• Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh


     Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh
    Tác giả: Gordon D. Fee và Douglas Stuart

    Tựa
    1. Dẫn Nhập: Nhu Cầu Giải Nghĩa
    2. Công Cụ Căn Bản: Một Bản Dịch Tốt
    3. Các Thư Tín: Tập Suy Nghĩ Theo Bối Cảnh
    4. Các Thư Tín: Những Vấn Đề Giảng Kinh
    5. Những Truyện Ký Trong Cựu Ước: Cách Sử Dụng Thích Hợp
    6. Sách Công Vụ Các Sứ Đồ: Vấn Đề Tiền Lệ Lịch Sử
    7. Các Sách Phúc Âm: Một Câu Chuyện, Nhiều Khía Cạnh
    8. Những Dụ Ngôn: Bạn Có Nắm Được Luận Điểm?
    9. Luật pháp: Những Qui Ước Cho Y-sơ-ra-ên.
    10. Sách Tiên Tri: Tuân Hành Giao Ước Trong Y-sơ-ra-ên
    11. Thi Thiên: Lời Cầu Nguyện Của Y-sơ-ra-ên Và Của Chúng Ta
    12. Sự Khôn Ngoan: Xưa và Nay
    13. Khải Thị: Những Hình Ảnh Phán Xét và Hi Vọng
    Phụ lục : Thẩm Định và Sử Dụng Các Sách Giải Nghĩa

    Tựa
    Các sách về phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh bằng Anh Ngữ có rất nhiều, tuy nhiên loại sách này bằng tiếng Việt rất hiếm hoi. Nhu cầu cần có một cuốn sách căn bản nhằm giúp các tôi tớ và con cái Chúa nghiên cứu Lời Chúa cách đúng đăn và có phương pháp đã thúc đẩy chúng tôi ấn hành cuốn Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh này.
    Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh được dịch từ cuốn How to Read the Bible for All Its Worth của hai tác giả Gordon D. Fee và Douglas Stuart do nhà xuất bản Zondervan Publishing House ấn hành (1993). Trọng tâm của quyển sách nhằm giúp người đọc nắm vững các thể văn (genres) khác nhau được dùng để viết Kinh Thánh, mặc dầu nhiều vấn đề khác cũng được đề cập. Các tác giả tuần tự đề cập đến mười loại thể văn trong Kinh Thánh để giúp người đọc nhận ra những khác biệt giữa các thể văn này, một điều rất quan trọng ảnh hưởng đến cách hiểu Kinh Thánh của chúng ta.
    Là những giáo sư dạy tại chủng viện và thường xuyên giảng Lời Chúa trong các Hội Thánh, các tác giả không chỉ muốn chúng ta biết Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh nhưng còn phải vâng giữ những gì Kinh Thánh dạy. Tác giả muốn giúp chúng ta đi từ giải kinh (exegesis ) đến giảng kinh (hermeneutics ), tưc đi từ ý nghĩa nguyên thủy của bản văn đến ý nghĩa hiện tại, từ chỗ “thời xưa, nơi ấy” của đoạn kinh văn nguyên thủy đến hoàn cảnh sống “hiện nay, nơi đây” của chúng ta. Vì thế, hiểu Kinh Thánh, các tác giả nhấn mạnh đến hai công tác. Thứ nhất là tìm ra ý nghĩa nguyên thủy của đoạn kinh văn, công tác này được gọi là giải kinh (exegesis ). Thứ hai là phải học lắng nghe ý nghĩa đó trong từng bối cảnh mới mẻ và khác nhau của thời đại chúng ta, công tác này được gọi là giảng kinh (hermeneutics ). Trong cách dùng cổ điển, từ ngữ giảng kinh (hermeneutics ) bao gồm cả hai công tác, nhưng trong sách này, các tác giả dùng từ giảng kinh theo nghĩa hẹp này. Thực hiện cả hai công tác trên phải là mục tiêu của việc đọc Kinh Thánh. Tuy nhiên, thay vì đưa ra những quy luật, các tác giả chỉ muốn nêu lên những hướng dẫn và gợi ý nhằm giúp chúng ta trong việc nghiên cứu Kinh Thánh.
    Người ta thường nói chẳng cần trình độ học vấn chủng viện mới hiểu được Kinh Thánh. Điều đó đúng. Tuy nhiên việc nghiên cứu cẩn thận và có phương pháp sẽ giúp chúng ta hiểu Lời Chúa cách chính xác hơn và áp dụng cách đúng đắn hơn. Để đáp ứng nhu cầu nghiên cứu Lời Chúa của các tôi con Chúa, Viện Thần Học Việt Nam dịch và ấn hành tập Nguyên Tắc Đọc Và Hiểu Kinh Thánh này với sự cho phép của nhà xuất bản Zondervan. Vì đây là loại sách nghiên cứu và có những từ ngữ khó dịch sang tiếng Việt nên chắc chắn chúng tôi không thể tránh khỏi những khiếm khuyết trong bản dịch này. Chúng tôi ước mong nhận được sự đóng góp ý kiến của tất cả quí vị để trong lần tái bản tới chúng ta có được một bản dịch hoàn chỉnh hơn. Xin chân thành cảm tạ quí vị.
    Viện Thần Học Việt Nam
    Tháng 10, 2002

    Dẫn Nhập: Nhu Cầu Giải Nghĩa
    Chúng ta thường gặp nhiều người phát biểu đầy tự tin rằng “Bạn cần gì phải giải nghĩa Kinh Thánh; chỉ cần đọc và làm theo thôi.” Thường thì nhận định như thế ngụ ý sự phản đối của những tín đồ chống lại các học giả “chuyên nghiệp,” mục sư, giáo sư hay giáo viên Trường Chúa Nhật, vì khi “giảng giải” dường như muốn lấy Kinh Thánh khỏi tay các tín hữu bình thường. Đó là cách để họ bảo rằng Kinh Thánh không phải là một bộ sách tối nghĩa, khó hiểu. Họ cho rằng “chỉ cần chút ít thông minh thôi cũng có thể đọc và hiểu được Kinh Thánh. Vấn đề là quá nhiều nhà truyền đạo và giáo sư đào xới lung tung khiến cho Kinh Thánh vốn rõ ràng dễ hiểu nay thành ra tối tăm mù mịt.”
    Lời phản đối trên phản ánh sự thật. Chúng tôi biết rằng Cơ Đốc nhân phải đọc, tin và vâng theo Kinh Thánh. Chúng tôi cũng đồng ý rằng Kinh Thánh không thể là một quyển sách tối nghĩa, khó hiểu nếu được đọc và nghiên cứu đúng phương pháp. Thật vậy, vấn đề nghiêm trọng nhất mà người ta gặp khi nghiên cứu Kinh Thánh vốn không phải do thiếu hiểu biết, nhưng do họ hiểu quá rõ hầu hết các sự việc! Chẳng hạn với câu “Phàm làm việc gì chớ nên lằm bằm và lưỡng lự” (Phi Pl 2:14) vấn đề không phải là hiểu, nhưng là làm theo - phải thực hành nó.
    Chúng tôi cũng đồng ý rằng nhà truyền đạo hoặc giáo sư thường đào trước rồi mới nhìn sau, do đó đã lấp đi phần ý nghĩa rõ ràng của đoạn kinh văn thường vốn nằm ngay trên bề mặt. Chúng tôi xin nói trước và sẽ còn nhắc lại nữa - rằng mục tiêu của việc giải nghĩa đúng đắn không phải là tìm cho ra điểm độc đáo; không ai có thể khám phá ra điều mà chưa từng có ai thấy trước đó.
    Giải nghĩa mà cứ chú trọng, hoặc đi tìm cái độc đáo, thường có thể là do kiêu ngạo (một nỗ lực muốn tỏ ra “ta đây khôn khéo tài giỏi vượt bậc” hơn những người còn lại trên đời), một sự hiểu biết thuộc linh sai lầm (Kinh Thánh chứa đựng nhiều chân lý sâu nhiệm đang chờ đợi người có sự mẫn cảm thuộc linh và cái nhìn sáng suốt, thông tuệ khám phá), hoặc rơi vào ý thích (với mục đích hậu thuẫn cho một thiên kiến thần học, nhất là khi giải nghĩa những đoạn kinh văn có vẻ như chống lại với thiên kiến ấy). Những cách lý giải độc đáo - có một không hai - thường là sai lầm. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng việc hiểu đúng một bản văn sẽ dường như không có vẻ độc đáo đối với người mới nghe nó lần đầu tiên, nhưng có nghĩa rằng tìm điểm độc đáo không phải là mục đích của công tác giải nghĩa.
    Mục tiêu của việc giải nghĩa tốt rất đơn giản: Tìm ra “ý nghĩa rõ ràng của đoạn kinh văn.” Một tri thức được soi sáng là yếu tố quan trọng nhất trong công tác giải nghĩa. Trắc nghiệm dành cho một phần giải nghĩa tốt, là nó có bộc lộ ý nghĩa đúng của đoạn kinh văn hay không. Do đó, giải nghĩa đúng sẽ làm cho tâm trí ta cảm thấy nhẹ nhõm, thoải mái.
    Nhưng nếu vấn đề giải nghĩa chỉ là đi tìm ý nghĩa thật mà thôi, thì tại sao lại cần phải giải nghĩa? Tại sao không phải là chỉ đọc mà thôi? Chẳng phải chỉ cần đọc cũng có thể nắm được ý nghĩa rõ ràng đó hay sao? Ở một phương diện điều này đúng. Nhưng về mặt xác thực hơn, thì lý luận như thế vừa ngây thơ vừa không thực tế bởi hai yếu tố sau đây: bản tính của người đọc và bản chất của Kinh Thánh.
    Người Đọc Là Người Giải Nghĩa
    Lý do đầu tiên mà ta cần học cách giải nghĩa là vì người đọc đồng thời cũng là người giải nghĩa cho dù có muốn hay không. Nghĩa là phần đông chúng ta cho rằng hễ khi nào chúng ta đọc, thì chúng ta cũng hiểu những gì mình đang đọc. Chúng ta có khuynh hướng nghĩ rằng mình hiểu được ý định của Thánh Linh hay của tác giả. Tuy nhiên, chúng ta luôn đưa mình vào đoạn kinh văn bằng kinh nghiệm, văn hóa, sự hiểu biết về chữ nghĩa và ý tưởng của chính mình. Mặc dầu không cố ý nhưng nhiều khi những điều mà chúng ta đưa vào đoạn kinh văn dẫn chúng ta đi lạc, hoặc khiến chúng ta thấy toàn là những tư tưởng ngoại lai.
    Chẳng hạn khi một người trong nền văn hóa của chúng ta nghe tiếng “thập tự giá,” do ảnh hưởng của nhiều thế kỷ nghệ thuật Cơ Đốc, tự nhiên nghĩ ngay đến chữ thập của người La Mã (=), tuy nó rất ít giống với hình dạng cây thập tự của Chúa Giê-xu, có lẽ có hình dạng giống như chữ “T”. Phần đông các tín hữu Tin Lành và Công Giáo khi đọc phần Kinh Thánh đề cập đến một Hội Thánh đang thờ phượng đều tự động hình dung ra một nhóm người ngồi trên những chiếc “ghế dài” trong một ngôi nhà giống như họ. Khi Phao-lô viết (bản KJV) “Chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó” (RoRm 12:14), nhiều người trong nền văn hóa nói tiếng Anh dễ dàng nghĩ “xác thịt” có nghĩa là “thân xác,” do đó cho rằng Phao-lô đang nói về “sự ham muốn thể xác.”
    Nhưng từ ngữ “xác thịt” theo cách dùng của Phao-lô rất ít khi đề cập đến thân thể - và trong câu Kinh Thánh này thì gần như chắc chắn là nó đã không được dùng theo nghĩa đó - nhưng ám chỉ một căn bệnh thuộc linh, một chứng bệnh của đời sống thuộc linh gọi là “bản tính tội lỗi.” Do đó, dù không cố ý, người đọc cũng đang giải thích điều mình đọc, và rủi thay lại quá thường giải nghĩa sai.
    Điều này đưa chúng ta đến chỗ lưu ý thêm rằng trong bất kỳ trường hợp nào, người đọc một quyển Kinh Thánh Anh ngữ cũng đều buộc phải giải nghĩa. Tự bản dịch đã là một hình thức giải nghĩa. Cho dù bạn dùng bản dịch nào thì quyển Kinh Thánh của bạn đối với bạn là khởi điểm nhưng thật ra là kết quả công tác của nhiều học giả. Các dịch giả thường phải lựa chọn giữa nhiều nghĩa, và việc lựa chọn của họ sẽ ảnh hưởng đến cách bạn hiểu.
    Vì vậy các dịch giả giỏi phải lưu tâm vấn đề khác biệt trong ngôn ngữ. Đó không phải là một công việc dễ dàng. Chẳng hạn như trong RoRm 13:14, chúng ta nên dịch là “xác thịt” (như trong các bản KJV, RSV, NRSV, NASB, vv...) vì đây chính là từ ngữ mà Phao-lô đã dùng, rồi một người giải nghĩa chú thích cho độc giả biết rằng từ ngữ “xác thịt” ở đây không có nghĩa là “thân xác”? Hay chúng ta phải “giúp đỡ” người đọc và dịch là “bản tính tội lỗi” (như trong các bản NIV, GNB, vv...) vì đây chính là điều Phao-lô muốn nói? Chúng tôi sẽ đề cập vấn đề này chi tiết hơn trong chương sau. Như vậy tưởng cũng đủ chứng tỏ rằng việc dịch thuật tự nó đã có sẵn công tác giải nghĩa.
    Cứ nhìn vào một Hội Thánh hiện nay ta có thể thấy rõ rằng không phải ai cũng hiểu được những câu Kinh Thánh xem ra rất rõ nghĩa. Có người dựa vào câu ICo1Cr 14:34-35 buộc phụ nữ phải nín lặng trong nhà thờ nên cấm phụ nữ nói tiếng lạ và nói tiên tri. Có người dựa vào các câu ICo1Cr 11:2-16 chủ trương phụ nữ có quyền cầu nguyện, có quyền nói tiên tri trong nhà thờ với điều kiện là phải trùm đầu lại. Những cách giải thích trái ngược này lại nằm trong cùng một văn cảnh với nhau, đoạn Kinh Thánh nói về sự “im lặng.” Lại có người tuyên bố “Kinh Thánh rõ ràng dạy” rằng phải dìm toàn thân xuống nước khi làm báp-têm; những người này không chấp nhận một hình thức báp-têm nào khác. Một số chủ trương Kinh Thánh cho phép làm báp-têm cho trẻ con, trong khi có người bảo rằng Kinh Thánh chỉ cho phép làm báp-têm cho người lớn. Có người giảng dạy rằng khi tín hữu được cứu rỗi thì có thể “cầm chắc sự cứu rỗi ấy đời đời.” Nhưng có người lại giảng rằng tín hữu có thể “đánh mất sự cứu rỗi” của mình. Tất cả những người nói trên ai cũng mạnh mẽ xác nhận rằng mình làm đúng theo “ý nghĩa rõ ràng” trong Kinh Thánh. Ngay cả hai tác giả của quyển sách này cũng có vài ý kiến bất đồng về một số câu Kinh Thánh mặc dầu cả hai chúng tôi đều đọc cùng một bản dịch Kinh Thánh và đều cố gắng vâng theo những gì mà phần Kinh Thánh dạy “rõ ràng.”
    Ngoài những điều khác nhau có thể nhận thấy ngay giữa vòng “các tín hữu tin Kinh Thánh” ta còn thấy đủ loại những điều lạ lùng khác. Chẳng hạn người ta thường có thể nhận ra ngay các giáo phái sùng tín, ngoài Kinh Thánh ra họ còn có thêm cả uy quyền. Nhưng không phải tất cả các giáo phái sùng tín đều như thế cả; trong nhiều trường hợp, người ta đều xuyên tạc chân lý bằng cách chọn một số câu ngay trong Kinh Thánh. Mọi tà giáo hoặc tập tục hành đạo mà người ta có thể tượng tượng ra, từ thuyết Arianism (phủ nhận thần tánh của Chúa Cứu Thế) của các Chứng Nhân Giê-hô-va và giáo phái Con Đường (The Way), đến việc làm phép báp-tem cho người chết giữa các tín đồ Mormons, cho đến việc bắt rắn giữa các giáo phái Appalachian, đều rêu rao là đã lấy Kinh Thánh làm nền tảng.
    Ngay giữa những người chính thống vẫn có nhiều ý niệm lạ lùng muốn được chấp nhận. Chẳng hạn một trong những phong trào đang gây náo loạn trong giới tín hữu Cải Chánh Hoa Kỳ, đặc biệt là giữa những người theo phong trào ân tứ (Charismatics), cái gọi là Phúc Âm của thịnh vượng và sức khỏe. “Phúc Âm” của Đức Chúa Trời là muốn bạn được thạnh vượng về mặt tài chánh và vật chất! Một trong những người bênh vực cho “phúc âm” này tranh luận “ý nghĩa rõ ràng” của Kinh Thánh ở phần đầu quyển sách ông ta viết, tuyên bố rằng ông ta đặt Lời Đức Chúa Trời trước nhất trong suốt công trình nghiên cứu của mình. Ông ta cho rằng điều quan trọng không phải là những gì chúng ta nghĩ là Kinh Thánh dạy, nhưng là điều thật sự Lời Đức Chúa Trời dạy. “Ý nghĩa rõ ràng” là điều mà ông ta theo đuổi. Nhưng người ta thắc mắc “ý nghĩa rõ ràng” thật ra là gì khi lập luận rằng ý chỉ của Đức Chúa Trời là sự thịnh vượng tài chánh được rút ra từ IIIGi 3Ga 1:2: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, tôi cầu nguyện cho anh được thạnh vượng trong mọi sự và được khỏe mạnh phần xác anh cũng như đã được thạnh vượng về phần linh hồn anh vậy” (KJV) - phần Kinh Thánh mà thật ra chẳng có liên hệ gì với sự thịnh vượng về tài chánh cả. Một thí dụ khác giải thích ý nghĩa rõ ràng từ câu chuyện của chàng thanh niên giàu có (Mac Mc 10:17-22) theo cách hoàn toàn trái ngược với “ý nghĩa thật”, rồi gán lời giải nghĩa đó đến từ Đức Thánh Linh. Ta có thể thắc mắc rằng có cần gì phải tìm tòi mới thấy được ý nghĩa rõ ràng hay không; có lẽ ý nghĩa rõ ràng chỉ là điều mà tác giả như thế muốn gán cho phần Kinh Thánh để hậu thuẫn ý niệm mà ông ta yêu thích.
    Sau khi đã trình bày những điểm khác biệt cả bên trong lẫn bên ngoài Hội Thánh và ngay cả giữa vòng các học giả được xem là biết “luật,” chúng ta không còn ngạc nhiên nữa khi có một số người lý luận rằng chẳng cần giải nghĩa, chỉ cần đọc mà thôi. Nhưng cách chọn lựa như vậy không đúng. Giải pháp cho việc giải nghĩa tồi không phải là chẳng cần giải nghĩa, mà là giải nghĩa đúng dựa trên các hướng dẫn thường thức.
    Tác giả cuốn sách này không hề có ảo vọng rằng chỉ nhờ đọc và làm theo các chỉ dẫn của sách thì mọi người đều sẽ nhất trí “ý nghĩa rõ ràng,” ý nghĩa chúng tôi đã tìm ra! Điều chúng tôi mong ước là nâng cao tính nhạy bén của độc giả khi gặp những vấn đề cụ thể trong từng thể văn, để biết tại sao có những chọn lựa khác nhau, và làm thế nào để suy xét theo tri thức thông thường, nhất là để có thể phân biệt được giữa cách giải nghĩa tốt và không được tốt lắm - cũng như biết được nguyên nhân nào dẫn đến điều đó.
    Bản Chất của Kinh Thánh
    Một lý do quan trọng cần phải giải nghĩa Kinh Thánh là bản chất của chính Kinh Thánh. Từ xưa Hội Thánh đã hiểu bản chất của Kinh Thánh giống như cách họ hiểu về thân vị của Đấng Christ - Kinh Thánh vừa mang nhân tánh vừa mang thần tánh. Giáo sư George Ladd có viết: “Kinh Thánh là Lời của Đức Chúa Trời được ban truyền bằng lời lẽ (của loài người) trong lịch sử.” Chính bản chất kép của Kinh Thánh đòi hỏi chúng ta phải giải nghĩa.
    Vì Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời nên có tính phù hợp vĩnh hằng (eternal relevance); Kinh Thánh truyền phán cho cả nhân loại thuộc mọi thời đại và mọi nền văn hóa. Kinh Thánh là Lời Đức Chúa Trời nên chúng ta phải lắng nghe - và vâng theo. Tuy nhiên vì Đức Chúa Trời chọn phán Lời Ngài qua lời lẽ loài người trong lịch sử, nên tất cả các sách trong Kinh Thánh đều mang đặc trưng lịch sử; đều chịu sự chi phối của ngôn ngữ, thời gian và văn hóa khi nó được viết ra (trong một số trường hợp cũng bị lịch sử truyền khẩu đã có từ trước chi phối). Mối “căng thẳng” giữa tính phù hợp vĩnh hằng và đặc trưng lịch sử đòi hỏi Kinh Thánh phải được giải nghĩa.
    Dĩ nhiên có một số người cho rằng Kinh Thánh chỉ là quyển sách của con người, rằng nội dung của nó chỉ là lời lẽ của con người trong lịch sử. Với họ công tác giải nghĩa chỉ gói gọn trong việc tìm hiểu lịch sử mà thôi. Họ chỉ quan tâm đến các ý niệm tôn giáo của người Do Thái, Chúa Giê-xu, hay Hội Thánh đầu tiên như trường hợp Cicero hoặc Milton. Do đó, họ xem công tác giải nghĩa chỉ thuần túy lịch sử. Những lời này có ý nghĩa gì đối với những người đã viết chúng? Họ nghĩ gì về Đức Chúa Trời? Họ hiểu về chính họ như thế nào?
    Mặt khác, có những người chỉ chú trọng đến tính phù hợp vĩnh hằng của Kinh Thánh mà thôi. Vì đó là Lời Đức Chúa Trời, họ có khuynh hướng nghĩ rằng Kinh Thánh là bộ sưu tập những lời phán truyền phải được tin, những mệnh lệnh phải được tuân thủ - mặc dầu người ta luôn cố chọn lựa giữa những lời phán truyền và mệnh lệnh đó. Chẳng hạn nhiều Cơ-đốc nhân dựa trên PhuDnl 22:5 (“người nữ không được phép mặc quần áo của người nam”) để lý luận theo nghĩa đen rằng phụ nữ không nên mặc quần tây hoặc quần soóc. Nhưng chính những người đó lại ít khi chịu hiểu theo nghĩa đen các mệnh lệnh khác trong cùng khúc Kinh Thánh, bao gồm việc phải xây một bao lơn chung quanh nóc nhà mình (câu 8), chớ trồng hai loại hạt giống trong cùng một vườn nho (câu 9) và phải kết tua nơi bốn chéo áo choàng của mình mặc (câu 12).
    Tuy nhiên, Kinh Thánh không phải là một loạt các phán truyền và mệnh lệnh, nó không chỉ đơn giản là một bộ sưu tập “Những lời phán của Tổng Thống Thượng Đế,” như thể Ngài từ trên trời nhìn xuống chúng ta và phán rằng: “Nầy, các người ở dưới kia, hãy học tập các chân lý này: Thứ nhất, chỉ có một Đức Chúa Trời và đó là ta. Thứ hai, Ta là Đấng Tạo Hóa của muôn vật kể cả con người” - và cứ thế tiếp tục đến lời phán truyền số 7.777 và mệnh lệnh số 777.
    Dĩ nhiên, các lời phán ấy đều đúng; chúng ở trong Kinh Thánh (tuy không hoàn toàn giống với hình thức vừa trình bày). Thật ra một quyển sách như thế có thể làm cho nhiều việc trở thành dễ dàng hơn. Nhưng may thay, đó không phải là cách mà Đức Chúa Trời đã chọn để phán với chúng ta. Thay vào đó, Ngài đã ban các chân lý đời đời của Ngài trong nhiều hoàn cảnh và biến cố cá biệt của lịch sử loài người. Đây cũng là điều mà chúng ta có thể đặt hi vọng. Chính vì Đức Chúa Trời đã chọn truyền phán trong bối cảnh lịch sử của nhân loại, nên chúng ta có thể mạnh dạn tin rằng những lời này cũng sẽ được nhắc đi nhắc lại trong lịch sử “hiện tại” của chính chúng ta, cũng như trong suốt lịch sử Hội Thánh.
    Kinh Thánh mang tính chất của con người là điều khích lệ nhưng cũng là thách thức đối với chúng ta, và đó là lý do để chúng ta cần phải giải nghĩa. Có hai điều cần lưu ý ở đây:
    1. Được phán qua những con người có thật, dưới nhiều hoàn cảnh khác nhau, trãi suốt giai đoạn hơn 1.500 năm, Lời Đức Chúa Trời được thể hiện bằng ngôn ngữ và hình thức của những người ấy, trong hoàn cảnh và cảnh văn hóa của các thời đại của họ. Nghĩa là, Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta trước nhất là Lời mà Ngài đã phán với họ. Họ chỉ nghe được chúng khi chúng được phán qua các biến cố và bằng ngôn ngữ mà họ có thể hiểu được. Sự khác biệt về thời gian và nhiều khi cả về tư tưởng là vấn đề chúng ta phải đối diện. Đây là nguyên nhân chính mà ta cần học giải nghĩa Kinh Thánh. Nếu Lời của Đức Chúa Trời dạy chúng ta về vấn đề phụ nữ mặc y phục của đàn ông, hay người ta phải xây bao lơn chung quanh mái nhà mình, thì trước hết chúng ta cần phải biết nó nói gì với cho những thính giả đầu tiên - và tại sao.
    Như thế, công tác giải nghĩa liên quan đến người học/người đọc ở hai cấp bậc. Thứ nhất, ta phải nghe Lời mà họ đã nghe; phải tìm hiểu điều đã được truyền phán lúc ấy và ở đó. Thứ hai, ta phải học lắng nghe những lời ấy cho chúng ta hiện nay và tại đây. Chúng tôi sẽ nói thêm về hai công tác ấy ở phần dưới đây.
    2. Một trong những phương diện quan trọng nhất trong sự tham gia của con người để hình thành Kinh Thánh là Đức Chúa Trời đã chọn sử dụng hầu như mọi cách thức truyền thông khả hữu: tường thuật lịch sử, gia phả, biên niên sử, các hình thức luật pháp, các hình thức thi ca, châm ngôn, sấm truyền tiên tri, câu đố, kịch tuồng, tiểu sử, ẩn dụ, thư tín, bài giảng và hình thức khải thị để truyền đạt Lời Ngài cho loài người trong mọi hoàn cảnh.
    Để giải nghĩa đúng cái “lúc ấy và ở đó” của các đoạn kinh văn, ngoài việc phải biết một số quy luật tổng quát áp dụng cho mọi từ ngữ Kinh Thánh, ta còn phải học những quy luật đặc biệt áp dụng cho từng thể văn ấy nữa. Còn cách Đức Chúa Trời truyền đạt Lời Ngài cho chúng ta “hiện nay và tại đây” thường khác hơn. Ví dụ, chúng ta cần biết cách một thi thiên, là hình thức thường được dùng để thưa chuyện với Đức Chúa Trời, đóng vai trò như Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta và thi thiên khác thế nào với “luật pháp,” thường được phán cho những người sống trong các nền văn hóa đã không còn hiện hữu. “Những luật” đó phán với chúng ta thế nào, và chúng khác với các “luật” đạo đức vốn luôn luôn có giá trị trong mọi hoàn cảnh ra sao? Đây là những câu hỏi mà tính chất kép của Kinh Thánh đang đặt trên chúng ta.
    Công Việc Đầu Tiên: Giải Kinh
    Công việc đầu tiên của người giải nghĩa được gọi là giải kinh (exegesis). Giải kinh là việc nghiên cứu Kinh Thánh cách cẩn thận, có hệ thống để khám phá dụng ý nguyên thủy. Đây là công tác mang tính lịch sử, cố gắng đặt mình làm những thính giả đầu tiên để lắng nghe Lời nhằm tìm ra dụng ý nguyên thủy qua ngôn từ Kinh Thánh. Công tác này thường cần sự giúp đỡ của “chuyên gia” để hiểu rõ ngôn ngữ của đoạn kinh văn trong bối cảnh nguyên thủy của chúng. Tuy nhiên, ta không cần phải làm một chuyên gia để có thể giải kinh đúng.
    Thật vậy, ai cũng có thể giải kinh cả. Chủ yếu bạn có phải là một nhà giải kinh giỏi hay không. Chẳng hạn, bao nhiêu lần bạn đã từng nghe hay nói rằng: “Điều Chúa Giê-xu muốn nói ở đây là...” hoặc “Vào thời đó, họ thường hay...”? Những câu phát biểu này mang hình thức giải kinh. Phần lớn mục đích của chúng là để giải thích những điểm khác nhau giữa “họ” với “chúng ta” - ví dụ tại sao chúng ta không xây bao lơn chung quanh mái nhà mình, hoặc nêu lý do tại sao chúng ta lại dùng đoạn văn bằng một lối khác hoặc mới mẻ - tại sao cái bắt tay lại thường được thay thế cho “cái hôn thánh.” Cả khi những ý tưởng như thế không được nói ra, thì chúng vẫn luôn được thực hành như một kỷ năng thông thường vậy.
    Tuy nhiên, vấn đề thường là (1) giải kinh như vậy lắm khi có tính quá chọn lọc, (2) các nguồn tài liệu tra cứu thường không do chính các “chuyên gia” biên soạn, nghĩa là chúng vốn chỉ là các nguồn tài liệu cấp hai mà chúng lại sử dụng các nguồn tài liệu cấp hai khác hổ trợ, hơn là các nguồn tài liệu đầu tiên. Sau đây là một số điều cần đề cập liên quan đến những điều trên:
    1. Mặc dầu đôi khi ta giải kinh, và hầu như luôn giải kinh đúng, ta vẫn có khuynh hướng làm điều đó chỉ khi có vấn đề rõ rệt giữa các đoạn kinh văn và nền văn hóa hiện đại. Dĩ nhiên đó là điều ta phải làm khi gặp những đoạn kinh văn như vậy, nhưng chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng đó là bước đầu tiên khi đọc BẤT KỲ một đoạn kinh văn nào. Thoạt tiên, đó không phải là điều dễ làm, nhưng học suy nghĩ theo cách giải kinh sẽ giúp ta hiểu rõ và làm ta cảm thấy thích thú hơn khi đọc Kinh Thánh chớ chưa nói đến việc nghiên cứu. Tuy nhiên, cần ghi nhớ rằng học suy nghĩ theo cách giải kinh không phải là công tác duy nhất; nó mới chỉ là công việc đầu tiên thôi.
    Điều nguy hiểm khi giải kinh “chọn lọc” là ta thường đưa các tư tưởng lạ của riêng mình vào trong đoạn kinh văn, do đó làm méo mó hoặc biến dạng điều Đức Chúa Trời muốn dạy dỗ. Ví dụ, một nhà truyền giáo nổi tiếng vừa gởi thư cho chúng tôi, khuyên chúng tôi không nên đi dự hội nghị với một người nổi tiếng khác, vì người ta nghi ngờ tư tưởng thần học của ông ta. Nhà truyền giáo kia trích dẫn câu Kinh Thánh trong ITe1Tx 5:22: “Bất cứ việc gì tựa như điều ác, thì phải tránh đi” để khuyên chúng tôi đừng đi dự hội nghị. Nếu như người anh em kia biết đọc Kinh Thánh theo cách giải kinh, chắc hẳn ông đã không giải thích câu Kinh Thánh theo cách đó. Đây là lời cuối của thánh Phao-lô trong phân đoạn viết cho người Tê-sa-lô-ni-ca liên hệ đến những lời nói ân tứ trong cộng đồng. Phao-lô nói rằng “chớ khinh dể các lời tiên tri, nhưng hãy suy xét mọi việc, giữ chặt điều lành, nhưng tránh xa mọi hình thức xấu xa gian ác.” Việc “tránh điều ác” ở đây liên quan đến “lời tiên tri” mà khi được suy xét ta biết không phải đến từ Đức Thánh Linh. Làm cho phần Kinh Thánh này có ý nghĩa khác với điều Chúa muốn dạy tức là lạm dụng Kinh Thánh, chớ không phải sử dụng nó. Muốn tránh những sai lầm như thế, ta cần phải học suy nghĩ theo cách giải kinh, nghĩa là bắt đầu với lúc ấy và ở đó, và phải làm như vậy với từng câu, từng phần Kinh Thánh.
    2. Như vậy, chúng tôi muốn lưu ý rằng ta không nên bắt đầu bằng cách tham khảo các “chuyên gia.” Nhưng nếu cần thiết phải làm như thế, ta phải cố tìm các nguồn tài liệu tốt nhất. Thí dụ như trong Mac Mc 10:23; (Mat Mt 19:23; LuLc 18:24) khi kết thúc câu chuyện về chàng thanh niên giàu có, Chúa Giê-xu phán: “Kẻ giàu vào Nước Đức Chúa Trời khó là dường nào.” Rồi Ngài nói thêm “con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Đức Chúa Trời.” Người ta thường bảo rằng tại Giê-ru-sa-lem có một cửa vào thành gọi là “Lỗ Kim” mà những con lạc đà chỉ có thể chui qua bằng cách quỳ mọp xuống, nhưng hết sức khó khăn. Ở đây, người ta muốn giải nghĩa rằng con lạc đà có thể chui qua (cửa) “Lỗ Kim.” Tuy nhiên điều rắc rối với cách “giải kinh” này là việc ấy vốn không có thật. Chẳng hề có một cái cửa như thế tại Giê-ru-sa-lem ở bất cứ thời đại nào trong lịch sử cả. “Chứng cứ” sớm nhất cho biết về ý niệm này được được trình bày vào thế kỷ thứ 11 (!) trong một sách giải kinh của Theophylact thuộc Giáo hội Hi Lạp người ta phải vật lộn với câu Kinh Thánh ấy y như chúng ta vậy. Sau cùng, con lạc đà không thể chui qua lỗ kim, và đây chính là điểm mà Chúa Giê-xu muốn nói. Một người chỉ tin cậy vào của cải thì không thể vào được Nước Trời. Người giàu được cứu là một phép lạ, và đó chính là luận điểm của câu tiếp theo: “Vì Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả.”
    Học Giải Kinh
    Vậy thì làm thế nào để chúng ta giải kinh đúng đồng thời tránh được các cạm bẫy trong tiến trình giải kinh? Phần đầu của hầu hết các chương trong sách sẽ trình bày cách thực hiện công tác này đối với từng thể văn. Ở đây, chúng tôi sẽ tóm lược những điều liên quan đến công tác giải nghĩa bất kỳ một phần Kinh Thánh nào.
    Ở mức độ cao nhất, công tác giải kinh đòi hỏi hiểu biết nhiều điều mà chúng tôi không trông mong các độc giả của sách phải nắm qua như: các ngôn ngữ Kinh Thánh, bối cảnh Do Thái, Xê-mít (Semitic), Hy Lạp (Hellenistic); làm thế nào để xác định một đoạn văn nguyên bản khi các cổ bản có nhiều cách đọc khác nhau, cách sử dụng những nguồn tài liệu và phương tiện hổ trợ. Tuy nhiên, bạn có thể học giải kinh giỏi ngay cả khi bạn chưa có được những kỹ năng và phương tiện ấy. Muốn làm được điều đó; trước hết bạn phải biết bạn có thể làm gì bằng khả năng của bạn; thứ đến, bạn phải học sử dụng công trình của những người khác.
    Chìa khóa để giải kinh đúng, và qua đó đọc Thánh Kinh cách thông minh hơn, là tập đọc kỹ đoạn kinh văn và đặt những câu hỏi chính xác về đoạn kinh văn ấy. Tác phẩm Cách Đọc Sách (How to Read a Book) của J. Adler (1940, rev. ed with Charles Van Doren, New York: Simon and Schuster, 1972) sẽ ích lợi cho bạn trong lãnh vực nầy. Qua nhiều năm dạy đại học và chủng viện, chúng tôi nhận thấy nhiều người không biết phương pháp đọc sách. Muốn đọc hoặc nghiên cứu Kinh Thánh thông minh đòi hỏi phải đọc kỹ, điều đó bao gồm cả việc đặt câu hỏi chính xác.
    Có hai loại câu hỏi cơ bản cho mọi phân đoạn Kinh Thánh: câu hỏi liên quan bối cảnh và câu hỏi liên quan nội dung. Các câu hỏi liên quan bối cảnh cũng có hai loại: lịch sử và văn chương. Chúng ta sẽ lược xem từng loại một.
    Bối Cảnh Lịch Sử
    Bối cảnh lịch sử khác nhau với từng sách, liên hệ đến nhiều điều: thời đại và văn hóa của tác giả và độc giả đầu tiên, đó là các yếu tố địa lý và chính trị trong thời của tác giả, cũng như cơ hội mà sách, thư tín, thi thiên, lời tiên tri, hoặc một bài văn thuộc một thể loại khác, đã được viết ra. Hiểu biết những vấn đề trên là điều rất quan trọng.
    Người ta sẽ có cái nhìn khác đi khi biết bối cảnh trong thời A-mốt, Ô-sê hoặc Ê-sai, hay biết A-ghê đã nói tiên tri sau thời kỳ lưu đày, hoặc việc dân Y-sơ-ra-ên đang trông đợi Đấng Mết-si-a khi Giăng Báp-tít và Chúa Giê-xu xuất hiện, hoặc hiểu rõ những điểm khác nhau giữa thành phố Cô-rinh-tô và Phi-líp và những điều này ảnh hưởng thế nào trên Hội Thánh trong mỗi thành phố. Khi đọc các ẩn dụ của Chúa Giê-xu ta sẽ hiểu thêm rất nhiều nếu biết được một số phong tục tập quán vào thời của Chúa Giê-xu. Chắc chắn ta sẽ hiểu khác đi khi biết rằng đồng đơ-ni-ê trả cho các công nhân trong Mat Mt 20:1-16 tương đương với tiền lương cho một ngày công. Ngay cả vấn đề địa hình cũng quan trọng. Người được trưởng dưỡng tại miền núi cũng phải thận trọng đừng dùng kinh nghiệm hiểu biết về các vùng núi của mình khi nghĩ về “các núi vây quanh Giê-ru-sa-lem” (Thi Tv 125:2)!
    Để trả lời cho phần lớn các câu hỏi thuộc loại này, đôi khi ta cũng cần trợ giúp từ bên ngoài. Bộ Tự Điển Bách Khoa Kinh Thánh Quốc Tế (International Standard Bible Encyclopedia, ed. G. W. Bromiley, Grand Rapids: Zondervan, 1975), bộ Tự Điển Kinh Thánh Minh Họa Zondervan (Zondervan Pictorial Encyclopedia of the Bible, ed. Merrill C. Tenney, Grand Rapids: Zondervan, 1975) hay bộ Tân Tự Điển Kinh Thánh (New Bible Dictionary, ed. J. D. Douglas, Grand Rapids: Eerdmans, 1962) sẽ rất ích lợi. Nếu ta muốn tra cứu sâu hơn thì phần thư mục ở cuối mỗi bài viết sẽ là điểm khởi đầu rất tốt.
    Tuy nhiên, câu hỏi quan trọng hơn trong phần bối cảnh lịch sử liên quan đến cơ hội và mục đích của từng sách hoặc mỗi phần khác nhau. Ở đây, ta cần hiểu điều gì đang xảy ra trong Y-sơ-ra-ên hoặc Hội Thánh mà văn kiện đó phải được viết ra, hoặc hoàn cảnh nào đã khiến tác giả viết sách. Điều này cũng khác nhau với từng sách, chẳng hạn nó quan trọng đối với I Cô-rinh-tô hơn là Châm Ngôn.
    Lời giải đáp cho câu hỏi này thường ở ngay trong sách - nếu có thể tìm thấy. Nhưng bạn cần phải biết đọc bằng đôi mắt mở to để thấy được những điều này. Nếu bạn muốn kiểm chứng những gì mình đã khám phá liên quan đến những câu hỏi trên, bạn có thể tra cứu trong Thánh Kinh Từ Điển một lần nữa, hoặc xem phần dẫn nhập của một quyển sách giải nghĩa sách ấy, hoặc đọc cuốn Thánh Kinh Đại Cương của Eeardman (Eerdman’s Handbook to the Bible, ed. David Alexander and Pat Alexander, Grand Rapids: Eerdmans, 1973). Nhưng bạn cần tự mình nghiên cứu, tìm tòi trước đã.
    Văn Mạch
    Đây là điểm nhiều người ngụ ý khi nói về việc đọc điều gì đó trong bối cảnh của nó. Điều này rất quan trọng trong công tác giải kinh, và may mắn là ta có thể làm tốt điều này mà không nhất thiết phải tham khảo ý kiến các “chuyên gia.” Nói chung, văn mạch hàm ý từ ngữ chỉ có nghĩa trong câu và hầu hết các câu Kinh Thánh chỉ có nghĩa trong tương quan với các câu trước và sau chúng.
    Câu hỏi quan trọng nhất liên quan đến văn mạch mà bạn cần phải lặp đi lặp lại với mỗi câu, mỗi phân đoạn là “Vấn đề ở đây là gì?” Chúng ta phải lần theo dòng tư tưởng của tác giả. Tác giả muốn nói gì và tại sao lại nói ở đây? Sau khi đã nêu lên vấn đề đó rồi, tác giả sẽ nói gì tiếp theo, và tại sao?
    Câu hỏi nêu ra sẽ khác nhau tùy từng thể văn, nhưng nó luôn luôn là câu hỏi vô cùng quan trọng. Bạn nhớ rằng mục tiêu của công tác giải kinh là tìm ra ý định nguyên thủy của tác giả. Muốn hoàn thành tốt nhiệm vụ này, ta cần phải sử dụng một bản dịch có thể giúp ta nhận diện các thể văn. Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến việc giải kinh khiếm khuyết của các độc giả dùng bản dịch King James và ở mức độ ít hơn là bản New American Standard, đó là mỗi câu đều được in ra như một phân đoạn. Lối sắp xếp như thế có xu hướng che mờ cách lập luận của tác giả. Do đó, ta phải học nhận diện các đơn vị tư tưởng, xem chúng hoặc là phân đoạn (cho thể văn xuôi) hoặc là câu hay khổ (cho thể thi ca). Người đọc có thể phân biệt được nếu dùng một bản dịch tốt.
    Câu Hỏi về Nội Dung
    Loại câu hỏi quan trọng thứ hai đối với bất kỳ câu hay phần Kinh Thánh nào liên quan đến nội dung mà tác giả muốn truyền đạt. Nội dung bao gồm với ý nghĩa của từ ngữ, liên hệ văn phạm giữa các câu, và việc chọn nguyên bản khi có nhiều cổ bản khác nhau. Nó cũng bao gồm một số các mục trong phần “Bối cảnh lịch sử” đã đề cập ở trên, chẳng hạn như ý nghĩa của đồng đơ-ni-ê, đoạn đường được phép đi trong ngày sa-bát, hay “các nơi cao,” vv...
    Đây là các câu hỏi ý nghĩa mà ta thường áp dụng với các đoạn kinh văn. Trong IICo 2Cr 5:16, Phao-lô viết, “Dẫu chúng tôi từng theo xác thịt mà nhận biết Đấng Christ, song cũng chẳng còn nhận biết Ngài cách ấy đâu” (NASB), có lẽ ta muốn biết: “theo xác thịt” của ai, Đấng Christ hay của người nhận biết Ngài. Điều Phao-lô muốn nói ở đây là “chúng ta” không còn nhận biết Chúa Cứu Thế “theo quan điểm của thế gian” nữa, chớ không phải chúng ta không còn nhận biết Ngài qua “cuộc đời tại thế của Ngài” nữa.
    Để trả lời loại câu hỏi này, ta sẽ cần sự giúp đỡ từ bên ngoài. Một lần nữa, chất lượng của câu trả lời thường tùy thuộc vào chất lượng của các nguồn tài liệu ta sử dụng. Do đó, bạn cần tham khảo một bộ giải kinh tốt. Tuy nhiên, tham khảo sách giải nghĩa phải là công việc “cuối cùng.”
    Phương Tiện
    Vì vậy, hầu như bạn có thể giải kinh tốt với sự trợ giúp tối thiểu từ bên ngoài, miễn là phần trợ giúp ấy phải có chất lượng cao nhất. Chúng tôi đã đề cập bốn phương tiện như thế: một bộ Thánh Kinh Từ Điển tốt, một cuốn Thánh Kinh Cẩm Nang tốt, một bản dịch tốt, và những sách giải nghĩa tốt. Dĩ nhiên, còn có nhiều loại dụng cụ khác nữa, đặc biệt là cho các loại nghiên cứu theo chủ đề hoặc luận đề. Nhưng muốn đọc và nghiên cứu Kinh Thánh theo từng sách, thì đây là các dụng cụ cần thiết.
    Một bản dịch tốt (hay tốt hơn là vài bản dịch tốt) là dụng cụ cơ bản cho người không biết nguyên ngữ. Do đó chương tiếp theo sẽ dành riêng cho vấn đề này. Học cách chọn sách giải nghĩa tốt cũng là điều quan trọng, nhưng vì đó là công việc cuối cùng chúng tôi sẽ nêu lên trong phần phụ lục để kết thúc quyển sách này.
    Công Tác Thứ Hai: Giảng Kinh
    Mặc dầu thường thì chữ “giảng kinh” (hay “luận kinh”: hermeneutics) bao trùm toàn bộ lãnh vực giải nghĩa, gồm cả việc giải kinh. Theo nghĩa hẹp, đó là tìm trong những bản văn cổ điều gì là phù hợp cho ngày nay. Trong sách này, chúng tôi sẽ sử dụng ý nghĩa đó, để đặt câu hỏi tìm ý nghĩa của Kinh Thánh cho hoàn cảnh “ở đây và bây giờ.”
    Nói cho cùng thì chính vấn đề của hiện tại đưa chúng ta đến với Kinh Thánh. Thế thì tại sao chúng ta không bắt đầu với nó? Tại sao lại phải bận tâm với việc giải kinh? Cùng một Đức Thánh Linh đã cảm thúc việc trước tác Kinh Thánh, chắn chắc cũng có thể linh cảm cho người đọc nó. Theo một nghĩa thì lập luận trên đúng, và chúng tôi không có ý định dùng sách này tước bỏ niềm vui của việc đọc Kinh Thánh dưỡng linh và ý thức giao thông trực tiếp với Chúa qua cách đọc Kinh Thánh như thế. Nhưng việc đọc dưỡng linh không phải là cách duy nhất. Ta còn phải đọc để học và hiểu nữa. Tóm lại, ta phải học nghiên cứu Kinh Thánh, để rồi chính điều này sẽ chỉ cho chúng ta cách đọc dưỡng linh. Ý niệm này dẫn chúng tôi đến chỗ nhấn mạnh rằng việc “giảng kinh” (hermeneutics) đúng đắn bắt nguồn từ việc “giải kinh” (exegesis) vững vàng.
    Lý do khiến ta không bắt đầu với cái ở đây và bây giờ là vì sự kiểm soát thích hợp duy nhất cho giảng kinh chỉ tìm được trong ý định nguyên thuỷ của đoạn kinh văn. Như đã lưu ý ở phần đầu của chương sách này, đây là “ý nghĩa rõ ràng” mà ta cần khám phá. Nếu không, bất kỳ độc giả nào cũng có thể đưa vào đoạn kinh văn những gì họ muốn. Giảng kinh kiểu này là hoàn toàn chủ quan, và ai có thể phân định cách giải nghĩa của người này là đúng, còn của người kia là sai?
    Ngược với tính chủ quan như thế, chúng tôi nhấn mạnh rằng ý nghĩa nguyên thủy của đoạn kinh văn trong phạm vi chúng ta có thể hiểu được là điểm kiểm soát khách quan. Chúng tôi tin rằng việc tín đồ Mormons làm báp-tem cho người chết dựa trên ICo1Cr 15:29, tín đồ Chứng Nhân Giê-hô-va chối bỏ thần tánh của Chúa Cứu Thế, những người bắt rắn sử dụng Mac Mc 16:18, hay “các nhà truyền giáo Phúc Âm thạnh vượng” biện hộ rằng giấc mơ của người Mỹ là giấc mơ đúng theo Cơ-đốc giáo dựa vào IIIGi 3Ga 1:3, đều là những cách giải nghĩa không đúng. Trong mỗi trường hợp, sai lầm nằm trong sự giảng kinh của họ vì nó không được kiểm soát bởi việc giải kinh đúng. Họ bắt đầu với cái “ở đây và bây giờ,” và đưa vào đoạn văn những điều không có trong ý nghĩa nguyên thủy. Nếu giảng kinh như vậy thì điều gì ngăn cản người ta giết con gái mình vì một lời thề dại dột, như trong trường hợp của Giép-thê (Cac Tl 11:29-40)?
    Dĩ nhiên có người lý luận rằng nhận thức thông thường sẽ ngăn cản ta không làm những điều dại dột như thế. Nhưng rủi thay nhận thức thông thường không phải thông dụng như thế. Chúng ta muốn biết Kinh Thánh có ý nghĩa gì cho chúng ta - một cách chính đáng. Nhưng chúng ta không thể áp đặt lên Kinh Thánh điều gì mình muốn, rồi “gán” điều đó cho Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh không thể tự mâu thuẫn, và Ngài chính là Đấng đã cảm thúc phần ý nghĩa nguyên thủy. Vì vậy, Ngài giúp đỡ chúng ta khám phá ra phần ý nghĩa nguyên thủy, và hướng dẫn chúng ta khi chúng ta cố gắng ứng dụng cách trung tín phần ý nghĩa đó cho chính hoàn cảnh hiện tại của chúng ta!
    Không phải dễ trả lời các câu hỏi trong công tác giảng kinh, có lẽ vì thế mà rất ít sách viết cũng như nhất trí với nhau cách thức hoàn thành công tác này. Tuy nhiên, đây là điều rất quan trọng, tín hữu cần học trao đổi - và biết lắng nghe nhau. Một điều mà ai ai cũng đồng ý với nhau: Đoạn kinh văn không thể có ý nghĩa mà nó không ngụ ý muốn nói. Hay nói theo phương diện tích cực, thì ý nghĩa đích thực của đoạn kinh văn cho chúng ta chính là điều mà Đức Chúa Trời muốn dạy dỗ khi Ngài phán điều đó lần đầu tiên. Đây là điểm khởi đầu. Từ khởi điểm này chúng ta phải thực hiện thế nào chính là điều căn bản mà quyển sách này muốn đề cập.
    Chắc có người sẽ hỏi: “Nhưng ngoài ý định nguyên thủy đoạn kinh văn không thể có thêm một ý nghĩa (đầy đủ hơn, sâu hơn) nào khác sao? Dù sao thì điều này cũng đã xảy ra ngay trong Tân Ước theo cách mà thỉnh thoảng Tân Ước sử dụng Cựu Ước?” Trong trường hợp những lời tiên tri, chúng ta không thể loại trừ khả năng đó, và phải lý luận rằng, với sự kiểm soát cẩn thận, có thể có nghĩa thứ hai, hoặc nghĩa đầy đủ hơn. Nhưng ta phải biện minh thế nào ở những điểm khác? Vấn đề của chúng ta thật đơn giản. Ai là người sẽ nói thay cho Đức Chúa Trời? Giáo hội Công Giáo La Mã ít gặp khó khăn ở điểm này; thẩm quyền giáo hội sẽ quyết định mọi ý nghĩa đầy đủ hơn của đoạn kinh văn. Tuy nhiên, Giáo hội Tin Lành Cải Chánh không có thẩm quyền này, do đó chúng ta cần thận trọng khi một ai đó bảo rằng người ấy hiểu được ý nghĩa sâu nhiệm hơn của Đức Chúa Trời trong một đoạn kinh văn - đặc biệt là trường hợp khi đoạn kinh văn ấy chẳng hề mang ý nghĩa như ý nghĩa nó đang bị gán cho. Từ đây mà ra đủ thứ giáo phái và tệ hơn là các tà giáo.
    Khó có thể đề ra các quy luật cho công tác giảng kinh. Vì vậy, những gì chúng tôi đề nghị qua các chương sau đều là những hướng dẫn. Có lẽ bạn sẽ không đồng ý với các hướng dẫn của chúng tôi. Chúng tôi hy vọng rằng sự bất đồng ý kiến được kềm giữ trong tình yêu Cơ-đốc, và hy vọng các hướng dẫn của chúng tôi sẽ kích thích tư tưởng của chính bạn về những vấn đề này.


