ sâu hơn 90feet dưới mặt bằng hiện nay, Warren tìm thấy một viên đá góc có chiều cao 1,12m, chiều dài 4,28m, cận nặng khoảng 100 tấn. Nhiều người nghĩ rằng rất có thể Sa-lô-môn đã đặt viên đá nầy. Trong nỗ lực để lần ra dấu vết của các bức tường thành phố cổ, Warren đào nhiều giếng trên đồi Ophel, và làm lộ ra bức tường Đa-vít tới độ sâu 122m (400feet). Raymond, Weile, Macalister, Duncan, Sukenik và Moyer tất cả đều thực hiện những khám phá có giá trị trong việc lần ra dấu vết của các bức tường cổ và tháp cổ xung quanh Ophel, "Thành quách của Đa-vít" và tìm ra dấu vết ngay cả bức tường thứ ba do Hê-rốt Ạc-ríp-ba xây, nó chạy về phía tây, vòng quanh và ngược xuyên qua vùng sở hữu của Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ, hướng về phía góc tường hiện nay gần Viện Bảo Tàng Khảo Cổ Palestine. Trong một số khu vực các bức tường hiện đại do Suleiman "Người cừ khôi" xây năm 1537 - 1542 SC trên nền móng của các bức tường xưa.
    Vào năm 1880, một vài nam sinh đang lội qua ao Si-lô-ê, lúc đó một em lội sâu vào khoảng 19 feet trong máng nước đã phát hiện một vài ký hiệu đặc biệt khắc trong tường đá phía đông trên mực nước - ký hiệu trông giống chữ viết. Mấy đứa bé thông báo cho thầy giáo của mình là Giáo sư Conrad Shick, ông cùng Tiến sĩ Sayce đến ngay hiện trường sao chụp lại câu khắc. Câu khắc gồm sáu dòng ký tự và chữ cái giống như loại được sử dụng trên tảng đá Moabite. Nội dung câu khắc:
    Bây giờ đây là câu chuyện về đào khoan, trong lúc những người khaiquật đang giơ cao cái cuốc của họ, mỗi người hướng về bạn của mình, và lúc đó vẫn còn 3 cubit để đào bới, ta nghe thấy tiếng gọi của người này với người kia, bởi vì có một khe nứt trong khe nứt ở phía bên phải. Và vào ngày họ hoàn tất công việc khoan đào, cuốc của nhữngngười đục đã chạm với nhau; và nước tràn từ con suối xuống cái hồ chứa, một khoảng cách 1000 cubits. Và 100 cubits chính là chiều cao của tảng đá ở phía trên đầu của những người thợ đục đá.
    Không có lời giải thích cho câu khắc, và cũng chẳng cần thiết, bởi vì tất cả chuyên gia đều đồng ý rằng câu khắc được viết khoảng 702 TC, lúc đó vua xứ Giu-đê là Hezekiah "xây hồ chứa nước và kinh dẫn nước vào trong thành" (IIVua 2V 20:20) để bảo tồn nước của suối Gihon (Suối Phun Trinh Nữ) cho dân cư tại Giê-ru-sa-lem khi họ bị sự đe doạ xâm lăng và nạn đói do người A-si-ri gây ra. Lời kể trong Kinh Thánh phù hợp với câu khắc. Các kỹ sư đã thăm dò, người ta đã đào từ cả hai đầu về phía chính giữa - một khoảng cách 539,5m (1770 feet). Họ đào một đường hầm với chiều cao trung bình là 1,83m (6feet) xuyên núi đá, cùng gặp nhau khi đối diện với tiếng cuốc - một kỳ công đáng chú ý của thời ấy. Câu khắc đã đưa ra một bằng chứng không thể nhầm lẫn được về chữ viết bằng chữ cái Hê-bơ-rơ mà Ê-sai cùng các tiên tri khác đã dùng nó để viết nhiều bài văn chương diễn cảm nhất thế giới.
    Vào 1871 Clermont-Ganneau tìm lại được một câu khắc vốn dĩ là một phần của đền thờ Hê-rốt và đánh dấu đường ranh giới mà không một người ngoại bang nào dám vượt qua. Nội dung câu khắc là:
    Không một người lạ mặt nào được vào trong hàng lan can quanh đền thờ và hàngrào vây quanh. Bất cứ ai bị bắt sẽ phải chịu trách nhiệm về cái chết của bản thân.
    Câu khắc dài nhất của người A-ram từ thời của Đấng Christ được Giáo sư Sukenik phát hiện vào 1931. Nội dung như sau: "Cho đến nay được mang hài cốt của Uzziah, vua Giu-đê - đừng mở." Người ta giả định rằng việc chôn cất lại nầy là cần thiết bởi công việc xây dựng rộng rãi được vua Ạc-ríp-ba II tiến hành tại Giê-ru-sa-lem.
    JEZREEL Thành phố được đặt tên theo Thung lũng Gít-rê-ên, ở trên mũi ngọn đồi nhô cao tại chân núi Ghinh-bô-a. Bản thân thành phố, quang cảnh gây ấn tượng sâu sắc khi nhìn ngang qua thung lũng Gít-rê-ên và bình nguyên Ạc-ma-ghê-đôn, cho ta toàn cảnh về một nơi mà nhiều sự kiện bi tráng và gây xúc cảm nhất của nhiều thời đại đã xảy ra và sẽ xảy ra (KhKh 16:16)
    Hoàng cung của A-háp và Giê-sa-bên đứng sừng sững trên mũi đất nầy, nhiều sự kiện tàn ác trong đời họ đã xảy ra tại đây. Tiên tri Ê-li quấn "ào choàng ngang thắt lưng" và chạy trước xe ngựa của A-háp từ núi Cạt-mên đến Gít-rê-ên, tại đó hoàng hậu Giê-sa-bên đã thề phải lấy mạng sống của ông (IVua 1V 18:46-19:3). Tại đây, bằng sự mưu hại, Giê-sa-bên giúp đỡ A-háp bằng cách gây nên cái chết của Na-bốt rồi cướp lấy vườn nho của Na-bốt (21:1). Tiên tri Ê-li sau đó xuất hiện trong cùng vườn nho và tuyên bố rằng chó sẽ liếm máu của hoàng hậu (21:23). Khi Giê-hu tiến vào Gít-rê-ên, Giê-sa-bên phải gặt lấy việc làm gian ác của bà. Những hoạn quan ném bà ta xuống đường phố, xe ngựa của Giê-hu giẫm lên và chó đã ăn thịt bà đúng như lời tiên tri Ê-li đã nói (IIVua 2V 9:30-36).
    Chưa có sự khai quật nào tiến hành ở đây.
    JOPPA "Cổng vào" của Palestine cổ đại, được xây trên một gò đá cao 35,36m (116feet) nhô ra trên một mũi đất nhỏ và đẹp.
    Hải cảng hay đê chắn của Giốp-bê được hình thành bởi một vòng đá lớn, một trong những tảng đá - theo thần thoại - là một tảng đá mà Andromeda bị xích vào để rồi bị một thủy quái nuốt chững hầu xoa dịu cơn thạnh nộ của Poseidon, trước khi bà ta được Persus giải cứu.
    Gỗ hương bách Li-ban được đưa đến cảng Giốp-bê và gửi đi xây đền thờ Sa-lô-môn, đây cũng là cảng mà tiên tri Giô-na đi đến Ta-rê-si. Lịch sử của Giốp-bê thì dài và thường có nhiều "sóng gió", thế nhưng sự khai quật ở đây còn hạn chế, trong một khu vực người ta tìm thấy nhiều đồ gốm và các đồ tạo tác được chứng minh là đồ cổ.
    JUDEAN DESERT CAVES Tiếp theo sự phát hiện các Cuộn Biển Chết, Bedouins đã lùng sục tới tấp để tìm kiếm thêm các tài liệu tại những thung lũng và hang động nằm cạnh Biển Chết. Vào năm 1953, Y.Aharoni đã thăm dò khu người Do-thái trong vùng này vào tháng 3 và tháng 4 năm 1960 và 1961, có bốn đoàn tham hiểm tổ chức chu đáo đến thám hiểm các thung lũng và hang động nằm khoảng giữa Masada và Ên-ghê-đi. Mỗi đoàn được phân công đến một khu vực chỉ định, các trưởng đoàn là N.Avigad, Y.Aharoni, Y.Yadin và Pessah Bar-Adon. Họ được bổ nhiệm đến bốn đoàn thám hiểm và điều phối viên chung là J.Aviram. Khoảng 100 binh sĩ và 30 công dân tình nguyện đã tham dự. Lực lượng phòng vệ Y-sơ-ra-ên cung cấp trang thiết bị, địa điểm cắm trại, và mọi thứ tiếp liệu.
    Những cái hang được đặt tên có liên quan đến một số khám phá có ý nghiã được thực hiện tại đó.
    Hang Cái Ao 150m (492 feet) trên một vách đá dốc đứng, được đặt tên như vậy vì có một cái ao gần lối vào hang. Cái hang này một phần được đục từ đá, một phần được kiến tạo bởi những người lánh nạn ở đây. Nước mưa rơi xuống ao từ một cái máng thẳng đứng, một phần máng vẫn còn cho đến ngày nay. Hang được dùng làm nơi lánh nạn vào Thời Đại Đồ Đá Muộn (3100 TC), vào thế kỷ thứ 7 TC, và vào Chiến tranh Bar Kochba (132-135 SC). Trong hang người ta tìm thấy những cái đèn bằng đồ gốm, nồi để nấu ăn, mảnh vỡ của các khí mạnh bằng thủy tinh, lược bằng gỗ, con suốt chỉ, rổ, dây thừng, di tích hóa than của trái chà là, lựu, đậu carob, quả hồ đào, quả hạnh nhân, ô-li-ve và xương của động vật và chim đã bị người cư ngụ ở đây ăn thịt.
    Việc chôn cất được thực hiện tại các hang nhỏ hơn ở gần đó. Một quan tài chứa 7 cái sọ người; trong một quan tài khác người ta tìm thấy một bộ xương hoàn chỉnh được bao trong áo quan, còn chân thì mang giày da.
    Hang Châu Báu , 300m (984feet) phía trên Biển Chết, gồm hai buồng chính, mỗi buồng với diện tích khoảng 11,9 x 14m (39 x 46feet). Trong đó người ta tìm thấy đèn, vật dụng gia đình, một cái rổ rây độc đáo, một phần của thùng đựng sữa cùng với đủ loại bình.
    Pessah Bar-Adon nói: "Nhưng điều ngạc nhiên lớn cực kỳ đã đến vào ngày làm việc thứ tám, trong tường bắc của cái hang, chúng tôi phát hiện một tảng đá thoai thoải che lên một hốc tường tự nhiên… qua khe nứt ở các mép chúng tôi thấy được ánh lấp lánh của kim loại. Lập tức chúng tôi dọn dẹp phần đất xốp mềm quanh tảng đá cho đến khi hốc tường lộ hẳn ra. Chúng tôi phải ngưng làm việc khi màn đêm buông xuống, nhưng sáng sớm hôm sau chúng tôi phát hiện một nơi chôn giấu vật quý trong cái hốc. Lúc kho tàng được khai quật, mọi người nín thở và hồi hộp - trong khoảnh khắc cái hang tràn ngập tiếng reo mừng (Bar-Adon; Hang Châu Báu; Những Khám Phá Khảo Cổ Học Trên Đất Thánh, trang 30).
    Ngay khi lật chiếc chiếu rơm, họ tìm thấy 420 món đồ gồm 240 "đầu gậy quyền" kim loại với đủ thứ kích thước, đủ loại hình dạng và đủ loại trang trí khác nhau; 20 cái đục và rìu kim loại; 80 "gậy quyền" kim loại với đủ loại hình dạng và trang trí; một cái hộp ngà voi độc đáo; và 10 vương miện kim loại kiểu dáng tuyệt vời do thợ thủ công (sách đã dẫn, trang 34).
    Hang Văn Thư , toạ lạc 198,1m (650feet) phía trên lòng sông cạn tại Nahol Hever, do Y.Yadin khai quật, hang dài 50,3m (165feet) và chứa các vật dụng tùy thân của Jonathan Bayan, ông là một trong các chỉ huy của Bar Kochba, đã cùng gia đình lánh nạn tại đây.
    Các món đồ tìm thấy gồm 19 khí mạnh kim loại, xẻng xúc tro lư hương, bình (có tay cầm và có vòi), chiếu cọ, quần áo, lưới săn thú, một số chìa khoá, vài đĩa thủy tinh trang trí đẹp. Nhưng phần thưởng của tất cả cuộc khám phá là 15 lá thư do Bar Kochba gửi các viên chỉ huy trong vùng, một tàng thư gồm 35 tài liệu hầu hết liên quan đến giao dịch thương mại của Babatha và vài đoạn của các cuộn Kinh Thánh.
    Thư Bar Kochba cùng với các tài liệu khác, cách mạng hóa những quan niệm của cuộc chiến Bar Kochba và mở ra một viễn cảnh mới về nền văn hóa duy vật và tôn giáo thời ấy. Một đoạn của sách Thi Thiên gồm vài dòng thơ của Thi Thiên 15,16 về cơ bản giống như bản Masoretic của chúng ta. Một đoạn khác chứa câu 7-8 của Thi Thiên 20.
    Hang Kinh Dị nằm trên bờ nam của sông cạn Nahal Hever, tại đó khoảng 40 kẻ đào vong đã lánh nạn vào giai đoạn cuối của cuộc chiến Bar Kochba. Người La-mã đã cắm trại trên núi mặt bàn 79,2m (260feet) phía trên chỗ họ đang lánh nạn. Cuối cùng, những người bị bao vây phải thua vì thiếu nước, họ đốt lửa bằng những vật sở hữu của mình rồi tự sát, hiển nhiên là họ thà chọn cái chết chứ không đầu hàng. Ít nhất có 40 bộ xương của đàn ông, đàn bà có tuổi tác khác nhau được tìm thấy, cũng như bộ xương của trẻ con ở các độ tuổi khác nhau.
    Trong hang, ngoài các bộ xương, người ta còn tìm thấy các món đồ gia dụng như rổ, dây thừng, con lăn cọc sợi bằng gỗ và đá, lược bằng gỗ, kìm, dùi, đinh, một con dao thép, dép da cùng với tàn tích của thực phẩm như ô-li-ve, chà là, lúa mì, lúa mạch. Những bản thảo Kinh Thánh được tìm thấy trong hang gồm có một bản dịch tiếng Hy-lạp của 12 sách tiểu tiên tri cùng với một phần các sách Ô-sê, A-mốt, Giô-ên, Giô-na, Na-hum, Xa-cha-ri.
    KADESH BARNEA Địa điểm cắm trại và cư trú nổi tiếng của Y-sơ-ra-ên, đôi khi còn được cho là Ain Qedeis, khoảng 49 dặm tây nam Bê-e-sê-ba. Tuy nhiên, ai nghiên cứu vùng nầy cách kỹ lưỡng sẽ tin rằng Ca-đe Ba-nê-a chính là Wadi Qudeirat, 5 dặm tây bắc Ain Qedeis. Nơi nầy sử dụng nước từ con suối ở Ain Qedeirat, tạo thành một thung lũng đẹp và phì nhiêu. Đại tá Lawrence khám phá một pháo đài của người Giu-đê ở đây, và di tích của một cộng đồng nông nghiệp của thế kỷ 21 đến 19 TC, nằm trên ngọn đồi nhìn xuống con suối. Tiến sĩ Nelson Glueck và các chuyên gia khác cảm thấy rằng Wadi Qudeirat chắc chắn là Ca-đe Ba-nê-a, mà đối với Y-sơ-ra-ên, nó trở thành "ngã tư đường của sự quyết định tối hậu." Không nghi ngờ gì, Y-sơ-ra-ên sẽ tận dụng cả hai ốc đảo này vì chúng chỉ cách nhau 5 dặm.
    KEDESH Hoặc Kedesh-Naphtali. Là một thành phố hoàng gia trước đây của người Ca-na-an. Bị Giô-suê (Gios Gs 12:22) đánh chiếm, sau đó biến thành một trong sáu thành phố tỵ nạn (Gios Gs 20:7). Kê-đe là quê hương của Ba-rác, tại đây ông và bà Đê-bô-ra tập hợp lực lượng từ Nép-ta-li và Sa-bu-lôn cho một cuộc chiến chống lại Si-rê-ra (Cac Tl 4:6-11), Nép-ta-li, Ba-rác, Đê-bô-ra và Gia-ên đã được chôn cất tại đây. Tiglath-Pileser III chiếm thành phố vào năm 734 TC và lưu đày các cư dân sang A-si-ri (IIVua 2V 15:29). Tại đây Giô-na-than Mác-ca-bê đánh bại quân đội Si-ri do Demetrius (1Mcb 11:63).
    Ngày nay, địa điểm này được gọi là Tell Kades và bị chiếm một phần bởi làng nhỏ của người Ả-rập, tọa lạc 5 dặm tây bắc hồ Huleh trên mép một núi nhìn xuống bình nguyên Ca-đe phì nhiêu. Sự thăm dò và sự tìm kiếm trên mặt đất cho thấy rằng nơi đây đã có người cư trú từ Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Sớm và Muộn.
    KHORSABAD Thủ đô tráng lệ của Sargon vua A-si-ri, tọa lạc 10 dặm tây Ni-ni-ve. Paul Emile Botta bắt đầu khai quật ở đây vào 1842, ông đã tìm thấy một thành phố to tát rộng 741 acres, được bố trí dưới hình thức một hình vuông có công sự với bề ngang 1 dặm và 7 cổng, một khu vực hoàng cung có đường bộ với diện tích 25 acres.
    Hoàng cung cùng với các khu dân cư rộng lớn, hậu cung xa hoa, ba đền thờ đẹp và các miếu cổ hình tháp, toàn bộ toạ lạc trên một nền đất cao lát gạch rộng 25 acres và cao 13,7m (45feet) so với khu vực chung quanh. Các bức tường cung vua được xây bằng những viên đá lớn hình vuông, với chiều dài từ 2,5m 4,9m (9,5-16feet). Tại một nơi, các viên gạch dày tới 7,6m (25feet). Trong cung điện có những đại sảnh tiếp khách được trang hoàng khắp nơi bằng những câu khắc, điêu khắc, phù điêu nổi, tượng trưng cho các vị thần, vua, cảnh chiến tranh, lễ nghi tôn giáo. Những con bò đực có cánh được trang trí một cách công phu, được đúc hay tạc đẹp bằng đồng thiếc, đã trang hoàng các bức tường, và tất cả các ô cửa chính đều được gia cố hai bên sườn bằng tượng bò đực có cánh trông oai vệ và lộng lẫy, nặng từ 10 đến 30 tấn mỗi pho tượng.
    "Cổng và phòng tiếp tân phô bày tất cả sự lỗng lẫy mà các nghệ nhân A-si-ri có thể làm được, các căn hộ trong hậu cung được trang hoàng một cách thẩm mỹ bằng các tranh tường, kiểu trang trí đường lượn và tượng đá hoa. Tất cả sàn nhà bên trong hoặc làm bắng đá lát (hay gạch vuông) hoặc bằng đất sét nện, trên đó từng được trải các tấm thảm đẹp. Các sân ngoài và khoảng sân được lát gạch vuông rất nhiều màu hoặc đá hoa.
    Trên tường dường như được chạm trổ liên tục bằng một chuỗi những bức chân dung điêu khắc rất chi tiết về cuộc sống hằng ngày, thú vui, phong thái, tập tục, tôn giáo và lịch sử của người A-si-ri. Phiến đá làm tường trong ba căn phòng lộng lẫy của cung điện được chạm trổ chi tiết về cuộc trị vì 15 năm của vị vua hùng mạnh. Những trận đánh nhau của Raphia, trận đánh thứ nhì của Karkar đều được miêu tả sinh động. Các khía cạnh khác nhau của đời sống trị vì tích cực đầy quyền lực cũng được phác họa, bao gồm chiến dịch của ông đối với Palestine và bờ Địa Trung Hải, tại đó ông đập tan mọi kháng cự và làm cho mọi nước sụp đổ ngoại trừ xứ Giu-đê."
    Họ tìm thấy "rất nhiều công trình điêu khắc, tượng, rất nhiều phù điêu khiến họ phải sửng sốt, nhưng họ đã làm việc với sự hài hoà, năng lực và tận tụy trong những tháng hè nóng và bụi, và mãi cho đến tháng 10, khi mọi dấu vết của bức tường cung điện bị biến mất."
    Victor Place đã tiếp nhận công tác khai quật vào năm 1851, và "khám phá 14 cái thùng hình trụ có ghi câu khắc cùng với các ghi chép lịch sử, một buồng kho đầy đồ gốm, một buồng kho khác chứa đầy gạch vuông, còn buồng kho khác chứa các công cụ bằng sắt đủ loại trong một tình trạng hoàn hảo nhờ vào sự bảo quản của các thợ Ả-rập của ông. Ông hết sức thành công trong việc thu thập các món đồ nhỏ bằng đất sét, đá, thủy tinh và kim loại sẽ góp phần làm sáng tỏ đời sống thường nhật của con người lúc bấy giờ. Ông khai quật được cả nhà vệ sinh, lò bánh và hầm rượu của nhà vua, người ta nhận ra đó là hầm rượu là nhờ vào những bình thon nhọn nằm trong hai hàng lỗ trên nền nhà có lát, và bốc ra mùi men nồng sau trận mưa đầu tiên làm hòa tan các chất cặn màu đỏ trong bình." Ông Place cũng khám phá "hai bò đực đầu người trông oai vệ mà người ta không còn nghi ngờ gì, đó là sản phẩm gây ấn tượng mạnh nhất của người A-si-ri hiện còn tồn tại. Ông đã trao đổi tượng hai còn bò ấy với Rawlinson và hai tượng ấy hiện được đặt tại cổng vào hành lang A-si-ri trong Viện Bảo Tàng Anh.
    Place đã không thực hiện nhiều khám phá rgây sửng sốt về các đài tưởng niệm lớn như Botta đã làm, nhưng các món đồ nhỏ mà ông đã phát hiện thì hết sức quan trọng. Ngoài ra công việc của Place làm chúng ta có thể có được bức tranh rõ hơn về thành phố Khorsabad và người sáng lập thành phố cũng như kẻ thống trị hùng mạnh là Sargon II "ông vua vĩ đại, hùng mạnh…vua của A-si-ri."
    "Nhưng ai là vị Sargon ấy?" Trước đây trong lịch sử thế tục không hề có ghi chép tên ấy và trị vì như là một quân vương A-si-ri. Người duy nhất đề cập tên Sargon chính là Ê-sai, nhà tiên tri hùng biện đã chêm vào như sau, nhằm giải thích cho rõ thêm:
    "Nhằm năm mà Sa-gôn, vua A-si-ri, sai Ta-tân đến Ách-đốt, vây thành và chiếm lấy." (EsIs 20:1).
    "Nhưng vài học giả không tin vào tính lịch sử của Kinh Thánh, đã nói rằng chẳng có vị vua A-si-ri nào có tên như vậy cả. Thế nhưng trong biên niên sử được khắc sâu trên các bức tường của cung vua, là "bài tường thuật được sự cho phép" của chính ông kể về lần bao vây cuối cùng và chiếm Sa-ma-ri, và sự trục xuất dân chúng trong thành:
    Nhằm năm trị vì đầu tiên của ta… thành phố Sa-ma-ri mà ta bao vây và đánh chiếm. Ta bắt 27290 người làm phu tù. Ta mang về 50 cỗ xe ngựa để bổ sung vào lực lượng hoàng gia của ta… Ta đã trở về và mang thêm nhiều thứ. Ta bổ nhiệm quan chức của ta làm quan tổng đốc của Sa-ma-ri. Ta nhận cống vật và thu thuế.
    Và tiếp theo trong biên niên sử, Sa-gôn góp phần giải thích một đoạn văn trong sách Ê-sai đoạn 20 mà ông mô tả về cảnh đánh chiếm Ách-đốt:
    Azuri, vua của Ách-đốt, đã toan tính trong lòng là không triều cống, và trong số các vua láng giềng của Azuri bị gieo rắc lòng thù hận đối với A-si-ri. Vì cớ điều tà ác mà ông ta đã làm ta phế bỏ chức vị vua chúa của ông ta. Trong cơn thịnh nộ của lòng ta, ta chưa triệu tập đội quân đông đảo của ta. Ta chưa tập hợp toàn bộ doanh trại của ta. Chỉ cùng với các vệ sĩ bình thường của ta là đủ chống chọi Ách-đốt, Ta bao vây nó, và ta đã hạ nó. Ta chiếm nó sau khi tàn phá các tượng thần trong đó, ta giết vợ con hắn, cướp châu báu trong cung điện của hắn cũng như nhân dân trên đất của hắn.
    KIDRON Thung lũng của Kidron mọc lên ở phía bắc Giê-ru-sa-lem trong một chỗ lõm không quan trọng có tên Wady el Joz. Nằm trải dài nửa dặm về phía đông, nó vòng quanh xuống phía nam, ngang qua giữa bức tường bắc của Giê-ru-sa-lem và vườn Ghết-sê-ma-nê; băng qua thung lũng Vua và vườn Vua, cuối cùng gặp thung lũng Hinnom tại giếng En Rogel.
    Công việc khai quật cho thấy có tới 21,3 -24,4m (70-80feet) chất thải đổ thành đống trong thung lũng, và lòng con suốt đã di chuyển về phía đông khoảng 21,3m (70feet). Tuy nhiên, chẳng có gì phải ngạc nhiên vì rác rưởi từ thành phố và một phần bức tường đã lăn xuống thung lũng này trong nhiều thế kỷ.
    KIRIATH JEARIM Ngày nay được gọi là Abu Ghosh, nằm cách Giê-ru-sa-lem 9 dặm về phía tây, trên con đường đến Tel Aviv và Giốp-bê. Hòm giao ước đã lưu tại đây trong 20 năm; trong khoảng thời gian người Phi-li-tin gửi hòm trở về Y-sơ-ra-ên và thời trị vì của Đa-vít là người đưa hòm giao ước trở về Giê-ru-sa-lem (ISu1Sb 13:5-8).
