• Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước


     Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước
    Tác giả: William Dyrness
    Lời Giới Thiệu
    Dẫn Nhập
    1. Đức Chúa Trời Tự Mạc khải
    2. Bản Tánh Của Đức Chúa Trời
    3. Sáng Tạo & Quan Phòng
    4. Người Nam & Người Nữ
    5. Tội Lỗi
    6. Giao Ước
    7. Luật Pháp
    8. Sự Thờ Phượng
    9. Lòng Tin Kính
    10. Đạo Đức Học
    11. Sự Khôn Ngoan
    12. Thánh Linh Của Đức Chúa Trời
    13. Lời Tiên Tri
    14. Hy Vọng Của Y-sơ-ra-ên
    Các Sách Tham Khảo

    Lời Giới Thiệu
    Cuốn Những Chủ Đề Trong Thần Học Cựu Ước này được dịch từ cuốn Themes in Old Testtament Theology của giáo sư William Dyrness do nhà xuất bản Inter-Vasity Press ấn hành năm 1979.
    Kinh nghiệm giảng dạy Thần Học Cựu Ước tại Chủng Viện Thần học Châu Á ở Manila đã thôi thúc William Dyrness viết cuốn sách này. Trong thời gian giảng dạy, tác giả đã nhận thấy một mặt tài liệu này rất phù hợp với các sinh viên Châu Á, mặt khác sinh viên hiện đang thiếu tài liệu thần học hợp thời và thỏa đáng. Tuy nhiên theo tác giả, quyển sách nhỏ này chỉ nhìn nhận sự thiếu hụt hơn là nỗ lực để lấp đầy những thiếu hụt đó.
    Được sự cho phép bản quyền của nhà xuất bản Inter-Vasity Press, Viện Thần Học Việt Nam dịch và xuất bản cuốn sách này nhằm đáp ứng nhu cầu học hỏi Lời Chúa của con dân Chúa khắp nơi. Các con cái Chúa có thể sử dụng tập sách này để nghiên cứu cách cá nhân hoặc theo từng nhóm.
    Tập sách này cũng được dùng làm tài liệu giáo khoa cho các học viên học từ xa (hàm thụ) muốn học môn Thần Học Cựu Ước (chương trình B.A. hay B.Th.) của Viện Thần Học Việt Nam.
    Chúng tôi ước mong tập tài liệu này sẽ khích lệ và hướng dẫn bạn trong việc học hỏi Lời Chúa.
    Viện Thần Học Việt Nam
    Tháng 12, 2003
    Những chữ viết tắt
    ANET: Ancient Near Eastern Texts (các bản văn Cổ Cận Đông)
    DOTT: Documents from Old Testemant Times (các tài liệu thời Cựu Ước)
    IDB: Interpreter's Dictionary of the Bible (Thánh Kinh Từ Điển)
    LXX: Septuagint (Bộ Bảy Mươi)
    NBD: The New Bible Dictionary (Tân Thánh Kinh Từ Điển)
    NT (TƯ): New Testament (Tân Ước)
    OT (CƯ): Old Testament (Cựu Ước)
    TDNT: Theological Dictionary of the New Testament (Từ Điển Thần Học Tân Ước).

    Dẫn Nhập
    Một tác phẩm viết về Cựu Ước khó có thể trở thành sách bán chạy nhất hiện nay. Ngay giữa vòng những người sốt sắng nghiên cứu Kinh Thánh và tiếp tục làm cho Kinh Thánh luôn luôn là loại sách bán chạy nhất qua các thời đại thì những cuộc hội thảo về Cựu Ước cũng không thay đổi được quan niệm của họ. Chẳng khó khăn gì mà không biết được lý do của nó. Hầu như các Cơ Đốc Nhân vẫn thường dành phần lớn thời gian của mình vào việc nghiên cứu Tân Ước, thỉnh thoảng mới đột phá vào các sách Thi Thiên hoặc Châm Ngôn, còn các sách Tiên Tri thì lâu lâu mới đọc. Hậu quả là nhiều Cơ Đốc Nhân không hiểu được toàn bộ mạc khải của Đức Chúa Trời về chính Ngài - do đó họ không thể nào có được một bức tranh toàn cảnh về các mục đích của Chúa. Thực tế cho thấy, nhiều ngôn ngữ trên thế giới thậm chí vẫn chưa có được một bản dịch Cựu Ước nữa. Dĩ nhiên, có thể thông cảm với lý do hạn chế về ngân quĩ và nhân lực nên Kinh Thánh Tân Ước được ưu tiên dịch ra trước, nhưng nếu quý vị giáo sĩ và mục sư chỉ biết giảng dạy nương trên Tân Ước mà thôi thì họ sẽ không thể nào thể hiện được toàn bộ sức mạnh của Lời Đức Chúa Trời. Điều này đặc biệt quan trọng trong những bối cảnh truyền giảng, bởi Cựu Ước thường là nhịp cầu tự nhiên nối liền với giới bình dân, nhất là với những đối tượng không thuộc về nền văn hóa Tây phương. Cựu Ước được đưa vào tư gia, đưa ra phố chợ với mục đích truyền thông tình yêu và sự nhơn từ của Chúa bằng những lời lẽ hết sức cụ thể. Thực ra Tân Ước không thể đứng một mình.
    Chẳng khó khăn gì để tìm ra các dẫn chứng nhằm minh họa cho điều này qua các tài liệu truyền giáo. Chẳng hạn, tại Trung Hoa, các giáo sĩ vào những ngày đầu tiên thường chỉ sử dụng Tân Ước để truyền giảng. Khi bàn về nhược điểm của các hội truyền giáo tại Trung Hoa, Arthur Glasser ghi nhận:
    Lỗ hổng đích thực của phong trào truyền giáo chính là việc sử dụng không đầy đủ lời của Đức Chúa Trời. Nó chỉ chú trọng vào một bộ phận của Kinh Thánh, đó là Tân Ước và sách Thi Thiên... Kinh Thánh không chỉ chứa đựng sứ điệp Phúc Âm của Tân Ước mà còn có cả sự kêu gọi của Đức Chúa Trời dành cho thiên chức về nhân quần xã hội nữa: đó là một chuỗi bổn phận xuyên suốt Cựu và Tân Ước. Trong khi Tân Ước tập trung phần lớn vào từng cá nhân trước mặt Đức Chúa Trời, thì Cựu Ước lại nhấn mạnh đến mối liên hệ hợp nhất (gia đình, cộng đồng xã hội và quốc gia). Tại núi Si-nai, Đức Chúa Trời đã ban cho dân sự Ngài một lối sống vừa bình đẳng vừa nhân đạo... Tóm lại, Cựu Ước đã chỉ dạy về một lối sống qua đó các quyền lợi của con người được bảo toàn” (New Forces in Missions, ed. David Cho, Seoul, 1976, pp. 194-95).
    Như vậy, tác phẩm này ra đời nhằm mục đích khai mở Cựu Ước cho các Cơ Đốc Nhân. Nói đúng ra, thì đây là một quyển sách về thần học Cựu Ước, và điều quan trọng là chúng ta phải hiểu được ý nghĩa của nó. Mọi nền thần học tốt đều dựa trên Kinh Thánh hoặc ít hoặc nhiều, nhưng thần học Kinh Thánh phải là sự nghiên cứu chuyên biệt về các chủ đề của Thánh Kinh dựa trên những điều kiện được cho của chúng. Để phân biệt với thần học hệ thống, là khoa học tìm cách thấu hiểu mối tương quan giữa các chủ đề của Thánh Kinh với các hàm ý về lịch sử và triết học, thần học Kinh Thánh nghiên cứu các chủ đề xuyên suốt của Thánh Kinh trong tiến trình phát triển sự đối xử mà Đức Chúa Trời dành con người vào thời đại Kinh Thánh. Nó mang tính lịch sử và tiệm tiến. Thần học Kinh Thánh xoay quanh sự tự mạc khải để cứu rỗi của Đức Chúa Trời bằng hình thức các biến cố, qua đó Đức Chúa Trời đã kêu gọi cho Ngài một dân không phải chỉ để phản ánh tâm tánh Ngài mà còn nhằm phản ánh các chủ đích yêu thương Ngài. Thần học Kinh Thánh nhìn thấy các bước phát triển đó dựa trên bối cảnh của một thế giới do Đức Chúa Trời sáng tạo, là phương tiện chuyên chở những chủ đích và giá trị của Đức Chúa Trời. Cuối cùng, thần học Kinh Thánh cho thấy Đức Chúa Trời đã không hề chịu từ bỏ các chủ đích của Ngài như thế nào, mặc cho sự bất trung của chính dân Ngài, và thậm chí là sự vô tín của họ, Ngài vẫn hành động để tạo ra một dân khác trọn vẹn và hoàn hảo hơn cho chính Ngài.
    Nếu chúng ta nhập tâm những ý tưởng này và đọc Tân Ước (với toàn bộ phần lịch sử liên quan đến vấn đề đó) trong sự soi sáng của chúng, nghĩa là chúng ta đang thực hiện một bước khởi đầu quan trọng theo lối tư duy thần học - y theo quan niệm của Đức Chúa Trời về thế giới này. Điều chắc chắn là các ý niệm trọng tâm đó được bày tỏ qua Cựu Ước.
    Tuy nhiên, điều hoàn toàn đúng là chúng ta phải đọc Cựu Ước trong ánh sáng về sự hiện ra của Chúa Giê-xu Christ, cùng với sự mô tả tỉ mỉ của Tân Ước về công việc Ngài. Nói cách khác, chúng ta phải đọc Cựu Ước với cương vị là Cơ Đốc nhân và phải tự vấn xem điều đó có nghĩa gì. Với Cơ Đốc nhân, đâu là mối quan hệ giữa hai giao ước? Có một số người, nhất là những người theo trường phái Luther, đã nhấn mạnh đến sự khác biệt giữa Cựu và Tân Ước cũng như trổi vượt của Tân Ước. Luật pháp của Cựu Ước đã bị thay thế bởi Phúc Âm của Tân Ước. Theo tôi thì Cơ Đốc nhân nên xem cả Cựu Ước lẫn Tân Ước đều có vai trò như nhau.
    Nói như thế không có nghĩa là phủ nhận những dị biệt vốn có giữa hai giao ước ấy. Các chủ đích của Đức Chúa Trời được thể hiện một cách rõ ràng hơn trong Tân Ước. Giao ước ấy đã được đóng ấn một lần đủ cả bằng sự chết của Đấng Christ, chứ không phải bằng nhiều lần dâng sinh tế như trong Cựu Ước. Cựu Ước thì chú trọng ưu tiên vào dân Y-sơ-ra-ên, trong khi Tân Ước lại thể hiện phần lớn sự quan tâm đến toàn thế gian. Song những điểm tương đồng giữa hai giao ước lại quan trọng hơn những điểm dị biệt. Cả hai giao ước đều ký thuật với cùng một dòng lịch sử về quá trình phát triển sự đối xử của Đức Chúa Trời với nhân loại. Công việc của Đấng Christ là tột đỉnh của chân lý Cựu Ước chứ không phải là sự phủ nhận chân lý đó. Cũng có những điểm mới trong Tân Ước, nhưng những điểm mới đó không phải là hoàn toàn mới. Có một sự liên tục quan trọng nối liền hai giao ước lại với nhau, cả hai đều chứa đựng lề lối và bản chất của sự mạc khải Đức Chúa Trời cũng như phương cách mà con người đáp ứng sự mạc khải đó. Như John Calvin đã nói: “Tôi được tự do thừa nhận có những điểm dị biệt trong Kinh Thánh... nhưng bằng một cách thức nào đó để khỏi làm phương hại đến tính nhất quán vững lập của nó... Tất cả những điều đó chỉ tác động đến thể thức, chứ không hề liên quan đến bản chất” (Institutes, II, 11, 1).
    Một phương pháp nghiên cứu Kinh Thánh đã chứng tỏ có kết quả trong việc minh họa cho tính nhất quán này là hình bóng học (typology), hay môn học về những sự tương quan giữa các yếu tố của hai giao ước đó. Nếu việc làm đó từng bị lạm dụng và dẫn tới sự giải kinh tưởng tượng ra nhiều chi tiết thì việc hiểu đúng phương pháp sẽ giúp ta thấy rõ sự mạc khải của Đức Chúa Trời được phát triển một cách nhất quán trong lịch sử. Hình bóng là “một biến cố Kinh Thánh, một nhân vật hay một thể chế dùng để nêu gương hay làm mẫu cho những biến cố, những nhân vật hay những thể chế khác” căn cứ trên bàn tính nhất quán về bản tính và hành động của Đức Chúa Trời (Baker 1977, 267). Điều này có nghĩa là một biến cố hay đối tượng Cựu Ước, mang ý nghĩa toàn diện theo toàn bộ văn mạch của Kinh Thánh thì ý nghĩa của nó sẽ được mở rộng cho những điểm tương quan (và ứng nghiệm) trong Tân Ước mà chúng ta có thể gọi là bối cảnh Tân Ước. Lối suy tưởng này phần lớn được thảo luận trong sách này, khi tham khảo Tân Ước.
    Có một cách làm sáng tỏ mối quan hệ giữa hai giao ước đó là ví sánh Kinh Thánh với một bản nhạc giao hưởng. Tất cả những chủ đề căn bản của bản giao hưởng đều đã được trình bày trong Cựu Ước, đều có thể được nhìn thấy và thưởng thức ngay trong những điều kiện của nó. Tất cả sự thật về việc tự mạc khải của Đức Chúa Trời qua sự sáng tạo và cứu chuộc đều đã được diễn tả trong các chủ đề ấy. Đức Chúa Trời đang thực sự tiến về phía nhân loại nên đã có một mối thông công thực sự giữa hai bên - không phải chỉ là lời hứa về điều này. Sau đó Tân Ước cũng sử dụng các chủ đề đó, khai triển ra và thêm vào đó các giai điệu riêng của mình, chuyển toàn thể bản nhạc lên một cung bậc cao hơn, đan dệt tất cả vào nhau một cách phong phú và đẹp đẽ. Chỉ cần một dòng giai điệu đơn giản trong Cựu Ước - chẳng hạn như nói về thái độ nản lòng và sự chu cấp của những ngày lưu lạc tại đồng vắng - được góp nhặt và sắp xếp vào một khung cảnh khác thì giá trị sẽ được nâng lên trong phần mạc khải Tân Ước - như những lời cảnh báo và khích lệ của Phao-lô dành cho Hội Thánh tại Cô-rinh-tô (I Côr 10). Nếu chúng ta không chịu cẩn thận lắng nghe Cựu Ước, rất có thể là chúng ta sẽ bỏ qua cơ hội thưởng thức những giai điệu cảm động nhất của Tân Ước. Cho nên, thay vì nhìn thấy Cựu Ước chỉ là tạm thời và thiếu sót - một cái gì đó lỗi thời và bị phế bỏ - chúng ta phải nhìn thấy nó như là một cái gì đó chưa hoàn tất hơn cả phần hòa âm cần được định hình, chuyển đổi phần ẩn dụ, cùng những tình tiết cần phải được đưa vào đoạn kết. Như vậy, những gì Tân Ước đem đến cho chúng ta không phải để bỏ mặc Cựu Ước lại đàng sau, mà chính là để thể hiện ra thực tại rất sâu nhiệm của Cựu Ước. Người ta có cảm tưởng rằng càng đi sâu vào thực tại Cựu Ước thì người ta càng hiểu được chân lý của Tân Ước một cách sâu nhiệm hơn. Tân Ước và Cựu Ước đều cần đến lẫn nhau để cho cả hai cùng đạt đến sự bày tỏ trọn vẹn. Muốn bàn luận một cách đầy đủ hơn về mối quan hệ giữa hai giao ước, nên đọc tác phẩm Two Testaments: One Bible, của tác giả D. L. Baker được ghi trong danh mục sách tham khảo.
    Phần trên đây có thể giúp chúng ta trả lời được câu hỏi luôn được đặt ra, đó là “Yếu tố trọng tâm của Cựu Ước là gì?” Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này bằng một câu hỏi khác: “Người ta phải tìm tâm điểm của một khúc giao hưởng hay một vở kịch ở đâu?' Dĩ nhiên phải có những chủ đề trung tâm, nhưng không một điểm nào có thể được coi là tâm điểm, trừ phi nó chính là điểm kết hợp toàn bộ. Cho nên, tất cả những chủ đề mà chúng ta sẽ thảo luận đều trùng lắp lên nhau và tương quan lẫn nhau. Bản tánh của Đức Chúa Trời dẫn Ngài đến chỗ ràng buộc chính Ngài với người nam và người nữ trong giao ước; luật pháp làm trọn giao ước; sự thờ phượng (hình thức) và lòng tin kính cùng phát triển từ mối quan hệ giao ước được định nghĩa trong luật pháp; tất cả những điều đó tự bày tỏ qua đời sống đạo đức của cộng đồng (đạo đức học và sự khôn ngoan), dẫn đến khải tượng trong các tiên tri về giao ước cuối cùng mà Đấng Christ sẽ đóng ấn bằng sự chết của Ngài. Có lẽ sự thống nhất toàn bộ được thể hiện tốt nhất qua sự tự mạc khải mang tính sáng tạo cứu chuộc của Đức Chúa Trời, hay bằng lời lẽ đơn giản hơn đó là việc Ngài đã bằng lòng hạ mình để trở thành người cha của dân sự Ngài.
    Tôi đã chọn cách khai triển mọi khía cạnh đó theo chủ đề. Phương pháp này có thể gặp nguy cơ tạo ra những quan niệm sai lầm. Bất kỳ một hình thức phân chia tài liệu nào cũng đều có ít nhiều tính độc đoán, và có thể đề nghị phân chia ở những chỗ không có phân chia. Cho nên, cần nhớ rằng các ý niệm và thể chế được thảo luận trong các chương riêng biệt đều có liên hệ hữu cơ với nhau, và đều trải qua sự phát triển lịch sử trong đời sống của Y-sơ-ra-ên. Sự mạc khải của Đức Chúa Trời mang tính tiệm tiến tăng dần. Đó là lý do khiến cho một số học giả (như Gerhard von Rad chẳng hạn) thích nghiên cứu Cựu Ước bằng phương pháp lịch sử hơn. Nhưng khi người ta đã lưu ý đến đặc tính lịch sử của mạc khải, thì phương pháp chủ đề sẽ giúp chúng ta hiểu rõ tính mạch lạc trong chương trình của Đức Chúa Trời. Cũng nên lưu ý là có thể nắm vững bối cảnh lịch sử bằng cách tham khảo các tài liệu tiêu chuẩn về lịch sử Cựu Ước, như của John Bright hay Leon Wood được ghi trong danh mục sách tham khảo.
    Trong phần lớn các chương, phương pháp đều giống nhau. Bắt đầu với phần tóm tắt các tư liệu, tôi mô tả sơ lược về sự phát triển đã xảy ra trong Cựu Ước (nếu có thể thì đề cập đến bối cảnh Cận Đông), rồi kết thúc bằng việc tóm tắt các nguyên tắc thần học có trong đó. Trong một số trường hợp - nhất là khi thảo luận về người nam và người nữ và về tội lỗi - tôi đã sử dụng nhiều công trình nghiên cứu sâu rộng về từ ngữ và khái niệm để bổ túc cho phương pháp kia. Phải thừa nhận rằng không hề có phương pháp riêng lẽ nào lại không có cái nhìn phiến diện, vì thế chỗ nào có thể sử dụng được nhiều phương pháp khác nhau thì cần nên kết hợp.
    Việc sử dụng các công trình nghiên cứu từ ngữ là phương pháp thông thường để học Kinh Thánh, và thiết tưởng nên nói đôi lời về phương pháp nghiên cứu Cựu Ước này. Về cơ bản, có hai cách nghiên cứu từ ngữ: nghiên cứu nguyên ngữ (etymological) và nghiên cứu ngữ nghĩa (semantic). Phương pháp đầu chú ý đến ngữ căn, là nguồn gốc và sự phát triển của từ ngữ; phương pháp sau chú trọng vào ý nghĩa các từ ngữ khi chúng được dùng trong các văn mạch. Theo truyền thống, tuy việc nghiên cứu nguyên ngữ được người nghiên cứu Kinh Thánh sử dụng rộng rãi hơn, nhưng gần đây, người ta lại thừa nhận rằng thượng hạ văn của một từ ngữ là quan trọng hơn nguồn gốc của nó (thực sự có thể hoàn toàn bị lãng quên). Do đó, trong nguyên văn Hy Lạp của Tân Ước, các học giả hiện có khuynh hướng chú ý nhiều đến các bối cảnh của từ ngữ Hy Lạp (hay tiếng A-ram) của Cựu Ước hơn là lịch sử nguyên ngữ của Hy Văn cổ (tuy cũng không nên bỏ qua phần này). Lẽ dĩ nhiên, giải pháp tốt nhất là phải sử dụng cả hai nếu muốn hiểu rõ một điều gì qua nguyên ngữ (và có lẽ cả ý nghĩa của nó trong các ngôn ngữ liên quan), phải thận trọng chú ý xem từ ngữ ấy đã được sử dụng như thế nào trong văn mạch của Kinh Thánh. Trong những phần nghiên cứu như vậy, tôi sẽ nhấn mạnh đến cả hai phương pháp. Trong chương bàn về Đức Chúa Trời với người nam và người nữ, tôi lưu ý nhiều đến những điểm giống nhau, về phương diện nguyên ngữ, còn trong chương về tội lỗi, tôi dành sự quan tâm nhiều hơn cho các mối quan hệ ngữ nghĩa mà không hề có sự dính dáng gì về mặt nguyên ngữ. Học viên nào muốn thì có thể tham khảo tác phẩm The Semantics of Biblical Language của James Barr, có thảo luận đầy đủ về những điểm này.
    Những năm gần đây Cựu Ước đã trở nên hấp dẫn nhờ những kiến thức phong phú qua các công trình nghiên cứu về tôn giáo đối chiếu, sử học, và khảo cổ học. Một số sách thần học Cựu Ước đã được viết ra nhờ sử dụng số tài liệu đó. Tôi cũng tìm cách sử dụng số tài liệu đó trong phạm vi của chủ đích và khả năng của mình. Một phần của chủ đích đó được xác định qua việc quyển sách này đã được soạn thảo theo quan niệm Tin Lành, là quan niệm chấp nhận toàn bộ Thánh Kinh là Lời của Đức Chúa Trời. Dù không phải mọi nguồn tài liệu tôi đã sử dụng đều phản ánh quan điểm như vậy-và cũng có người sẽ không hài lòng với cách tôi sử dụng các kết luận của họ-tất cả đều có nhiều điều để dạy chúng ta về Cựu Ước. Một khi văn bản Thánh Kinh được xem là tòa án chung thẩm, thì người học Kinh Thánh không nên tránh né việc học hỏi những kiến thức dồi dào được xuất phát từ những trường phái phê bình đương đại được cung cấp sẵn cho mình (Introduction to the OT của R. K. Harrison, quyển lược khảo rất hữu ích về các quan điểm phê bình và lời đáp lại của giới Tin Lành). Tôi có liệt kê một số công trình nghiên cứu rất quan trọng như vậy trong bản thư mục ở cuối sách. Vì có thể tìm được các dữ kiện trong đó, nên tôi giới hạn việc đề cập các quyển sách đó, cũng như nói đến tác giả, niên đại (nếu cần phải minh định rõ) và số trang trong sách này của tôi.
    Mục đích chính của quyển sách này không nhằm đưa học viên đến với Cựu Ước. Vì thế, tôi đã đưa phần trích dẫn Kinh Thánh trong hầu hết mọi phân đoạn. Các câu trích dẫn đó không phải là để hậu thuẫn cho những gì tôi nói; mà đúng hơn đó chính là nguồn gốc các nhận xét của tôi. Chúng được dụng ý trưng ra để mọi người đọc và suy gẫm. Nếu có người đọc những câu đó và bắt đầu nhận thấy rằng Cựu Ước quả là một tài liệu lý thú và làm cảm động, có thể đưa tất cả chúng ta đến sự sâu nhiệm trong đức tin, khiến chúng ta gia tăng sự ca tụng thì quyển sách này đã đạt được mục đích của nó rồi.

    Đức Chúa TrờiTự Mạc khải
    Tri thức chung mọi người đều có đó là Đức Chúa Trời thực hữu,Ngài đã sáng tạo trời đất, Ngài là Đấng công chính, Ngài trừng phạt kẻ gian ác v.v… Nhưng Đức Chúa Trời nghĩ gì về chúng ta, Ngài muốn ban gì và làm gì để giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết hầu cứu rỗi chúng ta--đây là tri thức đặc biệt và đích thực về Đức Chúa Trời-- thì loài người lại không biết. Như thế thì chẳng khác gì chuyện vẫn thường xảy ra là tôi rất quen với khuôn mặt của một người, nhưng lại không thật sự biết người đó, bởi vì tôi không biết những gì người ấy suy nghĩ. Cũng vậy, con người tự nhiên biết có một Đức Chúa Trời, nhưng lại không biết những gì Ngài muốn và những gì Ngài không muốn.
    Martin Luther, Thư Tín Ga-la-ti
    Đức Chúa Trời Tự Mạc Khải: Nền Tảng Của Mạc Khải Cựu Ước
    Mục tiêu mạc khải mà Đức Chúa Trời muốn thực hiện trong Cựu Ước tất nhiên là việc tự mạc khải (self-revelation) về mình cho dân Ngài; mạc khải về thân vị và bản tánh Ngài chính là tiền đề giải thích cho sự mạc khải về mục đích Ngài. Trong những năm gần đây, các học giả Cựu Ước thường nhấn mạnh về mạc khải của Đức Chúa Trời qua những công việc quyền năng Ngài, ắt hẳn điều đó đã mang lại cho chúng ta một hiểu biết tường tận hơn về tính xác thực của mạc khải Cựu Ước. Đức Chúa Trời không chỉ mạc khải chính mình Ngài bằng những lời tuyên phán (propositions) mà thông qua những biến cố, Ngài còn dùng các tiên tri Ngài để chú giải những điều đó cho chúng ta. Gần đây, Wolfhart Pannenberg cùng với nhóm chuyên gia của mình đã nhấn mạnh đến đặc tính lịch sử của mạc khải. Rolf Rendtorff cho rằng: “Jahweh (danh xưng của Đức Chúa Trời theo nguyên ngữ Hi-bá-lai) đã bày tỏ chính mình Ngài cho chúng ta qua những công việc cứu rỗi quyền năng được thực hiện, có nghĩa là qua đó Ngài đã tự mạc khải về mình” (Pannenberg, 32). Pannenberg thì quả quyết: “Đức tin bền đỗ nhờ vào bằng chứng về các sự kiện lịch sử khi sự cứu rỗi được thực hiện, qua đó bày tỏ thần tánh và năng quyền của Jahweh” (Pannenberg, 126).
    Tất cả những vấn đề nêu trên đều hữu ích. Nhưng chắc chắn không thể vì vậy mà cho rằng sự mạc khải của Đức Chúa Trời qua sách Sáng Thế Ký là một phương thức mạc khải chưa thỏa đáng theo như nhận định của họ. Song để cho dân Y-sơ-ra-ên có được cơ sở nhận thức về công việc quyền năng của Đức Chúa Trời, Ngài đã tự mạc khải về mình cho các tổ phụ. Lời xác nhận “Đức Chúa Trời của tổ phụ tôi” (XuXh 15:2) cùng với ánh sáng về sự hiện ra của Đức Chúa Trời trong quá khứ đã khiến cho việc ra khỏi Ai Cập trở nên dễ hiểu hơn. Chúng ta cần nên nhớ, sự mạc khải Cựu Ước bao giờ cũng dẫn đến một mối quan hệ biệt riêng giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài. Nếu sự tương giao được thiết lập, chúng ta cần phải hiểu biết được bản tánh của Đức Chúa Trời qua việc Ngài tự bày tỏ mình ra. Chúng ta sẽ không thể đạt đến sự hiểu biết đầy trọn về mạc khải Cựu Ước nếu chưa có được tầm vóc khám phá đa phương (many-sided) về lời lẽ và sự kiện trong đó. Một khi chưa nhìn nhận việc tự mạc khải của Đức Chúa Trời là mạc khải nền tảng thì chúng ta sẽ chẳng hiểu biết được gì. Hãy xem lại những gì đã chép để hiểu được lý do tại sao.
    Về một phương diện, bản tánh Đức Chúa Trời đã được tỏ ra qua công cuộc sáng thế. Ngài đã tạo ra thế giới này bằng mối quan tâm sâu sắc và dõng dạc tuyên bố xác nhận nó thật “tốt lành” (SaSt 1:31). Đến Sáng Thế Ký chương 2, chính Đức Chúa Trời đã ban chỉ dẫn sống cho A-đam trong vườn Ê-đen. Cho đến khi sự hài hòa của các tạo vật nguyên thủy bị phá vỡ bởi sự bất tuân và mất đi nguyên trạng của mình thì lúc đó sự tự mạc khải tươi mới (fresh) của Đức Chúa Trời mới thực sự trở nên cần thiết. Kể từ đó trở đi, sự mạc khải được mang đặc trưng phục hồi mối quan hệ đã bị phá vỡ. Và bỗng trở nên sự cứu chuộc.
    Trong 3:9, Đức Chúa Trời đã hiện đến và hỏi con người rằng: “Ngươi ở đâu? ”, A-đam đã nỗ lực một cách đáng thương để lánh mặt Đức Chúa Trời vì ông đã bắt đầu biết hổ thẹn, xuất phát từ nhận thức về sự xa cách giữa mình với Đức Chúa Trời. Kể từ đó, con người bắt đầu biết run sợ khi đứng trước sự hiện diện của Chúa. Trước Đấng Tạo Hóa, họ biết mình lõa lồ và nhận thức thuộc linh đã đến với họ khi họ thật sự ý thức được thân thể mình lõa lồ (về sau trong dân Y-sơ-ra-ên, hễ ai đến trước mặt Đức Giê-hô-va cách lõa lồ đều bị xem là làm điều gớm ghiếc - XuXh 20:26). Rõ ràng, sự chất vấn của Đức Chúa Trời không nhằm mục đích đòi hỏi con người cho Ngài biết những gì đã xảy ra, nhưng ấy là nỗ lực nhằm kéo A-đam và Ê-va về với chính Ngài, để cho họ thấy lòng Ngài bao dung. Sự chất vấn dành cho Ca-in trong SaSt 4:6, 9, 10 “Cớ sao nét mặt ngươi gằm xuống?Em ngươi ở đâu? Ngươi đã làm điều chi vậy? ” cũng nhằm mục đích tương tự. Đức Chúa Trời biết những gì đã xảy ra song Ngài muốn Ca-in tự thú để trở lại cùng Ngài. Ngay từ ban đầu, Đức Chúa Trời đã tỏ thái độ bao dung đối với tội lỗi loài người. Ngài không muốn tội nhân chết mất, nhưng muốn họ được sống.
    Đức Chúa Trời Tự Mạc Khải Trong Những Trường Hợp Đặc Biệt
    1. SaSt 12:1-50. Việc tự mạc khải của Đức Chúa Trời chỉ thật sự bắt đầu từ Sáng Thế Ký12 khi Ngài kêu gọi Áp-ra-ham lìa bỏ quê hương và dân tộc mình để đi đến một vùng đất mà Ngài sẽ chỉ cho. Câu 1 được mở đầu bằng một mạng lệnh; Đức Chúa Trời không hề bày tỏ mình là ai mà chỉ phán: Hãy rời bỏ quê hương để đi đến một vùng đất mà ta sẽ chỉ cho. Cũng như hết thảy những lần hiện ra trong Cựu Ước, sự hiện diện và quyền uy của Đức Chúa Trời trong đoạn kinh văn này là không thể hoài nghi. Bởi làn sóng của hoài nghi chủ nghĩa hiện đại (modern skepticism) rất dễ khiến chúng ta tự hỏi: làm sao Áp-ra-ham biết được đó là Đức Chúa Trời, chẳng lẽ ông lại không có khoảnh khắc nghi ngờ nào chăng, nhưng Kinh Thánh thì không hề đề cập đến những điều đó. Mạng lệnh thật đơn giản và rõ ràng. Như lập luận của Von Rad: “Jahweh là chủ từ của động từ đầu tiên trong phần mở đầu của lời tuyên phán đầu tiên, thì đương nhiên Ngài cũng là chủ thể của toàn bộ phần thánh sử còn lại. Ngài đã mở đầu bằng lệnh truyền: hãy triệt để dứt bỏ từ gốc rễ mọi ràng buộc mang tính tự nhiên” (Von Rad 1961, 154). Ngay sau đó là một lời hứa, “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân lớn, ta sẽ ban phước cho ngươi ” (câu 2). Và câu tiếp theo cho thấy Đức Chúa Trời quan tâm đến mọi dân tộc, nhưng Ngài chỉ khởi đầu thiết lập mối quan hệ với Áp-ra-ham và dòng dõi của ông. Toàn bộ Thánh Kinh Cựu Ước toát lên mối quan hệ thiết thân giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài. Thông qua tuyển dân, Ngài muốn ban phước cho mọi dân tộc trên thế gian này.
    2. SaSt 15:1-21;, 17:1-27. Trong hai chương này Đức Chúa Trời lại hiện ra cùng Áp-ra-ham và chính thức lập giao ước với ông. Trong 15:1 Ngài hứa sẽ làm một cái thuẫn đỡ cho Áp-ra-ham và trong 17:1 Ngài tự xưng là El Shaddai. Nguyên nghĩa của danh xưng này dẫu chưa đạt được sự nhất trí chung nhưng nó hàm chứa được ý nghĩa về sức mạnh của Đức Chúa Trời so với sự mỏng manh của con loài người, cũng như hàm ý về sự cung ứng đầy đủ của Đức Chúa Trời dành cho họ. Sau khi tỏ ra danh xưng đó, Đức Chúa Trời đã đưa ra lời giáo huấn: “Ngươi hãy đi trước mặt ta. làm một người trọn vẹn ” (17:1). Đáp ứng mà Đức Chúa Trời đòi hỏi ở đây là một đáp ứng về mặt đạo đức; ngay từ ban đầu, chuẩn mực đạo đức đã được đề cập đến trong mối quan hệ giữa Chúa với dân sự Ngài. Cần phải có cách ăn nết ở xứng đáng trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời. Sau đó, Ngài đã hứa thiết lập một giao ước cùng Áp-ra-ham, đó chẳng phải là mối giao thân tạm bợ, mang tính thời vụ, song là một mối giao thân liên tục và vĩnh cửu. Tính cách trường cửu ấy được ấn chứng bằng dấu hiệu về phép cắt bì trên thân thể lưu truyền qua các thế hệ (c.10).
    Việc Đức Chúa Trời tiết lộ danh tánh Ngài cho Áp-ra-ham mang một ý nghĩa rất lớn. Cũng như người Trung Hoa và nhiều dân tộc khác, danh xưng đóng vai trò rất quan trọng đối với người Hi-bá-lai. Nó bày tỏ một phần cá tánh của con người. Vai trò quan trọng của A-đam trong việc mặc lấy hình ảnh Đức Chúa Trời thể hiện qua việc được giao quyền đặt tên cho các tạo vật. Khi đặt tên như vậy, ông đã thực thi quyền tự do của mình trên thế giới được tạo nên. Và những tên gọi đó cũng chính là phương tiện liên lạc giữa ông với tạo vật khác. Đối với một người thì tên gọi của họ ở đâu cũng có nghĩa là họ đang thật sự ở đó. Tên và người tuy hai mà một. Thực tế đã chứng minh: khi hoàn cảnh của một người thay đổi, thì tên của người đó cũng buộc phải thay đổi theo. Trong 17:4-6, Áp-ram đã được đổi tên thành Áp-ra-ham, nghĩa là “cha cao quý” đã trở nên “cha của nhiều dân tộc”. Về sau, chính Đấng Christ cũng có phán: Ngài đã đến trong danh Cha, thì mọi người cũng phải xem Ngài như là Cha vậy (GiGa 5:43). Sứ đồ Giăng thì kết thúc sách Phúc Âm của mình bằng lời quả quyết: mọi điều ông viết ra đều nhằm mục đích “để khi các ngươi tin, thì nhờ danh Ngài mà được sự sống ” (20:31). Cho nên, khi Đức Chúa Trời tiết lộ danh tánh Ngài cho Áp-ra-ham thì điều đó có ý nghĩa rất lớn. Tuy vĩ đại, cao cả nhưng Đức Chúa Trời cũng bằng lòng tỏ mình ra và đã phó chính mình Ngài cho nhân loại. Một khi nhân loại đã biết danh tánh của Đức Chúa Trời rồi, cũng có nghĩa là họ đã biết cách kêu cầu Ngài, khẩn xin sự hiện diện Ngài và tất nhiên cũng dễ dàng xúc phạm đến Ngài.
    3. SaSt 28:13. Ý nghĩa của danh xưng tiếp tục được tìm thấy trong Sáng Thế Ký chương 28 liên quan đến việc tự mạc khải của Đức Chúa Trời. Tại đây, Gia-cốp đã chiêm bao thấy một chiếc thang bắc lên trời và Đức Giê-hô-va đang đứng ở trên đó, Ngài phán rằng: “Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham tổ phụ ngươi, cũng là Đức Chúa Trời của Y-sác ”. Không chỉ có danh Ngài được nhắc đến ở đây mà mối liên hệ giữa Ngài với Áp-ra-ham cũng được đề cập đến. Ngài là Đức Chúa Trời rất mực thiết thân với cha và ông của Gia-cốp. Sau đó, Chúa đã ban lời hứa bằng việc tái lập lời hứa của giao ước: Ta sẽ ban cho ngươi đất này. Điều lý thú ở đây là trong khi tên tuổi của các thần ngoại bang ngay từ buổi ban sơ thường gắn liền với một địa danh nào đó, thì Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên lại có liên quan mật thiết đến những nhân vật và sự kiện (XuXh 20:1, 2) cùng với những lời hứa - bằng chủ quyền và tự do tuyệt đối - về việc ban đất cho dân Ngài. Khắp đất đều thuộc về Chúa, và một nơi trở nên thánh địa khi nơi đó người ta cầu khẩn danh Ngài. Phản ứng của Gia-cốp vào lúc ấy cũng rất nhân tánh. Ông run sợ. Sợ vì cảm nhận được sự hiện diện của Đức Chúa Trời tại nơi đó. Trong một lần chạm trán về sau (SaSt 32:29), Gia-cốp liền vội vàng chất vấn để biết tên người đọ sức cùng mình. Nhân vật xa lạ này là ai? “Những gì ẩn chứa trong tất cả các câu hỏi cấp bách mang đầy nhân tánh nêu trên là hỏi tên, đó là tất cả những gì con người muốn biết và cũng là tất cả can đảm họ có khi đứng trước mặt Đức Chúa Trời” (Von Rad 1961, 317). Và Đức Chúa Trời đã ban phước trên ông thay cho câu trả lời. Bởi lẽ Ngài thừa biết câu hỏi ấy ẩn chứa ước muốn về việc mượn danh lớn để đáp trả lại kẻ xa lạ đang tấn công mình. Đối với những trường hợp như vậy, Đức Chúa Trời có toàn quyền để từ chối trả lời.
    Không chỉ những sự việc kể trên mới được xem là có ý nghĩa quan trọng trong Sáng Thế Ký, nhưng đó chính là nền tảng cho toàn bộ phần lịch sử về các tộc trưởng. Nếu loại bỏ những sự kiện cốt lõi đó thì toàn bộ phần ký thuật còn lại sẽ không có ý nghĩa gì. Lịch sử các tộc trưởng chính là lịch sử dựa vào những sự việc kể trên để có được khởi điểm thích ứng và lời lý giải khả dĩ cho chính bản thân mình. Chắc chắn một điều là Đức Chúa Trời đã hiện ra cùng họ và kêu gọi họ thực hiện một sứ mạng đặc biệt nên đời sống của họ phải có được ý nghĩa cao trọng hơn những kẻ xung quanh mình. Trái với quan điểm của một số học giả hiện đại, tôi cho rằng trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên, giai đoạn này mới chính là giai đoạn phôi thai. Nó chính là cơ sở cho mọi sự phát triển về tư duy tôn giáo (religion thought) sau này. Đức Chúa Trời muốn dân Y-sơ-ra-ên phải là vật sở hữu có một không hai của Ngài. Và Ngài đã chọn họ làm đối tượng để chuyển tải phước hạnh cùng sự hiện diện của Ngài cho toàn thế giới. Ngài đã ban cho họ lời hứa Ngài được ấn chứng qua phép cắt bì trên thân thể. Không những vậy, tương lai trong cõi đời này họ sẽ sở hữu được vùng đất mà Đức Chúa Trời hứa ban cho họ.
    Mặc dầu sự mạc khải có tính cách tiệm tiến xuyên suốt Kinh Thánh nhưng không có nghĩa là đức tin đi từ một khái niệm sơ khai, đơn giản đến một mức độ cao hơn và tinh vi hơn. Sự đáp ứng của Áp-ra-ham đối với Đức Chúa Trời trong HeDt 11:8-12 được xem là một tấm gương tiêu biểu về đời sống đức tin. Xuyên suốt Kinh Thánh, Áp-ra-ham được xem là người biết “chờ đợi một thành vững chắc, mà Đức Chúa Trời đã xây cất và sáng lập ” (11:10).
    4. XuXh 3:1-22. Giờ đây, chúng ta sẽ đi đến một trong những giai đoạn có tính quyết định và hấp dẫn nhất trong quá trình tự mạc khải của Đức Chúa Trời. Trong 3:2 Đức Chúa Trời đã xuất hiện như một “thiên sứ của Đức Giê-hô-va ”. Và sau đó có khi Ngài xuất hiện qua một đối tượng trung gian, có khi Ngài hiện ra trực tiếp, nhưng vì cớ tội lỗi nên sự chạm trán mặt đối mặt một cách thật sự giữa con người với Đức Chúa Trời là điều bất khả thi trong cuộc đời này (33:20). Nhưng dù qua trung gian nào đi nữa thì đó vẫn là sự mạc khải thật. Câu 6 đã ghi lại một mẫu mực về việc tự giới thiệu bản thân. Theo sự ghi nhận của Theodor Vriezen thì việc giới thiệu mang tính thẩm quyền đó đã “chi phối quan niệm thần học của mạc khải Cựu Ước” (Vriezen 1970, 177). Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp ”. Và sau đó là lời hứa về việc giải cứu dân Chúa ra khỏi Ai Cập. Môi-se-từ gã chăn chiên đã trở thành lãnh tụ - một công cụ do Đức Chúa Trời tuyển dụng. Và Môi-se đã xin Chúa cho ông được biết danh tánh Ngài (c.13) để tiện tỏ bày cùng con cái Y-sơ-ra-ên. Rõ ràng là dân Chúa muốn biết Ngài là ai. Là ai mà có thể ban lời hứa giải cứu họ? Đành rằng Ngài là Đức Chúa Trời của tổ phụ họ nhưng hiện nay Ngài là gì đối với họ? Đức Chúa Trời đáp: TA LÀ ĐẤNG TA LÀ hay TA SẼ LÀ ĐẤNG TA SẼ LÀ (theo tiếng Hi-bá-lai, thì được sử dụng trong câu này là thì chưa hoàn thành). Câu trả lời mà Đức Chúa Trời dành cho Môi-se nên được xếp vào loại nào?
    Có người cho rằng Chúa đã né tránh câu hỏi của Môi-se vì không muốn ban cho ông một sự ủy thác. Đó là quan điểm của Karl Barth. Ông đã trích dẫn Cac Tl 13:18, “Sao ngươi hỏi danh ta. ..?” “Việc Đức Chúa Trời bày tỏ cho con người biết rõ biệt danh Ngài không hề xảy ra trong tiến trình mạc khải, nhưng tự thân sự mạc khải đã toát lên lòng nhân từ vô điều kiện (free loving-kindness) của Đức Chúa Trời rồi” (Church Dogmatics, 1/1, 369-70). Barth một mực cho rằng: siêu việt tính của Đức Chúa Trời vẫn được giữ vẹn ngay cả khi tự mạc khải về mình. Bí mật về Chúa vẫn còn, dẫu Ngài đã tỏ mình ra. Nếu có sự thiếu chuẩn xác nào đó về mặt ngôn ngữ thì qua đó có chăng sự đề cập đến quyền tự do hành động của Đức Chúa Trời hay muốn ám chỉ một sự né tránh? Trong câu trước (XuXh 3:12), Đức Chúa Trời đã hứa Ngài sẽ hiện diện giữa vòng họ. Vì vậy, nếu cho rằng Ngài không muốn ban sự ủy thác chính mình thì có vẻ khác lạ làm sao.
    Một quan điểm khác dựa trên cách dịch được xem là tốt nhất của Bản Dịch Bảy Mươi (tiếng Hy Lạp) đã dịch câu trên như sau “Ta là Đấng đó”. Theo quan điểm này, tại đây, Chúa muốn bày tỏ ý nghĩa căn bản về thân vị Ngài. Ngài vốn tự nhiên mà có. Một số nhà thần học Công giáo truyền thống như Etienne Gilson và E. L. Mascall thì tin rằng bí quyết triết học cho sự hiểu biết về Đức Chúa Trời đó là: Ngài là Đấng hiện hữu đồng nhất với bản tánh Ngài. Ngài là Đấng “hiện hữu” trọn vẹn. Theo Mascall, ý niệm đó chính là “mảnh đất phì nhiêu cho mọi sự tận hiến trọn vẹn của Ki-tô hữu” (He Who Is, 1966, 13). Ngoài cách dịch đáng thắc mắc của Bản Bảy Mươi ra, thật khó có thể tưởng tượng được Đức Chúa Trời lại muốn truyền đạt cho những nông dân Hi-bá-lai bình dị một ý niệm trừu tượng và cao siêu như thế.
    Có thêm một gợi ý lý thú hơn xuất phát từ W. F. Albright và các môn đệ của ông. Căn cứ vào nguyên ngữ, Albright đề nghị một cách dịch tốt nhất đó là “Ngài là Đấng Tạo Thành”, xuất phát từ ý niệm cơ bản về vai trò Đấng Tạo Hóa của Đức Chúa Trời (Albright, 256-60).
    Nhưng quan điểm dường như phù hợp nhất với văn mạch ở đây, có lẽ là quan điểm của Vriezen, ông nhấn mạnh: đây không phải là sự né tránh, nhưng rõ ràng là một lời bảo chứng về sự hiện diện (liên tục) của Ngài. Trong ngữ cảnh này, cách dịch đúng nhất sẽ là “Ta sẽ hiện diện ở đó, như đã từng hiện diện ở đây” hoặc “Ta hiện diện ở đây vì cớ các ngươi”. “Sự mạc khải theo sự minh định của Kinh Thánh có nghĩa là đích thân Đức Chúa Trời đến với con người, bày tỏ chính mình Ngài như một Đấng hiện diện vì cớ con người bằng mọi cách. Khi Đức Chúa Trời tự mạc khải về chính mình, Ngài sử dụng ngôi thứ nhất số ít để tự giới thiệu và lời Ngài chỉ thị cho công việc Ngài” (Vriezen, 180).
    Ủng hộ cho quan điểm nêu trên, nhiều học giả đã phân tích rằng xét về mặt văn phạm ở câu trên thì động từ thứ hai thực hiện chức năng như một vị ngữ cho động từ thứ nhất, nó dư ra như vậy cốt để nhấn mạnh cho hành động của động từ, cũng như trong nhiều ngôn ngữ, một từ có thể được lặp đi lặp lại với mục đích nhấn mạnh mà thôi. F. W. Bush đã đưa ra hai sự minh họa về cách dùng như vậy. Trước hết là trong Exe Ed 12:24, 25 “Sẽ chẳng còn có sự hiện thấy nào là giả dối, một sự bói khoa nào là a dua trong nhà Y-sơ-ra-ên. Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta sẽ nói và lời ta nói sẽ làm thành ”. Vì chính Đức Giê-hô-va sẽ nói - động từ được lặp đi lặp lại để nhấn mạnh - nên chẳng có gì để nghi ngờ về điều đó cả. Và trong XuXh 33:19 (“Ta sẽ làm ơn cho ai ta muốn làm ơn ”), không cần phải bận tâm đến việc Đức Chúa Trời hoàn toàn có quyền ban phước hay không ban phước trong trường hợp vừa nêu nhưng đây chỉ là sự diễn tả một cách chắc chắn về ân điển Ngài, và câu trên nên được viết lại như sau: “Thật vậy, ta là Đấng hay làm ơn và thương xót”. Theo ngữ cảnh của câu trả lời trong Xuất Ê-díp-tô Ký chương 3 thì rõ ràng điều Đức Chúa Trời muốn nhấn mạnh ở đây chính là sự hiện diện của Ngài. Vì Ngài vốn là Đức Chúa Trời của các tổ phụ, cho nên sự hiện diện của Ngài sẽ tiếp tục là bảo chứng (duy nhất) cho những lời hứa của Ngài. Quả thật, sự đáp ứng của Đức Chúa Trời là vô giới hạn song lý do khiến Ngài từ chối việc giải thích vào lúc bấy giờ ấy là do các định ý của Ngài sẽ (và phải) để dành cho sự mạc khải những việc tương lai. Trong hoàn cảnh như vậy thì danh Ngài chính là phương tiện thiết yếu cho mối giao thân giữa Ngài với họ và là “nhịp cầu liên thông cho sự thờ phượng” (Childs 1974, 77).
    5. XuXh 6:1, 2. Khi Pha-ra-ôn không chịu đáp ứng những đòi hỏi của Môi-se thì một lần nữa Đức Chúa Trời lại xác quyết với ông về sự giải cứu Ngài, và để cho lời hứa thêm phần vững mạnh, Ngài đã tự xác nhận: “Ta là Đức Giê-hô-va (Jahweh). Ta đã hiện ra cùng Áp-ra-ham, cùng Y-sác và cùng Gia-cốp, tỏ mình là Đức Chúa Trời Toàn Năng (El Shaddai); song về danh ta là Đức Giê-hô-va (Jahweh), thì ta chưa hề tỏ cho họ biết”. Câu này là một trong những cơ sở được các học giả thuộc trường phái phê bình thường xuyên sử dụng để phát tán nguồn gốc của Ngũ Kinh. Những phần nào trong Sáng Thế Ký có sự xuất hiện của El Shaddai đều thuộc về nguồn P (Priestly), được xem là có sau; còn những chỗ nào Giavê (Jahweh) xuất hiện thì thuộc về nguồn J (Jahweh). Nhưng làm sao có thể hình dung được sự việc các vị tộc trưởng chưa hề nghe thấy gì đến danh Jahweh? Nếu như vậy thì hoàn toàn có thể nghi ngờ giả định của các nhà phê bình về phần có sau (nguồn P) của Ngũ Kinh.
    Nếu có thể, chúng ta nên đặt câu trên dưới dạng câu hỏi: “Ta há chưa từng tỏ mình ra cho họ biết danh ta là Jahweh hay sao?' Robert Dick Wilson từng đề xuất ý tưởng đó vào năm 1924 (trong Kaiser, 1972, 29-40) và những học giả khác còn tìm được chứng cớ hiển nhiên hơn nữa để hậu thuẫn cho quan điểm này trong những năm gần đây.
    Nhưng có lẽ cách tốt nhất để hiểu được ý nghĩa câu trên là cảm biết được Đức Chúa Trời không hề có ý nhấn mạnh về một danh xưng hoàn toàn mới nhưng điều Ngài muốn nhấn mạnh đó là cần phải hiểu biết một cách mới mẻ về sự hiện diện của Ngài theo ý nghĩa của danh xưng ấy. Tên Jahweh có nghĩa là Đức Chúa Trời lập giao ước, Chúa duy trì mối quan hệ thủy chung (faithful relations) với dân sự Ngài. Giờ đây, họ sắp kinh nghiệm thật sự về ý nghĩa của danh xưng đó theo phương cách mà tổ phụ họ không thể nào mơ tưởng đến được. Hướng gợi mở này phù hợp hơn với lối suy nghĩ năng động (dynamic understanding) về các danh xưng mà chúng ta từng đề cập đến ở những phần trên. Vậy, câu trên có thể được diễn giải như sau:“Khi hiện đến trong danh Jahweh, ta há chẳng từng tỏ mình ra cho họ biết về ta hay sao?” Vì trước đó, Ngài từng hứa về việc thực hiện nên Đức Giê-hô-va phán rằng: giờ đây Ngài muốn chứng tỏ cho mọi người được biết Ngài là Đức Chúa Trời luôn nhớ về giao ước và thực hiện hoàn tất giao ước Ngài. Lời đó có liên quan đến những phần ký thuật về các tộc trưởng hầu cho những lời hứa đều được ứng nghiệm. Như Brevard Childs từng phát biểu:“Danh Jahweh có chức năng như một bảo chứng thật về việc Đức Chúa Trời luôn có mặt đàng sau những lời hứa và sẽ thực hiện hoàn tất lời hứa Ngài”(Childs 1974, 115).
    6. XuXh 19:320:1, 2. Đức Chúa Trời phán bảo Môi-se: “Các ngươi đã thấy điều ta làm ” (19:4). Điểm nhấn mạnh này khiến cho một số học giả đã thay đổi cách nhìn về phương cách Đức Chúa Trời hiện ra và tương giao trực tiếp - theo kiểu chạm trán mặt đối mặt - để thực hiện sự mạc khải thông qua những công việc Ngài. Nhưng còn hơn cả một sự thay đổi, có lẽ chúng ta nên xem đó là một bước tiến bộ. Những lần trực hiện (direct appearances) của Đức Chúa Trời vẫn không ngừng diễn ra, nhưng có lẽ giờ đây Ngài chỉ muốn chứng thực những gì Ngài từng hứa là sẽ thực hiện thông qua những công việc Ngài. Nếu sách Xuất Ê-díp-tô Ký không có phần Đức Chúa Trời hiện ra cùng Môi-se và các tộc trưởng thì nó chẳng còn ý nghĩa gì nữa cả. Những điều diễn ra trong Cựu Ước là những bằng chứng, những dấu hiệu và những ghi nhận tỉ mỉ về sự hiện diện của Đức Chúa Trời thì không thể nào được hiểu theo ý nghĩa bên ngoài bối cảnh. Từ buổi ban sơ, dân Y-sơ-ra-ên đã từng phải đối diện với chính thân vị của Đức Chúa Trời, đến một lúc nào đó, kinh nghiệm đã quá đủ đầy và dĩ nhiên kinh nghiệm đó không hề bị phế bỏ khi công việc quyền năng Chúa được tỏ ra. Đã đến lúc cần phải có luật pháp để xác chứng và diễn tả mối quan hệ mà Đức Chúa Trời đã thiết lập với dân sự Ngài.
    7. 33:18-23. Trong những câu này, Môi-se đã cầu xin Đức Chúa Trời tỏ cho ông thấy được vinh hiển Chúa. Môi-se đang ở vào một thời điểm có tính quyết định nên ông muốn được chiêm ngưỡng toàn diện hơn về Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã từ chối ước muốn của Môi-se không phải Ngài là Đấng mà loài người không thể nào chiêm ngưỡng được nhưng vì tình trạng tội lỗi của loài người nên họ không thể sống sót nếu nhìn thấy Đức Chúa Trời (c.20). Song Ngài hứa là sẽ để cho sự thiện hảo Ngài đi qua trước mắt ông (c.19) cũng như tuyên xưng danh Ngài là Jahweh. Ngài muốn tỏ mình ra qua “các thuộc tánh, chứ không phải chỉ bằng những lần xuất hiện” (Childs 1974, 596). Đức Chúa Trời không hề khăng khăng từ chối tỏ mình ra, song điều mà Ngài muốn tỏ ra ấy là tính cách và sự thiện hảo Ngài. Nên nhớ, sự mạc khải đó chính là điều mà Môi-se và dân sự lúc bấy giờ đang rất cần, nhất là sự nhận biết về lòng thương xót của Chúa. Công tác mà họ cần Chúa thực hiện vào thời điểm đó chính là công tác cứu chuộc. Đức Chúa Trời phải nắm dắt họ ngay khi họ đang ở trong tình trạng tội lỗi với lòng thương xót Ngài. Để minh chúng cho lòng thương xót đó, Chúa đã đi ngang qua Môi-se và che phủ ông bởi cánh tay Ngài (c.22) nhằm bảo vệ ông khỏi sự hiện diện chớp nhoáng của Chúa, e rằng thân phận tội lỗi của ông sẽ khiến ông phải trả giá bằng cơn thạnh nộ của Chúa chăng. Với sự bao phủ đó, Đức Chúa Trời không hề che giấu sự vinh hiển Ngài, mà chỉ bày tỏ nó ra trong một dạng thức mà loài người tội lỗi có thể cảm nhận được.
    Định ý về việc mạc khải vinh quang Chúa cũng được thể hiện trong Tân Ước, khi Đấng Christ đã tôn vinh Cha một cách thỏa đáng bằng sự chết mình, ban sự cứu chuộc để phủ che tội lỗi loài người cũng như bảo vệ họ khỏi cơn thạnh nộ của Chúa (xem GiGa 13:31, 17:1, 4 ). Sự mạc khải của Đức Chúa Trời không hề mang tính chủ quan nhưng luôn hướng tới mục đích cứu chuộc của Ngài. Xuyên suốt quá trình lịch sử của mạc khải Cựu Ước, ngày càng chứng tỏ cứu thục tính (redemptive character) là điều không thể thiếu trong mạc khải dành cho thế giới sa ngã này. Chính Đức Chúa Trời phải tỏ mình ra trước tình trạng tội lỗi của loài người để đối diện với thực trạng ấy nhằm phục hồi nơi họ sự tương giao.
    Đức Chúa Trời đã dùng đến cấu trúc mà chúng ta từng bàn thảo liên quan đến XuXh 3:14 “Ta sẽ làm ơn cho ai ta muốn làm ơn ” hay “Thật vậy, ta là Đấng hay làm ơn ” (33:19) để nhấn mạnh thêm về thuộc tánh Ngài. Tất nhiên, không thể dựa vào điều đó để cho rằng sự tuyển lựa của Đức Chúa Trời là mang tính chủ quan - ý nghĩa ấy rất ít được tìm thấy trong văn mạch - song qua đó muốn nói lên sự bảo đảm về lòng thương xót của Chúa.
    8. XuXh 34:5-10. Tại đây, Đức Chúa Trời đã ngự xuống trong đám mây và hiện ra trước mắt Môi-se để bày tỏ danh Ngài. Giê-hô-va, Giê-hô-va! Giờ đây, danh ấy được gia thêm phần thuộc tánh: thương xót, hay làm ơn, yêu thương và thành tín (c.6). Nên nhớ, mạc khải lần này nhằm mục đích ban bảo chứng cho các lời hứa của giao ước (c.10). Ngài là Đức Chúa Trời luôn giữ lòng yêu thương bền vững, nhưng cũng không quên xét đoán kẻ phạm tội. Sự hiện hữu và tình yêu Ngài là vô điều kiện, nhưng không phảỉ chỉ có phước hạnh mà còn có cả sự xét đoán. Một lần nữa, cũng như trong SaSt 17:1, sự đáp ứng về mặt đạo đức mà thuộc tánh Đức Chúa Trời đòi hỏi đã được làm sáng tỏ. Chiều kích ấy đã được minh định rõ trong luật pháp.
    Trong những trích đoạn từng được đề cập đến của sách Xuất Ê-díp-tô Ký, rõ ràng Môi-se đã tận hưởng được mối liên hệ độc nhất vô nhị với Đức Chúa Trời. Trong XuXh 33:12, Môi-se thừa nhận rằng Đức Chúa Trời biết rõ tên ông. Đức Chúa Trời đã chú giải thêm sự nhìn nhận về ông trong Dan Ds 12:7, 8. Khi nói về Môi-se, Ngài phán: “Người thật trung tín trong cả nhà ta. Ta nói chuyện cùng người miệng đối miệng, một cách rõ ràng,không lời đố, và người thấy hình của Đức Giê-hô-va ”. Edward Young cho rằng: “Môi-se đã chiếm giữ địa vị vô song dưới chế độ Thần Quyền và mối liên hệ với Đức Chúa Trời là có một không hai” (Young 1952, 51). Chính địa vị ấy đã khiến ông trở thành biểu tượng cho vị tiên tri về sau được dấy lên. Song một số câu trong XuXh 33:1-23 cũng có ý ám chỉ về một số giới hạn nội tại nơi mối liên hệ mà Môi-se có được. Đức Chúa Trời chỉ cho phép Môi-se nhìn thấy hình Ngài thôi, chứ không hề cho ông thấy mặt Ngài. Ngay cả đối với Môi-se thì điều đó cũng được giữ lại cho đến khi gặp Chúa ở trên thiên đàng. Phao-lô cũng từng đề cập đến trong ICo1Cr 13:12: “Ngày nay, chúng ta xem như trong một cái gương, cách mập mờ; đến bấy giờ chúng ta sẽ thấy hai mặt đối nhau ”. Nhưng với sự tái lâm của Đấng Christ thì ngay đến khải tượng cuối cùng cũng được báo trước nhờ sự sống trong Thánh Linh, như Phao-lô từng giải thích trong IICo 2Cr 3:18 “Chúng ta ai nấy đều để mặt trần mà nhìn xem vinh hiển Chúa… vì đã được biến hóa trở nên giống như Ngài, từ vinh hiển qua vinh hiển, bởi Chúa là Thánh Linh ” (bản AV).
    9. Những lần tự mạc khải khác. Dĩ nhiên Đức Chúa Trời cũng liên tục mạc khải qua Cựu Ước, nhất là đối với các tiên tri. Theo Von Rad “Hễ ai nhận được sự kêu gọi trực tiếp và riêng tư từ Đức ChúaTrời thì sẽ có được một vị thế mới mẻ hoàn toàn” (Von Rad 1962, II, 57). ISa1Sm 3:10-14 cho biết rằng: Đức Chúa Trời kêu gọi Sa-mu-ên mà không hề tự giới thiệu mình là ai song chỉ tuyên bố rằng Ngài sắp làm một việc mới lạ trong Y-sơ-ra-ên: Ngài sẽ đoán xét nhà Hê-li. Ở đây, một lần nữa, lời giải thích đã đi trước biến cố và khiến nó trở nên có ý nghĩa. Như A-mốt từng luận giải (AmAm 3:7) Đức Chúa Trời chẳng bao giờ làm việc gì mà Ngài chưa hề mạc khải cho các tiên tri. Trong EsIs 6:1-5, sự mạc khải về thân vị và thuộc tánh của Đức Chúa Trời đã xảy ra trước khi Ê-sai được kêu gọi để trở nên một tiên tri. Ê-xê-chi-ên thì được ban cho sự hiện thấy tựa như vinh hiển của Đức Giê-hô-va (Exe Ed 1:28) cùng với một khải tượng cụ thể. Trong mỗi trường hợp kêu gọi đều có yếu tố đột biến, gây sợ hãi, hay khích động. Đó là những kinh nghiệm phi thường không dễ dàng thấu hiểu từ bấy đến nay. Vì tội nhân thường ở trong trạng thái bất an trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời nên những lần Chúa hiện ra như vậy họ cần phải được bảo vệ, khuyên dỗ và trấn an. Tóm lại, những lần mạc khải đó đều ẩn chứa nhiều hứa hẹn. Tác giả Thi Thiên trông đợi cái ngày mà “Tôi sẽ được thấy mặt Chúa trong sự công bình; khi tôi tỉnh thức tôi sẽ thỏa nguyện nhìn xem hình dạng của Chúa ” (Thi Tv 17:15).
    Tóm tắt
    Trong tất cả những lần hiện ra đó, một vấn đề thực tế được đặt ra ấy là khi Đức Chúa Trời hiện ra với con người làm sao Ngài vẫn giữ được tính siêu việt (transcendent) để tồn tại trong một thân vị vượt khỏi các giới hạn của thế gian. Điều đó dường như rất khó chấp nhận đối với chúng ta - làm sao Đức Chúa Trời vừa hiện diện lại vừa xa cách - đối với Chúa chuyện đó không thành vấn đề. Bên cạnh đó, chúng ta chưa bao giờ cảm nhận được Đức Chúa Trời chẳng hề ở trong trật tự của thế giới mà chúng ta đang sống và Ngài không cần nơi chốn để hiện ra. Còn việc “giáng xuống từ trời” cũng chẳng khó khăn gì, tựa như cách kể trong những câu chuyện thần thoại vùng Cận Đông. Ngài cùng đi với một người, cũng theo lẽ tự nhiên như chúng ta cần đi với bạn vậy. Nhưng mặt khác, bản tánh và thân vị của Chúa quá cao siêu; thế gian không thể chứa Ngài. Ở đây, còn tiềm ẩn ý nghĩa về những yếu tố trung gian (chúng ta sẽ đề cập đến ở chương sau): mặt Ngài, vinh quang Ngài và danh Ngài. Những yếu tố đó nói lên sự gần gũi thật sự của Đức Chúa Trời, nhưng đồng thời cũng ám chỉ sự khác biệt của Ngài.
    Chúng ta cần nên ghi nhận hết sức cụ thể tính cách những lần hiện ra của Đức Chúa Trời. Động từ “thấy” (seeing) được sử dụng trên sáu mươi lần liên quan đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời. “Và Đức Chúa Trời hiện đến...” “Và Môi-se thấy...”. Kể cả những chức năng liên quan như: nghe, thậm chí cả ngửi nữa. Ở đây không tồn tại nhận thức thuộc linh mơ hồ, vì kinh nghiệm thật tỏ ra lấn át. Vào thời điểm mà kinh nghiệm tôn giáo đã bị co rút lại trong phạm vi những cảm xúc mòn mỏi của chúng ta, thì có một chân lý Thánh Kinh cần nên ghi nhớ: Đức Chúa Trời vẫn là Đấng thực hữu tuyệt đối; khi Ngài bước vào đời sống một người thì chính người đó sẽ ý thức ngay được kiếp sống mong manh, không nơi nương tựa của mình. Đồng thời, sự chạm mặt với Chúa luôn đòi hỏi cách đáp ứng của một con người hoàn toàn. Thật vậy, khi đáp lại tiếng gọi của Chúa, người ta sẽ ý thức được sự tự do và bản chất thật của mình. Brevard Childs ghi nhận về người của Đức Chúa Trời như sau: “Xuất Ê-díp-tô Ký chương 3 đưa ra sự mô tả kinh điển về thiên chức đó là chức vụ của một người được khởi xướng bởi Đức Chúa Trời và được sự cộng tác đúng nghĩa của một con người” (Childs 1974, 73). Cần nên lưu ý về tính cách mạc khải của Đức Chúa Trời cho một người ấy là lời kêu gọi người đó phải làm, phải bước theo và phải vâng lời. Điểm nhấn mạnh ở đây là mạng lịnh chứ không phải là lượng thông tin, mặc dầu lượng thông tin không hề thiếu. Muốn lãnh hội trọn vẹn sự mạc khải Cựu Ước, nhất định phải nghĩ đến ý tưởng cốt lõi sau đây: Đức Chúa Trời kêu gọi một người ấy là để cho chính Ngài. Có rất nhiều điều cần biết về Đức Chúa Trời và những chủ đích của Chúa, song nhận thức vừa nêu luôn cần ích trong mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài.
    Chúng ta từng để ý và thấy, khi Đức Chúa Trời hiện ra, Ngài chẳng bao giờ cần minh chứng sự xuất hiện của mình. Đức Chúa Trời không phải là Đấng cần chứng minh song đối tượng cần minh chứng đó chính là con người. Tư tưởng hiện đại đã thể hiện quá rõ khi Đức Chúa Trời bị gạt sang một bên thì nguồn cội và ý nghĩa của đời người sẽ ra sao. Sự hiện hữu của Đức Chúa Trời là một thách thức, chứ không phải là một vấn nạn. Khi tự mạc khải, Đức Chúa Trời chỉ tuyên bố rằng bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời cho nên Ngài sẽ làm những gì Ngài hoạch định. Cần nên ghi nhận tính cách phức hợp của mạc khải Cựu Ước bao gồm sự gặp gỡ riêng tây, việc cung cấp thông tin và giải thích các biến cố, cùng những công việc quyền năng của Đức Chúa Trời. Hết thảy những yếu tố đó đáng được xem là sự mạc khải. Nhưng quan trọng nhất vẫn là yếu tố tự bày tỏ của Đức Chúa Trời. Chân lý chỉ đạo mạc khải đó là chính thân vị Ngài. Khi dân Y-sơ-ra-ên sử dụng đức tin để đáp lại với thân vị ấy, thì họ sẽ hiểu rõ hơn những lời Ngài phán cũng như những việc Ngài làm. Tư duy trong Cựu Ước luôn mang tính riêng tây và thân mật, dẫn đến mối quan hệ cùng những hiểu biết có mục tiêu. Như vậy, việc Đức Chúa Trời tự mạc khải nói cho cùng cũng không hề đòi hỏi một sự chuẩn y, song đòi hỏi một đời sống cụ thể trong vâng phục. Đức Chúa Trời không chỉ kêu gọi chúng ta đến với sự am hiểu lời Chúa mà còn kêu gọi chúng ta vâng theo tiếng Chúa nữa.
    Tất nhiên là con người không muốn nghe lời Chúa phán và vâng phục Ngài. Họ vẫn còn - giống A-đam và Ê-va ở chỗ luôn tìm cách trốn chạy Đức Chúa Trời. Vì vậy, việc Đức Chúa Trời tự mạc khải phải thể hiện sự quan phòng để phủ che tội lỗi của dân Chúa hầu cho họ có thể đứng trước sự hiện diện Ngài. Chính vì thế mà luật pháp phải đến sau giao ước để mở đường cho mối liên hệ. Tóm lại, mạc khải phải có tính cách cứu chuộc.

    Bản Tánh Của Đức Chúa Trời
    Đức Giê-hô-va phán: Ta có phải là Đức Chúa Trời ở gần, mà không phải là Đức Chúa Trơi ở xa sao?
    Đức Giê-hô-va phán: Có người nào có thể giấu mình trong các nơi kín cho ta đừng thấy chăng?
    Đức Giê-hô-va phán: Há chẳng phải ta đầy dẫy từng trời và đất sao? ”
    Gie Gr 23:23-24
    Những Phương Tiện Mạc Khải
    Như chúng ta đã thấy, không hề có có mâu thuẫn giữa bản tính gần gũi và bản tính cách biệt của Đức Chúa Trời trong Cựu Ước, nhưng đó là một phần của siêu việt tính (transcendence) của Ngài và vì thế không ai có thể trốn chạy khỏi sự hiện diện của Ngài. Người Hy-bá-lai tin vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời ở trên thiên đàng lẫn nơi hạ giới. Tất nhiên sau đó, Thánh Kinh Cựu Ước đã bổ sung cho hiểu biết của họ trở nên đầy đủ hơn. Họ luôn tin Đức Chúa Trời có thể hiện ra vào bất cứ lúc nào, ở đâu, thậm chí không hề gắn bó dài lâu với một địa danh cụ thể nào. Không nơi đâu giữ được chân Ngài nên Ngài đã sử dụng quyền hạn của mình để chọn một đối tượng hữu hình nào đó làm phương tiện thay thế cho sự hiện diện Ngài. Chúng ta hãy tìm hiểu một vài trung gian hay phương tiện mạc khải sau đây.
    1. Thiên sứ của Đức Giê-hô-va Trong Cựu Ước, thiên sứ của Đức Giê-hô-va có lẽ chỉ là một sứ giả của Đức Chúa Trời (từ “thiên sứ” theo tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là sứ giả), để phân biệt với chính Đức Chúa Trời (IISa 2Sm 24:16), cũng có thể được xem là chính Đức Giê-hô-va ở ngôi thứ nhất (SaSt 16:7-14, Cac Tl 2:1, 4, 6:20-23...). Thiên sứ có thể mang theo phước hạnh (XuXh 32:34) hay sự xét đoán (IISa 2Sm 24:16). Khi thiên sứ của Đức Giê-hô-va hiện ra, Ngài luôn hiện diện cùng để bảo vệ hoặc tạo ra cảm giác sợ hãi cho người đối diện, song siêu việt tính của Ngài lại không hề được bàn đến trong trường hợp này. Cũng có những sự thần hiện (theophanies) trong Cựu Ước mà không ai có thể xác định đó là chính Chúa hiện ra hay chỉ là đối tượng đại diện cho Ngài. Khi Đức Chúa Trời và Lời của Ngài đạt đến sự đồng nhất cao độ thì ngay đến các tiên tri cũng bị lầm lẫn và không hề nhận ra đâu là Chúa và đâu là lời của Ngài. Đức Chúa Trời còn có quyền bày tỏ sự hiện diện của Ngài trong những thời điểm loài người cần được bảo vệ nhất là khi Ngài hiện ra cách chớp nhoáng.
    2. Mặt Đức Chúa Trời. Trong phần ký thuật về việc Môi-se cầu xin được nhìn thấy vinh quang Chúa, mặt Đức Chúa Trời hiện ra vào lúc ấy dường như không hề bị hạn chế (XuXh 33:20). Không ai có thể thấy mặt Đức Chúa Trời mà còn sống (tuy Gia-cốp từng tuyên bố trong SaSt 32:30 là ông đã được thấy mặt Đức Chúa Trời). Thông thường, “mặt Đức Chúa Trời” được dùng theo lối ẩn dụ để khái quát hóa về sự hiện diện Ngài. Được mặt Ngài chiếu rọi là một kinh nghiệm phước hạnh (Dan Ds 6:25), bị Đức Chúa Trời giấu mặt là một kinh nghiệm đau buồn (Thi Tv 13:1). Khi A-đam trốn chạy Đức Chúa Trời trong vườn Ê-đen, theo nguyên ngữ Hy-bá-lai có nghĩa là “ông cố tình tránh mặt Đức Chúa Trời” (SaSt 3:8). Nhưng về sau, khi “mặt Đức Chúa Trời” được hiểu như là sự hiện diện chớp nhoáng của Ngài, thì không còn ai kinh nghiệm được điều đó nữa (Thi Tv 17:15). Cũng như từ thiên sứ, cách dùng từ mặt Đức Chúa Trời được hiểu theo nghĩa bóng hơn là nghĩa đen.
    3. Vinh hiển Đức Chúa Trời. Ý niệm cơ bản về sự vinh hiển trong Thánh Kinh Cựu Ước là ý niệm về trọng lượng hay thể chất hữu hình. Sự vinh hiển của một người bao gồm số tài sản mà người đó có được; một người “vinh hiển” là người có nhiều của cải (từ ngữ được dịch là “giàu có” trong SaSt 31:1 theo tiếng Hy-bá-lai có nghĩa là sự vinh hiển). Từ “vinh hiển” được dùng theo hai cách, vừa tỏ lòng tôn kính (hay tôn vinh), vừa khơi dậy lòng tôn kính đó. Khi nói về vinh hiển Đức Chúa Trời (thường là hữu hình) là muốn ám chỉ đến thiên năng (divine potency) của Ngài. Johann Bengel gọi đó là “sự thiêng liêng được khai mở” (discovered sanctity). Trong XuXh 16:7, khi Đức Chúa Trời hứa tỏ ra vinh hiển Ngài có nghĩa là Môi-se và dân sự Chúa sẽ kinh nghiệm được Ngài chăm sóc. Trên núi Si-nai, hễ Ngài đi đâu thì vinh hiển Ngài theo đó (XuXh 24:16). Vinh hiển Chúa đầy dẫy hội mạc, đến nỗi Môi-se không thể vào được (40:34, 35). Ở đây, một lần nữa vinh hiển Chúa là biểu tượng phong phú cho sự hiện diện Ngài, vinh hiển có thể được dùng thay thế cho sự hiện diện và thường kết hợp với các hiện tượng có thể nhìn thấy (ngay cả phát hào quang). Khi Đức Chúa Trời được thờ phượng trong đền thờ thì vinh hiển Chúa được chiếu soi một cách đặc biệt (IVua 1V 8:11). Điều không tránh khỏi trong sự thờ phượng trong Cựu Ước là khi vinh hiển Đức Giê-hô-va đầy dẫy đền thờ thì các thầy tế lễ không thể nào thi hành được phận sự của mình. Mặc dầu vậy, vinh hiển Chúa cần phải được hiển hiện, không chỉ trong nhà Đức Giê-hô-va thôi, mà còn trên khắp đất nữa, như nước tràn ngập biển (Dan Ds 14:21, ISu1Sb 16:24EsIs 6:3). Về điểm này thì sự vinh hiển cần được tái giải thích một cách triệt để hơn qua sứ mạng của Christ, Đấng bởi sự chết mình đã tỏ bày một cách trọn vẹn vinh quang cứu chuộc của Đức Chúa Trời (GiGa 17:1).
    4. Nhân hình hóa (anthropomorphism ). Có lẽ chúng ta cần xét đến phương thức nhân hình hóa trong Cựu Ước tuy đây không phải là trung gian để Đức Chúa Trời hiện diện. Đức Chúa Trời vẫn thường được đề cập đến như thể một con người, chẳng hạn Đức Chúa Trời phán (SaSt 1:3), trò chuyện (LeLv 4:1), nghe (XuXh 16:12), thấy (SaSt 1:4), ngửi (ISa1Sm 26:19, Hê-bơ-rơ), có mặt (Dan Ds 6:25), có lưng (XuXh 33:23), có tay (EsIs 14:27), v.v. . . Bắt đầu bởi Ludwig Feuerbach vào thế kỷ trước, nhiều người cho rằng nhân hình hóa là bằng chứng cho thấy Kinh Thánh hoàn toàn do con người biên soạn. Đức Chúa Trời chỉ là dự phóng về những lý tưởng của con người, một “con người” được phóng đại. Nhưng khi đọc kỹ hơn về Cựu Ước ý tưởng đó sẽ không thể nào chấp nhận được. Quả thật, hiện tượng đó cho thấy rõ tầm quan trọng trong cách nhìn của Cựu Ước về Đức Chúa Trời. Cách nhìn để minh chứng được những nỗ lực đầy yêu thương của Đức Chúa Trời đối với hạ giới, chứ không phải bởi ước mơ hướng thượng của con người.
    Trước hết, Đức Chúa Trời nói về chính Ngài theo ngôn ngữ loài người là phương thức độc đáo để Ngài có thể chia sẻ cho thế gian. Như chúng ta đã đề cập, không chỗ nào cho thấy Đức Chúa Trời tỏ ra thất vọng về thế giới vật lý này. Sau khi dựng nên, Ngài tuyên bố nó thật tốt lành, và dường như không khó khăn gì để thực thi ý định Ngài nơi đó. Khi sử dụng phương thức nhân hình hóa để nói về mình, Đức Chúa Trời đã dùng phương cách thực tế của loài người để đến với chúng ta. Dĩ nhiên là phương cách đó cũng có những hạn chế nhất định, song chính những hạn chế đó dẫn đến sự xuất hiện sau cùng của Đấng Thần-Nhân. Trong ý nghĩa đó, tất cả mọi mạc khải đều hướng tới sự nhập thể của Chúa Cứu Thế.
    Kế đến, phương pháp nhân hình hóa còn đề cập đến việc tạo dựng chúng ta theo hình ảnh Đức Chúa Trời và ước muốn của Đức Chúa Trời về sự giao thân, liên kết với chúng ta. Muốn thực hiện được điều đó thì Đức Chúa Trời phải đến và sử dụng ngôn ngữ của chúng ta. Và Ngài đã hình thành một lạc điểm để tiếp cận chúng ta và chính Ngài làm việc đó (chúng ta sẽ đề cập đến trong phần thờ phượng Cựu Ước) theo cách của Ngài, chứ không phải theo cách của chúng ta. Ngài nói về mình theo cách con người để có thể hiệp thông. John Calvin đã diễn giải điều đó một cách khá chuẩn xác: “Giống như những người nuôi dạy trẻ, Đức Chúa Trời cũng “nói đớt” để trò chuyện với chúng ta. Cách nói như thế không diễn tả rõ ràng về Ngài nhưng qua đó Ngài muốn bày tỏ cho chúng ta biết về Ngài phù hợp với khả năng giới hạn của chúng ta. Muốn thực hiện được điều đó, tất nhiên Ngài phải hết sức hạ mình” (Institutes I, 13, 1).
    Cách diễn tả như thế làm cho quan niệm của chúng ta về Đức Chúa Trời trở nên phong phú, nhờ đó Ngài có thể đến gần chúng ta song vẫn duy trì được tính cách cao cả vĩ đại của Ngài. Vì chỉ trong một khoảnh khắc không ai có thể mường tượng được Đức Chúa Trời lại trở nên giống hệt như chúng ta. Ngài vốn cao trọng và đầy dẫy khắp đất trời. Nhưng sự cao cả và tình yêu của Chúa được thể hiện theo cách đó để chúng ta có thể cảm nhận được sự tiếp cận của Ngài. Một sinh viên khi thảo luận về chủ đề này đã nói với tôi rằng đây là một khuôn mẫu đẹp đẽ về hội nhập văn hóa (contextualization) trong việc trình bày sứ điệp Cơ đốc của chúng ta.
    Bản Tánh Đức Chúa Trời
    Chủ thuyết vô thần (phủ nhận sự thực hữu của Đức Chúa Trời) không hề được biết đến trong Cựu Ước. Kẻ ngu dại nói rằng chẳng có Đức Chúa Trời (Thi Tv 14:1), chính là kẻ vô thần đích thực, không ngại từ khước sự liên hệ giữa Chúa với cuộc đời mình (Gie Gr 5:12). Cựu Ước cũng không nỗ lực chứng minh sự thực hữu của Chúa. Một điều rất dễ cảm nhận đó là người tin Chúa trong Cựu Ước xem những nỗ lực ấy là hoàn toàn không cần thiết. Bởi sự thực hữu Chúa được rao truyền khắp nơi (Thi Tv 19:1-3). Ngoài ra, cũng không có bất kỳ định nghĩa nào về Đức Chúa Trời (như Chúa là tình yêu hay Chúa là Đức Thánh Linh như chúng ta thấy trong Tân Ước). Có những câu gần như định nghĩa, chẳng hạn như trong EsIs 31:3 “Người Ê-díp-tô là loài người, không phải là Đức Chúa Trời, những ngựa nó chỉ là xác thịt, không phải là thần, ” hay trong Dan Ds 23:19 “Đức Chúa Trời chẳng phải là người để nói dối ”. Hoặc trong MaMl 3:6 “Ta là Đức Giê-hô-va, ta không hề thay đổi ”. Những câu Kinh Thánh trên nhấn mạnh điểm khác biệt giữa Chúa với loài người song không hề phủ nhận mối liên hệ giữa Ngài với họ. Thật vậy, câu Kinh Thánh vừa nêu hàm ý Ngài là Đức Chúa Trời cho nên mối liên hệ giữa Ngài với họ luôn được giữ vững. Nếu là người, chắc Ngài đã mệt mỏi với sự bội bạc của dân Y-sơ-ra-ên từ lâu rồi. Như vậy, Cựu Ước muốn trình bày cụ thể và chi tiết về sự thực hữu của Chúa qua công việc hơn là muốn trình bày một hệ thống giáo lý chi tiết về Ngài (Vriezen, 156). Dầu vậy, chúng ta vẫn có thể hiểu được một số khía cạnh về thuộc tánh của Chúa thông qua phần ký thuật về mối quan hệ giữa Chúa với dân sự Ngài.
    1. Đức Chúa Trời có thân vị (hữu ngã - personal ). Chúa là một thân vị, bởi vì Ngài là Đức Chúa Trời nên đã tự đặt cho mình một danh xưng. Việc công bố danh xưng Ngài là một hành động chứng tỏ “chính Đức Chúa Trời đã bước ra khỏi nơi kín nhiệm để bắt đầu thực hiện mối tương giao” (Eichrodt, I, 206). Trước đây, chúng ta từng thảo luận về tầm quan trọng của danh xưng. Biết tên một người tức là có mối quan hệ với người đó. Mặc dầu ta không được lấy danh Chúa làm chơi (XuXh 20:7) song không phải vì danh ấy có liên quan đến ma thuật như thường thấy trong các ngoại giáo. Đức Chúa Trời tự đặt cho mình danh xưng nhằm ba mục đích chính. Trước hết, danh Chúa khẳng định cho sự hiện diện Ngài giữa vòng con dân Ngài, tách biệt với bất kỳ trạng thái vật thể hữu hình nào. Sự oai nghi và tình yêu Chúa được biểu thị rõ nét qua các danh xưng, nhưng dân Chúa vẫn không sao hiểu được một cách tường tận về ý nghĩa đích thực của các danh xưng đó. Kế đến, cách dùng nhiều danh xưng khác nhau phản ánh sự can thiệp năng động của Chúa vào đời sống của Y-sơ-ra-ên. Danh Chúa biểu hiện cho sự hoạt động không hề mệt mỏi của Ngài (Vriezen, 318). Một danh xưng thì không thể lột tả hết được thuộc tánh Đức Chúa Trời hay bày tỏ hết được sự chăm sóc của Ngài. Và cuối cùng, tất cả danh xưng đó đều mang ý nghĩa liên đới về mối quan hệ giữa Chúa với con dân Ngài. Tất cả các danh xưng đều không có khả năng đồng nhất hóa Chúa với bất kỳ một phương diện nào của cõi thiên nhiên (việc đó thường xảy ra với các lân bang của Y-sơ-ra-ên) mà chỉ nhằm phản ánh lịch sử mối quan hệ giữa Chúa với Y-sơ-ra-ên, dân Ngài. Bằng nhiều cách khác nhau, Chúa luôn tích cực can thiệp vào đời sống của dân sự Ngài.
    a. El. El (thường xuất hiện trong những danh xưng kép) là danh xưng tổng thể và có lẽ được người Semitic xưa kia sử dụng để chỉ về Đức Chúa Trời (dân Y-sơ-ra-ên thuộc về dòng dõi Semitic). Ý nghĩa căn bản của danh xưng đó ám chỉ về một lãnh tụ hoặc một thủ lĩnh đầy quyền uy nhằm khẳng định khoảng cách giữa Đức Chúa Trời với con người cũng như năng quyền của Chúa trên cõi thiên nhiên. Danh xưng đó thường được dùng để nói đến sự lãnh đạo của Chúa đối với từng cá nhân (Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, SaSt 31:53, XuXh 3:6 Đức Chúa Trời của Y-sác, SaSt 28:13).
    Được dùng trong các danh xưng kép như: El Shaddai để nhấn mạnh thuộc tánh cao trọng và quyền năng của Đức Chúa Trời (SaSt 17:1 và 40 lần trong sách Gióp). El Alion, nghĩa là Đức Chúa Trời Chí Cao (SaSt 14:18, 19 có khi là Aliôn, “Đấng Chí Cao”, chỉ xuất hiện một lần trong Thi Tv 50:14) El Olam, Đức Chúa Trời của thời thượng cổ, Chúa đời đời là tên gọi xưa nhất chỉ về sự hằng hữu của Đức Chúa Trời (SaSt 21:33, EsIs 40:28) El Roeh, nghĩa là Chúa đoái xem (SaSt 16:13) và tất nhiên phải kể đến Elohim (SaSt 1:1 và v.v...). Danh xưng Elohim theo số nhiều trong tiếng Hy-bá-lai có lẽ phải được hiểu theo nghĩa trừu tượng nói về sức mạnh hoặc quyền uy. Nó không phải là kết quả hợp nhất của hết thảy thần tánh, mà chính là “sự thâu tóm hết thảy thần quyền vào trong một thân vị” (Eichrodt, I, 185). Nếu Ba Ngôi không thể được hiểu theo nghĩa số nhiều thì Elohim cũng phải được hiểu như thế.
    b. Giê-hô-va (Jahweh ). Danh xưng nầy liên hệ với động từ “hiện hữu” (to be) - xem XuXh 3:14 và trong cách chơi chữ ở OsHs 1:9 - là danh xưng đặc thù mà dân Y-sơ-ra-ên dùng cho Đức Chúa Trời (mặc dầu do những khám phá gần đây tại Tell Mardikh và có lẽ vì một lý do nào đó, người ta nghĩ rằng danh ấy xuất hiện trước khi có dân Y-sơ-ra-ên). Sau thời của Môi-se (XuXh 6:3), dân Y-sơ-ra-ên đã dùng danh ấy trong sự thờ phượng như một dấu hiệu biệt riêng giữa mình với tất cả các dân tộc khác. Đây là danh xưng đặc trưng cho quan hệ giao ước, bày tỏ sự gần gũi và quan tâm của Đức Chúa Trời với con dân Ngài (PhuDnl 3:24 và vv...). Những hàm ý về sự gần gũi này một ngày kia sẽ được nhìn thấy trọn vẹn khi Đức Chúa Trời xuất hiện trực tiếp (Exe Ed 37:26-28).
    c. Giê-hô-va Sabaoth (Đức Giê-hô-va vạn quân ). Danh xưng này có lẽ gắn liền với quan niệm về Đức Chúa Trời là một chiến binh, như sự giải thích trong ISa1Sm 17:45. Vào giai đoạn trước đó, danh xưng nói trên dường như được gắn liền với hòm giao ước. Có người tin rằng từ “vạn quân” (hosts) chỉ về vô số đạo quân bao gồm cả các đạo binh trên trời, các ngôi sao và các tạo vật vốn là công cụ để thực hiện ý chỉ của Đức Chúa Trời. Danh xưng ấy với nguyên nghĩa Đức Chúa Trời được xem như là Lãnh Tụ và Đấng Giải Cứu dân mình trong chiến trận (dường như Đức Chúa Trời hằng sống cũng được dùng chung với danh xưng kể trên trong ISa1Sm 17:26, 36). Nhưng về sau nó đã thoát ly khỏi sự kết hợp đó (nhất là trong đời các tiên tri) để trở nên biểu tượng cho sự cao trọng và thiên tánh vô sở bất năng của Đức Chúa Trời mà thôi (EsIs 23:9, 24:23, XaDr 3:10). Vì lý do đó mà Eichrodt diễn dịch danh xưng ấy theo ý nghĩa “Chúa của tất cả mọi loài hiện hữu trên trời và dưới đất” (EichrodtI, 193; Vriezen cũng đồng ý như vậy, 298).
    d. Meelek (Vua ). Xuất Ê-díp-tô Ký nói về sự cai trị đời đời của Đức Giê-hô-va. Chúng ta sẽ thấy trong phần thảo luận về giao ước sau nầy, đó là vương quyền của Đức Chúa Trời vốn tiềm ẩn trong hình thức giao ước qua những sách đầu tiên của Cựu Ước. Tuy nhiên, dường như vẫn có chút dè dặt khi đề cập Đức Chúa Trời như là một vị Vua (Dan Ds 23:21 chỉ bày tỏ cách dùng gián tiếp). Có lẽ sinh hoạt chính trị tại xứ Ca-na-an giữa vòng các vua ngoại đạo có vẻ xa lạ với dân Y-sơ-ra-ên trong giai đoạn khởi thủy. Tất nhiên là dưới chế độ quân chủ, thuật ngữ đó đã trở nên thông dụng hơn để ám chỉ về Đức Chúa Trời (Thi Tv 24:7-10 là một điển hình). Các tiên tri của thế kỷ thứ tám đã tránh dùng thuật ngữ đó, ngoại trừ Ê-sai (EsIs 6:5, 41:21, 44:6, 52:7). Có lẽ các tiên tri tránh dùng thuật ngữ đó là do việc thờ phượng sai lầm của phái melek vào thế kỷ thứ bảy, thứ tám tại Giê-ru-sa-lem. Vào thời kỳ hậu lưu đày, tước vị Vua được gắn liền với sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong ngày sau rốt (xem XaDr 14:16). Sự ghi nhận về một tư tưởng được phát triển rõ nét rất thường hay xảy ra trong Cựu Ước. Trong I Sam chương 8, ý tưởng về một vị vua rõ ràng là một sự nhượng bộ, nhưng ý tưởng này trở thành ý tưởng của Cựu Ước và cuối cùng đã lột bỏ được mọi nghĩa xấu và được dùng để chỉ về sự cai trị của Đức Chúa Trời trên dân Ngài như điều họ trông mong. Theo Eichrodt, “Một cái gì mới mẻ cho ý niệm cổ xưa về Đức Chúa Trời là vua đã giúp ý niệm đó vượt ra những khiếm khuyết nội tại cũng như thoát ly khỏi phạm trù bộ lạc để được gắn bó mật thiết với ý niệm tín ngưỡng toàn cầu” (Eichrodt I, 199).
    2. Đức Chúa Trời là thần. Bản chất này của Đức Chúa Trời trở nên hết sức quan trọng trong Tân Ước (GiGa 4:24) nhưng hầu như vắng bóng trong Cựu Ước. Tại sao như vậy? Chúng tôi từng lưu ý trước đây rằng đặc điểm mạc khải của Đức Chúa Trời là tự hạ mình xuống để sử dụng phương pháp nhân hình hóa và nhằm mục đích ban bố danh xưng Ngài. Tất cả nhằm nhấn mạnh đến bản tính người (personal nature) của Đức Chúa Trời. Điều này dẫn Eichrodt đến chỗ xem tính cách con người (personhood) hơn là tính cách thần linh như là căn bản của tín ngưỡng Cựu Ước. Cũng vậy, Vriezen cho rằng không phải là tình yêu hay thần nhưng đời sống mới là phạm trù cơ bản để thông hiểu Đức Chúa Trời trong Cựu Ước (Vriezen, 319). Điều này không phủ nhận các phẩm tính của Chúa mà sau này được xem là thần tính của Ngài. Nhưng điều quan trọng cần ghi nhận là thần (spirit) với ý nghĩa căn bản là gió hoặc hơi thở, vốn có ý nghĩa cụ thể trong Cựu Ước. Có lẽ cần phải dùng từ vựng và lối tư duy Hy-lạp để khai triển ý niệm về tính linh thiêng quen thuộc với chúng ta hiện nay. Trong Cựu Ước, thần (spirit) vốn chưa được diễn tả một cách thích đáng tính thực tế của tín ngưỡng của Cựu Ước và sự hiệp thông. Tuy nhiên, cùng sự gần gũi thân mật đó về sau được bộc lộ bởi thần tánh chắc chắn là điểm nổi bật trong quan điểm Cựu Ước về Đức Chúa Trời. Ngài vốn là nguồn mạch của sự sống (Thi Tv 36:9), Ngài không bao giờ ngủ (Thi Tv 121:4), Ngài là Đấng dò xét lòng người (ISa1Sm 16:7) và không có điều gì thuộc về vật chất có thể giới hạn được Ngài (XuXh 20:4), Ngài vốn trỗi hơn mọi loài thọ tạo (EsIs 31:3), hoàn toàn khác biệt với loài người (OsHs 11:9).
    3. Đức Chúa Trời duy nhất: tín lý độc thần. Khởi đầu lịch sử, Y-sơ-ra-ên hiển nhiên chưa có sự hiểu biết thấu đáo về tín lý độc thần . Như J. B. Payne nhận xét: “Về mặt lịch sử, chân lý này được Đức Chúa Trời mạc khải tiệm tiến và loài người sa ngã lãnh hội” (1962, 125). Rõ ràng là các tộc trưởng chỉ thờ phượng một mình Đức Giê-hô-va mà thôi (SaSt 35:2-4), nhưng về phương diện kỹ thuật mà nói, thì đó là việc thờ chỉ một thần trong số rất nhiều vị thần (monolatry). Áp-ra-ham hiểu rằng Đức Chúa Trời là Đấng chủ tể trời đất, là Đức Chúa Trời Chí Cao (14:22), nhưng điều này chỉ có vẻ cho thấy đây là tín lý độc thần. Các tộc trưởng có kinh nghiệm thực tế về Đức Chúa Trời là Đấng tối cao và duy nhất, nhưng không có dấu chỉ nào cho thấy các vị ấy phủ nhận sự hiện hữu của các thần khác.
    Đến thời Môi-se, thì tính cách độc nhất vô nhị của Đức Chúa Trời đã được thừa nhận, Môi-se bảo với dân sự rằng họ đã thấy Đức Giê-hô-va là Đức Chúa Trời chứ không có thần nào khác (PhuDnl 4:35, 39). Căn cứ vào đó thì một khẳng định như vậy không phải là kết quả của một quá trình suy luận mang tính triết lý, song là kết quả của kinh nghiệm mật thiết về công việc của Đức Chúa Trời (Eichrodt I,227). Thi Thiên đã diễn tả rõ ràng cho một đức tin sống động như thế. Đức Chúa Trời vốn vĩ đại đến mức dễ dàng loại bỏ những đối thủ cạnh tranh. Ngài đã hạ bệ tất cả các thần đối địch khác bằng quyền phép và sự khôn ngoan của Ngài (Thi Tv 66:6,7). Đa-vít đã nhận thức được rằng sự hiện diện của Đức Chúa Trời vốn vượt trên mọi tập tục thờ phượng (Thi 139). Kinh nghiệm của dân Chúa về việc Ngài giải cứu họ đã trải dài qua khắp các thời kỳ lịch sử, đến nỗi họ có thể nói rằng “Đức Chúa Trời hằng sống là nơi ở của ngươi, ở dưới có cánh tay đời đời của Ngài ” (PhuDnl 33:27). Cách diễn tả cao nhất về tính độc nhất vô nhị của Ngài được gọi là shema bắt đầu trong 6:4 “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Chúa có một không hai ”. Câu này có thể hiểu là khi bảo rằng chỉ có một cũng có nghĩa là chỉ có một cách thích hợp để thờ phượng Ngài mà thôi (như được giải thích trong những câu tiếp theo), hoặc cũng có thể hiểu Đức Chúa Trời là có một không hai trên tất cả. Cách hiểu sau dường như phù hợp hơn với văn mạch.
    Cho dù niềm tin về tín lý độc thần có bị suy thoái qua giai đoạn Các Quan Xét hay không thì vẫn được Ê-li diễn tả cách độc đáo và được các tiên tri lớn khẳng định. Trong I Vua chương 18, Ê-li đã không chút sợ hãi khi đưa Đức Giê-hô-va ra để đối đầu với các “thần” của những tiên tri giả. Lời ông tố cáo các tiên tri giả ngụ ý về niềm tin nơi tín lý độc thần hết sức rõ ràng: “Nếu Giê-hô-va là Đức Chúa Trời, khá theo Ngài, nếu Ba anh là Đức Chúa Trời, hãy theo hắn ” (câu 21).
    Cao trào của sự khẳng định tín lý độc thần được thể hiện qua các đại tiên tri. Đối với các vị ấy thì các thần khác đều là hư không, vô nghĩa (EsIs 44:10, Gie Gr 2:5). Nhưng điểm nhấn mạnh ở đây là sự vô giá trị chứ không phải là sự phi hiện hữu của các thần đó. Chúng không thể nghe và nhậm lời cầu nguyện, cho nên chúng không phải là thần. Trong vòng những người khôn ngoan, chẳng có ai giống như Đức Giê-hô-va, tất cả đều ngu xuẩn và điên dại (Gie Gr 10:8), chúng đều bất năng bất lực (14:22). Phần văn chương cổ bênh vực cho tín lý độc thần được tìm thấy trong Ê-sai ở các chương 44-46. Tại đây, tất cả các thần tượng đều bị đem ra, đặt tương phản với Đức Giê-hô-va, là Đấng đã tạo dựng trời đất: “Ta là Đức Giê-hô-va, không có Đấng nào khác, ngoài ta không có Đức Chúa Trời nào khác nữa ” (EsIs 45:18). Các thần của tất cả các dân tộc nhập chung lại, sẽ tạo thành một đa thần chủ nghĩa kỳ quái và lộn xộn. Nhưng nhiệm vụ của người có đức tin mãnh liệt trong dân Y-sơ-ra-ên là phải thấy rằng trong số đó, không hề có thần nào tranh đua nổi, dầu chỉ một chút thôi với Giê-hô-va Đức Chúa Trời của dân Y-sơ-ra-ên, là Đấng mà trước mặt Ngài, tất cả các thần khác đều bị xem là những thần hư không, rỗng tuếch.
    Thuộc Tánh Và Công Việc Của Đức Chúa Trời
    Chúng ta đã thấy rõ là bản tính của Đức Chúa Trời đã được nhìn thấy trước nhất trong việc Ngài tự mạc khải và rồi được minh họa qua các hành động cụ thể trong đời sống của dân sự. Ngay cả trong những cách diễn tả sự ca tụng cao nhất trong các Thi Thiên cũng thiếu những câu đề cập yếu tính của Đức Chúa Trời như điều người ta vẫn hay triển khai trong triết học. Thay vì sự phản ảnh trừu tượng về bản tánh Đức Chúa Trời, chúng ta thấy các Thi Thiên nhận thức với lòng biết ơn về công việc của Ngài với điệp khúc quen thuộc: “Nguyện người ta ngợi khen Đức Giê-hô-va vì sự nhân từ Ngài, và vì các công việc lạ lùng Ngài làm cho con cái loài người ” (như trong Thi Tv 107:8, 15, 21, 31).
    Nhưng căn cứ vào các việc làm của Ngài, chúng ta còn có thể thấu hiểu thuộc tánh của Ngài nữa. Chúng ta không bị bỏ mặc để suy đoán xem Đức Chúa Trời ra thể nào, mà có thể nhìn thấy Ngài rõ ràng. Cho nên chúng ta đã tập nói về các thuộc tánh của Ngài, đồng thời phải nhớ rằng đó không phải là các ý niệm rời rạc, nhưng là “những dấu chỉ biểu tượng, một phần trùng lặp nhau” (Vriezen, 312). Đó là những cách khác nhau để nhìn vào cùng một thực tại sinh động, đó là Đức Chúa Trời.
    1. Quyền năng của Đức Chúa Trời. Tất cả các công việc của Đức Chúa Trời đều phô bày quyền năng Ngài, nhưng quyền năng ấy không bao giờ tùy tiện hay độc đoán. Kinh nghiệm cụ thể của dân Y-sơ-ra-ên đã có thể đưa tác giả Thi Thiên đến chỗ chứng thực rằng: “Đức Chúa Trời chúng tôi ở trên trời, phàm điều gì vừa ý Ngài, thì Ngài đã làm ” (Thi Tv 115:3). Nhưng lời thú nhận này được phát xuất từ những trường hợp được giải cứu đặc biệt. Chính lời hứa đặc biệt về việc ra đời của Y-sác đã khiến Đức Giê-hô-va phải hỏi rằng: “Há có điều chi Đức Giê-hô-va làm không được chăng ” (SaSt 18:14). Chính kinh nghiệm về việc ra khỏi Ai-cập đã dẫn dân Y-sơ-ra-ên đến chỗ hát lên: “Đức Giê-hô-va là sức mạnh và sự ca tụng của tôi… Hỡi Đức Giê-hô-va, tay hữu Ngài có sức mạnh vinh hiển thay! Hỡi Đức Giê-hô-va, tay hữu Ngài hủy quân nghịch tan đi !” (XuXh 15:2, 6). Ý thức về quyền năng của Đức Chúa Trời được tỏ bày trên dân sự như làm phong phú thêm niềm tin vào quyền năng Ngài là Đấng Tạo Hóa. Có lẽ họ còn dễ tin vào quyền năng tạo hóa của Ngài hơn, sau khi đã kinh nghiệm sự giải cứu và hướng dẫn lạ lùng của Ngài. Dầu sao, đồng thời với quyền chủ tể của Ngài trong lịch sử, họ còn tin tưởng trọn vẹn vào việc Đức Chúa Trời hết sức quan tâm chăm sóc cõi thiên nhiên nữa (Thi Tv 89:9, 104:1-35).
    Liên hệ với quyền năng Ngài là ý niệm về Đức Chúa Trời đáng khiếp sợ. Người ta kinh nghiệm quyền năng của Đức Chúa Trời cả trong việc đoán xét lẫn việc ban phước, nghĩa là quyền năng của Đức Chúa Trời bao giờ cũng được phô diễn bên trong một bối cảnh đạo đức. Sau đêm gặp gỡ với Đức Chúa Trời, Gia-cốp đã có thể nói nơi ấy đáng sợ biết bao, bởi vì Đức Chúa Trời đã ở đó (SaSt 28:17). Đức Chúa Trời sẽ bày tỏ quyền phán xét của Ngài bằng “sức mạnh đáng sợ” (EsIs 10:33). Các kẻ thù của dân Y-sơ-ra-ên biết Đức Giê-hô-va “như một tay anh hùng đáng khiếp” (Gie Gr 20:11) bảo vệ dân Ngài. Ngài đủ quyền năng để thành tín với những người yêu mến Ngài (Thi Tv 89:8) làm sao, thì cơn thạnh nộ Ngài cũng khủng khiếp đối với những kẻ chống lại Ngài y như vậy (Thi Tv 59:13, PhuDnl 28:29).
    Ý niệm “Đức Chúa Trời ghen tương” cũng là một ý niệm được gắn kết mật thiết với Ngài (XuXh 20:5, 34:14 chép “danh Ngài” là ghen tương). Ý căn bản của từ ngữ “ghen tương” hoặc “sốt sắng” là Đức Chúa Trời tự khẳng định uy quyền cũng như bảo vệ quyền hạn của mình. “Lòng sốt sắng của Jahweh là một khái niệm thiết yếu đối với Ngài” (Vriezen, 302). Sở dĩ như vậy là vì sức mạnh có một không hai của thuộc tánh Ngài là điều không thể chia sẻ cho bất kỳ một tạo vật nào khác (EsIs 42:8). Đức Chúa Trời không “kiêu ngạo” như cách chúng ta hiểu về sự kiêu ngạo; đây chỉ là phản ảnh cần thiết đối với thực trạng các sự việc. Chính vì thế mà việc thờ thần tượng chọc giận lòng sốt sắng của Ngài, hình tượng chỉ là ảo tưởng suông (PhuDnl 32:16). Sự chọc giận cũng đến từ việc cố ý lìa bỏ giao ước (PhuDnl 29:20). Nhưng cũng chính sự ghen tương ấy lại chính là lời bảo đảm của Đức Chúa Trời cho việc bảo vệ dân Ngài (IIVua 2V 19:31, EsIs 26:11) khỏi sự đe dọa không nguôi về sự đoán xét công chính của Ngài (Dan Ds 25:11). Điều này đã đưa Ludwig Koehler đến ý kiến cho rằng kính sợ Đức Giê-hô-va là vâng lời (Koehler,56).
    2. Sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Liên hệ chặt chẽ với ý niệm quyền năng là ý niệm thánh khiết của Đức Chúa Trời. Có lẽ đây là thuộc tánh chính yếu của Ngài. Trong nguyên ngữ Hy-bá-lai, từ ngữ này có nghĩa “cắt đứt”, “để riêng ra,” dùng để nói lên những gì biệt riêng ra, dâng lên hằng ngày để được thánh hóa. Chẳng hạn trong SaSt 2:3, ngày thứ bảy đã được biệt riêng ra “để làm ngày thánh” cho Đức Giê-hô-va.
    Trong bối cảnh Cận Đông, một sự mầu nhiệm đáng sợ (a fearful mysterium) thường liên hệ đến những nơi và đồ vật thánh (ít khi liên hệ với con người theo nghĩa được tách ra khỏi đời sống bình thường. Điều rất có ý nghĩa là nó rất ít khi được áp dụng cho các thần (Eichrodt, I, 271). Tư tưởng về sự thánh khiết rất thường được gắn liền với mana - hay các sức mạnh của các thành tố của thiên nhiên - được tin tưởng là ở trong những đồ vật hay nhân vật nào đó, và phải được làm nguôi giận bằng các nghi lễ được cử hành rất thận trọng và thành tâm. Sợ hãi và kinh hoàng là những cảm xúc thường đi kèm với loại ý niệm như vậy.
    Trong mạc khải Cựu Ước về sự thánh khiết, một ý niệm khác hẳn đã được đưa ra ánh sáng. Trước hết, sự thánh khiết chính yếu liên quan đến Đức Chúa Trời và sau đó (và theo lời chỉ dạy của Ngài) mới liên quan đến những đồ vật và nơi chốn (XuXh 15:11, EsIs 40:25). Ngài thích sự thiện hảo và chân lý (Gie Gr 9:24) và ghét điều ác, kể đó là sự xúc phạm đến thánh danh Ngài (LeLv 20:3). Các sự vật và nơi chốn được Đức Chúa Trời biệt riêng ra thánh, không phải vì chúng là đối tượng đáng sợ, mà chỉ vì Ngài đã hiện diện tại đó và chúng được đồng hóa với Ngài. Môi-se được biết ông đang đứng trên đất thánh vì Đức Giê-hô-va đang ở đó (XuXh 3:5). Hòm giao ước trở thành thánh khiết, không ai tới gần được vì nó gắn liền với sự hiện diện của Đức Chúa Trời (ISa1Sm 6:19, 20, XuXh 29:43). Điều rất có ý nghĩa, là ý thức về sự thánh khiết, mà chúng ta sợ hãi khi nghĩ đến, thường đến sau. Sự kiện thánh khiết có trước, chứ không theo sau kinh nghiệm. Đức Chúa Trời đã phải bày tỏ cho Môi-se biết rằng ông Đấng đứng trên thánh địa nếu không ông sẽ chẳng bao giờ biết được như vậy. Cảm xúc luôn đến sau.
    Ý niệm về sự thánh khiết được kết hợp với ý niệm về sự tinh sạch về phương diện luân lý từ rất sớm. Xếp mối liên hệ đó ra phía sau là đã đọc sai những gì đã được ký thuật. Khi Đức Chúa Trời trừng phạt tội của Na-đáp và A-bi-hu bằng cách khiến lửa thiêu hóa họ, Ngài phán: “Ta sẽ nhờ những kẻ lại gần ta mà được tôn thánh và được vinh hiển trước mặt cả dân sự ” (LeLv 10:3). Quả thật sự thánh khiết bình thường vẫn được dùng để chỉ những nơi chốn, sự vật, nhân vật, trong phạm trù tín ngưỡng nghĩa là đã được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va, song như Eichrodt nói, “Cả một hệ thống những điều cấm kỵ đã được dùng để phục vụ cho ý niệm về một Đức Chúa Trời cao cả hơn” (Eichrodt I,274). Hệ thống thờ phượng phải là biểu tượng về một Đức Chúa Trời cầm quyền chủ tể duy nhất trên dân Ngài, một bài học rất lớn lao để minh họa sự thuần khiết của Ngài, cũng như đó là một phương tiện để duy trì mối liên hệ đã được thiết lập bằng giao ước. Như về sau Phao-lô cũng đã cho biết, luật pháp là thầy giáo dẫn người ta đến với Đấng Christ (GaGl 3:24).
    Nói rộng ra, sự thánh khiết của Đức Chúa Trời có liên quan với dân mà Ngài đã kêu gọi đến với với Ngài; giao ước là cách bày tỏ độc đáo về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên phải là một dân thánh cho Đức Giê-hô-va (XuXh 22:31). Vì Ngài là thánh, nên họ cũng phải thánh (LeLv 11:44). Trong các hành động để gia ơn cho họ, Ngài đã tự tỏ mình ra là thánh (Dan Ds 20:13). Vì lý do đó mà Đức Chúa Trời đã được gọi là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên (ba mươi lần trong Ê-sai, Thi Tv 71:22, Gie Gr 50:29 vv...). Đức Chúa Trời vốn là Đấng Thánh, còn dân Y-sơ-ra-ên tự họ không phải là thánh, nhưng sở dĩ họ được trở thành một dân thánh là vì đã được dâng lên, đã được biệt riêng ra thánh cho Đức Chúa Trời. Như Edmond Jacob nói: “Đức Chúa Trời là thánh, và chính vì lý do đó mà Ngài tự chọn thiết lập một giao ước; trái lại, con người chỉ có thể nên thánh nhờ dự phần vào giao ước đó” (Jacob, 90). Tuy thế, ngay trong giao ước, dân Y-sơ-ra-ên vẫn có thể kinh nghiệm sự thánh khiết của Đức Chúa Trời như là sự phán xét (EsIs 10:17) hoặc như là sự cứu rỗi (EsIs 43:3, 14).
    Xuyên suốt Cựu Ước, sự thánh khiết mang ý nghĩa là sự đầy dẫy quyền năng và sự sống thể hiện trong đời sống đạo đức cá nhân. Mặc dầu chỉ một mình Đức Chúa Trời thánh khiết, nhưng từ Ngài, sự thánh khiết đã chiếu ra và soi sáng khắp đất (XuXh 15:11), Ngài tự tìm cách để chiếu rọi ra cho đến khi nào thế gian nhận biết mình đầy dẫy vinh quang của Đức Giê-hô-va như các tiên tri đã hàm ý (EsIs 6:1-3). Gustave Ochler giải thích: “Mọi cách thể hiện giao ước ân điển của Đức Chúa Trời đều xuất phát từ sự thánh khiết thiên thượng (divine holiness) của Ngài. Bên ngoài các mối liên hệ thần quyền, thế gian không nhận biết được sự thánh khiết, nhưng ngay khi thế gian bước vào mối liên hệ với Nước Trời, thì sẽ nhận được những biểu hiện của cõi trời” (Ochler I,157). Bản chất của thế gian như là công việc của tay Đức Chúa Trời làm ra, phải phản ảnh thuộc tánh Ngài trên đất.
    3. Sự Công Chính Của Đức Chúa Trời. Liên hệ chặt chẽ với sự thánh khiết là sự công chính. Gốc của từ ngữ này đã bị thất lạc, nhưng cách dùng nó nói lên sự ăn ở ngay thẳng hay tình trạng thẳng ngay, chính trực, thẳng thắn, đúng mẫu mực. Từ ngữ này thường mang yếu tố pháp luật, liên hệ với tòa án hay những quyết định có tính cách pháp lý. Nhưng theo nghĩa rộng, nó có nghĩa là chân chính hay tự nhiên. Các lối công bình (ngay thẳng) chỉ có nghĩa là những đường lối có thể đi được (Thi Tv 23:3), cây công bình là cây tươi tốt, đẹp đẽ (EsIs 61:3).
    Từ ngữ này được dùng lần đầu tiên trong bài ca của Môi-se ở PhuDnl 32:4 “Ngài là công bình và chánh trực ”. Trong Các Quan Xét, việc Đức Chúa Trời giải cứu dân Ngài được gọi là “việc công chính” (Cac Tl 5:11, nguyên văn Hy-bá-lai). Đại ý những câu này là ý niệm về công việc của Đức Chúa Trời phơi bày quyền tể trị của Ngài trong lãnh vực đạo đức. Sự công chính là sự thánh khiết biến thành hành động, là việc thực thi nó, là tạo ra nó từ chỗ không có gì. Đức Chúa Trời không phải tuân theo một mẫu mực công chính trừu tượng nào. Trái lại, ý chỉ và thuộc tánh Ngài vốn là đạo đức và các hoạt động của Ngài chắc chắn bộc lộ về đức độ Ngài. Thuộc tính này ẩn phía sau hình ảnh ví von về người thợ gốm và đất sét (EsIs 45:9-12, Gie Gr 18:1-12). A. B. Davidson giải thích hình ảnh ấy như sau: “Hình ảnh này có nghĩa rằng chính Đức Chúa Trời tác tạo ra lịch sử và định mệnh nhân loại, nhất là của dân Ngài; nhưng nó chẳng nói gì đến các nguyên tắc theo đó Ngài tác tạo ra chúng” (Davidson,131). Nhưng có thể nói thêm rằng vì Đức Chúa Trời là công chính nên Ngài luôn thể hiện sự công chính trong mọi việc Ngài làm. Chúng ta đừng nên thắc mắc gì về bản tính đạo đức của Ngài, bởi vì nó đã được diễn tả rõ ràng trong luật pháp ban bố tại núi Si-nai. Tác giả Thi Thiên tuyên bố: “Hỡi Đức Giê-hô-va, Ngài là công bình, sự đoán xét của Ngài là ngay thẳng ” (Thi Tv 119:137). Các thần của các dân, các nước có tính khí bất thường và không thể trông cậy được, nhưng chúng ta có thể trông cậy vào sự phán xét của Đức Chúa Trời, vì nó vốn công bình và vững chãi (36:6). Tất cả những gì Đức Chúa Trời làm đều nhất nhất bày tỏ sự công chính Ngài (50:6, EsIs 5:16).
    Từ thời kỳ rất sơ khai trong Cựu Ước, sự công chính đã được phơi bày, đặc biệt là khi Ngài can thiệp để binh vực dân Ngài, cũng như trong cách bảo vệ các quyền lợi cho dân của giao ước (XuXh 32:10, Dan Ds 14:12). Mối liên hệ có một không hai giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài được nhận thấy trong bối cảnh Đức Chúa Trời tỏ ra sự công chính Ngài. Chính các hành động để giải cứu của Đức Chúa Trời cũng đòi hỏi sự công chính (ISa1Sm 12:7, MiMk 6:5, theo tiếng Hy-bá-lai). Gần đây, các thần học gia nối gót H. Cremer (von Rad, I ,370-76 và Eichrodt (I,240-44) đã tìm lại được tầm quan trọng của ý niệm về mối liên hệ trong Cựu Ước. Điều này nói lên sự công chính là một quan niệm về mối liên hệ hàm chứa nhiều trách nhiệm xuất phát từ những đòi hỏi của mối liên hệ đó. Yếu tố chủ đạo là bản tánh của Đức Chúa Trời, nhưng sự trung thành và công chính phải được thể hiện trong sự trao đổi của cộng đồng. Đây là sự công chính ở trong nhà và ngoài chợ. Nó dẫn dắt người ta đi trong đường công chính, làm điều công bình chứ không phải chỉ là công bình mà thôi. Dĩ nhiên là mỗi người đều có sự công bình riêng để làm theo: nhà vua, kẻ làm cha mẹ, làm con, người kinh doanh mua bán. Nhiệm vụ của sự công chính là trình bày các đức tính mà mối liên hệ đặc biệt đòi hỏi. Tuy nhiên, tiêu chuẩn cho tất cả là bản tánh công chính của Đức Chúa Trời, đặc biệt là khi nó được bày tỏ trong luật pháp, và được hiểu trong diễn biến của sự khôn ngoan. Nền tảng của tất cả là hành động công chính của Đức Chúa Trời khi đặt dân Ngài vào trong giao ước.
    Vào thời của các tiên tri cổ xưa, ý niệm về sự công chính của Đức Chúa Trời được gắn chặt nhiều hơn vào một vương quốc công chính hữu hình, mà theo EsIs 9:6 là phải được “lập lên trong sự chánh trực, công bình… cho đến đời đời ”. Khi vương quốc ấy đến, thì dân Y-sơ-ra-ên sẽ được kết hiệp với Chúa trong sự công bình và chánh trực (OsHs 2:19). Hơn bất cứ điều gì khác - kể cả các công thức phải lẽ về thờ phượng-Đức Chúa Trời muốn sự công chính đó phải là đặc tính của dân Ngài (AmAm 5:24). Mục tiêu hiện thấy của Giăng tại đảo Bát-mô ấy về Tân nương của Đấng Christ được mặc vải gai mịn cho Tiệc Cưới Chiên Con tức là những việc làm công chính của các thánh đồ (KhKh 19:8). Trong khi được mạc khải tiệm tiến, sự công chính của Đức Chúa Trời tìm cách thể hiện ra, phản ảnh nơi dân sự Đức Chúa Trời, để họ được trở nên giống như Ngài (EsIs 51:6, sự cứu rỗi ở đây, theo tiếng Hy-Bá-Lai, có nghĩa là sự công chính). Quả đúng như Davidson nói, sự công chính còn có thêm một thuộc tính nữa, vì đó là hệ quả việc làm của Đức Chúa Trời. “Đó là một cái gì được Đức Chúa Trời tạo ra trong thế gian, do một điều kiện đòi hỏi Ngài...Vì một khi sự công chính đã được tạo nên, thì loài người và thế gian sẽ mang bản tánh như Ngài vậy” (Davidson, 143). Cũng như sự thánh khiết, chúng ta trở lại với nguyên tắc bắt chước Đức Chúa Trời đươc xem là một nguyên tắc căn bản của đạo đức học Cựu Ước.
    Cũng cần lưu ý rằng sự công chính cần được mạc khải, có đặc tính cụ thể và có thể nhìn thấy. Đó là sự thay đổi bên ngoài đồng thời cũng là sự chuyển biến thuộc linh bên trong. Sự xưng công chính trong Cựu Ước bao gồm sự thịnh vượng và phục hồi bên ngoài cũng như có sự đổi mới bên trong (Davidson,139). Tân Ước cũng diễn tả cùng một nguyên tắc đó, đức tin không có việc làm tương ứng là đức tin chết (Gia Gc 2:17).
    Vậy sự công chính của Đức Chúa Trời qua diễn tiến của Cựu Ước đã được mở rộng từ một môi trường nhỏ hẹp trong giao ước để diễn tả ý chỉ của Đức Chúa Trời cho toàn thể trật tự thọ tạo. Ở đây, ý niệm ấy đi từ chỗ rập theo một khuôn mẫu đến việc tích cực làm điều phải, hay “việc duy trì mối hiệp thông bây giờ trở thành việc xưng công bình cho kẻ vô đạo” (Eichrodt, I, 274). Đa-vít đã biết rằng việc Đức Chúa Trời giải cứu là hệ quả tất yếu của đức công chính Ngài (Thi Tv 51:14, sự cứu rỗi theo nguyên ngữ Hy-bá-lai có nghĩa là “công chính”). Trong khải tượng của Ê-sai, Đức Chúa Trời đang giáng cơn mưa công chính xuống (45:8) bằng hình thức của sự ban thưởng (54:17). Một lần nữa, sự tự mạc khải của Đức Chúa Trời lại nhằm mục đích cứu chuộc và đưa tới việc thể hiện sự vinh hiển cuối cùng và rộng khắp của Ngài.
    Trong giai đoạn nằm giữa Cựu và Tân Ước, ý niệm về công chính đã trải qua một thay đổi quan trọng. Dường như khải tượng của các tiên tri đã mất, thay vào đó là sự vâng lời hầu như máy móc. Công lý trở thành công lý phân phối cho từng cá nhân theo tiêu chuẩn của luật pháp. Như vậy sự công chính hóa chính là sự tuyên xưng công bình trước án lệnh của vị quan tòa công chính vào ngày chung thẩm. Đồng thời sự công chính hóa của con người cũng được đồng nhất hóa với việc vâng giữ luật pháp - bố thí, không ăn nếu chưa rửa tay sạch, vv... Ngay trong DaDn 4:27, điều đó đã rõ ràng khi Đa-ni-ên truyền bảo nhà vua từ bỏ tội lỗi bằng cách làm điều công chính tức là làm việc lành. Chống lại quan niệm hẹp hòi đó về sự công chính, Đấng Christ đã khẳng định trong Mat Mt 5:20 “Vì ta phán cho các ngươi rằng: nếu sự công bình của các ngươi chẳng trổi hơn sự công bình của các thầy thông giáo và người Pharisi, thì các ngươi chắc không vào nước thiên đàng ”. Cuối cùng chúng ta hãy lưu ý hai ý niệm kết hợp chặt chẽ với nhau. Ý niệm thứ nhất là sự phán xét của Đức Chúa Trời có liên hệ chặt chẽ với ý niệm “tích cực làm điều công chính” mà chúng ta đã ghi nhận ở phần trên. Sự phán xét trong Cựu Ước rộng nghĩa hơn ý niệm kết án của chúng ta ngày nay. Nó là toàn thể hoạt động phán xét, cả đến việc khiến kẻ sai quấy trở thành công chính bằng việc trừng phạt hoặc cứu chuộc. Quan tòa không chỉ tuyên án, nhưng còn thu thập mọi chứng cứ và làm việc một cách sáng tạo để thực hiện việc xét xử của mình. Là Đấng Chủ tể, Đức Chúa Trời cũng là quan tòa chắc chắn sẽ xét xử công bình (SaSt 18:25) mà ý chỉ Ngài là nền tảng cho mọi việc xét xử. Ý chỉ đó đã được mạc khải tại Si-nai: luật pháp đã trở thành nền tảng cho mọi quyết định pháp lý. Nhưng sự phán xét của Đức Chúa Trời còn có ý nghĩa sâu rộng hơn đó là ngay các chiến thắng của dân Y-sơ-ra-ên cũng được xem là kết quả của các quyết định phán xét của Đức Chúa Trời. Đức Giê-hô-va là Đấng Đoán Xét, sẽ quyết định mọi sự (Cac Tl 11:27, IISa 2Sm 18:31). Hình ảnh Đức Chúa Trời biện luận với dân Y-sơ-ra-ên, về sau đã được các tiên tri sử dụng. Dân sự của Đức Chúa Trời đã phạm tội chiếu theo tiêu chuẩn công lý tối thiểu của Đức Chúa Trời (Gie Gr 2:1-37OsHs 6:1-11), nhưng Đức Chúa Trời không thể nào quên dân Ngài. Cho nên những lần phán xét của Ngài đều có tính cách cứu chuộc, phán xét để ban phát lòng nhân và ân huệ (EsIs 30:18).
    Ý niệm liên hệ thứ hai là cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Trọng tâm của ý niệm này là thái độ chống đối kiên quyết của Đức Chúa Trời, là Đấng thánh khiết và công bình khi đối diện với tội lỗi và điều ác (PhuDnl 29:23-25 và nhất là NaNk 1:2-6). Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời không phải là một điều đương nhiên, cũng không phải là một cảm xúc tự phát, nhưng là một đáp ứng cá nhân đối với điều ác phù hợp với thuộc tính thánh khiết của Ngài. Đôi lúc điều đó phải được diễn tả bằng ngôn ngữ loài người (sẽ thấy trong trường hợp của tình yêu thương), nhưng điều này chỉ nhằm khẳng định chính Đức Chúa Trời là thực hữu, chứ không phải so sánh các phản ứng của Ngài với cách phản ứng của chúng ta. Ngay đến sự thạnh nộ của Đức Chúa Trời cũng xen lẫn với lòng nhân, như muốn minh họa một lần nữa về tính bất khả phân ly của các thuộc tánh Đức Chúa Trời (OsHs 11:8, 9, Gie Gr 18:20).
    Ở phương diện này, chúng ta cần phải chú ý cách Đức Chúa Trời đã sử dụng điều ác để hoàn thành các mục đích của Ngài. Ngay sau phần mô tả cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời trong Thi Tv 76:1-12 là câu khẳng định đáng ngạc nhiên: “Cơn giận loài người hẳn sẽ ngợi khen Chúa, còn sự giận dư lại, Chúa sẽ ngăn trở ” (câu 10). Tôi cho rằng câu này không chỉ là một câu nói ngẫu hứng mô tả quyền tể trị cao cả của Đức Chúa Trời, nhưng là một cách diễn tả rất cơ bản phương thức mà quyền tể trị ấy phải noi theo trong cái thế gian đã sa ngã này. Đức Chúa Trời trong Kinh Thánh nhiều lần dùng chính sự chối bỏ của con người để sử dụng trong kế hoạch cứu chuộc của Ngài. Loài người xây bỏ Đức Chúa Trời nhưng Ngài lại dùng chính sự xây bỏ đó để khích lệ và đem sự cứu rỗi đến, nhưng không xâm phạm quyền tự do của họ. Sự đê hèn của các anh Giô-sép đã được biến thành phương cách giải cứu dân Ngài khỏi nạn đói và cứu sống họ (SaSt 45:5). Sự cứng lòng của Pha-ra-ôn trở thành phương tiện phô bày ơn cứu rỗi của Đức Chúa Trời trong thời kỳ xuất Ai-cập (XuXh 6:1) việc Y-sơ-ra-ên đòi lập lên một vua cho chúng ta thấy các lý do sai lầm của đòi hỏi ấy (ISa1Sm 8:5, 7), nhưng Đức Chúa Trời đã dùng lạc điểm đó làm một dấu hiệu cũng như phương tiện cho sự trị vì của chính Ngài trong tương lai (IISa 2Sm 7:12). Tất nhiên, cuối cùng trong Tân Ước, chính việc loại bỏ Đấng Christ đưa đến sự chết của Ngài, đã được Đức Chúa Trời dùng để làm nên sự cứu rỗi cho chúng ta (ICo1Cr 2:8, 9).
    4. Lòng nhân từ và yêu thương của Đức Chúa Trời. Ở đây chúng ta lại được nhắc nhở rằng các quan niệm chúng ta vừa nỗ lực định nghĩa lại trùng lắp lên nhau. Những điểm cần phân biệt thì mù mờ, các ý nghĩa lại lấn sang những ý niệm tương quan. Chúng ta phải đối đầu với vấn đề muôn thuở khi nói về Đức Chúa Trời: những chiếc bình, chúng ta đem đến để múc nước trong một thùng lớn đã không chứa hết nước trong đó. Nhưng điều thường xảy ra là gì, giống như trường hợp bình dầu của bà góa nọ không hề bị cạn đi, thì Đức Chúa Trời lấy những lời lẽ đơn sơ của chúng ta, sử dụng những lời đó, nhân rộng, đưa nó vượt xa ý nghĩa nguyên thủy của mình. (Về sau cách đó cũng thường được hiển hiện trong các định chế của dân Y-sơ-ra-ên). Chúng trở thành những lời lẽ mang ý nghĩa rộng lớn hơn điều chúng ta có thể tưởng tượng lúc ban đầu.
    Chúng ta cũng đã ghi nhận rằng các ý niệm về quyền năng và đức thánh khiết của Đức Chúa Trời thường hướng đến lòng nhân từ . Dân Y-sơ-ra-ên chẳng những chỉ kinh nghiệm về một Đức Chúa Trời được tôn cao, đáng kính sợ trong sự thánh khiết, mà còn biết Ngài là Đấng luôn hướng về họ với lòng ái nhân.
    Từ ngữ này (tiếng Hi-bá-lai là j#s#d ) được dịch nhiều cách khác nhau như “nhơn từ”, “nhân ái” (ASV), “tình yêu giao ước” (Berkeley) hay “tình yêu bền vững” (thường được dùng trong RSV) vốn là tâm điểm mạc khải của Đức Chúa Trời trong Thánh Kinh. Ý niệm nền tảng của từ ngữ ấy chỉ về sức mạnh (được dùng trong Thi Tv 144:2 khi “sự nhân từ tôi” đi đôi với “đồn lũy tôi”; trong bản RSV là “vầng đá tôi và đồn lũy tôi”). Bối cảnh này đặc biệt phù hợp với khuynh hướng hiện đại muốn liên kết nhân từ với yếu kém. Khi được sử dụng để nói về Đức Chúa Trời, từ ngữ này ngụ ý nói đến ân sũng - sự ban ơn dầu chúng ta không xứng đáng; nhưng khi dùng cho con người, nó có nghĩa là tin kính hay tận hiến (Snaith, 94-95).
    Ý niệm này đã có trong SaSt 3:15 khi một lời hứa được thay thế để giảm nhẹ sự phán xét Đức Chúa Trời đã phán truyền (2:17). Đối với các vị tộc trưởng từ ngữ đó nói lên sự thành tín của Đức Chúa Trời trong các lời hứa giao ước của Ngài (32:10, 39:21). Thật ra, nhân từ mới là thực tại dẫn đến giao ước - Chúa và dân Ngài thuộc về nhau. Đức Chúa Trời đã chọn dân Y-sơ-ra-ên để “thuộc riêng” về Ngài nên Ngài mới lập giao ước cùng họ (xem XuXh 19:4-6, PhuDnl 7:9, 12, IVua 1V 8:23, IISu 2Sb 6:14, NeNe 1:5). Nhân từ là bản tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ như một sự kiện tiên khởi nên có giá trị bền lâu hơn giao ước (Thi Tv 136:1-26, Gie Gr 3:12, 33:11).
    Vậy, lòng nhân từ trong bối cảnh của giao ước đã phát triển thành trách nhiệm hỗ tương giữa các thân tộc, bạn bè, chủ tớ hay các mối liên hệ khác; sự đoàn kết, trách nhiệm chung” (Kochler trong Payne 1970, 162). Theo nghĩa rộng, từ ngữ này thường hàm ý trung thành hay trung tín, một sự kết hợp vững chắc bất khả phân ly (XuXh 34:6, EsIs 55:3), và dĩ nhiên sự thành tín và nhẫn nhục chịu đựng của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên cũng bày tỏ lòng nhân từ của Ngài (CaAc 3:22-23).
    Có nhiều ý niệm xoay quanh chủ đề nhân từ. Chẳng hạn như nhân từ và thành tín thường đi với nhau (EsIs 16:5, OsHs 4:1, MiMk 7:20, EsIs 55:3). Căn cứ trên lòng nhân từ mà Đức Chúa Trời được gọi là Cha (XuXh 4:22, Dan Ds 11:12) dẫn đến việc nhìn nhận Ngài thật sự cầm quyền thống trị trên cõi tự nhiên với tư cách là Đấng Tạo Hóa. Cũng vậy, Ngài là cha của kẻ không có cha (Thi Tv 68:5) Ngài sửa phạt con cái Ngài (PhuDnl 8:5, ChCn 3:12) Ngài là Đấng dắt chăn (SaSt 48:15, Thi Tv 23:1-6). Qua hình ảnh dân Y-sơ-ra-ên được mô tả là một đứa con bất trung, ý niệm nhân từ đã được diễn tả sâu xa hơn trong OsHs 11:1-3. Hình ảnh dân Y-sơ-ra-ên là đứa con hoang đàng cũng xuất hiện trong Gie Gr 3:19, 31:20. Mục tiêu cuối cùng là để cho toàn cõi vũ trụ có thể ý thức và phản ánh được lòng nhân của Đức Chúa Trời (Thi Tv 33:5, Thi Tv 119:64).
    Tình yêu thương Đức Chúa Trời bày tỏ ra trong việc chọn dân Y-sơ-ra-ên là hướng quyết định của ý chí và thái độ sẵn sàng hành động (Eichrodt,I,252). Trong Cựu Ước, tình yêu thương của Đức Chúa Trời có liên hệ chặt chẽ với ý niệm về sự tuyển chọn: Chúa tuyển chọn dân Ngài. Ban đầu động cơ thúc đẩy Đức Chúa Trời chọn lựa không được nói rõ, nhưng đến thời Môi-se đã được giải thích là do tình yêu của Đức Chúa Trời (PhuDnl 4:37, 7:7). Một lần nữa, mạc khải về bản tánh của Đức Chúa Trời được đặt trên nền tảng giao ước Ngài đã lập với dân Y-sơ-ra-ên. Như vậy, giao ước không bị một thể chế nào giới hạn, nếu không muốn nói nó chỉ tùy thuộc vào ý chỉ và bản tính của Chúa mà thôi (Snaith, 95). Điều đó đã tạo ra được mối liên hệ thật đặc biệt và lành mạnh thể hiện qua sự tương phản rõ rệt giữa tín ngưỡng của Y-sơ-ra-ên với hình thức dâm dật, trơ trẽn của các tôn giáo tại xứ Ca-na-an.
    Edmond Jacob nhận xét rằng từ yêu thương thường được dùng cho người trên đối với kẻ dưới (một ngoại lệ đáng chú ý là PhuDnl 15:16 xem Jacob, 108-9). Tình yêu thương của Đức Chúa Trời dành cho mọi loài thọ tạo của Ngài (Thi Tv 145:9, 16), nhưng đặc biệt là cho nhân loại (Thi Tv 103:17).
    Trong các sách tiên tri, nhất là Ô-sê, tình yêu thương đạt đến mức độ diễn tả cao nhất. Tại đó, tình yêu thương thể hiện như một năng lực chọn lựa vượt trên lý trí (suprarational) nằm bên dưới để nâng đỡ giao ước giữa dân Y-sơ-ra-ên với Đức Chúa Trời (OsHs 11:1-4). Trong EsIs 49:15 tình yêu của Đức Chúa Trời được ví với tình mẫu tử, còn trong EsIs 43:3, 49:26 được ví sánh với tình yêu của Đấng Cứu Chuộc. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời còn mãi (Gie Gr 31:3) và bao giờ cũng là tình yêu giáo huấn (GiGa 12:7-13, OsHs 11:7-9).
    Kết hợp với tình yêu thương là ý niệm về sự kiên trì nhẫn nhục của Đức Chúa Trời. Ân huệ Ngài tồn tại lâu dài hơn cơn giận (Thi Tv 103:5), tuy cũng có giới hạn (NaNk 1:3, XuXh 34:7). Hơn nữa, vì lòng nhân từ, Chúa tỏ lòng thiện hảo đối với những kẻ gặp hoạn nạn (Thi Tv 146:7-9, EsIs 54:10). Sau cùng, như là ân điển, tình yêu của Đức Chúa Trời tỏ ra cho với kẻ chẳng xứng đáng (SaSt 6:8). Snaith đã từng nói: Chúng ta nhận thấy từ ngữ đó được dùng cách thực tế để chỉ thái độ của một người trên đối với kẻ dưới. Như vậy, chesed (nhân từ) có ý nghĩa hai chiều, còn chen (ân huệ, ân điển) chỉ mang ý nghĩa một chiều thôi. Do đó nó thường mang ý nghĩa sự ban ơn huệ cho kẻ không xứng đáng, hay ơn huệ tối cao được người trên ban xuống.” (Snaith, 128).
    Sự mạc khải trong Cựu Ước về ơn cứu chuộc rộng lượng của Đức Chúa Trời (Thi Tv 86:5) hướng tới quan niệm về tình yêu vô điều kiện (agape love ) kỳ diệu trong Tân Ước được mạc khải trọn vẹn trong Chúa Giê-xu Christ (IGi1Ga 4:9-10).

    Sáng Tạo & Quan Phòng
    Hỡi Atum-Kheprer, Ngài vốn ngự trên đỉnh núi cao (nguyên thủy )...đã nhả ra Shur, đã phun ra Tefnut. Ngài đã đặt tay Ngài trên họ như đôi tay của một Ka (sinh lực ), vì Ka của Ngài vốn ở trong họ.
    Thần thoại Ai-cập về công cuộc sáng tạo trời đất, thế kỷ 24 T.C.
    Lúc trời cao chưa được đặt tên, đất cứng bên dưới chưa có tên gọi cũng chưa có Apsu đầu tiên là con của chúng và Mummu-Tiamat, người đã sanh ra hết thảy chúng sinh thì các dòng nước đã hòa quyện với nhau để trở thành một thể đồng nhất.
    Thần thoại Ba-by-lôn về công cuộc sáng tạo trời đất, đầu thiên niên kỷ thứ 2 T.C.
    “Ban đầu Đức Chúa Trời dựng nên trời đất. Vả đất là vô hình và trống không, sự mờ tối ở trên mặt vực, Thần Đức Chúa Trời vận hành trên mặt nước ”
    SaSt 1:1, 2
    Sáng Tạo
    Việc Cựu Ước phác họa Đức Chúa Trời như là Đấng Chủ Tể trên khắp đất không hề làm suy giảm tầm quan trọng của quan điểm Hi-bá-lai về trật tự tạo vật. Thật vậy, chính vì được Đức Chúa Trời tạo dựng và bảo tồn nên thế giới này tự nó đã là quan trọng và thiết yếu. Đức Chúa Trời là nguồn gốc tuyệt đối của mọi sự và là ý chí duy nhất ẩn tàng sau mọi sự đó là thực sự không thể chối cãi. Sự tồn tại của thế giới nhằm phục vụ cho các chủ đích của Ngài. Tương phản với những phần ký thuật về thời kỳ sơ khai của các nền văn hóa lân bang (nên xem những truyện thần thoại của Ai-cập và Ba-by-lôn), phần ký thuật của Sáng Thế Ký thật đơn giản và hết sức rõ ràng minh chứng cho điều được gọi là “lý trí được khai minh" (enlightened sobriety). Trong Cựu Ước không hề có sự suy đoán về nguồn gốc Đức Chúa Trời như thường thấy trong các truyện thần thoại Cận Đông. Đức Chúa Trời luôn được khẳng định từ đầu đến cuối (xem EsIs 41:4Giop G 38:4).
    Nhiều học giả cho rằng lịch sử sơ khai của Y-sơ-ra-ên ít thấy đề cập đến công cuộc sáng tạo và vì thế cho rằng công cuộc sáng thế của Đức Chúa Trời về sau mới được chú ý đến. Các học giả ấy lập luận: công tác cứu chuộc quyền năng của Đức Chúa Trời mới chính là khởi điểm cho sự suy tư của họ về công tác sáng tạo. Quả thật, sự mạc khải ban sơ của Đức Chúa Trời cho dân Ngài (nếu được chúng ta có thể cùng xem lại phần lịch sử sơ khai của dân Y-sơ-ra-ên) không hề đề cập nhiều về công tác sáng tạo và chính Môi-se cũng như Giô-suê (trong Phục Truyền Luật Lệ Ký và Gios Gs 24:1-33) đã không hề đề cập Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa như chúng ta có thể mong đợi. Nhưng trước khi đưa ra kết luận rằng kinh nghiệm cứu chuộc được hình thành trước mọi ý tưởng về sáng thế chúng ta cần ghi nhớ một số điều sau đây.
    Thứ nhất, những phần kinh văn xuất hiện rất sớm trong Ngũ Kinh Môi-se (XuXh 15:16 và phần Kinh Thánh tương quan trong PhuDnl 32:6) đều cho biết Đức Chúa Trời đã tạo ra dân Y-sơ-ra-ên. Quả thật, từ ngữ đề cập đến sự sáng tạo ở đây không phải là từ ngữ được sử dụng trong SaSt 1:1, và sự việc được đề cập chính là sự sáng lập nên quốc gia Y-sơ-ra-ên qua sự giải cứu quyền năng. Thế nhưng, ý niệm ấy cũng đồng thời ngụ ý việc xuất Ai-cập đánh dấu việc sáng lập nên nhà nước Y-sơ-ra-ên cũng chính là một sáng tạo, qua đó Đức Chúa Trời một lần nữa tỏ ra quyền năng sáng tạo của Ngài. Hơn nữa, ngôn ngữ trong Xuất Ê-díp-tô Ký chương 15 cũng tương tự như những lần đề cập đến việc Đức Chúa Trời sáng tạo nên trời đất trong buổi ban sơ (Thi Tv 89:1-52).
    Thứ hai, điều răn về ngày Sa-bát trong XuXh 20:11 hiển nhiên đề cập đến công cuộc sáng tạo mọi vật của Đức Chúa Trời trước ngày Sa-bát, là ngày nghỉ của Ngài. Hơn nữa, điều răn ngăn cấm làm ra các loại thần tượng tất yếu phải có nền tảng của phần ký thuật về sự sáng tạo thì người ta mới có thể hiểu rõ được ngọn ngành của sự việc (20:4, PhuDnl 5:8-10, xem Craigie,153). Cuối cùng, phần ký thuật về công cuộc sáng tạo trời đất xuất hiện ở phần đầu của Ngũ Kinh Môi-se cho thấy tất cả các tư liệu đó (theo tôi, những tư liệu đó hầu như đều có niên đại từ thời Môi-se) vốn đều được hiểu dưới ánh sáng của tín lý sáng tạo.
    Dù cho những nhận định nêu trên có ra thể nào thì điều chắc chắn là quyền năng sáng tạo và tính cách vĩ đại của Đức Chúa Trời chỉ được nhận diện đầy đủ sau này trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Mãi đến khi các Thi Thiên và Các Sách Tiên Tri được trứ tác thì quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời mới đôi lúc được cao rao. Có lẽ trước hết, dân Y-sơ-ra-ên phải kinh nghiệm tính cách vĩ đại của Đức Chúa Trời khi Ngài giải phóng họ ra khỏi ách nô lệ, bảo tồn họ và khiến họ trở nên một nước lớn trước khi nhận thức được quyền cai trị cả thể Ngài. Từ chỗ nhìn nhận tính cách vĩ đại Ngài qua sự chở che đến chỗ ý thức được quyền năng sáng tạo cao cả của Chúa là một tiến trình rất tự nhiên. Có lẽ ở đây chúng ta lại có một điển hình khác về việc Đức Chúa Trời tự mạc khải và khắc ghi chân lý Ngài vào tâm trí và sự nhận thức của tuyển dân.
    1. Sáng tạo bằng lời nói và hành động. Trở lại với tín lý về công cuộc sáng tạo, chúng ta ghi nhận trước nhất là Đức Chúa Trời đã tạo dựng thế giới bằng lời phán đồng thời bằng sự can thiệp trực tiếp của Ngài. Quả thật, thế gian đã được tạo thành khi Chúa phán (Thi Tv 33:6). Nhưng SaSt 1:2, 3 cũng đề cập việc Đức Thánh Linh ấp ủ (như chim phụng hoàng ấp ủ con nó vậy) và 2:7, 8 cho thấy Đức Chúa Trời đã nắn nên con người và lập nên khu vườn. Công cuộc sáng tạo bằng lời phán làm nổi bật siêu việt tính của Đức Chúa Trời - tức là tính ưu việt của ý chỉ Ngài, và công việc của Ngài được thực hiện hết sức dễ dàng. Đức Chúa Trời không hề phải chiến đấu khó nhọc gì khi sáng tạo trời đất, như sự việc vẫn thường được mô tả trong các truyện thần thoại Cận Đông. Lời Đức Chúa Trời đã có từ ban đầu, lời đó tiếp tục hiện hữu và là căn bản cho tính liên tục giữa Đức Chúa Trời với công việc Ngài. Đồng thời hình ảnh về Linh (hay hơi thở) của Đức Chúa Trời trong SaSt 1:2 cho thấy Đức Chúa Trời đã gắn bó một cách thiết thân với công cuộc sáng tạo - dường như là máu thịt. Điều này đã tạo nên tấu khúc phù hợp cho mối quan hệ cá nhân mà Đức Chúa Trời muốn duy trì với tạo vật. Như vậy thì người nam và người nữ - những tạo vật thượng đẳng - hoàn toàn có thể xứng đáng được Đấng Tạo Hóa, là chính Đức Chúa Trời sử dụng cách xưng hô thân mật nhất trong khi chuyện trò. Lời phán của Chúa siêu việt đã đến với họ bằng hình thức của một lời chúc phước và một lời hứa, thiết thân như chính hơi thở của họ vậy (PhuDnl 30:14).
    2. Sáng tạo từ hư vô (ex nihilo). Khi đọc đến những chữ La-tinh này nhiều sinh viên Kinh Thánh thường tỏ ra tin rằng Đức Chúa Trời đã không sử dụng một chất liệu cụ thể nào để tạo nên thế giới này cả. Có sự hậu thuẫn rất vững chắc cho một niềm tin như vậy, dẫu trong Cựu Ước không có chỗ nào nói rõ như thế. Trước hết, trong Sáng Thế Ký chương 1, từ ngữ “dựng nên” (B*r*’) chỉ được dùng cho công cuộc sáng tạo thiêng liêng không hề được sử dụng cho sự tạo dựng mang ý nghĩa vật chất. Vậy, đặc điểm quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, ấy là Ngài đã làm hiện hữu điều mà trước đó không có. Điều này thật sự đúng trong trường hợp của dân Y-sơ-ra-ên cũng như trong công cuộc sáng tạo khởi nguyên . Qua đó khẳng định quyền tể trị trọn vẹn của Đức Chúa Trời trên cõi thọ tạo.
    Đồng thời, ngôn ngữ Hi-bá-lai, cũng như nhiều ngôn ngữ hiện nay vốn không có đủ tầm vóc để diễn đạt ý nghĩa hư vô. Chính thuật ngữ hư vô vẫn chẳng minh chứng được gì, vì năng lực vượt trội của Đức Chúa Trời vốn nói lên tất cả. Vậy điểm cần nhấn mạnh không phải là sự tương phản giữa thực hữu và hư vô, nhưng là sự mạc khải về một năng lực tuyệt đối không chi sánh bằng. Các tiên tri cũng đã sử dụng sự tương phản tuyệt đối như vậy để tôn cao tính vô sở bất năng của Đức Chúa Trời (EsIs 40:17, Gie Gr 4:23-26). Đây là quyền năng sáng tạo hoàn toàn không gì so sánh được, một quyền năng bất khả kháng. Như Karl Barth giải thích (khi nói về Giop G 26:7) “Sự sáng tạo ex nihilo diễn tả sự tuyệt đối cần thiết để thấy rõ công cuộc sáng tạo của Đức Chúa Trời là như thế, nghĩa là nó xuất phát từ Đức Chúa Trời, chứ không từ nguồn lực nào khác, do Đức Chúa Trời mà có chứ không phải bằng một phương thức nào khác. Vì vậy, sự sáng tạo không phải là Đức Chúa Trời và cũng không phải là sự thoát ly ra khỏi Đức Chúa Trời” (Church Dogmaties, III,2,155).
    3. Hai phần ký thuật về công tác sáng tạo. Hai chương đầu của Sáng Thế Ký là hai phần ký thuật bổ túc về sự sáng tạo. Phần thứ nhất (SaSt 1:1-2:4) được các học giả theo chủ trương phê bình cho là thuộc về nguồn có sau (Priestly hay P), trong khi cho phần thứ hai 2:4b-25 thuộc về truyền thống J (Jahweh). Quan điểm ở đây cho rằng tất cả các tư liệu đều được xuất phát từ thời của Môi-se và phản ánh hai cách nhìn về công cuộc sáng tạo (có lẽ xuất phát từ hai truyền thống rất cổ xưa) bổ túc lẫn nhau. Trong phần ký thuật đầu, phương pháp có hệ thống hơn và phạm vi là toàn vũ trụ. Điểm nhấn mạnh đó là lời phán sáng tạo cũng chính là phương tiện để thực hiện công cuộc sáng tạo, qua đó chứng tỏ sự siêu việt của Đức Chúa Trời trên cõi thọ tạo. Tiến trình tự nhiên để dẫn đến việc tạo dựng nên người nam và người nữ được xem là tột đỉnh. Dầu không cố ý ký thuật cách khoa học theo nghĩa hẹp, nói chung trật tự sáng tạo cũng giống với thứ tự mà địa chất học ngày nay gán cho tuổi tương đối của địa cầu và dân cư. Như vậy khung cảnh rộng lớn nhất đó được dành cho tất cả mọi sự tiếp theo sau đó. Đức Chúa Trời là Chúa tể của tất cả những gì đang có. Theo ngôn ngữ của Calvin, thì ‘tất cả những gì hiện có là một hí viện cho sự vinh hiển Ngài'.
    Trong phần ký thuật thứ hai, với một ống kính ảnh để chụp xa, chúng ta tập trung nhìn vào nhân loại trong môi trường có một không hai đang vây quanh họ. Ở đây công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời được nhìn với mức độ gần gũi hơn và được ví sánh như một người thợ gốm đang ngồi trên chiếc bàn xoay của mình (từ ngữ Hi-bá-lai trong 2:7 có nghĩa là “tạo hình” hay “nắn” như một người thợ gốm). Đức Chúa Trời lập một cảnh vườn cho con người, chỉ bảo và giúp đỡ (có nghĩa là “người đứng đối diện” để bổ khuyết). Nói cho đúng, thì lịch sử bắt đầu tại chương 2 này - một lịch sử về mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và loài người. Với khởi điểm này, chúng ta đã thấy các phương tiện Ngài sẽ dùng để bày tỏ sự vinh hiển, mối tương giao mà Ngài sẽ thiết lập với dân Ngài.
    4. Tóm tắt: Đặc tính của sự sáng tạo. Giáo lý về sự sáng tạo trong Cựu Ước không phải luôn luôn được trình bày rõ ràng, nhưng vẫn có nhiều điểm như những sợi chỉ xuyên suốt các trang sách ấy. Thứ nhất, có việc khẳng định công trình sáng tạo là tốt lành. Đức Chúa Trời là Đấng vui hưởng vẻ đẹp của sự sáng tạo trước nhất, khi Ngài tuyên bố nó rất tốt lành (SaSt 1:31). Ý niệm ấy cũng có thể thấy được trong Exe Ed 28:11-15 khi nói đến sức lực của sự trọn vẹn khởi nguyên. Chúng ta sẽ thấy sự sa ngã làm hại cho sự trọn vẹn này, tuy ảnh hưởng của tội lỗi là toàn diện, nhưng nó không phải hoàn toàn. Nó vẫn không biến đổi được sự tốt lành cốt yếu của sự sáng tạo. Hơn nữa, Cựu Ước chẳng hề có dấu vết nào cho thấy sự sáng tạo là bất toàn bởi vì nó là vật chất. Trái lại, nó được tạo dựng như thế để có thể đem đến các giá trị thuộc linh, rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, phản ảnh sự hoàn hảo qua phương thức sáng tạo của Ngài. Ngay trong đặc tính vật chất của sự sáng tạo, có sự sống, vẻ đẹp và sự tốt lành. Đức Chúa Trời và loài người đều không hề bị thất vọng về đặc tính vật chất, mang tính thế gian của sự sáng tạo.
    Điều khá lý thú, ấy là sức mạnh và tính bền vững của sự sáng tạo đã phản ánh một cách tốt nhất về Đức Chúa Trời cho người Hi-bá-lai. Cũng vậy, vẻ đẹp của loài hoa vào một thời đại mẫn cảm hơn cũng nhắc nhở chúng ta về Đức Chúa Trời, song lại muốn nói với người Hi-bá-lai về vinh hiển tạm bợ của trần gian (Giop G 14:2, EsIs 28:1, 40:7, 8), tuy nó cũng báo trước mùa xuân sắp đến (Nha Dc 2:12). Lời chứng hùng hồn hơn cho tính cách vĩ đại của Đức Chúa Trời là vầng đá (Thi Tv 62:2), bão tố, gió và núi (65:6, 7, EsIs 55:12).
    Chẳng những Cựu Ước mô tả công cuộc sáng tạo là tốt lành, mà nó còn được diễn tả là đã được sắp xếp cách đặc biệt có trật tự cho đến kỳ sau rốt mà Đức Chúa Trời đã hoạch định. Tuy nó có đặc tính riêng, nhưng Chúa muốn dùng nó để làm thành ý định Ngài, nghĩa là để phô bày sự vinh hiển Ngài (EsIs 6:3, Thi Tv 19:1-14). Ngay từ ban đầu (SaSt 1:26-30), công trình sáng tạo đã bày tỏ mối liên hệ cộng sinh, cộng tác. Nhân loại và công trình sáng tạo cùng hợp tác để thực hiện các chủ đích tốt lành của Đức Chúa Trời. Chúng ta nhận thấy ngay ý niệm của Tân Ước về mọi sự hiệp lại làm ích cho kẻ yêu mến Đức Chúa Trời (RoRm 8:28) thật ra đã được căn cứ trên trật tự mà Đức Chúa Trời thiết lập lúc sáng tạo trời đất, được Cựu Ước luôn luôn tán dương (EsIs 45:18, 19).
    Dĩ nhiên, không phải công trình sáng tạo luôn xảy ra cách “tự nhiên”, phép lạ phải can thiệp vào để vãn hồi trật tự theo ý định. Có người cho rằng phép lạ trong Kinh Thánh chỉ là nỗ lực của Đức Chúa Trời nhằm vãn hồi trật tự “tự nhiên” của sự sáng tạo, mặc dầu trong thời kỳ phục hồi Ngài sẽ tạo lập một trật tự hoàn toàn mới. Thi Tv 104:1-35 ca ngợi tiến trình của thiên nhiên nhằm mô tả sự thành tín của Đức Chúa Trời, và kết luận (c.31): “Nguyền sự vinh hiển Đức Giê-hô-va còn đến mãi mãi, nguyện Đức Giê-hô-va vui vẻ về công việc Ngài ”. Cách sắp xếp từng phần cũng như toàn thể đều bày tỏ sự vinh hiển Ngài, và nếu những người nam, người nữ không chịu ngợi ca về điều đó, thì đá sẽ kêu lên. Điều này tình cờ giúp chúng ta thấu hiểu một số câu nói khó hiểu trong các Thi Thiên. Như trong Thi Tv 104:35 có nói: “Nguyện tội nhân bị diệt mất khỏi đất ”. Nghĩa là nguyện các chủ đích của công cuộc sáng tạo được thắng hơn kẻ ác, nguyện việc đó bày tỏ sự vinh hiển đời đời của Đức Chúa Trời. Đây không phải là lời của kẻ chán đời, không yêu thương nổi kẻ lân cận mình, nhưng là của người nhìn vào chủ đích vĩ đại của Đức Chúa Trời và trông mong cho điều ấy được thắng hơn.
    Cuối cùng, tuy mục đích tối hậu của việc sáng tạo là nhằm tôn vinh Đức Chúa Trời, nhưng ngay sau đó là dành cho những người nam, những người nữ. Tại sao Đức Chúa Trời lại sáng tạo? Edmond Jacob dùng Cựu Ước để trả lời: “Ngài sáng tạo nó (thế gian) là vì giao ước, nghĩa là vì kế hoạch yêu thương và cứu rỗi con người thông qua dân Y-sơ-ra-ên” (Jacob,137). Người nam, người nữ là tạo vật thượng đẳng, qua họ mà các chủ đích của Chúa Trời được biết đến.
    Thần Thoại (Myth) và Lịch Sử (History) trong Cựu Ước
    Điều cần lưu ý là vấn đề thần thoại và lịch sử trong Cựu Ước. Điều này quan trọng không chỉ vì Cựu Ước rải rác có những câu đề cập đến thần thoại, mà quan trọng hơn là vì có nhiều người tại Á châu (và nhiều nơi khác nữa trong Thế Giới Thứ Ba) đã hiểu chúng theo ngôn ngữ của thần thoại. Những yếu tố được xem là phù hợp với thần thoại trong Kinh Thánh đã là đề tài cho nhiều cuộc tranh luận lớn. Có người cho rằng chắc chắn các trước giả Cựu Ước đã vay mượn những yếu tố thần thoại của Ba-by-lôn và Ca-na-an để vẽ nên bức tranh về thế giới. Các học giả ấy cho rằng rõ ràng nhất là trong trường hợp sáng tạo trời đất và những câu chuyện về cơn đại hồng thủy. Trong SaSt 1:2 “mặt vực” và “vô hình và trống không” được cho là chỉ về cảnh hỗn mang có trước công cuộc sáng tạo, Đức Chúa Trời đã phải chiến đấu với nó để sáng tạo nên trời đất. Cuộc chiến đấu tương tự như vậy cũng được phản ảnh trong Thi Tv 104:7. Trong 74:13-14, mô tả Đức Chúa Trời đã chà nát các đầu của Lê-vi-a-than. Người ta tin rằng Lê-vi-a-than cũng chính là Sa-tan, con rồng của thần thoại Ca-na-an. Theo một thần thoại, thì Ba-anh nói: “Ta đã giết con rắn cong quẹo, là con quái vật bảy đầu” (DOTT,130). Cũng vậy, trong phần ký thuật ở EsIs 51:9 thì Đức Chúa Trời đã phân thây Ra-háp và đâm con rồng. Giop G 7:12 có thể nói bóng gió về Tiamat bị Marduk chế phục. Trong câu chuyện được ghi lại của người Ba-by-lôn về công cuộc tạo thành trời đất, hai thần này “tập hợp lực lượng để ra trận (Marduk) giăng rộng lưới của mình... bao vây rồng,” rồi Marduk giam nữ thần ấy bằng một trận gió độc (DOTT,9,10). Và vấn đề then chốt ở đây đó là có một số học giả khác lại cho rằng cả câu chuyện về vườn địa đàng, cơn đại hồng thủy và về con trai các thần (SaSt 6:2), cũng như những khải tượng của các tiên tri, về địa đàng và sự sa ngã (EsIs 14:12-21) đều là những truyền thuyết không có thật.
    Trước khi trực tiếp thảo luận về vấn đề này, thiết tưởng cần làm sáng tỏ xem thần thoại có nghĩa là gì? Dĩ nhiên quan niệm hiện đại của chúng ta cho rằng nó là “một cái gì đó không có thật” thì không đúng. Đúng nhất là định nghĩa đầu tiên của Webster's New Collegiate Dictionary: “Một câu chuyện thường là truyền khẩu nằm giữa nhiều biến cố lịch sử, dùng để gói ghém một phần vũ trụ quan của một dân tộc”(1973). Vậy, theo nghĩa rộng, thần thoại nói lên cách hiểu thực tại của một dân tộc (Childs, 1960 ,17-21). Sự hiểu biết này không chỉ đơn giản chỉ về các sự kiện, tuy nó thường bao gồm các sự kiện ấy - mà về ý nghĩa ẩn chứa bên trong các sự kiện đó. Thần thoại diễn tả sức mạnh thực sự đã kinh nghiệm của cộng đồng. Vậy, theo nghĩa đó nếu cho rằng chỉ người tiền sử mới có những hiểu biết như vậy thì không đúng. Tất cả các dân tộc đều có những thần thoại riêng để diễn tả cách hiểu thế giới của họ. Chẳng hạn bên Tây phương, người ta cho lịch sử và thiên nhiên là các diễn trình khách quan mà họ có thể nghiên cứu và kiểm soát. Đây là một phần của thần thoại hay hình ảnh về thế giới của họ. Với số đông người châu Phi và châu Á thì thế giới là một cơ cấu sinh động và liên quan rất nhiều đến họ. Theo họ, chính quan điểm Tây phương mới ngây ngô khi nghĩ rằng con người là khán giả, chỉ biết nhìn mặt ngoài của những biến cố. Ai dám chắc là quan niệm nào đúng hơn, chính xác hơn?
    Dầu sao, người sống vào thời kỳ Thánh Kinh cũng kinh nghiệm, từng trải về thế giới trong những điều kiện của họ. Thời tiết nói lên cơn giận hay sự đẹp lòng của Đức Chúa Trời, cả trời và đất là một sân khấu vĩ đại trong đó mỗi người đều phải dấn thân vào. Trong việc hành đạo, họ bộc lộ niềm tin bằng cách tham dự nghiêm túc vào màn kịch trên sân khấu đó. Trong việc này, vào thời đó họ có nhiều điểm chung với tha nhân hơn chúng ta ngày nay. Nhưng sau khi đã thừa nhận rằng trong Cựu Ước chúng ta cũng tìm thấy thế giới quan đó và các thần thoại ngoại giáo cũng có những trang như vậy, giờ đây chúng ta phải nhìn kỹ hơn để xem các yếu tố ấy đã được sử dụng thật độc đáo và vô song như thế nào.
    Cách giải nghĩa SaSt 1:1, 2 trước sau như một là Đức Chúa Trời đã sáng tạo từ chỗ không có gì. Rồi cõi hư vô như chúng ta từng ghi nhận là một ý niệm trừu tượng mà ngôn ngữ Hi-bá-lai không có từ để diễn tả cho đúng. Giải pháp thông thường cho vấn đề là hãy bắt đầu mọi sự trong thần thoại Cận Đông đó là khi hai thế lực cùng tranh đấu để giành lấy địa vị độc tôn, công cuộc sáng tạo cũng bắt nguồn từ một cuộc tranh chiến như vậy. Có khi cuộc chiến đấu được diễn ra giữa Tiamat và Marduk, có khi giữa sự sáng và tối tăm. Nếu thỉnh thoảng có những lời bóng gió đề cập đến cuộc chiến tranh như thế trong Kinh Thánh (Thi Tv 74:13, 14) thì điều rõ ràng là không bao giờ Đức Chúa Trời lại bị các thế lực khác đe dọa, nhưng luôn luôn thắng hơn, nhờ quyền năng bất khả kháng của Ngài. Chúng được đề cập đến không phải nhằm mục đích gợi mở về sự tranh đua, nhưng muốn minh họa cho địa vị độc tôn của Jahweh. Trong Tân Ước CoCl 1:16 cũng có hiện tượng thú vị như thế khi nhiều học giả thấy được những trường hợp nói bóng gió về quan điểm của Trí Huệ phái liên hệ đến trình độ thuộc linh thực tế. Cũng như trong Cựu Ước, Phao-lô không hề có ý nói đến những thứ bậc như vậy, mà ông chỉ dùng chúng như công cụ để chú giải cho uy quyền tuyệt đối của Đấng Christ. Các ngôi vua, các chủ quyền cho dù có hiệu lực đi chăng nữa, đều bởi Ngài và vì Ngài mà có. Cũng vậy, tất cả những ý nghĩa hình bóng như vậy trong Cựu Ước đều nhằm nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên rằng Đức Chúa Trời của họ vĩ đại hơn các thần ngoại giáo. Trong thần thoại học Ba-by-lôn không có gì vượt khỏi ảnh hưởng của cảnh hỗn mang, trong dân Y-sơ-ra-ên chẳng có gì vượt thoát được tiếng phán đầy quyền năng của Đức Chúa Trời.
    Còn phần ký thuật về gốc tích của địa đàng thì sao? Theo mô thức này - cảnh địa đàng khi bắt đầu và khi kết thúc rất khác nhau - đã đưa một số người đến chỗ nhìn nhận một khuôn mẫu thần thoại sáng tạo-sa ngã-phục hồi, phản ảnh quan điểm về sự luân chuyển theo chu kỳ của thời gian. Trong khi thật sự người ta có thể nhận thấy một kiểu mẫu, thời gian được nhìn trên phương diện phẩm tính và ý nghĩa chứ không phải chỉ bằng sự tồn tại nên cho rằng điều đó chỉ phản ánh quan điểm về một chu kỳ bất biến của thời gian là không đúng. Trước hết, cứu cánh mà các tiên tri nhìn thấy không phải chỉ là việc quay trở về lúc bắt đầu, nhưng đúng hơn là việc xuất hiện một thực tại mới do Đức Chúa Trời xác định. Lịch sử và các biến cố của nó do Đức Chúa Trời điều khiển, trở thành một phần của mục tiêu nhằm vào ý định đó. Trong khi đó, cứu cánh mà Đức Chúa Trời sắp đưa đến là một cuộc sáng tạo mới (xem EsIs 48:665:17-19) - một cuộc sáng tạo mới nhưng đồng thời lại có ý nghĩa và thật sự có liên quan với thế giới này và lịch sử của nó. Vậy từ nay cho đến ngày kết thúc, những biến cố thật sự ý nghĩa sẽ lắp đầy thời gian và trở nên-vượt xa ý nghĩa hồi phục-để đạt đến độ mãn kỳ (Childs 1960, 77-83).
    Trong Cựu Ước, các địa danh cũng có ý nghĩa đặc biệt. Si-ôn hay Giê-ru-sa-lem được ví sánh với vườn Ê-đen (EsIs 11:6-9) và được mô tả như là tâm điểm của địa cầu (Thi Tv 48:1-3, XaDr 14:10). Phải chăng đây là một địa danh thần thoại? Chúng ta cần nhớ rằng điều này phù hợp với quan điểm liên hệ đến con người mà Cựu Ước mô tả về thế gian. Phẩm tính và ý nghĩa của khoảng không gian mới là quan trọng chứ không phải vị trí. Do đó phẩm tính của Si-ôn và Ê-đen giống nhau nên mới so sánh được. Nhưng có một điểm dị biệt quan trọng trong quan điểm Hi-bá-lai. Trước hết, Giê-ru-sa-lem phải trở thành biểu tượng của vườn Ê-đen mới trong tiến trình lịch sử. Như Childs nói: 'Việc thành lập Si-ôn là một biến cố lịch sử, chứ không phải là biến cố thần thoại' (Childs,1960,90). Trong quá trình làm việc của Đức Chúa Trời Ngài tác động vào các biến cố lịch sử, nên xuất hiện điều mới mẻ là sự kiện và niềm hi vọng về Si-ôn, giống như Ê-đen nhưng ý nghĩa vượt trổi hơn Ê-đen.
    Thật ra ở một phương diện, kinh nghiệm về thế giới này của người Hi-bá-lai dựa trên mối quan hệ của con người. Vì họ biết Đức Giê-hô-va từng tự mạc khải là Đấng Tạo Hóa làm chủ tể và nâng đỡ, bảo tồn thế giới này, họ không thể kinh nghiệm được bất kỳ điều gì trong thế gian mà không thấy nó liên hệ với mình. Sức mạnh khủng khiếp của thiên nhiên - động đất, mây mù, sấm chớp, sự tối tăm, sét nổ - đều đi kèm với những lần xuất hiện của Ngài (Thi Tv 18:8-16, 68:7-9, HaKb 3:3-15). Giông tố diễn tả cơn thạnh nộ Ngài (Thi Tv 29:3-9) còn thời tiết tốt là ân huệ Ngài (Thi Tv 107:25-29). Đức Chúa Trời cỡi trên mây (68:4) là Chúa của cơn động đất (NaNk 1:5). Nhưng trong việc giải cứu dân Ngài, cơn giận và sự thiện hảo của Ngài mới được tỏ ra rõ ràng hơn hết (Thi Tv 77:16-20).
    Mặt khác, thật sai lầm khi căn cứ vào đó để kết luận một số những biến cố mà dân Y-sơ-ra-ên tán dương trong các thần thoại của họ (sự sáng tạo, cơn đại hồng thủy) đều chỉ là truyền thuyết, không có thật. Sở dĩ Cựu Ước nhấn mạnh phương diện ý nghĩa vì muốn sử dụng các sự kiện ấy chứ không phải để phủ nhận chúng. Có thể họ muốn nhấn mạnh kinh nghiệm sống thật, nhưng chắc chắn họ không cảm nhận được ý nghĩa nếu không hiểu rằng Đức Chúa Trời thật sự sáng tạo thế gian, giải cứu Nô-ê, cứu vớt con cái Y-sơ-ra-ên,vv... Chỉ trong thế giới hiện đại, chúng ta mới cho phép các sự kiện và ý nghĩa tách rời nhau; Cựu Ước đã hiểu những sự kiện trong mối liên hệ hỗ tương chắc chắn, cả hai đều diễn tả sự thành tín của Đức Chúa Trời. Nếu muốn giữ được trọn vẹn ý nghĩa, thì phần ký thuật lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên phải được đặt nền tảng trên các sự kiện có thật.
    Bức tranh về thế giới của người Hi-bá-lai thường được mô tả là kỳ dị và phi khoa học, nào là các vòng cung, những cột trụ, đỉnh sóng và các nguồn của vực sâu,vv... Nhận xét này đúng một phần, nhưng ý nghĩa ấy phai mờ khi chúng ta nhận ra Kinh Thánh được viết bằng ngôn ngữ mô tả hiện tượng của sinh hoạt hằng ngày. Chính chúng ta cũng nói như vậy (bốn góc đất, mặt trời mọc và lặn) để thấy được nguy cơ của việc biến cách nói thông thường thành tiêu chuẩn đánh giá của nhãn quan khoa học. Chắc chắn chúng ta biết rõ thế giới bao la phức tạp hơn người Hi-bá-lai thời bấy giờ. Nhưng lắm khi điều đó lại trở thành thắc mắc đối với quan điểm về Đức Chúa Trời và về thế giới của người Hi-bá-lai, dường như các chiều kích của Đức Chúa Trời theo Kinh Thánh phần nào bị giới hạn do mô tả không đầy đủ về thế giới vật lý trong Cựu Ước. Tôi dám chắc một đề nghị như vậy chỉ gây ngạc nhiên cho nhà trước tác Kinh Thánh mà thôi. “Đối với người đó, vẻ uy nghi của vũ trụ theo như mình được biết, còn là bằng cớ hiển nhiên hơn nữa để minh chứng cho quyền năng và ý chí cứu độ của Jahweh” (Mc Kenzie,203).
    Còn một điểm khác nữa cần phải biện biệt giữa dân Y-sơ-ra-ên và các lân bang của mình. Đối với người Hi-bá-lai, sự thống nhất và kết hợp nhau của tạo vật chính là ý chỉ của Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước không có ý niệm thiên nhiên về một hệ thống tự quản. Ý chỉ của Đức Chúa Trời vừa là giới hạn vừa là nguồn gốc của trật tự tạo vật. Điều này cho thấy, đối với người Y-sơ-ra-ên, thực tại không thể được hiểu như cách của thần thoại học Cận Đông. Như Edmond Jacob nhận xét, thần thoại không bao giờ có thể là khởi điểm của một chuyển biến lịch sử (Jacob,138). Chính lịch sử, tức là thứ tự các biến cố mà Đức Chúa Trời bắt đầu và tiếp tục điều khiển, mới mang đến ý nghĩa cho trật tự của tạo vật. Trong công cuộc sáng tạo có sự diễn tiến tự nhiên - chúng ta sẽ xét đến dưới đây - nhưng mục đích đã được nhìn thấy đầy đủ nhất trong khuynh hướng có sự can thiệp tự do của Chủ Tể công cuộc sáng tạo đem lại. Khuynh hướng đó đã được các tiên tri nhân rộng ra thành một Trời mới & Đất mới và sẽ đạt đến tuyệt đỉnh của cả công cuộc sáng tạo lẫn phương diện lịch sử. Ở đó, Đức Chúa Trời sẽ tự chứng minh Ngài là Đấng Tể Trị hoàn toàn.
    Trong thần thoại học Mê-sô-bô-ta-mi, cuộc chiến đấu giữa các thần cung cấp ý nghĩa quan trọng nhất cho sự bất ổn về trật tự của trần gian. Trong dân Y-sơ-ra-ên, không phải Đức Chúa Trời (hay các thần), nhưng tội lỗi đe dọa trật tự thọ tạo. Vì lý do đó có sự đe dọa phán xét của Đức Chúa Trời (SoXp 1:2, AmAm 7:4, Gie Gr 4:23-26). Nhưng Ngài vẫn còn là nguồn an ninh tối hậu cho dân Ngài và cả thế gian, vì đàng sau sự phán xét đó có một Trời mới, Đất mới để giải phóng mọi vật khỏi các lực lượng tội lỗi đang đe dọa hiện nay (SoXp 3:11-13). Vì cuối cùng Đức Chúa Trời là Đấng Thành Toàn chứ không phải là kẻ thù của thế gian.
    Quan Phòng: Mối Tương Giao Liên Tục Giữa Đức Chúa Trời Và Tạo Vật
    1. Hoàn tất công trình sáng tạo. Cũng như vấn đề thần thoại và lịch sử, vấn đề độc lập và lệ thuộc cũng là vấn đề căng thẳng. Một mặt, SaSt 2:2, 3 ngụ ý Đức Chúa Trời đã hoàn thành công tác theo một ý nghĩa nào đó. Nói như vậy không có nghĩa bảo rằng Đức Chúa Trời đã quay mặt khỏi công trình sáng tạo - như những người theo thuyết duy thần (deists) vẫn tin, nhưng Ngài đã quay mặt lại để hướng về nó. Mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với công trình sáng tạo được thay đổi, nhưng không kém phần mật thiết. Mối liên hệ mới này trước hết là sự thích thú, hài lòng về công trình sáng tạo ấy - Đức Chúa Trời đã tuyên bố nó là tốt lành - sau đó là nghỉ ngơi (XuXh 20:11). Về phương diện thần học, ngày Sa-bát để nghỉ ngơi đã trở thành một biểu tượng quan trọng cho sự cứu rỗi: nghỉ ngơi khỏi các kẻ thù - có ngày dân Y-sơ-ra-ên sẽ được biết đến. Nhưng Đức Chúa Trời đã phải rút lại sự yên nghỉ ấy vì tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên (Thi Tv 95:11), rồi sẽ có một ngày, toàn thể dân Chúa sẽ được vui hưởng (HeDt 4:9, 10).
    2. Sự chăm sóc liên tục. Sau khi sáng tạo trời đất, Đức Chúa Trời đã tiếp tục chăm sóc công trình sáng tạo của Ngài qua các tiến trình Ngài đã thiết lập, mà chúng ta đã gọi có phần nào không đúng là các định luật thiên nhiên. Nói khác đi, các phương tiện sinh sôi nẩy nở và lưu truyền sự sống đã được phú bẩm cho muôn loài tạo vật. Đức Chúa Trời dùng các tiến trình đó để tiếp tục bày tỏ sự quan tâm chăm sóc của Ngài. Nhưng chúng ta sẽ hiểu sai lời dạy của Cựu Ước nếu cho rằng các định luật ấy tác động độc lập với Đức Chúa Trời và có thể tạm thời bị đình hoãn nếu điều đó phù hợp với các chủ đích của Ngài. Ý niệm phần nào có tính cách máy móc đó không phải là một bức tranh phù hợp với khoa học hiện đại và đương nhiên cũng không phải là quan điểm về sự vật của Thánh Kinh. Bernard Ramm đã giải thích định luật thiên nhiên như sau: “Trong tiến trình của thời gian, Thánh Linh tác động khắp cõi thiên nhiên khiến cho mạng lịnh của Đức Chúa Trời được thực hiện đầy trọn. Các định luật thiên nhiên dưới quyền điều khiển của Đức Thánh Linh, tác động trên một giai đoạn của thời gian và qua những tiến trình nhằm thực hiện kế hoạch của Đức Chúa Trời” (Christian View of Science and Scripture, 1954, 116, nhấn mạnh về Ngài). Đây là một phương pháp hữu ích nhằm nhấn mạnh sự hiện diện mật thiết của Đức Chúa Trời và cách Ngài sử dụng những định luật ấy cho các chủ đích của mình.
    Bức tranh trong Cựu Ước cho thấy Đức Chúa Trời đang làm việc qua trật tự thiên nhiên để thực hiện các chủ đích của Ngài. Hình ảnh tìm thấy trong đó là của một con người, Ngài định sự giới hạn cho các đại dương (Giop G 38:10, 11), định luật lệ cho thời tiết (28:26), dựng nên gió (AmAm 4:13), dẫn đường cho các loài thú (Giop G 39:26), ban cho chúng đủ các thức ăn vật uống (Thi Tv 104:11, 21). Chúng ta thường cho rằng những cách nói như vậy là ví von. Theo một ý nghĩa nào đó, thì quả đúng như vậy, bởi vì chính Cựu Ước vẫn tự đứng lên chống lại mọi hình thức phiếm thần thuyết đồng nhất hóa Đức Chúa Trời với công trình sáng tạo của Ngài. Nhưng đồng thời, phương thức mà Đức Chúa Trời dùng các nguyên nhân phụ chúng ta có thể hiểu theo khoa học (dầu sao cũng chỉ là một cách nhận thức giản lược) không hề có nghĩa rằng Đức Chúa Trời hiện diện ít hơn trong các tiến trình ấy nhưng chỉ sử dụng chúng cho các kế hoạch của Ngài mà thôi. Những sự việc tự nhiên nhất mà chúng ta biết trên thế giới này cũng có thể là siêu nhiên nữa. Chúng ta rất khó hiểu được tại sao trong tiến trình quy củ đích thực của thiên nhiên như vậy mà Đức Chúa Trời vẫn tích cực hoạt động. Điều này có lẽ chỉ cho thấy cái nhìn phiến diện của chúng ta về Đức Chúa Trời, hoặc cùng lắm chỉ là sự phản ánh về thực tại rất nghèo nàn của thiên nhiên mà thôi.
    3. Các cấp độ chăm sóc của Đức Chúa Trời. Nghĩ đến hoạt động của Đức Chúa Trời trong công cuộc sáng tạo theo ba cấp độ rất hữu ích cho chúng ta. Cấp độ thứ nhất là công trình sáng tạo nguyên thủy được thực hiện nhằm bày tỏ sự vinh hiển của Ngài. Nó được thực hiện trực tiếp, nghĩa là không nhờ một nguyên liệu nào có trước đó cả. Trong cách sáng tạo đó, nó phản ảnh sự trọn vẹn của Đấng Tạo Hóa.
    Từ công cuộc sáng tạo đó sẽ phát triển sang cấp độ thứ hai mà chúng ta thường gọi là sự quan phòng (providence). Nghĩa là sau khi hoàn tất công trình sáng tạo nguyên thủy, Đức Chúa Trời lại tiếp tục chăm sóc công trình đó trong và qua các tiến trình sự sống mà Ngài đã đặt vào trong đó. Tuy những tiến trình ấy tự hoạt động song chúng vẫn lệ thuộc vào sự chăm sóc và bảo tồn của Đức Chúa Trời. Ở cấp độ này Đức Chúa Trời ban mưa xuống cho cả người công nghĩa lẫn kẻ bất nghĩa. Ngay trong cái bình thường này vẫn có một ý nghĩa về phương diện thần học, tức là qua đó Đức Chúa Trời vẫn hành động để đưa người ta đến chỗ ăn năn nhằm phục hồi mối thông công với Ngài. Trong Kinh Thánh có một chủ đề quan trọng nhưng ít được để ý, đó là trật tự thiên nhiên mà nhân loại tùy thuộc vào là một mạc khải về lòng thiện hảo, đặc biệt là lòng nhân từ và nhịn nhục của Đức Chúa Trời. Điều này có nói đến trong Cựu Ước, ở những câu như Thi Tv 19:2-4 “lời nói chúng nó truyền đến cực địa ”. Và cũng được đề cập rõ trong Tân Ước. Trong RoRm 2:4, Sứ đồ Phao-lô hỏi: “Hay là ngươi khinh dể sự dư dật về lòng nhân từ của Đức Chúa Trời đem ngươi đến sự ăn năn sao? ” Đối với những kẻ nhạo báng khi thấy Đấng Christ vẫn chưa tái lâm bởi chúng cho rằng từ buổi khai thiên lập địa đến nay có gì thay đổi đâu thì Phi-e-rơ liền đáp lại: “Ngài lấy lòng nhịn nhục đối với anh em, không muốn cho một người nào chết mất, song muốn cho mọi người đều ăn năn ” (IIPhi 2Pr 3:9).
    Mọi việc trên trở nên rõ ràng ở cấp độ thứ ba về sự quan tâm chăm sóc của Đức Chúa Trời. Đồng thời với việc tạo ra và duy trì một môi trường sống thích hợp cho loài người, Đức Chúa Trời còn làm việc trực tiếp để đem sự cứu rỗi đến. Ở cấp độ này, chúng tôi muốn nói đến các phép lạ, nhưng không nên phân biệt quá rõ ràng các phép lạ với các cấp độ tác động khác của Đức Chúa Trời. Ngài không hề mâu thuẫn với những gì Ngài đã thiết lập. Trái lại, cũng như Ngài bày tỏ sự thiện hảo trong trật tự thiên nhiên, Ngài cũng được tự do can thiệp để kiểm soát các biến cố bằng nhiều phương thức đặc biệt. Trong bài ca chúc tụng Đức Chúa Trời giải phóng dân Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ai-cập có âm vang về công cuộc sáng tạo nguyên thủy của Ngài, như chúng ta từng ghi nhận, hành động này là một công trình sáng tạo khác nữa. Đồng thời, các nạn lụt, biển và gió mà chúng ta kết hợp với trật tự thiên nhiên cũng làm thành toàn công trình cứu chuộc kỳ diệu đó (XuXh 15:8, 10). Nhưng công việc đặc biệt - những phép lạ của các tiên tri như Giô-na, Sam-sôn và những tiên tri khác - đều góp phần vào việc giải cứu và bảo tồn dân Y-sơ-ra-ên với tư cách một tuyển dân của Ngài.
    Những điều đó là một phần trong nhiều cách khác nhau mà qua đó Đức Chúa Trời đã phán dạy dân Ngài (HeDt 1:1). Trong những điều tốt lành cũng như xấu xa, trong phước hạnh cũng như sự trừng phạt, Đức Chúa Trời đều tự do hành động (CaAc 3:37-39). Nhưng ngay trong các biến cố phi thường hay đặc biệt đó, chính sự thành tín của Đức Chúa Trời đã trở thành hiển nhiên. Thật vậy, Giê-rê-mi đã có sự ví sánh về giao ước khiến Đức Chúa Trời can thiệp cách kỳ diệu để thiết lập và bảo tồn trật tự của công cuộc sáng tạo: “Nếu giao ước của ta về ngày và đêm chẳng đứng và nếu ta đã chẳng định luật pháp cho trời và đất, thì cũng vậy ta sẽ bỏ dòng dõi của Gia-cốp và dòng dõi của Đa-vít, tôi tớ ta, đến nỗi ta sẽ chẳng lấy trong vòng dòng dõi người những kẻ cai trị dòng dõi của Áp-ra-ham ” (Gie Gr 33:25, 26). Như Eichrodt vạch rõ, điều gây kinh ngạc cho dân Y-sơ-ra-ên không phải là tính chất bất thường của các biến cố đó, nhưng là “ấn tượng rõ nét về sự chăm sóc và báo đáp của Đức Chúa Trời” ẩn chứa nơi các biến cố đó (Eichrodt II,163).
    Vậy chúng ta đã phân biệt được ba cấp độ mà theo đó Đức Chúa Trời bày tỏ sự chăm sóc Ngài, xét theo nghĩa rộng chúng không hề khác nhau. Tất cả đều phản ánh cùng một ý chỉ duy nhất và có chủ đích của một Đức Chúa Trời có thân vị. Ở tất cả các cấp độ, chúng ta đều nhằm đề cập đến cùng một chương trình duy nhất cho thế giới này. Theo khải tượng của các tiên tri, chương trình đó sẽ lan tỏa khắp cả thế gian. Một lần nữa, theo phương diện cao hơn, toàn thể tạo vật đều góp giọng ca của mình trong bài ca lớn để ngợi khen Đức Chúa Trời, đó là đặc quyền cao nhất và là chủ đích cuối cùng của mọi sự (EsIs 2:2-4).

    Người Nam & Người Nữ
    “Tương phản với tất cả những tạo vật khác, con người không những chỉ được tạo nên bởi và qua Đức Chúa Trời, mà còn là trong và cho Đức Chúa Trời nữa. Từ khởi nguyên, con người vốn do Đức Chúa Trời và bởi Đức Chúa Trời mà có, ở trong và cho Đức Chúa Trời nữa. Cho nên, con người có thể và nên hiểu mình ở trong Đức Chúa Trời mà thôi, Lời phán “chúng ta hãy làm nên” không hề dành cho bất cứ tạo vật nào khác, cũng chẳng có một tạo vật nào được kể rằng đã được dựng nên “giống như hình Ngài” hoặc “theo tượng Ngài ”
    Emil Brunner, Man in Revolt
    Sáng Tạo Người Nam & Người Nữ
    1. Một tương quan đặc biệt với công trình sáng tạo. Người nam và người nữ là những tạo vật thượng đẳng của công trình sáng tạo, họ được dựng nên để cai trí. SaSt 1:26, 2:7 cho thấy việc tạo dựng người nam và người nữ được thực hiện bởi một quyết định có chủ ý và là một hành động dứt khoát của Đức Chúa Trời. Về một phương diện, có nghĩa là người nam và người nữ là thành tố của trật tự sáng tạo. “Lấy bụi đất” hàm ý Đức Chúa Trời đã sử dụng tĩnh vật không có sự sống để tạo ra con người đầu tiên (xem 3:19). Cần lưu ý là Đức Chúa Trời đã không dùng loài vật để tạo ra con người, song lấy bụi đất. Cách dùng hình ảnh ví sánh này ngầm ý về sự sống vốn đã có trước, được xem là sự tiến hóa hữu thần dường như vượt quá các giới hạn hữu lý của văn mạch. Vì vậy, dẫu con người được tách bạch khỏi thế giới loài vật, thì họ vẫn nằm trong trật tự sáng tạo.
    Sự gắn kết của người nam và người nữ với trật tự tự nhiên được tỏ bày qua thân thể vật lý của mình là một điểm quan trọng được Kinh Thánh nhấn mạnh. Các lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời thường được ban bố trong bối cảnh chiếm hữu đất đai. Sự thờ phượng Đức Chúa Trời của dân sự Ngài bao giờ cũng phải được thực hiện trong phạm trù thế gian dẫu cho có một ngày điều đó sẽ được diễn ra trên miền đất mới. RoRm 8:19-22 cho chúng ta biết nhiều hơn về mối liên hệ hỗ tương giữa tạo vật và sự giải thoát cuối cùng dành cho tạo vật, nhưng thật ra Cựu Ước đã từng đề cập đến những điều đó rồi. Khi hai bậc thủy tổ của loài người phạm tội thì đất đai cũng bị rủa sả theo (SaSt 3:17, 18) tội lỗi đã làm ô uế đất (PhuDnl 24:4). Một khi đất đai đã bị ô uế, không chóng thì chầy nó phải mửa cư dân của nó ra (LeLv 18:25, 28). Mặt khác, Giê-ru-sa-lem trở thành biểu tượng núi của Đức Giê-hô-va là nơi các dân tộc sẽ đi lên đó để thờ phượng Đức Chúa Trời (EsIs 2:2-4). Đến Ngày đó, sẽ có hòa bình trên đất, tình trạng nguyên vẹn của nó sẽ được phục hồi. Bấy giờ sư tử sẽ nằm chung với chiên con (11:6-9).
    Mặc dầu có sự liên kết với trật tự thọ tạo, song con người lại không bị giới hạn trong trật tự đó. Mối quan hệ căn bản của họ là với Đức Chúa Trời và trong mối quan hệ đó, trên căn bản họ độc lập với tạo vật. Trong khi họ được dựng nên như một thành tố của tạo vật thì họ lại được ban cho uy quyền cai trị trên tạo vật. Điều này cho thấy các tạo vật không phải là cái gì linh thiêng đối với họ, nghĩa là tạo vật không hề có một thần lực nào. Bất cứ nơi nào mà con người còn sống trong sự sợ hãi thiên nhiên, tìm cách xoa dịu sự giận dữ các “thần”, sợ khi đi dưới cầu thang hoặc bất an khi phải ngủ trên tầng lầu thứ mười ba thì họ vẫn chưa ý thức được quyền làm chủ của mình trên tạo vật. Người nam và người nữ được tạo dựng để sống và làm việc một cách tự do trên toàn thế gian. Thế giới có thể trở thành môi trường có thể được uốn nắn thành những biểu tượng của những giá trị; nó như là một sân chơi dành cho con người dẫu nhiều khi tội lỗi thường biến nó thành nhà tù.
    Con người đầu tiên là A-đam được truyền lịnh đặt tên cho muông thú (SaSt 2:19, 20). Đây không chỉ là sự phân loại muông thú, nhưng chính là sự khám phá về mối liên hệ thiết yếu giữa chúng với loài người và giữa chúng với nhau. Tuy nhiên, A-đam đã không tìm được ai giúp đỡ mình một cách đích thực. Đặt tên có nghĩa là sắp xếp vị trí cho mọi vật (hãy nhớ lại tầm quan trọng của tên gọi trong Cựu Ước), qua đó đã bày tỏ vị thế của A-đam trong trật tự tạo vật. Khi đặt tên, A-đam đã tự tách mình khỏi thế giới vạn vật và thể hiện tính cách vượt trội của mình và phản ánh được siêu việt tính của Đức Chúa Trời qua phương cách tạo dựng của Ngài. Cho đến hôm nay, đặt tên cũng là một thành tố căn bản (basic component) trong phương pháp mô tả khoa học; có thể xem đó là hình thức hoạt động tiếp bước sự sáng tạo của Đức Chúa Trời. Khi khám phá ra vai trò quan trọng của mình trong công việc được giao thì cùng lúc đó A-đam cũng cảm nhận được hố sâu ngăn cách giữa mình với những tạo vật khác. “Hố sâu ngăn cách giữa con người và thiên nhiên vốn gắn liền với mức độ sâu nhiệm thuộc linh và sự hiện hữu của mỗi cá nhân con người” (Eichrodt, II ,119).
    2. Mối quan hệ đặc biệt giữa người với người. Người ta được dựng nên để yêu thương. Cuối cùng chỉ có một người khác mới thỏa mãn được các nhu cầu sâu xa nơi bản tánh con người. Vì vậy, Đức Chúa Trời đã tạo người nam và người nữ (SaSt 1:27). Karl Barth tin rằng đây là sự minh giải rõ rệt cho hình ảnh của Đức Chúa Trời (Church Dogmatics, III/1, 195). Chắn chắn tính lưỡng phái (duality) này làm cho cuộc sống con người sinh động: con người được dựng nên để quan hệ và bổ túc cho nhau trong tình yêu. Điều này cũng cho thấy nhân loại bao gồm cả người nam và người nữ, cả hai đều không trọn vẹn và đều bình đẳng trước mặt Chúa. Nam tính và nữ tính là cơ bản của nhân loại, mặc dầu rõ ràng nhân loại thuộc về tạo vật hơn là thuộc về Đức Chúa Trời.
    Bản tính lưỡng phái của nhân loại cho thấy tình yêu là mối quan hệ căn bản của nhân loại về mặt tự nhiên. Điều khá lý thú là việc sanh sôi nảy nở chỉ được xem là một phước hạnh bổ sung trong câu 28; không nhất thiết nói đến bản chất lưỡng tính của nhân loại, và như thế mối liên hệ căn bản giữa hai phái không nhất thiết về phương diện tình dục theo nghĩa hẹp. Trong 2:22-25, hôn nhân đã được trình bày như một định chế căn bản của loài người. Hôn nhân một vợ một chồng được xem là lý tưởng; hai người trở nên một thịt. Thật ra xuyên suốt Cựu Ước có những cuộc hôn nhân khác cũng được Đức Chúa Trời cho phép xảy ra nhưng không được xem là tốt đẹp. Tội lỗi đã đưa đến những vấn nạn như: phụ nữ không chồng, hôn nhân không con cái, và mối đe dọa về gia đình ly tán, tài sản phân chia. Và hôn nhân một vợ một chồng rõ ràng phải là điều cốt yếu biểu thị cho tình yêu của Chúa đối với dân Ngài. Hôn nhân được MaMl 2:14ChCn 2:17 đề cập đến như là một giao ước và được ví sánh một cách đặc biệt trong sách Ô-sê để chỉ về mối quan hệ giữa Chúa và dân Ngài. SaSt 1:28 diễn tả về điều đó như một lời chúc phước và là một mạng lịnh: “Hãy sanh sản thêm nhiều ”. Theo mạng lịnh đó, “một năng lực thúc đẩy phi thường đã được đặt vào đời sống con người để chắc chắn dẫn tới các mục tiêu cao quí” (Eichrodt, I,110). Ở đây cũng vậy, thể xác con người sở dĩ được tạo ra là để thể hiện tình yêu của người nam đối với người nữ và người nữ đối với người nam. Điều này đã được diễn tả hết sức rõ ràng và tuyệt đẹp trong sách Nhã Ca của Sa-lô-môn và tiềm tàng xuyên suốt Kinh Thánh.
    Nhưng mối liên hệ nhân loại trong Cựu Ước rộng rãi hơn sự ràng buộc của hôn nhân. Thật vậy, con người không hề được xem là tách rời, nhưng luôn luôn là những thành viên của một gia đình hay một chi phái. Cá nhân được định vị là thành viên của một gia đình, gia đình thì ở trong một chi họ, chi họ tập hợp thành chi phái, và tất cả hiệp lại thành nhà Y-sơ-ra-ên (Gios Gs 7:16-18). Sự gắn kết như vậy được gọi là nhân quần (corporate personality) (H.W.Robinson 1946, 70) vì thế một người được đề cập đến có lúc như một cá nhân, có lúc như một tập thể. Chẳng hạn trong PhuDnl 26:5-10 từ tôi được đổi sang chúng tôi. Cũng vậy, Gia-cốp vốn là tổ phụ của dân Y-sơ-ra-ên, nhưng sau đó, cả nhà Y-sơ-ra-ên lại được gọi là Gia-cốp (xem MiMk 1:5 và vv...). Thật vậy, cô đơn được xem là hoạn nạn (Thi Tv 25:15, 16). Trong Thi Thiên 102 một người gặp hoạn nạn và bị kẻ thù chế nhạo đã than thở rằng “Tôi giống như chim sẻ, hiu quạnh trên mái nhà ” (c.7). Tuy nhiên, kẻ cô đơn có thể tìm được sự giúp đỡ từ Đức Giê-hô-va (4:8).
    Có một ngoại lệ quan trọng cần ghi nhận khi đề cập đến phương diện tập thể đó là sự kêu gọi của Đức Chúa Trời đối với một cá nhân vì cớ một tập thể. Áp-ra-ham được kêu gọi hãy ra khỏi quê hương và vòng bà con với cuộc sống đầy tiện nghi để trở thành phương tiện đem phước hạnh đến cho nhiều người (SaSt 12:1-3). Môi-se được kêu gọi hãy vì toàn dân mà đến gần Đức Chúa Trời (XuXh 24:2). Thầy tế lễ thượng phẩm phải đi một mình vào nơi chí thánh nhân danh toàn dân (LeLv 16:17-19). Giê-rê-mi phải sống cô đơn vì cớ bức thông điệp của ông (Gie Gr 15:17). Lời kêu gọi cá nhân theo ý nghĩa như vậy cốt cũng được sử dụng trong trường hợp Đức Chúa Trời kêu gọi Đấng Christ vào thời Tân Ước, Đấng được Đức Chúa Trời sai đến để làm Trung Bảo cho Ngài. Vì cớ Đấng Christ, sự kêu gọi của Đức Chúa Trời hiện được mở rộng cho tất cả mọi người (Cong Cv 17:30, 31, IPhi 1Pr 2:24, 25). Tuy nhiên, sự kêu gọi đó từng được báo trước trong Cựu Ước qua lời thách đố của Giô-suê tại Si-chem: “Ngày nay, hãy chọn ai mà mình muốn phục sự… nhưng ta và nhà ta sẽ phục sự Đức Giê-hô-va ” (Gios Gs 24:15, Gie Gr 31:29, 30). Ý thức trách nhiệm của chính cá nhân trước mặt Đức Chúa Trời - được nhấn mạnh trong công cuộc Cải Chánh - thể hiện rõ ràng trong nền văn hóa Tây phương.
    3. Mối quan hệ đặc biệt với Đức Chúa Trời. Cuối cùng, quyền cai trị trên tạo vật và sự thúc đẩy khiến họ hiến thân cho nhau trong tình yêu đã hướng người nam và người nữ về một đích đến cao hơn: tình yêu dành cho Đấng Tạo Hóa. Mục đích tối hậu mà con người được dựng nên là để ngợi khen Đức Chúa Trời và phải hết lòng ngợi khen Ngài. Mục đích đó mang ý nghĩa tối cần khi họ được dựng nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Với ý nghĩa duy nhất, đời sống con người là một tặng phẩm thượng thiên nhằm phản ánh một phương diện nào đó về đặc tính của Đức Chúa Trời. Chính hình ảnh đó bao gồm những gì thì chúng ta không được biết, ngoại trừ chắc chắn nó có liên hệ với quyền cai trị, vì câu Kinh Thánh đề cập đến quyền cai trị đã đi tiếp ngay sau câu diễn tả giống như vậy về việc con người được sáng tạo theo hình ảnh Đức Chúa Trời: “Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta đặng quản trị. ..” (SaSt 1:26). Mối liên hệ này được Thi Thiên hậu thuẫn trong đó tính cách vĩ đại, cao cả của con người được kết hợp trực tiếp với quyền cai trị trên muôn vật. Điều không được rõ ràng là chẳng hay hình và tượng đó chính là quyền cai trị, hay nhờ hình và tượng đó mà người nam và người nữ mới là đối tượng duy nhất có đủ khả năng để cai trị.
    Hình tượng và giống như rất có thể là những từ ngữ đi song song với nhau, nhằm diễn tả cùng một ý niệm duy nhất. Nhưng từ ngữ hình tượng ngụ ý nhiều hơn về một vật bằng chất dẻo được nắn cho giống, gọi là phần hình thức của một con người giống phần nào với hình ảnh tưởng tượng về Đức Chúa Trời. Còn giống như có nghĩa là tương tự hơn là một bản sao, một cái gì giống theo những phương cách không nhất thiết phải được nhận thức bởi các giác quan. Có người đã nảy sinh gợi ý rằng ý niệm ẩn sau việc này chính là thói quen dựng tượng của một nhà vua để chứng minh rằng vua ấy đang cầm quyền cai trị tại địa điểm đó (DaDn 3:1, 5). Theo nghĩa đó, thì nhân loại là nhân chứng cho quyền tể trị của Đức Chúa Trời trên tạo vật, được đứng ra làm “đại diện” cho Ngài (Wolff, 160, và Eichrodt, II, 127). Như vậy, quyền cai trị của con người phản ánh chính quyền chủ tể của Đức Chúa Trời trên tạo vật. Dĩ nhiên một điểm sâu sắc nữa cần phải nhấn mạnh là sự sáng tạo và trách nhiệm của con người đối với tạo vật. Con người đã được dựng nên không phải để ở dưng, nhưng nhằm mục đích thực hiện một công tác mà họ lấy làm thích thú, cũng giống như chính Đức Chúa Trời thích thú về công việc của Ngài vậy. Tuy sự sa ngã đã đưa đến yếu tố lao khổ vẫn không có chuyện phải làm việc bất tận không ngừng vì con người vẫn có thì giờ để nghỉ ngơi trong ngày Sa-bát và thụ hưởng công việc do tay mình làm ra.
    Tóm lại, có thể nói hình tượng của Đức Chúa Trời ngụ ý đề cập sự hiện hữu cá nhân và có trách nhiệm của người nam, người nữ trước mặt Đức Chúa Trời, phản ánh được Đấng Tạo Hóa trong việc làm của họ, để nhận biết và yêu mến Ngài trong mọi sự họ làm. Một lần nữa thân xác không hề bị xem là chướng ngại vật cho đời sống thuộc linh mà chính là trung gian thích hợp cho nó. Ngay từ ban đầu, Đức Chúa Trời đã biết rõ người nam và người nữ (Thi Tv 139:13-16), Ngài đã nâng đỡ họ trong cuộc sống (Giop G 10:12) và dẫn dắt họ đi đến đích khi họ bằng lòng nhìn xem mặt Ngài trong sự trọn vẹn của đời sống mà bởi đó họ đã được dựng nên (Thi Tv 16:11).
    Bản Tính Nhân Loại
    Vì chưa hệ thống hóa một cách đồng nhất và rõ ràng các câu Kinh Thánh liên hệ, cho nên nghiên cứu cẩn thận các từ ngữ và thành ngữ đã được dùng chỉ về con người có thể tạo ra cho chúng ta một bức chân dung của sự sống cụ thể, Wolff cung cấp cho chúng ta hai chỉ dẫn hữu ích (Wolff, 7-9) về cách Cựu Ước sử dụng ngôn ngữ.
    Trước hết, thường có cách sử dụng từ ngữ theo phương thức lập thể (stereometric) nghĩa là những từ ngữ song đối nhau và gối lên nhau. Các từ ngữ có nghĩa giống nhau được sử dụng hầu như có thể thay đổi cho nhau để chỉ về con người toàn diện từ các quan điểm hơi khác nhau để tạo nên một bức tranh phong phú hơn. Chẳng hạn trong 84:2 “Lòng và thịt tôi ca hát vì vui mừng ” hay trong ChCn 2:10 “Vì sự khôn ngoan sẽ vào trong lòng con, và linh hồn con sẽ lấy sự hiểu biết làm vui thích ”. Như vậy, theo cách này các từ ngữ được nhập chung lại để soi sáng sâu nhiệm hơn cho phần nội dung.
    Thứ hai, cách sử dụng tổng hợp các từ ngữ, khi một phần của thân thể được dùng thay cho toàn thân. Chi thể và hoạt động của nó được tổng hợp lại trong EsIs 52:7 “Chân của những kẻ rao tin tốt trên các núi xinh đẹp là dường nào ”. Như vậy, bằng một số tương đối ít dụng ngữ, người Hi-bá-lai gọi tên nhiều vật, đặc biệt là các chi thể của con người đã có thể và phải diễn tả những sắc thái tế vi bằng cách rút ra từ liên văn của một câu các khả năng hoạt động, các phẩm chất hoặc kinh nghiệm của cái đã được nêu tên (Wolff,8).
    1. Hồn (n#p#v). Từ ngữ Hi-bá-lai thường được dịch là “hồn” hay “linh hồn” (soul) xuất hiện 755 lần nhưng ý nghĩa thật sự về “linh hồn” chỉ có vài chỗ mà thôi. Từ này trước hết muốn đề cập con người như thể một tạo vật. Chỉ có ba phần trăm trong những lần xuất hiện đề cập đến Đức Chúa Trời. Trong SaSt 2:7, Đức Chúa Trời đã hà hơi vào con người và con người trở thành một linh hồn sống (living soul). Nghĩa này không chỉ dùng cho con người, được thấy rõ trong việc tạo dựng các loài thú vật ở SaSt 1:20, 21, 24 được dịch là sinh vật (living creature). Ý nghĩa ở đây chỉ đơn giản là một cá thể sống. Loài người sống như những linh hồn, họ không “chiếm hữu” được những linh hồn.
    Từ ngữ này thường được dùng để diễn tả một người thiếu thốn, thuần túy chỉ về nhu cầu thuộc thể. Có khi nó được dùng theo nghĩa cái cổ họng mở to vì nhu cầu thèm ăn (Thi Tv 143:6 “sự thèm ăn” (EsIs 5:14). Nó có thể là cơ quan để uống (ChCn 25:25) hoặc để nếm (ChCn 16:24) hay thèm khát (Gie Gr 2:24, theo ngôn ngữ Hê-bơ-rơ; RSV dịch là “nóng nảy”). Hoặc chỉ đơn giản là cái cổ (Thi Tv 105:18Gie Gr 4:10, theo ngôn ngữ Hê-bơ-rơ; RSV dịch là “sự sống”). Theo nghĩa này hồn là trung tâm các nhu cầu thiết yếu của một người. Nói rộng ra, từ ngữ này có nghĩa “thèm muốn”, tức là nỗi thèm khát sự sống hay sự tranh đấu như “lòng chúng ta mong ước” (Thi Tv 35:25MiMk 7:1). Đây có lẽ là cách dùng phổ biến nhất. Và ý nghĩa của nó còn được mở rộng hơn với ý nghĩa đơn giản hồn là nhận thức trung tâm của các kinh nghiệm thuộc linh. “Chính các ngươi hiểu biết lòng (linh hồn theo tiếng Hi-bá-lai ) của khách ngoại bang là thể nào, vì các ngươi đã từng kiều ngụ tại xư Ê-díp-tô ” (XuXh 23:9, IISa 2Sm 5:8, Giop G 30:25). Nó được dùng với nghĩa đơn giản là “sự sống” (ChCn 8:35, 5:8, Giop G 30:25) hoặc có khi là “cá nhân” hay “người” thậm chí là “xác chết” nữa (Dan Ds 6:6).
    Vậy, hồn là một cá thể sống chứ không có nghĩa là một thể thuộc linh bất diệt, đúng hơn nó chỉ về đời sống thể xác cụ thể, có nhu cầu. Nó từ Đức Chúa Trời đến, luôn luôn có nhu cầu được bồi bổ, tự nó không thể chống lại các hạn chế của loài thọ tạo. Người tin Đức Chúa Trời thời Cựu Ước không thể tin vào đời sống bất tử, điều này phải do Đức Chúa Trời ban cho và được Ngài bảo đảm (Thi Tv 16:10, 49:15). Loài người ham sống, thèm khát sự sống và sinh lực, sự sống không chỉ đến từ công cuộc sáng tạo. Lòng ham sống của loài người gợi mở ra một sự khao khát sâu nhiệm hơn về sự thông công cùng Đức Chúa Trời “Đức Chúa Trời ôi, linh hồn tôi mơ ước Chúa như con nai cái thèm khát khe nước ” (Thi Tv 42:1). Lẽ dĩ nhiên lệ thuộc vào nhu cầu có thể dẫn tới thất vọng, nhưng phải chịu phụ thuộc và biết ngợi khen.
    2. Linh (rW^h). Từ ngữ này xuất hiện 389 lần và thường được áp dụng cho Đức Chúa Trời (136 lần) hơn là cho người hay thú vật (129 lần). Nghĩa gốc của nó là “gió” hay “hơi thở”. Nó là gió rung cây (EsIs 7:2) hay chỉ có nghĩa đơn giản là “khí mát” của ngày (SaSt 3:8). Nó là hơi sống mà Đức Chúa Trời ban cho dân sự (EsIs 42:5) hay là mùi hôi thối (Giop G 19:17, nghĩa đen là “hơi thở tôi trở nên xa lạ với vợ tôi”). Mở rộng ra, từ ngữ này có nghĩa là năng lực sống “sức lực” của một người. Tinh thần có thể nâng đỡ một người bị khuyết tật, bịnh hoạn (ChCn 18:14) tuy rằng Đức Chúa Trời hứa sẽ cứu vớt những người có tâm thần đau thương thống hối (Thi Tv 34:18). Nếu linh chỉ bày tỏ về sức lực thì cũng có sự giới hạn. Chính Đức Chúa Trời đã ban cho thần linh ấy, nên khi con người trở về với bụi đất, Ngài cũng đòi nó lại (Giop G 34:14, 15, Thi Tv 104:29, 30), thật vậy, trong mấy câu trên, linh của con người và linh của Đức Chúa Trời là hoàn toàn bất khả phân ly.
    Linh được dùng cho Đức Chúa Trời để chỉ quyền năng vĩ đại của Ngài. Chính do Linh (“hơi thở”) của Ngài mà trái đất này đã được tạo dựng (33:6) hoặc nước Biển Đỏ phải dồn lại (XuXh 15:8). Cũng vậy, khi Linh của Đức Giê-hô-va giáng trên một người, thì người ấy được phú cho sức mạnh (Cac Tl 3:10, 6:34) hoặc uy quyền (EsIs 42:1) phi thường. Khi Thần Ngài được đổ trên Ê-xê-chi-ên thì ông được ban cho những lời để nói ra (Exe Ed 11:5) theo cách tương tự, Bết-sa-lê-ên đã được ban cho tài năng về mỹ nghệ (XuXh 31:3). Trong phần lớn các trường hợp trên đây, thần linh có nghĩa là quyền năng bổ túc cho các năng lực đã có sẵn hầu được kiện toàn điều hãy còn thiếu (31:3), tuy không phải bằng sức mạnh thiên nhiên kỳ lạ hoặc không hợp với bản tính con người. Các ân tứ Đức Chúa Trời ban cho người của Ngài rất ít khi có nghĩa siêu nhiên. Cho nên khi Pha-ra-ôn muốn tìm một người “có thần linh của Đức Chúa Trời ” (SaSt 41:38) là nhà vua đang tìm một người khôn ngoan, tinh tế, có nhiều tài năng tuyệt vời.
    Về sau, từ ngữ này chỉ có nghĩa là một cơ quan của đời sống tâm lý, như chữ “tâm thần” vẫn thông dụng hiện nay. Nó có thể có nghĩa là “tâm trí” (Exe Ed 11:5) là “ý chí cương quyết” (Gie Gr 51:11) hay “ý chỉ” (EsIs 19:3). Lúc nữ vương Sê-ba nhìn thấy sự vinh hiển của Sa-lô-môn, bà đã mất vía hay “mất hơi thở” (“thần linh không còn ở trong bà ta nữa,” IVua 1V 10:5). Nhưng ý nghĩa muốn nói lên vẫn là về “sức mạnh” hay “sinh lực” mà cuối cùng con người phải trông cậy vào Đức Chúa Trời, chứ không thể tự cho rằng mình cầm giữ được nó. H.W.Wolff tóm tắt: “Ấy là con người có linh đang sống động, ao ước điều thiện hảo, và thực hiện điều đó trong uy quyền - mà uy quyền đó không hề xuất phát từ chính con người” (Wolff,39).
    Điều rõ ràng trong Cựu Ước, ấy là chỉ có những người nhận biết Đức Chúa Trời và tiếp nhận sức lực từ nơi Ngài mới có thể trở thành người trọn vẹn được. Đa-vít biết rằng không thể nào có được sự liên hệ phải lẽ với Đức Chúa Trời nếu chưa được Ngài ban cho “một thần linh vững chắc ” (Thi Tv 51:10, theo nguyên ngữ Hê-bơ-rơ). Tuy những người tin Chúa vào thời Cựu Ước vui vẻ trọn vẹn nơi Đức Chúa Trời mình, thụ hưởng các ân tứ, tài năng Ngài ban cho, họ vẫn trông chờ ngày Đức Chúa Trời sẽ đổ Thần Ngài xuống một cách phủ lút. Tiên tri Giô-ên đã nói về ngày ấy và kết nối nó với những ngày sau rốt (Gio Ge 2:28, 29). Rõ ràng là Phi-e-rơ đã kết hợp việc Thánh Linh được đổ xuống nhân ngày lễ Ngũ tuần với lời tiên tri này (Cong Cv 2:16). Việc ban cho ân tứ đầy quyền năng của những ngày sau rốt hiện thuộc về toàn thể các tín hữu, đó là điều mà Phaolô gọi là của tin về cơ nghiệp trên thiên đàng của chúng ta (IICo 2Cr 1:22). Nhưng tất cả những điều đó sở dĩ có được vì dầu sao chúng ta cũng giống như Đức Chúa Trời. Cả phần nghiên cứu ngắn ngủi này về “linh” cũng làm sáng tỏ về ái lực (affinity) kỳ diệu mà chúng ta có được với Đức Chúa Trời. Tâm linh con người cần phải có một sự bổ túc thượng thiên, vì lẽ đó mà Ngài tìm kiếm những ai biết lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng Ngài. Ái lực đó hết sức rõ rệt nơi kinh nghiệm bản thân của Cơ đốc nhân, vì Thánh Linh của Đức Chúa Trời làm chứng cho tâm linh của chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời (RoRm 8:16).
    3. Xác thịt (B*Us*r). Từ ngữ này thường được dịch là “xác thịt” (flesh), được xuất hiện 273 lần, một phần ba trong số đó chỉ về những con thú, phần còn lại chỉ về con người (nó không hề được dùng chỉ Đức Chúa Trời). Như vậy, ở phần ngoại vi xác thịt nói lên những gì con người có thể chia sẻ với thú vật nhưng lại tương phản với Đức Chúa Trời. Từ ngữ có thể chỉ có nghĩa đơn giản là thịt mà người ta vẫn ăn (EsIs 22:13, ChCn 23:20). Nhưng thường thường nó có nghĩa là xác thịt, tức là sự hiện hữu đặc biệt của thân xác (Giop G 10:11, Thi Tv 78:39). Theo một điển hình về tư duy tổng hợp, “tổng thể xác thịt” trở thành biểu tượng mạnh mẽ của sự tham dục (Exe Ed 16:26) và khi xác thịt con người trở nên đặc biệt ghê tởm, nó được ví sánh với xác thịt thú vật (23:19, 20).
    Là một từ ngữ chỉ về sự hiện hữu vật lý, xác thịt thường ám chỉ về toàn thể thân xác con người. Người Hi-bá-lai không có từ ngữ riêng dùng để chỉ thân thể nên từ ngữ này thường được dùng theo nghĩa ấy. Tác giả Thi Thiên nói trong thịt (thân thể) ông chẳng có chỗ nào lành bởi vì cơn giận của Chúa (Thi Tv 38:3). Khi hành lễ cung hiến, người Lê-vi phải cạo hết cơ thể (Dan Ds 8:7). Thịt ám chỉ thân thể hay đời sống của thân xác còn được đề cập tổng quát hơn nữa. Khi tác giả Thi Thiên mời gọi mọi xác thịt hãy ca ngợi Danh Chúa có nghĩa ông mời gọi mọi người đang sống trong thể xác này trên thế gian hãy tìm cầu Đức Giê-hô-va (Thi Tv 145:21). Người bởi thịt tôi mà ra là người mà thể xác có liên hệ với tôi (NeNe 5:5, SaSt 29:14).
    Điều rất có ý nghĩa là không có chỗ nào đề cập xác thịt với tư cách xác thịt vốn là xấu và ác, thậm chí nguồn gốc của điều xấu điều ác nữa. Nhưng với một người thì xác thịt được thừa nhận yếu đuối và thiếu sức lực. Đặc biệt khi xác thịt được đem so sánh với Đức Chúa Trời. Xác thịt nào có thể đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời mà còn sống? (PhuDnl 5:26). Nếu tôi tin cậy Đức Chúa Trời, thì có xác thịt nào làm chi tôi được? (Thi Tv 56:4). Đáng nguyền rủa thay kẻ nào trông cậy vào xác thịt thay vì vào Đức Chúa Trời (Gie Gr 17:5, 7). Cũng như với tâm linh, con người xác thịt phải trông cậy nơi Đức Giê-hô-va để được sức lực (Giop G 34:14, 15). Như Ê-sai từng tuyên bố: “Mọi xác thịt như cỏ… cỏ khô… nhưng lời Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời ” (EsIs 40:6-8). Thịt là hình thức vật lý của sự sống chẳng bao giờ đối lập với bản ngã, nhưng trái lại là trung gian thích ứng cho đời sống tâm linh và cá nhân. Tuy yếu đuối, nhưng tự nó không có gì xấu xa hay là nguyên nhân gây thất vọng. Vì chính trong bối cảnh ấy người ta có thể đến với Đức Chúa Trời để tìm được sức lực và sự yên nghỉ. Tác giả Thi Thiên cầu nguyện cho mọi xác thịt đều sẽ đến cùng Ngài (Thi Tv 65:2). Cùng với linh hồn tôi, xác thịt tôi cũng khao khát mong mỏi Chúa (63:1). Tiên tri Ê-sai hình dung cảnh mọi xác thịt đều đến để thờ lạy Đức Chúa Trời (EsIs 66:23), còn Ê-xê-chi-ên nói tiên tri rằng Đức Chúa Trời sẽ cất đi lòng bằng đá của họ, để ban cho họ một tấm lòng bằng thịt (Exe Ed 11:19). Một lần nữa, chúng ta phải kinh ngạc về sự kiện Đức Chúa Trời đã giải cứu chúng ta khỏi tội lỗi và đổ vỡ chứ không phải khỏi các thuộc tánh của loài người. Dân sự của Đức Chúa Trời đều được cứu chuộc với tư cách những người nam người nữ để đứng trước mặt Đức Chúa Trời như Ngài đã định trước khi tạo dựng họ.
    Đồng thời Tân Ước cũng cho chúng ta thấy rõ là xác thịt được tạo ra như một mục tiêu lý tưởng cho sự cám dỗ. Trong khi những điểm mà Cựu Ước nhấn mạnh vẫn được tiếp tục trong Tân Ước, xác thịt được xem là đặc biệt nhưng chắc chắn không phải là nơi ngự trị của tội lỗi để đến nỗi những gì thuộc về “xác thịt” đều trở nên đồng nghĩa với “tội lỗi” (ICo1Cr 3:1). Điều này có ý nghĩa cho việc Đấng Christ đã đến thế gian bằng xác thịt tội lỗi để kết án tội lỗi trong xác thịt (RoRm 8:3).
    4. Lòng . Đây là từ ngữ thông thường nhất trong số các từ ngữ Cựu Ước chỉ về con người và sự sống, xuất hiện 850 lần trong mọi hình thức và hầu như luôn luôn chỉ về nhân loại (chỉ có năm lần chỉ thú vật mà thôi). Nếu có chữ nào từng bị dịch sai nhiều nhất, thì đó là chữ “lòng” theo cách hiểu hiện đại của chúng ta, ý nghĩa sâu sắc rất ít có trong văn mạch Kinh Thánh. Theo một ý nghĩa nó ám chỉ khía cạnh nội tại của hồn. Nhưng cả trong trường hợp đó, phạm vi của nó cũng bị giới hạn, thật khó có một quá trình tâm linh nào không có liên hệ gì với tấm lòng.
    Theo phương pháp của Wolff, chúng ta cũng bắt đầu bằng các ý niệm thuộc thể kết hợp với từ ngữ ấy để thấy ý nghĩa của nó từ phần cốt lõi đó đã được mở rộng ra như thế nào. Rõ ràng để chúng ta thấy ngay, Cựu Ước rất ít quan tâm đến nghĩa đen là nghĩa giải phẫu quả tim, vì thường thường thì “lòng” được dùng tương đương với “ruột” được cho là trung tâm của những cảm xúc sâu xa (Thi Tv 38:10, 26:2). Trong ISa1Sm 25:37, 38 lòng của Na-banh đã chết, trở nên như đá vậy. Nhưng ông vẫn còn sống được những mười ngày nữa. Rõ ràng các cảm xúc của ông đã bị tổn thương, chứ không phải trái tim thể xác của ông. Trong OsHs 13:8, “xé lòng” (theo ngôn ngữ Hi-bá-lai; RVS dịch là xé phanh ngực ra) có lẽ nó có nghĩa đen nhiều hơn; còn trong IIVua 2V 9:24 rõ ràng muốn nói trái tim theo nghĩa đen.
    Với người Hi-bá-lai, quan trọng hơn nghĩa giải phẫu trái tim chính là vị trí của trái tim trong đời sống con người. Nó thuộc về cấp độ sâu xa nhất của các cảm thức và ghi nhận những phản ứng sâu xa nhất đối với đời sống. Gie Gr 4:19 mô tả nỗi âu lo của vị tiên tri về trận chiến tranh gần kề bằng những từ ngữ bi thảm như vậy khiến chúng ta nghĩ ông đang lên cơn đau tim. Khi tấm lòng đã tan nát (có nhiều bản dịch là “bị áp đảo”) tức là một người đang xuống tinh thần đến cực điểm (Thi Tv 61:2). Rõ ràng đây là cấp độ sâu thẳm nhất của nhu cầu con người (25:17). Điều đó rất đúng nếu căn cứ vào nghĩa ẩn dụ của từ ngữ ấy ngụ ý về một nơi xa xôi, không thể nào đến được (“lòng biển” theo nguyên ngữ Hi-bá-lai; còn bản RVS dịch là biển sâu). Như vậy, chỉ có Đức Chúa Trời mới thấy được lòng người mà thôi. Loài người chỉ thấy bề ngoài (ISa1Sm 16:7) nhưng với Đức Chúa Trời, chúng ta không thể nào giấu được cả những điều thầm kín, bí mật nhất của tấm lòng.
    Cấp độ này của nhân tính có những ước muốn và càng quan trọng hơn nữa khi nó có các quyết định của ý chí. Chúng ta thường đọc được những ước muốn của lòng người, nghĩa là những cảm nghĩ sâu xa nhất của người ấy (Thi Tv 21:2). Những tưởng tượng của một tấm lòng tội lỗi luôn xấu xa, gian ác (SaSt 6:5) kẻ điên dại nói trong lòng rằng chẳng có Đức Chúa Trời (Thi Tv 14:1). Một khi đã cứng lòng, người ta trở thành ngoan cố, không chịu nghe lời khuyên bảo nữa (XuXh 7:22, Gios Gs 11:20) nhưng khi tấm lòng tan chảy, tâm trí cũng thay đổi (14:8). Thế nhưng khi một người quyết định trong lòng là do chính Đức Chúa Trời đã chỉ đẫn, điều khiển (ChCn 16:9). Cho nên, quyết định vững chắc nhất là quyết định được vững lập nơi Đức Chúa Trời (Thi Tv 57:7, 108:1). Vậy lạc điểm nhân cách chính là lạc điểm biết đầu phục Đức Chúa Trời. Như Giê-rê-mi đã giải thích là phải làm phép cắt bì cho tấm lòng của chúng ta, chứ không phải chỉ cắt dương bì mà thôi (Gie Gr 4:4).
    Vì sợ chúng ta nghĩ loại quyết định như vậy chỉ là hành động hoàn toàn do ý chí, cần vạch rõ ràng tuy phần lớn các trường hợp tấm lòng được gán cho các chức năng trí tuệ và nhận biết những gì là phải lẽ. Vì tầm quan trọng toàn diện của nó với tư cách là trung tâm của nhân cách (như chúng ta nói ngày nay) đã không hàm ý rằng loài người là những kẻ không biết phải trái, chỉ hành động theo cảm xúc và linh cảm mà thôi. Ân tứ cao nhất đã được ban cho loài người là tấm lòng (thường được dịch là “trí”) để hiểu. Môi-se đã từng than thở rằng dân sự đã không lãnh hội được ý nghĩa của những việc quyền năng của Đức Chúa Trời - họ vốn thiếu tấm lòng hiểu biết (PhuDnl 29:4). Yêu cầu quan trọng nhất của Sa-lô-môn là có được một tấm lòng hiểu biết (IVua 1V 3:9, 12) “Lòng người khôn sáng tìm kiếm sự tri thức ” (ChCn 15:14). Chẳng có gì ngạc nhiên khi từ ngữ này xuất hiện đến gần 100 lần chỉ trong sách Châm ngôn mà thôi, ở đây sự khôn ngoan được mô tả là nếp sống hoàn toàn tin cậy vào Đức Chúa Trời (ChCn 3:5).
    Cách biệt giữa trái tim và cái đầu hiện nay - thường được tranh luận liên quan đến lĩnh vực đức tin - chắc chắn không có một chỗ đứng nào trong quan điểm của Kinh Thánh cả. Vì khi một người suy nghĩ trong lòng thế nào, thì người ấy quả là như thế (ChCn 23:7, tuy trong nguyên ngữ Hi-bá-lai câu này có phần tối nghĩa). Điều làm nên một con người chính là các tư tưởng và quyết định của tấm lòng người ấy. Kinh Thánh dạy chúng ta phải cảnh giác để phân biệt, lời rêu rao đầu môi chót lưỡi và tâm địa bên trong - mà chúng ta gọi là sự giả hình. Đó là những gì mà Đấng Christ đã tố cáo người Pha-ri-si: “Dân nầy lấy môi miếng thờ kính ta, nhưng lòng chúng nó xa ta lắm ” (Mat Mt 15:8, Ngài đã trích dẫn EsIs 29:13).
    Cuối cùng, thiết tưởng phải đề cập đến tấm lòng của Đức Chúa Trời. Đây là tiêu chuẩn thuộc tánh của Đức Chúa Trời chiếu theo đó con người phải chịu phán xét. Đức Chúa Trời tìm một thầy tế lễ trung tín, sẽ làm những gì hợp với lòng Ngài (ISa1Sm 2:35). Một người vâng theo lòng Đức Chúa Trời là người làm những gì Đức Chúa Trời truyền bảo mình (ISa1Sm 13:14). Tấm lòng là nơi Đức Chúa Trời thiết lập kế hoạch và quyết định (Thi Tv 33:1, OsHs 11:8, 9, có thể có nghĩa là quyết định của Ngài bị thay đổi). Khi Ngài muốn nhấn mạnh Ngài sẽ hiện diện trong đền thờ (IVua 1V 9:3) Ngài hứa tấm lòng Ngài cũng sẽ ở đó. Cuối cùng thì dân sự phải lệ thuộc vào sự hiểu biết tấm lòng của Đức Chúa Trời. Vì các đường lối của loài người đều chánh đáng theo mắt họ, song Đức Giê-hô-va cân nhắc cái lòng (ChCn 21:2).
    Vậy, tấm lòng là tiêu điểm của đời sống con người, là bản ngã để lý luận, đáp ứng và quyết định. Sự hiểu biết của tấm lòng không hề trừu tượng hay phi ngã. Nó được diễn tả qua sự tham gia cá nhân và quyết định tự ý (PhuDnl 29:3,4). Những điều mà sách Gia-cơ diễn tả bắt rễ từ mảnh đất ấy: đức tin không có việc làm không phải là đức tin thật, mà chỉ là lời rêu rao đầu môi chót lưỡi. Có đức tin thật là cùng chia sẻ tấm lòng của Đức Chúa Trời, dấn thân vào một sự thay đổi triệt để đến độ vị tiên tri mô tả một tấm lòng mới, một tấm lòng bằng thịt chứ không phải bằng đá (Exe Ed 11:19). Vì lẽ đó người được sai đến từ tấm lòng của Đức Chúa Trời phải đến trước.
    5. Huyết (D*m). Xuất hiện 360 lần, từ huyết ám chỉ mạng sống thân xác của con người và thú vật, thường chỉ có nghĩa đơn giản là “sự sống của con người” (ChCn 1:16, 18, Thi Tv 72:13, 14). Từ ngữ này chẳng có vai trò gì trong cảm xúc hay trong đời sống tri thức của con người, tuy nó không phải là không quan trọng trong khung cảnh các sự vật của Cựu Ước, khi bị đổ ra từ dưới đất huyết sẽ kêu lên (SaSt 4:10) đòi hỏi sự báo thù (42:22). Phải lấy huyết của chiên con Lễ Vượt Qua bôi lên mày cửa (XuXh 12:1-50). Trong SaSt 9:4-6, dường như nó đồng nghĩa với sự sống và đòi hỏi phải được thanh toán một khi đã bị đổ ra. Sự đòi hỏi này lập tức gắn liền với việc con người được tạo dựng theo ảnh tượng của Đức Chúa Trời (c.6). Cho nên huyết trở thành một biểu tượng có ý nghĩa cho mạng sống, theo nghĩa mở rộng, là cho sự đền mạng (xem LeLv 4:16, 17 và chúng ta sẽ thảo luận trong chương nói về sự thờ phượng). Nó phải được đem dâng như một của lễ cho Đức Giê-hô-va. Vậy tiếp xúc đúng cách với huyết sẽ đưa người ta đến chỗ được liên hệ gần gũi với Đức Chúa Trời, là nguồn mạch của sự sống. Thịt có thể thuộc về con người bởi vì nó trở về đất, nhưng huyết tiêu biểu cho sự sống thuộc về Đức Chúa Trời là Đấng ban sự sống (LeLv 17:6, PhuDnl 12:15, 16 đối chiếu với Wolff, 61).
    Có một số tội ác là tội làm đổ huyết (LeLv 20:9, ChCn 28:17) phải được chuộc bằng cách dâng huyết trên bàn thờ làm giá chuộc (LeLv 4:1-35, 16:14). Trong hành động này, tội ác có thể được chu chuyển. Mạng sống do huyết làm biểu tượng là một ân tứ do Đức Chúa Trời ban, nên phải được sử sụng để phục vụ Ngài. Ai sử dụng nó cách sai lầm sẽ phải tính sổ - không phải với các quan xét con người - nhưng là với Đức Chúa Trời. Đây là nền tảng cho quan điểm coi trọng sinh mạng con người luôn luôn kết hợp với truyền thống Cơ đốc giáo - Do thái. Sự sống tự nó không được thờ phượng - trong Cựu Ước không hề có giáo phái sinh sôi nảy nở - nhưng sự sống được đánh giá cao vì nó đến từ Đức Chúa Trời và thuộc về Ngài. Như vậy, cách đối xử với sự sống phải phù hợp với các tiêu chuẩn về công lý của chính Đức Chúa Trời: “Kẻ nào làm đổ máu người thì sẽ bị người khác làm đổ máu lại ” (SaSt 9:6)
    6. Các chi thể. Dưới tiểu mục cuối cùng này, chúng tôi sẽ đề cập nhiều câu nói về thân thể và chức năng của nó. Trong Cựu Ước, phần hình thức của thân thể luôn được xem là có dự phần vào các chủ đích mà nhân tánh có thể thực hiện. Các chi thể bao giờ cũng là những môi giới, những cách diễn tả các giá trị cá nhân và chẳng bao giờ bị nhìn bằng góc cạnh thuần túy vật lý của nó. Khi được Đức Chúa Trời tha tội cho, cả đến các xương cốt đã bị bẻ gãy cũng được khoái lạc (Thi Tv 51:8). Bàn chân của người truyền giảng Tin Lành là đẹp đẽ (EsIs 52:7).
    Chẳng hạn như nhìn và nghe cũng trở thành cách bộc lộ của toàn bộ một con người đáp ứng với đời sống và những đòi hỏi của nó. Khi các giác quan ấy bị đe dọa, toàn thân phải báo động (Thi Tv 38:13, 14). Nhìn và nghe những gì Đức Chúa Trời đã làm sẽ hiểu để hành động theo đúng ý nghĩa (PhuDnl 29:2-4). Nghe thường được dùng như dấu hiệu có chú ý để hành động theo điều mình đã nghe. Theo nghĩa này nghe là vâng lời: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe: Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta là Giê-hô-va có một không hai ” (PhuDnl 6:4). Ê-sai ghi nhận Đức Chúa Trời đã mở lỗ tai cho ông theo nghĩa ông không còn phản loạn nữa (EsIs 50:4, 5). Cũng vậy, trong Thi Tv 40:6, tác giả Thi Thiên ghi nhận Đức Chúa Trời đã xỏ tai (theo nghĩa đen) ông, nghĩa là Ngài đã ban cho ông một tấm lòng sẵn sàng làm tất cả những gì ông đã được chỉ dạy (c.8). Điều đáng chú ý là câu này đã được trích dẫn trong HeDt 10:5 nơi phần thứ hai của câu ấy đã bị đổi thành: “Chúa đã sắm sửa một thân thể cho tôi ”. Sự thay đổi - hoàn toàn có chủ ý này - có thể được giải thích dễ dàng theo cách sử dụng ngôn ngữ tổng hợp mà chúng tôi từng thảo luận trước đây. Một lỗ tai mở ra là một tấm lòng sẵn sàng. Như thế là lấy một phần (tấm lòng) để chỉ về toàn bộ (thân thể) nên chúng ta cũng có thể nói dễ dàng như vậy: Chúa đã sắm sửa cho tôi một thân thể. Thân thể mà Đấng Christ đã sẵn sàng phó dâng để vâng lời Đức Chúa Cha (một chủ đề lớn của sách Hê-bơ-rơ) là một cách triển khai tinh vi và sâu sắc hơn ý nghĩa câu nói trong Cựu Ước về việc Đức Chúa Trới muốn có một lỗ tai mở ra và một tấm lòng sẵn sàng. Bối cảnh này cũng giúp chúng ta thấy được ý nghĩa của câu lưu ý mà Đấng Christ vẫn thường nhắc đi nhắc lại: “Ai có tai, hãy nghe ”.
    Cũng vậy, thấy có thể dùng chỉ về sự hiểu biết để tin tưởng (XuXh 14:13, 14) dĩ nhiên theo nghĩa này, người ta có thể có mắt mà chẳng nhìn thấy. Vì cái nhìn xuyên suốt này chỉ có được khi Đức Chúa Trời mở mắt cho dân Ngài (EsIs 43:8-13). Vậy sau khi đã được đặc ân nhìn thay các công việc của Đức Chúa Trời thì phải có trách nhiệm nói ra tính cách vĩ đại của Ngài (Thi Tv 97:4, 6). Từ cái nhìn này, người ta có thể hiểu rõ hơn ý niệm phong phú của Kinh Thánh được khai triển trong Tân Ước về chứng nhân: một người đã nhìn thấy sự thiện hảo của Đức Chúa Trời và chứng tỏ lòng biết ơn của mình trong cả đời sống (IGi1Ga 1:1-3). Chắc chắn con mắt nhìn thấy và lỗ tai nghe được hiểu theo nghĩa này đều là các ân tứ do Đức Chúa Trời ban cho (ChCn 20:12).
    Cuối cùng, cái miệng và khả năng nói chỉ về việc đáp ứng điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho. Trong Cựu Ước, lời hứa nguyện là dấu chỉ của sự dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời (XuXh 19:7-9). Những gì ấp ủ trong lòng sẽ được thoát ra bằng cửa miệng, dầu là sự nguyền rủa hay lời cay đắng (Thi Tv 10:7), lời chúc phước hay ngợi khen (109:30). Người nam và người nữ của Đức Chúa Trời suy gẫm và đọc đi đọc lại luật pháp (1:2) không ngớt ngợi khen Đức Chúa Trời (71:24), loại bỏ sự gian tà ra khỏi miệng mình (ChCn 2:24), nói năng đúng lúc (ChCn 25:4) và không hấp tấp trong lời nói (ChCn 29:20). Biết dùng miệng lưỡi một cách phải lẽ như vậy thật là một phước hạnh đến từ Đức Giê-hô-va (ChCn 16:1). Vì vậy Gia-cơ đã nhấn mạnh một cách đúng đắn rằng người nào kìm hãm được lưỡi mình sẽ kiểm soát được toàn thân (Gia Gc 3:2).
    Tóm tắt
    Vậy loài người được tạo dựng từ bụi đất trong một xác thịt yếu đuối, nhưng có khả năng và sự khao khát tìm cầu Đức Chúa Trời. Con người yếu đuối và thiếu thốn về mọi mặt, tuy nhiên sự thiếu kém và các giới hạn đó không hề ngăn được việc con người có thể đồng hành với Đức Chúa Trời. Trái lại, những điều kiện khắt khe đó cho thấy con người phải lệ thuộc vào môi trường xung quanh. Trong khi ăn, uống, con người được nhắc nhở về tất cả những gì họ đang có, cả đời sống và sức lực họ đều từ bên ngoài bản thân họ mà đến, đều là từ thế gian và Đấng đã tạo ra nó. Cho nên, khi dự phần vào các yếu tố để thỏa mãn những nhu cầu thuộc thể của mình, họ đang trình diễn một ẩn dụ về nguồn mạch vượt trên chính họ. Chính trong bối cảnh đó, tất cả các tạo vật của Đức Chúa Trời đều tốt lành nếu nó được tiếp nhận với lòng tạ ơn (ITi1Tm 4:4). Cũng nhờ chính những vật đó mà con người có được phần dinh dưỡng khiêm nhu nhất - bánh và rượu - biểu tượng cho sự truyền rao sự sống đời đời nhờ đức tin vào Đức Chúa Jesus Christ là Bánh Hằng Sống.
    Con người không thể sống như những cá thể nhưng như thành viên của một cộng đồng. Họ tự xác định chính mình bằng truyền thống và các giá trị của những tập thể mà họ là những thành viên. Các mối liên hệ đó, đặc biệt là hôn nhân và gia đình, cũng có thể mang một ý nghĩa cao cả hơn khi xem đó là một sợi dây buộc chặt chúng ta với Đức Chúa Trời cũng như sợi dây yêu thương, thành tín của Ngài buộc chặt Ngài với chúng ta. Đây là nhóm người đặc biệt của Chúa hiện diện trước mặt Ngài (“hội chúng” trong XuXh 12:3 và những chỗ khác trong Kinh Thánh) được Tân Ước nhấn mạnh như là Hội Thánh, thân thể của Đấng Christ.
    Tuy con người sống cuộc đời của mình trong một thân thể, nhưng họ có một đời sống vượt trên thân xác này. Họ nhớ lại quá khứ và hy vọng về tương lai. Họ yêu hoặc ghét những gì đang vây quanh họ và sử dụng chúng cho cả cuộc đời có chủ đích của mình. Như vậy, những giá trị, sự rỗng tuếch hay phong phú của con người tùy thuộc vào việc họ như thế nào và có được những gì. Vì người của Đức Chúa Trời dùng đôi chân của mình để chạy trốn điều ác, dùng miệng để nói lên sự tốt lành của Đức Chúa Trời, dùng đôi tay chăm sóc những kẻ thiếu thốn và với những điều thuộc về thế giới tạo vật họ có thể sáng tạo ra nhiều cách để bày tỏ sự đẹp đẽ về vinh quang của Đức Chúa Trời.
    Người nam và người nữ luôn phấn đấu vươn lên, tìm kiếm trong đời sống thể xác này, qua quyết định và hành động để hiểu rõ chính mình. Họ tìm được sự tương giao với Đức Chúa Trời là điều duy nhất để nhờ đó họ có mọi khả năng thích ứng. Tuy sự kiêu ngạo đi kèm với ý thức vươn lên, tìm kiếm, tuy tội lỗi đe dọa đời sống bằng sự chết, họ vẫn thấy được một môi trường thượng thiên nơi đó họ được yên nghỉ trong an toàn. Chỉ có những kẻ điên dại mới cho rằng: Đức Chúa Trời chẳng có liên quan gì đến họ cả.
    Xin nói vài lời về bản tính hiệp nhứt và nhị nguyên của con người. Những năm gần đây, một điều trở nên phổ biến ấy là việc nhấn mạnh con người là toàn thể thống nhất - xác với hồn gắn liền nhau bằng mối liên hệ hỗ tương. Chúng ta đã thấy một số chứng cứ hiển nhiên để hậu thuẫn cho quan điểm đó. Tình trạng thuộc linh được bộc lộ trong thân thể, mặt khác, những cá nhân bộc lộ chính mình trong và qua thân xác của họ. Lòng họ diễn tả tính cách thống nhất của tư tưởng, ý chí và tình cảm nghĩ họ. Nhưng đồng thời, nhiều nhận xét quan trọng cũng thiên về phía nhị nguyên tính, cho rằng con người gồm có hai phần, cho dầu liên hệ chặt chẽ với nhau đến đâu chăng nữa. Vì thân xác rõ ràng từ bụi đất mà ra còn sự sống thì đến từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời đã kết hợp chúng chung lại với nhau, cho nên không còn chỗ nào cho quan điểm chủ trương rằng thân xác là nhà tù của linh hồn. Nhưng khi chết, sự sống của linh hồn lìa khỏi thân xác để đến âm phủ (Sheol). Mất đi thân thể, nó phải sống một cuộc đời hẩm hiu trong bóng tối. Tính sinh động của đời người trong Cựu Ước đòi hỏi phải có sự mạc khải rõ ràng hơn về đời sống của thân xác là phương tiện phù hợp cho sự tương giao cùng Đức Chúa Trời và ca ngợi Ngài. Vì thế cần có lời dạy của Tân Ước về sự sống lại của thân thể.

    Tội Lỗi
    Tôi dạy cho bàn tay tôi tuân thủ các mạng lịnh của thượng thiên. ..
    Ô, ước chi tôi biết được điều gì làm đẹp lòng thần! Điều gì con người thấy là tốt đẹp, lại là đáng ghê tởm trước mặt thần, còn điều gì mà lòng loài người ghen ghét thì lại đẹp lòng thần nhất. Ai là người học biết được ý chỉ của các thần trên cõi thượng thiên, kế hoạch của các thần, sự khôn ngoan trọn vẹn, ai có thể thấu hiểu được những sự đó? Đến bao giờ thì con người khả tử ngu đần mới hiểu được đường lối của các thần?
    Lời khôn ngoan của người Ba-by-lôn
    “Sự vi phạm của kẻ ác nói trong lòng tôi rằng chẳng có sự kính sợ Đức Chúa Trời ở trước mắt nó. ”
    -- Thi Tv 36:1
    Nguồn Gốc Tội Lỗi: Sự Sa Ngã
    1. Ranh giới của mối tương giao. Bản tính thọ tạo của con người không biểu hiện một cản trở nào trong mối tương giao với Đức Chúa Trời; nó không phải là một điều gì đó - theo như triết lý Hy lạp - cần phải vượt qua. Vì thế khi Đức Chúa Trời đã hoàn tất công việc sáng tạo, Ngài có thể phán rằng nó thật tốt lành (SaSt 1:31). Nhưng theo nhãn quan của loài người thì điều đó không có nghĩa là không có giới hạn nào cho đời sống. Giới hạn không phải là không phù hợp với sự hoàn hảo của công trình sáng tạo người nam và người nữ. Họ phải sống trong một thân xác và lệ thuộc vào đất đai để nuôi dưỡng bản thân mình. Hơn nữa, đã có một giới hạn cố hữu trong mối quan hệ giữa họ và Đức Chúa Trời. Họ phải hiểu Ngài là nguồn gốc và ý nghĩa và bởi lời Ngài họ mới học biết được cách sống thuộc linh. Điều này đã được minh định rõ trong SaSt 2:16, 17.
    Trước hết, Chúa đã phán dạy rằng đất đai tươi tốt chính là phương tiện để nuôi dưỡng họ. Ngài phán: “Ngươi được tự do ăn hoa quả các thứ cây trong vườn ” (câu 16 ). Câu Kinh Thánh này như thể một lời khẳng định về một chủ đề quan trọng của Thánh Kinh. Trật tự sáng tạo không phải để cho con người chối bỏ song để cho họ được tận hưởng; nó chính là sự ban tặng của Đức Chúa Trời. Nhưng đồng thời, tại giữa vườn cũng có một cây cấm. Đó là cây biết điều thiện và điều ác. Theo nguyên ngữ Hi-bá-lai, “biết điều thiện và điều ác ” chỉ mang ý nghĩa đơn thuần là ý thức đạo đức, khởi điểm để một đứa trẻ bắt đầu phân biệt được thiện ác và trở nên một người có trách nhiệm đạo đức (EsIs 7:16). Nhưng chúng ta không nên lợi dụng yếu tố đó để đoán định rằng người nam và người nữ không chịu trách nhiệm đạo đức trước khi sa ngã mặc dầu có một số người mô tả sự vô tội của họ theo cách đó. Có lẽ điều đe dọa họ chính là biết điều thiện và điều ác thông qua kinh nghiệm (từ biết theo nguyên ngữ Hi-bá-lai có nghĩa là biết bằng kinh nghiệm thân thiết). Sự vâng lời luôn được đòi hỏi với bất cứ giá nào, nhưng đồng thời sự bất tuân cũng có khả năng xảy ra.
    Thật là vô ích nếu chúng ta muốn biết lý do của sự ngăn cấm đó (“Ai sẽ nói với Ngài rằng: Chúa làm chi vậy? ” Giop G 9:12). Nhưng ít ra chúng ta cũng có thể nói được rằng rõ ràng A-đam và Ê-va đã minh định được sự khác biệt giữa tạo vật và Đấng Tạo Hóa, và nhu cầu quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời phải được định đoạt bởi Ngài chứ không phải bởi họ. Hơn thế nữa, cuộc đời của họ cần phải sống trong sự vâng lời: “Thương mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vâng theo tiếng phán Ngài và tríu mến Ngài, vì Ngài là sự sống ngươi ” (PhuDnl 30:20). Sự đe dọa của cái chết không nhất thiết có nghĩa họ là tạo vật bất tử. Có lẽ chỉ cần sự tương giao với Đức Chúa Trời là đủ để bảo vệ họ khỏi sự đe dọa của tử thần. Vậy Hê-nóc và Ê-li có thể nêu gương gì theo suy nghĩ được Đức Chúa Trời đặt để trong tâm trí mọi người. Điều đó chúng ta không dám quả quyết. Theo quan điểm của các nhà thần học truyền thống thì sự ngăn cấm đó chính là một phương thức thử nghiệm. Gerhardus Vos gọi cây tri thức này là “công cụ thiên định để con người được trải qua cuộc thử nghiệm nhằm đạt đến mức độ trưởng thành về đạo đức và niềm tin kèm theo đó là những phước hạnh cao cả nhất” (Vos, 31). Nói một cách khác thì đó là cuộc sát hạch dành cho tổ phụ và tổ mẫu loài người, nếu vượt qua thì họ sẽ đạt đến tầm mức cao hơn về nhận thức trách nhiệm đạo đức. Điều này có thể đúng, dầu cho tất cả chỉ nằm trong phạm trù suy đoán.
    Dầu sự thể ra sao thì A-đam và Ê-va cũng không thể viện cớ là quyền tự do của mình bị hạn chế, nhưng ngược lại nữa là đằng khác. Người nam và người nữ không thể tìm thấy tự do bên ngoài trật tự mà Đức Chúa Trời đã định cho họ bằng lời phán của Ngài.
    2. Mối tương giao bị đỗ vỡ. Tội lỗi đã xen vào bởi một quyết định bởi ý chí tự do của A-đam và Ê-va trong Sáng Thế Ký chương 3. Điều đầu tiên khiến chúng ta chú ý là sự cám dỗ dẫn đến việc bất tuân mạng lịnh Đức Chúa Trời vốn xuất phát từ yếu tố ngoại tại và được tiếp ứng bởi yếu tố nội tại của trật tự tạo vật. Về cớ tích sự việc này, chúng ta chỉ có thể đoán định được cho đến thời Môi-se, không có dấu chỉ nào cho thấy đó chính là Sa-tan hay chỉ là một công cụ của Sa-tan. Chúng ta chỉ biết về một trong số những tạo vật của Đức Chúa Trời - con rắn. Chỉ sau này (trong sách Khôn Ngoan của Sa-lô-môn 2: 23,24) sự cám dỗ mới được gán cho Sa-tan. Nhưng xuyên suốt Cựu Ước, đã không hề có việc suy đoán về nguồn gốc của sự cám dỗ này (EsIs 14:12-16Thi Tv 82:6, 7 có lẽ là những khúc sách duy nhất đã đề cập một cách bóng gió về sự sa ngã của Sa-tan, nhưng thật khó để chấp nhận đó là tín lý). Điều dễ dàng nhận biết nhất đó là điều ác không hề xuất phát từ Đức Chúa Trời mà trái lại nó đến từ một thế lực gian ác nằm trong trật tự tạo vật. Tuy nhiên, nhờ vào Tân Ước mà chúng ta biết được Sa-tan chính là kẻ cầm quyền chỉ huy lực lượng đó.
    Trước hết, ma quỷ đã đặt ra một câu hỏi và sau đó là một lời phản bác (SaSt 3:1, 4). Có nghĩa là trước tiên, hột giống nghi ngờ sự thiện hảo của Đức Chúa Trời đã được gieo vào kèm theo một sự đòi hỏi. Qua câu trả lời của bà Ê-va thì rõ ràng bà đã thể hiện sự không nắm chắc về lời phán dạy của Chúa, bởi bà đã thêm thắt ý tưởng vào trong mạng lịnh của Ngài “và cũng chẳng nên đá động đến”, mạng lịnh nguyên thủy của Chúa không phải là như vậy. “Mắt các ngươi sẽ mở ra” soi sáng thêm cho ý nghĩa của câu “biết điều thiện và điều ác”, nghĩa là họ sẽ thấy cuộc đời trong những điều kiện vượt hẳn các giới hạn mà Đức Chúa Trời đã định cho họ. Đây là nguồn gốc mọi tội lỗi: tính kiêu căng (hubris) bắt đầu xuất hiện. Nhưng cần lưu ý là nó chỉ theo sau việc nghi ngờ lời Đức Chúa Trời. Đây là đòn trí mạng đánh vào sự vâng lời cách chiếu lệ. Giờ đây, bà Ê-va đang đứng giữa lời của Đức Chúa Trời với khả năng lựa chọn điều chưa từng biết (Von Rad, 1961, 85). Ngay sau lời nói của con rắn (c. 5) đề nghị đã được chấp nhận.
    Đến đây thì sự quyến rũ đã phát huy năng lực của nó. Một khi đã nghi ngờ lời của Đức Chúa Trời thì sự quyến rũ của thể xác và dục vọng trở nên hiệu nghiệm. Họ ăn và mắt họ liền mở ra (c.7). Đây là hậu quả của sự sa ngã nên sau đó khi nghe lời biện giải của Chúa họ cảm nhận được ngay. Tính hồn nhiên của tạo vật đã không còn nữa. Phản ứng đầu tiên (mà Vos gọi là “phản xạ đạo đức” - reflex of the ethical - Vos, 53) là sự xấu hổ. Họ biết tội lỗi của họ đã chạm đến chỗ sơ đẳng nhất trong các mối quan hệ của họ nên họ đã cố gắng tìm cách tự che đậy mình một cách đáng thương.
    Đọc phần ký thuật về sự sa ngã với tất cả những ngụ ý đáng sợ của nó, người ta không cảm thấy bất kỳ một ý thức né tránh nào qua biến cố này. Tự nhiên quyền tự do có thể làm người ta nghi ngờ và bất tuân lời của Đức Chúa Trời. G. Oehler (1880,229) cho chúng ta biết: “Con người có thể bước từ tình trạng vô tội sang tình trạng đạo đức tự do chỉ bởi một hành động tự quyết”. Nhưng đó là một quyết định mà tất cả chúng ta đều gặp phải và đến lượt mình, chúng ta cũng hành động như vậy mà thôi.
    3. Bảo vệ mối tương giao. Tại đây bắt đầu chủ đề về sự phán xét mang tính cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Tội lỗi phải bị trừng phạt, nhưng sự phán xét bao giờ cũng xen lẫn ơn khoan hồng. Câu hỏi đầu tiên hàm chứa sự nhẫn nhục của Đức Chúa Trời: Ngươi ở đâu? Ai nói cho ngươi biết mình lõa lồ? Ngươi đã làm chi vậy? Dĩ nhiên, Đức Chúa Trời chẳng cần hỏi sự việc đã xảy ra thế nào, cũng như về sau Ngài chẳng cần hỏi về A-bên trong khi chất vấn Ca-in (SaSt 4:9-12), nhưng Ngài hỏi vì muốn kẻ phạm tội biết ăn năn để tình trạng có thể được phục hồi. Nhưng A-đam đã đáp lại bằng cách đưa vào hai duyên cớ trực tiếp (người nữ) và tối hậu là hai yếu tố ngoại tại chẳng khác gì Ca-in. Chúng ta đã thấy được khuynh hướng tội lỗi thể hiện qua cách ăn ở của con người. Tội sanh ra tội, là hậu quả tự nhiên. Khi chúng ta đã hiểu được trọn vẹn các hàm ý của mối liên hệ hỗ tương giữa các hành động của con người (các hành động của cha mẹ và con cái), chúng ta mới thấy rõ nguyên tội không thể là một hiện tượng riêng biệt.
    Đức Chúa Trời phải đoán phạt con rắn, người nam và người nữ. Trước hết, trong trường hợp con rắn, sự thù địch giữa nó với người nữ hàm ý về sự phục hòa giữa Đức Chúa Trời với hậu tự của người nữ. Nhân loại và các thế lực gian ác sẽ chẳng bao giờ thiết lập được nền hòa bình chung kết. Người nam và người nữ sẽ bị tấn công liên tục. Người ta sẽ chẳng làm được gì để xóa bỏ sự thù nghịch, sẽ không có chủ nghĩa anh hùng. Nhưng căn cứ vào Tân Ước, con rắn sẽ bị đạp đầu là dấu chỉ đầu tiên về Phúc Âm. Chính Đấng Christ sẽ phá hủy các công việc của ma quỷ (Mat Mt 1:23, CoCl 2:15, ITi1Tm 2:15, GaGl 4:4).
    Đối với Ê-va, Đức Chúa Trời đã báo trước nhiều đau khổ, đặc biệt là việc phải mang nặng đẻ đau. Đó là niềm vui, là mão miện cho bà, đồng thời cũng trở thành nỗi sầu khổ. Cũng vậy, trong mối liên hệ với chồng, bà cũng phải chịu khốn khổ. Sự kiềm chế chuyển từ tình yêu và riêng tư sang thành bản năng (Kidner,1967,71). Tuy bà vẫn còn cái ước muốn sâu xa đó và cứ tiếp tục thỏa mãn nó (Ru R 1:9), những gì bà tìm được cũng chỉ là sự phủ phục tủi nhục mà thôi. Căn cứ vào đó rõ ràng việc chế ngự và đầu phục vốn không phải là một thành phần của trật tự tạo vật mà đúng ra chỉ được đưa vào sau khi loài người sa ngã. Từ ngữ “kẻ giúp đỡ” (SaSt 2:18) có nghĩa là người đối diện, là người hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu tương giao của người nam. Tuy rằng Đức Chúa Trời có ý đề cập một trật tự “kinh tế” (hoặc làm việc) nào đó, theo văn mạch rõ ràng đã có sự bình đẳng hoàn toàn trước mặt Đức Chúa Trời và sự tương kính lẫn nhau. Sự sa ngã đã đổi thay tất cả, cho đến ngày nay chúng ta hiện vẫn phải còn vật lộn với các hậu quả của nó.
    Trong trường hợp của A-đam, sự rủa sả được áp dụng trong lãnh vực quản trị của ông hơn là cho bản thân ông. Ông sẽ phải lao động khổ nhọc và đổ nhiều mồ hôi. Thật là một kết quả đáng buồn vì tin vào lời hứa hẹn giả dối của con rắn rằng mình sẽ trở nên như các vị thần vậy! Vì cớ A-đam, đất cũng bị rủa sả (3:17). Mối liên hệ căn bản giữa ông với đất có ngay từ thuở khai thiên lập địa, giờ đây phải tiếp nhận một yếu tố mới - thất vọng và cạnh tranh. Ở khắp nơi, quyền làm chủ trên tạo vật bấy giờ đều bị thách thức. Muốn sinh tồn, ông phải lao động và khổ nhọc (có người nhận xét: điều kỳ lạ là chính sự rủa sả lại hướng về cuộc sống!). Công việc - trước đó có lẽ chỉ là niềm vui thú - nay kèm theo lời đe dọa về khả năng thất vọng và thất bại. Qua sự rủa sả này, người ta có thể nhìn thấy các hậu quả tiêu cực của tội lỗi. Vì đối với trật tự sáng tạo, đã không có gì thiết yếu được thêm vào, sự hài hòa lại mất đi, trật tự sáng tạo đã bị đảo ngược. Giờ đây, tính cách phù du và tuyệt vọng trở thành một phần thiết yếu của trật tự tạo vật (TrGv 1:8). Bất cứ đi đâu, con người cũng phải tranh đấu cho trật tự và vẻ đẹp của tạo vật. Giờ đây, tất cả đều thở than rên siết, chờ đợi sự giải thoát. Điều mà Kinh Thánh thường nhắc đi nhắc lại, ấy là muôn vật đang trông đợi (EsIs 11:1-9, RoRm 8:18-21).
    Thiết tưởng nên nói qua về tính lịch sử (hay sử tính - historicity) của các chương đầu tiên trong Sáng Thế Ký, vì đây là một vấn đề có ý nghĩa thần học. Nhiều học giả hiện đại nhấn mạnh đây không phải là “lịch sử thông thường” mà là “lịch sử uyên nguyên” (primeval history), cho chúng ta biết chắc chúng ta đến từ Đức Chúa Trời khi chúng ta cảm thấy bị đe dọa bởi những thế lực hỗn loạn, nhưng không cho chúng ta biết thực sự điều gì đã xảy ra. Chúng ta cần giải thích vài điểm về vấn đề đó. Trước hết, bảo đây không phải là sử ký “theo như chúng ta hiểu” thì khó có thể đúng được, dầu sao, sự hiểu biết của chúng ta về lịch sử - theo nghĩa khoa học - chỉ mới được có khoảng hai trăm năm nay mà thôi. Chúng ta biết lịch sử đó không phải dưới hình thức sử ký khoa học, không phải nó đã nói rằng sẽ chẳng đem đến cho chúng ta thông tin về những gì đã thật sự xảy ra hay sao. Thậm chí phần hình thức của nó cũng được cải biên. Trong phần ký thuật của Sáng Thế Ký, chẳng có gì cho thấy nó không nhằm mục đích cho biết các sự kiện về buổi ban đầu của chúng ta. Cả khi phần ký thuật có vài đặc điểm giống với những thần thoại của các dân tộc sơ khai cũng không phải lịch sử không thật sự xảy ra như đã chép lại. Thật ra, như Mircea Eliade giải thích: “Thần thoại bao giờ cũng kể lại một điều gì đó như đã thật sự xảy ra, như một biến cố đã xảy ra theo theo đúng nghĩa của nó” (Myths, Dreams, and Mysteries, 1968,16). Hơn nữa, theo quan điểm Thánh Kinh, phần cốt tủy của các ký thuật trong Sáng Thế Ký xuất phát từ những sự kiện đã thật sự xảy ra.
    Hơn nữa, nó đã không được viết theo hình thức thi ca, những phần khác của Kinh Thánh cũng không cho chúng ta thấy đó chỉ là một câu chuyện chẳng xảy ra như đã được kể lại. Thật ra, RoRm 5:12-21 đã đặt sự bất tuân của A-đam ngang hàng với sự vâng lời của Đấng Christ để mô tả sự liên kết của chúng ta với tội lỗi và sự công nghĩa. Nếu chúng ta thừa nhận phần ký thuật của Phao-lô, chúng ta sẽ không thể bảo phần ký thuật này là thần thoại, còn phần kia là lịch sử. Nhận xét quan trọng nhất vẫn là các biến cố của những chương sách nói về công cuộc sáng thế do lời phán của Đức Chúa Trời, sự giáo huấn và thái độ bất tuân của A-đam và Ê-va, sự rủa sả và lời hứa. Tất cả đều có ý nghĩa vô giá đối với sự tiến triển đầy trọn công trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời. Các biến cố trong lịch sử chính là mạc khải và cũng là những phương tiện cho mối quan hệ với Đức Chúa Trời, đó là cốt tủy của quan điểm Thánh Kinh về sự cứu rỗi. Không thể khẳng định cả Kinh Thánh như là một toàn thể thống nhất đồng thời phủ nhận các chương đầu tiên của Sáng Thế Ký (cũng như phần ký thuật về các biến cố của những ngày sau rốt, như nhiều người đang làm). Không thể xem lẽ thật về niềm tin nơi Kinh Thánh chỉ dựa trên truyện thần thoại. Tóm lại, đã không có một trở ngại nào khi xem các biến cố này có tính cách lịch sử, và dường như ngoài một vài định đề triết học, cũng chẳng ai có khuynh hướng phủ nhận điều đó.
    Từ Ngữ & Định Nghĩa Tội Lỗi
    Cựu Ước có nhiều từ ngữ dùng chỉ tội lỗi hay sự quá phạm. Chúng tạm được chia thành ba loại chính (xem Grayston trong Richardson, 227).
    1. Sự sai lệch (deviation). Loại đầu tiên nói về việc đi lệch khỏi một đường thẳng. Từ gốc Hi-bá-lai (j^tt*’t hay j@t’) xuất hiện khoảng 225 lần như một động từ. Khuynh hướng thần học của ý niệm này có thể thấy trong 25 lần xuất hiện cụ thể như “một tội phạm cùng Đức Chúa Trời” (ý niệm này cũng xuất hiện nhiều lần nữa với hàm ý đó). Bắt đầu với Giô-sép (SaSt 39:9), ý niệm này thấy rõ qua lời xưng tội của Đa-vít: “Tôi đã phạm tội cùng Chúa, chỉ cùng một mình Chúa thôi ” (Thi Tv 51:4). Ý căn bản của từ ngữ này là sự đi lệch khỏi chánh lộ hay bị sai mục tiêu (nó thật sự được dùng chỉ việc ném đá sai mục tiêu trong Cac Tl 20:16). Một ý niệm tương tự cũng hiện diện trong từ ngữ thường được dịch là “tội” (iniquity - ‘*w{n, XuXh 20:5 và một vài chỗ khác). Nhóm từ ngữ này được dịch là “cong quẹo” (perverse hay perversity - ‘iqq @v) - trong ChCn 28:16 và những nơi khác, nhất là trong văn chương về sự khôn ngoan) nói lên sự sai lệch có chủ ý đối với những qui tắc cộng đồng. Người cong vạy gieo bất hòa và tranh cạnh trong cộng đồng. Họ đi lệch con đường khôn ngoan đó là sự kính sợ Đức Giê-hô-va. Dầu đi lệch khỏi lòng nhân từ hay vi phạm điều luật đặc thù nào khác cũng liên quan với Đức Chúa Trời là Đấng Thánh và cuối cùng sẽ dẫn đến chỗ hư mất linh hồn.
    2. Tội phạm (guilt). Có nhiều từ ngữ ám chỉ tình trạng ở trong tội lỗi: sự phạm tội hay sự vô đạo. Kẻ ác (r*v*u) là kẻ đã phạm tội, do đó đáng bị trừng phạt. Từ ngữ này thường được dịch là gian ác, vô đạo. Đức Chúa Trời “chẳng bảo tồn sự sống của kẻ gian ác ” (Giop G 36:6), đường lối chúng sẽ bị diệt vong (Thi Tv 1:6), chúng sẽ chẳng tìm kiếm Đức Chúa Trời (10:4) mà ưa sự hung bạo (11:5) cuối cùng chúng sẽ bị diệt đi (37:28). Gian ác là tình trạng của kẻ không đứng nổi trước mặt Đức Chúa Trời, bị phó mặc cho cơn thạnh nộ Ngài. Cũng vậy, kẻ gian ác vi phạm luật pháp và phạm tội trước mặt Đức Chúa Trời. Từ ngữ này có thể có nghĩa là “bị phạt”, “bị kết án” (Thi Tv 34:21-22) hoặc chỉ là “mắc tội” (ChCn 30:10). Nghĩa của danh từ cũng có thể là “tội” (SaSt 26:10) hay “của lễ chuộc sự mắc lỗi” (5:6). Cả đến kẻ phạm tội không cố ý cũng bị kể là mắc lỗi phải dâng của lễ chuộc sự mắc lỗi (LeLv 4:1-3). Ở đây, bản tính khách quan của tội được đưa lên phía trước. Một người phải chịu trách nhiệm về mọi việc mình làm cả khi phạm lỗi mà không biết, cũng phải bồi thường và chuộc lỗi. Tội lỗi phải được “mang lấy” và do đó được cất đi khỏi con người. Bằng cách đó dân sự mới phản chiếu được sự thánh khiết của Đức Chúa Trời.
    3. Sự phản loạn (rebellion). Thứ ba là ý niệm về sự phản loạn chống lại người trên hay bất trung đối với một hòa ước. Từ ngữ này thường được dịch (dầu chưa thỏa đáng là “phản nghịch” (trespass - P#s^u) ngụ ý về một hành vi phản nghịch có tính cá nhân (Giop G 34:37). Nghĩa thế tục của nó ám chỉ việc phản lại nhà Đa-vít (IVua 1V 12:19). Trong sách Ê-sai nó được dùng để chỉ về việc dân Y-sơ-ra-ên phản loạn chống lại Đức Chúa Trời là Đấng đã trưởng dưỡng họ (EsIs 1:2). Mối liên hệ hỗ tương và liên đới của tội lỗi được nhấn mạnh trong EsIs 43:27 “Thỉ tổ ngươi đã phạm tội, các thầy giáo ngươi lại phạm pháp nghịch cùng ta ”. Câu này dường như muốn ám chỉ về tộc trưởng (có lẽ là Gia-cốp) chứ không phải A-đam mặc dầu có thể A-đam cũng không được loại trừ. Ở đây, ý nghĩa của tội lỗi được mở rộng với ý nghĩa cố tình quay lưng chống lại cấp trên hay một hòa ước, tức sự bất trung.
    Định nghĩa tội lỗi có thể bao gồm tất cả những điểm đã được nhấn mạnh trên đây. Tội lỗi không phải là gặp rủi, tuy điều đó có thể là hậu quả của sự phạm tội nói chung cho tình trạng đó. Trái lại, nó là một sự sai lệch cá nhân và cố ý đối với một mẫu mực, cuối cùng hướng về việc chống lại Đức Chúa Trời. Cả việc vi phạm luật pháp cũng là chống lại Đức Chúa Trời. Vì như John Murray nhận xét, luật pháp chỉ là bản sao sự trọn vẹn của Đức Chúa Trời (NBI, 1189). Tội lỗi cũng có nghĩa là tình trạng con người làm điều ác trước mặt Đức Chúa Trời và đáng bị trừng phạt. Thật vậy, trong Cựu Ước có nhiều dấu chỉ cho thấy tình trạng làm điều ác trước mặt Đức Chúa Trời đi trước và gây ra hành động vi phạm thật sự. Đa-vít ghi nhận ông được sanh ra trong sự gian ác (iniquity- ‘*w{n)) và được hoài thai trong tội lỗi (j^tt*’t - Thi Tv 51:5). Phạm vi của khuynh hướng phạm tội của con người được thú nhận qua câu: “Các tư tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn ” (SaSt 6:5, Gie Gr 17:9). Tuy ở trong lòng, nhưng tội lỗi tự bộc lộ qua mọi việc người ta làm, họ phạm nhiều tội lỗi (ChCn 29:22). Tội lỗi rình rập để chộp lấy phần quan yếu của và phản ánh bản tính của Đức Chúa Trời nơi con người. Nó đưa đến sự hư hỏng và cuối cùng là sự chết (ChCn 11:19Gia Gc 1:15).
    Đặc Tính Tội Lỗi Trong Cựu Ước
    1. Đặc tính thần học. Trước hết, tội lỗi hoàn toàn mang đặc tính thần học; nghĩa là tội lỗi bao giờ cũng liên quan đến các chủ đích thánh khiết của Đức Chúa Trời. Trong Cựu Ước luôn có quan điểm nhất quán rằng tình trạng và hành động của con người ảnh hường đến vị trí của họ trước mặt Đức Chúa Trời; tội lỗi luôn ngăn trở ân huệ của Đức Chúa Trời. Nó quan trọng đến mức độ nào, điều đó có thể thấy được bằng cách đối chiếu các Thi Thiên về việc ăn năn thống hối trong Cựu Ước với những bài cầu nguyện tương tự trong các nền văn học khác của vùng Cận Đông. Ngoài Cựu Ước, chỉ có sự sợ hãi các thần linh vì vi phạm một số luật lệ người ta mới cần được tha thứ bằng một số lễ nghi đã được qui định. Sự thờ phượng - sẽ được chú thích rõ hơn - mang tính cách tôn giáo hơn là mang tính đạo đức, nghĩa là người ta không ý thức rằng tình trạng đạo đức của kẻ kêu cầu là chướng ngại ngăn trở sự tương giao. Họ biết mình bị đặt dưới những sắc lệnh của các thần nhưng không hề tin rằng các sắc lịnh ấy là công bằng. Sau đây là một bài cầu nguyện của người Ba-by-lôn:
    (Về) Chúa tôi - nguyện cơn giận của lòng Ngài trở về chỗ của nó...
    Vật mà vị thần của tôi cấm tôi đã vô ý ăn rồi;
    Tội ác mà tôi đã phạm - Tôi không hề biết;
    Tội lỗi mà tôi đã làm - Tôi chẳng hề hay;
    Trong cơn giận dữ của lòng Ngài, Chúa đã nhìn tôi;
    Trong cơn giận dữ của lòng mình, vị thần đã quay mặt khỏi tôi;
    Xin tha thứ các tội phạm tôi thì tôi sẽ kỷ niệm sự ngợi khen Ngài.
    Nguyện lòng tôi như lòng mẹ đã sanh con - trở về chỗ của nó;
    Về cha mẹ của ai đó đã sanh con được trở về lại nơi của nó.
    (DOTT,113-14).
    Rất có thể kẻ ấy đã không cố ý phạm tội, nhưng anh ta phủ nhận việc phạm tội có ý thức. Thật khác xa biết bao so với các Thi Thiên ăn năn thống hối của Cựu Ước, nơi bày tỏ ý thức về sự thất bại liên hệ trực tiếp với ý muốn công chính của Đức Chúa Trời (xem Thi 6, 15, 32, 51, 102)!
    2. Đặc tính khách quan. Trong Cựu Ước đã có ý thức bất biến về tính khách quan của tội lỗi. Người ta không thể bỏ qua tội lỗi mà không tìm ra thủ phạm (PhuDnl 21:1-9) nó làm ô uế đất (Dan Ds 35:33). Phải trả một giá chuộc tội (ISa1Sm 14:34, 35). Khách quan tính này phản ảnh các tiêu chuẩn về sự công nghĩa trong trật tự tạo vật cũng như được ban cho trong việc mạc khải luật pháp của Đức Chúa Trời. Trong trật tự ấy, đã có một qui định mà người ta không thể lẫn tránh hay làm ngơ như không biết đến. Châm Ngôn chương 8 vẽ ra bức chân dung rõ rệt về sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời ngay từ khi trái đất này chưa được tạo thành, vì Ngài đã đặt các ranh giới cho nó: “luôn luôn ở trước mặt Ngài ” (c.30), để đoan chắn rằng kẻ nào thiếu khôn ngoan sẽ “tự làm hại mình” mà thôi (c.36).
    3. Đặc tính ý thức và cá nhân. Tội lỗi trong Cựu Ước cũng mang tính cá nhân và tính ý thức; nghĩa là tuy tội phạm có thể không cố ý, nhưng tội là do tấm lòng đang ở tình trạng phản loạn cùng Đức Chúa Trời. Mỗi cá nhân đều “luôn có một cuộc cách mạng” (Emil Brunner, Man in Revolt, 152). Tội lỗi căn bản là một hành động tự ý nổi loạn chống lại Đức Chúa Trời và lời của Ngài (Thi Tv 51:4). Tội lỗi là từ khước quyền tể trị của Ngài (Cac Tl 10:13). Tính cách cá nhân như vậy đặc biệt thể hiện rõ nét qua các sách tiên tri khi bản tính phong phú trọn vẹn của Đức Chúa Trời được hiểu rõ và ý thức trách nhiệm cá nhân trước mặt Đức Chúa Trời được thấu đáo. Tội lỗi ban đầu là từ khước rồi sau đó là lãng quên (OsHs 4:6) đó là một kế hoạch riêng tư nhằm mục đích lìa xa Đức Chúa Trời (EsIs 30:1) đó cũng là ý thức muốn tạo ra các thần tượng để thay thế Đức Chúa Trời (OsHs 13:2). Kẻ bất nghĩa luôn nôn nả phạm tội (EsIs 59:7).
    4. Đặc tính phổ quát. Tội lỗi mang tính phổ quát ở chỗ nó xâm nhập vào mỗi bản tánh con người và hết thảy mọi người ở khắp nơi. Nó bắt nguồn từ sự hư hoại căn bản của nhân tánh, ảnh hưởng đến tất cả những gì chúng ta làm ở mức độ nào đó (đặc biệt xem SaSt 6:5). Cả đến cái gọi là tốt lành thiện hảo của chúng ta cũng chịu ảnh hưởng của sự sai lệch ấy (EsIs 64:6). Dĩ nhiên tội lỗi tự bộc lộ theo nhiều cách khác nhau. A-mốt mô tả về sự vô ơn; Ô-sê thì nói đến sự đố kỵ hay ác cảm bên trong Ê-sai thì đề cập đến thái độ tự cao tự đại; và Giê-rê-mi thì nói về sự giả dối sâu kín trong lòng. Chẳng có ai không hề phạm tội (IVua 1V 8:46, Thi Tv 53:1). Như Eichrodt ghi nhận, sự kiện mọi người đều phạm tội cho thấy rõ rằng tất cả mọi người đều nhất thiết liên hệ với Đức Chúa Trời và mối liên hệ ấy không thể bị phá hủy bởi tội lỗi (Eichrodt, II, 408). Thế nhưng điều đó không đồng nghĩa với việc chấp nhận một định mệnh thuyết bệnh hoạn khi tin rằng người ta không thể nào làm điều lành để được Đức Chúa Trời vui nhận. Như Đức Chúa Trời từng diễn giải với Ca-in: “Nếu ngươi làm lành há chẳng được chấp nhận sao? ” (SaSt 4:7). Người ta có thể làm điều đẹp lòng Đức Chúa Trời như Nô-ê và Gióp. Người ta có thể nói chắc chắn rằng: “Vì tôi đã giữ theo các đường lối Đức Giê-hô-va, chẳng có làm ác xây bỏ Đức Chúa Trời tôi ” (Thi Tv 18:21). Niềm tin ấy không phải do tự nhiên nhưng thuộc về những người đã từng trải lòng thương xót của Đức Chúa Trời và kinh nghiệm sự giải cứu Ngài. Muốn đạt được những điều đó, người ta không thể trông cậy vào sự công chính của cá nhân mà chỉ trông cậy vào sự thiện hảo của Đức Chúa Trời mà thôi (xem PhuDnl 9:4-6).
    5. Đặc tính cố định. Cuối cùng, tội lỗi có tính cố định như một phần của trật tự tạo vật sa ngã được gọi là tính gắn kết. Như giếng giữ cho nước tươi mát thể nào thì Giê-ru-sa-lem cũng lưu giữ những điều gian ác của nó thể ấy (Gie Gr 6:7). “Người Ê-thi-ô-bi có thể đổi được da mình hay là con beo có đổi được vằn nó chăng? ” (13:23). “Ai có thể biết được? ” (17:9). Sức lôi cuốn của tội lỗi rất mạnh mẽ đến nỗi Giê-rê-mi phải ví sánh như một con thú đang động dục (2:24, 25). Đó là một tình trạng tuyệt vọng như dân Y-sơ-ra-ên vẫn thường thú nhận. Nếu chỉ dựa vào nỗ lực của con người mà thôi thì Cựu Ước cũng như Tân Ước đều không đem lại chút hy vọng nào để con người có thể trở thành công nghĩa cả. Hy vọng duy nhất là tin cậy vào những lời hứa của Đức Chúa Trời để vượt khỏi tình trạng tuyệt vọng hầu nhận được ơn quan phòng cứu chuộc của Đức Chúa Trời.
    Hậu Quả Của Tội Lỗi
    1. Phạm tội. Phạm tội dẫn đến sự trừng phạt của Đức Chúa Trời. Đây không phải là hình thức báo ứng về sự rủa sả tất yếu theo như kiểu các ngoại giáo nhưng là một tình trạng xứng đáng cho cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời. Nó là một điều kiện khách quan trước khi là một ý thức chủ quan. Như chúng ta đã thấy tội lỗi xuất phát từ bản tánh cá nhân với tư cách là một tội nhân bằng hành vi bất tuân đích thực. Nếu nhận thức đầy đủ về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không khó khăn gì để nhận biết thế nào thực trạng ấy có thể tồn tại trong mối tương giao riêng tư với Đức Chúa Trời. Bản tánh Đức Chúa Trời không hề thay đổi ngay cả khi Ngài kêu gọi những người nam và người nữ đến cùng Ngài. Như vậy, phạm tội là một tình trạng khách quan có khi được nhận biết, có khi không. Có khi chỉ được biết qua sự đoán phạt (IISa 2Sm 21:1). Trong tất cả mọi biến cố, Chúa chẳng thể nào quên (Gios Gs 22:22, OsHs 13:12).
    2. Sự trừng phạt. Cuối cùng thì sự trừng phạt của Đức Chúa Trời cũng sẽ xảy ra như là đáp ứng chắc chắn cho hành vi tội lỗi. “Phải biết rằng tội chắc sẽ đổ lại trên các ngươi ” (Dan Ds 32:23). Yếu tố căn bản của sự trừng phạt, thậm chí bày tỏ qua nỗi cô đơn và thống khổ ấy là bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời (EsIs 59:2). Việc đến ra mắt Đức Chúa Trời bị từ chối (ISa1Sm 14:37-41). Sự phán xét sau cùng sẽ xóa tên kẻ phạm tội khỏi “sách sự sống” (Thi Tv 69:28) Âm phủ (Sheol) sẽ là chỗ ở cho kẻ ác (49:14). Trước đây, chúng ta từng ghi nhận Đức Chúa Trời có thể dùng cả điều ác cho những mục đích làm vinh danh Ngài và chúng ta sẽ gặp lại điều đó trong phần thảo luận về sự thờ phượng. Nhưng ở đây, thiết tưởng cần ghi nhận rằng các chủ đích của Đức Chúa Trời vẫn đạt được trong trường hợp có kẻ phạm tội (SaSt 45:8, Thi Tv 76:10) song muốn cho an toàn hơn thì nên nói đó là hậu quả hơn là mục đích của tội lỗi.

    Giao Ước
    Các ngươi đã thấy điều ta làm cho người Ê-díp-tô, ta chở các ngươi trên cánh chim ưng làm sao và dẫn các ngươi đến cùng ta thế nào. Vậy bây giờ nếu các ngươi vâng lời ta và giữ sự giao ước ta, thì trong muôn dân các ngươi sẽ thuộc về ta, vì cả thế gian đều thuộc về ta. Các ngươi sẽ thành một nước thầy tế lễ, cùng một dân tộc thánh cho ta.
    XuXh 19:4-6
    Bối Cảnh Của Ý Niệm Về Giao Ước
    Giao ước là một lời hứa trang trọng được thiết lập một cách chắc chắn bởi một lời thề có thể bằng miệng hoặc bằng một hành động tượng trưng (Mendenhall, 1962, 714). Trong Cựu Ước, giao ước được đặt nền tảng trên lời hứa của Đức Chúa Trời và là trọng tâm của ý niệm của Kinh Thánh về lịch sử. Tuy được đặc biệt chỉ về giao ước tại núi Si-nai, nhưng phạm vi đầy đủ của giao ước trải dài từ buổi khai thiên lập địa cho đến thời kỳ các tiên tri. Nó đóng vai trò nòng cốt giúp người Hi-bá-lai hiểu được mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời.
    Vào thời Julius Wellhausen - khoảng một trăm năm về trước - chỉ có một số ít học giả Cựu Ước tin rằng ý niệm về giao ước về sau mới được hình thành trong tâm thức của người Y-sơ-ra-ên. Người ta cho rằng mối quan hệ nguyên thủy giữa Chúa với dân sự Ngài hoàn toàn mang tính “tự nhiên,” nghĩa là Đức Chúa Trời được xem như một vị thần của bộ tộc, hầu như chỉ là biểu tượng của dân tộc. Yếu tố căn bản của luồng tư tưởng này được phát triển mạnh mẽ đến thế kỷ thứ mười chín. Đức tin ban sơ ấy được định hình vào thời các tiên tri cổ xưa và các vị ấy đã bổ sung thêm yếu tố đạo đức vào tín ngưỡng nên được hiểu theo phạm trù của một “giao ước” giữa Chúa với dân Ngài. Ý niệm nầy phát triển rất muộn màng trong lịch sử Y-sơ-ra-ên, cho dù ý niệm này đương nhiên được đưa vào lịch sử về đời sống sơ khai của dân tộc mà họ viết đến.
    Bắt đầu từ một thế hệ trước đây, lãnh vực rộng lớn của luật pháp và giao ước Đông phương đã được nghiên cứu nhằm mục đích tìm hiểu về bối cảnh giao ước của thời Cựu Ước. Ngay từ đầu, người ta đã thấy ý niệm về giao ước là một phương tiện tối quan trọng để điều chỉnh cách cư xử giữa người với người, nhất là trong những mối quan hệ quốc tế. G. E. Mendenhall tin rằng điều này phản ánh một truyền thờng phong phú lâu đời của luật pháp cổ nên ông đã nghiên cứu các hòa ước của lãnh chúa Hittite từ cuối Thời Đại Đồ Đồng (1400-1200TC) nhờ đó làm sáng tỏ ý niệm về giao ước của Thánh Kinh (Mendenhall 1954). Hòa ước của một quốc gia lãnh chúa là nền tảng chính thức của đế quốc. Nó giải thích những điều khoản về mối bang giao giữa nhà nước Hittite với các quốc gia chư hầu (các sắc dân thiểu số) chịu phục tùng đế quốc. Vua sẵn lòng bảo vệ cho một dân tộc với điều kiện dân tộc ấy phải ủng hộ và triều cống cho mình. Đây là cách lựa chọn duy nhất của nhiều dân tộc khi chịu sự bắt nạt bởi các đế quốc hùng mạnh hơn mình và cũng chính là phương thức an ninh cho thời loạn lạc.
    Mendenhall ghi nhận sáu yếu tố hầu như luôn được tìm thấy trong những văn bản của giao ước Hittite (Mendenhall 1954, 58-60):
    1. Phần mở đầu - Đây là lời của vua...
    2. Lời tựa mang tính lịch sử - ghi lại về sự trợ giúp trước đây của quốc gia lãnh chúa dành cho các quốc gia chư hầu và món nợ của họ đối với nhà vua vì sự giải cứu dành cho họ, lợi ích quá khứ đổi lấy sự phục tùng trong tương lai.
    3. Các khoản quy định - nêu lên những bổn phận của các quốc gia chư hầu bao gồm sự triều cống đúng kỳ.
    4. Cung ứng cống vật cho đền thờ và công bố định kỳ - để bảo đảm toàn dân đều ý thức được những bổn phận phải làm.
    5. Cầu xin thần linh chứng giám - cho cả quốc gia lãnh chúa lẫn các nước chư hầu; ngay cả núi, gió và mây đều cần được chứng giám (so sánh với PhuDnl 32:1EsIs 1:2).
    6. Những lời chúc phước và rủa sả - dành cho những kẻ tuân thủ hoặc xem thường các khoản quy định của hòa ước (đối chiếu với PhuDnl 28:1-68).
    Cho đến nay, người ta vẫn chưa tìm thấy trong Cựu Ước có chỗ nào ghi lại đúng như khuôn mẫu nêu trên, nhưng tựu trung thì các học giả Cựu Ước đồng ý rằng dạng giao ước như thế đã ảnh hưởng sự nhận thức về giao ước trong Cựu Ước. Những điểm tương đồng rõ rệt được tìm thấy ngay trong Xuất Ê-díp-tô Ký ở các chương 20-23, nhất là trong Phục Truyền. Thật vậy, Craigie nhìn thấy cấu trúc nêu trên chính là bố cục tổng thể của sách Phục Truyền. Ngoài điểm dị biệt căn bản là dân Y-sơ-ra-ên đã tự ràng buộc chính mình không phải với một vị vua nào của trần gian mà với chính Giê-hô-va Đức Chúa Trời, giao ước đó có hình thức tương tự. Việc giải thoát họ khỏi Ai Cập đã thiết lập nên mối quan hệ dành cho họ (XuXh 20:1-2), mặc dầu sau đó những lễ kỷ niệm về mối quan hệ nêu trên đã được mở rộng cho thời các tộc trưởng (Gios Gs 24:2-13). Về phần họ, họ hứa tuân thủ những khoản quy định trong Mười Điều Răn (XuXh 19:8). Bản luật pháp phải được đặt trong hòm giao ước để biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va (XuXh 25:16). Việc tái xác định giao ước một cách trang trọng rất thích đáng, như trong Giô-suê chương 24, và nhiều học giả tin rằng đây một lễ kỷ niệm hàng năm. Thậm chí lời truyền khẩu về những lời lằm bằm oán trách trong đồng vắng cũng được tiếp nhận theo một ý nghĩa mới mẻ; các khoản quy định trong những hòa ước Hittite đặc biệt nghiêm cấm việc lằm bằm oán trách nghịch lại quốc gia lãnh chúa. Cũng giống hình thức của thế gian, dân Y-sơ-ra-ên cũng bị ngăn cấm thực hiện hòa ước với các quốc gia lân bang (và dĩ nhiên cũng không được dính dáng gì tới các thần của họ nữa). Lời hứa bảo hộ của vua cũng buộc họ chỉ thần phục một mình vua đó mà thời.
    Hiện nay học giả tỏ ra cởi mở hơn với quan điểm xem ý niệm về giao ước đã xuất hiện rất sớm trong lịch sử; lẽ dĩ nhiên hiện nay giao ước đã được thừa nhận như là một phương pháp góp phần vào việc đoàn kết, khiến dân tộc sống du mục có thể thực hiện được điều đó rất sớm như thế (một mối quan hệ “tự nhiên” sẽ không hội đủ điều kiện). Như Mendenhall đưa ra kết luận: “Hiện nay thật khó phủ nhận rằng có một loại giao ước truyền thống giữa thần linh và các vị tộc trưởng, một yếu tố quan trọng trong phần di sản tiền Môi-se của dân Y-sơ-ra-ên cổ xưa” (Mendenhall 1962, 718).
    Học giả bảo thủ Meredith G. Kline (1963 và 1972) đã rút ra những hàm ý về việc xem toàn bộ Cựu Ước là một tài liệu về hiệp ước, và như thế cũng thừa nhận uy quyền vốn có của Cựu Ước. Một khi bản hiệp ước được ký kết thì không thể bãi bỏ hay thay đổi, nếu làm như vậy sẽ bị nghiêm trị. Dù mối bang giao có đổi thay thì bản hiệp ước vẫn không thể thay đổi; người ta chỉ có thể hủy bỏ nó để lập một hiệp ước mới mà thôi. Như thế, hình thức giao ước đã sẵn có trong tầm tay để cho Đức Giê-hô-va sử dụng. Kline tin rằng toàn bộ Cựu Ước có thể được hiểu là một tài liệu về hiệp ước. “Toàn bộ nền văn học được thần cảm đều bắt nguồn từ... sự thờ phượng và được kết hợp với nền văn hóa phục vụ cho giao ước nên việc mang dấu ấn của nó là điều không thể tránh khỏi” (Kline 1972, 47). Vậy đây là chủ đề của Cựu Ước: Mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với dân Y-sơ-ra-ên đặt nền tảng trên giao ước.
    Như chúng ta đã thấy trước đây, có một phần nhằm thích ứng hóa sự mạc khải, ấy là Đức Chúa Trời sử dụng các ý niệm thông dụng cho các chủ đích của Ngài, kết quả cuối cùng là tư tưởng được khai triển cách toàn hảo. Cho nên, mối quan hệ giao ước khi phát triển qua lịch sử đã mang ý nghĩa bao quát hơn lúc còn nguyên thủy. Đây là đặc điểm công tác cứu chuộc của Đức Chúa Trời: Đức Chúa Trời gặp chúng ta tại nơi chúng ta đang đứng, từ đó dẫn dắt chúng ta đi. Đến cuối cùng, chúng ta sẽ nhận thấy giao ước đã đến để đem cả thế gian vào trong giao ước và giao ước có giá trị vĩnh cửu. Giao ước nào của loài người có thể triển khai đến mức độ như thế?
    Sự Phát Triển Của Giao Ước Trong Cựu Ước
    1. Giao ước với Nô-ê. Ý niệm giao ước đã tiềm ẩn trong lời hứa với A-đam và Ê-va ở SaSt 3:15, và được phản ảnh trong lời hứa đầy khoan dung với Ca-in (SaSt 4:15) khi ông được đánh dấu để khỏi bị giết đi. Nhưng đúng ra, ý niệm giao ước không xuất hiện trước khi có lời hứa của Đức Chúa Trời dành cho Nô-ê. Cần lưu ý là ngay từ trước cơn hồng thủy, Đức Chúa Trời đã phán với Nô-ê “Ta sẽ lập giao ước cùng ngươi. ..” (SaSt 6:18). Và để minh định cho giao ước, Ngài bảo ông và cả nhà phải vào tàu. Ở đây nền tảng của giao ước là một lời hứa trang trọng và hết sức rõ ràng vì Đức Chúa Trời đã sáng tạo nên lời hứa rằng Ngài sẽ giải cứu Nô-ê và gia đình ông.
    Rồi giao ước được đóng ấn (hay tái xác nhận) sau nạn lụt (9:1-17). Cần lưu ý ở đây là giao ước không phải chỉ là sự giao kết giữa hai bên. Đức Chúa Trời đã đến với Nô-ê và các con trai ông để tuyên bố Ngài sẽ lập giao ước với họ và với mọi sinh vật. Cho nên phạm vi của lời hứa đó không chỉ giới hạn cho Nô-ê và dòng dõi ông mà thôi nhưng cho mọi tạo vật (toàn thể tạo vật được bao gồm cho thấy Đức Chúa Trời rất ít trông mong nhận được một sự đáp ứng cách có ý thức và vui lòng!). Không có những điều kiện được đưa ra và giá trị của giao ước là dành cho “mọi loài xác thịt”. Để ghi dấu cho lời hứa của Đức Chúa Trời, cái mống trở thành biểu tượng của giao ước giữa Đức Chúa Trời với thế gian (c.13). Điều vô cùng quan trọng cần nên nhớ là mục đích những hành động đầy ân sũng của Đức Chúa Trời, một ý định sau này thể hiện trong giao ước với Áp-ra-ham: để cho mọi dân tộc trên thế gian đều được phước. Đức Chúa Trời thu hẹp phạm vi cho dân tộc giao ước (covenant people), không nhằm loại bỏ một ai nhưng thông qua dân tộc được Ngài lựa chọn, tất cả mọi người sẽ nhân biết ân điển Ngài.
    2. Giao ước với Áp-ra-ham (SaSt 15:121, 17:1-27). Nền tảng của giao ước này đã xuất hiện trong giao ước ở 12:1-3, khi Đức Chúa Trời kêu gọi Áp-ra-ham hãy rời bỏ quê hương, bà con và Ngài hứa sẽ khiến ông trở thành một dân lớn. Trong Sáng Thế Ký chương 15, đáp lại câu hỏi của Áp-ra-ham về quyền sở hữu đất đai của mình (c.8), Đức Chúa Trời thực hành một nghi lễ trang trọng với Áp-ra-ham, được kết thúc trong câu 18, “Ngày đó, Đức Giê-hô-va lập giao ước cùng Áp-ra-ham ”. Không có điều gì bảo đảm chắc chắn lời hứa đó cho bằng phần nghi lễ trang trọng như vậy, có lời thề của Đức Chúa Trời đóng ấn cho (xem Gie Gr 34:18-22). Trước hết Ngài hứa sẽ ban xứ ấy (xem SaSt 17:8, câu này chỉ về nước của Đa-vít được đề cập trong 17:6 nơi mà Đức Chúa Trời đã hứa “các vua sẽ do nơi ngươi mà ra”). Rồi Đức Chúa Trời hứa rằng Áp-ra-ham sẽ trở thành tổ phụ của một dân lớn, thật ra là của “vô số các dân tộc” (17:4). Cuối cùng Đức Chúa Trời thề sẽ làm Đức Chúa Trời của họ và hậu tự của họ (17:7).
    Một lần nữa, ngay từ đầu, Đức Chúa Trời đã khởi xướng. Đức Chúa Trời là nhà vua đứng ra lập giao ước (15:18, 17:7). Cuối cùng giao ước phải trở thành đời đời (17:19) cho toàn thể hậu tự của họ. Y-sác có phần đặc biệt trong giao ước này (17:21), là người đầu tiên trong dòng dõi của nhiều hậu tự sẽ nhận biết Đức Chúa Trời là Chúa của họ và họ trở thành dân Ngài. Ích-ma-ên cũng được chúc phước nhưng rõ ràng đã bị loại trừ khỏi giao ước (17:20) rồi.
    Trong trường hợp này Áp-ra-ham và hậu tự của ông phải “giữ” giao ước (17:10-14).
    Để đánh dấu sự kiện này, mọi người nam phải chịu cắt bì (c.10). Nếu ai không chịu cắt bì sẽ bị khai trừ khỏi vòng dân sự (M. G. Kline tin rằng việc cắt bì tượng trưng cho lời rủa sả đối với ai vi phạm giao ước-1968, 43). Đây là dấu hiệu đầu tiên có tính chất song phương của giao ước. Một mặt, thật khó chấp nhận phép cắt bì là bổn phận như một điều khoản. Đúng hơn, đó là “dấu hiệu” của giao ước, “một bảo chứng xuyên suốt thời gian cho giá trị của lời thề của Jahweh” (Mendenhall 1962, 718). Cũng như trường hợp cái mống, phép cắt bì phải là dấu hiệu để nhận diện những kẻ sau này sẽ được dự phần lời hứa của Đức Chúa Trời. Mặt khác, sự tham dự với lòng biết ơn của họ vào ân điển của Đức Chúa Trời được mở rộng qua việc họ trung tín làm phép cắt bì cho con cái. Điều đó được dùng làm hình bóng cho các mạng lịnh về sau, cũng là dấu hiệu về những lời hứa của Đức Chúa Trời: phép báp-têm và Tiệc Thánh. Phép cắt bì là biểu tượng của sự thanh tẩy cho mọi đời sống, về sau được giải thích cặn kẽ trong luật giao ước. Tất cả những điều đó bày tỏ ước muốn của Đức Chúa Trời về sự tương giao với dân tộc giao ước của Ngài. Và trong khi giao ước thì vô điều kiện theo nghĩa Đức Chúa Trời chẳng bao giờ quên các lời hứa của Ngài và chẳng cần có ai làm chứng cho Ngài cả - nghĩa là những ai lấy đức tin đáp lại những lời hứa ấy - sẽ liên tục nhận được những phước hạnh của những lời hứa ấy cho mình tùy theo sự đáp ứng bởi đức tin. “Tuân thủ là điều kiện được tiếp tục ở trong ân điển ấy và cũng là kết quả chung cuộc, nó là sự đáp ứng hai chiều, nếu không có sự vâng giữ thì sẽ không thể nào có được sự tương giao với Đức Chúa Trời” (Murray, NBD, 265-66). Sau này chúng ta sẽ thấy các yếu tố có điều kiện lẫn vô điều kiện đó tiếp tục hình thành đặc điểm của mối quan hệ giao ước đó như thế nào.
    3. Giao ước Môi-se. Trong khi truyền thống về giao ước phải trở thành nền tảng cho dân Y-sơ-ra-ên thì tính cách tiếp nối các lời hứa trước đây của Đức Chúa Trời rõ ràng dành cho tất cả mọi người (xem XuXh 3:15). Những điểm tương đồng với các hình thức hòa ước quốc tế trở thành rõ rệt đến nỗi dân Y-sơ-ra-ên đã nhìn nhận điều đó thật như là nền tảng cho đời sống tín ngưỡng và xã hội của mình. Trước đây, chúng ta đã thấy điểm khác nhau căn bản của nó với hình thức hòa ước thế gian: Đức Chúa Trời đứng vào chỗ của nhà vua cai trị họ, là lãnh chúa của họ (vì ngày xưa người ta có ác cảm đối với vương quyền, Cac Tl 8:23). Cũng thật độc đáo - tiếp ngay sau điểm khác biệt thứ nhất - là việc xếp các giá trị đạo đức và thuộc linh lên trên các quyền lợi chính trị và kinh tế. Những hàm ý đó sẽ tiếp tục tồn tại với dân Y-sơ-ra-ên.
    Vậy, trước hết, dân Y-sơ-ra-ên được tuyển chọn theo quyền tể trị của Chúa, do đó họ được giải phóng khỏi ách nô lệ của Ai Cập (XuXh 19:4). Động cơ của sự việc đó về sau được giải thích là bởi tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho họ (PhuDnl 7:6-8). Thế nhưng, như đã ghi nhận, sự lựa chọn đó cũng nói lên Ngài nhớ lại giao ước với tổ phụ họ (XuXh 2:24). Tính cách liên tục đó đặc biệt thể hiện qua việc vui mừng thuật lại sự bảo vệ của Đức Chúa Trời dành cho họ trong Thi Tv 105:8-15. Chủ đích của việc Xuất Ai Cập mang ý nghĩa cứu chuộc, giải phóng dân sự khỏi ách nô lệ, khiến họ có thể thờ phượng Đức Chúa Trời trong thanh sạch và theo chân lý (điều này giúp chúng ta giải thích những phần quan trọng nhưng khó hiểu trong XuXh 3:12 cũng như XuXh 6:6-819:4-6). Tuy mối quan hệ cơ bản giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài tương đồng với mối quan hệ giữa lãnh chúa và các chư hầu như trong hiệp ước, nhưng thật sai lầm nếu chúng ta chỉ giới hạn sự hiểu biết về mối quan hệ giao ước trong Cựu Ước trong một phạm vi hạn hẹp như thế. Dân của Đức Chúa Trời còn có mối quan hệ cha con với Ngài nữa (XuXh 4:22, PhuDnl 8:5). Ngài không chỉ là lãnh chúa của họ; mà Ngài còn là cha của họ.
    Trong giao ước này có những điều khoản quy định dứt khoát. Ở đây, tuân giữ giao ước có nghĩa rộng hơn - đó là sự vâng lời của dân Y-sơ-ra-ên đối với điều Đức Chúa Trời đã khởi xướng (XuXh 19:4, 5, PhuDnl 26:16-19). Chúng ta sẽ xét kỹ hơn các điều khoản quy định này trong chương sau; chúng gồm cả phần luật lệ rõ ràng (“Ngươi chớ”) lẫn phần luật lệ tùy theo trường hợp (“Nếu... thì ngươi sẽ”). Như chúng ta sẽ thấy, các điều khoản này không được xem như một trong những nền tảng mà giao ước được đặt lên trên (nền tảng kia là lời hứa của Đức Chúa Trời)-dường như đây là một hòa ước song phương-đúng hơn là điều kiện để họ cứ tiếp tục được hưởng các phước hạnh mà lãnh chúa hứa ban cho họ. Nhưng trong trường hợp này, vì lãnh chúa là chính Đức Chúa Trời, nên các điều khoản quy định gồm đời sống vâng phục, trong đó đặc tính thánh khiết của Ngài phải được phản ánh. Ý niệm này được tóm tắt trong LeLv 19:2 “Hãy nên thánh, vì ta, Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi, vốn là thánh ”.
    Trong khi lời hứa rõ ràng trong giao ước với Áp-ra-ham không hề bị vi phạm thì điểm nhấn mạnh ở đây dựa trên các điều khoản quy định mà Đức Chúa Trời đặt cho dân Ngài. Nghĩa là giao ước đã được thiết lập trở thành có hiệu lực căn cứ trên quyết định của Đức Chúa Trời (là lãnh chúa). Chính vì sự kiện ưu tiên này - họ là dân của Chúa là vật sở hữu riêng của Ngài - cho nên họ được khuyến cáo phải phản ảnh thực tại đó bằng cách đáp ứng bằng sự vâng lời. Việc Đức Chúa Trời tuyển chọn họ được quyết định chắc chắn, không thể thay đổi gì được. Kết quả của sự vâng lời chắc chắn sẽ khiến họ tiếp tục được hưởng các phước hạnh của lời hứa ấy. Sự thách thức của giao ước đó đối với dân Y-sơ-ra-ên là chủ đề luôn luôn được nhắc đi, nhắc lại qua hai sách Các Vua - có khi còn được gọi là Lịch Sử Phục Truyền (Deuteronomic History). Trong các sách đó, sự tồn tại liên tục của họ như một quốc gia đặt nền tảng trên việc phải trung thành tuân thủ những bổn phận của giao ước. Với vương quốc phía Bắc, biến cố có tính quyết định là trọng tội của Giê-rô-bô-am (IVua 1V 13:33, 34). Đến ngày đại họa cuối cùng, tác giả cứ nhắc đi, nhắc lại lời phán xét dành cho mỗi vua bằng điệp khúc: “Người bước đi theo đường lối của Giê-rô-bô-am ”. Khi tai họa giáng xuống, người A-si-ri bắt dân Y-sơ-ra-ên làm phu tù thì lý do thật là rõ ràng: “Dân Y-sơ-ra-ên đều đi trong hết thảy tội lỗi của Giê-rô-bô-am đã phạm, chẳng từ bỏ chút nào, cho đến ngày Đức Giê-hô-va đánh đuổi họ khỏi trước mặt Ngài ” (IIVua 2V 17:22, 23). Sở dĩ những lời rủa sả của giao ước phải xảy đến vì dân Y-sơ-ra-ên phạm tội. Số phận của họ đã được an bài.
    4. Giao ước với Đa-vít. Song song với lời đe dọa dân Y-sơ-ra-ên trong Lịch Sử Phục Truyền là lời hứa dành cho Đa-vít. Ở đây một lần nữa, chúng ta thật ấn tượng về phương cách Đức Chúa Trời đã thực hiện các lời hứa của Ngài và nhắc đi nhắc lại các lời hứa đó, mỗi lần trong một khuôn khổ rộng lớn và bao quát hơn. Chẳng những Đức Chúa Trời nhớ lại các lời hứa của Ngài, mà mỗi lần nói về chúng, Ngài đều thêm vào đó thật nhiều phước hạnh, như Mendenhall nói: “Với Đa-vít, lời hứa cho các tộc trưởng được ứng nghiệm và được làm mới lại" (Mendenhall 1962, 718). Lời hứa cho Đa-vít qua lời tiên tri Na-than, được tìm thấy trong IISa 2Sm 7:12-17). Từ ngữ giao ước không xuất hiện trong đó, tuy ý niệm ấy đã tồn tại. Trong Thi Tv 89:3, 4, 27, 28 giao ước của Đức Chúa Trời với Đa-vít được mô tả bằng các điều kiện rất giống giao ước với Áp-ra-ham. Một lần nữa, đặc tính bất biến của nó căn cứ nơi sự khởi đầu của Đức Chúa Trời là rất hiển nhiên - yếu tố lời hứa đứng ở hàng đầu (Thi Tv 89:3, 4, IISa 2Sm 7:13). Tuy nhiên, ở đây một yếu tố mới đã được thêm vào: vương quốc hay đế quốc. Điều này bao gồm cả phần “lãnh thổ” là xứ mà Đức Chúa Trời đã hứa ban cho các tổ phụ, lẫn khái niệm về Đức Chúa Trời “trị vì” trên lãnh thổ đó. Vậy, dường như Đức Chúa Trời có phán bảo Ngài sẽ xem ngôi của Đa-vít như của chính Ngài và biến nó thành của riêng Ngài để bảo đảm rằng nó sẽ tồn tại mãi mãi (IISa 2Sm 7:16).
    Các hậu tự của Đa-vít được khuyến cáo hãy tuân giữ các chứng cớ Ngài để có thể tiếp tục ngự trên ngôi ấy (Thi Tv 123:12) nhưng một yếu tố mới cũng được thêm vào các lời hứa giao ước: “Nếu nó (tức là hậu tự ngươi ) phạm tội ác, ta sẽ sửa phạt nó bằng roi và thương vít loài người ” (IISa 2Sm 7:14 mặc dầu điều này cũng ngầm thể hiện trong PhuDnl 8:5). Vậy, loại phán xét đó là gì để có thể bảo đảm cho sự tồn tại của ngôi ấy?
    Bây giờ, chúng ta hãy tạm đi trước vài thế kỷ để đến với tác giả hai cuốn Sử Ký thời hậu lưu đày, là người lại muốn đưa ra nhiều nét về giao ước với Đa-vít. Nền thần học của các sách Sử Ký là một trong những phần lý thú nhất của Cựu Ước tuy thường bị bỏ quên. Được viết vào khoảng năm 400 T.C, những sách ấy là một trong những thách thức quan trọng nhất cho dân Y-sơ-ra-ên. Những người tị nạn đã từ nơi lưu đày trở về và phải đương đầu với nhiệm vụ lớn lao là tái thiết quốc gia. Họ tìm đâu sức lực để sống trong một thời kỳ bất ổn như vậy? Số dân còn sót lại đó có thể tìm được nguồn năng lực cho chính mình (vương quốc phía nam) từ các truyền thống? Câu trả lời mà tác giả các sách Sử Ký đưa ra đó là: việc tái thiết phải là một sự phục hưng. Chỉ bằng cách nhớ lại các hình thức giao ước Đa-vít đã tiếp nhận từ Môi-se và đã được thực hiện trọn vẹn nhất trong việc thờ phượng tại đền thờ, Đức Chúa Trời mới có thể được tôn thờ cách xứng đáng. Hơn nữa, họ còn phải nhớ Đức Chúa Trời là vua đích thực của họ, còn thời trị vì của Đa-vít chỉ là một dấu chỉ về thời trị vì vĩ đại hơn đó mà thôi. Nhớ lại lời hứa của Na-than, những người chép Sử Ký nhắc lại ý định của Đức Chúa Trời cho dòng dõi Đa-vít. Đức Chúa Trời đã phán với Đa-vít: “Con ngươi mà ngươi sẽ sanh ra… nó sẽ làm con trai ta, ta sẽ làm cha nó, và ta sẽ lập ngôi nước nó trên Y-sơ-ra-ên được bền vững đời đời ” (ISu1Sb 22:9, 10).
    Lời hứa này cho Đa-vít phác họa một nhà vua đời đời được nhắc lại trong Thi Tv 2:7: “Ngươi là con ta, ngày nay ta đã sanh ngươi ”. Câu này rất quan trọng mà Tân Ước đã dùng để giải thích về Đấng Christ (xem Cong Cv 13:33) rõ ràng nó muốn ám chỉ về Đấng Mết-si-a trong câu tiếp theo chỗ con trai ấy được hứa ban cho các nước làm cơ nghiệp.
    Ý niệm con trai của Đức Chúa Trời sẽ làm trung bảo cho một giao ước đời đời từ đầu đã đóng một vai trò trong những bài ca về người đầy tớ của Ê-sai. Trong EsIs 42:1, 6, Đức Chúa Trời đã chọn tôi tớ (“con trai ta” trong bản LXX) Ngài để đem công lý đến cho các nước. Đức Chúa Trời phán: “Ta sẽ phó ngươi làm giao ước cho dân này, làm sự sáng cho các dân ngoại ” (c. 6). EsIs 55:3, 4 đề cập đến giao ước đời đời của Đức Chúa Trời là “chắc thật, đã hứa cùng Đa-vít”. Ma-la-chi gọi chính nhân vật ấy là “sứ giả ta,” MaMl 3:1 “ai sẽ chịu đựng nỗi ngày Ngài đến? ”. Quyền cai trị này sẽ trên một vương quốc toàn cầu, gồm tất cả các nước mà Đức Chúa Trời đã hứa cùng Áp-ra-ham (EsIs 2:2-4), nhưng người sẽ mang đến sự phán xét (sửa phạt) cũng như phước hạnh (EsIs 2:9-12).
    Tiên tri Giê-rê-mi gọi vương quốc này là một giao ước mới (Gie Gr 51:31-34). Ghi chép giữa lúc mọi biểu tượng bên ngoài về những lời hứa giao ước của Đức Chúa Trời đều bị phá hủy ngay trước cuộc lưu đày, Giê-rê-mi nhấn mạnh Đức Chúa Trời vẫn chưa làm trọn lời giao ước với dân Ngài. Sẽ có ngày Đức Chúa Trời lại hứa lập một giao ước mới nữa, mới theo nghĩa nó sẽ không giống với giao ước trước kia tổ phụ họ đã vi phạm (c.32). Cấu trúc của câu này theo nguyên ngữ Hi-bá-lai ngụ ý rằng mặc dầu giao ước mới này sẽ thực hiện những gì giao ước kia chưa thực hiện (đóng vai trò thay thế) nhưng cũng không hề phủ nhận giao ước Môi-se.
    Bản chất của giao ước này sẽ là gì? Trước hết, nó sẽ được thực hiện “sau những ngày đó” (c.33), nghĩa là sau những hành động cứu rỗi khác nữa đã được mô tả ở đầu chương sách, là sự dựng lại và thâu góp, tập họp lại (xem c.4, 10, 16). Thứ hai, nó sẽ bao gồm việc đặt luật pháp vào trong lòng, được giải thích là sự nhận biết Đức Giê-hô-va (c.34). Giê-rê-mi biết rằng sở dĩ dân Y-sơ-ra-ên đã thất bại là do thiếu hiểu biết (xem 4:22, 8:7, 24:7). Giờ đây, sau một cuộc cách mạng nội tâm, hiểu biết sẽ là chuyện tự nhiên. Thứ ba, việc đứng trước mặt Đức Giê-hô-va cách mới mẻ này sẽ dành cho tất cả mọi người (“kẻ nhỏ cũng như kẻ lớn” c.34), không phải chỉ dành cho các tiên tri và các thầy tế lễ mà thôi. Cuối cùng, mối quan hệ mới mẻ này sẽ bao gồm cả sự tha tội (c.34), nghĩa là tội lỗi sẽ được giải quyết dứt khoát để không còn nhớ lại nữa. Ngay giữa những thảm cảnh của cá nhân và dân tộc, Giê-rê-mi đã khơi lên hy vọng cho dân sự và nói tiên tri một cách mới mẻ, sinh động về giao ước mới mà Đấng Christ sẽ đóng ấn bằng chính huyết Ngài (xem LuLc 22:20ICo1Cr 11:25).
    Ngay sau cuộc lưu đày, E-xơ-ra và Nê-hê-mi hồi hương về Giê-ru-sa-lem đã phải đối đầu ngay với chủ trương hòa đồng và ngoại giáo đang lan rộng. Việc làm rất tự nhiên là phải chú trọng vào giao ước như là lời hứa chắc chắn của Đức Chúa Trời, cũng như phải nỗ lực dùng các phương tiện chính trị để khiến luật pháp trở thành hiệu lực. Nếu việc không tuân thủ luật pháp là nguyên nhân gây ra các tấn thảm kịch cho họ, thì họ phải làm sao cho mọi người tuân thủ luật pháp. (Tuy nhiên, Mendenhall tin rằng cách khiến cho luật pháp hiệu lực đã được bắt đầu có từ thời cải cách tiền lưu đày của Giô-si-a như được mô tả trong II Vua 23). Dân chúng đã đáp lại lời kêu gọi của E-xơ-ra và thề bước đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời: “Vậy bây giờ, hỡi Đức Chúa Trời của chúng tôi, là Đức Chúa Trời rất lớn,rất quyền năng và đáng sợ, hằng giữ giao ước và sự nhân từ, xin chớ coi nhỏ mọn trước mặt Chúa các việc đau đớn cực nhọc đã giáng trên chúng tôi… Trong mọi việc đã xảy đến cho chúng tôi, Chúa vẫn là công bình… Dầu các sự này, chúng tôi lập giao ước chắc chắn ” (NeNe 9:32, 33, 38). Đức Chúa Trời đã chịu ràng buộc về lời hứa Ngài với Áp-ra-ham, cũng như dân Y-sơ-ra-ên bị buộc phải giữ luật pháp đã được ban bố tại núi Si-nai. Chính lúc đó, người chép Sử Ký đã nuôi dưỡng niềm hy vọng cho dân sự trong việc tìm gặp sự cai trị thần quyền của Đa-vít.
    Đối với các ra-bi trong giai đoạn giữa Cựu và Tân Ước, quan niệm về giao ước của các sử gia vẫn là yếu tố trọng tâm. Họ thường nói về Đức Chúa Trời là Vua, là Đấng họ thờ lạy bởi các hành động cứu giúp của Ngài. Nhưng yếu tố có điều kiện cũng nổi bật. Dân của Đức Chúa Trời phải thừa nhận vương quyền của Đức Chúa Trời bằng sự vâng lời. Trong giao ước, việc tuân thủ luật pháp khiến Đức Chúa Trời cung ứng sự chuộc tội, sự chuộc tội thiết lập (hay tái lập) mối quan hệ giao ước (các học giả thường bảo quan niệm này là thuyết duy danh về giao ước). Phao-lô muốn sửa lại một quan niệm sai lầm không phải về những đòi hỏi của giao ước, nhưng là về cách thức mà giao ước đã được thiết lập. Giao ước mới đã được thiết lập không phải nhờ giữ luật pháp mà nhờ sự chết chuộc tội của Đấng Christ và đức tin đáp lại sự chuộc tội đó nơi người tín hữu.
    Trước khi chúng ta thảo luận về một số các nguyên tắc thần học nẩy sinh từ ý niệm giao ước, có hai điều cần được giải thích. Thứ nhất là câu hỏi: Giao ước có điều kiện hay vô điều kiện? Căn cứ vào phần nghiên cứu ngắn gọn của chúng ta, chúng ta có thể thấy cách nói hoặc có điều kiện hoặc vô điều kiện đều quá giản lược đối với giao ước. Theo một ý nghĩa, giao ước Cựu Ước có hai mặt, một mặt nhấn mạnh phần lời hứa, như trong lời hứa với các vị tộc trưởng và với Đa-vít, mặt kia xuất phát từ núi Si-nai và được trường phái Phục Truyền phác họa thì dành nhiều chỗ hơn cho các điều kiện hay điều khoản quy định (tuy cũng không thiếu lời hứa hay các điều khoản quy định). Nhưng hai cái nhìn này bổ túc cho nhau chứ không mâu thuẫn nhau. Lời hứa cứu rỗi ban cho các tộc trưởng trở thành phước hạnh của giao ước núi Si-nai mà dân Y-sơ-ra-ên được hưởng bởi sự trung tín hết mực. Na-than lên tiếng để lại đề cập lời hứa về phước hạnh đời đời (II Sam 7), trong khi Ê-sai hứa về một người nối ngôi Đa-vít trung tín sẽ thực hiện giao ước phước hạnh cho toàn dân của mình. Ở điểm này hình thức hòa ước đã không bị loại bỏ, mà còn được đưa vào một lý tưởng rộng lớn hơn về giao ước sẽ được đem đến qua công lao của Con Trai Đa-vít, là Chúa Jesus, là Đấng Mết-si-a.
    Điều thứ hai liên hệ đến bản tính của ý niệm giao ước. Khi tiếp cận Cựu Ước các nhà thần học hệ thống thường nhầm lẫn khi cho rằng giao ước là một ý niệm bất biến. Chúng ta đã có nhiều bằng cớ hiển nhiên chứng minh rằng thực tại của giao ước đã mặc lấy nhiều hình thức qua diễn tiến lịch sử. Hình thức hiệp ước cung cấp một khởi điểm quan trọng làm nền tảng cho suy nghĩ của chúng ta. Nhưng chúng ta cũng nên để những cách khác trợ giúp mình nữa. Nếu chúng ta hiểu giao ước theo đúng Thánh Kinh, chúng ta phải thừa nhận đặc tính lịch sử của giao ước và để cho các sắc thái của Thánh Kinh quyết định quan điểm thần học của mình.
    Những Khía Cạnh Thần Học Của Giao Ước
    Đàng sau giao ước là ý chỉ tể trị của Đức Chúa Trời giàu ơn: “Ta sẽ làm Đức Chúa Trời các ngươi và các ngươi sẽ làm dân ta ” (LeLv 26:12). Bây giờ ý chỉ Ngài điều khiển diễn tiến đặc biệt của các biến cố. Chúng ta rất khó đánh giá cao tầm quan trọng của điều này. Bây giờ, đời sống của dân Y-sơ-ra-ên (và mỗi người Y-sơ-ra-ên nữa) đã mang lấy ý nghĩa có một không hai; chính lịch sử cũng được hướng dẫn và nhận lấy ý nghĩa. Sở dĩ như vậy vì Đức Chúa Trời đã đi vào lịch sử và tự buộc mình vào các biến cố đặc biệt mà Ngài sẽ có kết quả đời đời. Phần kết thúc chỉ được hình dung mù mờ, sở dĩ như vậy vì chính Đức Chúa Trời là Đấng đặt điều kiện và quyết định các mục tiêu.
    Điều này hàm ý rằng có một sự an toàn mới mẻ cho đời sống của dân tộc này. Giao ước một khi đã được luật pháp làm rõ sẽ giúp người ta biết mình đang ở đâu. Người ấy có thể tin vào mọi sự việc vì đời sống và lịch sử đã được ổn định. Người ta có thể tin tưởng; các thần tượng bất lực của Cận Đông hoàn toàn bị loại trừ. Đồng thời mỗi một người nam, người nữ, mỗi gia đình đều được kêu gọi hãy đầu phục bằng cách vâng lời và yêu thương. Ngoài cách đáp ứng đó, không còn thành lũy nào để bảo vệ cho sự chống nghịch Đức Chúa Trời. Tình yêu Ngài đã cung ứng phương tiện tương giao như vậy nhưng đồng thời cũng loại trừ tất cả những phương pháp khác. Với nền tảng đó bây giờ đã có thể thiết lập một trật tự xã hội và đạo đức chuẩn mực để luôn phản ánh được nền tảng đó. Trật tự đó bày tỏ qua luật pháp và sự thờ phượng mà chúng ta sẽ xét đến sau.
    Nhưng sự đòi hỏi căn bản là phải nhận biết Đức Giê-hô-va, nghĩa là vui hưởng một mối quan hệ sống động và riêng tư với chính Đức Chúa Trời. Điều này sẽ có kết quả nhiều hơn các sinh tế và các của dâng là điều chỉ bày tỏ mối quan hệ (OsHs 6:6). Tính chất thuộc linh của sự ràng buộc này chính là mục tiêu của giao ước, nó hàm chứa những ý nghĩa quan trọng. Tiềm năng của nó phủ che hết thảy mọi người, từ kẻ nhỏ nhất cho đến người lớn nhất, có thể kết hợp một cách kỳ diệu dù là phương diện cá nhân hay tập thể. Nó thật sự nối kết mọi người với nhau mà không hề giảm thiểu trách nhiệm cá nhân. Hơn nữa, mọi sự trong đời sống đều nhằm đáp ứng với Đức Chúa Trời, một đời sống khiêm nhu bước đi theo ý chỉ Ngài (MiMk 6:8). Vậy ngay từ ban đầu đã không hề có sự phân biệt giữa hai lãnh vực thiêng liêng và phàm tục của đời sống, mỗi sinh hoạt đều có tiềm năng thiêng liêng, được biệt riêng ra thánh cho Đức Giê-hô-va. Cuối cùng, ngay từ khởi điểm, sự kết hợp giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài đã có dấu hiệu về sự áp dụng phổ quát. Nó không thể xảy ra ngay tức khắc nhưng sự ràng buộc giao ước không phải nhằm loại trừ người khác. Như Eichrodt đã nói: “Sự kết hợp đó không vạch ra một lằn ranh rõ ràng để loại trừ người lạ mà luôn luôn thu hút người ngoài vào với mình” (Eichrodt, I, 39).
    Đến đây chúng ta đã có thể hiểu rõ về quan điểm lịch sử của Thánh Kinh. Mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với dân sự Ngài vốn nảy sinh từ diễn tiến của các biến cố có thật. Nó không phải một sự ràng buộc sẵn có trong thiên nhiên như hầu hết các tín ngưỡng sơ khai nhưng là sự ràng buộc mà Đức Chúa Trời đã tạo ra qua các biến cố chuyên biệt. Có thể những biến cố bây giờ - được nhìn trong mối quan hệ với chương trình này - có tính quyết định hoặc thiết yếu. Có một chiều hướng và một động lực cho những sự việc khiến chúng ta tự nhiên hướng về các biến cố quan trọng trong đời sống của Chúa Jesus ở Na-xa-rét.

    Luật Pháp
    Chẳng điều nào tự nhiên hơn là tạo vật thuộc về Đấng Tạo Hóa và chịu thần phục Ngài một cách tự nhiên.
    Chẳng điều gì trái ngược với tự nhiên và chân lý khởi nguyên hơn là một hữu thể có lý trí, được điểm trang bằng hình ảnh của Đấng Tạo Hóa lại không chịu làm tôi tớ cho Đức Chúa Trời là Đấng tạo ra mình, mà lại muốn sống ngoài vòng pháp luật,không chịu thuận phục và vâng lời Ngài.
    Cocceius, De foed
    Bối Cảnh Và Sự Phát Triển Của Ý Niệm Luật Pháp
    Từ ngữ căn bản chỉ luật pháp là tôrâh, xuất hiện khoảng 220 lần và xuất phát từ chữ yārh có nghĩa là “điều khiển, dạy dỗ, hay giáo huấn.” Nghĩa căn bản của luật pháp là “giáo huấn”. Sự giáo huấn như vậy không chỉ giới hạn trong một phạm vi luật pháp; nhưng có thể được thực hiện bởi những người cha (ChCn 3:1, 1:8), những người thông sáng (ChCn 13:14), các tiên tri (EsIs 1:10), nhưng chính yếu là bởi Đức Chúa Trời với Môi-se như là người trung gian (IISu 2Sb 33:8).
    Như chúng ta đã thấy, luật pháp nhằm thể hiện giao ước và luôn luôn đứng hàng thứ yếu sau giao ước. Điều này có nghĩa là luật pháp sẽ áp dụng giao ước vào đời sống. Ban bố luật pháp là một phần sự ban cho của Đức Chúa Trời về chính mình Ngài cho dân Ngài trong giao ước và bày tỏ cùng mục đích yêu thương như giao ước (xem XuXh 19:5, 6). Căn bản của luật pháp trong các mục đích giao ước của Đức Chúa Trời là quan trọng cho việc nhận thức đúng đắn về luật pháp. Để duy trì cơ cấu cho bất kỳ một cộng đồng nào, thông thường đều có hai yếu tố: chính sách và những thủ tục (Mendenhall 1954, 26-27). Chính sách, tuy tổng quát hơn, lại làm nền tảng cho cộng đồng. Đó là nhận thức pháp lý về phương cách duy trì đời sống. Trong trường hợp của dân Y-sơ-ra-ên, chính sách của cộng đồng thể hiện qua việc tự nhận biết mình là một cộng đồng giao ước, nghĩa là sự tồn tại như một cộng đồng dựa trên sự tuyển lựa của Đức Chúa Trời và lời hứa về sự gìn giữ của Ngài. Trong khi đó, thủ tục là những phương tiện mà nhờ đó chính sách trở nên hữu hiệu. Thủ tục bày tỏ cách cụ thể thực tại mà cộng đồng phải tự nhận thức về chính mình.
    Theo đó, luật pháp tỏ bày cho dân chúng thấy cách thức ăn ở làm sao để tương xứng với địa vị cao quý thuộc về Đức Chúa Trời. Việc ban bố luật pháp bắt đầu bằng giao ước là một mạc khải trước khi trở thành một giáo huấn (Jacob, 272-73). Dân Y-sơ-ra-ên không giữ luật pháp để trở thành dân của Đức Chúa Trời nhưng vì họ là dân của Đức Chúa Trời nên cần phải giữ luật pháp. Cả mối quan hệ lẫn việc ban bố luật pháp chứng tỏ mối quan hệ ấy đều bày tỏ ân điển của Đức Chúa Trời. Nhưng vì Đức Chúa Trời đã tự tỏ ra là Đấng cứu chuộc, một Đức Chúa Trời nhạy bén về phương diện đạo đức cho nên cách đáp ứng tương xứng nhất là trung tín vâng lời. Qua phần nghiên cứu về giao ước đã cho chúng ta thấy lời hứa của Đức Chúa Trời, theo một ý nghĩa, là có điều kiện, nghĩa là sự vui hưởng những phước hạnh của giao ước tùy thuộc vào sự đáp ứng của dân Ngài.
    1. Sự phát triển của luật pháp. Ngoài bản luật pháp được ban bố tại núi Si-nai, hầu như các tài liệu nguyên thủy mà nay được xem là luật pháp Cựu Ước đều là những quyết định riêng rẻ nhằm giải quyết những vấn nạn cụ thể (NBD, 718-19). Nếu dân Y-sơ-ra-ên gặp một vấn nạn, họ phải “hỏi các thầy tế lễ” (AgKg 2:11-13). Quyết định do thầy tế lễ đưa ra được gọi là Tor>h (MaMl 2:6, 7). Những quyết định được truyền khẩu thành những lời chỉ dẫn và được các thầy tế lễ sưu tập và lưu truyền ra. Do đó chúng ta có thể bắt gặp những lời chỉ dẫn ngắn ngủi có tính tổng quát như các câu trong Thi Tv 1:1-5, 24:4-6. Những bản liệt như vậy chắc chắn có chứa những phong tục vay mượn từ luật lệ bản xứ của Ca-na-an (như trong XuXh 22:2 “nếu kẻ trộm...chết, thì kẻ đánh chết chẳng phải tội sát nhân”) cũng như những luật lệ được ban cho Môi-se do mạc khải. Những bản sưu tập đó được tập hợp lại và được các thầy tế lễ gìn giữ trong đền thờ (PhuDnl 31:24-26). Một bộ sưu tập như vậy có lẽ rất cổ - đôi khi được gọi là Sách Giao Ước - như trong XuXh 21:1-23:33. Chúng ta sẽ nói thêm điều này sau. Bước cuối cùng để hình thành các sách luật pháp ấy là việc sưu tập và đúc kết các sách Ngũ Kinh của Môi-se (Pentateuch). Năm sách này về sau được gọi là Torah. Hình như không có phản ứng nào đáng kể khi cho rằng những sách này được hình thành do ảnh hưởng của Môi-se (người mà về sau được xem là trung gian của luật pháp) cùng với một vài tài liệu được thêm vào sau này.
    2. Những phần pháp lý căn bản. Chúng ta không thể duyệt lại toàn bộ các tài liệu pháp lý của Cựu Ước, nhưng điều quan trọng là nên thảo luận vắn tắt một vài phần quan trọng. Phần đầu tiên và căn bản nhất đó là bảng liệt kê các điều luật được biết đến như Mười Điều Răn hay Mười Lời (XuXh 20:1-17, PhuDnl 5:6-21). Tiếp theo sự công bố về giao ước trong XuXh 19:1-25, những lời giáo huấn nêu trên được hiểu là các điều khoản quy định về mối quan hệ giao ước. Bởi Đức Chúa Trời là lãnh chúa đã giải cứu họ ra khỏi Ai Cập (20:2) và hứa sẽ bảo vệ họ một cách đặc biệt, Ngài đang ở cương vị có quyền đòi hỏi họ đáp ứng. Cần lưu ý là không hề có một sự hứa hẹn nào cho việc vâng lời (ngoại trừ những người hiếu kính cha mẹ sẽ được trường thọ); họ chỉ việc vâng lời tuyệt đối (IDB, II, 81). Người ta cần phải hiểu vâng lời chính là con đường sống (PhuDnl 30:15-20), sở dĩ buộc phải như vậy vì chỉ có sự đáp ứng như thế mới thể hiện được bản chất của sự sống đích thực, chứ không phải một phương tiện dẫn đến cứu cánh đó một cách máy móc.
    Tất cả điều răn đều nhằm diễn tả cụ thể đặc tính của mối quan hệ giữa Chúa với dân Ngài. Cần lưu ý là những điều luật ấy phải đề cập đến thái độ của một người đối với Chúa cũng như đối với kẻ lân cận mình. Không có biện pháp nào được đưa ra để buộc thi hành các điều luật này (có một số điều luật, chẳng hạn như điều luật về tham lam, hầu như không thể nào buộc thi hành, bất cứ trong trường hợp nào). Vì chính bản chất của mối liên hệ đã được diễn tả là do sự đáp ứng tự do, mang ý nghĩa cá nhân của người liên quan.
    Điểm đặc biệt là chỉ có hai ngoại lệ mà qua đó các điều luật đã được diễn tả bằng những lời lẽ tiêu cực. “Không hề có một mạng lịnh nhằm thiết lập mối quan hệ với Yahweh mà chỉ có sự ngăn cấm làm diều gì hủy phá mối quan hệ đó” (W. Gutbrod, TDNT, IV, 1037). Điều này phù hợp với ý định muốn duy trì tính thuộc linh của mối quan hệ vốn được đặt trên nền tảng đáp ứng tự do của từng cá nhân. Có lẽ chính đặc tính đó đã làm cho những lời vắn tắt lại có thể gây được nhiều ảnh hưởng trên lịch sử văn minh nhân loại. Nhà nước nhờ học theo đó mà có thể bảo vệ tự do để theo đuổi các mục đích của con người, nhưng không thể tích cực nêu rõ bản chất của các mục tiêu ấy. Cố gắng làm như vậy sẽ dẫn đến một xã hội độc tài.
    Bộ luật cổ tiếp sau Mười Điều Răn đã được các học giả theo trường phái phê bình gọi là Sách Giao Ước (XuXh 21:1-23:33). Phần này bao gồm cả các luật lệ rõ ràng (ngươi chớ) lẫn các luật lệ tùy theo trường hợp (nếu... thì). Hai loại nầy đều cung ứng một số biện pháp để kiện toàn chính sách của dân Y-sơ-ra-ên. Thế nhưng ngay tại đây, cũng thiếu mất những phán quyết chính xác hay các quy tắc để đem ra sử dụng tại các phiên tòa. Trái lại, chúng chỉ là những phán quyết tổng quát và những trường hợp điển hình dùng làm kim chỉ nam cho những người được giao cho những người có nhiệm vụ thi hành. Chẳng có gì có tính duy luật để về sau trở thành nổi bật trong lịch sử dân Y-sơ-ra-ên. Thiết tưởng cũng cần phải nói đến cái gọi là luật tế lễ (priestly code, LeLv 1:1-7:38) qui định những thủ tục dâng tế lễ, và luật thánh (holiness code, LeLv 17:1-26:46) hướng dẫn về cách duy trì sự tinh sạch trong đời sống cộng đồng của Y-sơ-ra-ên. Sự tinh sạch thể hiện qua các sinh tế (Lêv. 17) và trong gia đình (18:1-30), sao cho chính nếp sống làm người của họ phản ánh được đặc tính của Đức Chúa Trời, Đấng từng kêu gọi họ “Các ngươi hãy nên thánh, vì ta, Đức Giê-hô-va, là thánh ” (20:26).
    Bộ sưu tập về những luật lệ trong PhuDnl 12:1-26:19 nhắc nhở chúng ta tính cách hợp thời của luật pháp. Có lẽ đây là gương mẫu đầu tiên về việc thực hành đọc và khẳng định luật pháp tại hội nghị các chi phái lớn - lần này được diễn ra vào thời điểm trước khi Môi-se qua đời. Điều rất có ý nghĩa ở đấy là cách dùng từ ngữ “ngày nay” (PhuDnl 5:1-3, 26:16-19, 29:10-15). Luật pháp đã được ban hành và trở nên hiệu lực vẫn chưa đủ. Mỗi thế hệ phải tự khẳng định quyết tâm vâng lời Đức Giê-hô-va. Mặt khác, mỗi thế hệ kế tiếp đều phải có cùng một mối quan hệ với Đức Chúa Trời y như thế hệ đầu tiên. Cho nên Môi-se đã triệu tập một cuộc họp thường kỳ để dân Y-sơ-ra-ên có thể hứa nguyện đáp lại lời hứa giàu ơn của Đức Chúa Trời hàm chứa trong luật pháp giao ước (31:9-13, cũng như Gios Gs 8:30-3524:1-33).
    3. Luật pháp Cựu Ước và luật pháp của các dân tộc lân bang. Thoạt nhìn, chắc chắn luật pháp Cựu Ước có vẻ tương tự với các bộ luật khác, vì thế chúng ta cần tìm hiểu quan hệ giữa chúng với nhau. Chúng ta từng thấy trong dân Y-sơ-ra-ên, chính Đức Chúa Trời là Đấng ban luật pháp đúng hơn là một vị vua. Điều này làm cho luật pháp Cựu Ước trở thành độc đáo. Về một ý nghĩa, thì toàn thể luật pháp Cựu Ước đều mang tính tín ngưỡng. Dân Y-sơ-ra-ên ý thức một cách sâu xa về sự khác biệt đó qua câu hỏi của Môi-se “Há có nước lớn nào có những mạng lịnh và luật lệ công bình như cả luật pháp nầy… không? ” (PhuDnl 4:8). Họ biết rằng “Đức Chúa Trời chẳng hề làm như vậy cho dân nào khác ” (Thi Tv 147:20). Nhưng đồng thời, những điểm tương đồng với các bộ luật của những nước lân bang cũng hết sức rõ rệt. Điều này không hề phản ánh một sự vay mượn toàn bộ, nhưng là ảnh hưởng của một bộ luật đã trở thành phổ cập (Vaux, I, 146). Chúng ta hãy xét đến mối tương quan đó một cách chi tiết hơn.
    Trước hết, bởi vì luật pháp bảo toàn mối quan hệ giao ước, nên việc thờ hình tượng bị nghiêm khắc lên án (XuXh 20:23, 22:20 vv...). Hơn nữa sự sống được xem thuộc về Đức Chúa Trời (SaSt 9:5), nếu con bò giết một người, người ta không được ăn thịt nó (XuXh 21:28-32). Vì thế án tử hình hầu như không được phổ biến như trong trường hợp bộ luật của Hammurabi (khoảng 1800 T.C). Theo luật nầy, một người làm vợ không giữ gìn tài sản mình, phải bị ném xuống sông (DOTT, 31); kẻ trộm cắp bị xử tử (DOTT, 30) cũng như là kẻ làm chứng dối trong phiên tòa (DOTT, 29). Nói chung, những điều khoản quy định về hình phạt trong Cựu Ước chứng tỏ muốn hạn chế tánh hung bạo.
    Sự kiện mọi người đều bình đẳng trước mặt Đức Chúa Trời trong mối quan hệ giao ước khiến họ không thể thừa nhận việc kỳ thị giai cấp trong luật pháp. Không có cảnh luật này dành cho người tự do, còn luật kia cho kẻ nô lệ. Dĩ nhiên các nô lệ còn được luật pháp bảo vệ chống lại các ông chủ tàn bạo và quá quắt (XuXh 21:2-6, 26, 27). Trái lại, phần lớn các bộ luật Cận Đông đều quy định nhiều hình phạt khác nhau cho một người tùy theo địa vị của người ấy ngoài đời, chẳng hạn:
    Điều 203 của bộ luật Hammurabi: nếu một công dân vả má kẻ ngang hàng với mình sẽ bị phạt một mina bạc.
    Điều 205 luật Hammurabi: Nếu một nông nô vả má một người có quy chế công dân, người ta sẽ cắt một tay của hắn (DOTT, 34).
    Bởi vì hôn nhân đặc biệt quan trọng trước mặt Đức Chúa Trời và do chính Ngài thiết lập cho nên bất kỳ trường hợp xâm phạm tiết hạnh nào cũng đều bị nghiêm trị. Trong khi tệ loạn luân bị nhiều bộ luật cổ trừng phạt thì ngoài Cựu Ước, có nhiều trường hợp ngoại lệ được luật pháp cho phép. Nhưng trong Cựu Ước, nếu một tớ gái bị đối xử không phải lẽ, sẽ phải được xem như nàng hầu vậy (XuXh 21:7-11). Nếu một người nam quyến dụ một trinh nữ, sẽ phải lấy nàng làm vợ (XuXh 22:16). Trái lại, các tội ngoại tình và tà dâm đều phải bị xử tử (PhuDnl 22:22-24). Những lời giáo huấn chi tiết trong Lê-vi ký về những mối quan hệ phải lẽ giữa người nam và người nữ đều có lời cảnh cáo đi trước là họ không nên hành động như người ta vẫn làm tại Ai Cập, nơi họ đã kiều ngụ hay trong xứ Ca-na-an, nơi họ sắp đi đến (LeLv 18:3-4). Những lời giáo huấn được kết thúc bằng lời căn dặn họ đừng tự làm ô uế mình vì cớ các phong tục tập quán đó, vì “Ta là Giê-hô-va, Đức Chúa Trời các ngươi ” (18:30). Cuối cùng, cả đến các mối quan hệ giữa người và người cũng phải phản ánh đặc tính của Đức Chúa Trời, do đó, đừng bao giờ xem xét chúng theo các điều kiện sao cho thuận lợi mà thôi. Xuyên suốt Cựu Ước, bất trung là một tội đáng sợ đến nỗi Đức Chúa Trời đã dùng điều này để minh họa cho mức độ sâu xa về sự bất trung của dân Y-sơ-ra-ên đối với Ngài (Ô-sê).
    Điểm độc đáo đặc biệt trong luật pháp Cựu Ước là có nhiều điều khoản dành cho khách lạ, người ngoại bang và người gặp bất hạnh. Có những lời giáo huấn về cách đối xử với những người bị mù và điếc (19:14), với các quả phụ, cô nhi (XuXh 22:21, 22) và với người nghèo khó (PhuDnl 15:7-11). Khách lạ nhất thiết phải được bảo vệ để khỏi bị áp bức (XuXh 23:9) như đã được giải thích: “Chính các ngươi hiểu biết lòng khách ngoại bang là thế nào, vì các ngươi đã từng kiều ngụ tại xứ Ê-díp-tô ”. Đức Chúa Trời đặc biệt quan tâm đến những người bị sa cơ thất thế, vì Ngài từng phán “Nếu… họ kêu van ta,chắc ta sẽ nghe tiếng kêu của họ ” (XuXh 22:23), Hầu như lời phán của Đấng Christ cũng từng được văng vẳng “Phước cho các ngươi nghèo khó, vì nước Đức Chúa Trời thuộc về các ngươi ” (LuLc 6:20). Trong Cựu Ước, nghèo không được xem là một đức hạnh, nhưng sự sa cơ có nguyên do từ những bất công và những nạn nhân đặc biệt của sự bất công đó cần phải được dân sự của Đức Chúa Trời cứu giúp hãy xem nó như một cơ hội Trời cho để bày tỏ sự thương xót của chính Đức Chúa Trời (xem Kidner 1972, 26-27).
    Luật Pháp Trong Cộng Đồng
    1. Sự ưu tiên của giao ước. Chúng ta đã thấy luật pháp diễn giải giao ước và đó là nền tảng của đời sống cộng đồng Y-sơ-ra-ên. Như một phản ánh bản tính của Đức Chúa Trời, luật pháp nhằm uốn nắn nếp sống của cộng đồng để trở thành nơi bày tỏ sự hiện diện của Đức Chúa Trời giữa thế gian. Đây là lý tưởng mà dân Y-sơ-ra-ên thường không thực hiện được nhưng cũng luôn gây ảnh hưởng trên cách hiểu luật pháp trong dòng lịch sử Y-sơ-ra-ên. Như vậy, trách nhiệm phán xét mang ý nghĩa rộng lớn hơn so với hiện nay. Như de Vaux giải thích: “Quan toà là người bênh vực quyền lợi hơn là người trừng phạt tội ác. Ông ta là một trọng tài công bằng” (de Vaux, I, 157; cũng như Giop G 9:33). Như vậy, vai trò của luật pháp trong cộng đồng luôn luôn đứng về phía toàn dân, chứ không phải là đặc quyền sở hữu của một giai cấp nào đó trong dân chúng.
    Luật pháp được ủy thác cho các thầy tế lễ một cách đặc biệt. Nhưng ở đây nhấn mạnh đến việc truyền dạy luật pháp để dân chúng hiểu rõ những điều Đức Chúa Trời đòi hỏi (PhuDnl 33:10). Cũng có những nhân vật đặc biệt được phó thác nhiệm vụ “đoán xét” như Môi-se (XuXh 18:16) và Giô-suê (PhuDnl 34:9) trong những ngày đầu của lịch sử Y-sơ-ra-ên. Các nhân vật gọi là “các quan xét” đến muộn hơn, điển hình nhất có thể kể đến Sa-mu-ên (ISa1Sm 7:15-17). Cần lưu ý rằng ông là người đã thi hành công lý (c.17). Điều có ý nghĩa ở đây là khi dân Y-sơ-ra-ên có vua, nhà vua không hề được xem là người ban luật pháp, cũng không hề có luật hoàng gia. Dĩ nhiên, nhà vua cũng phải phục dưới luật pháp như tất cả thần dân của mình (IISa 2Sm 11:1-12:31), tuy nhà vua có thực hiện chức năng của một dạng tòa án tối cao về những vấn đề liên quan đến luật pháp (15:2-6).
    Việc luật pháp thực thi dễ dàng trong bối cảnh đời sống hằng ngày được thấy rất rõ nơi vai trò của các trưởng lão trong làng xã. Dường như họ được ủy thác nhiệm vụ giải hòa những cuộc tranh tụng trong dân chúng (PhuDnl 21:19) và thực thi các phán quyết của pháp luật (19:12, 25:7-10). Có khi đó là những quan chức được bổ nhiệm (IISu 2Sb 19:4-11) nhưng thông thường họ là các trưởng lão hay những thành viên được nể trọng của cộng đồng. Họ minh họa mục tiêu của giao ước tại nhà hoặc nơi ngoài phố chợ; các điều khoản phải được thực hiện trong gia đình và làng xóm. Một số học giả tin rằng sự liên hệ này khiến người ở nông thôn nghi ngờ việc xem thành thị là những mảnh đất tốt đã nuôi dưỡng phong trào nói tiên tri.
    2. Luật pháp trong các sách tiên tri. Đối với các tiên tri, cấp độ mới của sự hiểu biết có nghĩa là phải thấu hiểu được sự thánh khiết của Đức Chúa Trời lẫn về ý nghĩa của luật pháp. Tuy nhiên, họ không có ý thức canh tân mà đúng hơn họ là những người đã tấn công vào việc vi phạm giao ước thuở xưa cùng những đòi hỏi của luật pháp. Trong phần thảo luận về sự thờ phượng, chúng tôi sẽ đặt ra vấn đề phải chăng các nhà tiên tri muốn đoạn tuyệt với khía cạnh nghi lễ của luật pháp. Ở đây, ít nhất cũng có thể nói rằng các vị ấy có khải tượng nóng cháy về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và những đòi hỏi của sự thánh khiết như vậy nếu đem đối chiếu thì dường như sự thờ phượng trở nên kém quan trọng hơn. Quả thật, nếu không có một nếp sống công chính theo sau thì việc đó có thể bị tố cáo là đáng ghê tởm (EsIs 1:1-31AmAm 5:21-24). Nếu luật pháp được hiểu đúng là nhằm phản ánh sự cống hiến bề trong của con dân Đức Chúa Trời thì các nhà tiên tri chỉ muốn quay về với ý hướng nguyên thủy của giao ước mà thôi. Đồng thời, khải tượng về Đức Chúa Trời của họ, với những đòi hỏi quá sâu sắc của nó đã khiến cho toàn thể ý niệm về luật pháp bắt đầu có một cái nhìn mới. Nó tìm kiếm phạm vi phổ quát hơn đối chiếu với phần cơ bản bên trong. Tất cả những điều đó đều có thể được tóm tắt trong câu nói của Mi-chê: “làm sự công bình, , ưa sự nhân từ#” (MiMk 6:8). Nhưng muốn làm như vậy cần phải có sự thay đổi triệt để đạt đến tấm lòng. Như Ê-xê-chi-ên đã nói, dân sự Đức Chúa Trời cần có một tấm lòng bằng thịt để thay thế cho tấm lòng bằng đá của họ (Exe Ed 36:26-27). Giê-rê-mi giải thích điều đó là một giao ước mới, trong đó luật pháp sẽ được viết ngay vào lòng chúng ta (Gie Gr 31:31-34). Vậy ngay từ thời Cựu Ước, sự thôi thúc đã hiện diện rồi, không phải để hủy bỏ luật pháp mà là để xây dựng nó theo cách sâu nhiệm hơn những gì mà dân Y-sơ-ra-ên có thể nhận biết.
    3. Những phát triển hậu lưu đày. Nếu chúng ta kết thúc phần thảo luận về luật pháp nầy ở đây, sẽ rất khó hiểu về một số tư tưởng đối lập của Do Thái giáo thời Tân Ước đối với luật pháp. Đấng Christ từng than phiền về người Pharisi “Các ngươi bỏ hẳn điều răn của Đức Chúa Trời để giữ theo lời truyền khẩu của mình ” (Mac Mc 7:9). Vậy những lời truyền khẩu là gì?
    Trong suốt thời gian bị lưu đày, nhiều thay đổi quan trọng đã xảy ra trong đời sống của dân Y-sơ-ra-ên. Tất cả các định chế hậu thuẫn cho luật pháp đều bị xóa bỏ, nào là nhà vua, đền thờ và sự dâng tế lễ định kỳ. Vì chỉ còn luật pháp thành văn là phần còn lại chủ yếu ràng buộc họ với quá khứ nên dân Y-sơ-ra-ên đã dấn thân trọn vẹn vào việc nghiên cứu nó. Trong thời gian đó, việc tập họp dân chúng lại để nghiên cứu học hỏi luật pháp dường như rất phổ biến (Exe Ed 33:30-33). Chính vào lúc nầy đã bắt đầu quy chế về nhà hội. Đọc và nghiên cứu kinh Torah đã thay thế cho việc tế lễ trong đền thờ.
    Sau cuộc lưu đày, luật pháp tiếp tục chiếm địa vị hàng đầu trong đời sống cộng đồng. Chúng ta từng ghi nhận giao ước dân Y-sơ-ra-ên đã xác nhận trước mặt E-xơ-ra là lời “thề hứa đi theo luật pháp của Đức Chúa Trời đã cậy Môi-se, tôi tớ Ngài, ban cho” (NeNe 10:29). Vì họ thấy quốc gia của họ đã bị tàn phá là do Đức Chúa Trời đoán phạt việc họ không tuân giữ luật pháp Ngài, cho nên họ đã quyết định sẽ không để cho việc ấy tái diễn nữa. Họ vẫn hiểu luật pháp có quan hệ với tất cả những gì mà Đức Chúa Trời đã đối xử với tổ phụ họ (9:1-38) qua đó bày tỏ giao ước mà Đức Chúa Trời đã lập với họ, nhưng ý thức bổn phận của họ đối với luật pháp và những đòi hỏi của nó có khuynh hướng khiến họ xem nhẹ và quên đi tất cả những mối bận tâm về tín ngưỡng khác.
    Hơn nữa, kết quả của việc nghiên cứu và suy gẫm của họ là một bộ luật truyền khẩu đã thành hình và trở thành có thẩm quyền ngang với bộ luật thành văn. Lý do vì tìm thấy chúng không khó khăn gì. Một mặt, địa vị trung tâm của luật pháp trong Do Thái giáo hậu lưu đày khiến nó càng trở thành quyết đoán hơn để tránh những vết rạn nứt trong luật pháp. Đồng thời, luật pháp thành văn đã không thể bao quát mọi chuyện liên quan đến chính quyền Ba Tư rồi La Mã. Cho nên khuynh hướng giải thích luật pháp để ứng dụng vào các khung cảnh đương thời đã nảy sinh. Đồng thời với nỗ lực luôn luôn muốn lập nền sự truyền khẩu trong Kinh Thánh (lẽ dĩ nhiên là chính Kinh Thánh cũng thấy trước sự cần thiết phải có việc tu sửa thích ứng như vậy - PhuDnl 17:8-26:19) nên uy quyền của nó đã thực sự trở thành đối thủ của chính uy quyền Kinh Thánh.
    Điều quan trọng hơn hết, là thái độ đối với luật pháp đó. Nó được xem là tâm điểm cần chú mục vào trong đời sống của một người. Tuân giữ luật pháp là phương tiện để được ơn trước mặt Đức Chúa Trời. Trong khi cơ nguy của luật pháp chủ nghĩa luôn luôn hiện diện, chúng ta cần nhớ rằng đối với nhiều người việc tuân thủ luật pháp là điều thích thú, người trung tín tìm được sự vui mừng lớn khi khép mình vào những đòi hỏi của nó. Hơn nữa, tiếp sau việc tuân thủ luật pháp phải là một ý hướng thanh sạch (IDB, III, 94). Quan điểm được gọi là “duy danh” (nominism) nầy, tức là biến luật pháp thành trọng tâm của đời sống, là bối cảnh nghịch lại với lập luận của Đấng Christ xuất phát từ người Pha-ri-si và để hiểu những điều Phao-lô nói khi đề cập đến luật pháp. Truyền khẩu tự chúng không đến nỗi sai lầm cho bằng việc chúng hướng người ta đến một viễn ảnh sai trật. Một khi luật pháp bị biến thành phương tiện để duy trì mối quan hệ với Đức Chúa Trời, người ta rất dễ quên chính lời hứa của Đức Chúa Trời mới là nền tảng của niềm hy vọng chúng ta. Đó là cách mà người Pha-ri-si muốn sử dụng lời truyền khẩu để “bỏ mất lời Đức Chúa Trời” (Mac Mc 7:13)
    Đặc Tính Của Luật Pháp
    1. Phạm vi bao quát. Luật pháp có một phạm vi bao quát. Sự hiểu đúng đắn luật pháp đưa người ta đến chỗ nhận biết rằng cả cuộc đời đều ở dưới quyền kiểm soát của ý chỉ Đức Chúa Trời, từ việc thức dậy buổi sáng ngồi lại ăn uống đến việc bước đi trên đường hay đi ngủ. Từ đời sống cộng đồng đến việc thờ phượng, đi làm hay ở nhà, tất cả đều nằm trong khuôn khổ của luật pháp. Vì mọi sự trong đời sống đều mở rộng trước mặt Đức Chúa Trời, cho nên đã có một sự thống nhất từ bên trong giữa các luật lệ áp dụng cho nhà nước với các luật lệ được áp dụng cho việc thờ phượng. Eichrodt giải thích rằng: “Người ta ngày càng thấu hiểu hơn qui luật của đời sống dân tộc như là mạc khải về ý chỉ cứu chuộc của Đức Chúa Trời” (Eichrodt, I, 92).
    Chúng ta cần chú ý là luật pháp rất ít quan tâm đến những trường hợp riêng lẻ, nghĩa là không nhằm nỗ lực đưa ra những luật lệ cho từng trường hợp mà người ta có thể nghĩ tới. Những nguyên tắc cơ bản được ban bố và giải thích; việc ứng dụng phó mặc cho điều mà Eichrodt gọi là một “cảm thức lành mạnh về công lý” (Eichrodt, I, 77). Trên đây, chúng ta đã thấy thường có luật tiêu cực được ban bố hơn là luật tích cực. Như vậy, ý hướng là muốn tránh sai lầm, để người ta có thể tự do theo đuổi một cuộc sống viên mãn. Tất cả những điều này được tóm tắt trong từ ngữ “đường lối” của Cựu Ước. Làm theo luật pháp là lối sống, bước đi theo con đường công chính (Thi Tv 1:1-6). Mục tiêu của luật pháp đơn giản là việc cùng bước đi tự nhiên với Đức Chúa Trời như là lý do mà mà con người được tạo dựng (EsIs 2:3).
    2. Hướng đến cá nhân. Luật pháp vốn có phạm vi bao quát nhưng cũng hướng đến cá nhân. Điều nầy có nghĩa là luật pháp được đề ra trước hết trên nền tảng những gì Đức Chúa Trời đã làm cho dân Y-sơ-ra-ên. Ngôn ngữ của nó không phải để giải thích luật pháp mà để kêu gọi, lôi cuốn từng cá nhân. Thông thường tiếp sau các điều luật là một mệnh đề đưa ra một động cơ nhằm công chính hóa (XuXh 22:21, 20:5PhuDnl 22:24). Trên hết mọi sự, chúng nhằm mục đích nhắc nhở về Đấng đã kêu gọi họ, những công việc lớn lao mà Ngài từng làm cho họ. Họ phải nhớ lại (một từ ngữ quan trọng trong Cựu Ước) và vâng giữ những lời ấy, bởi vì “Ta là Đức Chúa Trời của các ngươi và các ngươi là dân ta ” (xem 10:16-22).
    Vậy động cơ sâu xa nhất thúc đẩy họ vâng giữ luật pháp phải là một tấm lòng sẵn sàng đáp ứng, một quyết định đạo đức bên trong có tính cá nhân. Giô-suê đã khuyến giục dân sự mình tại Si-chem “Ngày nay hãy chọn. ..” (Gios Gs 24:15). Sự thúc giục bên ngoài chẳng bao giờ đủ cả, cả ý định của Đức Chúa Trời cũng vậy. Như Đấng Christ đã giải thích trong Tân Ước là tất cả luật pháp có thể tóm tắt trong việc yêu mến Đức Chúa Trời (PhuDnl 6:5Mat Mt 22:37), và về những gì cá nhân được đòi hỏi trong một cộng đồng, toàn bộ luật pháp có thể được đúc kết lại thành tình yêu đối với người lân cận như chính bản thân mình (LeLv 19:18). Sự cam kết cá nhân với Chúa giúp ta tuân giữ luật pháp theo cái nhìn đúng đắn của nó. Đọc luật pháp tách rời bối cảnh của các sách Ngũ Kinh người ta sẽ không thể lãnh hội được điều mà Đa-vít đã làm chứng: lời lẽ của luật pháp được ưa thích hơn... vàng ròng và “ngon hơn mật và ngon hơn nước ngọt của tàng ong ” (Thi Tv 19:10).
    3. Sức mạnh vô điều kiện. Luật pháp cũng chứa đựng sức mạnh vô điều kiện vì nó được đặt trên nền tảng sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, luật pháp đòi hỏi dân sự phải nên trọn vẹn (LeLv 11:44). Cho nên tất cả những ai không tiếp tục vâng giữ toàn bộ lời lẽ của luật pháp đều bị rủa sả (PhuDnl 27:26). Khi nào dân Y-sơ-ra-ên quay lại chống luật pháp thì cơn thạnh nộ về sự hình phạt của Đức Chúa Trời sẽ giáng trên họ là điều không thể tránh khỏi (36:16). Người ta nhận biết rằng không thể nào giữ luật pháp trọn vẹn được. Nhưng như chúng ta sẽ thấy trong chương sau, không phải vì thế mà có thể xem thường luật pháp. Đức Chúa Trời vốn nhân từ nhưng không phải vì vậy mà Ngài làm ngơ với tội lỗi. Nói đúng ra là đã có sự ban ơn dồi dào về giá cứu chuộc tội nhân, như chúng ta sẽ được biết. Cả khi đề cập việc luật pháp bị vi phạm, cũng cần phải giữ cho nó được nguyên vẹn. Vì vậy, Đấng ban hành luật pháp vĩ đại nhất là Đấng Christ đã có thể nói rằng Ngài đã không đến dể phá bỏ luật pháp, nhưng là để làm trọn các đòi hỏi của nó (Mat Mt 5:17).
    4. Ứng dụng phổ quát. Cuối cùng, luật pháp phải được xem là có tầm ứng dụng phổ quát. Thoạt tiên, điều nầy có nghĩa là luật pháp được áp dụng cho toàn dân Y-sơ-ra-ên bất chấp giai cấp xã hội hay địa vị chính trị. Quả thật luật pháp của dân Y-sơ-ra-ên là độc nhất vô nhị giữa vòng tất cả các dân tộc trên thế gian này nhưng không phải vì tính cách thức thời như vậy mà nó chỉ được giới hạn cho tuyển dân mà thôi, nhưng trong thực tế đã không hề có một dân tộc nào biết được một bộ luật như vậy.
    Ngay từ ban đầu, luật pháp đã chuyển hướng để vượt ra khỏi biên giới quốc gia được chứng minh rõ nét qua trường hợp của Ru-tơ. Nó dễ dàng được mở rộng để áp dụng cho khách lạ và người ngoại quốc. Cả đến kẻ thù của ai đó cũng được hưởng quyền lợi dựa theo luật pháp: “Nhược bằng ngươi gặp bò hay lừa của kẻ thù nghịch mình đi lạc, thì buộc phải đem về cho họ. Ngộ ngươi thấy lừa của kẻ ghét mình bị chở nặng phải quỵ chớ khá bỏ ngơ, phải cứu nó cho được nhẹ ” (XuXh 23:4-5ChCn 25:21).
    Những lời giáo huấn như vậy được áp dụng phổ quát hơn biết bao so với ý niệm về luật pháp của loài người! Xin đối chiếu nó với lời lẽ của Mao Trạch Đông, phát ngôn viên đại diện cho những người tự xưng mình thực lòng lo lắng cho quyền lợi của hết thảy mọi người: “Ngày nay, chúng ta không thể yêu thương bọn Phát-xít, cũng không thể yêu thương những kẻ thù của chúng ta. Chúng ta không thể yêu thương tất cả những gì là gian ác và xấu xa trên đời này. Chúng ta phải đặt mục tiêu diệt trừ chúng” (Diễn văn đọc tại Diên An năm 1942).
    Không phải dân Y-sơ-ra-ên luôn luôn trung thành với vai trò của mình như là ánh sáng và nguồn phước cho mọi dân tộc, nhưng chính sự hiện hữu của họ cùng giao ước như là nền tảng nói lên rằng một ngày kia tất cả mọi người từ những người nhỏ nhất đến những người lớn nhất đều có thể nhận biết Đức Giê-hô-va. Trong ngày đó, tất cả các dân tộc sẽ kéo nhau lên núi của Đức Giê-hô-va để được dạy về đường lối của Ngài (EsIs 2:2-4). Chính vì vai trò truyền đạt một khải tượng như thế nên dân Y-sơ-ra-ên là một “giao ước cho dân tộc, ánh sáng cho các dân, để mở mắt kẻ mù, làm cho kẻ tù ra khỏi khám, kẻ ngồi trong tối tăm ra khỏi ngục ” (EsIs 42:6-7). Để đóng trọn vai trò của mình, họ cần phải có một nhân vật vĩ đại hơn Môi-se, đó chính là Đức Chúa Jesus Christ, là Đấng mà ngay trong bài giảng đầu tiên đã trích dẫn sách (EsIs 61:1-2) và phán rằng việc ban ánh sáng cho người mù và giải phóng kẻ bị giam cầm mà họ vừa nghe đọc đó đã được ứng nghiệm hôm nay (LuLc 4:18-21), Ngài phải làm trọng tài cho giao ước mới mà trong đó, như Giê-rê-mi đã nhìn thấy trước, luật pháp sẽ được viết ra trong lòng người ta và cuối cùng thì sự tranh chiến giữa việc làm bề ngoài với ý hướng bề trong chắc chắn sẽ được giải quyết (Gie Gr 31:31-34).

    Sự Thờ Phượng
    Đức Chúa Trời không truyền lệnh dâng sinh tế để những kẻ thờ phượng Ngài phải bận rộn với những lễ nghi thế tục. Ngài đã làm như vậy đúng hơn là để nâng cao tâm trí của họ. Điều này cũng có thể hiểu được từ bản chất của Ngài: Ngài là thần linh, vì thế chỉ có sự thờ phượng bằng tâm linh mới làm cho Ngài thật sự vui thích.
    Calvin, Institutes
    Nhu Cầu Hình Thức
    1. Hình thức và sự thờ phượng. Thờ phượng là sự đáp ứng của tấm lòng tín nhân đối với Đức Chúa Trời. Thờ (Cult ) là thuật ngữ mà các sinh viên Thánh Kinh thường sử dụng để nói về nghi lễ và hình thức của sự thờ phượng Cựu Ước. Sự thờ phượng chỉ có nghĩa là hình thức đáp ứng của dân Y-sơ-ra-ên đối với sự mạc khải của Đức Chúa Trời. Sự thờ phượng được mô tả trong Cựu Ước nhấn mạnh rằng mọi sinh hoạt của dân Y-sơ-ra-ên đều ở dưới uy quyền của Đức Chúa Trời. Họ không thể đến với Chúa một cách tùy tiện, mặc dầu vẫn có nhiều trường hợp tự phát như chúng ta sẽ thấy. Vì chính trong lĩnh vực này họ cũng cần đến sự dẫn dắt của Chúa nữa (XuXh 20:24). Mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời đã được thiết lập, được tái xác nhận và được làm mới lại trong sự thờ phượng.
    Sự thờ phượng mà Đức Chúa Trời truyền phán cho dân Y-sơ-ra-ên là hành động cụ thể hóa đức tin của mình. Có lẽ chúng ta phải dừng lại một chút ở điểm này vì những Cơ Đốc nhân Tin Lành không dễ dàng nắm bắt được giá trị của hình thức thờ phượng. Chúa chẳng từng phán rằng kẻ thờ phượng thật phải lấy tâm thần và lẽ thật mà thờ phượng đó sao? Phải chăng mọi hình thức thờ phượng đều bị đồng hóa với việc thờ lạy hình tượng và những nghi lễ đều vô nghĩa? Tất cả những điều đó đều đúng và chân lý ấy cũng từng được tỏ bày trong Cựu Ước rồi. Nhưng bất cứ niềm tin chính thống nào cũng tự bày tỏ ra bên ngoài. Niềm tin luôn cố gắng thể hiện. Chúng ta cũng không nên cho rằng hình thức chỉ đóng vai trò thứ yếu. Như Eichrodt từng nhắc nhở chúng ta: “Đối với con người của thế giới cổ xưa (và có lẽ cũng đối với nhiều người ngày hôm nay nữa) hình thức bên ngoài luôn mang một ý nghĩa biểu tượng, hoàn toàn khác với ý nghĩa thực tiễn của nó trong cách nhìn của người Tây phương hiện đại” (Eichrodt, I, 99). Trong trường hợp này, chúng ta cần nên nhớ rằng chính Đức Chúa Trời đã truyền cho con dân Ngài cần phải bày tỏ đặc tính của mình ra một cách cẩn thận khi thực thi những bổn phận nào đó (PhuDnl 30:16). Và trong khi Tân Ước đã khiến cho phần lớn hình thức ấy trở nên không cần thiết thì giao ước mới này vẫn không hề loại bỏ nhu cầu bài trí trong sự thờ phượng của chúng ta.
    Con người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời một phần liên hệ đến khả năng chúng ta có thể tạo những đồ vật hay hành động cụ thể biểu tượng cho những giá trị của chúng ta. Điều này tối thiểu đúng theo hai ý nghĩa. Một là hành vi của chúng ta nhằm để khẳng định - xác nhận và nhắc nhở chúng ta - về đức tin và sự cam kết của chúng ta. Như Gustav Oehler đã nói, những dấu hiệu bên ngoài đã trở thành những “công cụ dạy dỗ hay giáo huấn, từ bên ngoài vào bên trong” (Oehler 1880, I, 264). Mặt khác, những hình thức này cũng có thể là phương tiện khiến cho nhận thức của chúng ta về Đức Chúa Trời trở nên gần gũi. Bữa ăn và nghi thức của Lễ Vượt Qua đã thật sự giúp ích cho các thế hệ Y-sơ-ra-ên sau này nhận thức rõ về phép lạ Đức Chúa Trời đã làm để giải thoát dân Ngài ra khỏi Ai Cập; những lễ dâng đã khắc họa được lòng nhân từ của Chúa. Điều này không hề có ẩn ý gì về ý nghĩa nội tại của các sự vật ấy cũng không tự động xảy đến, song chúng chỉ là những phương tiện chuyên chở hữu hiệu lẽ thật của Đức Chúa Trời.
    Thật ra thì hình thức đó cũng giới hạn mối quan hệ giữa chúng ta với Đức Chúa Trời. Nhưng chính điều đó cũng cho thấy rằng chúng ta chỉ là loài thọ tạo. Cho nên giới hạn là điều không thể tránh khỏi. Người theo Chúa biết rằng sự tự do thật không phải là làm những gì chúng ta muốn nhưng là bước đi trong đường lối mà Đức Chúa Trời đã vạch ra cho chúng ta. Đây là điều Đức Chúa Trời muốn con dân Ngài phải hiểu.
    Dĩ nhiên cũng chẳng nên coi thường nguy cơ lấy việc tuân thủ bên ngoài thay thế cho thực tại bên trong. Thật vậy, Cựu Ước rất ít khi mô tả về sự quân bình thích hợp cần phải có giữa phần ngoại tại và nội tại. Qua A-mốt, Đức Chúa Trời đã phán bảo với dân chúng rằng Ngài khinh dể các kỳ của lễ của họ (AmAm 5:21). Nhưng chắc chắn điều Ngài muốn nói đến ở đây chính là một khi họ không còn có một đức tin năng động nữa thì hình thức thờ phượng chỉ trở nên vô nghĩa mà thôi. Hình thức chủ nghĩa luôn luôn là mối nguy cho sự thờ phượng, nhưng không vì thế mà hủy bỏ mọi hình thức thờ phượng.
    Cuối cùng thiết tưởng cần nên nói về đặc tính cơ bản của các hình thức thờ phượng. Đức Chúa Trời phải giáo huấn dân Ngài về phương thức thờ phượng không phải chỉ vì họ không biết cách thờ phượng mà còn bởi vì họ không xứng hiệp cho sự thờ phượng. Họ vốn là tội nhân nên không thể nào đứng trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Luật pháp đã ban cho việc tẩy sạch, việc dâng của lễ - tóm lại là sự chuộc tội. Điều này có nghĩa là những lời giáo huấn ấy chẳng những đem lại cho dân Y-sơ-ra-ên một phương cách để bày tỏ đức tin của mình mà còn thay mặt Đức Chúa Trời để cung cấp cho họ con đường để quay về với mối tương giao và thông công đã từng bị gãy đổ. Sự chuộc tội và sự cứu chuộc, như chúng ta sẽ thấy, chính là tâm điểm và cốt lõi của sự thờ phượng Cựu Ước.
    2. Vị thế của sự thờ phượng trong tín ngưỡng Cựu Ước. Những nghi thức của sự thờ phượng đóng vai trò quan trọng trong việc bày tỏ những thực tại của tín ngưỡng Cựu Ước bằng những hình thức bên ngoài. Những nghi thức này là cách bày tỏ tín ngưỡng Cựu Ước cách công khai, mang tính xã hội, không thể thêm hay bớt. Mối quan hệ thiết thân giữa đức tin và sự đáp ứng đó có thể được hiểu rõ hơn khi nghĩ sự thờ phượng như là biểu tượng (symbolic) và hình bóng (typical) (xem Vos, 161-64).
    Sự thờ phượng mang tính biểu tượng có nghĩa là nó được thể hiện ra bằng phương thức hữu hình để minh chứng cho thực tiễn mối tương giao thuộc linh với Đức Chúa Trời. Biểu tượng là một đồ vật hay một hành động có thể hướng con người vào môi trường của họ nhờ đó họ xây dựng thế giới của riêng mình. Nhưng những nghi thức thờ phượng của Cựu Ước còn có một chiều kích mầu nhiệm sâu xa hơn khiến tạo nên một đặc tính khách quan. Chẳng hạn như đền thờ nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên về sự hiện diện của Đức Chúa Trời, nhưng - nhờ lời hứa của Đức Chúa Trời và các sinh tế được dâng lên tại đó - thực sự cũng là trung gian cho sự hiện diện của Ngài. Bên trong nơi chí thánh, động tác của thầy tế lễ vào ngày đại lễ chuộc tội cũng chính là những động tác của dân chúng hướng về Đức Chúa Trời, điều mà Ngài cho phép bởi lòng nhân từ của Ngài.
    Nhưng sự thờ phượng đồng thời cũng có tính cách hình bóng. Điều này có nghĩa là nó có tính dự báo. Trong chính những giới hạn của nó, sự thờ phượng báo trước về những gì sẽ thực sự xảy đến trong tương lai. Sự thờ phượng Cựu Ước nặng về tương lai. Đền thờ khiến người Hi-bá-lai phải mong ngóng đến một ngày vào thời kỳ sau rốt sẽ trở thành nơi ngự của Đức Chúa Trời giữa loài người (KhKh 21:3). Đối với các Cơ Đốc nhân, khi được biết về khải tượng của Giăng, không chỉ là sự hữu ích mà còn khiến họ cảm kích sâu xa hơn về sự thờ phượng tại đền thờ. Họ sẽ cảm nhận được sự vui mừng tột bậc: “Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi rằng: Ta hãy đi đến nhà Đức Giê-hô-va ” (Thi Tv 122:1).
    Việc thờ phượng trong đền thờ không phải bị loại bỏ nhưng là được nâng cao vai trò cũng như được nhìn dưới một ánh sáng mới. Luật pháp đã được hoàn thiện, thành toàn chứ không hề bị hủy bỏ. Rõ ràng nhất là qua sự hy sinh của Đấng Christ, Đấng đã thực hiện và kiện toàn hệ thống tế lễ Cựu Ước. Nếu chúng ta không cảm nhận được ý nghĩa phong phú của hình bóng mang tính tiên tri - như là bóng - thì chúng ta cũng sẽ không hiểu đúng được ý nghĩa của thực tại - như là hình. Chẳng hạn khung cảnh thờ phượng mà các Thi Thiên được sử dụng hầu như cũng quan trọng như chính những Thi Thiên đó, vì đó là một kiểu mẫu được Chúa sắp đặt có ý nghĩa tương quan với sự hy sinh của Đấng Christ. Như chúng ta đã thấy trong phần dẫn nhập, hình bóng học (typology) được sử dụng khá phổ biến trong Hội Thánh đầu tiên nhờ nhấn mạnh đặc tính lịch sử của mạc khải. Nhưng như Vos ghi nhận, một điều gì đó không thể là hình bóng nếu ban đầu đó không phải là một biểu tượng (Vos, 154). Kết hợp cả hai khía cạnh - hiện tại và tương lai - giúp chúng ta có thể tránh được cám dỗ gán cho sự việc nào đó một ý nghĩa hình bóng mà thật ra nó không có.
    Những Nơi Chốn Thiêng Liêng
    Mặc dầu rõ ràng là Đức Chúa Trời ngự trên trời (SaSt 11:5, XuXh 19:11IVua 1V 8:27) nhưng Ngài vẫn chọn những nơi chốn đặc biệt để gặp gỡ dân Ngài. Với tộc trưởng Gia-cốp, Bê-tên - nghĩa là nhà của Đức Chúa Trời - đã trở thành một nơi chốn đặc biệt, vì tại đó Đức Chúa Trời đã gặp ông trong một giấc chiêm bao. Núi Si-nai đã trở thành thiêng liêng theo sự truyền tụng của người Y-sơ-ra-ên vì Đức Chúa Trời đã hiện ra với Môi-se tại đó. Dân Số Ký chương 14 đã thuật về vinh quang của Đức Giê-hô-va khi Ngài hiện ra với dân sự tại Ca-đe và cảnh cáo họ do sự lằm bằm oán trách Chúa. Sở dĩ đền tạm và đền thờ được tôn trọng bởi vì chúng được đồng nhất hóa với sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Về trường hợp của đền thờ thì Đức Chúa Trời có phán: “Danh ta sẽ ngự tại đó ” (IVua 1V 8:29). Cũng có thể hiểu rằng Ngài sẽ ngự tại đó vì danh Ngài là biểu tượng của hiện diện Ngài. Tuy nhiên, những hình thức hiện diện của Ngài như vậy cũng thật sự chứng tỏ Ngài không hề bị hạn chế trong những nơi chốn đó. Xét về một ý nghĩa, theo như EsIs 6:3 thì khắp đất đều đầy dẫy vinh quang Đức Chúa Trời. Nhưng đã có những lúc, những nơi, qua các hình thức trung gian, vinh quang ấy trở nên đặc biệt rõ ràng đối với loài người tội lỗi.
    Có một nguy cơ luôn đe dọa đó là người Y-sơ-ra-ên rất dễ tin rằng Đức Chúa Trời bị giới hạn tại những nơi chốn ấy. Gia-cốp có thể đã từng nghĩ như vậy khi ông cho rằng Bê-tên là chỗ đáng khiếp sợ, vì Đức Chúa Trời đã từng hiện diện tại đó. Dân Y-sơ-ra-ên được nhắc nhở liên tục rằng Đức Chúa Trời đã chọn những nơi đó để tự mạc khải về mình nhằm bày tỏ tình yêu và sự thành tín với những gì Ngài đã hứa. Không cần phải liên hệ Đức Chúa Trời với một địa danh nào cả. Cũng không nên sử dụng những địa danh đó như những lá bùa hộ mệnh, như một số người từng sử dụng đền thờ vào thời của Giê-rê-mi (Gie Gr 7:4). Ở đây, một lần nữa cho thấy đức tin của người Y-sơ-ra-ên cần phải tách biệt với đức tin của các dân tộc lân bang mình. Đức Chúa Trời của họ không hề bị đồng nhất hóa với đất đai hoặc những tiến trình tự nhiên. Nếu Đức Chúa Trời có thể xuất hiện ở bất kỳ nơi đâu và ở bất cứ hoàn cảnh tự nhiên nào thì Ngài chính là Đức Chúa Trời thiện hảo và là Chúa tể của cả thế gian này.
    Tuy nhiên, cách duy nhất để dân Y-sơ-ra-ên có thể nhớ lại những nơi mà danh Ngài đã được tỏ ra chính là sự cụ thể hóa đặc tính lịch sử về sự đối đãi Ngài đối với dân sự mình. Đức Chúa Trời không phải chỉ sống trên thiên đàng hay cai trị thế giới theo nghĩa chung chung mà Ngài còn tỏ rõ năng lực và uy quyền Ngài tại những nơi chốn đặc biệt, những nơi mà Ngài đã hiện ra để cứu giúp. Gắn bó với một địa danh cũng có thể là phương thức phù hợp để bày tỏ đức tin nơi Đức Chúa Trời, Đấng từng hướng dẫn dân mình trong tiến trình lịch sử.
    Đồng thời, những địa danh đặc biệt là nơi Đức Chúa Trời gặp gỡ dân Ngài, có thể nói sự gặp gỡ Chúa và việc được đứng trước mặt Ngài được xem như mục tiêu cao cả nhất của một đời người và cũng là tuyệt đỉnh của hạnh phúc (xem Thi Tv 15:1-5, 24:1-10). Thật vậy, đền tạm còn được gọi là “hội mạc.” Nhưng dầu nơi nào chăng nữa thì việc gặp gỡ Đức Chúa Trời thường diễn ra với phản ứng sợ hãi. Trong trường hợp của Ê-sai thì đáp ứng của ông là sự nhận thức sâu xa về tính cách bất xứng của mình (EsIs 6:5). Tất cả những điều đó nhắc nhở chúng ta khi gặp gỡ Đức Chúa Trời thật sự phải bao gồm cả sự đoán xét trước khi được tận hưởng niềm vui. Điều này thể hiện rõ trong những Thi Thiên đã được đề cập đến trước đây: “Hỡi Đức Giê-hô-va, ai sẽ ở trên núi thánh Ngài? ” (Thi Tv 15:1). Vậy nơi Đức Chúa Trời cung ứng cho sự gặp gỡ cũng phải là nơi của sự thanh tẩy và sự tha thứ.
    Trong bất kỳ biến cố nào loài người cũng không thể gặp được Đức Chúa Trời, trừ khi họ tận dụng những nơi chốn mà bởi ân điển Chúa, Ngài đã cung ứng cho việc gặp gỡ, vì nếu Ngài không hạ cố thì con người không còn cách nào khác để được biết Ngài. Chính vì thế tác giả Thi Thiên đã mô tả niềm vui về viễn cảnh đi đến nhà của Đức Chúa Trời (22:1). Phương thức này vẫn cần cho đến khi sự tự mạc khải của Đức Chúa Trời thể hiện qua một phương thức khác và các địa danh trên được công bố là không còn ý nghĩa đặc biệt nữa. Sự mạc khải đó đã đến với Đấng phán rằng: “Hãy phá đền thờ này đi (đền thờ là nơi hội họp, tuy nhiên văn mạch cho thấy Ngài cũng ngụ ý nói về thân thể Ngài), trong ba ngày ta sẽ dựng lại ” (dựng lại ám chỉ về sự phục sinh của Ngài) (GiGa 2:19-21 và xem 1:14 để thấy rằng “ở” cũng có nghĩa là đóng trại).
    Thời Điểm Thiêng Liêng
    Một số mùa trong năm đã được Đức Chúa Trời định làm những lễ hội tôn giáo. Tất cả các quốc gia lân bang của Y-sơ-ra-ên cũng có những mùa của lễ hội tín ngưỡng, nhưng lễ hội của họ rất khác với những lễ hội của Y-sơ-ra-ên. Tại Mesopotamia và Ugarit, các nghi lễ nhằm mục đích tôn vinh các thần để bảo đảm cho đất đai được phì nhiêu trong năm tới. Tuy nhiên, với người Hi-bá-lai, bản thân của mùa màng đã bày tỏ được sự thiện hảo của Đức Chúa Trời rồi. Mùa gặt nhắc nhở họ rằng mọi tặng phẩm tốt lành đều từ nơi Đức Chúa Trời mà đến, chính vì lý do đó mà lễ hội được đặc trưng hóa bằng sự vui mừng và kỷ niệm. Một khi nhớ lại, họ chứng tỏ thái độ vâng phục với Đức Chúa Trời đồng thời cũng chúc tụng về quyền cai trị trên cõi thiên nhiên mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ.
    1. Lễ Bánh Không Men. Niên lịch Hi-bá-lai được đánh dấu bằng ba ngày đại lễ. Trước hết là lễ Bánh Không Men, được cử hành vào tháng giêng trong năm, và được đồng nhất hóa với lễ Vượt Qua từ lúc ban đầu (LeLv 23:5, XuXh 23:14-15, Gios Gs 5:10-12, về ý nghĩa của ngày Lễ Vượt Qua xem XuXh 12:21-27). Suốt bảy ngày, họ phải ăn bánh không men, trong khi ngay ngày thứ nhất họ phải nghỉ, không làm việc gì cả, và phải dâng các của lễ. Suốt kỳ lễ này, họ kỷ niệm về thời gian chịu làm nô lệ và được Đức Giê-hô-va giải phóng khỏi Ai Cập. Lễ được cử hành bằng một cuộc họp mặt trong gia đình để họ lặp lại phần nghi lễ về Lễ Vượt Qua. Khi con cái họ có hỏi: “Lễ này có nghĩa gì?” Cha mẹ sẽ trả lời: “ Ấy là của tế lễ Vượt Qua của Đức Giê-hô-va, vì khi Ngài hành hại xứ Ê-díp-tô, thì Ngài đi vượt qua các nhà dân Y-sơ-ra-ên, và cứu nhà chúng ta ” (XuXh 12:26, 27). Với sự diễn thuật lại như vậy, họ đã truyền rao ân điển cứu chuộc của Chúa cho nhau, về phía bản thân mỗi người thì tái xác nhận đức tin của mình nơi Chúa.
    2. Lễ Các Tuần. Lễ Các Tuần còn được gọi là Lễ Mùa Gặt hay mùa hoa quả đầu tiên, là ngày lễ dâng các hoa quả đầu mùa cho Đức Giê-hô-va (XuXh 23:16, Dan Ds 26:31, PhuDnl 16:9-12). Lễ này còn được gọi là Lễ Ngũ Tuần, vì được cử hành năm mươi ngày sau khi bắt đầu mùa gặt. Về sau, ngày lễ được tính theo ngày bắt đầu Lễ Vượt Qua, và đến thời Đấng Christ, có một số nhóm người đồng nhất hóa nó với ngày ban luật pháp trên núi Si-nai, một số khác thì đồng nhất hóa nó với ngày tái lập giao ước. Điều khá lý thú, là cả hai ngày ấy cùng được ứng nghiệm vào ngày lễ Ngũ tuần trong Công Vụ Các Sứ Đồ chương 2. Đây cũng là kỳ lễ vui mừng để dâng các của lễ lạc ý thuộc về mùa gặt cho Đức Giê-hô-va, như PhuDnl 16:10 có chép: “...tùy theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban phước cho ngươi. ” Một phần những lời chỉ dạy về ngày lễ có nói rõ họ sẽ “vui mừng trước mặt Đức Giê-hô-va ”- cả gia đình, những tôi tớ và khách viếng đều cùng họp mặt với họ. Mọi người cùng nhau vui mừng và nhớ lại rằng chẳng những Đức Giê-hô-va đã ban cho họ mùa gặt, mà sự cung cấp của Ngài còn là một phương cách để bày tỏ sự chăm sóc dấu yêu của Ngài bao gồm luôn cả việc giải cứu họ ra khỏi Ai Cập (PhuDnl 16:12). Không ai nghĩ rằng Đức Chúa Trời bị thúc bách trong việc điều khiển mọi tiến trình luân chuyển của cõi thiên nhiên, hay nhờ các của lễ mà có thể khiến cho Ngài nguôi giận. Trái lại, như R. J. Thompson đã từng phát biểu: Có niềm vui khi nhìn nhận rằng tất cả mọi sự đều thuộc về Đức Chúa Trời và các trái đầu mùa được dâng lên thay cho toàn thể mùa màng với lòng biết ơn (NBD, 1116). Chúng ta sẽ thấy được là đặc tính thay thế này hết sức quan trọng trong tất cả những trường hợp thờ phượng của người Hi-bá-lai.
    3. Lễ Lều Tạm. Ngày đại lễ thứ ba hằng năm là lễ Lều Tạm hay lễ thâu trữ mùa màng. Dân sự phải ở trong các nhà lều lợp bằng nhánh cây suốt bảy ngày (LeLv 23:39-43, XuXh 23:16, PhuDnl 16:13). Ngày thứ nhất và thứ tám là những ngày nghỉ. Một lần nữa, bầu không khí vui mừng phải là đặc điểm cho kỳ lễ được cử hành trong bảy ngày này. Suốt thời gian đó, chẳng những họ phải kỷ niệm việc Đức Chúa Trời đã cung ứng phần vật thực cho mình mà Ngài còn hướng dẫn và bảo vệ họ trong đời sống tại các nhà lều sau khi ra khỏi Ai Cập. Trên hết mọi sự, điều này thực sự xác nhận rằng Jahweh chính là Đức Chúa Trời của họ (LeLv 23:43).
    4. Lễ Chuộc Tội. Ngoài ra còn có nhiều ngày đặc biệt khác nữa. Trước hết là ngày lễ Chuộc Tội (16:1-34), sẽ là ngày nghỉ trang trọng, trong đó người Hi-bá-lai phải tự “tiết dục” và dâng của lễ chuộc tội cho toàn dân. Đây là ngày quan trọng nhất để ăn năn và dâng của lễ. Đức Chúa Trời đã truyền dạy rằng phải dâng các sinh tế và của lễ hằng ngày, hằng tuần, nhưng cả đến những của lễ như thế vẫn chưa đủ để khỏa lấp, che đậy tội lỗi. Cho nên, vào ngày ấy, thầy tế lễ thượng phẩm đem huyết chuộc tội vào nơi chí thánh để làm lễ chuộc tội cho các thầy tế lễ và cho toàn dân “vì cớ tất cả tội lỗi của chúng ” (16:34). Chắc chắn đây là một lễ kỷ niệm long trọng, nhắc nhở mọi người rằng họ không thể nào vui vẻ trong mối quan hệ với Đức Chúa Trời, bởi trước hết phải giải quyết vấn đề tội lỗi. Điều có ý nghĩa trong ngày này, là con dê đực gánh tội, người ta chất lên đầu nó tất cả tội lỗi của toàn dân trước khi đuổi nó ra ngoài đồng vắng. Như đã được giải thích: “Con dê đực đó gánh trên mình các tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa ” (16:22). Một lần nữa, đặc tính thay thế trong việc chuộc tội đã được khắc họa hết sức rõ ràng.
    5. Ngày Sa-bát. Cứ mỗi bảy ngày, phải giữ ngày thứ bảy làm ngày Sa-bát (PhuDnl 5:12-15, XuXh 23:12). Tuy điểm nhấn mạnh lại là sự yên nghỉ và bổ sức (cả cho súc vật, tôi tớ và khách lạ nữa) nhưng mục đích ưu tiên vẫn là làm mới lại sự thông công với Đức Chúa Trời. Như Eichrodt đã nói: “Chẳng có công việc gì, dầu cấp bách đến đâu lại có quyền ngăn trở người ta tìm kiếm sự thông công thường nhật của mình” (Eichrodt, I, 133). Một lần nữa, họ được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời đã dùng bàn tay mạnh sức của Ngài đem họ ra khỏi Ai Cập, do đó họ phải giữ ngày Sa-bát (PhuDnl 5:15).
    6. Lễ tái lập giao ước. Cuối cùng thiết tưởng nên ghi lại giả thuyết của một số học giả (trong đó có S. Mowinckel và H. J. Kraus) rằng còn một ngày lễ nữa mà Kinh Thánh không nói cụ thể được cử hành như một kinh nghiệm tín ngưỡng của toàn dân Y-sơ-ra-ên. Một số Thi Thiên dường như cũng đề cập đến ngày lễ đó. Có lẽ những ngày lễ tái lập giao ước ban sơ (PhuDnl 27:11-26, Gios Gs 8:30-35) đã phát triển suốt thời kỳ quân chủ trở thành một lễ Năm Mới, từng được dùng làm bối cảnh cho một số Thi Thiên nói về vua (2, 18, 20,...). Có thể những học giả trên bị ảnh hướng quá nhiều về những kