• Kinh Thánh Phán Với Bạn


     Kinh Thánh Phán Với Bạn
    Tác giả: Robert Mc Afee Brown
    Lời Mở Đầu
    Lời Tri Ân
    Vài điều về Quyển Kinh Thánh
    1. Tìm Thấy Phương Hướng
    2. Những Sự kiện và Những Con số.
    Đề tài của Kinh Thánh
    3. Đặt Câu Hỏi Thích đáng.
    4. Đức Chúa Trời, Sáng Thế Ký và Gia phả.
    5. Hai Mặt Của Một Đồng Tiền - Và Một Lời Tóm Tắt.
    6. Lời Tuyên Bố Và Những Thách Thức.
    7. Tính Chất Bất Ngờ Của Phúc Âm.
    8. Một Kẻ Khủng Bố Được Biến Đổi
    9. Khi Đức Chúa Trời “Liều Mình.”
    10. Chỗ Đồi Sọ.
    11. Một Sự Đe Dọa.
    12. Đối Đầu Với Những Sự Thật Xấu Xa.
    Kinh Thánh Được Viết Cho Ai?
    13. Về mặt nầy... Về mặt khác.
    14. Một Công Tác Tái Tạo Toàn Diện.
    15. “Nhưng Nhất Định Bạn Không Đến Nhà Thờ!”
    Những Chân Trời Mới Trong Kinh Thánh
    16. Một Thế Giới Mới Kỳ Diệu.
    17. Sự Thật Về Sống và Chết.
    Lối Suy Nghĩ Theo Kinh Thánh Về Các Nan Đề Ngày Nay
    18. Giai Điệu và Các Biến Tấu
    19. Khảo Sát Chiều Hướng Xã Hội Hoặc Tập Thể Trong Đạo Đức Luận Của Kinh Thánh, Cùng Bác Bỏ Đường Lối Duy Luật Pháp Hay “Tinh Thần Pharisi,” Là Vấn Đề Được Nói Đến Trong Phần Luận Giải Đức Tin Tân Ước về “Sự Tự do của Cơ Đốc Nhân”
    20. Những Sự Dạy Dỗ Không Đơn Giản Của Chúa Jêsus-Cùng Lời Chú Thích về Phaolô. 21. Trở Nên Hết Sức Cụ Thể
    22. Kinh Thánh và Bầu Cử
    23. Kinh Thánh Và Súng Đạn.
    Phần kết Luận
    24. Bí Mật và Ý nghĩa


    Lời Mở Đầu
    “Một cuốn sách nói về Kinh Thánh” có thể là một cái bẫy và là một sự lừa dối. Người ta có thể nghĩ rằng nếu đã đọc “một cuốn sách nói về Kinh Thánh” thì không cần phải đọc Kinh Thánh nữa. Thật ra, quyển sách nầy cũng giống như giúp bạn đọc về vị tổng thống của Hoa Kỳ (hoặc nhà quán quân của Liên Đoàn Quốc Gia) để biết về tổng thống trước khi bạn thật sự gặp ông. Những cuốn sách nói về Kinh Thánh giúp bạn biết Kinh Thánh một cách gián tiếp. Mục tiêu duy nhất của những quyển sách đó là thúc đẩy bạn tìm đến với Kinh Thánh, giục bạn cầm Kinh Thánh lên và đọc. Những quyển sách này cũng giúp bạn những thông tin và hiểu biết cần thiết để khi thật sự đọc Kinh Thánh, bạn sẽ không bỏ cuộc ngay từ đầu vì cảm thấy chới với trong các câu “người nầy sanh ra người kia” cứ lập đi lập lại.
    Như chúng ta sẽ thấy trong các trang kế tiếp, Kinh Thánh không phải “chỉ là một cuốn sách như bao nhiêu quyển sách khác” có nhiều thông tin thú vị về Đức Chúa Trời. Kinh Thánh chính là quyển sách cho người ta thấy Đức Chúa Trời “sống động,” bày tỏ đường lối Ngài cho con người và truyền dạy họ làm những điều liên quan đến Ngài. Ngài không phải là một Đức Chúa Trời “vô hại” hay “dễ bảo,” ngự trị an toàn sau các chắn song của thiên đàng xa xôi. Ngài có phương cách tỏ mình gây khó chịu nhất, ít ra là khi chúng ta cần Ngài; để đối mặt với chúng ta trong những cách lạ lùng nhất. Ngài thường hóa ra lại rất khác so với loại Thượng Đế mà chúng ta tự nghĩ ra. Chúng ta phải chuẩn bị cho những điều ngạc nhiên và những tin tức bất ngờ.
    Nếu đã được chuẩn bị cho những sự ngạc nhiên, bạn sẽ thấy tin bất ngờ nầy xuất hiện ở khắp mọi nơi, và khi bạn trở lại với các sách khác uyên thâm hơn quyển sách nầy để có thêm các thông tin ( sách chú giải và những sách thuộc loại đó), cuối cùng bạn sẽ phải quay lại với chính Kinh Thánh và để Kinh Thánh phán với mình, như Kinh Thánh cũng từng phán với nhiều người trước bạn. Nếu bạn làm như vậy, có thể Đức Chúa Trời không còn chỉ là một “ý tưởng,” mà Ngài sẽ trở thành một thực hữu đối với bạn. Bởi vì bạn sẽ tìm gặp Ngài chính ở chỗ Ngài vẫn luôn tìm kiếm bạn từ đầu.

    Lời Tri Ân
    Rất nhiều người đã giúp tôi thực hiện cuốn sách nầy. Dù có nguy cơ bỏ sót nhiều người, tôi vẫn phải nhắc đến một số người. Cuốn sách nầy có thể sẽ không bao giờ được bắt đầu nếu không có sự sẵn lòng của Tiến sĩ Charles J. Turck, Hiệu trưởng trường Cao Đẳng Macalester, đã làm nhẹ đi gánh nặng dạy dỗ của tôi tại đó trong một quý để tôi có được nhiều thời gian hơn biên soạn cuốn sách nầy. Không phải tất cả các hiệu trưởng Cao Đẳng đều có sự cảm thông hiểu biết như vậy. Ngoài ra tôi cũng đã lấy nhiều ý tưởng từ các sách vở khác, và mặc dầu tôi không hình dung người nào có thể tránh được điều đó, một số trong những ý tưởng mà tôi đã sử dụng rõ ràng là lệ thuộc vào những sáng tạo của người khác mà tôi phải tri ân. Câu chuyện “The man from Mars” trong Chương VI được chuyển thể từ Campus Gods on Trial của Chad Walsh (The Macmillan Company), và câu chuyện Hội Thánh Đầu tiên tại San Francisco trong Chương 15 được chuyển thể từ cuốn The Shape of the Liturgy của Dix.(The Dacre Press) Những ví sánh về chiếc đĩa hát và ô kính cửa sổ trong Chương 3 có nguồn gốc từ các tác phẩm của Emil Brunner. Có nhiều “vay mượn” khác nữa, nhưng phần kể trên là rõ nhất. Cũng xin ghi nhận rằng tôi đã nhận được sự giúp đỡ không kể xiết từ các chủ bút của Ban Chấp Hành Hội Trưởng Lão Ngành Giáo Dục Cơ Đốc và Nhà Xuất Bản Westminster. Nếu vẫn còn có những cụm từ tẻ nhạt và những câu văn khó hiểu trong các trang tiếp theo đây, điều đó không phải lỗi của họ, mức độ hoàn thành của họ trên hai bản thảo đầu tiên cũng đã tuyệt vời một cách lạ lùng rồi.
    Điều nầy đúng đối với tôi (nói theo một ẩn dụ mà tôi đã thấy được quy gán một cách khác nhau cho Coleridge, Newton, Herbert, và Perrault) nếu tôi thấy được bất cứ khải tượng nào ở chân trời thuộc linh, đó là vì tôi đã được mang trên vai của những người khổng lồ. Nhưng, điều này cũng đúng nữa, nếu khải tượng bị che mờ và khó phân biệt, là do tôi đã bị buộc phải xem cảnh đẹp bằng chính cặp mắt của mình thay vì của họ.
    Robert Mc AFee Brown

    Chương 1: Tìm Thấy Phương Hướng
    (Kinh Thánh Là Gì? )
    HỌC VIÊN (càng lúc càng quyết liệt ): Nhưng tại sao tôi lại phải bận tâm với một quyển sách đã được viết ra hàng ngàn năm trước cơ chứ! Tôi chỉ quan tâm đến những gì đang xảy ra hiện bây giờ! Việc người ta giải quyết nan đề của họ vào năm 700 T.C. thì có tạo được khác biệt gì cho tôi cơ chứ! Tôi đã có những vấn đề phải giải quyết ngay bây giờ rồi. Còn bận tâm đến việc đọc Kinh Thánh làm gì?
    GIÁO VIÊN TRƯỜNG CHÚA NHẬT ( rõ ràng đã không chuẩn bị cho loại sự việc nầy ): Thôi được...
    Đó là một câu hỏi có lý. Đó cũng là một câu hỏi gay go. Không câu trả lời mang tính lý thuyết suông nào có thể giải đáp được. Và nếu có thì nó phải xuất phát từ đời sống và tình huống của con người ngày nay. Dưới đây là một câu trả lời (và là một câu trả lời đúng) có thể cho chúng ta một sự trợ giúp nào đó. Chúng ta sẽ gọi đó là
    Sự Phục Sinh Giữa Thái Bình Dương
    Một tàu chiến mang theo 1500 lính thủy đánh bộ, là những người được đưa từ Nhật Bản trở về Hoa Kỳ để giải ngũ. Vào ngày thứ hai, một nhóm nhỏ trong số họ đến gặp vị mục sư tuyên úy và trước sự ngạc nhiên hết sức của ông ta, xin ông hướng dẫn họ học Kinh Thánh mỗi buổi sáng. Nén sự kinh ngạc của mình, vị mục sư tuyên úy đón lấy cơ hội.
    Gần cuối hải trình, nhóm người nầy đang học đến Giăng đoạn 11, là đoạn thuật chuyện sự sống lại của Laxarơ. Vị tuyên úy gợi ý rằng sự kiện này đã làm sống động điều Chúa Jêsus phán trong trường hợp đó: “Ta là sự sống lại và sự sống; kẻ nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết rồi. Còn ai sống và tin Ta thì không hề chết.” Điều quan trọng hơn cả sự sống lại của một tử thi vào năm 30 S.C chính là vấn đề lời tuyên bố của Chúa Jêsus có đúng vào năm 1946 S.C. (hoàn cảnh lúc ấy) hay không.
    Ông kể cho họ câu chuyện của Raskolnikov, người đàn ông trong tác phẩm Crime and Punishment của Dostoevsky, là người tự hủy hoại chính mình bằng hành động giết một người khác, nhưng ông ta thật sự đã được hồi sinh khi được nghe những lời này của Chúa Jêsus.
    Mọi người thảo luận chút ít. Một vài câu hỏi được đưa ra. Nhưng nói chung thì không có gì cho vị tuyên úy thấy rằng ông đã trình bày quan điểm của mình hiệu quả lắm.
    Khi cuộc thảo luận kết thúc, một lính thủy mang cấp bậc hạ sĩ theo vị tuyên úy vào phòng. Sau một vài lời mở đầu lúng túng, anh đi thẳng vào vấn đề. Anh nói: “Thưa mục sư, tôi cảm thấy như thể mọi sự chúng ta đọc buổi sáng hôm nay nhằm thẳng vào tôi. Tôi đã sống trong địa ngục trong suốt sáu tháng qua, và lần đầu tiên tôi cảm thấy được giải phóng.”
    Trong khi anh ta kể, câu chuyện trở nên rõ ràng. Vừa xong trung học anh được gọi vào quân ngũ. Anh đã trải qua thời gian dài trong các lực lượng đóng quân tại Nhật bản. Anh ngày càng chán chường. Cuối cùng một buổi tối nọ anh đã đi chơi với một số bạn bè và vướng phải rắc rối. Một rắc rối nghiêm trọng. May mắn thay (anh nghĩ như vậy) không ai biết chuyện đó. Nhưng chính anh biết rõ. Anh biết chắc rằng Đức Chúa Trời cũng biết. Anh cảm thấy mặc cảm tội lỗi, tội lỗi khủng khiếp. Mỗi ngày khi chiếc tàu càng gần đến San Fransisco, thì cảm nhận ấy lại gia tăng, rằng anh đã hủy hoại cuộc sống của mình và sẽ không bao giờ có thể đối mặt với gia đình khi trở về nhà.
    Dầu vậy, đó vẫn chưa phải là kết thúc. Anh cứ tiếp tục lập đi lập lại ý tưởng này nhiều lần: “Mãi cho đến trước ngày hôm nay, thưa mục sư tôi vẫn là một kẻ chết. Tôi cảm thấy bị chính mình, bị gia đình tôi (nếu họ biết), và bị Đức Chúa Trời lên án hoàn toàn. Tôi đã chết , nhưng bây giờ, sau khi đọc câu chuyện của Chúa Jêsus và Laxarơ, tôi biết mình đã được sống lại. Sự tha thứ của Đức Chúa Trời có thể vươn đến, thậm chí với tôi. Rốt lại, Chúa Jêsus phục sinh đang nói về một điều thực hữu, ngay lúc nầy.”
    Khi viên hạ sĩ rời phòng, rõ ràng là anh vẫn còn rất nhiều nan đề phải trang trải, và sự việc không tự động trở nên dễ dàng trong “đời sống mới,” nhưng khi vị tuyên úy dõi mắt nhìn anh ta bước đi, ông ta biết rằng vào ngày hôm ấy, trên chiếc tàu ấy, ở giữa Thái Bình Dương, phép lạ về sự phục sinh đã xảy ra. Hoàn toàn rõ ràng, lời của Chúa Jêsus là đúng: “Người nào tin Ta thì sẽ sống mặc dầu đã chết.”
    Điều Gì Đã Xảy Ra?
    Bây giờ chúng ta hãy đối diện với điều đó. Xét theo bề ngoài thì đối với một người lính thủy bị dày vò trong linh hồn đang ngồi trên đống dây thừng trên chiếc tàu chiến, dường như câu chuyện người chết sống lại vào thế kỷ thứ nhất hoàn toàn chẳng liên quan gì đến anh. Nhưng vì một lý do lạ lùng nào đó, câu chuyện không phải không có liên quan. Câu chuyện như thế nào mà sau khi đọc nó người lính thủy có thể nói rằng anh đã chết mà nay được sống? Điều xảy ra chính là chân lý sống trong câu chuyện đã trở nên chân lý sống cho chính anh . Đó không phải là một câu chuyện xưa cổ trong lịch sử, mà đó chính là câu chuyện của anh . Một lời ký thuật về chính tình trạng của anh ta . Sứ điệp của sự sống mới đã vượt qua các trang giấy và đến được với anh, nắm lấy anh, và đã biến đổi anh. Kinh Thánh không chỉ tuyên bố điều gì đó đã xảy ra vào thế kỷ thứ nhất mà Kinh Thánh còn tuyên bố điều đang xảy ra trong thế kỷ thứ hai mươi.
    Giả sử như, và đây cũng là điều hoàn toàn có khả năng, vị tuyên úy đã bỏ sót “vấn đề quan trọng” trong câu chuyện của Laxarơ (và tôi biết rõ khả năng nầy lắm bởi vì tôi đã từng là một mục sư tuyên úy), dầu vậy quyền năng của sứ điệp Kinh Thánh “đã xuyên thấu” vào người lính thủy nầy, bằng sứ điệp chữa lành và ban sự sống mới của Kinh Thánh.
    Đây không phải là một trường hợp đơn lẻ. Những chuyện như vậy đã xảy ra cho con người kể từ khi Kinh Thánh được viết ra. Sự thật là khi người ta tự cởi mở chính mình trước sứ điệp của Thánh Kinh, sự việc bắt đầu xảy ra.
    • Con người hành động một cách dạn dĩ.
    • Nhiều cuộc đời được biến đổi.
    • Những kẻ nhút nhát trở nên can đảm
    • Một Hội Thánh chết trở nên sống động trở lại
    Chúng ta hãy chọn bừa ba tên tuổi trong lịch sử Hội Thánh: Thánh Augustine, nhà kiến trúc của tư tưởng Cơ đốc Tây phương; Martin Luther, người đi đầu trong số những nhà Cải chánh Tin lành vĩ đại; và John Wesley, nhà sáng lập điều ngày nay chúng ta gọi là Hội Giám lý. Mỗi người trong số ba nhân vật nầy đều đã đến chỗ trưởng thành trong đức tin Cơ Đốc bằng con đường khó khăn. Không có sự chuyển tiếp dễ dàng từ “ tôn giáo thời thơ ấu” hay bất cứ điều gì tương tự như vậy đối với họ, mà đó là một cuộc chiến gay go, gian khổ. Đối với mỗi người, chính sự tiếp xúc với sứ điệp sống của Kinh Thánh cuối cùng là nhân tố quyết định khiến họ ủng hộ Kinh Thánh.
    Điều tương tự cũng đang xảy ra ngày nay. Không những chỉ khuấy động những người lính thủy, mà cả đến những người nam người nữ ở khắp mọi nơi. Thật vậy, điều có ý nghĩa nhất trong hai mươi lăm năm qua về sự sống của Hội Thánh Tin lành chúng ta là điều có thể được gọi là “việc tái khám phá Kinh Thánh.” Người ta đang nhận ra rằng Kinh Thánh không phải là một cuốn sách lỗi thời, nhưng nó thức thời một cách đáng ngạc nhiên, và khi họ trở lại với Kinh Thánh, Kinh Thánh ngày càng soi rọi ánh sáng tươi mới trên những hoàn cảnh của chính họ vào các năm 1946, hoặc 1955, hoặc 1964.
    Kinh Thánh Là Gì?
    Nếu đúng như vậy, thì có một vấn đề xác thực cần phải được nêu lên một lần nữa: “Như vậy Kinh Thánh là gì? Vì sao Kinh Thánh tiếp tục có được thứ ảnh hưởng mạnh mẽ như vậy? Vì sao người ta tiếp tục được biến đổi bởi Kinh Thánh?” Chúng ta hãy tìm hiểu xem.
    Nếu bạn được trao cho một cuốn Kinh Thánh lần đầu tiên trong đời, và có vài giờ để ghi xuống một số những cảm tưởng, thì có thể bạn sẽ kết thúc với một bảng danh sách như sau:
    Một quyển sách QUÁ dài
    hai phần chính (Cựu ước và Tân ước - những thuật ngữ ấy có nghĩa gì?)
    thật ra, Kinh Thánh không phải chỉ là một quyển sách mà gồm nhiều sách (66 quyển) một số rất dài, một số khác chưa đến một trang.
    • thuộc đủ loại:
    • lịch sử.
    • chuyện ngắn
    • kịch
    • thơ ca trữ tình
    • triết lý
    • các điều luật
    • các bức thư chân tình
    • một số điều làm tôi bị lúng túng hoàn toàn
    • dường như chủ yếu viết về người Do Thái và về sau viết về một người trong số họ một cách đặc biệt (nhân vật Giêxu).
    • Nếu bạn đi thêm một chút xíu nữa vào trong lịch sử của bản thân Kinh Thánh bạn sẽ kết luận với một vài sự kiện nữa:
    • sách đã được viết ra cách đây rất lâu - khoảng 1000 năm
    • phần đầu được viết bằng tiếng Hybá, phần thứ hai bằng tiếng Hylạp, một ít tiếng Aram (là ngôn ngữ gì?)
    • kể từ đó nhiều phần trong Kinh Thánh đã được dịch ra trên 1000 THỨ TIẾNG!!
    • Bản dịch mới nhất (sang tiếng Anh) được gọi là “cuộc mạo hiểm xuất bản lớn nhất trong lịch sử.”
    Tất nhiên, những thông tin trên không bắt đầu trả lời cho câu hỏi: Kinh Thánh là gì? Nhưng nếu bạn cứ tiếp tục xem xét các thông tin đó, cuối cùng bạn sẽ đưa ra một điều gì đó như một vài đoạn tiếp theo sau đây.
    Sẽ là không đủ khi bảo rằng Kinh Thánh là lời ký thuật việc con người tìm kiếm Đức Chúa Trời , một lời tường thuật về cuộc tìm kiếm khổ sở, chậm chạp, tiến dần từ những sự bắt đầu sơ khai đến chủ nghĩa độc thần (niềm tin nơi một Đức Chúa Trời )phát triển cao. Thật vậy, có nhiều ví dụ về sự phát triển khái niệm về Đức Chúa Trời khi nó trở nên thuần khiết và cao quý trong quá trình lịch sự của người Do thái. Nhưng là một phương tiện để hiểu biết Kinh Thánh, thì điều đó chưa đủ. Bảo rằng Kinh Thánh là lời ký thuật của việc Đức Chúa Trời tìm kiếm loài người thì gần với sự thật hơn. Xuyên suốt Kinh Thánh, con người dường như lúc nào cũng có khuynh hướng trốn tránh Đức Chúa Trời. Mặc dầu vậy, Đức Chúa Trời tiếp tục tìm kiếm những con người đó, không chịu bỏ cuộc, tiếp tục đeo đuổi bất chấp vô số những sự từ chối và né tránh.
    Kinh Thánh có tất cả sự thú vị và hồi hộp của một câu chuyện trinh thám, trong đó viên thám tử không ngơi ngớt rượt đuổi kẻ tội phạm từ chương nầy sang chương khác. Cùng một loại đeo đuổi không khoan nhượng ấy chi phối lời giải thích mà người Do thái đã trình bày với quá khứ lịch sử của họ trong Cựu ước. Cuộc tìm kiếm kết thúc trong Tân ước, nơi có lời tuyên bố rằng Đức Chúa Trời, vì quá mong muốn có được mối tương giao với con người đến đỗi không những đã sai các sứ thần, những vị khâm sai hay các tiên tri hoặc những người đại diện - mà qua Chúa Cứu Thế Jêsus, chính Ngài đã đến! Đây chính là lời tuyên bố gây kinh ngạc hơn hết đã từng được phán ra. Đây chính là tuyên bố lạ lùng nhất từng được công bố. Nếu như có một tin tức bất ngờ nào, thì đó chính là Tin lành.
    Dầu vậy thậm chí còn có nhiều điều lớn lao như thế nữa. Kinh Thánh không những cho biết Đức Chúa Trời đã tìm kiếm dân Ngài trong quá khứ; mà Kinh Thánh còn là một phương tiện để Ngài tìm kiếm chúng ta ngày nay . Kinh Thánh không chỉ là quá khứ tẻ nhạt; mà nó còn là hiện tại sống động. Ta không thể đọc Kinh Thánh mà không ý thức mình tham dự vào. Bởi vì những kinh nghiệm của các nhân vật trong Kinh Thánh chính là kinh nghiệm của chúng ta. Họ đặt những câu hỏi:
    • Nếu con người chết đi, liệu có sống lại không? (Giop G 14:4).
    • Bạn nghĩ gì về Chúa Cứu Thế? (Mat Mt 22:42).
    • Lạy Chúa, Ngài là ai? (Cong Cv 9:5).
    • Lạy Chúa, tôi phải làm gì? (22:10).
    • Vì sao con đường của kẻ ác được thạnh vượng? (Gie Gr 12:1).
    • Hỡi linh hồn ta, cớ sao ngươi sờn ngã? (Thi Tv 42:5).
    • Và chúng ta cũng đặt những câu hỏi tương tự, dù cách dùng từ hơi khác:
    • Điều gì xảy đến cho tôi khi qua đời?
    • Liệu Chúa Jêsus có thật sự vĩ đại hơn những con người vĩ đại không?
    • Đức Chúa Trời là ai?
    • Niềm tin nơi Đức Chúa Trời sẽ tạo ra điều gì khác biệt?
    • Mấu chốt của việc “sống tốt” là gì?
    • Vì sao cuộc sống đôi khi dường như phù phiếm khủng khiếp?
    Tới mức độ đã thật sự đặt những câu hỏi trên (phải có can đảm để nêu những câu hỏi ấy một cách thành thật), chúng ta phát hiện mình có liên quan đến việc đặt và trả lời những điều có trong Kinh Thánh. Hãy nhớ rằng chúng ta sẽ không tìm thấy những câu trả lời có sẵn trên chiếc đĩa bạc, các câu trả lời cũng không được ban cho các nhân vật trong Kinh Thánh trên một chiếc đĩa bạc. Những câu trả lời họ có đã được nhấn mạnh cho họ qua “ máu, sự lao khổ, nước mắt và mồ hôi” của một lịch sử đau buồn. Những câu trả lời đó đã không ra từ nghiên cứu của một nhà triết học, hay thậm chí từ một lớp học Trường Chúa Nhật. Chúng nổi lên từ những gian khổ và mất mát của cuộc sống, và chính trong những gian khổ và mất mát đó chúng ta khám phá sự giải đáp của Kinh Thánh xác thực như thế nào.
    Nhưng không phải chỉ qua các câu hỏi và trả lời mà chúng ta thấy Đức Chúa Trời tìm kiếm chúng ta trong Kinh Thánh. Không những các mạng lệnh và lời hứa của Chúa đã được đem đến gần chúng ta, mà chính mình Đức Chúa Trời “trở nên sống động,” và phán với chúng ta khi chúng ta đọc Kinh Thánh nghiêm túc. Chính vì lý do đó mà các Cơ Đốc Nhân gọi Kinh Thánh là “Lời của Đức Chúa Trời.” Điều nầy không có nghĩa những “lời” của Đức Chúa Trời được ghi lại trong Kinh Thánh như thể có ai đó đã có một chiếc máy thâu băng siêu phàm và rồi đã sao chép lại sứ điệp ấy ra trên giấy. Bởi vì, như chúng ta sẽ thấy Đức Chúa Trời “phán” với con người, không nhiều qua những lời tuyên bố cho bằng qua hoạt động sáng tạo của Ngài ngay nơi con người đang ở. Sự mặc khải siêu nhiên của “Lời” Ngài, là quyền phép sáng tạo của Ngài, chính là “sự kiện” Chúa Cứu Thế Jêsus, qua đời sống, sự chết, và sự phục sinh của Ngài - “Ngôi lời đã trở nên xác thịt,” như sách Phúc âm Thứ Tư đã chép. Và rồi, Kinh Thánh cho chúng ta biết những thời điểm Đức Chúa Trời hành động trên đời sống của con người, khi chúng ta đọc Kinh Thánh, là tạo khả năng Chúa có thể phán trực tiếp với chúng ta qua các sự kiện và hành động ấy. “Kinh Thánh là một bức thư đặc biệt được gởi với tên và địa chỉ của bạn trên đó” là một cách mô tả Kinh Thánh. Vì vậy Kinh Thánh hơn cả một lời ký thuật; là một tiếng gọi, một lời mời gọi, một sứ điệp khẩn cấp dành cho chúng ta.
    Việc Sử Dụng Kinh Thánh
    Nếu đúng như vậy, thì bây giờ có một câu hỏi hàng đầu cần phải được nêu lên: Tôi có thể sử dụng Kinh Thánh bằng cách nào ngõ hầu Kinh Thánh sẽ phán với tôi theo cách ấy? Chúng ta hãy xem xét một số phương cách qua đó các Cơ Đốc Nhân đã thử để trả lời cho câu hỏi nầy.
    1. Một phương pháp mà người ta đã sử dụng từ rất sớm, đặc biệt với những câu Kinh Thánh khó, đó là giải thích Kinh Thánh bằng ngụ ngôn . Ngụ ngôn là một câu chuyện có những ý nghĩa ẩn tàng không xuất hiện ở bề mặt. Ví dụ nếu tôi viết: “con gấu trúc mắc một cái dằm trong móng vuốt của nó cho đến khi đến được bờ sông,” đây có thể là cách nói ngụ ngôn của tôi hàm ý rằng Cơ Đốc Nhân (gấu trúc) dính líu vào trong tội lỗi (cái dằm) cho đến khi người ấy được báp tem (bờ sông), và tôi có lẽ đang cố gắng một cách nghiêm túc để viết về niềm tin Cơ Đốc bằng hình thức chuyện ngụ ngôn về loài vật.
    Nhiều người trong số các Giáo phụ của Hội Thánh Đầu Tiên đã giải thích các đoạn Kinh Thánh bằng cách nầy. Hãy lấy ví dụ của Chúa Jêsus về câu chuyện người Samari Nhơn lành, minh họa điều hàm ý một người lân cận tốt là thế nào ( xem LuLc 10:25-37 nếu bạn đã quên diễn tiến của câu chuyện). Thánh Augustine đã dựng nên một ngụ ngôn từ câu chuyện nầy, sau khi cho mỗi chi tiết một ẩn ý. “Có một người” chính là Ađam. Giêrusalem là thành của thiên đàng. Những kẻ cướp là ma quỷ và các quỷ sứ nó. Người Samari là Chúa Jêsus. Quán trọ là Hội Thánh. Chủ quán là sứ đồ Phaolô. Và vân vân. Câu chuyện về người Samari Nhơn lành đã được biến đổi từ một câu chuyện về lòng tử tế thật thành một chuyện ngụ ngôn của kịch nghệ Cơ Đốc về sự cứu rỗi.
    Bởi vì ngôn ngữ tôn giáo luôn phải tận dụng lối nói hình tượng, phương pháp giải thích bằng ngụ ngôn đôi khi rất hữu ích. Sự nguy hiểm ở chỗ một người không phải là học giả và chuyên gia có thể “bóp méo” một câu chuyện để nói lên điều mình muốn, như vậy không những ý nghĩa thực sự của câu chuyện có thể bị đánh mất, mà những ý nghĩa sai trật hoàn toàn có thể bị “hiểu”.
    2. Tương phản hoàn toàn với phương pháp ngụ ngôn là quan điểm Kinh Thánh phải được diễn dịch theo nghĩa đen , kèm thêm tuyên bố từng lời đã được hà hơi trực tiếp, nên mọi lời đều có lợi ích và giá trị ngang bằng nhau. Phương pháp giải thích Kinh Thánh này mới hơn phương pháp ngụ ngôn rất nhiều. Ví dụ, Luther, nhà Cải chánh Tin lành đầu tiên, phân biệt rõ ràng giữa các sách khác nhau của Kinh Thánh, đã gọi sách Giacơ là một “thơ tín ít giá trị,” và bảo rằng ông thấy có ít giá trị niềm tin trong sách Khảihuyền. Nhận định của ông đúng hay không tạm thời không quan trọng cho bằng ông cảm thấy tự do để đưa ra những nhận xét đó. Nhưng những nhà Cải chánh về sau, đã tiếp tục cùng với Luther để bác bỏ thẩm quyền tuyệt đối của giáo hoàng và quay sang đặt niềm tin nơi thẩm quyền tuyệt đối của Thánh Kinh ngày càng nhiều hơn, giải thích rằng là Cơ Đốc Nhân nghĩa là người tin lời Kinh Thánh, những lời tuyên bố chứa đựng bên trong hai bìa của sách, đúng theo nghĩa đen trong mọi chi tiết. Điều nầy nẩy sinh nan đề ra sao?
    Vì một điều, thật sự là ngôn ngữ tôn giáo cần phải dùng đến chủ nghĩa biểu tượng, sự tượng hình, và cách mô tả có chất thơ trong những trường hợp nhất định, việc sử dụng ngôn ngữ như vậy đánh mất ý nghĩa tôn giáo nếu xét theo nghĩa đen. Ví dụ khi Chúa Jêsus bảo chúng ta hãy trở nên như con trẻ, không có nghĩa Ngài hàm ý chúng ta phải mang tã.
    Có một khó khăn về đạo lý trong quan niệm mà“những người giải thích theo nghĩa đen” đôi khi tán thành, cho rằng tất cả các phần trong Kinh Thánh đều đúng và được thần cảm như nhau. Có - hoặc phải có - một sự khác biệt rõ ràng giữa thái độ của Thi Tv 127:1-5 đối với kẻ thù: “Phước cho người bắt con nhỏ ngươi, đem chà nát chúng nó nơi hòn đá!” (câu 9) với thái độ của Chúa Jêsus với kẻ thù của Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ; vì họ không biết điều mình làm” (LuLc 23:34). Hai câu ấy rõ ràng không cùng một mức độ giá trị thuộc linh như nhau. Đặt mọi câu Kinh Thánh trên cùng một mức quan trọng như nhau là đưa chính mình vào chỗ khó khăn giống như người mở Kinh Thánh hú họa để tìm lời khuyên trong lúc gặp khó khăn, và chuốc lấy họa khi tưởng được soi sáng bằng những lời nầy: “Giuđa đi ra và treo cổ.” Chưa thỏa mãn với lời an ủi lạnh lùng ấy, anh ta thử lại một lần nữa, lần nầy anh mở ra trúng chỗ: “Hãy đi và làm y như vậy.”
    Kinh Thánh không phải là một bộ sưu tập cố định gồm những câu trả lời có bằng chứng giáo khoa, được sử dụng theo kiểu đó. Hiểu như vậy, sẽ thấy thật khó khăn khi tiếp cận Kinh Thánh như một loạt các lời tuyên bố mà mỗi lời đều đúng theo nghĩa đen và có giá trị bằng nhau. Vấn đề là Đức Chúa Trời của Kinh Thánh có thực sự chọn cách nầy để mặc khải chính mình Ngài hay không. Dầu còn đeo đuổi vấn đề nầy trong chương kế tiếp, chúng ta vẫn lập lại một lần nữa điều đã được nói, đó là qua Kinh Thánh, chúng ta thấy Đức Chúa Trời không mặc khải chính mình Ngài qua các lời tuyên bố nhiều cho bằng qua các sự kiện, các nhân vật, và các hành động. Nói cách khác, Ngài là một Đức Chúa Trời có thân vị, ra sức bước vào mối tương giao cá nhân với con cái Ngài. Chúng ta không thể bước vào mối tương giao cá nhân với một cuốn sách phi thân vị nhưng chúng ta có thể bước vào mối tương giao cá nhân với một con người, với Chúa Cứu Thế Jêsus. Và vì vậy, chính về nhân vật đó mà sách nầy được viết ra, chứ không phải vì bản thân quyển sách, Ngài là chủ thể và đối tượng của đức tin chúng ta. Những người Tin lành tin chắc nơi “thẩm quyền của Kinh Thánh,” bởi vì Kinh Thánh đưa họ mặt đối mặt với Chúa Cứu Thế Jêsus. Đức Chúa Trời đã đối diện họ bằng một thân vị sống, không phải chỉ qua những thông tin về những nhân vật đó.
    Điều nầy phần nào cũng giống như một bức thư của một người bạn. Bạn không quý trọng bức thư nhiều vì những cụm từ hoặc văn phong của nó cho bằng vì nó đưa người ấy đến gần bạn hơn và giúp bạn hiểu rõ người ấy hơn. Sự hiện diện liên tục của lá thư có lẽ cũng tốt, nhưng đó là một sự thay thế khá tồi so với sự hiện diện liên tục của người bạn. (Bất cứ ai đã từng yêu thì sẽ hiểu điều nầy.) Luther đã làm rõ điểm nầy - nếu chúng ta có thể thay đổi ý tưởng của mình hơi đột ngột - khi ông nói: “Kinh Thánh là chiếc nôi mà Đấng Christ nằm ở trong.”
    3. Một cách sử dụng Kinh Thánh khác nữa đó là giải thích Kinh Thánh trong tinh thần phê phán , tức là từ quan điểm nghiên cứu văn chương Kinh Thánh. Suốt một thời gian dài, các học giả đã nghiên cứu các thủ bản Kinh Thánh đầu tiên, từ cách xác định các sách trong Kinh Thánh được viết ra vào lúc nào, ai viết và viết cho ai, hoàn cảnh nào các sách ra đời, và v.v..Bởi vì con người đôi khi chế nhạo cách giải thích Kinh Thánh nầy, nên phải nhấn mạnh rằng Cơ Đốc Nhân ngày nay mắc nợ lớn đối với các học giả ấy. Nhờ những nỗ lực của họ, ngày nay chúng ta có những công cụ để hiểu Kinh Thánh tốt hơn bao giờ hết có thể có được. Để biết được cuốn sách đã được viết ra lúc nào, do ai, dành cho ai, ý định của tác giả là gì? - tất cả điều nầy ngày nay đã có được cách rõ ràng.
    Vì vậy khó khăn chính với phương pháp nầy không phải là vì nó sai trật hoặc thiếu sự tôn kính, nhưng bởi bản thân nó chưa đầy đủ. Ví dụ thật thú vị khi biết rằng có hai câu chuyện sáng tạo trong Sáng Thế Ký, và thật thú vị để so sánh những tương đồng và những khác biệt của chúng. Nhưng điều nầy chỉ có giá trị như một công cụ để giúp chúng ta hướng đến các vấn đề nền tảng hơn: ý định của các câu chuyện sáng tạo này là gì? Chúng cho ta biết gì về sự quan tâm của Chúa đối với chúng ta? Những hàm ý của ý tưởng Đức Chúa Trời đã dựng nên trái đất, và đặc biệt là Ngài đã dựng nên chúng ta, là gì? Bản thân phương pháp phê bình không cho chúng ta những câu giải đáp dành cho những thắc mắc ấy.
    4. Vậy thì những phương cách trên chưa phải là cách đầy đủ hoàn toàn để hiểu biết và sử dụng Kinh Thánh. Có cách nào có ý nghĩa hơn không? Phương cách được đề nghị ở đây (và sẽ được bao hàm xuyên suốt phần còn lại của sách nầy) là chúng ta hãy đọc Kinh Thánh như các diễn viên tham gia vào vở kịch Kinh Thánh trong công cuộc Đức Chúa Trời tìm kiếm loài ngươì.
    Chúng ta là một phần của vở kịch nầy. Chúng ta không thể tách mình khỏi vở kịch đó. Chúng ta không thể hiểu Kinh Thánh như một thủ bản cổ chủ yếu vì lòng quan tâm của một người chuyên sưu tầm đồ cổ hoặc người bảo quản viện bảo tàng.
    Chúng ta phải hiểu Kinh Thánh như một cuốn sách sống được viết cho chúng ta, trong đó chúng ta làm một với những người ở dưới sự phán xét của Đức Chúa Trời và những người nhận được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Lỗi lầm chết người đó là đọc Kinh Thánh như một người đứng ngoài xem xét chứ không phải như một người tham dự, và đưa ra một giả định sai lầm rằng chúng ta có thể ngồi trong rạp hát theo dõi vở kịch, trong khi thật sự chúng ta phả ở trên sân khấu dự phần trong vở kịch.
    Điều đó có nghĩa khi Amốt lớn tiếng cảnh báo dân chúng thành Bêtên rằng họ đang phạm những điều sai trái, thì chúng ta cũng đang nghe ông phán cùng mình. Không những ông chỉ cho chúng ta biết điều gì sai trật ở tại Bêtên - là ông cũng cho chúng ta biết điều sai trật ở tại Minneapolis, Houston hay Grover Corner hoặc bất cứ nơi nào chúng ta đang sống.
    Khi Chúa Jêsus phán cùng các môn đồ: “Còn người ta nói ta là ai?” đó cũng chính là câu hỏi đang được nhắm vào chúng ta. Chúng ta nói Ngài là ai? Chúng ta đang được hỏi để quyết định, cũng như các môn đồ đang được hỏi để quyết định.
    Như vậy, hoặc Chúa Jêsus nói: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng hãy đến cùng ta,” hay Ngài nói: “Các ngươi bề ngoài ra dáng công bình, nhưng trong lòng thì chan chứa gian ác và tội lỗi,” là Ngài đang nói với chúng ta cũng như nói với các thính giả ở thế kỷ đầu tiên.
    Như thế, chúng ta đang trở thành những diễn viên hoặc người tham dự không phải chỉ vì biết đôi điều về tình huống lịch sử mà trong đó có lời được phán ra hoặc một sự kiện diễn ra, mà chính bởi hiểu rằng lời hoặc sự kiện đó có liên quan đến hoàn cảnh của mình, ngõ hầu lời ấy trở thành lời phán dành cho chúng ta, sự kiện ấy là sự kiện có ý nghĩa cho chính chúng ta. Chúng ta dự phần vào những mạng lịnh và những lời hứa mà Đức Chúa Trời phán truyền, trong niềm hy vọng và kính sợ của dân sự Ngài khi họ trải qua các trang sách nầy. Câu chuyện của họ hiện nay là câu chuyện của chúng ta. Bởi vì họ là “dân sự Ngài,” chúng ta cũng vậy.
    Sau đây là một ví dụ về cách Kinh Thánh hoạt động. Không lâu sau khi Đức Quốc Xã chiếm đóng Hòa Lan trong Thế chiến II, một nhóm những Cơ Đốc Nhân Hòa Lan bị mật vụ Đức bỏ tù. Vài tháng sau, khi một người trong số họ được thả, anh sẵn lòng để mang tin đến cho các gia đình của những người khác. Họ nên nói gì đây? Một người trong số họ cuối cùng đã gởi một lá thư, lời dịch thô thiển như sau:
    Xin hãy cố gắng hiểu rằng điều đã xảy đến cho chúng tôi thật sự đã đem kết quả đến cho sự tấn tới của đạo Tin lành, bởi vì những người lính gác tù và tất cả những người còn lại ở đây đều đã đến chỗ nhận biết Chúa Cứu Thế. Thật vậy, chúng tôi nghe rằng nhiều người trong anh em bên ngoài đã có được sự can đảm vì cớ việc chúng tôi bị tù và đang nói về lẽ thật dạn dĩ hơn bao giờ hết.
    Chúng tôi hy vọng rằng mình sẽ không cần phải xấu hổ vì lời chứng của mình nhưng mong cho mình được dạn dĩ đủ hầu cho ảnh hưởng của Chúa Cứu Thế sẽ được lan truyền bởi chúng tôi, dầu chúng tôi sống hay chết.
    Những lời này hẳn phải mang một âm điệu quen thuộc. Bởi vì điều tác giả lá thư đã làm là dự phần bức thư Phaolô đã viết trong khi ông ở tù 1900 năm trước đó (Phi Pl 1:12-20), và coi những lời đó là của chính mình. Những Cơ Đốc Nhân Hòa Lan, khi gởi lá thư nầy, đã làm chứng rằng, kinh nghiệm của Phaolô chính là kinh nghiệm của họ, sứ điệp của Phaolô cũng là sứ điệp của họ, Đức Chúa Trời của Phaolô cũng là Đức Chúa Trời của họ.
    Họ là những người dự phần trong vở kịch Kinh Thánh
    Chương 2: Những Sự Kiện Và Những Con Số
    (Kinh Thánh Đến Từ Đâu? )
    Như vậy, chúng ta có cuốn Kinh Thánh đầy đủ - đã được in, được đóng thành tập, sẵn sàng để được đọc. Nhưng hãy hỏi bất cứ ai làm thế nào Kinh Thánh xuất hiện trong hình thức ngày nay, bạn sẽ thấy rắc rối. Thay vì tìm được cách giải đáp, bạn rất có thể sẽ tạo nên một mớ các câu hỏi hỗn độn. Giống như vầy:
    • Ai đã viết Kinh Thánh?
    • Ngũ kinh là gì?
    • Ai quyết định điều phải được viết trong Kinh Thánh?
    • Vì sao lại có 66 sách?
    • Ngụy kinh là gì?
    • Vì sao người ta vẫn tiếp tục dịch Kinh thánh?
    • Có phải bản dịch nầy cũng tốt như bản dịch khác không?
    • Tại sao tất cả các bản Kinh Thánh đều không đồng ý với nhau?
    • Tại sao lại có Kinh Thánh Công giáo và Kinh Thánh Tin lành?
    • Bộ “Kinh điển” là gì?
    • Tại sao Kinh Thánh được viết bằng tiếng Hybá và Hylạp?
    • Những con số nhỏ hàm ý gì?
    Chúng ta phải cố gắng sắp xếp mớ hỗn độn nầy cho trật tự. Chỉ khi nào biết rõ đôi điều làm thế nào quyển sách nầy xuất hiện trong hình thức hiện nay chúng ta mới có thể hiểu đúng Kinh Thánh được.
    Hai Điểm Khởi Đầu
    Trước hết chúng ta cần nhớ hai điều.
    Điều thứ nhất . Kinh Thánh không phải là một quyển sách “từ trời rơi xuống” hoàn toàn từ đầu đến cuối. Tin vào một điều như vậy có lẽ là giáo lý tuyệt vời của Mohamet, bởi vì người Hồi Giáo tin rằng kinh Koran xuất hiện trong hình thức đã hoàn tất; đó có thể cũng là giáo lý tuyệt vời của Mormon, bởi vì những người Mormon tin rằng sách Mormon được ban cho như là một sản phẩm hoàn tất cho Joseph Smith nhưng đó không phải là giáo lý tuyệt vời của người Cơ Đốc, bởi vì Cơ Đốc Nhân nhận biết rằng Kinh Thánh không phải đột nhiên xuất hiện, toàn bộ đã được hoàn tất, nhưng đó là một tác phẩm được“thực hiện trong một thời gian lâu dài” - hơn 900 năm! Hãy đóng cuốn sách nầy lại và suy nghĩ trong hai phút về sự kiện Chúa Jêsus có thể đọc cái chúng ta gọi là Cựu ước, và khi Ngài đọc Cựu ước, là cách đây gần 2000 năm, thì chưa hề có sách nào trong Tân ước được viết ra.
    Điểm thứ hai . Kinh Thánh không phải được viết ra bằng tiếng Anh. Kinh Thánh chúng ta là một bản dịch. Chúa Jêsus không nói tiếng Anh. Môise cũng không nói chuyện bằng giọng Boston. Luca chưa bao giờ đọc tác phẩm của Shakespear. Và trừ khi bạn học tiếng Hybá và Hylạp cùng với một chút tiếng Aram nữa (là điều mà vài độc giả của sách nầy có khả năng thử trong tương lai gần), bạn sẽ không bao giờ đọc được Kinh Thánh bằng ngôn ngữ mà các tác giả đã viết nó. Kinh Thánh tiếng Anh của chúng ta chỉ là một nỗ lực để cho ra đời một bản dịch chính xác các dữ kiện mà khởi đầu đã được viết bằng những ngôn ngữ khác.
    Toàn Bộ Kinh Thánh Bắt Đầu Như Thế Nào
    Để tranh luận, giả sử có điều gì đó tuyệt vời vừa xảy đến với bạn.
    • Bạn vừa đạt điểm tối đa trong bài thi đại số mà bạn biết chắc mình sẽ hỏng.
    • Hoặc bạn vừa tìm được một việc làm tốt cho mùa hè.
    • Hoặc bạn đã yêu.
    Bạn phải làm gì? Bạn phải chia sẻ tin tức với một người nào đó. Điều nầy không có nghĩa nhất định bạn phải khoe khoang. Bạn chỉ để cho niềm vui của mình “tràn sang” người nào đó.
    Bây giờ giả sử, để tranh luận, có điều gì đó thậm chí còn tuyệt vời hơn nữa đã xảy ra.
    • Bạn gặp phải nhiều phức tạp rắc rối về ý nghĩa của đời sống mình, và một kinh nghiệm đã làm sáng tỏ chúng.
    • Hoặc bạn cứ từng hồi từng lúc cố gắng cầu nguyện và một ngày nọ phát hiện ra rằng không phải bạn đang cầu nguyện với một Vị Thần Không Nghe Không Thấy nhưng đang tương giao với một Đức Chúa Trời Hằng Sống.
    • Hoặc bạn trải qua một bi kịch cay đắng và khám phá ra rằng bạn không cô độc nhưng Đức Chúa Trời đã có ở đó với bạn.
    Bạn làm gì đây?
    Mặc dù thoạt đầu bạn có lẽ hết sức cả thẹn về điều đó, nhưng sớm hay muộn bạn sẽ khám phá rằng một lần nữa bạn sẽ phải chia sẻ tin vui với một người nào đó. Cuộc sống thật có ý nghĩa, rằng Đức Chúa Trời là thật, rằng bạn không cô độc - đây là những điều quan trọng đáng ghi nhớ đến nỗi bạn không thể nào giữ yên lặng về chúng một khi bạn biết sự thật.
    Bây giờ giả sử, một lần nữa, để tranh luận, đó là Đức Chúa Trời yêu thương ấy, Đấng mà bây giờ bạn biết, đã tỏ rõ cho bạn rằng Ngài muốn sử dụng bạn để khiến Ngài và ý muốn của Ngài trở nên thực hữu hơn đối với những người ở gần bên bạn.
    Lần nầy bạn làm gì đây?
    Mặc dầu có lẽ thoạt đầu bạn nhút nhát và sợ hãi, nhưng cuối cùng bạn sẽ phải nói. Và phải chia sẻ tin mừng với tất cả những người chịu lắng nghe. Bạn thấy chính mình ở vào cùng tình huống như tiên tri Amốt: “Khi Chúa Giêhôva đã phán dặn, thì ai thì chẳng nói tiên tri” (AmAm 3:8).
    Nếu bạn có thể tưởng tượng đặt chính mình vào trong các tình huống ấy, thì có thể bạn sẽ bắt đầu hiểu vì sao và bằng cách nào mà Kinh Thánh đã được viết ra. Nếu người ta có những tin vui họ chia sẻ ra. Nếu họ gặp chuyện buồn họ cũng san sẻ. Và nếu họ ý thức Đức Chúa Trời là thật, và nếu họ hiểu cuộc đời bằng những mạng lệnh và những lời hứa của Ngài, họ sẽ phải chia sẻ quan điểm ấy, cùng toàn bộ những gì lời Chúa hàm ý, với những người khác.
    Đây chính là loại sự việc mà chúng ta thấy xảy ra trong Kinh Thánh. Một số các trước giả Kinh Thánh thấy rằng Đức Chúa Trời đã buộc họ phải lấy danh Ngài mà công bố. Những người nầy chúng ta thường gọi là “các tiên tri.” Và những điều họ nói quan trọng đến nỗi chúng phải được viết xuống để cho người khác đọc. Hoặc một biến cố lớn xảy ra trong lịch sử Do Thái (chiến thắng kẻ thù chẳng hạn) và một bài hát được soạn ra cho trường hợp đó. Bài hát giải thích biến cố như là một sự chứng quyết về quyền năng và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, vì vậy nó trở thành điều quan trọng trong sự hiểu biết của con người về cách Đức Chúa Trời can thiệp vào đời sống của họ. Hoặc một sự kiện đau buồn xảy ra ( dân tộc bị buộc phải lưu đày) và ai đó có được sự hiểu biết Chúa ban để nhìn thấy đây là phương cách tình yêu của Chúa phải được bày tỏ ra đối với những kẻ chống nghịch Ngài. Sứ điệp nầy được giữ lại và người ta bắt đầu hiểu rằng toàn bộ lịch sử phải được nhìn xem như một nhà hát nơi đó Đức Chúa Trời là diễn viên chính. Hoặc các bài hát được viết ra để việc họ thờ phượng Chúa công khai trở thành một phương tiện qua đó sự hiện diện của Đức Chúa Trời được nhận biết ngay cả khi họ không ở trong Đền thờ - vì vậy các bài hát cũng đã được giữ gìn và được viết lại cùng với những tác phẩm thánh khác.
    Vấn đề là tất cả những tác phẩm nầy đều là một sự đáp ứng đối với hành động và sự quan tâm của Chúa với dân sự Ngài -và qua nhiều thế kỷ một tập hợp văn phẩm có tầm cỡ đã được hình thành. Tác phẩm nầy mang lấy tầm quan trọng chính xác là vì nó đã hình thành bằng phương thức dần dần nầy, bởi vì nó tỏ rõ rằng Đức Chúa Trời liên hệ với loài người tại nơi họ sống, ngay trong những tranh chiến và những nỗi khổ của lịch sử xương máu thật sự của họ.
    Việc Ghi Chép Lại - Với Diễn Tiến Theo Bảng Mẫu Tự Chữ Cái
    Cựu ước của chúng ta là sản phẩm cuối cùng của quá trình hình thành dần dần nầy. Và sự hiểu biết của chúng ta về các nội dung Kinh thánh có thể được nâng cao nhờ nhận biết quá trình “ghi chép lại” nầy đã được thực hiện ra sao để có được hình thức hiện nay của Kinh Thánh. Tất nhiên chúng ta vẫn có thể nhận được ích lợi khi đọc các sách này mà không có sự hiểu biết mở rộng về nguồn gốc của chúng, nhưng để biết các lời ký thuật nầy đan quyện với nhau như thế nào thường bổ ích khi chúng ta đọc qua hai hoặc ba lời ký thuật khác nhau về cùng một sự kiện. (Bạn không cần nhớ từng chi tiết của những gì tiếp theo, nhưng nó sẽ giúp ích nếu bạn có thể giữ được một bức tranh tổng quát trong đầu.) Chúng ta hãy xem sáu sách đầu tiên của Cựu ước (được gọi là “Hexateuch” theo ý nghĩa Hylạp là “sáu cuộn”) được hình thành như hình thức hiện nay của chúng bằng cách nào.
    Dưới đây là cách chúng được hình thành. Có lẽ từ rất lâu vào năm 900 T.C (cách đây gần 3000 năm!) Một tác giả đầu tiên đã soạn một loạt những câu chuyện về các chi phái ở tại miền Nam Palettin, và một thời gian sau đó, những bổ sung đã được thêm vào lời ký thuật nầy hầu cho các chi phái phía Bắc không bị bỏ sót trong lịch sử. Trong những lời ký thuật nầy, từ Hybá được sử dụng cho chữ Đức Chúa Trời là một từ mà chúng ta phải viết là “Yahweh,” và từ nầy trong tiếng Hy bá là YHWH (hoặc như thỉnh thoảng từ nầy được viết, là JHVH). Vì lý do đó, tài liệu này được gọi là “J” và nơi JHVH xuất hiện trong phần đầu của Cựu ước, chúng ta có thể khá chắc chắn rằng các đoạn Kinh Thánh đang được bàn bạc là từ tài liệu “J.”
    Về sau (có lẽ khoảng giữa năm 750 - 700 T.C) một tác giả khác đã viết một lời ký thuật tương tự về lịch sử, lần nầy với sự nhấn mạnh chính vào các chi phái phía Bắc. Bởi vì ông không tin rằng “danh” của JHVH đã được biết đến cho tới thời Môise, nên ông đã sử dụng một từ Hybá khác dành cho Đức Chúa Trời, là Êlôhim. Tài liệu của ông vì vậy hiện nay được biết là tài liệu “E.” Về sau những lời ký thuật nầy được đan kết với nhau, để hình thành điều mà bạn có thể đoán được gọi là tài liệu “JE”.
    Các chi phái phía Bắc, nay đã trở thành một vương quốc, gặp phải một thảm bại lớn về mặt quân sự vào năm 722 T.C và trong những hỗn loạn theo sau từng trải nầy, một nhóm người đến chỗ nhận biết rằng tai họa nầy chính là do sự thờ phượng Đức Chúa Trời sai trật. Kết quả là họ đã viết một lịch sử nữa, đặc biệt nhấn mạnh về cách thờ phượng phải được tiến hành. Khoảng một trăm năm sau thất bại ấy, năm 621 T.C, tài liệu nầy đã được khám phá trong Đền thờ. Điều đó dẫn đến những cải cách rộng lớn. Phần lớn của tài liệu nầy dường như được chứa đựng trong cái mà ta gọi là “Phục truyền luật lệ ký,” vì vậy mà khá tự nhiên, nó được gọi là tài liệu “D,” trở thành hết sức quan trọng đến nỗi được kết hợp vào các lời ký thuật mang tính lịch sử khác, để hình thành tài liệu “JED.”
    Còn một bước cuối cùng. Vương quốc phía Nam cũng vậy, đã bị đánh bại về mặt quân sự, và dân chúng bị đẩy vào tình trạng lưu đày. Một lần nữa, họ đã viết lịch sử của mình, lần nầy với sự nhấn mạnh đặc biệt về tầm quan trọng của Giêrusalem như là trung tâm sự thờ phượng, về các thầy tế lễ cùng những người chỉ đạo đời sống tôn giáo của dân chúng. Bởi vì sự nhấn mạnh “mang tính tế lễ” của nó mà tài liệu nầy được biết như là tài liệu “P.” Bốn tài liệu được đan quện với nhau để hình thành tài liệu “JEDP,” và chính từ sự kết hợp nầy mà sách Sáng Thế Ký qua Giôsuê đã có mặt. Ví dụ trong các đoạn mở đầu của sách Sáng Thế Ký, lời ký thuật về sự sáng tạo trong SaSt 1:1; 2:4 là từ tài liệu “P,” trong khi lời ký thuật trong đoạn 2:4 trở đi là từ tài liệu “J.”
    Các tác giả khác nhau nầy đôi khi nhấn mạnh những yếu tố khác nhau trong lịch sử các dân tộc của họ, nhưng chúng thống nhất trong niềm tin của họ, cho rằng lịch sử dân tộc họ chỉ có thể hiểu được bởi quyền tối cao của Đức Chúa Trời tể trị trên lịch sử. Lịch sử như là nơi làm việc của Đức Chúa Trời -đó là chủ đề của họ. Đức Chúa Trời phán với họ qua các biến cố lịch sử, và họ đến chỗ hiểu biết ý muốn của Ngài khi đọc các sự kiện ấy trong ánh sáng của niềm tin đó.
    Quá trình hình thành ở tại Jamnia .
    Trong khi toàn bộ điều nầy cứ tiếp tục, các sách khác đang được viết ra, hầu cho đến khoảng năm 200 T.C hầu hết các tài liệu Cựu ước đã được tập hợp lại với nhau. Ngoài bộ sách Hexateuch còn có những lời thuật truyện mang tính lịch sử khác, các sách của các tiên tri, một sách thơ ca, một truyện ngắn, một cuốn sách mang lời ai ca, các quy định từ chỗ thờ phượng cho đến cách giết các sinh vật được chấp nhận, và v.v.. Tính đa dạng được đề cập dưới ba tiêu đề. Tiêu đề thứ nhất được biết như là Luật pháp , bao gồm năm sách đầu tiên của Cựu ước. Các tiên tri đã soạn nhóm thứ hai, không những bao gồm các tiên tri nhỏ và tiên tri lớn, mà còn nhiều sách lịch sử, như là Giôsuê, Cácquanxét v.v..Các sách còn lại chỉ được biết như là các Tác phẩm .
    Bộ sưu tầm nầy, đã hình thành 39 sách tất cả, ngày càng được chấp nhận rộng rãi hơn, và một hội nghị của các Rabi Do Thái nhóm tại Jamnia, Palettin, vào khoảng năm 90 hoặc 100 S.C đã quyết định rằng không còn một sách nào được phép xen vào trong nhóm các tác phẩm thánh nầy.
    Bản Dịch Đầu Tiên
    Xin nhớ rằng, ngoại trừ một vài câu lác đác bằng tiếng Aram, các sách nầy đều được viết bằng tiếng Hybá. Lúc bấy giờ bộ chữ cái Hybá không có nguyên âm và không có hệ thống chấm câu. Hơn nữa, tất cả các chữ cái đều đi liền nhau. Nếu bạn viết theo kiểu ấy trong tiếng Anh, bạn sẽ được một thứ giống như vầy: MTHLRDYRGD WHBRGHT ITSTHLNSGIP.
    TIFTHHFSBNDGISHLLHVNTHRTDSBFRM
    Nếu bạn có thể đoán được vị trí của các nguyên âm, và chúng là gì, làm thế nào để phân chia các từ đã tìm được, cuối cùng bạn có thể đoán ra câu ấy được đọc như vầy:
    TA LÀ GIÊHÔVA ĐỨC CHÚA TRỜI NGƯƠI, ĐÃ RÚT NGƯƠI KHỎI XỨ ÊDÍPTÔ, LÀ NHÀ NÔ LỆ. TRƯỚC MẶT TA, NGƯƠI CHỚ CÓ CÁC THẦN KHÁC. (XuXh 20:2, 3)
    Mặc dầu việc bỏ sót những nguyên âm tiết kiệm được chỗ trống, song rõ là khó khăn khi đọc loại chữ viết như vậy, để gải quyết vấn đề này, “ các giá trị nguyên âm” bắt đầu được sử dụng trên các thủ bản về sau, các ký hiệu nhỏ đặt bên dưới hoặc bên trên các nguyên âm để biểu thị nguyên âm nào phải được lồng vào chỗ nào.
    Khi thời gian trôi đi, ngày càng có nhiều người Do Thái học tiếng Hylạp, và ngày càng ít người đọc được tiếng Hybá một cách chính xác. Vì vậy bắt đầu khoảng năm 270 TC và trải rộng suốt Kỷ nguyên Cơ Đốc, các học giả Do Thái đã dịch Cựu ước từ tiếng Hybá sang tiếng Hylạp. Tài liệu nầy chính là những bản dịch được các Cơ Đốc Nhân đầu tiên sử dụng, là bản Bảy Mươi (từ chữ septuaginta = bảy mươi) bởi vì theo một lời truyền khẩu, bảy mươi (-hai) học giả đã xuất bản bản dịch nầy trong bảy mươi (-hai) ngày.
    Khoảng mười hai sách trong bản Bảy mươi không được kể vào Kinh Thánh được chuẩn thuận của người Do Thái bởi Hội nghị ở tại Jamnia. Các sách nầy được gọi là Ngụy kinh (nghĩa là “ẩn dấu” hoặc “tối nghĩa”). Cựu ước của chúng ta không gộp chúng vào, bởi vì nó dựa trên các tài liệu của người Hêbơrơ, chúng được gộp vào Kinh Thánh của Công Giáo La Mã, bởi vì bản dịch chính thức của Công Giáo La Mã đã tận dụng mở rộng bản Bảy mươi nầy.
    Một Giao ước “Mới”
    Phải mất tới 700 năm để ghi chép Cựu ước. Tân ước, trái lại, được hoàn thành trong khoảng 100 năm. Các sách Tân ước không được viết bằng tiếng Hybá mà bằng tiếng Hylạp, không phải ngôn ngữ Hylạp tiêu chuẩn trịnh trọng của Plato mà là ngôn ngữ bình thường nơi chợ búa, được gọi là koine. Ở đây, các sách Tin lành tượng trưng cho một loại “bản dịch,” bởi vì Chúa Jêsus và các môn đồ Ngài nói tiếng Aram, chứ không phải tiếng Hylạp, và ngôn ngữ nói Aram của họ phải được dịch sang ngôn ngữ viết Hylạp. Có thể tìm thấy một vài thành ngữ Aram trong bốn sách Phúc âm như tiếng kêu của Chúa Jêsus trên thập tự giá: “Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni” (Mac Mc 15:34), và lời Ngài phán cùng một bé gái: “Ta-li-tha cu-mi” (5:41).
    Nhiều người không nhận ra rằng các tác phẩm Tân ước sớm sủa nhất không phải là các sách Phúc âm, mà là các bức thư của Phaolô. Lá thư đầu tiên trong số nầy, I Têsalônica, có lẽ ra đời rất sớm vào năm 50 S.C. Phaolô không hề có tư tưởng cho rằng ông đang viết “thơ thánh”; các lá thư của ông là những “bức thư ngẫu nhiên,” viết ra để giúp các Hội Thánh xử lý những nan đề cụ thể. Chúng hầu như luôn được lưu hành giữa vòng các Hội Thánh Cơ Đốc đầu tiên và một bộ sưu tập các lá thư đó dần dần được triển khai. Chúng hình thành một phần chủ yếu Tân ước của chúng ta.
    Phần còn lại của các sách Tân ước (trừ các sách Phúc âm sẽ được thảo luận trong Chương 9) rơi vào hai loại chính. Một số các sách nầy được viết ra trong thời kỳ bắt bớ, như lá thư gởi cho người Hêbơrơ, thư I Phierơ, và (mặc dù bạn có thể không đoán được nếu nhìn sơ qua) sách Khảihuyền. Trong các sách nầy, chúng ta có được lời chứng rõ ràng về lòng can đảm của các Cơ Đốc Nhân đầu tiên vì đã đứng vững vàng chống lại thế giới ngoại giáo thù địch.
    Các lá thư khác chiến đấu chống lại tà giáo, là điều phổ biến cuối thế kỷ thứ I. (“Tà giáo không phải là một niềm tin hoàn toàn sai; mà là niềm tin nhấn mạnh quá đáng một phần lẽ thật, và vì vậy có thể tự coi chính nó là chân lý.”) Tà giáo chính trong thời kỳ nầy là quan điểm cho rằng mặc dầu Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời nhập thế, Ngài vẫn không là một con người hoàn toàn, mà chỉ dường như có một thân thể loài người. Vì vậy mà niềm tin nầy được gọi là “Docetism,” theo nghĩa Hylạp là “có vẻ như.” Không cần nói, chúng ta cũng biết rằng nếu niềm tin nầy thắng thế trong thời đó, nó sẽ hủy diệt đức tin Cơ Đốc, bởi vì toàn bộ giá trị của niềm tin Cơ Đốc chính xác là lời tuyên bố mà thuyết Docetism đã phủ nhận, đó là trong Chúa Jêsus, Đức Chúa Trời cư ngụ trọn vẹn đời sống của một con người, và rằng đó là đời sống con người thật sự, chứ không phải giả tạo. Tình huống nầy giúp chúng ta hiểu đầy đủ hơn sự nhấn mạnh của sách Phúc âm Thứ Tư về “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt ,” và những lời tuyên bố tương tự trong ba bức thư của Giăng.
    II Phierơ và các phần trong các “Thư Tín Mục Vụ” (I & II Timôthê, Tít) chống lại tà giáo nầy và những quan điểm sai lệch khác.
    Điều nầy không hàm ý rằng các sách Tân ước chỉ là tiêu cực, nhưng chỉ để chúng ta hiểu được sứ điệp tích cực của Tân ước một cách đầy đủ hơn nếu chúng ta cũng biết điều mà Tân ước đang tìm cách phủ nhận.
    Sự Phát Triển của “Bộ Kinh Điển” (Canon)
    Marcion, một người theo tà giáo đầu tiên, đã đi đến một kết luận sai lầm rằng Cựu ước và Tân ước nói về hai Đức Chúa Trời khác nhau. Ông quyết định thảo ra một danh sách các tác phẩm thánh đáp ứng được sự tán thành của ông. Ông bắt đầu bằng cách loại bỏ toàn bộ Cựu ước, và trong Tân ước của ông chỉ gộp vào sách Phúc âm Luca và mười bức thư của Phaolô mà ông cảm thấy là “an toàn.”
    Vì những trò hề như vậy, và vì sự phổ biến của các tà giáo khác, Hội Thánh Đầu tiên dần dần bắt đầu triển khai một bảng danh sách tiêu chuẩn các tác phẩm được chính thức chấp nhận, danh sách bao gồm Cựu ước, tất nhiên, sau khi thấy trong đó sự chuẩn bị cho các công việc quyền năng của Đức Chúa Trời được ứng nghiệm trong Tân ước qua Chúa Cứu Thế Jêsus, mà họ dần dần đạt đến sự thỏa thuận về các sách, trong số nhiều tác phẩm Cơ Đốc mới, được chuẩn thuận. Cho đến năm 200 S.C. có một sự đồng tình khá phổ biến về các sách Tin lành, sách Côngvụ, và các thư tín của Phaolô. Các tác phẩm khác đều “nằm ngoài lề” trong một thời gian, nhưng đến năm 367 S.C. một danh sách đã được chuẩn thuận bao gồm 27 sách hợp thành Tân ước hiện nay của chúng ta. Các sách nầy đến chỗ được biết như là “bộ kinh điển,” (“canon”) đến từ một từ Hylạp có nghĩa là “nguyên tắc,” hay “tiêu chuẩn,” bởi vì chúng là tiêu chuẩn hoặc nguyên tắc cho đức tin Cơ Đốc và vẫn là như vậy cho đến nay.
    Giao ước = Giao Kèo = Quy Ước
    Lúc này, chúng ta đã làm rõ một bí mật nhỏ.
    Từ “giao ước” đã bị đưa lén vào cuộc thảo luận nầy một số lần, mà không làm rõ ý nghĩa của nó. Trên thực tế, chỉ ý nghĩa của nó thôi thì cũng không dễ giải thích, bởi vì đây là cách dịch kém cỏi một từ Hybá. Từ tiếng Anh đầy đủ hơn phải là từ “giao ước,” một từ đúng Kinh Thánh, và cực kỳ quan trọng (như chúng ta sẽ thấy ở Chương 15) là điều hàm ý sự thỏa thuận hoặc mối quan hệ được thiết lập giữa Đức Chúa Trời và loài người. “Giao ước Cũ” (cái chúng ta gọi là Cựu ước) là một ký thuật về giao kèo giữa Đức Chúa Trời và dân sự Ngài. “Giao ước Mới” (cái chúng ta gọi là Tân ước) là một ký thuật về mối quan hệ mới được thiết lập giữa Đức Chúa Trời và con người qua thân vị của Chúa Cứu Thế Jêsus. Vì cớ Tân ước làm trọn Cựu ước chứ không phải xóa bỏ Cựu ước, cho nên cả hai giao ước hoặc cả hai giao kèo nầy đều được đưa vào trong Kinh Thánh hiện nay của chúng ta.
    Jerome Cho Ra Đời Bản Vulgate
    Đến thế kỷ thứ 3 S.C. bạn có thể có một bản Kinh Thánh Hylạp (bản Bảy Mươi) hoặc một bản tiếng Hylạp và Hybá.
    Nhưng có lẽ bạn không đọc được tiếng Hylạp, nói chi đến Hybá. Ngôn ngữ duy nhất mà bạn biết là tiếng Latin. Bởi vì hầu hết những người học thức đều nằm trong tình huống tương tự, nên giáo hoàng đã ủy nhiệm cho một học giả tên là Jerome dịch Kinh Thánh sang tiếng Latin. Bản dịch nầy, được thực hiện giữa năm 385 và 475S.C., được gọi là bản bản Vulgate (từ La-tin vulgatus có nghĩa là “bình thường” hoặc “phổ biến”) bởi vì đây là ngôn ngữ phổ thông hoặc “bình thường” của dân chúng. Nó trở thành bản dịch chính thức của Giáo hội Công Giáo La Mã.
    Có một kết quả thú vị mà bản dịch nầy để lại trên lịch sử Hội Thánh về sau, minh họa nan đề của việc dịch Kinh Thánh. Từ Hylạp được sử dụng trong Mat Mt 4:17 là mentanoite , là từ mà chúng ta có thể dịch sang tiếng Anh là “ăn năn, quay trở lại, bắt đầu lại, có một khởi đầu mới.” (Hãy ăn năn và tin đạo Tin lành.”) Từ Latin mà Jerome đã sử dụng là poenitentiam agite có thể được dịch là “ăn năn,” nhưng cũng là từ có thể được dịch là “sám hối ăn năn,” và đó chính là ý nghĩa mà mạng lệnh của Chúa Jêsus đã được hiểu trong Cơ Đốc Giáo giới thời Trung cổ. Vì vậy mà những lời dạy của Chúa Jêsus đã trở thành: “Hãy ăn năn sám hối và tin đạo Tin lành,” chúng cũng đã được dịch như vậy cho đến ngày nay trong bản Tân ước Douay (Công Giáo La Mã). Chung quanh ý niệm nầy, nghi lễ sám hối đã được triển khai cùng với niềm tin cho rằng chúng ta phải làm những điều nhất định để giành được sự tha thứ của Đức Chúa Trời. Khi các học giả Tin lành quay trở lại với tiếng Hylạp nguyên gốc thay vì ngừng lại ở tại tiếng Latin, họ phát hiện ra rằng không có cơ sở rõ ràng cho nghi lễ sám hối trong câu Kinh Thánh này, và nó đã bị hủy bỏ khỏi các nghi lễ của người Tin lành.
    Luther Mang Kinh Thánh Đến Cho Dân Chúng
    Đến cuối thời Trung cổ, chỉ các linh mục và những người có học vấn cao (không nhất thiết là đồng nghĩa) mới có thể đọc và hiểu được tiếng Latin. Bấy giờ những bản dịch mới trong các ngôn ngữ bình thường mà dân chúng nói thật cần thiết, đặc biệt từ khi cuộc Cải Chánh Tin lành đã đưa Kinh Thánh trở lại vị trí trung tâm trong đời sống của người Cơ Đốc.
    Khi một nhóm các bạn hữu của Martin Luther gấp rút đưa ông đến chỗ ẩn núp, vào một thời điểm tính mạng ông gặp nguy hiểm, có lẽ họ không hề có ý tưởng mối quan tâm của họ dành cho sự an toàn của ông sẽ dẫn đến một trong những ảnh hưởng lớn nhất của toàn bộ việc dịch Kinh Thánh. Luther, ẩn náu ở tại Lâu đài Wartburg, đã sử dụng thời gian buộc phải rãnh rỗi của mình để dịch Tân ước sang tiếng Đức (1522, ) cũng như về sau ông đã tiếp tục thực hiện cho phần Cựu ước (1534).
    Người dân Đức không hề có Kinh Thánh đầy đủ bằng chính ngôn ngữ của họ trước thời điểm nầy, và Luther đã thực hiện công việc dịch thuật của ông tuyệt vời đến nỗi Kinh Thánh đã trở thành một cuốn sách sống họ có thể hiểu được. Thay vì tiến hành việc dịch thuật theo nghĩa đen cứng đơ, ông đã cố gắng truyền đạt hương vị của các sự kiện, hầu cho người dân có thể hình dung những sự kiện đó đang xảy ra ngay trong nơi họ sống. Có những tên cướp trên con đường nằm giữa Giêrusalem và Giêricô - hẳn cũng nguy hiểm như khi băng qua Khu Rừng Đen vào ban đêm! Khi Luther dịch Thi Tv 46:1-11 (“Đức Chúa Trời là nơi nương náu và sức lực của chúng tôi”) ông đã truyền đạt ý tưởng nầy bằng cách gợi lên hình ảnh của một lâu đài thời Trung cổ đồ sộ với những bức tường dày, một đường hào rộng, an toàn và mạnh mẽ được bảo vệ, và cũng cho Thithiên nầy một tựa đề phụ: “ Chúa vốn bức thành kiên cố ta.” Người Đức biết rõ điều đó hàm ý gì! Để bảo đảm rằng họ có thể hiểu được những quy định về của lễ trong Lêviký một cách đúng đắn, Luther đã kiểm tra tài liệu nầy với người bán thịt.
    Những Thoáng Nhìn Ban Đầu về Một Cuốn Kinh Thánh tiếng Anh
    Nhưng Kinh Thánh đã được dịch sang tiếng Anh như thế nào?
    Truyền thuyết kể rằng vào thế kỷ thứ bảy một con người đáng tin cậy ở tại Whitby là Caedmon đã hát các phần nói về câu chuyện Sáng tạo và cuộc đời của Chúa Jêsus bằng tiếng Anh, và vào thế kỷ thứ tám một thành viên vĩ đại của giáo hội được biết là “Phó giám mục Bede” đã dịch sách Phúc âm Thứ Tư sang tiếng Anh.
    Tuy nhiên bản dịch Anh văn hoàn tất đầu tiên đến từ ngòi bút của John Wycklife (hoặc Wiclif hay Wyclif hay Wickliffe-vào thời đó người ta không chú ý chi tiết đến cách đánh vần đúng.) Cùng với một số học giả, ông đã hoàn tất Tân ước vào năm 1380 và phần còn lại của Kinh Thánh vào năm 1382, sử dụng bản Vulgate của Jerome làm tài liệu gốc. Tất cả các bản sao, tất nhiên đều có mặt bằng chữ thường viết tay, Wicklife đã sai phái các nhóm người được gọi là Lollards đọc các bản Kinh Thánh nầy và giải thích chúng cho người dân trong các nơi chợ. Trên cơ sở những gì phát hiện được trong Kinh Thánh, Wicklife đã chống lại nhiều nguyên lý trong Cơ Đốc Giáo thời Trung cổ, và ông cũng là một người đi trước của Phong trào Tin lành. Kết quả là, các tác phẩm của ông của ông đã bị lên án, và các sách của ông bị đốt. Bởi vì Wicklife đã vô tình chết trước khi họ thiêu sống ông, giới cầm quyền đã đào xương ông lên và thiêu chúng. Đó là cái giá mà một người phải trả khi đưa Kinh Thánh đến cho dân chúng.
    Mang Lén Vì Sự Vinh Hiển của Đức Chúa Trời
    Dịch giả kế tiếp, William Tyndale, kém may mắn hơn, bởi vì Tyndale vẫn còn sống khi giới cầm quyền áp đặt sự kiểm soát chặt chẽ hơn trên ông. Ông đã bị bóp cổ và xử tử bằng hình thức thiêu sống. Nhưng Tyndale có hai lợi thế trong việc thực hiện các bản dịch của mình mà Wicklife đã không có được. Johann Gutenberg đã sáng chế máy đánh chữ di chuyển được vì vậy mà bản dịch của Tyndale có thể được in với số lượng lớn. Và một học giả người Hà Lan là Erasmus đã xuất bản một ấn bản có tính học thuật của bản Tân ước Hylạp, vì vậy Tyndale có thể đặt cơ sở bản dịch của mình trên ngôn ngữ gốc, thay vì bị lệ thuộc vào bản Latin.
    Khi sự việc đã trở nên quá nguy hiểm cho Tyndale ở tại Anh Quốc, ông đã sang Đức và in Kinh Thánh tiếng Anh tại đó. Sau đó các cuốn Kinh Thánh nầy được đưa lén vào nước Anh trong các kiện vải lớn. Một giám mục tức giận đã mua rất nhiều Kinh Thánh Tân ước của Tyndale và đốt chúng trước công chúng. Tyndale đã lấy số lợi nhuận có được từ việc mua Kinh Thánh của vị giám mục và in một ấn bản mới!
    Một Làn Sóng Các Bản Dịch Mới
    Mặc dầu Tyndale đối diện với cái chết của người tuận đạo, ảnh hưởng mạnh mẽ của công việc ông đã được nhận biết, và nó dường như trở nên an toàn hơn để xuất bản một quyển Kinh Thánh tiếng Anh ở tại Anh quốc. Năm 1535, chỉ mười năm sau khi bản Tân ước của Tyndale xuất hiện, cuốn Kinh Thánh được in đầy đủ lần đầu tiên bằng tiếng Anh đã có mặt, là công việc của Miles Coverdale, người đã sử dụng phần lớn bản dịch của Tyndale nhưng đã hoàn tất phần Cựu ước, là phần màTyndale mới chỉ thực hiện một ít. Hầu hết các phầnKinh Thánh được sử dụng trong Book of Common Prayer (Sách Của Lời Cầu Nguyện Chung ) hiện nay của các Giám mục đều đặt nền tảng trên bản dịch của Coverdale.
    Các bản dịch mới xuất hiện dày đặc và nhanh chóng trong những năm kế tiếp đó. The Great Bible (Quyển Kinh Thánh Lớn năm 1539) có được sự chuẩn thuận của triều đình, và mang tên gọi này vì tầm cỡ của nó. Các bản sao được ràng bằng xích trong các nhà thờ. Về sau một nhóm những người Thanh giáo đã trốn đến GenevaThụy sĩ, để thoát khỏi bách hại trong đời trị vì của “Mary Khát Máu” (gọi như vậy bởi vì sự bắt bớ của bà đối với những người Tin lành,” và trong khi ở tại đó, họ đã xuất bản Kinh Thánh Geneva (1560), là cuốn Kinh Thánh đầu tiên có các câu Kinh Thánh đánh số. Cuốn Kinh Thánh nầy không được ưa chuộng giữa vòng các giám mục Anh quốc, bởi vì các dịch giả đưa những lời giải thích theo khuynh hướng của Calvin vào hai bên lề Kinh thánh. Các Giám mục đã phản đối lại bằng cuốn Kinh Thánh của các Giám mục (1568, Bishops’ Bible) nhưng cuốn Kinh Thánh nầy không bao giờ được ưa chuộng trừ ra giữa vòng các giám mục.
    Bản dịch nổi tiếng nhất trong số các bản dịch tiếng Anh là cuốn Authorized Version, thường được gọi là bản King James (1611). Bốn mươi bảy học giả được chỉ định bởi Vua James I Anh quốc để thực hiện một bản dịch mới dựa trên các ngôn ngữ gốc của Kinh Thánh và sử dụng tất cả những bản dịch tiếng Anh hiện có lúc bấy giờ. Mặc dầu có nhiều bản Kinh Thánh đã được dịch sang tiếng Anh kể từ lúc đó, không bản dịch nào trong số đó thách thức nghiêm trọng được tính quần chúng của bản King James, mãi cho đến gần đây.
    Nhu cầu Về Một Bản Dịch Mới
    Vì sao phải bận tâm với các bản dịch mới nếu chúng ta đã có bản King James, với lời văn xuôi tiếng Anh tuyệt vời không thể so sánh được của nó? Dưới đây chỉ là một vài lý do:
    1. Việc sử dụng các từ tiếng Anh đã thay đổi rất nhiều kể từ năm 1611. Vào năm 1611 từ “prevent” (ngăn ngừa) có nghĩa là “precede” (đến trước). Vào năm 1611, câu Kinh Thánh trong Phi Pl 4:14 được dịch như vầy: “Ấy thế mà nghĩa cử của anh em càng nổi bật vì anh em đã chia sẻ cùng tôi trong cảnh hoạn nạn.” Câu ấy có thể rõ ràng trong năm 1611, nhưng không còn rõ lắm gần đây. Câu ấy chỉ hàm ý rằng: “Nhưng anh em giúp tôi trong cơn hoạn nạn thì đã làm điều thiện.”
    2. Một lý do cơ bản hơn nữa về một bản dịch mới đó là các nguồn phương tiện sẵn có cho các dịch giả vào năm 1611 thật nghèo nàn đáng thương khi so sánh với những bản hiện có. Những dịch giả của bản King James có khoảng hai mươi bốn thủ bản Hylạp chưa hoàn hảo, không bản nào sớm hơn thế kỷ thứ mười, và nguyên bản Tân ước của họ đã có trên 5000 lỗi của người sao chép.
    3. Những khám phá mới đây của ngành khảo cổ học đã làm sáng tỏ sự hiểu biết của chúng ta về những phần chủ yếu của các nguyên bản Kinh Thánh. Ngày nay có hàng ngàn thủ bản đã được đào lên ở tại Palettin và Aicập, và nhờ việc so sánh với các bản nầy, các dịch giả có thể hiểu được ý nghĩa gốc của các đoạn Kinh Thánh gây tranh cãi rõ ràng hơn. Ví dụ vào năm 1948, trong một cái hang ở gần Biển chết, một mớ những thủ bản đã được khám phá, một số trong đó được viết vào giữa thế kỷ thứ hai và thế kỷ thứ nhất T.C. Đây là thủ bản xưa cổ không thể so sánh được -1000 năm xưa cổ hơn các thủ bản hiện có khác - và cuộn da bao gồm Sách Êsai đã làm rõ những khúc Kinh Thánh mà cho đến lúc ấyvẫn luôn tối nghĩa.
    Bản Dịch Mới Nhất
    Vì những lý do đó cũng như những lý do khác nữa, một bản dịch tiếng Anh đáng tin cậy, cập nhật, mới mẻ, mới đây đã được hoàn tất - sản phẩm của 14 năm làm việc cật lực bởi các học giả nổi tiếng. Tân ước đã xuất hiện vào năm 1946, và Cựu ước vào năm 1952. Nếu bạn đã từng bị bối rối, ví dụ, vì những câu Kinh Thánh khó hiểu ở đầu Thithiên thứ 8 trong bản King James: “Nhưng vì các cừu địch Chúa, Chúa do miệng trẻ thơ và các con đương bú, mà lập nên năng lực Ngài, đặng làm cho người thù nghịch và kẻ báo thù phải nín lặng” thì bạn sẽ thấy khó khăn nầy được giải quyết trong bản Kinh thánh Revised Standard Version:
    Đến trẻ con miệng còn thơm sữa cũng tung hô ca ngợi thánh danh khiến quân thù thẹn thùng câm nín.
    Dưới đây là những ví dụ khác về sự làm sáng tỏ tương tự:
    • Bản Kinh James: Đừng suy nghĩ về đời sống các ngươi (Mat Mt 6:25).
    • Bản Kinh Thánh RSV: Đừng lo lắng về đời sống mình
    • Bản King James: Chớ có tư tưởng cao quá lẽ (RoRm 11:2)
    • Bản Kinh Thánh RSV: Chớ kiêu ngạo
    • Bản King James: Hỡi anh em anh em đã tin đến Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa vinh hiển chúng ta thì chớ có tây vị người nào. (Gia Gc 2:1)
    • Bản Kinh Thánh RSV: Thưa anh em, anh em tự nhận mình là thuộc về Chúa Cứu Thế Jêsus là Chúa vinh quang, sao còn thiên vị giàu nghèo.
    Việc Dịch Sẽ Còn Tiếp Tục .
    Bản Kinh Thánh “RSV” có lẽ sẽ trở thành bản dịch tiêu chuẩn trong đời của chúng ta, mặc dầu bản King James vẫn tiếp tục được sử dụng cùng với nó, với sự phong phú rộng lớn. Nhưng các bản dịch mới sẽ được tiến hành, và sẽ tiếp tục được thực hiện, bao lâu mà con người còn đọc Kinh Thánh. Bởi vì cách sử dụng sẽ thay đổi, và các thủ bản mới sẽ được khám phá là điều sẽ làm sáng tỏ thêm ý định của các trước giả ban đầu. Vì vậy sẽ không bao giờ là đúng khi “làm tê liệt” quá trình dịch và cho rằng, ví dụ, bản King James, được bọc trong bìa da đen và được in trên loại giấy mỏng mới chính là bản Kinh Thánh “đích thực.” Cho đến cuối cùng, con người sẽ tham gia vào một trong những cuộc theo đuổi có giá trị nhất - đó là nỗ lực để trình bày lời Đức Chúa Trời bằng những lời lẽ thích hợp nhất hầu làm cho Đức Chúa Trời trở nên sống động trong trái tim và tâm trí của con người.

    Chương 3: Đặt Câu Hỏi Thích Đáng
    (Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài Bằng Cách Nào?
    H. Công thức hóa học của muối là gì?
    Đ. Bạn có thể lấy muối khỏi một bình đựng muối vào một ngày ẩm ướt nếu như bạn bỏ trước một ít hạt gạo vào bình.
    H. Hệ thống tàu ngầm có thể chứng tỏ lợi ích như thế nào?
    Đ. Cách tốt nhất để đi từ Grand Central đến Broadway và Phố 110 là hãy đón một chiếc xe buýt đến công trường Times Square và một chiếc xe tốc hành về hướng Bắc với hai đèn đỏ.
    Hỏi và Đáp thế nào đó đã không ăn khớp với nhau. Một lý do khiến cho những câu trả lời trở nên vô nghĩa bởi vì chúng là những câu trả lời dành cho những câu hỏi không được hỏi đến. Chúng có lẽ là những câu trả lời rất tốt nếu như câu hỏi là “Làm thế nào lấy được muối khỏi một bình đựng muối vào ngày ẩm ướt?” hoặc “Làm thế nào để đi từ Grand Central đến Broadway và Phố 110 bằng xe điện ngầm?”
    Phần lớn công việc của chúng ta khi tiếp cận Kinh Thánh là hãy học cách đặt những loại câu hỏi đúng, những câu hỏi mà các câu trả lời của Kinh Thánh sẽ là những câu trả lời xác thật. Thật vô nghĩa khi hỏi các tác giả Kinh Thánh như vầy:
    H. Làm sao để chứng minh sự hiện diện của Đức Chúa Trời?
    Đối với các truớc giả Kinh Thánh, loại câu hỏi nầy hoàn toàn nằm bên ngoài mục tiêu. Họ không nói về ý tưởng “điều gì đó ở đâu đó” có thể hay không thể tồn tại, mà đang nói đến một Đấng Thực hữu hằng sống là Đấng đối diện với họ, đã làm thay đổi đời sống họ, đã bước vào mối quan hệ với họ. Cố gắng để “chứng minh sự tồn tại của Ngài” chẳng khác nào bạn và Joe thảo luận câu hỏi: “Fred có thật sự tồn tại không?” ngay trước mặt Fred, Fred có lẽ thỉnh thoảng đóng góp vào cuộc thảo luận. Bạn phải coi sự hiện diện của Fred là điều đương nhiên, bởi vì bạn đã biết anh ta rồi. Đó chính là điều các tác giả Kinh Thánh đã làm với Đức Chúa Trời. Ngài là yếu tố đầu tiên và cuối cùng của đời sống họ. Họ chẳng mất thì giờ để ra sức “chứng minh” Ngài; họ đang tìm cách để xem Ngài tự bày tỏ chính mình Ngài như thế nào, và những gì Ngài truyền bảo họ.
    Vì vậy, muốn hiểu câu trả lời của Kinh Thánh chúng ta phải đặt câu hỏi phải lẽ:
    H. Đức Chúa Trời tự bày tỏ chính mình Ngài bằng cách nào?
    Như thế chúng ta sẽ đến được chỗ nào đó.
    Kinh Thánh Trả Lời Câu Hỏi Này Như Thế Nào
    Ngày xưa một nhóm người nô lệ không phải Do Thái đã cố gắng để tìm hiểu về Đức Chúa Trời của dân Do Thái. Nhưng điều nầy dường như tuyệt vọng. Họ kêu lên rằng: “Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình” (EsIs 40:15). Đức Chúa Trời là một Đức Chúa Trời ẩn mình! Đối với nhiều người, đó là kết thúc vấn đề. Tuy nhiên vẫn còn có một ý nghĩa nữa để kêu gào. Bởi vì mặc dầu những người nô lệ nhận biết rằng Đức Chúa Trời thật là Đấng ẩn mình, họ biết nơi nào để tìm được Ngài. Ngài phải được tìm thấy trong Ysơraên. Họ muốn nói rằng nếu bạn muốn biết nơi nào Đức Chúa Trời ẩn mình nầy được mặc khải, hãy xem xét các biến cố trong đời sống và lịch sử của dân tộc Do Thái, vì chính tại đó, Đức Chúa Trời đã tỏ mình. Đối với người Ysơraên: “Thật Đức Chúa Trời ở giữa ngươi; ngoài Ngài chẳng có ai khác, không có Đức Chúa Trời nào nữa. Hỡi Đức Chúa Trời của Ysơraên, là Cứu Chúa, Ngài thật là Đức Chúa Trời ẩn mình! ” (45:14, 15).
    Thật ra nói như thế là muốn bảo rằng: “Nếu bạn muốn biết Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài như thế nào, hãy xem xét những biến cố lịch sử của dân Do Thái, bạn sẽ thấy Ngài hành động tại đó, và bạn sẽ thấy Ngài tỏ mình ở đó, chứng tỏ cho những người ấy Ngài là Đấng nào, Ngài như thế nào, Ngài truyền bảo họ điều gì, Ngài hứa với họ điều gì.”Vì vậy mà Kinh Thánh cho chúng ta lịch sử của dân tộc Ysơraên đó, và cuối cùng (trong Tân ước) câu chuyện của một nhân vật mà qua Đấng đó, Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài cách trọn vẹn nhất.
    Đây là điều cực kỳ gây ngạc nhiên. Thậm chí gây bàng hoàng. Bởi vì dân Do Thái nầy không phải là một dân tộc “lớn” như các dân khác. Họ là một dân nhỏ bé, luôn luôn bị cai trị bởi các dân tộc lớn, bị hoạn nạn, bị đẩy vào trong tình trạng lưu đày, các thành, làng mạc và dân sự của mình cứ không ngừng bị nhổ khỏi chỗ và bị hủy diệt từ lúc nầy đến lúc khác. Trên sân khấu của lịch sử thế giới, họ là một tấm thảm trên nó các đế quốc lớn chùi ủng -khó mà là một nơi thích hợp để mong được thấy Đức Chúa Trời hành động! Nếu chúng ta lên kế hoạch thực hiện công việc, nhất định chúng ta sẽ chọn cách khác. Nhưng không phải chúng ta hoạch định các sự việc, vì vậy chúng ta phải lắng nghe lời tuyên bố của Kinh Thánh, đó là cách Đức Chúa Trời đã hoạch định, và hãy xem vì sao Ngài đã làm điều đó theo cách của Ngài chứ không phải theo cách của chúng ta. Vậy thì đâu là câu trả lời của Kinh Thánh cho thắc mắc: “Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài như thế nào?.”
    Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài
    Điều đầu tiên phải được nói không rõ ràng như nó có thể xuất hiện. Kinh Thánh tỏ rõ rằng Đức Chúa Trời bày tỏ chính mình Ngài . Ngài không chỉ tiết lộ những thông tin về chính mình. Nói một cách khác, những gì chúng ta tìm được trong Kinh Thánh không phải là một mớ các dữ kiện về Đức Chúa Trời, mà là một Đức Chúa Trời hằng sống trong mối quan hệ sống động với những con người sống. Những người nầy không tự sức mình đưa họ vào trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Họ làm chứng rằng Đức Chúa Trời đã chủ động tìm kiếm họ. Công việc của họ là đáp ứng lại, nhưng phần chủ động nằm ở phía Ngài. Ngài bày tỏ cho họ không phải chỉ những ý tưởng hoặc những thông tin mà là chính mình Ngài. Trên thực tế, đây là phương cách duy nhất có thể được thực hiện để dẫn đến mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và con người.
    Hãy xem xét điều đó theo cách nầy. Một học sinh trung học mới đang tiến vào cửa. Một cách độc lập, bạn có thể biết được khá nhiều về cậu ta: mười lăm tuổi, tóc nâu, cùng học chung một trường với bạn, cởi xe đạp thành thạo, mang chiếc găng tay sặc sỡ của người chơi bóng chày ở hàng tiền đạo, khỏang hai lần một tuần, thường nhận những bức thư sực nức mùi thơm nằm trong những bao thư tô màu, được viết bằng nét chữ viết tay mảnh dẻ của con gái, Tất cả những yếu tố nầy bạn có thể khám phá bởi một chút điều tra kiên nhẫn.
    Tuy vậy bạn có thật sự biết rõ anh ấy không?
    Tất nhiên là không.
    Làm thế nào để bạn có thể biết anh ta?
    Chỉ bằng một cách, trong sự phân tích vừa rồi, nếu người bấy bằng lòng tỏ mình cho bạn biết , nếu anh ta sẵn sàng chủ động bước vào mối quan hệ với bạn để rồi qua mối quan hệ ấy, anh ta tiết lộ chính mình cho bạn. Nếu điều nầy xảy ra, bạn không những chỉ biết những sự việc về anh ấy, mà bạn còn sẽ biết chính người ấy . Bạn và anh ta sẽ gặp nhau trong sự gặp gỡ sống động.
    Điều nầy phần nào cũng giống như lời tuyên bố mà Kinh Thánh đã nói về Đức Chúa Trời. Kinh Thánh nói rằng Đức Chúa Trời được nhận biết bởi cùng một loại gặp gỡ sống động, qua đó chúng ta hiểu biết một con người sống. Nếu Ngài không mặc khải chính Ngài thì Ngài vẫn mãi mãi ẩn dấu đối với chúng ta. Chúng ta không thể biết Ngài thật sự nếu tất cả những gì chúng ta có chỉ là những thông tin về Ngài. Chúng ta không thể bước vào mối quan hệ với những thông tin về Đức Chúa Trời; chúng ta chỉ có thể bước vào mối quan hệ với chính Đức Chúa Trời. Vì vậy Kinh Thánh không phải là một cuốn sách giáo khoa gồm những lời tuyên bố mang tính giáo lý (mặc dầu những lời tuyên bố mang tính giáo lý có thể rút ra từ Kinh Thánh) - Kinh Thánh là một lời ký thuật về một cuộc gặp gỡ giữa Đức Chúa Trời và dân sự Ngài.
    Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài Qua Các Sự Kiện Lịch Sử
    Chúng ta thấy Đức Chúa Trời hành động ở đâu? Tại đây Kinh Thánh nói rất rõ. Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài ngay nơi con người sống -giữa những hy vọng và những thù ghét của họ, những ưa thích và sợ hãi của họ, những công việc và tranh chiến của họ, tức là trong các sự kiện lịch sử, và đặc biệt là trong các sự kiện lịch sử của dân tộc Do Thái. Khi những con người mà đối với họ, Đức Chúa Trời là thực hữu trong quá khứ, hiện tại và tương lai, họ tìm thấy niềm tin của mình đặt nơi Ngài được khẳng định, được làm sáng tỏ, và đôi khi được sửa đúng. Ngài làm các công việc - lịch sử là nơi làm việc của Ngài. Ngài ban cho bằng chứng ngay nơi con người đang sống Ngài là Đấng thế nào và điều Ngài sẽ làm. Mặc dầu đây vẫn luôn là một điều bí ẩn, chỗ mà ý nghĩa nào đó bước vào sự bí ẩn, chỗ mối quan hệ thật thay thế điều chỉ là thông tin, luôn nằm giữa tình huống thực của con người.
    Lời tuyên bố Đức Chúa Trời đang hành động ngay nơi con người sống là một tuyên bố có ý nghĩa lớn lao. Có nghĩa là muốn biết Chúa và được Ngài biết, bạn không cần phải chìm vào một tình trạng hôn mê huyền bí, tự tách mình khỏi loài người, hay cứ luôn ở trong nơi ẩn dật. Đức Chúa Trời ở ngay nơi bạn sống, ở trong tình huống của bạn, không phải nơi nào khác. Hãy xem xét ba ví dụ về việc Chúa gặp gỡ loài người trong những tình huống lịch sử của chính họ:
    VÍ DỤ MỘT: Khi Con cái Ysơraên cuối cùng đã thoát khỏi các đội quân Pharaôn đuổi theo, và băng qua Biển đỏ, họ đã không tự hào về kế hoạch khôn khéo của chính mình. Trái lại, họ dâng lời cảm tạ Đức Chúa Trời là Đấng giải cứu họ khỏi kẻ thù. Sự giải thích biến cố đó tác động đến toàn bộ lịch sử về sau nầy của họ. Đức Chúa Trời đã giải cứu họ trong giờ phút hiểm nghèo; Ngài đã hành động ngay nơi họ đang có mặt, ở với họ trong giờ khủng hoảng.
    VÍ DỤ HAI: Nhiều thế kỷ sau đó cũng chính những người Ysơraên nầy đã bị đánh bại hoàn toàn bởi người Babylôn, bị bắt làm phu tù. Tuy nhiên ngay cả trong toàn bộ biến cố đau buồn của sự thất bại và lưu đày của mình họ vẫn có thể thấy Đức Chúa Trời đang bày tỏ chính mình Ngài, tỏ cho họ thấy hậu quả của việc họ không làm theo ý muốn Ngài. Họ đã khám phá Ngài đang khi làm việc, không phải bởi họ quay lưng lại với lịch sử, mà ngay giữa lịch sử.
    VÍ DỤ BA: Cuối cùng, khi Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua đời sống của một con người, thì điều nầy cũng đã xảy ra ngay nơi con người đang sống. Những lời ký thuật về sự ra đời của Chúa Jêsus nhắc nhở chúng ta về điều đó. Cơ hội nhìn thấy con trẻ Cứu Thế không được ban cho những người chăn chiên đang khi họ thực hiện một chuyến hành hương hoặc thậm chí khi họ đang ở trong nhà thờ, nhưng đang khi họ đang làm công việc thích hợp của mình, đó là chăn giữ bầy chiên. Cùng một tin mừng đã đến với những Nhà Thông thái ngay nơi họ ở, bận rộn với công việc thích hợp của họ, đó là quan sát bầu trời. Chúa Cứu Thế chính là một phần của lịch sử chúng ta. Ngài đã ra đời “trong đời vua Hêrốt trị vì.” Ngài đã chịu khổ “dưới tay Bônxơphilát.” Cuộc đời của Ngài đã được xác định niên đại.
    Những cuộc gặp gỡ giữa loài người và Đức Chúa Trời xảy ra ngay nơi con người sống, trên vũ đài lịch sử loài người.
    Lưu Ý Dành Cho Những Độc Giả Thận Trọng : Nhưng ở đây có một vấn đề rắc rối. Nhiều người bảo rằng: “Đức Chúa Trời mặc khải chính mình qua thiên nhiên , đó chính là nơi tôi tìm thấy Ngài.” Đúng là thế giới tự nhiên, công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời, cho chúng ta một số những dấu chỉ về tâm tánh của Đấng Tạo Hóa. “Các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời; bầu trời giải tỏ công việc tay Ngài làm” (Thi Tv 19:1). Nhưng tác giả Thithiên lẫn các trước giả Thánh Kinh đều không hề dùng thiên nhiên để tranh luận về Đức Chúa Trời như thể nhờ thiên nhiên bạn có thể nhận biết Đức Chúa Trời theo đức tin Thánh Kinh là Đấng thế nào. Lấy thế giới tự nhiên để biện luận rằng “phải có” một Đức Chúa Trời, hoặc thiên nhiên ấy “chứng minh” sự tồn tại của Đức Chúa Trời, là mang lấy một công việc đáng nghi ngại. Bởi vì nếu thiên nhiên đem lại ánh hoàng hôn đáng yêu thì nó cũng mang lại ung thư, những trận bão lốc và những con cọp hung dữ cấu xé lẫn nhau. Đức Chúa Trời không thể được “giải thích” bởi thiên nhiên. Đó là một cách khác. Bởi vì họ đều đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời vì những lý do khác, nên các trước giả Kinh Thánh có thể nhìn thấy bằng chứng về Đức Chúa Trời trong trật tự được tạo dựng của Ngài. Nhưng vũ đài thật sự của cuộc đối đầu giữa Đức Chúa Trời và con người không phải chỉ là thế giới thiên nhiên, mà là thế giới của các biến cố loài người, nơi con người đau khổ, tranh đấu, yêu, ghét, sống và chết.
    Đức Chúa Trời Mặc Khải Chính Mình Ngài Qua Những Con Người .
    Làm thế nào chúng ta biết hoạt động của Đức Chúa Trời trong thế giới các biến cố loài người? Chúng ta không thể chỉ xem xét một nhóm các “biến cố” phức tạp và đi đến kết luận về Đức Chúa Trời từ nơi chúng, cũng như chúng ta không thể xem xét thiên nhiên và kết luận về Đức Chúa Trời từ nơi đó. Điều chúng ta tìm được trong Kinh Thánh, khi đối mặt với nan đề nầy, không phải chỉ là vấn đề thuật lại lịch sử mà là cách giải thích lịch sử.
    Lời tuyên bố Đức Chúa Trời hành động trong lịch sử dân Do Thái, chẳng hạn, là một cách giải thích dựa trên lịch sử đó bởi những con người xem xét nó từ một quan điểm đặc biệt. Ý nghĩa nội tại của tình tiết Biển đỏ là một ý nghĩa được truyền đạt cho chúng ta bởi những con người mà niềm tin của họ đặt nơi Đức Chúa Trời khiến họ hiểu được sự kiện ấy theo cách rất đặc biệt.
    Chúng ta thấy rằng đối với một số người dường như Đức Chúa Trời ban cho họ sự hiểu biết đặc biệt. Qua họ, ý muốn và mục đích của Ngài gần gũi với chúng ta hơn là qua những người khác trong cùng trường hợp đó. Những người nầy được gọi là “các tiên tri.” Chúng ta thường nghĩ đến một vị tiên tri như là một người nói trước tương lai, như thể người ấy có được quả cầu thủy tinh được bảo đảm bởi Thượng Đế. Mặc dầu đúng là các tiên tri trong Cựu ước thường nói về tương lai và điều tương lai mang lại, tầm quan trọng chính của họ là tư cách phát ngôn nhân của Đức Chúa Trời, những người báo trước về ý định của Đức Chúa Trời cũng như nói trước về tương lai. Và họ nói với uy quyền. Họ không nói một cách nhút nhát.
    “Đối với tôi dường như một khả năng hợp lý đó là trong những hoàn cảnh nhất định chúng ta chỉ có thể giải thích ý muốn của Đức Chúa Trời là vì vậy-cho nên,”
    Không, khi phải nói điều gì, họ nói như sấm truyền:
    “GIÊHÔVA ĐỨC CHÚA TRỜI PHÁN NHƯ VẦY!”
    và sau đó công bố ý muốn của Đức Chúa Trời cho tình huống riêng biệt đó. Các tiên tri báo cho dân sự điều Đức Chúa Trời sắp sửa làm, và điều mà Ngài sẽ làm vào thời điểm đó; họ chỉ rõ rằng Đức Chúa Trời đang hành động, rằng họ dự phần vào, rằng họ không ngồi yên và để mặc cho mọi sự xảy ra. Và vì vậy bởi việc chứng kiến một Đức Chúa Trời hành động, họ đã là và vẫn là một phương tiện để qua đó Đức Chúa Trời mặc khải cho những người còn lại trong chúng ta.
    Chúng ta sẽ xem xét những sự hiểu biết của các tiên tri nầy khá chi tiết khi đọc cuốn sách nầy. Còn bây giờ chỉ hãy lưu ý Đức Chúa Trời, Đấng mà các tiên tri đã cho chúng ta được làm quen với, là như thế nào. Ngài là Đức Chúa Trời của sự công bình nghiêm nhặt, Đấng đã truyền rằng chúng ta phải công bình nghiêm túc trong mọi cách giao tiếp xử sự của con người mình (Amốt); Ngài cũng là Đức Chúa Trời đầy lòng thương xót và nhân từ, không sẵn sàng từ bỏ dân sự dầu họ đáng bị từ bỏ (Ôsê); Ngài là thánh, cao trọng và được cất nhắc, là Đấng “khác biệt” với chúng ta (Êsai). Phần lớn hiểu biết riêng của chúng ta về Đức Chúa Trời là kết quả những lời tuyên bố gây thu hút của các vị tiên tri.
    Đức Chúa Trời Mặc Khải Chính Mình Ngài Cách Tối Thượng Qua Một Thân Vị - Chúa Cứu Thế Jêsus .
    Toàn bộ Cựu ước đều hướng về điều nầy. Một số các nhà tiên tri đã nói đến Đấng Chịu Xức Dầu (“Mêsia” là từ Hybá) Đấng sẽ đến từ Đức Chúa Trời để tỏ cho loài người biết Đức Chúa Trời là Đấng nào, và Ngài truyền dạy họ điều gì. Nói cách khác, giữa tất cả những gì đã xảy đến trong lịch sử Do Thái, một điều xảy ra có ý nghĩa hơn bất cứ điều nào khác; giữa vòng tất cả những nhân vật lịch sử Do Thái, sẽ xuất hiện một con người quan trọng hơn bất cứ con người nào khác, và qua các biến cố của đời sống con người nầy, sự mặc khải của Đức Chúa Trời sẽ được làm trọn vẹn hơn là đã được bày tỏ trước đây. Cựu ước chờ đợi “kỳ trọn vẹn” khi mọi sự nầy sẽ xảy đến. Vào một thời kỳ, dân chúng kêu khóc với Chúa qua một hình ảnh thật sống động: “Ôi! Ước gì Ngài xé rách các từng trời, Ngài ngự xuống” (EsIs 64:1).
    Lời tuyên bố của Tân ước chính là sự đáp lời cho tiếng kêu ấy. Đức Chúa Trời đã đến cùng con người, bởi vì con người không thể đến với Đức Chúa Trời. Ngài đã đến bằng phương cách duy nhất mà họ có thể hiểu được, là một con người, giống như chính họ. Điều nầy, cũng là điều mà đức tin Cơ Đốc xưng nhận, là sự bày tỏ tuyệt đỉnh của Đức Chúa Trời cho con người: Đức Chúa Trời tỏ bày chính mình Ngài cách trọn vẹn nhất trong những sự kiện tập hợp lại chung quanh một Chúa Jêsus, được gọi là Đấng Christ. (“Christ là tiếng Hy lạp tương đương với từ Mêsia” trong tiếng Hêbơrơ. Những từ nầy có thể dùng thay thế cho nhau). Trong khi Cựu ước nói bằng những thuật ngữ chung chung về lời Đức Chúa Trời, hoặc quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, thì Tân ước nói bằng những thuật ngữ hết sức cụ thể khi xem xét Chúa Cứu Thế Jêsus: “Ngôi lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” (GiGa 1:14).
    Những hàm ý của lời tuyên bố trọng yếu nầy, điều ngạc nhiên nhất từng được thực hiện, sẽ chiếm phần lớn sự chú ý của chúng ta suốt quyển sách nầy. Điều chúng ta phải nhìn thấy rõ ràng ở tại điểm nầy đó là khi Kinh Thánh phán về Đức Chúa Trời thì không chỉ nói về Đức Chúa Trời; mà Kinh Thánh tỏ cho chúng ta Đức Chúa Trời hành động trong bối cảnh loài người, trong đời sống một con người. Như vậy Đức Chúa Trời tỏ mình cho chúng ta bằng cách nào? Cuối cùng và mang tính quyết định, Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ mình bằng cách chính Ngài đã đến với chúng ta qua Chúa Cứu Thế Jêsus, là Đấng bước vào mối tương giao với chúng ta, mang lấy trên chính mình Ngài những giới hạn của kiếp người, thậm chí chịu khổ và chịu chết như là sự bày tỏ tối hậu của tình yêu và sự khao khát Đức Chúa Trời dành cho chúng ta để bước vào mối thông công trọn vẹn hơn với chúng ta. Chúng ta hãy quyết định điều phải làm với Ngài.
    Đức Chúa Trời Bày Tỏ Chính Mình Ngài Qua Đời Sống Của Một Cộng Đồng
    Những người quyết định những tuyên bố về Ngài là đúng đã họp thành cái được gọi là Hội Thánh Cơ Đốc. Và trong sự sống của Hội Thánh, Đức Chúa Trời tiếp tục hành động, sống động, để mặc khải chính mình Ngài. Trước khi khảo sát ý niệm này, chúng ta phải nhắc nhở chính mình rằng Hội Thánh không chỉ đột ngột xuất hiện và tồn tại “từ ban đầu” vào khoảng năm 30 S.C. Trên thực tế, những Cơ Đốc Nhân đầu tiên, thường ám chỉ mình như là “dân Ysơraên mới” gợi ý rằng họ đứng vào chỗ tiếp nối với Ysơraên cũ. Người Ysơraên cũ, như chúng ta đã thấy, là một dân tộc được kêu gọi, được biệt riêng, qua họ Đức Chúa Trời đã bày tỏ chính mình Ngài. Những người Ysơraên đã đến chỗ hiểu rằng họ phải là “ánh sáng cho các dân tộc” (EsIs 42:6), có nghĩa là đến phiên họ phải làm cho thế giới còn lại biết Đức Chúa Trời là Đấng đứng cùng họ trong mối quan hệ thân mật đó.
    Bây giờ đây chính xác là công tác mà Tân ước tuyên bố nấy trên Hội Thánh Cơ Đốc. Những Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã tìm cách rao truyền “tin mừng” của điều Đức Chúa Trời đã thực hiện qua Đấng Christ cho mọi người sống trên khắp trái đất. “Dân Ysơraên mới” đã mang lấy trên chính họ công việc mà Ysơraên cũ đã không thực hiện bởi vì Ysơraên cũ không chấp nhận Chúa Jêsus là Đấng Mêsia của lời hứa. Vì vậy, từ quan điểm Cơ Đốc, công tác của dân Do Thái đã được tìm thấy và trở thành công tác của Hội Thánh Cơ Đốc. Lời tuyên bố nầy là, qua lịch sử của cộng đồng được nối tiếp đó, như đã được ký thuật trong cả Cựu lẫn Tân ước, hành động của Đức Chúa Trời hằng sống vẫn tiếp tục được mặc khải. Một cái nhìn lướt qua sách Côngvụ chẳng hạn, một trong những tài liệu đáng phấn khích nhất trong toàn bộ văn phẩm, sẽ cho bạn thấy thể nào qua đời sống của cộng đồng Cơ Đốc, quyền năng và sự hiện diện của Đức Chúa Trời hằng sống tiếp tục được bày tỏ ra bằng những cách mới. Bởi vì Đức Chúa Trời đang sống chứ không chết, nên hoạt động của Ngài không ngừng lại ở bất kỳ thời điểm nào, mà cứ tiếp tục qua ống dẫn sự chỉ định của Ngài - là mối thông công của các Cơ Đốc Nhân, được biết là Hội Thánh.
    Đức Chúa Trời Mặc Khải Chính Mình Ngài Qua Một Quyển Sách .
    Làm sao chúng ta biết tất cả những điều đó? Chúng được chép trên các trang giấy in trong Kinh Thánh của chúng ta. Vì vậy Kinh Thánh chính là một phương tiện để Đức Chúa Trời bày tỏ chính Ngài cho chúng ta, bởi vì nhờ đọc Kinh Thánh mà chúng ta thấy Ngài đối mặt với mình.
    Nhưng chúng ta phải cẩn thận ở đây. Có sự khác biệt giữa Đức Chúa Trời với những lời tuyên bố về Đức Chúa Trời. Những lời tuyên bố trong Kinh Thánh ra từ các sự kiện lịch sử mà Kinh Thánh mô tả, và những tuyên bố nầy được tập hợp lại với nhau, được viết lại, được nối kết với nhau, và được dịch bởi con người. Chúng ta tin rằng những người nầy được cảm động bởi quyền năng và Thánh Linh của Đức Chúa Trời một cách riêng lẻ, nhưng điều nầy không khiến họ không còn là con người. Vì vậy chúng ta sẽ nghe lời của con người trong Kinh Thánh cũng như lời của Đức Chúa Trời.
    Có thể một vài minh họa sẽ làm rõ điều nầy. Hãy hình dung bạn mua một chiếc đĩa hát, trên nhãn hiệu có câu “Âm thanh Bậc Thầy” khi lắng nghe đĩa hát bạn nghe được tiếng của người nghệ sĩ bậc thầy-Caruso, Flagstad hoặc thậm chí của Bing Crosby. Tuy nhiên không phải chỉ có giọng người nghệ sĩ bậc thầy. Còn có những tiếng ồn khác - tiếng xào xào do đĩa hát được chế tạo bởi con người. Điều nầy không có nghĩa là chúng ta không nghe được tiếng của bậc thầy, nhưng đơn giản là chúng ta phải cẩn thận để phân biệt giữa những âm thanh của chủ nhân và những tiếng động trên bề mặt của đĩa hát. Với Kinh Thánh cũng vậy, chúng ta luôn phải đối diện với trách nhiệm phân biệt giữa những âm thanh do tiếng nói của Vị thầy, và những gì là tình huống con người khi viết lại những lời mà hiện nay chúng ta có.
    Hoặc hãy thử tưởng tượng bạn đang đứng trước một bức tường gạch. Chỉ khi nào có một chiếc cửa sổ trên tường thì bạn mới có thể nhìn xuyên qua tường được. Thậm chí lúc ấy, nếu chỉ nhìn vào khung cửa sổ, bạn cũng không thể thấy quang cảnh ở đàng xa. Vì vậy bạn phải nhìn qua khung cửa sổ và tập trung sự chú ý của mình vào những gì nằm ở đàng xa. Tương tự như vậy, Cơ Đốc Nhân không được nhìn quá nhiều vào Kinh Thánh cho bằng qua Kinh Thánh để thấy những cuộc đối mặt giữa Đức Chúa Trời với loài người được mô tả trên các trang giấy in. Chúng ta không thể thấy gì cả nếu không có những trang giấy in nầy. Nếu chúng ta chỉ nhìn Kinh Thánh, những lời tuyên bố và những đề nghị của Kinh Thánh, thì hình ảnh bên kia có thể bị mù mờ; chúng ta không đến chỗ biết Đức Chúa Trời trọn vẹn như phải biết. Nhưng nếu chúng ta nhìn xuyên qua Kinh Thánh, thì nó phục vụ như một loại cửa sổ mà nhờ đó Đức Chúa Trời và Chúa Cứu Thế được đưa vào đúng trọng tâm. Như vậy Kinh Thánh là phương tiện để Đức Chúa Trời tạo được ảnh hưởng mạnh mẽ của Ngài trên chúng ta ngày nay.
    Kết Toán
    Như vậy đây là điều được cộng thêm:
    Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài.
    Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua các sự kiện lịch sử.
    Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua những con người.
    Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài cách tối thượng qua một nhân vật - Chúa Cứu Thế Jêsus.
    Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua đời sống của một cộng đồng.
    Đức Chúa Trời mặc khải chính mình Ngài qua một quyển sách.
    Công việc tiếp theo của chúng ta là cố gắng tìm biết nhiều hơn về Đức Chúa Trời, Đấng đã mặc khải chính mình Ngài bằng những phương cách lạ lùng nầy.
    Chương 4: Đức Chúa Trời, Sáng Thế Ký và Gia Phả
    (Mọi Sự Từ Đâu Mà Có? )
    Bảo rằng hầu hết mọi người đều muốn biết rõ Đức Chúa Trời là điều vô lý.
    Bảo rằng hầu hết chúng ta đều muốn trốn tránh Đức Chúa Trời và muốn Ngài để mặc chúng ta, là điều gần với sự thật hơn. Ít ra đó là điều Kinh Thánh phán và là một ý tưởng khá ngạc nhiên.
    Làm Thế Nào Để Trốn Đức Chúa Trời
    Qua Bốn Bài Học dễ Dàng
    Chúng ta biết câu chuyện về một tác giả Kinh Thánh ra sức trốn khỏi Chúa, và điều gì đã xảy ra. Lời ký thuật nầy được chép trong Thi Tv 139:1-24. Đây là chỗ thích hợp để bắt đầu nghiên cứu về Đức Chúa Trời của Thánh Kinh, bởi vì nó sẽ giữ chúng ta không “quá tình cảm” khi nghĩ về Ngài.
    Đức Chúa Trời đã đến quá gần tác giả, là người bị kinh khủng bởi ý tưởng Đức Chúa Trời của trời và đất đang ở rất gần. Nếu bạn có một người bạn có thể “nhìn thấu lòng bạn” khi bạn lừa dối, và là người biết bạn hầu như rất rõ, bạn phần nào hiểu được cách tác giả nầy cảm nhận, bởi vì ông khám phá Ngài biết ông quá rõ: “Vì lời chưa ở trên lưỡi tôi, kìa hỡi Đức Giêhôva, Ngài đã biết trọn hết rồi (c. 4). Thật là một tình huống khá khó chịu!
    Vì vậy, sự gần gũi của Đức Chúa Trời khiến ông bối rối, ông quyết định đặt một khoảng cách lớn giữa chính mình và Đức Chúa Trời. Đây là điều con người vẫn thường làm theo nhiều cách khác nhau khi Đức Chúa Trời hằng sống trở nên quá gần. (Chỉ có những vị thần “dễ bảo” mà tự tay chúng ta đã làm ra thì sự hiện diện của họ mới làm cho chúng ta cảm thấy dễ chịu.) Đức Chúa Trời hằng sống thường truyền các mệnh lệnh. Vì vậy tác giả Thithiên tưởng tượng bốn cách để trốn tránh:
    1. Ông sẽ “lên trời,” tìm nơi trú ẩn, trongng một thế giới mà dường như có hoạch định kỹ càng để Đức Chúa Trời trở nên thừa thải, một “bầu trời” thật sự theo trí tưởng tượng riêng của người ấy.
    Nhưng không hiệu quả. Đức Chúa Trời có ở đó.
    2. Vì vậy người ấy quyết định đặt giường mình nằm tại “Âm phủ,” là nơi người đó biết chắc Đức Chúa Trời không có mặt.
    Nhưng, xui xẻo thay, Đức Chúa Trời có ở đó, ngay tại nơi Ngài không có việc gì để ở!
    3. Bấy giờ tác giả kinh hoảng, vì vậy ông quyết định chạy thật xa đến các đầu cùng của đất,: “Ở tại cuối cùng biển.” Đức Chúa Trời không thể nào theo kịp người ấy. Người ấy sẽ qua mặt Chúa!
    Không may. Đức Chúa Trời có ở đó trước ông.
    4. Cuối cùng người ấy quyết định bao phủ mình bằng“sự tối tăm.”
    Một lần nữa, Đức Chúa Trời tìm thấy ông.
    Không lối thoát. Không chỗ trốn tránh.
    Bài học: Bạn Không Thể Trốn Khỏi Đức Chúa Trời
    Điều nầy thật không chịu đựng nỗi! Dầu tác giả Thithiên đi đến đâu Đức Chúa Trời cũng có ở đó trước. Điều tác giả đã nói ban đầu rốt lại là đúng: “Chúa bao phủ tôi phía sau và phía trước, đặt tay Chúa trên mình tôi.” Người ấy đã bị mắc kẹt. Không thể thoát ra được. Trong cuộc đeo đuổi không khoan nhượng nầy, Đức Chúa Trời theo sát ông dầu ông có ra sức trốn tránh đến đâu.
    Như vậy rõ ràng tác giả Thithiên đã nhận biết rằng ông bị kẹt vào một cuộc chiến nắm chắc phần thua. Ông không thể nào trốn khỏi Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời nhất định kiểm soát cuộc đời của ông. Một ý nghĩ lạ lùng, có lẽ đây là đời sống thực sự. Có lẽ ông đã được biến trở thành một người đầu phục, để thừa nhận Đức Chúa Trời, để thay đổi và gặp gỡ Ngài, thay vì trốn chạy khỏi Ngài. Và vì vậy một ghi nhận mới đã bước vào Thithiên nầy (c.13). Tác giả đi từ sợ hãi sang ngợi khen. Và bây giờ những tư tưởng của Đức Chúa Trời, thay vì đáng sợ trở nên “quý báu” (c.17). Thay vì trốn khỏi Đức Chúa Trời vì sợ hãi, ông sẽ phải được tái tạo, ông trở lại với Chúa trong sự tin cậy phó thác trọn vẹn và xin được tái tạo:
    Đức Chúa Trời ơi , xin hãy tra xét tôi , và biết lòng tôi ;
    Hãy thử thách tôi và biết tư tưởng tôi ;
    Xin xem thử tôi có lối ác nào chăng ,
    xin dắt tôi vào con đường đời đời !
    (Thi Tv 139:23, 24).
    Ghi chú dành cho độc giả thận trọng: Các câu 19-22 trong Thithiên nầy , như bạn sẽ thấy trong Kinh Thánh của mình , thật nóng nảy và cay đắng . Tác giả ghét những kẻ thù của Chúa “thật là ghét ” và cầu cho chúng bị hủy diệt . Đây là một sự nhắc nhở thích đáng cho chúng ta về tính người của tác giả Thithiên . Ông phản ứng rất giống chúng ta (hãy nghĩ đến kẻ thù tồi tệ nhất của Chúa mà bạn biết và xem có phải không dễ để nói những câu như vậy về họ chăng ). Vì vậy những câu Kinh Thánh nầy nhắc nhở chúng ta rằng thậm chí trong giây phút có sự hiểu biết thuộc linh cao độ , chúng ta vẫn có thể làm hỏng sự nhận biết ấy . Điều nầy làm cho các câu 23, 24 càng quan trọng hơn .
    Nguy Hiểm, Khó Khăn, Chỉ Thị, và Lời Chẩn Đoán
    Kinh nghiệm nầy của tác giả Thithiên khiến chúng ta phải coi chừng việc nói hấp tấp về Đức Chúa Trời của Kinh Thánh. Vì vậy chúng ta hãy luôn nhớ một vài điều sâu xa hơn.
    Thứ nhất, một sự nguy hiểm . Có điều gì đó hết sức ngạo mạn trong phỏng đoán của chúng ta cho rằng mình có thể hiểu hoặc (thậm chí tồi tệ hơn) viết về Đức Chúa Trời. Bởi vì chúng ta luôn rơi vào sự nguy hiểm của việc hạ thấp Đức Chúa Trời thành một “vật thể,” thành một “cái gì đó” để chúng ta có thể mô tả hoặc vẽ đồ thị. Cũng vậy, chúng ta cần phải nhớ rằng mình chưa có được “toàn bộ câu chuyện về Đức Chúa Trời,” thậm chí khi đã nói tất cả những gì có thể nói, chúng ta cũng mới chỉ cào trên bề mặt mà thôi. Không ai có được một cái nhìn đầy đủ không bị cản trở về sự oai nghi tuyệt đối của Đức Chúa Trời. Câu chuyện Môise chỉ được phép nhìn thấy “phía sau” Đức Chúa Trời mà thôi là một nỗ lực hết sức sớm sủa để làm rõ quan điểm nầy. (Xem XuXh 33:17-23) Vì vậy chúng ta đừng bao giờ nghĩ rằng mình có thể thu nhỏ Đức Chúa Trời thành một loạt những lời tuyên bố hoặc thành bốn đoạn trong một cuốn sách.
    Thứ nhì, sự khó khăn . Chúng ta thấy thật khó để suy nghĩ về Đức Chúa Trời ngoại trừ bằng những gì đến từ kinh nghiệm con người. Vì vậy chúng ta mô tả Đức Chúa Trời bằng những gì dường như khiến Ngài giống như chúng ta - to lớn hơn, có lẽ, và lâu đời hơn, kinh nghiệm nhiều hơn, có thể với bộ râu dài, ngự trên một chiếc ngai. Kiểu giới hạn Chúa trong những ý niệm của trường sơ cấp là điều nhất định phải tránh. Tuy nhiên, mặt khác của sự lập luận nầy, chúng ta có thể lưu ý những phạm trù rút ra từ kinh nghiệm của chính chúng ta chỉ là những gì qua đó chúng ta có thể suy nghĩ, và nếu chúng ta không khẳng định quá nhiều về chúng, một số trong những phạm trù con người mà chúng ta sử dụng có thể gần với tiêu chuẩn nhiều hơn là những phạm trù phi thân vị. Chẳng hạn khi chúng ta nói rằng Đức Chúa Trời là Đấng “có thân vị,” chúng ta không hàm ý rằng Ngài là một “con người” như chúng ta, có hai tay, hai chân, móng tay, mà là, bất cứ điều gì khác chúng ta có thể nói về Ngài, Ngài ít nhất là một con người chúng ta có thể có mối tương giao cá nhân và thông công. Ngài có thể còn hơn nhiều (và nhất định như vậy), nhưng bởi vì chúng ta bước vào mối tương giao với những con người chứ không phải với đá, chúng ta sử dụng các phạm trù về con người chứ không phải về địa chất học để nói đến mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời.
    Mọi nỗ lực nhằm “phô diễn Đức Chúa Trời bằng lời” đòi hỏi một phương cách truyền đạt không chuẩn, bởi vì chúng ta đang cố gắng mô tả bằng chính kinh nghiệm của mình một Đấng vĩ đại hơn tất cả những kinh nghiệm của mình. Chúng ta phải công nhận sự thiếu kém của các biểu tượng loài người đồng thời chúng ta vẫn tiếp tục sử dụng chúng - bởi vì chúng ta không có phương tiện khác. Cũng giống như người họa sĩ cố gắng mô tả ba chiều kích ở trên khung vải hai chiều kích của mình. Chúng ta hãy nói rằng bức tranh của người ấy có những đường xe lửa bị khuất ở chân trời. Thật vậy, đường xe lửa thì song song ngay với chân trời, nhưng trên khung vải chúng không song song. Chúng hướng vào nhau và cuối cùng nối với nhau. Khi chúng ta thấy bức vẽ nầy trong một phòng triển lãm tranh, người họa sĩ thành công trong việc nói cho chúng ta sự thật (các đường xe lửa song song với nhau) bằng cách vẽ một điều khác (các đường xe lửa của người ấy không song song). Ngôn ngữ về Đức Chúa Trời cũng rất giống như vậy. Bởi vì chúng ta cũng giống như người họa sĩ đang cố gắng đưa vào chiều kích kinh nghiệm của chính mình điều bao la hơn kinh nghiệm chính mình có thể hiểu đầy đủ.
    Thứ ba, một lời chỉ dẫn . Chúng ta hãy nhớ rằng sự hiểu biết Đức Chúa Trời của Kinh Thánh luôn lưu lại một cảm nhận về sự bí mật. Thành ngữ của người La tin, mysterium tremendum phải quen thuộc với bất cứ ai ra sức nói, viết, hoặc nghĩ về Đức Chúa Trời. Luôn có một yếu tố của sự kinh sợ, kỳ diệu, của điều gì đó gần gần với sự sợ hãi nhưng không phải hoàn toàn giống như sự sợ hãi. Những từ mô tả cái “lạnh” không lột tả được điều nó hàm ý, nhưng một câu trích từ Gió Lùa Trong Rặng Liễu làm cho ý nghĩa trở nên tuyệt vời. Có lẽ bạn còn nhớ lúc Con Chuột Xù (Rat) và con chuột chủi (Mole) đang tìm kiếm con Portly, một con rái cá con đã bị lạc mất. Chúng bị sững sờ bởi âm nhạc huyền bí của “người thổi sáo tại các cổng bình minh,” thần thú vật Pan. Chúng bèn tìm đường hướng đến nơi phát ra tiếng nhạc.
    Thình lình con Chuột Chủi chợt cảm thấy một nỗi Kinh Sợ ập lên mình, nỗi kinh sợ khiến cho các bắp thịt nó tan thành nước, đầu nó cúi xuống, và hai chân nó cắm rễ trong lòng đất. Đó là một nỗi sợ hãi kinh khiếp - Thật sự nó cảm thấy bình an và hạnh phúc một cách tuyệt vời - nhưng đó là một nỗi kinh sợ đã thu hút và cầm giữ nó, dù không thấy, nó biết đó chỉ có nghĩa là có một Sự Hiện Diện oai nghiêm nào đó hết sức gần.
    Cuối cùng con chuột Chủi đã dám ngẩng lên và thấy mình đang ở trước sự hiện diện của “Người Bạn Hữu và Cứu Giúp”, ở với người ấy được an toàn và thỏa mãn, là con rái cá con.
    “Chuột xù!” Nó lấy lại hơi thở để thì thào, run rẩy: “Anh có sợ không?”
    “Sự ư?” Con chuột Xù lẩm bẩm, cặp mắt nó sáng ngời tình yêu không thể nói ra được: “Sợ Ngài ư? Ô không bao giờ! Không bao giờ! A, tuy nhiên -vâng-chuột Chủi à, tôi sợ.” Trong kinh nghiệm “ngoại giáo” nầy, Kenneth Grahame đã lột tả cách đáng nhớ một ghi nhận đáng tin cậy của Kinh Thánh, một ghi nhận đã được bày tỏ qua các đoạn Kinh Thánh như là EsIs 6:1-8; 40:1-31; 45:1-25; Exe Ed 3:1-27 Giop G 42:1-6 và vô số những đoạn khác.
    Thứ tư, một sự chẩn đoán . Chúng ta phải đối diện với một sự kiện gây bối rối đó là, có những khái niệm khác nhau về Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, đặc biệt là trong Cựu ước. Nhiều lúc Ngài dường như là một nhà chuyên chế tàn bạo, ưa thích sự chết của những người nam và người nữ. Những lúc khác, Ngài là hiện thân của lòng thương xót và sự tha thứ. Nhiều lúc Ngài chỉ là một vị thần giữa vòng nhiều thần, Những lúc khác nữa, Ngài lại là Đức Chúa Trời duy nhất.
    Chúng ta có thể nói gì về điều nầy? Đơn giản chúng ta phải nhớ rằng Cựu ước đến từ đời sống và kinh nghiệm của hằng trăm năm lịch sử Do Thái, trong đó ý thức dân tộc trở nên sâu nhiệm hơn, và qua quá trình đó, Đức Chúa Trời bày tỏ Ngài đầy đủ hơn cho họ khi họ có thể tiếp thu và đáp ứng với Ngài. Đức Chúa Trời mặc khải chính mình cho con người ngay hơi họ sống, chứ không phải nơi nào khác. Ngài đến với tầm nhìn còn mờ đục của họ, ở giữa những nền văn hóa chưa hoàn hảo của họ, trong chỗ tội lỗi và thờ hình tượng của họ, và họ đáp ứng trước các mạng lệnh của Ngài khi họ hiểu chúng , lúc ấy và tại đó. Sự đáp ứng của họ cũng chưa trọn vẹn, bởi vì họ là con người chứ không phải là Đức Chúa Trời. Kết quả là họ truyền lại cho chúng ta những sự hiểu biết không có giá trị và không đủ tầm quan trọng. Cơ Đốc Nhân, người đã nhìn thấy quá trình mặc khải nầy đến cao điểm của nó qua Chúa Cứu Thế, có thể xem Ngài như là “chiếc thước đo” để qua đó phán xét mọi biến cố trong sự mặc khải của Kinh Thánh. Chúng ta không muốn bắt chước những điều tàn bạo mà người Ysơraên đã làm để đáp ứng trước điều họ cảm nhận là ý muốn của Đức Chúa Trời dành cho họ. Nhưng ít ra chúng ta cũng học tập từ nơi họ điều này-cũng giống như họ tìm cách vâng phục ý muốn Đức Chúa Trời khi lời Ngài đến với họ trong thời điểm của họ, chúng ta có bổn phận tương tự là phải vâng theo ý muốn của Chúa khi lời Ngài đến với chúng ta trong thời đại của mình.
    Tương tự như vậy, khi tình cờ thấy những câu có liên quan đến “các thần khác” trong các sách ban đầu của Thánh Kinh, chúng ta phải đặt niềm tin nầy trong bối cảnh của niềm tin Do Thái đã được thiết lập vững chắc về sau nầy rằng chỉ có một Đức Chúa Trời và một mà thôi, và rằng mọi người phải có lòng trọn thành đối với Ngài. “Hỡi Ysơraên! Giêhôva Đức Chúa Trời chúng ta là Giêhôva có một không hai” (Phục. 4) là lời khẳng định căn bản niềm tin trưởng thành của Cựu ước. Tất cả những niềm tin khác phải được phán xét trong ánh sáng của niềm tin ấy.
    Vì vậy trong những gì tiếp theo, chúng ta hãy nhớ sự nguy hiểm, sự khó khăn, sự chỉ dẫn, và sự chẩn đoán. Câu chuyện về “sự tiệm tiến” của các ý tưởng về Đức Chúa Trời là một câu chuyện thú vị, nhưng đó không phải là mối quan tâm của chúng ta ở đây. Chúng ta phải tìm cách để nhìn thấy Đức Chúa Trời hằng sống bước vào đời sống của những người trong Thánh Kinh, ngõ hầu chúng ta có thể được chuẩn bị để Ngài cũng bước vào đời sống mình.
    Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa
    Trong lịch sử lâu dài, xoắn theo đường trôn ốc qua đó dân tộc Do Thái đã đến chỗ nhìn biết Đức Giêhôva, chủ nghĩa độc thần (niềm tin nơi một Đức Chúa Trời ) cuối cùng đã trở thành nền tảng tuyệt đối. Và một khi dân Do Thái nhận biết rằng có một Đức Chúa Trời và chỉ một mà thôi, một hệ quả hết sức quan trọng của niềm tin nầy trở nên rõ rệt đối với họ: Đức Chúa Trời có một, Đấng tể trị tất cả mọi sự, cũng là Đấng tạo dựng mọi vật. Mối quan hệ giữa các ý tưởng nầy được minh họa cách đầy ấn tượng qua một khúc Kinh Thánh trong Êsai, được viết trong thời kỳ Lưu đày Babylôn.
    Vì Đức Giêhôva, là Đấng đã dựng nên các từng trời, tức là Đức Chúa Trời đã tạo thành đất và làm ra nó, đã lập nó cho bền vững, chẳng phải dựng nên là trống không, bèn đã làm nên để dân ở, phán như vầy:
    “Ta là Đức Giêhôva , không có Đấng nào khác .” EsIs 45:18).
    Lời ghi nhận nầy được lập đi lập lại nhiều lần trong các đoạn về sau của sách Êsai. Những đoạn nầy, cùng với Sángthếký đoạn 1 và 2 (trong hình thức hiện nay của chúng cũng xuất phát từ thời kỳ Lưu đày), là các nguồn phương tiện chính của chúng ta để hiểu biết Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, là Đấng Tạo Hóa.
    Các Câu Chuyện của Sángthếký - với Những Bổ Sung
    Một sự kiện khác về Kinh Thánh mà “đứa trẻ đi học nào cũng biết” là các đoạn đầu của Sángthếký, thuật lại sự sáng tạo thế giới. Thật ra, không phải đứa trẻ đi học nào cũng biết là có hai lời ký thuật về Sự Sáng Tạo, một ở trong SaSt 1:1; 2:4a và một ở trong SaSt 2:4b đến câu 25. Trước khi đọc tiếp, bạn hãy dành năm phút để đọc hai khúc Kinh Thánh trên, và năm phút nữa để suy nghĩ về chúng.
    Tầm quan trọng về mặt tín ngưỡng đích thực của các câu chuyện nầy là gì? Khi cố gắng trả lời câu hỏi đó, chúng ta khám phá rằng các lời ký thuật sâu nhiệm hơn ngoài bề mặt nhiều. Sau đây là một số điểm bắt đầu:
    1. Các câu chuyện nầy , trước hết là những câu chuyện về Đức Chúa Trời . Chúng phà khắp bầu không khí sự oai nghiêm, quyền phép, và sự thánh khiết của Ngài. Cụm từ “thánh khiết” trong Kinh Thánh gợi lên ý niệm về “ sự khác biệt”; tức là Đức Chúa Trời là khác hơn, lớn hơn trật tự được sáng tạo. Sử dụng một từ dài dòng hơn, Đức Chúa Trời là “Đấng siêu việt hơn”; tức là, Ngài không bị bó hẹp bên trong thế giới nầy, nhưng vượt lên trên, vượt ra ngoài, lớn hơn những gì Ngài đã tạo dựng. Sự hiểu biết nầy về Đức Chúa Trời được hàm ý xuyên suốt câu chuyện Sángthếký và được tuyên bố hết sức rõ ràng dứt khoát trong sách Êsai, là sách được viết vào cùng khoảng thời gian. Nhà tiên tri của thời Lưu đày đã tỏ rõ quan điểm của ông bằng vẻ đẹp không thể ví sánh được:
    Ai đã lấy lòng bàn tay mà lường biển , lấy gang tay mà đo các từng trời? Ai đã lấy đấu mà đong bụi đất? Ai đã dùng cân mà cân núi , và dùng thang bằng mà cân gò? ...
    Kìa , các dân tộc khác nào một giọt nước nhỏ trong thùng , và kể như là một mảy bụi rơi trên cân ; nầy , Ngài giở các cù lao lên như đồ vật nhỏ . Rừng Liban chẳng đủ đốt lửa , những thú vật ở đó chẳng đủ làm của lễ thiêu . Mọi dân tộc ở trước mặt Đức Giêhôva thảy đều như không , Ngài xem như trống không và hư vô vậy ...
    Các ngươi không biết sao? Vậy thì các ngươi không nghe sao? Người ta há chưa dạy cho các ngươi từ lúc ban đầu? Các ngươi há chẳng hiểu từ khi dựng nền đất? Ấy là Đấng ngự trên vòng trái đất nầy . Các dân cư trên đất như cào cào vậy . Chính Ngài là Đấng giương các từng trời ra như cái màn , Ngài giương ra như trại để ở . Chính Ngài là Đấng làm tiêu diệt các quan trưởng và làm cho các quan xét trên đất ra hư không .
    EsIs 40:12, 15-17, 21-23).
    Đó chính là Đức Chúa Trời của sự sáng tạo - Đức Chúa Trời của sự oai nghi, quyền năng, siêu việt, trước mặt Ngài chúng ta phải đứng trong sự kinh sợ.
    Điều nầy có nghĩa người nào biết suy nghĩ đúng Kinh Thánh, sẽ không thể nào “thờ lạy thiên nhiên,” hoặc tin rằng thiên nhiên là Đức Chúa Trời. Niềm tin ấy (được gọi là “chủ nghĩa phiếm thần,” tức là mọi sự đều là Đức Chúa Trời) là một niềm tin ngoại giáo, đã bị bác bỏ bởi sự nhấn mạnh của Kinh Thánh rằng Đức Chúa Trời dựng nên thiên nhiên, Ngài vượt trên thiên nhiên, vượt xa thiên nhiên. Một trong các Thithiên đã phân biệt rõ điều nầy:
    Thuở xưa Chúa lập nên trái đất , các từng trời là công việc của tay Chúa .
    Trời đất sẽ bị hư hoại , song Chúa hằng còn ; Trời đất sẽ cũ mòn hết như áo xống ; Chúa sẽ đổi trời đất như cái áo , và nó bị biến thay ;
    Song Chúa không hề biến cải , các năm Chúa không hề cùng .
    (Thi Tv 102:25-27).
    2. Điều thứ hai mà chúng ta học được từ các câu chuyện Sáng tạo đó là mọi sự đều lệ thuộc vào Đức Chúa Trời . Tôi không phải “chủ nhân số phận mình” hoặc là “vị chỉ huy linh hồn mình.” Mà chính là Đức Chúa Trời. Chúng ta không đặt chính mình vào đây. Mà chính là Chúa. “Chính Ngài đã dựng nên chúng tôi, chúng tôi thuộc về Ngài” (100:3). Sự sống không phải là điều chúng ta kiếm được hoặc xứng đáng được, mà là điều đã được ban cho chúng ta. Đó là một món quà. Chúng ta không cầu xin để có nó, hoặc kiếm được nó. Chúng ta chỉ nhận lãnh sự sống. Cô gái mà bạn đang yêu, bậc cha mẹ đang chăm sóc bạn - đều là những sự ban cho của Đức Chúa Trời Đấng Tạo Hóa. Mọi sự đều có ý nghĩa và tầm quan trọng bắt nguồn từ Đức Chúa Trời. Ngài không những là Đấng tạo dựng vũ trụ mà còn là Đấng nâng đỡ vũ trụ.
    Hãy ngừng lại một chút để suy gẫm từ mới được nói. Tin nơi sự sáng tạo theo ý nghĩa của Kinh Thánh là phải tin rằng vào mọi thời điểm , trật tự sáng tạo phải lệ thuộc vào Đức Chúa Trời để được duy trì. Không có Ngài, trật tự nầy sẽ ngưng tồn tại. Sẽ là không đủ khi chỉ nghĩ về Đức Chúa Trời là Đấng tạo dựng thế gian “ngày xưa” rồi ngồi xuống bảo rằng: “Còn bây giờ! ta hãy để cho thế giới nầy tự vận chuyển.” Kinh Thánh nhấn mạnh rằng công trình sáng tạo là hoạt động không ngừng nghỉ của Đức Chúa Trời “Cha Ta đã làm việc cho đến bây giờ, Ta đây cũng làm việc như vậy” (GiGa 5:17) là cách Chúa Jêsus kết luận.
    3. Các câu chuyện Sáng tạo nhấn mạnh hết sức rõ ràng rằng công trình sáng tạo là tốt lành , bởi vì đó là công việc tay Đức Chúa Trời làm. Chủ đề nầy được nhấn mạnh đặc biệt trong câu chuyện đầu tiên của Sángthếký. Có bốn lần lời nhận định tương tự về công trình sáng tạo được sử dụng: “Và Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt lành.” (Đối chiếu với SaSt 12:1-20; 21:1-34; 24:1-67) Đức Chúa Trời cũng thấy rằng “sự sáng là tốt lành” (câu 4) và trong phần kết luận chúng ta tìm thấy một tuyên bố tổng kết: “Đức Chúa Trời thấy các việc Ngài đã làm thật rất tốt lành” (câu 31). (Phản ứng tự nhiên: “Vậy còn về tất cả các điều ác trên thế giới nầy thì sao?” Chúng ta sẽ bàn đến trong Chương 11 và 12.)
    Như vậy thế giới của Đức Chúa Trời là tốt lành. Điều nầy có nghĩa chúng ta phải có một thái độ tích cực đối với thế giới nầy. Chúng ta không phải “từ chối” thế giới nầy, hay đưa hai tay lên trời trong sự tuyệt vọng trước ý tưởng làm được điều gì có ý nghĩa cho nó. Không ai hiểu tính tốt lành của sự sáng tạo cách nghiêm túc lại có thể nói rằng: “Thế giới nầy gian ác đến nỗi tôi phải trốn khỏi nó,” hoặc “con người quá xấu xa đến nỗi tôi ghét hết thảy họ,” hoặc: “Chẳng còn ý nghĩa gì để sống nữa.” Niềm tin của Kinh Thánh là một trong những “sự khẳng định thế giới” chứ không phải “chối bỏ thế giới,” chính xác bởi niềm tin ấy đặt nơi sự tốt lành của sự sáng tạo. (Chúng ta sẽ hiểu điều nầy rõ hơn trong các chương về sau nói về các nguyên tắc đạo đức của Kinh Thánh.)
    4. Cuối cùng, các câu chuyện Sáng tạo nhắc nhở chúng ta rằng bởi vì Đức Chúa Trời đã dựng nên thế giới, nên nó có các ý nghĩa và mục đích nằm ở phía sau. Thế giới mà chúng ta đang sống trong đó không “tình cờ” mà có. Cũng không phải đơn giản là sản phẩm của cơ hội hay số phận, mà vũ trụ nầy là kết quả của hoạt động có mục đích của Đức Chúa Trời. Chúng ta không phải “bị mắc kẹt” trong một vũ trụ không thân thiện và thù địch. Mà thay vào đó, Đức Chúa Trời có một chương trình và một phương hướng cho nó. Vì vậy, công tác chính của chúng ta là phải tìm cách khám phá kế hoạch đó và làm cho đời sống mình hài hòa với kế hoạch ấy, hầu cho chúng ta được cùng làm việc với Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, thay vì chống nghịch Ngài. Chúng ta phải giúp mang lại, thay vì cản trở những công việc mà Đức Chúa Trời đã dự định khi Ngài tạo dựng thế gian.
    “Nhưng Còn Về Sáng thếký Và Bảng Gia Phả?
    Hẳn bạn sẽ dễ chịu khi bỏ mặc vấn đề nầy ở đó. Đây có thể là một chương ngắn. Chúng ta có thể cảm thấy rằng mọi sự đã kết quả khá tốt đẹp. Nhưng không may, chúng ta không thể bỏ mặc vấn đề nầy ở đây. Bởi vì các phần mở đầu nầy của Sángthếký là đề tài của nhiều sự tranh cãi đến nỗi chúng ta không thể làm ngơ sự kiện nầy.
    Sự khó khăn nổi lên cách đây khoảng 100 năm khi các nhà khoa học bắt đầu tỏ rõ rằng thế giới đã có đến hàng triệu, hoặc có thể hàng tỉ năm để tiến hóa thành hình thái hiện nay của nó. Những tín hữu trung thành với Kinh Thánh nói rằng điều nầy là phạm thượng. Há không phải Kinh Thánh đã dạy rằng Đức Chúa Trời dựng nên thế giới trong “sáu ngày” hay sao? Không ai sẽ bảo họ rằng:
    Sáu ngày = 1 000000000 năm (hoặc tương tự).
    Ai đúng - những nhà “sùng đạo” hay các nhà khoa học? Đặt câu hỏi theo cách nầy (như chúng ta vẫn thường làm) là đi trệch mục tiêu. Tốt hơn trước hết chúng ta hãy hỏi xem các câu chuyện Sáng tạo nầy muốn nói gì và không muốn nói gì. Như chúng ta thấy, đó là những câu chuyện ngợi khen Đức Chúa Trời, một Đức Chúa Trời vĩ đại đến nỗi đã tạo dựng vũ trụ. Chúng giải quyết thắc mắc của niềm tin: “Vì sao?” Vì sao có thế giới? Bởi vì Đức Chúa Trời trong sự vĩ đại và yêu thương của Ngài đã cho thế giới có mặt. Bây giờ, để làm cho điều nầy trở thành một vấn đề niềm tin có ý nghĩa sâu sắc, các tác giả nói đôi điều về việc Đức Chúa Trời đã thực hiện toàn bộ điều đó “như thế nào,” và chính ở đây, chỉ ở đây thôi, khoa học đã dấy lên một số thắc mắc. Bởi vì khoa học khảo sát những câu trả lời dành cho câu hỏi: “Bằng cách nào?” Các tác giả của những câu chuyện Sáng tạo đặt các câu chuyện của họ một cách tự nhiên hoàn toàn trên những thông tin chính xác có sẵn cho họ vào khoảng năm 500 T.C. Sự kiện hiểu biết khoa học của chúng ta đã thay đổi một cách đáng kể kể từ đó không làm hỏng hoặc chứng minh những sự hiểu biết về mặt tôn giáo của các tác giả là sai. Hiện nay không có “xung đột” thực sự trong việc tin vào tính chính xác mang tính khoa học của thuyết tiến hóa hiện đại đồng thời tin vào tính chính xác mang tính tôn giáo của các câu chuyện trong Sángthếký.
    Hai Lối Nghĩ
    Chúng ta phải hiểu rõ ràng rằng khi bàn đến những vấn đề tôn giáo và những vấn đề khoa học, là chúng ta đang bàn đến hai cách mô tả sự thật khác nhau, và hai điều nầy không được lẫn lộn. Sángthếký không phải là lời ký thuật mang tính khoa học về sự Sáng tạo, vì vậy mà không được giải thích theo cách ấy. Sángthếký bàn đến vấn đề “Tại sao?” và câu trả lời của nó là “Đức Chúa Trời.” Khoa học hiện đại xem xét thế giới và hỏi: “Bằng cách nào?” Và câu trả lời của nó là thế giới tiến hóa từ từ - một câu trả lời mà không hề nhằm phá hoại niềm tin đặt nơi Đức Chúa Trời.
    Sau đây là bốn tuyên bố:
    2 + 2 = 4
    Tôi yêu bạn
    Babe Ruth đã ghi được 619 điểm trong sự nghiệp liên đoàn chính của anh
    Tôi cũng yêu bạn.
    Rõ ràng câu 1 và câu 3 thuộc về một trật tự khác so với câu 2 và câu 4. Câu 1 và câu 3 có thể chứng minh bằng thực tiễn: “bạn có thể kiểm tra chúng.” Câu 2 và câu 4 không thể “được chứng minh một cách tương tự; nhưng đối với cuộc sống ý nghĩa, thì chúng có thể “đúng sự thật hơn” nhiều so với bất cứ con số nào của cái gọi là những tuyên bố “căn cứ trên sự thật.”
    Hãy xem xét vấn đề nầy theo một cách khác, bởi vì nó quan trọng. Trong vở kịch As You Like It của Shakespeare, chúng ta được biết có “... những cái lưỡi trong cây, những cuốn sách trong các dòng suối nhỏ đang chảy, những bài giảng trong các tảng đá.” Diễn giả muốn nói rằng có những bài học phải được học từ rừng cây. Các phép ẩn dụ giúp nhấn mạnh lẽ thật trong tuyên bố của người ấy. Nhưng lời tuyên bố thì rõ ràng là không “đúng” như một tập hợp các sự kiện theo đúng nguyên văn. Hãy để một người đọc sửa văn có đầu óc thực tiễn cầm lấy vở kịch của Shakespeare, và anh ta lập tức sẽ sắp xếp lại vở kịch của Shakespeare! Anh ta sẽ đổi lại như vầy:
    Các cành trong cây, những hòn đá trong dòng suối đang chảy, các bài giảng nằm trong những quyển sách.
    Chúng ta sẽ sửa như vầy: “Các cành trong cây, những hòn đá nằm trong dòng suối đang chảy, các bài giảng ở trong những quyển sách.” Như vậy mới đúng sự thật, song lại hoàn toàn chẳng quan trọng. Câu nói của Shakespeare là một sự mô tả có giá trị về các cánh rừng, trong khi câu nói của người đọc sửa văn thì vô vị mặc dầu chính xác về mặt khoa học.
    Bây giờ hãy trở về với các câu chuyện Sáng tạo. Ý nghĩa của các câu chuyện Sáng tạo không được làm sáng tỏ bởi một cuộc tranh cãi ầm ĩ về số giờ trong mỗi “ngày” (và chúng ta phải nhớ rằng Kinh Thánh nói “một ngày trước mặt Chúa như một ngàn năm,” vì vậy thật sự không có xung đột từ quan điểm đó). Điều quan trọng đó là Đức Chúa Trời đã tạo dựng . (Hãy đọc lớn câu in nghiêng nầy hai lần nhấn mạnh từng từ.) Cho dầu công cuộc sáng tạo có được thực hiện trong 24 giờ hay 24 ngàn năm hay 24 ti năm, đó hoàn toàn là vấn đề bên lề. Nói cách khác, chúng ta chấp nhận những gì khoa học phải cho chúng ta biết bên trong lãnh vực điều tra hợp pháp của nó (là lãnh vực đang trả lời cho câu hỏi “Bằng cách nào?”) Và không bị bối rối khi chúng ta quay sang lãnh vực điều tra mang tính tôn giáo (là lãnh vực liên quan đến câu hỏi “Tại sao?”). Tranh cãi duy nhất của chúng ta với những người tuyên bố rằng khoa học có tất cả những câu trả lời là khoa học có thể trả lời cho câu hỏi “Tại sao?” cũng như cho câu hỏi “Bằng cách nào?” không? Nhà khoa học hoàn toàn có quyền cho chúng ta biết thế giới nầy bao nhiêu tuổi, và nó đã hình thành như thế nào, bằng cách phân tích các cấu trúc của đá, các vòng của cây và v.v.. Nhưng nếu người ấy cố gắng cho chúng ta biết vì sao thế giới tồn tại, thì người ấy lập tức rơi vào một lãnh vực vượt quá bằng chứng giới hạn mang tính khoa học.
    Như vậy các câu chuyện của Sángthếký, là sản phẩm của sự tận hiến mang tính tôn giáo để suy gẫm về ý nghĩa của công trình Sáng tạo, và chỉ rõ lẽ thật về mặt tín ngưỡng không thể trốn tránh được và sự xác đáng của nó cho chúng ta.
    Chương 5: Hai Mặt Của Một Đồng Tiền-Và Một Lời Tóm Tắt
    (Những từ “Đấng Phán xét ,” Đấng Cứu Chuộc ” và “Ba ngôi ” có nghĩa gì? )
    Sách phải có các chương. Nhưng đừng để cho chương mới nầy lừa phỉnh bạn. Chúng tôi chỉ tiếp tục ngay chỗ mà chúng tôi đã bỏ dở ở trang cuối chương trước. Chúng ta vẫn đang nói về cùng một Đức Chúa Trời. Trong chương nầy chúng ta sẽ xem xét lời khẳng định rằng Ngài là Đấng Phán Xét và Ngài là Đấng Cứu Chuộc. (Còn một phần cuối của chương nầy nữa, nhưng bạn sẽ phải đợi để xem phần đó nói gì.)
    Đức Chúa Trời là Đấng Phán Xét Công Bình
    Kinh Thánh cho chúng ta biết Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa cũng là Đức Chúa Trời công bình, Ngài đòi hỏi con cái Ngài phải sống công bình, và Ngài buộc họ phải chịu trách nhiệm khi làm điều sai trái. Nói cách khác Ngài là một vị quan tòa. Chúng ta có thể tìm thấy một loại nhịp điệu gồm ba nhịp mạnh trong sự công nhận của Kinh Thánh về sự kiện nầy - nhịp điệu lập đi lập lại của mạng lịnh , tai họa , sự làm mới lại .
    1. Đức Chúa Trời truyền các mạng lệnh . Ngài đòi hỏi con cái Ngài phải sống đúng theo những mạng lệnh đó. Ví dụ bạn được yêu cầu phải thi hành sự công chính, thay vì sự bất công. Bạn được yêu cầu phải yêu Chúa hơn những thần tượng hoặc các tà thần. Bạn được yêu cầu phải yêu người lân cận như chính mình, mà không được làm tổn hại người ấy. Và vân vân. Không có cách nào để thoái thác những mạng lệnh ấy. Không một ai, thậm chí cả bạn có thể luồn lách bên dưới mạng lệnh ấy hoặc né tránh chúng.
    2. `Khi các mạng lịnh nầy không được để ý, tai họa sẽ theo sau.
    Tai họa nầy được giải thích như là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời trên tội lỗi loài người. Sách Amốt là một nơi thích đáng để thấy nguyên tắc nầy hành động. Amốt xem xét các dân tộc xung quanh Ysơraên từng dân một, Đamách, Gaza, Tyrơ, Êđôm, Ammôn, Môáp, và Giuđa - rồi nói rằng mỗi dân tộc sẽ phải bị trừng phạt vì đã bất chấp ý muốn của Đức Chúa Trời. Và sau đó là sự báo trả, sự báo trả để kết thúc mọi sự báo trả. Bởi vì chính điều tương tự cũng sẽ xảy đến cho bản thân “dân sự của Đức Chúa Trời. - Họ cũng sẽ bị đoán phạt bởi Đức Chúa Trời vì việc làm sai trái của họ. Không có sự trốn thoát cho họ, chỉ vì họ là “dân được chọn.” Thật ra, chính vì cớ họ là tuyển dân, mà sự hình phạt họ sẽ nghiêm khắc hơn - họ hẳn sẽ biết rõ hơn. Mọi người đều phải bị đoán xét. Không có ngoại lệ.
    3. Điều cần thiết để làm thay đổi tình huống là con người phải ăn năn . Hoàn cảnh không phải đen tối hoàn toàn. Các tiên tri không chỉ nói đến sự hủy diệt, nhưng họ nói đến sự hủy diệt để “thức tỉnh con người.” Hầu cho họ sẽ thay đổi trước khi quá muộn. Như Amốt đã viết:
    Hãy tìm điều lành và đừng tìm điều dữ , hầu cho các ngươi được sống ;
    Thì Giêhôva Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ở cùng ngươi , như các ngươi nói vậy .
    Hãy ghét điều dữ và ưa điều lành ; hãy lập sự công bình nơi cửa thành ;
    Có lẽ Giêhôva Đức Chúa Trời vạn quân sẽ ra ơn cho những kẻ còn sót lại của Giôsép .
    (AmAm 5:14, 15)
    Vậy khi nói Đức Chúa Trời là quan tòa là nhấn mạnh rằng lịch sử mang ý nghĩa đạo đức, rằng khi con người làm sai, họ không “thoát khỏi hình phạt” vô thời hạn. Sẽ có lúc họ phải lãnh trách nhiệm. Đời sống con người nằm trong bàn tay và trong vận mệnh của Đức Chúa Trời công bình, nếu con người bất chấp Ngài, họ phải đau khổ và những hậu quả kéo theo. Họ sẽ bị Ngài đoán phạt và phát hiện trong tình trạng kém thiếu. Cách duy nhất để thoát khỏi án phạt là con người phải thay đổi quyết liệt.
    Còn tiếp...
    Đây là một bức tranh khắt nghiệt. Nó khiến chúng ta phải đối diện với một nan đề thực tiễn: Làm thế nào sự đoán phạt nầy có thể song hành với nhiều lời khẳng định của Kinh Thánh về tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời?
    Cần phải nhớ rằng khi chúng ta nói Đức Chúa Trời là một quan án, thì lời mô tả ấy vẫn phải “được tiếp tục” như phần kế tiếp của chương nầy sẽ cho thấy. Nhưng trước khi đi sang một lời khẳng định khác về Đức Chúa Trời, cần nhớ rằng chúng ta không thể loại bỏ sự nhấn mạnh của Kinh Thánh: Đức Chúa Trời là quan án. Sự nguy hiểm ở đây là chúng ta tình cảm hóa tình yêu của Chúa cách phiến diện, tới mức độ sự công chính và sự đoán phạt không còn hiện diện nữa. Nhưng bản thân tình yêu phải gồm cả yếu tố đoán phạt nghiêm nghị. Tình yêu mà chìu theo tình cảm thì có thể không phải là tình yêu thật. Các bậc cha mẹ bảo rằng: “Tôi không thể hiểu vì sao Johnny lại hư hỏng. Chúng tôi luôn cho nó mọi thứ nó muốn,” có lẽ không yêu thương bằng những bậc cha mẹ đôi khi phải nói “Không” với nó và giúp nó nhận ra rằng nó đang sống trong một thế giới không thể muốn gì được nấy.
    Tội lỗi và điều ác của con người là sự vi phạm đến Đức Chúa Trời. Chúng làm thoái hóa thế giới của Ngài và chúng tượng trưng cho thái độ từ chối quyền tể trị của Ngài. Ngài không thể nào cứ “nhắm mắt làm ngơ” trước tội lỗi hoặc từ chối xem trọng nó. Điều sai trái phải bị hình phạt. Nếu không thì không có ý nghĩa đạo đức đối với thế giới và tất cả những gì chúng ta có thể nói là “cái gì cũng được.” Như vậy chúng ta đang ở trong quan điểm khác thường để nhận ra rằng sự đoán phạt có thể là “mặt tiêu cực của tình yêu,” là tình yêu khi phải bày tỏ chính nó đối với điều sai trái. Tình yêu không được để cho điều ác “thoát khỏi hình phạt.” Bởi vì sự công chính và tình yêu thương là hai mặt của một đồng tiền.
    Điều nầy nghĩa là sự đoán phạt của Đức Chúa Trời có một mục đích phía sau nó, đó là sự cứu chuộc. Ngài không hình phạt chỉ vì “ích kỷ” mà là để cố gắng thay đổi kẻ ác. Nếu họ không chịu đáp ứng với sự thuyết phục, thì có lẽ họ sẽ chịu đáp ứng với kỷ luật nghiêm khắc. Đoán phạt là một loại “đối xử mạnh tay” mà Đức Chúa Trời dùng để đem các dân tộc và những con người mắc lỗi đến chỗ giác ngộ. Các trước giả Kinh Thánh cũng đã hiểu được rằng đoán phạt là một cách để làm cho tình yêu của Đức Chúa Trời đến được với họ. Tác giả Thithiên tỏ rõ rằng: “Khi Đức Chúa Trời chổi dậy đoán xét, để giải cứu các người hiền từ “bị hà hiếp” trên đất” (Thi Tv 76:9). Tại đây chúng ta có được một lời tóm tắt: “Đoán xét để giải cứu.” Đoán phạt vì mục đích cứu rỗi là một phần không thể thiếu được trong quan điểm của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời là Đấng Phán xét. Với điều đó trong tâm trí. Chúng ta có thể xoay qua “mặt bên kia của đồng tiền.”
    Đức Chúa Trời là Đấng Cứu Chuộc
    Phải thừa nhận rằng từ “Đấng Cứu Chuộc” nghe có vẻ lỗi thời. Nhưng nó là một từ quan trọng của Kinh Thánh, và chúng ta không thể tiếp tục nếu không có từ nầy. “Mua chuộc,” trong cách dùng thông thường, là mua lại vật gì mà chúng ta đã từng sở hữu. Như vậy chúng ta nói đến việc chuộc lại một vật cầm cố (từ người chủ cầm đồ) hoặc chuộc lại một lời hứa (là điều chúng ta đã thất hứa nhưng chúng ta vẫn muốn làm tốt).
    Trong ý nghĩa nầy, Đức Chúa Trời tìm cách để “chuộc lại” con người, đó là mua họ trở lại, hoặc, đúng hơn trong trường hợp của Ngài, là chinh phục họ trở lại, và thậm chí dỗ họ trở lại, để làm bạn với Ngài. Tình huống nầy là mặc dầu con người, vốn thuộc về Đức Chúa Trời đã bỏ Ngài và bị lạc mất - song thậm chí dù đó là lỗi của họ, Ngài vẫn tìm kiếm họ về và tái khẳng định họ là của Ngài. Từ “cứu chuộc” vì vậy là một từ đầy hy vọng, nói lên rằng Đức Chúa Trời không bỏ chúng ta, thậm chí khi chúng ta từ bỏ Ngài, Ngài vẫn không ngừng tìm kiếm chúng ta.
    Sự bày tỏ rõ ràng nhất của Kinh Thánh về hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời là toàn bộ câu chuyện về sự hiện đến của Chúa Cứu Thế vào trong thế gian, như là tình yêu cứu chuộc, ra đi của Đức chúa Trời được thể hiện một cách cụ thể và đích thân. Bởi vì Chương 7 đến Chương 10 sẽ triển khai đề tài nầy, nên bây giờ chúng ta sẽ tìm hiểu những bày tỏ khác của Kinh Thánh trong hành động cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
    Không phải trừu tượng về điều nầy. Chúng ta có thể xem xét một nhân vật cụ thể, là tiên tri Ôsê. Tiên tri Ôsê biết rằng Đức Chúa Trời là Đức Chúa Trời của sự công chính và Ngài hành phạt việc làm sai trái. Nhưng ông cũng biết rằng chừng đó chưa kết thúc câu chuyện. Sự nhận biết tình yêu cứu chuộc của Đức Chúa Trời đến với ông qua một kinh nghiệm cá nhân đau buồn. Ôsê đã khám phá vợ mình là Gôme không chung thủy với ông. Nàng là một kẻ ngoại tình. Mối quan hệ giữa Ôsê và Gôme vì vậy đã bị phá hỏng. Sau đó Ôsê nhận ra điều tương tự với mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời và Ysơraên, Ysơraên cũng đã tỏ ra bội tín. Nó cũng giống như một kẻ ngoại tình phó mình cho các thần tượng khác. Cũng giống như Gôme đã bội ước lòng chung thủy với Ôsê, Ysơraên cũng đã bội lời hứa trung thành với Đức Chúa Trời.
    Vì vậy Ôsê đã đuổi Gôme khỏi nhà mình. Nhưng rồi ông khám phá một điều thật kinh ngạc. Ông khám phá rằng dầu Gôme không chung thủy với ông - ông vẫn yêu nàng! Mặc dầu nàng không “xứng đáng” với tình yêu của ông, tình yêu ấy vẫn có ở đó. Ông có thể nào dám tin rằng Đức Chúa Trời cũng có tình yêu đó - rằng mặc dầu Ysơraên đã bội tín với Ngài, Ngài vẫn yêu họ không? Ôsê dám tin điều đó. Việc ông đưa Gôme trở về nhà mình đã lột tả sống động điều ông cảm biết điều chắc chắn Đức Chúa Trời sẽ làm cho dân sự Ngài. Thoạt đầu họ bị đuổi khỏi “nhà của Đức Chúa Trời” và bị lưu đày. Nhưng sẽ có một cuộc trở về! Tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho dân sự Ngài lớn đến nỗi Ngài không thể và không muốn từ bỏ họ. Ngay cả khi họ dối giả, Ngài vẫn vây phủ họ bằng “những sợi dây nhơn từ.”
    Ta sẽ cưới ngươi cho Ta đời đời ; Ta sẽ cưới ngươi cho Ta trong sự công bình và chánh trực , nhơn từ và thương xót . Phải , Ta sẽ cưới ngươi cho ta trong sự thành tín , và ngươi sẽ biết Đức Giêhôva . (OsHs 2:19-20).
    Như vậy, Đức Chúa Trời cứu chuộc là Đức Chúa Trời hay tìm kiếm và sẵn sàng khôi phục lại mối thông công vì cớ tình yêu sâu xa của Ngài .
    Có ba ví dụ của Chúa Jêsus, mỗi ví dụ đều nhấn mạnh một phần của lời tuyên bố được in nghiêng:
    Một : Trong ví dụ về con Chiên Lạc Mất (LuLc 15:3-7) chúng ta được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời là Đấng hay tìm kiếm. Người chăn không ngồi ở bãi nhốt chiên đợi những con đi lạc trở về. Người ấy phảira đi giữa đêm khuya tìm những con chiên nào đã lạc mất.
    Hai: Trong ví dụ Về Đứa Con Trai Hoang đàng(15:11-24) chúng ta được nhắc nhở Đức Chúa Trời là Đấng hay tha thứ. Khi đứa con trai cuối cùng đã tỉnh ngộ và quay trở về, đón chờ điều tệ hại nhất, thì cậu thấy cha mình đang ngóng đợi, sẵn sàng tha thứ cho cậu.
    Ba: Trong ví dụ về Những Người Làm Công Trong Vườn Nho (Mat Mt 20:1-16) chúng ta được nhắc nhở rằng tình yêu cứu chuộc của Đức Chúa Trời là món quà tặng, chứ không phải là điều có thể kiếm được. Một số người làm việc từ rạng sáng cho đến chập tối để lãnh một đơniê. Nhưng vào những giờ khác nhau trong ngày, những người khác đã được thuê vào làm, một số lúc chín giờ, một số vào lúc trưa, số khác lúc ba giờ, và một số ngay trước giờ nghỉ. Nhưng người chủ đã trả cho mỗi người số tiền bằng nhau - thậm chí những người chỉ làm việc vài phút! Ví dụ nầy không phải là một bài học về mối quan hệ lao động nhưng là sự mô tả về Vương quốc của Đức Chúa Trời và về sự kiện tình yêu của Đức Chúa Trời đối với mỗi người không được bày tỏ theo những gì họ xứng đáng, mà là một sự ban cho nhưng không. Chúa yêu bởi vì bản tánh của Ngài là yêu thương, chứ không vì con người đáng được yêu.
    Những Âm Thanh Vang Vọng Trong Bản Thánh Ca
    Đó chính là Đức Chúa Trời con người được bước vào mối quan hệ cá nhân với Ngài qua sự thờ phượng. Điều nầy thật quan trọng. Nếu bạn muốn biết điều con người thật sự tin về Đức Chúa Trời, đừng chỉ nhìn vào lịch sử của họ, hoặc những lãnh tụ vĩ đại của họ. Hãy nhìn vào đời sống tận hiến của họ - những giây phút họ dâng lòng mình trong sự ca tụng, hạ mình trong sự ăn năn, vui mừng với sự cảm tạ, hoặc nài xin với nhu cầu thành tâm. Chúng ta tìm thấy những giây phút nầy được ghi chép lại trong sách thánh ca Do Thái, là Thánh vịnh, trong đó chúng ta thấy lối quan hệ với Đức Chúa Trời cứu chuộc thật thực hữu đối với con người. Sau đây là một vài đoạn trích nhằm khuấy động bạn tự mình tìm hiểu Thánh vịnh nầy:
    Hỡi Đức Giêhôva , xin hãy nhớ lại sự thương xót và sự nhơn từ của Ngài .
    Vì hai điều ấy hằng có từ xưa .
    Xin chớ nhớ các tội lỗi của buổi đang thì tôi , hoặc các sự vi phạm tôi ;
    Hỡi Đức Giêhôva , xin hãy nhớ đến tôi tùy theo sự thương xót và lòng nhơn từ của Ngài .
    (Thi Tv 5:6-7).
    Đức Giêhôva có lòng thương xót , hay làm ơn ,
    Chậm nóng giận , và đầy sự nhơn từ .
    Ngài không bắt tội luôn luôn , cũng chẳng giữ lòng giận đến đời đời .
    Ngài không đãi chúng tôi theo tội lỗi chúng tôi ,
    Cũng không báo trả chúng tôi tùy sự gian ác của chúng tôi .
    Đức Giêhôva thương xót kẻ kính sợ Ngài ,
    Khác nào cha thương xót con cái mình vậy .
    (103:8, 10-13).
    Đức Chúa Trời ôi ! Xin hãy thương xót tôi tùy lòng nhơn từ của Chúa ;
    Xin hãy xóa các sự vi phạm tôi theo sự từ bi rất lớn của Chúa .
    Đức Chúa Trời ôi ! Xin hãy dựng nên trong tôi một lòng trong sạch , và làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng .
    Xin chớ từ bỏ tôi khỏi trước mặt Chúa ,
    Cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh Chúa .
    Xin hãy ban lại cho tôi sự vui vẻ về sự cứu rỗi của Chúa ,
    Dùng thần linh sẵn lòng mà nâng đỡ tôi .
    (51:1, 10-12).
    Ảnh Hưởng Mạnh Mẽ Của Đức Chúa Trời Trên Những Người Thời Tân Ước
    Bây giờ chúng ta hãy bỏ qua nhiều thế kỷ cho đến khoảng năm 55 hoặc 60 S.C. Chúng ta thấy Phaolô kết thúc lá thư gởi cho người Côrinhtô bằng những lời như sau: “Nguyền xin ơn của Đức Chúa Jêsus Christ, sự yêu thương của Đức Chúa Trời, và sự giao thông của Đức Thánh Linh ở với anh em hết thảy” (IICo 2Cr 13:13).
    Đây thật là một lời chào lạ lùng! Có phải Phaolô đang muốn ám chỉ đến một Đức Chúa Trời hay ba Đức Chúa Trời? Có phải Đức Chúa Trời, Đấng Christ, Đức Thánh Linh, đều như nhau, hay là khác nhau?
    Chúng ta đang tiến đến một lý lẽ khó hiểu ở đây , mang tên giáo lý Ba Ngôi . Không có một “giáo lý Ba Ngôi ” chính thức như vậy trong Tân ước . Nhưng chính từ kinh nghiệm của các Cơ Đốc Nhân thời Tân ước mà giáo lý Ba Ngôi đã được hình thành . Hãy để sự kiện nầy được nhấn mạnh : Giáo lý Ba Ngôi không phải là nỗ lực của các nhà thần học nhằm làm sự việc trở nên khó khăn cho các Cơ Đốc Nhân trung bình bằng cách giới thiệu một môn toán siêu phàm bảo rằng ba bằng một. Giáo lý Ba Ngôi là một nỗ lực nhằm mô tả, càng hệ thống càng tốt, nội dung của kinh nghiệm Cơ Đốc Nhân về Đức Chúa Trời.
    ... ĐỨC CHÚA CHA.
    Hãy lấy một trong những Cơ Đốc Nhân đầu tiên như Phierơ chẳng hạn. Ông đã lớn lên trong một gia đình Do Thái. Ông biết Đức Chúa Trời của tổ phụ mình, Đức Chúa Trời và Đức Giêhôva của lịch sử mà người dân Do Thái của ông đã đứng trước mặt Ngài trong mối quan hệ đặc biệt. Qua sự thờ phượng ở nhà hội, qua việc nghiên cứu luật pháp, và qua những kinh nghiệm của chính đời sống mình, Đức Chúa Trời nầy đã là một thực hữu đối với Phierơ, Đấng mà với Ngài ông đã có mối quan hệ cá nhân. Ông cùng với vô số những người Do Thái khác biết rằng Đức Chúa Trời thương xót những kẻ kính sợ Ngài “như cha thương xót con cái mình” (Thi Tv 103:13). Thậm chí Phierơ còn có thể gọi Đức Chúa Trời này là “Cha.”
    ... ĐỨC CHÚA CON.
    Nhưng rồi một ngày kia Phierơ gặp một con người hơn cả một con người . Người nầy đã đối mặt với Phierơ khi ông đang vá lưới , hoặc đánh cá suốt đêm mà không may mắn . Phierơ đã biến mình trở thành môn đồ của con người Jêsus nầy và sống trong mối quan hệ gần gũi với Ngài . Ông phát hiện rằng từ ngữ của con người không giải thích được Ngài . Vì vậy khi Chúa Jêsus hỏi Phierơ : “Còn ngươi nói ta là ai? ” Phierơ trả lời : “Ngài là Đấng Christ , Con Đức Chúa Trời hằng sống ” (Mat Mt 16:16). Khi Chúa Jêsus đối mặt với Phierơ , Phierơ không thể trốn tránh kết luận : Đức Chúa Trời đang đối mặt ông . Người nầy chính là Đức Chúa Trời -tuy nhiên Ngài vẫn là người .
    ... VÀ ĐỨC THÁNH LINH.
    Nhưng giờ đến, khi Chúa Jêsus không còn hiện diện với các môn đồ trong thân xác nữa. Bất chấp sự kiện đó, họ không cảm thấy Đức Chúa Trời lìa bỏ họ, bởi vì Ngài đã ban “Đức Thánh Linh” xuống. Đây không phải là Đức Chúa Trời khác, mà Ngài chính là Đức Chúa Trời, Ngài tỏ mình cho họ như một sự hiện diện liên tục và là nguồn năng quyền của họ. Phierơ đã biết Đức Chúa Trời là Cha, ông biết Đức Chúa Trời là Đức Chúa Con, bây giờ ông biết Đức Chúa Trời là Đức Thánh Linh, và đời sống ông đến chỗ đầu phục không ngừng trước quyền năng ấy, không phải quyền năng của chính ông, mà là Đức Chúa Trời đang hành động qua ông. Không phải một Đức Chúa Trời được nói đến trong quá khứ - Ngài đang hành động ngay lúc nầy trong hiện tại, với lời hứa rằng Ngài cũng sẽ tiếp tục hành động như vậy trong tương lai.
    Vì vậy các tác giả Tân ước nói về Đức Chúa Trời qua ba cách ấy. Họ không dựng lên một về vấn đề rắc rối về trí tuệ, họ chỉ mô tả cách Đức Chúa Trời hằng sống hành động trên đời sống họ.
    Về “Đức Thánh Linh” Nầy
    Trong thời của mình, chúng ta thường gặp phải khó khăn lớn nhất khi cố gắng nói về Đức Thánh Linh một cách có ý nghĩa. Nếu Đức Chúa Cha hơn “sự lờ mờ về một Đấng nào đó có lòng nhân đức” một chút, thì Đức Thánh Linh chỉ là một sự lờ mờ. Chúng ta không đơn độc trong sự khó khăn nầy. Điều tương tự đã gây phiền toái cho một số Cơ Đốc Nhân đầu tiên.
    KHUNG CẢNH: Êphêsô. Nhà của một số các môn đồ. Phaolô bước vào.
    PHAOLÔ (lo lắng để làm quen được nhiều hơn): Từ khi tin Chúa , các anh đã nhận được Đức Thánh linh chưa? CÁC MÔN ĐỒ (thắc mắc không biết Phaolô đang nói đến cái gì): Không , chúng tôi chưa hề nghe có Đức Thánh Linh nào . (Cong Cv 19:2).
    Và đối với chúng ta tình huống thậm chí lại còn bối rối hơn nữa bởi giáo hội thường xuyên sử dụng từ cũ kỹ (linh): Dành cho chữ “Thánh Linh” đọc là “Thần linh” trong hầu hết các sách thánh ca, cầu nguyện và các bài giảng. Chúng ta nghĩ đến “các linh” như là lời cầu kinh xưa cổ của người Tô Cách Lan.
    Lạy Chúa nhân từ, xin giải cứu chúng tôi
    Khỏi những tà ma và yêu linh cùng những con thú chân dài,
    Và những thứ VA ĐỤNG trong bóng tối.
    “Đã không tin nơi các linh thuộc loại đó nữa , làm sao chúng ta lại phải tin nơi một Thánh Linh? ” Là một câu trả lời không có gì bất thường . Trên thực tế , từ Ăng lô Xắc xông cổ mà do nó có xuất hiện từ nầy , gast, nguồn gốc có nghĩa là “hơi thở ,” hoặc “linh ,” hoặc “hồn ,” là từ (như chúng ta sẽ thấy ) không xa với ý nghĩa gốc của Kinh Thánh . Làm thế nào chúng ta khắc phục được những nhầm lẫn nầy? Chúng ta hãy nhớ rằng , Đức Thánh Linh , theo định nghĩa đơn giản nhất , là Đức Chúa Trời hành động . Muốn được chiếm hữu bởi Đức Thánh Linh không phải chỉ “cảm thấy , cảm động ” hoặc được dầm thấm bởi “nhóm linh ” mà phải được chiếm hữu bởi Đức Chúa Trời . Ngài là trung tâm kinh nghiệm của các Cơ Đốc Nhân đầu tiên , và từ đó đến nay Ngài vẫn là trung tâm đối với kinh nghiệm xác thực của người Cơ Đốc . Sự thực hữu của Ngài có thể được cảm nhận rõ ràng nhất trong kinh nghiệm của cộng đồng . Bạn còn nhớ , Phaolô đã nói đến sự giao thông “koinonia (cộng đồng , thông công ) của Đức Thánh Linh ” (IICo 2Cr 13:13). Như vậy Hội Thánh là phạm vi ảnh hưởng nơi quyền năng Ngài vận hành trọn vẹn nhất . Thật ý nghĩa vì hầu hết mọi sự các Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã làm trong sách Công vụ các sứ đồ đều được quy gán cho quyền phép của Đức Thánh Linh . “Ấy là Đức Thánh Linh và chúng ta đã ưng rằng ...” (Cong Cv 15:28) là lời xác quyết của người Cơ Đốc trưởng thành .
    Khi chúng ta xem xét ý niệm “linh ” trong Kinh Thánh , chắc chắn ấn tượng nổi bật nhất mà chúng ta có được về “linh ” là nguồn sức mạnh . Từ Hêbơrơ được sử dụng trong Cựu ước , ruach, được triển khai từ ý niệm về “gió ,” hàm ý sự bày tỏ của hành động và sự hiện diện của Đức Chúa Trời . (“Cũng đừng cất khỏi tôi Thánh Linh (ruach )Chúa ,” Thi Tv 51:11) từ Tân ước pneuma cũng vậy , tượng trưng cho hoạt động mạnh mẽ của Đức Chúa Trời trong đời sống con người . Như Chúa Jêsus đã nói : “Nhưng khi Đức Thánh Linh giáng trên các ngươi thì các ngươi sẽ nhận lấy quyền phép ” (Cong Cv 1:8).
    Những hình ảnh bằng từ ngữ mà các Cơ Đốc Nhân đầu tiên dùng cho Đức Thánh Linh cũng phản ánh sự kiện nầy. Ngài không yếu mềm và thụ động. Trái lại: “Khi đã cầu nguyện thì nơi nhóm lại rúng động, ai nấy được đầy dẫy Đức Thánh Linh” (4:31). Trong lời ký thuật về sự giáng lâm của Đức Thánh Linh vào Lễ Ngũ Tuần, các sứ đồ nghe “có tiếng từ trời đến như tiếng gió thổi ào ào” khi họ tìm cách mô tả Đức Thánh Linh bằng một hình ảnh thấy được, Ngài đã hiện ra như “những cái lưỡi bằng lửa.” (Xem 2:1-4 ).
    Trọng Tâm Của Vấn Đề
    Quyền năng sống động , làm rúng động , đem lại sự biến đổi của Đức Chúa Trời đang bày tỏ chính Ngài qua đời sống con người - Đức Chúa Trời hành động - là điều gì đó mà chúng tôi hàm ý khi nói về Đức Thánh Linh . Những vấn đề như vậy không bao giờ có thể được bày tỏ đầy đủ bằng con chữ tẻ nhạt . Âm nhạc phải là phương tiện truyền thông phô diễn độc nhất . Đáng buồn thay , hầu hết các bài thánh ca về Đức Thánh Linh quá nhàm chán và không gây phấn khích cho nên thật khó mà hình dung người ta có thể được ban quyền năng bởi Đức Thánh Linh nếu như Ngài không năng động hơn họ nghĩ . Vì thế hãy xem trọng việc tìm và sử dụng một băng nhạc B Minor Mass của Bach và lắng nghe bản hợp xướng về Đức Thánh Linh “Cum Sacto Spiritu .” Nếu lắng nghe , bạn sẽ gần với sự hiểu biết Đức Thánh Linh hơn là đọc hàng tá quyển sách . Bach không trình bày một giọng hát thiếu sức sống “êm dịu nhỏ nhẹ của sự tĩnh lặng .” Trái lại loại nhạc nầy đầy sức sống động , mạnh mẽ năng động , nhanh mạnh từ đầu cho đến kết thúc , là hiện thân của sức sống . Thật là một kinh nghiệm xúc động khi được nghe âm nhạc nầy , thậm chí càng cảm kích hơn khi được hát lên . Nó có thể cho bạn ít nhất một ý niệm mơ hồ nhỏ bé về điều cảm kích nhất - đó là được chiếm hữu bởi Đấng bạn đang ca ngợi .
    Chương 6: Lời Tuyên Bố Và Những Thách Thức
    (Vấn Đề Tiền Định Và Các Phép Lạ? )
    Khi Pascal , nhà khoa học người Pháp nổi tiếng qua đời , một tài liệu nhỏ đã được tìm thấy về bản thân ông trong đó có câu như vầy : “Đức Chúa Trời của Ápraham , Đức Chúa Trời của Ysác , Đức Chúa Trời của Giacốp , không phải của các nhà triết học và các học giả .” Pascal không thích ý tưởng mơ hồ nào đó về Đức Chúa Trời như là “một thể thống nhất vô định hình ” hoặc “nguồn của sự thực hữu kết hợp mọi sự .” Ông quan tâm đến Đức Chúa Trời của lịch sử , một Đức Chúa Trời không xa cách và không quan tâm đến con người , mà là Đấng hành động , Đấng làm các sự việc trong bối cảnh lịch sử . Điều nầy hoàn toàn hòa hợp với hiểu biết của Kinh Thánh về Đức Chúa Trời , nơi chúng ta học biết rằng Đức Chúa Trời sai phái ...
    Đức Chúa Trời truyền phán.
    Đức Chúa Trời kêu gọi...
    Đức Chúa Trời giải cứu...
    Đức Chúa Trời làm việc...
    Lịch sử là xưởng làm việc của Đức Chúa Trời, là nơi mà Ngài hành động.
    Lời Tuyên bố: Đức Chúa Trời là Đấng Tối Cao
    Bây giờ đây là một khái niệm sâu rộng lớn lao . Sự kiện Đức Chúa Trời đã được biết đến trong các biến cố của lịch sử Do Thái và cuối cùng Ngài mặc khải chính mình qua biến cố mang tính lịch sử của Chúa Cứu Thế Jêsus : “Trong đời vua Hêrốt ” (Mat Mt 2:1) cho thấy Đức Chúa Trời với tư cách Chúa của lịch sử đã được hiểu một cách nghiêm túc như thế nào bởi đức tin của Kinh Thánh .
    Thay vì xem xét lời tuyên bố nầy bằng những từ chung chung, chúng ta hãy thực hiện một cuộc vật lộn nhỏ đơn giản với một khúc Kinh Thánh cụ thể, được trích từ sách Êsai. Bối cảnh của khúc Kinh Thánh nầy là: Asyri đã nổi lên như một cường quốc nguy hiểm của thế giới, và hiện nay sẵn sàng vồ lấy Giuđa, nơi Êsai đang sống và nói tiên tri. Vấn đề là: Làm thế nào hoạt động của Đức Chúa Trời trong lịch sử có thể được phân biệt qua việc Asyri (một dân tộc ngoại giáo tàn bạo) tàn hại Giuđa (dân sự của Đức Chúa Trời)? Êsai trả lời rằng Asyri, một dân tộc ngoại giáo, là một công cụ cho các mục đích của Đức Chúa Trời! Đức Chúa Trời phán rằng:
    Hỡi Asyri , là cái roi của sự thạnh nộ ta ! Cái gậy cầm trong tay nó là sự tức giận của Ta vậy .
    Ta sẽ sai nó nghịch cùng một nước chẳng tin kính ; khiến nó đi đánh một dân mà Ta nổi giận , để cướp lấy , bóc lột , và giày đạp chúng nó như bùn ngoài đường .
    Nhưng Asyri một dân tộc kiêu hãnh , khoe khoang , không biết rằng mình đang được sử dụng :
    Nhưng nó (dân tộc Asyri ) không có ý thế , trong lòng nó chẳng nghĩ như vậy : lại thích phá hại , và hủy diệt nhiều dân ;
    Vì nó nói rằng ...
    “Thì ta há chẳng sẽ làm cho Giêrusalem và thần tượng nó cũng như ta đã làm cho Samari và thần tượng nó sao? ”
    Asyri sẽ chinh phục Giêrusalem như nó đã chinh phục Samari rồi. Nhưng vua Asyri sẽ kiêu ngạo và nghĩ rằng nó đã thực hiện điều nầy bởi chính sức mạnh của mình: Khi Đức Giêhôva đã làm xong mọi công việc của Ngài trên núi Siôn và tại Giêrusalem Ngài sẽ trừng phạt sự khoe khoang ngạo mạn của vua Asyri và lòng kiêu hãnh ngạo mạn của ông ta. Bởi vì nhà vua nói rằng:
    “Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta , bởi sự khôn ngoan ta , vì ta là thông minh ;
    Ta đã dời đổi giới hạn các dân , đã cướp của quý họ , như một người mạnh đã làm cho những kẻ đương ngồi trên ngai phải xuống ...”
    Thái độ nầy sẽ là nguyên nhân sự sụp đổ của Asyri , bởi vì đây là một nỗ lực nhằm chối bỏ quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên lịch sử . Êsai phán tiếp với giọng chế nhạo : Cái rìu há lại khoe mình cùng người cầm rìu ư? Cái cưa há lại dấy lên nghịch cùng kẻ cầm cưa ư? Thế cũng như cái roi vận động kẻ giơ roi , cái gậy nâng đỡ cánh tay cầm gậy ! Hậu quả sẽ là tai họa dành cho người Asyri thờ hình tượng là kẻ chỉ thờ chính họ :
    Vậy nên , Chúa , là Đức Giêhôva vạn quân , sẽ làm cho những người mập mạnh của nó trở nên gầy mòn , và dưới sự vinh hiển nó sẽ đốt cháy lên như lửa thiêu đốt .
    (EsIs 10:5-7, 11, 13, 15, 16).
    Để có được tác dụng đầy đủ của khúc Kinh Thánh đáng lưu ý nầy xin hãy đọc lại:
    1. Chữ “Asyri,” thay thế bằng “một dân tộc thù địch.”
    2. Đối với “nước chẳng tin kính,” (Giuđa) thay thế bằng dân tộc của chính bạn.
    3. Đối với “Giêrusalem”, thay thế bằng thủ đô của chính đất nước bạn.
    4. Đối với “Samari,” hãy thay thế bằng đất nước gần đây nhất chịu dưới sự thống trị của dân tộc thù địch mà bạn liệt kê trong mục số 1.
    Và rồi bạn sẽ thấy được tác động mạnh mẽ của khúc Kinh Thánh nầy.
    Bây giờ chúng ta có thể phát hiện một số những hàm ý gây xáo trộn . Liệu Kinh Thánh có thật sự muốn nói rằng Đức Chúa Trời dấy Hitler và Stalin lên không? Có phải họ là phương cách để ý muốn Ngài thực hiện trên thế giới nầy không? Chúng ta phải xem xét kỹ những gì khúc Kinh Thánh nầy thật sự cho chúng ta biết về Đức Chúa Trời là Chúa của lịch sử .
    1. Khúc Kinh Thánh nầy khẳng định rằng lịch sử nằm trong tay Đức Chúa Trời . Asyri dường như là ông chủ , nhưng không phải . Chính Đức Chúa Trời mới là Đấng Chủ Tể . Điều nầy không dễ hiểu . Chúng ta không thể nói rằng chính ý muốn của Đức Chúa Trời là Hitler phải giết sáu triệu người Do Thái và rằng hàng ngàn người vô tội khác đã bị giết chết trong Thế chiến II . Tuy nhiên , chúng ta phải nói rằng trong một thế giới mà Đức Chúa Trời nắm quyền kiểm soát tối hậu , càng xao lãng luật pháp của Ngài ở mức độ lớn thì chỉ càng dẫn đến tai họa ở mức độ lớn . Nếu Đức Chúa Trời là Đấng công bình thì việc làm sai trái không thể bị bỏ mặc . Chúng ta hãy làm rõ điều nầy : Hoa Kỳ , Pháp , Anh , và những đất nước khác nói chung đã “là các dân tộc chẳng tin kính ,” cũng giống như Giuđa vậy . Chúng ta đã phục vụ Đức Chúa Trời bằng môi miếng , nhưng đời sống mình thì chối bỏ Ngài . Một tiên tri Êsai hay Giêrêmi hay Amốt thời nay hẳn sẽ có nhiều điều để nói với chúng ta . Bóc lột những kẻ có quyền lợi thua kém , làm giàu trong khi người khác chết đói , lười biếng trong khi người ta phải còng lưng lao động nô lệ - những điều nầy đem lại những mối lợi kếch xù , mà sớm hoặc muộn sẽ phải bị trả giá . Những lời như thế thật khó nói và khó nghe , nhưng chúng đúng với sự hiểu biết mang tính tiên tri . Trong những tình huống như thế , khi loài người trong sự tự do của mình , chối bỏ Đức Chúa Trời , thì các lực lượng như Đức Quốc Xã và chủ nghĩa Cộng Sản phát triển . Và điều Kinh Thánh nhấn mạnh là , thậm chí các thế lực như vậy cũng đã được đặt dưới quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời . Ngài không bị đánh bại bởi Hitler hay Stalin . Trái lại , Đức Chúa Trời có thể sử dụng những thế lực như họ để trong cuộc chạy đường dài , các mục đích của Ngài , chứ không phải của họ , được thành . Ngài sử dụng cơn giận của loài người để ngợi khen Ngài . (Xem Thi Tv 77:1-20).
    2. Nói rằng lịch sử nằm trong tay Đức Chúa Trời là bảo lịch sử có một ý nghĩa đạo đức . Nếu Giuđa đã trở nên một “dân tộc chẳng tin kính ,” thì Giuđa phải chờ đợi để trả giá , tức là bị đánh bại bởi Asyri . Khi cuộc khủng hoảng đến , Asyri đã sẵn sàng để giày đạp , thì đây không chỉ là một bất thường của lịch sử - mà nó có ý nghĩa về đạo lý . Nó có thể được giải thích như là một sự cảnh báo . Êsai báo cho Giuđa biết rằng sự chối bỏ Đức Chúa Trời sẽ dẫn đến những hậu quả , những hậu quả khắc nghiệt mang tính lịch sử , đối mặt với điều đó , con người phải ăn năn . Nhìn lịch sử theo cách nầy là nhìn xem ý nghĩa đạo đức của nó . Ví dụ , ngày nay khúc Kinh Thánh nầy có thể nhắc nhở Hoa Kỳ rằng họ là đất nước giàu có nhất trên thế giới , rằng nếu sự giàu có của họ chỉ được sử dụng cho chính họ , thì sự đoán phạt của Đức Chúa Trời chắc chắn sẽ theo sau .
    3. Ngay cả dân tộc được làm “công cụ” cho các mục đích của Đức Chúa Trời cũng phải chịu sự phán xét của Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời dùng Asyri mà Asyri không biết điều đó , vì Asyri không nhìn nhận Đức Chúa Trời , Asyri phải chịu sự đoán xét cũng như Giuđa . Nói rằng : “Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta ” giống như vua Asyri đã làm , là chuốc lấy tai họa bằng cách chối bỏ , không thừa nhận quyền tể trị của Đức Chúa Trời . Đây là một lời cảnh cáo nghiêm khắc cho những dân tộc nào tưởng rằng họ có đủ sức mạnh để làm theo ý họ muốn . Khi một dân tộc trở nên nổi tiếng và hùng cường , thì thật dễ để họ tự hào về sự vẻ vang đó , mà nói rằng : “Ta đã làm điều đó bởi sức mạnh của tay ta .” Asyri đã phạm tội đó . Giuđa đã phạm tội nầy . Hoa Kỳ cũng dễ dàng phạm tội nầy . Phục truyền luật lệ ký đã nói rõ về điều nầy . Tại đây dân Giuđa được cảnh báo chớ quên Đức Chúa Trời khi họ trở nên hùng cường và thạnh vượng .
    Vậy khá coi chừng , chớ nói trong lòng rằng : Ấy là nhờ quyền năng ta và sứ c lực của tay ta mà đoạt được những sản nghiệp nầy . Hãy nhớ lại Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi ... Nếu ngươi quên Giêhôva Đức Chúa Trời ngươi mà theo các thần khác , hầu việc và quỳ lạy trước các thần ấy , thì ngày nay ta cáo quyết rằng : Các ngươi hẳn sẽ bị diệt mất . Các ngươi sẽ bị diệt mất như những dân tộc kia mà Đức Giêhôva tuyệt diệt trước mặt các ngươi bởi vì không nghe theo tiếng Giêhôva Đức Chúa Trời của các ngươi . ( PhuDnl 8:17-20).
    Những Thách Thức
    Như vậy lời khẳng định là: Đức Chúa Trời là Đấng tối cao. Ngài đang nắm quyền kiểm soát. Đây là một sự hiểu biết căn bản của Kinh Thánh mà không một số lượng sắp xếp văn bản nào có thể dẹp bỏ được. Nhưng điều nầy khiến chúng ta gặp phải khó khăn nghiêm trọng ở một số điểm, và chúng ta phải xem xét hai trong số những thách thức đối mặt với chúng ta khi xem trọng lời khẳng định đó. (Sự thách thức thứ ba, mối liên hệ giữa điều ác với quyền tối cao của Đức Chúa Trời, được trình bày trong Chương 11 và 12.)
    Vấn đề Một: Quyền Tối Cao của Đức Chúa Trời và “Thuyết Tiền Định”
    Vấn đề nổi lên theo cách nầy , nếu Đức Chúa Trời là Đấng tối cao , “Đấng tể trị mọi sự ,” thì dường như chúng ta đang muốn nói rằngtất cả mọi sự xảy ra đều do Chúa định . Và điều nầy dường như phá hỏng sự tự do của chúng ta . Nếu bạn chọn hầu việc Chúa , thì đó là bởi vì Ngài đã quyết định rằng bạn sẽ chọn Ngài . Nếu bạn chọn chối bỏ Chúa , là điều (rất nhiều Cơ Đốc Nhân đã nghĩ như vậy ) cũng là vì Chúa đã quyết định bạn sẽ chối bỏ Ngài - và phải chịu lấy những hậu quả . Nếu vậy Ngài đã “tiền định ” hành động của bạn . Chúng ta còn có thể nói gì về một kết luận đáng sợ như vậy?
    Chúng ta không được nhầm lẫn giữa niềm tin đặt nơi quyền tối cao của Đức Chúa Trời của Kinh Thánh với thuyết định mệnh. Chẳng hạn, không phải khẳng định của Kinh Thánh là bạn không có quyền chọn bánh mì thịt nguội cho buổi tối bởi vì được định trước sẽ ăn bơ đậu phụng. Một quan điểm như vậy hàm ý rằng bạn chỉ là một con rối, một con tốt bị điều khiển, không một nỗ lực, một cố gắng nào về mặt đạo đức hoặc lựa chọn nào về phía bạn có thể tạo được sự khác biệt nhỏ nhặt nhất. Đó không phải là niềm tin theo Kinh Thánh, mà là thuyết định mệnh của ngoại giáo.
    Hai Khẳng Định Không Thể Tránh Được
    Niềm tin theo Kinh Thánh tiếp tục theo một cách khác, với hai lời khẳng định dường như không giống nhau:
    Sự kiện thực tế thứ nhất về đời sống là Đức Chúa Trời , và sự kiện thứ nhất nầy về Đức Chúa Trời là Ngài là Đức Chúa Trờ i - tối cao , toàn năng . Kết luận nầy không thể bị né tránh mà không làm sai lệch sứ điệp của Kinh Thánh . Điều nầy có nghĩa là cuối cùng mọi sự đều được nhìn xem như “dưới mắt Đức Chúa Trời .” Đây là thế giới của Ngài , không phải của chúng ta . Chúng ta được đặt ở đây là bởi Ngài , chứ không phải bởi chính mình . Chúng ta phải làm theo ý muốn Ngài , chứ không phải ý muốn mình . Ngài không phải là một ông thần nhỏ bằng thiếc , chỉ là một trong nhiều vật thể trong một vũ trụ thù địch ; mà Ngài là đầu tiên và là cuối cùng , gồm tóm mọi sự tồn tại .
    Nhưng niềm tin theo Kinh Thánh cũng đưa ra một lời khẳng định khác. Đó là, chúng ta là những con người phải chịu trách nhiệm về mặt đạo đức, rằng chúng ta không thể trốn tránh trách nhiệm điều mình đã làm. Chúng ta đã được ban cho món quà của sự tự do. Ngay cả khi chúng ta lạm dụng sự tự do đó và có những quyết định sai trật, chúng ta cũng không thể đổ lỗi cho Đức Chúa Trời. Chúng ta không thể nói: “Tôi không chịu trách nhiệm, đó là lỗi của Đức Chúa Trời.” Trái lại, Kinh Thánh chỗ nào cũng khẳng định chúng ta phải chịu trách nhiệm, không thể nào trốn tránh được.
    Ngoài mặt, hai ý tưởng nầy có vẻ không “khớp với nhau.” Đức Chúa Trời là Đấng Toàn Năng. Tôi phải chịu trách nhiệm. Nếu điều thứ nhất đúng, thì điều thứ hai sai.
    Về mặt lôgic, chúng nhất định không hài hòa với nhau, tuy nhiên chúng ta phải lưu ý rằng đời sống không phải lúc nào cũng theo đúng lôgíc chặt chẽ. Những điều thực tế nhất trong đời sống lại rất thường xuyên chống đối lại những điều lôgíc:
    “Bạn có thật lòng nghĩ rằng Anne xinh đẹp không?” “Ồ, không, cô ta chính xác là không đẹp.”
    “Cô ta có thông minh không?”
    “Tôi thật lòng không nói rằng cô ta thông minh.”
    “Thế cô ta có phải là một người nói chuyện có duyên và dí dỏm không?”
    ”Cũng không...”
    “Lạ chưa. Thế cô ấy có giàu không?”
    “Không, không có lấy một xu.
    “Có điều gì tuyệt vời đặc biệt về cô ta thế? ”
    “Ồ, tôi không thể nói chính xác điều đó được.”
    “ Vậy mà, anh yêu cô ta chứ?”
    “Anh biết rõ rồi mà!”
    Kết luận không theo đúng tính hợp lý - tuy nhiên đó vẫn là một kết luận đúng ! Anh ta thật sự yêu cô ta . Họ sẽ kết hôn với nhau vào tháng tới . Trong đời sống có những lãnh vực nơi mà tính hợp lý không phải là phiên tòa chung thẫm .
    Chúng ta có thể theo dõi manh mối nầy bằng việc xem xét vấn đề tiền định . Bởi hai điều về mặt lôgíc không thể hòa hợp được có thể được giải hòa trong kinh nghiệm tôn giáo . Phaolô là một sự trợ giúp ở đây . Ông nói : “Hãy lấy lòng sợ sệt run rẩy mà làm nên sự cứu chuộc mình .” Ở đây ông nhấn mạnh đến trách nhiệm của chúng ta , và rồi ông nói tiếp cũng trong cùng câu ấy : “Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài .” Nhấn mạnh đến quyền tối cao của Đức Chúa Trời (Phi Pl 2:12, 13). Trong một câu nói ông kết hợp rõ ràng là hai thái độ không thể dung hòa được . Vấn đề ở đây là mặc dầu tính lôgíc không hiểu được sự nối kết giữa quyền tối cao của Đức Chúa Trời với trách nhiệm của con người , kinh nghiệm tôn giáo có thể làm và làm được . Hãy đặt câu hỏi sau đây cho bất cứ một người nào có sự hiểu biết về niềm tin :
    H. Bạn có trở nên tốt qua các nỗ lực của chính mình không?
    Đ: Tất nhiên là không, điều đó là bởi ân điển của Đức Chúa Trời. Tôi không thể nhận lãnh lời khen ngợi.
    Và rồi hãy hỏi:
    H: Được rồi vậy thì còn về lời nói dối mà anh vừa nói tuần rồi? Tôi cho rằng đó là lỗi của Đức Chúa Trời chắc?
    Đ: Tất nhiên là không. Đó là lỗi của tôi, tôi không thể đổ lỗi cho Chúa về lời nói dối đó.
    Kinh nghiệm niềm tin thực tiễn về Đức Chúa Trời dường như đòi hỏi cả hai câu trả lời. Như Phaolô vẫn thường nói đi nói lại: “Chính là tôi, nhưng không phải là tôi, mà đó chính là ân điển của Đức Chúa Trời.” Đưa ra câu trả lời khác nhau cho mỗi câu hỏi là thái độ đạo đức giả.
    Ý nghĩa của “Sự Tuyển Chọn”
    Vấn đề tiền định cũng nổi lên khi chúng ta xem trọng lời khẳng định của Cựu ước rằng Đức Chúa Trời đã “chọn” dân Do Thái như là sự quan tâm đặc biệt của Ngài (xem thêm phần nói về “giao ước” trong Chương 15). Và khi chúng ta nhận ra rằng Đức Chúa Trời đã chọn họ, không phải vì họ xứng đáng, nhưng chỉ vì Ngài yêu thương họ, điều nầy nghe hoàn toàn có vẻ tự phụ và độc đoán. Vì sao Đức Chúa Trời lại phải “chọn” dân nầy mà không phải là dân tộc khác? Còn những dân tộc không được chọn thì sao?
    Một phần quan trọng của câu trả lời nầy là sự nhắc nhở rằng dân Do Thái đã được “chọn” không phải là nhờ đặc quyền đặc biệt mà là để mang những trách nhiệm đặc biệt. Họ đã không có một giai đoạn dễ dàng hơn bởi vì họ là tuyển dân của Đức Chúa Trời. Họ đã có một thời kỳ khó khăn hơn. Các dân ngoại, về một ý nghĩa nào đó có thể được miễn thứ vì việc làm sai trái của họ. Nhưng dân Do Thái thì không được miễn thứ - vì họ biết rõ hơn! Vì vậy chúng ta phải loại bỏ bất cứ ý tưởng nào về “sự thiên vị” theo ý nghĩa nào đó khi cho rằng sự lựa chọn khiến cho các sự việc dễ dàng hơn cho kẻ được chọn.
    Hơn nữa chúng ta phải thấy việc lựa chọn dân Giuđa trong mục tiêu tối hậu của nó , là mục tiêu mà qua họ tình yêu và sự quan tâm của Đức Chúa Trời có thể được bày tỏ cho mọi người : “Ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại , hầu cho ngươi làm sự cứu rỗi của ta đến nơi đầu cùng đất .” (EsIs 49:6). Và đây cũng chính là vấn đề nghiêm túc để qua các biến cố của lịch sử Do Thái , các dân tộc đến chỗ nhìn thấy Đức Chúa Trời hành động , và được chuẩn bị cho sự bày tỏ cuối cùng của Ngài qua Chúa Cứu Thế Jêsus .
    Xin lưu ý thêm rằng khi làm tất cả điều đó, Đức Chúa Trời không gạt bỏ món quà tự do mà Ngài đã ban cho chúng ta. Người Do Thái có thể chấp nhận Chúa hoặc từ chối Ngài. Họ vẫn thường từ chối Ngài, cũng giống như chúng ta. Nhưng điều nầy không làm Đức Chúa Trời nao núng. Ngài dùng chính tội lỗi là sự chối bỏ của họ, để đưa họ vào trong kế hoạch của Ngài, dùng những điều đó như là một phương cách để bày tỏ rõ ràng hơn Ngài là Đấng nào và điều Ngài đòi hỏi là gì. Điều nầy cũng gần như là một người soạn một tác phẩm âm nhạc cho dàn nhạc phải đứng đằng sau chúng ta khi chúng ta chơi đàn, và khi chúng ta mắc phải những sai phạm, người ấy phải thay đổi các nhịp điệu kế tiếp của bài hợp xướng để sử dụng các sai phạm ấy và đan dệt chúng vào trong khuôn khổ của tác phẩm. Người ấy kiểm soát sự chỉ dẫn tối hậu và kết quả của bài nhạc, nhưng người ấy làm vậy liên quan đến cách chúng ta làm trọn những chỉ dẫn của người ấy hoặc không làm trọn. Người ấy là chủ tình huống, song chúng ta vẫn được tự do.
    Niềm tin của Kinh Thánh trong sự lựa chọn là một niềm tin tích cực . Niềm tin không bảo rằng : “Đức Chúa Trời cố ý bác bỏ hầu hết mọi người mà chỉ chọn một ít người .” Niềm tin ấy khẳng định rằng Đức Chúa Trời có lựa chọn , và rằng những người đã được chọn như vậy là những người mà qua họ , Ngài đến được với toàn thể nhân loại . Công việc của chúng ta không phải là rối trí về số phận của những người “không được chọn ,” và khoái trá trước sự kiện (như Cơ Đốc Nhân đôi khi thường có ) rằng “chúng ta tạo thành một hội ” mà người khác không được . Trên thực tế , không ai trừ Đức Chúa Trời biết ai “thuộc về hội đó .” Nhiều khi , “kẻ ngoại đạo xấu xa ” có thể gần với Nước Đức Chúa Trời hơn là bạn .
    “Vì Sao Phải Bận Tâm?”
    Khi quyền tối cao của Đức Chúa Trời được coi trọng, một câu hỏi sâu xa hơn nổi lên, chẳng hạn như: “Nếu Đức Chúa Trời thực sự nắm quyền kiểm soát, vì sao còn phải bận tâm? Ngài sẽ hiểu rằng chúng ta làm những việc Ngài muốn chúng ta làm. Hãy thư giãn đi!”
    Đây là một lãnh vực khác, điều dường như là một kết luận hợp lý lại không theo được. Chính vấn đề sự kiện lịch sử đơn giản khiến những người tin chắc quyền tể trị tối cao của Đức Chúa Trời trở nên cực kỳ “năng động.” Nếu Ngài đã chọn họ để làm trọn ý muốn của Ngài, thì họ phải nỗ lực mạnh mẽ để làm đúng điều đó! Ví dụ,vào thời kỳ Cải chánh Tin lành, những người thuộc giáo phái Calvan là những người xem sự tiền định nghiêm túc nhất. Nhưng trong cả thời kỳ đó không có những cá nhân tích cực và có tinh thần trách nhiệm hơn là những người thuộc giáo phái Calvin. Vì sao vậy? Bởi vì họ tin chắc rằng Đức Chúa Trời đã chọn họ để làm công việc của Ngài và bởi vì không có, tuyệt đối không có điều gì, có thể đánh bại họ. Ai có thể chống lại kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Kết quả là người ta thấy họ có một sức mạnh phi thường (và đôi khi khủng khiếp). Một nhà văn ở thế kỷ thứ 17 đã viết rõ ràng như vậy: “Tôi thà đối mặt với cả một trung đoàn tuốt gươm trần còn hơn là chỉ một người theo thuyết Calvin tin chắc người ấy đang làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời.
    Vấn Đề Thứ Hai: Quyền Tối Cao Của Đức Chúa Trời Và Các Phép Lạ
    Bây giờ chúng ta hãy xem xét khó khăn chủ yếu thứ nhì của chúng ta. Kinh Thánh nói rất nhiều đến “những công việc quyền năng” mà Đức Chúa Trời của lịch sử đã thực hiện. Và có lẽ không chướng ngại vật nào lớn cho các độc giả ngày nay hơn là các phép lạ nầy. (Ở đây chúng ta chỉ bàn đến những phép lạ trong Cựu ước. Chương chín luận đến các phép lạ của Chúa Jêsus.) Đối với một độc giả ở thế kỷ thứ hai mươi dường như không thể nào lưỡi rìu có thể nổi, hay là những cây gậy có thể biến thành rắn, và các vách tường thành lại đổ sụp xuống vì kèn được thổi lên. Vậy thì sao?
    Đức tin đối chọi với Đức tin - Không đức tin đối chọi với Không đức tin.
    Có một phương cách sai lạc khi tiếp cận vấn đề nầy cần được phá đổ. Đó là quan điểm cho rằng muốn tin vào các phép lạ thì phải có hành động đức tin vĩ đại, trong khi không tin vào phép lạ thì chỉ là lẽ thường, bởi vì phép lạ không thể xảy ra. Lưu ý kỹ rằng lời tuyên bố: “Phép lạ không thể xảy ra” chỉ là một câu võ đoán cũng giống như lời tuyên bố: “Phép lạ có thể xảy ra” là một hành động của đức tin.” Mỗi câu nói đều hàm ý cả một quan điểm về vũ trụ mà đối với nó người nói đã tự cam kết. Như vậy, sự chọn lựa không phải là sự chọn lựa giữa đức tin hoặc không có đức tin. Đó là một sự chọn lựa giữa các đức tin kình chống nhau. Người nầy thì muốn nói rằng: “Tôi tin vào một vũ trụ trong đó Đức Chúa Trời có thể hành động bằng những cách mà tôi có thể hoàn toàn không hiểu.” Người kia thì lại bảo rằng: “Tôi tin vào một vũ trụ mà trong đó không điều gì có thể xảy ra mà tôi không hiểu.” Bạn có thể quyết định quan điểm nào có ý nghĩa đối với bạn hơn.
    Phép Lạ Là Gì?
    Chúng ta phải làm rõ điều mình hàm ý bởi “phép lạ.” Một định nghĩa phổ biến về phép lạ là điều gì đó “trái với tự nhiên.” Có những nguyên tắc hoặc luật lệ nhất định hành động trong vũ trụ. Thỉnh thoảng, điều gì đó xảy ra đi ngược lại với các định luật nầy thì đó là phép lạ.
    Nhưng phép lạ cũng có thể được giải thích như là điều gì đó “trái với những gì chúng ta biết về tự nhiên.” Định nghĩa nầy, dầu khiêm tốn hơn, có lẽ giá trị hơn. Bởi vì nó công nhận những giới hạn của tầm nhìn chúng ta, và gợi cho thấy rằng có thể có một quan điểm hoàn hảo hơn quan điểm chúng ta có. Và đây chính xác là điều mà đức tin theo Kinh Thánh nhấn mạnh - tức là cái nhìn của Đức Chúa Trời là điều tốt nhất và chúng ta không bao giờ dám tuyên bố là mình cũng có được cái nhìn đó. Ngài có thể làm những điều dường như lạ lùng đối với chúng ta nhưng không lạ đối với Ngài. Thậm chí là đúng khi bảo rằng từ cái nhìn của Đức Chúa Trời thì không có phép lạ - Đức Chúa Trời chỉ đang làm theo cách “tự nhiên” đối với Ngài, thậm chí chúng rõ ràng “siêu việt” đối với chúng ta. Chúng ta không có quyền giới hạn Đức Chúa Trời trong những hoạt động chỉ chúng ta mới hiểu được.
    Chúng ta hãy giải thích điều đó theo cách nầy. Giả sử bạn là một người từ hỏa tinh. Khi đĩa bay của bạn lượn vòng bên trên một thành phố của nước Mỹ, bạn thấy hoạt động giao thông và các đèn giao thông. Sau một hồi bạn quyết định rằng có một điều luật: “Khi nào đèn xanh thì xe sẽ chạy, và ngừng lại khi đèn đỏ.” Nhưng rồi một điều lạ lùng xảy ra. Tất cả các xe cộ đều tấp vào một bên lề và hai chiếc xe hơi phóng qua sáu, bảy chiếc đèn đỏ mà không dừng lại. Sau đó các xe khác mới bắt đầu chạy tiếp.
    Điều nầy khiến bạn hết sức bối rối. Bởi vì nó đi ngược lại quy luật. Nhưng thật sự thì không có gì trái với luật lệ cả; nó chỉ trái với những gì bạn (nhớ rằng từ hành tinh Hỏa tinh đến) biết về luật lệ. Vì điều mà bạn không biết, đang khi ngồi trên chiếc đĩa bay, đó là có một điều khoản trong luật lệ dành cho các trường hợp khẩn cấp, khi một xe cứu thương hoặc xe cảnh sát xuất hiện với tiếng còi hụ. Các xe khác được luật pháp yêu cầu phải tấp vào một bên và nhường đường, dầu đèn đỏ hay xanh. Xe cứu thương và xe cảnh sát không vi phạm luật lệ; họ đang minh họa một phần của điều luật mà bạn tình cờ chưa được biết. Lý luận của bạn hoàn toàn đúng trong chừng mực của nó, nhưng chưa đi xa đủ.
    Phép lạ Còn Là Gì Nữa?
    Tuy nhiên, sẽ là không đủ nếu bỏ dở vấn đề nầy ở đây, trong Kinh Thánh phép lạ không chỉ là “những gì chúng ta không biết.” Có một lời khẳng định tích cực hơn: Phép lạ là sự công nhận quyền phép của Đức Chúa Trời, rằng chúng ta không phải là những người ở trong chỗ bảo Chúa điều Ngài có thể làm hoặc không thể làm. Chính Ngài là Đấng quyết định! Các trước giả Kinh Thánh hoàn toàn biết rằng “những công việc quyền năng” của Đức Chúa Trời vượt quá bất cứ khả năng giải thích nào của con người. Những phép lạ âý là một phương cách để khẳng định quyền tối thượng của Đức Chúa Trời trên tất cả những gì Ngài đã dựng nên. Ngài không bị “ràng buộc” bởi tạo vật giống như chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời thật sự là Chúa hằng sống của mọi tạo vật, thì chúng ta phải biết rằng Ngài có thể bày tỏ chính mình Ngài theo cách Ngài chọn, chứ không như chúng ta muốn. Tin vào phép lạ tức là tin rằng Đức Chúa Trời có thể làm những điều mới . Và chúng ta phải tiếp cận với sự kiện phép lạ trong Kinh Thánh bằng chính cách nhìn nầy. Chúng ta phải dọn chỗ cho khả năng Chúa có thể làm những việc dường như mới mẻ và thậm chí lạ lùng theo cái nhìn của chúng ta, dầu có thể chúng chẳng mới hay lạ gì đối với cái nhìn của Ngài.
    Phép lạ Cơ Bản
    Bảo rằng tất cả những phép lạ được ký thuật đều có tầm quan trọng tín ngưỡng bằng nhau là điều không đúng. Điều quan trọng nhất không phải là vấn đề lưỡi rìu nổi lên hay mặt trời dừng lại trước lời cầu khẩn của Giôsuê. Điều quan trọng hơn hết là chúng ta có hiểu được phép lạ cơ bản của đức tin theo Kinh Thánh hay không. Nếu chúng ta hiểu được, chúng ta được trao quyền và có bổn phận phải xem xét những phép lạ được ký thuật khác trong mối liên hệ với phép lạ cơ bản.
    Như vậy phép lạ cơ bản là gì? Chắc chắn, đây là một sự thật - sự thật lạ lùng không giải thích được - đó là Đức Chúa Trời yêu những con người hay vấp phạm hay phạm tội như chúng ta. Chủ đề nầy được triển khai xuyên suốt Kinh Thánh - qua việc Đức Chúa Trời chọn Ysơraên, sự tha thứ không ngừng của Ngài, đặc biệt việc Ngài ban Con Độc Sanh của Ngài, việc Ngài ban Đức Thánh Linh, mối quan tâm của Ngài dành cho chúng ta đến tận ngày hôm nay - chúng ta đến chỗ hiểu được toàn bộ điều đó lạ lùng như thế nào, hoàn toàn bất ngờ như thế nào, và vượt quá bất cứ điều gì chúng ta có quyền chờ đợi ra sao, đi ngược lại với những gì chúng ta biết về phương cách mà cuộc sống vẫn thường tiếp diễn như thế nào. Việc Đức Chúa Trời yêu thương con người tội lỗi và bước vào mối thông công với họ là trọng tâm của lời khẳng định theo Kinh Thánh. Đây chính là phép lạ căn bản. Đặc biệt khi chúng ta nhìn thấy điều đó tập trung vào Chúa Cứu Thế Jêsus, chúng ta hiểu rằng đây chính là vấn đề quan trọng thật sự. Sau khi hiểu được điều đó, chúng ta có thể tiếp tục hỏi về phép lạ nầy hoặc phép lạ kia, không những liên quan đến tính đáng tin cậy của lời ký thuật chúng tôi về điều đó, nhưng quan trọng hơn, nó giúp làm sáng tỏ và làm rõ thêm hiểu biết của chúng ta về phép lạ căn bản của Chúa Jêsus Christ như thế nào và ở mức độ ra sao.
    Vì vậy chúng ta hãy quay sang xem xét kỹ càng hơn về phép lạ cơ bản.

    Chương 7: Tính Chất Bất Ngờ Của Phúc Âm
    (Điều Gì Khiến Chúa Jêsus Quan Trọng Như Vậy? )
    Nay ban hành cho mọi người đều biết:
    Cứ ba năm, mọi người sẽ quên đi hết những gì họ đã học biết về Chúa Jêsus, nên phải bắt đầu học lại toàn bộ * * *
    Ở mức độ nào đó, một điều luật như vậy không phải là một ý tưởng tồi. Ít ra nó cũng buộc chúng ta phải trở lại và đọc lại các sách Phúc âm, các thơ tín“lần đầu,” để đối diện với Đấng được mô tả ở đó. Sau khi nhận hiểu Ngài mà không bị những sự sai lệch và những hạn chế, không tránh được của tâm trí chúng ta, đã mặc cho Ngài, chúng ta sẽ kinh ngạc - và thậm chí bị sốc - trước những gì chúng ta nhìn thấy.
    Ai Đúng?
    Bạn để ý sự giới hạn khi đọc các sách nói về Chúa Jêsus. Hầu như mọi người đều cho bạn điều gì đó kém hơn là “toàn bộ” con người thật của Chúa Jêsus. Bạn thường học được nhiều về người viết “cuộc đời Chúa Jêsus” hơn là học được về chính mình Chúa Jêsus.
    Một người với những kiến thức về xã hội chủ nghĩa viết một cuốn sách về Chúa Jêsus, thế là Chúa Jêsus nổi lên như một nhà vô địch vĩ đại trong số những người kém quyền lợi hơn người khác.
    Một nhà điều hành quảng cáo viết về cuộc đời Chúa Jêsus và rồi Chúa Jêsus nổi lên như một nhân vật thông minh đặc biệt trong việc sử dụng các nguyên tắc quảng cáo của Ngài.
    Một người theo chủ nghĩa nhân văn viết một cuốn sách về Chúa Jêsus và Chúa Jêsus xuất hiện như một giáo sư vĩ đại, một người theo chủ nghĩa nhân đạo, một người bạn.
    Hình ảnh nào là đúng? Có phải Ngài là “Chúa Jêsus hiền lành, nhu mì và dịu dàng,” đồng thời lại là một kẻ tố cáo nóng nảy có thể sử dụng những ngôn ngữ rất khắt khe để lên án những người Pharisi không? Có phải Ngài là một người huyền bí khó hiểu chỉ quan tâm đến “những việc thuộc linh” và đồng thời là một người khuyên chúng ta hãy cầu nguyện cho những vấn đề vật chất thô thiển như bánh ăn hằng ngày?
    Giá trị Lời Khẳng Định Của Cựu ước .
    Lý do của những mâu thuẫn gây bối rối nầy xuất phát từ sự kiện Tân ước đã đưa ra hai lời khẳng định dường như mâu thuẫn nhau về Chúa Jêsus. Đối với một số người, hai lời tuyên bố nầy vô hiệu hóa lẫn nhau. Đối với những người khác, chúng dường như khó hiểu. Nhưng đối với đại đa số các Cơ Đốc Nhân suốt các thời đại, dường như cần thiết phải nhấn mạnh cả hai lời khẳng định nầy. Chúng có thể được phát biểu qua một số cách: Chúa Jêsus vừa là Đức Chúa Trời vừa là người.
    Ngài vừa là con người vừa là Đức Chúa Trời
    Ngài tỏ cho chúng ta Đức Chúa Trời là Đấng thế nào và Ngài cho chúng ta biết mình phải trở nên con người thế nào. Hoặc nói điều đó theo thuật ngữ của Kinh Thánh: “Chúa Cứu Thế là hiện thân của tất cả bản chất thần linh của Thượng Đế” (CoCl 2:9), tuy nhiên Ngài là một người “từng chịu đựng mọi cám dỗ như chúng ta” (HeDt 4:15).
    Những Cơ Đốc Nhân có hảo ý gặp thảm họa khi nỗ lực để chọn một trong hai lời khẳng định nầy mà bỏ mất lời khẳng định kia. Có rất nhiều người, ví dụ, là những người sẵn sàng thú nhận rằng Chúa Jêsus là một con người rất rất rất tốt, hoặc thậm chí là một con người hết sức, hết sức hết sức tốt lành - nhưng lại lẫn tránh ý tưởng Ngài là Đức Chúa Trời.
    Mặc khác, có những Cơ Đốc Nhân khẳng định mạnh mẽ rằng bởi vì Chúa Jêsus là Đức Chúa Trời, Ngài biết mọi sự, và không có điều gì Ngài không làm được. Họ lấy làm bực tức nếu bạn tỏ rõ cho họ rằng Chúa Jêsus đã có lúc mệt mỏi, đói khát, ngã lòng, và cô độc giống như bất cứ con người bình thường nào, mặc dù những sự kiện nầy đã được nhấn mạnh nhiều lần trong các sách Phúc âm.
    Cả hai nhóm người nầy đều bỏ sót giá trị của Tân ước. Ví dụ, hãy xem các câu mở đầu của sách Phúc âm Thứ Tư. Tác giả đang muốn nói về “Ngôi lời” của Đức Chúa Trời mà theo Cựu ước, là một cách để mô tả quyền phép và sự sáng tạo của Đức Chúa Trời: “Các từng trời được làm nên bởi lời Đức Giêhôva” (Thi Tv 33:6). Lời Đức Chúa Trời là quyền phép sáng tạo của Ngài, bởi phương tiện đó, Ngài bước vào mối quan hệ với con người, Ngài phán với họ, trò chuyện với họ và tỏ cho họ biết Ngài là Đấng thế nào. Sách Phúc âm Thứ Tư nói gì? Sách ấy chép như vầy: “Ngôi lời đã trở nên xác thịt ở giữa chúng ta” (GiGa 1:14). “Đã trở nên xác thịt” có nghĩa là hoàn toàn đơn giản, “trở nên một con người” như chúng ta. Đây là sự tỏ ra của tính sáng tạo và quyền phép Đức Chúa Trời, bằng đời sống của một con người bằng thịt và huyết. Đức Chúa Trời không chỉ giả vờ làm con người. Ngài đã trở thành một người giữa vòng chúng ta, thông qua một con người được gọi là Jêsus-conGiôsép, con trai của một người thợ mộc Naxarét. Khi Chúa Jêsus đói, đó là cơn đói thật sự, chứ không phải giả vờ. Khi những chiếc đinh bị đóng vào bàn tay Ngài, chúng đau đớn, và máu thật sự tuôn ra từ vết thương. Điều Tân ước dám khẳng định đó là trong đời sống và giảng dạy, sự chết và sự sống lại của con người nầy, chính mình Đức Chúa Trời được thể hiện một cách độc đáo, hầu cho nếu bạn muốn thấy Đức Chúa Trời là Đấng như thế nào và những gì Ngài đã làm một cách rõ ràng nhất, hãy nhìn xem Jêsus -con Giôsép nầy.
    Một Tuyên bố gây Kinh ngạc
    Bấy giờ đây là một lời tuyên bố gây kinh ngạc. Chúng ta cần nhớ điều đó. Chúng ta phải ngạc nhiên ở mức độ nào đó mỗi khi đọc tin mừng hoặc nghe tin mừng được loan báo. Điều nầy không phải là cái gì đó để tin một cách sơ sài. Nó khiến cho, như chúng ta nói: “một số người tin.” Và dường như cũng ngạc nhiên như bản thân lời công bố là sự kiện người ta đã tin phúc âm mà không nhận ra rằng nó đáng kinh ngạc. Một lời tuyên bố như vậy, nếu đúng sự thật, thì rõ ràng là điều quan trọng nhất đã từng xảy ra trong dòng lịch sử nhân loại. Đó là Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa của các đầu cùng đất, vượt trổi hơn và có trước mọi thời đại và không gian, đã sống đời sống như một người trong chúng ta phải là tin tức hàng đầu. Rằng con người đã phẫn nộ đối với việc làm nầy của Đức Chúa Trời, rằng họ đã nhổ lên Chúa Jêsus và hành hình Ngài một cách dã man tàn bạo phải là một câu chuyện gây bàng hoàng. Nhưng chúng ta có thể quan tâm đến cái chết của một con ba ba nuôi trong nhà hơn là quan tâm đến sự kiện Chúa Cứu Thế Jêsus đã bị hành hình trên một ngọn đồi bên ngoài thành Giêrusalem vì bị cáo là nguy hiểm cho sự an toàn công cộng. Câu chuyện nầy đã trở nên phổ thông đến nỗi nó không còn làm động lòng chúng ta nữa. Nó không còn khiến chúng ta bàng hoàng nữa. Không còn làm chúng ta kinh tởm nữa. Thậm chí không còn làm chúng ta xúc động nữa.
    Tuy nhiên - những biến cố về cuộc đời và sự chết của Chúa Jêsus đã thật sự tạo được một sức ảnh hưởng mạnh mẽ trên dân chúng trong thời đại của Ngài. Điều đó thật sự đã khuấy động dân chúng. Chúng đã làm dân chúng bàng hoàng. Khiến họ kinh tởm, thậm chí làm họ bị kích động.
    Điều Con Người Đang Tìm Kiếm
    Vì sao con người vào thời đó lại quá hung hãn trong những phản ứng của họ đối với Chúa Jêsus như vậy? Hãy cố hình dung điều họ đang tìm kiếm. Họ là những người Do Thái. Điều đó có nghĩa là họ đã bị xua đuổi và bị chà đạp cả hàng trăm năm. Bất cứ khi nào họ dường như bắt đầu thành công, thì một cường quốc lớn mạnh lại tràn xuống từ phương bắc hoặc tấn công lên từ phương nam và bắt họ làm phu tù. Vì vậy họ vẫn đang tìm kiếm một đấng minh oan, một nhà giải phóng, mà họ có thể trao cho danh hiệu “Mêsi” (có nghĩa là “Đấng Chịu Xức Dầu”), một Đấng Mêsi mà Đức Chúa Trời sẽ gởi đến để giải cứu họ và cho họ tự do, và qua Đấng ấy, sự trị vì của Đức Chúa Trời sẽ được thiết lập trên đất. Đấng Mêsi nầy sẽ như thế nào? Một “cuộc trưng cầu dân ý” của thế kỷ đầu tiên hẳn đã diễn ra hơi giống như vầy:
    NGƯỜI THỨ NHẤT (Hết sức thực tế ): Tôi ư? Tôi đang tìm kiếm một người con cháu của vua Đavít để đến và cai trị như cách vua Đavít đã cai trị. Ôi những ngày ấy! Chúng ta đã có đất đai, lương thực, danh tiếng và một vị vua vĩ đại. Một ngày kia Đức Chúa Trời sẽ sai phái một vua Đavít khác, Đấng trị vì chúng ta. Rồi chúng ta sẽ có được hòa bình và công chính, kẻ thù sẽ phải bị hủy diệt. Tôi chỉ mong Đấng ấy mau đến.
    NGƯỜI THỨ NHÌ (với giọng gầm gừ ): Tôi không biết chính xác chúng ta sẽ nhận ra Đấng Mêsi bằng cách nào nhưng tôi có thể cho anh biết điều nầy. Người ấy sẽ là một chiến sĩ vĩ đại. Người ấy sẽ kéo những tên La mã đáng nguyền rủa kia xuống biển. Và chúng ta sẽ giành lại xứ sở của chính mình mà không một mống ngoại quốc nào còn được cai trị, lấy hết tiền của chúng ta đóng thuế và bắt chúng ta nghèo khổ. Tôi trước tiên sẽ gia nhập đội quân của ông ấy, và chúng ta sẽ âm mưu một cuộc cách mạng để nghiền nát quân La mã thành từng mảnh.
    NGƯỜI THỨ BA (cặp mắt cuồng nhiệt ): Không, sẽ không dễ dàng như vậy đâu. Chúng ta đã lâm vào khó khăn quá sâu để nhờ cậy bất cứ con người nào chỉ là người mà giải phóng được chúng ta. Hy vọng duy nhất của chúng ta nằm ở nơi một Đấng đến từ trời, được sai xuống từ các đám mây trời, với các đội quân của thiên sứ. Loại công việc mà Sách Đaniên đã nói đến. Đấng ấy sẽ đánh bại người La mã áp bức, giải cứu chúng ta khỏi họ, và rồi sẽ thiết lập vương quốc thiên đàng của Ngài ngay tại đây trong xứ Palettin. Đó là điều duy nhất có thể cứu chúng ta.
    Đó là những giấc mơ và những khát vọng điển hình của một dân lưu đày, sống dưới sự thống trị khắc nghiệt của một “quân đội chiếm đóng,” vô quyền để chống lại, quá cay đắng để chịu đựng, quá kiêu hãnh để chấp nhận yên phận. Họ cảm biết chắc chắn rằng thậm chí trong sự sỉ nhục của mình Đức Chúa Trời cũng không quên họ, và Ngài sẽ sai đến Đấng Chịu Xức Dầu của Ngài, mặc dầu không phải tất cả đều đồng ý Đấng Chịu Xức Dầu chính xác phải như thế nào.
    Điều Con Người Đã Tìm Được
    Liệu những người nầy có tìm thấy trong Chúa Jêsus Đấng Mêsi mà họ đang tìm kiếm không?
    Không hề
    Có thể thoạt đầu một số người trong vòng họ đã tìm thấy. Có lẽ họ cảm nhận vào lúc bắt đầu rằng Chúa Jêsus sẽ trở thành loại Đấng Mêsi đó. Có lẽ Giuđa là một trong số những người ngày càng vỡ mộng vì Chúa Jêsus đã không phải là loại Đấng Mêsi của Giuđa. Và một môn đồ khác, Simôn Xêlốt (không phải Simôn Phierơ), dường như là thành viên của một toán người cuồng nhiệt đang tìm cách khởi sự một cuộc nổi loạn công khai chống lại La mã, và người nầy đã gia nhập với Chúa Jêsus, hy vọng rằng Ngài sẽ lãnh đạo cuộc chiến đấu nầy.
    Nhưng Chúa Jêsus đã có chương trình của Ngài về những gì Đấng Mêsi phải có, và điều đó hóa ra lại rất khác so với suy nghĩ của mọi người khác. Ngài không sẵn sàng để trở thành một công cụ cho những tham vọng của chủ nghĩa dân tộc Ysơraên trong thế kỷ đầu tiên. Đức Chúa Trời đã có chương trình sâu rộng hơn để bày tỏ cho con người qua Đấng Mêsi. Vì vậy điều chúng ta tìm thấy, đó là Đấng Mêsi mà Chúa Jêsus xưng nhận không phải là Đấng Mêsi mà dân chúng đang trông đợi. Chúa Jêsus đã nói lên sự hiểu biết của Ngài về tư cách Đấng Mêsi bằng những lời gây bàng hoàng không thể tưởng tượng đối với dân chúng trong thời của Ngài, bàng hoàng và không thể tưởng tượng được thậm chí đối với những môn đồ thân tín nhất của Ngài.
    Tất cả đã xuất hiện công khai một thời gian ngắn trước khi kết thúc cuộc đời của Ngài. Sau chức vụ ngắn ngủi quanh khu vực Biển Galilê, Chúa Jêsus và các môn đồ thân cận của Ngài đã đi lên phía bắc trong một thời gian, có lẽ để đánh giá lại tình hình. Mọi sự diễn ra không tốt đẹp lắm. Một cuộc khủng hoảng đang ở trước mắt. Chúa Jêsus, sau khi hỏi các môn đồ những quan điểm gì họ đã nghe về Ngài, đã đặt câu hỏi hướng thẳng vào họ: “Nhưng các ngươi thì nói Ta là ai?” (Mac Mc 8:29). Phierơ là người đã trả lời: “Thầy là Đấng Christ.” Bởi điều đó ông hàm ý: “Ngài chính là Đấng Mêsi, Đấng Chịu Xức Dầu mà Đức Chúa Trời đã sai đến.”
    Nhưng chẳng bao lâu sau điều Phierơ muốn nói qua lời xưng nhận nầy hóa ra lại hoàn toàn khác với những gì Chúa Jêsus hàm ý. Chúa Jêsus đã kết hợp hai ý niệm mà trước đây chưa từng được kết hợp trong suy nghĩ của người Do Thái. Thứ nhất là ý niệm về “Con Người,” là điều có lẽ được hàm ý, không phải dường như hàm ý - chỉ là một con người - nhưng là một con người thuộc về trời đã được mô tả trong sách Đaniên có nói đến ở phần trước. Ý niệm thứ hai là ý niệm về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ,” người chịu khổ thay cho người khác, người gánh trên chính mình những hậu quả tội lỗi của những kẻ đã bắt bớ mình (đặc biệt xem trong EsIs 52:13 đến 53:12). Chúa Jêsus đã kết hợp hai ý niệm nầy bằng một câu gây ngạc nhiên: “Con người phải chịu khổ...” (Mac Mc 8:31).
    Lúc ấy điều nầy hoàn toàn không có ý nghĩa đối với Phierơ. Con Người phải chịu khổ ư? Vô lý! Con Người phải đến trên mây trời, hoặc Ngài phải là một vị vua vĩ đại có kinh nghiệm chiến đấu, hoặc Ngài phải là một người lãnh đạo phong trào yêu nước, sao lại phải chịu khổ và phải chết? Không bao giờ! Đó chính xác là điều Ngài không được làm. Làm sao Ngài có thể hoàn thành những việc lớn lao mà Đức Chúa Trời sẽ thực hiện qua đấng Mêsi theo cách đó? Sự hoang mang sửng sốt của Phierơ được thấy rõ qua những người còn lại đã đến tiếp xúc với Chúa Jêsus. Nếu Ngài sẽ chịu chết, nếu Ngài không hoàn thành tất cả những gì dân chúng mơ ước trong nhiều thế kỷ, thì rốt lại rõ ràng Ngài không phải là Đấng Mêsi. Ngài hẳn phải là một kẻ lập dị, một kẻ mạo danh, một kẻ cần phải bị loại bỏ.
    Điều Con Người Đã Làm
    Vì vậy dân chúng lý luận. Và họ đã hành động theo đó. Chính phương thức mà họ dùng để trừ khử Chúa Jêsus dường như là một sự khẳng định mỉa mai rằng họ đã đúng. Bởi vì có một câu trong luật pháp của người Do Thái: “Đáng rủa thay là kẻ bị treo trên cây gỗ” (trích trong GaGl 3:13) cho thấy một người bị chết bằng hình thức đóng đinh (“cây” = gỗ = thập tự giá) là kẻ phải chịu dưới sự rủa sả của Đức Chúa Trời. Còn gì rõ ràng hơn việc Chúa Jêsus bị đóng đinh trên thập tự giá nghĩa Ngài đã bị Đức Chúa Trời chối bỏ, và rốt lại Ngài không phải là đấng Mêsi đã được hứa? Đấng Mêsi không bị “treo trên cây gỗ”; Ngài chiến thắng, Ngài cai trị trong vinh quang.
    Bây giờ, dầu chúng ta có muốn hay không, đó là cách hầu hết những người trong thế kỷ đầu tiên đã lập luận khi họ đối mặt với lời tuyên bố vô lý rằng Chúa Jêsus là Đấng Mêsi mà họ trông đợi. Chúng ta phải đối mặt hết sức thẳng thắn với sự thật như vậy. Chúa Jêsus đã không chinh phục được tất cả các đám dân đông đến với Ngài bởi một nhân cách dễ chịu. Ngài đã chinh phục được một số ít người, phải (mặc dầu hầu hết họ đã bỏ trốn trong khi Ngài bị bắt và bỏ mặc Ngài đi đến cái chết mà không có họ). Song nhiều người khác đã mạnh mẽ và nhất quyết chối bỏ Ngài. Họ thẳng thừng phủ nhận lời tuyên bố của Ngài, gọi đó là lời phạm thượng, và làm hết sức mình để bắt Ngài chịu hành hình một lần đủ cả.
    Họ đã thành công .
    Hay ít ra, họ nghĩ họ đã thành công. Sự kiện cái chết của Ngài đã không kết thúc câu chuyện là một sự kiện mà bây giờ chúng ta sẽ phải xem xét. Nhưng trước khi làm điều đó, chúng ta phải nhận ra rằng cuộc đời của Ngài là một sự “thất bại” trong ý nghĩa mà chúng ta thường sử dụng từ ấy. Loại đấng Mêsi gì mà lại bị giết chết trong thế kỷ thứ nhất giống như một tội phạm tầm thường trên một chiếc ghế điện, sau những lời tố cáo thành công của cả giới cầm quyền dân sự lẫn tôn giáo? Thật là một Đấng Mêsi lạ lùng, khó mà xứng đáng được ngó ngàng đến lần thứ hai!
    Thiểu Số Nhỏ Bé của Những Người Không Đồng Tình
    Tuy nhiên vẫn có những kẻ thật sự quyết định nhìn lại lần thứ hai. Họ là những con người đã can đảm thách thức trước các sự thật, đã nói đến chiến thắng khi rõ ràng chỉ có bi kịch, họ nói với giọng vui mừng khi đáng lẽ phải buồn rầu, đã mỉm cười khi đáng lẽ phải khóc lóc. Vì sao họ lại khác với 99, 5 % kia? Chúng ta hãy thử xem xét họ.
    Chúng ta hãy xem những môn đồ của Chúa Jêsus ngay sau khi lãnh tụ của họ bị bắt, bị buộc tội trong một phiên tòa “được dàn dựng” và bị giết chết. Họ bị bối rối bởi sự đảo ngược nhanh chóng vận mệnh mà họ và lãnh tụ của họ phải chịu. Chúa Jêsus, người mới vừa cùng họ dự bữa ăn tối chỉ một hoặc hai đêm trước, nay đã nằm chết lạnh lẽo trong huyệt mộ. Họ đã bị vỡ mộng . Chúa Jêsus đã nói về những điều kỳ diệu như thế. Ngài đã làm những việc tuyệt vời như thế. Nhưng bây giờ tất cả đã qua rồi. Ngài chỉ dệt ra một giấc mơ. Khi khó khăn thật sự xảy đến Ngài vô quyền, và giấc mơ ấy đã tan biết như một làn khói. Bạn có thể thấy họ đang sẵn sàng để trốn khỏi thành Giêrusalem và trở về với lưới cá của mình, họ nói với nhau: “Tôi sẽ không bao giờ tham dự vào những chuyện như vậy nữa.” Họ bị hoảng sợ . Họ đang nhóm họp đằng sau những cánh cửa khóa kín. Vì sao vậy? Lý do hết sức đơn giản. Họ sợ hãi người ta đã từng thấy họ đã từng ở với Chúa Jêsus. Chúa Jêsus nay đã bị giết chết. Ai sẽ là những người kế tiếp? Người La mã có rất nhiều thập tự. Hãy để cho Ủy Ban Các Hoạt động Chống La mã theo dõi họ, và rồi họ sẽ trải qua một vụ xét xử “được dàn dựng” và cái chết bởi nhục hình.
    Đó là điều rất có khả năng xảy đến cho các môn đồ ngay sau cái chết của lãnh tụ họ. Một nhóm người không có gì hứa hẹn, bị hoang mang, vỡ mộng, và hoảng sợ. Chẳng ai mong đợi họ làm được bất cứ điều gì.
    Nhưng họ đã thật sự làm được điều gì đó. Ngay sau đó họ đã bắt đầu làm được rất nhiều điều. Để hoàn thành câu chuyện, chúng ta phải xem xét một bức tranh khác về nhóm người nầy. Lần nầy khung cảnh không bị giới hạn ở một căn phòng nhỏ với cánh cửa được chặn kỹ. Mà nó phải rộng đủ để cuối cùng bao gồm toàn cả Đế quốc La mã. Hãy xem một cảnh khác.
    Thay vì bị hoang mang, họ trở nên hết sức quả quyết về chính mình. Họ được khuấy động để hành động, và đi thật xa thật rộng công bố điều họ gọi là “tin lành,” trong các đền thờ và các chỗ chợ, cho những người bán cá rong và các quan chức La mã. Thay vì bị vỡ mộng, họ đầy lòng tự tin, và có một sự vui mừng dường như ngây thơ trong việc chia sẻ một kinh nghiệm lớn lao đã làm biến đổi họ. Thay vì bước đi với bước chân nặng nề, họ đầy quyền năng huyền bí mà họ gọi là quyền năng thánh. Thay vì bị hoảng sợ, họ đầy lòng can đảm có sức lan truyền, và đi khắp các nơi theo nghĩa đen kêu lớn về cùng một loại những điều mà vì nó, lãnh tụ của họ mới vừa bị giết chết. Người ta càng bảo họ phải im lặng không thôi sẽ bị phạt chết, thì họ lại càng vui mừng để nói. Thật vậy họ đã gây một ấn tượng trên dân chúng chung quanh họ, đến nỗi không lâu sau, những kẻ thù của họ (không phải bạn hữu họ mà là kẻ thù của họ) phải gọi họ là “đã làm đảo lộn cả thiên hạ” (Cong Cv 17:6).
    Vì Sao Họ Không Đồng Tình Với Đa Số
    Điều gì đã đem lại sự biến đổi lạ lùng nầy? Hoàn toàn không thể tránh được, chính là sự xác quyết không lay chuyển được của họ rằng Chúa Jêsus đã không bị cầm giữ bởi phần mộ mà Ngài đã bị đặt vào sau khi hoàn toàn chết, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Ngài sống lại từ kẻ chết và Ngài đang ở với họ, bên cạnh họ, ở giữa vòng họ như một sự hiện diện sống động và tích cực. “Chúa Cứu Thế Phục Sinh” không còn là lý thuyết đối với họ, mà là một sự thực, một sự thực trong kinh nghiệm của chính họ. Họ biết Ngài đang sống bởi vì họ và Ngài, một lần nữa lại ở trong mối tương giao thân mật. Và khi chúng ta xem xét bản tường trình những việc họ đã làm, những bài giảng họ đã giảng, các bức thư họ đã viết, những câu chuyện về Chúa Jêsus mà họ đã biên soạn, một sự kiện gây kinh ngạc nổi lên. Cơ sở của toàn bộ sự mạnh dạn đảm nhận công việc nầy không phải (như chúng ta thường được dẫn dụ để tin) là những sự dạy dỗ về đạo lý của Chúa Jêsus, mà chính là “tin mừng” về sự Phục sinh.
    Đó thật sự là “tin mừng” trên mọi mức độ của đời sống. Nó xác chứng những lời tuyên bố của Chúa Jêsus, và đức tin mà các môn đồ đã đặt nơi Ngài. Nó chứng tỏ rằng thậm chí từ một thảm họa như việc Chúa Jêsus chịu đóng đinh, Đức Chúa Trời vẫn có thể làm điều cực kỳ tốt lành. Nó cho thấy rằng chúng ta không phải sợ sự chết nữa, bởi vì Đức Chúa Trời mạnh hơn cả sự chết, Ngài là Đức Chúa Trời của sự sống và sự chết. Nó chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời có thể mang lấy tội lỗi con người (ngay cả tội lỗi kinh khiếp nhất của những kẻ đã giết chết Chúa Jêsus) và đắc thắng tội lỗi. Nói tóm lại nó đã cho thấy rằng sự Phục sinh có thể đến qua sự chết, chiến thắng có thể đến từ bi kịch, và thậm chí khi con người đã làm điều tồi tệ nhất, Đức Chúa Trời vẫn có thể làm điều tốt nhất của Ngài. Tin lành nầy “đã làm đảo lộn” tất cả những gì con người đã tin trước kia về Đức Chúa Trời cũng như phương cách hành động của Ngài.
    Chứng cớ gì?
    Một cái nhìn thật nhanh về chứng cớ sẽ tỏ rõ tính cách trọng tâm của sứ điệp nầy. Những câu Kinh Thánh được viết ra cách cụ thể sớm sủa nhất về sự sống lại nằm trong các thư của Phaolô. Ví dụ, trong lá thư đầu tiên gởi cho người Côrinhtô, ông nói rằng đức tin nơi sự sống lại chính là “Phúc âm” tức là Tin lành. Ông đã “nhận được” Tin lành ấy khi trở thành một Cơ Đốc Nhân. Đó là “điều trước hết..., ấy là Đấng Christ chịu chết vì tội lỗi chúng ta..., Ngài đã bị chôn,... Ngài sống lại vào ngày thứ ba” (ICo1Cr 15:3,4) nhưng đó không phải chỉ là điều mà Phaolô đã được cho biết. Ông liệt kê những người đã được chứng kiến sự hiện ra của Chúa Cứu Thế và rồi ông nói: “Ngài cũng hiện ra cho tôi xem” (câu 8). Kinh nghiệm nầy đã trở thành sự thật đối với chính Phaolô. Đức tin Phục sinh nầy là đức tin Cơ Đốc: “Đó là điều chúng tôi giảng dạy, và là điều anh em tin.” (câu 11). Thậm chí ông còn nói mạnh mẽ hơn nữa: “Nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì sự giảng dạy của chúng tôi ra luống công, và đức tin anh em cũng vô ích” (câu 14).
    Loại chứng cớ nầy nổi bật trên hầu hết mọi trang Kinh Thánh Tân ước. Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết! Hãy hát lên điều đó! Hãy la lớn tiếng lên! Hãy để mọi người đều biết! Bởi vì sự kiện đó đã làm thay đổi mọi sự.
    Chúng ta tự nhiên có những thắc mắc. Chúng ta muốn biết càng nhiều càng tốt về một sự kiện như vậy. Phaolô không cho chúng ta bất cứ các chi tiết nào. Để có các sự kiện cụ thể, chúng ta phải quay trở lại các đoạn kết thúc trong từng sách của bốn sách Phúc âm (Mac Mc 16:1-20; Mat Mt 28:1-20 LuLc 24:1-53; GiGa 20:31; 21:1-25), mặc dầu vậy, điều quan trọng phải nhớ rằng sự phục sinh đã được giả định trước suốt mỗi sách. Chúng ta tìm thấy gì? Những lời ký thuật đưa ra rất nhiều bằng chứng về sự kiện trọng tâm của sự sống lại , với những khác biệt về một số các chi tiết . Bất cứ một người thành thật nào cũng phải thừa nhận cả hai điều đó. Về những vấn đề quan trọng có sự đồng tình: Đấng Christ đã không bị mồ mả cầm giữ, Ngài đã sống lại từ kẻ chết, Ngài đã hiện ra cho các môn đồ, họ đã đến chỗ quả quyết về sự hiện diện sống động của Ngài, và đời sống của họ đã được biến đổi bởi Ngài. Khi bạn định nghĩa chính xác những chi tiết mình tìm thấy, điều rất tự nhiên, sự đồng tình đầy đủ có kém hơn. Bốn người viết, rất lâu trước khi có nhật báo, điện thoại, báo in, có những sự suy nghĩ và hồi tưởng khác nhau cũng như sự nhấn mạnh vào những sự kiện khác nhau. Ví dụ họ không biết chắc ai chính là người ở tại mộ khi những người phụ nữ đến đó để xức xác Chúa. Họ cũng không thể đồng ý chính xác loại thân thể mà Chúa Phục sinh đã có, vì vậy trong một số câu chuyện Ngài có thể ăn cá nướng với họ, và trong những câu chuyện khác Ngài có thể xuất hiện hoặc biến mất tùy ý.
    Những sự kiện nầy được lưu ý bởi vì chúng thường làm những người đọc các câu chuyện đó bối rối. Tại sao lại có những sự bất đồng thậm chí nhỏ nhặt như vậy? Chúng ta hãy hình dung một sự kiện bất ngờ xảy ra ngày hôm nay. Hai chiếc xe hơi đâm nhau trên con đường chính của thị trấn bạn ngay trước trường trung học.
    • Bạn nhìn thấy tai nạn từ cửa sổ của một cửa hiệu tạp hóa.
    • Đứa cháu của bạn thì nhìn thấy tai nạn từ một chiếc xe hơi đậu bên kia đường cách đó một khu nhà.
    • Các em học sinh lớp mười nhìn thấy tai nạn từ trong sân trường.
    • Một học sinh lớp mười một nhìn thấy tai nạn từ cửa sổ tầng hai của trường trung học.
    • Một viên cảnh sát nhìn thấy tai nạn từ một góc phố.
    • Rất nhiều khách bộ hành nhìn thấy hai chiếc xe ngay sau vụ tai nạn.
    Nếu vài tháng sau, tất cả các nhân chứng nầy đều được lôi ra tòa, thì bất cứ luật sư hiệu quả nào cũng sẽ nghi ngờ không biết câu chuyện của họ có chính xác khớp với mọi chi tiết hay không. Con người ta hoàn toàn không lưu ý những điều nhỏ nhặt, hoặc nhớ kỹ những điều đó. Luật sư sẽ nghi ngờ họ rủ nhau để “lừa dối ông ta” bằng cách bịa đặt ra một câu chuyện thay đổi theo thời gian.
    Bây giờ hãy hình dung ba mươi hoặc năm mươi năm sau, các nhân chứng được yêu cầu cho thông tin về vụ tai nạn. Họ sẽ nhớ được gì? Họ có thể đưa bằng chứng rõ ràng và xác quyết rằng đã từng có một tai nạn ở tại đó. Không có ai bất đồng chuyện đó cả. Nhưng về những chi tiết phụ, như là màu của hai chiếc xe, tốc độ của chúng, và v..v.. thì sẽ có những khác biệt dễ hiểu.
    Có một sự biệt đáng kể giữa một tai nạn ô tô và sự sống lại từ kẻ chết. Và có một yếu tố huyền nhiệm trong tính chất vô song của sự kiện phục sinh có thể bị mất ý nghĩa bất cứ khi nào chúng ta cố gắng tiến hành một phân tích quá rõ ràng để giải thích điều đó. Sự sống lại từ kẻ chết không bao giờ có thể “được giải thích” một cách đầy đủ. Ngoài ra, ví dụ của chúng ta có thể ít nhất là một lời gợi ý không rõ ràng. Khi chúng ta xem xét lại những lời ký thuật về sự sống lại trong các sách Phúc âm, chúng ta có thể thấy rằng chính những khác biệt về chi tiết là một phẩm chất giá trị cho sự kiện không một ai muốn “lừa dối chúng ta.” Bốn lời ký thuật (được viết bởi những con người khác nhau ở những nơi khác nhau vào những năm khác nhau) ăn khớp chặt chẽ với nhau làm khuấy động những nghi ngờ của chúng ta. Chính những khác biệt nhấn mạnh tính nhất quán của lời khẳng định trọng tâm mà họ đều đồng ý - đó là thập tự giá chưa phải là kết thúc, nhưng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết.
    Nếu như thập tự giá là kết thúc, thì chúng ta hãy nhớ rằng, các môn đồ hẳn sẽ bị giải tán, bi quan và vỡ mộng. Và Cơ Đốc Giáo hẳn không bao giờ có sự bắt đầu. Điều đã làm cho Cơ Đốc Giáo “bắt đầu” chính là lời xác quyết của các môn đồ rằng Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, rằng Ngài đang ở trong mối tương quan thân mật với họ, và rằng tin tức làm rúng động thế giới nầy phải được công bố với bất cứ giá nào, bởi vì nó đã thay đổi hoàn toàn ý nghĩa của đời sống. Kể từ ngày đó, dấu hiệu căn bản của niềm tin Cơ Đốc không phải là sự buồn rầu mà là vui mừng, không phải thất bại mà là đắc thắng. Và biểu hiện của người Cơ Đốc không phải là gương mặt u sầu mà là gương mặt tỏa sáng vui mừng.
    Sự Lựa Chọn Để Ngỏ Cho Chúng Ta
    Từ câu chuyện đáng kinh ngạc nầy chúng ta hiểu được gì? Dường như chúng ta có thể làm một hoặc hai điều với câu chuyện đó. Chúng ta có thể chấp nhận lời chứng của những người đồng thời với Chúa Jêsus, và để cho sự kiện gây sửng sốt nầy tạo được sự biến đổi tương tự trong đời sống chúng ta như đã biến đổi đời sống của họ. Hoặc chúng ta có thể từ chối tiếp nhận nó, khăng khăng bảo rằng “người chết thì vẫn cứ chết.” Chúng ta có thể bảo rằng tuyên bố của Kinh Thánh làm rúng động thế giới đến nỗi nó không thể nào là sự thật, rằng nó chỉ là một điều hư cấu của những người mộ đạo, hoặc là sự phát minh đáng khinh của một nhóm người bị lừa dối không thể đối mặt với thực tế phủ phàng rằng lãnh tụ của họ đã bị tiêu diệt.
    Cả hai quan điểm trên đều đối xử với lời xưng nhận của người Cơ Đốc bằng điều gì đó như là lòng tôn trọng mà nó phải có. Cả hai quan điểm đều hiểu rằng đây là một lời tuyên bố lạ lùng, không được coi nhẹ hoặc chấp nhận một cách hấp tấp. Cả hai quan niệm đều hiểu rằng lời khẳng định nầy hoặc là một lẽ thật có ý nghĩa nhất suốt mọi thời đại hoặc là một điều vô nghĩa trơ tráo đã từng thâm nhập vào dòng dõi loài người.
    Điều mà chúng ta không được phép làm với câu chuyện nầy là tìm cách loại bỏ nó khỏi lời ký thuật Cơ Đốc, cho rằng các môn đồ đã không thật sự tin điều đó, hoặc cho rằng nó đã được thêm vào các ý tưởng của họ bởi một nhóm người nào đó về sau nầy. Như vậy là can thiệp vào các sự thật một cách bất chính. Kẻ nào nói rằng đức tin phục sinh là một ảo tưởng thì phải thành thật để thừa nhận rằng những Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã bị lừa dối, và rằng chính sự lừa dối nầy là nền tảng của niềm tin Cơ Đốc.
    Đây hoặc là một sự lừa dối hoặc là một sự thật đúng đắn. Bạn không thể nào cứ bám theo đường lối trung dung.

    Chương 8: Một Kẻ Khủng Bố Được Biến Đổi
    (Chúa Jêsus “Thay Đổi” Con Người Bằng Cách Nào? )
    Tất cả được tóm tắt như vầy: Vào thế kỷ thứ nhất, một nhúm người đã đưa ra lời khẳng định gây kinh ngạc rằng Đấng Mêsi mà người Do thái trông đợi hằng trăm năm đã xuất hiện.
    Những người còn lại cho đó là điều vô lý.
    Hãy hỏi một người có hiểu biết vì sao anh ta cho nó là điều vô lý, bạn sẽ có được câu trả lời như sau:
    NGƯỜI THÔNG MINH (có vẻ kiên nhẫn ): Anh xem đấy. Đấng Mêsi thực sự sẽ trở thành một lãnh tụ vĩ đại. Còn Đấng Mêsi mà những “Cơ Đốc Nhân” đề ra thì không phải thuộc loại đó. Tôi biết việc Ngài bị hành hình với hai tên tội phạm. Bạn không thể nào giữ im lặng đối với việc đó. Nhưng hãy tin tôi đi, Đấng Mêsi thật sự sẽ không bị đóng đinh -mà sẽ là một nhà lãnh đạo. Chuyện đó ư? Ồ! Tôi cũng biết rõ như anh việc họ làm om sòm chung quanh ý tưởng không thể tin được rằng Jêsus của họ không chết. Họ hàm ý gì? không chết ư? Tôi đã thấy những tên lính đóng ấn ngôi mộ có xác ông ta bên trong. Như thế đối với tôi là quá đủ.
    Việc Nghe Trộm Một Thầy Giảng
    Dẫu vậy, một nhóm nhỏ những con người cố chấp, bướng bỉnh vẫn cứ tin “vào cái ý tưởng không thể tin được nầy”; hết sức kiên quyết, không thỏa hiệp và không hề sợ hãi. Họ bắt đầu rao giảng điều đó và bắt đầu thuyết phục người khác tin rằng đó là lẽ thật. Chúng ta hãy nghe trộm một vài bài giảng của họ. Chúng ta là những người ngoài cuộc hiếu kỳ. Chúng ta muốn biết điều các Cơ Đốc Nhân đang lớn tiếng rao truyền, vì vậy chúng ta đi theo Phierơ khắp nơi và ghi chép các bài giảng của ông ta. Những ghi chú mà chúng ta gom góp được hóa ra giống với các dàn bài của một số bài giảng trong sách Côngvụ, là các bài giảng mà các học giả cho biết vào những ngày tháng hết sức sớm sủa trong sinh hoạt của Hội Thánh Cơ Đốc. (Chúng được tìm thấy trong Cong Cv 2:14-39; 3:13-26; 4:10-12; 10:36-43). Chúng tiêu biểu cho khuôn mẫu chung của việc giảng dạy có lẽ được theo sau. Trước hết, người giảng dạy “công bố” tin mừng. Người ấy cho chúng ta biết điều người ấy tin, trọng tâm niềm tin Cơ Đốc của người ấy thật sự là gì. Sau đó người ấy mới bàn đến vấn đề: Nếu đức tin nầy là thật, chúng ta phải làm gì với đức tin đó? Vì vậy khuôn mẫu trở thành: Trước hết là giảng dạy, sau đó là dạy dỗ; hoặc trước hết là công bố tin mừng, sau đó là một số lời khuyên về “điều phải làm đối với tin mừng.”
    Các Ghi Chú Về Bài Giảng
    Và rồi, sau khi chuẩn bị một tập giấy và một cây bút chì, hay đúng hơn là viết trâm và giấy chỉ thảo, chúng ta ghi lại các ghi chú của mình, đem các ghi chú đó về nhà với mình và nhờ đó một bài tập nhỏ ở nhà đã xuất hiện với dàn bài nháp về những gì các Cơ Đốc Nhân đầu tiên đã giảng dạy:
    1. Các tiên tri đã nói về “một Đấng sẽ đến.” Những hy vọng đó cộng với những khát vọng nay đã được ứng nghiệm. “Thời kỳ mới” đã bắt đầu.
    2. Điều nầy (xem bên trên) đã được làm rõ qua ảnh hưởng mạnh mẽ của Chúa Jêsus, (trọng tâm sứ điệp luôn luôn nói về Chúa Jêsus) những nỗ lực khác nhau để bày tỏ điều nầy là đúng như thế nào:
    a. dòng dõi Đavít của Ngài - những nỗ lực được dùng đến khi có cần để liên kết Chúa Jêsus với Vua Đavít.
    b. chức vụ của Ngài - đề cập đến nhiều điều Chúa Jêsus đã làm khi sống trên đất “Những công việc quyền năng” v.v..
    c. sự chết của Ngài - luôn luôn được nhấn mạnh. Quan trọng (Vì sao?)
    d. sự sống lại của Ngài - là điều làm thay dổi mọi sự. Do Đức Chúa Trời thực hiện. (Những người giảng đạo luôn luôn vui mừng về điểm nầy trong bài giảng. Họ tuyên bố đã được thấy Chúa Jêsus nữa chứ không phải chỉ là những lý thuyết đối với họ).
    3. Chúa Jêsus đã được tôn cao. Chắc chắn Ngài đang “ngự bên hữu Đức Chúa Trời” (có nghĩa là Đức Chúa Trời đã tôn quý và công nhận Ngài. Chúa Jêsus là Đấng Cứu Thế).
    4. Chúa Jêsus hiện diện trong Hội Thánh qua “Đức Thánh Linh” những người giảng đạo nói Đức Chúa Trời đang hành động trong họ qua “Đức Thánh Linh!” Đời sống quyền năng.
    5. Chúa Jêsus sẽ trở lại. Thời kỳ ứng nghiệm (xem # 1) không những đã bắt đầu (xem # 2) Ngài sẽ đạt đến sự ứng nghiệm trọn vẹn khi Chúa Jêsus trở lại với tư cách Chúa Tể mọi đời sống.
    * Vì vậy: (Bởi vì tất cả những điều đó là đúng, tức là từ # 1-5)
    6. Hãy trở lại và có một bắt đầu mới mẻ! (Được nhấn mạnh trong mọi bài giảng) hãy thú nhận những việc sai trái của chúng ta. Nếu làm như vậy, Đức Chúa Trời sẽ tha thứ. Đời sống mới, con người mới. Trở thành một thành viên trong nhóm bằng cách chịu báp tem _ đời sống được biến đổi (nghe thật thú vị).
    Sau Đó Là Gì?
    Điều nầy thật thú vị. Theo bất cứ cách giải thích nào, đây cũng không phải là những điều có thể được thực hiện nhanh chóng một cách sơ sài. Nếu những điều đó là thật, chúng đòi hỏi sự tái tổ chức triệt để nhất về đời sống. Nếu Đức Chúa Trời thật sự đã bày tỏ Ngài qua một cuộc đời đặc biệt trên đất nầy, thì điều quan trọng là phải biết càng nhiều càng tốt về đời sống ấy. Nếu Đấng đã sống đời sống ấy không bị cầm giữ bởi mồ mả, thì nhất thiết phải chấp nhận một thái độ hoàn toàn mới đối với sự chết cũng như sự sống. Nếu Jêsus ấy đang hành động tích cực trong Hội Thánh ngay lúc nầy, thì Hội Thánh phải là một phần quan trọng đặc biệt trong toàn bộ sự quan tâm của Đức Chúa Trời dành cho con người. Nếu công việc của Đức Chúa Trời trong Chúa Cứu Thế phải được hoàn tất vào một thời điểm về sau nầy, thì hẳn là điều quan trọng để sửa soạn cho sự kiện đó.
    Vì vậy mà mỗi bài giảng đều dẫn đến câu hỏi: Trước sự thật đó, chúng ta sẽ làm gì? Và chính để trả lời cho vấn đề nầy mà phần kết luận của bài giảng luôn hướng đến lời kêu gọi hoặc “dạy dỗ” (điểm số 6 trong phần ghi chú bên trên). “Các bạn phải làm gì? Phải ăn năn,” Phierơ đã nói như vậy. “Có nghĩa là các bạn phải chuyển hướng, thay đổi hướng đi của đời sống mình - vì đó chính là ý nghĩa của “sự ăn năn. Đời sống của bạn bây giờ phải có một trọng tâm mới: không phải chú vào chính mình, mà là Đức Chúa Trời, Đức Chúa Trời mà bạn đã được biết qua Chúa Cứu Thế Jêsus.”
    Một sự đoạn tuyệt với quá khứ, một sự mới mẻ bắt đầu. Thật vậy, đó là điều xảy đến với chính Phierơ. Phierơ đã từng chối bỏ Chúa Jêsus cách công khai, chối rằng ông không hề biết Ngài. Và sau đó Chúa Jêsus đã bị hành hình. Đã quá trễ để thay đổi. Nhưng không quá trễ, bởi vì Chúa Cứu Thế phục sinh đã hiện ra với Phierơ và đã tha thứ cho ông. Vì vậy Phierơ đã có một bắt đầu mới mẻ. Đời sống của ông được tái tạo. Vì vậy không lạ gì khi ông có thể nói như vậy!
    Tập trung Vào Các Trường Hợp Khác
    Nhưng Phierơ không đơn độc trong kinh nghiệm nầy. Việc được “tái tạo” là khá phổ biến giữa vòng tất cả những Cơ Đốc Nhân đầu tiên. Cách tốt nhất để hiểu điều đó hành động là hãy xem xét một số người “trước” và “sau” khi đời sống người ấy được thay đổi hoàn toàn bởi ảnh hưởng mạnh mẽ của Chúa Jêsus. Có một người là ứng viên nổi bật nhất cho một trường hợp mẫu như thế. Đó là Phaolô, kẻ khủng bố của các Cơ Đốc Nhân, người đã từng say mê với việc bắt giết họ, và rồi đã trở thành Phaolô, tôi tớ của Chúa Jêsus Christ, sẵn sàng từ bỏ chính mình để phục vụ Jêsus mà ông đã từng căm ghét. Đây là một con người, nói cách khác, đã trải qua một “sự đảo lộn” thuộc loại bất ngờ nhất, đến nỗi kẻ đã từng phải chịu trách nhiệm về những điều hung ác đã trở thành một vị anh hùng. Chúng ta nhìn thấy nơi Phaolô một gương mẫu của điều có thể xảy ra cho một con người khi Chúa hằng sống nắm giữ người ấy.
    Thường thì chúng ta có thể học biết nhiều về một con người nhờ đọc các lá thư thân tình của người ấy hơn là bởi đọc một tiểu sử “theo nghi thức” được viết bởi một người ngưỡng mộ nào đó. Đáng mừng thay, Phaolô là một người say mê viết thư, ông thảo vội vài dòng ở đây, một lá thư ngắn nguệch ngoạc ở kia, một bức thư dài hơn khi có thì giờ, đọc cho bất cứ ai có thể viết kịp những dòng chữ cuồng nhiệt của ông, và rồi thỉnh thoảng thậm chí lồng vào một câu chào thăm bằng chữ viết tay của chính mình. Có lẽ ông rất kinh ngạc khi biết rằng một số trong các bức thư của ông (mặc dầu chắc chắn không phải là tất cả) đã được bảo quản suốt mười chín thế kỷ và được góp nhặt lại như là những tác phẩm trước hết trong Tân ước của chúng ta. Ông không có tham vọng viết thần học trang trọng (trừ ra khả năng của một bức thư gởi cho các Cơ Đốc Nhân ở Rôma); ông chỉ bàn đến những vấn đề cụ thể khi chúng nổi lên. Một trong những đặc trưng đáng ngạc nhiên nhất của ông là khả năng “chuyển hướng” từ những vấn đề hết sức thực tế sang những vấn đề cao trọng nhất, hoặc ngược lại. Lời mô tả kinh điển của ông về ý nghĩa bữa Tiệc Thánh (ICo1Cr 11:23-26) đã bất ngờ chuyển thành một lời “quở trách” mạnh mẽ mà ông dành cho những người ở Côrinhtô bởi vì họ đã say rượu của sự Thông công! Và sau lời luận bàn cao quý của ông về sự sống đời đời (15:1-58) ông lập tức chuyển sang vấn đề hết sức thực tế là tiến hành sự giùm giúp đặc biệt cho những người nghèo.
    Chúng ta cần nhớ những điểm đó về các thư tín của Phaolô nếu chúng ta muốn hiểu được nhiều nhất từ các thư tín ấy.
    Việc đánh giá Phaolô
    Con người nầy có những thành tích gì? Ông ta là ai? Người ta đôi khi nghĩ Phaolô là một loại “chị em yếu đuối,” bởi vì dường như ông đau ốm suốt và phải có một bác sĩ ở với ông (là bác sĩ Luca, người đã viết sách Côngvụ.) Nhưng càng xem xét cuộc đời của Phaolô bạn sẽ càng thấy rằng đối với một người khỏe mạnh mà làm được những điều như Phaolô đã làm thì quả là một kỷ lục; còn đối với một người hay đau yếu mà làm được như vậy thì hẳn phải là một phép lạ. Chúng ta có thể kết luận an toàn rằng không có điều gì “yếu đuối” hay là hâm hẩm nơi Phaolô cả.
    Ông luôn luôn ở giữa những sự bận rộn của một cuộc chiến đấu. Nếu không phải là phiên của ông phải nói trước buổi xét xử của nhà vua, thì ông đang tìm cách thoát khỏi nhà tù. Nếu ông không bị đánh đòn, thì ông đang bị ném đá. Ông tiếp tục trên một cuộc hành trình dài bằng đường biển và bị đắm tàu. Ông tiếp tục một cuộc hành trình khác và lâm vào một vụ đắm tàu khác. Khi đến một thành phố mới, cơ may mà ông phải chạy khỏi thành ấy một vài ngày sau là điều khá chắc chắn. Bất cứ nơi nào ông đến thì dường như ông kích động, như có người đã nói, hoặc một cuộc dấy loạn, hoặc một cuộc phục hưng. Bạn không thể nào giữ ông yên được. Bỏ ông vào tù đi, ông sẽ làm cho người cai ngục quy đạo. Tìm cách giăng bẫy ông trong một thành có tường bằng cách canh tất cả các cửa ra vào. Ông sẽ trốn thoát trong ban đêm bằng cách được dòng qua tường trong một cái thúng.
    Con người “hay gây sóng gió nầy” sinh tại thành Tạtsơ, vốn không phải là “một thành kém cỏi,” như ông đã hãnh diện mà cho chúng ta biết. Ông là một công dân La mã, một điều khiến ông cũng rất tự hào. Ông kiếm sống với tư cách một người may trại để bán. Ông là một người Giuđa thuần chủng, ông cho chúng ta biết: “Tôi chịu phép cắt bì ngày thứ tám, về dòng Ysơraên, chi phái Bêngiamin, người Hêbơrơ, con của người Hêbơrơ, về luật pháp thì thuộc phe Pharisi; về lòng sốt sắng thì là kẻ bắt bớ Hội Thánh, còn như về sự công bình của luật pháp, thì không chỗ trách được” (Phi Pl 3:5, 6). Một người như thế hẳn rất khinh ghét những lời tuyên bố vô nghĩa của những Cơ Đốc Nhân. Vì vậy bằng một kiểu cách thẳng thắn rất đặc trưng của mình, Phaolô đã hành động. Ông nói, với sự bộc trực hết sức cùng các bạn hữu mình: “Tôi bắt bớ và phá tán Hội Thánh của Đức Chúa Trời quá chừng” (GaGl 1:13). Ông là người trước hết được nhắc đến trong Tân ước vào thời điểm một Cơ Đốc Nhân tên là Êtiên bị ném đá chết vì quan điểm của mình (Cong Cv 7:57; 8:1).
    Phaolô nghĩ đó là một ý tưởng rất tốt. Và ông đã giúp một tay.
    Tình cảnh khó khăn của Phaolô
    Phaolô lúc ấy là một con người nhỏ thó cứng rắn có uy, triệt để trung thành với lời tuyên bố cho rằng Cơ Đốc Giáo là điều hoàn toàn vô nghĩa, bất cứ con người nào xứng đáng sẽ tìm cách để quét sạch nó đi. Đó là Phaolô “đứng ở bên ngoài,” một con người đã “làm tàn hại Hội Thánh: sấn vào các nhà, dùng sức mạnh bắt đàn ông đàn bà mà bỏ tù.” (8:3).
    Nhưng cũng có một Phaolô “đã đứng vào phía trong” nữa. Ông là một con người tranh chiến với chính mình. Bên dưới hoạt động điên cuồng nầy, ông đang bị bối rối. Có lẽ ông bị bối rối trước cách vui mừng, hớn hở mà qua đó những Cơ Đốc Nhân khốn khổ phải chịu chết, bởi vì khi chết họ rõ ràng chẳng khổ sở gì cả. Xem con người của Êtiên nầy. Ông ta không khúm núm trước những kẻ bắt bớ mình, xin họ tha mạng. Không hề có một giây phút nào. Nhưng ông đã xin Chúa tha thứ cho những kẻ bắt bớ ông. Tưởng tượng xem! Một tiếng nói nhỏ bên trong Phaolô cứ tiếp tục chất vấn: “Rốt lại liệu có thể có điều gì vô nghĩa đối với người Cơ Đốc nầy không?”
    Một điều khác nữa làm Phaolô hoang mang. Ông giữ luật pháp Do thái rất nghiêm nhặt. Luật pháp cho ông biết chính xác những gì ông phải làm để có mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời. Nhưng luật pháp đã không làm cho Phaolô cảm thấy “phải lẽ” với Đức Chúa Trời. Trái lại, nó khiến ông cảm thấy trục trặc hơn bao giờ hết. Và càng nghiên cứu điều luật pháp bảo ông không được làm, như ông đã nói, ông lại càng muốn làm chính những gì luật pháp cấm đoán. Đây thật là một tình huống gay go! Mặc dầu ông tự xưng mình là “không chỗ trách được” đối với luật pháp, ông không thấy mình đang ở trong mối quan hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời, là điều tuyệt đối quan trọng đối với ông. Thay vì buông tha ông, luật pháp chỉ khiến ông bị nô lệ sâu hơn.
    Vì vậy, đây là cách Phaolô mô tả tình trạng khó khăn của ông. Ông là một tù nhân của luật pháp. Ông cảm thấy mình phải làm trọn mọi quy định theo luật pháp, làm tất cả điều gì mà luật pháp đòi hỏi, trước khi có thể xứng đáng với tình yêu của Đức Chúa Trời. Ông phải “kiếm được” quyền để có mối tương giao với Đức Chúa Trời. Và điều đó nghe có vẻ ổn thỏa ở bề ngoài: Sống một cuộc sống tốt lành, dùng luật pháp như một sự chỉ dẫn, và nhờ đó trở nên công bình ở trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng có một khó khăn ẩn dấu. Việc sống theo luật pháp không đưa Phaolô đến mối tương giao ấy với Đức Chúa Trời. Ông chán nản và thất vọng bởi sự bất năng của mình để làm đầy đủ hầu cảm thấy rằng mình thật sự dành được quyền trước tình yêu của Đức Chúa Trời. Thay vì cứu ông, luật pháp chỉ lên án ông triệt để hơn. Nó có thể chỉ cho ông thấy những chỗ ông bị thiếu kém, nhưng không thể cho ông sức mạnh để vượt lên trên những khiếm khuyết của mình. Ông đã thú nhận: “Bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn” (RoRm 7:18).
    Kẻ Khủng Bố Được Biến Đổi
    Một ngày nọ, chính Phaolô đang trong tâm trạng bối rối tức tối nầy chuẩn bị lên đường từ Giêrusalem đến Đamách. Ông có một mục đích hết sức rõ rệt trong đầu. Chính là để bắt càng nhiều Cơ Đốc Nhân càng tốt, trói họ đưa trở về Giêrusalem, và chứng kiến họ phải đối mặt cùng một số phận như Êtiên.
    Và rồi điều gì đó đã xảy ra. Sự kiện nầy được mô tả ba lần khác nhau trong sách Công vụ (Cong Cv 9:3-6; 22:6-10; 26:13-16), và các lời ký thuật cơ bản điều như nhau, chỉ khác biệt một vài chi tiết nhỏ. Phaolô thấy chính mình bị đối mặt với Chúa Jêsus là người mà ông đang bắt bớ.
    Điều nầy lật đổ toàn bộ thế giới của ông
    Ông khẳng định một cách chắc nịch: Chúa Cứu Thế Phục sinh đã hiện ra với ông.
    Trước câu hỏi của Phaolô: “Lạy Chúa Ngài là ai?” Ông đã nhận được một câu trả lời khiến ông bối rối: “Ta là Jêsus, Đấng ngươi đang bắt bớ.” Và Phaolô đã bắt đầu nhận ra rằng ông đang đi theo một con đường sai trật và tiến về hướng sai trái. Ông phải chuyển hướng theo ý nghĩa triệt để nhất của từ này; thay vì làm một kẻ tìm giết các Cơ Đốc Nhân, ông trở thành một người yêu mến các Cơ Đốc Nhân; thay vì chối bỏ Đức Chúa Trời của những Cơ Đốc Nhân, ông phải tận hiến chính mình cho Đức Chúa Trời của các Cơ Đốc Nhân. Nói tóm lại, Phaolô, một kẻ chống đối các Cơ Đốc Nhân khét tiếng, bản thân ông phải trở thành một Cơ Đốc Nhân. Một đề nghị thật sửng sốt. Một điều sửng sốt hơn nữa đó là ông đã làm chính xác điều đó!
    Một số người lập luận rằng sự thay đổi đầy kịch tính nầy trong Phaolô đã xảy ra tức khắc. Giây trước ông oán ghét Đấng Christ; giây sau ông yêu kính Ngài. Những người khác thì cho rằng Phaolô đã dịch chuyển theo hướng nầy một thời gian dài, mặc dầu quyết định “xảy ra lập tức” vào một thời điểm cụ thể. Hãy tưởng tượng bạn đang lắng nghe một cuốn băng nhạc giao hưởng. Bạn biết bài nhạc nầy khá rõ, và bạn thích cách dàn vĩ cầm chơi âm điệu chính. Thế rồi có một khúc không được rõ ràng lắm, sau đó các cây đàn vĩ cầm lại dạo khúc nhạc trở lại. Nhưng một ngày nọ, có lẽ hoàn toàn bất ngờ vào lần nghe thứ mười lăm hay có thể chỉ dần dần vào một vài lần nghe kế tiếp, bạn thấy ở phần giữa của cùng âm điệu đó, lần nầy được chơi thật chậm rãi bởi những cây đàn viôlông xen. Tất nhiên! Không có gì nhạc nhiên là các phần khác nghe có vẻ hơi lạ. Chúng chỉ là phần nhạc đệm. Nếu bạn khám phá điều nầy vào một thời điểm đặc biệt, thì vẫn đúng là sự khám phá nầy sẽ không đến nếu không nghe bài nhạc ấy mười bốn lần trước. Tương tự như vậy, mặc dầu nhiều người dường như “tìm được niềm tin” theo những cách thật ngoạn mục, nó có thể là kết quả của một cuộc hành hương thuộc linh lâu dài trước đó. Ngoài ra, cũng giống như sự nhận biết của bạn về âm điệu violon xen chỉ có thể đến dần dần, và vẻ đẹp của điệu nhạc ấy gia tăng mỗi lần bạn nghe, thì sự nhận biết thật sự của chúng ta về Chúa cũng có thể đến một cách hết sức giản dị, và tiếp tục sâu lắng xuyên suốt phần còn lại của đời sống chúng ta. Người không có một thời điểm sáng tỏ đột ngột không cần thiết phải mặc cảm rằng mình đã bị phủ nhận một kinh nghiệm xác thực về sự hiện diện của Đức Chúa Trời trong đời sống. Ngay cả Phaolô cũng không khẳng định toàn bộ câu chuyện được viết đã xảy ra trên đường đến Đamách; nhiều năm sau đó, ông đã viết rằng: “Không phải tôi... đã đến nơi trọn lành rồi đâu, nhưng tôi đương chạy, hầu cho giựt được” (Phi Pl 3:12).
    Điều gì đã xảy ra sau biến cố nầy? Ông đã tiếp tục chạy, suốt phần còn lại của cuộc đời mình, nhất định không dám “chống cự với sự hiện thấy trên trời” (Cong Cv 26:19). Sau một giai đoạn chuẩn bị, ông đã bắt đầu một trong những cuộc đời mạnh mẽ nhất từng được biết đến. Ông đã băng bộ khắp vùng Tiểu á và Âu Châu theo nghĩa đen, truyền bá “tin mừng” nầy và chứng tỏ sự khác biệt thế nào Tin lành đó đã đem lại. Bảo rằng không hề có một giây phút nào ảm đạm là chưa nói hết sự thật. Phaolô đã để lại một lời ký thuật như sau:
    Năm lần bị người Giuđa đánh roi, mỗi lần thiếu một roi đầy bốn chục; ba lần bị đánh đòn; một lần bị ném đá; ba lần bị chìm tàu. Tôi đã ở trong biển sâu một ngày một đêm. Lại nhiều lần tôi đi đường, nguy trên sông bến, nguy với trộm cướp, nguy với giữa dân mình, nguy với dân ngoại, nguy trong các thành, nguy trong các đồng vắng, nguy trên biển, nguy với anh em giả dối... chịu khó chịu nhọc, lắm lúc thức đêm, chịu đói khát, thường khi phải nhịn ăn, chịu lạnh và lõa lồ (IICo 2Cr 11:24-27).
    Không phải là một cuộc sống dễ dàng! Tại sao phải sống như thế! Tại sao “không tránh những rủi ro ấy đi”?
    Một Tình Huống Mới Mẻ Hoàn Toàn
    Bởi vì, như Phaolô đã nói: “Vì Đấng Christ là sự sống của tôi” (Phi Pl 1:21). Đấng Christ đã thay đổi hoàn cảnh của Phaolô như thế nào? Hãy nhớ rằng trước toàn bộ sự việc nầy, ông đã từng cuồng nhiệt làm đầy đủ để kiếm được tình yêu thương của Đức Chúa Trời, bằng cách tuân giữ luật pháp từng chi tiết. Và bây giờ Đấng Christ đã đến bằng một lời hứa cách mạng rằng điều đó không cần thiết. Thậm chí không thể được. Đấng Christ đã phó sự sống của Ngài, không phải cho kẻ xứng đáng mà cho kẻ không xứng đáng, không phải cho kẻ đáng nhận nữa mà cho kẻ không đáng nhận. Ngài đã lấp đầy khoảng trống lớn giữa Đức Chúa Trời và con người. Phaolô không thể kềm giữ sự kinh ngạc của ông trước sự kiện đó:
    Vả , họa mới có kẻ chịu chết vì người nghĩa ; dễ thường cũng có kẻ bằng lòng chết vì người lành . Nhưng Đức Chúa Trời tỏ lòng yêu thương Ngài đối với chúng ta khi chúng ta còn là người có tội thì Đấng Christ vì chúng ta chịu chết (RoRm 5:7, 8 in nghiêng là ý tác giả ).
    Hãy nói về tin tức bất ngờ ấy!
    Vì vậy Đấng Christ là phương cách hành động của Đức Chúa Trời do tình yêu ban cho cách nhưng không của Ngài. Luật pháp đã bị dẹp sang một bên. Tình huống không phải là tốt đủ để có được tình yêu của Đức Chúa Trời, mà là Đức Chúa Trời yêu bạn dầu bạn không thể tốt đủ để có được tình yêu của Ngài. Đối với Phaolô, mọi điều khác lưu xuất ra từ sự kiện đáng ngạc nhiên ấy.
    Từ Chết Qua Sống
    Đối với Phaolô sự khác biệt chính là khác biệt giữa chết và sống. Một sự tương phản ấn tượng hơn khó mà có được. Trước sự khác biệt nầy, đời sống mới là một khả năng dành cho ông, ông nói với chúng ta rằng con người cũ đã bị làm cho chết. Cũng giống như Đấng Christ đã chịu chết và sống lại, Phaolô cũng phải kinh qua hình thức đóng đinh và sống lại của chính mình. ông nói với chúng ta: “Tôi đã bị đóng đinh với Đấng Christ mà tôi sống không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi” (GaGl 2:20) con người cũ trước kia của Phaolô đã chết đi, và “con người mới” đã đến, một Phaolô mà đời sống được hướng dẫn bởi Chúa Cứu Thế là Đấng ngự trong ông. Ngài đang bắt đầu làm mới trở lại mọi sự.
    Sự tương phản, nếu được, có thể gây thậm chí ấn tượng hơn nữa. Bằng phương cách biểu tượng, Phaolô cho chúng ta biết chúng ta phải dự phần sự chết, và sự sống lại của Đấng Christ. Đây là cách ông giải thích phép báp tem:
    được dìm xuống nước = sự chết của bạn = Đấng Christ bị đặt trong phần mộ.
    Lên khỏi nước = một đời sống mới = sự sống lại của Chúa Cứu Thế vượt khỏi phần mộ.
    Không có sự chết, không có sự sống lại. Nhưng khi bạn làm một chính mình với sự chết của Đấng Christ, bạn sẽ chung phần sự sống lại của Ngài.
    Anh em chẳng biết rằng chúng ta thảy đều đã chịu báp tem trong Đức Chúa Jêsus Christ, tức là chịu phép báp tem trong sự chết Ngài sao, vậy chúng ta đã bị chôn với Ngài bởi phép báp tem trong sự chết Ngài hầu cho Đấng Christ nhờ vinh hiển của cha được từ kẻ chết sống lại thể nào, thì chúng ta cũng sống trong đời mới thể ấy (RoRm 6:3, 4).
    Tính mới mẻ của đời sống! Đó là điều đã xảy ra. Chúng ta có điều đó trong mấy từ.
    Tính cách mới mẻ nầy của đời sống đã tạo nên sự khác biệt gì cho cách sống của bạn? Hãy lắng nghe Phaolô mô tả bây giờ đời sống trông như thế nào , ngay cả khi đối mặt với gươm giáo , bị ném đá , bị chìm tàu , và những lính gác :
    Ai sẽ phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương của Đấng Christ? Có phải hoạn nạn , khốn cùng , bắt bớ , đói khát , trần truồng , nguy hiểm hay là gươm giáo chăng ... trái lại trong mọi sự đó chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần . Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết , sự sống , các thiên sứ , các kẻ cầm quyền , việc bây giờ , việc hầu đến , quyền phép , bề cao hay là bề sâu , hoặc một vật nào , chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jêsus Christ là Chúa chúng ta (RoRm 8:35, 35-39).
    Chính vì Phaolô tin điều đó, nên ông sẵn sàng “liều mình.” Ông đã làm một với Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, ai là người còn phải sợ gươm giáo khi một việc nêu trên là thật? Làm thế nào mà một việc nhỏ nhặt như sự chết có thể hủy phá mối tương giao như thế?
    Tin Mừng - Từ Nhà Tù
    Bạn bảo về nguyên tắc thì tốt. Nhưng liệu những điều kể trên có xảy ra đúng như vậy khi những khó khăn hoạn nạn xảy đến không? Chẳng hạn, giả sử như Phaolô bị ở tù. Ông sẽ hành động như thế nào trong loại tình huống ấy? Cái lý thuyết tốt đẹp bé nhỏ của ông há không gặp phải một sự thách thức khá là gay go sao?
    Một câu hỏi thích đáng. Chúng ta có thể đưa ra một câu trả lời thích đáng. Bởi vì trên thực tế, Phaolô đã trải qua rất nhiều thời gian trong tù. Một số trong các “bức thư trong tù” của ông đã được gìn giữ. Hãy đọc một trong các thư tín ấy (Philíp) chúng ta có thể biết Phaolô đã phản ứng thế nào trong những hoàn cảnh khó khăn thật sự.
    Phaolô có ngã lòng khi phải ở sau các song sắt không? Không, thậm chí ông còn vui mừng vì điều đó, bởi vì như vậy có nghĩa là Tin lành có thể được bày tỏ cho những người lính gác, ông nhận biết rằng điều xảy đến cho ông không quan trọng, miễn là Đấng Christ được rao giảng. Thậm chí việc ông sống hay chết cũng trở nên không đáng kể - ông thích được đi ở với Đấng Christ, nhưng ông biết rằng ông còn công việc phải làm bây giờ, và ông vẫn phải còn ở trong xác thịt. Ông nói chịu khổ vì cớ Đấng Christ là một điều vinh hạnh. Chính những người Philíp cũng không phải lo lắng, họ phải dâng các lời cầu xin lên cho Chúa và tin cậy Ngài bởi vì “sự bình an của Đức Chúa Trời, vượt quá mọi sự hiểu biết, sẽ giữ gìn lòng và ý tưởng anh em trong Đức Chúa Jêsus Christ” (Phi Pl 4:7). Phaolô không phàn nàn về tình trạng nơi ông ở. Ông có thừa sức trong hoàn cảnh ấy: Tôi đã tập hễ gặp cảnh ngộ nào, cũng thỏa lòng ở vậy. Tôi biết chịu nghèo hèn, cũng biết được dư dật. Trong mọi sự và trong mọi nơi, tôi đã tập cả, dầu no hay đói, dầu dư hay thiếu cũng được. Tôi làm được mọi sự nhờ đấng ban thêm sức cho tôi . (4:11-13 bổ sung in nghiêng).
    Đó là cách Chúa Jêsus “biến đổi” Phaolô. Giữa những hoàn cảnh khó khăn rối động phaolô vẫn có thể thanh thản. Khi sự việc trở nên gay go, Phaolô có thể vui mừng. Không những vậy, ông còn có thể kêu gọi người khác hãy bình thản và vui mừng nữa.
    Chuyển Sang Tình Huống Của Chúng Ta
    Toàn bộ điều đó nghe có vẻ phấn khích khi được áp dụng cho Phaolô. Ông ta dường như cứ tà tà trên loại hệ thống tăng tốc thuộc linh, trong khi chúng ta phải khổ sở tiến bước chậm chạp, nhiều khi cũng không chắc là mình có tiến được chút nào không. Tuy nhiên kinh nghiệm của Phaolô không phải hoàn toàn “xa lạ” đối với chúng ta. Đúng là chúng ta không cần phải cải đạo từ tinh thần luật pháp Do thái. Nhưng có thể chúng ta cần phải cải đạo từ một loại tinh thần luật pháp Cơ Đốc, một tôn giáo bảo chúng ta rằng phải là những cậu bé cô bé tốt và làm tám điều kế tiếp không thất bại nếu muốn Đức Chúa Trời yêu thương chúng ta. Có lẽ chúng ta thậm chí cần được chuyển đổi từ một loại Cơ Đốc theo tập tục vốn buồn tẻ, chán ngắt và thiếu sức sống. Dầu chúng ta có trải qua loại kinh nghiệm quy đạo ngoạn mục giống như Phaolô hay không thì điều đó cũng không quan trọng lắm. Điều quan trọng chính là bằng cách nầy hoặc cách khác chúng ta đến chỗ có thể nói với Phaolô rằng: “Đấng Christ là sự sống của tôi.” Bởi vì khi điều đó bắt đầu xảy ra, thì sự sống đối với chúng ta trong thời của mình cũng thú vị y như đã xảy ra cho Phaolô trong thời của ông.

    Chương 9: Khi Đức Chúa Trời “Liều Mình”
    (Vì Sao Con Người Muốn Giết Chúa Jêsus? )
    Một mặt, đó là lỗi của những con sư tử, chúng quá đói, mà các Cơ Đốc Nhân lại quá thơm ngon. Và khi thời gian trôi đi, ngày càng có nhiều sư tử ăn thịt nhiều Cơ Đốc Nhân hơn nữa, bởi vì nhà nước hết sức muốn để tiêu diệt đạo giáo mới và nguy hiểm nầy. Tất nhiên, phần lớn những người đã từng biết Chúa Jêsus đều đã qua đời hết rồi. Những người khác thì đã bị tuyên án và bị đày đến các khu mỏ ở tại đảo Sardinia.
    Những người khác rút vào bí mật. Nhưng vì bất cứ lý do nào, vấn đề còn lại là thế hệ đã từng biết Chúa Jêsus “trong xác thịt” đang biến mất, và có một nhu cầu để tập hợp một số những bộ sưu tập nhỏ bị tan rải gồm các câu chuyện về Ngài thành một hình thức lâu bền.
    Công Việc Phát Hiện Văn Phẩm
    Chúng ta hãy bắt đầu với công việc điều tra hơi riêng tư. Bất cứ ai từng đọc ba sách đầu của Tân ước (Mathiơ, Mác và Luca), đều sẽ nhận ra rằng chúng là sản phẩm cuối cùng của một nỗ lực nhằm “tập hợp và ghi chép lại” những điều quan trọng về Chúa Jêsus. Chúng ta gọi ba sách nầy là “Các Sách Tin lành Cộng Quan.” Bởi vì khi nghiên cứu chúng với nhau, tức là theo các mục song song, chúng ta có thể thấy những điểm tương tự và các mối quan hệ rõ ràng hơn.
    Vì vậy, hãy tưởng tượng như đang làm điều đó. Chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy sách Mác ngắn nhất trong ba sách, cả Mathiơ lẫn Luca đều tuân theo dàn bài của Mác. Khi một trong hai sách rời khỏi phần ký thuật của Mác để mang vào các dữ kiện mới của chính mình, thì chắc chắn tác giả sẽ quay trở lại sách Mác ngay tại điểm mà người ấy bỏ dở, và tiếp tục lại theo sách Mác. Ở nhiều chỗ, các từ giống hệt nhau trong cả ba sách. Mathiơ đã chiếm dụng hơn 90 phần trăm các từ chính xác của Mác, Luca sử dụng trên 50 phần trăm. Các học giả kết luận rằng Mathiơ và Luca hẳn đã để phần ký thuật của sách Mác ở trước mặt họ trong khi viết sách.
    Bây giờ chúng ta hãy cắt ngắn và loại bỏ tất cả những chỗ ba sách giống hệt nhau. (Việc nầy làm mất khá nhiều phần của sách Mác.) Chúng ta có được một khám phá thú vị đó là vẫn còn rất nhiều phần trong Mathiơ và Luca nguyên văn giống hệt nhau. Rõ ràng là họ cùng sử dụng một nguồn phương tiện khác nữa ngoài sách Mác. Người ta chưa hề tìm được bản sao của nguồn tài liệu nầy, và các học giả chỉ đơn giản gọi nó là “Q,” bởi vì từ tiếng Đức “Quelle ” có nghĩa là (bạn đoán được không?) “nguồn tài liệu.” “Q” dường như là một bộ sưu tập gồm những câu nói của Chúa Jêsus. Bài giảng Trên Núi là một ví dụ của tài liệu từ “Q.”
    Bây giờ nếu bạn gạch bỏ tất cả những chỗ Mathiơ và Luca đồng tình, mỗi sách sẽ vẫn còn lại một số lượng các câu đáng kể, các học giả kết luận rằng các tác giả hẳn phải có thêm các nguồn thông tin riêng.
    Điều nầy có nghĩa là các sách Tin lành Cộng Quan hiện nay của chúng ta dựa trên bốn nguồn thông tin căn bản:
    1. Sách Mác - cũng được Mathiơ và Luca sử dụng.
    2. Tài liệu “Q” - được Mathiơ và Luca sử dụng thêm.
    3. Tài liệu đặc biệt của Luca.
    4. Tài liệu đặc biệt của Mathiơ.
    Giăng Mác (Và Một Số Người Khác) Đã Bắt Đầu Công Việc
    Điều khiến cho công việc viết lách bắt đầu là cơn hỏa hoạn lớn ở tại Rôma vào khoảng năm 64 S.C. Phần lớn thành nầy bị phá hủy. Nero, Hoàng đế, cần một vật đứng mũi chịu sào, vì vậy ông đã đổ tội cho các Cơ Đốc Nhân. Kết quả là nhiều Cơ Đốc Nhân đã bị giết. Một người tên là Giăng Mác đã trốn thoát. Ông là một người đồng hành với Phaolô và là một người bạn của Phierơ, ông đã quyết định rằng trước khi sự việc nầy lại xảy ra một lần nữa, ông sẽ ghi chép lại tất cả những thông tin mà ông có thể góp nhặt được về Chúa Jêsus. Không lâu sau đó cuốn sách nhỏ của ông đã xuất hiện: “Tin lành của Chúa Jêsus Christ.” Đây không phải là một “cuốn tiểu sử” hay bản tóm tắt ngắn gọn về Chúa Jêsus; mà là một nỗ lực để chứng tỏ rằng Ngài thật sự là Đấng Mêsi đã được hứa. Giăng Mác chia sẻ với các độc giả của mình một bộ sưu tập gồm ít nhiều những sự việc rời rạc, tất cả đều nhấn mạnh và công bố “tin mừng” về hành động của Đức Chúa Trời qua Chúa Jêsus Christ.
    Sách Mác có lẽ đã có sớm vào khoảng năm 65 S.C. Trong vòng hai mươi hoặc ba mươi năm tiếp đó một số các bản ký thuật khác về “tin lành” đã xuất hiện, hai sách trong số đó còn tồn tại. Một trong hai sách nầy do một người ngoại quy đạo, là bác sĩ Luca, dường như là bác sĩ chăm sóc cho Phaolô, viết. Bác sĩ Luca không những đã viết quyển sách chúng ta nhắc đến ở chương vừa rồi, là Côngvụcácsứđồ, mà còn viết một quyển sách sớm hơn, trong đó ông cũng đã thu thập những điều quan trọng phải được ghi nhớ về Chúa Jêsus. Như chúng ta đã thấy, ông đã tự do sử dụng sách Mác, nguồn tài liệu “Q,” và nguồn thông tin đặc biệt của ông. Ông nhấn mạnh đặc biệt sự kiện Chúa Jêsus là “tin mừng” cho mọi người, thuộc bất cứ chủng tộc nào, quốc tịch, hoặc địa vị gì trong đời sống kinh tế.
    Cũng vào thời điểm nầy, một quyển sách khác đã xuất hiện, do một người Do thái tên là Mathiơ viết, ông đưa ra lời kêu gọi mạnh mẽ dành cho đồng bào Do thái của mình để sẵn lòng tiếp nhận đức tin Cơ Đốc. Ông đã ghi nhận những sự chịu khổ đặc biệt để chứng tỏ Chúa Jêsus đã làm ứng nghiệm các lời tiên tri trong Cựu ước như thế nào, ông cũng đưa vào phần lớn các dữ kiện từ những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus. Ông cũng đã sử dụng rất nhiều tài liệu của sách Mác, nguồn “Q,” và nguồn thông tin riêng của ông.
    Có lẽ một thời gian ngắn sau “Các Sách Tin Lành Cộng Quan,” sách Phúc âm Thứ Tư đã xuất hiện. Thay vì sử dụng lối văn thuật truyện rõ ràng dứt khoát của các sách Cộng Quan, tác giả sách Phúc âm Thứ Tư kéo dài một vài sự kiện và xem xét ý nghĩa nội tại của chúng. Ở một vài chỗ, ông tiến hành những thay đổi quan trọng (có lẽ để rõ hơn) trong trình tự thời gian của cuộc đời Chúa Jêsus. Ai đã viết sách Phúc âm Thứ Tư, chúng ta không rõ. Không có chỗ nào tác giả nêu danh tánh mình. Nhiều người khẳng định rằng ông chính là sứ đồ Giăng, nhưng những người khác lại cảm thấy rất có khả năng ông ta là một “Giăng” khác, có thể là Giăng Trưởng Lão, người đã sống ở tại Êphêsô. Trước tất cả các sự kiện, ông là một con người đã suy gẫm rất sâu sắc về ý nghĩa cuộc đời Chúa Jêsus, và đã đưa những kết quả suy xét nầy vào trong một kiệt tác của sự suy gẫm tận hiến.
    Lời Tuyên Truyền Mang Tính Tôn Giáo
    Như vậy đây là bốn lời ký thuật cho chúng ta những thông tin cụ thể về cuộc đời của Chúa Jêsus. Nhưng bốn sách nầy không phải chỉ là “các bộ sưu tập thông tin.” Chúng không được định ý nhằm trở thành những tiểu sử khách quan, vô tư, mà là những lời làm chứng, những lời ký thuật “có thiên kiến” thẳng thắn, được viết bởi những người tin Chúa Jêsus là Con Đức Chúa Trời. Đây là lý do chúng được gọi là “các sách phúc âm” hoặc “tin lành,” thay vì là các tiểu sử. Chúng ta có thể tự do gọi các sách nầy là “các tác phẩm tuyên truyền mang tính tôn giáo,” miễn là chúng ta hãy nhớ rằng “tuyên truyền” không nhất thiết là một từ xấu. Nó cũng nói lên một nỗ lực để thuyết phục chúng ta về điều gì đó tốt lành.
    “Một Con Trẻ Được Sanh Ra”
    Chúng ta được cho rất ít thông tin về cuộc đời thơ ấu của Chúa Jêsus. Mác, sách ký thuật đầu tiên hết, bắt đầu với sứ mạng của Giăng Báp tít nhanh chóng và sống động, trong vòng chín câu, Jêsus, một người nam đã trưởng thành, đã xuất hiện trong khung cảnh. Giăng, sách ký thuật muộn nhất, có một “phần mở đầu” hết sức quan trọng (và khó hiểu) nói về ý nghĩa sự giáng sinh của Chúa Jêsus, nhưng về bản thân sự giáng sinh và đầu đời của Chúa Jêsus thì ông cũng không nói gì cả. Mặc khác trong Luca và Mathiơ chúng ta có những câu chuyện đẹp đẽ về sự giáng sinh của Chúa Jêsus. Những lời thuật truyện nầy cho chúng ta biết gì về ý nghĩa của Chúa Jêsus? Chúng ta học được rất nhiều, chẳng hạn, về tầm quan trọng của Chúa Jêsus, về câu chuyện được ký thuật trong sách Luca rằng khi Đức Chúa Trời lựa chọn để sự giáng sinh của Chúa Jêsus được bày tỏ cho loài người, Ngài đã không công bố điều đó trong các cung điện của giới cầm quyền Palettin hoặc các thị trưởng của các thành phố lớn. Thay vào đó, tin tức trước hết đã được loan báo cho một nhóm những người chăn chiên, là những người thuộc giai cấp hết sức tầm thường trong xã hội. Sự giáng sinh của Chúa Jêsus cho thấy mối quan tâm của Đức Chúa Trời với những kẻ thấp hèn nhất. Cũng vậy, câu chuyện về các nhà thông thái trong Mathiơ chứng tỏ rằng sứ điệp không chỉ cho người nghèo và các dân thấp hèn, nhưng cho mọi người ở khắp mọi nơi, không những ở tại Paléttin, mà ở các đầu cùng đất, giàu cũng như nghèo, khôn ngoan cũng như mộc mạc, ngoại quốc cũng như bản xứ. Và khi Luca cho chúng ta biết rằng Chúa Jêsus được sinh ra trong một chuồng bò, chúng ta được nhắc nhở rằng Ngài đã không đến như một hoàng tử cao sang và quyền quý. Nhưng với tư cách một con người không có chỗ để gối đầu. Con người mà “không có chỗ trong quán” cho Ngài cũng sẽ là con người bị loài người “chối bỏ và khinh khi.”
    Điều quan trọng là đừng trở nên quá tình cảm về các câu chuyện giáng sinh. Thật dễ để phóng đại về “em bé Jêsus” và thật là một bức tranh dễ thương mà khung cảnh chuồng bò để lại trên một tấm thiệp Giáng sinh với “các thiên sứ xinh xắn bé nhỏ” bay trên đầu Ngài. Chúng ta đừng quên rằng con trẻ mà mọi người ra sức sùng bái lớn lên sẽ trở thành một con người mọi người ra sức đóng đinh. Sự giáng sinh không phải là bắt đầu của một “câu chuyện thành công” của loài người; nó là sự bắt đầu của một câu chuyện mà trong đó người anh hùng sẽ bị chối bỏ như một kẻ hung ác, và những con người mộ đạo tốt lành vui mừng hết sức khi họ giết chết Ngài.
    “Những Năm Ẩn Dật”
    Ba mươi năm đầu trong cuộc đời của Chúa Jêsus thật sự là một chỗ trống trong các nguồn tài liệu của chúng ta, vì vậy mà chúng thường được gọi là “những năm ẩn dật.” Luca chỉ gộp vào câu chuyện thật duy nhất, chuyện Chúa Jêsus lên đền thờ Giêrusalem vào năm mười hai tuổi, là một sự kiện hoàn toàn có khả năng xảy ra trong cuộc đời của một cậu bé Do thái. Hơn nữa, chúng ta đều biết rằng Chúa Jêsus là thành viên của một gia đình đông con, với bốn anh em trai và ít nhất là hai em gái (Mac Mc 6:3; Mat Mt 13:55, 56). Chúng ta biết rằng thói quen của Ngài là tham dự các buổi thờ phượng vào ngày Sabát (LuLc 4:16). Và bởi vì về sau Ngài tỏ ra có sự hiểu biết thấu đáo về Cựu ước, chúng ta có thể suy ra rằng Ngài đã học tại một trường của nhà hội khi còn là một cậu bé ở tại Naxarét. Chúng ta biết rằng cha Chúa Jêsus là một người thợ mộc và rất có thể Chúa Jêsus cũng là một người thợ mộc trong làng cho đến năm Ngài khoảng ba mươi tuổi, nếu như mọi người thường phỏng đoán Giôsép đã qua đời từ khi Chúa Jêsus còn nhỏ, thì có thể Chúa Jêsus là người lao động chính của gia đình đông con nầy.
    Nguồn phương tiện khác duy nhất của chúng ta về những sự kiện gián tiếp trung thực dành cho giai đoạn nầy được tìm thấy trong các câu chuyện hoặc các ví dụ của Chúa Jêsus, là những sự kiện cho chúng ta một bức tranh về những gì mà cuộc sống ban đầu của Ngài có thể đã diễn ra. Ngài chắc chắn đã nhìn thấy những đứa trẻ chơi trong chỗ chợ (7:31-35). Những phụ nữ may vá các miếng vải và quần áo cũ (5:36), hoặc những người đàn ông thử cho rượu mới vào các bầu da cũ và làm cho bầu da nứt ra (37 -39), hoặc một người phụ nữ tìm được một đồng bạc lạc mất và gọi các bạn mình đến để vui mừng (15:8-10), hay một người chăn chiên thuật lại thể nào ông đã trở lại ràn chiên và tìm thấy một con chiên bị mất rồi ông phải đi ra vào giữa đêm để tìm nó (1 -7).
    Những Diễn Tiến trên Sân khấu: Giăng Vào
    Nhưng bây giờ vở kịch thật sự mới bắt đầu. Các sự việc bắt đầu hiện rõ với sự xuất hiện của người thanh niên tên là Giăng, một nhà hùng biện nóng nảy - điều mà ngày nay có thể sẽ bị gọi là “kẻ kích động quần chúng” - ông rao giảng trong khu vực đồng vắng gần Biển Chết. Dân chúng kéo đến để nghe ông. Giăng không mang đến cho họ sự dễ chịu. Ông là một người thẳng thắn và dám nói thật. Ông không phải là người không thẳng tay. Khi vua Hêrốt Antiba phạm tội tà dâm, Giăng cáo cùng ông rằng ông đã sai. Điều đó khiến Giăng phải trả giá bằng cái đầu của mình. Giăng bảo dân chúng rằng ngày phán xét hầu gần và tốt hơn họ phải chuẩn bị cho ngày ấy. Ông nói Đức Chúa Trời sẽ kíp sai Đấng Mêsi của Ngài đem ngày ấy đến. Ông nói họ không thể thoát được bởi lời biện hộ yếu ớt rằng họ là “dân được chọn,” về dân ấy Đức Chúa Trời có thể dấy lên một dân từ chính những hòn đá nầy. Ông nói rằng tốt hơn là họ phải ăn năn và tin Ngài, và rằng họ phải chứng tỏ ý định của họ bằng việc chịu báp tem. Vì vậy mà ông được gọi là Giăng Báp tít.
    Những Diễn Tiến Trên Sân Khấu: Chúa Jêsus Vào
    Một ngày nọ, khi Giăng đang rao giảng, thì Chúa Jêsus, một thanh niên khoảng ba mươi tuổi, xuất hiện trong đám đông và xin chịu báp tem. Có lẽ Ngài muốn chứng tỏ rằng Ngài tin nơi Giăng, hoặc có thể Ngài muốn làm một với nhân loại tội lỗi mà Ngài sẽ phục vụ. Dầu là lý do gì nào, Giăng (người cảm biết mình không xứng đáng làm điều đó), đã làm báp tem cho Chúa Jêsus tại sông Giôđanh. Giây phút ấy mang một tầm quan trọng lớn lao đối với Chúa Jêsus, bởi vì dường như Ngài đã nhận được sự khẳng định không thể nhầm lẫn rằng Ngài có được sự kêu gọi đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã dành cho Ngài.
    Vì vậy Chúa Jêsus lập tức đối mặt với câu hỏi: “Nếu tôi đã được Đức Chúa Trời kêu gọi, nếu tôi phải trở thành Đấng Mêsi, Ngài kêu gọi tôi phải trở thành Đấng Mêsi như thế nào?” Chúa Jêsus một mình vật lộn với nan đề nầy. Những cám dỗ để chọn đường tắt khác nhau được đề ra cho Ngài:
    Ngài nhìn thấy những viên đá có hình dạng như ổ bánh mì ở chung quanh mình, tại sao không biến chúng thành bánh? Đấng Mêsi phải có loại quyền phép ấy. Thật là một ý tưởng tuyệt vời! Hãy cho những người dân Paléttin bị áp bức nghèo khổ thức ăn đáp ứng những cái bụng đói của họ và không có điều gì mà họ sẽ không làm cho Ngài. Hãy đổ đầy bao tử của họ, rồi sau đó hãy đổ đầy linh hồn họ. Thật tuyệt vời! Họ chắc chắn sẽ bằng lòng lắng nghe bất cứ ai làm thay đổi tình trạng kinh tế của họ. Và rốt lại, há không phải đó là điều dân chúng đang trông đợi từ Đấng Mêsi sao? Ai đó làm giảm nhẹ tình trạng đói nghèo tồi tệ của họ, không phải đó thật sự là cách để bày tỏ lòng thương xót của Ngài đối với họ sao?
    Nhưng một tiếng nói khác đã can thiệp vào, tiếng nói của con người Jêsus đích thực, là Đấng tìm thấy trong cơ nghiệp Do thái của Ngài một lẽ thật quan trọng hơn: “Người ta sống chẳng phải nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời” (PhuDnl 8:3). Ngài không nói rằng bánh là điều không cần thiết, nhưng chỉ bánh không thì không đủ. Còn có một nhu cầu cơ bản hơn trong con người.
    Một hình ảnh khác xuất hiện. Thay vì dùng bánh như một thứ mồi nhử, tại sao không dùng chính tôn giáo như là một thứ cám dỗ, bằng cách phô mình như một người thi thố phép lạ? Hãy leo lên ngay nóc đền thờ và nhảy xuống; hãy sử dụng quyền phép của Đức Chúa Trời để đáp xuống mà không bị thương tích. Điều nầy sẽ là một bằng chứng ngoạn mục về sự kêu gọi của Đấng Mêsi. Bằng cách thách thức quyền phép của Đức Chúa Trời, Chúa Jêsus sẽ chứng minh được quyền phép của Đức Chúa Trời. Và rồi dân chúng sẽ lưu ý. Đây há không phải cũng là điều mà dân chúng khao khát sâu xa sao? Một Đấng Mêsi mà có những lời tuyên bố hết sức dứt khoát như vậy thì dân chúng có thể tụ tập chung quanh Đấng ấy mà không hề có một sự phân vân hoặc thắc mắc nào phải không? Há không phải Ngài phải làm những việc lớn như vậy cho họ nếu như Ngài là lãnh tụ của họ sao?
    Nhưng một lời khác lại đến: “Ngươi đừng thử Chúa là Đức Chúa Trời ngươi” (6:16). Và Chúa Jêsus đã từ chối ý tưởng chinh phục những người theo mình bằng những phương tiện ngoạn mục (hãy nhớ điều nầy khi chúng ta thảo luận về các phép lạ của Chúa Jêsus).
    Một con đường tắt thứ ba được đề nghị. Chúa Jêsus nhìn thấy tất cả các vương quốc trải ra ở trước mặt Ngài. Bằng cách thờ phượng điều ác, Ngài có thể giành được quyền kiểm soát chính trị trên tất cả. Khi ấy dân chúng sẽ lắng nghe. Thật là một cơ hội quý báu! Há Ngài không thật sự có bổn phận ấy với dân mình sao, phải giải phóng họ khỏi ách nô lệ La mã? Phải là một lãnh tụ chính trị để chung quanh Ngài họ có thể tập hợp? Điều đó há không xứng đáng với một vài sự thỏa hiệp sao?
    Nhưng Chúa Jêsus cũng từ bỏ lời đề nghị đó. Ngài không phải đến để phục vụ điều ác. “Ngươi phải thờ phượng Chúa là Đức Chúa Trời ngươi, và chỉ hầu việc một mình Ngài mà thôi” (6:13).
    Như vậy Chúa Jêsus đã từ chối loại tư cách Mêsi thờ lạy thế lực của điều ác, thay vào đó Ngài dâng chính mình cho Đức Chúa Trời chân thật. Đức Chúa Trời, chứ không phải Satan, là đối tượng lòng trung thành của Ngài. Ngài cũng sẽ không phải là loại Mêsi mà dân chúng muốn. Ngài phải là Đấng Mêsi theo các điều kiện của Đức Chúa Trời, chứ không phải các điều kiện của họ.
    Diễn Tiến Của Sân Khấu: Chuyển bối cảnh sang vùng Galilê.
    Phần lớn chức vụ của Chúa Jêsus diễn ra ở gần Biển Galilê ở phía bắc Paléttin. Vì có thể chỉ ngắn ngủi trong vài tháng, chắc chắn là không lâu hơn hai hoặc ba năm, Chúa Jêsus đã dấn thân vào một chức vụ tích cực. Ngài đã làm những gì?Trước hết Chúa Jêsus rao giảng , thỉnh thoảng ở tại Cabênaum (là nơi dường như là một loại “tiền trạm”), đôi khi trong các nhà hội, và đôi khi dọc theo các con đường ở miền quê hoặc trên các vùng đồi. Mác cho chúng ta một tóm tắt cô đọng về điều Ngài rao giảng: “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành” (Mac Mc 1:15). Chúa Jêsus phán rằng thời kỳ mà các tiên tri đã nói hiện đến rồi. Thời kỳ chuẩn bị đã qua. Nước Đức Chúa Trời đang đến gần. (Chúng ta sẽ xem xét ý tưởng “Nước Đức Chúa Trời” trong Chương 16 ). Vì điều đó, dân chúng sẽ phải làm gì? Họ phải “ăn năn,” quay trở lại, bắt đầu trở lại. Nếu các sự việc nầy là như vậy thì đời sống bây giờ hẳn phải đổi khác. “Tin lành” tạo ra toàn bộ sự khác biệt.
    Chúa Jêsus cũng đã dạy dỗ . Ngài dành phần lớn thời gian để tỏ rõ cách bạn phải sống sau khi đã cam kết chính mình với Chúa và Nước Ngài. (Chương 18 - 23 sẽ bàn đến những sự dạy dỗ của Chúa Jêsus).
    Và rồi sau đó, Chúa Jêsus cũng đã tập hợp một nhóm các môn đồ chung quanh Ngài. Một ít người đã được thuyết phục rằng không những Chúa Jêsus đang rao giảng lẽ thật, mà chính mình Ngài là lẽ thật. Họ giúp đỡ Ngài trong tất cả công việc Ngài làm. “Nhóm nội bộ” này được gọi là các sứ đồ , theo tiếng Hylạp có nghĩa là “sứ giả” hoặc là một người tuyên bố với uy quyền. Họ gồm đủ mọi thành phần - các ngư phủ từ vùng Galilê, một thành viên của đảng cuồng nhiệt Xêlốt, hai cặp anh em ruột, một người thâu thuế (nghề nghiệp bị khinh bỉ nhất ở tại Paléttin), một cá nhân đơn độc đến từ Giuđê tên là Giuđa và một vài người khác. Việc Chúa Jêsus có khả năng uốn nắn những cá tánh khác biệt như vậy thành một cộng đồng đích thực là một chỉ báo sức hữu hiệu thật ấn tượng của Ngài. Ngoài các sứ đồ, còn có nhiều môn đồ , “những người học hỏi ” hoặc tập sự, là những người sốt sắng muốn biết nhiều hơn về Chúa Jêsus. Một số trong vòng họ có lẽ ban đầu là môn đồ của Giăng Báptít, Chúa Jêsus dạy dỗ họ và đôi khi sai phái họ đi ra trong những nhóm nhỏ để rao giảng, hầu cho sứ điệp của Ngài có thể được công bố rộng rãi hơn.
    Thắc Mắc Từ Khán Giả: Còn Về Những Phép Lạ Kia?
    Chúa Jêsus cũng đã thi hành nhiều “công việc quyền năng” hay là các phép lạ trong chức vụ của Ngài . Chúng ta phải dừng lại ở đây, bởi vì chính những phép lạ nầy là trở ngại thật sự cho nhiều người.
    Chúng ta phải rõ ràng về một điều: Các phép lạ nầy không phải “ sau nầy được thêm vào” những lời ký thuật về Chúa Jêsus. Chúng đã có mặt trong các tài liệu sớm sủa nhất mà chúng ta có. Loại bỏ chúng là làm ngược lại mà không được phép đối với các lời ký thuật. Các phép lạ là trọng tâm toàn bộ mục đích của các tác giả Tin lành. Ví dụ, Chúa Jêsus đến với sứ điệp của Nước Trời, một Vương Quốc hiện đang thực hữu trong đời sống của con người. Ngài nói cho dân chúng biết Nước Trời như thể nào, bằng những câu chuyện và những sự dạy dỗ. Không những Ngài mô tả nước trời; mà Ngài còn làm mẫu hoặc cư xử cho thấy đời sống trong Nước Trời là thể nào. Trong ý nghĩa nầy, một số các phép lạ là “những ví dụ mẫu.” Vào thời đó bệnh tật được giải thích như là một hậu quả của tội lỗi con người. Chúa Jêsus chữa lành một người bệnh bằng cách rờ đến người ấy và mang lấy sự ô uế trên chính mình Ngài. Bởi hành động của Ngài, Chúa Jêsus đã trình bày thật ấn tượng chính Ngài là người “gánh tội lỗi,” người đã mang trên chính thân Ngài tội lỗi của người khác. Đây là một trong các đặc trưng của đời sống trong Nước Trời, là tội lỗi được tha thứ (điều nầy cho thấy ý nghĩa đặc biệt về tầm quan trọng của sự chết Chúa Jêsus, chúng ta sẽ thấy trong chương kế tiếp). Một lần khác, Chúa Jêsus đã phán: “Nếu Ta cậy ngón tay Đức Chúa Trời mà trừ quỷ, thì Nước Đức Chúa Trời đã đến nơi các ngươi rồi” (LuLc 11:20). Thật ra, Ngài phán điều nầy sau khi Ngài đã “đuổi quỷ” có nghĩa là, đã chữa lành một người. Điều nầy cũng bày tỏ sống động nước Đức Chúa Trời là thể nào. Trong nước ấy, điều ác phải thuận phục và chịu thua trước quyền năng của Đức Chúa Trời. Các phép lạ như thế là những sự bày tỏ về lòng tha thứ của Đức Chúa Trời trong sự hành động, và sự chiến thắng của Đức Chúa Trời trước các thế lực của điều ác.
    Ngoài cách tiếp cận ấy đối với các phép lạ, bạn hãy để hai hoặc ba phút suy nghĩ mỗi điểm sau đây, và xem thử chúng có cùng nhau mang lại cho bạn sự hiểu biết đầy đủ hơn về các phép lạ của Chúa Jêsus không:
    1. Phép lạ cơ bản (như chúng ta đã thấy ở chương trước) chính là Chúa Jêsus. Đức Chúa Trời phải quan tâm đến chúng ta đủ để ban Con Ngài làm hiện thực tình yêu tha thứ của Ngài, là điều, nếu bạn đồng ý, “lạ lùng” nhất có thể hình dung được. Phép lạ của tình yêu tha thứ là điều cơ bản của Tân Ước. Nếu đó là một khái niệm giả dối, mọi điều khác trong Tân Ước đều sụp đổ tan tành. Còn nếu đó là một khái niệm đúng sự thực, thì không gì quá ngạc nhiên trong phần còn lại của Tân Ước.
    2. Nếu đây thực sự là thế giới của Đức Chúa Trời, và Chúa Jêsus thực sự là Con của Đức Chúa Trời, thì không có lý do gì Chúa Jêsus không được ban quyền phép bởi Đức Chúa Trời để làm những việc nhất định dường như quá lạ lùng đối với chúng ta nhưng sẽ là sự bày tỏ của quyền năng Đức Chúa Trời và thực hữu của vương quốc Ngài.
    3. Chúa Jêsus cũng không nhận “sự vẻ vang” cho mình vì những phép lạ. Các phép lạ là sự tỏ ra của quyền phép Đức Chúa Trời . Những Cơ Đốc nhân đầu tiên cũng đã xác nhận sự kiện đó y như vậy “Đức Chúa Jêsus ở Naxarét, tức là người mà Đức Chúa Trời đã dùng làm việc quyền phép, sự lạ và dấu lạ” (Cong Cv 2:22). Đức Chúa Trời không để cho Đức Chúa Jêsus “phá vỡ luật lệ,” mà Ngài muốn bày tỏ qua Chúa Jêsus sự thực Vương quốc của Ngài.
    4. Ít nhất là trong các sách Tin Lành Cộng Quan, Chúa Jêsus đã không thi hành phép lạ để “chinh phục” những người ủng hộ. Ngài rõ ràng đã từ chối ý niệm này suốt trong lúc chịu cám dỗ. Ngài nhiều lần nói với con người, nhắc đi nhắc lại là chớ nói đến những phép lạ mà Ngài đã thực hiện. Ở tại một nơi, thậm chí Ngài không thể làm phép lạ vì họ thiếu đức tin (Mac Mc 6:5). Những người thực lòng tin, có thể, qua các phép lạ, nhìn thấy sự tỏ bày những gì đời sống trong Vương quốc Đức Chúa Trời sẽ diễn ra, và có thể nhìn thấy Nước Đức Chúa Trời hành động qua công việc của Đức Chúa Jêsus.
    Diễn Tiến Của Sân Khấu: Chuẩn Bị “Sự Chống Đối” Cả Bên Ngoài Sân Khấu Và Trên Sân Khấu .
    Như vậy, các loại hoạt động đa dạng đặc trưng cho chức vụ ở vùng Galilê của Chúa Jêsus là: rao giảng, dạy dỗ, tập họp các môn đồ, làm các công việc quyền năng. Chúng ta phản ứng: thật là một chương trình tuyệt vời, được tính toán để giành được sự hậu thuẫn rộng lớn từ mọi thành phần dân chúng. Nhưng có thật như vậy không? Chúng ta đã bắt đầu lệch hướng nếu như chỉ lấy một câu như: “Đoàn dân đông vui lòng mà nghe Ngài” (Mac Mc 12:37) rồi từ đó suy luận rằng Chúa Jêsus đã khiến dân chúng ở khắp mọi nơi tin Chúa nhiệt thành. Đúng là có những người nhiệt thành theo Ngài, nhưng dường như từ ban đầu đã có sự bắt bớ lớn. Người ta không thích những việc Ngài nói và làm. Chúng khiến họ khó chịu. Nếu có một số người được thu hút, thì cũng có nhiều người từ chối. Nếu có một số người hài lòng, thì cũng có nhiều người bực tức.
    Thậm chí những người đã trở thành các môn đồ cũng cảm thấy bực bội. Khi Chúa Jêsus tiếp cận lần đầu với Phierơ, ông không bị thu hút bởi “nhân cách có sức hút” của Chúa Jêsus. Không hề. “Xin ra khỏi tôi” thực tế ông muốn nói: “tôi không muốn có liên hệ gì với Ngài.” (Xem LuLc 5:8). Một con người có tội, bị chạm trán bất ngờ với sự nhơn từ trong suốt, cảm thấy khó chịu; hơn nữa, ông cảm thấy đầy kinh hãi và bị áp đảo. Đây là một điều quá lạ lùng. Loại bỏ một con người như vậy ra khỏi đời sống bạn thì dễ dàng hơn là phải khuất phục người ấy. Tất nhiên là cuối cùng Phierơ đã đầu phục Ngài, nhưng đó là một tranh chiến đối với ông suốt chặng đường.
    Cũng có sự chống đối từ các nơi khác nữa. Những người thân cận tại vùng Naxarét đã có những phản ứng hết sức lẫn lộn khi Ngài trở về quê hương và giảng dạy trong nhà hội.
    CẬU BÉ ĐỊA PHƯƠNG ĐÃ TRỞ VỀ, ĐOÀN DÂN ĐÔNG LẮNG NGHE NGÀI, báo chí có thể đăng tin như vậy, nhưng họ sẽ phải bổ sung thêm:
    DÂN CHÚNG TỨC GIẬN, TÌM CÁCH GIẾT VỊ DIỄN GIẢ.
    Bởi vì Chúa Jêsus không đem đến cho họ cuộc nói chuyện đáng hài lòng theo giáo điều đóng góp cho ngân quỹ của nhà hội, Ngài đọc sách tiên tri Êsai và rồi bảo rằng đó chính là Ngài - Ngài ư! - là sự ứng nghiệm của lời Kinh Thánh? Tất nhiên người dân địa phương biết rõ hơn. Họ đã lớn lên cùng với Ngài. Ngài chỉ là con trai của người thợ mộc. Thật phạm thượng!
    Vì vậy họ đã tìm cách đẩy Ngài xuống vực.
    Giả sử bạn hỏi một người Pharisi điển hình, một công dân gương mẫu, người ấy nghĩ gì về Chúa Jêsus. Câu trả lời sẽ rất dứt khoát
    NGƯỜI PHARISI (có vẻ rất hung hăng ): Ông ta ư? Ông ta là một kẻ điên cuồng. Vì sao? Ông ta thậm chí không tôn trọng luật pháp Dothái của chúng ta! Chúng ta biết điều ông ta đã làm trong ngày Sabát vừa qua không? Ông ta và các môn đồ đi ngang qua các cánh đồng và ông ta đã để cho họ bứt các gié lúa mà ăn. Vào ngay ngày Sabát! Khi mà điều đó rõ ràng là bị cấm bởi luật pháp. Tôi có thể chứng tỏ cho các ông nơi chính xác nếu các ông nghi ngờ lời tôi nói. Không những vậy, ông ta còn chữa lành cho một người vào ngày Sabát. Vi phạm ngày Sabát ngay trước mũi tôi.
    Nhưng chẳng gì có thể so sánh với điều ông ta đã làm vào buổi chiều nọ. Anh biết nhà của Joses ở trên con đường kia không? Phải, chính tôi không có mặt tại đó, nhưng tôi biết điều này dựa trên nguồn thẩm quyền hết sức đáng tin cậy, bởi vì anh tôi đã có mặt tại đó và chứng kiến toàn bộ sự việc. Bốn người nam phải dòng một người bại qua mái nhà và Jêsus đã ngó người bại ấy và bảo rằng tội lỗi anh đã được tha! Tha tội ư? Jêsus này là ai mà dám đi đây đó tha tội? Không ai trừ ra Đức Chúa Trời có thể tha thứ tội lỗi. Ông ta nghĩ mình là Đức Chúa Trời chắc.
    Và bạn có biết điều đó có ý nghĩa gì đối với tôi không? Nghĩa là ông ta điên khùng, lừa đảo, và phải bị trừ khử. Chết, chôn, và quên lãng đi.
    Những người khác có thể bực tức bởi những đám bạn mà Chúa Jêsus có. Đấng Mêsi của họ hẳn sẽ không giao du với hạng người rác rưởi cặn bã. Ngài phải quan hệ với những con người có thế lực và địa vị. Còn Chúa Jêsus? Ngài luôn luôn kết bạn với những tay thâu thuế bị ghen ghét, và với những kẻ “có tội;” dân chúng thậm chí còn đồn rằng Ngài là một kẻ “ham ăn mê uống” (LuLc 7:34) - “một kẻ đàn đúm” không kém!
    Ít nhất chúng ta cũng có thể suy ra toàn bộ sự chỉ trích này rằng khi Chúa Jêsus đi đây đó thì mọi việc không bao giờ tẻ nhạt. Bất cứ điều gì Chúa làm, Ngài cũng khuấy động mạnh mẽ dân chúng. Và điều này rốt lại khiến Ngài là một mục tiêu cần phải trừ khử đối với những kẻ cai trị và các nhà chính trị, những người không bao giờ muốn dân chúng “bị khuấy động.” Hêrốt Antipa vùng Galilê, thấy Chúa Jêsus đúng là một sự phiền toái về mặt chính trị và muốn khử Ngài. Ngay cả Philát, thống đốc vùng Giuđê, mặc dầu không tìm thấy lỗi lầm thật sự nào nơi Chúa Jêsus, cuối cùng cũng đã chịu thua trước áp lực vì mối đe dọa về mặt chính trị nếu để Chúa Jêsus sống. Toàn bộ điều này - trớ trêu tột độ - về một con người đã từng nói: “Nước của ta chẳng thuộc về thế gian này” (GiGa 18:36).
    Diễn Tiến Của Sân Khấu: Chuẩn Bị Cho Đoạn Kết Của Một Bi Kịch
    Chúng ta đã thảo luận (trong Chương 7) sự kiện ở tại Sêsarê Philíp, khi các môn đồ đã biết rằng Chúa Jêsus không những là Đấng Mêsi, mà còn là Đấng Mêsi chịu khổ (ý tưởng lạ lùng).
    Kết cuộc của sự kiện này là Chúa Jêsus đã đưa họ đến Giêrusalem, vào ngay trung tâm của sự bắt bớ được chuẩn bị. Sự kiện quan trọng nhất trên đường đi là một cảnh tượng thật kinh ngạc được Giacơ, Phierơ và Giăng chứng kiến. Họ cùng Chúa Jêsus lên một ngọn núi cao, tại đó, trong một sự hiện thấy, họ chứng kiến Ngài được hóa hình, bày ra trước mặt họ sự vinh hiển trong tương lai của Ngài. Ý nghĩa của biến cố này chắc chắn thuộc về Đấng Mêsi. Êli, là người dân Dothái cảm biết, sẽ trở lại trước khi Đấng Mêsi đến, tại đây Chúa Jêsus đang trò chuyện với Êli, và có tiếng phán rằng: “Người này là Con rất yêu dấu của Ta, hãy vâng nghe người” (Mac Mc 9:7). Toàn bộ điều này hết sức lạ lùng và khó hiểu, nhưng được nhìn thấy rõ ràng như một hình thức con dấu chuẩn thuận của Đức Chúa Trời về sự hiểu biết Chúa Jêsus đã có về sự kêu gọi của Ngài.
    Ba lần, như đã được ký thuật, Chúa Jêsus báo trước cho các môn đồ rõ ràng rằng Ngài phải chịu khổ và chịu chết, rằng Ngài sẽ sống lại từ kẻ chết. Ba lần như đã được chép, các môn đồ không thể hiểu lời lạ lùng này ám chỉ điều gì cả.
    Và rồi họ đã đến Giêrusalem. Các sự kiện trong tuần lễ đó tại Giêrusalem được ký thuật rất chi tiết trong các sách Phúc âm. Chúng ta có nhiều thông tin về tuần lễ đó hơn bất cứ phần nào khác trong cuộc đời của Chúa Jêsus, vì vậy chúng ta không cần kể lại tỉ mỉ tất cả các chi tiết ở đây. Nhìn sơ qua một vài sự kiện cho thấy lưới bẫy đang thu dần lại thế nào.
    Ý nghĩa của sự vào thành lạ lùng này là gì? Chúa Jêsus cỡi trên lưng một con lừa vào thành Giêrusalem, với các đám đông vẫy chào và tung hô, một hình thức diễu hành của thế kỷ thứ nhất tương đương với cuộc duyệt binh có các băng giấy tung hô trên đại lộ Broadway. Ngài không vào thành trên một con ngựa chiến màu trắng như một anh hùng quân sự vĩ đại thường làm; Ngài đến trên một con vật mang gánh nặng khiêm nhường. Lời ký thuật của Mathiơ về sự kiện này cho chúng ta một manh mối: Chúa Jêsus đang làm ứng nghiệm lời tiên tri về Đấng Mêsi một cách có ý thức trong XaDr 9:9 rằng “Vua” đến “cỡi trên một con lừa nhu mì.” Nói cách khác, Ngài không phải là một Đấng Mêsi ưa chiến tranh, Ngài là một Đấng Mêsi bằng lòng làm tôi tớ mọi người, dân chúng thật lạ lùng, đã không hiểu được vấn đề, kết quả là trong một vài ngày nữa những kẻ đang la lớn “hoan hô!” sẽ gào lên “hãy giết hắn đi!”
    Suốt những ngày sôi động này ở tại Giêrusalem, Chúa Jêsus bị bao vây bởi những kẻ chất vấn, tìm cách dồn Ngài vào thế bí để Ngài phải nói một câu tai hại được sử dụng để chống lại Ngài. Chúa Jêsus đã đối đáp với những kẻ chất vấn này bằng sự khôn ngoan đáng kinh ngạc, tránh đỡ những cú đâm thọt một cách khéo léo, và bỏ mặc họ bối rối rút lui khỏi hiện trường. Tuy nhiên, phía sau hiện trường, sân khấu đang được dàn dựng, và các đồng minh chống lại Chúa Jêsus đang hình thành một liên minh mạnh mẽ hơn. Họ thậm chí đã có một “đạo quân thứ năm” (kẻ tay trong) làm việc ngay trong nhóm của Chúa Jêsus, đó là Giuđa, kẻ thủ quỹ của tổ chức. Vì sao Giuđa trở thành kẻ phản bội là một câu hỏi không dễ trả lời. Có lẽ sau một thời gian cống hiến mạnh mẽ, ông đã bị thuyết phục một cách thật thà rằng Chúa Jêsus là kẻ giả mạo phải bị dẹp bỏ. Dầu thế nào, ông cũng đã đứng sang phía đối phương và giúp họ lần theo các hoạt động của Chúa Jêsus để khi thời điểm chín mùi, họ có thể bất ngờ tấn công.
    Trong khi các kế hoạch cuối cùng của kẻ thù đang hình thành, thì Chúa Jêsus đang dự bữa ăn cuối cùng với các môn đồ Ngài, có lẽ là bữa ăn theo truyền thống chuẩn bị cho lễ Vượt Qua của dân Dothái hầu đến. (Chúng ta sẽ xem xét ý nghĩa của điều được nói và làm trong bữa ăn này ở Chương 15).
    Ngay sau đó, họ rời phòng cao nơi đã ăn tối và lên một ngọn đồi ở vùng giáp ranh của thành. Chúa Jêsus, dường như là người duy nhất nhận biết việc Ngài bị bắt gần kề thế nào, đi tẻ ra để cầu nguyện. Ngài không muốn chết, Ngài thưa với Đức Chúa Trời điều đó. Nhưng Ngài đã thêm vào lời cầu nguyện ấy một trong số những lời quan trọng nhất mà Ngài từng nói: “Song không theo ý muốn con, mà theo ý muốn Cha.” (Mac Mc 14:36). Ngài sẵn sàng làm một với ý muốn của Cha Ngài.
    Và rồi thình lình khu vườn đầy những gươm giáo loảng xoảng, những tiếng chửi rủa, la lối, các cây đèn lồng và những lời nhạo báng. Chúa Jêsus đã bị bao vây bởi những kẻ ghét Ngài. Bạn hữu Ngài lẩn vào bóng đêm. Ngài trở thành một tù nhân.
    Ngài chỉ còn lại một mình, và định mệnh của Ngài là chắc chắn.
    Chương 10: Chỗ Đồi Sọ
    (Ý Nghĩa của Thập Tự Giá )
    Bản án của Ngài đã chắc chắn ư? Nhất định phải có ai đó can thiệp chứ - trong số các môn đồ thân tín của Ngài; những con người quan tâm đến cuộc chơi công bằng; nếu không, thì chính mình Đức Chúa Trời!
    Nhưng đã không có một ai. Đây không phải chỉ là giây phút “căng thẳng hồi hộp” trước khi tác giả vở kịch đưa ra một kết thúc nhanh chóng và vui vẻ. Đúng là đã có một kết thúc nhanh chóng, nhưng vui vẻ thì chắc chắn là không, bởi vì tất cả đã từ bỏ Chúa Jêsus. Thậm chí Phierơ cũng đã khiếp sợ, lớn tiếng rủa vì sợ hãi điên cuồng: “Ta chẳng hề quen biết với người mà các người nói đó.”
    Các Tình Tiết “Trinh Sát”
    Nếu có ai giữ một bản danh sách kiểm về diễn tiến của việc trừ khử Chúa Jêsus trong những ngày giờ cuối cùng đó, thì bản danh sách đó sẽ được ghi như vầy:
    -Hãy dò hỏi Giuđa. Bảo hắn cho chúng ta thông tin về những nơi Jêsus lui tới.
    Kiểm tra với các thầy tế lễ về tiền hối lộ trả cho Giuđa
    Báo cho các lính canh hãy sẵn sàng theo Giuđa một thời gian ngắn
    Sắp xếp một nửa tá người đi gặp Hêli. Để ông ta tập tành họ những lời buộc tội chống lại Chúa Jêsus tại phòng xử án.
    Các khoản tiền trưng dụng từ nơi Cai Phe để thanh toán cho các “nhân chứng”
    Thuê sứ giả để triệu tập các thành viên của tòa án tối cao (tòa Công luận) triệu tập trong một thời gian ngắn (nhấn mạnh với ông ta rằng chúng ta phải kết thúc tốt đẹp vụ này trước lễ Vượt Qua, bởi vì không được giết ai vào lễ Vượt Qua).
    Sai các đại biểu đến gặp Philát để nói rõ rằng tốt hơn ông ta cũng phải kết án Chúa Jêsus, nếu không muốn có những lời báo cáo xấu bị gởi về Rôma.
    Sự việc diễn tiến khá tốt đẹp. Buổi xét xử cũng đã được tổ chức. Thủ tục tố tụng thì bất hợp pháp. Các nhân chứng thì được mua chuộc. Tòa án quyết định rằng “chứng cớ” là áp đảo. Bản án tử hình đã được thông qua. Toàn bộ sự việc còn lại dành cho BônxơPhilát, người đại diện của chính quyền Lamã để phê chuẩn.
    Vào rạng sáng, Philát tiếp cận vụ xử. Ông ta dường như thật sự bối rối. Có gì sai trái nơi Chúa Jêsus? Chẳng có gì cả - vậy mà -có một đám đông hỗn loạn ở bên ngoài gào thét, đòi máu. Nếu thả Chúa Jêsus, ông sẽ phải chịu trách nhiệm về một cuộc bạo loạn. Tin tức về các cuộc bạo loạn sẽ về đến Rôma, mà Rôma thì không thích những cuộc nổi loạn ở các tỉnh xa. Trên thực tế, Rôma từng gọi về những người được ủy quyền đã để cho tình hình vuột khỏi tầm kiểm soát của họ. Và những người ấy, một khi đã bị triệu về, phải bị án chết vì đã làm cho Sêsa không hài lòng. Đây là cái cổ của Philát hoặc Chúa Jêsus. Vì vậy Philát đã phê chuẩn án tử hình. Ông sắp xếp các binh lính Lamã đóng đinh Chúa Jêsus trên một cây cột thẳng đứng có một thanh ngang và bỏ mặc Ngài phải chết. Đó là phương cách được chấp nhận.
    Đây không phải là một cách chết dễ chịu. Nạn nhân bị phơi ra dưới ánh nắng mặt trời, bị khát khủng khiếp, trước gió bụi, và ruồi mòng. Bởi vì sự sống có thể kéo dài nhiều ngày, nên được xem là hành động ân huệ khi một tên lính Lamã đánh gãy ống chân nạn nhân bằng một cây gậy để người ấy được chết nhanh chóng hơn.
    Và như vậy họ đã coi Chúa Jêsus như một tên tội phạm bình thường, cùng với hai tên tội phạm khác, họ đóng đinh Ngài trên một ngọn đồi bên ngoài thành Giêrusalem được gọi là đồi Gôgôtha, “chỗ Sọ.” Đó là điều con người đã làm cho một người, theo một đánh giá vừa phải, là một con người tốt lành nhất từng sống trên đất. Đó là điều con người đã làm cho Đức Chúa Trời nhập thể trong thân xác con người, theo đánh giá của một Cơ Đốc nhân.
    Có Phải Chúa Jêsus Đã bị Đức Chúa Trời “Từ Bỏ” Không?
    Bạn có thể học được rất nhiều về một con người khi chứng kiến cách người ấy chết. Kết hợp bốn lời ký thuật về sự chết của Chúa Jêsus, chúng ta tìm thấy bảy “câu nói,” hoặc lời tuyên bố, mà Ngài đã thốt lên trong 6 giờ bị treo trên thập tự giá. Khi Ngài nói: “Ta khát” (GiGa 19:28), chúng ta nhận biết với một nỗi đau nhói rằng Ngài thật sự đau đớn trải qua một chặng đường dài, gian khổ vì đồng nhất trọn vẹn với chúng ta, khi Ngài nói: “Lạy Cha xin tha cho họ; vì họ không biết điều mình làm.” (LuLc 23:34), chúng ta thật kinh ngạc vì ngay trong giờ phút bị hành hạ, Ngài có thể xin Cha tha thứ cho những kẻ hành hạ Ngài.
    Nhưng còn có một “lời” khiến chúng ta bối rối. Đó là tiếng kêu đau khổ tột cùng, “lời” duy nhất được chép trong Mathiơ và Mác: “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mat Mt 27:46; Mac Mc 15:34). Liệu có phải Chúa Jêsus, vì mọi người, đã nếm trải sự lìa bỏ hoàn toàn của Đức Chúa Trời không? Có ít nhất hai cách để hiểu những lời khó hiểu này. Có thể Chúa Jêsus đã nhìn thấy trong một khoảnh khắc sự khủng khiếp rõ mồn một đời sống bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời là thế nào. Tới mức độ đó, Ngài đã làm một chính mình với chúng ta cách đầy đủ và hoàn toàn có thể được, và đã trải nghiệm chính cặn bã sự hư mất của con người. Và rồi từ khoảnh khắc của sự rõ ràng thấu suốt đó, có lẽ Ngài đã lấy lại được cảm nhận tin cậy hoàn toàn nơi Đức Chúa Trời: “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha!” (LuLc 23:46).
    Cách giải thích thứ hai nhấn mạnh đến tiếng kêu ấy. Bất cứ người Dothái nào gặp hoạn nạn cũng biết rõ cơ nghiệp của mình đủ để thốt lên Thi Tv 22:1-31. Những lời mở đầu là “Đức Chúa Trời tôi ôi, Đức Chúa Trời tôi ôi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” Tác giả Thithiên tiếp tục cho biết thể nào ông bị xem thường, khinh dễ, các xương cốt đều rời rã, lưỡi ông dính nơi ngàm, tay chân ông bị đâm lủng, áo xống ông bị những kẻ ác phân chia và họ bắt thăm để đoạt lấy áo dài của ông, nhưng Đức Chúa Trời đã đến giúp đỡ tác giả Thithiên. Thithiên này bắt đầu bằng những lời tuyệt vọng, đã kết thúc bằng một lời đắc thắng. Tác giả Thithiên không những ngợi khen Đức Chúa Trời mà còn kêu gọi đồng bào mình hãy ngợi khen Ngài nữa, bởi vì Đức Chúa Trời đã lắng nghe khi ông kêu cầu. Nhiều người tin rằng Chúa Jêsus bắt đầu đọc thuộc Thithiên này như một xác quyết niềm tin Ngài đặt nơi Chúa. Có lẽ Ngài đã kiệt sức và không đọc hết được; có thể Mathiơ và Mác chỉ ký thuật câu đầu, vì biết rằng các độc giả họ nhận biết Thithiên đó. Dẫu thế nào, có rất nhiều điểm giống nhau giữa Thithiên này với sự đóng đinh cho thấy dường như rõ ràng Thithiên này có trong đầu các tác giả Phúc âm.
    Như vậy có lẽ trong khoảng sáu giờ Chúa Jêsus đã chết. Thi thể Ngài được hạ xuống và được đặt vào một ngôi mộ vay mượn. Ngôi mộ được niêm phong.
    “Cuối Cùng Cũng Đã Giải Quyết Xong”
    Một phóng viên đi đây đó phỏng vấn dân chúng vào ngày hôm sau sẽ nhận được những phản ứng như vầy:
    MỘT NGƯỜI “MỘ ĐẠO:” Thật tốt vì đã dẹp được ông ta một cách an toàn. Theo tôi nghĩ thì ông ta hơn cả một kẻ cuồng tín nhiều. Vì sao, các ý tưởng của ông ta hẳn sẽ thổi tung đạo giáo của chúng ta!
    MỘT NGƯỜI KHÁCH BỘ HÀNH: Ông ta đã chữa lành cho con trai tôi. Ông ta thường đến thăm gia đình tôi. Chúng tôi yêu quí ông rất nhiều. Tôi sẽ nhớ tiếc ông ta.
    MỘT THÀNH VIÊN CỦA TÒA CÔNG LUẬN: Ngợi khen Đức Chúa Trời vì kẻ phạm thượng ấy đã bị giết chết! Những suy nghĩ nguy hiểm của con người này, và những lời tự xưng là Đấng Mêsi thật là điên rồ, thật thà và đơn giản. Thật là may chúng ta đã trừ khử được ông ta.
    PHILÁT (quan điểm chính thức của một người biện minh cho một lương tâm tội lỗi ): Hòa bình đã được bảo tồn! Công lý đã chiến thắng! Sức mạnh của Rôma được an toàn! Hoan hô Sêsa!
    PHILÁT (những suy nghĩ trong lòng ). Tôi tự hỏi... Liệu có thể tìm thấy điều gì tồi tệ về ông ta không. Thực ra, ông ta giống một vị vua hơn... Không thể có sự thực nào về những điều môn đồ ông ta tin về ông ta... Dầu vậy, tôi vẫn băn khoăn.
    MỘT MÔN ĐỒ: Phải, thế là hết. Tôi thật không bao giờ nghĩ họ có thể giết Ngài. Tôi biết chắc Đức Chúa Trời sẽ đến vùa giúp Ngài. Nhưng chúng tôi vừa phải đối mặt với điều đó. Ngài có một uớc mơ thật đẹp, nhưng đó chỉ là một giấc mơ, và tôi thật dại dột khi nghĩ đó là sự thật. Tốt nhất là tôi quay về Galilê và bắt đầu lại công việc đánh cá của tôi. Tôi đã học được bài học của mình.
    Thật hết sức mỉa mai, ngày người ta quả quyết nhất rằng họ đã trừ khử được Chúa Jêsus lại chính là trước ngày Ngài phục sinh.
    Thập tự giá và sự Phục Sinh
    Hình phạt đóng đinh là điều thật khủng khiếp. Vậy tại sao Tân Ước dường như bị thu hút bởi thập tự giá một cách lạ lùng như vậy? Vì sao thập tự giá vẫn tiếp tục xuất hiện từ trang này sang trang khác? Vì sao người ta đến ngày nay vẫn hát bằng một kiểu bất hợp lý thật đáng ngạc nhiên: “Tại nơi thập tự giá của Đấng Christ, tôi tự hào? ”
    Cần nhấn mạnh ngay rằng câu chuyện thập tự giá chính nó không phải là một “câu chuyện thành công.” Đó là một câu chuyện thất bại. Các tác giả Tân Ước nhìn xem mặt tối của thập tự giá từ ánh sáng tỏa chiếu trên nó bởi sự phục sinh. Họ tin nơi một Cứu Chúa đã sống lại; và chính vì lý do đó mà họ có thể nhìn xem bằng cặp mắt kiên định vào giây phút Chúa Cứu Thế Phục Sinh dường như bị đánh bại và tìm thấy chiến thắng của Ngài ngay tại đó. Chúng ta đã xem xét ý nghĩa của đức tin phục sinh (trong Chương 7). Bây giờ chúng ta hãy nhìn vào ánh sáng mà đức tin soi sáng trên thập tự giá, gỡ rối bốn mớ dây cho một câu trả lời toàn diện. Không một sợi nào trong số đó tự nó là câu trả lời trọn vẹn, nhưng mỗi sợi dây đều quan trọng.
    1.Thập Tự Giá Là Một Gương Mẫu
    Giả sử bạn là một trong số những Cơ Đốc nhân đầu tiên. Chắc chắn vì niềm tin ấy sự việc sẽ gay. Khi trở thành Cơ Đốc nhân, bạn mất tài sản. Cha bạn bị bắt. Bạn biết nếu bị phát hiện, sẽ là hàm sư tử hoặc tồi tệ hơn. Bất cứ điều gì xảy đến, việc là một Cơ Đốc nhân cũng liên can đến sự chịu khổ. Trong hoàn cảnh đó, bạn làm thế nào chịu đựng nổi?
    Phải, vì một điều, bạn nhớ rằng mình được kêu gọi để trải qua bất cứ điều gì chính mình Chúa Jêsus đã trải qua. Ngài đã để lại một gương cho bạn trên đường để mang sự chịu khổ một cách sáng tạo. Bạn có thể nhớ đến Ngài trên cây thập tự để được tiếp sức mà mang lấy thập tự của mình. Một trong các thư tín bạn đã nghe đọc trong hội thánh có thể nhắc nhở bạn về điều này: “Vì Đấng Christ cũng đã chịu khổ cho anh em, để lại cho anh em một gương, hầu cho anh em noi dấu chân Ngài” (IPhi 1Pr 2:21), bạn cũng có thể nhớ đến những lời của chính Chúa Jêsus, cho bạn biết rằng việc theo Ngài không phải dễ dàng: “Nếu ai muốn theo Ta, phải liều mình, vác thập tự giá mình mà theo Ta.” (Mac Mc 8:34)
    Hoặc thập tự giá cũng có thể là một gương mẫu cho bạn về mức độ yêu thương bạn được kêu gọi. Bạn có thể tự nhủ: “Đây là một gương mẫu về tình yêu của Đức Chúa Trời. Ngài đã đến với tôi cũng như với mọi người và yêu thương chúng ta thậm chí khi chúng ta đóng đinh Ngài. Đó là điều Ngài phải trả giá vì yêu chúng ta. Chúng ta phải xứng đáng với tình yêu ấy bằng cách yêu thương nhau như vậy.” Và rồi bạn có thể làm chính mình ngạc nhiên (và những người khác nữa) bằng việc chia sẻ một bữa ăn với tên Aquila đáng ghét, hoặc đi đến nhà tù để che chở cho Publius khỏi các tên lính Lamã.
    Giả sử bạn là một trong những Cơ Đốc nhân của thế kỷ hai mươi. Nếu bạn sống đằng sau Bức Màn Sắt, hoặc trong một lãnh thổ bị chiếm đóng, hay trong nỗi lo sợ đối với đội hành quyết, những điều tương tự thật rõ ràng. Nhưng có những “thập tự giá” trong đời sống dầu cho bạn sống ở đâu, những loại chịu khổ đụng đến đời sống ở mọi nơi, những quyết định khó khăn phải thực hiện, và bạn muốn thực hiện, bất chấp chúng nhỏ nhặt thế nào. Thập tự giá vẫn là một gương mẫu, bây giờ cũng như lúc ấy, bảo rằng: “Chính Đấng Christ đã trải qua nỗi đau đớn và sự thống khổ. Hãy xem bạn có thể mang thập tự giá như Ngài đã mang không.”
    Và, điều có ý nghĩa hơn nữa, thập tự giá vẫn là một tấm gương đối với bạn về tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho con người, một tình yêu mà, thậm chí trong thế kỷ thứ hai mươi, bạn phải noi theo. Khi bạn suy nghĩ về điều đó, bạn nhận ra rằng đây chính là phẩm chất mà các thánh đồ ngày nay được tạo thành - những con người phó chính mình không giới hạn cho những kẻ có cần, giống như Chúa Jêsus đã làm bởi tình yêu vô song của Ngài. Bạn nhớ Thánh Francis ở thế kỷ thứ mười ba, ban chính mình cho những người cùi mà không ai thậm chí muốn lại gần. John Woolman, ở thế kỷ thứ mười bảy đã kêu gọi được những chủ nô cứng lòng giải phóng các nô lệ của họ; Toyohiko Kagawa vào thế kỷ thứ hai mươi, làm việc nhiều năm trong những khu nhà ổ chuột tại Nhật bản. Đối với những con người ấy, và rất nhiều người khác nữa, thập tự giá là một gương mẫu về mức độ tình yêu của Đức Chúa Trời, và họ đã tìm cách để được xứng đáng với tình yêu ấy bằng cách đáp lại bằng tình yêu. Và bạn nhận ra, có lẽ phần nào hơi mất tinh thần rằng mình cũng bị đòi hỏi điều tương tự.
    Nhưng có một điều bất lợi. Không nhất thiết phải đúng là thập tự giá sẽ cảm động chúng ta bởi gương mẫu của nó. Chúng ta có lẽ không “yêu điều cao trọng nhất khi nhìn thấy điều đó.” Chúng ta có thể ghét điều đó. Những người “tốt lành” trong thời Chúa Jêsus chắc chắn đã không thích điều tốt lành nhất, họ đã ghét con người cao cả nhất đến nỗi đã giết Ngài. Và đối với mọi tên lính đứng trước sự kiện Chúa chịu đóng đinh đã thốt lên: “Người này thật là Con Đức Chúa Trời.” (Mat Mt 27:14), có hàng tá những người chỉ quan tâm đến việc giành lấy chiếc áo phế thải của Con Đức Chúa Trời bằng cách tung hột súc sắc may mắn. Gương mẫu của tình yêu, thậm chí là tình yêu cao cả nhất, cũng không nhất thiết đem lại một đáp ứng yêu thương. Nó có thể đem lại sự khinh miệt và khước từ. Chúng ta có thể từ chối yêu thương. Chúng ta có thể nói: “Tôi không cảm động. Điều đó không dành cho tôi.” Vì vậy nói thập tự giá là một gương mẫu là nói đến một phần của đức tin Tân Ước chứ không phải toàn bộ. Chúng ta phải đi thêm.
    2. Thập Tự Giá Là Sự Phán Xét .
    Những Cơ Đốc nhân đầu tiên thật sự đã đi sâu hơn. Họ cũng đã nhìn thấy thập tự giá là sự phán xét đối với chính họ và mọi người. Giả sử một lần nữa, bạn là một trong những Cơ Đốc nhân đầu tiên ấy. Khi bạn chăm nhìn thập tự giá, bạn khám phá một cách mới mẻ điều ác thật sự là gì. Ví dụ bạn nhìn thấy những hậu quả của sự lừa dối và phản bội. Bởi vì Chúa Jêsus đã bị đưa lên thập tự giá bởi những lời dối trá, những mưu đồ, những kế hoạch mờ ám, việc từ chối xét xử công minh, những người làm chứng bị mua chuộc và tất cả những điều còn lại. Có lẽ bạn hơi thu mình lại khi Phierơ nhắc nhở bạn qua một bài giảng rằng “các ngươi đã mượn tay độc ác mà đóng đinh Người trên thập tự giá và giết đi” (Cong Cv 2:23).
    Nhưng sâu xa hơn cả điều đó, thập tự giá chỉ cho bạn thấy con người “tốt lành” của bạn có thể gian ác như thế nào. Thập tự giá là sự phán xét đối với tất cả những gì bạn cho rằng đàng hoàng hoặc xứng đáng. Bởi vì ai là những người đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá? Những kẻ tội phạm, cặn bã của xã hội, rác rưởi của thế gian ư? Không, họ đang ở đó, cùng bị đóng đinh với Ngài. Những người đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá là những người “tốt,” những kẻ ủng hộ luật lệ và nguyên tắc Lamã, những người lãnh đạo các phong trào tôn giáo tốt nhất trong thời đó, những công dân đáng đáng kính, tuân giữ luật pháp.
    Những người giống như bạn!
    Và bạn nhận ra rằng bạn và những người cùng thành phần với mình, có lẽ với những ý định tốt nhất, phải chịu trách nhiệm với con người đang bị treo tại đó. Tất nhiên điều này thật khó tiếp nhận. Bạn cự tuyệt khi Phierơ nói với những con người “mộ đạo”: “Các ngươi đã chối bỏ Đấng thánh là Đấng Công bình... Các ngươi đã giết Chúa của sự sống” (3:14-15) và khi Êtiên cũng đồng tình, một giọng như vậy mà nói rằng: “Chính các ngươi lại đã nộp và giết Đấng đó” (Đấng Công bình) (7:52), thật là quá mức đối với những người “đàng hoàng” trong đám đông, vì vậy, họ cũng giết Êtiên luôn. Có lẽ bạn đã có mặt tại đó. Dẫu thế nào, sự kiện bạn không thể thoát khỏi là điều ác có sức mạnh hơn hết khi nó giả vờ là tốt lành . Trong ánh sáng của sự kiện gây bối rối này, không ai nhận được giấy chứng nhận sức khỏe trong sạch. Và bất chấp bạn ở cách xa khỏi thập tự giá nơi Chúa chịu đóng đinh đến đâu, bạn, Ông Cơ Đốc Nhân Của Thế Kỷ Thứ Nhất vẫn cảm thấy bị phán xét bởi sự kiện này.
    Bây giờ giả sử một lần nữa bạn là một Cơ Đốc nhân ở thế kỷ hai mươi. Rõ ràng là bạn ở rất xa sự kiện Chúa bị đóng đinh, bạn thở ra nhẹ nhỏm. Nhưng cái thở ra đó hóa ra là quá sớm, bởi vì bạn thấy mình không thể tránh được kết luận khó chịu đó là những điều đã đưa Chúa Jêsus lên thập tự giá vào thế kỷ thứ nhất cũng chính là những điều hiện đang đóng đinh Ngài - do bạn - và chúng hẳn làm Đức Chúa Trời khó chịu cũng nhiều bằng đã quấy rầy Ngài vào thế kỷ thứ nhất. Nếu sự lừa dối và phản bội đã đóng đinh Chúa Jêsus vào thế kỷ thứ nhất, thì cũng chính những điều đó đang đóng đinh Ngài trong thế kỷ thứ hai mươi. Nếu những con người “tốt lành” phải chịu trách nhiệm về cái chết của Ngài vào thế kỷ thứ nhất, thì họ cũng tiếp tục đóng đinh Ngài vào thế kỷ thứ hai mươi. Bạn dễ dàng loại bỏ Đấng Christ (“không thực tế... quá ảo tưởng... đúng, đúng, nhưng Ngài phải thực tế hơn... Ngài lý tưởng quá...”), bạn từ chối coi lời Ngài là nghiêm túc đủ - chính điều đó khiến Ngài phải ở trên thập tự giá. Thập tự giá của Ngài là một sự đoán xét đối với bạn trong thế kỷ thứ hai mươi, cũng chính điều đó đã đoán xét bạn vào thế kỷ thứ nhất. Thập tự giá cho bạn biết rằng tội lỗi của bạn không phải chỉ là tội phạm với người khác, mà là phạm tội cùng Đức Chúa Trời. Cũng như tội lỗi và điều ác đã đóng đinh Chúa Cứu Thế vào thế kỷ thứ nhất, chúng liên kết để đóng đinh Ngài trong thế kỷ thứ hai mươi. Thập tự giá là sự phán xét, bất chấp bạn là ai, bất chấp nơi bạn đứng.
    3. Thập Tự Giá Là Sự Giải Hòa
    Nhưng không phải mọi sự đều đen tối. Những Cơ Đốc nhân đầu tiên đã nhìn thấy nhiều hơn. Nếu thập tự giá làm cho họ nhận thức rõ với sự nghiêm trọng khủng kiếp điều con người đã làm cho Đức Chúa Trời, thì thập tự giá cũng khiến họ nhận thức với sự sáng tỏ mãnh liệt điều Đức Chúa Trời đã làm cho loài người. Ngài hòa giải họ với chính mình Ngài. Thập tự giá là sự giải hòa. Và lần này, chúng ta hãy đảo ngược thủ tục của mình. Trước hết chúng ta hãy cố gắng hiểu điều được bao hàm trong ý nghĩa khó hiểu của “sự giải hòa” khi nó áp dụng vào hoàn cảnh của chúng ta và sau đó hãy xem xét cách các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã hiểu về sự giải hòa.
    “Giải hòa” không phải là một từ chúng ta thường dùng trong hành lang trung học, văn phòng doanh nghiệp, hoặc phòng khách. Tuy nhiên ý tưởng về sự giải hòa là quan trọng đối với hành lang trung học, văn phòng doanh nghiệp, phòng khách. Tất cả chúng ta đều biết những người “ sống thui thủi một mình,” những ông-chủ-không-ai-ưa, những cô gái không ai mời nhảy. Đó là những người cô độc, bị phân cách với người khác, đó là điều trục trặc. Điều cần làm trong những tình huống như vậy là mối quan hệ gãy đổ cần phải được phục hồi. Sự phục hồi mối quan hệ gãy đổ này là sự giải hòa.
    Bây giờ chúng ta hãy nói cụ thể hơn:
    Bạn và Joe có xung đột.
    Hơn nữa rõ ràng chính là do lỗi của bạn. Vấn đề của bạn là làm thế nào có lại mối quan hệ tốt đẹp với Joe, hay nói cách khác làm thế nào để đem lại sự hòa giải? Rõ ràng việc này cũng không thể được mua chuộc bởi bạn. Sẽ là không đủ khi tặng cho Joe một món quà đắt tiền (mặc dầu hành động này có thể không bị bỏ ra ngoài). Thậm chí sẽ là không đủ để bạn “dốc toàn lực” và trở nên tử tế với Joe hơn bình thường bởi vì “tử tế hơn mức cần thiết” là một điều mâu thuẫn trong các mối quan hệ bạn bè.
    Thực tế của vấn đề là mối quan hệ gãy đổ sẽ không bao giờ được hàn gắn chỉ từ phía của bạn. Thậm chí khi bạn làm cho Joe động lòng thương xót và xin anh ta sự tha thứ cũng không giải quyết được toàn bộ vấn đề. Bởi vì quyết định phải đến từ phía người đã bị đối xử sai - tức là Joe. Anh ấy phải sẵn lòng tha thứ và chịu lấp khoảng trống do hành động sai trái của bạn gây ra.
    Điều này có lẽ cũng là một việc khó cho anh ta thực hiện. Anh ta sẽ phải hạ mình, nuốt đi sự kiêu hãnh, và có thể thậm chí đau khổ để chứng tỏ một cách tích cực rằng anh ta chấp nhận bạn không có ý xấu và chỉ mong ước được làm bạn với bạn.
    Câu chuyện trên không ngoài mục đích cho chúng ta một gợi ý, một manh mối mờ nhạt về mối quan hệ bị gãy đổ giữa Đức Chúa Trời và chúng ta và cách nó được phục hồi. Bạn phải thực hiện cho được mối nối cần thiết. Chúng ta cũng giống như vậy, bị phân rẽ với Đức Chúa Trời do hậu quả việc làm sai trái của chúng ta, chứ không phải của Ngài. Chúng ta không thể góp nhặt công trạng ở trước mặt Chúa bằng cách làm “hơn những gì chúng ta phải làm,” bởi vì về mức độ mà chúng ta phải yêu kính Chúa thì không có giới hạn. Hành động quyết định phải là do nơi Ngài. Và Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng quyết định đã được thực hiện bởi Ngài rồi, đó là Ngài đã đến gặp gỡ chúng ta qua Đức Chúa Jesus Christ bởi hành động ra đi, tình yêu hòa giải. Và thập tự giá, hết sức cụ thể và hết sức rõ ràng, cho chúng ta thấy rằng tình yêu “phải trả gía.” Đức Chúa Trời yêu thương đủ để trả cái giá bằng thập tự để chúng ta được phục hòa lại với nhau. Công việc của chúng ta là phải chấp nhận sự ban cho này, là điều chúng ta không xứng đáng.
    Bây giờ, giả sử bạn là Cơ Đốc nhân trong thế kỷ đầu tiên. Như bạn thấy bạn cần phải được giải hòa với Đức Chúa Trời. Mối quan hệ bị gãy đổ cần được khôi phục. Và bạn khám phá rằng Phaolô đã gom toàn bộ sự việc vào trong một lời tuyên bố quả quyết: “Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Christ làm cho thế gian làm hòa với Ngài.” (IICo 2Cr 5:19). Điều đó nói đến tình huống của bạn! Bởi vì bạn biết rõ rằng bạn không thể thực hiện việc giải hòa. Không điều gì bạn có thể làm đủ để “bồi thường” cho Đức Chúa Trời vì điều sai trái bạn đã làm. Nhưng bây giờ bạn biết Đức Chúa Trời đã thực hiện việc giải hòa, và Ngài làm điều đó “qua Đấng Christ.” Bây giờ khi nhận biết Đấng Christ và nhìn xem Ngài là hành động hòa giải quyền phép của Đức Chúa Trời, một điều nữa trở nên rõ ràng đối với bạn.
    Bạn đến chỗ hiểu ra rằng tình yêu hòa giải thuộc loại này là tình yêu chịu khổ tình yêu chịu khổ, cam chịu thay cho ai đó - là cái được gọi là “sự chịu khổ thay.” Và rồi bạn nhớ đến những câu Kinh Thánh nói về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ” trong phần sau của sách Êsai. Bạn nhớ rằng trong những câu ấy một người tôi tớ, là người không có hình dung rõ ràng, đã tự nguyện gánh lấy trên chính mình sự đau khổ mà đáng lẽ dành cho những kẻ làm khổ Ngài. Họ đã đến chỗ nhận biết điều Ngài đã làm và họ nói:
    Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã bị tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bệnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc; ai theo đường nấy: Đức Giêhôva đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người (EsIs 53:4-6).
    Đó chính là sự chịu khổ thay thế! Khi bạn suy gẫm những lời này, bạn thấy trong đó một sự mô tả kỳ diệu đúng với bạn khi bạn chăm xem thập tự giá của Đấng Christ. Điều này cũng đúng với Ngài: Ngài đã chịu khổ thay cho bạn. Ngài đã bằng lòng trả cái giá hành động sai trái của bạn, và Ngài đã làm điều đó một cách tình nguyện - vì yêu bạn. Ngài đã phá đổ những sự ngăn trở giữa Ngài và bạn. Những hàng rào mà bạn đã dựng nên. Ngài đã thực hiện việc giải hòa. Tiếp nhận điều đó hay không hoàn toàn tùy thuộc nơi bạn.
    Chúng ta không bao giờ có thể hiểu thấu đáo huyền nhiệm sự giải hòa giữa Đức Chúa Trời và loài người. Nhưng ít nhất chúng ta cũng có thể hiểu rằng trung tâm của mọi sự chính là Đức Chúa Trời của tình yêu chịu khổ. Chúng ta có thể có được sự nhận biết vô cùng mạnh mẽ rằng Đức Chúa Trời đã quí trọng chúng ta hầu như quá đáng. Vì yêu thương chúng ta nhiều đến mức ấy , Ngài đã phó chính mình Ngài cho chúng ta.
    4. Thập Tự Giá Là Sự Chiến Thắng
    Giả sử (lần cuối cùng trong chương này) bạn là một trong những Cơ Đốc nhân đầu tiên. Không một giây phút nào bạn nhìn xem thập tự giá như là “sự thất bại của Đức Chúa Trời” hoặc một điều gì tương tự như vậy. Đối với bạn, thập tự giá được nhìn trong ánh sáng phục sinh là một chiến thắng thật thu hút của Đức Chúa Trời - là “tin tức ngạc nhiên” làm thay đổi mọi sự. Bạn gật đầu đồng tình khi nghe đọc lời tóm tắt của Phaolô trong buổi nhóm Chúa nhật về những việc có tầm quan trọng chính yếu đối với niềm tin của bạn (CoCl 2:8-15), kết thúc bằng những lời “Ngài (Đức Chúa Trời) đã truất bỏ các quyền cai trị cùng các thế lực, dùng thập tự giá (Chúa Jêsus) chiến thắng chúng nó , và nộp ra tỏ tường giữa thiên hạ.” (câu 15, bổ sung in nghiêng). Bạn nhận biết một cách hết sức sâu sắc rằng đây chính là điều đã xảy ra tại thập tự giá. Tại đó bạn nghĩ đến “các quyền cai trị cùng các thế lực” ( Phaolô hàm ý các thế lực của điều ác) đang ở trong một cuộc chiến chí tử với quyền lực của Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời “đã đắc thắng chúng.”
    Nói cách khác, bạn thấy rằng có điều gì đó có ý nghĩa lâu bền đang diễn ra trên ngọn đồi ngoài thành Giêrusalem đó. Dầu thật khó diễn tả, bạn phần nào có được cảm nhận rằng đây là điều quan trọng hơn hết. Bạn nhìn xem thập tự giá như một bãi chiến trường. Một bên là các thế lực của điều ác, tội lỗi và sự chết, chắc rằng bây giờ chúng đã “dồn được Đức Chúa Trời vào tình huống khó khăn” bởi vì Ngài đã dại dột hết sức tạo lợi thế cho chúng bằng việc trở thành con người. (Phaolô nói rằng “Vì sự đầy dẫy của bổn tánh Đức Chúa Trời, thảy đều ở trong Đấng ấy” (Chúa Jêsus), 2:9) và phía bên kia là Đức Chúa Trời. Nếu Ngài có thể chịu đựng được cuộc tấn công này dựa trên sức mạnh của Ngài, thì không điều gì có thể đánh bại Ngài.
    Và bạn hơi nghẹn thở khi nghĩ về tầm quan trọng choáng váng của cuộc xung đột này, cho đến khi bạn nhớ rằng, như Phaolô đã nói, Đức Chúa Trời “đã chiến thắng chúng.” Bạn thấy rằng mão gai là một chiếc mão thật sự - chiếc mão duy nhất mà “một vị vua” như Chúa Jêsus mới có thể đội được - và Ngài đã chiến thắng từ đầu đến cuối, bất chấp sự yếu đuối mà chiếc mão tượng trưng. Bạn hãy nhìn xem thập tự giá qua sự phục sinh, chia sẻ sự đắc thắng đã được giành lấy với một giá thật đắt. Bạn sống trong một thế giới là thế giới của Đức Chúa Trời, hiện bây giờ cho đến mãi mãi. Chiến thắng của Ngài là điều chắc chắn.
    Giả sử (cũng là lần cuối cùng trong chương này) bạn hiện nay là một Cơ Đốc nhân của thế kỷ thứ hai mươi. Kiểu nói chuyện lạ lùng này và loại ý niệm lạ lùng hơn này có được ý nghĩa gì đối với bạn không? Càng suy nghĩ về điều đó nó lại càng lạ lùng. Bởi vì bạn nhớ rằng bạn sống trong một thế giới nơi điều ác là một thực tại tồi tệ và nơi điều ác dường như đang thách thức Đức Chúa Trời. Bạn trở nên hết sức quả quyết rằng hoặc Đức Chúa Trời chiến thắng hoặc điều ác chiến thắng là vấn đề hết sức quan trọng. Khi suy nghĩ về điều này, bạn nẩy ra ý tưởng có một thời điểm trong mỗi cuộc chiến, trước khi toàn bộ cuộc chiến kết thúc, là lúc ta biết rõ bên nào sẽ chiến thắng. Như bạn đã biết trong Thế Chiến II, sau khi quân Đồng Minh đã giành được một vị trí đổ quân an toàn tại lục địa Âu châu, thì rõ ràng là họ sẽ đánh bại Đức Quốc Xã. Chiến thắng dứt khoát đã giành được, mặc dầu những tháng chiến đấu vẫn còn trước mặt.
    Điều này giúp bạn hiểu thế nào thập tự giá hiện vẫn là sự chiến thắng, sau mười chín trăm năm, trong một thế giới, nơi cuộc đọ sức giữa Đức Chúa Trời và điều ác vẫn chưa kết thúc, cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn. Bởi vì thập tự giá là chiến thắng quyết định, là vị trí đầu cầu đã được xác lập, sự kiện tỏ rõ ai đã giành chiến thắng cuối cùng. Bạn hãy cứ vững tin. Bởi vì ở tại đây, điều ác đã có được cơ hội tốt nhất để đánh bại Đức Chúa Trời - song vẫn không thể làm được. Đây là đức tin nâng đỡ bạn trong những giờ tối tăm, để kêu gọi bạn hãy hành động khi những lợi thế dường như chống lại bạn dồn dập, để giúp bạn tin cậy và hy vọng. Để bạn đặt lòng tin nơi chiến thắng cuối cùng của Đức Chúa Trời.
    Vì vậy, nếu điều này là đúng, thì không lạ gì Cơ Đốc nhân ở mọi thời đại đều nhìn xem thập tự giá không phải là một biểu tượng của sự sỉ nhục và tuyệt vọng, mà là một biểu tượng của sự tôn cao và đắc thắng. Điều này từ trước đến nay là một chiến thắng. Thập tự giá hiện nay là sự đắc thắng của Đức Chúa Trời. Chúa Cứu Thế là Đấng chiến thắng. Ngài trị vì với tư cách Chúa của sự sống.
    Chỗ sọ đã trở thành ngai vua
    Chương 11: Một Sự Đe Dọa
    (Tại Sao Có Điều Ác? )
    Chúng ta hay nghe nóivề một Đức Chúa Trời nhân từ.
    Một Đức Chúa Trời toàn năng.
    Một Đức Chúa Trời yêu thương con cái Ngài.
    Dường như với một Đức Chúa Trời như vậy, thế giới phải là một nơi rất tốt đẹp để sống. Nhưng có một vấn đề...
    Nhận biết rõ tình cảnh của chúng ta
    Điều quan trọng là phải nhận biết vấn đề này trong toàn bộ sự rõ ràng của nó. Có thể lời bày tỏ sau đây làm rõ vấn đề:
    43 trẻ em bị thiệt mạng trong một tai nạn xe đưa đón học sinh
    Một chiếc xe buýt chở 43 học sinh đã rơi thẳng xuống sông Yellow River đêm hôm qua khi phần giữa của chiếc cầu sụp đổ dưới sức nặng của chiếc xe buýt. Hôm nay, mọi hy vọng tìm thấy các em đã bị từ bỏ. Những tay thợ lặn đã tìm được xác của tất cả trừ 5 em.
    Vì sao Đức Chúa Trời lại để điều đó xảy đến với những đứa trẻ vô tội?
    ĐIỆN BÁO
    Bộ Quốc phòng đau buồn xin thông báo cho bà: chồng bà, Hạ sĩ quan Ralph số quân 0021311729 đã hy sinh trong chiến đấu vào ngày 23 tháng 4. Tinh thần chiến đấu dũng cảm của ông để bảo vệ ngọn đồi 203 sẽ luôn được tưởng nhớ bởi các đồng đội. Thông tin thêm sẽ được chuyển tiếp bằng thư.
    Liệu người vợ và hai đứa con của bà có còn đặt lòng tin nơi một Đức Chúa Trời yêu thương không?
    (Nhạc nhỏ dần ) và bây giờ là bản tin sáu giờ. Đây là bản tường trình chúng tôi mới nhận được từ Ấn độ. Nạn đói tồi tệ nhất trong lịch sử Ấn độ nay đã trở nên một thực tế tàn nhẫn. Các quan chức không thể đẩy lùi được những kẻ nổi loạn đang cướp bóc các kho lúa địa phương đòi lương thực cho các gia đình. Ở một số địa phương, cảnh sát phải buộc phải bắn vào đám đông.
    Bạn đã thử dùng Kleeno chưa? Một loại chất tẩy vạn năng làm cho mọi thứ trắng hơn!
    Liệu những người Ấn độ có tin rằng Đức Chúa Trời là Cha của mọi người không?
    Chúng tôi đã sống 39 tháng trong trại tập trung. Trong suốt thời gian này cha tôi đã chết vì đói, còn mẹ tôi thì chết trong một phòng hơi độc. May thay anh tôi đã bị bắn chết trong khi chúng tôi trốn thoát, nhờ vậy đã thoát được những nỗi kinh hoàng đó. Tôi đã được lên lịch cho đội hành quyết vào ngày thứ ba. Nhờ sự giải phóng đến vào thứ hai mà tôi đã thoát chết. Tôi không hiểu làm thế nào mà người ta có thể...
    Tại sao Đức Chúa Trời lại cho phép những điều như vậy lại xảy ra?
    Không Đức Chúa Trời, Không Nan Để
    Bất cứ Cơ Đốc nhân hiệu quả nào cũng đều phải đối đầu với sự thật rằng những điều này thường xảy ra - trong thế giới của Đức Chúa Trời. Chúng làm cho nhiều người khó mà, nếu không nói là không thể, đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời.
    Đồng thời, có một nan đề ngược lại mà những người từ chối đặt lòng tin nơi Chúa bởi nan đề điều ác phải đối mặt. Nếu có Đức Chúa Trời, thì không có “nan đề” điều ác. Nghĩa là, nếu chúng ta sống trong một vũ trụ vô mục đích và không có ý nghĩa, chúng ta không có quyền đòi hỏi thái độ đàng hoàng và ngay thẳng cũng như sự thật phải thắng hơn, và sự đê tiện, sự đau khổ và điều ác thì không được thắng thế. Có thể có những điều chúng ta không “thích,” nhưng chúng ta không thể đòi chúng “không được” có mặt, hoặc chung qui chúng là một “nan đề.” Chúng chỉ là “cách mọi việc vẫn xảy ra,” trong một vũ trụ trung tính về mặt đạo đức.
    Vì vậy, hãy để ý - đây chính là điều thật sự gây khó khăn cho các Cơ Đốc nhân - rằng bạn cần tin chắc nơi một Đức Chúa Trời nhân từ, yêu thương, và quyền năng, thì vấn đề điều ác càng gây ra nhiều cuộc tranh luận. Nếu thật sự có một Đức Chúa Trời như vậy, tại sao điều ác vẫn mạnh mẽ như thế. Và nếu bạn coi Tân Ước là nghiêm túc, thì bạn thậm chí gặp phải một tình huống tồi tệ hơn đó là chính Con Đức Chúa Trời dường như vô quyền khi chống lại điều ác. Điều ác đã hành hình Ngài. Khái niệm về Đức Chúa Trời của bạn càng cao, thì vấn đề lại càng tồi tệ hơn. Nếu không có Đức Chúa Trời, vấn đề thôi tồn tại như một “nan đề;” nếu có một Đức Chúa Trời, thì tình huống dường như không thể dung chịu được.
    Dọn dẹp Các Tầng Cây Thấp
    Điều quan trọng, trong việc xử lý vấn đề phức tạp này, là phải bỏ một số những câu trả lời sai trật nếu chúng ta muốn hiểu những câu trả lời đúng.
    Sách Gióp bàn đến vấn đề này một cách đặc biệt. Trong phần mở đầu của vở kịch mang tính tôn giáo này, Đức Chúa Trời đồng ý rằng Gióp có thể bị thử thách xem thử đức tin của ông có đứng vững được trong hoàn cảnh gay go không.
    Sự thử thách được tiến hành:
    1) Gióp được tin các bầy súc vật đông đảo của ông đã bị bắt và giết chết.
    2) Sau đó Gióp hay rằng cùng số phận ấy đã đổ xuống đầu các tôi tớ ông.
    3) Một sứ giả đã báo cáo rằng các con trai và con gái của ông đều chết hết.
    4) Không bao lâu sau khi hay được những tin đó thì thân thể ông bộc phát những chỗ đau khủng khiếp, xấu xí.
    Vợ ông bảo bây giờ sao ông không “rủa sả Đức Chúa Trời và chết đi.” (nhân đây cũng xin nói vợ ông rất buồn bực khó chịu vì bà vẫn còn sống trong khi tất cả những người còn lại trong gia đình đều bị chết hết, có lẽ là thử thách lớn nhất Gióp phải đối mặt.”
    Đây không phải là những nan đề mới, cũng không phải là những nan đề cũ. Sách Gióp hiện đại có thể được viết ra, trong đó Gióp hay tin trong vòng 10 phút (a) nhà ông đã bị cháy rụi (b) tiền ông trong nhà băng đã mất sạch, (c) con trai ông đã hy sinh ở chiến trường, (d) con gái ông đã chết trong một tai nạn ô tô, và bây giờ ở giữa tất cả những điều đó (e) ông phát hiện mình mắc chứng bại liệt. Ông cũng sẽ hỏi câu hỏi mà Gióp đã thắc mắc: “Vì sao điều này xảy đến cho tôi?”
    Ba “người bạn” (dấu ngoặc kép được sử dụng một cách thận trọng) đến để cho Gióp câu trả lời thẳng thắn, chân thật. Phần lớn sách Gióp được dành cho các lời luận của họ với Gióp, trong lúc bàn luận, rõ ràng là tác giả muốn cho thấy sự kém thiếu trong các câu trả lời “của những người bạn.” Chúng ta hãy xem xét hai trong số những giải pháp bị bác bỏ.
    1) Chủ đề chính của những người “bạn” là mọi đau khổ đều là hậu quả của tội lỗi . Nếu bạn “tốt lành,” mọi sự sẽ ổn cả. Nhưng nếu bạn “xấu xa” bạn sẽ bị trừng phạt. Với luận điểm đó, mỗi người “bạn” đều tìm cách đưa ra một góp ý.
    ÊLIPHA : Ông hãy suy xét lại, nào bao giờ có kẻ vô tội bị hư mất?
    Đâu có người ngay thẳng lại bị trừ diệt?
    Theo điều tôi thấy ai cày sự gian ác ,
    Và gieo điều khuấy rối , thì lại gặt lấy nó .
    (Giop G 4:7, 8)
    BINH ĐÁT : Kìa Đức Chúa Trời chẳng từ bỏ người trọn vẹn.
    Cũng không giúp đỡ kẻ hung ác .
    (8:20)
    SÔPHA : Sự thắng hơn của kẻ ác không có lâu,
    Và sự vui mừng của kẻ vô đạo chỉ một lúc mà thôi .
    (20:5).
    Đây là một công thức dễ chịu. Trên giấy tờ, nó có vẻ ổn.
    Sự Tốt Lành = Sự Thạnh Vượng.
    Sự Xấu Xa = Đau Khổ.
    Chỉ còn lại một câu phải hỏi: có đúng như vậy không? Sách Gióp chứng tỏ điều đó không đúng. Vấn đề chính xác Gióp là một người “tốt lành” nhưng số phận của ông không thịnh vượng, mà là đau khổ. Các “bạn” của Gióp chỉ có thể giải quyết vấn đề này bằng cách phủ nhận lòng tốt của Gióp tồn tại. Bởi vì điều xấu xa = đau khổ. Gióp phải là người xấu. Chấm hết. Loại bỏ vụ việc này. Nhưng sách Gióp trình bày ông là một người công bình ngay thẳng. Nói cách khác, nguyên tắc này không phải lúc nào cũng đúng. Diễn đạt theo cách bây giờ, việc một người giàu có không nhất thiết hàm ý Đức Chúa Trời ban phước cho người ấy. Có thể vì anh ta đã tìm cách trốn thuế lợi tức. Việc một người nghèo khó không nhất thiết nghĩa là người ấy gian ác. Có thể người ấy quá ngay thẳng không chấp nhận hối lộ. Nguyên tắc này không phải luôn luôn đúng.
    Nhưng điều thật sự làm suy yếu lập luận của “các bạn” Gióp, là việc chịu khổ của người “vô tội.” Có phải một đứa trẻ đói khát ở tại Ấn độ “tội lỗi” hơn là một đứa bé ở Hoa Kỳ được nuôi ăn đầy đủ, đứa trẻ mà bố nó kiếm được 10.000 đôla một năm không? Có phải những đứa trẻ bị giết chết ở tại Triều Tiên “tội lỗi” hơn những đứa trẻ ở tại Hoa Kỳ, là những đứa sống sót được hoàn toàn do chiến tranh thực sự đã xảy ra ở đó chứ không phải ở đây?
    Hơn nữa nếu bạn coi quan điểm này là nghiêm túc thì bạn bất chấp nguy hiểm của việc làm cho tôn giáo không là gì ngoài một chính sách bảo hiểm dẫn đến nhiệt tình khổng lồ siêu phàm: “Hãy sống tốt để Đức Chúa Trời ban thưởng, bởi vì nếu bạn không tốt lành, chắc chắn Ngài sẽ trừng phạt bạn - bạn không muốn bị trừng phạt, phải không?
    2) Một trả lời khác mà “các bạn” của Gióp muốn thử nghiệm đó là Đức Chúa Trời sai hoạn nạn đến để giúp chúng ta “tăng trưởng .”
    Sự chịu khổ là một điều tốt, bởi vì nó dạy chúng ta nương cậy nơi Đức Chúa Trời và chúng ta đừng bao giờ thắc mắc các đường lối của Ngài.
    ÊLIPHA: Người mà Đức Chúa Trời quở trách lấy làm phước thay!
    Vậy chớ khinh sự sửa phạt của Đấng Toàn Năng .
    (5:17)
    Quan điểm này cũng được đưa ra chỗ khác trong Kinh Thánh: “Vì Đức Giêhôva yêu thương ai thì trách phạt nấy như một người cha đối cùng con trai yêu dấu mình” (ChCn 3:12 và xem HeDt 12:7).
    Lập luận này có ý nghĩa rõ ràng hơn là lập luận trước. Đúng là người cha có thể kỷ luật con trai mình vì yêu thương, để đứa con ấy có thể lớn lên và trưởng thành. Tuy nhiên một quan điểm như vậy, được chấp nhận như là một giải pháp thích đáng cho nan đề điều ác, có thể trở thành một công cụ để “bào chữa” cho điều ác và thôi quan tâm đến điều ac. Hãy lưu ý những cực đoan mà quan điểm ấy có thể dẫn chúng ta đến.
    “Được rồi vậy là nó bị gãy chân. Đừng nắn lại xương. Cơn đau sẽ uốn nắn tâm tánh của nó.”
    “Không cần phải có một bệnh viện ở đây. Người ta “trưởng thành” nhờ chịu khổ.”
    “Vì sao lại phải dọn dẹp khu ổ chuột ấy cho phiền? Những đứa trẻ này sẽ có cá tánh hơn nếu chúng lớn lên trong một khu xóm khổ cực.”
    Không một con người biết suy nghĩ nào lại đồng ý với những phát biểu nói trên. Tuy nhiên chúng sẽ kéo theo sự thoải mái tai hại nếu bạn đồng tình, quá hấp tấp, với quan điểm cho rằng việc chịu khổ uốn nắn tâm tánh và vì vậy được cho là đúng.
    Như vậy trong cả hai cách trả lời của “các bạn” Gióp, chỉ đủ chân lý để làm cho chúng là những đề nghị đầy mạo hiểm. Chắc chắn có những trường hợp việc chịu khổ đúng là do sự trừng phạt tội lỗi và cũng có trường hợp việc chịu khổ mang tính kỷ luật.
    Bạn gặp khó khăn khi bạn thay thế “tất cả” cho “một số.”
    Một Số Tầng Cây Thấp Nữa .
    Hiện nay đang có sẵn những phương cách khác để giải quyết nan đề điều ác. Hầu hết những cách giải quyết này thậm chí còn kém thỏa mãn hơn là những phương cách của “các bạn,” Gióp. Chúng ta phải cẩn thận đừng để bị bán cho một tờ hóa đơn hàng giả về những vấn đề như sau.
    Có những người tuyên bố rằng mọi đau khổ đều đến từ Đức Chúa Trời . Đây là một lối giải thích hoàn toàn hiểm độc, hơn cả quan niệm cho rằng mọi đau khổ đều là sự trừng phạt của tội lỗi. Nếu chúng ta bảo rằng mọi đau khổ đều đến từ Đức Chúa Trời, chúng ta tiếp tục làm cho Ngài phải chịu trách nhiệm về điều ác theo cách biến Ngài thành một loại quỉ đáng sợ, hoàn toàn có khuynh hướng hủy phá hơn là tạo dựng. Chúng ta cũng tạo cho chính mình một phương thức dễ chịu để trốn tránh trách nhiệm:
    THẨM PHÁN (ở phần kết thúc một vụ án giết người ): Vì cố tình và có chủ ý bóp cổ nạn nhân đến chết, bằng một hành động tội ác được mưu tính trước, anh phải chịu án tử hình trên ghế điện. Anh có gì nói thêm để bào chữa cho mình không?
    TÙ NHÂN: Đúng. Chúa đã làm cho người ấy đau khổ, không phải tôi, đây là thế giới của Ngài, không phải tôi. Tôi không phải chịu trách nhiệm về những gì Ngài khiến tôi làm. Ông là ai mà chất vấn Chúa? Tôi không làm bất cứ điều gì sai trái. Tôi phải được thả tự do.
    (Tù nhân đi ra , vật lộn với những lính gác , không biết rằng để được nhất quán hắn cũng phải công nhận rằng Đức Chúa Trời đã định sự chịu khổ của hắn .)
    Nếu bạn là quan tòa, bạn khó mà để cho lập luận “mọi đau khổ đều đến từ Đức Chúa Trời” thông qua dễ dàng.
    Đôi khi, người ta còn cho rằng điều ác là một ảo tưởng - có nghĩa là điều ác thật sự không hề tồn tại. Rõ ràng là chỉ có một kẻ rắc rối, cạn cợt mới có thể coi một lời tuyên bố như vậy là nghiêm túc. Hãy thử đi một chuyến đến bãi chiến trường, phòng cấp cứu, hoặc một nhà thương tâm thần, cũng sẽ đủ để xua tan ảo tưởng cho rằng điều ác là một ảo tưởng. Hoặc, theo một cách nói nhẹ nhàng hơn, bài thơ hài hước gồm 5 câu nỗi tiếng sau đây có thể diễn tả:
    Có một kẻ chữa lành bằng đức tin đến từ Deal
    Kẻ ấy bảo: “Mặc dầu nỗi đau không có thật
    Khi tôi ngồi trên một cái đinh và nó đâm lủng da tôi,
    Tôi không thích điều tôi tưởng tượng mình cảm nhận.”
    Một lập luận phức tạp khác nữa đó là điều ác cần thiết cho “ích lợi toàn bộ .” Một âm điệu chói tai trong một bài nhạc giao hưởng có thể rất khó chịu nếu nghe riêng lẻ, nhưng khi được nghe vào thời điểm thích hợp trong một bản giao hưởng, nó đóng góp sự tương phản cho khúc nhạc tuyệt vời sắp sửa được nghe, làm cho đoạn nhạc sau trở nên hay hơn bao giờ. Nếu quan điểm này là đúng, thì không có động cơ đích thực để trừ khử điều ác. Loại bỏ âm hưởng chói tai sẽ làm hỏng bản giao hưởng, loại bỏ điều ác sẽ làm hỏng sự quân bằng lớn hơn của toàn bộ. Đây là một quan niệm không coi con người với tư cách con người là quan trọng. Bạn có thực lòng cho rằng có ai đó chết vì lao phổi hoàn toàn là để đóng góp cho “sự ích lợi của mọi người” không?
    Sau cùng, một số người sẽ chứng minh điều ác là hợp lý trên cơ sở mọi sự cuối cùng rồi sẽ tốt đẹp . Những người chịu khổ sẽ có được phần thưởng trên thiên đàng. Ở đây một lần nữa, tôn giáo trở nên hoàn toàn là một phần thưởng dành cho những người “dễ thương” và một lần nữa lập luận này khiến cho việc hết sức vô tâm đối với điều ác trên thế giới này là điều có thể được. (“Hãy để họ chịu khổ ít năm, họ có cả cõi đời đời để được hạnh phúc.”) Nhưng chúng ta sẽ nói thêm vấn đề này ở Chương 17.
    Một Vài Cách Trả Lời Thông Thường
    Cho đến nay, dường như mọi điều con người thường nghĩ về nan đề điều ác đều sai lầm cả. Nhưng trên thực tế, người ta cũng đã suy nghĩ rất nhiều điều có lý về nan đề của điều ác. Trước khi chúng ta chuyển sang một số những câu trả lời cụ thể của Kinh Thánh cho nan đề này, ở chương kế tiếp, cũng nên ghi nhận một số những điều mà lẽ thường vẫn hay nói. Vì vậy ở đây có bốn yếu tố mà khi cùng xem xét với nhau, ít ra cũng soi rọi phần nào cho nan đề của chúng ta.
    1) Sự tồn tại của những định luật đáng tin cậy . Nếu luật sức hút thình lình “bị thu hồi,” cuốn sách này sẽ bay lên trần nhà trong khi chiếc ghế bạn đang ngồi vụt ra khỏi cửa sổ. Bạn có thể không đứng lên được sau khi đã ngã xuống. Chiếc xe buýt ở bên ngoài có thể không chịu xê dịch hoặc chỉ chạy thụt lùi. Mọi sự đều hỗn loạn. Không có gì là vững bền, đáng tin cậy, hoặc có thể đoán trước được.
    Sự kiện những điều như vậy không xảy ra, rằng có những định luật đáng tin cậy, giúp cho đời sống con người khả thi. Điều đó có nghĩa là một số điều ác có thể được giải thích phần nào do có những trường hợp chúng ta đã bất chấp các định luật đó hoặc đặt chính mình vào những tình huống khiến các luật ấy chống lại chúng ta thay vì giúp đỡ chúng ta. Sẽ là hoàn toàn hỗn loạn cho mọi người nếu Đức Chúa Trời đình chỉ luật vạn vật hấp dẫn trong năm phút bởi vì miếng đệm cửa sổ trên tầng lầu thứ sáu mươi tư sẽ quay mòng mòng và rơi khỏi bậu cửa sổ.
    Có một gợi ý về cách tiếp cận này qua những lời của Chúa Jêsus rằng Đức Chúa Trời “làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác” (Mat Mt 5:45). Vũ trụ chúng ta đang sống được sắp đặt cách nhất định bởi Đức Chúa Trời, chúng ta không có quyền gì đòi hỏi Ngài phải sắp xếp mọi sự cho mình nếu chúng ta tình cờ đi ngược lại các mục đích của Ngài hoặc vi phạm những định luật Ngài đã thiết lập.
    2) Tính cần thiết của sự rủi ro . Hầu như mọi niềm vui trong cuộc sống đều kéo theo yếu tố rủi ro. Bạn phải chấp nhận những rủi ro để kinh nghiệm những vui mừng.
    Nếu kết bạn, bạn phải chấp nhận nguy cơ người bạn ấy có thể lừa dối mình. Dầu vậy bạn vẫn chấp nhận rủi ro ấy để có một người bạn.
    Nếu bạn yêu, bạn chấp nhận nguy cơ có thể bị tổn thương. Người bạn yêu có thể không đáp lại tình yêu của bạn, hoặc cô ta có thể bỏ rơi bạn vào phút chót vì một người khác. Nhưng dường như mọi người đều đồng ý rằng tình yêu xứng đáng với những rủi ro.
    Nếu kết hôn và có con cái, bạn phải chấp nhận điều rủi ro là con bạn có thể ghét bạn hoặc có thể lớn lên trở thành một tên ác ôn cướp nhà băng. Nhưng cha mẹ vẫn chấp nhận những nguy cơ của việc có con cái, bởi vì họ thà có con cái với những rủi ro, còn hơn là từ bỏ niềm vui ấy.
    Càng yêu sâu xa chừng nào, chúng ta càng có thể bị tổn thương sâu sắc chừng nấy, tuy nhiên, chúng ta sẽ không từ bỏ những niềm vui của tình yêu vì muốn tránh những nguy cơ tổn thương có thể xảy ra.
    3) Những giá trị trong việc chịu khổ . Nếu chúng ta không tìm cách đẩy vấn đề đi quá xa, chúng ta có thể thấy rằng đôi khi có những giá trị có điều kiện trong việc chịu khổ. Trong một số trường hợp, việc chịu khổ có thể là một phương tiện để phát huy tinh thần trách nhiệm. Một người nhìn thấy những bất hạnh, đói nghèo hoặc tình trạng thất nghiệp của con người, có thể được cảm thúc để làm điều gì đó tích cực và hữu ích để sửa lại những sai trái này. Và có nhiều trường hợp sự đau khổ đã làm sâu đậm thêm lòng thương cảm và hiểu biết của những người đã từng trải sự chịu khổ. Người phụ nữ đã mắc chứng bại liệt, và vật lộn trong đau đớn để có được một loại tự chủ và lòng thương cảm mà Chúa ban, thường làm được nhiều điều để giúp người khác trong hoàn cảnh tương tự hơn là những người chưa bao giờ thực sự biết loại đau đớn này một cách trực tiếp. Cô ấy có thể làm điều đó chính xác là vì bản thân cô đã chịu khổ cách cùng cực.
    4) Sự thực về sự tự do và tội lỗi của loài người . Điềụ quan trọng cần phải nhớ rằng phần lớn điều ác và sự đau khổ là do chúng ta đã lạm dụng chính sự tự do của mình, vì vậy không thể nào qui gán trực tiếp cho Đức Chúa Trời được. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta tự do để lựa chọn Ngài hoặc từ chối Ngài, tự do để sống theo ý muốn của Ngài, hoặc từ chối ý muốn của Ngài và sống theo ưa thích của mình. Sự tự do của chúng ta có trong nó tội lỗi tiềm ẩn của chúng ta, và tội lỗi chúng ta có trong nó sự làm bại hoại con đường mà Đức Chúa Trời đã dự định cho chúng ta phải sống. Tuy nhiên, nếu chúng ta không có sự tự do này, chúng ta chỉ là những con rối lắc lư trên một sợi dây, hoặc những người máy bị hệ thống máy móc điều khiển. Hoàn toàn vô quyền để nói gì về điều mình đã làm hoặc trở thành của chúng ta. Nhưng bởi vì chúng ta có sự tự do đó, nên không có cách nào để trốn tránh trách nhiệm mà bảo rằng chính lỗi của Đức Chúa Trời nếu chúng ta lựa chọn sai lầm và gặp phải khó khăn. Đây là cái giá mà chúng ta phải vui lòng trả cho món quà của sự tự do. (Xem thêm ở Chương 13).
    Bốn yếu tố này khi được xem xét cùng với nhau, soi sáng phần nào cho câu hỏi: Vì sao có điều ác trong thế giới của Đức Chúa Trời? Nhưng bây giờ, chúng ta phải thử một “cách trả lời” đầy đủ hơn bằng cách xem xét trực tiếp cách giải quyết nan đề này của Kinh Thánh.

    Chương 12: Đối Đầu Với Sự Thật Xấu Xa
    (Đức Chúa Trời Làm Gì Đối Với Điều Ac? )
    Giêrêmi không phải là một con người hết sức thận trọng. Khi người ta nói ra những câu mộ đạo sáo rỗng, ông thẳng thắn quở trách họ. Khi cảm thấy Đức Chúa Trời thiên vị, ông cũng nói lên điều đó. Vào thời của Giêrêmi, niềm tin cho rằng Đức Chúa Trời thưởng thiện phạt ác là một điều “đúng đắn.” (Còn nhớ những người “bạn” của Gióp ở chương trước). Nhưng Giêrêmi không được thuyết phục. Ông thấy rằng người “thiện lành” đang bị cư xử bất công, trong khi những người “gian ác” thì lại thịnh vượng. Vì vậy ông đem trường hợp của mình đến thẳng với Đức Chúa Trời:
    Sao đường lối những kẻ ác được thạnh vượng?
    Sao những người gian trá được yên ổn?
    (Gie Gr 12:1)
    Lần sau nếu có một người hoài nghi dày dạn kinh nghiệm hỏi bạn rằng có phải Kinh Thánh có rất nhiều chuyện ảo tưởng, ủy mị, hãy nhớ câu hỏi đó. Kinh Thánh không cắt xén những vấn đề gây bối rối. Kinh Thánh đặt vấn đề một cách thẳng thắn. Kinh Thánh còn làm hơn cả điều đó (là điều mà tất cả những người hoài nghi dày dạn kinh nghiệm thường làm) Kinh Thánh trả lời các vấn đề đó. Trong chương này chúng ta phải cố gắng hiểu xem Kinh Thánh trả lời thế nào cho vấn đề mà những Giêrêmi ở mọi thời đại cảm thấy được thúc giục để hỏi.
    Sự Công Chính Của Đức Chúa Trời Và Các Dân Tộc
    Chúng ta không được làm ngơ hoàn toàn trước quan điểm mà Giêrêmi và Gióp đã công kích. Bởi vì quan điểm “đúng đắn” này có một ý nghĩa nào đó khi có liên hệ đến các dân tộc, mặc dầu nó có vẻ khó hiểu khi liên hệ đến các cá nhân. Chúng ta đã thấy (trong Chương 6) rằng các nhà tiên tri đã tin vào một loại “công bình khắt khe” trong khúc quanh dài của lịch sử. Họ tin rằng nếu một dân tộc cứ khăng khăng đi ngược lại ý muốn của Đức Chúa Trời công bình, thì dân tộc ấy cuối cùng sẽ bị hư mất. Dân tộc ấy không thể nào “thoát khỏi hình phạt” mãi được.
    Bạn nói: được thôi, bao lâu mà bạn còn là kẻ chiến thắng và chưa bị giày đạp.
    Nhưng một dân tộc bị chà đạp thì khó mà nói được như vậy...
    Toàn bộ vấn đề ngoạn mục của các tiên tri là xứ sở của họ đã bị giày xéo mà họ vẫn nói như vậy. Chinh xác như vậy. Đó chính là cách họ giải thích nỗi đau khổ của chính họ chứ không phải của ai khác. Ví dụ Michê, phán về chính dân tộc mình, ông đã nói như vầy:
    Vì những kẻ giàu của thành này đầy sự cường bạo , dân cư nó dùng sự nói dối và trong miệng chúng nó có lưỡi hay phỉnh phờ . Vậy nên ta đánh ngươi , làm cho ngươi bị thương nặng , và khiến ngươi hoang vu vì cớ tội lỗi ngươi .
    (MiMk 6:12, 13).
    Dân tộc này đang bị đánh bại, đất đai đang bị tước đoạt - hầu hết mọi người đều bị bắt đi lưu đày. Và có lẽ sự kiện đáng ngạc nhiên hơn hết của lịch sử Cựu Ước đó là thay vì giải thích tai họa của quốc gia họ như là một bằng chứng của sự thật rằng Đức Chúa Trời đã từ bỏ họ, họ có thể hiểu nó như một gương mẫu của sự kiện Chúa đã thật sự quan tâm đến họ, và đang dùng những phương tiện này để “khiến họ tỉnh ngộ,” hầu cho họ sẽ từ bỏ các đường lối gian ác và trở lại cùng Ngài. Một bài học đã được dạy cho họ với tư cách cả một dân tộc.
    Với tư cách một dân tộc, phải. Nhưng nếu bạn tìm cách bảo rằng những cá nhân tốt lành luôn luôn được khen thưởng, và những cá nhân xấu xa luôn luôn bị hình phạt, thì bạn phải mang lấy những lời phản kháng mạnh mẽ của Gióp và Giêrêmi.
    Vấn Đề Của Những Cá Nhân
    Vậy còn về những cá nhân thì sao? Đây là thắc mắc của Habacúc:
    Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi? (HaKb 1:13)
    Trong thực tế, Habacúc được truyền phải chờ đợi. Vào đúng kỳcủa Đức Chúa Trời, người công bình sẽ được minh oan. Hiện nay điều này có vẻ chưa đúng, nhưng tầm nhìn của ông bị hạn chế và ông phải có đức tin để tin rằng, cuối cùng, các mục tiêu của Đức Chúa Trời và sự công bình của Ngài sẽ thắng.
    Đức Giêhôva đáp lại cùng ta mà rằng :
    Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy ,
    và rõ rệt nó ra trên bảng ,
    hầu cho người đương chạy đọc được ,
    Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định .
    Sau cùng nó sẽ kíp đến , không phỉnh dối đâu ,
    Nếu nó chậm trễ , ngươi hãy đợi ;
    Bởi nó chắc sẽ đến , không chậm trễ .
    Này , lòng người kiêu ngạo , không có sự ngay thẳng trong nó ,
    Song người công bình thì sống bởi đức tin mình .
    (2:2-4)
    Chúng ta cũng hãy nhắc nhở mình về kinh nghiệm của Ôsê (mà chúng ta đã xem xét khá chi tiết trong Chương 5). Ôsê đã đến chỗ nhận biết rằng sự chịu khổ có thể có một giá trị chữa lành và cứu chuộc. Mặc dầu kẻ làm điều xấu phải bị trừng phạt, nhưng sự trừng phạt có mục đích. Bởi vì mặt bên kia của sự trừng phạt là sự phục hồi. Đức Chúa Trời hình phạt với mục đích đưa dân Ngài trở về với Ngài. Và điều này cũng đúng cho các cá nhân lẫn cho các dân tộc. Ôsê biết rất rõ từ kinh nghiệm của chính mình rằng sự chịu khổ không phải chỉ là sự báo thù của Đức Chúa Trời; mà nó còn có một giá trị cứu chuộc đích thực.
    “Tôi Tớ Chịu Khổ”
    Kinh nghiệm của Ôsê cho thấy bản thân việc chịu khổ có thể mang tính cứu chuộc, và niềm tin này đến với sự định nghĩa sắc bén nhất của nó qua khúc Kinh Thánh nằm ở phần sau trong sách Êsai, được gọi là các câu thơ về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ” và cũng là đoạn Kinh Thánh chúng ta xem xét vắn tắt ở Chương 10. Trong các câu thơ này, bạn còn nhớ, một người “tôi tớ” đơn sơ đã tình nguyện mang lấy sự trừng phạt mà đáng lẽ chất trên những kẻ phạm tội. Đây là một loại tình yêu cao trọng tột cùng - tình yêu bằng lòng chịu khổ vì hậu quả việc làm sai trái của người khác. Điều đó cũng giống như bạn đã quật một chiếc rìu phá băng thấu vào tim đối thủ của bạn và sau đó anh của người ấy phải lên ghế điện thay chỗ cho bạn. Đây là sự chịu khổ “thay thế” - kẻ vô tội chịu khổ thay cho kẻ có tội.
    Dưới đây là một ví dụ về một mức độ của việc chịu khổ “thay thế”:
    Khi Kênh đào Panama được xây dựng, tỉ lệ tử vong hết sức cao giữa vòng các công nhân vì bệnh sốt vàng da. Cuối cùng dường như người ta đã chắc chắn rằng bệnh sốt vàng da được lây truyền bởi muỗi, nhưng cần phải nghiên cứu tính chất của bệnh để có thể xử lý chúng hiệu quả. Vì vậy một nhóm người đã tình nguyện để cho loại muỗi ghê gớm này đốt, hầu căn bệnh có thể được nghiên cứu kỹ lưỡng khi nó truyền khắp cơ thể họ. Một số trong những người này đã chết. Tuy nhiên, như một kết quả của việc chịu khổ và chịu chết của họ, một loại huyết thanh hiệu quả đã được chế tạo, và mạng sống của hàng ngàn công nhân được cứu. Sự chịu khổ của một vài người đã trở thành ích lợi cho nhiều người, và sự chịu khổ ấy có ý nghĩa và mục đích.
    Đó là loại ý tưởng mà “Các Bài Ca Của Người Tôi Tớ” nhấn mạnh. Bản thân người tôi tớ “chẳng có hình dung, chẳng có sự đẹp đẽ.” Thật vậy “người đã bị người ta khinh dễ và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm” người ta che mặt họ khỏi người. Tuy nhiên họ đã nhìn thấy một điều hết sức quan trọng khi quan sát sự chịu khổ của người - người đã chịu khổ cho họ . Thái độ của họ đã thay đổi, họ bàng hoàng sửng sốt, và phải đã kêu lên:
    Người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết
    Người vì sự gian ác chúng ta mà bị thương
    Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người , chúng ta được lành bệnh.
    (EsIs 53:5 in nghiêng là ý tác giả)
    Đây là một trong những cao điểm của Cựu Ước. Việc chịu khổ mang tính cứu chuộc thay cho người khác là việc chịu khổ mà bản thân nó đã được đền bồi. Sự đau đớn và roi đòn gánh lấy một cách tình nguyện có thể đem lại sự bình an và sự chữa lành cho những người mà vì họ chúng được gánh. Thậm chí việc chịu khổ của những người vô tội còn đúng là một loại “liệu pháp gây sốc.” Nếu tôi hiểu rằng điều tôi làm đã gây đau khổ cho một con người vô tội, thì nó gây tác động xác đáng trên việc tôi có làm điều đó nữa hay không. Nó có thể khiến tôi hành động hết sức khác biệt, khi ý thức mạnh mẽ mình đã làm tổn thương người ấy như thế nào.
    Câu Trả Lời Cho Gióp
    Trong chương vừa qua, chúng ta đã bỏ mặc Gióp với một nan đề. (Hãy lật lại trang 145 nếu bạn quên điều đó). Ông ta nhận được câu trả lời thuộc loại nào? Đó không phải là một câu trả lời “thỏa mãn trí tuệ”; nếu chúng ta muốn một lời giải thích hợp lý bao bọc toàn bộ vấn đề điều ác trong một gói gọn gàng xinh xắn, thì tốt hơn chúng ta hãy tìm ở nơi khác. Dầu vậy, câu trả lời (Giop G 38:1-41:25) cùng với sự đáp lại của Gióp (40:3-5; 42:1-6), hợp thành một phần quan trọng của một câu trả lời đúng. Đức Chúa Trời bắt đầu bằng cách chất vấn Gióp. (Hết câu hỏi này đến câu hỏi khác). Ngài đối mặt ông bằng sự huyền nhiệm của công cuộc sáng tạo: “Khi ta đặt nền trái đất, thì ngươi ở đâu?” (38:4). Ngài tiếp tục mô tả sự kỳ diệu của công cuộc sáng tạo, và hỏi Gióp những câu hỏi về sự sáng tạo. (Hết câu này đến câu khác). Và tác dụng của các câu hỏi là để nhắc nhở Gióp rằng ông chỉ là một phần bé nhỏ trong sự sáng tạo, vậy mà ông dám cả gan đoán xét Đấng Sáng tạo. Làm thế nào mà một tạo vật đòi hỏi muốn biết tất cả những gì mà Đấng tạo hóa biết? (Hết câu hỏi này đến câu hỏi khác).
    Để đáp lời trước sự công kích dữ dội (tác dụng đầy đủ của nó chỉ có được khi bạn ngồi và đọc một mạch từ đoạn 38-41), Gióp đã một lần nữa thử ngắt lời bằng cách nhận xét:
    Tôi vốn là vật không ra gì sẽ đáp chi với Chúa? Tôi đặt tay lên che miệng tôi . ( 39:37)
    Nhưng ý chính trong sự trả lời của ông đến sau đó:
    Tôi biết rằng Chúa có thể làm được mọi sự
    Chẳng có ý chỉ nào Chúa lấy làm khó lắm .
    Kẻ này là ai , không hiểu biết gì lại dám che ý chỉ của Chúa?
    Phải tôi đã nói những điều tôi không hiểu đến ,
    Tức các sự lạ lùng quá cho tôi mà tôi chẳng thông biết ...
    Trước lỗ tai tôi có nghe đồn về Chúa ,
    Nhưng bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài ;
    Vì vậy tôi lấy làm gớm ghê tôi ,
    Và ăn năn trong tro bụi
    (42:2-6 in nghiêng là ý tác giả ).
    Xét ngoài mặt thì đây dường như là một “cách trả lời” không hài lòng. Không có một lối lý luận lôgic khôn ngoan nào giải quyết vấn đề một lần đủ cả. Nhưng có điều gì đó quan trọng hơn lôgic khôn ngoan rất nhiều. Bởi vì Gióp đã có được một kinh nghiệm trực tiếp về sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Trước đây, ông chỉ nghe đồn về Đức Chúa Trời, ông có bằng chứng gián tiếp. Nhưng bây giờ đích thân ông nhận biết Đức Chúa Trời - ông đã có được chứng cớ trực tiếp. Ông đã bước vào mối quan hệ cá nhân với Đức Chúa Trời hằng sống. Ngoài sự kiện đó, mọi điều khác đều trở nên tầm thường. Điều đã tạo sự khác biệt đối với Gióp không phải Đức Chúa Trời đã thắng trong cuộc tranh luận, nhưng Đức Chúa Trời đã trở nên thực hữu đối với ông. Lần đầu tiên trong đời Gióp có thể nói: “Bây giờ mắt tôi đã thấy Ngài.” Và kết quả của việc này là bây giờ ông có thể tin cậy Đức Chúa Trời trong mọi sự. Không cần một câu “trả lời” cho nan đề của ông nữa. Vấn đề đã được quyết định bởi sự kiện Đức Chúa Trời toàn năng Đấng có thể “làm được mọi sự” đang ở trong mối tương giao thân mật với Gióp, là kẻ “không ra gì.”
    Vì vậy Gióp ăn năn. Ông nhận biết trong sự phân tích cuối cùng, thật ngạo mạn khi đòi Đức Chúa Trời phải “biện hộ” cho chính mình. Và Gióp, thay vì là một kẻ chỉ trích cay đắng, nay đã sống bình an - một con người có đức tin không còn kêu gào Chúa để “chứng minh ông là công bình” nữa, mà thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống của đời mình. Nan đề của ông đã dẫn ông đến chính trọng tâm của một kinh nghiệm niềm tin sống động về Đức Chúa Trời, và dẫn ông đến với Đấng hiện đang thực hữu, nên không còn “nan đề gì” tồn tại nữa.
    Tân Ước Đã Nói Gì?
    Chúng ta có thể lấy từ Cựu Ước sự soi sáng ấy liên hệ đến vấn đề chịu khổ. Còn sự sáng tỏ nào thêm nữa chúng ta có thể rút ra được từ “tin mừng” trong trong Tân Ước?
    Tân ước cho thấy sự khác biệt gì qua việc Chúa Jêsus được sinh ra, sống, chịu chết, và sống lại từ kẻ chết? Dưới đây là bốn sự hiểu biết mà Tân Ước giúp chúng ta làm rõ:
    1) Đức Chúa Trời có mặt với chúng ta khi điều ác xảy đến.
    2) Đức Chúa Trời đắc thắng điều ác.
    3) Đức Chúa Trời đắc thắng sự chết.
    4) Đức Chúa Trời ban cho chúng ta quyền năng để đắc thắng.
    Mỗi phần trên đây đều đáng bình luận.
    1) Đức Chúa Trời có mặt với chúng ta khi điều ác xảy đến . Một ý niệm lạ lùng! Đức Chúa Trời can dự vào điều ác ư? Chắc chắn là Đức Chúa Trời vượt trên điều thiện và điều ác, ở tận nơi nào đó trên trời, không dính líu đến những sự lo âu và phiền muộn quấy rầy tất cả những con người tầm thường. Vì vậy một người thợ mỏ trong bài thơ “ Caliban in the Coal Mines” đã nghĩ như vầy khi ông nói:
    “Thượng đế ơi, Ngài không biết sự tối tăm là thế nào -
    Ngài ngự trong bầu trời chiếu sáng của Ngài”
    Nhưng trọng tâm của phúc âm, là “tin mừng” chính là Đức Chúa Trời thật sự biết điều đó thế nào, bởi vì Ngài không ở xa xôi và cách biệt, nhưng qua Chúa Giêxu Christ, Ngài đã trở thành người và sống giữa vòng chúng ta. Vì vậy phải nói rằng, Đức Chúa Trời đã “xâm nhập” vào đời sống con người chúng ta và dự phần đời sống ấy. (Xem Chương 7-10). Điều này thật đơn giản, nghĩa là Đức Chúa Trời ở với chúng ta trong những điều tồi tệ đó, không phải Ngài cho phép điều ác tồn tại trong thế giới rồi sau đó Ngài tránh xa thế giới chừng nào tốt chừng nấy, trái lại, Ngài đã đến ngay chỗ tội ác có mặt - trong cuộc sống của con người - để chiến đấu với nó, trong đời sống con người, với tư cách một con người. Bạn hầu như có thể nói rằng Đức Chúa Trời “bằng lòng ngậm đắng nuốt cay,” rằng Ngài đã không ở cách xa những kinh nghiệm khó chịu mà những con cái Ngài đang trải qua. Niềm tin theo Kinh Thánh nhìn thấy lời tuyên bố này tập trung rõ ràng nhất qua việc Chúa Cứu Thế chịu đóng đinh. Tại đây, chúng ta nhìn thấy Đức Chúa Trời, qua Chúa Cứu Thế Giêxu, phải chịu những điều ác tồi tệ nhất mà con người có thể nghĩ ra. Ngài không đi vòng để tránh đau khổ và điều ác, nhưng Ngài chấp nhận chúng.
    Ngài có dự phần vào .
    Bất cứ ý tưởng nào cho rằng “Đức Chúa Trời không quan tâm” lập tức bị chận đứng bởi một suy gẫm nhỏ về sự kiện con người đã không đóng đinh một kẻ đáng yêu, mà chính Con Đức Chúa Trời. Người thợ mỏ trong bài thơ quá khiêm tốn trong lời cầu xin của mình. Tất cả những gì anh xin là “một nhúm các vì sao.” Đức Chúa Trời đã không ban một nhúm các vì sao. Ngài ban chính Con Ngài.
    Lưu ý điều này đã đưa Đức Chúa Trời vào trong mối quan hệ chịu khổ của chúng ta như thế nào:
    Trường hợp 1: Một ông bố và bà mẹ nọ có đứa con trai được nuôi nấng lớn lên và vào lúc gần như bắt đầu tuổi thanh xuân, chàng trai qua đời. Bậc cha mẹ này có thể biết rằng Đức Chúa Trời cũng đã từng trải một nỗi đau tương tự như nỗi đau họ đang kinh nghiệm, và Ngài hiểu.
    Trường hợp 2: Một người với khải tượng lớn và lòng quan tâm đối với đồng bào mình bắt đầu đưa những kế hoạch của mình vào hành động cụ thể, nhưng người ta chỉ nhạo báng anh, từ chối giúp đỡ anh, lại còn muốn tiêu diệt anh hoàn toàn. Người này có thể nhận biết được thất bại của mình (thật sự đó là một thất bại) không phải là một kinh nghiệm đẩy anh “xa cách” với Đức Chúa Trời mà ngược lại, nó đưa anh đến gần với những gì Đức Chúa Trời, trong Đấng Christ, đã từng trải.
    Đối với những người như vậy, không những họ tin quyết rằng Đức Chúa Trời hiểu biết, mà còn tin rằng Chúa, là Đức Chúa Trời, có thể giúp họ trong giờ hoạn nạn của mình. Lá thư gởi cho người Hêbơrơ cho thấy điều đó:
    Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng. (HeDt 4:15, 16)
    2) Đức Chúa Trời đắc thắng điều ác . Bảo rằng Đức Chúa Trời chỉ có mặt với chúng ta trong những điều xấu xa ác tệ thôi thì chưa phải là “tin mừng.” Điều đó cũng nghĩa là Đức Chúa Trời cũng bị “kẹt” trong những tình thế nan giải như chúng ta, và Ngài cũng không thể thoát ra được. Vì vậy, ở đây, Tân Ước đưa ra một tuyên bố gây ngạc nhiên khác. Tân Ước tuyên bố rằng Đức Chúa Trời không những dự phần điều ác, nhưng Ngài thật sự chiến đấu với điều ác và chiến thắng nó.
    (Lời bắt bẻ mạnh mẽ của một độc giả hoài nghi: Hãy đợi một phút! Làm thế nào mà bạn nói như thế được? Nếu điều ác đã bị Đấng Christ đánh bại cách đây 1900 năm, thì nó đang làm một công việc khá tốt là giả vờ còn sống ngày nay).
    Đây là một phản ứng hợp lý, và để giải quyết, chúng ta phải tự nhắc mình về ý nghĩa nội tại của sự kiện Chúa chịu đóng đinh và phục sinh, nếu các sách Phúc âm kết thúc bằng sự chết của Chúa Jêsus, chúng ta sẽ có một bi kịch, chỉ thế thôi. Đức Chúa Trời có mặt trong điều ác, đúng thế, và điều ác đã chiến thắng Ngài. Nhưng chúng ta đã thấy, Tân Ước tỏ rõ rằng sự chết của Chúa Jêsus không phải là kết thúc. Tội ác đã thực sự đóng đinh Con Đức Chúa Trời và giết Ngài đi, nhưng nó không thể thắng Ngài bởi vì Đức Chúa Trời đã khiến Chúa Jêsus sống lại từ kẻ chết, vì vậy, ý nghĩa đích thực của thập tự giá đã được tỏ rõ, đó là sức mạnh của điều ác đã bị đánh bại bởi quyền năng của Đức Chúa Trời. Ở đây là Đức Chúa Trời, trong thân vị của Đấng Christ, yếu đuối, và không phương tự vệ, bất lực, bị những con người tội ác và các thế lực của điều ác tấn công. Nếu Đức Chúa Trời có thể đắc thắng trong cuộc đối đầu này với điều ác, thì rõ ràng Ngài có thể đắc thắng bất cứ cuộc tấn công nào nữa mà các thế lực của điều ác nhắm vào Ngài. Tân Ước nói một cách chính xác rằng -Đức Chúa Trời đã chiến thắng trong cuộc chiến đấu này - Ngài là người chiến thắng nổi bật (Phần nói về “Thập Tự Giá Là Sự Chiến Thắng” trong Chương 10 nên được đọc lại để liên hệ với phần này).
    Điều đó có ý nghĩa gì đối với chúng ta? Chúng ta có thể hoàn toàn quả quyết rằng không một sự phô bày nào của các thế lực điều ác mạnh đủ để đánh bại Đức Chúa Trời, nghĩa là chúng ta đang sống trong một thế giới Ngài đã chiến thắng.
    (Sự nhượng bộ miễn cưỡng của độc giả hoài nghi: Nhưng dẫu cho nếu Đức Chúa Trời đã chiến thắng vào ngày hôm đó , dường như kể từ ngày hôm đó Ngài đã thua. Làm sao bạn tin được điều ác đã bị đánh bại trong thế giới của thế kỷ thứ hai mươi này?)
    Đây không phải là câu hỏi dễ trả lời. Câu trả lời tối hậu duy nhất mà Cơ Đốc nhân có thể đưa ra là qua sự kiện Chúa chịu đóng đinh và phục sinh con người nhìn thấy dấu hiệu của quyền phép Đức Chúa Trời vượt trên điều ác đủ để sẵn sàng tin rằng sự đắc thắng của Ngài là điều chắc chắn. Có thể ví dụ sau đây làm rõ vấn đề này:
    Khi bạn đọc một câu chuyện trinh thám (ví dụ như The Case of the Bloody Hand hay là No Corpse ) cốt chuyện dường như hết sức phức tạp, lộn xộn, bạn hoàn toàn không chắc chắn kết cuộc sẽ như thế nào. Nhưng ở chương cuối nhà thám tử triệu tập tất cả những người bị tình nghi trong một căn phòng, xử lý và tháo gở điều bí ẩn, phân tích từng giai đoạn, và tiết lộ bằng cách nào anh ta biết được kẻ phạm tội. Chỉ trong ánh sáng của chương cuối cùng, phần còn lại của sách mới ăn khớp với nhau. Sau khi đã đọc đến đó, bạn có thể kêu lên: “Ồ đúng rồi! Bây giờ tôi mới hiểu vì sao người quản gia trong Chương Ba lại ném con dao xuống giếng mà không lau dấu tay đi.” Bây giờ bạn mới có thể hiểu được các tình tiết, những phản kế, “những âm mưu xảo trá” và những dấu vết, những manh mối được cài đặt một cách cẩn thận.
    Giả sử, bạn đọc chương cuối trước, rồi sau đó mới đọc phần còn lại của câu chuyện trinh thám...
    Bạn có thể sẽ hiểu ra nhiều tình tiết trong câu chuyện! Bạn nhìn thấy ý nghĩa và tầm quan trọng trong các sự kiện diễn ra. Bạn sẽ hiểu rõ hơn một chút nữa mối quan hệ giữa con dao, các dấu vân tay, lá thư chưa gởi, và người khách nửa đêm - trong khi với người khác, cũng những sự kiện đó lại là một mớ hỗn độn tuyệt vọng. Bởi vì bạn đã biết điều xảy ra trong chương cuối nên bạn có được một cái nhìn toàn cảnh rõ ràng hơn về ý nghĩa của toàn bộ câu chuyện.
    Bây giờ đừng đẩy vấn đề đi quá xa, cũng đừng thắc mắc quá nhiều về nó. Nhưng cứ hãy giữ nguyên đó như một cách để bảo rằng bạn, là một Cơ Đốc nhân, đang ở chỗ phần nào giống với độc giả. Khi nhìn xem những rối rắm bí ẩn của các sự kiện như đời sống và lịch sử của nhân loại; bạn thấy được ý nghĩa và phương hướng nào đó trong chúng bởi vì bạn đã biết kết cuộc sau cùng là gì. Bạn biết Đức Chúa Trời sẽ đắc thắng trong cuộc chiến tranh đang tiếp diễn với điều ác, bởi vì Ngài đã chiến thắng trong biến cố đóng đinh và phục sinh. Vậy phải nói rằng, bạn đã xem chương cuối, bạn có thể sống đời mình trong sự bảo đảm rằng quyết định của cuộc chiến đã giành được rồi và kết cuộc chắc chắn là chiến thắng của Đức Chúa Trời. Tất nhiên bạn không thể “chứng minh” điều ấy. Bạn vẫn bước đi bởi đức tin (có nghĩa là “tin cậy”) thay vì bởi mắt thấy. Nhưng bạn đã hiểu rõ đủ để đặt lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời.
    Ở đây chúng ta phải nhấn mạnh một vấn đề sống động hơn nữa đã được giải thích trong Chương 10. Khi nói về việc Đức Chúa Trời chiến thắng điều ác qua Đấng Christ, chúng ta không thể giải thích đầy đủ nếu không hiểu phương cách qua đó các đoạn Kinh Thánh về “Người Tôi Tớ Chịu Khổ” (EsIs 52:13; 53:12) giải tỏ sự kiện của thập tự giá. Một lần nữa hãy xem xét phần trích dẫn ở đầu chương này. Ở đây, một chiều kích khác của thập tự giá là sự đắc thắng. Chúng ta đã phạm tội, bất tuân ý chỉ của Đức Chúa Trời, nhưng thay vì chính chúng ta phải chịu toàn bộ gánh nặng của hình phạt tội lỗi, Đức Chúa Trời, qua Chúa Cứu Thế đã đích thân gánh lấy hình phạt. (Đó là lý do vì sao, vào nhiều thời điểm khác nhau trong lịch sử Cơ Đốc giáo, Đấng Christ đã được nhắc đến như là “Đấng gánh tội lỗi.”) Ngài mang gánh nặng tội lỗi đáng lẽ nấy trên chúng ta; Ngài gánh trên chính mình hình phạt đáng lẽ dành cho chúng ta. Ngài “đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết”; vì “sự gian ác chúng ta mà bị thương.”
    Nhưng vì sao Đức Chúa Trời phải làm như vậy, chúng ta không biết. Đó là một huyền nhiệm. Nhưng là huyền nhiệm của tình yêu Ngài và qua hành động của Ngài, chúng ta hiểu phương cách tình yêu đối đầu với điều ác - bằng cách gánh lấy điều ác và chiến thắng nó. Phaolô cũng giải thích vấn đề này theo một cách hơi khác. Ông nói: “Bởi Đấng Christ, Đức Chúa Trời đã xóa tờ khế lập nghịch cùng chúng ta, các điều khoản trái với chúng ta nữa, cùng phá hủy với tờ khế đó mà đóng đinh trên cây thập tự” (CoCl 2:13, 14).
    3) Đức Chúa Trời chiến thắng sự chết . Đối với phần lớn mọi người, sự thật về cái chết là điều dường như làm hỏng ý nghĩa của đời sống. Đối với họ, toàn bộ câu chuyện có thể được đặt trong một nguyên tắc:
    Chúng ta sống, tranh đấu, và chết.
    Con cháu chúng ta sống, tranh đấu và chết.
    Con cái chúng nó sống, tranh đấu, và chết.
    Cuối cùng mọi người đều chết và chẳng có gì để bày tỏ về sự sống.
    Đối lập với điều này, Kinh Thánh khẳng định hết sức tích cực sự thật về “sự sống đời đời.” Cái chết không phải là cuối cùng hành trình của con người. Sự chưa hoàn thành của đời sống sẽ được làm trọn bởi Đức Chúa Trời theo cách chúng ta chưa hiểu hết được, nhưng đó vẫn là lời khẳng định trọn vẹn về sự ứng nghiệm các mục đích của Đức Chúa Trời dành cho đời sống con người ( Chương 17 sẽ nói rõ vấn đề này đầy đủ hơn, ở đây chúng ta chỉ liên hệ lời tuyên bố đó với nan đề của điều ác).
    Chúng ta không được để cho sự thật về đời sau giải quyết nan đề của điều ác một cách quá đơn giản. Ví dụ người ta rất thường được bảo rằng đừng lo lắng về điều ác ở trên thế giới này, bởi vì “mọi sự rồi sẽ tốt đẹp ở nơi thiên đàng.” Nhưng chúng ta cũng phải hiểu rằng đức tin theo Kinh Thánh về đời sau không tương ứng với chu trình vô nghĩa của sống - tranh đấu_ chết - sống tranh đấu chết - sống - tranh đấu - chết từ đời này sang đời khác. Chúng ta sống, tranh đấu và chết, đúngvậy - nhưng Đức Chúa Trời có thể khiến chúng ta sống lại, uốn nắn lại chúng ta và sử dụng chúng ta cho những mục đích của Ngài theo những cách vượt quá sự tưởng tượng của chúng ta, hầu cho sự chưa trọn vẹn của chúng ta được nên trọn vẹn bởi Ngài, đời sống chưa hoàn thành của chúng ta được hoàn thành bởi Ngài. Kinh Thánh tuyên bố rằng không có điều gì đe dọa đời sống chúng ta mà cuối cùng có thể phân rẽ chúng ta khỏi Đức Chúa Trời trong Đấng Christ, bởi vì Đức Chúa Trời, qua Chúa Cứu Thế là Chúa của sự sống và sự chết. Phaolô đã nói điều này một cách rõ ràng hơn hết:
    Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta. (RoRm 8:38, 39).
    Những lời ấy là trái tim và là trọng tâm của Tân Ước. Chúng đáng được đọc lại một lần nữa:
    Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Jesus Christ là Chúa chúng ta. (RoRm 8:38, 39).
    4) Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng . Còn một điều nữa cần phải nhấn mạnh: Đức Chúa Trời ban cho chúng ta sức mạnh để chiến thắng điều ác. Điều này không có nghĩa là chúng ta có thể tránh điều ác và đau khổ. Mà là Đức Chúa Trời ban cho chúng ta các nguồn phương tiện để nhờ đó chúng ta đối địch với điều ác và đau khổ - và đắc thắng chúng.
    Kinh Thánh không hứa hẹn bởi “trở thành người tốt” chúng ta sẽ tránh được điều ác và đau khổ; nhưng Kinh Thánh đã tỏ rõ ràng hầu như trên mọi trang Kinh Thánh rằng khi điều ác và đau khổ đến với chúng ta, là điều không thể tránh khỏi, chúng ta không cần khuất phục chúng nhưng trải qua và chịu được theo một cách cho thấy chúng ta là kẻ chiến thắng chứ không phải chúng. Chúng ta có thể đối mặt với chúng bằng những nguồn phương tiện mà hiện nay đã dành sẵn cho chúng ta bởi “tin mừng:” Lòng tin chắc rằng Đức Chúa Trời ở với chúng ta giữa những điều ác, rằng Ngài chiến thắng điều ác và chiến thắng sự chết. Vững tin nơi những điều đó, chúng ta có thể đối mặt với điều ác mà không sợ hãi.
    Nhưng chúng ta còn có một bổn phận nữa. Chúng ta phải chia sẻ bất cứ sức mạnh nào mà mình có được với người khác. Một lần nữa, Phaolô có thể giúp chúng ta hiểu:
    Chúc tạ Đức Chúa Trời, Cha Đức Chúa Jesus Christ chúng ta, Ngài là Cha hay thương xót, là Đức Chúa Trời ban mọi sự yên ủi, Ngài yên ủi chúng tôi trong mọi sự khốn nạn, hầu cho nhơn sự yên ủi mà Ngài đã yên ủi chúng tôi , thì chúng tôi cũng có thể yên ủi kẻ khác trong sự khốn nạn nào họ gặp (IICo 2Cr 1:3, 4 in nghiêng là ý tác giả )
    Phaolô muốn nói rằng Đức Chúa Trời ban cho ông sức mạnh (sự yên ủi = sức mạnh), hầu cho đến lượt, ông cũng có thể ban sức mạnh cho những kẻ đang gặp hoạn nạn. Ông nhận lãnh sức mạnh và sự bảo đảm từ nơi Chúa chưa đủ; ông phải chuyển trao sức mạnh và sự bảo đảm đó tiếp tục cho những người khác. Và điều này tạo thành sự chiến thắng đích thực trên điều ác, thậm chí khi “những sự đau đớn của Đấng Christ chan chứa trong chúng tôi thể nào,” Phaolô nói tiếp “thì sự yên ủi của chúng tôi bởi Đấng Christ cũng chứa chan cũng thể ấy.” (1:5). Phaolô quả quyết với chúng ta, đối với những người đặt lòng tin nơi Đức Chúa Trời, Ngài thật sự ban cho họ sức mạnh để đối đầu với bất cứ điều gì đời sống có thể đem đến, và công việc của họ là trở thành một người mang sức mạnh Chúa ban cho mình cho người khác.
    Điều này nghĩa là việc sử dụng cách sáng tạo nhất sự đau khổ có được khi qua đau khổ, bạn có năng lực để giúp đỡ những người gặp hoạn nạn. Câu hỏi đích thực không phải là: “Tại sao điều này xảy đến với tôi,” mà là: “Tôi có thể dùng điều đã xảy đến cho mình như một phương tiện để hầu việc Chúa trọn vẹn hơn bằng cách nào?”
    “Câu Trả Lời” Đích Thực Duy Nhất
    Bây giờ chúng ta đã thấy rõ rằng không có câu trả lời đơn giản, hai cộng hai bằng bốn cho phụ huynh của những đứa trẻ chết trong tai nạn xe buýt, vợ viên hạ sĩ quan, các gia đình Ấn độ bạo loạn, hay là những nạn nhân của trại tập trung. Nhưng cũng đã rõ ràng rằng có những nguồn phương tiện trong đức tin đặt nơi Kinh Thánh để đối điện với những tình huống ấy, xử lý chúng, sống với chúng, và biến đổi chúng bởi đức tin, thay vì bị chúng biến ra tuyệt vọng. Công việc của người Cơ Đốc không phải là để có “một câu trả lời sẵn sàng” cho mọi tình huống, mà là để có được toàn bộ cách tiếp cận với cuộc sống, từ sự gặp gỡ với Đức Chúa Trời, giúp người ấy sống được với mọi tình huống và đắc thắng trong mọi tình huống.
    Chương 13: Về Mặt Này... Về Mặt Khác
    (Tôi Là Ai? )
    Khi viện nghiên cứu triết học trong một trường đại học lớn đang được xây dựng, người ta tranh luận về câu đề tặng sẽ phải được khắc trên cổng chính. Một nhóm người muốn khắc câu nói của Protagoras: “Con người là thước đo của mọi sự.” Một nhóm khác đề nghị ghi những lời thưa cùng Chúa trong Thithiên thứ Tám: “Con người là gì mà Chúa nhớ đến?”
    Trên thế giới luôn luôn có hai khái niệm khác biệt về con người. Trong khái niệm đầu, con người là trung tâm của mọi sự. Trong khái niệm thứ hai, Đức Chúa Trời là trung tâm của mọi sự. Ai đúng? Con người là gì?
    Một Câu Hỏi Bạn Không Thể Tránh
    Đừng cho rằng câu hỏi: “Con người là gì?” là không thực tế và không quan trọng. Đó là một câu hỏi mà lúc nào bạn cũng thắc mắc và không thể thôi thắc mắc được. Mỗi một thắc mắc sau đây chẳng qua là một cách cụ thể để hỏi: “Con người là gì? Tôi là ai? Điều gì đã khiến tất cả chúng ta hành động như thế?”
    • “Âu yếm nhau trong cuộc hò hẹn có được không?”
    • “Làm thế nào để tôi được hạnh phúc?”
    • “Vì sao tôi không được làm theo ý thích?”
    • “Làm thế nào để chúng ta tránh được Chiến Tranh Thế Giới III?”
    • “Vì sao làm điều “phải” lại khó thực hiện như vậy?”
    • “Vì sao tôi phải đi học?”
    • “Có điều gì sai trật với Chủ nghĩa Cộng sản?”
    • “Vì sao giáo sư dạy hình học lại ghét tôi dữ vậy?”
    Vì không tránh được câu hỏi này, nên đây là “kế hoạch tấn công của chúng ta” để đối diện với nó. Trước hết chúng ta sẽ lấy mẫu các câu trả lời chuẩn cho câu hỏi này hiện có trên thị trường ngày nay. Sau đó, trong phần còn lại của chương này chúng ta sẽ xem xét hai phần của câu trả lời theo Kinh Thánh, và trong chương tiếp theo chúng ta sẽ xem xét phần thứ ba, là phần quan trọng đến nỗi phải dành trọn một chương cho nó. Cuối cùng chúng ta sẽ xem xét con người-trong-cộng đồng, trong hội thánh. Bằng cách này chúng ta có thể hiểu cách trả lời của Kinh Thánh có ý nghĩa hay không, và cũng để xem cách trả lời đó thế nào so với các câu trả lời khác.
    Một Số Các Câu Trả Lời Hiện Hành - Mười Xu Một Tá
    Một cách trả lời rất phổ biến trong những ngày này đó là chúng ta được dựng nên vì Nhà nước . Chỉ khi nào phục vụ Nhà Nước chúng ta mới hoàn thành vận mệnh của mình. Đó là câu trả lời của Hiller -Mussolini - Stalin cho câu hỏi này, và bởi vì Kremlin đã áp đặt nó trên hằng triệu con người trong thời của chúng ta, nên chúng ta không thể chỉ cười xòa trước cách trả lời đó. Tất nhiên là có một sự thật trong tư tưởng cho rằng chúng ta không thể chỉ sống cho chính mình, mà phải cống hiến sự trung thành cho điều gì đó lớn hơn chính mình. Tuy nhiên, chỗ câu trả lời này để ngỏ trước câu hỏi quan trọng, chính là trong sự khẳng định của nó cho rằng Nhà Nước phải là đối tượng cao nhất của lòng trung thành chúng ta. (Chúng ta sẽ đào sâu vấn đề này một chút nữa ở Chương 22).
    Một số người tuyên bố rằng chúng ta được dựng nên để hạnh phúc . Chúng ta được tạo dựng để hưởng những giờ phút tốt đẹp, những giờ phút tốt nhất mà chúng ta có thể có. Những người tin vào điều đó không nhất thiết là những người ích kỷ bởi vì họ có thể lập luận rằng cách tốt nhất để hưởng thời gian tốt lành là giúp người khác có được thời gian tốt đẹp - tức là bằng cách đem sự dễ chịu đến cho người khác, bạn sẽ tìm thấy hạnh phúc cho mình. Vấn đề chủ yếu ở đây là, bạn hàm ý gì qua từ “hạnh phúc?” Đối với phần lớn mọi người, đây hàm ý những sự dễ chịu thuộc thể - một ngôi nhà đẹp, áo quần đẹp, TV 21 inch, và một chiếc xe hơi đời mới. Chúng ta phải hỏi con người có phải đời sống của họ nhất thiết sẽ có ý nghĩa sâu đậm hơn, trọn vẹn hơn chỉ vì họ có nhà đẹp, áo quần đẹp, TV 21 inch và xe hơn mới không. Đời sống họ có thể trống vắng hơn bao giờ hết.
    Những người khác trả lời câu hỏi này bằng cách bảo rằng: “Chúng ta chỉ là những con người” bằng cách trả lời đó họ dường như hàm ý rằng chúng ta là những con vật phát triển cao cấp , chứ không có gì hơn. Những ý tưởng về tình yêu, về Đức Chúa Trời, hoặc sự hy sinh, chỉ là những suy nghĩ do ao ước, không thực tế, nhằm cố ý thoát khỏi sự thực không dễ chịu rằng chúng ta đang bị “ràng buộc với cõi trần.” Lập luận này đi tiếp, tốt hơn hết là hãy đối mặt với sự thật và tận dụng điều có ích nhất. Bạn hãy để ý cách trả lời này cũng mang tính giáo điều như cách trả lời của thần học cứng nhắc nhất. Rốt lại, chúng ta nhất định phải hỏi liệu có phải không có sự khác biệt cơ bản giữa nơi trú ẩn của một con vật và một ngôi nhà thờ lớn; giữa tiếng kêu vì sợ hãi của một con thú với một bản nhạc giao hưởng; giữa một bữa ăn của một con vật với lễ Tiệc Thánh.
    Điều quan trọng về cách trả lời này và những cách trả lời khác dành cho câu hỏi “Con người là gì?” không phải là chúng hoàn toàn sai, mà là chúng chưa đầy đủ. Chúng ta phải trung thành với Nhà Nước - nhưng chúng ta cũng phải trung thành với những người khác nữa. “Hạnh phúc” có thể là một phần của mục đích chúng ta được tạo dựng - nhưng chúng ta cũng được dựng nên để hy sinh nữa. Chúng ta cũng có phần giống loài vật, phải ăn uống và ngủ nghỉ để sống còn - nhưng thức ăn, nước uống và giấc ngủ rồi không có gì nữa, chẳng bao lâu sẽ làm chúng ta chán đến chết, bởi vì với chúng ta, còn có nhiều ao ước khác nữa chứ không phải chỉ những mong muốn của loài vật. Và vì vậy chúng ta có thể tiếp tục với những câu trả lời hiện hành khác.
    Vìvậy chúng ta hãy xem xét cách trả lời của Kinh Thánh để xem có phải nó không cho chúng ta một lời mô tả thỏa mãn đầy đủ hơn về tình huống con người của chúng ta không.
    Phần Thứ Nhất Trong Cách Trả Lời Của Kinh Thánh
    Về một phương diện, Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta để tương giao với Ngài . Ý tưởng này được triển khai rõ ràng nhất trong các phần đầu của sách Sáng thế ký. Trong Chương 4 chúng ta đã bàn luận cách giải thích của các câu chuyện sáng tạo này. Chúng ta thấy rằng đây không phải những lời ký thuật về ông tổ - tiên - tằng (không biết đến thứ mấy) của chúng ta. Các câu chuyện này được đặt trong một mốc thời gian đặc biệt, lại là những câu chuyện rất thật về mọi vấn đề theo thời gian. Bất cứ điều gì mà chúng nói cho chúng ta về quá khứ cổ xưa của ai đó, chúng cũng nói với chúng ta nhiều hơn rất nhiều về đời sống hiện tại của chúng ta. Chúng mô tả chúng ta . Ví dụ, từ Hêbơrơ ad -ham , từ đó chúng ta có tên gọi “Ađam,” không phải là một cái tên riêng dành cho một cá nhân. Nó chỉ là một từ để chỉ “người nam”-mọi người nam - cũng như “Êva” chỉ có nghĩa là “người nữ” - mọi người nữ. Điều rất thực về Ađam và Êva (về “người nam” và “người nữ”) cũng đúng với tất cả chúng ta nữa. Chúng ta không phải đang đọc một câu chuyện xưa cổ. Mà chúng ta đang đọc câu chuyện “của chúng ta” được đặt trong hình thức diễn đạt bằng hình tượng.
    “Hình Ảnh Của Đức Chúa Trời” Là Gì?
    Từ các câu chuyện đó, chúng ta biết được gì về chính mình? Trước tiên chúng ta học biết rằng chúng ta được tạo dựng “theo hình ảnh của Đức Chúa Trời.” Đây là một điều khó hiểu, nhưng chúng ta phải làm sáng tỏ điều đó càng nhiều càng tốt. Điều này không có nghĩa là chúng ta là Đức Chúa Trời. Đó sẽ là một ý niệm không thể dung chịu được đối với các trước giả Kinh Thánh. Tuy nhiên chúng ta được tạo dựng theo “hình ảnh” của Đức Chúa Trời hoặc “giống như” Đức Chúa Trời. Chúng ta có phần nào giống Đức Chúa Trời, mặc dầu chúng ta không giống Đức Chúa Trời hoàn toàn .
    Ví dụ Đức Chúa Trời là Đấng Sáng Tạo. Ngài tạo dựng và bảo tồn thế giới này. Ngài tạo dựng và bảo tồn chúng ta. Và chúng ta cũng có tính sáng tạo. Chúng ta làm ra mọi thứ từ nghệ thuật thơ ca và âm nhạc, các hình thức chính phủ dân chủ cho đến lưới bắt muỗi, các máy đánh chữ và kem trái cây hai phần gồm kẹo mềm với những hạt đậu phộng rắc lên trên. Ngoài ra, người nam và người nữ có một phần trách nhiệm trong việc tạo dựng đời sống mới của con người, khi họ kết hôn và có con cái. Khi xem xét tính sáng tạo nơi đời sống con người, chúng ta có thể thấy như một loại hình ảnh đã bị lu mờ, điều gì đó của tính sáng tạo vốn thuộc về Đức Chúa Trời - với sự khác biệt đáng kể, tức là chúng ta sáng tạo bởi vì sự thôi thúc có tính sáng tạo đã được cài đặt trong chúng ta bởi Đức Chúa Trời và lệ thuộc vào Ngài, trong khi Đức Chúa Trời sáng tạo bởi vì bản tính của Ngài là sáng tạo, và Ngài không lệ thuộc vào ai cả.
    Một cách khác để giải thích “hình ảnh của Đức Chúa Trời:” là hãy nghĩ đến sự phản chiếu , như khi bạn nhìn vào một tấm gương. Khi bạn nhìn hình ảnh của bạn phản chiếu trong gương, có điều gì đó giống bạn, tuy nhiên nó khôngphải thực sự là bạn mặc dầu nó có thể cho bạn một ý tưởng khá tốt về con người của bạn như thế nào. Ngoài ra hình ảnh này hoàn toàn phụ thuộc vào bạn. Nếu bạn di chuyển xa tấm gương - hình ảnh không còn nữa. Nó không thể tồn tại một cách độc lập. Điều này nhắc nhở chúng ta một sự kiện quan trọng trong mối quan hệ giữa chúng ta với Chúa. Chúng ta lệ thuộc vào Ngài, giống như hình ảnh trong tấm gương lệ thuộc vào chúng ta. Nếu Đức Chúa Trời tách biệt hoàn toàn khỏi chúng ta, chúng ta sẽ ngưng tồn tại, giống như hình ảnh trong chiếc gương sẽ biến mất nếu bạn đi sang một căn phòng khác.
    Một Số Những Hậu Quả
    Ý tưởng chúng ta được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời nhấn mạnh cả sự vĩ đại lẫn sự nhỏ bé của chúng ta. Nó nhấn mạnh đến sự vĩ đại của chúng ta, bởi vì theo quan niệm này, chúng ta chiếm một vị trí độc đáo trong công trình sáng tạo của Chúa. Chỉ có loài người mới được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Mọi vật khác đều phải ở dưới quyền kiểm soát của con người, được con người sử dụng cho sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi Tv 8:6, 7). Con người có một tầm quan trọng đặc biệt bởi vì Đức Chúa Trời “nhớ đến con người” đã “làm con người kém Đức Chúa Trời một chút” và “đội cho người sự vinh hiển sang trọng” (4,5). Có điều gì đó thật độc đáo khi được làm một con người, đồng thời niềm tin này nhấn mạnh sự nhỏ bé của chúng ta bởi vì nó nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta lệ thuộc vào Đức Chúa Trời về chính sự sống của mình. (Bạn còn nhớ ví dụ về tấm gương). Chúng ta không tạo ra chính mình. Chúng ta không thể kiểm soát hoàn toàn chính mình. Chúng ta có thể hiểu chính mình khi chúng ta thừa nhận rằng chúng ta lệ thuộc vào Đấng Tạo Hóa của mình - đây là điều khó và không dễ để chấp nhận.
    Hãy lưu ý một điều khác nữa về việc được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Điều này có nghĩa là chúng ta là những hữu thể có trách nhiệm . Chúng ta có thể quyết định điều mình sẽ làm. Và nếu Kinh Thánh nói đúng, thì Đức Chúa Trời đặt chúng ta ở đây và ban cho chúng ta sự tự do để chọn lựa Ngài hoặc từ chối Ngài. Không có gì là tự động ở đây cả. Chúng ta không phải là “những tên lửa được điều khiển” hoàn toàn nằm dưới tính thất thường của người đang ngồi tại nút kiểm soát. Chúng ta tự chọn các quyết định của mình.
    Chúng ta có được món quà khủng khiếp của sự tự do .
    Khủng khiếp - vì mặc dầu chúng ta có thể chọn để yêu Chúa, chúng ta cũng có thể chọn để từ chối Ngài. Chúng ta có thể nói “không” cũng như “vâng.” Dầu Đức Chúa Trời đã dựng nên chúng ta để bước vào mối tương giao với Ngài, Ngài không áp đặt điều đó lên chúng ta, bởi vì tình yêu không thể ép buộc. Tình yêu phải được ban cho một cách nhưng không. Như vậy chúng ta có cơ hội để làm trọn số phận của mình bằng cách yêu kính Chúa và sống với tư cách con cái Ngài (đó là mục đích của việc tạo dựng chúng ta). Hoặc chúng ta có cơ hội để khước từ số phận của mình bằng cách bảo rằng: “Không, điều đó khó quá. Tôi không thích như thế, tôi yêu chính mình hơn. Tôi sẽ loại bỏ Đức Chúa Trời.”
    Phần Thứ Nhì Trong Cách Trả Lời Của Kinh Thánh
    Vấn đề đem chúng ta đến phần thứ hai mà Kinh Thánh phán về chúng ta - đó là dầu một mặt chúng ta được Chúa tạo dựng để tương giao với Ngài, mặc khác, chúng ta đã từ chối mối tương giao đó . Chúng ta có cơ hội để nói vâng trước sự ban cho của tình yêu và sự tương giao của Ngài, nhưng chúng ta đã chọn để nói không. Thay vì để Đức Chúa Trời ở trung tâm đời sống mình, chúng ta chọn chính mình làm trung tâm đời sống chúng ta.
    Đây là một cách nói vòng vo của việc mô tả điều Kinh Thánh gọi thẳng thừng là “tội lỗi.” “Tội lỗi” là một từ không được ưa chuộng thời nay. Một phần những khó khăn nổi lên là vì quan niệm theo qui ước của chúng ta về “tội lỗi” rất khác so với quan niệm của Kinh Thánh. Một bản liệt kê điển hình các “tội lỗi theo Trường Chúa Nhật” có thể là thế này:
    • hút thuốc
    • uống rượu
    • đánh bài
    • đi xem phim vào ngày Chúa nhật
    • quá quan tâm đến tình dục
    Chúng ta sẽ khám phá rằng từ quan điểm của Kinh Thánh đây là một sự phân tích hời hợt, không đi vào trọng tâm vấn đề gì cả.
    Tội Lỗi Là Gì
    Như vậy thì Kinh Thánh hiểu thế nào về tội lỗi? Một lần nữa câu chuyện của Sáng thế ký, vốn là câu chuyện “của chúng ta,” sẽ cho chúng ta đầu mối rõ nhất. Quay trở lại SaSt 3:1-24, chúng ta thấy rằng loài người bị cám dỗ. Và cám dỗ là gì? Đó là cám dỗ muốn nắm giữ vai trò của Đức Chúa Trời:
    Ngươi sẽ như Đức Chúa Trời , biết điều thiện và điều ác (3:5).
    “Ngươi sẽ như Đức Chúa Trời” - đó là cám dỗ cơ bản. Chúng ta được tạo dựng để sống như là con cái Đức Chúa Trời và đặt Ngài ở trung tâm đời sống mình, thay vì vậy, chúng ta muốn chính mình giữ vai của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, trọng tâm của tội lỗi là hành động nổi loạn , nổi loại chống lại sự vâng phục Đức Chúa Trời. Chúng ta muốn nắm quyền kiểm soát.
    Chúng ta hãy diễn dịch ý tưởng này sang cách nói của mình, để xem có phải đây thực sự không phải là câu chuyện “của mình” không:
    “Cuộc đời tôi là của tôi; đừng ai bảo tôi phải cư xử như thế nào.”
    “Trong đó có gì cho tôi chứ?”
    “Đơn giản là tôi sẽ làm điều tôi muốn.”
    “Anh hãy đi mà tìm lấy Con Người Số Một.”
    “Tôi biết chính xác điều tôi muốn để thoát khỏi cuộc đời này, và tôi sẽ rất vui vẻ mà chọn điều đó.”
    Khi nói những điều như thế, tôi muốn làm rõ rằng trung tâm của đời sống mình là “tôi.” Đó chính là bản chất của tội lỗi - biến “tôi” trở thành trung tâm đời sống thay vì Đức Chúa Trời. Đó là khăng khăng giữ ý muốn của tôi thay vì ý muốn của Đức Chúa Trời, chỉ nghĩ đến quyền lợi của mình. Nhưng tôi không được tạo dựng để nghĩ về chính mình trước hết. Tôi được dựng nên để kính yêu và phục vụ Đức Chúa Trời. Thay vì làm như vậy, tôi nói: “Tôi sẽ giữ vai trò Đức Chúa Trời trong đời sống mình. Tôi sẽ là trung tâm của mọi sự.”
    Và thậm chí nếu tôi có được vẻ mộ đạo (đôi khi tìm kiếm lời đồn ấy) và khẳng định rằng tôi chỉ tìm cách làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời mà thôi, thì tôi thấy mình cũng có một khả năng siêu phàm để làm cho ý muốn của Đức Chúa Trời trùng khớp với điều tôi luôn muốn thực hiện. Tôi vẫn ở tại trung tâm đời sống mình.
    Đây là một điều mà duy chỉ có tôi, với tư cách một con người có khả năng phạm, bởi vì tôi có sự tự do có thể bị lạm dụng. Cây cối không có khả năng “phạm tội;” một con cọp, một con rùa, hoặc một con chim bông lau, cũng không thể phạm tội. Nhưng tôi thì có, bởi vì tôi có những khả năng mà một cái cây, con hổ, và con rùa hay con chim bông lau không có, tôi chống lại việc sử dụng chúng theo cách tôi phải sử dụng. Khi có cơ hội để yêu kính Chúa tôi chọn yêu chính mình. Và khi làm như vậy, tôi phân rẽ chính mình khỏi Đức Chúa Trời.
    Giờ đây, hậu quả đáng buồn của việc tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời là vì thế tôi cũng tự tách mình khỏi đồng loại. Nếu tôi không chấp nhận sự thật tôi được dựng nên với địa vị cao trọng để tương giao với Đức Chúa Trời, thì rất có thể tôi cũng không cảm biết rằng Bill John được tạo dựng vì địa vị đó. Nếu anh ấy không phải là con cái của Chúa, mà chỉ là đứa con của bụi đất thì tôi chẳng cần phải quan tâm nhiều lắm đến anh ấy, hoặc những gì xảy ra cho anh ấy. Nếu có cơ hội, tôi sẽ tìm cách “lợi dụng” anh ấy - điều khiển anh ta cho ích lợi của chính tôi. Anh ta trở thành một “thứ đồ vật,” tôi tách mình khỏi Bill John, cũng như tôi tách mình khỏi Jack Smith và John Brown và (tương tự như vậy) tất cả những John, Smith và Brown, đều xa cách lẫn nhau. Tất cả chúng ta đều tìm cách để “thủ vai của Đức Chúa Trời” đối với nhau, để “kiểm soát” lẫn nhau, và hóa ra chúng ta lại là những con người đáng thương khi nắm giữ vai trò của Đức Chúa Trời.
    Và hậu quả là một thảm họa
    Một lần nữa câu chuyện trong Sáng thế ký nhấn mạnh câu chuyện “của chúng ta.” Hậu quả của sự nổi loạn trong Sáng thế ký là bị đuổi khỏi “Vườn Êđen.” Trong thời của chúng ta hậu quả của sự nổi loạn là toàn bộ sự trục trặc của đời sống con người. Trái đất của chúng ta, đáng lẽ có thể là vườn Êđen, lại là nơi mà một số lớn con người sống như trong địa ngục.
    • Tôi nhìn xem cuộc đời bằng những sở thích của chính mình.
    • Bạn nhìn xem cuộc đời bằng những sở thích của chính bạn.
    • Chúng ta xung đột.
    • Dân tộc này quan tâm đến lợi ích riêng của họ
    • Dân tộc kia cũng vậy
    • Họ xung đột với nhau
    Trên mọi bình diện lớn nhỏ, chúng ta thấy cùng một khó khăn đó nằm ở gốc rễ những rắc rối của chúng ta.
    Cung Cấp Một Số Tài Liệu
    Bây giờ đây là một kết luận đặc biệt không dễ chịu. Chúng ta không thích ý niệm cho rằng có điều gì đó hoàn toàn trục trặc với chúng ta. Chúng ta thích tin rằng khó khăn này có thể được chữa trị một cách qua loa hơn. Chắc chắn là Kinh Thánh không bi quan như vậy! Nhưng Kinh Thánh không khiến chúng ta dễ chịu nếu chúng ta tìm cách trốn tránh kết luận này. Hãy xem một bảng tóm tắt ngắn:
    Êsai không những công nhận ông là một người có môi dơ dáy mà còn thừa nhận rằng ông sống giữa vòng một dân có môi dơ dáy (EsIs 6:5). Một nhà tiên tri sau đó đã tỏ rõ rằng: “Mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp” (64:6). Giêrêmi nhắc nhở chúng ta rằng “Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật và rất là xấu xa.” (Gie Gr 17:9). Chúa Jêsus cũng không nói điều dễ chịu hơn về chúng ta. Ngài nhắc nhở chúng ta rằng “Tự lòng người mà ra những ác tưởng, sự dâm dục, trộm cướp, giết người, tà dâm, tham lam, hung ác, gian dối, hoang đàng, con mắt ganh đố, lộng ngôn, kiêu ngạo, điên cuồng.” (Mac Mc 7:21, 22) Những lời Ngài phán với những người Pharisi cũng nhắm vào tất cả chúng ta: “Các người giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.” (Mat Mt 23:27). Ngài bảo chúng ta: “Khi làm xong việc truyền phải làm thì hãy nói rằng: Chúng tôi là đầy tớ vô ích” (LuLc 17:10). Phaolô tiếp tục điệp khúc: “Chẳng có một người công bình nào hết, dẫu một người cũng không” (RoRm 3:10 xem Thi Tv 14:1, 2). Chúng ta cứ được nghe lập đi lập lại rằng thậm chí những thành tựu cao nhất của chúng ta cũng bị bại hoại.
    Đó chỉ mới là một phần nhỏ chúng ta lấy ra làm m