    Vào năm 1928, những linh mục dòng Benedictine đã cày lên những công cụ bằng đá silic và các khí mạnh bằng đá tại địa điểm gần nhà thờ Thập Tự Quân tại đây. R.Newville đào những mương thăm dò nhưng chỉ có kết quả khiêm tốn. Trong lần khai quật vào năm 1951 và 1960, họ tìm thấy những căn nhà với nền trát vữa và lò sưởi, cùng với 12 bộ xương người được chôn dưới sàn nhà.
    Vào 1944, các linh mục Benedectine đã khai quật hai ngôi mộ và các di tích của một hồ chứa nước lớn thuộc về đội quân lê dương thứ 10 của La-mã, mà họ đã đóng tại địa điểm nầy. Lối vào của một ngôi mộ nói trên có một hòn đá tròn giống như hòn đá che bên ngoài mộ Chúa Giê-xu.
    KIRIATH SEPHER "Thành phố của thầy thông giáo" nay được đồng nhất với Tell Beit Mirsim, 11 dặm tây nam Hếp-rôn, nơi đây từng mang tên Debir.
    Mô đất được các Tiến sĩ Kyle và Albrigth (1926-1932SC) khai quật từng phần qua bốn chiến dịch. Người ta tìm thấy một thành phố có từ khoảng năm 2200 TC; một số thành phố khác mọc lên rồi sụp đổ trên mô đất nầy. Vào thế kỷ 8 TC thì dường như thành phố này có được đỉnh cao về sự phồn thịnh vì nó là trung tâm công nghiệp nhuộm sợi dệt. Cuối cùng nó bị Nê-bu-cát-nết-sa đốt và tàn phá vào năm 586TC. Con dấu của Ê-li-a-kim đề ngày 597 TC cũng được tìm thấy ở cấp độ cư ngụ nầy.
    KISH Ngoại ô của thành phố thuộc Ba-by-lôn và có lẽ là một phần của Ba-by-lôn vĩ đại hơn, là một trong các thành phố cổ nhất thế giới mà chúng ta ghi nhận được. Đó là một thành phố quan trọng từ năm 4000 TC đến thế kỷ 4 SC. Nó từng phát triển trên diện tích khoảng 10.000 dặm vuông. Ngày nay nó là một loạt những mô đất mang tên Tell el-Ukheimir dài 5 dặm và ngang 2 dặm. Nó được chia thành đông Kish và tây Kish bởi một lòng sông cổ mà nhiều người xem đó là lòng sông Ơ-phơ-rát xưa trước khi nó dịch chuyển sang phía tây.
    Đại học Oxford và Viện Bảo Tàng Field Chicago đã khai quật Kish. Chiến dịch được tài trợ một cách hào phóng bởi H.Weld Blundell, Giáo sư Stephen Langdon của Oxford cùng với các đồng nghiệp của ông là E.Mackay và M.E.Watelin đã chỉ đạo việc khai quật. Henry Field và những người khác thỉnh thoảng phụ giúp công việc.
    Những người khai quật đã huy động một lực lượng đông đảo và đào bới có hệ thống đến tận lớp đất chưa ai chạm tới. Nhờ làm như vậy họ đã khám phá một chuỗi cuộc sống và văn hóa của hơn 10 tầng lớp cư ngụ, trong đó 6 tầng lớp được ước tính là xa xưa tới 5000 năm. Địa tầng tương quan với thời kỳ 3000 - 2900 TC chỉ gồm toàn là cát mịn và đất sét, dày khoảng 1,5feet và không chứa dấu vết gì về vỏ sò biển hoặc dấu vết đời sống biển. Địa tầng nầy có lẽ bị trận lụt lớn chôn vùi. Bên trên và bên dưới lớp trầm tích phù sa nầy đều có các cấp độ cư ngụ của con người.
    Việc khám phá ra lớp này được coi là bằng chứng hữu hình của cơn Đại Hồng Thủy có ghi trong Kinh Thánh và trong truyền thuyết của người Ba-by-lôn. Một lăng trụ được phát hiện có toàn bộ danh sách của vị vua Sumeria, trước và sau trận lụt, đến tận năm 2000 TC. Những triều đại trước đó thuộc về truyền thuyết, nhưng các thời kỳ sau đó rất khớp với bằng chứng tìm thấy trong nhiều cuộc khai quật khác.
    Tại Kish, nhà khai quật tìm thấy một ngôi đền người Ba-by-lôn, được bảo tồn khá tốt, có khoảng năm 550 TC do Nê-bu-cát-nết-sa khởi xướng, nhưng bị Nabonidus bỏ dở dang. Họ cũng tìm thấy một cung điện trang trí bằng xà cừ và đá thiên thanh, từ thời vua Sargon I (2400 TC), các đồ vật khác nhau cho thấy nghệ thuật của thời kỳ Sassania và các thánh tích của Sumeria, bao gồm một cỗ xe ngựa bốn bánh làm bằng gỗ và ráp bằng đinh đồng. Phía trước xe ngựa là hài cốt bộ xương những con ngựa đã kéo chiếc xe.
    Nhà khai quật tìm thấy bút trâm bằng xương, nhờ nó mà lần đầu tiên người ta biết được chữ hình nêm được viết như thế nào, người ta cũng tìm thấy nơi cất giấu các phiến đá chữ hình nêm và những đồ vật đáng lưu tâm. Một phiến đá dường như ghi trên mặt của nó những dạng chữ tượng hình cổ nhất được khám phá tại Ba-by-lôn. Ba trăm phiến đá ghi ngày tháng muộn hơn cho thấy rằng đền thờ đa thần của cư dân tại đó chỉ gồm một thần trên trời, một thần dưới đất và thần mặt trời. Thần trên trời tiêu biểu cho vị thần nguyên thủy mà từ đó mới có các thần khác - cuối cùng có khoảng 5000 vị thần. Sau khi đọc các phiến đá và xem xét kỹ lưỡng các chứng cứ khác được tìm thấy tại Kish, Erech và Shuruppak, Langdon đã viết như sau:
    Theo ý kiến của tôi, lịch sử tôn giáo cổ xưa nhất của nhân loại là một sự suy giảm nhanh chóng từ sự thờ độc thần đến đa thần cực đoan và sự phổ biến rộng rãi về niềm tin với các thần linh tà ác. Trong một ý nghĩa hết sức đúng đắn đó chính là lịch sử về sự sa ngã của nhân loại.
    KORAZIN Ngày nay được đồng nhất với đống đổ nát có tên Kerazeh (bằng tiếng Ả-rập), khoảng 2 dặm phía bắc Ca-bê-na-um. Trong số những đống đổ nát rộng lớn có di tích của một nhà hội, có phần nào nhỏ, tương tự với nhà hội tại Ca-bê-na-um. Nó xây bằng đá bazan đen, trang trí cách đầy đủ giống như nhà hội Ca-bê-na-um, nhưng vẻ đẹp thì kém xa. Tại đây có những biểu tượng bằng điêu khắc, một số là ngoại giáo (một đầu Medusa và một quái vật đầu người mình ngựa đánh nhau với sư tử), nhưng những biểu tượng khác thì tượng trưng cho chim và thú, và biểu tượng miêu tả người ta đang hái và ép nho.
    Trong nhà hội nầy các nhà khai quật tìm thấy một ghế đá, khớp với ngôi của Môi-se được Chúa Giê-xu đề cập trong Mat Mt 23:2. Đó là một cái ghế đặc biệt của sự vinh dự dành cho thầy thông giáo chính hoặc người giảng chính trong nhà hội vào thời ấy. Cái ghế nầy có chỗ tựa tay, một miếng đá tựa lưng cao và trên mặt ghi dòng chữ khắc bằng tiếng A-ram: "Hãy ghi nhớ mãi mãi Yudan con trai của Ích-ma-ên đã làm cổng vòm và các bậc tại cổng. Nguyện ông chia sẻ sự công nghĩa như là phần thưởng."
    LACHISH (Tell ed-Duweir hiện đại) là một thành phố công sự quan trọng có một vị trí chiến lược tại Shephelah hoặc đất trũng của Giu-đê, 30 dặm tây nam Giê-ru-sa-lem.
    Người Y-sơ-ra-ên nhập cư dưới thời Giô-suê đã chiếm La-ki vào ngày bao vây thứ nhì (Gios Gs 10:32) rồi đi qua mà không đốt thành (Gios Gs 11:13). Sau đó, Vua Rô-bô-am xây công sự cho La-ki và làm cho nó bền vững (IISu 2Sb 11:9-12).
    Ông J.L.Starkey và đồng sự đã chỉ đạo việc khai quật tại La-ki từ 1932 đến ngày 10 tháng giêng năm 1938, đã có nhiều phát hiện đầy ý nghĩa, quan trọng nhất là 23 bức thư (nay được gọi là Những Lá Thư La-ki) mà họ tìm thấy trong tro và than tại phòng canh gác bên cổng ngoài thành phố. Những lá thư này được viết bằng "mực than bởi Hô-sa-gia" (NeNe 12:32; Gie Gr 42:1; 43:2), một sĩ quan đóng tại tiền đồn gần Giê-ru-sa-lem gửi cho Joash là viên chỉ huy tại La-ki. Những thông điệp ngắn này được viết vào những năm cuối đời của Giê-rê-mi (khoảng 588 TC) và phản ánh thời kỳ nhiễu nhương trong đời trị vì của Sê-đê-kia, trước khi La-ki thất thủ khoảng 20 năm trước khi Giê-ru-sa-lem thất thủ. Hiển nhiên các lá thư được viết trong khoảng thời gian vài ngày hay vài tuần, như đã được nêu trong các đoạn có tính tương đồng mà 5 đoạn được ráp lại như các mảnh vỡ của một khí mạnh ráp lại thành một khí mạnh hoàn chỉnh."
    Bức thư thứ nhất gồm danh sách của 9 tên riêng, 5 tên họ trong đó được tìm thấy trong Cựu Ước. Ba tên họ dường như chỉ xuất hiện trong thời của Giê-rê-mi. Trong lá thư thứ 4. Hô-sa-gia viết:
    Và hãy để cho chúa tôi biết rằng chúng ta đang để ý xem các dấu hiệu của La-ki liên quan đến tất cả những dấu hiệu mà chúa đã ban cho, bởi vì chúng ta không thể nhìn thấy A-xê-ca.
    Giê-rê-mi đề cập đến các dấu hiệu (Gie Gr 6:1) và cho biết vua Ba-by-lôn "đang đánh nhau với Giê-ru-sa-lem và các thành phố khác của Giu-đa như thế nào mà chỉ còn lại La-ki và A-xê-ca là không đầu hàng - đó là hai thành phố công sự bền vững còn lại của xứ Giu-đa" (Gie Gr 34:7)
    Lá thư thứ 6 nhắc đến những ngôn từ của các hoàng tử như "làm yếu đuối bàn tay của chúng ta", tất cả những từ ngữ ấy gây nên sự hứng thú khi ta so sánh với Gie Gr 38:4 "…Xin hãy sai giết người nầy, vì nó nói những lời dường ấy, làm cho tay của lính chiến ở lại trong thành và của cả dân sự ra yếu đuối…"
    Những lá thư nầy phản ánh tình hướng chính trị và xã hội căng thẳng của thời kỳ mà Giê-rê-mi nói tiên tri và bị bỏ tù. Các lá thư cũng cung cấp bằng chứng trực tiếp về các dụng cụ và mực được Ba-rúc dùng trong khi viết các chữ cái Hê-bơ-rơ.
    "Đoạn, họ gạn hỏi Ba-rúc rằng: Hãy cho chúng ta biết thể nào ngươi đã chép mọi lời nầy bởi miệng người. Ba-rúc đáp rằng: Ngươi lấy miệng thuật cho tôi những lời nầy, và tôi dùng mực chép vào cuốn sách." (Gie Gr 36:17-18)
    Giáo sư Haypert của Đại học Moravia và Thần Học Viện Moravia nói:
    Ý nghĩa thực sự của các lá thư La-ki khó lòng mà có thể khoa trương hết được. Không có một khám phá khảo cổ học nào đến hôm nay lại có một mối liên quan trực tiếp đến Cựu Ước hơn các lá thư ấy. Những thầy thông giáo đã viết các lá thư (hơn một người viết) bằng sự khéo léo chân chính của tiếng Hê-bơ-rơ cổ điển, và chúng ta thực sự có được một phần mới của văn học Cựu Ước: phần bổ sung cho sách Giê-rê-mi.
    Tiến sĩ Albright nói:
    Trong những lá thư ấy chúng tôi thấy mình sống trong thời đại của Giê-rê-mi với những điều kiện chính trị, xã hội hoàn toàn khớp với bức tranh được phác họa trong quyển sách mang tên ông.
    LAGASH Được gọi là Tello trong thời cận đại, cách U-rơ khoảng 50 dặm về phía bắc. Dưới sự lãnh đạo của Ernest de Sarzec, người Pháp đã khai quật nó từ năm 1877 và kéo dài đến 1900.
    Công việc khai quật đã đưa ra ánh sáng một số đồ vật như: (10 Bia có khắc chữ đáng chú ý của Eannatum (2900 TC), được biết như là Bia Khắc Kền Kền cho thấy các binh sĩ tiến về chiến trận trong một đội hình sát cánh nhau, được trang bị bởi khiên và giáo, trong khi đó, chim kên kên đang rỉa thịt những xác chết trên chiến trường. (2) Tượng đồng Gudea, vua của Lagash khoảng 2600 TC cùng với những hồ sơ về ông được khắc trên phiến đất sét hình trụ. (3) Bộ sưu tập tượng đẹp lộng lẫy (??) bằng đá diorit, đó là tượng các quan tổng đốc đầu tiên của Lagash, gồm khoảng 40.000 phiến đá khắc chữ đã đóng góp nhiều cho sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử kinh tế thời ban sơ của quốc gia Sumer mà Lagash là một trung tâm chiến lược.
    LAODICEA Quê hương của một trong bảy hội thánh trong sách Khải Huyền (KhKh 1:4, 11), toạ lạc trên một xa lộ cổ đại đi lên từ Ê-phê-sô, xuyên qua thung lũng Maeander và Lycus về phía đông tới Sy-ri. Cô-lô-se cách Lao-đi-xê 10 dặm về phía đông. Trong khi đó thì Hierapolis cách Lao-đi-xê 6 dặm về phía tây bắc.
    Thành phố được thành lập vào khoảng 250 TC bởi Antiochus II, ông đặt tên thành phố theo tên của vợ ông là Laodicea, và đưa dân đến ở gồm người Sy-ri và người Do-thái mà ông đã đưa từ Ba-by-lôn. Lao-đi-xê nằm trên một bình nguyên gần như vuông vức 30,4m (100feet) phía trên thung lũng và được bao quanh bởi một cánh đồng phì nhiêu rộng lớn và đồng cỏ tốt cho súc vật. Nơi đây chẳng mấy chốc trở nên nổi tiếng nhờ vào cảnh đẹp và sự trù phú có được phần lớn từ cừu mà len cừu đen lánh của chúng được dùng để dệt quần áo và thảm. Thành phố này cũng là một trung tâm dịch vụ ngân hàng và các nghiệp vụ tài chính được điều hành bởi một nhóm người Do-thái giàu có và xuất chúng. Thành phố đúc những đồng tiền của mình từ thế kỷ thứ 2 TC và cuối cùng trở thành thủ đô thế tục của tây Phrygia, "kinh đô của châu Á" và trong thời kỳ đầu của lịch sử Cơ-đốc nó trở thành địa phận giám mục nổi bật nhất của Phrygia.
    Trong phần cuối của thế kỷ đầu tiên là lúc sách Khải huyền được viết, hội thánh Lao-đi-xê bị bao trùm bởi bầu không khí giàu sang nổi bật trong thành phố và đã bị Chúa quở trách vì cớ giàu có vật chất nhưng đời thuộc linh thì nguội lạnh. Chúa khuyên hội thánh hãy mua vàng thử lửa của Chúa, áo trắng và thuốc xức mắt đặng thoa mắt (KhKh 3:18), Sir William Ramsey đã thấy được sự liên quan đến sự giàu sang, quần áo nổi tiếng của Lao-đi-xê và có lẽ liên quan đến thuốc xức mắt Phrygia được làm ở đây.
    Trong các cuộc chiến tranh của Seljuk Turks thành phố suy tàn và bị bỏ hoang sau thế kỷ 13. Thị trấn Denizli được xây dựng gần đống hư tàn của Lao-đi-xê, ngày nay mang tên là Eski Hissar. Nơi đó chưa được khai quật nhưng các hình nét của những bức tường thành, hai nhà hát và sân vận động dài 304,8m (1000feet) của Lao-đi-xê có thể được tìm thấy dấu vết.
    LYDDA Nay gọi là Ludd, là một thị trấn quan trong, cách đông nam Giốp-bê 11 dặm. Trong thời Cựu Ước nơi này có tên là Lod (ISu1Sb 8:12), trong thời Tân Ước, đây là nơi Phi-e-rơ chữa lành người bại có tên là Ê-nê. Trong thời Thập Tự Quân, nơi này trở nên nổi tiếng như là địa điểm truyền thuyết về sự tử đạo của thánh George, thần hộ mạng của nước Anh.
    Đống đổ nát của những sự định cư cổ xưa hơn được chôn phía dưới thành phố hiện nay. Chỉ có đống hư tàn gây cảm xúc của Nhà thờ Thập Tự Quân của thánh George là tồn tại.
    LYSTRA Là nơi Phao-lô chữa lành người què, kết quả là nhiều người đã coi Phao-lô và Ba-na-ba như các vị thần - gọi Ba-na-ba là thần Zeus và Phao-lô là thần Hermes. Nhưng sau đó dưới sự sách động của người Do-thái đến từ An-ti-ốt, họ ném đá Phao-lô và bỏ mặc Phao-lô cho đến chết.
    Việc nhận ra thành Lít-trơ, mãi đến 1885 mới chắc chắn, lúc ấy J.R.S.Sterrett khám phá một bàn thờ La-mã có khắc chữ, bàn thờ cao 3,5feet và dày 1feet trên một mô đất khoảng 25 dặm tây nam Iconium. Trên miếng đá ấy có dòng chữ LYSTRA bằng tiếng La-tinh cùng với lời tuyên bố rằng Lít-trơ trở thành thuộc địa La-mã dưới sự thống trị của Augustus Caesar.
    MARESHAH Là quê hương của nhà tiên tri Mi-chê và của Ê-li-ê-xe, con trai của Đô-đa-va, là người nói tiên tri về sự bể nát của tàu bè thuộc Giô-sa-phát để rồi họ không thể đi đến Ta-rê-si được (IISu 2Sb 20:37). Giê-rô-bô-am xây công sự Mareshad và A-sa không những củng cố những công sự nầy mà còn nhờ đánh bại đội quân Ê-thi-ô-bi dưới sự lãnh đạo của Xê-rách (IISu 2Sb 14:12). Thành phố đi đến chỗ diệt vong vào năm 40 TC là lúc người Parthian tàn phá nó.
    Mô đất tròn có diện tích 6 acres được Bliss và Macalister khai quật vào 1898-1900 và phát hiện các bức tường, cổng và tòa nhà thuộc thời kỳ Hê-lê-nít (333-63 TC). Đây là cấp độ cư ngụ bên trên cấp độ mà tiên tri Mi-chê đã từng sống. Vào 1902 J.P.Peters khám phá "Ngôi mộ sơn của Marissa" ngày này trở nên nổi tiếng, khoảng vài trăm feet đôgn bắc Marissa. Những ngôi mộ này vượt xa các ngôi mộ khác tại Palestine về vẻ đẹp và kiểu dáng. Đó là những ngôi mộ tư nhân của di dân người Si-đôn sống tại Mareshad khoảng thế kỷ thứ ba trước Công nguyên.
    MARI Một thành phố cổ quan trọng trên khoảng giữa sông Ơ-phơ-rát, ngày nay mang tên là Tell Harari. Vị trí chiến lược ở chỗ nó là thành phố ở nửa đường của Carchemish và Ba-by-lôn.
    Giáo sư Andre Parrot bắt đầu khai quật trên mô đất 300 acres vào năm 1933, và trong nhiều chiến dịch ông đã khám phá rất nhiều vật chất miêu tả đời sống trong thời đại phụ hệ. Ông phát hiện một cung vua của Zimri-lim là vua xứ Mari, cung vua này choán 7 acres với hơn 250 phòng và sân, ngoài ra còn có các thính phòng, phòng hành chánh, và chỗ ở cho các quan chức đến viếng từ các vùng đất khác. Trong số đó có 2 phòng là phòng nhà trường được dùng để dạy bọn trẻ đọc, viết và làm toán số học nhằm huấn luyện chúng vào đời, nhất là để trở thành thầy thông giáo tương lai. Tại trung tâm cung vua là nhà nguyện riêng của vua, ở đó có ba sân lộ thiên, sân trong cùng dài 75 feet với những bức tường cao 30feet. Trong nguyện đường nầy có bức tượng Ishtar là nữ thần về sinh nở. Nước chảy xuyên qua bức tượng và ra khỏi một cái bình đặt trên tay của nữ thần. Đây là nữ thần mà người Hê-bơ-rơ gọi là "Át-tạt-tê nữ thần của dân Si-đôn" (IVua 1V 11:33).
    Trong phòng lưu trữ hồ sơ của cung vua, người ta khai quật được hơn 20.000 phiến đá. Trong đó khoảng 5000 phiến là những bức thư gửi đến vua từ các quan chức địa phương của nước Mari. Những phiến đá còn lại là những lá thư ngoại giao từ hoàng tử và các nhà thống trị trên khắp cõi Mê-sô-bô-ta-mi và Sy-ri. Có những lá thư của Hammurabi là vua Ba-by-lôn gửi người khác vào thời Mari thất thủ là năm trị vì thứ 32 của Zimri-lim. Trong các thư của quan chức địa phương có sự nhắc thường xuyên đến các thành phố Haran, Nahor, Serug, Peleg và "mô đất Terah" - những nơi được đề cập đến trong Cựu Ước. Những tên người như Reu, Terah, Nahor, Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Giô-sép, Bên-gia-min và Đa-vít là rất bình thường trong những lá thư này đến nỗi Tiến sĩ Albright phải nói rằng:
    Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp dường như không còn là những nhân vật biệt lập, càng không phản ánh lịch sử của người Y-sơ-ra-ên sau nầy; giờ đây họ dường như là những đứa con thực sự trong thời đại của họ, mang cùng tên, di chuyển trên cùng lãnh thổ, thăm viếng cùng thị trấn (nhất là Haran và Nabor), sống với cùng những tập tục của người cùng thời đại.
    MASADA Một trong những công sự thiên nhiên đáng ngạc nhiên nhất của thế giới, là một núi mặt bàn có đỉnh phẳng và đường bệ choán diện tích 23 acres, 10 dặm phía nam Ên Ghê-đi và 2,5 dặm cách bờ tây của Biển Chết. Hình dạng của nó trông giống một con tàu khổng lồ dài 610m (2000feet) và bề ngang 1000feet ở phần giữa, nó nhọn về phía mũi đất tại phía bắc và phía nam. Hai bên của Madasa gồm toàn là vách đá cao 1000feet, phía trên đồng vắng Giu-đê cằn cỗi và 1300feet trên mực nước của Biển Chết.
    Hầu như không thể tiếp cận được, và xa rời các tuyến du lịch bình thường, lần đầu tiên nó được "Giô-na-than thầy tế lễ thượng phẩm" xây công sự như là nơi ẩn náu hoàng gia vào thế kỷ 2 TC, lúc đó nó được đặt tên là Masada.
    Vào năm 40 TC, Hê-rốt cùng gia đình từ Giê-ru-sa-lem bỏ chạy đến Masada để trốn tránh Mattathian Antigonus là người được dân Parthian tôn tên làm vua. Bỏ lại gia đình và người em của mình là Giô-sép cũng như 800 người đàn ông cùng phòng thủ Masada trong sự bao vây, Hê-rốt đi đến Rô-ma để cầu xin sự giúp đỡ. Trong trường hợp này pháo đài đó đã chứng tỏ giá trị của nó, sau khi trở về từ La-mã, Hê-rốt chọn Masada làm nơi ẩn náu và tỵ nạn trong trường hợp nếu có tấn công từ phía Cleopatra của Ai-cập hoặc trong trường hợp người Do-thái tìm cách truất phế ông và khôi phục triều đại trước trở lại nắm chính quyền.
    Giữa các năm 36 và 30 TC, Hê-rốt bao bọc toàn bộ đỉnh cao nguyên bằng một bức tường lớn màu trắng của hầm xây cuốn dài 4590feet, cao 22feet, và bề ngang 13feet, có 3 cổng và 30 tháp phòng ngự. Bức tường và những cái tháp được tô trát với trát vữa trắng. Trong lúc hoàng tộc cư ngụ ở đây, ông xây "tây cung", đó là một tòa nhà đẹp cực kỳ, rộng với phòng ngai vua, phòng khách và khu tiếp khách với các nhà tắm sang trọng, các sàn ghép màu mè và những căn hộ xa hoa. Quanh quẩn cung vua và các nơi khác trên đá mặt bàn nầy là cổng có hàng cột, tu viện, hành lang, hồ chứa nước, lùm cây, vườn hoa, và buồng kho chứa vũ khí và lương thực đủ cung cấp cho cả ngàn người đàn ông trong nhiều năm. "Và nó là một thành luỹ được xây công sự bởi thiên nhiên và bởi bàn tay con người." Sau đó, để làm cho việc ẩn náu an toàn hơn và nhiều lạc thú hơn, ông đã đưa các hoạt động kiến trúc đến vách đá cheo leo ở phía bắc Masada, tại đó ông đã dựng lên một cung treo ba tầng, đó là một kỳ quan kiến trúc của thế giới cổ đại.
    Nhưng Hê-rốt chỉ sử dụng Masada như nơi nghỉ đông không thường xuyên và có lẽ chỉ dành cho vài chuyến đi để nghỉ ngơi. Sau khi Hê-rốt mất vào năm 4 TC, một đơn vị đồn trú La-mã đóng tại Masada và sự chiếm đóng này tiếp tục cho đến năm 66 SC, là lúc bùng nổ một cuộc dấy loạn qui mô lớn của người Do-thái trên khắp vùng. Vào thời điểm ấy người Do-thái đã tấn công chớp nhoáng vào Masada và đuổi quân La-mã ra khỏi nơi này. Bởi vì cuộc đánh nhau tiếp diễn trên khắp Palestine, càng có nhiều người Do-thái đầy nhiệt huyết đã đến Maada
    Sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ vào tay Titus vào năm 70SC, một số ít người Do-thái sống sót sau khi trốn thoát được sự phu tù đã tìm cách băng qua đồng vắng Giu-đê để đến Masada và gia nhập cùng những người yêu nước với quyết tâm tiếp tục chiến đấu vì tự do. Vào mùa thu năm 72 SC, viên đại tướng La-mã là Flavius Silva dẫn quân lê dương thứ 10 cùng với quân đội dự bị và hàng ngàn tù binh chiến tranh người Do-thái đến bao vây Masada, lúc đó lãnh tụ của các tín đồ Do-thái giáo Xê-lốt là ông Ê-lê-a-sa đã phòng thủ Masada. Những con người yêu nước này đã phòng ngự trong nhiều tháng trời, cuối cùng thì người La-mã xây xong một dốc thoai thoải to lớn bằng đất đi lên đỉnh núi, dộng những phiến gỗ nặng vào tường và phóng hỏa vào công sự, những con người phòng thủ thấy rằng họ không thể chống cự được nữa. Ê-lê-a-sa đã đọc một bài diễn thuyết trong đó ông trình bày nỗi khủng khiếp về vận mệnh đang chờ đón họ là bị bắt làm tù binh, và khẩn cầu họ hãy tự sát hơn là rơi vào tay kẻ thù. Đội quân đồn trú đồng ý.
    Ôm lấy người thân yêu, rồi dùng gươm hoặc dao găm, họ dâm lẫn nhau những nhát chí tử. Gom góp tất cả tài sản rồi chất đống và đốt. Ngày hôm sau họ rút thăm chọn ra 10 người để giết những người còn lại. Khi 10 người ấy làm xong công tác, một lần nữa họ rút thăm chọn ra một người để giết 9 người kia rồi tự sát. Trong sự yên lặng, kẻ thù chẳng nghi ngờ điều gì, đó là một trong những bi kịch thống thiết nhất trong lịch sử nhân loại.
    Ngày hôm sau, 15 tháng 4 năm 73 SC, người La-mã đã chiếm pháo đài mà họ đã tốn công sức bao vây suốt thời gian dài, họ chỉ tìm thấy 2 phụ nữ, 5 trẻ em còn sống và ẩn núp, cùng với 960 xác chết. Một sự yên lặng đáng sợ đã thay chỗ cho sự huyên náo mà họ dự kiến.
    Khi quân Lê dương thứ 10 nhổ trại và tiến quân ngược về Giê-ru-sa-lem, một ít binh lính ở lại canh gác pháo đài trong vài năm, sau đó bỏ hoang Masada và biến thành đống hư tàn trong suốt 19 thế kỷ tiếp sau đó.
    Địa điểm lần đầu tiên được nhận ra bởi Edward Robinson vào 1838, và sau đó các nhà thám hiểm khác đã đến viếng và mô tả về nó. Tuy nhiên, sự quan tâm lớn được nhắm vào Masada vào 1953 vào lúc S.Guttman lần ra dấu vết "con đường mòn ngoằn ngoèo" ở phía đông, ở đó có hệ thống cấp nước của Hê-rốt, lập ra được đường nét tổng quát của các tòa nhà và dẫn dắt những đoàn nghiên cứu của thanh niên vượt bao gian nan để đi bộ đến Masada. Ông kêu gọi hãy tiến hành công cuộc khai quật quy mô lớn vì đó là địa điểm quan trọng.
    Một cuộc thăm dò khảo cổ học chu đáo được thực hiện vào 1955-1956 bởi một đoàn thám hiểm Y-sơ-ra-ên hỗn hợp bao gồm nhà khảo cổ học M.Avi-Yonah, N.Avigad, I.Dunnayevsky và những người tình nguyện khác. Tiếp sau đó là ba mùa khai quật qui mô lớn từ 1963 đến 1965 dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Yegael Yadin, tài trợ bởi Đại học Hê-bơ-rơ, Hội Thám Hiểm Y-sơ-ra-ên, và Ban Cổ Vật Y-sơ-ra-ên và Viện Bảo Tàng. Những quỹ tư nhân đến từ nước Anh cộng thêm một lời thông báo ngắn trên tờ báo Giê-ru-sa-lem Post và một loạt những bài viết xuất sắc của Patric O'Donovan trên tờ "Nhà quan sát Luân-đôn" đã mang lại đầy đủ ngân quỹ và hàng trăm thanh niên tình nguyện - người Do-thái hoặc ngoại bang đến từ Y-sơ-ra-ên và 28 quốc gia khác trên thế giới.
    Một địa điểm làm trại được chọn ở phía tây, tại chân núi của dốc thoai thoải, gần căn cứ của trại lính La-mã ngày xưa. Với sự giúp đỡ tài tình của Đội Công binh, mặt đất được san bằng và chuẩn bị cho trại cơ sở. Các tòa nhà được xây dựng để làm văn phòng và xưởng của đoàn viễn chinh và lều trại được dựng lên cho các thành viên nhân viên thường trực và những người tình nguyện. Khi mọi thứ đã sẵn sàng, việc khai quật một trong những địa điểm khảo cổ trên thế giới bắt đầu.
    Hệ thống nước . Một tổ thanh niên tình nguyện leo dọc dốc bắc phía dưới của tảng đá khổng lồ để khảo sát hai dãy trông giống những cái hang đen ngòm, dãy này ở phía trên dãy kia. Người ta chứng minh được đó là 12 hồ chứa nước hình vuông khổng lồ được đẽo thành hai hàng song song. Sau khi dọn sạch, mỗi hồ chứa ước tính có dung tích 3964,3 m3. Cùng lúc 12 hồ chứa có thể chứa tới 1.400.000feet khối nước. Trên hai sông cạn, Hê-rốt xây hai đập nước để làm chệch dòng nước mưa đi vào một kênh đào lộ thiên dẫn vào các hồ chứa nầy. Nước từ các hồ chứa được mang bởi các đầy tớ và lừa lên một dãy hồ chứa khác ở trên đỉnh cao nguyên.
    Tường . Các nhà khai quật phát hiện toàn bộ đỉnh của Masada đều được bao bọc ngoại trừ mũi nhọn ở phía bắc với một bức tường hầm xây cuốn (khoảng không gian bên trong bức tường chia ra thành nhiều căn buồng). Chu vi của nó đo được 4590feet rất khớp một cách chính xác với 7 stadia theo cách tính của sử gia Josephus. Bức tường có 70 phòng, 30 tháp và 4 cái cổng tinh xảo.
    “Cung Treo" Ba Tầng của Hê-rốt . Tại mũi cực bắc của Masada, tại một nơi trên vách đá cheo leo, các nhà khai quật tìm thấy biệt thự hoàng gia ba tầng của vua Hê-rốt. Cung điện xa hoa của ông có được khí hậu mát nhất, thiên nhiên tạo lợi thế tối ưu cho việc phòng thủ, từ cung treo có thể nhìn thấy rõ khắp vùng chung quanh.
    Tầng trên , được dùng làm nơi ở của Hê-rốt, có 4 căn hộ rộng và trang trí nhiều, vài hành lang, và một bao-lơn rộng hình bán nguyệt, trải dài đến mép vách đá. Tất cả sàn đều lát ván ghép màu trắng hay đen, sắp xếp theo các mô hình hình học.
    Tầng giữa , cách tầng trên 60feet, là một cái đỉnh hình tròn có mái chống bằng cột, được thiết kế làm nơi thư giãn và giải trí. Quang cảnh nhìn từ đây thật tuyệt vời.
    Tầng dưới , cách tầng giữa 50feet, bao gồm một căn hộ xây công phu, có nhiêù phòng, nhà tắm riêng trên diện tích 54feet x 54feet, bao quanh bằng hai dãy cột tạo thành hàng cột đôi. Các bức tường làm bằng đá hoa giả lắp đá quý. Những tranh tường tráng lệ trang trí bức tường phía nam được sơn kỹ đến nỗi chúng vẫn còn nguyên suốt 2000 năm. Tại đây Hê-rốt có thể thưởng ngoạn cùng với bạn bè, nhà tắm giúp ông sảng khoái, rồi dự yến tiệc, hay thong dong tựa vào cột hoặc tường hoa trong lúc đưa mắt khắp cảnh trí quanh mình.
    Cầu thang trong nối liền ba tầng, được thiết kế kín đáo. Một bức tường gia cố thật chắc cao 80feet được xây trên vách cheo leo phía dưới tầng dưới của ngôi biệt thự treo.
    Tây cung . Ngoài biệt thự hoàng gia ba tầng, Hê-rốt xây dựng một cung lễ chính thức, chủ yếu gọi là "hoàng cung" trên triền núi phía tây của Masada. Tòa nhà lớn nhất trên đỉnh núi này gồm bốn chái, choán diện tích khoảng 3345,5m2 (36000feet vuông). Trong cung có các căn hộ hoàng gia, xây quanh một sân trung tâm lớn và đại sảnh tiếp tân trang hoàng tráng lệ dẫn vào trong phòng ngai vua. Trong đó có khu nhà hành chánh, các căn hộ xa hoa, các phòng khách, các phòng tắm xa xỉ có bồn tắm, một hồ nước lạnh, các phòng phục vụ gồm một nhà bếp với các lò nấu lớn đủ để cùng lúc có thể nấu tử 10-12 nồi. Buồng kho dài 64m (210feet). Ba cung điện nhỏ trang hoàng lộng lẫy ở gần đó có thể là nhà ở của thành viên trong hoàng tộc. Phía bắc của ba cung điện nhỏ là hai tòa nhà hình chữ nhật, hiển nhiên là trung tâm hành chánh và nhà ở của các viên chức cao cấp.
    Nhà tắm. Phía nam tây cung là một nhà tắm rộng lớn với sân rộng tại đó người ta có thể viếng thăm, luận bàn việc đời hoặc chỉ la cà cho hết thì giờ. Buồng trước trang trí đẹp được dùng để thay quần áo. Căn phòng lớn nhất là một phòng tắm nóng, bên dưới là một sàn nhà khác. Giữa hai sàn nhà có hơn 200 cây cột để gia cố sàn nền và hình thành một khu đốt lửa để tỏa ra hơi nóng. Sát bên phòng tắm nóng là phòng tắm ấm và kế bên nữa là phòng tắm lạnh. Đó là một mô hình phòng tắm thượng lưu thịnh hành trong thời La-mã đế quốc.
    Nhà kho . Phức hợp nhà kho nằm phía đông nam nhà tắm, gồm hai tòa nhà rộng hình chữ nhật xây bằng những phiến đá mỏng. Tòa nhà phía đông có 4 phòng, phòng rộng ở phía nam có 11 phòng hẹp dài một cách đáng ngạc nhiên. Bắp, rượu, dầu ăn, bột, đậu và trái cây các loại - mỗi thứ được chứa trong buồng riêng bằng những bình chứa đặc biệt - được bảo quản cẩn thận và còn trong tình trạng tốt vào lúc người La-mã tiếp quản. Có những vò rượu trên quai có khắc câu gửi đến Hê-rốt là vua xứ Giu-đê vào năm 19TC. Những bình chứa khác mang chữ khắc bằng tiếng Hê-bơ-rơ và A-ram. Nhiều khí mảnh thời Hê-rốt đã được những người phòng thủ Masada sử dụng.
    Chung cư . Chung cư rộng lớn ngay phía nam buồng kho có nhiều căn để ở giống những căn được xây xung quanh sân trung tâm của tây cung. Mội đơn vị cư trú có một sân riêng và hai phòng nhỏ, có lẽ là nhà ở dành cho các quan chức cấp cao.
    Những tòa nhà khác nhỏ hơn, chẳng hạn như nhà hội và nơi tắm lễ thì nằm sát bên bức tường hầm xây cuốn ở phía tây nam.
    Hài cốt của người Do-thái theo phái Xê-lốt . Trong lúc Eleazar ben Ya'ir và gần 1000 thành viên phái Xê-lốt người Do-thái sống tại Masada, họ sử dụng hạn chế hai tòa nhà lớn thuộc cung điện, các dãy nhà ở, buồng kho, nhà tắm, nhà bếp, nhà hội và các nhà nhỏ khác. Tuy nhiên, nhiều người đã sống trong những căn phòng rộng bên trong bức tường và tháp của hầm xây cuốn, và sống trong những kiến trúc khiêm nhường nhất do chính họ dựng lên trên khoảng đất trống.
    Ngay khi dọn sạch đống gạch đổ nát từ khu nhà tắm riêng ở tầng dưới trong cung du ngoạn của Hê-rốt, các nhà khai quật tìm thấy ba hài cốt nằm trên bậc thang gần hồ nước lạnh. Một hài cốt là của người đàn ông độ 20 tuổi, có lẽ là một trong những viên chỉ huy tại Masada. Gần đó là hàng trăm vảy bạc của áo giáp, hàng chục đầu mũi tên bằng sát, những đoạn của khăn trùm đầu cầu nguyện, một mảnh sành khắc bằng ký tự Hê-bơ-rơ. Yadin nói: "Trên bậc thang cũng có bộ xương của một thiếu phụ, với da đầu còn nguyên vẹn nhờ bầu không khí hết sức khô ráo. Mái tóc đen của cô ta thắt bím rất đẹp trông giống như vừa mới chải bới xong. Kế bên là lớp trát vữa bị hoen ố trông giống như máu. Bên cạnh thiếu nữ là đôi dép da có kiểu dáng tinh xảo và đúng thời trang lúc ấy. Bộ xương thứ ba của đứa bé. Không còn nghi ngờ gì, cặp mắt chúng ta đang nhìn vào hài cốt của những người đang phòng vệ Masada… Ngay cả những cựu chiến binh và người hay giễu cợt trong vòng chúng ta phải đứng ngây ra và nhìn chăm chăm với sự sợ hãi.
    Trong tầng giữa của biệt thự cung điện, người ta tìm thấy hàng trăm mũi tên chất thành đống và có lẽ định châm lửa đốt. Những mũi tên khác được tìm thấy trong tây cung và những nơi khác của Masada.
    Những bộ sưu tập lớn về đồng tiền được tìm thấy trong tòa nhà công cộng của Masada, chẳng hạn như nhà kho, nhà tắm, nhà tắm lễ, lò làm bánh. Hầu hết những đồng tiền đều mang hình lá nho ở mặt này và hình ly tiệc thánh ở mặt kia. Câu khắc bằng tiếng Hê-bơ-rơ đọc là: "Vì tự do của Si-ôn." Trong một cái túi trên sàn nhà, người ta tìm thấy 38 siếc-lơ bạc và nửa siếc-lơ bạc được đúc vào năm thứ 4 của cuộc nổi dậy, di tích của cái túi vải còn dính vào các đồng xu. Gần đó là một lớp tro dày, một cái hộp bằng đồng thiếc, trong đó có 6 đồng xu siếc-lơ bạc và 6 đồng xu nửa siếc-lơ.
    Trong hai dãy nhà kho lớn có hàgn trăm bình chứa bị vỡ có chứa thức ăn còn sót lại. Nhiều cái bình mang nhãn hiệu mô tả nội dung bằng tiếng A-ram hay Hê-bơ-rơ. Một số bình mang câu khắc bằng tiếng Hê-bơ-rơ, cho biết tên của sở hữu chủ. Vài khí mạnh mang ký tự Tav, tiêu biểu cho từ Hê-bơ-rơ là Truma ("đặc quyền của thầy tế lễ") biểu thị rằng những người phòng thủ Masada tuân thủ nghiêm ngặt vào những điều răn chẳng hạn như việc dâng phần mười này. Nhiều cái đĩa mà người phòng thủ dùng để ăn bữa được làm bằng đá tương tự như đồ đá được tìm thấy tại Giê-ri-cô thời kỳ đầu.
    Trong một buồng kho chứa thiếc và các kim loại khác. Vài buồng kho thì hoàn toàn trống, chẳng có khí mạnh hoặc dấu hiệu gì về ngọn lửa, như vậy trông có vẻ tạo cho ta niềm tin vào cách giải thích của Josephus rằng, kho lương thực nào đó cố tình bỏ lại để người La-mã biết rằng những người phòng thủ Masada chết vì sự chọn lựa của chính họ chứ không phải chết đói. Các buồng kho không bị hư hại hiện nay có lẽ là một trong những cái buồng mà người Xê-lốt đã để lương thực, sau đó người La-mã chiếm và sử dụng só lương thực nầy.
    Trong 110 phòng dọc bức tường hầm xây cuốn, và trong những căn nhà của phái Xê-lốt, các nhà khai quật tìm thấy những đống tro tàn có tàn tích của quần áo, dép, đèn, lược và vật dụng "kể về câu chuyện…có lẽ chỉ vài phút trước sự kết thúc, từng gia đình đã cùng gom góp các vật tùy thân ít ỏi rồi nổi lửa thiêu đốt tất cả như thế nào…những đống tro tàn này có lẽ là những cảnh tượng làm mủi lòng chúng tôi nhất trong những cuộc khai quật."
    Khám phá gây xúc động nhất là những đoạn của 14 cuộn da dê, trong đó gồm một phần của các sách Sáng Thế Ký, Lê-vi Ký, Phục Truyền luật lệ ký, Thi Thiên, Ê-xe-chi-ên, mà về bản văn cũng như cách đánh vần thì giống y như Kinh Thánh tiếng Hê-bơ-rơ truyền thống. Họ cũng tìm thấy một đoạn của sách Jbilees nguyên gốc bằng tiếng Hê-bơ-rơ đã bị thất lạc từ lâu, một bản của sách Truyền đạo (Sự khôn ngoan của Ben-Sira), nguyên gốc bằng tiếng Hê-bơ-rơ đã thất lạc, và một phần của cuộn giống y với một cuộn của những Cuộn Biển Chết. Cuộn này dường như nói lên rằng, ít nhất là một số tín đồ khổ tu dòng Essence đến từ Qumran đã tham gia cuộc dấy loạn cùng với tín đồ Xê-lốt. Trong số khoảng 700 mảnh sành có câu khắc được phát hiện, thì 11 mảnh vỡ nhỏ gây sự quan tâm hơn cả, mỗi mảnh mang một tên khác nhau, nhưng đều được viết bởi một người. Một mảnh vỡ có ghi tên "Ben Yair" rất có thể là tên của viên chỉ huy gan dạ. Thực ra những mảnh sành có câu khắc này có thể là do 10 người đàn ông sống sót cuối cùng vẽ để quyết định ai là người trong số họ sẽ giết những người kia trước khi tự sát.
    Phần lớn Masada đã được làm cho dễ tiếp cận một cách hấp dẫn đối với du khách ngày nay bằng cách lắp đặt một ô-tô cáp có thể đưa du khách đi vùn vụt trong vài phút từ Biển Chết đến đỉnh cao nguyên. Khách tham quan có thể thưởng ngoạn cảnh đẹp khắp phía bắc, tây, nam, khắp vùng sa mạc xung quanh đồng vắng Giu-đê, trên độ cao đến nín thở. Về phía đông là Biển Chết xanh biếc cùng bán đảo El Lisan màu trắng xám trông lạ mắt, xa hơn là ngọn núi Mô-áp, từ đó có thể nhìn xuống các công sự bao vây và trại khác nhau của người La-mã và có thể bách bộ xuyên qua các cung điện của vua Hê-rốt, tham quan những nhà tắm cá nhân, chiêm ngưỡng đại sảnh có hàng cột, sàn nhà bằng đá hoa hay ván ghép, những bức tường đầy màu sắc của vua. Du khách có thể ngồi trong nhà hội của người Do-thái, tại đó người ta đã phát hiện những mảnh, đoạn của cuộn Kinh Thánh từ thế kỷ 1 SC, ngắm nhìn những bức tường vừng chắc của pháo đài, những cái cổng kiến trúc cầu kỳ. Bằng trí tưởng tượng, du khách có thể sống lại thời kỳ căng thẳng và khủng khiếp của thành viên Xê-lốt, đã cố thủ trên pháo đài núi, nhìn xuống các binh sĩ La-mã cùng với các phu tù Do-thái bị bắt tại Giê-ru-sa-lem vào 70 SC, thế nào họ đã xây dựng cái dốc thoai thoải bằng đất, để cuối cùng trở thành phương tiện định đoạt số phận của họ.
    Du khách dễ dàng rơi vào sự quyến rủ của Masada, và hiểu được dễ dàng tại sao nó trở thành nơi hấp dẫn lớn đối với du khách, một nơi thiêng liêng cấp quốc gia đối với Y-sơ-ra-ên và là nơi lôi cuốn hàng ngàn thanh niên Do-thái của thế hệ chúng ta leo lên đỉnh của nó mỗi chuyến hành hương trang trọng. Trên đỉnh cao của Masada, các tân binh của đơn vị thiết giáp thuộc lực lượng quốc phòng Y-sơ-ra-ên hiện đại, đã tuyên thệ trung thành với câu nói làm cảm động lòng người: "Masada sẽ chẳng bao giờ thất thủ nữa!"
    MEDEBA Một trong những thành phố quan trọng của Mô-áp, và là quê hương theo truyền thuyết của Ru-tơ và Ọt-ba, tại nơi đây, một bản đồ ghép lớn về Đất Thánh được phát hiện vào năm 1896. Bản đồ có kích thước 40 x 60 feet, mô tả vùng đất từ Ai-cập đến Constantinople. Địa danh được ghi bằng các ký tự Hy-lạp, biển màu xanh lá cây đậm, bình nguyên màu nâu nhạt, núi màu nâu sẫm. Biển Chết, sông Giô-đanh và Giê-ru-sa-lem còn được bảo tồn tốt. Bản đồ ấy hiện đang đặt tại sàn nhà của nhà thờ Hy-lạp tạ Masada, được trưng bày cho hàng ngàn du khách đến viếng thành phố, nhà thờ cách phía đông núi Nê-bô khoảng 3 dặm.
    MEGIDDO "Thành phố xe ngựa" canh giữ lối đi vào đèo Mê-ghi-đô, được Tiến sĩ G.Schumacher khai quật vào 1903-1905. Ông đào một đường hào cắt ngang mô đất có diện tích 13 acres. Những khám phá kém quant rọng bị lu mờ bởi sự khám phá một con dấu rất đẹp bằng ngọc thạch anh với dòng chữ "Shema, quan chức của Giê-rô-bô-am". Con dấu thuộc thời đại Giê-rô-bô-am I (931 - 910 TC), và có lẽ là con dấu của quan tổng đốc thành phố.
    Vào 1925, Tiến sĩ Henry Breasted tổ chức một đoàn thám hiểm do các Tiến sĩ Rockefeller, phó Tiến sĩ Clarence S.Fisher chỉ đạo công việc cho tới năm 1927 và ông P.L.O.Guy tiếp tục công việc cho tới 1934 là năm Gordon Laud đảm nhận trách nhiệm chỉ huy đoàn.
    Nhiều khám phá được thực hiện tại Mê-ghi-đô. Trong số đó, trước hết là mảnh vỡ của một bia có khắc tên Sheauk bằng chữ tượng hình cổ đại - Si-sắc được nói đến trong Kinh Thánh như là người đã dùng Mê-ghi-đô như là căn cứ để thực hiện thành công cuộc đột kích vào Palestine (IVua 1V 14:25, 26). Điều này đã chứng minh một cách sống động lời kể trong Kinh Thánh, Tiến sĩ Breasted đã nói một cách xúc động: "Hãy tưởng tượng cảm xúc của tôi khi tôi ngồi trên mô đất và đọc tên Si-sắc trên đài tưởng niệm bị vỡ nầy, và hồi tưởng cách sống động khi tôi là một đứa bé học viên Trường Chúa Nhật mà lúc ấy tôi đọc câu chuyện của chính vị Si-sắc này đã tấn công Palestine và mang đi các chiến lợi phẩm."
    Trên cấp độ cư ngụ thứ tư của Mê-ghi-đô - cấp độ của thời vua Sa-lô-môn - các nhà khai quật tìm thấy chuồng ngựa rào kín đủ chứa 450 ngựa dùng kéo chiến xa. Những chuồng ngựa này được sắp xếp thành khu cho nên mỗi đơn vị có các ngăn riêng, mỗi ngăn chứa 24 con ngựa. Mỗi dãy có 12 ngăn đối diện nhau, tại đầu mỗi dãy có máng đá đựng cỏ hay hạt ngũ cốc cho ngựa ăn. Giữa các dãy chuồng là lối đi trên đó đặt các cỗ xe ngựa hoặc để kéo các cỗ xe ngựa. Gần đó là những khoảnh đất rộng để tập luyện ngựa, kế cận là đống đổ nát của nhà ở dành cho người giữ ngựa.
    Sa-lô-môn có bốn ngàn ngăn chuồng để giữ ngựa và xe ngựa, và mười
    hai ngàn ngựa để trong thành chứa xe ngựa, và gần bên vua, tại Giê-
    ru-sa-lem (IISu 2Sb 9:25)
    Tại cấp độ thứ 7, vào mùa xuân năm 1937, người ta khám phá một bộ sưu tập tuyệt đẹp gồm gần 400 món đồ ngà voi điêu khắc trong tầng hầm cung điện được xây vào khoảng 1150 TC. Đó là những tấm thẻ, hộp, bàn đánh bài hay cờ, tách, chén, muỗng, lược, hạt chuỗi, vòng, những bức tượng nhỏ và những món đồ khác đủ loại, đa dạng hơn cả những gì được tìm thấy ở Sa-ma-ri. Về sự đa dạng và tay nghề thì bộ sưu tập nghệ thuật này có ý nghĩa quan trọng tương quan với nhiều đoạn Kinh Thánh nói về ngà voi.
    MEIRON Nhằm triệt hạ sự kháng cự của người Do-thái, người La-mã đã tàn phá Giê-ru-sa-lem và đền thờ tại đó vào năm 70 SC, tàn phá Masada vào &#SC, tái thiết Giê-ru-sa-lem như là Aelia Capitolina vào 130 SC, đè bẹp cuộc khởi nghĩa cuối cùng của Bar Kochba vào năm 135 SC. Sau những bi kịch này là các lãnh tụ người Do-thái, cùng với đại đa số cư dân Do-thái còn sống sót bỏ chạy khỏi xứ Giu-đê để đến Ga-li-lê. Vào cuối thế kỷ 2 SC, Ga-li-lê thượng lác đác các ngôi làng người Do-thái, một trong bốn làng lớn nhất là Meiron, toạ lạc tại chân đồi phía đông của núi Meiron là ngọn núi cao nhất của Y-sơ-ra-ên (3600feet trên mực nước biển). Lượng mưa dồi dào và về phía đông bắc là một dãi đất rộng lớn trong đó ô-li-ve, cây vả và chà là tươi tốt sum suê.
    Trong hai thế kỷ tiếp theo dân chúng đắp cao đất, đào kênh, xây đường phố và hồ chứa nước, và mở rộng việc định cư lên đến đỉnh núi mà tại đó sau rốt họ đã dựng lên nhà hội lớn nhất tại Ga-li-lê. Cùng lúc ấy tính thiêng liêng của Meiron tăng lên nhờ vào một số hiền sĩ nổi tiếng ở đó nghiên cứu Kinh Thánh một cách sâu rộng. Hợp tác với các thầy giáo kiêm học giả khác, họ soạn ra Bộ luật Talmud của người Palestine cùng với bộ luật Talmud của người Ba-by-lôn là Bộ luật truyền khẩu gồm những tranh luận pháp lý liên quan đến các tiểu tiết trong đời sống hằng ngày. Lời truyền khẩu của người Do-thái nói rằng tại đây ra-bi Simon ben Yochai biên soạn cuốn Zohar ("Sách Sáng Chói") mà thuyết huyền bí của người Do-thái đã được phác thảo từ nguồn cảm hứng của sách nầy. Meiron bị bỏ hoang vào năm 360 SC vì những lý do chưa được biết đến.
    Eric và Carol Myers là các giáo sư Khoa Tôn Giáo của Đại học Duke, đã khai quật tại Meiron từ năm 1971 đến 1975. Trên đỉnh núi Meiron, họ tìm thấy nhà hội lớn có từ thế kỷ 3 SC; 2/3 mặt chính diện nhà hội được xây bằng đá đẽo, vẫn còn đứng nguyên theo đúng chiều cao của mày cửa. Trong một khu vực khác họ tìm thấy một tháp hình chữ nhật, vẫn còn nguyên độ cao 7m (20feet) ở vài điểm. Tại khu cư trú họ tìm thấy một tòa nhà công nghiệp gia đình có nhiều phòng, một phòng trong số đó trông có vẻ giống văn phòng hoặc phòng chờ. Trong một nội thất ta thấy những băng dài bằng đá để làm việc và một bục đá hình bán nguyện với các miếng đá có cạnh cong dường như là được dùng để làm thùng có liên quan đến việc buôn bán nổi tiếng về ô-li-ve và dầu ô-li-ve của Meiron. Trong cái phòng khác người ta phát hiện 19 cái bình lớn vẫn còn chứa các chất nguyên thủy như lúa mạch, hồ đào và hạt đậu đũa - phần lớn còn nguyên vẹn nhưng trong tình trạng hóa than. Trong cùng căn phòng người ta tìm thấy một cái chuông đồng thiếc và hai mô hình thủy tinh lớn một cách bất thường, đường kính gần 35,6cm (14 inches). Trong một ngôi mộ nhiều khoang ở phía tây nhà hội, người ta tìm thấy gần 100 bộ xương bị rời ra thành từng mảnh. Trong một ngôi mộ của thế kỷ 1 SC, người ta tìm thấy một bầu mực bằng sứ, có lẽ được chôn cất chung với một thầy thông giáo. Trong một ngôi mộ khác có một chìa khóa kim loại lớn mà ai đó gợi ý rằng rất có thể nhằm ý định đưa ra cách tiếp cận vào "cổng thiên đình."
    Vào những năm sáng sủa hơn, tính thiêng liêng của Meiron được tăng thêm nhờ vào sự mai táng ra-bi Simon ben Ypchai, con của ông là ra-bi Eleazer; ra-bi Akiba; và ngay cả các ra-bi Hillel và ra-bi Shamai - tât cả là học giả lừng danh về sự diễn giải bộ luật Môi-se và bộ luật Talmud.
    Vào ngày giỗ của ra-bi Simon ben Yochai, Meiron trở thành trung tâm hành hương của người Do-thái, có tầm quan trọng chỉ đứng sau Giê-ru-sa-lem mà thôi.
    MEMPHIS Thủ đô của Ai-cập vào thời kỳ cổ xưa nhất, và là thành phố thương mại cổ đại lớn nhất của Ai-cập, nằm tại bờ tây sông Nile, cách Cairo 14 dặm về phía nam. Người thống trị đầu tiên của Liên hiệp Ai-cập là Menes, đã xây dựng thành phố nầy.
    Tại đây Áp-ra-ham và Sa-ra và người cháu trai là Lót đã đến cách đây 4000 năm. Tại đây Giô-sép đã bị bán như là tên nô lệ và sau đó trở thành tể tướng của Ai-cập. Đây cũng là nơi Môi-se được lớn lên, học hỏi mọi khôn ngoan của Ai-cập, cũng là nơi Môi-se và A-rôn đã đứng trước Pha-ra-ôn, yêu cầu vua cho dân Y-sơ-ra-ên ra đi.
    Tại Memphis, "vua Pha-ra-ôn và tất cả quan chức, mọi người dân Ai-cập thức dậy trong đêm, có tiếng khóc thảm thiết trên đất Ai-cập vì không có nhà nào mà không có người chết" (XuXh 12:30).
    Là một trung tâm văn hóa chính, Memphis chủ yếu thờ thần Ptah và bò đực linh thiêng Apis. Theo tín ngưỡng của người Ai-cập thì Ptah là "tinh thần của vũ trụ" là vị thần sáng tạo ra các thần khác và con người bằng sự suy nghĩ. Vị thần đặc biệt được kính trọng bởi nghệ nhân, thợ thủ công lành nghề, và người trí thức. Osiris là vị thần của người sống và người chết. Hầu hết các giai đoạn của đời sống ở đây và sau nầy đều do Osiris kiếm soát bằng cách này hay cách khác. Đối với Bò đực linh thiêng Apis, một đền thờ tráng lệ đã được xây dựng được biết như "nhà thờ chính tòa" của Ai-cập. Hai đền thờ đồ sộ này - của Ptah và Apis - được liên kết bằng một đại lộ dài của tượng quái vật đầu đàn bà mình sư tử.
    Vào thời cực thịnh thì thành phố có kích thước dài khoảng 8 dặm và ngang 4 dặm, với dân số gần nửa triệu.
    Memphis bị tàn phá vào năm 70 SC bởi sự xâm lăng của Ả-rập và nhiều thành phố mới của Ả-rập được xây dựng trên những đống đổ nát của nó, tên là Fostat, trên bờ đông sông Nile. Di tích duy nhất của Memphis "là ở dạng những kiến trúc đổ nát, những khối granít, những bức tượng và đài tưởng niệm đổ nát, và những đường phố có hàng cột thạch cao tuyết hoa, những thứ ấy đều bị chôn vùi từ 10-12feet dưới lớp cát trôi mãi đến nửa cuói thế kỷ 19, lúc đó các nhà khai quật mới có thể cho thấy sơ đồ bố trí của Memphis và đưa ra nhiều món đồ lý thú đã chôn vùi dưới lớp cát sa mạc từ 1200 đến 2000 năm.
    Nhiều nhà khai quật khám phá tàn tích của bốn ngôi đền thờ Ptah, Proteus, Isis và Apis, đều do Psammetichus. Họ tìm thấy tàn tích của hai cung điện và một pháo đài có diện tích 2 acres và có một sân rộng khoảng 929m2. Sau đó họ tìm thấy một tượng khổng lồ của Rameses II và một bức tượng khác nhỏ hơn cũng của ông vua nầy, và một tượng quái vật đầu đàn bà mình sư tử bằng thạch cao tuyết hoa, to lớn và đẹp, dài 26feet, cao 14feet, cân nặng 80 tấn. Vào năm 1928, tác giả lúc ấy là khách của Reisner, đã nhìn họ tìm thấy những con phố rộng và lát đá, có lề bằng những hàng cột thạch cao tuyết hoa dài và đẹp. Nhưng trong số tất cả những khám phá tại Memphis hay gần Memphis thì nghĩa địa ở phía tây thành phố là cái đáng quan tâm nhất và bộc lộ nhiều điều hơn cả.
    Tại đây, dọc theo rìa sa mạc, ngoài tầm ngập lụt của nước sông Nile và để hoà hợp ý tưởng bất tử của người Ai-cập, là một nghĩa trang rộng lớn với bề ngang 2 dặm và bề dài khoảng 60 dặm, bắt đầu từ Kim Tự Tháp Abu Roash ở phía bắc và kết thúc bằng Kim Tự Tháp Lahun đông nam Fayum. Giống như một bãi tha ma khổng lồ 17 dặm thuộc "thành phố yên lặng của kẻ chết" thì hết sức chen chúc các hài cốt khoảng 40 đến 50 triệu thú vật, đàn ông, đàn bà, trẻ con và cả Pha-ra-ôn nữa. Một só hài cốt chỉ được phủ bằng lớp cát, một số được chôn trong mồ mã được đào kỹ lưỡng, một số nằm trong các mộ hình thuỗng được xây kiên cố, và một số khác trong hơn 70 kim tự tháp - một nghĩa địa hoang đường mà người cổ đại đã bỏ các xác chết tại đó. Có lẽ không có một nghĩa trang nào trên thế giới lại rộng lớn và nổi tiếng như vậy. Thật là thoả đáng khi tiên tri Ô-sê kêu lên: "…Mem-phi sẽ chôn chúng nó." (OsHs 9:6) bởi vì chắc chắn là họ đã chôn cất với một quy mô chưa từng thấy ở bất cứ nơi nào trên thế giới.
    Đống hư tàn của đền thờ chính tòa của thần Apis hoặc Bò Đực Linh Thiêng đã được tìm thấy, và dưới nó người ta phát hiện một đại lộ ngầm có chiều dài 320feet. Những cuộc khai quật sau đó đã nâng chiều dài tổng cộng lên 1120feet. Bố trí dọc hai bên đại lộ nầy là 64 cái khoang mai táng lớn. Tại trung tâm của mỗi khoang mai táng là một quách khổng lồ bằng granít đỏ hoặc đen dài 12 feet, cao 9feet và rộng 6feet, mỗi quách cân nặng gần 60 tấn. Trong mỗi quách có chôn một con bò đực linh thiêng. Nhưng nhiều thế kỷ trước đây thì các ngôi mộ đã bị bọn cướp mộ tàn phá.
    Khi đi từ khoang nầy đến khoang khác trong cái thành phố đáng kinh ngạc của những con bò đực chết, Mariette tìm thấy một hầm mộ thoát khỏi bàn tay của bọn cướp bóc. Trong vữa có dấu các ngón tay của người thợ hồ đã đặt lên viên đá cuối cùng vào thời trị vì của Rameses II, trong bụi bặm là dấu chân của những ai đã giẫm lên nền nhà cách đây hơn 3000 năm. Tại đó cũng có những của lễ tạ ơn dâng lên bởi du khách đã đến viếng nơi nầy nhiều thế kỷ trước, trong số đó có phiến đá khắc chữ của con trai riêng của Rameses là thầy tế lễ thượng phẩm của Apis, là một trong những nhân vật quan trọng lúc bấy giờ. Chẳng có gì phải ngạc nhiên khi nhà thám hiểm vĩ đại đứng trên ngôi mộ và nhìn những đồ vật còn sót lại không bị xâm phạm trong 31 thế kỷ sau cùng, ông đã tràn ngập xúc động và bật khóc.
    Vẻ phô trương long trọng và sự lộng lẫy trong việc thờ cúng thần bò đực Apis được tổ chức tại Memphis và tại Thebes giải thích sự bỏ đạo của người Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng khi họ đúc một con bê và nói rằng "Hãy là thần của chúng con, Ô, Ysơ-ra-ên, đã đưa chúng tôi ra khỏi xứ Ai-cập." Họ đã quá quen thuộc với cảnh tôn thờ thần thánh, ngay cả những người cai của họ, đối với cái được coi là hóa thân của Thần tại núi Si-nai và họ đã đầu phục với sự thờ phượng mà họ tuân thủ bấy lâu nay rồi "tự mình làm hỏng bản thân, nhanh chóng xa rời đường lối mà Chúa đã răn dạy họ."
    MIZPAH Là nơi Sa-mu-ên cầu thay và đoán xét dân Y-sơ-ra-ên (ISa1Sm 7:5-6), theo truyền khẩu thì nơi nầy là Nebi Samwil, một làng mạc trên đỉnh núi trơ trọi cách Giê-ru-sa-lem 5 dặm phía tây bắc. Đó là một trong những vị trí hùng vĩ nhất của trung tâm Palestine, nhưng chưa được khai quật. Tuy nhiên, trong những năm gần đây thì sự chú ý được chuyển sang Tell en-Nasbeh nằm trên một đồi đá vôi tròn khoảng 8 dặm về phía bắc Giê-ru-sa-lem trên xa lộ đi về phía bắc đến Sa-ma-ri.
    Tiến sĩ W.F.Bade được sự giúp đỡ của Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ, thực hiện năm chiến dịch tại đây từ 1926 đến 1935 và tìm thấy những bức tường thành phố đồ sộ có độ dày bình quân là 17feet và có một chỗ với bề dày tới 26feet. Họ kết luận đây phải là những bức tường do A-sa là vua Giu-đê xây để phòng ngự các vương quốc phương bắc (IVua 1V 15:22). Họ phát hiện khoảng 80 dấu ấn trên những quai bình cùng với câu khắc "thuộc về vua" như vậy có nghĩa là những cái bình ấy là tài sản hoàng gia. Bảy cái quai bình với dấu "Mích-ba" bằng tiếng Hê-bơ-cơ cổ đã được làm sáng tỏ, nhưng điều khám phá gây xúc động nhất là một con dấu xưa trên đó khắc hình trông giống một con gà chọi và dòng chữ "Thuộc về Jaazaniah, sĩ quan của Vua." Trong mùa thứ tư họ tìm thấy một cái cổng rất đẹp hướng về Si-lô là tiêu điểm của sự thờ phượng vào những ngày đầu của Sa-mu-ên.
    NAZARETH Là thành phố mà Giô-sép và Ma-ri đã sinh sống, và là quê hương của Chúa Giê-xu cho đến lúc Ngài loan báo về tư cách Mê-si-a của mình ở tuổi ba mươi. Một phần Na-xa-rét bị tách biệt trên núi, ở khoảng giữa Biển Ga-li-lê và Địa Trung Hải, nhưng nó lại gần xa lộ thông thương giữa Ai-cập và Mê-sô-bô-ta-mi. Không nghi ngờ gì, Chúa Giê-xu đã nhìn thấy đoàn thương nhân của nhiều quốc gia đi ngang qua nơi nầy.
    Nhà Thờ Truyền Tin, theo truyền thuyết đã đánh dấu địa điểm của quê hương Ma-ri, được xây trên nền móng của một nhà thờ do Thập Tự Quân dựng lên vào thế kỷ 12. Bên dưới gian giữa nhà thờ là một nguyện đường trong đó có câu khắc "tại đây Ngôi Lời đã trở nên xác thịt" (GiGa 1:14).
    Địa điểm xác thực nhất mà Na-xa-rét liên quan với gia đình thánh là Giếng Trinh Nữ. Giếng này luôn là nguồn nước duy nhất của thị trấn. Nguồn thực sự của giếng là một con suối ở sườn đồi gần một dặm bên ngoài thành phố, từ đó một máng dẫn nước vào trong cái giếng có mái che. Rất có thể đúng là Ma-ri đã đến đó, đội bình nước trên đầu theo như truyền thống, và có lẽ thỉnh thoảng, em bé Giê-xu đi theo bà.
    NEBO Núi Nê-bô, từ núi nầy Môi-se nhìn Đất Hứa, rất có thể chính là Jebel Neba hiện nay, là một mũi núi nổi bật của dãy núi Abarim hình thành vùng cao nguyên Moab. Nó ở 12 dặm phía đông của sông Giô-đanh, và ba dặm phía tây Medeba. Nó ở độ cao 4000feet (1219m) so với Biển Chết và từ đây có thể nhìn bao quát phần lớn Palestine ngay phía tây sông Giô-đanh.
    Từ năm 394 SC, nhiều người hành hương có đề cập một nhà thờ tại đây, họ gọi đây là "một nhà thờ nhỏ", nhưng vào khoảng thế kỷ 6 SC, Peter người Iberia đã xưng đó là "một đền thờ rất to, được đặt tên theo nhà tiên tri (Môi-se) và nhiều tu viện được xây xung quanh nó." Nhà thờ được mở rộng này được tiếp tục nhắc đến cho đến 1564 SC, lúc ấy một nhà tu dòng Francis người Bồ Đào Nha đã viếng địa điểm ấy và phát hiện các tòa nhà bị tàn phá và bỏ hoang trên đỉnh núi. Lúc tác giả viếng nơi ấy lần đầu vào khoảng tháng 3 năm 1926 thì chẳng còn một dấu hiệu nào về các tòa nhà - chỉ còn một ít tàn tích của một hồ nước xây đã cạn.
    Những thầy tu dòng Francis đã tiến hành việc khai quật tại đây từ 1933 xác nhận lời tường thuật của những người du hành trước đây khi đến viếng một nhà thờ nhỏ ở địa điểm nầy. Nhà thờ được mở rộng vào cuối thế kỷ thứ 5, một trận động đất đã phá hủy nó vào cuối thế kỷ 6, rồi sau đó được tái thiết vào năm 597. Ngày nay trên núi Nê-bô ta có thể thấy đống đổ nát của nhà thờ nầy. Trên sàn nhà thờ là ván ghép, trong một nhà nguyện có những hình thú vật, cây cối rất đẹp. Những đổ nát rộng lớn của các tòa nhà tu viện chụm lại quanh nhà thờ ở phía tây, phía bắc và phía nam. Vào ngày quang đãng ta có thể đứng trên mô đất cao ở phía tây nhà thờ, nhìn khá rõ những cái tháp trên núi Ô-li-ve tại Giê-ru-sa-lem.
    NINEVEH Thủ đô nổi tiếng của đế quốc A-si-ri cổ đại, tọa lạc 280 dặm phía bắc Ba-by-lôn, trên bờ đông của sông Tigris, đối diện với Mosul hiện đại ở bên kia sông. Nó được gọi là "thành phố kẻ cướp" bời vì nó giày xéo và cướp bóc các nước khác để làm giàu. Ni-ni-ve có một lịch sử đầy thú vị những cũng nhiều bi kịch, nhất là kể từ thế kỷ 9 TC cho đến lúc nó bị tàn phá lần cuối bởi lực lượng liên minh do người Mede và người Ba-by-lôn cầm đầu vào 612 TC.
    Henry Austin Layard đã viếng đống hư tàn Ni-ni-ve vào năm 1845 và tìm thấy toàn bộ chu vi của các bức tường là 7,5 dặm. Có hai mô đất trong phạm vi bao quanh với diện tích 1800 acres. Mô đất phía nam cao 100feet có diện tích 40 acres mà người bản xứ gọi là "Nebi Yunis" (Tiên tri Giô-na). Mô đất phía bắc cao 90feet, choán diện tích 100 acres và được gọi là Kuyunjik (Lâu đài của Ni-ni-ve).
    Layard cắt những đường hào trong mô đất bắc và tìm thấy một cổng có hình sư tử hai cánh ở hai bên hông của cổng và một bức tường có khắc chữ hình nêm tên của Sennacherib. Đi sâu hơn vào trong thành phố, ông phát hiện cung điện hoàng gia của Sennacherib mà lối vào có những hàng bò đực khổng lồ có cánh. Trên mình những bò đực này có khắc chữ hình nêm các biên niên sử của nhà vua. Những đại sảnh rộng thênh thang bề ngang 40feet, bề dài 180feet dẫn vào bên trong cung vua, Layard nói:
    Trong cái công trình xây dựng đồ sộ và tráng lệ này tôi đã mở hơn 71 đại sảnh, buồng và hành lang mà các bức tường của chúng, hầu như không có ngoại lệ, đều được đóng đầy những phiến đá bằng thạch cao tuyết hoa có điêu khắc ghi chép lại những chiến trận , những chiến thắng và những chiến công vĩ đại của vua A-si-ri. Tính toán sơ bộ khoảng 9880feet hay gần 2 dặm những phù điêu nổi, với 27 cổng chính, hình thành bởi những tượng bò đực khổng lồ có cánh và tượng quái vật đầu đàn bà mình sư tử, chỉ riêng trong một phần của những tòa nhà mà tôi đã khám phá ngần ấy thứ trong những lần nghiên cứu của tôi.
    Biên niên sử của Sennacherib được khắc trên những tượng bò đực đầu người và có cánh, khắc trên đồ sành, đất sét nung hình trụ cung cấp cho ta sự giải thích tương đối hoàn chỉnh về 8 chiến dịch của Sennacherib, "gồm việc đánh chiếm và tàn phá thành phố Ba-by-lôn vào năm 689 TC và cuộc tấn công quyết liệt vĩ đại của ông xuống bờ biển phía đông Địa Trung Hải rồi qua Ai-cập vào năm 701 TC. Điều đáng nhấn mạnh đặc biệt là sự đối xử của ông với các thành phố của Palestine, là sự xâm lăng của ông vào xứ Giu-đê và sự bao vây Giê-ru-sa-lem, trong đó có dính líu đến vua Ê-xê-chia và tiên tri Ê-sai. Lời giải thích của ông khớp với lời tường thuật của Kinh Thánh được nêu trong IIVua 2V 18:13-19; EsIs 36-37 (một số trường hợp còn bổ sung). Việc bao vây và đánh chiếm Lachish, vào lúc chiến dịch của vua tại Giu-đê, được vẽ sinh động trên những bức tường hoàng cung này. Dưới tấm pa-nô tranh vẽ nầy là dòng chữ:
    "San-chê-ríp, vua của toàn cầu, vua của A-si-ri, ngồi trên ngai vua, và hồi tưởng
    việc cướp phá thành phố La-ki."
    San-chê-ríp liệt kê con số thành phố ông đã đánh chiếm và cả chiến lợi phẩm; nhưng chỉ nói ông đã nhốt Ê-xê-chia "như con chim trong lồng" và không đưa ra lý do tại sao ông lại không đánh chiếm Giê-ru-sa-lem, hoặc cũng chẳng nhắc đến tai họa giáng xuống quân đội ông đến nỗi phải lui binh vội vã mà không có được chiến thắng quyết định. Lời tường thuật trong Kinh Thánh nhìn nhận rằng các thành phố đã bị đánh chiếm và chiến lợiphẩm bị lấy đi, nhưng giải thích hết sức cặn kẽ San-chê-ríp trong lúc đóng trại lở La-ki, đã gửi một phân đội và sứ giả mang một lá thư trong đó coi thường sức mạnh của Giu-đa, chế nhạo sự tin cậy vào Ai-cập của họ, cười chê sự trông cậy Đức Giê-hô-va của họ. Kinh Thánh kể rằng lá thư ấy, được trải ra trước mặt Đức Giê-hô-va như thế nào, vua Ê-xê-chia và tiên tri Ê-sai "cầu nguyện và kêu gào lên Thiên Đàng và chuyện gì xảy ra đêm ấy."
    Trong đêm đó, có một thiên sứ của Đức Giê-hô-va đi đến trong dinh A-si-ri, và giết một trăm tám mươi lăm ngàn người tại đó. Sáng ngày mai, người ta thức dậy, bèn thấy quân ấy, kia, chỉ là thây đó thôi. San-chê-ríp, vua A-si-ri, bèn trở về ở tại Ni-ni-ve. Một ngày kia, ngườithờ lạy tại trong chùa Nít-róc, thần của mình, thì A-tra-mê-léc và Sa-rết-se giết người bằng gươm; đoạn chúng nó trốntrong xứ A-ra-rát, Ê-sạt-ha-đôn, con trai người, kế vị người. (IIVua 2V 19:35-36)
    Lời tường thuật về những ngày cuối đời của San-chê-ríp được nêu trong IIVua 2V 19:35-36, điều ấy được xác nhận và bổ sung bởi một phiến đất sét nung hình lăng trụ 6 cạnh mà Layard và Rassam đã phát hiện trong cung điện của Ê-sạt-ha-đôn mà họ khai quật trong khu nam Ni-ni-ve, nay được gọi là Nebi Yunis.
    Trong mùa xuân năm 1851, đang khi Layard và Rassam khai quật tại một phần của đền Nebo, kế cận cung San-chê-ríp, họ dọn các rác rưởi ra khỏi hai phòng lớn thông nhau và phát hiện một phần của thư viện hoàng gia do các đời vua sưu tập và dâng cho Nebo, thầy thông giáo thần thánh "phát minh nghệ thuật và khoa học" và hiểu "mọi bí ẩn liên quan đến văn học và nghệ thuật sáng tác". Hàng ngàn pho sách bằng đất sét đã có đóng góp giá trị cho Viện Bảo Tàng Anh.
    Vào năm 1853 Harmuzd Rassam tiếp tục công việc khai quật tại Ni-ni-ve, và chẳng bao lâu phát hiện cung vua Ashurbanipal, trong đó có một phù điêu hình vua đứng trên cỗ xe ngựa, chuẩn bị đi săn, các tùy tùng giao vũ khí cho vua săn đuổi thú, Trong hai phòng hình vòm cao sát bên, họ tìm thấy hàng ngàn phiến đất sét vô giá chất đống trên sàn nhà. Những phiến đá nầy được chứng minh là một phần của thư viện hoàng gia Ashurbanipal. Thầy giáo của vua đã dạy vua đọc và viết mấy ngôn ngữ. Như ông đã nói trong một dòng chữ khắc:
    Ta, Ashurbanipal, trong cung, đã học hỏi trí khôn của Nebo, toàn bộ nghệ thuật viết trên những phiến đất sét đủ mọi loại. Ta thông thạo các loại viết lách… Ta
    đọc những phiến đất sét viết hay của Sumer và của Akkadian, đó là những môn khó nắm vững được. Ta lấy làm vui thú khi đọc những câu khắc trên đá có từ trước trận lụt.
    Ashurbanipal rất quan tâm đến văn học và đeo đuổi sự uyên bác, vì vậy ngay khi lên ông, ông nhanh chóng dập tắt cuộc nổi dậy ở Ai-cập, chinh phục Ly-đi và Ba-tư, rồi sau khi thống nhất vương quốc của mình, ông tiếp tục theo đuổi sự học sâu hiểu rộng cho đến khi ông trở thành vị vua chúa hùng mạnh và sáng suốt nhất của thời ấy và là một trong những nhà bảo trợ vĩ đại cho các công trình nghiên cứu văn học. Ông đã cử các thầy thông giáo uyên bác sang Ashur, Ba-by-lôn, Cuthah, Nippur, Akkad, Erech và các trung tâm chiến lược khác trên khắp đế quốc rộng lớn của ông để thu thuập và sao chép lại những quyển sách bằng phiến đất sét về thiên văn học, lịch sử, văn phạm, địa lý, văn học, luật và y học, cùng với những bức thư, những bài cầu nguyện, những bài thơ, thánh thi, những bùa chú, những lời sấm, những từ điển, biên niên sử, các văn ab3n mua bán đất đai, các hợp đồng thương mại và biên bản pháp luật, và hàng chục các đề tài khác vì lợi ích chung hoặc riêng. Tất cả những thứ nói trên được đưa về cung điện của Ashurbanipal tại Ni-ni-ve, ở đó vua không những nghiên cứu mà còn đối chiếu, nhưng trong nhiều trường hợp những phiến đất sét mới được làm bằng song ngữ, trên đó chữ được khắc đồng nhất và lưu trữ có phương pháp "nhằm dạy dỗ nhân dân Ni-ni-ve." Lúc hoàn tất, thư viện của vua có gần 100.000 bản - một trong những loại tài sản có gía trị và vĩ đại nhất thời cổ đại. Những phòng trưng bày lớn được tìm thấy trong thư viện được người ta chứng minh là thư viện riêng và phòng triển lãm tranh của vua. Và đó chỉ là một phần của cung một vị vua lỗi lạc.
    Trong lúc đang làm việc với những phiến đất sét nầy trong Viện Bảo Tàng Anh, George Smith phát hiện phần lớn của một phiến đá kể về trận hồng thủy. Cặp mắt của ông dán chặt vào dòng chữ: "…chiếc tàu dừng trên những ngọn núi của Nizir." Dòng chữ ấy làm rúng động Smith, Gladstone, Dean Stanley và chủ doanh nghiệp của tờ báo London Daily Telegraph. Họ cử ông đến Ni-ni-ve, bằng sự tìm kiếm cần cù, ông đã phát hiện những phần khác của một phiến đất sét với 17 dòng làm hoàn chỉnh lời giải thích của người Canh-đê về hồng thủy. Sau đó ông cũng phát hiện những phiến đất sét kể về sự dựng nên trời đất và muôn vật, và vào năm 1876, ông đã xuất bản quyển sách với tựa đề "Tường Thuật về Sáng Thế của người Canh-đê."
    Có rất nhiều sự tương đồng với câu chuyện Kinh Thánh về Nô-ê và hồng thủy, và rất nhiều sự kiện giống hệt, mà theo nhiều học giả, lời kể đã làm chứng cho một tai họa như vậy thật đã xảy ra. Rất ít lời kể của người Canh-đê về sự sáng tạo thế giói trùng hợp với lời kể trong Sáng Thế Ký, tuy nhiên đó mới chỉ là khởi đầu của nhiều câu chuyện được phát hiện. Những lời kể khác gần gũi hơn với lời tường thuật trong Kinh Thánh.
    NOB Là một "thành phố của thầy tế lễ", được toạ lạc tại một chỗ nhô lên một dặm phía bắc Giê-ru-sa-lem. Sau khi hòm giao ước bị cướp, Si-lô bị tàn phá, các thầy tế lễ Do-thái bỏ trốn đến đây, mang theo áo lễ, ê-phót và xây nhà ở, và hết lòng tiếp tục chức vụ thiêng liêng của hội mạc. Đa-vít chạy trốn khỏi Sau-lơ và đến Nóp gặp A-hi-mê-léc là thầy tế lễ xin bánh. A-hi-mê-léc đã cho Đa-vít bánh thánh (bánh trần thiết) và thanh gươm của Gô-li-át rồi tiễn Đa-vít lên đường (ISa1Sm 21:1-9). Đô-e người Ê-đôm, là người chăn cừu của Sau-lơ (ISa1Sm 21:7) thông báo cho vua Sau-lơ sự kiện nầy và theo lệnh Sau-lơ đã tàn sát cả gia đình A-hi-mê-léc và 85 người mặc ê-phót (22:19). Nóp là trạm dừng chân cuối cùng của San-chê-ríp khi ông tiến quân vào Giê-ru-sa-lem." Ngày ấy họ dừng tại Nóp; họ sẽ vung quả đấm nghịch cùng núi của con gái Si-ôn, nghịch cùng đồi của Giê-ru-sa-lem (EsIs 10:32).
    Du khách đến từ phương bắc sẽ nhìn thấy Giê-ru-sa-lem đầu tiên từ Nóp. Tại đây chưa được khai quật.
    NUZI (Yorghan Tepe hiện đại), một mô đất 150 dặm đường chim bay phía bắc
    Bát-đa, được khai quật vào 1925 - 1931 bởi một đoàn thám hiểm hỗn hợp của Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ tại Bát-đa. Đại học Harvard và Đại Học Bảo Tàng Pennsylvania. Tiến sĩ Edward Chiera là trưởng đoàn. Việc thăm dò thực hiện vùng đất chưa khai phá nhưng cấp độ có người cư ngụ mà họ khám phá được là từ thế kỷ 15 đến 14 TC, lúc ấy thành phố được cư ngụ bởi người Hurrian, người Horites đã tuyệt tích lâu đời, người Hovites, và người Giê-bu-sít trong Cựu Ước.
    Họ khám phá 20.000 phiến đất sét từ cung điện, các biệt thự tư nhân và từ các gia đình giàu có; các phiến đá này được viết bằng chữ viết của người Hurria trong ngôn ngữ hình nêm của người Ba-by-lôn, nhưng thỉnh thoảng có dùng đến các từ bản xứ của Hurria hoặc các từ của người Horite, gồm phần lớn những tường thuật về thương mại, các hợp đồng, các bản báo cáo, các phán quyết toà án tiết lộ các lối sống của các gia đình thế lực trong bốn hoặc năm thế hệ. Những sự tương đương giữa tập quán và điều kiện xã hội của những người này và những ký thuật về tộc truởng trong Sáng Thế Ký rất đáng chú ý trong việc minh xác tính lịch sử của Kinh Thánh.
    Các tộc trưởng đến từ đất nước này và sống tại Haran (trước đây chủ yếu là người Hurria hay người Harite sống ở đây). Họ giữ sự liên lạc tại đây trong nhiều thế hệ tiếp sau đó, trong sự vắng mặt của luật pháp và tập quán của riêng họ (bởi vì chưa có Cựu Ước), họ làm theo những gì họ trở nên quen thuộc. Cần chú ý một số tương đương sau đây:
    (1) Sự trao đổi của cải : Tất cả mọi giao dịch dính líu đến sự chuyển nhượng của cải đều được ghi chép lại, làm chứng, được đóng dấu và tuyên bố tại cổng thành (SaSt 23:10-18).
    (2) Khế ước hôn nhân : Bao gồm một bản báo cáo rằng một con đòi được cắt cho một nàng dâu mới, như trường hợp Lê-a và Ra-chên (SaSt 29:24, 29) và gồm một điều khoản bắt buộc người vợ son sẻ có nghĩa vụ đưa cho chồng một con đòi để sinh con như trường hợp Sa-rai cho nàng A-ga làm hầu Áp-ra-ham (SaSt 16:3) và Ra-chên đưa con đòi Bi-la cho Gia-cốp (SaSt 30:3-6).
    (3) Nhận con nuôi : Trở thành thông lệ tại Nuzi, khi vợ chồng son sẻ sẽ nhận nuôi một đứa con trai để chăm sóc họ lúc còn sống, chôn cất họ khi qua đời và thừa kế tài sản của họ. Thông lệ cũng định rõ nếu họ đã có con trai của chính mình thì con trai nuôi sẽ đứng hàng nhì. Việc này dường như giải thích được Áp-ra-ham nhận Ê-li-e-sê làm người thừa tự trước khi Y-sác ra đời; và sự thay đổi sau đó khi Chúa hứa với Áp-ra-ham rằng đứa con trai của chính ông sẽ kế nghiệp ({dc Sang 15:2-4;).
    (4) Quyền con trưởng : Tại Nuzi người ta tìm thấy một khế ước, trong đó người anh cho người em trai "ba con cừu để đổi lấy phần thừa kế di sản" trong một đồn điền, nghe có vẻ giống quà của Gia-cốp cho Ê-sau là "tô canh phạn đậu" (SaSt 25:30-34). Cũng tại Nuzi "việc chúc phúc của người cha hấp hối khi để lại tài sản cho đứa con trai được tòa án tôn trọng nếu có nhân chứng về lời nói của người cha" (SaSt 27:30-33; 49:8-28)
    (5) Thừa kế : Nuzi có một luật ám chỉ rằng của cải và quyền lãnh đạo gia đình có thể truyền lại cho chồng của con gái, nếu người cha giao các pho tượng thờ trong nhà cho người con rể ấy. Vì vậy, khi La-ban bắt kịp Gia-cốp và lục soát các pho tượng một cách lo âu nhưng chẳng tìm thấy bởi vì "Ra-chên đã mang các pho tượng giấu dưới bành lạc đà rồi ngồi trên đó" (SaSt 31:30-35).
    OLIVES Núi Ô-li-ve (Jebel et-Tur) là ngọn núi tại cạnh đông của Giê-ru-sa-lem (Exe Ed 11:23). Chỉ có thung lũng Kít-rôn rộng nửa dặm tách thành phố Thánh ra khỏi ngọn núi thiêng liêng nầy. Thực ra có tới ba đỉnh núi tròn khác nhau rõ rệt: Núi Scopus ở phía bắc, núi Offence ở phía nam và núi Ô-li-ve chính giữa. Những ngọn núi ở trung tâm cao 2680feet so với mực nước biển, nghĩa là cao hơn khu vực đền thờ Giê-ru-sa-lem khoảng 200feet.
    Tại trung tâm đỉnh núi là tàn tích của Nhà thờ Chúa Thăng Thiên, được dựng lên vào thế kỷ 4 SC bằng tiền quỹ của Đại đế Constantine. Tù phía tây đỉnh núi xuống một quãng ngắn là nhà thờ Bài Cầu Nguyện Chung, được dựng lên vào năm 1868 để ghi nhớ mãi truyền thuyết về Chúa Giê-xu đã dạy Bài Cầu Nguyện Chung tại đây cho các môn đệ Ngài. Trong những năm gần đây người ta khám phá một nghĩa trang xưa gần địa điểm mà theo truyền khẩu thì Chúa Giê-xu đã ngồi khóc tại đây vì thành Giê-ru-sa-lem. Những ngôi mộ được P.B.Bagatti điều tra kỹ, theo sự tính toán của ông thì nơi chôn cất ấy được sử dụng vào thế kỷ đầu tiên sau công nguyên, và cũng được dùng đến vào thế kỷ 3 và 4 SC. Khoảng 36 hộc chôn cất được tìm thấy là thuộc về thế kỷ đầu tiên. Trên đó có khắc các tên như Jairus, Simon Bar-Jonah, Mary, Martha,, Siloam. Một hộc chôn cất mang tên "Judah người cải đạo của Ty-rơ" cùng với một dấu hiệu Cơ-đốc. Một cái hộc chôn cất khác có chữ thập được vẽ cẩn thận, và trên một hộc khác có các chữ cái Hy-lạp Iota, Chi và Beta theo các chuyên gia thì các chữ cái đó tiêu biểu cho "Vua Giê-xu Christ." Không ai nghĩ rằng đây sẽ là nơi chôn cất Chúa Giê-xu, tuy vậy thì nghĩa trang ấy có lẽ thuộc về cộng đồng Cơ Đốc Do-thái đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem.
    PERGAMUM Nhà thờ thứ ba được sứ đồ Giăng gọi tên như vậy trong sách Khải huyền, khoảng 15 dặm từ biển Aegea, 60 dặm phía bắc Smyrna. Thị trấn Bẹt-găm hiện đại (một sửa đổi làm sai lệch một số địa danh cổ đại của người Thổ Nhĩ Kỳ), đứng trên bình nguyên phía dưới vị trí đồi của thành phố cổ đại.
    Bẹt-găm là trung tâm của sự thờ phượng đa thần (Zeus, Athena, Dionysus, Esclepius) và là trung tâm thờ phượng vị đại đế lộng ngôn. Vì vậy Giăng nói đến nơi ấy như là "nơi là Sa-tan có ngai của nó" và "nơi mà Sa-tan sinh sống" (KhKh 2:13).
    Viện Bảo Tàng Berlin tiến hành khai quật ở đây vào năm 1878, khám phá một phức hợp nhà đẹp mắt với một nhà hát Hê-lê-nít tại trung tâm. Những tòa nhà hoàng gia trải ra trên hình bán nguyệt gồm có một tế đàn lớn, miếu Athena, đền thờ Trajan và Hadria, các cung vua, nhiều kiến trúc sang trọng khác. Tế đàn lớn với các tác phẩm điêu khắc về trận chiến giữa các thần và người khổng lồ là những đài tưởng niệm nghệ thuật quan trọng nhất được đưa ra ánh sáng tại Bét-găm. Không ai biết được có phải đây là "ngai của Sa-tan" hoặc có phải đây là nơi mà vị đại đế được thờ lạy trong đó!
    PERSEPOLIS Vào năm 520 TC, đại đế Darius đưa các kiến trúc sư, nghệ nhân và thợ đi 40 dặm phía nam Pasargadae. Trên một mũi núi thấp, nhiều đá và có 3 tầng tại chân núi Mercy, nhìn xuống bình nguyên Waterfowl dễ thương, Darius xây dựng một bục hình chữ nhật để dùng làm nền của thành phố cung điện Persepolis cực kỳ lộng lẫy. Một cầu thang khổng lồ dẫn vào một bục lớn. Trên bục nầy các kiến trúc sư giàu trí tưởng tượng xây dựng một loạt những cung điện và tòa nhà, mà sau khi được bao bọc bằng những bức tường rất lớn, hình thành trung tâm của một trong những thành phố nổi tiếng nhất về đồ cổ. Tại đây nền văn hóa và văn minh của người Ba-tư lên đến đỉnh điểm. Các vua chúa của triều đại Achaemen sống tại đây vào mùa xuân và thu, đi đến Ecbatana vào mùa hè và Shushan vào mùa đông. Tại đây tổ chức lễ hội lớn hằng năm vào xuân phân, ăn mừng ngày tết của người Ba-tư. Kể từ khi Ê-xơ-tê trở thành hoàng hậu của Xerxes (tức là Ahasuerus) trong 13 năm, bà đã sống cùng chồng tại Persepolis trong những khoảng thời gian ngắn ngủi.
    Tuy là một thành phố hùng mạnh, một kỷ niệm thực sự về văn hóa Ba-tư lại tồn tại khá ngắn ngủi. Vào năm 330 TC, lúc đó Persepolis chưa được 200 năm, đại đế A-lịch-sơn đã cướp phá và thiêu hủy, công khai như là "một tai nạn đáng thương của chiến tranh." Theo các nhà sử học cổ đại thì đó là một hành động trả thù có tính toán đối với người Ba-tư vì họ đã xâm lược Hy-lạp và Xerxes đã đốt thành Athena. Để giải quyết việc cướp bóc tài sản Persepolis, theo Plutarch thì A-lịch-sơn đại đế đã dùng 10.000 con la và 5.000 lạc đà để chuyên chở các chiến lợi phẩm về Ecbatana.
    Thành phố bị tàn phá và sau đó bị bỏ hoang, chôn vùi dưới đất cát của bình nguyên cho đến khi gần giữa thế kỷ 19, lúc đó các nhà đông phương học và nhà khảo cổ học bắt đầu điều tra mô đất. Mãi cho đến năm 1931 việc khai quật khoa học mới bắt đầu, lúc ấy Giáo sư Ernst Herzfeld của Học Viện Đông Phương thuộc Đại học Chicago tiến hành công việc, tiếp sau đó là Erich Schmidt làm việc từ 1935 đến khi chiến tranh thế giới lần II bùng nổ vào 1939.
    Toàn bộ kiến trúc hoàng gia đã được tìm thấy, các bục đã được xây bởi Darius I (522-486 TC), Xerxes (486-465 TC), Artaxerxes (465-423 TC). Đi lên bục là một thang gồm 110 bậc, trong giống như cái dốc thoai thoải, tọa lạc tại góc tây bắc của nền đất cao. Bên ngoài là cổng Xerxes có hai bò đực khổng lồ bằng đá đứng canh giữ.
    Về phía nam, trên một bục cao hơn, là đống hư tàn "Apadana" hoặc sảnh khán giả, do Darius và Xerxes xây. Đi lên bục nầy, ở phía bắc và phía đông, là một cầu thang cực lớn, một trong những cầu thang điêu khắc công phu nhất được phát hiện ở các nước Trung Đông. Sảnh khán giả đồ sộ nầy, ước chừng có thể chứa được 10.000 người, thuộc kiến trúc nhiều cột, mái của nó được chống đỡ bằng những cây đà hương bách to lớn nhập từ Li-ban. Sảnh trung tâm có 26 cột đá đặc ruột gồm có đế cột, đầu cột, cao 65feet. Ở ba bên là các sảnh, mỗi sảnh có 12 cột cao bằng nhau. Trong số 72 cột nay chỉ còn 13 cột vẫn đứng sừng sững. Tại lối vào phía đông của sảnh lớn nầy, ngày nay vẫn còn những phù điêu chạm trổ rất đẹp, trông giống Darius I ngồi trên ngai cùng Xerxes, hoàng thái tử đứng phía sau. Bên trên họ là hình Ahura Mazda có cánh, đó là một thần vĩ đại của tín ngưỡng Zoroastria và "tác giả của mọi điều thiện." Darius và những người kế vị ông là tín đồ của đạo Zoroaster, họ tin rằng đó là "giải thích phần nào cho chính sách sáng suốt của chính phủ Ba-tư."
    Sảnh Khán giả dẫn vào trong Tachara hay cung Darius, với các bức tường trang hoàng bằng phù điêu và vô số câu khắc, một câu trong đó là:
    "Vua Saith Darius: Đất nước Ba-tư nầy mà Ahura Mazda ban cho tôi…và Darius vị vua chẳng sợ bất cứ ai.
    Vua Saith Darius: Nguyện xin Ahura Mazda giúp đỡ tôi…bảo vệ đất nước này khỏi kẻ thù, khỏi nạn đói, khỏi sự sai lầm, tôi cầu xin điều này như là một ân
    huệ của Ahura Mazda. Ta là Darius, vua vĩ đại, vua của muôn vua, vua của nhiều quốc gia, con trai của Hystaspes, người Achaemenia…là người xây dựng
    cung điện nầy."
    Cung điện tráng lệ này được cung cấp dòng nước chảy qua các ống nước bằng đá dẫn nước từ mái nhà Apadana và từ các ngọn núi gần đó. Hệ thống thoát nước tốt đẹp nhờ vào một hệ thống cống rãnh rộng lớn.
    Đi xa hơn về phía nam ra khỏi cung điện là các căn hộ của hoàng hậu với sảnh trung tâm và sân. Phía đông Apadana là Sảnh Đường Bách Trụ, được gọi như vậy vì mái nhà lộng lẫy bằng gỗ hương bách Li-ban của sảnh được chống bởi 100 cột điêu khắc công phu. So với các kiến trúc cổ khác trong vùng, về mặt tráng lệ nó chỉ thua đền tại Karnak của Ai-cập. Phía bên ngoài là vô số những kiến trúc khác, gồm kho tàng hoàng gia và một pháo đài. Xung quanh những kiến trúc nầy đều có vườn hoa với những cụm hoa lớn chung quanh ao và suối phun.
    Vào năm 1951 Viện Khảo Cổ Persepolis khai quật bên ngoài bục lớn và tìm thấy tàn tích của một cung điện khác, một sảnh đồ sộ bằng đá với cổng chính và các phòng phụ, cùng với một hồ chứa nước cực lớn bằng đá.
    Những khám phá khác đáng quan tâm trong mô đất là hàng ngàn mảnh vụn của những cái bình, chậu bằng đá rắn, một phiến bằng vàng dùng làm nền móng của Darius I, trên đó có một câu khắc ba loại chữ và câu khắc của của Xerxes, chồng của hoàng hậu Ê-xơ-tê. Trên câu khắc liệt kê những quốc gia mà ông đã cai trị gồm Media, Elam, Armenia, Parthia, Babylon, Assyria, Sardis và Ai-cập.
    Trên sườn dốc của mô đất Mercy đông nam Persepolis là các ngôi mộ của những vị vua cuối cùng người Achaemen. Tại Naqsh-I-Rustam, cách Persepolis 4 dặm, là các ngôi mộ đường bệ của Darius đại đế, Xerxes, Artaxerxes I và Darius II được đục vào sườn núi đá. Chỉ có ngôi mộ của Darius đại đế là có câu khắc.

    PETRA Tên nầy trong Kinh Thánh là Sela (nghĩa là bàn thạch), toạ lạc phía đông nam Biển Chết, trong một nơi khó đến nhất thế giới nầy. Nó được xây trên một bình nguyên sâu, cao trên các ngọn núi, vây quanh bởi đá granít màu sặc sỡ và bởi vách đá bằng cát-kết - một thành phố thực sự giống nhà hát tròn hay đấu trường, sự hấp dẫn của nó có lẽ chính là sự cách biệt với chung quanh.
    Lối vào duy nhất của thành phố là "the sik", một hẻm núi hẹp và dài cả dặm giữa các vách đá granít đỏ cao sừng sững. Vài nơi trong hẻm núi ấy là lòng suối có bề ngang 3,7m (12feet), cuối cùng dẫn đến một thung lũng rộng gọi là Wadi Musa, từ đây dần dần xuống thấp vào trong một khu vực choán bởi "thành phố màu đỏ hoa hồng mà thời gian chỉ làm cũ đi khoảng một nửa mà thôi".
    Kiến trúc xuất hiện đầu tiên là el-Khazneh (kho tàng), đó là một mộ đền hoàng gia đục từ bức tường đá, cao 150feet và trang trí bằng nhiều cột chạm trổ đẹp theo cách thức Cô-rinh-tô. Trên đỉnh của ngôi mộ đền là một cái lư đồ sộ nhưng thiết kế rất tài tình, theo người Ả-rập trong lư đó người ta tìm thấy kho tàng của Pha-ra-ôn. Trong ngôi đền là một hốc mộ cỡ vừa, không trang trí. Không ai biết mộ đền ấy thuộc về ai, nhưng nó được xem là mộ của vua người Nabatae của thời kỳ Hê-lê-nít - có thể là vua Aretas người Philhellene (87 - 62 TC).
    Bên trong thành phố, trong phạm vi một dặm ở mọi hướng đều có diễn đàn, nhà hát, đền thờ, cung điện, nhà ở và mộ đục từ vách đá cát kết Nabia nhiều màu cao chót vót 200-400feet trtên không. Một ngôi mộ trông giống đền thờ của người Nabatea gần cổng vào có 4 đài kỷ niệm hình tháp cao vượt hẳn lên bên trên cổng vào.
    Hơi chếch về phía bắc của thành quách, trên một rìa ở cao phía trên thành phố, là một "tế đàn" với kích thước 47feet dài và 24feet ngang, đi lên bằng những bậc thang đục vào trong đá. Trên đỉnh của các bậc thang, tại tế đàn có một bàn thờ dài 9feet, ngang 6feet, cao 3feet. Trên đỉnh bàn thờ là một hoảnh đất trống có dạng cái chảo để đốt lửa, ngay tại phía nam bàn thờ là nơi giết sinh tế làm của lễ. Ở đây người Nabatea thờ thần Dushara được tượng trưng bằng một tảng đá đen. Vào năm 1934, đoàn thám hiểm Melchett hợp tác với Tiến sĩ Albright khai quật tế đàn ấy, và trong những năm gần đây, người ta có tiến hành thăm dò và khai quật sâu hơn tại Petra.
    Tiến sĩ Nelson Glueck nói: "Dù hiện nay Petra đang ở trong tình trạng tồi tàn, nó vẫn còn là một đài tưởng niệm khó quên." Tính theo sức sáng tạo của người Ê-đôm cổ đại, và sau đó tính theo người Nabatea, những con người này dọn đến từ Ả-rập và gây dựng một vương quốc kéo dài ba thế kỷ cho đến năm 106 SC. Một trong những vị vua của họ là Aretas IV được nhắc đến trong IICo 2Cr 11:32.
    PHILIPPI Được đặt tên theo Phi-líp của xứ Ma-xê-đoan (là cha của A-lịch-sơn đại đế) là người chiếm lấy thành phố từ tay của người Thracia vào thế kỷ 4 TC và đặt tên nầy. Nó có vị trí chiến lược về hướng đông tây xa lộ Egnation giữa La-mã và châu Á, và được A-lịch-sơn đại đế dùng làm khởi điểm cho chiến dịch quân sự để chinh phục thế giới.
    Phao-lô đến thẳng Phi-líp sau khi ông có khải tượng về người đàn ông nói với ông: "Hãy đến Ma-xê-đoan để cứu giúp chúng tôi" (Cong Cv 16:9). Tại đây ông đã giảng Tin Lành nơi bờ sông, rồi bị bỏ tù, cũng tại đây ông gây dựng một hội thánh đầu tiên tại châu Âu, cũng là hội thánh mà ông rất gắn bó và yêu mến.
    Học viện Pháp của Athens đã khai quật ở đây từ 1914 đến 1938. Nhiều khu của thành phố đã được khám phá. Nhưng sự chú ý đặc biệt được nhắm vào diễn đàn (300feet x 150fet), nơi họp chợ, nhà hát, một thư viện và phòng đọc sách, và một bục hình chữ nhật dùng làm nơi thuyết trình. Điều đáng quan tâm đối với các sinh viên Kinh Thánh là nền của một cổng vào lớn hình vòm bắt nhịp đường Egnation dẫn ra phần tây bắc của thành phố. Người ta tin rằng đây chính là cái cổng mà Phao-lô cùng người bạn đồng hành từ đó đi ra và trên đường đến bờ sông để giảng Tin Lành cho nhóm người đang cầu nguyện, bởi vì khoảng 1 dặm về phía tây của lối cổng là con sông duy nhất trong vùng phụ cận của Phi-líp (Cong Cv 16:12-13)
    RABBAH (RABBATH-AMMON) Thủ đô của vương quốc cổ người Am-môn, và thủ đô hiện tại (Amman) của Jordan, người ta cho rằng là do những con trai của Am-môn (con trai của Lót) xây dựng và dùng tên cha đặt cho thành phó (PhuDnl 3:11). Sau khi bị người Joab bao vây 2 năm rồi chiếm lấy, và ở phía trước các bức tường thành phố đã xảy ra cái chết của U-ri người Hi-tít theo lệnh gián tiếp của vua Đa-vít (IISa 2Sm 11:16-17).
    Trong nhiều thế kỷ, Am-môn thực sự là "một bãi hư tàn" và vẫn còn một vài hư tàn La-mã trong thành phố, quan trọng nhất là cái nhà hát. Nhà hát ấy được đẽo vào trong vách của một vách cheo leo bằng đá và có thể ngồi khoảng 6000 người. Những cái ghế bây giờ vẫn còn nguyên vị trí, nhưng cái bục thuyết giảng và những bậc đài vòng (???) thì đã mất. Hiện nay vẫn còn rải rác vài cây cột trong thành phố, vài nhà tắm La-mã, nhưng tàn tích chính thì ở trên Đồi Pháo Đài cao nhìn xuống thành phố hiện nay. Người ta khai quật một phần bề mặt của những hư tàn này, và thuộc về thời kỳ La-mã, mà đền thờ chính là phần thưởng của sự khám phá. Đến nay người ta không phát hiện gì trong tàn tích người Am-môn cổ đại của thời Đa-vít, ngoại trừ ở góc đông bắc là nơi có một phần bức tường thành phố của thời đại Đồ Sắt, rất có thể là của thời Đa-vít, là được khám phá.
    RAS SHAMRA Thành phố cổ Ugarit, ngày nay có tên là Ras Shamra, là một trung tâm thương mại và tôn giáo lớn trên bờ biển, 40 dặm tây nam An-ti-ốt, đối diện với đảo Síp.
    Một người Sy-ri đã có sự khám phá tình cờ đang lúc cày trên cánh đồng của mình, ông ta để ý đến một mô đất lớn và Claude F.A.Schaeffer bắt đầu khai quật vào năm 1929 và tiếp tục cho đến 1939 - rồi bắt đầu lại trong nhiều năm sau đó. Ở đó có 5 cấp độ cư ngụ, nhưng cấp độ có từ thế kỷ 15 và đầu thế kỷ 14 TC mới cho nhiều khám phá quan trọng hơn.
    Trong một nghĩa trang người ta tìm thấy những cái bình đẹp, tinh xảo tương tự như những cái bình được tìm thấy trong các cung điện Creta, các bình có dung tích lớn giống như bình được sử dụng thời Đấng Christ, một bộ ấm chén bàn xưa tới 3400 năm, một bộ quả cân từ đơn vị mina Ai-cập (437gram) xuống những phần chia nhỏ hơn, một hình đồng thiếc thần Horus (diều hâu Ai-cập) được bảo tồn nguyên vẹn, một hoa văn đồng thiếc của vị thần ngồi, một hoa văn thần Reshef (thần chiến tranh và thời tiết) được bảo tồn cực tốt, một tượng vàng nữ thần Át-tạt-tê của người Phoenicia, một cái bia có khắc chữ của Ba-anh là một trong những tượng trưng ít được biết đến của vị thần địa phương này.
    Ở chân cầu thang của một tầng hầm, người ta tìm thấy 74 vũ khí và công cụ trong tình trạng tốt. Trong đó có 4 thanh gươm lớn bằng đồng thiếc dài gần 3feet, 11 cây dáo có hình dạng khác nhau, 27 cái rìu dẹp, 14 cái cuốc lớn, 2 dao găm và một cái kiềng ba chân với những cái chuông hình giống quả lựu treo lủng lẳng trên đó. Những món đồ này không có lớp rỉ sét bên ngoài, lớp rỉ đồng thường hay có trên đồ cổ khi chúng bị phơi trong không khí, vì vậy chúng dễ bị nhầm lẫn với công cụ mới rèn.
    Tuy nhiên, hiện vật phát hiện quan trọng nhất là ngôi thư viện đền thờ, tọa lạc trong một tòa nhà giữa đền thờ Ba-anh và đền thờ Dargon. Ở đây có hàng trăm phiến đá nói về nền văn hóa không những của Phoenicia mà còn của các quốc gia lân cận. Nhiều phiến đá được viết bằng chữ hình nêm thông thường, nhưng có hơn 600 phiến đá được viết bằng loại văn tự trông có vẻ là chữ hình nêm, nhưng các chuyên gia không đọc được nó. Đôi lúc những chữ này được chứng minh là những chữ cái gồm 30 ký hiệu chữ hình nêm - một ngôn ngữ mới của người Semit gần với chữ Hê-bơ-rơ và các tiếng địa phương khác của người Semít nói bởi người Ca-na-an.
    Về nội dung, phần lớn các phiến đá được tìm thấy là một loạt những bài viết về tôn giáo dưới hình thức thi ca, tiêu biểu cho những bao quát được mô tả rất chi tiết về bản chất niềm tin và tập quán tôn giáo của người Ca-na-an. Thông qua những bài biết nầy, chúng ta có được một khái niệm khá đầy đủ về các tôn giáo của người Ca-na-an vào thời người Hê-bơ-rơ tiến vào xứ sở của họ, và về ảnh hưởng của các tôn giáo ấy đối với người Hê-bơ-rơ sau khi họ định cư tại Ca-na-an.
    Một số lễ nghi tôn giáo nào đó, chẳng hạn của lễ chuộc tội, của lễ bình an, của lễ đưa qua đưa lại, của lễ thiêu, của lễ hoa quả đầu mùa rất tương tự với những của lễ của người Hê-bơ-rơ; đến nỗi một số người thắc mắc không biết có phải những người di cư Midian đã mang theo các lễ nghi này vào Ugarit (Ras Shamra) trong những năm người Hê-bơ-rơ lang thang trong đồng vắng. Tuy nhiên, có vô số sự khác biệt trong niềm tin và các tập quán tôn giáo. Đứng đầu các vị thần Ca-na-an là El tức là Chúa Sáng Tạo và Cha của muôn vật, nhưng trong hệ thống các vật thì thần ấy có một người vợ tên nữ thần Asherah (Ashtoreth) phụ trách về sinh sản, đó là vị thần mà Y-sơ-ra-ên luôn lên án tương ứng với sự trung thành của họ đối với Đức Chúa Trời công bình về phương diện đạo đức (Cac Tl 2:12-15; ISa1Sm 12:10). Các thần khác của họ là Ba-anh, Đa-gôn, Reshef và Hadad, tất cả đều tiêu biểu cho sự không đạo đức. Những tập tục dâm dục không thể đề cập được điều liên kết với việc thờ phượng các vị thần nầy - như Kinh Thánh đã kết luận.
    ROME Kinh thành của đế quốc La-mã, một trong những thành phố nổi tiếng nhất thế giới, được xây dựng cạnh sông Tiber vào 753 TC. Chẳng bao lâu, nó phát triển và phủ khắp 7 ngọn đồi, đó là Capitoline, Palatine, Aventine, Caelian, Esquiline, Viminal và Quirinal. Diễn đàn La-mã nằm giữa đồi Palatine và đồi Capitoline, là trung tâm văn hoá, dân sự và thương mại của La-mã. Những gì ưu việt nhất trong số các đền thờ, cung điện, đấu trường, nhà tắm công cộng, đài tưởngn iệm, nhà hát hình tròn, và các dinh thự quốc gia đều nằm cạnh Diễn đàn ấy - tất cả sinh hoạt của người La-mã đều tập trung nơi đây và chỗ nầy cũng là nơi xuất phát của các con đường tỏa ra khắp thành phố, các cọc chỉ dặm đường đều bằng vàng, đặt tại Diễn đàn. Phao-l6o, Lu-ca và Phi-e-rơ, các Cơ-đốc nhân đầu tiên ắt đã thường xuyên có mặt tại Diễn đàn. Phao-lô có thể đã tìm sinh kế tại đây. Nhưng chiến tranh, động đất, hoả hoạn và thời gian đã tàn phá các kiến trúc cổ nầy, và bụi đất của nhiều thế kỷ đã phủ lên những công trình vang tiếng một thời nầy.
    Vào năm 357 SC, Ammianus đã mô tả cách sinh động về sự nguy nga của La-mã lúc chưa bị tàn phá, may mắn thay những mô tả đó đã được bảo tồn. Ngay từ thế kỷ 16, người ta đã tiến hành khai quật tại Rome, nhiều hơn vào thế kỷ 17 và 18. Biondi bắt đầu khai quật vào 1817 và De Rosse vào 1853. Hội đồng Giám mục khảo cổ thiêng liêng đã nhận công việc và tiếp tục cho đến nay.
    Ngày nay du khách đến La-mã khó có được ý niệm về sự xa hoa ban đầu của thành phố Vĩnh hằng nầy, nhưng chính Diễn đàn, tàn tích của các toà nhà chính, đài tưởng niệm, các địa điểm chính yếu được phơi bày, dễ dàng cho việc nghiên cứu.
    Diễn đàn (240 x 690feet) với toàn bộ sự hiểu biết và truyền thuyết lịch sử về nó, chứng kiến việc xét xử và cái chết của Sê-sa Julius, bài diễn thuyết của Mark Anthony. Nhà hát tròn Colosseum (do Vespasian và Titus xây vào năm 75-80 SC) choán diện tích 6 acres, có thể chứa từ 50-60 ngàn khán giả để xem các Cơ-đốc nhân bị ném làm mồi cho thú dữ trong đấu trường. Trên đồi Palatine có cung điện của các vị đế vương và ngôi đền Jupiter đổ nát. Ta còn có thể thấy được đường nét của Trường giác đấu Circus Maximus , tại đó có tới 250.000 khán giả trong các trận đấu. Cổng vòm Titus cho ta thấy các phù điêu chạm trổ sinh động về Titus và các binh sĩ của ông mang các khí mảnh thánh của đền thờ khi họ trở về từ Giê-ru-sa-lem. Cổng vòm Constantine kể về sự kiện vĩ đại vào năm 316 SC khi hoàng đế Constantine tuyên bố Cơ-đốc giáo là quốc giáo. Còn nhiều nơi hấp dẫn và đáng quan tâm - ngay cả cái đồng hồ nước cổ đánh dấu ngày và giờ lúc Phao-lô lưu tại La-mã.
    Vào năm 1941, trong công trình khai quật tại Ostia là hải cảng của La-mã tại cửa sông Tiber, người ta tìm thấy một câu khắc cho biết Tiberius bắt đầu trị vì từ năm 14 SC. Lúc ấy dân số La-mã lên đến 4,1 triệu người.
    Các chứng cứ văn học và truyền thuyết đến từ các lãnh tụ giáo hội và các nhà văn từ năm 95 - 326 SC, và nhiều bức tranh cùng với câu khắc trong các ngôi mộ của Cơ-đốc nhân cho biết Phi-e-rơ, Phao-lô là những người tử đạo, khiến nhiều nhà khảo cổ và các chuyên gia kết luận rằng hai vị sứ đồ vĩ đại này đã tử đạo tại La-mã dưới tay của Nero.
    Trong rất nhiều khám phá, thì thích thú nhất đối với Cơ-đốc nhân và người Do-thái vẫn là các Hầm Mộ nằm dọc đường, không có cái nào xa hơn ba dặm tính từ bức tường thành phố.
    Lại lịch của Hầm Mộ nầy gồm những pha lịch sử kỳ lạ và huyền bí nhất. Lúc đầu chúng chỉ là những hố cát do cung ứng cho nhu cầu xây dựng các thành phố La-mã. Đá túp gồm tro núi lửa và cát, nhuyễn và kết dính vào nhau thành lớp trải dài nhiều dặm quanh Rome. Người ta phát hiện đây là loại vật liệu xây dựng tuyệt vời, nên đào thành những hầm hố dưới mặt đất để lấy.
    Sau đó xảy ra sự xung đột giữa giáo hội đầu tiên với đế quốc La-mã cổ đại. Đế quốc La-mã hùng mạnh và rộng lớn nhất với thời Chúa Giê-xu, dễ dãi với mọi tôn giáo, nhưng vì Cơ-đốc nhân từ chối tuyên thệ trung thành với hoàng đế nên dẫn đến sự bắt bớ Cơ-đốc giáo ngày càng mãnh liệt hơn.
    Các Cơ-đốc nhân bị buộc tội phạm pháp, sống lập dị; họ bị căm ghét và đặt ngoài vòng pháp luật. Các Cơ-đốc nhân sống giản dị, rất mực đạo đức, không tham dự các trận giác đấu và lễ hội. Một số Cơ-đốc nhân lên án cả những ai bán cỏ khô cho súc vật để làm sinh tế cho các tà thần. Quần chúng kinh sợ họ vì người dân sợ cơn giận dữ của các thần khi Cơ-đốc nhân không dâng của lễ cho các thần ấy. Nếu mùa màng thất thu, nếu sông Tiber dâng tràn, nếu bệnh dịch xảy ra, tiếng la hét sẽ là "Ném bọn Cơ-đốc nhân vào đấu trường." Tuy thế thì Cơ-đốc nhân vẫn rất nhân từ đối với những ai cần đến, họ cũng sẵn sàng săn sóc bệnh nhân vào những lúc cơn dịch bệnh hoành hành, trong lúc những người khác đều đã tránh xa vì sợ lây bệnh.
    Nhằm để mọi người bày tỏ lòng trung thành với hoàng đế La-mã, nhà cầm quyền yêu cầu mỗi công dân La-mã phải thắp nhang cho hoàng đế. Các Cơ-đốc nhân coi đó là sự thờ phượng không phù hợp với niềm tin nơi Chúa nên không vâng phục. Thế là nhà cầm quyền có đủ lý do để bức hại các Cơ-đốc nhân bởi nhiều hình phạt và thường là xử tội chết.
    Các Cơ-đốc nhân tỵ nạn trong các con đường ngoằn ngoèo của Hầm Mộ, trong đó cũng có nhà nguyện, nhiều phòng ở và cả nghĩa trang. Các Hầm Mộ đã trở thành nơi trú ẩn an toàn duy nhất cho các Cơ-đốc nhân.
    Họ sinh sống, thờ phượng và chôn cất tại đây. Bài hát, lời cầu nguyện, sự thờ phượng của họ thánh hóa Hầm Mộ và nó trở thành cái nôi của Cơ-đốc giáo phương tây.
    Hầm Mộ được khám phá và khai quật vào thế kỷ 16, kể từ 1950 được khai quật trên diện rộng. Sự hiểu biết của chúng ta về thành phố dưới mặt đất này chưa hoàn chỉnh, bởi sự thật là nó quá bao la. Tuy nhiên, ta cũng tích lũy đuợc phần nào từ những thành phố địa đạo nầy.
    Khoảng sáu triệu người được chôn cất trong khoảng 60 Hầm Mộ, trong đó 54 cái là của Cơ-đốc nhân, 6 cái là của người Do-thái. Mỗi Hầm Mộ có lối vào khá mơ hồ, từ đó một cầu thang dẫn xuống các địa đạo, hành lang dài, phân nhánh vuông góc, tạo ra mạng lưới đường phố trong địa đạo, rải rác là các nhà nguyện. Vài Hầm Mộ có tới 4 tầng, nối nhay bằng một cầu thang. Tại mỗi tầng là một con đường lớn - nhiều đến nỗi nếu tất cả địa đạo trong Hầm Mộ được nối với nhau thì chúng dài tới 587 dặm.
    Dọc theo bức tường của những lối đi, hoặc tại ngõ cụt của địa đạo, các Cơ-đốc nhân được chôn trong mộ tường, hoặc trong phòng ngủ nhỏ. Mỗi cái mộ được khép kín bằng gạch vuông hoặc đá hoa phiến mỏng, trên đó có tên của người quá cố.
    Thông thường các bức thường hay trần nhà của các phòngn hỏ trên được trang trí bằng các bức tranh của nhân vật Kinh Thánh hoặc sự kiện Kinh Thánh, chẳng hạn như Môi-se đập vào tảng đá, Đa-vít, Đa-ni-ên và ba bạn Hê-bơ-rơ, Nô-ê, Giô-na… trong từng trường hợp đều nhằm bày tỏ sự giải cứu kỳ diệu của Đức Giê-hô-va. Trong một số trường hợp người ta tìm thấy chân dung của người quá cố. Vào năm 1853 DeRossi phát hiện một phòng ngủ nhỏ khép bằng một phiến đá hoa, trên đó có khắc chữ:
    Marcus Antonius Rastutus đã làm ngôi mộ này cho chính mình, là người tin
    cậy vào Chúa.
    SAFAD Hay Zefat, là một trong bốn "thành phố thánh" của người Do-thái, được cho là thành phố mà Chúa Giê-xu nhắc đến khi Ngài nói "một cái thành ở trên núi thì không khi nào bị khuất được" (MaMl 5:14). Thành phố uốn lượn hùng vĩ trên đỉnh núi Safad, cách Ti-bê-ri-át 16 dặm về phía tây bắc và cách mực nước biển Ga-li-lê 3400feet.
    Trong thành phố có những đường phố hẹp, những đợt bậc thang dốc, nhà quét vôi trắng với bao lơn phía ngoài, nhà hội với các ký hiệu phù chú huyền bí trên đó. Xung quanh nơi này là những đồn điền lớn trồng Ô-li-ve và vườn nho sai trái. Vào một ngày quang đãng, từ thành phố nầy có thể nhìn rõ ràng phần lớn Ga-li-lê thượng và hạ, luôn cả biển Ga-li-lê. Vào thời huy hoàng của các vương triều Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, nó được gọi là Isafet hay Zefat, có nghĩa là "nơi canh phòng", bởi vì tại đây lửa hiệu được đốt lên để loan báo về sự mọc lên của vàng trăng mới. Sự kiện này trước tiên được tuyên bố ở Giê-ru-sa-lem trên núi Ô-li-ve, rồi sau đó chuyển tiếp từ điểm cao nầy đến điểm cao khác, cho đến khi lửa hiệu của Safad được dùng làm tín hiệu cho cả vùng bắc Palestine.
    Safad khơi dậy thái độ tôn kính trong lòng người Do-thái. Đó là một trong những nơi lánh nạn của các ra-bi cổ đại sau khi Giê-ru-sa-lem thất thủ và lần thất trận đầy cay đắng của Bar Kochba tại Bitter (có nghĩa là đắng) vào năm 132 SC. Vì là nơi ẩn dật của các học giả, nó trở thành trung tâm của trường phái Talmud, một trung tâm về toàn bộ kiến thức và truyền thuyết của Do-thái giáo và triết học thần bí của người Do-thái. Có lẽ quyển Midrash Ha Zohar, Sách Sáng Chói (quyển kinh về thần bí học) theo Simon ben Yochai, thì một ra-bi người Tây ban Nha đã biên tập quyển sách tại đây vào năm 160 SC. Đây cũng là chỗ ở của Joseph Caro, tác giả của Ahulchan Aruch, bộ luật cuối cùng được soạn hẳn hoi của người Do-thái.
    Học trò của ông là ra-bi Jacob Berov, đã nỗ lực tái thiết lập Palestine như là một trung tâm phong chức cho các ra-bi.
    Thơ văn Do-thái đã hồi sinh tại Safad, tại đây Alkabetz đã viết thánh thi chiều Sa-bát, "Bạn tôi hãy đến gặp tân lang', một bài ca về tái thiết Si-ôn.
    Safad được Thập Tự Quân xây công sự vào thế kỷ 12 nhưng bị Saladin đánh chiếm vào 1188. Sau đó nó bị Templars chiếm lại và giữ trong 16 năm.
    Vào thế kỷ 16, Safad trở thành trung tâm nhập cư người Do-thái từ Tây Ban Nha và nơi gặp gỡ để học tập về triết học thần bí Do-thái. Vào năm 1578, các ra-bi đã thành lập tại đây nhà in đầu tiên của vùng Palestine. Vào 1607 tại Safad được coi là có 300 ra-bi, 18 trường đào tạo ra-bi và 21 nhà hội. Bởi lẽ Safad là nơi đặt các trường đào tạo ra-bi vĩ đại, Safad đã dành được tiếng tăm lớn giữa vòng người Do-thái, như là một trong 4 thành phố thánh của Y-sơ-ra-ên.
    Nhà thần bí Do-thái có một thời đã hết sức nổi bật tại Safad, trong quyển sách thiêng của họ là Zohar, trong sách nói rằng Đấng Mê-si-a sẽ xuất hiện tại Ga-li-lê thượng. Issac Luria nổi bật trong số người thần bí Do-thái như là con người phi thường và thiên tài, và vẫn còn là một nhân vật nổi bật trong truyền thuyết Safad. Niềm mơ ước của nhà thần bí học nầy là làm cho phong trào Đấng Cứu Thế được thực hiện một cách lạ lùng trong Shabbathae Zevi, và cũng đã mang lại nhiều kết quả trong những năm gần đây khi niềm mơ ước được trở lại Palestine đã dấy động tâm cang của người Do-thái.
    Một trận động đất tại Safad vào 1765 khiến hầu hết dân cư bị chết, nhưng thị trấn Safad được tái định cư nên vào đầu thế kỷ 19, có 4000 người Do-thái cư ngụ ở đây. Không may là một trận động đất khác đã xảy ra vào 1836, một lần nữa cướp đi gần hết dân số trong cộng đồng nầy. Kể từ thảm họa ấy, thị trấn Safad không còn là niềm kiêu hãnh của người Do-thái, và chỉ mới phồn vinh trở lại vào những thập niên gần đây dưới chính quyền Y-sơ-ra-ên.
    SAMARIA Thủ đô của vương quốc bắc Y-sơ-ra-ên, toạ lạc trên một ngọn đồi cao 300feet, cách Giê-ru-sa-lem 42 dặm về phía bắc. Vị trí nầy được khai quật vào năm 1908-1910 bởi các Tiến sĩ G.A.Reisner và Clarence S.Fisher thay mặt đại học Harvard, và một lần nữa vào 1931-1933, sau đó bởi J.W.Crowfoot vào năm 1935.
    Cấp độ cư ngụ (I,II) có ý nghĩa quan trọng nhất là của vua Ôm-ri, và con trai ông là A-háp, Ôm-ri đã giành được ngọn đồi và xây dựng thủ đô của mình trên đó (IVua 1V 16:24). A-háp xây dựng một cung điện tráng lệ cho chính ông và hoàng hậu Giê-sa-bên.
    Các nhà khai quật tìm thấy nền của cung điện Ôm-ri, và cái nền lớn hơn trong đống đổ nát của cung điện A-háp trên đỉnh ngọn đồi Sa-ma-ri. Ngay bên trong tường bắc của cung điện, họ khám phá vài ngàn mảnh vụn ngà voi, nhiều cái đã bị lửa thiêu rụi. Khoảng 30-40 ngà voi được tìm thấy trong tình trạng được bảo tồn cực kỳ hoàn hảo. Trên một số ngà voi có hình hoa sen, sư tử, quái vật đầu đàn bà mình sư tử, các tượng thần Isis và Horus, cho thấy ảnh hưởng mạnh mẽ của Ai-cập vào Y-sơ-ra-ên vào thời ấy.
    Bộ sưu tập ngà voi gồm có những miếng khắc chạm với đủ loại kích cỡ và hoa văn. Một số hình tròn, một số hình thuẫn với phù điêu thấp, và những cái khác thì có bóng mờ hay "tác phẩm châm xuyên" (??) Một số miếng ngà voi được cắt, giát màu, những mảnh khác được phủ vàng hoặc khảm đá màu thiên thanh. Các nhà khai quật nghĩ rằng lúc nguyên thủy những mảnh ngà voi ấy được lắp vào ngai vua, vào giường, vào trường kỷ, bàn, tủ, và có lẽ cũng ở trong những tấm ván tường hay ván trần nhà của cung điện. Tất cả những khám phá nầy đưa ra tính chắc chắn của lời kể trong IVua 1V 22:39, liệt kê căn nhà ngà voi như là một trong những thành tựu lớn nhất của A-háp - đó là căn nhà ông ta xây cho chính ông và hoàng hậu Giê-sa-bên khó chìu của ông. Những ngà voi ấy cũng xác nhận lời tuyên cáo của tiên tri A-mốt:
    Khốn thay cho những kẻ ăn ở nể trong Si-ôn, và cho những kẻ tưởng mình an
    ổn trên núi Sa-ma-ri…Các ngươi nằm ngủ trên giường ngà và duỗi dài trên ghế dài mình… (AmAm 6:1, 4).
    …Những nhà bằng ngà voi sẽ bị phá, và những nhà lớn sẽ bị hủy diệt, Đức
    Giê-hô-va phán vậy (AmAm 3:15).
    Tại tận cùng phía bắc của sân cung điện A-háp, các nhà khai quật tìm thấy vị trí của một cái ao bằng xi-măng, mà họ nghĩ rất có thể chính là "ao Sa-ma-ri" mà A-háp đã rửa chiếc xe ngựa vấy máu ở đó (IVua 1V 22:38). Trong một căn buồng kho của cung điện họ tìm thấy "mảnh sành khắc chữ Sa-ma-ri" nổi tiếng gồm vài trăm mảnh sành khắc chữ bằng mực. Còn có thể đọc khá rõ khoảng 63 mảnh được khắc bằng chữ Hê-bơ-rơ. Đó là những ký hiệu liên quan đến việc đóng thuế bằng dầu và rượu của cá nhân gửi đến kho của hoàng cung. Một số quản gia có tên trong Kinh Thánh như A-háp, Sê-ba, Nim-si, A-hi-nô-am, Gô-me.
    SARDIS Một trong bảy thành phố được đề cập trong sách Khải huyền, là thủ đô của vương quốc Lydia nổi tiếng. Nó cách phía đông Smyrna 50 dặm, trên sườn phía nam của thung lũng Hermus phì nhiêu, là nơi mà sông Pactolus ra khỏi núi Tmolus.
    Vườn trái cây rộng lớn, kỹ nghệ dệt, nhà máy đá quý và sự trù phú của Sạt-đe nhờ vào sự đãi vàng từ cát của sông Pactolus đã làm Sạt-đe trở thành một trong những thành phố hải đảo giàu nhất và hùng mạnh nhất của thế giới cổ đại. Tương truyền rằng đồng tiền đầu tiên đã được đúc tại đây, và Croesus (Kré-sus) là nhà thống trị nổi tiếng của Sạt-đe vào thế kỷ 6 TC, giàu đến nỗi kể từ thời đó có câu nói "giàu như Croesus."
    Sạt-đe bị Cyrus đánh chiếm vào năm 546 TC, sau đó bị A-lịch sơn đánh chiếm vào 334 TC, rồi bị trận động đất tàn phá vào 17 TC. Người La-mã tái thiết Sạt-đe, đã chuyển sang Cơ-đốc giáo vào thế kỷ 1 SC. Sạt-đe tồn tại cho đến khi Tamerlane càn quét khắp nước vào năm 1402 và hầu như tàn phá cả xứ. Chỉ một làng nhỏ có tên Sart nằm gần địa điểm của thành phố cổ.
    Đại học Princeton khai quật Sạt-đe đầu tiên dưới sự chỉ đạo của Giáo sư H.C.Btler vào năm 1909 và tiếp tục trong năm mùa cho đến khi bị Thế Chiến I làm gián đoạn. Vào 1958 Đại học Harvard và Cornell phối hợp với Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ dưới sự chỉ đạo của Giáo sư Haufmann và Giáo sư Detweiler.
    Cho đến nay các khám phá gồm có tường, cổng, tượng, câu khắc, đồng tiền, đá quý, bình đựng dầu thơm, đồ sành, cây đèn nến bằng đồng thiếc, đầu sư tử bằng đồng thiếc, một sân vận động, hai nghĩa trang, vệ thành……(?) và một số tòa nhà khá nguy nga. Trong đó có một nhà hội rộng 60feet, dài 270feet.
    Công trình kiến trúc đường bệ nhất là đền thờ Artemis, nữ thần tượng trưng cho sự sinh nở, là chị sanh đôi của Apollo. Trong vùng nầy, nữ thần ấy đôi lúc được đề cập đến như là thần Cybele. Đền được xây vào thế kỷ 4 TC để tỏ lòng tôn kính thần, và chắc chắn phải là một kiến trúc tráng lệ, có kích thước 163 x 327feet. "Lối đi thiêng liêng" dẫn lên một lối vào mà hai bên là tượng những sư tử trong tư thế sẵn sàng.
    Nhiều cư dân tại Sạt-đe trở thành Cơ-đốc nhân vào thế kỷ 1 SC, và một hội thánh thịnh vượng đã trưởng thành tại đây. Hội thánh đã bị phê phán, hoặc ít nhất là lời khuyến cáo có tính xây dựng và nêu đích danh Chúa Giê-xu Christ thông qua người khải thị là sứ đồ Giăng "…Ta biết công việc ngươi, ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết. Hãy tỉnh thức! Và làm cho vững sự còn lại…(KhKh 3:1-6).
    Lời khuyến cáo ắt hẳn đã được tiếp thu đầy đủ, bởi vì những nhà khai quật tìm thấy dấu thánh giá được khắc nhiều nơi trong đền thờ, cho thấy rằng Cơ-đốc nhân đã tiếp quản đền thờ và biến nó thành nhà thờ Cơ-đốc giáo, như họ đã từng làm với các đền thờ tại Ai-cập và các nơi khác.
    Khoảng thế kỷ 4SC, đền thờ ấy bị bỏ hoang, các Cơ-đốc nhân xây một nhà thờ ở góc đông nam của đền thờ. Đó là một kiến trúc bằng gạch, còn trong tình trạng bảo tồn rất tốt lúc được phát hiện. Chỉ có phần mái nhà là không còn. Muốn đi vào nhà thờ phải đi qua bục cao của ngôi đền, và bàn thờ trên bục ấy vẫn còn.
    SHECHEM Toạ lạc gần ngôi làng Balatah cận đại, phía bắc xa lộ, trong một thung lũng đẹp giữa núi Ê-banh và núi Ghê-ri-xim.
    Đây là địa điểm đầu tiên mà Áp-ra-ham đã đến viếng Palestine (SaSt 12:6-7). Gia-cốp cùng gia đình đến Si-chem và lập một bàn thờ và đào một cái giếng (SaSt 33:18-20). Anh em của Giô-sép đã chăn chiên tại đây, Giô-sép cũng được chôn nơi đây (Gios Gs 24:32). Cũng tại đây Giô-suê tập trung các chi phái của Y-sơ-ra-ên, Rô-bô-am lên ngôi vua, đất nước quân chủ bị chia cắt, và Giê-rô-bô-am thành lập cung điện hoàng gia của ông (IVua 1V 12).
    Việc khai quật đầu tiên tại đây do Carl Watzinger thực hiện vào 1907-1909, sau đó là Ernest Sellim vào 1913 và 1934. Kể từ 1956, công việc khai quật được Đoàn Thám Hiểm Khảo Cổ Drew - McCormick tiến hành dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ G.Ernest Wright, và bởi những người khác.
    Nhiều thời gian, công sức và tiền bạc được dốc vào cuộc khai quật thành phố naỳ, nhiều nhà khảo cổ trẻ tuổi đã được đào tạo tại đây. Nhiều nhà khảo cổ dày dạn kinh nghiệm như Tiến sĩ O.R.Sellers, Tiến sĩ Bull, và những người khác với sự hỗ trợ của Tiến sĩ Wright. Cổng, tường, đền thờ và rất nhiều đồ gốm, đồng tiền, công cụ cũng như những món đồ nhỏ khác được phát hiện, và xác nhận một cách đáng kể về mặt lịch sử, cả phương diện thế tục lẫn Kinh Thánh.
    Các nhà khai quật tìm thấy tàn tích của một bức tường lớn có từ Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Giữa (thời Áp-ra-ham và Gia-cốp), trong bức tường có một cổng vào rất có khả năng là nơi mà Hê-mô và con trai của ông là Si-chem đã tham vấn các vị lãnh đạo của thành phố về vấn đề quan hệ của họ với Gia-cốp và người của Gia-cốp (SaSt 34:20-24). Bên trong thành phố là một công trình xây dựng đồ sộ với những bức tường dày 15feet, bao quanh một diện tích 33 x 39 feet, bên trong người ta tìm thấy hai dãy cột chống đỡ trần nhà, và có thể là tầng hai. Lối vào hướng về đông nam, và hiển nhiên là hai bên có hai tháp công sự. Nó được xây vào Thời Đại Đồ Đồng Thiếc Muộn, và tồn tại cho đến thời kỳ các quan xét. Tại đây, các nhà khai quật nghĩ rằng chắc chắn là tháp Si-chem mà A-bi-mê-léc đã đốt cháy cùng với "một ngàn người đàn ông và đàn bà" của thành phố tị nạn ở đó (Cac Tl 9:46-49). Gần đó họ tìm thấy một đền thờ lớn, được nhận định là đền Baal-berith.
    SHILOH Ngày nay gọi là Seilun, toạ lạc 10 dặm phía bắc Bê-tên "và phía đông con lộ đi từ Bê-tên đến Si-chem" (Cac Tl 21:19). Đó là nơi mà Y-sơ-ra-ên dựng lên hội mạc ngay sau khi họ vào Ca-na-an. Tại đây cậu Sa-mu-ên được phong chức trước mặt Chúa và trở thành vị tiên tri đầu tiên của người Hê-bơ-rơ.
    Đúng như lời mô tả của tiên tri Giê-rê-mi, người Phi-li-tin đánh bại Y-sơ-ra-ên vào 1050 TC, cướp lấy Hòm Giao Ước, và bỏ rơi thị trấn ấy chìm đắm trong quên lãng. Cuối cùng, bị lửa thiêu rụi khoảng 450 năm sau đó.
    "Thế thì, hãy đi đến chỗ ở cũ của ta tại Si-lô, là nơi trước kia ta đã gửi danh ta
    mà xem, vì tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ta, ta đã làm cho nó thể nào" (Gie Gr 7:12)
    Người Đan Mạch khai quật Si-lô vào các năm 1922, 1926, 1927 và 1931 dưới sự chỉ đạo của Tiến sĩ Aage Smith, ông tìm thấy những tàn tích có từ thế kỷ 13 đến 11 TC, nhưng chẳng có tàn tích nào trong thời kỳ từ 1050 - 300 TC. Điều nầy tương xứng với ghi chép trong Kinh Thánh nói rằng Si-lô đã bị người Phi-li-tin tàn phá sau trận đánh của Ebenezer và việc cướp lấy Hòm Giao Ước (ISa1Sm 4:10-11).
    Ở tận phía bắc mô đất các nhà khai quật tìm thấy một sân trong hình bốn cạnh đục từ đá, 80 x 120feet, mà họ tin rằng đó là địa điểm của hội mạc cổ xưa mà Sa-mu-ên đã ngủ trên đó và nghe tiếng Chúa gọi. Tuy vậy, sau đó vị trí nầy lại được xác định là tàn tích của những tòa nhà thuộc thời kỳ Byzantine (323 - 636 SC). Sau đó người ta đi đến kết luận là các Cơ-đốc nhân ắt hẳn đã xây một nhà thờ lớn trên cái nền của nhà hội và nơi thánh của người Hê-bơ-rơ. Các học giả Palestine nhất trí rằng "Tất cả những điều khám phá bởi người Đan Mạch tại Si-lô hoàn toàn khớp với những gì được ám chỉ trong Cựu Ước." Các khai quật trong tương lai có lẽ sẽ khám phá vị trí chính xác và nền của nơi thánh hội mạc, nếu các Cơ-đốc nhân đã thực sự không xây nhà thờ trên cái nền ấy.
    SIDON Thành phố của người Phê-ni-xi được khám phá đầu tiên, từ lâu được biết đến nhờ vào cảnh đẹp, sự phì nhiêu của bình nguyên, cũng như chất lượng và chủng loại đa dạng của cây ăn quả, Bởi lâu đời nên nó có nhiều đống đổ nát nhưng chỉ một số ít nơi đã được khai quật.
    Vào năm 1855, một số ngôi mộ được phát hiện, một vài nơi trong số ấy còn những quách, có quách rất đẹp, bằng đá bazab đen của Eshmunazar, vua của Si-đôn trong thế kỷ 5 TC. Quách dài hơn 8feet, có khắc 990 chữ trên nắp. Câu khắc bằng chữ Phê-ni-xi, gồm phần lớn là thông tin về ông và sự kiện tại nơi chôn cất của ông (nguyên văn là giường mai táng) không có vàng, vì vậy sự nguyền rủa sẽ đến với bất cứ ai - dù là vua quan hay dân dã - mở cái quách ấy ra, cuối cùng là ông và gia đình đã dựng lên những đền thờ cho các thần như Át-tạt-tê (Ashtoreth), Esmuno (Dagon) và Ba-anh của Si-đôn. Nổi tiếng hơn trong số quách nói trên là một quách to, đẹp, bằng đá hoa, trên đó điêu khắc hai cảnh của cuộc đời A-lịch-sơn đại đế. Một cảnh là cuộc săn sư tử có sự tham gia của A-lịch-sơn, và cảnh kia là một trận chiến, trong đó ngựa, kỵ sĩ, lính bộ nổi lên trên cái nền óng ánh của đá hoa thiên nhiên. Cả điêu khắc và loại sơn đều là các tuyệt tác Hy-lạp, cái quách ấy được xếp hạng là một trong những cái tốt nhất từng được phát hiện, được gọi là "quách đá hoa vĩ đại của A-lịch-sơn"; mặc dù người ta giả định trong quách là thi hài của một quan chức cao cấp dưới triều A-lịch-sơn hay của tổng đốc thành phố Si-đôn.
    Tuy thế, điều đáng quan tâm chính yếu về khảo cổ của Si-đôn lại nằm trên những mảnh vỡ của lề đường khảm tại phía bắc một cái gò có hàng triệu vỏ sò ốc bị vỡ (người ta lấy phẩm nhuộn màu tím từ vỏ sốc ấy), ở phía tây nam nghĩa trang nổi tiếng trên bình nguyên về phía đông nam, và đống hư tàn lớn của lâu đài Thập Tự Quân. Ernest Renan, một học giả Pháp, khai quật tại đây vào năm 1860, nhưng chỉ làm được "tấm bản đồ thành phố của người chết", khám phá những đồng tiền cổ, và vài phát hiện nhỏ. Ông nghi ngờ rằng ông đã đến "muộn tới 50 năm."
    SILOAM Ao Si-lô-ê, là nơi Chúa Giê-xu bảo người mù đến rửa, nằm tại thung lũng Tyropoeon, tại nơi thấp hơn của máng nước ngầm của Hezekiah (địa đạo Si-lô-ê) dẫn nước vào thành phố từ suối Gibon (Suối phun Trinh Nữ). "Dòng nước Si-lô-ê chảy dịu" (EsIs 8:6) chỉ về dòng nước chảy qua địa đạo 1770feet đồ vào ao, được gọi là Si-lô-ê bởi ao đối diện với thung lũng Kidron từ làng Si-lô-ê. Nước ao được người Giê-ru-sa-lem sử dụng nhiều vì họ xem đó là nước thánh.
    Việc khai quật được tiến hành tại đây từ 1896-1897 do Quỹ Thám Hiểm Palestine thực hiện theo dấu vết của 34 bậc thang đi xuống ao. Phần chính của cầu thang được xây bằng đá cứng, nối với nhau rất khớp được đặt trên những miếng đá nhỏ và vữa vôi, nhưng phần kia của cầu thang thì được đục từ đá thiên nhiên và mặt bậc thang "được chà rất bóng bởi dép". Đường nét của ao cổ xưa cho thấy nó có kích thước lớn gấp đôi ao hiện nay.
    Các nhà khai quật cũng tìm thấy đống đổ nát được bảo tồn tốt của một nhà thờ do nữ hoàng Eudocia xây tại đây vào thế kỷ thứ 5, và đống đổ nát của tu viện được xây vào thế kỷ 11. Tháp Si-lô-ê, sụp và làm chết 18 người (LuLc 13:4) có lẽ nằm trong khu vực nầy nhưng chưa có gì chắc chắn.
    SODOM và GOMORRAH Hầu hết chuyên gia đều coi đống đổ nát của những thành phố này - nếu thực sự là còn - thì phải ngập dưới dòng nước cạn, trong khu vực Biển Chết, phía nam bán đảo Lisan. Tất cả truyền thuyết địa phương còn giữ lại bởi người bản xứ đều đồng ý về vị trí nầy. Josephus nói rằng Biển Chết trải dài từ Giê-ri-cô cho đến tận Zoar (B.T; IV.VIII.4), và sử gia Cơ-đốc giáo là Eusebius, thuộc thế kỷ 4, xác nhận những truyền thuyết và bổ sung rằng ở đó có một tiền đồn La-mã. Trong nhà thờ Medeba của người Hy-lạp, người ta cũng tìm thấy một bản đồ ghép, có từ thế kỷ thứ 5 hay 6, ghi Zoar ở góc đông nam của Biển Chết.
    Vào năm 1924, một đoàn thám hiểm hỗn hợp của Thần Học Viện Pittsburgh - Xenia và Học Viện Nghiên Cứu Đông Phương của Hoa Kỳ, do các Tiến sĩ Wright và Kyle dẫn đầu, thám hiểm vùng lãnh thổ tận phía nam của Biển Chết để xác định vị trí của Sô-đôm, Gô-mô-rơ và thành Xoa. Họ tìm thấy đống đồ nát của thành Xoa thuộc thời kỳ Byzantine và Ả-rập; nhưng họ tin rằng vị trị của Xoa đã bị ngập nước do mực nước Biển Chết dâng lên trước đó.
    Jebel Usdum (gò Sô-đôm) một ngọn núi bằng muối tinh thể, dài 5 dặm và cao 300feet dọc theo bờ tây nam của Biển Chết, có tên như vậy vì người ta tin rằng Sô-đôm ở gần cạnh nó.
    Tiến sĩ George Adam Smith nói về đống hư tàn của Sô-đôm và Gô-mô-rơ như sau:
    Tại đây là nơi xảy ra sự phán xét khủng khiếp nhất về tội lỗi của conngười. Ngọn lửa được ném xuống Sô-đôm và Gô-mô-rơ trong toàn bộ lịch sử Kinh
    Thánh. Đó là sự phán xét tội lỗi rõ ràng và công bình. Câu chuyện được thuật
    lại trong Sáng Thế Ký, được nhắc lại trong Phục Truyền Luật Lệ Ký bởi A-mốt, Ê-sai, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Ca-thương và Sô-phô-ni. Chúa chúng ta dùng câu chuyện ấy hơn một lần - như là hình ảnh về sự phán xét mà Ngàisẽ giáng xuống thành phố nào không vâng theo sự rao giảng, và chúng ta cảm nhận ngọn lửa đang táp vào má chúng ta (Mat Mt 10:15; 11:24; LuLc 10:12; 17:29). Phao-lô, Phi-e-rơ, Giu-đe đã đề cập đến nó. Trong sách Khải Huyền, thành phố tội lỗi - theo cách gọi thuộc linh - là Sô-đôm.Tuy đống đổ nát đã mất tích nhưng ngọn lửa thảm họa vẫn còn tiếp tục cháy!
    SUSA (SHUSHAN) Cách 200 dặm về phía đông Ba-by-lôn, là thủ đô của Ê-lam cổ (Susiana), sau đó trở thàh thủ đô mùa đông của các vua Ba Tư. Đó là nơi xảy ra các sự kiện Kinh Thánh vào thời Đa-ni-ên, Nê-hê-mi, hoàng hậu Ê-xơ-tê và vua A-suê-ru (Xerxes).
    Người Pháp bắt đầu khai quật ở đây vào năm 1852 dưới sự chỉ đạo của W.K. Loftus, năm 1884 được tiếp tục bởi M.Dieulafoy, sau đó là Jacques de Morgan và những người khác đã tiếp tục công trình. Đống đổ nát có 4 khu và choán diện tích 4900 acres vì vậy công việc khai quật không biết kéo dài đến bao giờ!
    Dieulafoy và vợ ông đã khám phá pháo đài cung điện mà tác giả E-xơ-ra gọi nó là "thành trì Su-sa", diện tích khoảng 123 acres và nổi lên cao hơn so với thành phố xung quanh nó, gồm nơi đặt ngai vua, hoang cung, hậu cung cùng nội viện, sân chầu, ngự viên, cột tháp, cầu thang, bục cao, một số lối đi có mái vòm. Nơi đặt ngai vua là đại sảnh có nhiều cột, diện tích gần 4046m2, khoảng 36 cột - mỗi hàng 6 cột - các cột điêu khắc hình bò đực quỳ đấu lưng với nhau, những đà bằng gỗ hương bách Li-ban đặt trên những cây cột đồ sộ. Tại phòng này có tổ chức các buổi yến tiệc và tổ chức các nghi lễ quốc gia được mô tả trong chương 1 của sách Ê-xơ-tê. Sàn đại sảnh được lát đá hoa đỏ, lam, trắng, đen như được mô tả trong sách Ê-xơ-tê. Hoàng hậu Ê-xơ-tê xinh đẹp đã bước đi uyển chuyển trên sàn đá hoa nầy khi liều mạng sống để xin ơn vua giải cứu dân tộc bà; bà đã bước lại gần ngai vua có tán che màu đỏ tía, dừng lại trước tấm thảm chỉ có vua mới được đặt chân lên đó.
    Phía trước đại sảnh là hoa viên, nơi vua đã từng bước chân chậm rãi tới lui suy nghĩ về hành vi xấu xa của Ha-man. Cạnh đó là cung vua điêu tàn và hậu cung cũng trong tình trạng ấy, hai khu nhà nầy nằm cạnh nhau. Cổng vua là nơi Mạc-đô-chê từng ngồi. Và trong đống đổ nát, Dieulafoy thậm chí tìm thấy một viên súc-sắc hình chữ nhật, trên đó khắc số 1,2,5,6. Vói viên súc sắc nầy, họ gieo để quyết định vận mệnh như Ha-man đã làm để định ngày tàn sát người Do-thái.
    Viên súc-sắc đã gây ấn tượng mạnh đối với Dieulafoy, và ông đã làm một mô hình theo tỉ lệ xích của cung điện khổng lồ ấy mà trong đó đã diễn ra nhiều sự kiện trong sách Ê-xơ-tê, và ông đặt mô hình ấy trong Viện Bảo Tàng Louvre tại Paris. Với sự phục chế như vậy, ta có thể xác định dễ dàng vị trí của Cổng Vua, nơi mà Mạc-đô-chê đã ngồi, nội viện đối diện với cung điện vua, nơi mà Ê-xơ-tê có thể đến mà không bị cấm, ngoại viện là nơi Ha-man đến hỏi xin vua để treo cổ Mạc-đô-chê; và ngự viên là nơi vua đến suy nghĩ và nguôi cơn thạnh nộ đối với Ha-man. Vì vậy chúng ta có thể phục hồi các cấu trúc xung quanh cung điện và có thể làm quen với nhiều sự kiện xảy ra ở đó, và thấy được sự chính xác lạ lùng của sách Ê-xơ-tê.
    Vào năm 1901 các nhân viên của de Morgan tìm thấy ba mảnh vỡ bằng đá diorite đen, khi ghép lại hình thành một bia có khắc chữ với đỉnh tròn, cao 2,26m (7feet 5inches) và được chứng minh là Bộ luật của vua Hammurabi. Trên đỉnh bia là một phù điêu nổi thấp cho thấy Shamash là thần mặt trời, đang trong tư thế trao bộ luật cho vua Hammurabi. Bên dưới hình điêu khắc là bộ luật dài, khắc bằng chữ hình nêm, và gồm khoảng 282 điều luật viết thành 3000 dòng; 248 điều luật vẫn còn trong tình trạng bảo tồn khá tốt, trong khi đó từ năm đến bảy cột của bản văn ở dưới đáy của mặt trước đã bị xóa mất trước khi tấm bia được phát hiện. Pere Jean Vincent Scheil, một chuyên gia lỗi lạc người Pháp về A-si-ri, đã dịch và xuất bản Bộ Luật trong vòng ba tháng. Chẳng mấy chốc Bộ Luật ấy được công nhận là một trong những tài liệu pháp lý quan trọng nhất thời cổ mà chúng ta có được.
    Bộ Luật được mở đầu bằng một đoạn dài dòng, trong đó Hammurabi tỏ ý tôn kính các vị thần đất và tự coi mình là "hoàng tử kỉnh kiền và kính sợ thần linh, là người ra lệnh khắc bia rồi dựng nó nơi công cộng" để người mạnh không ức hiếp kẻ yếu, công lý phải lưu hành trên đất. Bộ Luật của Hammurabi được dành cho mọi người trong vương quốc - cho thường dân cũng như quan xét là người quyết định các vụ kiện. Chú ý lời kêu gọi làm yên lòng dân trong đoạn mở đầu của Bộ Luật:
    Hãy để cho bất cứ ai là người bị ức hiếp có một cớ để trình diện trước điều
    luật của ta, vua của công lý, và sau đó đọc kỹ bia khắc của ta, chú ý đến lời
    nói quý báu của ta, mong nguyện bia khắc của ta sẽ minh oan cho người ấy.
    Nguyện người ấy hiểu được vụ kiện của mình; nguyện người ấy được an lòng
    vững dạ.
    Trong Bộ Luật, phần tiếp theo là pháp chế chỉ đạo hầu hết mọi khía cạnh trong sinh hoạt người dân, chứ không chỉ mang tính chất tôn giáo.
    Việc khám phá ra bia là một điều quan trọng nổi bật đối với mọi người, nhất là đối với học giả Kinh Thánh. Trước hết, nó là bằng chứng củng cố tính xác thực của luật Môi-se. Các nhà phê bình tin rằng nghệ thuất viết và khoa học về luật đã có từ thời ban sơ của lịch sử mà ta chưa biết được, nhưng đây là bằng chứng không thể chối cãi là ai ai cũng biết bia khắc lẫn Luật Môi-se đã có nhiều thế kỷ trước Môise. Thêm nữa, có sự tương đồng, thậm chí có sự tương đương đáng chú ý giữa một số điều luật của Hammurabi với luật Môi-se trong sách Giao Ước chẳng hạn, khi trích dẫn luật về gây thương tích đối với con người, điều luật 206 của Hammurabi nói rằng:
    Nếu một người đàn ông trong cuộc gây gổ đã vô tình gây thương tích người
    khác bằng cục đá hay quả đấm, làm cho kẻ bị thương phải nằm liệt giường,
    `thì kẻ gây thương tích phải bồi thường tổn thất về thời gian cũng như tiền
    khám bệnh.
    Luật Môi-se với sự phạm tội tương tự đã ghi như sau:
    "Khi hai người đánh lộn nhau, người nầy đánh người kia bằng đá hay là đấm cú, không đến nỗi phải chết, nhưng phải nằm liệt giường, nếu đứngdậy chống gậy đi ra ngoài được, người đánh đó sẽ được tha tội. Nhưng chỉ
    phải đền tiền thiệt hại trong mấy ngày nghỉ, và nuôi cho đến khi lành mạnh"(XuXh 21:18-19).
    Tính tương tự giữa các điều luật nầy với một vài điều luật khác khiến cho một số học giả khó tính nào đó đưa ra lý thuyết cho rằng Luật Môi-se trong Kinh Thánh là bắt nguồn phần lớn từ Bộ Luật của Hammurabi. Thế nhưng sau nhiều khai quật kỹ lưỡng hơn, các học giả đã bỏ lý thuyết nầy, và các nguồn nghiên cứu khác cho biết vào thời cổ đại tại nhiều nước khác cũng có bộ luật. Thậm chí có bộ luật còn xa xưa hơn cái bia khắc của Hammurabi. Lương tâm nhân loại từ lâu đã cho họ biết phải trái và công lý là tiêu chuẩn thỏa đáng nhất cho sự cư xử giữa người với người.
    Luật Môi-se thì cao hơn so với bộ luật Hammurabi, hoặc so với bất cứ bộ luật cổ nào, bởi lẽ do tiêu chuẩn luân lý cao của Luật Môi-se. Luật này nhấn mạnh đến động cơ tình thương, cả với Thượng Đế lẫn con người, Luật này đòi hỏi sự cư xử nhân đạo hơn đối với nô lệ, giá trị lớn lao hơn được đặt vào đời người, và tôn trọng hơn đối với phụ nữ. Nhưng về cơ bản, Luật Môi-se cao hơn bởi nó đưa ra tiêu chuẩn cao về đạo đức so với các bộ luật khác. Môi-se đã dạy dỗ về sự thật của tội lỗi và trách nhiệm của con người đối với Đức Chúa Trời về phương diện tội lỗi; một sự thật mà Hammurabi lẫn các nhà làm luật khác đã hoàn toàn không thể lĩnh hội. Bộ luật Hammurabi hoàn toàn chỉ là dân sự và hình sự, trong khi đó thì luật Môi-se có tính chất nghi thức, tôn giáo và hết sức thuộc linh - trong tất cả bộ luật của mọi thời đại thì phương diện thuộc linh chính là tính độc đáo của Luật Môi-se.
    TAANACH Nằm trên mép của bình nguyên Armageddon, ở giữa đường của Mê-ghi-đô và Jenin, được Giáo sư Ernst Sellin khai quật vào 1901-1904, ông đã lần ra dấu vết của bốn cấp độ cư ngụ của mô đất (hay gò), cấp độ xưa nhất có từ năm 2500 đến 1700 TC, cho thấy nó là một thành phố có tầm quan trọng vào lúc Áp-ra-ham đến Ca-na-an.
    Sau khi trở về từ Ai-cập, cuối cùng người Hê-bơ-rơ chiếm lấy Taanach (Cac Tl 1:27) và là một trong những thành phố tiếp liệu của người Hê-bơ-rơ dưới thời cai trị của Đa-vít và Sa-lô-môn (IVua 1V 4:12). Hiển nhiên là Sa-lô-môn đã để một số ngựa và xe ngựa của ông tại đây, điều ấy được chứng minh bằng một sự thật là các nhà khai quật tìm thấy những dãy cọc bằng đá có lỗ để buộc ngựa, sau đó họ cũng tìm thấy chuồng ngựa - giống như cái được phát hiện ở Mê-ghi-đô, Ghê-xe, Hazor và những thành phố chiến lược khác của Palestine. Các bức tường của đền thờ Am-môn tại Thê-be có ghi rằng Taanach là một trong những thành phố bị vua Shishak (Sheshonk I) đột kích vào lúc ông ta xâm lược Palestine vào năm 922 TC.
    TADMOR Người La-mã gọi nó là Palmyra nằm trên sa mạc Sy-ri, trong một ốc đảo phì nhiêu 120 dặm đông bắc Đa-mách. Nó được xây dựng, hoặc đúng hơn là có lẽ xây dựng lại như là một tiền đồn bởi vua Sa-lô-môn để dùng cho việc thương mại và quốc phòng (IISu 2Sb 8:4) và có thời nó trở nên nổi tiếng như là một quan ải phồn thịnh, vì hầu hết các thương nhân đến từ Mê-sô-bô-ta-mi đều phải kinh qua nơi này và nộp thuế.
    Thành phố đạt đến đỉnh cao huy hoàng và sự hùng mạnh dưới triều vua Odenathus (255-267 SC) và hoàng hậu Zenobia kế vị ông. Câu chuyện về La-mã thèm thuồng cảnh giàu có của Tadmor, bà ta đã chiến đấu cho thành phố nhưng chỉ giữ nó cho đến năm 273 SC, là một trong những câu chuyện hay trong lịch sử.
    Đống đổ nát hùng vĩ dài hơn 1 dặm của Taanach đã làm sửng sốt nhiều khách tham quan trong thế kỷ qua. Nổi bật nhất là phần còn sót lại của các bức tường, dãy cột đá vôi màu hồng nhạt, một cống nước, và Đền Mặt Trời nổi tiếng của nó.
    TAHPANHES Ngày nay được gọi là Tell Defneh, nằm trên châu thổ Ai-cập, gần hồ Manzaleh, chín dặm phía tây kênh đào Suez. Sau trận tàn phá Giê-ru-sa-lem vào 586 TC, Nê-bu-cát-nết-sa đã bổ nhiệm quan tổng đốc Galaliah cai quản những phần còn lại của xứ Giu-đa. Chẳng bao lâu ông bị ám sát. Sợ rằng Nê-bu-cát-nết-sa sẽ trả thù, Johannan là lãnh tụ còn sống sót của nhân dân, đã bỏ chạy cùng với số người còn lại sau cuộc thảm sát, gồm có Giê-rê-mi đến Tác-pha-nết (Gie Gr 40:5; 41:1-3; 43:5, 7). Sau đó chẳng bao lâu liền có lời phán của Chúa, tiên đoán sự lật đổ của Ai-cập, rồi đến lời tiên tri tại Tác-pha-nết.
    Những học giả khắt khe từ lâu bác bỏ đó là lời tiên tri của Giê-rê-mi và một lời tiên tri tương tự khác do tiên tri Ê-xê-chi-ên tuyên bố (29:19; 30:10) đã được thực hiện, bởi các ghi chép trong lịch sử thế tục không hề nói đến sự xâm lăng của Nê-bu-cát-nết-sa vào Ai-cập. Tình huống nầy thay đổi sau khi có sự phát hiện một phiến đá chữ hình nêm gồm nhiều mảnh vỡ, ngày nay nó ở trong Viện Bảo Tàng Anh, nói rằng Nê-bu-cát-nết-sa thực sự đã thực hiện một chiến dịch quân sự đối địch với Ai-cập vào năm trị vì thứ 37 của ông, tức năm 568 TC. Mặc dù phần lớn phiến đá đã bị mất và sự ghi chép kết quả của chiến dịch đã làm trọn lời tiên tri, không thể nghi ngờ gì về sự thành công mạo hiểm quân sự của Nê-bu-cát-nết-sa.
    Tác-pha-nết có vai trò trong lời tiên tri của Giê-rê-mi, được Flinders Petrie khai quật vào 1886 trong một mô đất được người Ả-rập địa phương gọi là Cung Điện Của Con gái Do-thái. Ông khám phá một phức hợp bục cao ở phía trước đống đổ nát của một lâu đài trông giống nơi đồn trú, mà ông cho đó là "Cung Điện của Pha-ra-ôn." Cạnh đó, ba câu khắc chữ hình nêm của Nê-bu-cát-nết-sa đã được người Ả-rập phát hiện, nhưng các tảng đá có thật mà Giê-rê-mi đã ẩn núp thì vẫn chưa được tìm thấy.
    THEBES Thủ đô của Ai-cập thượng, toạ lạc khoảng 48 dặm phía nam của thành phố Cairo hiện nay. Người Ai-cập biết đến nơi này như là No-Amon, tức là thành phố Amon, bởi theo họ thì nguyên thủy đó là trung tâm thờ A-mon, cùng với Mut là nữ thần mẹ, và Khonus là thần mặt trăng. Ba thần nầy hình thành bộ ba Theban, và quyền lực của Amon lớn dần bởi vì người ta đã đồng nhất Amon với Ra là thần mặt trời cổ đại dưới tên AmonRa, vua của muôn thần.
    Đối với thế giới cổ đại, Thê-be là biểu tượng của sự huy hoàng, và ngày nay nó là đống hư tàn vĩ đại nhất mà nhân loại được biết đến.
    Cũng giống như Ba-by-lôn cổ, Thê-be được chia cắt bởi một con sông Nile. Ở phía đông của Nile có thành phố thuộc thủ đô - đất của người sống. Tại đây trên một bình nguyên rộng và màu mỡ là hàng dặm đường sá chật ních người và xe ngựa. Những đại lộ nầy được gọi theo địa vị của gia đình cư ngụ tại đó; có biệt thự cho quý tộc và cung điện cho vua. mỗi căn nhà đều bao bọc bằng vườn hoa có tường. Gần cảng thì có những căn nhà thuộc thương mại và tòa nhà cho ngành vận tải, mà các thương nhân từ châu Á, Hy-lạp và biển Aegea đã đến đây. Nhưng các đền thờ thì cao nhất so với tất cả các kiến trúc khác, trong số ấy, đền Amon và đền Luxor là đồ sộ nhất. Hai đền này được nối liền bằng một đại lộ có lát rộng 76feet và dài 1,25 dặm, mang tên Đại lộ Sphinxes (đại lộ quái vật đầu người mình sư tử). Một trong hai bên đường có cây cọ, và những vườn hoa đẹp với cây cỏ, nhưng ở lề giữa của đại lộ thì hầu như toàn là tượng quái vật mình sư tử có đầu người hoặc đầu dê đực, gần 500 tượng ở mỗi bên.
    Đền Amon (ngày nay mang tên đền Karnak) rộng 338feet và dài 1200feet - cái đền lớn nhất. Đền có diện tích 200 acres được bao quanh bằng tường đá tương truyền cao tới 80feet.
    Đền Luxor, toạ lạc tại cực nam của Đại lộ Sphinxes, được dùng để thờ Amon Mut và Khonsu. Cổng của đền được hình thành bằng bức tường cửa tháp có nền dày và cao 80feet, rộng 200feet, mặt tường được tô "các cảnh chiến tranh sinh động" mô tả chiến tranh thời cổ. Tổng chiều dài của đền là 852feet, trong khu cực nam là nơi chí thánh, tại đó họ tiến hành những nghi thức kỳ lạ, thường là huyền bí, đặc trưng cho việc thờ lạy thần Amon, Mut, Konsu và các thần khác.
    TÂY THÊ-BE , nằm trên bờ đối diện của sông Nile, mà phần lớn là thành phố của người chết. Lúc sinh thời, đại đa số dân chúng sống ở đông Thê-be, vì vậy lúc qua đời, họ được đưa qua bờ tây sông Nile bằng đò, nơi đó xác của họ được sửa soạn, đặt trong mộ, quách đá, kim tự tháp và mồ mả ở sườn đồi. Một vùng trông giống công viên dài ba dặm, trải ra giống một tấm thảm khổng lồ đến tận lối vào của vách đá Li-bi hiểm trở, mọc cao tới vài trăm feet và được đục như tổ ong tới nhiều dặm để dùng làm nơi chôn người chết của tầng lớp quý tộc và công dân trong thành phố qua nhiều thế kỷ. Tại hai nơi của Thành phố người chết tràn ngập suốt từ ngọn núi hẹp đi vào Thung lũng Mộ Hoàng Hậu hẻo lánh ở phía nam, và Thung Lũng Mộ Vua ở phía bắc. Tại đây, trong khoảng 2 thế kỷ, các nhà khảo cổ đã khám phá mộ và buồng đục từ đá sâu ở bên trong vách đá. Cái ngắn nhất mà họ khám phá được chỉ dài 53feet, còn đường hầm dẫn vào mộ của Seti I kéo dài tới sườn núi khoảng 470feet. Nó có nhiều phòng, các bức tường của phòng thì phủ đầy các cảnh họa hay điều khắc đầy ấn tượng.
    Trong các ngôi mộ của vua (Pha-ra-ôn) được tìm thấy, thì ngôi mộ của vua Tut (Tutankhamen) được chứng tỏ là giàu và đáng nghiên cứu nhất. Nơi chôn cất vua là một dãy phòng gồm 4 ngăn. Hai ngăn đầy ắp xe ngựa, bàn ghế, tủ rất đẹp, những chiếc hộp lạ mắt, những cái rương sơn rất sắc sảo, những cái két khảm chứa đầy vải lanh mịn và lụa, vô số quần áo sang trọng, được cho là của hoàng tộc đương thời. Một áo bào trang trí công phu có tới gần 50 ngàn hột châu; tất cả quai dép của lính gác ở ô cửa được trang trí bằng vàng ròng. Carter để ra ba tuần làm việc cực lực để xem xét, tu sửa, trông nom những món đồ tìm thấy trong rương bằng gỗ mà thôi, theo ông Carter thì bên ngoài cái rương "vượt xa mọi thứ mà Ai-cập đã sản xuất." Nhiều cái rương còn chứa đá quý, viên ngọc, sản phẩm đẹp bằng đồng thiếc, những tấm ngọc trai, và vàng thì hầu như khắp chỗ.
    Phòng thứ ba là "phòng châu báu", ô cửa phòng này được canh gác bởi một tượng chó sói bằng gỗ mun và vàng, đó là thần Anubis, đang trong tư thế sẵn sàng trên đỉnh một cái hòm đựng thánh cốt đẹp. Đằng sau tượng là những cái hộp, rương đựng thánh tích, những mô hình thuyền, xe ngựa và cái két gỗ ba tầng, đóng đinh bằng vàng và khảm đồ sứ. Báu vật không có sở hữu chủ của phòng này là một cái rương có dạng rương đựng thánh tích gắn trên một xe trượt bằng gỗ. Chiếc xe trượt được phủ bằng một gờ của rắn mang bành linh thiêng giát bằng vàng, được canh giữ ở cả bốn góc bằng một nữ thần mà các cánh tay của nữ thần giang ra ôm lấy rương trong tư thế che chở. Khi lật lớp phủ ngoài, người ta phát hiện một chiếc xe trượt nhỏ hơn được phủ bằng một màn phủ bằng vải lanh. Bên dưới là một rương bằng thạch cao tuyết hoa trong suốt. Bên trong rương đẹp này có bốn quan tài giát vàng thu nhỏ chứa phủ tạng của vua. Cái rương thánh tích này không những tiêu biểu cho đỉnh cao thành tựu về nghệ thuật của các thợ kim hoàn và đá quý Ai-cập, mà còn là vật nhắc nhở đến hòm giao ước trang trí lộng lẫy được Môi-se và các nghệ nhân Hê-bơ-rơ làm trước đó hơn một thế kỷ tại núi Si-nai.
    Phòng mộ vẫn đẹp hơn. Trong đó có bốn cái rương đựng thánh tích, cái nầy lồng trong cái kia, mỗi cái "đều giống nhau về kiểu dáng và thậm chí còn sắc sảo hơn về tay nghề." Khi Carter mở niêm xi và giật lùi cái then của cánh cửa cuối cùng, ông thấy một cái quách to lớn bằng thạch anh vàng cònnguyên vẹn, chẳng khác gì những bàn tay kỉnh kiền vừa rời khỏi quách. Quách được phủ bằng những câu khắc có tính chất tôn giáo và các bức tranh tôn giáo, phía trên là cái nắp hòm đẹp bằng đá granit màu đỏ sẫm. Ở bốn góc của quách có phù điêu nổi thấp của bốn vị nữ thần đang đứng, đó là Isis, Nephthys, Neith và Selket, họ duỗi ra những cánh tay bảo vệ và cánh "như thể ngăn cản mọi kẻ xâm nhập với ý đồ quấy rầy vị vua đang ngủ trong quách". Bên dưới nắp quách nặng 2500 pounds và vải liệm bằng vải lanh là một hình nộm bằng vàng đẹp lộng lẫy của vị vua trẻ, choán đầy bên trong quách. Hai cánh tay đặt chéo trên ngực, và các bàn tay thì cầm gậy quyền và trượng quyền, đầu gậy và trượng được trang trí bằng đá thiên thanh. Quanh trán hình nộm có một vòng hoa là lễ dâng từ biệt của hoàng hậu trẻ dành cho chồng. Cái quan tài đẹp tinh xảo bao quanh một quan tài thứ nhì, cũng có dạng xác ướp và đẹp tựa cái thứ nhất. Bên trong quan tài thứ nhì là quan tài cuối cùng, bằng vàng ròng, trang hoàng bằng đá quý. Quan tài dạng xác ướp này nặng khoảng 1800 pounds và không tài nào xác định được giá trị bằng tiền.
    Trong quan tài thứ ba là xác ướp của vua. Trên mặt vua có bức chân dung bằng vàng của vua, quanh xác ướp của vua là 143 món đồ mà hầu hết là vàng hoặc đá quý.
    THESSALONICA Thành phố thứ nhì của châu Âu được nghe sứ điệp Tin Lành qua Phao-lô, có lẽ cũng là nhà thờ đầu tiên nhận thư tín của Phao-lô, ngày nay thành phố này có tên là Salonica. Toạ lạc tại xa lộ quân sự lớn ở phía bắc từ Ý đi về phía đông (ngày nay có tên là đường Egnation); đó là một trung tâm quân sự chiến lược và thương mại vào thời của Phao-lô.
    Trong ấn bản gốc bằng tiếng Hy-lạp của sách Công Vụ Các Sứ Đồ (17:6, 8), Lu-ca cho chúng ta biết viên chức đứng đầu thành phố được gọi là quan án. Trong nhiều năm các học giả khắt khe đã giải thích rằng thuật ngữ hay tước hiệu này không tìm thấy trong tài liệu văn học Hy-lạp, vì vậy Lu-ca đã nhầm lẫn khi sử dụng từ ngữ ấy.
    Tuy nhiên, sau đó người ta đã tìm thấy tước hiệu ấy trong nhiều câu khắc tại các đống đổ nát khác nhau ở Tê-sa-lô-ni-ca, nổi bật nhất trong số đó là ở vòm cổng Vardar bắc qua đường Egnation, tại cổng tây đi vào thành phố. Một đoạn của câu khắc đọc như sau:
    Trong thời Quan Án, Sosipatros, con trai của Cleopatra và Lucius Pontius Secundus Publius Flavius Sabinus, Demetrius, con trai của Faustus, Demetrius của Nicopolis, Zoilos, con trai của Parmenio, và Meniscus Gaius Agilleius Poteitus…
    Đoạn câu khắc trên ghi tên của sáu quan chức trong thành phố, họ là người đứng đầu "hội đồng nhân dân."
    Chắc chắn là Phao-lô và Lu-ca đã đi qua cái cổng vòm này và chú ý đến câu khắc. Lu-ca đã viết một cách chính xác về những quan tòa địa phương - gọi họ bằng tước hiệu mà hiển nhiên là chỉ sử dụng ở vùng ấy mà thôi.
    Cổng vòm đã bị đập phá trong một vụ bạo loạn vào năm1867, sau đó người Anh đã giành được câu khắc, hiện nay câu khắc ấy đang ở trong Viện Bảo Tàng Anh.
    TIRZAH Ngày nay được nhận định là một mô đất lớn mang tên Tell el Farah, nằm về phía đông bắc Nablus khoảng 7 dặm. Một khoảng thời gian sau khi phân cắt đất nước quân chủ, Giê-rô-bô-am biến thành phố này thành kinh đô của vương quốc ông (IVua 1V 14:17), nhưng sau khi ông qua đời thì thành phố ấy gánh chịu một lịch sử nhiễu nhương trong nhiều năm liền. Ôm-ri bao vây và đánh chiếm nó vào năm 884 TC, rồi trị vì trong sáu năm tại đây, sau đó dời kinh đô đến Sa-ma-ri.
    Pere de Vaux của Trường Kinh Thánh Dominica Giê-ru-sa-lem đã khai quật tại đó trong nhiều mùa sau năm 1949, khám phá bốn thời kỳ tương ứng với lịch sử Kinh Thánh của Tiệt-sa. Thời kỳ I (thuộc cấp độ III trong mô đất) kết thúc bất thình lình vào khoảng thời Ôm-ri đánh chiếm nơi này. Trong thời kỳ của Ôm-ri các sơ đồ nhà gốm có sân và khá quan trọng. Mỗi sơ đồ tiêu biểu cho một gia đình Y-sơ-ra-ên. Những toà nhà hành chánh to lớn chứng tỏ là mới xây và chưa hoàn tất, các nhà khai quật nghĩ rằng việc nầy nói lên rằng Ôm-ri đã bỏ nơi này và dời kinh đô về Sa-ma-ri.
    Cấp độ thành phố thứ nhì thuộc về thời A-mốt và Ô-sê. Có một sự tương phản mạnh về nhà - nhiều căn nhà nghèo, nhưng cũng có những căn nhà có dấu hiệu giàu có và phô trương. A-mốt nói về thế hệ nầy như sau: "Vì các ngươi hiếp đáp kẻ nghèo và đòi họ nộp thuế lúa mì, vậy nên những nhà bằng đá vuông nầy mà các ngươi đã xây nên, các ngươi sẽ không ở được. Các ngươi đã trồng những vườn nho ngon ngọt, nhưng sẽ không uống rượu nó" (AmAm 5:11); "Y-sơ-ra-ên đã quên Đấng tạo mình, và dựng những cung đền; Giu-đa đã thêm nhiều các thành bền vững. Nhưng ta sẽ sai lửa trên các thành nó, và lửa ấy sẽ thiêu cháy cung đền nó" (OsHs 8:14).
    Các nhà khai quật cho rằng trận phá hủy thành phố xảy ra vào 723 TC, lúc ấy Tiệt-sa bị đánh chiếm và thị trấn bị người A-si-ri phá hủy. Một thị trấn khác đã mọc lên trên đống đổ nát của Tiệt-sa nhưng mức độ phồn vinh thì không bao giờ trở lại như xưa.
    TROAS Là thành phố mà tại đây Phao-lô đã thấy khải tượng một người Ma-xê-đoan đến xin ông: "Hãy đến Ma-xê-đoan cứu giúp chúng tôi" (Cong Cv 16:6-11), nằm cách tây nam thành phố cổ Troy một quãng ngắn (thành Troy trong tác phẩm Iliad và Odyssey của Homer).
    Đống đổ nát của Trô-ách bị cướp lấy vào mục đích xây dựng cao ốc, nhưng tàn tích các bức tường, nhà hát, đền thờ, sân vận động vẫn còn lưu lại khá nhiều. Những thứ nầy là bằng chứng cho tầm quan trọng của thành phố, nhưng người ta không tìm thấy gì cho biết chính xác nơi Phao-lô đã thấy khải tượng.
    TYRE Hải cảng nổi tiếng nhất của vùng đất Kinh Thánh cổ đại, toạ lạc 20 dặm phía nam Si-đôn, trên một hòn đảo cách đất liền 3/4 dặm. Ty-rơ có hai cảng, phía bắc và phía nam, các bức tường của Ty-rơ cào vời vợi, nhất là về phía đất liền.
    Tại đây các nghệ nhân đã làm đồ đồng thiếc, đồ bạc, và các phẩm vật mỹ thuật khác, cũng tại đây sản xuất thuốc nhuộm màu đỏ tía làm cho Ty-rơ nổi tiếng. Các thương nhân Ty-rơ buôn bán với nhiều hòn đảo của Địa Trung Hải và thậm chí với các hòn đảo Anh quốc xa xôi. Ty-rơ trở nên "một thành phố tiếng tăm, là chỗ của người đi biển ở" (Exe Ed 26:17).
    Các vua chúa và quân nhân của nhiều nước đã đến bao vây Ty-rơ nhưng đều không thể chiếm thành phố, mãi đến năm 333 TC, A-lịch-sơn đại đế bao vây 7 tháng mới chiếm được nó. Nhưng Ty-rơ đã trổi dậy từ từ và trở thành một trung tâm thương mại của thời La-mã. Tuy vậy thì trong những thế kỷ gần đây, nơi này trở nên bé nhỏ. Các hải cảng đã dần dần tàn lụi và trở nên "một chỗ người ta phơi lưới" (Exe Ed 26:14)
    UR Ngày nay được biết dưới tên gọi là Tell Mugheir (gò nhựa rải đường), nằm 140 dặm phía nam của vị trí Ba-by-lôn cổ và 150 dặm tây bắc vịnh Ba-tư. Đống hư tàn chính của U-rơ choán một diện tích 150 acres, được khai quật bởi J.E.Taylor (1854), H.R.Hall (1919) cà C.Leonard Woolley (1922-1934).
    Taylor khám phá một bộ phận của tháp miếu khổng lồ hay còn gọi là Ziggurat (Núi trời) đi lên bằng ba chặng cao tới 70feet. Trong bốn góc của tháp miếu có bốn hốc mà trong đó có tảng đá hình trụ có khắc chữ hay còn gọi là viên đá góc biên bản, cho biết tên thành phố, người sáng lập thành phố, và những ai tái thiết Ziggurat từ thời này qua thời khác. Trong một căn buồng chất đống rác rưởi của một ngôi đền gần đó là một nơi cất giấu các phiến đá chữ hình nêm. trên một phiến đá trong số ấy, vua Nabonidus (556-536 TC) kể về việc xây dựng và sửa chữa tháp miếu khổng lồ từ thời này qua thời khác. Cũng có lời cầu nguyện với thần mặt trăng là Nannar, cho bản thân và cho người con trai trưởng là Bên-xát-sa để ông nầy "tránh xa tội lỗi" và "hài lòng với sự dư dật của cuộc sống." Những câu khắc này và các câu khắc khác xác minh lời ký thuật trong Kinh Thánh về Bên-xát-sa.
    Hall dọn sạch mặt tây nam của tháp miếu hùng vĩ và phô ra nhiều hơn về khu vực đền thờ.
    Woolley hoàn tất việc khai quật xung quanh tháp miếu khổng lồ và các đền thờ trong khu vực thiêng liêng, sau đó tiếp tục cho đến khi ông dọn sạch 4 dặm vuông của thành phố thời Áp-ra-ham. Ông phát hiện cầu tàu rộng lớn, nhiều tòa nhà thương mại, và vô số căn nhà hai tầng với sân, suối phun, lò sưởi, hệ thống vệ sinh. Nhà nguyện để thờ phượng thì có rải rác khắp nơi trong khu dân cư, cũng như trường học và những bảng đất sét - chứng tỏ rằng họ dạy đọc, viết, số học, văn phạm, lịch sử. Người ta tìm thấy một phòng lưu trữ về hồ sơ đền thờ, cho biết rằng tôn giáo, bao gồm các sự thờ phượng trong đền thờ, được duy trì bởi hiến tế của cư dân và các thương nhân.
    Những khám phá gây xúc động mạnh là ở trong nghĩa trang. Những ngôi mộ hoàng gia chứa rất nhiều món đồ làm bằng vàng, bạc, đá màu thiên thanh, bằng các vật liệu kém quý giá hơn. Trong một số ngôi mộ có từ 60-80 hài cốt của vệ sĩ, bảo vệ, nhạc công, những người hầu cận mà họ đã phải chịu chết để tiếp tục hầu vua và hoàng hậu ở thế giới người chết!
    Vật khám phá có ý nghĩa quan trọng nhất đối với những người nghiên cứu Kinh Thánh là một địa tầng đất sét sạch và cát có nước, dày 8feet, với dấu hiệu cư ngụ bên trên và dưới - cho thấy "một sự đứt đoạn xác định trong tính liên tục của nền văn hóa địa phương." Về điều nầy một nhà khai quật đã nói: "Không có sự dâng nước sông bình thường nào có thể để lại nước trong bờ đất sét nầy…