    Công Cụ Căn Bản: Một Bản Dịch Tốt
    Sáu mươi sáu sách trong bộ Kinh Thánh của Giáo Hội Tin Lành được viết bằng ba ngôn ngữ khác nhau: Hy Bá Lai (hầu hết Cựu Ước), A-ram (một ngôn ngữ cùng gốc với tiếng Hy Bá Lai được sử dụng cho phân nửa sách Đa-ni-ên và hai đoạn trong sách E-xơ-ra) và Hi Lạp (toàn bộ Tân Ước). Chúng tôi nghĩ rằng hầu hết độc giả của sách này không biết các ngôn ngữ ấy. Vì vậy, công cụ căn bản để bạn đọc và nghiên cứu Kinh Thánh là một bản dịch Anh ngữ tốt, hay như chúng tôi sẽ thảo luận trong chương này, là một số bản dịch Anh ngữ tốt (đối với người Việt Nam là bản dịch tiếng Việt tốt).
    Như chúng tôi đã lưu ý trong chương trước, chính sự việc bạn đọc Lời Đức Chúa Trời qua một bản dịch có nghĩa là bạn đã tham gia vào công tác giải nghĩa rồi, cho dù bạn có thích hay không. Đọc bằng một bản dịch không phải là một việc xấu; đó chỉ là một việc không thể tránh được mà thôi. Tuy nhiên theo một ý nghĩa nào đó, người chỉ có thể đọc Kinh Thánh trong Anh ngữ phải chịu lệ thuộc vào các dịch giả, mà các dịch giả thường phải chọn lựa, xem nguyên văn Hi Bá Lai hay Hi lạp thật sự có ý nghĩa gì.
    Điểm khó khăn khi ta chỉ dùng một bản dịch duy nhất cho dù nó tốt đến đâu, đó là ta đã tự phó thác cho các chọn lựa giải kinh của bản dịch như là Lời của Đức Chúa Trời. Dĩ nhiên bản dịch bạn đang sử dụng có thể là đúng; nhưng cũng có thể là sai.
    Thí dụ, hãy lấy đoạn dưới đây trong bốn bản dịch Anh ngữ ICo1Cr 7:36:
    KJV: “Nếu một người nam tưởng mình đã đối xử không phải lẽ với người trinh nữ của mình...”
    NASB: “Nếu một người nam tưởng mình đã có hành động không phải lẽ với con gái còn đồng trinh của mình...”
    NIV: “Nếu có ai tưởng mình đã hành động không phải lẽ đối với người trinh nữ mà mình đã đính hôn”
    NEB: “Nếu một người nam có một nữ cộng sự độc thân và cảm thấy mình không cư xử phải lẽ với nàng...”
    Bản KJV rất sát với nghĩa đen, nhưng chẳng giúp ích được bao nhiêu, vì đã để cho từ ngữ “trinh nữ” và mối liên hệ giữa “người nam” với “người trinh nữ của mình” trở nên mơ hồ. Tuy nhiên, một điều ta có thể tuyệt đối chắc chắn: Phao-lô đã không chủ ý mơ hồ. Ông có ý nói đến một trong ba trường hợp phải chọn khác, và những người Cô-rinh-tô đã đặt vấn đề đó cho ông trong bức thư của họ biết rõ đó là vấn đề nào - và thật ra họ chẳng biết gì cả về hai vấn đề kia.
    Điều lưu ý ở đây rằng không bản dịch nào trong số ba bản dịch kia là tệ cả, vì bản dịch nào cũng là một chọn lựa chính đáng cho rằng đó là ý định của Phao-lô. Tuy nhiên, chỉ có một trong số đó có thể là cách dịch đúng mà thôi. Vấn đề là: bản dịch nào đúng? Vì một số các lý do, bản dịch NIV phản ảnh sự chọn lựa giải kinh tốt nhất ở đây. Tuy nhiên, nếu bạn chỉ thường xuyên đọc bản NASB mà thôi (là lựa chọn có vẻ tệ nhất ở đây) thì bạn đã tự buộc mình với cách giải nghĩa câu Kinh Thánh có thể là không đúng. Vấn đề này có thể có hằng ngàn thí dụ minh họa. Nếu vậy, phải làm gì đây?
    Thứ nhất, việc chỉ dùng một bản dịch có thể là một thói quen tốt miễn là bản dịch đó phải thật tốt. Việc này sẽ giúp ích cho vấn đề học thuộc lòng, cũng như nó tạo cho bạn ý niệm trước sau như một. Hơn nữa, nếu bạn dùng một trong số các bản dịch tốt, bản dịch ấy sẽ có phần ghi chú lề ở những chỗ không rõ ý. Tuy nhiên, trong việc nghiên cứu Kinh Thánh, bạn phải dùng một số bản dịch được chọn lựa kỹ. Điều tốt nhất cần làm là sử dụng các bản dịch mà ta biết trước là sẽ có chỗ khác nhau. Điều này sẽ chỉ rõ đâu là những chỗ có các vấn đề khó khăn về giải kinh. Để giải quyết các vấn đề ấy, nhiều lúc bạn sẽ cần đến sách giải nghĩa.
    Nhưng bạn phải dùng bản dịch nào, và những bản dịch nào bạn cần dùng cho việc nghiên cứu? Không người nào có thể chọn thay cho người khác. Nhưng cách chọn của bạn không nên chỉ vì “Tôi thích nó” hay “Bản dịch này dễ đọc, dễ hiểu.” Chúng tôi muốn bạn thích bản dịch bạn có, và nếu đó là một bản dịch tốt, nó cũng sẽ dễ đọc, dễ hiểu nữa. Tuy nhiên, muốn có một chọn lựa thông minh, bạn cần biết vài điều liên hệ cả với chính khoa phiên dịch, cùng với một số các bản dịch khác nhau!
    Khoa Phiên Dịch
    Có hai loại lựa chọn cho một dịch giả: chọn lựa bản văn và chọn lựa ngôn ngữ. Loại thứ nhất liên quan đúng với từ ngữ và cách viết trong nguyên bản. Loại thứ hai liên quan với triết lý phiên dịch của dịch giả.
    Vấn Đề Bản Văn
    Mối quan tâm trước tiên của dịch giả là biết chắc bản văn Hi Bá Lai hay Hi văn mình dùng sát nhất với nguyên ngữ lúc nó mới được chính tác giả viết ra (hay của người sao chép vừa viết nó ra theo lời đọc của một người khác). Có phải đây là những gì tác giả Thi Thiên đã viết không? Có phải đây là lời của Mác hoặc Phao-lô không? Nếu đúng vậy, tại sao có người nghĩ khác đi?
    Tuy các chi tiết về vấn đề bản văn của Cựu và Tân Ước có khác nhau, mối quan tâm chính vẫn như nhau: (1) không còn một nguyên bản (thủ bản) nào; (2) những gì còn lại là hằng ngàn bản chép tay (kể cả các bản sao của các bản dịch rất sớm), và được sao chép bằng tay qua một thời gian khoảng một ngàn bốn trăm năm; (3) tuy đa số các cổ bản cả Cựu lẫn Tân Ước xuất hiện từ thời gian cuối của thời trung cổ đều rất giống nhau, thì các thủ bản về sau này lại khác với các bản sao và bản dịch trước rất nhiều. Thật vậy, có trên năm ngàn cổ bản Hi văn sao một phần hoặc toàn bộ Tân Ước, cũng như hàng ngàn cổ bản bằng tiếng La tinh, nhưng đã chẳng hề có hai bản nào trong số đó hoàn toàn giống nhau.
    Do đó, vấn đề là phải sàng lọc tất cả số tài liệu đã có, đối chiếu những chỗ mà các cổ bản có khác nhau (gọi là những “biến thể”), để xác định những biến thể nào là sai sót và biến thể nào thể hiện cách tốt nhất bản văn nguyên thuỷ. Tuy đây có vẻ như là một công tác nặng nề - và về một phương diện thì quả đúng như thế - người phiên dịch vẫn không ngã lòng, vì học được điều gì đó về phê bình bản văn, là khoa học tìm cách khám phá các nguyên bản từ những tài liệu cổ xưa.
    Chủ đích của chúng tôi ở đây không nhằm cung cấp độc giả một phần nhập môn về khoa phê bình bản văn (textual criticism). Bạn có thể tùy tiện chọn trong số các bài viết của Bruce Waltke (Cựu Ước) và Gordon Fee (Tân Ước) trong bộ sách Biblical Criticism: Historical, Literary and Textual (Grand Rapids: Zondervan, 1978). Chủ đích của chúng tôi là đưa ra một số hiểu biết căn bản về khoa phê bình bản văn để bạn biết tại sao các dịch giả phải làm việc ấy, hầu bạn ý thức được rõ hơn về các ghi chú ngoài lề trong bản dịch của bạn khi thấy những câu như “các cổ bản có thẩm quyền khác thêm ...” hoặc “một số cổ bản không có ...”
    Vì các chủ đích của chương này, có ba điều mà bạn cần biết:
    1. Phê bình bản văn là một khoa học làm việc với nhiều kiểm soát thận trọng. Có hai loại chứng cứ mà dịch giả phải xét đến khi chọn các bản văn: ngoại chứng (đặc điểm và phẩm chất của các cổ bản) và nội chứng (các loại nhầm lẫn do những người sao chép tạo ra). Đôi lúc các học giả có ý kiến khác nhau về giá trị của những chứng cớ này, nhưng tất cả đều nhất trí rằng việc kết hợp các ngoại chứng và nội chứng mạnh lại với nhau giúp cho đa số những lựa chọn có phần dễ dàng. Nhưng với số còn lại, khi có hai dòng chứng cứ dường như đối chọi nhau, thì những việc chọn lựa sẽ càng khó khăn hơn.
    Ngoại chứng liên quan với phẩm chất và tuổi của các cổ bản hậu thuẫn cho một biến thể nào đó. Đối với Cựu Ước, điều này thường là sự lựa chọn giữa các cổ bản Hi-bá-lai, hầu như tất cả đều là các bản sao thời trung cổ, và các cổ bản của các bản dịch Hi văn (bản Bảy Mươi, LXX), vốn có sớm hơn nhiều. Các công trình khảo học đã chứng minh rằng các cổ bản Hi Bá Lai phần lớn phản ảnh một văn bản rất cổ, nhưng vẫn thường phải được sửa chữa căn cứ theo bộ Bảy Mươi. Nhiều khi cả hai bản Hi Bá Lai lẫn Hi văn cũng không mang đến một nghĩa khả dĩ chấp nhận được, và gặp những trường hợp như thế các dịch giả phải phỏng đoán.
    Đối với Tân Ước, ngoại chứng tốt hơn đã được bảo tồn tại Ai Cập. Khi chứng cứ sớm này cũng được hậu thuẫn bởi chứng cứ cũng sớm tương tự từ các khu vực khác của đế quốc La Mã, thì chứng cứ như thế được xem là có sức thuyết phục.
    Nội chứng liên quan với những người sao chép và các tác giả. Khi các dịch giả gặp trường hợp phải chọn giữa hai biến thể hoặc nhiều hơn, họ thường có thể phát giác được cách viết nào là nhầm lẫn vì các thói quen và khuynh hướng sao chép, do đã được các học giả phân tích cẩn thận và bây giờ đã trở nên rõ ràng. Thường thường, chúng ta có thể xem biến thể nào đó là nguyên bản khi giải thích tốt nhất tại sao tất cả các biến thể khác có tình trạng như thế. Điều cũng quan trọng đối với dịch giả là phải biết rõ bút pháp và dụng ngữ của một tác giả Kinh Thánh nào đó, vì các điểm này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc lựa chọn bản văn.
    Như đã ghi nhận, với phần lớn các biến thể được tìm thấy trong các cổ bản, ngoại chứng tốt nhất (hoặc tốt) kết hợp với nội chứng tốt nhất (hoặc tốt) sẽ càng củng cố tính chân xác liên quan đến nguyên bản. Ta có thể thấy rõ điều này bằng cách đối chiếu bản KJ (vốn dựa trên các cổ bản tồi và muộn về sau này) với một bản dịch hiện đại như NRSV hoặc NIV. Chúng tôi sẽ ghi ra ba biến thể để minh họa cho công tác phê bình bản văn.
    ISa-mu-ên 8:16
    KJV: “những trai tráng đẹp đẽ nhất của các ngươi và những con lừa của các ngươi”
    NIV: “những con tốt nhất trong bầy gia súc và lừa của các người”
    Bản văn của NIV (bầy gia súc) xuất xứ từ bộ Bảy Mươi, là bản dịch Hi văn dễ đọc và dễ hiểu của Cựu Ước đã được thực hiện tại Ai Cập vào khoảng từ 250-150 T.C. Bản KJV dựa theo bản văn Hi Bá Lai thời trung cổ dịch là “những trai tráng,” một chữ khó có thể được dùng song hành với “những con lừa.” Nguồn gốc của việc chép sai trong văn bản Hi Bá Lai mà bản KJV dựa theo rất dễ hiểu. Từ ngữ chỉ “những trai tráng của các ngươi” trong Hi Bá Lai văn là bhrykm, trong khi chữ “bầy gia súc của các ngươi” là bqrykm. Chỉ cần một mẫu tự chép sai của một người sao chép đã dẫn đến hậu quả là ý nghĩa bị thay đổi. Bộ Bảy Mươi đã được phiên dịch một thời gian trước khi có việc sao chép sai, do đó nó giữ được từ ngữ “bầy gia súc” của nguyên bản. Việc ngẫu nhiên đổi thành “các chàng trai của các ngươi” đã được thực hiện về sau, ảnh hưởng đến các cổ bản Hi Bá Lai của thời trung cổ nhưng đã quá muộn để có thể ảnh hưởng đến bộ Bảy Mươi của thời tiền trung cổ.
    Mác 1:2
    KJV: “như đã được viết trong các sách tiên tri …”
    NIV: “như đã được viết trong sách của Ê-sai, nhà tiên tri …”
    Bản văn của NIV được tìm thấy trong tất cả các cổ bản Hi văn xưa. Nó cũng là bản văn duy nhất được tìm thấy trong tất cả các bản dịch xưa (La văn, Ai Cập cổ, Sy-ri cổ) và là bản văn duy nhất được toàn thể các giáo phụ trước thế kỷ thứ chín biết, ngoại trừ một người. Thật là dễ thấy điều đã xảy ra cho các cổ bản Hi văn về sau này. Vì phần trích dẫn tiếp theo đó là một kết hợp giữa MaMl 3:1EsIs 40:3, cho nên một người sao chép về sau đã “sửa” nguyên bản của sách Mác để nó chính xác hơn.
    I Cô-rinh-tô 11:29
    KJV: “người nào ăn và uống cách không xứng đáng”
    NIV: “ai ăn và uống”
    Những chữ “cách không xứng đáng” không thấy trong bất kỳ một cổ bản Hi văn sớm nhất và tốt nhất nào. Việc nó có mặt trong các bản dịch La tinh và các cổ bản Hi văn muộn hơn có thể dễ dàng giải thích như là một phần thêm vào được chuyển từ câu 27 sang, là chỗ “tất cả” các cổ bản được biết đều có chữ “cách không xứng đáng.” Không có cách nào giải nghĩa thoả đáng về việc thế nào nó lại bị bỏ đi trong câu 29 trong tất cả các cổ bản đầu tiên, nếu nó đã có ở đó từ đầu.
    Ở đây, thiết tưởng cần lưu ý rằng phần lớn các dịch giả đều căn cứ vào các văn bản Hi văn và Hi Bá Lai văn đã được khảo cứu cẩn thận và nghiêm nhặt rồi. Với Tân Ước thì điều đó có nghĩa là “bản văn tốt nhất” đã được các học giả vốn là các chuyên gia trong lãnh vực ấy xác định. Nhưng nó cũng có nghĩa rằng, với cả Cựu lẫn Tân Ước, bản thân các dịch giả có thể tiếp cận với một “trang bị” (phần thông tin về văn bản trong các ghi chú lề) gồm luôn các biến thể có ý nghĩa mà cổ bản của họ hậu thuẫn cho.
    2. Tuy phê bình bản văn là một ngành khoa học, nó không phải là một khoa học chính xác, bởi vì nó liên hệ đến quá nhiều biến thể con người. Thỉnh thoảng, nhất là khi công tác phiên dịch là một công tác tập thể của một ủy ban, bản thân các dịch giả cũng hoàn toàn đồng ý với nhau trong vấn đề biến thể nào theo đúng nguyên văn, còn biến thể nào là sai lầm của người sao chép. Khi gặp trường hợp như thế, thường thì chọn lựa của đa số sẽ được đưa vào bản dịch chính thức, trong khi chọn lựa của thiểu số được đưa ra phần ghi chú ngoài lề.
    Lý do cho sự không chắc chắn, hoặc là vì chứng cứ tốt nhất của cổ bản mâu thuẫn với cách giải nghĩa tốt nhất của sai sót, hoặc vì chứng cứ cổ bản ngang ngửa nhau và không có biến thể của bên nào có thể giải thích được biến thể kia đã xuất hiện ra sao. Chúng tôi có thể minh họa trường hợp này bằng ICo1Cr 13:3:
    Bản văn của NIV: “bỏ thân mình để chịu đốt.”
    Ghi chú lề của NIV: “bỏ thân mình để tôi có thể khoe khoang.”
    Trong Hi văn, chỗ khác nhau chỉ là một mẫu tự: kauqhswmai / ??????kauchswmai. Cả hai biến thể đều có hậu thuẫn tốt từ rất sớm, và cả hai đều có nhiều khó khăn cho việc giải nghĩa (I Cô-rinh-tô đã được viết trước khi các Cơ Đốc nhân chịu tử đạo bằng cách thiêu sống; thế nhưng thật là khó tìm cho ra một cách giải nghĩa thích hợp cho câu “để tôi có thể khoe khoang”). Đây là một trong nhiều chỗ mà một bộ giải nghĩa tốt có lẽ rất cần thiết để bạn tự quyết định.
    Thí dụ trên đây cũng là một dịp tốt để chúng tôi đưa bạn quay trở lại với chương sách trước. Bạn sẽ ghi nhận được rằng việc chọn bản văn đúng là một trong các vấn đề về “nội dung.” Một nhà giải kinh giỏi phải biết trong số những lời lẽ đó thì những lời nào là do chính Phao-lô viết ra. Mặt khác, cũng cần lưu ý rằng cuối cùng thì luận điểm của Phao-lô ở đây chỉ chịu ảnh hưởng rất ít của sự lựa chọn đó. Trong cả hai trường hợp, ông đều ngụ ý nói rằng giả sử có ai phải liều thân vì một sự hi sinh cùng cực nào đó, hoặc một việc làm tương tự như thế mà thiếu tình thương, thì tất cả đều phí công vô ích.
    Vậy, đây là điều muốn nói khi bảo rằng các dịch giả phải chọn lựa bản văn, mà nó cũng giải thích một trong các lý do tại sao các bản dịch nhiều khi lại khác nhau - và cũng giải thích tại sao bản thân các dịch giả cũng chính là những người giải nghĩa nữa. Trước khi chúng ta chuyển sang lý do thứ ba, tại sao các bản dịch lại khác nhau, thiết tưởng cần đưa ra một điều đáng lưu ý ở đây liên hệ đến bản Kinh Thánh Anh ngữ King James.
    3. Bản King James chẳng những là bản dịch được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới, mà còn là cách diễn tả cổ điển của Anh ngữ. Lẽ tất nhiên, nó đã đúc khuôn cho nhiều câu Anh ngữ sẽ thể hiện vĩnh viễn. Tuy nhiên, về Tân Ước thì bản văn Hi văn duy nhất nằm trong tay các dịch giả hồi năm 1611 được căn cứ trên các cổ bản muộn về sau này, vốn chứa các sai lầm của trên một ngàn năm sao đi chép lại. Một số các nhầm lẫn ấy - mà chúng ta phải lưu ý là có rất nhiều sai lầm như thế - không tạo khác biệt về phương diện giáo lý đối với chúng ta, nhưng chúng thường tạo ra một khác biệt về ý nghĩa của một số đoạn kinh văn đặc biệt.
    Chính vì thế mà trong việc nghiên cứu, bạn phải sử dụng gần như bất luận một bản dịch hiện đại nào chứ không phải chỉ dùng bản King James mà thôi. Cách chọn giữa các bản dịch hiện đại đưa chúng ta sang loại chọn lựa tiếp theo mà các dịch giả phải thực hiện.
    Các Vấn Đề Ngôn Ngữ
    Hai loại chọn lựa tiếp theo - từ ngữ và văn phạm - đưa chúng ta đến với khoa phiên dịch đích thực. Vấn đề liên quan đến việc chuyển các từ ngữ và ý niệm từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác. Muốn hiểu rõ các lý thuyết khác nhau ẩn dưới các bản dịch hiện đại, bạn cần làm quen với các thuật ngữ sau đây:
    Nguyên ngữ: Ngôn ngữ mà từ đó được phiên dịch ra; trong trường hợp của chúng ta, đó là ngôn ngữ Hi Bá Lai, A-ram, hoặc Hi văn.
    Ngôn ngữ phiên dịch: Ngôn ngữ một người dùng để dịch; trong trường hợp chúng ta đang thảo luận là Anh ngữ.
    Cách biệt lịch sử: Liên hệ đến những điểm khác nhau giữa nguyên văn với ngôn ngữ phiên dịch, cả trong các vấn đề về từ ngữ, văn phạm và những thành ngữ cũng như trong các vấn đề về văn hóa và lịch sử.
    Lý thuyết về phiên dịch: Điều này liên hệ đến mức độ mà ta sẵn sàng chấp nhận nhằm khỏa lấp khoảng cách giữa hai ngôn ngữ. Thí dụ có thể dịch đèn là “đèn pin” hay “đuốc” trong các nền văn hóa mà nó được sử dụng để phục vụ cho chủ đích mà cây đèn đã được dùng trước đây không? Hay là ta cứ dịch là “đèn” và để mặc cho độc giả tự khỏa lấp khoảng cách? Có nên dịch cái hôn thánh là “cái bắt tay trong tình thương yêu Cơ Đốc” trong những nền văn hóa mà việc hôn ở chỗ công khai bị xem là cớ vấp phạm?
    Cần lưu ý cách thức ba từ ngữ ấy được áp dụng vào ba lý thuyết phiên dịch sau đây:
    Dịch theo nghĩa đen (literal): Cố gắng phiên dịch mà vẫn giữ càng sát với các từ ngữ và cách đặt câu đúng với nguyên ngữ, nhưng vẫn có ý nghĩa trong ngôn ngữ phiên dịch. Dịch theo nghĩa đen sẽ giữ cho cách biệt lịch sử được giữ vẹn trong mọi điểm.
    Dịch tự do (Free): Chỉ cố gắng dịch các ý niệm từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác, ít quan tâm đến nguyên ngữ chính xác. Một bản dịch tự do, có khi được gọi là bản dịch diễn ý, cố tìm cách loại bỏ cách biệt lịch sử được nhiều bao nhiêu càng hay bấy nhiêu.
    Tương đương năng động (Dynamic equivalence): Cố gắng phiên dịch các từ ngữ, thành ngữ và các cấu trúc văn phạm của nguyên ngữ bằng những từ ngữ, thành ngữ và các cấu trúc văn phạm tương đương chính xác trong ngôn ngữ phiên dịch. Cách dịch này giữ nguyên cách biệt lịch sử của tất cả các vấn đề lịch sử và phần lớn các sự kiện, nhưng “cập nhật hóa” các vấn đề về ngôn ngữ, văn phạm và bút pháp.
    Không phải lúc nào các dịch giả cũng nhất quán, nhưng một trong các nguyên tắc trên đây phải chi phối cách tiếp cận căn bản của dịch giả đối với công tác của mình. Nhiều khi cách dịch theo nghĩa đen hoặc tự do có thể là quá đáng, như Clarence Jordan trong bản Cotton patch Version của ông đã dịch bức thư của Phao-lô cho thành phố Rô-ma, là cho thành phố Washington (!), trong khi Robert Young, trong bản dịch theo nghĩa đen được phát hành năm 1862, đã biến ICo1Cr 5:1 thành một thứ Anh ngữ khó có thể chấp nhận được: “Chuyện đĩ điếm đã thật sự được bàn tán giữa anh em, mà một chuyện đĩ điếm như thế là điều chưa từng được nghe nói cả đến giữa các dân tộc khác - tức là có người đã lấy vợ của cha mình (!)”
    Các bản dịch toàn bộ Kinh Thánh thông dụng có thể được xếp (cách chủ quan) theo mức độ cách biệt lịch sử như sau:
    Tương đương
    Nghĩa đen năng động Tự do
    _________________________________________ __ __ __ __ __ __ __
    KJV RSV NRSV NIV GNB PHILLIPS LB
    NASB NAB JB
    NEB
    Nguyên tắc phiên dịch hay nhất là tương đương năng động (dynamic equivalence). Một bản dịch theo nghĩa đen thường giúp ích như một nguồn thứ cấp; nó sẽ cho phép bạn tự tin vì biết những chữ Hi lạp hay Hi Bá Lai như thế nào. Một bản dịch tự do cũng có thể hữu ích - để kích thích bạn suy nghĩ về ý nghĩa khả hữu của một bản văn. Nhưng bản dịch cơ bản để đọc và nghiên cứu phải đại khái giống như NIV.
    Nan đề của một bản dịch theo nghĩa đen là nó giữ khoảng cách ở những chỗ có nhầm lẫn về ngôn ngữ và văn phạm. Như dịch giả thường chuyển từ Hi văn hoặc Hi Bá Lai sang Anh ngữ điều mà nếu không gặp trường hợp đó người ta sẽ chẳng bao giờ viết hay nói như vậy. Cũng ví như dịch hai chữ Hán “bạch mã” ra là “trắng ngựa” trong tiếng Việt. Thí dụ, chẳng hề có người Anh chính gốc nào lại nói “coals of fire” (“than lửa đỏ” KJV, RoRm 12:20). Đó là cách dịch theo nghĩa đen, đúng nguyên văn từng chữ từng tiếng theo cách đặt câu của Hi văn, trong khi ý nghĩa của nó trong Anh ngữ là “burning coals” (NIV) hoặc “live coals” (NEB).
    Nan đề thứ hai với cách dịch theo nghĩa đen là nó thường khiến cho câu tiếng Anh trở thành mơ hồ, trong khi câu Hi văn hoặc Hi Bá Lai văn vốn hết sức rõ ràng cho độc giả đầu tiên. Thí dụ như câu Hi văn trong IICo 2Cr 5:16 kata sarka có thể dịch từng chữ từng tiếng theo nghĩa đen là “(biết) theo xác thịt” (như trong bản NASB). Nhưng đó không phải là cách nói bình thường trong tiếng Anh. Hơn nữa, ý nghĩa của câu này rất mơ hồ. Phải chăng người được biết là người “sống theo xác thịt”, điều mà dường như bản NASB ngụ ý muốn nói mà trường hợp ở đây sẽ có nghĩa đại khái như: “theo diện mạo bên ngoài”? Hay là người “biết” chỉ biết “theo xác thịt,” mà như thế sẽ có nghĩa là “theo quan điểm thế gian?” Trong trường hợp này, bản Hi văn vốn rất rõ ràng, và bản NIV đã dịch rất đúng là “cho nên từ nay trở đi (từ khi chúng ta đã được khiến sống lại để có một đời sống mới, câu 15) chúng ta sẽ chẳng nhìn ai theo quan điểm thế gian nữa.”
    Mặt khác, vấn đề với một bản dịch tự do, nhất là cho mục đích nghiên cứu, là dịch giả cập nhật hóa tác giả nguyên thủy quá nhiều. Một “cách dịch” như thế rất dễ rơi vào chỗ gần giống với một sách giải nghĩa. Một bản dịch tự do luôn luôn do một dịch giả duy nhất thực hiện, và trừ phi dịch giả ấy đồng thời cũng là một nhà giải kinh tài ba, biết rõ nhiều vấn đề trong tất cả các khúc Kinh Thánh, bằng không sẽ có nguy cơ là độc giả sẽ bị dẫn đi sai lạc. Điều này đặc biệt nghiệm đúng cho bản dịch Living Bible, một bản dịch rất phổ biến nhưng rủi thay lại không hoàn toàn chính xác. Chúng ta có thể tạm chấp nhận những cách dịch như “flashlights” (“đèn pin” trong Thi Tv 119:105) hoặc “handshakes” (“bắt tay” trong IPhi 1Pr 5:14) hay “pancakes” (“bánh kếp” trong SaSt 18:6), nhưng dịch từ ngữ Hi văn carismata (các ân tứ thuộc linh) là “special abilities” (các khả năng đặc biệt) trong ICo1Cr 12:1-14:40 là quá phóng ý. Cách bản Living Bible dịch ICo1Cr 11:10 là “như một dấu hiệu rằng nàng ở dưới uy quyền người nam” đưa người ta đến chỗ hiểu sai, vì nguyên văn hàm ý rằng nàng là người có uy quyền. Trong IPhi 1Pr 5:13 tác giả Kinh Thánh có ẩn ý khi thay Rô-ma bằng Ba-by-lôn; chắc chắn tốt hơn là phải giải thích điều đó ở một chỗ nào khác chứ không nên dịch là Rô-ma, và hủy đi ẩn ý có mục đích của Phi-e-rơ. Bản dịch Living Bible rất dễ đọc, dễ hiểu, chỉ có điều là cũng có quá nhiều điểm không chính xác và diễn ý không thể trở thành quyển Kinh Thánh duy nhất - hoặc thậm chí căn bản - của một ai đó.
    Bộ New Revised Standard Version (NRSV) chính xác hơn bộ Living Bible và không phải là một bản dịch tự do, nhưng nó có một số chỗ nói trổng khi đề cập đến người. Hậu quả của việc này nhiều khi tạo ra loại Anh ngữ bất bình thường, nghĩa là “đúng cách thận trọng” nhưng không mang sắc thái Anh ngữ lắm. Thí dụ như trong GiGa 3:4 bản NRSV có một câu khó hiểu: “Một người há có thể trở vào lòng mẹ một lần thứ hai để lại được sinh ra?” so với cách dịch bình thường của bản RSV nguyên thủy: “Có thể nào người ấy lại trở vào lòng mẹ mình một lần thứ hai để được sanh ra?” Cũng thế, với Thi Tv 1:1-8, trong khi bản RSV đã giữ lại nét tương phản hữu ý giữa người công chính đơn độc (“Phước cho người...” câu 1) với nhiều kẻ gian ác (“Kẻ ác chẳng như vậy đâu...” câu 4). Nét tương phản này đã bị bản NRSV loại bỏ bằng cách biến các nhân vật trong cả bài thi thiên này thành số nhiều vì cố gắng muốn tránh những điều phân biệt về giống, vốn xảy ra với các đại danh từ số ít.
    Cách thức nhiều bản dịch áp dụng đối với vấn đề khoảng cách lịch sử có thể được ghi nhận rõ ràng hơn bằng cách minh họa nhiều loại vấn đề liên hệ.
    1. Cân, đo, tiền bạc: Đây là một lãnh vực đặc biệt khó khăn. Ta nên chuyển tự các thuật ngữ Hi văn và Hi Bá Lai (ephah, homer, vv...) hay tìm các từ Anh ngữ tương đương? Nếu ta chọn cách đưa ra các từ ngữ tương đương về cân, lường, thì nên dùng “pounds” và “feet” để làm chuẩn, hay phải nhìn vào tương lai để dịch ra là “lít” và “mét”? Lạm phát có thể chế nhạo các từ ngữ tương đương về tiền bạc chỉ sau vài năm. Vấn đề còn phức tạp hơn do sự kiện các đơn vị đo lường hoặc tiền bạc thường được dùng để gợi ý về tương phản hoặc các hậu quả gây kinh ngạc, như trong Mat Mt 18:24-28 hay EsIs 5:10. Trong những trường hợp này thì chuyển tự sẽ có khả năng làm cho độc giả Anh ngữ không nắm được luận điểm của khúc sách.
    Bản KJV, được hai bản RSV và NRSV theo sát, vốn không nhất quán trong vấn đề này. Phần lớn các bản này đều chuyển tự, nên chúng ta gặp những “bát”, “ê-pha”, “ô-me”, “siếc-lơ” và “ta-lâng”. Thế nhưng, ’ammah trong Hi Bá Lai lại được dịch ra là “cu-đê”, zereth là gang (tay), còn mna (mina) trong Hi văn lại trở thành pound của người Anh, trong khi denarius lại chỉ trở thành đồng xu. Với người Hoa Kỳ thì tất cả những điều đó đều vô nghĩa hoặc dẫn đến chỗ hiểu sai.
    Bản NASB dùng “cubit” và “span” nhưng ngoài trường hợp này ra, thì luôn luôn chuyển tự rồi ghi từ ngữ Anh văn tương đương ngoài lề (xem GiGa 2:6 chỗ phần chuyển tự được ghi ngoài lề!). Đây cũng là cách chọn của bản NIV ngoại trừ từ ngữ “cubits” được đổi ra feet, và tất cả các ghi chú bên lề đều có cả các chuẩn mực của người Anh lẫn các đơn vị đo lường tương đương. Tai hại thay, người ta lại chẳng chú thích gì cả trong Mat Mt 20:2 chỗ mà sự kiện đồng đơ-ni-ê (denarius) là tiền lương phổ biến hằng ngày vốn rất quan trọng để hiểu rõ ẩn dụ ấy; hơn nữa, trong Mac Mc 14:5 người ta lại hoàn toàn bỏ đi nguyên tắc này bằng cách dịch ba trăm đơ-ni-ê thành một giá trị tương đương là “tiền lương của hơn một năm.”
    Bản Living Bible đổi tất cả thành các giá trị tương đương, nhưng thường lại không chính xác, và cách đổi đồng đơ-ni-ê thành Mỹ kim (đô-la) của những năm 1960, dù thế nào đi nữa cũng chỉ là một phương thức bất ổn.
    Chúng tôi nghĩ rằng cả hai cách dùng các giá trị tương đương hoặc chuyển tự kèm theo phần ghi chú bên lề đều là phương thức tốt với phần lớn các đơn vị đo lường. Tuy nhiên cách sử dụng các giá trị tương đương chắc chắn được ưa chuộng hơn trong các khúc sách như EsIs 5:10Mat Mt 18:24-28. Lưu ý cách dịch mấy câu sau đây để thấy bản GNB có nhiều ý nghĩa hơn bản NASB:
    Ê-sai 5:10
    NASB: “Mười mẫu vườn nho chỉ đem lại một bát rượu; một ô-me hột giống sẽ mang lại một ê-pha bột.”
    GNB: “Nho trồng trên năm mẫu đất sẽ chỉ đem lại năm gallông rượu. Mười giạ hột giống sẽ chỉ mang lại một giạ mà thôi.”
    Ma-thi-ơ 18:24, 28
    NASB: “Có người đem nộp một tên kia mắc nợ một vạn ta-lâng...Nhưng khi đầy tớ đó ra về, gặp một người bạn cũng là nô lệ, thiếu mình một trăm đơ-ni-ê...”
    GNB: “Có một tên trong đám họ mắc nợ người đến hàng triệu Mỹ kim ... Rồi tên ấy đi ra, gặp một người bạn cũng là nô lệ, chỉ thiếu mình có vài Mỹ kim mà thôi.”
    2. Uyển ngữ (euphemisms, lối nói gián tiếp): Hầu như tất cả các ngôn ngữ đều có các uyển từ cho các vấn đề tình dục hoặc vệ sinh. Một dịch giả có một trong ba cách chọn khi gặp các vấn đề ấy: (1) dịch đúng nguyên văn theo nghĩa đen, mặc cho độc giả bị ngỡ ngàng, hoặc phải tự phỏng đoán lấy, (2) dịch bằng một từ ngữ tương đương theo nghĩa đen, nhưng có lẽ gây khó chịu cho người đọc hoặc (3) dịch bằng một uyển từ tương đương.
    Cách chọn thứ ba có lẽ là hay nhất, nếu có một uyển từ thích hợp. Nếu không thì tốt hơn là chọn giải pháp thứ hai, nhất là khi gặp các vấn đề nói chung chẳng đòi hỏi các uyển từ trong ngôn ngữ được dịch ra. Chẳng hạn như Ra-chên nói: “Con có kinh nguyệt” (Sáng Thế Ký 31:35 NIV, đối chiếu GNB) thì hay hơn là cách dịch theo nghĩa đen “con có việc riêng của phụ nữ” (NASB, đối chiếu KJV, RSV). Cùng một thành ngữ trong Sáng 18:11 bản GNB vẫn nhất quán (“Sa-ra không còn có kinh nguyệt nữa”), trong khi bản NIV thì dịch tự do hơn (“Sa-ra đã quá tuổi có con”). Cũng tương tự như thế, “Người cưỡng bức nàng, và nằm cùng nàng” (IISa 2Sm 13:14 KJV) trở thành khá đơn giản là “người cưỡng hiếp nàng” trong các bản NIV và GNB.
    Tuy nhiên, trong vấn đề này có thể có nguy cơ, nhất là khi bản thân các dịch giả không nắm vững được ý nghĩa của thành ngữ, như ta có thể thấy trong cách cách dịch ICo1Cr 7:1 của NIV, GNB và LB là “Đàn ông không cưới vợ thì hay hơn.” Thành ngữ “đụng đến phụ nữ” trong tất cả các trường hợp khác thời xưa, có nghĩa là giao hợp với một phụ nữ, nhưng chẳng bao giờ có chút hàm ý gì với việc “cưới vợ.” Ở đây, bản NAB đã tìm được một uyển từ tương đương được ưa chuộng hơn “một người đàn ông chẳng có liên hệ gì với một phụ nữ thì hay hơn.”
    3. Từ vựng. Khi một số đông người nghĩ đến vấn đề phiên dịch, thì đây là lãnh vực họ thường nghĩ đến nhất. Sự việc dường như chỉ là một việc làm đơn giản: tìm một từ ngữ trong ngôn ngữ cần dịch ra có cùng một ý nghĩa với từ ngữ Hi Bá Lai hoặc Hi văn. Nhưng tìm đúng chữ - chính là điểm khiến cho việc phiên dịch trở thành hết sức khó khăn. Một phần của sự khó khăn không những chỉ do việc chọn một từ ngữ trong ngôn ngữ cần được dịch ra cho thật thích hợp, mà còn phải chọn một chữ vốn không có những hàm ý xa lạ với nguyên văn.
    Vấn đề còn trở thành phức tạp hơn cho sự kiện một số các từ ngữ Hi Bá Lai hoặc Hi văn vốn có khoảng rộng ý nghĩa khác với bất cứ một từ ngữ nào khác trong ngôn ngữ cần được dịch ra. Thêm vào đó, một số từ ngữ còn có nhiều nghĩa bóng, cũng như có hai hoặc nhiều nghĩa khác hẳn. Việc cố ý chơi chữ thường là điều không thể nào dịch từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác được.
    Chúng tôi đã lưu ý nhiều bản dịch đã chọn nhiều cách khác nhau để giải nghĩa chữ “trinh nữ” trong ICo1Cr 7:36 như thế nào. Trong chương 1, chúng tôi cũng đã ghi nhận chỗ khó khăn khi dịch chữ sarx (“xác thịt”) theo cách dùng của Phao-lô. Trong phần lớn các trường hợp, hầu như chẳng còn có chữ nào hay hơn là chữ “xác thịt” theo nghĩa đen. Bản NIV vận dụng thật hay từ ngữ này: “bản tính tội lỗi” khi Phao-lô nêu lên điểm tương phản giữa “xác thịt” và “thần linh,” nhưng lại dịch là “bản tính con người” trong RoRm 1:3 khi nó đề cập Chúa Giê-xu là hậu duệ của Đa-vít, “theo quan điểm của người thế gian” trong IICo 2Cr 5:16 như đã lưu ý ở phần trên (đối chiếu ICo1Cr 1:26 “theo chuẩn mực của loài người”) và “thân thể” khi nó có nghĩa như thế (như trong ICo1Cr 1:22).
    Điều này có thể minh họa nhiều lần và là một trong nhiều lý do khiến tại sao một bản dịch theo nguyên tắc tương đương năng động được ưa chuộng hơn nhiều, so với một bản dịch theo nghĩa đen, đúng nguyên văn từng chữ từng tiếng một.
    4. Văn phạm và cú pháp. Tuy phần lớn các ngôn ngữ Ấn-Âu vốn có nhiều điểm tương đồng, mỗi ngôn ngữ đều có cách cấu trúc được ưa thích riêng về cách thức các từ ngữ và ý niệm có liên hệ với nhau như thế nào trong các câu. Chính tại các điểm đặc biệt này mà một bản dịch theo thuyết tương đương năng động được ưa chuộng hơn. Một bản dịch theo nghĩa đen có xu hướng lạm dụng hay “xem thường” các cấu trúc thông thường của ngôn ngữ được dịch ra bằng cách trực tiếp chuyển cú pháp và văn phạm của nguyên văn sang cho nó. Cách chuyển trực tiếp như thế thường có thể làm được đối với ngôn ngữ được dịch ra, nhưng rất ít khi được ưa chuộng. Từ mấy trăm thí dụ, chúng tôi xin chọn hai để minh họa, một từ Hi văn và một từ Hi Bá Lai.
    a. Một trong nhiều đặc điểm của Hi văn là thường dùng các cấu trúc thuộc cách (genitive constructions). Thuộc cách là trường hợp bình thường của sở hữu cách, như trong “my book”. Quyền sở hữu đích thực đó còn có thể được dịch ra - nhưng một cách thô thiển - là “quyển sách của tôi” (the book of me). Tuy nhiên, chẳng hạn nhiều “sở hữu cách” khác trong Anh ngữ như “ân điển của Đức Chúa Trời” (God’s grace) vốn không thiên quá nhiều về ý nghĩa như Đức Chúa Trời sở hữu ân điển, cho bằng là Ngài ban nó ra hoặc nó xuất phát từ Ngài. Những điều sở hữu “không thật” như thế luôn luôn có thể dịch ra Anh ngữ là “ân điển của Đức Chúa Trời” (the grace of God).
    Hi văn có vô số loại thuộc cách sau này, chẳng hạn như chúng được sử dụng làm tính từ mô tả, diễn tả nguồn gốc, nói lên các mối liên hệ đặc biệt giữa hai danh từ, vv... Một bản dịch đúng nguyên văn theo nghĩa đen hầu như bao giờ cũng chuyển những câu như thế sang Anh ngữ bằng một câu có chữ “của”, nhưng thường lại tạo ra nhiều hậu quả dị thường như “coals of fire” (RoRm 12:20) đã được lưu ý ở phần trên, hoặc “lời của quyền phép Ngài” (HeDt 1:3 KJV). Cả hai trường hợp này đều rõ ràng là tính từ hay thuộc cách mô tả, mà trong bản NIV được dịch chính xác hơn là “than đang cháy” và “lời quyền năng của Ngài” (his powerful word). Cũng tương tự như thế, hai câu “sự vững vàng của hi vọng” (ITe1Tx 1:3) và “niềm vui của Đức Thánh Linh” (1:6) của bản NASB đã được bản NIV dịch là “lòng kiên trì nhẫn nhục do hi vọng linh cảm” và “niềm vui do Đức Thánh Linh ban cho.” Những trường hợp này không những chỉ được ưa chuộng hơn mà sự thật còn chính xác hơn nữa, vì chúng đưa ra một câu Anh ngữ có ý nghĩa tương đương, chứ không phải là một câu văn dịch theo nghĩa đen theo cách diễn tả sự việc của Hi văn, điều mà trong Anh ngữ gần như là vô nghĩa.
    Có một điều khá lý thú, là một trong những chỗ hiếm hoi khi bản KJV (được bản RSV noi theo, nhưng bản NASB thì không) đưa ra một câu dường như tương đương (ICo1Cr 3:9), nhưng các dịch giả đã hoàn toàn đánh mất ý nghĩa của thuộc cách. Rõ ràng là họ đã bị từ ngữ bạn đồng công (fellow-workers) dẫn đi lạc, do đó đã dịch là “Vì chúng tôi là những người cùng lao động với Đức Chúa Trời: anh em là ruộng của Đức Chúa Trời, anh em là nhà của Đức Chúa Trời.” Nhưng trong câu viết của Phao-lô, mỗi lần chữ Đức Chúa Trời xuất hiện đều rõ ràng là một thuộc cách sở hữu, với điểm nhấn mạnh cả trên chúng tôi (Phao-lô và A-bô-lô) lẫn anh em (Hội Thánh như ruộng và nhà của Đức Chúa Trời) đều thuộc về Ngài. Câu này đã được bản NIV dịch rất đúng là “vì chúng tôi là bạn cùng làm việc của Đức Chúa Trời; anh em là ruộng của Đức Chúa Trời, là nhà của Đức Chúa Trời.” Luận điểm của Phao-lô còn được bản NASB nêu lên rõ ràng hơn nữa: “Chúng tôi là bạn đồng công của Đức Chúa Trời, trong khi anh em là mùa màng Ngài vun trồng, nhà cửa Ngài xây cất.”
    b. Trong Cựu Ước của bản KJV có đến hàng ngàn lần các dịch giả đã theo sát thứ tự các từ ngữ trong tiếng Hy Bá Lai nên không thể nào tạo ra được một thứ Anh ngữ bình thường, phù hợp với tính chất riêng của nó. Chẳng hạn như có bao giờ bạn thử chú ý xem có bao nhiêu mệnh đề (hay câu) trong bản KJV đã bắt đầu bằng chữ và (and) hay không? Hãy đọc Sáng Thế ký 1:1-31 và để ý là chỉ có một ngoại lệ duy nhất ở câu 1, tất cả các câu trong chương 1 đều bắt đầu bằng và, tổng cộng là ba mươi lần. Bây giờ hãy đối chiếu với bản NIV. Bản này đã rút bớt con số ấy xuống còn 11, trong khi đồng thời đã trau dồi được sự trôi chảy của ngôn ngữ khiến nó được nghe cách tự nhiên hơn.
    Các dịch giả của bản NIV đã thực hiện và cải tiến bản dịch bằng cách coi trọng sự kiện đại đa số các câu văn xuôi trong bộ Cựu Ước tiếng Hy Bá Lai đều bắt đầu bằng một trong hai hình thức của nó khi dùng từ và. Thậm chí chữ và xuất hiện khi điều đi trước hoàn toàn chẳng có liên hệ gì với câu ấy. Thật vậy, sáu sách của Cựu Ước (Giô-suê, Các Quan Xét, I Sa-mu-ên, E-xơ-ra, Ru-tơ và Ê-xơ-tê) bắt đầu trong tiếng Hy Bá Lai bằng chữ và, tuy chúng chẳng tiếp theo cái gì cả. Các nhà ngữ pháp học về Hy Bá Lai văn hiện nay nhìn nhận rất đúng rằng chữ “và” ở đầu câu rõ ràng là cách dùng tương đương với việc dùng chữ hoa ở đầu các câu Anh ngữ. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng từ và của Hy Bá Lai văn chẳng bao giờ nên được dịch ra bằng từ và trong Anh ngữ, mà chỉ đơn giản có nghĩa rằng từ và chỉ đôi khi - và chắc chắn không phải là trong đại đa số các trường hợp - mới là cách dịch tốt sang Anh ngữ. Câu Anh ngữ đơn giản bắt đầu bằng một mẫu tự viết hoa sẽ hoàn thành mỹ mãn nhiệm vụ của nó trong phần lớn các trường hợp.
    Một thí dụ khác nữa trong KJV là câu “and it came to pass.” Cách dùng này không còn được sử dụng trong Anh ngữ bình thường nữa và nó khá hiếm hoi, thậm chí hiếm hoi ngay trong thế kỷ thứ mười bảy lúc bản KJV được thực hiện. Vì dược dịch sát nghĩa đen và cứng nhắc theo hình thức trần thuật của động từ Hy bá Lai, hậu quả là bản dịch cũng luôn luôn có câu “and it came to pass” mà ta thấy rất nhiều trong Cựu Ước nhưng không hề thấy trong Anh ngữ. Có lần chúng tôi đã được nghe một bài giảng về ý niệm mọi sự đều tạm thời và cuối cùng đều sẽ qua đi (ICo1Cr 13:8-10) dựa trên việc thường xuyên xuất hiện của câu “and it came to pass” mà nhà truyền đạo lại hiểu lầm là có nghĩa rằng “và việc ấy đến để mà qua đi” (and it came in order to pass away). Thật vậy, các dịch giả của bản NIV đã làm đúng khi không dịch một mệnh đề như thế. Dịch tiếng Hy Bá Lai sang Anh ngữ theo phương pháp có phê phán cân nhắc đòi hỏi một ý nghĩa tương đương, chứ không phải là một chữ hay một mệnh đề tương đương.
    Chọn Một Bản Dịch
    Chúng tôi đang cố tìm cách giúp bạn chọn một bản dịch Kinh Thánh. Chúng tôi sẽ kết luận bằng vài nhận xét tóm tắt về một số các bản dịch.
    Thứ nhất, cần lưu ý rằng chúng tôi đã không tìm cách kể ra thật đầy đủ. Vẫn còn nhiều bản dịch toàn bộ Kinh Thánh khác mà chúng tôi không đưa vào phần thảo luận của mình, đó là chưa nói đến bảy mươi lăm bản dịch Tân ước khác đã xuất hiện trong thế kỷ thứ hai mươi này. Nhiều bản được kể ở phần sau này thật tuyệt vời, rất đáng được sử dụng (thí dụ, bản Weymouth, 1903; bản Helen Montgomery, 1924; bản Williams 1937). Trong số này cũng có nhiều bản dịch tự do, hai trong số đó được ưa chuộng hơn cả bản Living Bible do mức độ chính xác cao của chúng (bản Phillips, 1947; bản F. F. Bruce - các thư tín của Phao-lô mà thôi - 1965).
    Trong toàn thể các bản dịch Kinh Thánh không được bàn đến, một số có thiên kiến về phương diện thần học, như bộ New World Translation của Chứng Nhân Giê-hô-va (1961). Đây là một bản dịch theo sát nguyên văn (nghĩa đen) một cách cực đoan, đầy các tà thuyết của giáo phái này. Nhiều bản dịch khác trong số các bản dịch ấy lại lập dị như bản dịch của George Lamsa (1940) là người tin rằng bản dịch ra tiếng Sy-ri vào khoảng năm 400 S.C. chứa đựng những chiếc chìa khóa cho mọi sự. Có lẽ ta cũng nên đưa vào đây bộ Amplified Bible, từng nổi tiếng vượt xa giá trị của nó. Tốt nhất là nên dùng nhiều bản dịch, chú ý những điểm khác nhau giữa chúng, rồi soát xét lại các điểm dị biệt ấy bằng một nguồn tài liệu khác, còn hơn bị dẫn dụ để tin rằng một từ có thể có một trong nhiều nghĩa trong một câu nào đó, và người đọc bị bỏ mặc để tự chọn bất cứ nghĩa nào “đánh trúng” óc tưởng tượng của riêng mình.
    Thế thì đâu là bản dịch bạn cần phải đọc? Chúng tôi xin mạo muội gợi ý rằng bản NIV là một bản dịch tốt như bạn sẽ thấy. Hai bản GNB và NAB cũng rất tốt. Tốt nhất là ta có hai hoặc cả ba trong số các bản dịch ấy. Bản NIV là một bản dịch do một ủy ban gồm các học giả giỏi nhất của truyền thống Tin Lành; bản NAB là một bản dịch do một ủy ban gồm các học giả giỏi nhất trong truyền thống Công giáo (La Mã) tại Hoa Kỳ. Bản GNB là một bản dịch vượt trội do chỉ một học giả duy nhất là Robert G. Bratchen, người thường xuyên tham khảo ý kiến của nhiều người khác, và những chuyên gia về ngữ học đã đưa ý niệm về tương đương năng động vào công tác phiên dịch cách triệt để.
    Cùng với một hoặc nhiều hơn các bản dịch này, bạn cũng nên dùng một hoặc nhiều bản dịch sau đây: bản NASB, RSV hoặc bản NRSV. Các bản này cố tìm cách cập nhật hóa bản KJV. Các dịch giả đã sử dụng các nguyên bản tốt nhất, do đó loại trừ được hầu hết các nội dung không phải là nguyên tác trong bản KJV. Đồng thời họ còn cố bám càng sát càng tốt vào ngôn ngữ của bản KJV mà vẫn hiện đại hóa nó một phần. Các bản RSV và NRSV là những bản dịch tốt hơn nhiều; bản NASB giống với bản KJV nhiều hơn, do đó, theo nghĩa đen nhiều hơn - đến độ trở thành cứng nhắc.
    Cùng với một hoặc nhiều hơn những bản này, chúng tôi cũng dặn dò bạn nên tham cứu hoặc là bản NEB hoặc là bản JB - hoặc cả hai. Cả hai bản này đều do các uỷ ban phiên dịch thực hiện. Bản NEB là sản phẩm của công trình khảo cứu hoàn bị nhất của Anh quốc, do đó có rất nhiều thành ngữ Anh ít quen thuộc với các độc giả người Mỹ. Bản JB là một bản dịch Anh ngữ từ bản dịch Pháp ngữ Bible de Jerusalem. Cả hai bản dịch này đều thỉnh thoảng có xu hướng tự do hơn các bản dịch khác đã được mô tả ở đây như là tương đương năng động. Nhưng cả hai đều có những nét đặc trưng nổi bật và đều xứng đáng được sử dụng cùng với các bản dịch khác.
    Trong các chương tiếp theo sau đây, chúng tôi sẽ theo bản NIV, trừ các trường hợp đặc biệt được ghi chú. Nếu bạn thường xuyên đọc bản dịch này rồi, bạn hãy tra cứu ít nhất một bản dịch khác (RSV /NRSV /NASB /GNB /NAB /NEB /JB), như thế bạn sẽ tự tạo cho mình một khởi điểm tốt để đọc và nghiên cứu Kinh Thánh cách sáng suốt.


    Các Thư Tín: Tập Suy Nghĩ Theo Bối Cảnh
    Chúng ta bắt đầu tìm hiểu những loại văn thể khác nhau trong Kinh Thánh bằng cách khảo sát các Thư tín Tân Ước. Một trong nhiều lý do là vì các thư tín có vẻ dễ giải nghĩa. Nói cho cùng, thì ai là người cần giúp đỡ đặc biệt để hiểu rằng “mọi người đều đã phạm tội” (RoRm 3:23), rằng “tiền công của tội lỗi là sự chết” (RoRm 6:23), và “ấy là nhờ ân điển, bởi đức tin, mà anh em được cứu” (Eph Ep 2:8), hay mệnh lệnh “hãy bước đi theo Thánh Linh” (GaGl 5:16) và “hãy bước đi trong sự yêu thương” (Eph Ep 5:2)?
    Mặt khác, chỗ “dễ” giải thích của các Thư tín cũng rất dễ làm chúng ta lầm lẫn, đặc biệt là trong công tác giảng kinh (hermeneutics). Chỉ cần thử hướng dẫn một nhóm học Kinh Thánh với sách I Cô-rinh-tô chẳng hạn, ta sẽ thấy bao nhiêu điều khó khăn. Có người thắc mắc: “Làm sao xem ý kiến của Phao-lô (ICo1Cr 7:25) như Lời Chúa được?” nhất là khi chính họ không thích một vài ẩn ý trong ý kiến ấy? Và các thắc mắc cứ tiếp tục. Việc dứt phép thông công trong chương 5 liên hệ thế nào với Hội Thánh ngày nay, nhất là khi chỉ cần băng qua đường là đã có một nhà thờ khác rồi? Luận điểm của các chương 12-14 là gì nếu ta ở trong một chi hội địa phương mà các ân tứ thuộc linh lại không được chấp nhận là có giá trị cho thế kỷ thứ hai mươi? Ta phải làm thế nào để biết 11:2-16 ý muốn nói là phụ nữ phải trùm đầu khi cầu nguyện và nói tiên tri - hay là phụ nữ được cầu nguyện và nói tiên tri khi hội chúng nhóm lại để thờ phượng?
    Rõ ràng các Thư tín không dễ giải nghĩa như ta thường nghĩ. Vì tầm quan trọng của chúng đối với đức tin Cơ Đốc nhân cũng như vì nhiều vấn đề giảng kinh quan trọng nẩy sinh ở đây, nên chúng tôi dùng chúng làm kiểu mẫu cho vấn đề giải kinh (exegetical) và giảng kinh (hermeneutics) được nêu lên trong sách.
    Bản Chất của Các Thư Tín
    Trước khi khảo sát I Cô-rinh-tô như một kiểu mẫu giải nghĩa các Thư tín, ta cần biết một số điểm tổng quát về các Thư tín (toàn bộ Tân Ước ngoại trừ bốn sách Phúc Âm, sách Công Vụ, và sách Khải Thị).
    Thứ nhất, cần lưu ý rằng bản thân các Thư tín không phải là một thể loại đồng nhất. Nhiều năm về trước, Adolf Deissmann, căn cứ vào một lượng lớn các phát hiện giấy chỉ thảo, đã phân biệt các bức thư (letters) và các thư tín (epistles). Những bức thư, như tên gọi, vốn không có giá trị văn chương, nghĩa là chúng vốn không được viết cho công chúng và hậu thế, mà chỉ nhắm vào một hoặc nhiều người mà chúng đã được gởi đến. Trái lại, thư tín là một hình thức nghệ thuật văn chương hay một loại văn chương có ý định nhắm vào công chúng. Chính Deissmann xem toàn bộ các thư tín của Phao-lô cũng như các thơ II, III Giăng là các “bức thư thật sự.” Tuy một số học giả khác đã thận trọng lưu ý rằng ta không nên liệt tất cả các bức thư của Tân-Ước vào loại này hoặc loại kia, nhưng dù sao thì sự phân biệt vẫn có giá trị. Sách Rô-ma và Phi-lê-môn khác nhau chẳng những chỉ về nội dung, mà cả về mức độ sách này có tính cách cá nhân vượt xa sách kia. Tương phản với các bức thư của Phao-lô, thư II Phi-e-rơ và I Giăng giống với các Thư tín hơn nhiều.
    Ta có thể nhận thấy giá trị của sự phân biệt này bằng cách lưu ý hình thức các bức thư cổ. Chúng cũng có tiêu chuẩn (đề ngày, lời chào, phần thân, phần kết thúc và chữ ký) như tiêu chuẩn cho các bức thư của chúng ta ngày nay. Hàng ngàn những bức thư cổ đã được tìm thấy, và phần lớn chúng đều có hình thức y hệt các bức thư trong Tân Ước (xem bức thư của giáo hội nghị trong Cong Cv 15:23-29). Hình thức của một bức thư gồm có sáu phần:
    1. Tên người viết (ví dụ, Phao-lô)
    2. Tên người nhận (ví dụ, cho Hội Thánh của Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô)
    3. Lời chào thăm (ví dụ, Nguyền xin ân điển và sự bình an của Đức Chúa Trời là Cha giáng trên anh em).
    4. Lời cầu nguyện và bộc lộ lòng mong ước hoặc lời cảm tạ (ví dụ, tôi luôn luôn vì anh em cảm tạ Đức Chúa Trời…).
    5. Phần thân của bức thư.
    6. Lời chào từ biệt (ví dụ, nguyền xin ân điển của Chúa Cứu Thế Giê-xu ở cùng anh em).
    Yếu tố duy nhất có thay đổi trong hình thức này là số 4, trong đó phần lớn các bức thư cổ có hình thức của một lời cầu nguyện bày tỏ nguyện vọng (hầu như y hệt với III Giăng câu1,2), hoặc nếu không phải như thế thì bỏ hẳn đi (như Ga-la-ti, I Ti-mô-thê, Tít) tuy thỉnh thoảng người ta thấy có một lời cảm tạ hoặc cầu nguyện (như thường thấy trong các bức thư của Phao-lô). Ba trong số các Thư tín Tân Ước, lời cảm tạ này được chuyển thành một bài ca tụng (II Cô-rinh-tô, Ê-phê-sô, I Phi-e-rơ, so sánh KhKh 1:5-6).
    Cần lưu ý rằng các Thư tín trong Tân Ước bị thiếu các yếu tố 1-3 hoặc 6 sẽ không phải là những bức thư thật sự, tuy chúng cũng có mang hình thức Thư tín. Chẳng hạn như thư Hê-bơ-rơ, vốn được mô tả như có ba phần của một truyền đạo đơn và một phần của một bức thư, lẽ dĩ nhiên phải được gởi đến cho một nhóm người cụ thể, như HeDt 10:32-3413:1-25 chỉ rõ. Chú ý kỹ hình thức bức thư trong 13:22-25. Thế nhưng các chương 1-10 rất ít giống với một bức thư mà thật ra là một bài giảng trình bày sự cao trọng của Đấng Christ đi kèm với những lời khuyến giục độc giả hãy neo chặt đức tin nơi Đấng Christ (2:1-4; 3:7-19; 5:11-6:20; 10:19-25). Tác giả gọi đó là “những lời khuyên bảo” của mình (13:22).
    Thư I Giăng cũng có vài điểm tương tự, ngoại trừ việc nó không mang một yếu tố hình thức của một bức thư. Dù vậy, rõ ràng là nó được viết cho một nhóm người cụ thể (xem IGi1Ga 2:7, 12-14, 19, 26) và trông có vẻ rất giống phần thân của một bức thư với tất cả các yếu tố về hình thức đều bị xén đi mất. Điều đáng lưu ý là nó không đơn giản chỉ là một luận án thần học cho Hội Thánh nói chung.
    Hai thư Gia-cơ và II Phi-e-rơ đều có phần lời chào, nhưng cả hai đều thiếu lời chào từ biệt quen thuộc; cả hai cùng thiếu các lời chào cụ thể cũng như không có lời dặn dò cá nhân nào của các tác giả. Đây là những điểm rất giống với các “Thư tín” Tân Ước - các truyền đạo đơn gởi cho toàn thể Hội Thánh, mặc dầu dường như thư II Phi-e-rơ được viết vì có một số người phủ nhận sự Tái Lâm của Chúa Cứu Thế (IIPhi 2Pr 3:1-7;). Mặt khác, sách Gia-cơ thiếu hẳn phần luận cứ chung khiến nó giống một bộ sưu tập các ghi chú bài giảng về nhiều vấn đề liên quan đến luân lý đạo đức hơn là một bức thư.
    Tuy có sự khác nhau về thể loại, tất cả các Thư tín đều có một điểm chung quan trọng cần lưu ý trong việc đọc và giải nghĩa chúng: chúng là những văn kiện tùy dịp (hay tùy cơ hội: được viết và được chủ định vì một dịp tiện cụ thể), và chúng có từ thế kỷ thứ nhất. Mặc dầu được Đức Thánh Linh cảm thúc và do đó thuộc về mọi thời đại, chúng được viết từ bối cảnh của tác giả cho bối cảnh của các độc giả đầu tiên. Chính những yếu tố này - tùy cơ hội và thuộc thế kỷ thứ nhất - đôi khi khiến việc giải nghĩa trở thành khó khăn.
    Trước hết, cần xem xét cách nghiêm túc tính chất tùy dịp của chúng. Các Thư tín này được viết do hoàn cảnh đặc biệt từ phía độc giả hoặc từ phía tác giả đòi hỏi. Hầu hết các bức thư Tân Ước đều từ phía độc giả đòi hỏi (sách Phi-lê-môn và có lẽ hai thư Gia-cơ và Rô-ma là những ngoại lệ). Thường thường thì biến cố là cách ăn ở, cư xử cần sửa, hoặc một sai lệch về giáo lý cần chấn chỉnh, hoặc một sự hiểu lầm cần được làm sáng tỏ hơn.
    Chúng ta thường gặp khó khăn khi giải nghĩa các Thư tín do tính chất tùy dịp của chúng. Chúng ta có câu trả lời, nhưng không phải lúc nào cũng biết các câu hỏi hay vấn đề đã xảy ra, hoặc thậm chí chẳng biết có vấn đề đó hay không. Điều này giống như ta nói điện thoại và cố hình dung ra ai là người đang ở đầu dây bên kia và người ta không thấy đó đang muốn nói gì. Thế nhưng trong rất nhiều trường hợp, cố ý lắng nghe “đầu dây bên kia” là một điều đặc biệt quan trọng, để chúng ta biết khúc sách của mình trả lời cho vấn đề gì.
    Còn một điểm nữa cần lưu ý. Tính chất tùy cơ hội của các Thư tín có nghĩa mục đích trước nhất của chúng không phải là khảo luận thần học; chúng không phải là những bài tóm lược thần học của Phao-lô hay Phi-e-rơ. Các Thư tín đều hàm chứa thần học, nhưng là “thần học thực hành”, thần học được viết cho, hoặc nêu ra là vì nó có liên quan với nhiệm vụ trước mắt. Điều này đúng ngay cả với thư Rô-ma, một thư chứa đựng các vấn đề thần học của Phao-lô cách đầy đủ và hệ thống hơn bất cứ chỗ nào khác. Nhưng đây mới chỉ là một phần thần học của ông mà thôi, và trong trường hợp này thần học nảy sinh từ nhiệm vụ đặc biệt của ông trong cương vị sứ đồ cho các dân ngoại. Đó là cuộc tranh chiến của ông vì quyền lợi của dân ngoại đối với ân sủng của Đức Chúa Trời, và cách nó liên hệ với toàn bộ vấn đề “luật pháp” khiến cho cuộc tranh luận mang hình thức đặc biệt như ta thấy trong thư Rô-ma, và dẫn đến việc sử dụng sự xưng công nghĩa là hình bóng chính yếu cho sự cứu rỗi. Cuối cùng, chữ xưng công nghĩa vốn chiếm ưu thế trong thư Rô-ma (15 lần), thư Ga-la-ti (8 lần) chỉ xuất hiện hai lần nữa trong toàn bộ các thư khác của Phao-lô (ICo1Cr 6:11; Tit Tt 3:7).
    Như thế ta liên tục nghiên cứu các Thư tín để tìm hiểu thần học Cơ Đốc chúa đựng trong đó. Nhưng ta cũng phải nhớ rằng mục đích của chúng trước hết không phải là để diễn giải thần học Cơ Đốc. Nó luôn luôn là thần học phục vụ cho một nhu cầu đặc biệt. Chúng ta sẽ xem xét những ẩn ý liên quan với vấn đề giảng kinh trong chương kế tiếp.
    Sau khi nắm được những điểm quan trọng, ta sẽ tiến hành việc giải nghĩa các Thư tín như thế nào? Từ đây trở đi, chúng ta sẽ nghiên cứu I Cô-rinh-tô như là trường hợp điển hình. Không phải tất cả các Thư tín đều giống Thư tín này, nhưng hầu hết các câu hỏi cần dùng nghiên cứu bất kỳ một Thư tín nào cũng đều được nêu ra ở đây.
    Bối Cảnh Lịch Sử
    Điều đầu tiên cần làm đối với bất luận Thư tín nào là cố gắng tái dựng tình trạng mà tác giả đang nói đến. Điều gì đã xảy ra tại Cô-rinh-tô khiến Phao-lô phải viết thư I Cô-rinh-tô? Làm sao ông biết được tình trạng này? Trước đó, ông có mối liên hệ và tiếp xúc với họ thế nào? Bức thư này cho thấy thái độ của họ và của ông như thế nào? Đó là các câu hỏi mà bạn cần trả lời. Bạn phải làm gì đây?
    Thứ nhất, bạn cần tra cứu Thánh Kinh Từ Điển hoặc phần dẫn nhập trong sách giải nghĩa của bạn để tìm hiểu càng nhiều càng tốt về thành phố Cô-rinh-tô và cư dân của nó (cũng như về Hội Thánh tại Cô-rinh-tô và các tín hữu ở đó). Một điều quan trọng mà bạn cần biết là theo các tiêu chuẩn cổ thì thành phố này tương đối hãy còn trẻ, được thành lập chỉ chín mươi bốn năm khi Phao-lô đến thăm lần đầu tiên. Nhưng nhờ vị trí chiến lược cho việc giao thương, nó là thành phố quốc tế, giàu có, nơi qui tụ các sinh hoạt nghệ thuật, tôn giáo (có ít nhất hai mươi sáu ngôi đền miếu), và nổi tiếng dâm dục. Chỉ cần hơi chịu khó đọc và tưởng tượng, ta có thể thấy nó là điểm hội tụ của một chút New York, Los Angeles và Las Vegas. Vì vậy, khó có thể nói rằng đây là bức thư gửi Hội Thánh tại một vùng quê hẻo lánh. Bạn cần nhớ những điều nầy khi đọc để nhận ra thế nào nó sẽ ảnh hưởng đến cách hiểu của bạn gần như ở mỗi trang sách.
    Thứ hai, để đạt được mục đích nghiên cứu, bạn cần phát triển thói quen đọc cả bức thư một lần. Bạn cần để ra khoảng một giờ để làm việc này. Không điều gì có thể thay thế công việc này. Đây là cách chúng ta đọc tất cả các bức thư khác. Các bức thư trong Kinh Thánh cũng chẳng có gì khác cả. Có một số điều mà bạn phải tìm trong khi đọc, nhưng bạn không nên cố tìm cách để hiểu ngay ý nghĩa của từng chữ hoặc từng câu một. Điều quan trọng đầu tiên là có cái nhìn bao quát.
    Dầu nhấn mạnh đến bao nhiêu chúng tôi nghĩ vẫn chưa đủ đối với tầm quan trọng của việc phải đọc đi đọc lại. Một khi bạn đã chia được bức thư ra thành nhiều phần hoặc nhiều đoạn hợp lý rồi, bạn sẽ cần bắt đầu nghiên cứu từng đoạn đúng y theo cách trên.
    Sau khi đã đọc qua cả bức thư, bạn cần viết ra một vài ghi chú thật vắn tắt. Điều này rất bổ ích cho bạn, đặc biệt cho những người kém trí nhớ. Bạn phải viết gì khi đọc cả bức tranh rộng lớn kia? Nên nhớ mục đích đầu tiên ở đây là tái tạo vấn đề, vì thế chúng tôi gợi ý về bốn loại ghi chú:
    1. Những điều bạn ghi nhận được về những người nhận thư, chẳng hạn như là người Do Thái hay người Hi Lạp, giàu có hay nô lệ, các vấn đề, thái độ của họ v.v.
    2. Những thái độ của Phao-lô.
    3. Những điểm cụ thể được đề cập liên hệ đến cơ hội đặc biệt để viết bức thư này.
    4. Bố cục tự nhiên và hợp lý của bức thư.
    Nếu bạn không thể làm một lần tất cả những điều trên đây thì trước hết hãy đọc qua bức thư, rồi sau đó quay trở lại bằng cách đọc lướt qua để lấy ra các chi tiết muốn ghi chú. Sau đây là các sự việc có lẽ bạn đã chú ý được tập họp lại thành từng nhóm theo bốn loại đã gợi ý.
    1. Các tín hữu Cô-rinh-tô đa số là dân ngoại, tuy cũng có vài người Do Thái (xem ICo1Cr 6:9-11; 8:10; 12:2, 13), họ yêu thích sự khôn ngoan và kiến thức (1:18-2:5; 4:10; 8:1-13; do đó 6:5 chứa đựng một lời mỉa mai), họ kiêu ngạo và tự thị tự mãn (4:18; 5:2, 6) thậm chí đến độ chỉ trích cả Phao-lô (4:1-5; 9:1-18); thế nhưng họ lại gặp nhiều vấn đề nội bộ.
    2. Thái độ của Phao-lô thay đổi giữa quở trách (4:8-21; 5:2; 6:1-8), kêu gọi (4:14-17; 16:10-11) và khuyên giục (16:18-20, 12-14).
    3. Về cơ hội viết thư, có lẽ bạn đã thấy trong 1:10-12, Phao-lô nói ông đã được người nhà của Cơ-lô-ê báo cho biết; 5:1 cũng đề cập đến thông tin đã nhận được. Trong 7:1 ông nói: “Luận đến các vấn đề anh em viết trong thư” có nghĩa là ông cũng đã nhận được bức thư Hội Thánh đã gửi. Bạn có lưu ý những chữ “luận đến, về ...việc, còn như” được nhắc đi nhắc lại trong 7:25; 8:1; 12:1; 16:1; 16:12 hay không? Có lẽ tất cả đều là các chi tiết rút ra từ lá thư của họ mà mỗi lần ông chỉ nêu ra một vấn đề thôi. Một điều khác nữa: Bạn có chú ý đến việc “đến” của Sê-pha-na, Phốt-tu-ra và A-chai-cơ trong 16:17 không? Vì Sê-pha-na là người được “kính phục” (c.16), chắc chắn mấy người này (hoặc ít nhất là Sê-pha-na) cũng là cấp lãnh đạo Hội Thánh. Có lẽ họ được ủy quyền đem bức thư đến cho Phao-lô.
    Nếu bạn không thấy tất cả những điều này, xin đừng bỏ cuộc. Chúng tôi đã nghiên cứu Thư tín này nhiều lần nên trở nên quen thuộc. Điều quan trọng là bạn phải học đọc cách cẩn thận để tìm ra những manh mối như thế.
    4. Bây giờ vấn đề quan trọng là phân chia bố cục cho bức thư. Điều này đặc biệt quan trọng đối với I Cô-rinh-tô, vì nghiên cứu hay đọc sách này với các sự kiện được tập hợp cách thuận lợi như thế thì dễ dàng hơn nhiều. Không phải tất cả các thư của Phao-lô đều được viết theo trình tự chi tiết như vậy. Thiết lập một bố cục sẽ luôn luôn hữu ích.
    Chỗ phải bắt đầu là với các phần lớn. Trong trường hợp này thì 7:1 là đầu mối chính. Đây là lần đầu tiên Phao-lô đề cập bức thư họ viết cho ông, và trong 1:10-125:1 ông đề cập các vấn đề mà người ta đã kể lại với ông, nên chúng ta có thể cho rằng các vấn đề trong các chương 1-6 đều là những câu trả lời cho những gì ông đã nghe kể lại. Những câu nhập đề và chủ đề đều là đầu mối cho tất cả các phần khác trong bức thư này. Có bốn phần trong sáu chương đầu:
    vấn đề chia rẽ trong Hội Thánh (1:10-4:21)
    vấn đề kẻ loạn luân (5:1-13)
    vấn đề thưa kiện (6:1-11)
    vấn đề tà dâm (6:12-20)
    Chúng ta đã lưu ý các đầu mối để lập bố cục cho hầu hết các chương từ 7-16 căn cứ trên công thức nhập đề là “Luận đến.” Có ba tiết mục không được giới thiệu bằng công thức nhập đề đó là 11:2-16; 11:17-34; 15:1-58. Có lẽ ông cũng nghe kể lại những chi tiết trong chương 11 (ít nhất trong 11:17-34) và được đưa vào đây vì các chương 8-14 đều liên quan với sự thờ phượng theo một cách thức nào đó. Ta không biết chắc chương 15 là lời đáp cho điều ông đã được nghe kể lại hay cho bức thư trước. Câu “sao trong anh em có kẻ nói rằng” ở câu 12 chẳng giúp được gì nhiều vì Phao-lô có thể trích nó từ điều ông được nghe kể lại, hoặc từ bức thư của họ. Dù sao thì phần còn lại của bức thư rất dễ lập bố cục:
    về cách ăn ở giữa vợ chồng (7:1-24);
    về các trinh nữ (7:25-40);
    về của cúng thần tượng (8:1-11:1);
    sự trùm đầu của phụ nữ trong Hội Thánh (11:2-16);
    sự lạm dụng Bàn Tiệc Thánh (11:17-34);
    về các ân tứ thuộc linh (12:1-14:40);
    sự phục sinh thân thể của tín hữu (15:1-58);
    về việc góp tiền (16:1-11);
    về việc trở lại của A-bô-lô (16:12);
    những lời khuyến giục và chào thăm từ biệt (16:13-24).
    Có lẽ nếu theo cách chia phần trong bản Kinh Thánh Anh ngữ NIV, bạn không thấy một phần ở 7:25, hoặc bạn chia các chương 1:1-4:21, 8:1-10:33; 12:1-14:40 thành nhiều nhóm nhỏ hơn. Nhưng bạn có thấy rằng ba phần cuối đều là những đơn vị hoàn chỉnh? Thí dụ, cần lưu ý rằng cả chương 13 nằm trong phần luận cứ của chương 12:1-14:40 do việc các ân tứ Thánh Linh cụ thể được nêu trong câu 1-2 và 8.
    Trước khi tiếp tục, có hai điều chúng ta cần lưu ý: (1) Còn một chỗ duy nhất khác trong các bức thư của Phao-lô mà ông nêu lên một chuỗi những tiết mục độc lập tiếp theo nhau như thế này là ở ITe1Tx 4:1-5:27. Về cơ bản, hầu hết các bức thư khác được cấu thành bằng một luận cứ thật dài, mặc dầu nhiều khi luận cứ ấy có nhiều phần. (2) Đây chỉ là một bố cục gợi ý. Chúng ta chỉ thấy được cơ hội viết bức thư này trên bề mặt mà thôi, tức là một bản tường trình được kể lại và một bức thư. Nhưng điều chính yếu cho từng vấn đề tại Cô-rinh-tô đòi hỏi phải có câu trả lời cụ thể của Phao-lô. Do đó, vì mục đích nghiên cứu của chúng ta, chúng tôi dành thì giờ còn lại để đi sâu vào một tiết mục thôi: vấn đề chia phe lập đảng trong chương 1-4.
    Bối Cảnh Lịch Sử I Cô-rinh-tô 1:1-4:21
    Khi đi vào từng phần nhỏ hơn của bức thư, bạn cần làm lại những gì chúng ta vừa mới thực hiện ở trên. Nếu chúng tôi giao cho bạn một bài tập cho từng bài học, bài tập ấy sẽ đại khái như thế này: (1) Hãy đọc qua ICo1Cr 1:1-4:21 ít nhất hai lần (tốt nhất bằng hai bản dịch khác nhau). Xin nhắc lại là bạn đọc lần đầu để có một bức tranh rộng lớn, có “cảm nhận” về toàn thể lý luận trong đó. Sau khi bạn đã đọc qua lần thứ hai (hoặc thậm chí lần thứ ba, thứ tư nếu bạn muốn đọc từng bản dịch mình có), hãy quay trở lại và (2) liệt kê trong quyển sổ tay tất cả các chi tiết về những người nhận bức thư này và vấn đề của họ. Ở đây bạn cần quan sát kỹ, và liệt kê mọi sự việc, có thể sau khi rà soát lại, bạn muốn trở lại để xóa bớt một vài tiết mục không hoàn toàn thích hợp. (3) Rồi lập một bảng liệt kê khác gồm là những chữ chìa khóa và những câu được nhắc đi nhắc lại cho thấy vần đề chính mà Phao-lô muốn trả lời.
    Một trong những lý do khiến chúng tôi chọn phần này làm mẫu không chỉ vì nó rất quan trọng trong thơ I Cô-rinh-tô, nhưng cũng vì nó là phần khó nhất. Nếu bạn đã đọc kỹ cả đoạn này và quan sát kỹ lưỡng vấn đề, có lẽ bạn nhận thấy và thậm chí còn bực bội bởi vì mặc dầu Phao-lô bắt đầu đề cập vấn đề cách cụ thể (1:10-12), nhưng phần đầu câu trả lời của ông (1:18-3:4) dường như đã chẳng đá động gì đến vấn đề ấy cả. Thật vậy, thoạt tiên ta có thể nghĩ rằng 1:18-3:4 là một đoạn lạc đề, ngoại trừ việc Phao-lô đã không lý luận lệch hướng và trong phần kết luận ở 3:18-23 “sự khôn ngoan” và “sự dại dột” (ý tưởng chính trong 1:18-3:4) được nối kết với sự “khoe khoang về loài người” và việc đề cập đến Phao-lô, A-bô-lô và Sê-pha. Vì vậy ta cần xét xem chúng ăn khớp với nhau như thế nào để phát hiện ra vấn đề.
    Chỗ để bắt đầu là chú ý điều Phao-lô nêu lên. Trong 1:10-12 ông bảo rằng họ chia rẽ nhân danh các người lãnh đạo của họ (so sánh 3:4-9; 3:21-22; 4:6). Nhưng bạn có thấy rằng sự chia rẽ không phải chỉ là vấn đề bất đồng ý kiến giữa họ mà thôi? Thật ra là họ đang cãi nhau (1:12; 3:3) và “tự hào vì người này hơn người kia” (4:6; đối chiếu 3:21).
    Tất cả những điều đó dường như khá rõ ràng. Nhưng nếu rà soát vấn đề lần nữa ta sẽ thấy hai việc khác xuất hiện.
    1. Dường như đã có chút “xích mích” giữa Hội Thánh và bản thân Phao-lô. Điều này trở nên rõ ràng trong 4:1-5; và 4:18-21. Nếu ghi nhận như vậy, ta có thể cho rằng chuyện gây gỗ và chia rẽ không chỉ đơn giản là vấn đề họ thích A-bô-lô hơn Phao-lô, mà thật ra là họ đang chống lại Phao-lô.
    2. Một trong những chữ chìa khóa trong phần này là khôn ngoan (26 lần trong các chương 1-3, và chỉ có thêm 18 lần nữa trong toàn bộ các bức thư của Phao-lô). Rõ ràng đây là từ ngữ được dùng với hàm ý mỉa mai, chứ không có nghĩa tích cực. Đức Chúa Trời đã ra tay để đánh đổ sự khôn ngoan của đời này (1:18-22, 27-28, 3:18-20). Ngài đã làm việc ấy bằng thập tự giá (1:18-25), bằng việc chọn các tín hữu người Cô-rinh-tô (1:26-31), và bằng sự yếu đuối của Phao-lô trong khi giảng dạy (2:1-5;). Bởi thập tự giá, Chúa Cứu Thế đã trở thành sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời cho chúng ta (1:30); và sự khôn ngoan này đã được Đức Thánh Linh “bày tỏ” cho những người có Đức Thánh Linh (2:10-16). Cách dùng chữ “khôn ngoan” trong lý lẽ của Phao-lô cho ta thấy đây là một phần nguyên nhân của sự chia rẽ. Nhưng sự việc đã xảy ra như thế nào? Ít nhất chúng ta cũng có thể đoán ra rằng họ chia rẽ vì mượn danh những người lãnh đạo và chống đối Phao-lô vì cho rằng mình khôn ngoan.
    Bất cứ điều gì chúng ta nói vượt ra ngoài điểm đó đều sẽ nằm trong sự suy diễn hoặc phỏng đoán. Vì chữ khôn ngoan cũng là một thuật-ngữ triết học, và vì đủ loại triết gia lưu động vốn đầy dẫy trong thế giới Hy Lạp vào thời của Phao-lô, chúng ta có thể nghĩ rằng các tín hữu người Cô-rinh-tô đang bắt đầu suy nghĩ về niềm tin Cơ-đốc mới của họ như là một sự “khôn ngoan thiên thượng” mới mẻ, từ đó khiến họ đánh giá các lãnh đạo của họ theo cách loài người, xem những người lãnh đạo của họ cũng chỉ như các triết gia lưu động kia mà thôi. Nhưng điều cần lưu ý là cho dù cách “phỏng đoán” này có hữu ích đến đâu, nó đã vượt quá điều chính bản văn nói.
    Theo câu trả lời của Phao-lô thì có ba điều có thể được xem là chắc chắn: (1) Căn cứ vào 3:5-23, rõ ràng là họ đã hiểu lầm bản chất và chức năng lãnh đạo trong Hội Thánh. (2) Tương tự như thế, căn cứ vào 1:18-3:4, dường như họ cũng hiểu lầm cả bản chất căn bản của Phúc Âm nữa. (3) Dựa vào 4:1-21 họ cũng sai lầm trong cách họ chỉ trích Phao-lô, và họ cần phải thẩm định lại mối liên hệ giữa họ với ông. Bạn sẽ nhận thấy rằng với phần ghi nhận này, bây giờ chúng ta đã bắt đầu chuyển sang việc phân tích câu trả lời của Phao-lô.
    Văn Mạch
    Bước kế tiếp để nghiên cứu các Thư tín là tìm hiểu lập luận của Phao-lô để trả lời cho vấn đề mà chúng ta đã giả định ở phần trên. Chương 1 đã cho bạn biết rằng bạn có thể thực hiện điều này mà không phải tham khảo ý kiến các học giả.
    Nếu phải cho bạn một bài tập về phần này trong “bài học”, nó sẽ đại khái như sau: Cho biết lập luận của ICo1Cr 1:10-4:21 theo từng phân đoạn, rồi dùng một hoặc hai câu để giải thích luận điểm của từng phân đoạn đối với toàn bộ vấn đề, hoặc cho biết nó đóng vai trò như thế nào trong câu trả lời của Phao-lô cho vấn đề chia rẽ.
    Chúng tôi không thể nhấn mạnh hết tầm quan trọng của việc tập SUY NGHĨ TỪNG PHÂN ĐOẠN, không phải chỉ đơn giản như những đơn vị tư tưởng tự nhiên, mà là chìa khóa cần thiết để nắm vững phần lý luận trong các thư tín khác. Cần nhớ rằng một trong những câu hỏi bạn phải lặp đi lặp lại là Luận điểm ở đây là gì? Do đó, bạn sẽ cần làm được hai việc: (1) Phải tóm lược nội dung của từng phân đoạn. Phao-lô nói gì trong phân đoạn này? (2) Trong một hoặc hai câu, hãy giải thích tại sao bạn lại nghĩ rằng Phao-lô nói điều này tại đây. Nội dung này góp phần thế nào cho lập luận?
    Vì không thể thực hiện điều này cho cả ICo1Cr 1:1-4:21, chúng ta sẽ đi vào một số chi tiết với ba phân đoạn quan trọng trong phần thứ hai của câu trả lời của Phao-lô, tức là 3:5-16. Cho đến bây giờ, bởi sự hướng dẫn của Thánh Linh, Phao-lô điều chỉnh kiến thức non nớt của họ về Phúc Âm bằng cách cho họ thấy rằng trọng tâm của Phúc Âm - Đấng Mết-si-a chịu đóng đinh - hoàn toàn trái ngược với sự khôn ngoan của loài người (1:18-25), khi thấy cách Đức Chúa Trời chọn lựa người để thành lập một dân mới của Ngài (1:26-31). Dường như Phao-lô muốn nói với họ rằng: “Có phải anh em nghĩ rằng Phúc Âm là một loại khôn ngoan mới chăng? Làm sao có thể như thế được? Có người nào nhân danh sự khôn ngoan mà lại chọn anh em làm một dân mới cho Đức Chúa Trời?” Chính việc truyền giảng của Phao-lô cũng là một minh họa cho mâu thuẫn đó (2:1-5). Trong 1:6-16, Phao-lô cho họ biết rằng đó là sự khôn ngoan, nhưng là sự khôn ngoan do Thánh Linh của Đức Chúa Trời mặc khải cho những con dân mới của Ngài - tức là những người có Thánh Linh hiện diện. Phao-lô lập luận rằng vì người Cô-rinh-tô đã có Đức Thánh Linh rồi, cho nên họ đừng hành động như những kẻ không có Ngài (3:1-4). Việc họ tranh cãi vì cớ Phao-lô và A-bô-lô chứng minh họ vẫn còn hành động “như người xác thịt.”
    Vậy, ba phân đoạn kế tiếp đóng chức năng gì trong lập luận? Với 3:5-9, nội dung đề cập tính chất và vai trò của hai vị lãnh đạo mà vì đó họ tranh cãi với nhau. Phao-lô nhấn mạnh rằng hai ông chỉ là tôi tớ, chứ không phải là chủ, là Chúa, như khẩu hiệu của họ. Trong các câu 6-9, bằng hình ảnh một nông gia, ông nêu lên hai đặc điểm của tôi tớ, cả hai đều vô cùng quan trọng đối với sự hiểu lầm của người Cô-rinh-tô: (1) Cả Phao-lô lẫn A-bô-lô đều vì lợi ích chung, tuy nhiệm vụ của mỗi người có khác nhau, và mỗi người rồi sẽ được lãnh “phần thưởng” riêng. (2) Mọi sự và mọi người - Hội Thánh, tôi tớ, sự tăng trưởng - đều thuộc về Đức Chúa Trời.
    Sự hiểu biết về hai điểm này rất quan trọng. Nó gây ra chia rẽ trong Hội Thánh vì cớ các lãnh đạo của mình, tuy rằng những người này không phải là chủ, là chúa. Họ chỉ là các tôi tớ, dù có chức vụ khác nhau, đều vì lợi ích chung. Họ thuộc về Đức Chúa Trời như tín hữu Cô-rinh-tô thuộc về Đức Chúa Trời.
    Một đoạn văn khác cũng thường bị giải thích sai là 3:10-15 do không tìm hiểu theo từng phân đoạn. Cần lưu ý hai điều: (1) Ở cuối câu 9, Phao-lô đã đổi ẩn dụ nông nghiệp sang kiến trúc, sẽ là ẩn dụ được dùng cho cả phân đoạn này. (2) Đặc điểm trong cả hai ẩn dụ chỉ là một (Phao-lô trồng, đặt nền; A-bô-lô tưới, xây trên nền ấy; Hội Thánh Cô-rinh-tô là ruộng, ngôi nhà; Đức Chúa Trời là chủ ruộng, chủ ngôi nhà). Tuy nhiên, luận điểm của mỗi phân đoạn có khác nhau. Luận điểm của 3:10-15 được diễn tả rõ ràng trong câu 10, “nhưng ai nấy phải cẩn thận về sự mình xây trên nền đó.” Ví dụ của Phao-lô cho biết thêm rằng kết quả sau cùng sẽ cho thấy người thợ xây giỏi hay tồi. Cần lưu ý điều được xây dựng là Hội Thánh, hoàn toàn không có một ám chỉ nào cho thấy Phao-lô muốn nói đến việc mỗi cá nhân tín hữu xây dựng cuộc sống mình trên Đấng Christ, vì điều này sẽ không thích hợp cho phần lập luận ở đây. Phao-lô cũng muốn cảnh cáo những người đang lãnh đạo Hội Thánh rằng họ phải làm công việc ấy cách cẩn trọng, vì ngày thử nghiệm đã sắp đến rồi. Xây dựng Hội Thánh bằng sự khôn ngoan hoặc tài hùng biện của loài người nhằm xuyên tạc thập tự giá, là xây dựng bằng gỗ, cỏ khô, và rơm rạ.
    Đoạn văn tiếp theo 3:16-17 cũng thường bị ứng dụng sai, một phần vì sau đó ít lâu (6:19) ai cũng biết rằng Phao-lô đã gọi thân thể của Cơ Đốc nhân là “đền thờ của Đức Thánh Linh.” Như thế mấy câu ở đây cũng thường bị cá nhân hóa nhằm ám chỉ một người lạm dụng thân thể hay lơ là đời sống thuộc linh. Tuy nhiên, ở nhiều chỗ khác, Phao-lô dùng ẩn dụ đền thờ trong nghĩa tập thể để ám chỉ Hội Thánh là đền thờ của Đức Chúa Trời (IICo 2Cr 6:16; Eph Ep 2:19-22). Đây là điều ông muốn nói, mà bản NIV đã cố làm sáng tỏ bằng cách dịch “chính anh em là đền thờ của Đức Chúa Trời.”
    Vậy thì luận điểm của Phao-lô trong văn mạch này là gì? Hội Thánh Cô-rinh-tô phải là đền thờ của Đức Chúa Trời tại Cô-rinh-tô - tương phản với tất cả các đền miếu khác trong thành phố ấy. Nói cách khác, họ được Đức Chúa Trời lựa chọn để sống một lối sống khác với nếp sống của người Cô-rinh-tô. Điều khiến họ trở thành đền thờ của Đức Chúa Trời là sự hiện diện của Ngài giữa vòng họ. Nhưng do việc kết bè lập đảng, họ đang phá hủy đền thờ của Đức Chúa Trời. Phao-lô bảo rằng ai gây ra sự chia rẽ thì chính họ sẽ bị Đức Chúa Trời hủy phá, vì Hội Thánh Cô-rinh-tô quý giá đối với Ngài.
    Luận cứ được linh cảm của Phao-lô giờ đây đã đầy đủ. Bắt đầu, ông đã vạch ra sự hiểu biết thiếu sót của họ về Phúc Âm, một Phúc Âm không chỉ dựa trên sự khôn ngoan của loài người, nhưng còn trái ngược trên mọi phương diện. Sau đó ông cho thấy sự hiểu biết thiếu sót của họ về quyền lãnh đạo trong Hội Thánh; đồng thời cảnh cáo các cấp lãnh đạo thuộc cả hai phe và chính hội chúng rằng Đức Chúa Trời sẽ đoán phạt những ai gây chia rẽ. Trong ICo1Cr 3:18-23, ông nhập chung cả hai luận đề này lại trong một câu kết luận. Sự khôn ngoan của loài người là dại dột; do đó “chớ ai khoe mình về loài người.”
    Trong khi tóm tắt lại phần phân tích này chúng ta cần lưu ý: (1) Công tác giải kinh là giải nghĩa chính nội dung bản văn; nghĩa là chúng ta không cần phải vượt ra ngoài bản văn mới hiểu được luận điểm của nó, (2) chẳng có điều gì trong bản văn lại không phù hợp với lập luận, và (3) tất cả mọi điều đó làm cho sáng tỏ ý nghĩa. Đây là công tác giải kinh. Đây là Lời của Đức Chúa Trời cho họ. Có thể bạn cần tham khảo sách giải nghĩa để rõ thêm một số điểm trong nội dung. Tuy nhiên bạn có khả năng làm tất cả những gì chúng ta vừa làm. Điều quan trọng là bạn cần thực tập - trong một vài trường hợp sẽ đòi hỏi bạn phải chịu khó suy nghĩ nữa; nhưng bạn có thể thực hiện được, và phần thưởng sẽ rất xứng đáng.
    Thực Tập Một Lần Nữa
    Trước khi kết thúc chương này, chúng ta sẽ thực tập công tác giải kinh bằng một phân đoạn Kinh Thánh khác dễ hơn I Cô-rinh-tô, nhưng cũng đề cập đến sự chia rẽ trong Hội Thánh.
    Hãy đọc Phi Pl 1:27-2:13 nhiều lần. Cần lưu ý rằng lập luận của Phao-lô ở đây diễn biến đại thể như sau: Cơ hội là Phao-lô đang bị tù (1:13,17) và Hội Thánh Phi-líp gửi cho ông một món quà qua một thành viên tên Ép-ba-phô-đích (4:14-18). Dường như Ép-ba-phô-đích lâm bịnh, và Hội Thánh nghe được tin ấy nên lấy làm buồn rầu (2:26;) nhưng Đức Chúa Trời đã chữa lành cho ông, nên Phao-lô đang phái ông quay về với họ (2:25-30) mang theo một bức thư với mục đích (1) cho họ biết mọi việc đã xảy ra với ông (1:12-26), (2) cám ơn họ về món quà của họ (4:10,14-19), và (3) khuyến giục họ hai điều: sống hòa thuận với nhau (1:27-2:17; 4:2-3) và tránh tà giáo Do Thái (3:1-4:1).
    Phao-lô vừa kết thúc phần ông kể cho họ cách sống của ông trong tù. Phần kế tiếp là một phần của lời khuyến giục. Thí dụ, hãy lưu ý cách ông không còn tự nói về mình nữa như trong các câu 12-16. Bạn có thấy sự thay đổi rõ ràng từ tôi/của tôi, sang anh em/của anh em trong câu 27 không?
    Thế thì, đâu là luận điểm của từng phân đoạn trong đoạn sách này?
    Phân đoạn thứ nhất, 1:27-30, bắt đầu lời khuyến giục. Luận điểm dường như là điều chúng ta đọc thấy trong câu 27, họ phải “đứng vững trong một Thánh Linh.” Đây là lời khuyên hiệp một, nhất là vì họ đang gặp chống đối. (Chú ý: nếu chúng ta quyết định rằng c.27 thật là luận điểm của phân đoạn, thì chúng ta phải đặt câu hỏi: “Đâu là luận điểm của câu 28-30 và việc nhấn mạnh đến sự chống đối và khổ nạn?” Lưu ý cách ông đã trả lời vấn đề này.)
    2:1-4 liên quan đến sự hiệp một như thế nào? Trước hết, ông lặp lại lời khuyên (c.1-2, bây giờ chúng ta biết chắc rằng mình đúng ở phân đoạn thứ nhất). Nhưng luận điểm ở đây lại là khiêm nhường, là thái độ phải lẽ để các tín hữu hiệp nhất.
    Bây giờ, bạn hãy thử tìm hiểu phân đoạn 2:5-11. Luận điểm là gì? Tại sao phần nầy đề cập đến việc Đấng Christ tự hạ mình xuống rồi được tôn cao? Câu trả lời của bạn có thể không đúng từng chữ từng lời với câu trả lời của chúng tôi, nhưng chắc chắn phải đại ý như sau: Sự nhập thể và chịu chết của Chúa Giê-xu là tấm gương cao nhất về sự khiêm nhường mà Phao-lô muốn họ phải có. (Bạn cần lưu ý rằng khi đặt câu hỏi theo cách này thì luận điểm của phân đoạn sẽ không nhằm dạy dỗ chúng ta một điều gì mới mẻ về Chúa Cứu Thế cả. Phao-lô đề cập đến các chân lý trọng đại về Đấng Christ nhằm khích lệ tín hữu Phi-líp bắt chước để trở nên giống Đấng Christ, chứ không phải chỉ để biết về Ngài mà thôi.)
    Hãy tiếp tục với 2:12-13. Luận điểm ở đây là gì? Rõ ràng đây là phần kết luận. Lưu ý chữ ấy vậy. Một khi đã được nhắc nhở về tấm gương của Đấng Christ, giờ đây họ phải vâng lời Phao-lô về việc gì? Chắc chắn là việc hiệp nhất, mà điều này đòi hỏi phải có thái độ khiêm nhu nữa. Cuối cùng, bạn cần chú ý cách Phao-lô giải quyết vấn đề thiếu hiệp một, rằng vấn đề cũng tương tự như tại Cô-rinh-tô, nhưng chắc còn có phần nghiêm trọng và phức tạp hơn thế nữa. Điều đó sẽ giúp bạn càng nhiều hơn để xác định cách bạn tái tạo vấn đề tại đó.
    Các Phân Đoạn Khó Giải Thích
    Chúng tôi chủ ý đưa bạn qua hai khúc sách với mục đích cho bạn thấy rằng bạn có thể tự mình thực hiện phần giải kinh, miễn là bạn học cách suy nghĩ từng phân đoạn và đặt đúng các câu hỏi về bối cảnh lịch sử và văn mạch. Nhưng chúng tôi biết còn nhiều phân đoạn Kinh Thánh khác mà chúng ta vẫn luôn luôn có thắc mắc - như ý nghĩa của câu “vì cớ các thiên sứ” trong ICo1Cr 11:10, hay “chịu phép báp-tem cho kẻ chết” trong ICo1Cr 15:29, hay “Đấng Christ...đi giảng cho các linh hồn bị tù” trong IPhi 1Pr 3:19, hoặc “người tội ác” trong IITe 2Tx 2:3. Tóm lại, chúng ta phải đi đâu để tìm cho ra ý nghĩa của các khúc sách này?
    Sau đây là một số hướng dẫn.
    1. Trong nhiều trường hợp, lý do khiến các bản văn trở thành khó hiểu đối với chúng ta là vì chúng vốn không được viết cho chúng ta. Tác giả và độc giả đầu tiên có cùng một cách suy nghĩ, điều đó cho phép tác giả được linh cảm đoán biết nhiều điều về phía độc giả của mình. Chẳng hạn như lúc Phao-lô nói với người Tê-sa-lô-ni-ca rằng họ sẽ nhớ lại là ông “đã thường nói với họ về những điều đó,” do đó “anh em biết rõ điều làm ngăn trở nó” (IITe 2Tx 2:5, 6), thì chúng ta cần học biết hài lòng với sự thiếu hiểu biết của mình. Điều ông đã nói với họ bằng miệng bây giờ có thể ăn khớp với những gì ông viết cho họ trong bức thư. Việc chúng ta bị thiếu phần trao đổi bằng miệng của ông khiến cho phần ông viết ra trở thành khó hiểu. Nhưng chúng ta cần xem đó như là chuyện đương nhiên: hễ Đức Chúa Trời muốn cho chúng ta hiểu điều gì thì Ngài đã truyền thông cho chúng ta rồi; còn điều Ngài không nói có lẽ vẫn khiến cho chúng ta quan tâm, nhưng chúng ta nên dè dặt về các điểm không biết chắc đó để khỏi trở thành độc đoán.
    2. Tuy nhiên như chúng tôi từng gợi ý, ngay cả khi chúng ta không biết đầy đủ về một số chi tiết, thì luận điểm của cả khúc sách vẫn thường nằm trong tầm lãnh hội của chúng ta. Cho dù người Cô-rinh-tô có làm gì trong việc “báp-tem cho người chết” đi nữa, chúng ta vẫn biết tại sao ông lại đề cập tập quán đó của họ. Hành động đó là một thứ “kinh nghiệm bản thân” cho thấy họ đã bất nhất khi chối bỏ sự sống lại trong tương lai của tín hữu.
    3. Mặc dầu có những đều mơ hồ so với một số chi tiết chính xác, ta cần tìm hiểu điều gì là chắc chắn trong một đoạn văn, và điều gì có khả năng xảy ra nhưng không chắc chắn. Hãy xem lại ICo1Cr 15:29 như một thí dụ. Điều gì được quả quyết? Một số người Cô-rinh-tô quả thật có “làm phép báp-tem cho người chết” cho dù chúng ta có thích thừa nhận điều đó hay không. Hơn nữa, Phao-lô không buộc tội cũng chẳng đồng tình với việc làm đó của họ; ông chỉ nói về nó - vì một lý do khác hẳn với chính việc thực hành nghi thức đó. Nhưng chúng ta không biết và có lẽ là sẽ chẳng bao giờ biết được ai đã làm như thế, họ làm vì ai, và tại sao họ lại làm việc đó. Vì vậy, có lẽ chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết được các chi tiết và ý nghĩa của tập quán đó.
    4. Gặp những phân đoạn như vậy, ta cần tra cứu sách giải nghĩa tốt. Như chúng tôi sẽ nêu rõ trong phần phụ lục, chính việc giải quyết một khúc sách như thế giúp ta biết được các bộ giải kinh tốt. Các bộ sách tốt sẽ liệt kê và ít ra cũng sẽ thảo luận vắn tắt các giải thích khác nhau với đủ các lý lẽ bênh vực hoặc bác bỏ. Có lẽ bạn không luôn luôn đồng ý với cách giải thích của cá nhân các nhà giải kinh, nhưng bạn cần biết các cách giải thích khác nhau, và các bộ sách giải nghĩa tốt sẽ làm công việc ấy giúp bạn.
    Cuối cùng, chúng tôi xin gợi ý rằng ngay đến các học giả cũng không có hết tất cả các câu trả lời. Nếu một phân đoạn nào đó có từ bốn đến mười bốn ý nghĩa có thể chọn, thì cả đến các học giả cũng chỉ phỏng đoán mà thôi! Những bản văn như ICo1Cr 15:29 (đã có ít nhất bốn mươi cách phỏng đoán khác nhau) sẽ giúp chúng ta có thái độ khiêm nhu phải lẽ.
    Tuy nhiên, việc chúng ta đã làm trong chương này chỉ mới là phân nửa nhiệm vụ phải làm. Phân nửa đầu này rất quan trọng, tuy nhiên bây giờ chúng ta cần tiếp tục đặt câu hỏi để tìm cách ứng dụng đoạn Kinh Thánh cho chúng ta. Chúng ta đã học nghe Lời Đức Chúa Trời phán với họ. Thế Lời Ngài phán gì với chúng ta? Đây là điều chúng ta sẽ làm trong chương tiếp theo.

    Các Thư Tín: Những Vấn Đề Giảng Kinh

    Bây giờ, chúng ta sẽ nghiên cứu điều đã đề cập: vấn đề giảng kinh (hermeneutics). Đoạn văn này có ý nghĩa gì cho chúng ta? Đây là trọng tâm, và so với công việc này thì giải kinh (exegesis) còn tương đối dễ dàng. Ít nhất là trong việc giải kinh, phần đông mọi người đều nhất trí với nhau ý nghĩa chung, ngay cả khi có bất đồng ý kiến ở một số điểm cá biệt. Bối cảnh lịch sử và văn mạch không cho phép giải nghĩa tùy tiện. Chẳng hạn Phao-lô không thể ám chỉ điều gì đó mà độc giả của ông chưa từng nghe; điều ông muốn nói ít nhất cũng nằm trong phạm vi những điều có thể xảy ra hồi thế kỷ thứ nhất.
    Tuy nhiên, dường như không có sự nhất trí như thế trong giảng kinh (học biết ý nghĩa trong bối cảnh của thời đại chúng ta). Mọi người đều “làm” công tác giảng kinh, ngay cả khi họ chẳng biết chút gì về giải kinh cả. Cho nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi có nhiều điểm khác nhau giữa vòng các Cơ Đốc nhân; điều lạ lùng hơn là những điểm thật sự khác nhau không có nhiều. Lý do là vì thật ra chúng ta có chung một căn bản giảng kinh, cả khi chúng ta không nói rõ ra.
    Trước hết, điều chúng tôi muốn làm trong chương này là phác họa loại giảng kinh thông thường của phần đông tín hữu, chỉ ra các ưu và khuyết điểm của nó, rồi thảo luận và đưa ra một số hướng dẫn cho nhiều lãnh vực mà loại giảng kinh này còn thiếu xót. Nan đề của các Cơ Đốc nhân dấn thân nghiên cứu Kinh Thánh như là Lời của Đức Chúa Trời liên quan đến tính tương đối của văn hóa, điều gì có tính cách văn hóa chỉ thuộc thế kỷ thứ nhất, còn điều vượt trên văn hóa và do đó trở nên Lời cho mọi thời đại. Đây là điều rất cần được chú ý.
    Giảng Kinh Theo Nhận Thức Thông Thường Của Chúng Ta
    Ngay cả khi bạn thắc mắc “Herman là ai?” khi gặp từ “hermeneutics” (giảng kinh) thì thực sự bạn đang dính líu với công tác giảng kinh. Chúng ta làm gì khi đọc các thư tín? Rất đơn giản, chúng ta sử dụng nhận thức thông thường của chúng ta để hiểu đoạn kinh văn mình đọc, rồi ứng dụng điều mình có thể ứng dụng vào hoàn cảnh của riêng mình. Những gì có vẻ không thể đem ra ứng dụng, đơn giản là nên chừa lại cho thế kỷ thứ nhất.
    Có lẽ chẳng có ai trong chúng ta nghĩ rằng mình được Thánh Linh kêu gọi hành hương đến Trô-ách để đem chiếc áo choàng của Phao-lô còn để tại nhà Cơ-rít-bu đến cho ông trong nhà tù tại Rô-ma (IITi 2Tm 4:13), tuy khúc sách này rõ ràng là một mệnh lệnh dạy phải làm như thế. Thế nhưng, cũng từ một bức thư ấy, hầu hết các Cơ Đốc nhân đều tin rằng Đức Chúa Trời dạy họ hễ khi nào gặp khó khăn thì phải “chịu khổ như một người lính giỏi của Đức Chúa Giê-xu Christ” (2:3). Không ai trong chúng ta lại thắc mắc về những lời dạy này, tuy nhiều người trong chúng ta lắm khi phải chiến đấu để vui vẻ vâng theo lời dạy thứ hai.
    Xin nhấn mạnh ở đây rằng phần lớn các vấn đề trong các thư tín đều rất phù hợp với cách giảng kinh theo tri thức thông thường. Với hầu hết các đoạn kinh văn, vấn đề không phải là ta có nên vâng theo hay không, nhưng là “nhắc nhở nhau để giục giã nhau” (IIPhi 2Pr 1:15, KJV).
    Những vấn đề - và những điểm dị biệt - của chúng ta phát xuất từ những bản văn mà có người cho rằng phải vâng theo đúng những gì được nêu lên, còn những người khác lại không chắc phải làm đúng như thế. Có vài khó khăn trong sự giảng kinh của chúng ta, nhưng tất cả đều có liên quan với một điều - sự thiếu nhất quán của chúng ta. Đây là một khuyết điểm lớn khi chúng ta giảng kinh theo tri thức phổ thông. Tuy không hẳn là cố ý, chúng ta vẫn đưa di sản thần học, truyền thống giáo hội, các nề nếp văn hóa, hay những mối quan tâm hiện sinh của mình vào trong các Thư Tín khi đọc chúng. Và điều này đã dẫn tới hậu quả là đủ các loại giải thích về một số phân đoạn nào đó.
    Chẳng hạn như điều lý thú là mọi người trong các hệ phái Tin Lành hoặc Bảo Thủ Mỹ đều nhất trí với lập trường chung của chúng ta liên hệ đến IITi 2Tm 2:34:13. Tuy nhiên, môi trường văn hóa của các Cơ Đốc nhân ấy lại khiến họ tranh luận để chống lại việc vâng theo ITi1Tm 5:23 “Đừng chỉ uống nước luôn, nhưng phải uống một ít rượu, vì cớ tì vị con, và con hay khó ở.” Chúng ta biết rằng điều đó chỉ có can hệ với Ti-mô-thê, chứ không phải là với chúng ta, vì thời bấy giờ, uống nước lã là điều không an toàn. Hay nói cách khác, người ta thậm chí còn lý luận rằng thật ra rượu chỉ có nghĩa là “nước nho” - mặc dầu ta có thể ngạc nhiên làm thế nào để có loại nước ấy khi cách chế biến của Welch và đông lạnh chưa có! Nhưng tại sao lời khuyên cá nhân này chỉ bị giới hạn cho một mình Ti-mô-thê mà thôi, trong khi lời khuyến giục hãy tiếp tục ở trong Lời Đức Chúa Trời (IITi 2Tm 3:14-16), vốn là một mệnh lệnh cho riêng Ti-mô-thê, lại trở thành mệnh lệnh đối với tất cả mọi người thuộc mọi thời đại? Hãy coi chừng, một người có thể đúng khi phớt lờ ITi1Tm 5:23 như thể không có ứng dụng cá nhân cho hiện nay, nhưng dựa trên nền tảng giảng kinh nào?
    Hoặc vấn đề nhiều tín hữu truyền thống đã đả kích nhóm “dân của Chúa Giê-xu” (Jesus people) trong những năm cuối thập niên 1960 và đầu 1970 vừa qua. Thanh niên để tóc dài đã trở thành biểu tượng của một kỷ nguyên mới trong văn hóa híp-pi của những năm 1960. Với các Cơ Đốc nhân mang biểu tượng đó, nhất là dưới ánh sáng của ICo1Cr 11:14 (“Chính lẽ tự nhiên há chẳng dạy cho anh em biết đàn ông để tóc dài thì lấy làm hổ thẹn sao?”) chẳng khác gì là một thách thức công khai đối với Đức Chúa Trời. Thế nhưng phần đông số người trích dẫn câu Kinh Thánh ấy để chống lại văn hóa của những người trẻ lại cho phép phụ nữ Cơ Đốc cắt tóc ngắn (bất chấp câu 15), không nhấn mạnh việc các phụ nữ phải trùm đầu lại khi thờ phượng, và chẳng bao giờ lưu tâm rằng cái “tự nhiên” đó có bởi một phương tiện rất trái tự nhiên - là cắt tóc.
    Hai thí dụ trên đây chỉ nhằm minh họa vấn đề văn hóa ảnh hưởng mạnh mẽ đến cái gọi là nhận thức thông thường (common sense) của bất cứ một ai trong chúng ta. Ngoài ra còn có những điều khác chi phối nhận thức thông thường như truyền thống giáo hội. Tại sao trong nhiều nhà thờ Tin Lành, phụ nữ bị cấm phát biểu giữa Hội Thánh căn cứ vào ICo1Cr 14:34-35, thế nhưng chính các nhà thờ ấy lại lý luận chống đối lại những điều khác trong chương 14 cho rằng đó không thuộc về thế kỷ thứ hai mươi? Tại sao các câu 34-35 thì thuộc về mọi thời đại, mọi nền văn hóa, trong khi mấy câu 1-5, hay 26-33 và 39-40 nêu lên các quy tắc cho việc nói tiên tri và nói tiếng lạ, lại chỉ thuộc về Hội Thánh hồi thế kỷ thứ nhất mà thôi?
    Cần lưu ý thêm rằng các Cơ Đốc nhân của thế kỷ thứ hai mươi rất dễ đọc thấy truyền thống của giáo hội mình trong I Ti-mô-thê và Tít. Thế nhưng rất ít Hội Thánh có một chức vụ lãnh đạo đa diện như được nêu ở đây (ITi1Tm 5:17; Tit Tt 1:5; Ti-mô-thê không phải là một mục sư; ông chỉ là phái viên tạm thời của Phao-lô sai đến để sắp xếp mọi việc cho có trật tự và sửa sai các lạm dụng mà thôi). Và lại càng ít Hội Thánh thật sự “ghi tên các goá phụ vào sổ” theo các hướng dẫn của ITi1Tm 5:3-15.
    Bạn có thấy rằng kiến thức thần học của chúng ta chi phối sự hiểu về đoạn kinh văn mà chúng ta đọc, trong khi ta lại né tránh một số đoạn khác hay không? Một số Cơ Đốc nhân rất ngạc nhiên khi nhận thấy rằng nhiều Cơ Đốc nhân trưng dẫn Kinh Thánh hậu thuẫn cho việc báp-tem trẻ con ICo1Cr 1:16; 7:14; 2:11-12 hay với nhiều người khác thì sự tái lâm gồm hai giai đoạn trong IITe 2Tx 2:1, hay càng nhiều người hơn nữa đã tìm thấy chứng cứ hiển nhiên cho sự thánh hóa như là một công tác thứ hai của ân điển trong Tit Tt 3:5. Với nhiều người theo truyền thống của Arminius, là người nhấn mạnh trên ý chí tự do và trách nhiệm của người tín hữu, thì các đoạn văn như RoRm 8:30; 9:18-24; GaGl 1:15; Eph Ep 1:4-5 là điều khó hiểu. Cũng thế, nhiều tín đồ theo chủ trương của Calvin có cách hiểu riêng ICo1Cr 10:1-13 IIPhi 2Pr 2:20-22; HeDt 6:4-6. Theo kinh nghiệm giảng dạy của chúng tôi, sinh viên theo các truyền thống đó rất ít khi thắc mắc ý nghĩa của các đoạn kinh văn ấy; họ chỉ muốn biết “phải trả lời như thế nào” cho các phần Kinh Thánh đó mà thôi!
    Có lẽ một số người không đồng ý với chúng tôi trong mấy phân đoạn vừa rồi, nhưng chúng tôi tìm cách chứng minh cho thấy vấn đề vô cùng quan trọng, và Cơ Đốc nhân cần phải hội thảo với nhau ở điểm cốt yếu nầy. Thế thì, đâu là các nguyên tắc hướng dẫn cần thiết để việc giảng kinh các Thư tín được nhất quán hơn?
    Quy Luật Căn Bản
    Chắc bạn nhớ rằng trong chương 1, chúng tôi đã đưa ra một tiền đề làm quy luật cơ bản, đó là một đoạn kinh văn không thể ngụ ý nói điều mà nó chẳng hề ngụ ý muốn nói với tác giả hoặc độc giả đầu tiên. Chính vì lý do ấy mà giải kinh phải luôn luôn đi trước. Chúng tôi nhắc lại tiền đề đó ở đây vì nó rất quan trọng và ít ra điều này cũng định một số giới hạn nào đó cho việc giải nghĩa. Quy luật này không luôn luôn giúp ta tìm ra ý nghĩa của đoạn kinh văn, nhưng giúp ta giới hạn điều mà nó không thể ngụ ý.
    Chẳng hạn, cách biện minh thông thường nhất cho việc bỏ qua các quyết định liên quan đến việc tìm cầu các ân tứ thuộc linh trong ICo1Cr 14:1-40 là dùng cách giải nghĩa cá biệt ICo1Cr 13:10, “lúc sự trọn lành đã đến, thì sự chưa trọn lành sẽ bị bỏ” (RSV). Chúng ta được bảo rằng sự trọn lành đã đến trong hình thức của bộ Tân Ước, do đó sự chưa trọn lành (lời tiên tri và tiếng lạ) đã chấm dứt trong Hội Thánh. Nhưng đây chính là điều mà câu Kinh Thánh không hề ngụ ý vì phương pháp giải kinh đúng hoàn toàn không cho phép. Phao-lô không thể nào muốn nói như thế được - vì dù sao, các độc giả của ông không thể biết được bộ Tân Ước sẽ như thế nào, và Đức Thánh Linh không thể cho phép Phao-lô viết một điều mà họ hoàn toàn không thể hiểu.
    Quy Luật Thứ Hai
    Quy luật cơ bản thứ hai thật ra là một cách diễn tả khác việc giảng kinh theo nhận thức thông thường của chúng ta. Qui luật này là, Hễ khi nào chúng ta có những điểm cá biệt tương tự (nghĩa là các hoàn cảnh sống cụ thể giống nhau) với bối cảnh hồi thế kỷ thứ nhất, thì Lời của Đức Chúa Trời đối với chúng ta cũng có ý nghĩa giống hệt như Lời Ngài cho họ. Chính quy luật này làm cho phần lớn các đoạn kinh văn mang ý nghĩa thần học và các mệnh lệnh đạo đức cộng đồng trong các Thư tín có ý nghĩa đối với Cơ Đốc nhân hiện đại, làm cho chúng ta thấy mình gần gũi với thế kỷ thứ nhất. Điều vẫn còn nghiệm đúng là “mọi người đều đã phạm tội” và “ấy là nhờ ân điển bởi đức tin mà chúng ta được cứu.” Hãy mặc lấy “sự nhân từ, khiêm nhượng, mềm mại, nhịn nhục” (CoCl 3:12) vẫn là Lời của Đức Chúa Trời cho những ai là tín hữu.
    Hai phân đoạn dài hơn mà chúng ta đã giải nghĩa trong chương trước dường như thuộc loại này. Một khi chúng ta đã giải nghĩa và khám phá điều Lời Đức Chúa Trời đã phán dạy họ, thì chúng ta tức khắc tự đặt mình dưới cùng một Lời ấy của Chúa. Chúng ta vẫn có các chi hội địa phương, vẫn có các cấp lãnh đạo cần nghe Lời Chúa và cẩn thận trong cách họ xây dựng Hội Thánh. Dường như Hội Thánh thường bị xây cất bằng gỗ, cỏ khô, rơm rạ, chứ không phải là bằng vàng, bạc, bửu thạch, mà một công tác như thế khi bị thử nghiệm bằng lửa chỉ là phí công vô ích. Chúng ta lý luận rằng ICo1Cr 3:16-17 vẫn là Lời Đức Chúa Trời phán cho chúng ta để dạy rằng đó là trách nhiệm của chúng ta đối với chi hội địa phương. Đó phải là một nơi mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trị, do đó sẽ đứng vững như là nơi Đức Chúa Trời đã chọn để thay cho xã hội tội lỗi và xa cách Đức chúa Trời.
    Điều cần thận trọng là chúng ta phải giải kinh đúng để chúng ta tin tưởng rằng hoàn cảnh và trường hợp cá biệt của chúng ta có thể so sánh với của họ. Chính vì thế mà việc tái dựng thật cẩn thận nan đề của họ là việc rất quan trọng. Thí dụ, khi giảng kinh chúng ta cần biết việc kiện tụng trong ICo1Cr 6:1-11 là trường hợp giữa hai Cơ Đốc nhân trước một thẩm phán ngoại đạo tại nơi họp chợ công khai ở Cô-rinh-tô. Chúng ta có thể lý luận rằng luận điểm của đoạn kinh văn vẫn chẳng có gì thay đổi nếu tình cờ vị thẩm phán là một Cơ Đốc nhân, hoặc được xét xử tại một toà án. Chỗ sai là vì hai anh em ấy lại đi kiện nhau ngoài Hội Thánh, như các câu 6-11 đã nêu rõ. Mặt khác, một người có thể thắc mắc chẳng hay điều đó có áp dụng cho việc một Cơ Đốc nhân kiện một công ty tại Hoa Kỳ hiện nay hay không, vì trường hợp này không phải tất cả những chi tiết cá biệt đều giống nhau - mặc dầu người đó phải lưu ý lời dạy của Phao-lô về vấn đề đạo đức không nên ăn miếng trả miếng mà Chúa Giê-xu đòi hỏi (c. 7).
    Tất cả những gì đã được nói đến dường như đều khá dễ dàng. Nhưng vấn đề thế nào một bản văn như ICo1Cr 6:1-11 có thể ứng dụng “vượt ra ngoài” các trường hợp cá biệt của nó chỉ mới là một trong số nhiều loại vấn đề cần được thảo luận. Phần còn lại của chương này sẽ dành cho bốn vấn đề như thế.
    Vấn Đề Áp Dụng Mở Rộng
    Chúng ta vừa đề cập vấn đề đầu tiên. Khi có những trường hợp cá biệt và những hoàn cảnh giống như thế trong Hội Thánh ngày nay, thì mở rộng cách ứng dụng đoạn kinh văn ấy cho nhiều bối cảnh khác, hoặc đem nó ứng dụng vào một bối cảnh hoàn toàn xa lạ với bối cảnh của thế kỷ thứ nhất có phải là điều hợp lý không?
    Thí dụ người ta có thể lý luận rằng ICo1Cr 3:16-17 được viết cho Hội Thánh địa phương, trình bày nguyên tắc rằng điều gì Đức Chúa Trời đã biệt riêng cho Ngài bằng sự hiện diện của Thánh Linh sẽ trở nên thánh khiết và hễ ai phá hủy nó phải chịu sự đoán phạt đáng sợ của Đức Chúa Trời. Nguyên tắc này bây giờ có thể áp dụng cho cá nhân Cơ Đốc nhân để dạy rằng Đức Chúa Trời sẽ phán xét người nào lạm dụng thân thể của mình không? Cũng thế, ICo1Cr 3:10-15 được viết cho những người có trách nhiệm xây dựng trong Hội Thánh, và cảnh cáo rằng họ sẽ bị thua thiệt nếu xây dựng tồi. Vì đoạn Kinh Thánh đề cập sự phán xét và sự cứu rỗi (được cứu dường như qua lửa), vậy nếu dùng khúc Kinh Thánh này để minh họa cho sự an toàn của người tín hữu thì có hợp lý không?
    Nếu cho những cách áp dụng này là hợp lý, thì chúng ta có lý do chính đáng để quan tâm. Vì nó cho thấy cách ứng dụng như thế hoàn toàn chểnh mảng khi giải kinh. Dù sao thì ứng dụng ICo1Cr 3:16-17 cho cá nhân người tín hữu là điều sai lầm mà nhiều người trong Hội Thánh đã làm qua nhiều thế kỷ. Nếu vậy thì cần gì phải giải kinh? Tại sao không đơn giản bắt đầu với cái ngay bây giờ và tại đây để rơi vào sai lầm của nhiều thế kỷ qua?
    Do đó, chúng ta phải lý luận rằng khi có những hoàn cảnh và trường hợp cá biệt tương tự, thì ý định nguyên thủy của Lời của Đức Chúa Trời sẽ kiểm soát sự áp dụng của chúng ta. Hơn nữa, cần lưu ý rằng việc mở rộng cách ứng dụng thường được xem là hợp lý vì nó đúng, nghĩa là nó được nói ra thật rõ ràng trong nhiều khúc sách khác cho thấy đó là ý định của khúc sách ấy. Trong trường hợp như thế, thì ta nên tự hỏi xem điều mình đã học được chỉ bằng cách ứng dụng mở rộng có thật đúng là Lời của Đức Chúa Trời hay không.
    Một trường hợp còn khó khăn hơn nữa trong IICo 2Cr 6:14: “Chớ mang ách chung với kẻ chẳng tin.” Theo truyền thống thì câu Kinh Thánh này bị giải nghĩa sai là cấm việc kết hôn giữa một Cơ Đốc nhân với người không tin Chúa. Tuy nhiên, hình ảnh chiếc ách rất ít khi được thời cổ đại dùng để ám chỉ hôn nhân, và văn mạch cũng không cho phép áp dụng câu Kinh Thánh này vào hôn nhân.
    Điểm khó khăn là chúng ta không biết rõ nguyên bản muốn cấm điều gì. Dường như câu Kinh Thánh này ám chỉ việc thờ thần tượng, có lẽ là một cách cấm đoán tham dự các đám tiệc liên hệ với việc thờ thần tượng (so sánh ICo1Cr 10:14-22). Như thế, vì chúng ta không thể biết chắc ý nghĩa nguyên thủy của câu Kinh Thánh nên chúng ta không thể “mở rộng” việc áp dụng lời dạy này sao? Có thể là được, nhưng nên nhớ rằng một lời dạy của Kinh Thánh có thể được hỗ trợ mà không cần đến câu Kinh Thánh đơn độc này.
    Vấn Đề Các Trường Hợp Cá Biệt Không Thể So Sánh
    Vấn đề ở đây liên quan với hai loại kinh văn trong các Thư tín: các đoạn văn đề cập những vấn đề của thế kỷ thứ nhất mà phần lớn đều không có trường hợp tương ứng nào trong thế kỷ hai mươi, và những đoạn văn đề cập các vấn đề cũng có thể xảy ra trong thế kỷ hai mươi, nhưng rất khó xảy ra. Với những phần Kinh Thánh như thế, chúng ta phải làm gì và học được gì?
    Về loại thứ nhất, chúng ta lấy thí dụ trong ICo1Cr 8:1-10:33, chỗ Phao-lô nêu lên ba vấn đề: (1) Các Cơ Đốc nhân lý luận rằng họ được đặc quyền tham gia các bữa tiệc cúng thần tượng của những người láng giềng ngoại đạo của họ (xem 8:10; 10:14-22), (2) người Cô-rinh-tô thắc mắc uy quyền sứ đồ của Phao-lô (xem 9:1-23), (3) thức ăn cúng cho các thần tượng, rồi được đem ra bán ngoài chợ (10:23-11:1).
    Những phân đoạn này khi được giải thích dúng đắn chúng ta sẽ thấy Phao-lô trả lời cho các vấn đề này như sau: (1) Họ tuyệt đối không được tham dự các lễ tiệc cúng tế thần tượng vì nguyên tắc gây cớ vấp phạm (8:7-13), vì việc ăn uống như thế không phù hợp với đời sống trong Chúa Cứu Thế, tức đời sống đã dự phần trong bàn Tiệc Thánh (10:16-17), và vì ăn uống như thế có nghĩa là dự phần vào công việc của ma quỉ (10:19-22). (2) Phao-lô bênh vực cho quyền được trợ cấp tài chánh với tư cách một sứ đồ, dầu rằng ông đã từ bỏ cái quyền ấy; ông cũng bênh vực cho các hành động có vẻ thờ ơ của ông (9:19-23). (3) Có thể mua và ăn các thức ăn đã cúng cho thần tượng được đem bán ngoài chợ, và cũng có thể tự do ăn nó tại nhà người khác nữa. Trong trường hợp sau, ta có thể từ chối nếu việc ấy làm cho người khác vấp phạm. Ta có thể ăn bất cứ vật gì vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, nhưng đừng nên làm việc gì cố ý gây vấp phạm.
    Vấn đề chúng ta quan tâm là trong văn hóa phương Tây không có tập tục thờ cúng thần tượng, nên (1) và (3) không được đặt ra. Hơn nữa, chúng ta chẳng còn các vị sứ đồ theo nghĩa Phao-lô, tức là những người thật sự được gặp Chúa Cứu Thế Phục Sinh (9:1; đối chiếu 15:8), đã thành lập và có uy quyền trên các Hội Thánh mới (9:1-2; đối chiếu IICo 2Cr 10:16).
    Loại kinh văn thứ hai có thể được lấy thí dụ trong ICo1Cr 5:1-11 nói về kẻ loạn luân, hoặc ICo1Cr 11:17-22 nói về những kẻ say sưa tại bàn Tiệc Thánh, hoặc trong GaGl 5:2 nói về những kẻ muốn ép buộc những Cơ Đốc nhân chưa chịu phép cắt bì phải chịu phép cắt bì. Những việc này gần như không xảy ra trong văn hóa của chúng ta, tuy có thể có.
    Câu hỏi cần được trả lời những vấn đề không có trong thế kỷ hai mươi có ý nghĩa gì đối với các Cơ Đốc nhân ở thế kỷ thứ hai mươi? Chúng tôi đề nghị cách giảng kinh thích hợp ở đây nên theo hai bước:
    Trước hết, chúng ta phải thực hiện việc giải kinh cách hết sức cẩn trọng để có thể nghe được điều Chúa muốn phán dạy họ lúc đó thật có ý nghĩa gì. Trong hầu hết các trường hợp, một nguyên tắc rõ ràng được nêu ra thường vượt trên nét cá biệt lịch sử của thời điểm nó được áp dụng.
    Thứ hai, cũng là điểm quan trọng, nguyên tắc ấy đã không trở thành phi thời gian để giờ đây, nó có thể được áp dụng bừa bãi hoặc đối với bất kỳ hoàn cảnh nào hay trong mọi loại hoàn cảnh. Chúng tôi muốn nói rằng nó chỉ được áp dụng cho những hoàn cảnh thật sự giống như thế.
    Để minh họa cho cả hai điểm này, trước hết, Phao-lô cấm tham dự các bữa ăn trong đền miếu dựa trên nguyên tắc gây vấp phạm. Nhưng cần lưu ý là điều này không nói đến một điều gì đó chỉ gây vấp phạm cho một tín hữu khác. Nguyên tắc gây vấp phạm nói đến một điều gì mà một tín hữu cảm thấy mình có thể làm với lương tâm tốt, và bởi hành động hoặc bởi thuyết phục, người ấy dẫn dụ một tín hữu khác cùng làm nhưng lương tâm cắn rứt. Cuối cùng người anh em hay chị em bị “sa ngã” vì bắt chước hành động của người kia; người anh chị em ấy không chỉ bị xúc phạm bởi việc làm ấy. Do đó, nguyên tắc này dường như chỉ áp dụng khi có những hoàn cảnh thật sự giống hệt mà thôi.
    Thứ hai, cuối cùng Phao-lô tuyệt đối cấm việc tham dự các bữa ăn trong đền miếu, vì điều đó có nghĩa là dự phần vào công việc của ma quỷ. Các Cơ Đốc nhân thường lầm lẫn không rõ hoạt động của ma quỷ gồm có những gì. Tuy nhiên điều này dường như là một cấm đoán chuẩn mực của Cơ Đốc nhân đối với mọi hình thức cầu vong, phù phép, chiêm tinh, vv...
    Hơn nữa, chúng ta không có các sứ đồ, và đa số các tín đồ Tin Lành không nghĩ rằng vị mục sư của họ thừa kế truyền thống các sứ đồ. Nhưng nguyên tắc “ai rao giảng Tin Lành thì được nuôi mình bởi Tin Lành” (ICo1Cr 9:14) dường như chắc chắn có thể đem ra áp dụng cho mục vụ đương đại vì nó được những chỗ khác trong Kinh Thánh chứng thực (thí dụ ITi1Tm 5:17-18).
    Vấn đề ăn thịt đã cúng tế thần tượng bán ngoài chợ (ICo1Cr 10:23-11:1) nêu lên một nan đề trong việc giảng kinh. Thức ăn như thế không quan trọng - cả với Đức Chúa Trời lẫn với Phao-lô. Nhưng sự việc không phải vậy với nhiều người khác. Khó khăn tương tự liên hệ đến thức ăn thức uống và việc giữ ngày trong RoRm 14:1-23, và nhiều vấn đề khác trong CoCl 2:16-23.
    Với chúng ta thì vấn đề là làm thế nào để phân biệt đâu là điều quan trọng đâu là không, một vấn đề càng tăng cấp vì các việc ấy thay đổi từ văn hóa này sang văn hóa khác, từ nhóm Cơ Đốc nhân này sang nhóm Cơ Đốc nhân khác, y như việc đã xảy ra hồi thế kỷ thứ nhất vậy. Trong thế kỷ thứ hai mươi, chỉ nói riêng tại Hoa Kỳ mà thôi, một bảng liệt kê các vấn đề như thế gồm có việc ăn mặc (chiều dài của y phục, cà-vạt, kích cỡ rộng hẹp đối với phụ nữ), mỹ phẩm, đồ trang sức, các thú tiêu khiển, và giải trí (phim ảnh, TV, đánh bài, khiêu vũ, nam nữ bơi chung), các môn điền kinh, các thức ăn thức uống. Cũng như với số người phê phán tinh thần tự do của Phao-lô trong việc ăn của cúng tế thần tượng, những người cho rằng kiêng cữ bất kỳ điều gì trong các thành phần vừa kể trên là sống thánh khiết trước mặt Đức Chúa Trời không nghĩ rằng đó là những điều không quan trọng.
    Vậy, điều gì khiến cho điều gì đó trở thành không quan trọng? Chúng tôi gợi ý các hướng dẫn sau đây:
    1. Những điều cụ thể mà các Thư tín đã xem là những vấn đề không quan trọng thì vẫn có thể xem là không quan trọng , chẳng hạn thức ăn, thức uống, giữ ngày, vv...
    2. Các vấn đề không quan trọng không gắn liền với luân lý đạo đức nhưng có tính cách văn hóa - cả khi nó bắt nguồn từ văn hóa tôn giáo. Do đó, các vấn đề thường thay đổi theo từng nền văn hóa, kể cả giữa vòng các tín hữu chân chính, thường có thể được coi là các vấn đề không quan trọng (chẳng hạn giữa văn hóa chấp nhận uống rượu và không uống rượu).
    3. Các bảng liệt kê tội lỗi trong các Thư tín (thí dụ như RoRm 1:29-30; ICo1Cr 5:11; 6:9-10; IITi 2Tm 3:2-4) chẳng bao giờ kể luôn các điều mà chúng tôi vừa liệt kê trên đây để xem như tương đương với nhau. Hơn nữa những điều tương đương như thế chẳng bao giờ được đưa vào các bảng liệt kê khác nhau về các mệnh lệnh Cơ Đốc (thí dụ RoRm 12:1-21; Eph Ep 5:1-33; CoCl 3:1-25 vv...)
    Dĩ nhiên không phải ai cũng sẽ nhất trí với cách thẩm định của chúng tôi. Tuy nhiên, theo RoRm 14:1-23, những người thuộc cả hai phía của bất kỳ những vấn đề nào trong số này đều không nên phê phán hay bài bác lẫn nhau. Người tự do không nên khoe khoang tinh thần tự do của mình; những người mà những vấn đề như thế vốn là niềm tin quyết sâu sắc của cá nhân cũng không nên kết án người khác.
    Vấn Đề Tính Tương Đối Trong Văn Hóa
    Ngày nay người ta gặp nhiều khó khăn và nhiều ý kiến bất đồng trong lãnh vực này. Đây là chỗ nảy sinh vấn đề Lời vĩnh hằng của Đức Chúa Trời được ban bố trong bối cảnh lịch sử cá biệt cách rõ rệt nhất. Vấn đề này có các bước như sau: (1) Các Thư Tín là những văn kiện được viết để giải quyết điều gì đó hồi thế kỷ thứ nhất, phải theo các điều kiện ngôn ngữ và văn hóa của thế kỷ thứ nhất, và nói trong những hoàn cảnh đặc thù trong Hội Thánh hồi thế kỷ thứ nhất. (2) Nhiều hoàn cảnh cụ thể trong các Thư tín hoàn toàn chịu ảnh hưởng của bối cảnh ở thế kỷ thứ nhất đến nỗi mọi người đều thừa nhận rằng rất khó - hoặc không thể - ứng dụng như là Lời Đức Chúa Trời cho tín hữu ngày nay, có lẽ ngoại trừ việc rút ra một vài nguyên tắc nào đó theo nghĩa rộng nhất (thí dụ việc đem chiếc áo choàng của Phao-lô còn để lại tại nhà của Cơ-rít-bu đến Trô-ách). (3) Nhiều đoạn văn khác bị bối cảnh của thế kỷ thứ nhất chi phối, nhưng Lời dạy của Chúa cho họ có thể được diễn dịch sang bối cảnh mới nhưng tương tự. (4) Do đó, không thể có những đoạn kinh văn khác, dầu rằng dường như chúng có các trường hợp cá biệt tương tự, cũng chịu chi phối bởi bối cảnh thế kỷ thứ nhất của chúng và cần được diễn dịch sang các bối cảnh mới hoặc chỉ đơn giản là cứ bỏ mặc chúng cho thế kỷ thứ nhất.
    Hầu như toàn thể các Cơ Đốc nhân đều diễn dịch các bản văn Kinh Thánh sang các bối cảnh mới, ít nhất ở một mức độ nào đó. Tuy không nói thẳng ra, nhưng đây chính là lý do khiến nhiều tín hữu Tin Lành bảo thủ của thế kỷ hai mươi để vấn đề “uống chút ít rượu vì tì vị con yếu” ở thế kỷ thứ nhất, không nhấn mạnh đến vấn đề trùm đầu hoặc để tóc dài của phụ nữ ngày nay, và không thực hiện “cái hôn thánh.” Tuy nhiên, nhiều người trong số đó lại tỏ vẻ khó chịu khi có ai dùng nền tảng này để binh vực sự giảng dạy của phụ nữ trong Hội Thánh (khi có sự hiện diện của phái nam), và tức khắc bộc lộ thái độ bất mãn khi có người dùng nền tảng này bào chữa cho việc đồng tính luyến ái.
    Nhiều người thường cố tìm cách phủ nhận ý niệm về tính tương đối của văn hóa, điều này đưa đến chỗ ít nhiều bênh vực cho quan điểm chấp nhận toàn thể nền văn hóa của thế kỷ thứ nhất như là mẫu mực của Đức Chúa Trời. Sự phủ nhận như vậy thường chỉ thành công ở một chừng mực nào đó mà thôi. Họ có thể giữ các con gái họ ở nhà không chịu cho chúng đến trường và tự sắp xếp để gả chồng cho chúng, nhưng họ lại thường cho phép chúng học đọc và ra ngoài công chúng mà chẳng mang tấm mạng che mặt. Người ta khó mà giữ được sự nhất quán, bởi vì chẳng hề có văn hóa nào được xem là chuẩn mực thiên thượng; văn hóa thường khác nhau, chẳng những từ thế kỷ thứ nhất cho đến thế kỷ thứ hai mươi, mà ngay trong chính thế kỷ thứ hai mươi này cũng có những lối nhận thức khác nhau.
    Thay vì chối bỏ, chúng tôi cho rằng thừa nhận trong mức độ nào đó tính tương đối của văn hóa là phương thức giảng kinh có giá trị và là một kết quả tất yếu của tính chất cơ hội của các Thư tín. Nhưng chúng tôi cũng tin rằng muốn có giá trị, việc giảng kinh của chúng ta phải thực hiện trong những phương cách hợp lý.
    Do đó, chúng tôi muốn đề nghị các hướng dẫn sau đây để phân biệt điều gì có tính văn hóa tương đối, và những điều gì vượt khỏi bối cảnh nguyên thủy của chúng và trở thành qui luật cho toàn thể Cơ Đốc nhân thuộc mọi thời đại. Chúng tôi không cho rằng các hướng dẫn này đã được “ban cho các thánh đồ một lần đủ cả,” nhưng chúng phản ánh lối suy nghĩ hiện tại của chúng tôi và chúng tôi muốn khuyến khích thảo luận sâu hơn và trao đổi nhiều hơn (nhiều đề nghị ở đây đã được một bạn đồng liêu cũ của chúng tôi là David M. Scholer cùng cộng tác thực hiện).
    1. Trước hết, ta phải phân biệt giữa trọng tâm của sứ điệp Kinh Thánh với những gì là phụ thuộc. Điều này không nhằm đưa ra một “kinh điển trong kinh điển” (nghĩa là lấy một vài thành phần nào đó của Tân Ước làm chuẩn mực cho các phần khác), nhưng một mặt để bảo vệ Phúc Âm không bị văn hóa hay tập quán tôn giáo biến thành luật pháp, và một mặt giữ cho chính Phúc Âm không bị thay đổi theo từng hình thái văn hóa có thể cảm nhận được.
    Chẳng hạn như đối với sự sa ngã của toàn thể nhân loại, sự cứu chuộc khỏi sự suy bại đó như là hành động ân điển của Đức Chúa Trời qua sự chết và sống lại của Chúa Cứu Thế, chung cuộc của công tác cứu chuộc đó bởi sự tái lâm của Chúa Cứu Thế v.v... rõ ràng đều là trọng tâm của sứ điệp. Nhưng cái hôn thánh, vấn đề phụ nữ trùm đầu, các chức vụ và các ân tứ thuộc linh... thì có vẻ là những vấn đề phụ thuộc.
    2. Tương tự như thế, chúng ta cần phải biết phân biệt giữa điều gì chính Tân Ước xem như thuộc về đạo đức, và điều gì không phải. Do đó, những điều có tính cách đạo đức là tuyệt đối và có trong tất cả các nền văn hóa; những điều không thuộc về đạo đức là những hình thái văn hóa và có thể thay đổi từ một nền văn hóa này sang một nền văn hóa khác.
    Thí dụ những tội lỗi mà Phao-lô liệt kê không phải là những điều thuộc về văn hóa. Dĩ nhiên một số các tội ấy chiếm ưu thế hơn trong một nền văn hóa này so với một nền văn hóa khác, nhưng chẳng bao giờ có những hoàn cảnh nào mà trong đó chúng có thể được chấp nhận như là thái độ hoặc hành động của Cơ Đốc nhân. Vì thế, ngoại tình, thờ thần tượng, say rượu, hoạt động đồng tính luyến ái, trộm cắp, tham lam, v.v... (ICo1Cr 6:9-10) luôn luôn là điều sai trái. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng các Cơ Đốc nhân chẳng bao giờ phạm vào bất cứ một tội nào trong số này, nhưng muốn nói rằng đây không phải là những điều người ta có thể lựa chọn. Do linh cảm của Đức Thánh Linh, Phao-lô viết “Trước kia, anh em ít nữa cũng có một đôi người như thế...Nhưng anh em đã được rửa sạch rồi...”
    Mặt khác, rửa chân, trao nhau cái hôn thánh, ăn các thức ăn đã cúng tế cho các thần tượng, phụ nữ có khăn trùm đầu khi cầu nguyện hoặc nói tiên tri, việc cá nhân Phao-lô thích sống độc thân hơn, hay một phụ nữ dạy dỗ trong Hội Thánh, thì không phải là các vấn đề thuộc về đạo đức. Chúng chỉ trở thành như thế do việc sử dụng hay lạm dụng chúng trong những bối cảnh nhất định nào đó, khi việc sử dụng hay lạm dụng đó liên quan đến sự không vâng lời hay thiếu tình yêu thương.
    3. Ta phải đặc biệt chú ý đến những điều mà chính Tân Ước có lời chứng đồng bộ và nhất quán và những điều mà Tân Ước không có ý kiến đồng nhất. Những điều mà cả Tân Ước đều luôn luôn chứng thực chẳng hạn như: tình yêu thương như cách đáp ứng đạo đức căn bản của Cơ Đốc nhân, một nền đạo đức không có trả thù cá nhân, sự sai trật của việc tranh cạnh, thù ghét nhau, giết người, trộm cắp, đồng tính luyến ái, say rượu, và tà dâm đủ loại. Trái lại, dường như Tân Ước không có ý kiến đồng nhất về các vấn đề như phụ nữ thi hành chức vụ trong Hội Thánh (xem RoRm 16:1-2, chỗ bà Phê-bê là một “chấp sự” tại Sen-cơ-rê, RoRm 16:7, chỗ Giu-ni-a (Junia) - không phải là Giu-ni-át (Junias) là tên một người nam chẳng biết là ai -- đã được kể tên trong số các sứ đồ; RoRm 16:3, chỗ bà Bê-rít-sin là bạn đồng công của Phao-lô -- cùng một từ ngữ đã được dùng để chỉ A-bô-lô trong ICo1Cr 3:9; Phi Pl 4:2-3; ICo1Cr 11:5 đối chiếu với ITi1Tm 2:12 (và ICo1Cr 14:34-35 mà trong văn bản đã có chỗ đáng ngờ), cách đánh giá Rô-ma về phương diện chính trị (xem RoRm 13:1-5; IPhi 1Pr 2:13-14; đối chiếu với KhKh 13:1-18:24), việc giữ lại của cải (LuLc 12:33; 18:22; đối chiếu với ITi1Tm 6:17-19) hoặc vấn đề ăn thịt đã cúng tế cho các thần tượng (ICo1Cr 10:23-29; đối chiếu với Cong Cv 15:29; KhKh 2:14, 20). Nếu có gợi ý nào trong số này làm bạn xúc động có lẽ bạn đã tự hỏi tại sao.
    Cách giải kinh đúng đắn có thể giúp chúng ta thấy có sự đồng nhất hơn là điều có vẻ như là trường hợp hiện nay. Thí dụ, trong vấn đề thức ăn cúng tế thần tượng, ta có thể thực hiện một trường hợp giải kinh đúng cho từ ngữ Hi-lạp trong Công Vụ và Khải Thị đề cập việc vào các đền miếu để ăn một thức ăn như thế. Trong trường hợp này, thái độ ấy sẽ đồng nhất với thái độ của Phao-lô trong ICo1Cr 10:14-22. Tuy nhiên, chính vì nhiều vấn đề khác lại có vẻ thuộc về văn hóa nhiều hơn là đạo đức, ta không nên bối rối do thiếu sự đồng nhất. Cũng thế, ta không nên theo đuổi việc giải kinh như là phương pháp duy nhất để tìm cho ra tính cách đồng nhất thậm chí đến độ phải loại bỏ nhận thức thông thường hoặc bỏ qua ý nghĩa rõ ràng của bản văn.
    4. Điều quan trọng là phải có khả năng phân biệt ngay trong Tân Ước giữa phần nguyên tắc với phần ứng dụng cụ thể. Có thể một trước giả Tân Ước hậu thuẫn cho một cách ứng dụng tương đối bằng một nguyên tắc tuyệt đối, và khi làm như thế, đã không biến cách ứng dụng đó thành tuyệt đối. Thí dụ như trong ICo1Cr 11:2-16, Phao-lô đã viện dẫn đến trật tự sáng tạo của Đức Chúa Trời (c.3) để thiết lập nguyên tắc rằng người ta không nên làm một điều gì phương hại đến sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (nhất là bằng cách vi phạm quy ước) khi cộng đồng đang thờ phượng (c.7,10). Tuy nhiên, cách ứng dụng cụ thể này dường như chỉ có tính cách tương đối, vì Phao-lô vẫn nhiều lần viện đến “lẽ tự nhiên” hoặc “thói quen” (c. 6, 13-14, 16).
    Điều này đưa chúng tôi đến chỗ gợi ý rằng khi gặp những ứng dụng cụ thể như thế, ta có thể đặt câu hỏi hợp lý rằng “Đây có phải là áp dụng cho chúng ta hay không, nếu như ta không gặp nó trong các tài liệu của Tân Ước?” Trong các nền văn hóa Tây phương, một phụ nữ không trùm đầu (nhất là phần tóc) bằng một tấm mạng thật dài có lẽ sẽ chẳng có vấn đề gì. Thật ra, nếu người phụ nữ đó tuân thủ câu Kinh Thánh này theo nghĩa đen trong các Hội Thánh hiện nay thì đã lạm dụng “tinh thần” của câu Kinh Thánh. Chỉ cần suy nghĩ một chút ta có thể tưởng tượng ra một loại y phục - cả nam lẫn nữ - được mặc không đúng chỗ sẽ làm mất trật tự trong giờ thờ phượng.
    5. Xác định những lựa chọn văn hóa mà một tác giả Tân Ước đón nhận có lẽ cũng là điều quan trọng, nhất là khi làm điều này cách cẩn trọng. Mức độ mà một tác giả Tân Ước đồng ý với một hoàn cảnh văn hóa trong đó chỉ có một chọn lựa duy nhất sẽ làm gia tăng tính tương đối văn hóa của hoàn cảnh đó. Chẳng hạn như đồng tính luyến ái đã được các tác giả thời cổ đại vừa khẳng định vừa lên án, thế nhưng Tân Ước chỉ đưa ra một lập trường đơn giản chống lại nó mà thôi. Mặt khác, các quan điểm đối với chế độ nô lệ hoặc với quy chế và vai trò của phụ nữ đều đơn giản về cơ bản; chẳng có ai tố cáo chế độ nô lệ là gian ác, và về cơ bản thì phụ nữ bị xem là thấp kém hơn đàn ông. Các tác giả Tân Ước cũng không tố giác chế độ nô lệ như một điều ác; mặt khác, họ vượt lên trên các quan điểm về phụ nữ của những người đương thời. Nhưng trong cả hai trường hợp, với mức độ phản ánh các quan điểm văn hóa chiếm ưu thế trong các vấn đề ấy, họ chỉ lựa chọn một văn hóa duy nhất trong thế giới chung quanh.
    6. Ta phải cảnh giác đối với các điểm dị biệt về văn hóa có thể có giữa thế kỷ thứ nhất với thế kỷ thứ hai mươi, điều mà nhiều khi lại không được nhìn thấy rõ ràng ngay tức khắc. Thí dụ, muốn xác định vai trò của phụ nữ trong thế kỷ hai mươi, ta phải xét đến sự kiện phụ nữ của thế kỷ thứ nhất đã có rất ít cơ hội đi học, trong khi trong xã hội chúng ta giáo dục là điều bắt buộc. Điều này có thể ảnh hưởng đến cách hiểu của chúng ta liên quan với những phân đoạn như ITi1Tm 2:9-15. Cũng thế, một nền dân chủ có sự tham dự của toàn dân cũng khác hẳn với chính quyền mà Phao-lô đã đề cập trong RoRm 13:1-7. Trong một nền dân chủ có sự tham dự của toàn dân thì ai nấy đều mong muốn thay đổi các luật lệ không thích hợp và loại trừ các quan chức hủ bại. Điều đó ảnh hưởng đến cách ta áp dụng RoRm 13:1-14 vào nước Mỹ của thế kỷ thứ hai mươi này.
    7. Cuối cùng, ta phải thực hành tình yêu thương Cơ Đốc tại điểm này. Cơ Đốc nhân phải thấy được những khó khăn, phải cùng nhau thảo luận, bắt đầu bằng cách xác định một số nguyên tắc, và cuối cùng phải yêu thương và sẵn sàng xin sự tha thứ từ những người bất đồng với mình.
    Trước khi kết thúc phần thảo luận này, sẽ ích lợi nếu chúng ta biết cách áp dụng các hướng dẫn này cho hai vấn đề thông thường: chức vụ của phụ nữ và vấn đề đồng tính luyến ái, nhất là khi một số người bênh vực cho các chức vụ của phụ nữ đang dùng cùng một vài luận cứ như thế để hậu thuẫn cho đồng tính luyến ái, xem đó là như một lựa chọn có giá trị của Cơ Đốc nhân.
    Vấn đề phụ nữ giữ vai trò giáo sư hay truyền đạo trong Hội Thánh chủ yếu nằm ở hai phần Kinh Thánh ICo1Cr 14:34-35ITi1Tm 2:11, 12. Trong cả hai trường hợp “im lặng” và “thuận phục” được gắn liền với nhau - tuy trong cả hai trường hợp không có trường hợp nào sự thuận phục nhất thiết phải là đối với chồng mình cả - còn trong ITi1Tm 2:1-15, phụ nữ không được phép dạy dỗ hoặc “cầm quyền trên” người nam. Nếu làm theo phần Kinh Thánh này trong thế kỷ hai mươi thì dường như chẳng những sẽ không cho phụ nữ truyền giảng và dạy dỗ trong chi hội địa phương, mà còn cấm phụ nữ viết sách về các đề tài trong Thánh Kinh mà có thể đàn ông sẽ đọc, cấm phụ nữ dạy Kinh Thánh hoặc các đề tài liên hệ (kể cả giáo dục tôn giáo) trong các trường cao đẳng Cơ Đốc hoặc Thánh Kinh học viện nơi có đàn ông trong các lớp học, và cấm dạy dỗ đàn ông về các tình hình truyền giáo. Nhưng những người chống lại việc phụ nữ dạy dỗ trong Hội Thánh ngày nay rất ít khi đưa việc giải nghĩa đi xa đến thế. Và hầu như họ luôn luôn xem các vấn đề về ăn mặc trong câu trước đó (ITi1Tm 2:9) chỉ mang tính tương đối về mặt văn hóa.
    Mặt khác, việc ITi1Tm 2:11-12 mang tính tương đối về mặt văn hóa có thể được hậu thuẫn trước hết bằng việc giải kinh cả ba Thư tín Mục vụ. Một số phụ nữ thường gây rối trong Hội Thánh tại Ê-phê-sô (ITi1Tm 5:11-15; IITi 2Tm 3:6-9) và dường như họ là số đông đã gây ra việc các tiên tri giả muốn cầm đầu ở đây. Vì người ta đã thấy có các phụ nữ dạy dỗ (Cong Cv 18:26) và nói tiên tri (Cong Cv 21:8; ICo1Cr 11:5) ở nhiều nơi khác trong Tân Ước, rất có thể rằng ITi1Tm 2:11-12 đang đề cập một vấn đề ở địa phương. Dù sao thì phần hướng dẫn trên đây cũng hậu thuẫn cho việc rất có thể rằng điều cấm đoán trong ITi1Tm 2:11-12 mang tính tương đối về mặt văn hóa.
    Tuy nhiên về vấn đề đồng tính luyến ái thì khác hơn rất nhiều. Trong trường hợp này, lời chỉ dẫn chống lại việc xem đây là một vấn đề mang tính tương đối về mặt văn hóa. Toàn bộ Kinh Thánh luôn luôn chống lại hoạt động đồng tính luyến ái, xem đó là sự hủ bại đạo đức.
    Trong mấy năm gần đây, có một số người lý luận rằng việc đồng tính luyến ái mà Tân Ước chống lại là việc có người lạm dụng người khác, và vấn đề đồng tính luyến ái giữa một cặp hai người trưởng thành đồng ý thực hiện riêng với nhau, là một vấn đề khác hẳn. Họ lý luận rằng trên cơ sở giải kinh, người ta không thể chứng minh được rằng thói đồng tính luyến ái đã bị cấm. Người ta cũng lý luận rằng đứng về mặt văn hóa mà nói, thì đó là những cách chọn lựa của thế kỷ hai mươi, vốn không có hồi thế kỷ thứ nhất. Do đó, họ sẽ cãi rằng một số các hướng dẫn của chúng tôi (thí dụ 5, 6) mở đường cho việc có thể xem các cấm đoán của Tân Ước đối với việc đồng tính luyến ái cũng có tính tương đối về mặt văn hóa, rồi họ lý luận thêm rằng một số các hướng dẫn ấy là không đúng hoặc không thích hợp.
    Tuy nhiên, luận cứ này không thể đứng vững cả về mặt giải kinh lẫn lịch sử. Việc đồng tính luyến ái mà Phao-lô đề cập trong RoRm 1:24-28 rõ ràng không thuộc loại “lạm dụng”; nó là thói đồng tính luyến ái tự chọn giữa những người nam và giữa những người nữ với nhau. Hơn nữa, từ ngữ đồng tính luyến ái mà Phao-lô đã dùng trong ICo1Cr 6:9 theo nghĩa đen là đồng tính luyến ái giữa hai người nam (kẻ đắm nam sắc) và luôn luôn được đặt vào trong các văn mạch đạo đức, đơn giản chỉ vì chẳng có ai chứng minh được rằng việc chọn lựa đồng tính luyến ái ngày nay là khác hơn hồi thế kỷ thứ nhất, cho nên dường như cũng chẳng có cơ sở có giá trị nào để cho rằng đó chỉ là một vấn đề tương đối của văn hóa.
    Thần Học Nhiệm Vụ
    (Task Theology)
    Trong chương trước, chúng ta đã ghi nhận rằng phần lớn thần học trong các Thư tín có tính chất hướng vào nhiệm vụ, do đó đã không được trình bày một cách có hệ thống. Tuy nhiên nói như thế không có nghĩa là chúng ta không thể trình bày những gì được bộc lộ hoặc rút ra từ các Thư tín một cách có hệ thống. Trái lại, đây là một trong những công tác bắt buộc đối với các sinh viên nghiên cứu Kinh Thánh. Sinh viên phải luôn thiết lập - và “tái lập” một thần học Kinh Thánh trên cơ sở giải kinh đúng đắn. Chúng tôi thừa nhận rằng người ta thường dễ thấy được tư tưởng thần học của một tác giả qua những giả định và hàm ý cũng như qua các lời tuyên bố rõ ràng của tác giả đó.
    Những gì chúng tôi muốn làm ở đây là nêu ra một vài điểm cần chú ý khi ta bắt tay vào công tác thần học. Những điều cần lưu ý này vốn là kết quả trực tiếp của tính chất tùy dịp (occasional nature) của các Thư tín.
    1. Vì tính chất tùy dịp của chúng, thỉnh thoảng chúng ta phải hài lòng với một số hạn chế trong sự hiểu biết thần học của mình. Thí dụ, muốn cho người Cô-rinh-tô thấy được việc hai anh em (Cơ Đốc nhân) lại kéo nhau ra trước tòa án ngoại đạo để kiện cáo nhau là phi lý như thế nào, Phao-lô nhấn mạnh rằng có một ngày, các Cơ Đốc nhân sẽ phán xét cả người thế gian lẫn các thiên sứ (ICo1Cr 6:2-3). Nhưng đoạn văn chẳng nói gì thêm về điều đó. Như thế, chúng ta có thể khẳng định rằng Cơ Đốc nhân sẽ góp phần phán xét trong ngày tận thế. Tuy rằng chúng ta không biết điều đó có ý nghĩa gì hoặc sự việc sẽ diễn tiến như thế nào. Ngoài chính điều đã được khẳng định ra, thì mọi cái khác đều chỉ là suy luận mà thôi.
    Tương tự như thế, trong ICo1Cr 10:16-17, Phao-lô căn cứ vào bản tính của việc các tín hữu Cô-rinh-tô dự phần vào Tiệc Thánh để lý luận rằng họ không thể cùng dự phần giống như thế trong các bữa cúng tế thần tượng. Điều Phao-lô nói về việc dự phần đó dường như vượt quá quan điểm thần học về Tiệc Thánh trong hầu hết các Giáo hội Tin Lành. Đây không chỉ là sự kỷ niệm, mà còn thật sự dự phần vào chính Chúa nữa. Căn cứ vào nhiều đoạn Kinh Thánh Tân Ước khác, chúng ta có thể lý luận thêm rằng việc dự phần ấy là nhờ vào Đức Thánh Linh và được lợi ích nhờ đức tin. Nhưng ngay cả tại đây, chúng ta đang vượt ra ngoài các câu Kinh Thánh để diễn tả nhận thức của Phao-lô một cách thần học, và nhiều người sẽ không đồng ý với chúng ta về việc lựa chọn bên ngoài các câu Kinh Thánh như thế. Luận điểm của chúng tôi là đơn giản, chúng ta không được cho biết tính chất chính xác của sự tham dự đó là gì, cũng không được cho biết các lợi ích sẽ đến với người tín hữu là gì. Tất cả chúng ta đều muốn biết, nhưng sự hiểu biết của chúng ta có khuyết điểm chính vì tính chất cơ hội của các câu phát biểu kia. Những gì được nói vượt ra ngoài điều chính đoạn kinh văn tiết lộ không thể có cùng ý nghĩa Kinh Thánh hay giảng kinh như điều được nói đến dựa trên cách giải kinh đúng đắn. Do đó mà chúng ta chỉ dám khẳng định rằng trong Kinh Thánh, Đức Chúa Trời đã ban cho tất cả những gì chúng ta cần, chứ không nhất thiết là tất cả những gì chúng ta muốn.
    2. Nhiều khi các vấn đề thần học mà chúng ta gặp với các Thư tín xuất phát từ việc chúng ta đặt câu hỏi của mình cho đoạn kinh văn, nhưng do tính chất tùy dịp của chúng, các đoạn Kinh Thánh ấy chỉ trả lời cho các vấn đề của chúng mà thôi. Khi chúng ta yêu cầu chúng đề cập trực tiếp vấn đề phá thai, hay tái hôn, hoặc làm phép báp-tem cho trẻ con, là chúng ta muốn chúng trả lời cho các câu hỏi của một thời kỳ về sau này. Nhiều khi chúng có thể làm việc ấy, nhưng thường thường thì không, vì câu hỏi đã không được đặt ra cho thời bấy giờ.
    Có một thí dụ rõ ràng cho việc này ngay trong Tân Ước. Khi đề cập về vấn đề ly dị Phao-lô nói: “Không phải tôi, bèn là Chúa” (ICo1Cr 7:10) ngụ ý rằng chính Chúa Giê-xu đã dạy về vấn đề này. Nhưng về câu hỏi được đặt ra trong một môi trường Hi Lạp rằng một tín hữu có nên ly dị với người bạn đời ngoại đạo của mình không, thì rõ ràng là Chúa Giê-xu không có dịp để dạy điều này, vì nó nằm ngoài môi trường văn hóa Do Thái của Ngài. Nhưng Phao-lô phải phát biểu ý kiến về vấn đề ấy, cho nên ông nói: “(Đây) chẳng phải Chúa, song là chính tôi...” (c.12). Lẽ dĩ nhiên, một trong các vấn đề của chúng ta là bản thân chúng ta không có được cả uy quyền sứ đồ, lẫn sự linh cảm như của Phao-lô. Do đó, cách duy nhất để chúng ta lên tiếng về những vấn đề như thế là căn cứ trên thần học Kinh Thánh toàn diện; gồm có sự hiểu biết của chúng ta về công trình sáng tạo vũ trụ, sự sa ngã, sự cứu chuộc, và sự chung cuộc. Nghĩa là, chúng ta phải cố gắng giải quyết vấn đề theo quan điểm Kinh Thánh. Nhưng sẽ không có chứng cứ bằng bản văn nếu không có các câu Kinh Thánh nào bày tỏ trực tiếp.
    Trên đây là một số gợi ý về giảng kinh của chúng tôi để giúp bạn đọc và giải thích các Thư Tín. Mục đích gần của chúng tôi là đạt đến sự chính xác và nhất quán càng hơn; mục tiêu xa hơn là kêu gọi tất cả chúng ta làm theo càng hơn những gì chúng ta đã nghe và hiểu.

    Những Truyện Ký Trong Cựu Ước: Cách Sử Dụng Thích Hợp

    Trong Kinh Thánh, thể văn truyện ký chiếm đa số so với bât kỳ thể văn nào khác. Trên 40% Cựu Ước là thể văn truyện ký. Vì Cựu Ước chiếm ba phần tư Kinh Thánh, nên chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thể văn phổ biến duy nhất trong toàn bộ Kinh Thánh là thể văn truyện ký. Các sách sau đây của Cựu Ước phần lớn hoặc hoàn toàn ở dạng truyện ký: Sáng Thế Ký, Giô-suê, Các Quan Xét, Ru-tơ, I Và II Sa-mu-ên, I và II Các Vua, I và II Sử Ký, E-xơ-ra, Nê-hê-mi, Đa-ni-ên, Giô-na, A-ghê. Hơn nữa, Xuất Ê-díp-tô Ký, Dân Số Ký, Giê-rê-mi, Ê-xê-chi-ên, Ê-sai, Gióp cũng gồm nhiều phần về đại thể là văn truyện ký. Trong Tân Ước, phần lớn các sách Phúc Âm, và hầu như cả sách Công vụ cũng là văn truyện ký.
    Chúng tôi giả định rằng Thánh Linh biết rõ việc Ngài làm khi linh cảm nhiều phần trong Kinh Thánh dưới hình thức truyện ký. Có thể là thể văn này thuận tiện cho mục đích mặc khải của Đức Chúa Trời. Chương này sẽ nói đến thế nào thể văn ấy phục vụ mục đích của Đức Chúa Trời và cách thế nào chúng ta sử dụng nó trong sự phục vụ Ngài.
    Tính Chất của Truyện Ký
    Truyện Ký Là Gì?
    Truyện ký (narratives) là những câu chuyện (stories). Tuy thỉnh thoảng chúng ta có dùng chữ câu chuyện để mô tả chúng, nhưng chúng tôi thích từ ngữ truyện ký hơn, vì chữ câu chuyện dễ khiến người ta hiểu là điều gì đó được tưởng tượng ra, được hư cấu như trong “chuyện cổ tích,” “chuyện đời xưa.” Nó cũng có xu hướng nghiêng về một mẫu chuyện đơn sơ với một số nhân vật và một cốt chuyện. Mặt khác, Kinh Thánh hàm chứa điều mà chúng ta thường được nghe gọi là câu chuyện của Đức Chúa Trời - một câu chuyện hoàn toàn có thật, vô cùng quan trọng, và thường phức tạp. Đó là một câu chuyện uy nghi hơn cả những bản anh hùng ca vĩ đại nhất, nội dung phong phú với các nhân vật và cách mô tả ý nghĩa hơn bất kỳ một truyện tích nào từng được con người viết ra. Cho nên, với các phần của câu chuyện thiên thượng vĩ đại mang hình thức chuyện kể này, từ truyện ký thích hợp hơn theo cách dùng thuật ngữ, vì từ này khách quan hơn mà ít thành kiến.
    Những truyện ký trong Kinh Thánh kể lại cho chúng ta các sự việc đã xảy ra - nhưng không phải là bất cứ việc gì cũng được kể lại. Chủ đích của chúng là chứng minh rằng Đức Chúa Trời đang hành động trong cõi thọ tạo của Ngài và giữa những người thuộc về Ngài. Các câu chuyện trần thuật tôn vinh Ngài, giúp chúng ta hiểu và tán dương Ngài, và vẽ lên cho chúng ta thấy một bức tranh về sự quan phòng và bảo vệ của Ngài. Đồng thời, chúng cũng cung cấp nhiều thí dụ minh họa cho nhiều bài học quan trọng khác nữa cho đời sống chúng ta.
    Tất cả các câu chuyện đều có một cốt chuyện và các nhân vật (hoặc là Đức Chúa Trời, loài người, động vật, thực vật, hoặc một điều gì khác). Tuy nhiên, các truyện ký trong Cựu Ước vốn có những tình tiết là thành phần của một câu chuyện tổng quát đặc biệt, và có một loạt nhân vật đặc biệt trong đó nhân vật đặc biệt nhất là chính Đức Chúa Trời.
    Ba Cấp Độ của Truyện Ký
    Khi đọc và nghiên cứu các truyện ký trong Cựu Ước, thật bổ ích nếu bạn hiểu rằng những câu chuyện này được kể lại theo ba mức độ. Cấp trên là mức độ của toàn bộ kế hoạch phổ quát của Đức Chúa Trời vận hành trong cõi thọ tạo của Ngài. Những khía cạnh then chốt của cốt truyện ở mức độ trên cùng này là chính công trình sáng tạo nguyên thủy, sự sa ngã của loài người, quyền lực và tính phổ quát của tội lỗi, nhu cầu cứu chuộc, sự nhập thể và hi sinh của Chúa Cứu Thế. Mức độ trên cùng này thường được gọi là “câu chuyện cứu chuộc” hay “lịch sử cứu chuộc.”
    Các điểm then chốt của cấp giữa tập trung vào dân Y-sơ-ra-ên: việc kêu gọi Áp-ra-ham, việc thiết lập dòng dõi Áp-ra-ham qua các vị tộc trưởng, việc dân Y-sơ-ra-ên làm nô lệ tại Ai Cập, việc Đức Chúa Trời giải phóng họ khỏi vòng xiềng xích và sự chinh phục đất hứa là xứ Ca-na-an, việc dân Y-sơ-ra-ên vẫn thường phạm tội và càng tỏ ra bất trung, việc Đức Chúa Trời nhẫn nhục bảo vệ và nài nỉ họ, việc cuối cùng là vương quốc Y-sơ-ra-ên ở miền Bắc rồi vương quốc Giu-đa ở miền Nam đều bị tiêu diệt, và việc phục hồi địa vị cho dân thánh sau cuộc lưu đày.
    Rồi cũng còn có cấp thấp nữa. Ở mức độ này có hằng trăm câu chuyện cá nhân cấu thành hai mức độ kia: chuyện kể các anh Giô-sép đã bán ông cho các thương nhân Ả-rập đang đi về Ai Cập, chuyện kể về Ghê-đê-ôn nghi ngờ Đức Chúa Trời và thử Ngài bằng cái lốt chiên, chuyện kể về tội ngoại tình của Đa-vít với Bát-sê-ba, v.v...
    Cần cẩn thận lưu ý điểm này: mỗi câu chuyện kể về một cá nhân trong Cựu Ước (cấp thấp) ít ra cũng là một phần của câu chuyện lớn hơn của lịch sử dân Y-sơ-ra-ên giữa thế gian (cấp giữa) rồi lịch sử dân Y-sơ-ra-ên lại là một phần của câu chuyện tối hậu về công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời và việc Ngài cứu chuộc tạo vật của Ngài (cấp trên). Câu chuyện tối hậu này ra ngoài Cựu Ước để sang Tân Ước. Bạn sẽ không thể hiểu trọn bất cứ câu chuyện cá nhân nào nếu chưa nhận ra ra rằng câu chuyện đó là thành phần của hai phần kia. Nhiều khi một câu chuyện được hình thành do một nhóm các câu chuyện ngắn cá nhân. Một câu chuyện như thế có thể được xem là “câu chuyện tập hợp.” Đối với việc thực hành, việc nhận ra các câu chuyện tập hợp hiện diện xuyên suốt Kinh Thánh không ảnh hưởng gì đến điều chúng tôi vừa nói về ba mức độ của các truyện ký.
    Chúng tôi mong rằng hiểu được cấp bậc của các câu chuyện sẽ giúp bạn nhiều hơn trong việc ứng dụng các câu chuyện trong Cựu Ước cho cuộc đời bạn cũng như vào việc bạn phục vụ tha nhân. Lúc Chúa Giê-xu dạy rằng cả Kinh Thánh đều “... làm chứng về Ta” (GiGa 5:27-29), thì rõ ràng là Ngài không đề cập tất cả các khúc sách ngắn có tính cách cá nhân của Cựu Ước. Những khúc sách riêng lẽ ấy, kể cả các câu chuyện, đều đề cập đến Đấng Mết-si-a nếu không thì cũng được Tân Ước đồng nhất hóa như cái bóng, chỉ vào hình thật là Chúa Cứu Thế (đối chiếu ICo1Cr 10:4) vốn là một phần quan trọng của Cựu Ước, nhưng cũng mới chỉ là một phần nhỏ của sự mặc khải toàn diện. Tuy nhiên, Chúa Giê-xu muốn nói đến câu chuyện tối hậu, thuộc cấp trên, trong đó sự chuộc tội của Ngài là hành động trung tâm, và việc cả cõi thọ tạo phải đầu phục Ngài là tuyệt đỉnh của cốt truyện. Do đó Ngài mới dạy rằng toàn bộ Kinh Thánh đều làm chứng cho Ngài và tập trung vào quyền làm Chúa đầy tình yêu của Ngài.
    Thế thì, chúng ta có những câu chuyện riêng rẽ (nhiều khi mang tính tập hợp) nằm trong một câu chuyện lớn và câu chuyện lớn nằm trong một câu chuyện tối hậu. Một số các câu chuyện tập hợp gồm nhiều những câu chuyện ngắn riêng rẽ. Đây là điều thường thấy trong tất cả các câu chuyện có các cốt truyện phụ, do đó chẳng có gì lạ. Trong Tân Ước, chúng ta có các câu chuyện riêng rẽ (sách Lu-ca, Công vụ) nằm trong toàn bộ câu chuyện tối hậu của Đức Chúa Trời được ghi lại. Cựu Ước cũng tương tự như vậy. Thí dụ, “câu chuyện Giô-sép” là câu chuyện tập hợp lớn (SaSt 37:1-50:26) bao gồm nhiều câu chuyện ngắn hơn về Giô-sép, như câu chuyện các giấc mơ đầu tiên của ông (SaSt 37:5-11), câu chuyện ông được cất nhắc rồi bị hạ bệ khi làm nô lệ cho Phô-ti-pha (SaSt 39:1-23), câu chuyện ông cho chôn cất Gia-cốp trong xứ Ca-na-an (SaSt 50:1-14) v.v... Thế nhưng, tất cả đều là thành phần của câu chuyện toàn thể Kinh Thánh.
    Chẳng có gì sai trật khi nghiên cứu riêng rẽ từng câu chuyện nào đó, trái lại rất đáng khuyến khích. Nhưng để hiểu được ý nghĩa đầy đủ nhất, bạn phải nhìn câu chuyện riêng rẽ đó trong những bối cảnh rộng hơn.
    Các Câu Chuyện Không Phải Là...
    1. Các câu chuyện trong Cựu Ước không chỉ đơn giản là những câu chuyện về những người sống trong thời Cựu Ước. Trước tiên và quan trọng nhất, đó là những câu chuyện về Đức Chúa Trời đã làm gì cho và qua những người ấy. Ngược với các câu chuyện kể của loài người, Kinh Thánh bao gồm các câu chuyện về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời là “người hùng” của câu chuyện - nếu câu chuyện đó nằm trong Kinh Thánh. Câu chuyện có đủ các nhân vật, các biến cố, cách triển khai, cốt truyện, cao trào, nhưng ẩn sau đó là Đức Chúa Trời, “nhân vật chính” hay nhân vật quyết định trong tất cả các câu chuyện.
    2. Các câu chuyện của Cựu Ước không phải là những chuyện ngụ ngôn (allegories) hay các truyện tích đầy ẩn nghĩa. Tuy nhiên, có thể nhiều khía cạnh của những câu chuyện không phải là dễ hiểu. Cách thức Đức Chúa Trời hành động trong lịch sử, cách Ngài ảnh hưởng trên các hành động của loài người hoặc hoàn thành ý chỉ Ngài qua loài người (nhiều khi là trái với ý muốn của họ, thí dụ như SaSt 50:20) không phải bao giờ cũng dễ hiểu đối với chúng ta. Chúng ta thường không được cho biết chính xác tất cả những gì Đức Chúa Trời đã làm trong một hoàn cảnh nhất định nào đó khiến sự việc đã xảy ra như Cựu Ước đã thuật lại. Và cả khi chúng ta được cho biết điều Ngài đã làm, không phải lúc nào chúng ta cũng được cho biết Ngài đã làm việc đó như thế nào hoặc tại sao Ngài lại làm như thế.
    Nói khác đi, các câu chuyện không trả lời cho tất cả các câu hỏi của chúng ta liên hệ đến một vấn đề nào đó. Các câu chuyện bị giới hạn trong phạm vi mục tiêu của chúng, và chỉ cho chúng ta một phần của bức tranh toàn diện của việc Đức Chúa Trời đang làm trong lịch sử mà thôi. Chúng ta phải tập hài lòng với sự hiểu biết hạn chế ấy, và kìm hãm tính hiếu kỳ của chúng ta đối với nhiều điểm, nếu không thì cuối cùng, chúng ta sẽ cố phỏng đoán quá nhiều để rồi chúng ta đưa vào các câu chuyện ấy nhiều điều vốn không có trong đó, biến chúng thành những ngụ ngôn (allegories) điều mà thật ra chỉ là những phần ký thuật lịch sử. Cũng như trường hợp các dụ ngôn (parables) các câu chuyện kể cũng có thể bị lạm dụng như thế (chương 8).
    Đưa vào trong câu chuyện những điều vốn không có là khi người ta nhìn nhận các biến cố siêu nhiên trong các câu chuyện Kinh Thánh như là kết quả của sự can thiệp của những điều chẳng hạn như đĩa bay, hay những máy đo thời gian từ những thế kỷ tương lai tới thời đại chúng ta, hay những khám phá khoa học bí mật xa xưa mà con người không còn biết đến. Sự thật là đối với hầu hết những việc lạ lùng chính Kinh Thánh cũng không cho biết Đức Chúa Trời đã thực hiện thế nào. Nhưng tính hiếu kỳ và lòng mong muốn hiểu thấu điều mà Kinh Thánh không muốn cho chúng ta biết, tức là mong muốn biết chính xác các sự việc đã xảy ra như thế nào, có thể đưa một số người tới chỗ chấp nhận nhiều cách giải nghĩa vu vơ và phi lý. Bị lôi cuốn và kinh ngạc bởi khoa học giả hiệu, nhiều người bị dẫn dụ tới chỗ đưa ra những lời giải thích ngụy tạo về các biến cố lạ lùng đã xảy ra trong Kinh Thánh. Đức Chúa Trời đã không cho chúng ta biết cách thức mà Ngài đã làm tất cả công việc của Ngài. Ham muốn hiểu thấu toàn thể tiến trình có thể tạo ra những lời giải thích hết sức hoang đường và không phù hợp với các câu chuyện của Kinh Thánh mà thật ra chẳng phải là giải nghĩa gì cả.
    3. Các câu chuyện trong Cựu Ước không phải lúc nào cũng dạy dỗ cách trực tiếp. Chúng nhấn mạnh bản tánh và sự mặc khải của Đức Chúa Trời cách đặc biệt mà những phần luật pháp hoặc giáo lý của Kinh Thánh không thể làm được, bằng cách cho phép chúng ta sống qua nhiều biến cố và từng trải, chứ không phải chỉ học về các vấn đề gắn liền với các biến cố và từng trải ấy. Những câu nói hiện đại quen thuộc như “Đừng bỏ khi chưa thử” hoặc “Muốn hiểu thấu bạn phải kinh nghiệm” không phải bao giờ cũng đúng nhưng cũng chứa đựng một phần của chân lý. Nhiều khi kiến thức sẽ đem lại ích lợi hơn và ảnh hưởng đến nếp sống lâu dài hơn khi đó vốn là kết quả của việc dấn thân vào một việc gì đó. Nếu bạn theo sát các câu chuyện Cựu Ước, khi đọc bất luận một câu chuyện nào tự nhiên bạn sẽ bị lôi kéo vào đó, cho dù những nhân vật trong câu chuyện và hoàn cảnh của họ khác với bạn như thế nào đi nữa. Như thế, các câu chuyện sẽ cho bạn một loại kiến thức “trao tận tay” về công việc của Đức Chúa Trời trong thế giới này, và tuy kiến thức đó chỉ là gián tiếp chứ không phải trực tiếp, nó vẫn là kiến thức thực tế có thể giúp hình thành hành vi của bạn.
    Nếu bạn là một Cơ Đốc nhân, Cựu Ước là bộ lịch sử thuộc linh của bạn. Những lời hứa và sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho dân Y-sơ-ra-ên là những lời hứa và sự kêu gọi lịch sử của bạn (GaGl 3:29). Theo ý nghĩa tốt nhất, hữu ích và thực tiễn nhất, thì Đức Chúa Trời cho phép bạn theo dõi các biến cố mà Ngài đã làm thời xưa, bằng cách linh cảm những người Ngài chọn ghi chép chúng lại theo cách Ngài muốn.
    Tuy các câu chuyện của Cựu Ước không nhất thiết phải trực tiếp dạy dỗ nhưng thường minh họa cho những điều được dạy dỗ trực tiếp và rõ ràng ở những chỗ khác. Điều này tiêu biểu cho một loại dạy dỗ mặc nhiên (implicit) mà khi kết hợp với những lời dạy dỗ minh nhiên (explicit) tương ứng của Kinh Thánh sẽ mang lại hiệu quả rất cao trong việc làm nẩy sinh loại kinh nghiệm học hỏi mà Đức Thánh Linh có thể sử dụng một cách tích cực. Thí dụ như trong câu chuyện về tội tà dâm của Đa-vít với Bát-sê-ba (IISa 2Sm 11:1-27) bạn sẽ chẳng bao giờ thấy có câu nào như “khi phạm tội tà dâm như thế, là Đa-vít đã hành động sai.” Bạn phải biết rằng tà dâm là sai trái, vì điều đó đã được dạy dỗ rõ ràng, minh nhiên trong Kinh Thánh rồi (XuXh 20:14). Câu chuyện minh họa thế nào tội lỗi đã làm tổn hại đến đời sống cá nhân cũng như khả năng cai trị của nhà vua. Câu chuyện không dạy dỗ một cách hệ thống về tội tà dâm và không thể được dùng như một cơ sở duy nhất cho một lời dạy dỗ như thế. Nhưng với tính cách là một thí dụ minh họa cho các hậu quả của tội tà dâm trong một trường hợp cá biệt, câu chuyện truyền đạt một thông điệp đầy uy quyền và tự nó ghi khắc vào tâm trí người cẩn thận đọc đến. Đây là điều mà một cách dạy trực tiếp và hệ thống có thể không làm được.
    4. Mỗi một câu chuyện riêng rẽ nằm trong một câu chuyện không nhất thiết phải có một bài học đạo đức riêng. Ta không thể lý giải các câu chuyện theo cách chẻ sợi tóc làm tư, làm như mỗi câu, mỗi biến cố, mỗi phần mô tả đều có thể lý giải riêng rẽ, độc lập đối với các phần khác, và đều có một bức thông điệp đặc biệt cho người đọc. Thật ra, ngay cả trong những câu chuyện thần tiên dài, tất cả các thành phần tạo nên câu chuyện có thể hiệp lại để tạo ấn tượng trên người đọc về một chủ điểm mà thôi. Có một biến chuyển tổng quát dẫn đến câu chuyện, tức là một loại thượng tầng cơ sở để tạo thành một chủ điểm, thường thường là một chủ điểm duy nhất.
    Về phương diện này thì các truyện ký giống với các dụ ngôn (parables, xem chương 8) trong đó toàn thể câu chuyện truyền đạt sứ điệp, chứ không phải mỗi phần riêng rẽ. Sức tác động, sức ảnh hưởng, sức thuyết phục - tất cả đều do toàn bộ diễn biến của các biến cố liên hệ. Nhiều yếu tố riêng rẽ kết hợp lại để tạo thành một câu chuyện qua đó Đức Chúa Trời mặc khải. Cố tìm ra một ý nghĩa cho từng dữ kiện nhỏ nhặt, hoặc từng biến cố riêng lẻ trong câu chuyện sẽ không đi đến đâu. Bạn phải thẩm định câu chuyện như một toàn thể chứ không nên phân chia từng phần nhỏ.
    Các Nguyên Tắc Giải Nghĩa Truyện Ký
    Để minh họa cho những điều vừa thảo luận ở trên, chúng tôi chọn hai câu chuyện quan trọng trong Cựu Ước để phân tích trong chương này. Nhưng trước hết, mười nguyên tắc sau sẽ giúp bạn tránh được các sai lầm khi giải nghĩa hai câu chuyện này hoặc những câu chuyện khác.
    1. Một câu chuyện trong Cựu Ước thường không trực tiếp truyền dạy một giáo lý.
    2. Một câu chuyện trong Cựu Ước thường minh họa cho một giáo lý hay nhiều giáo lý đã được truyền dạy rõ ràng, đầy đủ ở chỗ khác.
    3. Các câu chuyện ghi lại những gì đã xảy ra - không nhất thiết là chuyện đáng lẽ đã phải xảy ra hay phải luôn luôn xảy ra. Do đó, không phải mỗi câu chuyện đều có một ý nghĩa đạo đức riêng.
    4. Hành động của các nhân vật trong câu chuyện không nhất thiết đều là gương tốt cho chúng ta. Thường thường là ngược lại.
    5. Hầu hết nhân vật trong các câu chuyện của Cựu Ước đều chưa đạt được mức trọn vẹn, và các hành động của họ cũng vậy.
    6. Không phải lúc nào phần cuối câu chuyện đều cho chúng ta biết việc đã xảy ra đó là tốt hay xấu. Chúng ta phải có khả năng suy xét dựa trên những gì Đức Chúa Trời đã dạy dỗ chúng ta cách trực tiếp và rõ ràng ở chỗ khác trong Kinh Thánh.
    7. Tất cả các câu chuyện đều mang tính chọn lọc và phiến diện. Không phải tất cả các chi tiết thích hợp đều luôn luôn được cung cấp đầy đủ (đối chiếu GiGa 21:25). Những gì xuất hiện trong câu chuyện là tất cả những gì mà tác giả được linh cảm nghĩ là quan trọng mà chúng ta cần biết.
    8. Các câu chuyện không được viết ra để giải đáp cho mọi thắc mắc về thần học của chúng ta. Chúng có những mục đích cụ thể, đặc biệt và nhằm giải quyết một số vấn đề, bỏ qua các vấn đề được giải quyết ở những chỗ khác, theo nhiều cách khác.
    9. Các câu chuyện có thể dạy dỗ một cách minh nhiên (bằng cách nhấn mạnh rõ ràng một điều gì có) hoặc mặc nhiên (bằng cách ngụ ý nói rõ ràng một điều gì đó mà không thật sự không nêu ra).
    10. Cuối cùng, Đức Chúa Trời là nhân vật chủ động tất cả các câu chuyện trong Kinh Thánh.
    Mẫu Giải Nghĩa Truyện Ký
    Câu Chuyện Giô-sép
    Câu chuyện Giô-sép được tường thuật trong SaSt 37:1-36; 39:1-50:26. Khi đọc qua các chương ấy bạn sẽ thấy Giô-sép là nhân vật chính, xét về mặt con người, trong hầu hết các tình tiết. Ông thật sự nổi bật trong cả câu chuyện.
    Chúng ta đọc thấy Giô-sép có vẻ là loại người kiêu kỳ, hay phê phán (37:1-36), có lẽ do ông được cha mình nuông chiều (37:3). Việc Giô-sép luôn miệng kể lại các giấc mơ kiêu căng đầy tự tôn của mình đã chẳng giúp gì được cho hoàn cảnh của ông trong gia đình (37:10, 11). Các anh Giô-sép đã bán ông cho người ta làm nô lệ, và lừa dối với cha là Gia-cốp rằng Giô-sép đã chết rồi. Bị bán sang Ai Cập như một nô lệ, Giô-sép đã trở thành người quản lý rất thành công của Phô-ti-pha (39:1-23). Tại sao thế? Phải chăng đó là nhờ các tài năng quản trị bẩm sinh của ông? Thật khó có thể nói như vậy. Kinh Thánh cho thấy rõ lý do: “Giô-sép (được)...Đức Giê-hô-va phù hộ...Đức Giê-hô-va phù hộ chàng và xui cho mọi việc chi chàng lãnh làm nơi tay đều được thạnh vượng...Đức Giê-hô-va vì Giô-sép ban phước cho nhà người; sự ban phước của Đức Giê-hô-va bủa khắp mọi vật của người làm chủ” (SaSt 39:2-5 RSV). Cho dù Giô-sép có tài quản trị thì rõ ràng nó chỉ giữ vai trò thứ yếu trong việc Đức Chúa Trời can thiệp vào cuộc đời ông. Dù bị bỏ tù một cách bất công, Giô-sép vẫn vươn lên được địa vị cai ngục. Tại sao thế? Một lần nữa, Kinh Thánh lại khẳng địng chắc chắn: “Đức Giê-hô-va phù hộ Giô-sép và tỏ lòng nhân từ cùng chàng, làm cho được ơn trước mặt chủ ngục” (39:21; đ/c câu 33).
    Người kể chuyện được linh cảm đã không để người ta có chút nghi ngờ người anh hùng hoặc bài học đạo đức của câu chuyện. Đức Chúa Trời là người chủ động và bài học đạo đức là Đức Chúa Trời đã ở cùng Giô-sép. Nếu bạn muốn học hỏi từ câu chuyện liên hệ đến Giô-sép, và cố tìm một người chủ động khác ngoài Đức Chúa Trời, thì người đó sẽ là ai? Phải chăng đó là Gia-cốp, vốn nuông chìu Giô-sép hơn các con cái khác của mình? Phải chăng đó là Phô-ti-pha hay vợ ông ta, cả hai đều đối xử bất công với Giô-sép? Phải chăng đó là người chủ ngục không được nêu tên? Phải chăng đó là chính Giô-sép, chàng thanh niên quá tự tin, vị kỷ, dường như đã tự chuốc lấy họa vào thân một cách hết sức dễ dàng? Nếu bạn chọn bất cứ người nào trong số các nhân vật vừa kể trên, thì chắc chắn bạn đã không tìm được điều mà câu chuyện muốn nhấn mạnh, và như thế không còn chú ý đến quyền tể trị, hướng dẫn và điều động các biến cố của Đức Chúa Trời.
    Còn về bài học đạo đức của câu chuyện thì sao? Phải chăng bạn sẽ sai lầm như nhiều nhà truyền đạo hoặc giáo sư, là cố tìm một bài học cho đời sống tiềm tàng trong từng biến cố của cuộc đời Giô-sép? Nếu thế thì có lẽ bạn cũng kết luận câu chuyện dạy rằng “Đừng kể các giấc mơ của bạn cho ai nghe cả, kẻo e bạn sẽ vì đó mà bị rắc rối to đấy!” hay “Thậm chí các nô lệ cũng có thể trở thành người cầm đầu, nếu họ chịu quan tâm các tài năng quản trị của mình” hoặc “Bạn sẽ khỏi phải vào tù nếu có chút ít kinh nghiệm làm ăn trước khi bị bắt” hay “Người ngoại quốc thì dễ được thăng quan tiến chức hơn dân bản xứ.”
    Nói cách khác, nếu bạn tìm cách bắt chước con người hoặc hành động nào của Giô-sép mà các Cơ Đốc nhân ngày nay cho rằng làm như thế để được phước, thì bạn sẽ chẳng bao giờ tìm được trong câu chuyện này đâu. Câu chuyện muốn nói với bạn điều Đức Chúa Trời đã làm với một ứng viên hầu như không thể thành công. Câu chuyện không hàm chứa bất kỳ một quy luật nào để trở thành người dẫn đầu trong công việc kinh doanh hoặc trong đời sống nói chung. Giô-sép đã gặp chuyện chẳng may này đến chuyện tệ hại khác, và đã phải ngồi tù rất nhiều năm trước khi chính Đức Chúa Trời (chứ không phải Giô-sép) sắp xếp cho ông được tha ra.
    Việc Giô-sép được ra tù nhờ tài giải mộng mà Đức Chúa Trời đã ban cho ông (SaSt 40:1-41:57), việc ông được đặt vào chức vị có quyền lực cao và cơ hội để ông giúp đỡ gia đình trong nạn đói (SaSt 41:1-50), cũng như nhiều chi tiết khác nữa của các câu chuyện nhỏ hơn hình thành câu chuyện Giô-sép, thật ra chẳng cho thấy điều gì bẩm sinh nơi Giô-sép đáng nêu gương trong các hành động của ông cả. Bạn sẽ phí công vô ích nếu muốn tìm một bài học luân lý nào khác hơn là bài học mà chính Kinh Thánh cung cấp: “Đức Chúa Trời đã ở cùng Giô-sép.” Toàn thể quá trình bị thất bại rồi được thăng tiến để nắm được quyền lực của Giô-sép, đều là việc làm của Đức Chúa Trời. Cả đến ác ý của các anh Giô-sép đối với ông cũng đều được Đức Chúa Trời sử dụng cho chiến lược của Ngài. Như chính Giô-sép đã bảo với các anh mình trong SaSt 50:19-20: “Giô-sép đáp rằng: Các anh đừng sợ chi, vì tôi há thay mặt Đức Chúa Trời sao? Các anh toan hại tôi, nhưng Đức Chúa Trời lại toan làm điều ích cho tôi, hầu cho cứu sự sống cho nhiều người, y như đã xảy đến ngày nay, và giữ gìn sự sống của dân sự đông đảo.”
    Cả chuỗi dài các biến cố và các câu chuyện nhỏ hơn tập hợp thành câu chuyện Giô-sép đều là một phần của một câu chuyện lớn hơn, đó là chương trình của Đức Chúa Trời cho Y-sơ-ra-ên với tư cách một dân tộc, và để bảo tồn các dân Ca-na-an, Ai Cập và nhiều dân tộc khác đồng thời suốt thời gian bị nạn đói này. Ai Cập là nơi Đức Chúa Trời gây dựng và gia tăng dân sự Ngài, chuẩn bị họ cho cuộc Xuất Ai Cập và sự chinh phục xứ Ca-na-an mà chính Ngài sẽ ban cho họ như Ngài đã hứa với Áp-ra-ham.
    Nếp sống, các đức tính cá nhân, hoặc các hành động của Giô-sép chẳng giúp chúng ta được gì nếu muốn rút ra từ đó các nguyên tắc luân lý đạo đức tổng quát. Nếu bạn tưởng mình đã tìm được điều gì, tức là bạn đã tìm thấy điều bạn muốn tìm thấy trong đoạn kinh văn, chứ không phải là bạn giải nghĩa đoạn kinh văn.
    Cuối cùng thì chính Giô-sép được ban cho khả năng để nhận biết rằng Đức Chúa Trời đã điều khiển tất cả các biến cố trong câu chuyện của ông, nhằm một chủ đích quan trọng hơn. Vào cuối đời mình, ông đã bảo với các anh em mình: “Em sẽ chết, nhưng Đức Chúa Trời sẽ đến viếng các anh em thật; đem các anh em về xứ mà Ngài đã thề hứa cùng Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp.”
    Trọng tâm chính là Đức Chúa Trời. Ngài có quyền hoàn tất những gì Ngài muốn. Đức Chúa Trời đã sử dụng những phương tiện xem ra rất vô lý như Giô-sép, gia đình ông, và Pha-ra-ôn để bảo tồn mạng sống nhiều người và bắt đầu tạo lập cho Ngài một dân tộc đặc biệt. Đây chính là chỗ để chúng ta tìm thấy bài học đạo đức của câu chuyện, tập trung vào ân điển và sự quan phòng của Đức Chúa Trời, và đưa chúng ta đến chỗ biết tôn trọng đường lối của Ngài và trông cậy vào sự cung ứng của Ngài.
    Câu Chuyện Ru-tơ
    Sách Ru-tơ vừa ngắn gọn vừa độc lập, có cốt truyện dễ hiểu và tìm hiểu các nhân vật không khó. Vì thế chúng ta có thể dùng câu chuyện này làm mẫu để minh họa các nguyên tắc chúng ta vừa học ở trên, đặc biệt nhấn mạnh đến điểm số 9 trong bảng liệt kê các nguyên tắc. Ở đây, chúng tôi muốn giúp bạn thấy rằng lời dạy của Đức Thánh Linh qua một câu chuyện có thể là minh nhiên hoặc mặc nhiên. Lời dạy minh nhiên (rõ ràng) là khi người thuật chuyện được linh cảm thật sự nói (“Đức Chúa Trời phù hộ cho Giô-sép”). Lời dạy dỗ mặc nhiên (ẩn ý) là những gì đã được trình bày rõ ràng trong câu chuyện, nhưng lại không được nói ra bằng lời. Bạn có thể thấy những điều đó một cách tiềm ẩn trong câu chuyện, thay vì được đọc ngay trong trang sách.
    Sự dạy dỗ minh nhiên có thể nhận biết được cách dễ dàng, nhưng sự dạy dỗ mặc nhiên có thể khó hơn. Nó đòi hỏi phải có khả năng, chịu khó làm việc, cẩn thận và vừa cầu nguyện, vừa tôn trọng sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh là Đấng linh cảm bản văn. Dù sao, bạn cũng cần phải đọc được những điều ngoài câu chuyện hơn là đem vào trong câu chuyện.
    Câu chuyện của Ru-tơ có thể tóm tắt như sau: Quả phụ Ru-tơ, một người Mô-áp di cư từ xứ Mô-áp đến Bết-lê-hem cùng với mẹ chồng là Na-ô-mi, cũng là một quả phụ (Ru R 1:1-22). Ru-tơ đi mót lúa trong đồng lúa của Bô-ô. Bô-ô kết bạn với Ru-tơ vì được nghe về lòng hiếu thảo và cách đối xử tử tế của nàng với Na-ô-mi, vốn là người bà con với ông ta (Ru R 2:1-23). Theo sự gợi ý của Na-ô-mi, Ru-tơ cho Bô-ô biết là nàng yêu ông và mong ông sẽ cưới nàng làm vợ (Ru R 3:1-18). Bô-ô thực hiện mọi biện pháp cần thiết về mặt pháp lý để cưới Ru-tơ và bảo vệ các quyền lợi liên hệ đến tài sản của người chồng đã quá cố của nàng là Mạc-lôn. Sự ra đời của đứa con trai đầu tiên là Ô-bết của Ru-tơ và Bô-ô, là một an ủi lớn lao cho Na-ô-mi. Cuối cùng thì cháu nội của Ô-bết sẽ là vua Đa-vít (Ru R 4:1-22).
    Nếu bạn chưa quen với câu chuyện Ru-tơ, hãy đọc qua cách ấy ít nhất là hai lần. Rồi trở lại và ghi ra các chú thích riêng biệt về những điểm tiềm ẩn (mặc nhiên) trong câu chuyện như sau:
    1. Câu chuyện cho chúng ta biết Ru-tơ cải đạo, đặt đức tin vào Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên. Câu chuyện cho chúng ta biết được điều này qua câu nói của Ru-tơ với Na-ô-mi “Dân sự của mẹ tức là dân sự của tôi; Đức Chúa Trời của mẹ tức là Đức Chúa Trời của tôi” (1:17), thay vì nói thẳng với chúng ta rằng “Ru-tơ đã ăn năn quy đạo.” Chúng ta nhận ra điều đó vì Ru-tơ nhận Đức Giê-hô-va làm Đức Chúa Trời mình tức là nàng đã ăn năn quy đạo. Câu chuyện cũng mặc nhiên xác nhận việc ăn năn quy đạo của Ru-tơ là chân thành, chứ không phải chỉ bằng đầu môi chót lưỡi mà thôi, bằng cách ghi lại câu nói này của Ru-tơ: “Ví bằng có sự chi...nguyện Đức Giê-hô-va giáng họa cho tôi” (1:17). Mấy lời này ngụ ý rõ ràng, tuy không nói thẳng ra, rằng Ru-tơ, một người Mô-áp trước kia từng thờ lạy các thần của dân Mô-áp, giờ đây đã tin và sống theo các chuẩn mực của Giê-hô-va tức là Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên. Chẳng có gì để nghi ngờ khi Kinh Thánh cho chúng ta biết Ru-tơ đã ăn năn quy đạo, quay lại thờ phượng Đức Chúa Trời chân thần, tuy điều đó không hề được đề cập rõ ra ở bất cứ chỗ nào cả.
    2. Câu chuyện mặc nhiên kể với chúng ta rằng Bô-ô là một người Y-sơ-ra-ên công chính, giữ Luật Môi-se, tuy nhiều người Y-sơ-ra-ên đã không làm như thế. Điều đó được nói ở đâu? Hãy đọc thật cẩn thận ở các phần 2:3-13, 22, 3:10-12; 4:9-10. Mấy phần này trong câu chuyện nêu rõ rằng căn cứ vào cách ăn nói của ông, ta thấy bản thân ông vốn trung tín phục dưới uy quyền của Giê-hô-va, ở chỗ ông vẫn tuân thủ điều luật về mót lúa đã được ban hành trong LeLv 19:9-10 (Ru-tơ hội đủ cả hai loại điều kiện mà điều luật ấy đề ra - nàng vốn là một người nghèo “đồng thời” cũng là kẻ khách (người ngoại quốc); ông cũng tuân thủ điều luật về việc chuộc lại sản nghiệp đã được ban hành ở LeLv 25:23-24, mà không phải là toàn thể người Y-sơ-ra-ên đều trung tín vâng giữ luật pháp như thế. Dĩ nhiên, đi mót lúa trong các đồng lúa của những người không tuân thủ các điều luật bó buộc liên hệ là điều nguy hiểm (2:22).
    Một lần nữa, câu chuyện mặc nhiên cho chúng ta khá nhiều thông tin quan trọng. Phần thông tin này có giá trị giúp chúng ta theo dõi câu chuyện để giải thích nó. Thế nhưng, đây là những thông tin không được cung cấp cho chúng ta một cách minh nhiên.
    3. Câu chuyện mặc nhiên cho chúng ta biết rằng đây là một phần bối cảnh của tổ tiên vua Đa-vít - do đó, khi mở rộng ra, thì liên hệ đến tổ tiên của Chúa Giê-xu nữa. Hãy đọc 4:17-21, bảng gia phả ngắn ngủi trong câu 17 và bảng gia phả đầy đủ hơn trong mấy câu 18-21 đều kết thúc bằng tên Đa-vít. Rõ ràng nhân vật Đa-vít là tiêu điểm và điểm kết thúc của câu chuyện này. Căn cứ vào nhiều bảng gia phả khác trong Kinh Thánh, chúng ta biết rằng Đa-vít là vị quân vương vĩ đại đầu tiên của dân Y-sơ-ra-ên. Căn cứ vào các bảng gia phả trong Tân Ước, chúng ta cũng biết rằng về phương diện con người Chúa Giê-xu vốn là hậu duệ của Đa-vít. Thế thì Ru-tơ là bà cố nội của Đa-vít, và là một tổ mẫu của Chúa Giê-xu! Đây là một phần quan trọng của lời dạy dỗ trong cả câu chuyện này. Câu chuyện không chỉ liên hệ với Ru-tơ và Bô-ô vì cớ lòng trung tín của họ đối với Đức Giê-hô-va, mà còn vì cớ địa vị của họ trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Các nhân vật này không thể nào biết được điều đó, nhưng họ được Chúa sử dụng để lập làm tổ tiên của Đa-vít và “con trai Đa-vít,” tức là Chúa Giê-xu.
    4. Câu chuyện mặc nhiên cho chúng ta biết rằng Bết-lê-hem là một thị trấn đặc biệt dưới thời Các Quan Xét vì sự trung tín của cư dân tại đó. Nhận ra điểm mặc nhiên này của câu chuyện không phải là dễ dàng hay tự động nhưng đòi hỏi phải đọc thật kỹ cả câu chuyện, đặc biệt chú ý vào các lời nói và hành động của tất cả các nhân vật trong câu chuyện. Nó cũng đòi hỏi phải có kiến thức chung về những địa phương khác của xứ Y-sơ-ra-ên trong thời đó so với những gì đặc biệt của xứ Bết-lê-hem. Muốn có kiến thức về Bết-lê-hem phải quen thuộc với các biến cố và các chủ đề của sách Các Quan Xét, vì sách Ru-tơ được người thuật chuyện nối liền trực tiếp với thời kỳ đó (Ru R 1:1). Nếu bạn đã có cơ hội đọc kỹ sách Các Quan Xét, bạn sẽ ghi nhận rằng thời kỳ các quan xét (khoảng 1240-1030 T.C.) nói chung có dấu ấn rõ rệt của các tập tục như thờ thần tượng lan tràn, hòa đồng tôn giáo (pha lẫn nhiều nét đặc trưng của ngoại đạo với đạo thật của dân Y-sơ-ra-ên), xã hội bất công, xáo trộn, thù địch giữa các chi phái với nhau, dâm loạn, và nhiều dấu chỉ khác nữa về sự bất trung với Chúa. Bức tranh được vẽ ra cho chúng ta trong sách Các Quan Xét khó có thể là một bức tranh đẹp của hạnh phúc, tuy có những trường hợp cá biệt vì lòng nhân từ thương xót của Đức Chúa Trời, Ngài đã ban nhiều lợi ích cho dân Y-sơ-ra-ên hoặc cho các chi phái trong dân Y-sơ-ra-ên, cho dầu tất cả đều chống nghịch với Ngài.
    Điều gì trong sách Ru-tơ cho chúng ta biết Bết-lê-hem là một ngoại lệ so với bức tranh bao quát về sự bất trung? Thực tế là tất cả mọi sự, ngoại trừ 2:2 hàm ý rằng không phải tất cả dân Bết-lê-hem đều giữ luật lệ liên hệ đến vấn đề mót lúa mà đáng lẽ họ phải tuân thủ. Nếu không có như thế thì bức tranh chắc sẽ rất đồng nhất. Lời nói của các nhân vật cũng cho thấy dân cư của thị trấn này đã bày tỏ lòng đầu phục Đức Giê-hô-va của họ.
    Nên nhớ rằng tất cả các nhân vật được đề cập trong câu chuyện, ngoại trừ Ru-tơ và cô em dâu của nàng là Ọt-ba, đều là công dân Bết-lê-hem. Hãy xét đến Na-ô-mi, dù là trong những thời kỳ gặp nhiều cay đắng (1:8-9; 13:20-21) hay trong những lúc được vui vẻ hạnh phúc (1:6; 2:19-20) bà đều nhìn nhận và đầu phục ý chỉ Đức Giê-hô-va. Hơn nữa, Bô-ô cũng trước sau như một, và đã tự chứng tỏ bằng lời nói rằng mình là một người thờ phượng và noi theo Đức Giê-hô-va (2:11-12; 3:10,13) còn các hành động của ông từ đầu chí cuối đều chứng thực cho những lời nói đó.
    Ngay đến cách người ta chào hỏi nhau cũng cho thấy họ vốn có ý thức về việc đầu phục Đức Giê-hô-va ở mức độ cao (2:4). Cũng thế, các trưởng lão của thị trấn, trong lời chúc phước cho hôn lễ và cho con cháu họ (4:11, 12) và các phụ nữ trong thị trấn khi chúc phước cho Na-ô-mi (4:14) đều chứng tỏ đức tin của họ. Việc họ thừa nhận Ru-tơ, một phụ nữ người Mô-áp ăn năn quy đạo đã thêm một bằng chứng mặc nhiên về đức tin của họ.
    Cuối cùng, tác giả được linh cảm đã gán những biến cố đầy ý nghĩa cho Đức Giê-hô-va (1:6; 4:13) - mặc dầu chúng ta không thể biết chắc tác giả có phải là dân Bết-lê-hem hay không, và cũng không thể không nghĩ rằng tác giả đã không thuộc vào đám người bất trung của thời kỳ ấy. Vấn đề là một người không thể nào đọc câu chuyện thật kỹ (đồng thời đối chiếu sách này với sách Các Quan Xét) mà lại không thấy rất nhiều lần rằng thị trấn Bết-lê-hem vốn đặc biệt như thế nào! Không chỗ nào trong câu chuyện thật sự nói rằng “Bết-lê-hem là một thị trấn nổi tiếng là ngoan đạo vào thời kỳ ấy.” nhưng đó lại là điều mà câu chuyện đã nói với chúng ta một cách mạnh mẽ và đầy thuyết phục mà cả những lời nói thẳng ra cũng không hẳn có được hiệu quả như thế.
    Chúng tôi mong rằng các thí dụ trên đây sẽ cho ta thấy rằng cẩn thận chú ý đến các chi tiết và chuyển biến toàn diện của một câu chuyện và văn mạch của nó là điều cần thiết nếu như ta muốn nắm được đầy đủ ý nghĩa của nó. Trên mọi phương diện, điều mặc nhiên cũng có ý nghĩa như điều minh nhiên.
    Cảnh Giác
    Mặc nhiên không có nghĩa là bí mật. Bạn sẽ gặp đủ thứ rắc rối nếu bạn cố tìm một ý nghĩa nào đó trong một bản văn mà bạn nghĩ rằng Đức Chúa Trời đã “giấu” trong câu chuyện. Đây hoàn toàn không phải là điều mà chữ mặc nhiên muốn nói. Mặc nhiên có nghĩa là sứ điệp có thể được hiểu nhờ những gì đã được nói ra, tuy rằng sứ điệp đó không được phát biểu rõ bằng lời. Nhiệm vụ của bạn không phải là lục lạo để tìm những điều mà mọi người không thể hiểu được. Nhiệm vụ của bạn là ghi ra tất cả những gì mà câu chuyện thật sự nói với bạn - trực tiếp hoặc gián tiếp, nhưng không bao giờ nói cách thần bí hay riêng tư. Nếu bạn không thể xác quyết và diễn tả cho những người khác một điều gì đó được dạy một cách mặc nhiên để họ hiểu được và nắm vững thì có lẽ chính bạn cũng đã đọc và hiểu sai đoạn kinh văn rồi. Điều Thánh Linh linh cảm là để lợi ích cho mọi tín hữu. Hãy nhận biết và khai triển điều dễ nhận thấy trong câu chuyện, chứ đừng đặt ta một câu chuyện mới (IIPhi 2Pr 2:3)!
    Vài Điều Lưu Ý Cuối Cùng
    Tại sao lắm khi người ta tìm thấy trong các câu chuyện Kinh Thánh nhiều điều mà thật ra vốn không có trong đó - tức khi đọc, họ đưa vào trong Kinh Thánh các khái niệm của riêng họ, chứ không phải là tìm ra trong đó những điều mà Đức Chúa Trời muốn cho họ phải biết? Có ba lý do chính. Một là họ khao khát muốn tìm một số thông tin họ nghĩ sẽ có giá trị cho cá nhân có thể ứng dụng cho hoàn cảnh riêng của mình. Hai là họ không đủ kiên nhẫn, muốn được trả lời ngay tức khắc, từ chính sách này, chương này. Ba là, họ trông mong sai lầm rằng mọi điều trong Kinh Thánh đều có thể ứng dụng trực tiếp như lời dạy cho chính đời sống của cá nhân họ. Kinh Thánh là một nguồn tài nguyên lớn lao, chứa đựng tất cả những gì một Cơ Đốc nhân cần theo sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời cho đời sống. Nhưng không phải lúc nào Kinh Thánh cũng chứa đựng những câu trả lời vừa cụ thể vừa riêng tư như một số người mong muốn, và không phải chương nào của mỗi sách trong Kinh Thánh cũng chứa đựng tất cả mọi thông tin! Vì quá sốt ruột muốn tìm cho ra ý chỉ của Đức Chúa Trời từ toàn bộ Kinh Thánh, nên người ta đã sai lầm - họ tự cho phép mình cượng giải những phần Kinh Thánh riêng rẽ.
    Để bạn có thể tránh được khuynh hướng này, chúng tôi xin liệt kê ra đây tám sai lầm trong số các sai lầm phổ biến nhất trong công tác giải nghĩa mà người ta vấp phải khi cố đi tìm lời giải đáp từ các phần của Kinh Thánh. Mặc dầu tất cả những điều sau đây áp dụng cho truyện ký nhưng cũng có thể được áp dụng cho các loại văn thể khác.
    1. Hiểu theo nghĩa bóng (Allegorizing): Thay vì tập trung vào ý nghĩa rõ ràng, người ta bỏ mặc bản văn để chỉ tìm xem nó có ẩn ý gì nằm ngoài bản văn. Trong Kinh Thánh có nhiều phần phải hiểu theo nghĩa bóng, nghĩa ẩn dụ (thí dụ Exe Ed 23:1-49 hoặc nhiều phần trong sách Khải Thị) nhưng không một ẩn dụ (allegory) Kinh Thánh nào lại là một câu chuyện đơn giản.
    2. Đặt đoạn văn nằm ngoài bối cảnh và văn mạch của nó (Decontextualizing): Không lưu ý đến bối cảnh lịch sử và văn mạch toàn diện - thường là đối với câu chuyện riêng rẽ - nhưng chỉ tập trung chú ý vào các đơn vị nhỏ là không nắm được các nguyên tắc giải nghĩa. Chỉ cần đi ra ngoài bối cảnh vừa đủ xa là bạn sẽ có thể gán cho bất cứ phần nào của Kinh Thánh nói bất cứ điều gì bạn muốn.
    3. Chọn lọc (selectivity). Điều này cũng giống như vượt ra ngoài bối cảnh và văn mạch. Nó bao gồm việc góp nhặt, chọn lựa những chữ, những câu cụ thể và chú ý vào đó mà bỏ qua toàn cảnh của khúc sách cần nghiên cứu. Thay vì cân đối các phần và toàn bộ đoạn kinh văn, bạn đã bỏ qua một số phần nào đó cũng như toàn cảnh.
    4. Kết hợp sai lầm (false combination): Đường hướng này kết hợp các yếu tố nằm rải rác đây đó trong khúc sách, rồi đưa ra một luận điểm từ sự kết hợp đó, tuy bản thân các yếu tố ấy không hề có liên hệ trực tiếp với nhau trong khúc sách ấy. Một thí dụ về cách giải nghĩa sai lầm này là cho rằng rằng các kẻ thù thật sự của chúng ta là trong Hội Thánh chứ không phải ngoài Hội Thánh, vì trong Thi Tv 23:1-6 Đa-vít nói rằng ông sẽ ở mãi mãi trong nhà của Đức Chúa Trời, mà Đức Chúa Trời thì đã dọn bàn cho ông trước mặt các kẻ thù của ông (Do đó, các kẻ thù phải cùng ở chung trong nhà của Đức Chúa Trời với Đa-vít, nếu không làm sao họ có thể ở trước mặt ông được).
    5. Tái định nghĩa (redefinition). Khi ý nghĩa rõ ràng của một đoạn kinh văn khiến người ta cảm thấy lạt lẽo, không tạo ngay cho người ta sự thích thú thuộc linh, hoặc nói một điều gì đó mà người ta không muốn nghe thì người ta thường cố tìm cách tái định nghĩa để nó có ý nghĩa khác đi. Thí dụ, họ lấy câu nói của Chúa Giê-xu: “Khốn nạn cho các ngươi là người giàu có...” và “Khốn nạn cho các ngươi khi mọi người sẽ khen ngợi các ngươi...” (LuLc 6:24, 26) rồi tái định nghĩa chúng, cất đi phần ý nghĩa rõ ràng của chúng, để biến thành: “Khốn nạn cho các ngươi là những kẻ quá tham tiền đến nỗi chối bỏ đức tin vào (đạo) Đức Chúa Trời” và “Khốn nạn cho các ngươi vì đã trở thành những kẻ vô thần để được lời khen ngợi rẻ tiền của những người bất trung của thế gian này.” Những câu nói này đã được định nghĩa để chỉ còn có nghĩa hẹp, vừa đủ để không còn là mối đe dọa cho những những người làm công việc tái định nghĩa.
    6. Thẩm quyền ngoài Kinh Điển (Extracanonical authority). Bằng cách sử dụng một thứ chìa khóa đặc biệt bên ngoài để tìm hiểu Kinh Thánh, thường là một mớ giáo điều hoặc một quyển sách được coi là bày tỏ các chân lý của Kinh Thánh mà nếu không có không ai có thể hiểu được, người ta tự cho rằng họ có thể khai mở các huyền nhiệm của Kinh Thánh. Các tà giáo thường hoạt động căn cứ vào một thẩm quyền ngoài kinh điển, xem Kinh Thánh có phần nào giống như một loạt các câu đố cần có sự hiểu biết đặc biệt mới giải đáp được.
    7. Đạo đức hóa (Moralizing): Khuynh hướng này cho rằng các nguyên tắc để sống có thể được rút ra từ tất cả các khúc Kinh Thánh. Do đó, người đọc Kinh Thánh theo khuynh hướng này sẽ đặt câu hỏi “Bài học đạo đức của câu chuyện này là gì?” ở cuối mỗi một câu chuyện. Chẳng hạn, “Từ cách dân Y-sơ-ra-ên chịu đựng suốt những năm làm nô lệ tại Ai Cập, chúng ta học được gì về cách đối phó với nghịch cảnh?” Chỗ sai của khuynh hướng này là bỏ qua sự kiện các câu chuyện vốn được viết ra nhằm bày tỏ diễn tiến trong lịch sử cứu chuộc của Đức Chúa Trời, chứ không phải nhằm minh họa các nguyên tắc. Đó là những câu chuyện lịch sử, chứ không phải câu chuyện minh họa.
    8. Cá nhân hóa (Personalizing): Là đọc Kinh Thánh và cho rằng một phần nào đó hoặc tất cả các phần trong đó đều dành để ứng dụng cho riêng bạn hoặc cho nhóm người của bạn, chứ không thể đem ứng dụng cho mọi người khác. Người ta vốn có khuynh hướng vị kỷ, cả khi họ đọc Kinh Thánh. Khi họ không thỏa mãn với bức tranh rộng lớn về lịch sử cứu chuộc của Đức Chúa Trời, họ rất dễ sa vào sự cám dỗ là cố tìm một điều gì đó để thỏa mãn các nhu cầu, các khát vọng, hoặc các vấn đề cá nhân của riêng họ. Họ có thể quên rằng toàn bộ Thánh Kinh được Đức Chúa Trời ban cho tất cả mọi người, chứ không phải chỉ ban cho riêng họ mà thôi. Chẳng hạn, người ta đã sai lầm khi cho rằng “câu chuyện con lừa biết nói của Ba-la-am nhắc nhở tôi rằng tôi đã nói quá nhiều,” hoặc “câu chuyện xây cất đền thờ là cách Đức Chúa Trời dạy chúng ta phải xây một ngôi nhà thờ mới.”
    Lời nhắc nhở ngắn ngủi và rất hữu ích liên hệ đến cách đọc và tìm hiểu các truyện ký mà chúng tôi muốn gởi đến cho các bạn là: Đừng đọc Kinh Thánh theo lối thấy gì làm nấy. Chẳng hề có câu chuyện nào trong Kinh Thánh đã được viết ra đặc biệt về chính bạn cả. Câu chuyện Giô-sép là về chính Giô-sép, đặc biệt đề cập cách Đức Chúa Trời đã dùng ông để làm mọi việc - chứ không phải là một câu chuyện trực tiếp về chính bạn. Câu chuyện Ru-tơ nhằm ca ngợi sự bảo vệ và phước hạnh mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ru-tơ và dân chúng tại Bết-lê-hem - chứ không phải là về chính bạn. Bạn luôn luôn có thể học hỏi được rất nhiều điều từ các câu chuyện này cũng như những câu chuyện khác trong Kinh Thánh, nhưng bạn đừng nghĩ rằng Đức Chúa Trời trông mong bạn cũng phải làm đúng y những điều mà các nhân vật trong Kinh Thánh đã làm, hoặc sẽ gặp những việc đúng y như những việc đã xảy ra cho họ. Chương 6 sẽ có phần thảo luận thêm về vấn đề này.
    Các nhân vật trong Kinh Thánh có khi tốt khi xấu, có khi khôn ngoan, mà cũng có khi dại dột. Nhiều khi họ bị trừng phạt, nhiều khi được thương xót, nhiều khi được sống thanh thản, nhiều khi phải khổ sở.
    Nhiệm vụ của bạn là học hỏi Lời Đức Chúa Trời từ các câu chuyện về họ, chứ đừng cố tìm cách làm mọi việc như đã xảy ra trong Kinh Thánh. Không phải chỉ vì một ai đó trong một câu chuyện Kinh Thánh đã làm một việc gì đó mà chính bạn cũng được phép hoặc bị bắt buộc phải làm y như thế.
    Điều bạn có thể làm và nên làm là vâng theo điều Đức Chúa Trời thật sự kêu gọi bạn làm trong Kinh Thánh. Các câu chuyện sở dĩ quý báu cho chúng ta vì chúng chứng minh cách sống động việc Đức Chúa Trời can thiệp vào thế gian này và minh họa cho các nguyên tắc và tiếng gọi của Ngài. Vì thế, các câu chuyện dạy chúng ta rất nhiều điều - nhưng những gì chúng trực tiếp dạy dỗ chúng ta không phải là hệ thống đạo đức cá nhân. Về lãnh vực này chúng ta phải tìm ở những chỗ khác trong Kinh Thánh, ở nhiều chỗ khác nhau để biết được những lời dạy rõ ràng và đặc biệt về vấn đề đạo đức cá nhân. Tính cách phong phú và đa dạng của Kinh Thánh phải được hiểu như là một đồng minh của chúng ta - một nguồn tài nguyên đáng được hoan nghênh chứ không bao giờ là một gánh nặng phiền toái.


    Sách Công Vụ Các Sứ Đồ: Vấn Đề Tiền Lệ Lịch Sử
    (Historical Precedent)
    Ở nghĩa nào đó, viết riêng một chương về sách Công Vụ Các Sứ Đồ là thừa, vì hầu hết những gì đã nói trong chương trước đều có thể được áp dụng ở đây. Tuy nhiên, vì một lý do thực tế trong việc giảng kinh, sách Công Vụ đòi hỏi một chương riêng biệt. Lý do rất đơn giản, đó là phần đông các tín hữu không đọc sách Công Vụ giống như cách họ đọc sách Các Quan Xét hoặc II Sa-mu-ên, ngay cả khi họ không hoàn toàn nhận thấy điều đó.
    Khi chúng ta đọc các truyện ký trong Cựu Ước, chúng ta có xu hướng làm những điều đã được đề cập ở chương trước, tức là đạo đức hóa, hình bóng hóa, cố tìm các ẩn ý v.v… Rất ít khi chúng ta nghĩ rằng các câu chuyện này phải được dùng làm mẫu mực cho hành vi Cơ Đốc hoặc cho sinh hoạt trong Hội Thánh. Chúng ta cũng chẳng bao giờ làm đúng y như một số ít trường hợp đã xảy ra - thí dụ như đặt một lốt chiên để tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Chúng ta chẳng bao giờ trải ra một lốt chiên thật để Đức Chúa Trời khiến nó khô hay ướt. Trái lại, chúng ta “thử” Đức Chúa Trời bằng cách đặt ra một loạt hay nhiều loạt tình huống. “Nếu trong tuần này có ai đó từ California gọi điện thoại cho chúng ta, thì chúng ta tin rằng đó là cách Đức Chúa Trời dùng để bảo chúng ta rằng Ngài muốn chúng ta đi California.” Và chẳng bao giờ, theo “khuôn mẫu” này, chúng ta cho rằng hành động của Ghê-đê-ôn là không đúng, bởi vì hành động ấy chứng tỏ ông thiếu tin cậy vào lời Đức Chúa Trời đã phán với ông.
    Hiếm khi chúng ta nghĩ rằng các câu chuyện lịch sử trong Cựu Ước là những tiền lệ trong Kinh Thánh cho cuộc đời chúng ta. Mặt khác, đây là cách bình thường khi đọc sách Công Vụ. Chẳng những sách này kể lại cho chúng ta lịch sử của Hội Thánh nguyên thủy, mà còn được dùng như một mẫu mực cho Hội Thánh thuộc mọi thời đại noi theo. Đây chính là chỗ khó khăn khi chúng ta giảng kinh.
    Nói chung, phần lớn các nhóm Tin Lành thuần túy (evangelical) đều có tinh thần của “phong trào phục hồi.” Chúng ta thường nhìn lui về Hội Thánh và từng trải Cơ Đốc nhân hồi thế kỷ thứ nhất, hoặc xem đó như một mẫu mực phải được phục hồi, hoặc như một lý tưởng cần phải noi theo. Chẳng hạn chúng ta vẫn thường nói đại khái “sách Công Vụ dạy chúng ta rõ ràng rằng...” Tuy nhiên, dường như điều hiển nhiên là không phải tất cả “những lời dạy rõ ràng” đều rõ ràng như nhau cho tất cả mọi người.
    Thật ra, chính việc giảng kinh thiếu chính xác về sách Công Vụ đã dẫn tới nhiều chia rẽ trong Hội Thánh. Những điểm dị biệt như có thể làm phép báp-tem cho trẻ con hay chỉ cho các tín hữu trưởng thành, Hội Thánh theo quy chế hội chúng hay giám mục, cần phải dự tiệc thánh mỗi Chúa nhật hay không, việc chọn các chấp sự bằng lá phiếu của cả hội chúng, việc bán đi mọi tài sản và xem tất cả là của chung, và cả đến nghi thức bắt rắn cũng đều được hậu thuẫn toàn phần hoặc một phần dựa vào sách Công Vụ.
    Chủ đích của chương này là đưa ra vài gợi ý về việc giảng kinh đối với vấn đề các tiền lệ trong Kinh Thánh. Do đó, điều được nói ra đây cũng sẽ áp dụng cho tất cả các câu chuyện lịch sử trong Kinh Thánh, kể cả một số tài liệu trong các sách Phúc Âm. Tuy nhiên, trước nhất ta cần tóm lược đôi điều về cách đọc và nghiên cứu sách Công Vụ.
    Trong phần thảo luận tiếp theo đây, chúng tôi sẽ có cơ hội thường xuyên đề cập đến ý định hay mục đích của Lu-ca khi viết sách Công Vụ. Điều chúng tôi muốn nhấn mạnh là Đức Thánh Linh ở đàng sau ý định của Lu-ca. Lu-ca có một số những ý thích cũng như những mối quan tâm khi viết sách Lu-ca và Công vụ, cũng như việc chúng ta “tiếp tục làm nên sự cứu chuộc mình,” nhưng “chính Đức Chúa Trời hành động trong chúng ta” (Phi Pl 2:12-13). Thế nhưng chúng tôi tin rằng Đức Thánh Linh đứng đàng sau điều khiển tất cả những điều đó.
    Giải Kinh Sách Công Vụ
    Tuy Công Vụ là một sách dễ đọc nhưng lại khó cho việc nghiên cứu theo từng nhóm. Có nhiều lý do rất khác nhau để người ta nghiên cứu sách này. Một số người rất quan tâm đến các chi tiết lịch sử của sách Công Vụ, tức những gì liên hệ đến lịch sử của Hội Thánh nguyên thủy. Nhiều người khác lại quan tâm đến biện giáo, chứng minh rằng Kinh Thánh là chân xác bằng cách cho thấy tính chính xác của Lu-ca như một sử gia. Tuy nhiên, phần đông người ta đến với sách Công Vụ là vì các lý do thuần túy tôn giáo hoặc bồi linh, muốn biết các Cơ Đốc nhân nguyên thủy là những con người như thế nào, để qua họ được khích lệ hoặc xem họ như là khuôn mẫu.
    Do đó, mối quan tâm đưa người ta đến với sách Công Vụ khiến họ đọc hoặc nghiên cứu sách này với nhiều chọn lọc. Chẳng hạn người quan tâm đến dưỡng linh thì ít chú ý lời nói của Ga-ma-li-ên trong Công Vụ 5 hơn là việc Phao-lô ăn năn quy đạo trong chương 9 hoặc việc Phi-e-rơ bị tù ở chương 12. Cách đọc hoặc nghiên cứu như thế thường khiến người ta bỏ qua các vấn đề về biên niên sử hoặc sử ký. Thí dụ khi bạn đọc mười một chương đầu, thật là khó tưởng tượng được rằng những điều Lu-ca đưa vào đây thật ra vốn đã trải dài một thời gian từ mười đến mười lăm năm.
    Do đó, điều quan tâm của chúng tôi ở đây là muốn giúp bạn đọc và nghiên cứu sách này với thái độ thật tỉnh táo, đầy cảnh giác, để bạn thấy nhìn sách công Vụ trong mối quan tâm của Lu-ca, cũng như giúp bạn nêu ra một vài loại câu hỏi mới trong lúc đọc sách ấy.
    Sách Công Vụ, Một Tác Phẩm Lịch Sử
    Phần lớn các gợi ý giải kinh nêu ra trong chương trước vẫn đúng cho sách Công Vụ. Điều quan trọng ở đây là Lu-ca vốn là một người ngoại quốc, mà phần ký thuật được linh cảm của ông đồng thời cũng là một thí dụ tuyệt vời về phương pháp viết sử của người Hi Lạp, một loại lịch sử đã bắt nguồn từ Thucydides (460-400 T.C.) và rất thịnh hành trong giai đoạn của người Hi Lạp (300 T.C. - 400 S.C.). Loại lịch sử này không chỉ đơn giản ghi lại các thành tích hay các sự việc đã xảy ra trong quá khứ theo thứ tự thời gian. Trái lại, nó đã được viết ra vừa để khuyến khích hoặc tiêu khiển, vừa để cung cấp thông tin, để dạy đạo đức, hoặc biện giáo. Lẽ dĩ nhiên việc đọc và sống với các câu chuyện của Cựu Ước đã ảnh hưởng trên Lu-ca trong khi ông kể lại câu chuyện về Cơ Đốc giáo nguyên thủy trong quyển sách lịch sử tôn giáo được linh cảm này.
    Như thế, hai sách của Lu-ca (Lu-ca và Công Vụ) rất phù hợp với cả hai loại lịch sử đó. Một mặt, chúng đặc biệt dễ đọc, mặt khác, do theo đúng cả hai cách viết sử hoàn hảo nhất của người Hi Lạp và của Cựu Ước, Lu-ca không chỉ quan tâm đến thông tin hoặc tiêu khiển. Có hành động thiên thượng của Đức Chúa Trời xuyên suốt câu chuyện và Lu-ca mong muốn độc giả của ông hiểu được điều này. Với ông, hoạt động của Đức Chúa Trời bắt đầu với Chúa Giê-xu và tiếp tục qua trung gian chức vụ của Đức Thánh Linh trong Hội Thánh như là phần nối tiếp câu chuyện của Đức Chúa Trời đã bắt đầu trong Cựu Ước. Do đó, chú ý đến các mối quan tâm thần học của Lu-ca là điều rất quan trọng khi bạn đọc hay nghiên cứu sách Công Vụ. Cho nên, giải nghĩa sách Công Vụ bao gồm không những chỉ có các vấn đề thuần túy lịch sử như “đã có gì xảy ra” mà thôi, nhưng còn có cả các vấn đề thần học như “Lu-ca có mục đích gì khi ông chọn lọc và sắp xếp tài liệu như vậy” nữa.
    Vấn đề ý định của Lu-ca là vấn đề quan trọng nhất và cũng khó khăn nhất. Quan trọng nhất vì nó có tính cách quyết định cho việc giảng kinh của chúng ta. Nếu ta có thể chứng minh rằng ý định của Lu-ca trong sách Công Vụ là đưa ra một mẫu mực cho Hội Thánh vào mọi thời đại, thì chắc chắn mẫu mực đó sẽ trở thành khuôn thước, nghĩa là điều mà Đức Chúa Trời đòi hỏi đối với toàn thể các Cơ Đốc nhân dưới mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh. Nhưng nếu ý định của ông là một điều gì khác, thì chúng ta cần đặt ra các vấn đề giảng kinh khác đi. Tuy nhiên, muốn tìm được ý định của Lu-ca là điều rất khó, một phần vì chúng ta chẳng biết Thê-ô-phi-lơ là ai, mà cũng không biết tại sao Lu-ca lại viết sách này cho ông ta, và một phần là vì dường như Lu-ca cũng còn có nhiều mối quan tâm khác nữa.
    Tuy nhiên, vì việc nắm vững mục đích của Lu-ca rất quan trọng đối với việc giảng kinh nên bạn cần thường xuyên lưu ý vấn đề này mỗi khi đọc hoặc nghiên cứu theo mức độ giải kinh. Trên một phương diện, việc này rất giống với việc suy nghĩ theo từng phân đoạn khi giải nghĩa các thư tín. Nhưng trong trường hợp ở đây, việc này không dừng ở các phân đoạn nhưng nhìn toàn thể câu chuyện và những phần của quyển sách.
    Cho nên khi giải kinh, chúng ta cần quan tâm đến điều gì lẫn tại sao. Như chúng ta đã biết, chúng ta phải bắt đầu với điều gì trước khi đặt câu hỏi tại sao.
    Bước Thứ Nhất
    Điều đầu tiên ta phải làm là đọc, tốt nhất là đọc trọn cả sách một lần. Trong khi đọc, bạn cần tập thói quen đưa ra các nhận xét và đặt câu hỏi. Việc nhận xét và đặt câu hỏi trong khi bạn đọc sách Công Vụ thường gặp trở ngại là vì câu chuyện cứ càng lúc càng lôi cuốn nên chúng ta thường quên đặt câu hỏi giải kinh.
    Cho nên, nếu chúng tôi cần cho bạn một bài tập nữa ở đây, thì đây là bài tập: (1) Hãy đọc sách Công Vụ từ đầu chí cuối luôn một lần hoặc chia làm hai lần. (2) Trong khi đọc, nên lưu ý trong trí những điểm như các nhân vật và địa điểm then chốt, các chủ đề được nhắc đi nhắc lại (Lu-ca thật sự quan tâm đến điều gì?), và bố cục tự nhiên của sách. (3) Bây giờ hãy quay lại và đọc qua thật nhanh, bỏ qua các đoạn không quan trọng, và ghi ra những nhận xét trước đó của bạn. (4) Hãy tự hỏi: Tại sao Lu-ca lại viết sách này?
    Vì sách Công Vụ là sách duy nhất thuộc loại này trong cả Tân Ước, chúng tôi xin hướng dẫn bạn đọc và nghiên cứu sách này cách cụ thể hơn.
    Tổng Quan Về Sách Công Vụ
    Chúng ta bắt đầu tìm hiểu điều gì bằng cách ghi nhận bố cục tự nhiên của sách Công Vụ theo như cách Lu-ca trình bày cho chúng ta. Sách Công Vụ thường chia phần căn cứ trên mối quan tâm của Lu-ca vào Phi-e-rơ (các chương 1-12) và Phao-lô (13-28), hoặc vào sự bành trướng của Phúc Âm về phương diện địa lý (1-7, Giê-ru-sa-lem; 8-10 Sa-ma-ri và Giu-đê; 11-28 cho đầu cùng đất). Tuy cả hai cách chia phần này đều có thể nhận thấy được ngay theo nội dung đích thực của sách, hãy còn một đầu mối nữa đã được chính Lu-ca đưa ra, dường như để buộc chặt tất cả lại với nhau càng rõ ràng hơn. Trong khi đọc, bạn cần chú ý những câu tóm tắt ngắn gọn trong Cong Cv 6:7; 9:31; 12:24; 16:5; 19:20. Trong tất cả các trường hợp, câu chuyện dường như dừng lại một chút trước khi chuyển sang một hướng mới ở dạng nào đó. Căn cứ vào đầu mối này, sách Công Vụ có thể được xem như gồm có sáu phần, hay sáu nhóm làm cho câu chuyện diễn tiến liên tục từ môi trường Do Thái giáo tại Giê-ru-sa-lem với Phi-e-rơ là nhân vật lãnh đạo, tới một Hội Thánh mà người Dân Ngoại chiếm ưu thế mà Phao-lô là nhân vật lãnh đạo, và Rô-ma, thủ đô của thế giới Dân Ngoại, là mục tiêu. Câu chuyện chấm dứt khi Phao-lô đến Rô-ma, nơi mà một lần nữa ông lại quay trở lại với Dân Ngoại vì họ sẽ chịu nghe (28:28).
    Vậy trong khi đọc, bạn cần chú ý xem mỗi phần đã đóng góp vào “biến chuyển” này như thế nào. Bằng lời lẽ của riêng bạn, hãy cố gắng mô tả từng nhóm một, cả về nội dung lẫn về phần đóng góp của nó cho biến chuyển đó. Điều gì có vẻ như là chìa khóa cho mỗi đợt tiến về phía trước? Sau đây là phần ghi nhận của chúng tôi:
    1:1-6:7. Mô tả về Hội Thánh đầu tiên tại Giê-ru-sa-lem, những bài giảng đầu tiên, cuộc sống chung, sự bành trướng và khởi sự bị chống đối. Lưu ý tất cả những gì mang tính Do Thái giáo, kể cả các bài giảng, sự chống đối và sự kiện các tín hữu đầu tiên vẫn tiếp tục hội họp tại đền thờ và các nhà hội. Phần này kết thúc với câu chuyện cho thấy một sự phân rẽ khởi mầm giữa các tín hữu nói tiếng Hi Lạp với các tín hữu nói tiếng A-ram.
    6:8-9:31. Mô tả sự bành trướng địa lý đầu tiên do các Cơ Đốc nhân người Do Thái nói tiếng Hi Lạp lan rộng đến những người Do Thái bị tan lạc hay những người “gần như là Do Thái” (người Sa-ma-ri và người nhập giáo Do Thái). Lu-ca cũng nói đến việc Phao-lô ăn năn quy đạo. Ông vốn là (1) người Do Thái nói tiếng Hi Lạp, (2) một người Do Thái chống lại đạo, và (3) là nhân vật sẽ lãnh đạo việc bành trướng Phúc Âm đến với dân ngoại. Việc Ê-tiên bị tử đạo là chìa khóa cho đợt bành trướng đầu tiên này.
    9:32-12:24. Mô tả sự bành trướng đầu tiên đến cho dân ngoại. Chìa khóa là việc Cọt-nây ăn năn quy đạo, mà câu chuyện đã được kể lại đến hai lần. Câu chuyện cho thấy việc ăn năn quy đạo của Cọt-nây là một hành động trực tiếp của Đức Chúa Trời, bấy giờ Ngài vẫn chưa sử dụng người Do Thái nói tiếng Hi Lạp vì như thế có thể bị nghi ngờ, nhưng đã dùng Phi-e-rơ, là vị lãnh đạo được thừa nhận giữa vòng tín hữu Cơ Đốc Do Thái. Phần này cũng bao gồm câu chuyện của Hội Thánh tại An-ti-ốt, nơi việc ăn năn quy đạo của người ngoại quốc giờ đây được người Do Thái nói tiếng Hi Lạp chủ ý thực hiện.
    12:25-16:5. Mô tả lần bành trướng đầu tiên về mặt địa lý vào thế giới Dân Ngoại, với sự lãnh đạo của Phao-lô. Giờ đây, người Do Thái thường chối bỏ Phúc Âm vì Phúc Âm tiếp nhận cả Dân Ngoại. Hội Thánh họp hội nghị và không loại bỏ các anh chị em là Dân Ngoại, cũng không áp đặt các đòi hỏi của Do Thái giáo trên họ là điểm quan trọng nhờ đó Phúc Âm tự do bành trướng sang các nước khác.
    16:6-19:20. Mô tả sự bành trướng càng xa hơn về hướng Tây của Phúc Âm sang thế giới Dân Ngoại, giờ đây đã sang tận Âu châu. Người Do Thái vẫn khước từ nhưng Dân Ngoại thì đón nhận Phúc Âm.
    19:21-28:30. Mô tả các biến cố khiến Phao-lô và Phúc Âm được chuyển đến Rô-ma, nhấn mạnh đến những lần xét xử Phao-lô, trong đó ba lần ông được tuyên bố là vô tội, chẳng làm gì sai quấy cả.
    Thử đọc Công Vụ theo bố cục này và để ý đến “chuyển biến” như trên để xem bạn có nắm được những gì đang xảy ra hay không. Trong khi đọc chắc bạn sẽ thấy rằng cách mô tả của chúng tôi về phần nội dung bị thiếu mất yếu tố then chốt, đó là vai trò của Đức Thánh Linh trong tất cả mọi việc này. Có lẽ bạn đã lưu ý rằng tại tất cả các mối nối mấu chốt, trong từng nhân vật chủ chốt, Đức Thánh Linh đều giữ vai trò lãnh đạo tuyệt đối. Theo Lu-ca, toàn thể diễn tiến này đã không xảy ra do ý đồ của con người, nó xảy ra vì Đức Chúa Trời muốn như thế và vì Đức Thánh Linh đã thực hiện nó.
    Mục Đích của Lu-Ca
    Chúng ta phải cẩn thận, đừng di chuyển quá dễ dàng từ cái nhìn bao quát này về những gì Lu-ca đã làm sang một phát biểu quá dễ dãi hay giáo điều về mục đích được linh cảm của ông liên hệ đến tất cả mọi việc đã xảy ra. Nhưng thiết tưởng cần có một vài nhận xét, một phần dựa vào những gì Lu-ca đã không làm.
    1. Chìa khóa để hiểu sách Công Vụ dường như nằm trong mối quan tâm của Lu-ca trong diễn tiến của Phúc âm được điều động bởi Đức Thánh Linh từ căn cứ Giê-ru-sa-lem, với những bắt đầu nhuốm màu Do Thái cho đến khi nó lan tràn khắp thế giới, với hiện tượng Dân Ngoại chiếm ưu thế. Nếu chỉ dựa trên cơ sở cấu trúc và nội dung, bất cứ một khẳng định nào về mục đích mà không gồm luôn sứ mạng truyền giáo cho Dân Ngoại và vai trò của Đức Thánh Linh trong sứ mạng ấy, đều chắc chắn là đã đi lạc mục đích của sách này.
    2. Mối quan tâm vào “diễn tiến” này còn được hậu thuẫn thêm bởi những gì Lu-ca không nói cho chúng ta biết. Thứ nhất, ông đã không quan tâm đến cuộc đời của các sứ đồ, tức là tiểu sử của họ. Gia-cơ là người duy nhất mà chúng ta được biết là đã qua đời như thế nào (Cong Cv 12:2). Khi câu chuyện bắt đầu chuyển hướng đến Dân Ngoại, thì Phi-e-rơ không còn xuất hiện trong câu chuyện nữa, ngoại trừ trong chương 15 chỗ ông chứng thực sứ mạng truyền giáo cho người ngoại quốc. Trừ Giăng ra, thậm chí các sứ đồ khác đã không được đề cập, và mối quan tâm của Lu-ca vào Phao-lô hầu như hoàn toàn là vì cớ sứ mạng truyền giáo cho Dân Ngoại.
    Thứ hai, ông không quan tâm hoặc quan tâm rất ít đến cách tổ chức hay chính sách của Hội Thánh. Bảy nhân vật trong chương 6 đã không được gọi là chấp sự, và đã sớm rời Giê-ru-sa-lem. Lu-ca chẳng bao giờ cho chúng ta biết tại sao hoặc cách nào việc đó xảy ra, khiến Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem được chuyển từ quyền lãnh đạo của Phi-e-rơ và các sứ đồ sang cho Gia-cơ là em trai Chúa Giê-xu (12:17; 15:13; 21:18); ông cũng chẳng bao giờ giải thích các chi hội địa phương đã được tổ chức như thế nào về các phương diện chính sách hay lãnh đạo, ngoại trừ bảo rằng các “trưởng lão” đã được “chỉ định” (14:23).
    Thứ ba, không đề cập đến sự bành trướng về địa lý nào khác, ngoại trừ con đường duy nhất trực tiếp đi từ Giê-ru-sa-lem đến Rô-ma. Không đề cập đến đảo Cơ-rết (Tit Tt 1:5) xứ Y-ly-ri (RoRm 15:19, Nam Tư ngày nay) hoặc xứ Bông, Cáp-ba-đốc và Bi-thi-ni (IPhi 1Pr 1:1), không đề cập đến việc Hội Thánh bành trướng sang hướng Đông đến vùng Lưỡng Hà hoặc xuống phía Nam, sang Ai Cập.
    Tất cả những điều trên đây nói lên rằng lịch sử Hội Thánh không phải là lý do khiến Lu-ca viết sách Công Vụ.
    3. Mối quan tâm của Lu-ca dường như cũng không phải là nhằm tiêu chuẩn hóa mọi sự việc, biến mọi sự trở thành đồng nhất với nhau. Khi ông chép lại việc ăn năn quy đạo của các cá nhân, thường có liên quan đến hai yếu tố: ân tứ của Đức Thánh Linh và phép báp-tem bằng nước. Nhưng hai việc này có thể theo thứ tự trái ngược nhau, có hoặc không có việc đặt tay, có hoặc không có đề cập việc nói các thứ tiếng, và càng ít đề cập hơn nữa việc ăn năn hối cải, cả sau những gì Phi-e-rơ đã nói trong Cong Cv 2:38-39. Tương tự, Lu-ca không nói cũng không ngụ ý rằng các Hội Thánh Dân Ngoại cùng chia sẻ đời sống chung giống như Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem trong 2:42-474:32-35. Sự khác nhau đó có lẽ hàm ý rằng không một gương mẫu cụ thể nào được ấn định để làm kiểu mẫu cho từng trải Cơ Đốc hoặc sinh hoạt của Hội Thánh.
    Nhưng phải chăng Lu-ca đã không cho chúng ta biết điều gì khi ký thuật các câu chuyện cụ thể này? Không nhất thiết như thế. Vấn đề là, Lu-ca muốn nói gì với các độc giả đầu tiên của ông?
    4. Tuy nhiên, chúng tôi tin rằng phần lớn những gì Lu-ca viết trong sách Công Vụ là để dùng làm kiểu mẫu. Nhưng kiểu mẫu không có nhiều trong những sự việc cụ thể cho bằng trong bức tranh toàn diện. Đức Chúa Trời đã cảm động Lu-ca sắp xếp và ký thuật phần lịch sử này, dường như để chúng ta thấy sự kiện Phúc Âm đã lan rộng với niềm vui đắc thắng vào thế giới Dân Ngoại bởi quyền năng của Đức Thánh Linh và kết quả là nhiều đời sống và các cộng đồng địa phương được thay đổi chính là ý định của Đức Chúa Trời và Ngài muốn Hội Thánh cứ tiếp tục như thế. Vì đó là ý định của Đức Chúa Trời đối với Hội Thánh nên chẳng có gì ngăn trở được, kể cả Tòa Công Luận lẫn nhà hội Do Thái, cả sự bất hòa lẫn đầu óc hẹp hòi, cả tù ngục lẫn các âm mưu. Cho nên, rất có thể ý định của Lu-ca là Hội Thánh phải “giống như vậy” nhưng theo nghĩa rộng, không phải rập khuôn theo bất cứ một gương mẫu cụ thể riêng biệt nào.
    Một Bài Giải Kinh Mẫu
    Với phần nội dung khái quát và cái nhìn tạm thời vào vấn đề trước mắt, chúng ta sẽ khảo xét hai phần ký thuật trong Cong Cv 6:1-78:1-25, và lưu ý các vấn đề giải kinh mà ta cần học đặt câu hỏi cho sách Công Vụ.
    Như việc vẫn luôn luôn phải làm, ta sẽ bắt đầu đọc sách được chọn và văn mạch cận tiếp của nó vài lần. Cũng như với các thư tín, các câu hỏi liên quan đến văn mạch mà bạn phải luôn luôn đặt ra trong sách Công Vụ là: Luận điểm (vấn đề) của phần ký thuật hay bài giảng này là gì? Nó đóng vai trò gì trong toàn bộ câu chuyện của Lu-ca? Tại sao ông lại đặt nó vào đây? Bạn thường có thể tạm thời trả lời cho câu hỏi này sau một hoặc hai lần đọc kỹ. Tuy nhiên, đối với sách Công Vụ, nhiều khi bạn cần phải đọc thêm các tài liệu bên ngoài nữa để trả lời một số câu hỏi về nội dung trước khi có thể tin chắc rằng mình đã đi đúng hướng.
    Chúng ta bắt đầu với 6:1-7. Đoạn này có chức năng gì trong toàn bộ bức tranh? Có thể nói ngay hai điều. Một là, nó dùng để kết thúc cho phần thứ nhất, 1:1-6:7 hai là nó cũng được dùng để chuyển tiếp sang phần thứ hai, 6:8-9:31. Hãy chú ý cách Lu-ca thực hiện việc này. Mối quan tâm của ông trong 1:1-6:7 là đưa ra cho chúng ta một bức tranh về cả sinh hoạt của cộng đồng nguyên thủy lẫn sự bành trướng của nó tại trong Giê-ru-sa-lem. Phần ký thuật này (6:1-7) gồm cả hai nét đặc trưng đó. Nó cũng ám chỉ sự căng thẳng đầu tiên bên trong cộng đồng, một sự căng thẳng dựa trên những dòng truyền thống trong Do Thái giáo giữa người Do Thái Giê-ru-sa-lem (nói tiếng A-ram) và những người Do Thái nước ngoài (nói tiếng Hy-lạp). Trong Hội Thánh, sự căng thẳng này đã được khắc phục bởi việc chính thức thừa nhận quyền lãnh đạo đã bắt đầu xuất hiện giữa vòng Cơ Đốc nhân Do Thái nói tiếng Hi Lạp.
    Sở dĩ chúng tôi viết câu cuối cùng cách đặc biệt như thế vì ở đây ta còn phải đọc số tác phẩm bên ngoài liên quan đến bối cảnh lịch sử. Bằng cách đào hơi sâu một chút (đọc các bài viết trong các Thánh Kinh Tự Điển về “các chấp sự” và “người Hi Lạp gốc Do Thái,” các bộ sách giải kinh và các sách về bối cảnh lịch sử như quyển Jerusalem in the Time of Jesus của J. Jeremias (Philadelphia: Fortress, 1967), bạn có thể khám phá ra các sự kiện quan trọng sau đây:
    1. Người Hê-lê-nít hầu như chắc chắn là những người Do Thái nói tiếng Hi Lạp, nghĩa là những người Do Thái tản lạc bây giờ đang sống tại Giê-ru-sa-lem.
    2. Nhiều người Hê-lê-nít như thế đã trở về Giê-ru-sa-lem vào những năm cuối đời để chết và được chôn gần núi Si-ôn. Vì họ không phải là những người quê quán tại Giê-ru-sa-lem, nên sau khi chết, các quả phụ của họ đã không được trợ cấp thường xuyên.
    3. Các quả phụ này được trợ cấp nhu yếu phẩm hằng ngày; việc trợ cấp này gây túng thiếu nghiêm trọng tại Giê-ru-sa-lem.
    4. Theo Cong Cv 6:9, rõ ràng những người Do Thái nói tiếng Hi Lạp này có nhà hội riêng mà cả Ê-tiên lẫn Sau-lơ vốn người Tạt-sơ (xứ Si-li-si nói tiếng Hi Lạp, c.9) đều là thành viên.
    5. Chứng cứ 6:1-15 cho biết Hội Thánh đầu tiên mạnh mẽ xâm nhập vào nhà hội này - hãy lưu ý việc đề cập “những người góa bụa của họ,” sự kiện tất cả bảy người được chọn để lo vấn đề này đều có tên Hi Lạp và sự phản đối kịch liệt đó vốn từ nhà hội của những người Do Thái tản lạc.
    6. Cuối cùng, bảy người được chọn đã không hề được gọi là “chấp sự.” Họ chỉ được gọi là “bảy người” (21:8), và công việc của họ trông coi việc trợ cấp thực phẩm hàng ngày cho các quả phụ người Do Thái nói tiếng Hi Lạp mà thôi, nhưng hai người trong số đó rõ ràng cũng là những người rao giảng Lời Chúa nữa (Ê-tiên, Phi-líp).
    Kiến thức về nội dung này sẽ đặc biệt giúp chúng ta hiểu rõ ý nghĩa của những việc tiếp theo. Vì trong 6:8-8:1, Lu-ca tập trung chú ý vào một trong số Bảy Người như nhân vật chủ chốt trong việc bành trướng đầu tiên ngoài thành phố Giê-ru-sa-lem. Ông cho chúng ta biết rằng việc Ê-tiên bị tử đạo đã đưa đến kết quả này (8:1-4). Chắc bạn cũng chú ý khúc sách trước đó cho thấy cộng đồng các Cơ Đốc nhân nói tiếng Hi Lạp tại Giê-ru-sa-lem quan trọng cho kế hoạch của Đức Chúa Trời như thế nào. Họ bị bắt buộc phải rời bỏ Giê-ru-sa-lem vì bị bắt bớ, nhưng dù sao họ không phải là những người quê quán tại đó. Cho nên họ chỉ đơn giản ra đi để truyền giảng Lời Chúa “khắp miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri.”
    Do đó, phần ký thuật trong 6:1-7 được viết không phải để chúng ta biết về tổ chức đầu tiên của Hội Thánh gồm có hàng giáo phẩm và các chấp sự nhưng chỉ nhằm trình bày bối cảnh của cuộc bành trướng đầu tiên của Hội Thánh ra ngoài thành phố Giê-ru-sa-lem mà thôi.
    Phần ký thuật trong 8:5-25 thuộc một loại khác. Ở đây chúng ta có câu chuyện về lần bành trướng đầu tiên của Hội Thánh nguyên thủy. Phần này đặc biệt quan trọng vì nó hàm chứa nhiều khó khăn khi giải kinh và gây tranh luận trong việc giảng kinh.
    Để bắt đầu thực hiện công tác giải kinh cách cẩn thận, việc đọc đi đọc lại đoạn kinh văn nhiều lần và ghi ra những nhận xét là điều bắt buộc. Trong trường hợp này, cần nắm được phần trả lời cho câu hỏi điều gì của câu chuyện, cố tìm cách nêu nó ra bằng lời lẽ của riêng bạn. Các nhận xét của chúng ta có thể tóm tắt như sau:
    Không cần quanh co, câu chuyện kể lại cho chúng ta về chức vụ mà Phi-líp đã thực hiện lần đầu tiên trong xứ Sa-ma-ri, kèm theo là việc chữa bệnh và đuổi quỉ (8:5-7). Nhiều người Sa-ma-ri đã trở thành Cơ Đốc nhân, vì họ đã tin và chịu báp-tem. Có nhiều phép lạ đầy quyền năng, đến nỗi Si-môn, một thuật sĩ hành nghề phù phép cũng tin nữa (8:9-13). Khi Hội Thánh tại Giê-ru-sa-lem nghe về hiện tượng đó, đã sai Phi-e-rơ và Giăng đến, và chỉ đến lúc đó người Sa-ma-ri mới nhận được Đức Thánh Linh (8:14-17). Bấy giờ, Si-môn muốn trở thành người phục vụ Chúa bằng cách mua điều mà Phi-e-rơ và Giăng đang có. Rồi Phi-e-rơ quở trách Si-môn. Nhưng căn cứ vào câu trả lời cuối cùng của Si-môn (8:24) thì ta không rõ ràng ông ta có ăn năn hay phải nhận lấy sự trừng phạt mà Phi-e-rơ đã nói (8:20-23).
    Cách Lu-ca đan kết câu chuyện với nhau cho thấy rõ có hai mối quan tâm nổi bật: việc ăn năn quy đạo của người Sa-ma-ri và vấn đề của Si-môn. Việc giải thích hai vấn đề này chủ yếu nẩy sinh từ kiến thức và niềm tin của người giải kinh. Họ có xu hướng nghĩ rằng mọi việc đáng lẽ đã không xảy ra như thế. Vì Phao-lô dạy rằng nếu không có Đức Thánh Linh thì người ta không thể nào trở thành Cơ Đốc nhân được, thì làm thế nào các tín hữu này lại vẫn chưa được nhận lãnh Thánh Linh? Còn về Si-môn thì sao? Ông ta là một tín hữu thật sự bị “sa ngã” hay ông ta chỉ mới xưng nhận mà chưa có được đức tin để được cứu?
    Có lẽ vấn đề đích thực xuất phát từ sự kiện chính Lu-ca không cố tìm cách làm mọi sự hài hòa cho chúng ta. Thật khó khi đọc một khúc sách như thế mà không có thiên kiến trước, và chúng tôi, các tác giả của quyển sách này, cũng không được miễn trừ. Tuy nhiên, chúng tôi cũng cố tìm hiểu nó theo quan điểm của Lu-ca. Khi trình bày câu chuyện này thì đâu là mối quan tâm của ông? Nó giữ vai trò nào trong toàn bộ mối quan tâm của ông?
    Về việc người Sa-ma-ri ăn năn quy đạo, có hai việc dường như có ý nghĩa đối với ông: (1) Sứ mạng truyền giáo cho xứ Sa-ma-ri được thực hiện bởi một người Hy Lạp gốc Do Thái hoàn toàn nằm ngoài ý định hoặc chương trình của các sứ đồ. (2) Tuy nhiên, điều quan trọng các độc giả của Lu-ca cần biết là sứ mạng ấy đã được cả Đức Chúa Trời lẫn các sứ đồ tán thành, như đã được chứng minh bằng việc Đức Thánh Linh đã bị cầm giữ lại, đợi cho đến khi có sự đặt tay của các sứ đồ. Điều này phù hợp với toàn bộ mối quan tâm của Lu-ca nhằm chứng minh rằng công tác truyền giáo của người Hê-lê-nít không phải là một phong trào độc lập hay phi chính thống, mặc dầu nó không xuất hiện từ bất cứ hội nghị sứ đồ nào về tăng trưởng Hội Thánh.
    Tuy chúng ta không thể chứng minh việc này vì đoạn văn không cho chúng ta biết và nó nằm ngoài các mối quan tâm của Lu-ca, dường như điều đã bị giữ lại cho tới khi Phi-e-rơ và Giăng đến là chứng cứ ân tứ có thể thấy được của sự hiện diện của Đức Thánh Linh. Chúng tôi gợi ý như thế vì ba lý do: (1) Tất cả những gì đã được nói về người Sa-ma-ri trước khi Phi-e-rơ và Giăng đến đều đã được nói ở nhiều chỗ khác trong Công Vụ để mô tả từng trải đích thực của một Cơ Đốc nhân. Do đó, quả thật chúng phải là khởi điểm của đời sống Cơ Đốc nhân. (2) Ở nhiều chỗ khác trong Công Vụ, sự hiện diện của Đức Thánh Linh - cũng như ở đây - là yếu tố quyết định trong đời sống Cơ Đốc nhân. Làm thế nào họ lại có thể bắt đầu cuộc đời làm Cơ Đốc nhân nếu không có yếu tố quyết định đó? (3) Theo Lu-ca thì trong sách Công Vụ, sự hiện diện của Đức Thánh Linh có nghĩa là quyền năng (1:8; 6:8; 10:38) vốn thường được biểu hiện bằng một chứng cứ có thể thấy được nào đó. Cho nên, rất có thể là sự biểu hiện đầy quyền năng nhìn thấy được của Đức Thánh Linh đó vẫn chưa từng xảy ra tại Sa-ma-ri, cho nên Lu-ca mới đồng hóa nó với việc “giáng xuống” hay được “nhận lãnh” Đức Thánh Linh.
    Vai trò của Si-môn trong câu chuyện này cũng phức tạp. Tuy nhiên, có nhiều ngoại chứng cho thấy Si-môn này đã trở thành kẻ chống đối nổi tiếng của các Cơ Đốc nhân ban đầu. Vì vậy, có lẽ Lu-ca đưa phần này vào để giải thích mối liên hệ hời hợt của Si-môn với cộng đồng Cơ Đốc và để chỉ cho các độc giả của ông thấy rằng Si-môn vốn không được Đức Chúa Trời hoặc các sứ đồ chuẩn nhận. Câu nói cuối cùng của Si-môn dường như chỉ mơ hồ nếu ai đó chỉ quan tâm đến các câu chuyện ăn năn quy đạo thời kỳ đầu tiên. Thật ra thì cả câu chuyện của Lu-ca đã có thái độ tiêu cực đối với Si-môn rồi. Cho dù ông ta có thật sự được cứu hay không, nó chẳng có lợi ích nào cho phần ký thuật cả. Việc ông ta đã có một thời gian ngắn ngủi tiếp xúc với Hội Thánh, ít ra với tư cách một người tự xưng là tín hữu, mới là điều đáng quan tâm. Nhưng câu nói của Phi-e-rơ dường như phản ảnh chính nhận xét của Lu-ca về niềm tin của Si-môn - nó là giả!
    Chúng tôi thừa nhận rằng việc giải kinh theo loại theo đuổi câu hỏi điều gì và tại sao trong câu chuyện của Lu-ca không nhất thiết sẽ gây thích thú về phương diện bồi linh, nhưng có thể nói rằng đây là bước dò dẫm đầu tiên để có thể lắng nghe sách Công Vụ như Lời Đức Chúa Trời. Không phải mỗi câu trong mỗi câu chuyệnt hay mỗi bài giảng đều nhất thiết phải cố nói cho chúng ta một điều gì đó, nhưng nó góp phần vào những gì Đức Chúa Trời đang tìm cách nói như một tổng thể qua sách Công Vụ. Trong khi nghiên cứu, chúng ta có thể học được từ mỗi câu chuyện những phương cách, những con người khác nhau mà Đức Chúa Trời sử dụng để hoàn tất công việc của Ngài.
    Giảng Kinh Sách Công Vụ
    Như đã ghi nhận, ở đây chúng tôi chỉ quan tâm về một vấn đề mà thôi. Làm thế nào mỗi câu chuyện trong sách Công Vụ, hoặc bất luận một câu chuyện nào trong Kinh Thánh về vấn đề ấy, lại giữ chức năng như một tiền lệ cho Hội Thánh về sau, hay chúng có chức năng đó hay không? Nghĩa là phải chăng sách Công Vụ là Lời Chúa không những chỉ mô tả Hội Thánh đầu tiên, mà còn được xem như một qui tắc cho Hội Thánh thuộc mọi thời đại? Nếu như thế, thì làm thế nào để ta phát hiện nó hay thiết lập các nguyên tắc để giúp cho người ta nghe được Lời ấy? Tóm lại, đúng ra thì tiền lệ lịch sử có vai trò gì trong giáo lý Cơ Đốc hay trong sự hiểu biết về từng trải Cơ Đốc?
    Cần lưu ý rằng hầu như toàn thể Cơ Đốc nhân đọc Kinh Thánh đều có xu hướng xem các tiền lệ như là thẩm quyền mẫu mực trong một mức độ nào đó, nhưng rất ít khi nhất quán. Một mặt, người ta có xu hướng noi theo một số các câu chuyện để thiết lập các khuôn mẫu bó buộc, trong khi lại bỏ qua nhiều câu chuyện khác; mặt khác, nhiều khi họ lại có xu hướng tạo ra một khuôn mẫu bắt buộc trong lúc chính sách Công Vụ lại có nhiều khuôn mẫu phức tạp.
    Những gợi ý sau đây không được xem là tuyệt đối, nhưng chúng tôi mong rằng chúng sẽ giúp bạn nắm vững được vấn đề giảng kinh này.
    Một Số Nguyên Tắc Tổng Quát
    Vấn đề giảng kinh tối quan trọng ở đây là có phải các câu chuyện mô tả những gì đã xảy ra trong Hội Thánh đầu tiên cũng được xem là mẫu mực phác họa những gì phải xảy ra trong Hội Thánh hiện tại hay không? Trong sách Công Vụ, có những trường hợp nào để người ta có thể nói rằng: “Chúng ta phải làm việc này” hay ta chỉ nên nói rằng “chúng ta có thể làm việc này” hay không?
    Quan niệm của chúng tôi được nhiều người đồng ý là, “Trừ phi Kinh Thánh dạy rõ ta phải làm gì, thì một điều gì được kể lại hay được mô tả không được xem như một mẫu mực, trừ phi điều đó có thể được chứng minh trên một cơ sở khác rằng tác giả muốn nó có chức năng như thế.”
    Nói chung, những phát biểu về giáo lý phát sinh từ Kinh Thánh gồm có ba (hoặc bốn) loại: (1) Thần học Cơ Đốc (điều các Cơ Đốc nhân tin), (2) Đạo đức Cơ Đốc (cách ăn ở cư xử mà các Cơ Đốc nhân phải theo), (3) kinh nghiệm và nếp sống Cơ Đốc (việc Cơ Đốc nhân làm). Trong các loại này, ta còn có thể phân biệt hai cấp bậc của những phát biểu mà chúng tôi gọi là chủ yếu và thứ yếu. Ở cấp chủ yếu là những phát biểu giáo lý nẩy sinh từ các đề xuất hay mệnh lệnh rõ ràng của Kinh Thánh (thí dụ những gì Kinh Thánh hàm ý dạy bảo). Ở cấp bậc thứ yếu là những câu chỉ được rút ra một cách ngẫu nhiên, do hàm ý hoặc theo tiền lệ.
    Thí dụ, trong loại thần học Cơ Đốc, những câu như Đức Chúa Trời chỉ có một, Đức Chúa Trời là tình yêu, mọi người đều đã phạm tội, Chúa Cứu Thế đã chịu chết vì tội lỗi chúng ta, sự cứu rỗi là nhờ ân điển, và Chúa Cứu Thế là Đức Chúa Trời, vốn được rút ra từ những khúc sách mà chúng được truyền dạy một cách chủ ý, do đó, thuộc cấp chủ yếu. Thuộc loại thứ yếu là những câu rút ra một cách hợp lý từ các câu chủ yếu hoặc từ hàm ý của Kinh Thánh. Như sự kiện thần tánh của Chúa Cứu Thế là chủ yếu; còn hai bản tính hợp nhất với nhau như thế nào là thứ yếu.
    Ta cũng có thể phân biệt tương tự đối với giáo lý về Kinh Thánh. Đó là Lời được linh cảm của Đức Chúa Trời là chủ yếu; tính chính xác của sự mặc khải là thứ yếu. Nói như thế không phải là bảo rằng những câu thứ yếu không quan trọng. Chúng thường có ý nghĩa liên hệ với đức tin của ta đối với các câu chủ yếu. Thật vậy, giá trị thần học tối hậu của chúng có thể liên hệ với việc chúng duy trì được tình trạng thực của các câu chủ yếu như thế nào.
    Điều quan trọng cần lưu ý ở đây là hầu hết những gì mà các Cơ Đốc nhân rút ra từ Kinh Thánh như một tiền lệ đều thuộc về loại thứ ba của chúng tôi, tức là từng trải hoặc nếp sống Cơ Đốc, và bao giờ cũng thuộc cấp bậc thứ yếu. Thí dụ, việc Tiệc Thánh phải là một thực hành liên tục trong Hội Thánh, là một khẳng định thuộc cấp chủ yếu. Chính Chúa Giê-xu đã ban truyền lệnh đó; các Thư Tín và sách Công Vụ làm chứng cho nó. Nhưng mức độ phải tuân thủ nó thường xuyên như thế nào, một điểm mà các Cơ Đốc nhân có ý kiến khác nhau, vốn có cơ sở là truyền thống và tiền lệ; chắc chắn đây không phải có tính cách bó buộc. Kinh Thánh không trực tiếp bàn đến vấn đề này. Đây cũng là một trường hợp đối với sự cần thiết phép báp-tem (chủ yếu) và cách thực hiện (thứ yếu); thực hành việc “nhóm nhau lại” của các Cơ Đốc nhân (chủ yếu) và tính cách thường xuyên hoặc ngày nào trong tuần (thứ yếu). Một lần nữa, xin nhắc lại rằng nói như thế không có nghĩa là bảo rằng các câu khẳng định thứ yếu là không quan trọng. Thí dụ, chắc chắn chẳng có ai cảm thấy bị thúc ép để chứng minh không biết các Cơ Đốc nhân nên nhóm nhau lại để thờ phượng vào thứ bảy hay Chúa nhật, nhưng dầu trường hợp nào thì người ta sẽ có một quan điểm thần học theo cách thực hành của mình.
    Liên hệ mật thiết với phần thảo luận này là khái niệm về ý định. Chúng ta vẫn thường nói: “Kinh Thánh dạy chúng ta rằng...” Bình thường thì người ta nói như thế để ngụ ý rằng một điều gì đó đã được truyền dạy bằng một câu khẳng định minh nhiên. Các vấn đề liên hệ đến điều này sẽ nẩy sinh khi người ta chuyển sang lãnh vực truyện tích trong Kinh Thánh. Phải chăng một điều gì đó đã được truyền dạy chỉ đơn giản là vì nó đã được ghi chép lại - nhất là nếu nó được ghi chép lại trong trường hợp có vẻ như một điều thuận lợi?
    Có một phương châm tổng quát về giảng kinh là Lời Đức Chúa Trời được tìm thấy trong chính ý định (intent) của Kinh Thánh. Đây là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong việc giảng kinh đối với các câu chuyện lịch sử. Một sử gia đưa vào một sự việc vì nó phục vụ cho một chủ đích lớn hơn của tác phẩm của ông, nhưng nhà giải kinh lại xem sự việc đó như có giá trị dạy dỗ nằm ngoài ý định rộng lớn của sử gia đó.
    Tuy ý định bao quát được linh cảm của Lu-ca có thể là một điểm nghi vấn đối với một vài người, giả thuyết của chúng tôi, đặt cơ sở trên phần giải kinh trước đây, đó là ông đang cố tìm cách chứng minh thế nào Hội Thánh xuất hiện như một hiện tượng chủ yếu là người ngoại quốc, có tầm vóc thế giới từ các nguồn gốc có căn cứ tại Giê-ru-sa-lem, do một số tín hữu người Do Thái có xu hướng Do Thái giáo, và thế nào Đức Thánh Linh có trách nhiệm trực tiếp đối với hiện tượng cứu rỗi phổ quát nhờ ân điển mà thôi. Chủ đề cứ được lặp đi lặp lại là chẳng có gì ngăn chặn được phong trào tiến lên của Hội Thánh nhờ quyền năng của Đức Thánh Linh khiến chúng ta nghĩ rằng Lu-ca cũng có ý muốn cho các độc giả của mình thấy được đây là một kiểu mẫu. Và sự kiện sách Công Vụ được liệt vào Kinh Thánh càng khiến chúng ta suy nghĩ chắc chắn hơn nữa rằng đây chính là cách mà Hội Thánh luôn luôn muốn vươn tới - tức là một Hội Thánh truyền bá phúc âm, vui vẻ, có quyền năng Đức Thánh Linh.
    Nhưng còn các chi tiết đặc thù trong các câu chuyện này, mà chỉ khi nào họp chung tất cả lại mới giúp chúng ta thấy được ý hướng rộng lớn hơn nữa của Lu-ca, thì thế nào? Phải chăng các chi tiết ấy cũng có cùng một giá trị dạy dỗ? Phải chăng chúng cũng được dùng để làm các kiểu mẫu có tính cách bắt buộc? Chúng tôi nghĩ là không, vì về cơ bản những chi tiết như thế chỉ có tính cách phụ thuộc (incidental) nhằm dẫn tới chủ điểm của câu chuyện, và vì tính cách hàm hồ(ambiguity) của các chi tiết ấy từ câu chuyện này sang câu chuyện khác.
    Như vậy khi khảo xét Cong Cv 6:1-7, chúng ta thấy chức năng của câu chuyện này trong kế hoạch toàn diện của Lu-ca là kết luận cho phần ký thuật chính đầu tiên của ông, đồng thời cũng được dùng để giới thiệu những người Hê-lê-nít. Cũng có thể một phần ý định của Lu-ca ở đây là cho thấy giải pháp hòa giải cho sự căng thẳng đầu tiên bên trong cộng đồng Cơ Đốc giáo.
    Căn cứ theo phần ký thuật này, có lẽ chúng ta cũng tình cờ học hỏi được nhiều điều khác nữa. Thí dụ ta có thể học được rằng có một phương pháp rất hay để giữ được một nhóm thiểu số trong Hội Thánh là phải để cho nhóm người ấy được quyền tự lãnh đạo, tự chọn lấy các cấp lãnh đạo cho mình. Đó là việc họ đã thực sự làm. Vậy chúng ta có phải làm như thế không? Không nhất thiết, vì Lu-ca đã không bảo chúng ta làm thế, cũng chẳng có lý do gì để tin rằng ông đã có ý như thế khi chép lại câu chuyện này. Nhưng mặt khác, một phương thức như thế quả thật là hay, không nên bài bác.
    Luận điểm của chúng tôi là, cho dù có người cố ý góp nhặt điều gì khác từ một câu chuyện như thế, thì những điều góp nhặt được cũng chỉ là sự kiện phụ thuộc dẫn đến ý định của Lu-ca mà thôi. Nói như thế không có nghĩa là bảo rằng sự kiện đó là sai, cũng không có nghĩa là nó chẳng có giá trị thần học; nó có nghĩa là Lời Đức Chúa Trời cho chúng ta trong câu chuyện này trước hết là liên hệ với những gì mà nó chủ ý dạy dỗ.
    Căn cứ trên phần thảo luận này, các nguyên tắc liên quan đến việc giảng kinh đối với câu chuyện lịch sử được nêu ra như sau:
    1. Lời Đức Chúa Trời trong sách Công Vụ có thể được xem là khuôn mẫu cho các Cơ Đốc nhân phải liên quan trước nhất với những gì mà câu chuyện đó chủ ý dạy dỗ.
    2. Điều phụ thuộc đối với chủ đích của câu chuyện thật sự có thể phản ảnh sự hiểu biết của tác giả được linh cảm về các sự việc, nhưng nó không có cùng một giá trị dạy dỗ như điều mà câu chuyện ấy chủ ý dạy dỗ. Điều này không triệt tiêu các sự kiện phụ thuộc, cũng không có ý bảo rằng nó không có gì để nói cho chúng ta. Luận điểm ở đây là cái phụ không thể trở thành chính, tuy nó luôn luôn có thể được dùng để thêm hậu thuẫn cho một vấn đề rõ ràng được dạy ở chỗ khác.
    3. Để có giá trị như một khuôn mẫu, một tiền lệ lịch sử phải liên quan đến ý định. Nghĩa là, nếu ta có thể chứng minh rằng chủ đích của một câu chuyện nào đó là nhằm xây dựng tiền lệ, thì một tiền lệ như thế phải được xem là khuôn mẫu. Thí dụ nếu ta có thể chứng minh trên cơ sở giải kinh rằng trong 6:1-7, ý định của Lu-ca là thiết lập cho Hội Thánh một tiền lệ về việc chọn các cấp lãnh đạo, thì một tiến trình tuyển chọn như thế phải được các Cơ Đốc nhân sau này noi theo. Nhưng nếu việc thiết lập một tiền lệ không phải là ý định của câu chuyện, thì giá trị của nó như một tiền lệ cho các Cơ Đốc nhân về sau phải được xem xét phù hợp với các nguyên tắc đặc thù mà chúng tôi sẽ nói đến trong phần tiếp theo.
    Lẽ dĩ nhiên, vấn đề này cho chúng ta rất ít những gì có tính cách khuôn mẫu trong những lãnh vực rộng lớn cần quan tâm - đó là từng trải Cơ Đốc và thực hành Cơ Đốc. Chẳng có lời dạy bảo rõ ràng nào cho cách thức làm phép báp-tem, tuổi tác của người phải được làm phép báp-tem cho, không một hiện tượng ân tứ đặc thù nào phải được xem là chứng cứ hiển nhiên khi một người nhận lãnh Đức Thánh Linh, hay việc dự Tiệc Thánh thường xuyên. Đó chỉ là một vài thí dụ. Thế nhưng đây lại là các lãnh vực đã gây nhiều chia rẽ giữa các Cơ Đốc nhân với nhau. Trong những trường hợp như thế, người ta luôn luôn lý luận rằng đó chính là cách mà họ đã làm, cho dù họ có rút những cách lãnh đạo đó từ các câu chuyện của sách Lu-ca hay chỉ căn cứ vào những hàm ý rút ra từ những gì đã được viết trong các Thư tín.
    Kinh Thánh không truyền lệnh rõ ràng rằng phép báp-tem phải là nhúng cả người trong nước, hay trẻ con phải chịu phép báp-tem, hoặc tất cả những lần ăn năn quy đạo thật đều phải đầy kịch tính như việc ăn năn quy đạo của Phao-lô, cũng không dạy các Cơ Đốc nhân được phép báp-tem trong Thánh Linh phải có chứng cứ hiển nhiên là nói tiếng lạ như một công việc thứ hai của ân điển hay Tiệc Thánh phải được cử hành mỗi Chúa Nhật. Thế thì, chúng ta phải làm sao? chẳng hạn như việc làm báp-tem phải nhúng cả người trong nước? Kinh Thánh có nói gì? Trong trường hợp này, ta có thể lý luận căn cứ vào ý nghĩa của chính từ ngữ ấy, từ một phần mô tả phép báp-tem trong sách Công Vụ là “xuống nước” và “ở dưới nước lên” (Cong Cv 8:38-39), và từ cách Phao-lô ví việc chịu báp-tem với việc chết, bị chôn, rồi sống lại (RoRm 6:1-3), và việc “phỏng đoán” rằng nhúng cả người trong nước là cách báp-tem của Hội Thánh đầu tiên. Không có chỗ nào truyền lệnh chính xác như thế vì đây là một phỏng đoán.
    Mặt khác, người ta có thể nêu ra rằng do chẳng có một hồ nước để làm phép báp-tem trong chi hội địa phương của xứ Sa-ma-ri, cho nên những người chịu phép báp-tem chắc đã gặp nhiều khó khăn để có thể được nhúng cả người trong nước. Đơn giản là vì người ta không được biết cách cung ứng nước để có thể chọn việc nhúng cả người trong nước. Phải chăng họ đã được đổ nước lên người theo như Didache, cuốn cẩm nang của Hội Thánh đầu tiên ( khoảng năm 100 S.C.) gợi ý, khi không có đủ nước lạnh, nước đang chảy hoặc nước ấm, để thực hiện việc nhúng cả người trong nước? Đơn giản là chúng ta không biết. Sách Didache đã trình bày khá rõ ràng rằng dìm mình xuống nước là qui luật, nhưng cũng nói rõ là hành động quan trọng hơn là cách thức. Tuy sách Didache không phải là một tài liệu của Kinh Thánh, nhưng là một tài liệu rất cổ xưa, chính thống của Cơ Đốc giáo và có thể giúp ích cho chúng ta bằng cách chỉ ra Hội Thánh đầu tiên đã có những điều chỉnh thực tế như thế nào trong lãnh vực mà Kinh Thánh không trình bày rõ ràng. Cách thực hành bình thường (thường xuyên, đều đặn) được dùng làm mẫu mực, nhưng chỉ vì bình thường thì không thể trở thành mẫu mực được. Có lẽ chúng ta nên làm theo cách này nhưng đừng lẫn lộn cái thường làm với cái khuôn mẫu, theo nghĩa là tất cả các Cơ Đốc nhân phải làm như thế, bằng không họ là những người bất tuân Lời Đức Chúa Trời.
    Vài Nguyên Tắc Cụ Thể
    Với các nhận định tổng quát và những nguyên tắc này, chúng tôi xin nêu lên những đề nghị về việc giảng nghĩa các tiền lệ trong Kinh Thánh (the hermeneutics of Biblical precedents):
    1. Dùng lối loại suy (analogy) căn cứ trên một tiền lệ trong Kinh Thánh như là có thẩm quyền Kinh Thánh cho các hành động hiện nay, có lẽ không hề có giá trị gì cả. Thí dụ chiếc lốt chiên của Ghê-đê-ôn vẫn thường được dùng đi dùng lại để suy ra một phương pháp tương tự nhằm tìm biết ý chỉ của Đức Chúa Trời. Vì Đức Chúa Trời đã gia ân đối với việc Ghê-đê-ôn thiếu lòng tin cậy Ngài, có lẽ Ngài cũng có thể hành động như thế đối với nhiều người khác nữa, nhưng chẳng hề có một thẩm quyền hay một khuyến khích nào trong Thánh Kinh cho những hành động như thế cả.
    Cũng vậy, căn cứ trên câu chuyện Chúa Giê-xu nhận lãnh Đức Thánh Linh khi chịu phép báp-tem, hai suy luận loại suy đã được rút ra theo hai chiều hướng trái ngược nhau. Một số người thấy đây là chứng cứ hiển nhiên cho việc người tín hữu được nhận lãnh Đức Thánh Linh lúc chịu phép báp-tem và do đó suy ra rằng người ta được tái sinh lúc chịu phép báp-tem. Trái lại, nhiều người khác thấy đó là chứng cứ hiển nhiên cho một phép báp-tem bằng Đức Thánh Linh ngay sau khi được cứu (vì Chúa Giê-xu đã được sinh ra bởi Đức Thánh Linh từ trước rồi). Có lẽ ít có ai thắc mắc về việc chính Lu-ca xem biến cố này như khoảnh khắc Chúa Giê-xu được ban cho quyền năng để thi hành chức vụ công khai của Ngài (đối chiếu LuLc 4:1, 14, 18 với Cong Cv 10:38). Nhưng người ta nghi ngờ phải chăng câu chuyện cũng đóng vai trò như một suy luận loại suy cả cho các lập trường thần học về sau này, nhất là khi nó được hiểu vượt hẳn một suy luận loại suy để trở thành một hậu thuẫn Kinh Thánh cho giáo lý này hay giáo lý kia. Nếu mọi sự trong đời sống Chúa Giê-xu đều là những gì chúng ta buộc phải theo đúng thì mọi người chúng ta đều có thể trông đợi phải chịu chết bằng cực hình đóng đinh vào thập tự giá, để rồi sẽ được khiến sống lại vào ngày thứ ba.
    2. Mặc dầu có lẽ không phải là chủ đích của tác giả, các câu chuyện trong Kinh Thánh đều có giá trị minh họa, và đôi khi để làm mẫu (pattern). Thật vậy, đây chính là lý do để thỉnh thoảng nhiều người trong Tân Ước dùng vài tiền lệ lịch sử của Cựu Ước. Thí dụ Phao-lô đã dùng vài thí dụ trong Cựu Ước để cảnh cáo những kẻ quá tự tin một cách sai lầm vào việc họ đã được Đức Chúa Trời tuyển chọn (ICo1Cr 10:1-13), còn Chúa Giê-xu cũng đã dùng thí dụ của Đa-vít như một tiền lệ để biện minh cho các hành động của các môn đệ Ngài trong ngày Sa-bát (Mac Mc 2:33-38 và những chỗ chép lại cùng một câu chuyện ấy).
    Nhưng chẳng có ai trong chúng ta lại có được thẩm quyền của Đức Chúa Trời để tái sản xuất loại giải kinh và phân tích loại suy mà các tác giả Tân Ước thỉnh thoảng áp dụng cho Cựu Ước. Cần lưu ý đặc biệt trong các trường hợp khi một tiền lệ biện minh cho một hành động hiện tại, tiền lệ ấy không thiết lập một khuôn mẫu cho một hành động cụ thể.
    Người ta không thể cứ ăn bánh trên bàn bánh trần thiết hoặc bứt bông lúa mì vào ngày Sa-bát để chứng minh rằng sở dĩ ngày Sa-bát đã được thiết lập là vì loài người. Trái lại, tiền lệ ấy chỉ minh họa một nguyên tắc có liên quan với ngày Sa-bát mà thôi.
    Chúng tôi xin có lời cảnh cáo ở đây. Nếu ta muốn dùng một tiền lệ trong Kinh Thánh để biện minh cho một hành động nào đó hiện nay, ta phải có cơ sở an toàn là nguyên tắc của hành động đó đã được truyền dạy ở một chỗ nào khác, nơi đã có chủ định truyền dạy như thế. Thí dụ muốn dùng việc Chúa Giê-xu dọn sạch đền thờ để biện minh cho cái gọi là thạnh nộ công nghĩa - thường chỉ là cách nói trớ đi cơn giận ích kỷ - thì đó là lạm dụng nguyên tắc này. Mặt khác, ta có thể có cơ sở thích đáng cho kinh nghiệm hiện tại về việc nói các thứ tiếng không những chỉ dựa trên tiền lệ (trong sách Công vụ) mà thôi, nhưng cả trên lời truyền dạy về các ân tứ thuộc linh trong ICo1Cr 12:1-14:40 nữa.
    3. Trong các vấn đề về từng trải Cơ Đốc và còn nhiều hơn nữa là về nếp sống Cơ Đốc, nhiều khi các tiền lệ trong Kinh Thánh có thể được xem như những “mẫu” (patterns) có thể được lặp lại - cả khi chúng không được hiểu là qui luật (normative). Nhiều cách thực hành cho thấy rõ Hội Thánh về sau này đã lặp lại các “khuôn mẫu” (patterns) trong Kinh Thánh; nhưng không thể lý luận rằng toàn thể các Cơ Đốc nhân ở mọi nơi mọi lúc đều phải lặp lại cùng một khuôn mẫu, nếu không làm như thế là không vâng theo Lời Đức Chúa Trời. Điều này đặc biệt đúng khi chính sự thực hành là điều ràng buộc, nhưng cách thức thực hiện thì không. Cần lưu ý là không phải toàn thể các Cơ Đốc nhân đều hoàn toàn nhất trí với cách đặt vấn đề như thế này. Một số phong trào và hệ phái vốn được thiết lập một phần trên cái tiền đề rằng rõ ràng là mọi mẫu mực của Tân Ước đều phải được phục hồi càng đầy đủ càng tốt trong thời hiện đại, và qua nhiều năm, đã phát triển một nền giảng kinh đáng kể về tánh chất ràng buộc của phần lớn những điều chỉ được ký thuật trong sách Công Vụ mà thôi. Tương tự như thế, nhiều phong trào và hệ phái khác lại lý luận rằng chính Lu-ca đã muốn như thế, thí dụ như việc nhận lãnh Đức Thánh Linh phải có chứng cứ là ân tứ nói tiếng lạ kèm theo. Nhưng trong cả hai trường hợp này, cuối cùng thì vấn đề không đặt nhiều trên việc nguyên tắc này đúng hay sai, mà là trên cách giải nghĩa sách Công Vụ và ý định toàn diện - cũng như cụ thể - của Lu-ca trong cách kể chuyện của ông).
    Việc quyết định một số hành vi hay kiểu mẫu có nên lặp lại hay không cần phải theo các hướng dẫn cân nhắc sau đây. Thứ nhất, trường hợp mạnh mẽ nhất là khi nào chỉ có một kiểu mẫu đã được thiết lập mà thôi (tuy ta phải cẩn thận đừng quá im lặng), và khi nào kiểu mẫu ấy được lặp lại trong Tân Ước. Thứ hai, khi có mơ hồ về kiểu mẫu hay khi một kiểu mẫu chỉ xuất hiện có một lần duy nhất mà thôi, thì nó chỉ có thể được các Cơ Đốc nhân sau này lặp lại khi nào dường như có sự chuẩn nhận thiên thượng hay phù hợp với những gì đã được truyền dạy ở chỗ khác trong Kinh Thánh. Thứ ba, điều gì vốn hình thành từ văn hóa, thì hoặc là không thể lặp lại, hoặc phải được chuyển dịch sang một nền văn hóa mới hoặc khác biệt.
    Như thế, căn cứ trên các nguyên tắc này, ta có thể có hậu thuẫn mạnh mẽ cho việc nhúng cả người trong nước như là cách thức để thực hiện phép báp-tem, hậu thuẫn yếu hơn cho việc giữ Tiệc Thánh mỗi Chúa nhật, nhưng hầu như chẳng có hậu thuẫn nào cho việc làm phép báp-tem cho trẻ con cả (dĩ nhiên, vấn đề này có thể được lý luận căn cứ trên tiền lệ của lịch sử Hội Thánh chứ không dễ căn cứ trên tiền lệ Kinh Thánh, vốn là vấn đề ở đây). Tương tự như thế, chức năng của mục sư như một thầy tế lễ không có cơ sở Kinh Thánh.
    Chúng tôi không hề nghĩ là đã giải quyết được mọi vấn đề, nhưng nghĩ rằng đây là những gợi ý khả dĩ có thể áp dụng, và mong rằng những gợi ý này sẽ giúp bạn suy nghĩ theo phương pháp giải kinh và chính xác hơn về mặt giảng kinh, khi đọc các câu chuyện được ký thuật trong Kinh Thánh.

    Các Sách Phúc Âm: Một Câu Chuyện, Nhiều Khía Cạnh

    Giống với các Thư tín và sách Công vụ, các sách Phúc Âm thoạt nhìn có vẻ dễ giải nghĩa. Vì tài liệu trong các sách Phúc Âm đại khái gồm những lời dạy và những truyện ký, nghĩa là những lời dạy của Chúa Giê-xu và các truyện tích về Ngài, mà về mặt lý thuyết, ta có thể theo các nguyên tắc giải nghĩa các thư tín cho phần này, và các nguyên tắc giải nghĩa các phần trần thuật lịch sử cho phần kia.
    Trên một phương diện thì điều này đúng. Tuy nhiên, sự việc không phải dễ dàng như vậy. Bốn sách Phúc Âm hình thành một thể văn độc đáo, rất khó có thể so sánh với một thể văn nào khác. Tính cách độc đáo của nó mà chúng ta sẽ khảo sát ngay sau đây sẽ cho thấy phần lớn các vấn đề giải kinh của chúng ta. Bên cạnh đó cũng còn có vài khó khăn về phương diện giảng kinh. Lẽ dĩ nhiên, một số khó khăn như thế gồm cả một vài “câu nói khó hiểu” trong các sách Phúc Âm. Nhưng khó khăn chủ yếu về mặt giảng kinh là ở chỗ hiểu được “Nước của Đức Chúa Trời,” một thuật ngữ hết sức quan trọng đối với chức vụ của Chúa Giê-xu, thế nhưng đồng thời lại được trình bày bằng ngôn ngữ và các ý niệm của Do Thái giáo hồi thế kỷ thứ nhất. Vấn đề là làm sao chuyển dịch được những ý niệm ấy sang cho các bối cảnh văn hóa của chính chúng ta.
    Bản Chất Các Sách Phúc Âm
    Hầu như tất cả những khó khăn ta gặp khi giải nghĩa các sách Phúc Âm đều bắt nguồn từ hai sự kiện rõ rệt: (1) Bản thân Chúa Giê-xu không hề viết một sách Phúc Âm nào cả; các sách ấy đều do những người khác viết, chứ không phải là do chính Ngài. (2) Có đến bốn sách Phúc Âm.
    Sự kiện các sách Phúc Âm không do chính tay Chúa Giê-xu viết rất quan trọng cần lưu ý. Lẽ dĩ nhiên, nếu Ngài có viết một điều gì thì điều đó có lẽ sẽ giống các sách tiên tri của Cựu Ước hơn các sách Phúc Âm của chúng ta, chẳng hạn sẽ giống sách A-mốt, là một bộ sưu tập các lời sấm truyền và những lời phán cộng thêm một vài câu chuyện cá nhân ngắn gọn (như AmAm 7:10-17). Dĩ nhiên các sách Phúc Âm cũng có các lời truyền dạy, nhưng những lời truyền dạy đó luôn luôn được đan xen vào với phần ký thuật lịch sử cuộc đời và chức vụ của Chúa Giê-xu. Do đó, chúng không phải là những quyển sách do chính Chúa Giê-xu viết, nhưng là những quyển sách được những người khác viết về Chúa Giê-xu, đồng thời lại chứa đựng nhiều lời dạy dỗ của Ngài.
    Chúng ta không thể bỏ qua điểm khó khăn này. Tính chất của nó có lẽ được nhìn thấy rõ nhất khi lưu ý đến chỗ giống nhau về Phao-lô trong sách Công Vụ với các thư tín của ông. Thí dụ, nếu chúng ta không có sách Công Vụ, chúng ta có thể tập hợp một số yếu tố về cuộc đời của Phao-lô từ các thư tín, nhưng một cách trình bày như thế sẽ rất nghèo nàn. Cũng thế, nếu chúng ta không có các thư tín của ông, sự hiểu biết của chúng ta về nền thần học của ông chỉ căn cứ trên các bài giảng của ông trong sách Công Vụ mà thôi, cũng sẽ nghèo nàn y như thế - và có phần nào bị mất cân bằng. Do đó, muốn hiểu rõ các chi tiết then chốt trong cuộc đời Phao-lô, chúng ta đọc sách Công Vụ, rồi thêm vào đó những thông tin được nêu trong các thư tín của ông. Muốn nghiên cứu lời dạy dỗ của Phao-lô, chúng ta sẽ không đến với sách Công Vụ trước, mà đến với các thư tín, và như thế thì sách Công Vụ sẽ là một nguồn tài liệu bổ sung.
    Nhưng các sách Phúc Âm không giống sách Công Vụ vì ở đây chúng ta có cả phần ký thuật về cuộc đời Chúa Giê-xu và nhiều lời dạy của Ngài như một phần có tính cách căn bản tuyệt đối của cuộc đời Ngài. Nhưng những lời phán lại không do chính Ngài viết ra như các thư tín vốn do Phao-lô viết. Tiếng nói nguyên thủy của Chúa Giê-xu là tiếng A-ram; lời giáo huấn của Ngài chỉ đến với chúng ta qua một bản dịch Hi văn. Hơn nữa, cùng một câu thường xuất hiện ở hai hoặc ba chỗ trong các sách Phúc Âm; và cả khi nó xuất hiện trong cùng thời gian hoặc bối cảnh lịch sử, ta rất ít khi tìm thấy cùng những từ ngữ giống y nhau cho từng trường hợp.
    Với một vài người thì sự kiện này có vẻ nguy hiểm, nhưng không nhất thiết phải là như thế. Lẽ dĩ nhiên, một vài loại công trình nghiên cứu đã bóp méo sự kiện này đến độ cho rằng chẳng có gì trong các sách Phúc Âm là đáng tin cả. Nhưng thiết tưởng người ta chẳng cần phải rút ra một kết luận như thế. Bên cạnh những công trình nghiên cứu như thế cũng có những công trình nghiên cứu khác đã chứng minh cho tính đáng tin về mặt lịch sử của các tài liệu trong các sách Phúc Âm.
    Luận điểm của chúng tôi ở đây thật đơn giản. Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta những gì chúng ta cần biết về chức vụ tại thế của Chúa Giê-xu theo cách này, chứ không phải theo một cách nào khác có thể thích hợp hơn với những ai có đầu óc máy móc giống như chiếc máy ghi âm. Và trong bất cứ trường hợp nào thì sự kiện các sách Phúc Âm vốn không do chính Chúa Giê-xu viết ra mà chỉ viết về Ngài có thể được coi là một phần của các ưu điểm chứ không phải là nhược điểm.
    Rồi lại có đến bốn sách Phúc Âm. Sự việc đã xảy ra như thế nào và tại sao lại như thế? Dù sao thì chúng ta cũng đã không có đến bốn sách Công Vụ Các Sứ Đồ. Hơn nữa các tài liệu trong ba sách Phúc Âm đầu vốn thường giống nhau nên chúng ta đã gọi đó là các sách Phúc Âm Cộng Quan (có chung quan điểm, cái nhìn). Ta cũng có thể tự hỏi tại sao giữ lại sách Mác làm gì, vì số tài liệu chỉ tìm thấy trong sách Phúc Âm của ông không đủ chứa trong hai trang sách in. Nhưng một lần nữa, chúng tôi tin rằng sự kiện đã có đến bốn sách, cũng là một phần ưu điểm của chúng.
    Thế thì bản chất của các sách Phúc Âm là gì, và tại sao tính chất độc đáo của chúng lại là một phần của ưu điểm? Vấn đề này có thể được giải đáp thỏa đáng hơn bằng cách đề cập trước hết câu hỏi thứ nhất: Tại sao lại có đến bốn sách? Chúng tôi không thể đưa ra một lời đáp chắc chắn tuyệt đối cho câu hỏi này, nhưng ít nhất trong nhiều lý do, có một lý do hết sức đơn giản và thực dụng: nhiều cộng đồng Cơ Đốc giáo khác nhau đều cần có một quyển sách riêng viết về Chúa Giê-xu. Vì nhiều lý do khác nhau, một sách Phúc Âm viết cho một cộng đồng hay một nhóm tín hữu không nhất thiết đáp ứng được mọi nhu cầu của một cộng đồng khác. Cho nên một sách đã được viết trước (sách Mác, theo quan điểm phổ biến nhất) rồi sách Phúc Âm đó đã được “viết lại” hai lần (sách Ma-thi-ơ và Lu-ca) vì nhiều lý do rất khác nhau nhằm đáp ứng những nhu cầu rất khác nhau. Độc lập đối với các sách kia (một lần nữa là theo quan điểm phổ biến nhất) Giăng đã viết một sách Phúc Âm thuộc một loại khác hẳn vì một loạt các lý do khác nữa. Chúng tôi tin rằng tất cả những điều đó đều do Đức Thánh Linh hướng dẫn.
    Đối với Hội Thánh về sau, không một sách Phúc Âm nào được dùng thay thế cho một sách Phúc Âm khác, nhưng mỗi sách đều đứng bên cạnh nhau và được xem là có giá trị và thẩm quyền ngang nhau. Tại sao lại như thế? Vì trong mỗi trường hợp, Chúa Giê-xu được nhìn trên hai mức độ. Trước hết là mối quan tâm thuần túy lịch sử cho thấy Chúa Giê-xu là ai, Ngài đã dạy và làm gì. Chính Chúa Giê-xu này, Đấng đã bị đóng đinh vào thập tự giá rồi từ cõi chết sống lại, là Đấng hiện chúng ta đang thờ phượng với tư cách Chúa đã phục sinh và được tôn cao. Thứ hai là mối quan tâm hiện sinh (existential concern) kể lại chuyện tích này vì nhu cầu của các cộng đồng về sau đã không nói tiếng A-ram nhưng nói tiếng Hi Lạp; đã không sinh sống trong bối cảnh Do-thái chủ yếu là vùng thôn dã và nông nghiệp nhưng là tại Rô-ma hoặc Ê-phê-sô hay An-ti-ốt, nơi Phúc Âm tiếp xúc với môi trường thành thị và ngoại giáo.
    Do đó, trong một ý nghĩa, các sách Phúc Âm là mô hình cho chúng ta trong việc giảng kinh, mà theo bản chất là chúng ta cũng sẽ kể lại cùng một truyện tích ấy trong những hoàn cảnh của chính chúng ta trong thế kỷ thứ hai mươi.
    Các sách Phúc Âm kể lại cho chúng ta hầu như tất cả những gì chúng ta được biết về Chúa Giê-xu, nhưng không phải là những sách tiểu sử - tuy có một phần viết tiểu sử. Các sách Phúc Âm cũng không giống các quyển sách viết về “cuộc đời” của các vĩ nhân đương thời - tuy có ghi lại cuộc đời của Chúa Giê-xu là bậc vĩ nhân hàng đầu. Theo cách nói của giáo phụ Justin Martyr của thế kỷ thứ hai thì đây là những “hồi ký của các sứ đồ.” Bốn quyển sách tiểu sử không phải đứng bên cạnh nhau vì được xem như có giá trị ngang nhau nhưng vì chúng đồng loạt và đồng thời chép lại các sự kiện về Chúa Giê-xu, nhắc lại những lời phán dạy của Chúa Giê-xu, và mỗi quyển đều làm chứng cho Chúa Giê-xu. Đó là bản chất và nét độc đáo của các sách Phúc Âm, và điều này quan trọng cho việc giải kinh lẫn giảng kinh.
    Do đó, công tác giải nghĩa các sách Phúc Âm đòi hỏi chúng ta phải suy nghĩ cả về phương diện bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, lẫn phương diện bối cảnh lịch sử của các tác giả.
    Bối Cảnh Lịch Sử
    Bạn cần nhớ rằng nhiệm vụ đầu tiên của công tác giải kinh là phải chú ý đến bối cảnh lịch sử. Điều này không những chỉ có nghĩa là phải biết bối cảnh lịch sử tổng quát, nhưng phải tái tạo lại hoàn cảnh của tác giả với các dữ kiện có được. Nhiều khi điều này trở nên phức tạp vì bản chất của các sách Phúc Âm, đây là những tài liệu ở hai mức độ. Bối cảnh lịch sử trước hết có liên hệ với chính Chúa Giê-xu. Việc này gồm cả vấn đề phải ý thức về nền văn hóa và tôn giáo hồi thế kỷ thứ nhất, về Do Thái giáo tại xứ Palestine là nơi Ngài sinh sống và dạy dỗ, lẫn nỗ lực tìm hiểu phần bối cảnh cá biệt của một câu nói hay một ẩn dụ nào đó. Ngoài ra bối cảnh lịch sử còn liên quan đến cá nhân các tác giả và các lý do khiến họ viết sách Phúc Âm nữa.
    Chúng ta biết rằng tìm hiểu về các bối cảnh khác nhau này có thể là một nhiệm vụ nặng nề cho một độc giả bình thường. Hơn nữa, chúng ta cũng biết rằng trong lãnh vực này, có lẽ đang có nhiều công trình khảo cứu nhiều hơn bất cứ trong một lãnh vực nghiên cứu nào khác về Tân Ước. Tuy nhiên, bản chất của các sách Phúc Âm, như đã được xác định, là các văn kiện có hai mức độ cho dù chúng ta có thích hay không. Chúng tôi không nghĩ rằng có thể giúp các bạn trở thành chuyên gia trong các vấn đề này - dĩ nhiên là nhiều khi chúng tôi cũng nghi ngờ cả đến các “chuyên gia” nữa. Ở đây mong ước của chúng tôi chỉ đơn giản là nâng cao mức độ nhận thức của bạn để bạn sẽ có thể lãnh hội nhiều hơn về các sách Phúc Âm, cũng như có thể đối phó được những vấn đề gặp phải khi đọc các sách ấy.
    Bối Cảnh Lịch Sử của Chúa Giê-Xu - Nói Chung
    Muốn hiểu rõ về Chúa Giê-xu thì nhất định bạn phải tự dầm mình vào Do Thái giáo hồi thế kỷ thứ nhất mà Ngài là một thành viên. Điều này có nghĩa là bạn phải biết nhiều hơn việc người Sa-đu-sê không tin vào sự sống lại. Ta cần phải biết tại sao họ lại không tin như thế và tại sao Chúa Giê-xu ít khi tiếp xúc với họ.
    Về loại thông tin liên hệ đến bối cảnh này, ta chẳng còn cách chọn lựa nào đơn giản hơn là phải đọc một số tài liệu tốt từ bên ngoài. Cả ba tác phẩm sau đây đều rất có ích cho bạn trong vấn đề này: Jerusalem in the Time of Jesus của Joachim Jeremias (Philadelphia: Fortress, 1969); The New Testament Environment của Edward Lohse (Nashville, Abingdon, 1976, tt 11-196); và Jesus’s Audience của J. Duncan M. Derrett (New York: Seabury, 1973).
    Có một nét đặc trưng quan trọng của bối cảnh lịch sử nhưng lại thường bị bỏ qua liên quan với hình thức giảng dạy của Chúa Giê-xu. Ai ai cũng biết rằng Chúa Giê-xu thường giảng dạy bằng dụ ngôn (parables). Điều mà người ta ít biết đó là Ngài đã sử dụng đủ các loại của những hình thức ấy. Ví dụ, Ngài là một bậc thầy trong lối nói cường điệu (hyperbole) có mục đích. Trong Mat Mt 5:29-30 (và trong trường hợp tương tự ở Mac Mc 9:43-48) Chúa Giê-xu bảo các môn đệ Ngài hãy móc con mắt xui người ta phạm tội hoặc chặt cánh tay xui người ta phạm tội mà bỏ đi. Nhưng tất cả chúng ta đều biết rằng Chúa Giê-xu “không thật sự muốn dạy chúng ta làm như thế.” Ý Ngài muốn nói là người ta phải vứt bỏ khỏi đời sống mình những gì khiến họ phạm tội. Nhưng làm thế nào để chúng ta biết Ngài không thực sự muốn nói như thế? Vì mọi người chúng ta đều nhận ra được cách diễn đạt cường điệu là kỹ thuật dạy dỗ kiến hiệu nhất, trong đó chúng ta phải hiểu vị giáo sư điều người ấy ngụ ý chứ không phải là theo nghĩa đen những gì người ấy nói!
    Chúa Giê-xu cũng sử dụng tài tình các câu châm ngôn (thí dụ Mat Mt 6:21; Mac Mc 3:24), những ví von (similes) và ẩn dụ (metaphors) (chẳng hạn, Mat Mt 10:16; 5:13), thi ca (Mat Mt 7:6-8; LuLc 6:27-28), các câu hỏi (Mat Mt 17:25), cách nói mỉa mai (Mat Mt 16:2-3); đó là chỉ kể một vài phương pháp mà thôi. Muốn tìm hiểu thêm về vấn đề này cũng như nhiều vấn đề khác nữa trong chương này, bạn nên tìm đọc quyển The Method and Message of Jesus Teaching của Robert H. Stein (Philadelphia: Westminster, 1978).
    Bối Cảnh Lịch Sử của Chúa Giê-Xu - Nói Riêng
    Đây là điểm khó hơn trong cố gắng tái tạo bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, nhất là đối với quá nhiều lời dạy của Ngài thường được trình bày trong các sách Phúc Âm mà ta không biết nhiều về bối cảnh. Lý do là vì những lời nói và việc làm của Chúa Giê-xu được truyền miệng trong một khoảng thời gian có lẽ kéo dài đến ba mươi năm hoặc hơn, và trong giai đoạn nầy thì toàn bộ các sách Phúc Âm chưa có. Chỉ có nội dung của các sách Phúc Âm được truyền tụng qua từng câu chuyện và lời nói riêng lẻ thôi. Có rất nhiều câu nói như thế đã được truyền đi truyền lại cùng với các bối cảnh nguyên thủy của chúng. Các học giả đã phải gọi những câu chuyện được truyền đi truyền lại như thế là những câu chuyện công bố (pronouncement stories), vì chính câu chuyện sở dĩ tồn tại chỉ vì lời công bố kết luận cho nó mà thôi. Một câu chuyện dẫn đến một lời công bố điển hình là Mac Mc 12:13-17, tại đây, bối cảnh chỉ là một câu hỏi liên quan đến vấn đề nộp thuế cho người La Mã. Nó kết thúc bằng lời công bố nổi tiếng của Chúa Giê-xu: “Vật chi của Sê-sa hãy trả lại cho Sê-sa, còn vật chi của Đức Chúa Trời hãy trả lại cho Đức Chúa trời.” Bạn có tưởng tượng nổi ta có thể làm gì để tái tạo một bối cảnh nguyên thủy cho câu nói này, nếu nó đã không được truyền đi truyền lại cùng với bối cảnh nguyên thủy của nó?
    Điểm khó khăn thật sự là có rất nhiều lời nói và dạy dỗ của Chúa Giê-xu được lưu truyền mà không có bối cảnh của chúng. Phao-lô cho chúng ta thấy sự kiện này. Ba lần ông trích dẫn lời của Chúa Giê-xu (ICo1Cr 7:10; 9:14; Cong Cv 20:35) mà không hề ám chỉ đến bối cảnh lịch sử nguyên thủy của chúng - mà chúng ta cũng không mong ông làm như vậy. Trong những lời nói này, hai lời trích dẫn trong sách I Côrintô được tìm thấy trong các sách Phúc Âm. Lời nói về vấn đề li dị tìm thấy trong hai bối cảnh khác nhau (lời dạy cho các môn đồ trong Mat Mt 5:31-32, và cuộc tranh luận trong Mat Mt 10:1-19Mac Mc 10:1-12). Câu nói về “quyền được trả công” ở trong Mat Mt 10:10 và chỗ tương đương trong LuLc 10:7 có bối cảnh là sự sai phái Mười Hai Sứ Đồ (Mathiơ) và bảy mươi hai môn đồ (Luca). Nhưng ta không tìm thấy câu trích dẫn trong Công Vụ trong các sách Phúc Âm, do đó đối với chúng ta câu Kinh Thánh này hoàn toàn không có bối cảnh.
    Cho nên chẳng có gì phải ngạc nhiên khi biết rằng rất nhiều câu nói như vậy (nghĩa là không có bối cảnh) đã được cung cấp cho các tác giả sách Phúc Âm, rồi dưới quyền hướng dẫn của Đức Thánh Linh họ đã đặt những câu nói ấy vào các bối cảnh hiện tại của chúng. Đây là một trong nhiều lý do để chúng ta thường thấy cùng một câu nói hay lời dạy dỗ trong nhiều bối cảnh khác nhau của các sách Phúc Âm. Đó cũng là lý do để nhiều câu nói có các luận đề tương tự hoặc cùng một chủ đề, thường được tập họp lại theo đề mục trong các sách Phúc Âm.
    Thí dụ sách Ma-thi-ơ có năm phần sưu tập lớn theo đề mục (mỗi phần trong số này đều kết thúc bằng một câu đại khái như: “sau khi Chúa Giê-xu đã phán xong những lời này...”): đời sống trong Nước Trời (Bài giảng trên núi, các chương Mat Mt 5:1-7:29), những lời dạy dỗ cho những người phục vụ Nước Trời (10:52), các dụ ngôn về Nước Trời đang hành động trong thế gian (13:1-52), sự dạy dỗ về các mối liên hệ và kỷ luật trong Nước Trời (18:1-35), tận thế hay kết cuộc của Nước Trời (các chương 23:1-25:46).
    Căn cứ vào phần sưu tập trong chương 10:1-42, ta có thể minh họa cho các phần sưu tập trong sách Ma-thi-ơ theo hai cách: (1) Bối cảnh là chuyến truyền giáo lịch sử của Mười Hai Sứ Đồ và những lời truyền dạy của Chúa Giê-xu cho họ khi sai phái họ ra đi (c 5-12). Tuy nhiên, trong mấy câu 16-20, những lời truyền dạy vốn thuộc về một thời gian khá lâu về sau, vì trong hai câu 5-6 họ được dạy là chỉ đi đến với những con chiên lạc của nhà Y-sơ-ra-ên mà thôi, trong khi câu 18 nói tiên tri rằng họ sẽ bị giải đến trước mặt các “quan tổng đốc,” “các vua” và “các dân ngoại,” nhưng không có ai trong số này được đề cập trong chuyến truyền giáo nguyên thủy của Mười Hai Sứ Đồ. (2) Những câu nói được sắp xếp cách tinh tế này được tìm thấy rải rác trong cả sách Phúc Âm Lu-ca theo thứ tự như sau: LuLc 9:2-5; 10:3; 4:12-17; 12:11-12; 6:40; 12:2-9; 12:51-53; 14:25-27; 17:33; 18:16. Việc này gợi ý rằng Lu-ca cũng đã thu thập được phần lớn các câu nói này như những đơn vị riêng biệt, sau đó ông đã đặt chúng vào nhiều bối cảnh khác nhau.
    Như thế, khi đọc các sách Phúc Âm, một trong những câu hỏi mà có thể bạn sẽ đặt ra cả khi không có câu trả lời chắc chắn, là có phải những thính giả đang nghe lời dạy dỗ nào đó của Chúa Giê-xu là các môn đệ thân cận của Ngài, hay là đoàn dân đông đảo, hay đám người chống đối Ngài. Tìm ra bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, hay những thính giả đang nghe Ngài là ai không nhất thiết sẽ ảnh hưởng đến ý nghĩa căn bản của một câu nói nào đó, nhưng sẽ mở rộng thêm tầm nhìn của bạn và thường giúp bạn hiểu rõ ý chính mà Chúa Giê-xu muốn nói.
    Bối Cảnh Lịch Sử Của Tác Giả Sách Phúc Âm
    Ở đây, chúng ta không bàn văn mạch mà mỗi tác giả sách Phúc Âm đưa vào các câu chuyện về Chúa Giê-xu, mà bàn về bối cảnh lịch sử của từng tác giả đã thúc đẩy họ viết sách Phúc Âm. Chúng ta lại phỏng đoán để khảo cứu vì tác giả của các sách Phúc Âm đều giấu tên (nghĩa là các sách ấy không nêu đích danh tác giả), và chúng ta cũng không thể biết chắc chúng bắt đầu xuất hiện từ đâu. Nhưng chúng ta có thể biết khá chắc chắn về các mối bận tâm của từng tác giả các sách Phúc Âm dựa trên cách mà họ tuyển chọn, định hình và sắp xếp các tài liệu của mình.
    Chẳng hạn sách Phúc Âm Mác đặc biệt quan tâm đến việc giải thích bản tính chức vụ Mết-si-a của Chúa Giê-xu. Tuy Mác biết rằng Đấng Mết-si-a chính là Con Đức Chúa Trời (Mac Mc 1:1) đã đi khắp xứ Ga-li-lê với quyền năng và lòng nhân từ thương xót (1:1-8:26), ông cũng biết rằng Chúa Giê-xu luôn luôn che giấu bản tính Mết-si-a của Ngài (xem 1:34, 43, 3:12; 4:11; 5:43; 7:24,36, 8:26, 30). Lý do của sự im lặng ấy là chỉ một mình Chúa Giê-xu mới hiểu rõ bản tính đích thực của sứ mệnh Mết-si-a của Ngài - tức là của một người đầy tớ thống khổ chinh phục bằng cái chết. Tuy điều này đã được giải thích cho các môn đệ Ngài đến ba lần nhưng họ vẫn không hiểu (8:27-33; 9:30-32; 10:32-45). Cũng như người đã được rờ đến hai lần (8:22-26), họ cần một lần chạm đến thứ hai nữa, sự Phục sanh, rồi mới thấy được rõ ràng.
    Mối quan tâm của Mác là bản tính đầy tớ thống khổ của chức vụ Mết-si-a của Chúa Giê-xu còn hiển nhiên hơn nữa căn cứ vào sự kiện ông đã không đưa bất kỳ một lời dạy dỗ nào của Chúa Giê-xu về chức vụ môn đệ trước lời giải thích của chính Ngài về nỗi thống khổ của mình trong 8:31-33. Ở đây, lời dạy gián tiếp cũng như trực tiếp đều rõ ràng. Thập tự giá và công tác làm đầy tớ mà Chúa Giê-xu đã trắc nghiệm cũng là các dấu ấn của chức vụ môn đệ đích thực. Như một thi sĩ đã viết: “Đó là con đường ông chủ đã đi qua, mà kẻ tôi tớ lại không chịu bước vào hay sao?”
    Tất cả những điều này đều có thể thấy rõ nhờ đọc kỹ sách Phúc Âm Mác. Đây là bối cảnh lịch sử của ông. Muốn xác định bối cảnh này cách rõ ràng thì phải phỏng đoán nhiều hơn, nhưng chúng tôi thấy không có lý do gì để không nói theo truyền thống rất cổ xưa rằng sách Phúc Âm Mác phản ánh “ký ức” của Phi-e-rơ, và Phúc Âm Mác đã xuất hiện tại Rô-ma chẳng bao lâu sau ngày tuận đạo của ông, vào lúc các Cơ Đốc nhân tại Rô-ma phải chịu đau khổ dữ dội. Dù sao thì cách đọc và nghiên cứu bối cảnh như thế rất quan trọng đối với các sách Phúc Âm cũng như đối với các thư tín vậy.
    Văn Mạch
    Chúng tôi đã ít nhiều đề cập đến vấn đề này trong đoạn nói về “bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu - nói riêng.” Văn mạch (hay văn cảnh) liên quan đến vị trí của một câu chuyện trong bối cảnh của bất kỳ một trong bốn sách Phúc Âm nào đó. Trong một mức độ nào đó, bối cảnh này có lẽ đã bị bối cảnh lịch sử nguyên thủy của nó ấn định, điều mà có lẽ tác giả sách Phúc Âm đã biết. Nhưng như chúng ta đã thấy, rất nhiều tài liệu trong các sách Phúc Âm chịu ảnh hưởng hoàn cảnh hiện tại của chính tác giả, theo sự linh cảm của Đức Thánh Linh trên họ.
    Mối quan tâm lưỡng diện của chúng tôi ở đây là: (1) nhằm giúp bạn giải nghĩa hay đọc với đầy đủ sự hiểu biết một câu nói hay một truyện ký nào đó trong văn mạch của nó trong các sách Phúc Âm, và (2) nhằm giúp bạn hiểu rõ tính chất của việc hình thành các sách Phúc Âm như những toàn thể, và do đó có thể giải nghĩa bất kỳ một sách Phúc Âm nào chứ không phải chỉ giải nghĩa những sự kiện riêng rẽ về cuộc đời của Chúa Giê-xu mà thôi.
    Giải Nghĩa Từng Câu Chuyện
    Trong khi thảo luận về cách giải nghĩa các thư tín, chúng tôi đã lưu ý bạn cần phải tập “suy nghĩ theo từng phân đoạn.” Điều đó không đến nỗi quan trọng như vậy khi giải nghĩa các sách Phúc Âm, tuy rằng có những lúc vẫn có thể áp dụng, đặc biệt là đối với phần lớn những lời dạy. Như chúng tôi đã lưu ý ngay từ đầu, các đoạn sách giáo huấn có nhiều điểm giống với cách chúng ta tìm hiểu các thư tín. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của các sách Phúc Âm, ở đây ta phải thực hiện hai điều: suy nghĩ theo chiều ngang và suy nghĩ theo chiều dọc.
    Ở đây chúng tôi muốn nói rằng khi giải nghĩa hay đọc một trong các sách Phúc Âm, ta cần nhớ luôn hai thực tại về các sách Phúc Âm vừa được lưu ý ở trên: có đến bốn sách như thế, và chúng đều là những tài liệu gồm “hai mức độ.”
    Suy Nghĩ Theo Chiều Ngang: Suy nghĩ theo chiều ngang có nghĩa là khi nghiên cứu một câu chuyện trong bất luận một sách Phúc Âm nào, ta phải lưu ý đến các câu chuyện tương tự với nó trong các sách Phúc Âm khác. Nói như thế không phải là nhấn mạnh quá đáng, vì chẳng hề có tác giả sách Phúc Âm nào lại có ý định cho tác phẩm của mình được đọc song hành với các sách Phúc Âm khác. Tuy nhiên, sự kiện Đức Chúa Trời đã cung cấp đến bốn sách Phúc Âm được liệt vào Kinh Thánh có nghĩa rằng sẽ không đầy đủ nếu chúng ta đọc chúng cách riêng rẽ.
    Lời khuyên đầu tiên của chúng tôi ở đây là hãy cẩn thận. Chủ đích của việc nghiên cứu các sách Phúc Âm song song với nhau không phải là bổ túc cho câu chuyện trong một sách Phúc Âm này bằng các chi tiết rút ra từ các sách Phúc Âm khác. Thường thì cách đọc các sách Phúc Âm như thế có xu hướng dẫn tới việc hài hòa hóa tất cả các chi tiết, mà làm như thế tức là xóa đi những điểm khác nhau trong từng sách Phúc Âm mà Đức Thánh Linh đã linh cảm. Cách “bổ túc” như thế có thể khiến chúng ta thích thú ở mức độ của Chúa Giê-xu lịch sử, nhưng không đem đến điều bổ ích trên mức độ kinh điển, là mối quan tâm trước tiên của chúng ta.
    Có hai lý do cơ bản cho việc phải suy nghĩ theo chiều ngang. Một là những câu chuyện tương tự thường cho chúng ta lãnh hội được những nét đặc trưng của bất kỳ một sách Phúc Âm nào. Dù sao thì chính những điểm khác nhau đó là lý do đầu tiên để có đến bốn sách Phúc Âm. Hai là, những câu chuyện giống nhau sẽ giúp chúng ta chú ý đến các loại bối cảnh khác nhau trong đó cùng những số tài liệu giống nhau hoặc tương tự đã tồn tại trong Hội Thánh thời đó. Chúng tôi sẽ minh họa cho từng trường hợp, nhưng trước hết, đây là một điều quan trọng về các giả định.
    Ta không thể đọc các sách Phúc Âm mà không có một giả định nào đó về các mối liên hệ giữa chúng với nhau - cả khi bạn chẳng bao giờ nghĩ đến việc ấy. Giả định thông thường nhất, nhưng là điều dường như ít có thể xảy ra nhất, ấy là mỗi sách Phúc Âm đều được viết độc lập đối với nhau. Đơn giản là đã có quá nhiều chứng cứ hiển nhiên chống lại quan điểm này nên giả định này khó có thể trở thành một lựa chọn khôn ngoan khi bạn đọc các sách Phúc Âm.
    Thí dụ hãy lấy sự kiện có cách nói rất giống nhau giữa Ma-thi-ơ, Mác và Lu-ca trong các câu chuyện, cũng như trong các câu nói của Chúa Giê-xu. Những cách nói giống nhau đáng chú ý chắc không gây ngạc nhiên cho chúng ta về những “câu nói” của Đấng mà “chẳng hề có ai nói như người này.” Nhưng nếu sự việc này lan sang cả những câu chuyện nữa, thì lại là một vấn đề khác - nhất là khi ta xét thấy (1) các câu chuyện ấy vốn được kể lại trước tiên là bằng tiếng A-ram, nhưng điều chúng ta đang bàn đây là cách dùng Hi văn, (2) trật tự của các từ ngữ Hi văn vốn vô cùng tự do, thế nhưng những điểm giống nhau lại mở rộng sang chính thứ tự thật chính xác của các từ ngữ nữa, và (3) cả ba người sống ở ba miền khác nhau của đế quốc La Mã kể lại cùng một câu chuyện bằng những lời lẽ giống hệt nhau như thế - thậm chí cả đến những điểm nhỏ nhặt của bút pháp cá nhân như các tiền trí từ và liên từ là một điều khó có thể xảy ra. Thế nhưng đó lại là việc đã xảy ra nhiều lần trong ba sách Phúc Âm đầu tiên.
    Điều này có thể minh họa dễ dàng khi căn cứ vào câu chuyện hóa bánh cho năm ngàn người ăn là một trong số ít các câu chuyện đã được tìm thấy trong cả bốn sách Phúc Âm. Xin chú ý các bảng thống kê dưới đây:
    1. Số từ được dùng để kể chuyện:
    Ma-thi-ơ 157
    Mác 194
    Lu-ca 153
    Giăng 199
    2. Số chữ có chung cho “cả” ba sách Phúc Âm đầu tiên: 53
    3. Số chữ sách Giăng có chung với tất cả các sách khác: 8 (năm, hai, năm ngàn, lấy bánh, mười hai giỏ bánh vụn).
    4. Tỉ lệ phần trăm những điểm tương đồng:
    Ma-thi-ơ với Mác 59%
    Ma-thi-ơ với Lu-ca 44%
    Lu-ca với Mác 40%
    Giăng với Ma-thi-ơ 8,5%
    Giăng với Mác 8,5%
    Giăng với Lu-ca 6,5%
    Các kết luận sau đây dường như là tất nhiên: Giăng kể lại câu chuyện một cách độc lập. Ông chỉ dùng những từ ngữ tuyệt đối cần thiết để kể lại cùng một câu chuyện, và thậm chí còn dùng cả một từ ngữ Hi văn khác để chỉ cá! Rõ ràng ba sách kia lệ thuộc nhau theo cách nào đó. Những người biết Hi văn nhận ra rằng rất khó có thể có hai người độc lập, cùng kể lại một câu chuyện mà lại có đến 60% chỗ giống nhau về cách dùng từ ngữ, mà thường lại theo đúng thứ tự như thế.
    Hãy lấy một thí dụ khác về từ ngữ trong Mac Mc 13:14 và câu song hành với nó trong Mat Mt 24:15 (“ai đọc phải để ý”). Câu này rất khó có thể là một phần của truyền khẩu (câu này viết là “đọc” chứ không phải là “nghe”, và vì trong sách Mác, được viết sớm nhất, không đề cập Đa-ni-ên, nên khó có thể cho rằng đó là câu nói của Chúa Giê-xu đề cập Đa-ni-ên). Do đó, câu này đã được một trong các trước giả sách Phúc Âm đưa vào trong câu nói của Chúa Giê-xu vì cớ các độc giả của mình. Rất khó có thể nói rằng hai tác giả viết sách cách độc lập cùng đặt hai dấu ngoặc đơn đúng cùng một chỗ.
    Cách giải thích hay nhất cho tất cả các dữ kiện trên đã được chúng tôi gợi ý trước đây, đó là Mác đã viết sách Phúc Âm của ông trước, có lẽ ít nhất một phần cũng căn cứ vào những gì ông đã thu thập được từ những lời giảng dạy của Phi-e-rơ. Cả Lu-ca và Ma-thi-ơ đã có được sách Phúc Âm Mác và tự mình sử dụng nó như một nguồn tài liệu căn bản cho các sách Phúc Âm riêng của mình. Nhưng họ cũng thu thập được đủ các loại tài liệu khác nữa về Chúa Giê-xu, trong đó có một số chi tiết mà họ có chung với nhau. Tuy nhiên, số tài liệu chung đó rất ít khi được trình bày theo cùng một trật tự trong cả hai sách Phúc Âm, điều đó gợi ý rằng chẳng có vị nào có được quyển sách mà vị kia đã viết. Cuối cùng, Giăng viết độc lập đối với các tác giả kia, vì vậy mà sách Phúc Âm của ông có ít tài liệu chung với họ. Như chúng tôi đã ghi nhận, đây là cách mà Đức Thánh Linh đã cảm thúc để viết các sách Phúc Âm.
    Kiểu mẫu vắn tắt dưới đây chứng minh điều chúng ta đã bàn có thể giúp bạn giải nghĩa các sách Phúc Âm. Chú ý cách các câu nói của Chúa Giê-xu về “sự tàn nát gớm ghiếc” xuất hiện khi đọc trong các cột song song
    Trước nhất, cần lưu ý rằng câu nói này trong Bài Giảng Trên Núi đã theo đúng thứ tự trước sau trong cả ba sách Phúc Âm. Khi ghi lại mấy lời này, Mác muốn kêu gọi những người đọc sách của ông hãy suy nghĩ kỹ về điều mà Chúa Giê-xu ngụ ý liên hệ đến “sự tàn nát gớm ghiếc lập ra nơi không nên lập.” Ma-thi-ơ cũng được Đức Thánh Linh cảm thúc, giúp các độc giả của ông bằng cách giải thích thêm cho câu này. Ông nhắc nhở họ “sự gớm ghiếc tàn nát” đã được Đa-ni-ên đề cập, còn điều Chúa Giê-xu ngụ ý khi nói “nơi nó không nên xảy ra” là “nơi thánh” (đền thờ Giê-ru-sa-lem). Lu-ca cũng được Đức Thánh Linh linh cảm, chỉ giải thích câu nói ấy cho các độc giả Dân Ngoại của ông mà thôi. Ông để họ tự tìm hiểu lấy. Điều Chúa Giê-xu muốn nói liên hệ với tất cả những điều trên đây là: “Khi nào thành phố Giê-ru-sa-lem bị nhiều đạo quân bao vây, thì hãy biết rằng việc nó bị tàn phá đang đến gần.”
    Như thế, ta có thể thấy việc suy nghĩ theo chiều ngang và biết rằng Ma-thi-ơ và Lu-ca đã dùng sách Mác, có thể giúp bạn giải nghĩa bất kỳ một sách Phúc Âm nào khi bạn đọc nó. Cũng thế, biết rõ những câu chuyện giống nhau cũng giúp ta thấy những tài liệu giống nhau nhiều khi đã được sử dụng trong các bối cảnh mới trong tiến trình của Hội Thánh như thế nào.
    Thí dụ, hãy lấy lời than khóc thành phố Giê-ru-sa-lem của Chúa Giê-xu, là một trong những câu nói của Chúa Giê-xu mà hai sách Ma-thi-ơ và Lu-ca đều có chung với nhau, nhưng không thấy có trong sách Mác. Câu nói ấy đã xuất hiện hầu như giống nhau từng chữ từng tiếng trong cả hai sách Phúc Âm. Trong LuLc 13:34-35 câu nói này thuộc về một bộ sưu tập dài những câu chuyện và phán dạy của Chúa Giê-xu trên đường Ngài đi lên Giê-ru-sa-lem (9:51-19:10). Câu nói này tiếp nối ngay sau lời cảnh cáo liên hệ đến Hê-rốt mà Chúa Giê-xu đã kết luận bằng câu đáp lại của Ngài “Vì không có lẽ một đấng tiên tri phải chết ngoài thành Giê-ru-sa-lem.” Việc chối bỏ sứ giả của Đức Chúa Trời dẫn đến việc dân Y-sơ-ra-ên phải chịu phán xét.
    Trong Mat Mt 23:37-39 lời than khóc kết thúc cho phần sưu tập về bảy lời rủa sả người Pha-ri-si của ông, mà lời rủa sả cuối cùng phản ảnh chủ đề về các nhà tiên tri đã bị giết tại Giê-ru-sa-lem. Trong trường hợp này câu nói có cùng một luận điểm trong cả hai sách Phúc Âm tuy nó được đặt vào những khung cảnh khác nhau.
    Sự việc cũng tương tự với nhiều câu nói khác. Bài Cầu Nguyện của Chúa được xếp trong cả hai sách Phúc Âm (Mat Mt 6:7-13; LuLc 11:2-4) trong khung cảnh lời dạy về sự cầu nguyện, tuy chủ điểm cần nhấn mạnh trong mỗi phần khác nhau rất nhiều. Cần lưu ý là trong sách Ma-thi-ơ bài cầu nguyện này được dùng để làm kiểu mẫu, “vậy các ngươi hãy cầu nguyện như vầy” ; trong Lu-ca sự lặp lại được cho phép “khi các ngươi cầu nguyện hãy nói.” Cũng thế, hãy lưu ý về Các Phước Lành (Mat Mt 5:3-11; LuLc 6:20-23). Trong Ma-thi-ơ, kẻ nghèo là nghèo phần tâm linh (“có lòng khó khăn”), trong Lu-ca chỉ chép đơn giản là “kẻ nghèo khó”, tương phản với “các ngươi là người giàu có” (6:24). Ở những điểm như thế, phần đông người ta có xu hướng chỉ muốn hiểu nửa phần mà thôi . Các tín đồ theo truyền thống Tin Lành có xu hướng chỉ hiểu là “kẻ nghèo phần tâm linh,” còn các nhà hoạt động xã hội lại có xu hướng muốn hiểu là “kẻ nghèo.” Chúng tôi xin nhấn mạnh Kinh Thánh mang cả hai nghĩa này. Theo một ý nghĩa sâu sắc thì kẻ nghèo đích thực là những người ý thức được là họ vốn nghèo khó trước mặt Đức Chúa Trời. Nhưng Đức Chúa Trời của Kinh Thánh, là Đấng đã nhập thể để trở thành Chúa Giê-xu người Na-xa-rét, là Đức Chúa Trời đang bênh vực cho những người bị áp bức bóc lột. Ta rất khó đọc sách Phúc Âm Lu-ca mà không nhận thấy ông đang quan tâm đến phương diện này trong mặc khải của Đức Chúa Trời (xem LuLc 14:12-14; đ/c 12:33-34 với đoạn song hành trong Mat Mt 6:19-21).
    Cuối cùng, nếu bạn muốn nghiên cứu các sách Phúc Âm cách nghiêm túc, bạn cần tham khảo một bộ sách cộng quan (trình bày các sách Phúc Âm theo bốn cột song song với nhau). Bộ sách tốt nhất thuộc loại này là Synopsis of the Four Gospels (New York: United Bible Societies, 1975) do Kurt Aland chủ biên.
    Suy Nghĩ Theo Chiều Dọc: Suy nghĩ theo chiều dọc có nghĩa là khi đọc hoặc nghiên cứu một câu chuyện hay lời huấn thị trong các sách Phúc Âm ta phải tìm hiểu cả hai bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu và của tác giả sách Phúc Âm.
    Một lần nữa, lời đầu tiên của chúng tôi ở đây là phải cẩn trọng. Chủ đích của việc suy nghĩ theo chiều dọc trước hết không phải là nghiên cứu cuộc đời của Chúa Giê-xu về phương diện lịch sử. Dĩ nhiên là điều đó phải được quan tâm thường xuyên. Nhưng các sách Phúc Âm trong hình thức hiện có là Lời của Đức Chúa Trời cho chúng ta, còn những cách chúng ta tái tạo đời sống Chúa Giê-xu thì không phải. Một lần nữa, ta không nên quá phóng đại trong loại suy nghĩ này. Lời kêu gọi tìm hiểu chỉ có nghĩa là phải biết rằng số rất nhiều tài liệu của sách Phúc Âm đã được chính các tác giả đặt chúng vào trong bối cảnh đương thời, và muốn giải nghĩa đúng đòi hỏi phải hiểu một câu nói nào đó trước nhất là trong bối cảnh lịch sử nguyên thủy của nó như là bước đầu tiên thích hợp để hiểu cùng một từ ngữ ấy trong toàn bộ kinh điển mà chúng ta đang có.
    Chúng tôi có thể minh họa điểm này căn cứ vào một khúc sách như Mat Mt 20:1-16, là dụ ngôn của Chúa Giê-xu về những người làm công trong vườn nho. Mối quan tâm của chúng tôi là: Trong văn mạch của nó trong sách Ma-thi-ơ, thì dụ ngôn này có nghĩa gì? Nếu chúng ta suy nghĩ theo chiều ngang, chúng ta sẽ lưu ý rằng ở cả hai đầu của dụ ngôn trong sách Ma-thi-ơ đều có những đoạn dài các tài liệu mà ông đã theo rất sát sách Mác (Mat Mt 19:1-30; 20:17-24 song hành với Mac Mc 10:1-52). Ở 10:31 sách Mác có câu “có nhiều kẻ đầu sẽ nên rốt; có kẻ rốt sẽ nên đầu”, mà Ma-thi-ơ vẫn giữ nguyên ở 19:30. Nhưng rồi tại ngay điểm ấy, ông đã đưa dụ ngôn này vào, để rồi kết thúc nó bằng cách lặp lại câu nói trên (20:16), bây giờ chỉ khác là theo thứ tự đảo ngược lại mà thôi. Vậy, trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ văn cảnh cận tiếp của dụ ngôn này là câu nói về sự đảo ngược thứ tự giữa kẻ đầu và kẻ rốt.
    Khi bạn đọc trong chính dụ ngôn đó (20:1-15), bạn sẽ lưu ý là nó kết thúc bằng việc biện minh cho lòng hào hiệp của ông chủ đất. Chúa Giê-xu nói tiền công trong Nước Trời không căn cứ trên lẽ công bằng mà căn cứ vào ân điển của Đức Chúa Trời! Trong văn cảnh nguyên thủy của nó, có lẽ dụ ngôn này đã được dùng để biện minh cho việc chính Chúa Giê-xu đã tiếp nhận các tội nhân dưới những đôi mắt soi mói của đoàn người Pha-ri-si phản đối Ngài. Họ tưởng chính họ mới là những người “đang mang lấy gánh nặng của thời đại,” do đó đáng được trả công nhiều hơn. Nhưng Đức Chúa Trời rộng lượng và nhân hậu, và Ngài tiếp nhận những kẻ tội lỗi cũng y như tiếp nhận những người “công chính.”
    Một khi đã biết được điều này như là bối cảnh có thể là nguyên thủy, giờ đây, dụ ngôn này có chức năng gì trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ? Luận điểm của dụ ngôn - lòng rộng rãi nhân hậu của Đức Chúa Trời đối với kẻ không xứng đáng - chắc chắn vẫn còn y nguyên. Nhưng luận điểm này không còn là một mối bận tâm để biện minh cho các hành động của chính Chúa Giê-xu nữa. Sách Phúc Âm Ma-thi-ơ vẫn làm công việc đó ở nhiều chỗ khác nữa, theo nhiều cách khác nhau. Ở đây, dụ ngôn này hoạt động trong một văn cảnh đề cập thân phận của người làm môn đệ, nơi mà những ai đã từ bỏ mọi sự để theo Chúa Giê-xu là kẻ cuối cùng đã trở thành người đứng đầu (dĩ nhiên có lẽ là tương phản với các lãnh đạo Do Thái giáo, một luận điểm mà Ma-thi-ơ đưa ra nhiều lần).
    Nhiều khi suy nghĩ theo chiều dọc sẽ cho thấy rằng cùng một luận điểm đã được đưa ra ở cả hai bình diện. Nhưng thí dụ minh họa vừa đưa ra chứng minh một cách suy nghĩ như thế rất có hiệu quả cho công tác giải kinh.
    Giải Nghĩa Các Sách Phúc Âm Trong Cái Nhìn Toàn Sách
    Một phần quan trọng của văn cảnh là biết những mối quan tâm của mỗi tác giả khi viết từng sách Phúc Âm khiến mỗi sách trở thành độc đáo.
    Qua suốt chương này, chúng ta đã lưu ý rằng khi đọc và nghiên cứu các sách Phúc Âm, ta phải chú trọng không những chỉ vào các mối quan tâm của các tác giả của sách vào chính Chúa Giê-xu, những việc Ngài làm, những lời Ngài nói, mà cả vào các lý do khiến họ kể lại câu chuyện cho chính các độc giả của mình. Chúng ta đã ghi nhận rằng những người viết các sách Phúc Âm là các tác giả, chứ không phải chỉ là những người đúc kết. Điều này không có nghĩa rằng họ là những người sáng tạo ra phần tài liệu; mà là ngược lại. Có nhiều yếu tố ngăn cản sự sáng tạo thêm, trong đó chúng tôi tin là có tính chất cố định của tài liệu, và sự giám sát tối cao của Đức Thánh Linh trong tiến trình lưu chuyển. Họ là tác giả theo nghĩa nhờ sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, họ đã tạo cấu trúc và viết lại các tài liệu một cách sáng tạo để đáp ứng các nhu cầu của độc giả. Điều chúng tôi quan tâm ở đây là giúp bạn hiểu rõ các mối bận tâm và kỹ thuật của các tác giả sách Phúc Âm trong công tác soạn thảo các sách ấy khi bạn đọc hoặc nghiên cứu chúng.
    Có ba nguyên tắc chi phối việc biên soạn các sách Phúc Âm: chọn lựa, sắp xếp và thích nghi. Một mặt, với tư cách là những tác giả được Đức Chúa Trời linh cảm, họ tuyển chọn các câu chuyện và những lời dạy dỗ phù hợp với chủ đích của họ. Lẽ dĩ nhiên, mối bận tâm nhằm bảo tồn những gì đang có trong tầm tay cũng có thể là một trong số các chủ đích ấy. Giăng cho chúng ta biết ông là người đã chọn lựa rất kỹ lưỡng. Các bài giảng và câu chuyện của ông tuy ít nhưng được khai triển đáng kể (20:30-31; 21:25). Câu cuối cùng này (21:25) với lối nói cường điệu có lẽ là trường hợp giống như những tác giả khác, chẳng hạn Lu-ca đã chọn không đưa vào nhiều đoạn của Mác (6:45-8:26).
    Đồng thời các tác giả sách Phúc Âm và Hội Thánh của họ cũng có những mối quan tâm đặc biệt khiến họ sắp xếp và mô phỏng những gì đã tuyển chọn. Chẳng hạn Giăng nói rõ ràng với chúng ta chủ đích của ông có tính cách thần học “để các ngươi tin rằng Đức Chúa Giê-xu là Đấng Christ, tức là Con Đức Chúa Trời” (20:31). Mối quan tâm vào Chúa Cứu Thế như là Đấng Mết-si-a của dân Do Thái có lẽ là lý do chính khiến đa số tài liệu dồi dào của ông có liên hệ với chức vụ của Chúa Giê-xu trong xứ Giu-đê và tại Giê-ru-sa-lem, tương phản với phần chức vụ hầu như hoàn toàn là trong xứ Ga-li-lê của các sách Phúc Âm cộng quan. Với người Do Thái, quê quán thật sự của Đấng Mết-si-a phải là Giê-ru-sa-lem. Cho nên Giăng biết rõ là Chúa Giê-xu từng nói rằng nhà tiên tri không được chính quê hương mình tôn trọng. Chúa Giê-xu nói lời nầy lúc Ngài bị chối bỏ tại Na-xa-rét (Mat Mt 13:57; Mac Mc 6:4; LuLc 4:24). Trong sách Phúc Âm Giăng câu này được đề cập như một lời giải thích cho việc Đấng Mết-si-a phải bị chối bỏ tại Giê-ru-sa-lem (GiGa 4:44) - một cái nhìn thần học sâu nhiệm về chức vụ của Chúa Giê-xu.
    Nguyên tắc thích nghi hay mô phỏng cũng là lý do để giải thích phần lớn những gì đã được gọi là những điểm trái nhau trong các sách Phúc Âm. Một trong số những điểm được ghi nhận rõ rệt nhất về mặt này, là lời rủa sả cây vả (Mac Mc 11:12-14, 20-25, Mat Mt 21:18-22) chẳng hạn. Trong sách Phúc Âm Mác, câu chuyện đã được kể lại là vì ý nghĩa biểu tượng thần học của nó. Cần lưu ý là giữa lời nguyền rủa và hiện tượng cây vả bị khô, Chúa Giê-xu muốn công bố một sự phán xét tương tự đối với Do Thái giáo bằng việc dọn sạch đền thờ của Ngài. Tuy nhiên, câu chuyện về cây vả cũng còn có ý nghĩa quan trọng cho Hội Thánh nguyên thủy nữa, vì bài học về đức tin đã được đưa vào trong đó. Trong sách Phúc Âm Ma-thi-ơ, bài học về đức tin là điểm đáng chú ý duy nhất của câu chuyện, cho nên ông kể lại sự rủa sả và cây vả bị khô đồng thời với nhau để nhấn mạnh luận điểm ấy. Nên nhớ là trong mỗi lần kể lại câu chuyện này đều là công tác của Đức Thánh Linh, Đấng linh cảm cả hai tác giả viết sách Phúc Âm.
    Để minh họa cho tiến trình soạn thảo này trên một bình diện rộng hơn, hãy nhìn vào các chương mở đầu của sách Mác (Mac Mc 1:14-3:6). Mấy chương này là tuyệt tác của một bậc thầy, được cấu trúc thật hoàn chỉnh đến độ nhiều độc giả sách Mác có lẽ đã nắm ngay được luận điểm của ông cả khi không biết tại sao ông lại làm như thế.
    Trong chức vụ công khai của Chúa Giê-xu, Mác đặc biệt quan tâm đến ba phần của câu chuyện: được quần chúng ưa chuộng, đào tạo một số môn đệ, và bị các cấp chính quyền chống đối. Hãy lưu ý cách Mác khôn khéo chọn lựa và sắp xếp các câu chuyện và trình bày cho chúng ta. Sau khi thông báo chức vụ công khai của Chúa Giê-xu (Mac Mc 1:14-15) câu chuyện đầu tiên ghi lại việc kêu gọi các môn đệ thứ nhất. Mô hình này sẽ được khai triển trong những đoạn tiếp theo đó (3:13-19; 4:10-12; 4:34-41 vv...) mối quan tâm lớn hơn của ông trong hai chương sách đầu tiên là về hai tiết mục kia. Bắt đầu với 1:21 đến 1:45, Mác kể lại đúng bốn câu chuyện, một ngày tại Ca-bê-na-um (1:21-28, 29-34), một vòng truyền giảng ngắn ngày hôm sau (1:35-39) và câu chuyện chữa lành cho kẻ phung (1:40-45). Mô hình chung xuyên suốt là việc danh tiếng Chúa Giê-xu đã tràn lan (xem 1:27-28, 32-33, 37, 45) mà đỉnh điểm là việc Chúa Giê-xu không thể “vào thành cách rõ ràng được nữa...và người ta từ bốn phương đều đến cùng Ngài.” Tất cả mọi việc đều xảy ra dường như khiến ta không kịp thở, thế nhưng Mác chỉ vẽ ra bức tranh này bằng bốn phần trần thuật, cộng với câu “ngay sau đó” (kế đó, cùng một lúc ấy, vừa ... 1:21, 23, 28, 29, 31, 42 một câu rất đáng tiếc là đã bị bản NIV bỏ sót) và việc hầu như ông đều bắt đầu mỗi câu bằng chữ “và” (cũng bị bản NIV bỏ sót).
    Sau khi đã đặt bức tranh ấy trước mặt chúng ta rồi, Mác chọn tiếp theo đó năm loại thuật sự khác nữa, mà khi nhập chung lại với nhau, đã vẽ ra được bức tranh về sự chống đối và đưa ra các lý do cho việc ấy. Cần lưu ý là mẫu số chung cho cả bốn câu chuyện đầu tiên đều là các câu hỏi “tại sao?” (2:7, 16, 18, 24). Chúa Giê-xu sở dĩ bị chống đối vì Ngài tha tội, ngồi ăn chung với các tội nhân và chẳng đếm xỉa gì đến truyền thống kiêng ăn, và “vi phạm” luật về ngày sa-bát. Tiết mục cuối cùng này đã bị người Do Thái xem là điều sỉ nhục tệ hại nhất đối với truyền thống của họ, đã được Mác làm rõ khi ông còn thêm vào một câu chuyện nữa thuộc loại này (3:1-6).
    Chúng tôi không có ý nói rằng trong tất cả các đoạn của các sách Phúc Âm, ta đều có thể vạch ra rõ ràng các mối quan tâm của tác giả cách dễ dàng như thế. Nhưng chúng tôi cho rằng đây là lối nhìn cần thiết vào các sách Phúc Âm.
    Vài Ghi Nhận Về Giảng Kinh
    Phần lớn các nguyên tắc giảng kinh dành cho các sách Phúc Âm là một sự kết hợp của những điều đã được đề cập trong các chương trước đây về các Thư tín và các câu chuyện lịch sử.
    Những Lời Dạy và Các Mệnh Lệnh
    Giả định chúng ta đã cẩn thận thực hiện công tác giải kinh, bây giờ công tác áp dụng các lời dạy và mệnh lệnh của Chúa Giê-xu trong các sách Phúc Âm cho thế kỷ thứ hai mươi sẽ được thực hiện như cách chúng ta đã làm đối với Phao-lô - hoặc Phi-e-rơ hay Gia-cơ - trong các thư tín. Ngay đến các vấn đề về tính tương đối của văn hóa cũng cần phải được đặt ra y như vậy. Ly dị rất ít khi được thừa nhận là cách lựa chọn có giá trị cho những đôi vợ chồng mà cả hai người đều theo Chúa Giê-xu - một luận điểm đã được Phao-lô nhắc đi nhắc lại trong ICo1Cr 7:10-11. Nhưng trong một nền văn hóa như tại Hoa Kỳ hiện nay, nơi có hơn phân nửa số người tin Chúa đã ly dị, thì vấn đề tái hôn có lẽ không thể được quyết định một cách thiếu suy nghĩ và không có sự quan tâm đến vấn đề cứu chuộc của những người mới ăn năn quy đạo. Một trong những câu khẳng định đầu tiên về ý nghĩa của những lời phán của Chúa Giê-xu trong một bối cảnh văn hóa khác hẳn cần phải được khảo xét thật kỹ. Cũng thế, chúng ta sẽ ít có hy vọng gặp một tên lính La Mã buộc mình phải đi cùng với hắn ta một dặm đường (Mat Mt 5:41). Nhưng trong luận điểm này của Chúa Giê-xu, “điều phụ trội Cơ Đốc” chắc chắn có thể áp dụng cho bất luận những trường hợp tương tự nào.
    Thiết tưởng có một điều quan trọng cần nói ở đây. Vì nhiều mệnh lệnh của Chúa Giê-xu vốn được đặt trong văn cảnh là giải thích Luật pháp Cựu Ước, và vì đối với nhiều người những mệnh lệnh này là một lý tưởng bất khả thi, nhiều “mánh” giảng kinh (hermeneutical ploys) khác nhau đã được đưa ra nhằm “đi vòng quanh” các mệnh lệnh ấy, xem như qui luật cho Hội Thánh. Chúng tôi sẽ không dành thì giờ ở đây để phác họa và phản bác các “mánh” này, nhưng chỉ đưa ra vài ý kiến mà thôi. Chương 6 trong tác phẩm The Method and Message of Jesus Teachings của Stein cho ta một cái nhìn bao quát về điều này.
    Sở dĩ một số các “mánh” giảng kinh như thế đã ra đời là vì các mệnh lệnh ấy dường như là một điều luật rất khó giữ. Hơn nữa theo Tân Ước, đời sống Cơ Đốc nhân lại đặt cơ sở trên ân điển của Đức Chúa Trời, chứ không phải trên việc tuân thủ luật pháp. Nhưng xem các mệnh lệnh như luật pháp là hiểu sai về chúng. Chúng không phải là luật pháp theo nghĩa là người ta phải giữ chúng để trở thành hay vẫn giữ được mình là Cơ Đốc nhân; sự cứu rỗi của chúng ta không tùy thuộc vào việc phải trọn vẹn tuân thủ chúng. Chúng là những phần mô tả theo cách của mệnh lệnh, điều mà đời sống của một Cơ Đốc nhân phải trở nên giống như thế vì Đức Chúa Trời đã tiếp nhận chúng ta rồi. Thật vậy, nền đạo đức của Nước Trời cho thời hiện đại không phải là nền đạo đức ăn miếng trả miếng (Mat Mt 5:38-42) nhưng được truyền dạy trên cơ sở tình yêu vô điều kiện của Đức Chúa Trời đối với chúng ta; và trong Nước Trời thì phải là “Cha nào con nấy.” Chính kinh nghiệm của chúng ta về sự tha thứ vô điều kiện, vô giới hạn của Đức Chúa Trời đến trước, rồi tiếp theo đó, ta phải noi gương để tha thứ người khác cách vô điều kiện, vô giới hạn. Có người đã nói rằng trong Cơ Đốc giáo thì tôn giáo là ân điển, đạo đức là lòng tri ân. Cho nên các mệnh lệnh của Chúa Giê-xu dành cho chúng ta nhưng chúng không giống như luật pháp Cựu Ước. Chúng mô tả cuộc đời mới mà tự nó vốn không phải là do chúng ta tự chọn, nhưng ta phải sống với tư cách là đứa con đã được Đức Chúa Trời yêu mến và cứu chuộc.
    Truyện Ký
    Truyện ký trong các sách Phúc Âm thường không chỉ có một chức năng. Chẳng hạn như các truyện tích về phép lạ đã không được chép lại để đưa ra những bài học luân lý hoặc phục vụ như những tiền lệ, trái lại, chúng giữ vai trò minh họa cho quyền năng của Nước Trời qua chức vụ của Chúa Giê-xu. Chúng có thể vừa minh họa cho đức tin, nỗi sợ hãi hay sự thất bại, nhưng đó không phải là chức năng hàng đầu của chúng. Những câu chuyện như chàng thanh niên giàu có (Mac Mc 10:17-22 và những chỗ chép về cùng một câu chuyện ấy) hay việc đòi hỏi phải được chỗ ngồi bên hữu Chúa Giê-xu (Mac Mc 10:35-45 và những chỗ tương tự) đã được đặt vào trong bối cảnh của câu chuyện để minh họa cho những gì vừa mới được truyền dạy xong. Đối với chúng tôi, sử dụng các chuyện đúng theo cách ấy có lẽ là cách giảng kinh thích hợp.
    Như thế, ý chính của câu chuyện chàng thanh niên giàu có không phải là tất cả môn đệ của Chúa đều phải bán hết gia tài của cải mình có để theo Ngài. Trong các sách Phúc Âm có nhiều thí dụ cho thấy rõ sự việc không phải vậy (đ/c LuLc 5:27-30; 8:3; Mac Mc 14:3-9). Thay vào đó, câu chuyện nhằm minh họa cho việc sở dĩ những người giàu có khó vào Nước Trời chính vì họ đã tận hiến trước nhất cho thần tài, và cố tìm cách trông cậy vào đó để được an toàn. Nhưng Chúa Giê-xu dạy tiếp là tình yêu do ân điển của Đức Chúa Trời cũng có thể làm phép lạ trên kẻ giàu có nữa. Câu chuyện của Xa-chê (LuLc 19:1-10) là một thí dụ minh họa như thế.
    Một lần nữa, ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của công tác giải kinh đúng, để luận điểm mà chúng ta đưa ra về những câu chuyện đúng là luận điểm mà chính sách Phúc Âm muốn đưa ra.
    Điều Quan Trọng Cuối Cùng
    Điều này cũng áp dụng cho phần thảo luận trước đây liên hệ đến bối cảnh lịch sử của Chúa Giê-xu, nhưng sở dĩ được đưa vào đây vì nó rất quan trọng có tính cách quyết định đối với vấn đề giảng kinh. Nó như thế này: Người ta không dám nghĩ là mình có thể giải nghĩa đúng các sách Phúc Âm nếu chưa nắm vững ý niệm về Nước Trời trong chức vụ của Chúa Giê-xu. Muốn có một phần dẫn nhập vắn tắt nhưng đầy đủ cho vấn đề này, xin xem chương 4 trong tác phẩm Method and Message của Stein. Ở đây, chúng tôi chỉ có thể đưa ra một phác thảo vắn tắt cùng với vài điểm liên hệ có ảnh hưởng đến Giảng kinh như thế nào mà thôi.
    Trước hết, bạn phải biết rằng cơ cấu thần học căn bản của toàn bộ Tân Ước có tính lai thế. Lai thế liên hệ với phần kết cuộc, khi Đức Chúa Trời đưa thời đại này đến điểm kết thúc của nó (ngày tận thế). Phần lớn người Do Thái vào thời của Chúa Giê-xu mang tư tưởng lai thế, nghĩa là họ nghĩ rằng mình đang sống vào thời mà thời gian sắp kết thúc, khi Đức Chúa Trời sẽ bước vào lịch sử và chấm dứt kỷ nguyên này để đưa kỷ nguyên hầu đến vào. Từ ngữ Hi văn chỉ cái kết cuộc mà họ đang mong đợi đó là escaton. Như thế, một người mang tư tưởng lai thế có nghĩa người ấy đang trông đợi thời cuối cùng.
    Niềm Hi Vọng Lai Thế của Do Thái Giáo
    - Đời này (Thời đại của Sa-tan) Có đặc điểm là: tội lỗi, bệnh tật, bị quỉ ám, kẻ ác thắng thế.
    - Đời hầu đến (Thời đại trị vì của Đức Chúa Trời) Có đặc điểm là: hiện diện của Đức Thánh Linh, sự công chính, sức khỏe, hòa bình.
    Dĩ nhiên các Cơ Đốc nhân đầu tiên hiểu rõ quan điểm lai thế trong cái nhìn về cuộc đời. Với họ, các biến cố về Chúa Giê-xu tái lâm, sự chết và sống lại của Ngài, và việc Ngài ban Thánh Linh xuống đều có liên quan với những điều họ trông mong về cách mà sự kết thúc sẽ xảy ra.
    Ngày tận thế còn có nghĩa là một khởi điểm mới - khởi điểm của thời đại mới của Đức Chúa Trời, tức thời đại của Đấng Mết-si-a. Thời đại mới còn được đề cập như là Nước Trời, nghĩa là “thời trị vì của Đức Chúa Trời.” Thời đại mới này sẽ là một thời đại của sự công chính (thí dụ EsIs 11:4-5), trong đó thiên hạ sẽ vui hưởng thái bình (thí dụ, EsIs 2:2-4). Đó là một thời mà Đức Thánh Linh sẽ đầy dẫy (Gion Gn 2:28-30) khi giao ước mới mà Giê-rê-mi từng đề cập sẽ được thực hiện (Gie Gr 31:31-34; 32:38-40). Tội lỗi và sự gian ác sẽ bị tiêu hủy (XaDr 13:1; EsIs 53:5). Cả đến cõi thọ tạo vật chất cũng cảm nhận được các tác dụng đầy hân hoan của kỷ nguyên mới này.
    Vì thế khi Giăng Báp-tít thông báo sự cuối cùng đã gần lắm rồi và làm phép báp-tem cho Chúa Giê-xu, niềm tin vào ngày tận thế đã lên cao điểm. Đấng Mết-si-a đã đến, mở đầu cho thời đại mới của Đức Thánh Linh (LuLc 3:7-17).
    Rồi Chúa Giê-xu đến và công bố rằng Nước Trời sắp đến cùng với chức vụ của Ngài (Mac Mc 1:14-15; LuLc 17:20-21). Ngài đã đuổi quỉ, làm phép lạ, tiếp nhận vô điều kiện những kẻ cùng đinh mạt hạng, các tội nhân - tất cả đều là những dấu hiệu cho thấy “ngày tận thế” đã bắt đầu (LuLc 11:20; Mat Mt 11:2-6; LuLc 14:21; 15:1-2). Mọi người đều nhìn chăm vào Ngài để xem Ngài quả thật có phải là Đấng phải đến hay không. Phải chăng Ngài quả thật là người đưa kỷ nguyên của Đấng Mết-si-a đến, với tất cả nét huy hoàng của nó? Thế rồi Ngài thình lình bị đóng đinh vào thập tự giá - và mọi ánh sáng đều tắt lịm.
    Nhưng không, vẫn có một tiếp nối quang vinh. Đến ngày thứ ba, Ngài từ cõi chết sống lại và hiện ra với nhiều môn đồ. Chắc chắn bây giờ Ngài sẽ “phục hưng vương quốc cho dân Y-sơ-ra-ên” (Cong Cv 1:6). Nhưng thay vì làm việc ấy, Ngài đã trở về với Đức Chúa Cha và đổ Thần Linh mà Ngài đã hứa xuống. Đây là chỗ mà nhiều vấn đề đã nẩy sinh cho Hội Thánh đầu tiên và cho chúng ta. Chúa Giê-xu từng tuyên bố rằng khi Ngài đến là Nước Trời đã đến. Đức Thánh Linh đã đến, đầy quyền năng, với nhiều phép lạ dấu kỳ, và sự ra đời của giao ước mới là dấu hiệu cho thấy kỷ nguyên mới đã đến rồi. Thế nhưng, rõ ràng là ngày kết thúc cho cái kỷ nguyên này (ngày tận thế) vẫn chưa xảy ra. Họ phải hiểu việc này thế nào đây?
    Ngay từ bài giảng khởi đầu của Phi-e-rơ trong Công Vụ đoạn 3, các Cơ Đốc nhân đầu tiên đã nhận thức được rằng Chúa Giê-xu vẫn chưa đến để đưa phần kết thúc “cuối cùng” vào, nhưng chỉ mới là “khởi điểm” của giai đoạn cuối cùng mà thôi. Như thế, họ đã thấy được rằng với sự chết và sống lại của Ngài, và với việc Thánh Linh giáng lâm, các phước hạnh và lợi ích của cõi tương lai đã đến rồi. Do đó, theo một ý nghĩa, thì giai đoạn cuối cùng (kỳ tận thế, những ngày sau rốt) đã đến rồi. Nhưng theo một ý nghĩa khác, thì điểm cuối cùng (ngày tận thế) vẫn chưa đến một cách đầy đủ trọn vẹn. Như thể nó đã đến rồi, nhưng chưa hoàn tất.
    Do đó, các tín hữu ban đầu học tập để trở thành những người mang tư tưởng tận thế thật sự. Họ đã sống giữa hai thời kỳ - nghĩa là giữa khởi điểm và kết cuộc của giai đoạn kết thúc. Tại bàn Tiệc Thánh, họ ăn mừng cuộc sống lai thế của mình bằng cách rao “sự chết của Chúa cho tới lúc Ngài đến” (ICo1Cr 11:26). Họ đã biết sự tha tội vô điều kiện và trọn vẹn của Đức Chúa Trời, nhưng họ vẫn chưa được trọn vẹn (Phi Pl 3:7-14). Họ đã nắm được sự chiến thắng trên sự chết (ICo1Cr 3:22) nhưng sẽ vẫn còn phải chết (Phi Pl 3:20-22;). Họ đã sống trong Thánh Linh rồi nhưng họ vẫn còn sống trong thế gian, nơi mà Sa-tan vẫn còn có thể tấn công (Eph Ep 6:10-17). Họ đã được kể là công chính và không còn bị định tội nữa (RoRm 8:1) nhưng hãy còn một lần phán xét trong tương lai (IICo 2Cr 5:10). Họ là dân tộc tương lai của Đức Chúa Trời; họ đã được tương lai trang bị cho mình đầy đủ mọi điều kiện rồi. Họ đã biết rõ các lợi ích của nó, đã sống trong làn ánh sáng của các giá trị của nó rồi, nhưng họ cũng như chúng ta vẫn còn sống nhờ vào các lợi ích và giá trị đó ngay trong thế gian này. Như thế cơ cấu thần học cơ bản sau đây giúp chúng ta hiểu Tân Ước:
    Quan Điểm Lai Thế của Tân Ước

    ĐỜI NẦY Bắt đầu Kết cuộc
    (qua đi)
    ĐỜI HẦU ĐẾN (vô cùng)

    Thập Tự Giá và Phục Sinh

    Đã
    sự công chính
    bình an
    sức khỏe
    Thánh Linh
    Vẫn chưa
    sự công chính trọn vẹn
    bình an trọn vẹn
    không còn bệnh tật hoặc chết
    tình trạng viên mãn
    Chìa khóa giảng kinh cho phần lớn Tân Ước, và nhất là chức vụ và lời dạy của Chúa Giê-xu, phải được tìm thấy trong sự “giằng co” này. Chính vì Nước Trời, tức là thời trị vì của Đức Chúa Trời đã được khai mạc với chính sự ra đời của Chúa Giê-xu rồi, nên chúng ta mới được kêu gọi để sống trong Nước Trời, nghĩa là sống dưới quyền làm chủ của Ngài, được tiếp nhận và tha tội vô điều kiện, nhưng phải cam kết sống theo đạo đức của kỷ nguyên mới này, và thấy đạo đức đó vận hành ngay trong đời sống của chúng ta và trong thế giới hiện tại.
    Như thế, khi chúng ta cầu nguyện “xin Nước Ngài mau đến,” nghĩa là trước hết chúng ta cầu nguyện cho sự kết thúc đó. Nhưng vì cớ Nước Trời mà chúng ta trông mong thấy được điểm kết thúc đó đã bắt đầu rồi, cho nên cùng một lời cầu nguyện như thế cũng bao gồm cả hiện tại nữa.

    Những Dụ Ngôn : Bạn Có Nắm Được Luận Điểm?
    Cần lưu ý rằng những điều liên hệ với lời dạy của Chúa Giê-xu trong các sách Phúc Âm đã nói trong chương 7 cũng đúng cho các dụ ngôn (parables). Thế thì tại sao các dụ ngôn lại cần thêm một chương cho riêng về các dụ ngôn trong sách này? Những câu chuyện đơn sơ, bộc trực mà Chúa Giê-xu đã kể có thể đặt ra những vấn đề gì cho người đọc hay người giải thích? Dường như không có gì khó khăn để nắm được ý chính của câu chuyện Người Sa-ma-ri Nhân Lành hay Đứa Con Trai Hoang Đàng. Chỉ cần đọc các truyện tích ấy thì người ta đã đủ cảm thấy ray rứt hay được an ủi rồi.
    Thế nhưng chúng tôi muốn dùng một chương cho phần này vì các dụ ngôn thường bị giải nghĩa sai trong Hội Thánh, chỉ đứng hàng thứ hai sau sách Khải Thị, mặc dù chúng rất hấp dẫn và đơn sơ.
    Các Dụ Ngôn Trong Lịch Sử
    Lý do của việc giải nghĩa sai các dụ ngôn trong lịch sử có thể truy nguyên từ điều mà chính Chúa Giê-xu đã nói được ghi lại trong Mac Mc 4:10-12 (và những chỗ tương tự, Mat Mt 13:10-13; LuLc 8:9-10). Khi được hỏi về chủ đích của các dụ ngôn, dường như Ngài có ý cho rằng chúng hàm chứa nhiều huyền nhiệm cho những người ở bên trong, trong lúc làm cứng lòng những người ở bên ngoài. Vì tiếp theo đó, Ngài đã bắt đầu “giải nghĩa” dụ ngôn Người Gieo Giống bằng phương pháp bán ngụ ngôn (semi-allegorical way), điều này xem như mở đường cho lý thuyết cứng nhắc và những cách giải nghĩa theo lối ngụ ngôn (allegorical interpretations) vô tận. Các dụ ngôn vốn được xem như những câu chuyện đơn giản đối với những người ở ngoài mà với họ “ý nghĩa đích thực” hay “huyền nhiệm” vẫn bị che khuất; chúng chỉ thuộc về Hội Thánh và chỉ có thể được khám phá nhờ nghĩa biểu tượng mà thôi.
    Vì thế một học giả vĩ đại và xuất sắc như Augustine đã giải nghĩa dụ ngôn về Người Sa-ma-ri Nhơn Lành như sau:
    Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô = A-đam
    Giê-ru-sa-lem= thành phố hoà bình trên trời, nơi từ đó A-đam đã sa xuống
    Giê-ri-cô = mặt trăng, do đó có nghĩa là sự chết của A-đam
    những kẻ cướp = Ma quỉ và các quỉ sứ
    giựt lột hết = nghĩa là cướp đi sự bất tử của ông
    đánh = bằng cách thuyết phục cho ông phạm tội
    để người đó nửa sống nửa chết = Ông vẫn sống như một con người, nhưng đã chết về mặt thuộc linh, do đó là nửa sống nửa chết
    Thầy tế lễ và người Lê-vi = chức vụ tế lễ và chức vụ của Cựu Ước
    Người Sa-ma-ri = được bảo là Người Bảo Vệ, do đó ngụ ý chỉ chính Đấng Cứu Thế
    xức chỗ bị thương rồi rịt lại = nghĩa là trói buộc sự kìm hãm của tội lỗi
    dầu = niềm an ủi của hi vọng tốt đẹp
    rượu = lời khuyên phải làm việc bằng một tinh thần hăng say
    con vật = xác thịt của Chúa Cứu Thế nhập thể
    nhà quán = hội thánh
    bữa sau = sau sự sống lại
    hai đơ-ni-ê = lời hứa cho đời này và đời sau
    chủ quán = Phao-lô.
    Dù mọi điều trên đây có thể là mới mẻ và lý thú đến đâu, ta có thể chắc chắn đó không phải là những gì Chúa Giê-xu ngụ ý muốn nói. Dù sao thì rõ ràng là văn mạch kêu gọi nên có sự nhận thức về mối liên hệ giữa con người với nhau (“ai là người lân cận tôi?”) chứ không phải là mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với loài người; và chẳng có lý do gì để nghĩ rằng Chúa Giê-xu lại tiên đoán về Hội Thánh và Phao-lô một cách bí ẩn như thế.
    Thật ra người ta hết sức nghi ngờ không biết có phải hầu hết các dụ ngôn đều chỉ dành cho những người bên trong hay không. Ít ra cũng có ba trường hợp Giăng nói rõ ràng Chúa Giê-xu phán các thí dụ cho dân chúng (GiGa 15:3; 18:9; 19:11) với hàm ý rằng cần phải hiểu các dụ ngôn. Hơn nữa, thầy dạy luật được Chúa Giê-xu kể cho nghe dụ ngôn về người Sa-ma-ri Nhơn Lành (LuLc 10:25-27) đã hiểu dụ ngôn ấy, cũng như các thầy tế lễ cả và người Pha-ri-si đã hiểu dụ ngôn về những kẻ thuê vườn nho trong Mat Mt 21:45.
    Nếu thỉnh thoảng chúng ta gặp rắc rối trong vấn đề hiểu các dụ ngôn, thì đó không phải vì chúng là những câu chuyện hình bóng mà chúng ta cần có những bí quyết đặc biệt để giải nghĩa, nhưng đúng hơn là vì chúng có liên hệ với một vài điều chúng tôi đã gợi ý trong chương trước về các sách Phúc Âm. Một trong những chiếc chìa khóa để hiểu là phát hiện ra thính giả ban đầu của chúng, và như đã nói, nhiều khi các dụ ngôn đến với tác giả mà không cho biết bối cảnh.
    Vậy, nếu các dụ ngôn không phải là những biểu tượng bí ẩn đối với Hội Thánh, thì Chúa Giê-xu đã ngụ ý nói gì trong Mac Mc 4:10-12 khi đề cập những sự mầu nhiệm của Nước Đức Chúa Trời và mối liên hệ giữa chúng với các dụ ngôn? Rất có thể đầu mối cho câu nói này là cách chơi chữ trong tiếng A-ram mà Chúa Giê-xu dùng. Từ ngữ meqal đã được dịch ra là parabolh trong Hi văn vốn được dùng chỉ cả một loạt những cách nói thuộc loại câu đố, dụ ngôn, chứ không chỉ là loại chuyện kể như được gọi là “parables” (dụ ngôn) trong Anh ngữ. Có lẽ câu 11 có nghĩa rằng những người ngoài không nhận thấy ý nghĩa của chức vụ của Chúa Giê-xu (sự mầu nhiệm của Nước Đức Chúa Trời); đối với họ nó giống như một meqal (câu đố). Do đó, việc Ngài phán dạy bằng maqelin (parables, dụ ngôn) là một phần của meqal (câu đố) trong chức vụ toàn diện của Ngài cho họ. Họ nhìn nhưng không thấy; nghe và - thậm chí hiểu - các dụ ngôn, nhưng đã không lãnh hội được toàn bộ ý nghĩa của chức vụ của Chúa Giê-xu.
    Do đó, công tác giải kinh của chúng ta dành cho các dụ ngôn cũng phải bắt đầu bằng những giả định mà chúng tôi đã đưa ra cho tất cả các thể loại khác từ trước cho đến đây. Chúa Giê-xu đã không cố tìm cách nói tối nghĩa; Ngài muốn cho mọi người hiểu mình. Nhiệm vụ của chúng ta trước hết là lắng nghe những gì họ đã được nghe. Nhưng trước khi có thể làm việc ấy, chúng ta phải bắt đầu xem xét vấn đề: Dụ ngôn là gì?
    Tính Chất Các Dụ Ngôn
    Các Thể Loại
    Điều đầu tiên ta cần lưu ý là không phải tất cả những lời nói mà chúng ta dán lên đó cái nhãn hiệu dụ ngôn đều thuộc cùng một loại giống nhau. Có một điểm khác nhau cơ bản, chẳng hạn như giữa người Sa-ma-ri Nhơn Lành (dụ ngôn thật, true parable) ở một bên, và bên kia là Men Trong Bột (lối so sánh) và cả hai đều khác với câu nói “các ngươi là muối của đất” (hình ảnh biểu tượng, metaphor) hay “ai lại đi hái trái nho nơi bụi gai, hay trái vả nơi bụi tật lê?” (dí dỏm, trào phúng, epigram). Thế nhưng tất cả những loại đó thỉnh thoảng vẫn bị bắt gặp trong những cuộc thảo luận về các dụ ngôn.
    Người Sa-ma-ri Nhân Lành là điển hình của một dụ ngôn thật. Đó là một câu chuyện thuần túy và đơn giản, có khởi đầu và kết thúc, có một tình tiết. Những dụ ngôn loại này gồm có dụ ngôn Con Chiên Lạc, Người Con Trai Hoang Đàng, Tiệc Lớn, Những Kẻ Làm Công trong Vườn nho, Người Nhà Giàu với La-xa-rơ, Mười Nữ Đồng Trinh.
    Mặt khác, dụ ngôn Men Trong Bột thuộc loại so sánh nhiều hơn. Những gì đã được nói về men, người gieo giống, hoặc hột cải đều luôn đúng với men, việc gieo giống hoặc hột cải. Những “dụ ngôn” như thế thường rút ra từ sinh hoạt hằng ngày mà Chúa Giê-xu dùng để trình bày một luận điểm.
    Những câu nói như “Các ngươi là muối của đất” khác với cả hai loại trên. Những cách nói ấy nhiều khi được gọi là những câu nói dụ ngôn (parabolic sayings), nhưng kỳ thật đó là những hình ảnh biểu tượng(metaphors) hay tỷ dụ (similes). Thỉnh thoảng dường như chúng có chức năng tương tự như cách nói ví von (similitude), nhưng ý chính của chúng - lý do khiến chúng được nói ra - lại rất khác nhau.
    Cần lưu ý thêm rằng trong một số các trường hợp, nhất là trường hợp dụ ngôn Những Kẻ Thuê Vườn Nho Gian Ác (Mac Mc 12:1-11; Mat Mt 21:33-34; LuLc 20:9-18), một dụ ngôn có thể tiến tới rất gần với lối nói hình bóng (allegory), khi nhiều chi tiết trong một câu chuyện có ý nhằm chỉ về một điều gì khác (như việc Augustine cượng giải Người Sa-ma-ri Nhân Lành). Nhưng các dụ ngôn không phải là những câu chuyện hình bóng (allegories) - mặc dầu đôi khi chúng ta thấy dường như có những đặc điểm của một câu chuyện hình bóng. Lý do chúng ta nói như thế liên hệ đến những chức năng riêng biệt của chúng.
    Vì không phải các dụ ngôn đều cùng một loại, nên không nhất thiết phải ấn định các quy luật chung cho tất cả. Những gì chúng ta bàn ở đây thuộc về các dụ ngôn thực, nhưng phần lớn những gì được đề cập cũng sẽ bao gồm tất cả các loại khác nữa.
    Các Dụ ngôn Có Chức Năng Như Thế Nào
    Cách tốt nhất để biết dụ ngôn là gì nằm trong chức năng của chúng. Tương phản với phần lớn các câu nói dụ ngôn (parabolic sayings), như “tìm hái trái vả nơi bụi tật lê”, các câu chuyện dụ ngôn (the story parables) không nhằm minh họa cho lời dạy của Chúa Giê-xu với những từ ngữ gợi hình. Chúng cũng không được kể ra để dùng làm phương tiện bày tỏ chân lý - tuy đến cuối cùng rõ ràng là chúng thực hiện điều đó. Đúng hơn thì câu chuyện dụ ngôn có chức năng như một phương tiện để kêu gọi sự đáp ứng của người nghe. Để diễn ý câu nói của Marshall McLuhan, bản thân dụ ngôn là một thông điệp. Dụ ngôn được kể để người nghe chú ý, ngưng các hành động riêng, hoặc khiến họ đáp ứng lại với Chúa Giê-xu và chức vụ của Ngài theo cách nào đó.
    Chính tính chất “kêu gọi đáp ứng” của dụ ngôn đã khiến chúng ta gặp vấn đề nan giải quan trọng khi giải nghĩa chúng. Vì theo một vài phương diện, thì giải nghĩa một dụ ngôn là phá hủy tính cách nguyên thủy của nó. Sự việc cũng giống như giải nghĩa một lời nói đùa vậy. Toàn thể “luận điểm” của một lời nói đùa và điều khiến nó lý thú, ấy là người nghe cảm thấy mình gần gũi với điều đã được nói ra. Sở dĩ người nghe cảm thấy thú vị chính là vì người ấy đã bị câu chuyện “bắt” lấy tại chỗ. Nhưng người nghe chỉ bị “bắt” lấy khi họ hiểu được ý trong câu nói đùa. Nếu bạn phải giải nghĩa câu nói đùa bằng cách giải thích các ý được đề cập thì việc ấy không còn “bắt” lấy người nghe nữa, và do đó thường câu chọc cười không còn có cùng phẩm chất. Một khi câu nói đùa phải được giải thích, thì nó có thể được hiểu đấy, và có lẽ vẫn còn thú vị đấy (ít ra là người ta hiểu được điều mà đáng lẽ ra ta phải cười), nhưng nó không còn cùng một sức thẩm thấu như đáng lẽ phải có nữa. Cho nên nó cũng không còn “sức tác động” theo đúng chức năng của nó nữa.
    Với các dụ ngôn cũng thế, khi nghe kể một dụ ngôn phần đông thính giả lúc đó có thể nhận ra ngay ý muốn nói, hay bị nó “bắt” lấy. Tuy nhiên với chúng ta, thì các dụ ngôn đã được viết lại. Chúng ta có thể hoặc không có thể nhận ngay ra được các ý muốn nói, do đó, chúng chẳng bao giờ có thể tác động trên chúng ta hoàn toàn giống như đối với các thính giả đầu tiên. Nhưng bằng cách giải nghĩa, chúng ta có thể hiểu được điều chúng muốn nói, tức hiểu được như thể chúng ta có mặt tại đó. Và đó là việc chúng ta phải làm trong công tác giải kinh. Còn công tác giảng kinh lại đi xa hơn thế nữa: Làm thế nào để chúng ta nắm được ý nghĩa của các dụ ngôn ngay trong thời đại và trong môi trường sống của chính chúng ta?
    Giải Nghĩa Các Dụ Ngôn
    Tìm Các Điểm Đối Chiếu
    Chúng ta hãy trở lại với cách so sánh về câu nói đùa. Hai điều trong câu nói đùa buộc người nghe phải chú ý để phải đáp lại bằng tiếng cười, cũng chính là hai điều bắt buộc được người nghe phải chú ý đến các dụ ngôn của Chúa Giê-xu, đó là nhận biết được các điểm đối chiếu và chuyển biến đột ngột của câu chuyện. Bí quyết để hiểu là tìm các điểm đối chiếu, tức các phần trong câu chuyện mà người ta đồng hóa lúc câu chuyện được kể. Nếu trong một câu nói đùa ta không “nắm bắt” được các điểm đó, sẽ chẳng thể có chuyển biến bất ngờ, vì chính các điểm đối chiếu ấy là những gì tạo ra những điều khiến hiếu kỳ. Nếu ta không nắm được những điều đó trong một dụ ngôn, thì sức mạnh và luận điểm của điều Chúa nói cũng bị mất đi y như thế.
    Điều chúng tôi ngụ ý muốn nói về “các điểm đối chiếu” có thể được minh họa tốt nhất từ một dụ ngôn của Chúa Giê-xu, đã được chép lại trong bối cảnh nguyên thủy của nó - là LuLc 7:40-42. Trong bối cảnh Chúa Giê-xu được một người Pha-ri-si có tên là Si-môn mời dùng bữa. Nhưng việc mời này không được cho là xứng đáng với một ra-bi nổi tiếng. Việc thiên hạ không dành cho Chúa Giê-xu sự tiếp đãi, thậm chí là phổ biến vào thời ấy chắc chắn vốn có phần nào do ý định muốn “đả đảo” Ngài. Khi cô gái điếm của thị trấn lại đến được giữa bữa tự hạ mình trước mặt Chúa Giê-xu bằng cách dùng nước mắt rửa chân cho Ngài rồi lấy tóc mình mà lau, thì điều đó chỉ làm tăng thêm mối nghi ngờ của đám người Pha-ri-si mà thôi. Chúa Giê-xu không thể là một nhà tiên tri và bỏ mặc không kết án một hành động xấu trước công chúng như thế được.
    Vì biết rõ các ý nghĩ đó của họ, Chúa Giê-xu đã kể cho chủ nhà nghe một câu chuyện đơn giản. Có hai kẻ mắc nợ cùng một ông chủ nọ. Một người nợ năm trăm đơ-ni-ê (một đơ-ni-ê là tiền công một ngày lao động); người kia nợ năm mươi đơ-ni-ê. Cả hai đều không trả nổi, cho nên chủ nợ tha cho cả hai. Luận điểm: theo ý quí vị thì trong hai người đó, ai yêu ông chủ nợ hơn?
    Câu chuyện chẳng cần phải giải nghĩa, tuy Chúa Giê-xu đã tiến hành nhấn mạnh luận điểm càng trực tiếp hơn nữa. Có ba điểm đối chiếu; ông chủ nợ và hai con nợ. Và việc đồng hóa đã được thực hiện ngay tức khắc. Đức Chúa Trời giống như ông chủ nợ; cô gái điếm của thị trấn và Si-môn giống với hai con nợ. Dụ ngôn này là một lời phán xét kêu gọi sự đáp ứng từ phía Si-môn. Ông ta không thể không nhận ra luận điểm. Một khi đã nhận ra được, chắc ông ta đã phải cảm thấy xấu hổ vô cùng. Đó là sức mạnh của một dụ ngôn.
    Chúng ta cần lưu ý rằng người phụ nữ kia cũng nghe được dụ ngôn ấy nữa. Cô ta cũng tự đặt mình vào địa vị của các nhân vật trong câu chuyện đã được kể. Nhưng điều cô ta nghe không phải là một lời phán xét, nhưng là việc Chúa Giê-xu và Đức Chúa Trời tiếp nhận nàng.
    CẦN CHÚ Ý: Đây không phải là một câu chuyện hình bóng (allegory) nhưng là một dụ ngôn (parable). Một câu chuyện hình bóng là một câu chuyện trong đó mỗi yếu tố trong câu chuyện đều ngụ ý ám chỉ một điều gì đó hoàn toàn xa lạ với chính câu chuyện. Câu chuyện hình bóng có thể gán ý nghĩa cho năm trăm đơ-ni-ê, năm mươi đơ-ni-ê, cũng như cho bất cứ các chi tiết nào khác mà ta có thể tìm thấy. Hơn nữa, điểm đặc biệt quan trọng là luận điểm của dụ ngôn không nằm trong các điểm đối chiếu như điều phải có trong một câu chuyện hình bóng. Các điểm đối chiếu chỉ là những phần trong câu chuyện thu hút người nghe, với nhân vật mà người ấy muốn đồng hóa với mình, muốn đặt mình vào địa vị của nhân vật ấy. Luận điểm của câu chuyện phải được tìm thấy nơi câu dự định trả lời. Trong dụ ngôn này, đối với Si-môn và các bạn của ông, đó là lời doán xét, và đối với người phụ nữ đó là lời tiếp nhận và tha tội.
    Đồng Hóa Với Người Nghe
    Trong thí dụ minh họa trên đây, chúng tôi đã chỉ ra ý nghĩa của việc đồng hóa với người nghe vì ý nghĩa của dụ ngôn liên quan với cách mà nó đã được nghe lần đầu tiên. Dĩ nhiên là với đa số các dụ ngôn, người nghe đã được nêu ra trong các phần ký thuật của sách Phúc Âm. Trong trường hợp đó, nhiệm vụ giải nghĩa là cố tìm cách kết hợp ba sự việc: (1) ngồi lắng nghe dụ ngôn nhiều lần, (2) nhận diện các điểm đối chiếu mà Chúa Giê-xu có ý muốn cho các thính giả đầu tiên nắm lấy, và (3) tìm xem các thính giả nguyên thủy tự đồng hóa vào câu chuyện như thế nào, và do đó họ đã học được điều gì.
    Chúng ta hãy thử làm việc này về hai dụ ngôn nổi tiếng: Người Sa-ma-ri Nhân Lành (LuLc 10:25-37) và Đứa Con Trai Hoang Đàng (LuLc 15:11-32). Trong trường hợp Người Sa-ma-ri Nhân Lành, câu chuyện được kể cho một thầy dạy luật mà Lu-ca bảo là vì muốn tự xưng mình là công chính, đã hỏi rằng “Ai là người lân cận tôi?” Trong khi bạn đọc đi đọc lại dụ ngôn ấy, chắc bạn sẽ nhận thấy rằng nó đã không trả lời cho câu hỏi đã được đặt ra. Nhưng bằng một cách nói khôn khéo hơn, nó đã lột trần thói tự phụ tự mãn, tự cho mình là công chính của thầy dạy luật kia. Ông ta biết rõ điều Luật pháp dạy liên hệ đến việc yêu người lân cận như bản thân, và ông ta sẵn sàng định nghĩa “người lân cận” bằng những lời lẽ chứng minh rằng ông ta là người ngoan đạo, biết vâng giữ Luật pháp.
    Thật ra trong câu chuyện này chỉ có hai điểm đối chiếu, con người nằm dưới hố và người Sa-ma-ri, các chi tiết khác trong dụ ngôn giúp chúng ta xây dựng phần kết quả. Có hai điểm cần đặc biệt chú ý: (1) Hai người đi tránh qua phía bên kia đường thuộc thành phần thầy tế lễ, là giai cấp tôn giáo, tương phản với các ra-bi và người Pha-ri-si, vốn là những chuyên gia luật. (2) Bố thí cho người nghèo là việc to tát của người Pha-ri-si. Đó là cách mà họ yêu người lân cận như bản thân.
    Rồi hãy chú ý vị luật gia sắp bị dụ ngôn này “cho vào bẫy” như thế nào. Một người sa vào tay bọn trộm cướp trên đường đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, một biến cố hết sức phổ biến. Sau đó, hai nhân vật thuộc hàng giáo phẩm cũng đi trên cùng một con đường ấy, và tránh sang phía bên kia đường. Câu chuyện đã được kể theo quan điểm của con người đang nằm dưới hố, và bây giờ thì vị luật gia đã “vênh mặt lên.” Chắc ông ta tự nghĩ: “Lẽ tất nhiên là như thế rồi. Ai lại trông mong bọn thầy tế lễ làm khác hơn thế bao giờ? Người đi xuống tiếp theo đó sẽ là một người Pha-ri-si, và anh ta sẽ tự xem mình là người lân cận sẽ giúp đỡ cho kẻ khốn khổ kia.” Nhưng không, người ấy lại là một người Sa-ma-ri. Nếu bạn được nghe điều mà người này đã nghe, chắc bạn sẽ biết những người Pha-ri-si phải oán ghét người Sa-ma-ri như thế nào, xin chú ý là ông ta thậm chí chẳng thèm dùng tới từ người Sa-ma-ri trong đoạn cuối của câu chuyện nữa.
    Bạn có thấy điều Chúa Giê-xu đã làm cho người này không? Điều răn thứ hai là hãy yêu người lân cận như bản thân. Thầy dạy luật có sẵn những hệ thống tôn giáo hạn hẹp cho phép mình yêu thương trong những phạm vi giới hạn. Việc Chúa Giê-xu làm vạch trần tấm lòng đầy thiên kiến và thù ghét của ông ta và do đó, cho ông ta thấy là ông đã không thật sự vâng giữ điều răn này. “Người lân cận” không còn có thể được định nghĩa bằng các từ ngữ giới hạn nữa. Sự thiếu tình thương của ông ta không phải ở chỗ ông ta không ra tay cứu giúp con người nằm dưới hố kia, mà là ở chỗ ông ta thù ghét người Sa-ma-ri (và khinh dể các thầy tế lễ). Thật vậy, dụ ngôn đã phá hủy câu hỏi đã được nêu ra, chứ không phải là giải đáp nó.
    Cũng tương tự như thế với câu chuyện Người Con Trai Hoang Đàng. Bối cảnh là việc những người Pha-ri-si lằm bằm chuyện Chúa Giê-xu tiếp nhận và cùng ngồi ăn với loại người xấu xa. Ba dụ ngôn về các đồ vật bị lạc mất trong LuLc 15:1-32 là lời biện minh của Chúa Giê-xu cho các hành động của Ngài. Trong dụ ngôn về đứa con hư hỏng có đúng ba điểm đối chiếu, người cha và hai đứa con trai của ông ta. Do đó, một lần nữa, chỗ ta ngồi xác định cách thức chúng ta nghe, nhưng bất luận trong trường hợp nào, luận điểm vẫn như nhau: Đức Chúa Trời chẳng những tha tội vô điều kiện cho kẻ bị hư vong, mà còn hết sức vui mừng tiếp nhận họ nữa. Những kẻ tự cho mình là công chính tự chứng tỏ là mình bất chính nếu họ không chia sẻ niềm vui của người cha và đứa con hư hỏng hoang đàng kia.
    Lẽ dĩ nhiên các bạn cùng ngồi đồng bàn với Chúa Giê-xu sẽ tự đặt mình vào địa vị của người con hoang đàng, và tất cả chúng ta cũng đều phải làm như thế. Nhưng đó không phải là sức mạnh thực sự của dụ ngôn. Sức mạnh thực sự của dụ ngôn nằm trong thái độ của người con trai cả. Anh ta “luôn luôn ở với cha,” thế nhưng anh ta đã tự đặt mình ra ngoài. Anh ta đã không chia xẻ tấm lòng của người cha với tình yêu đối với một đứa con hư hỏng. Như một anh bạn mới đây đã nói: Bạn có tưởng tượng nổi điều gì tệ hại hơn là trở về nhà để sa vào tay người anh cả này hay không?
    Trong mỗi trường hợp trên đây, và nhiều trường hợp khác nữa, những điểm khó khăn về phương diện giải kinh mà bạn sẽ gặp nẩy sinh phần lớn từ hố văn hóa ngăn cách bạn với thính giả nguyên thủy của Chúa Giê-xu, có thể nó sẽ khiến bạn không nắm được nhiều điểm tế nhị hơn nữa liên quan với việc bạn tái xây dựng toàn thể câu chuyện. Có lẽ đây là chỗ bạn cần được sự trợ giúp từ bên ngoài. Xin đừng xao lãng những điều này, vì các tập tục văn hóa là điều giúp cho các câu chuyện nguyên thủy trở nên sống thực.
    Các Dụ ngôn Không Có Bối Cảnh
    Nhưng phải làm thế nào đối với các dụ ngôn không có bối cảnh lịch sử nguyên thủy trong các sách Phúc Âm. Vì chúng tôi đã minh họa cho mối bận tâm này trong chương trước qua dụ ngôn về Những Người Làm Công Trong Vườn Nho (Mat Mt 20:1-16), nên ở đây chúng tôi chỉ nhắc lại thật vắn tắt. Một lần nữa, đây là vấn đề xác định các điểm đối chiếu và thính giả đầu tiên. Bí quyết là phải đọc đi đọc lại dụ ngôn ấy cho đến khi nào các điểm đối chiếu hiện lên thật rõ ràng. Thường thường thì việc làm này cũng giúp chúng ta thấy đầu mối về những thính giả đầu tiên.
    Như trong dụ ngôn Những Người Làm Công Trong Vườn Nho, chỉ có ba điểm đối chiếu ở đây: người chủ đất, các công nhân làm việc trọn ngày, và các công nhân chỉ làm việc có một giờ mà thôi. Điều này rất dễ xác nhận, vì đây là số người duy nhất được chú ý trong câu chuyện. Thính giả nguyên thủy cũng đã được xác định. Ai là người đã bị “cho vào bẫy” trong một câu chuyện như thế này? Rõ ràng là các thính giả tự ví mình như những công nhân làm việc cả ngày, vì chỉ có riêng họ mới được nhắm vào ở đoạn kết.
    Luận điểm cũng tương tự như trong dụ ngôn Người Con Trai Hoang Đàng. Đức Chúa Trời vốn đầy ân sủng, và người công chính không nên lằm bằm lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời. Tuy nhiên, trong trường hợp này, điều đã xảy ra trong văn cảnh của sách Ma-thi-ơ là cùng một luận điểm giống như thế, bây giờ, lại được nêu ra cho những thính giả mới. Trong bối cảnh nhằm đào tạo môn đệ, nó được dùng làm một lời bảo đảm cho lòng rộng rãi của Đức Chúa Trời, bất chấp các thái độ nhỏ mọn hoặc thù ghét của những người khác.
    Ta cũng có thể thấy cùng một sự việc giống như thế xảy ra với dụ ngôn về Con Chiên Lạc trong Mat Mt 18:12-14. Trong sách Phúc Âm Lu-ca, dụ ngôn này có cùng sức tác động với hai dụ ngôn về Đồng Bạc Mất và Người Con Trai Hoang Đàng như một lời dành cho người Pha-ri-si. Con chiên lạc rõ ràng là một tội nhân mà việc tìm thấy nó khiến cho cả thiên đàng đều vui mừng. Một lần nữa, với tư cách là một lời phán cho người Pha-ri-si, nó biện minh cho việc Chúa Giê-xu tiếp nhận đám người cùng đinh mạt hạng; nhưng khi đám người cùng đinh mạt hạng nghe thì đó là lời bảo đảm với họ rằng họ là đối tượng mà người chăn đầy tình yêu thương đang tìm kiếm. Trong sách Ma-thi-ơ, dụ ngôn này là một phần của bộ sưu tập những câu nói về các mối liên hệ trong Nước Trời. Còn trong bối cảnh mới này thì cùng một luận đi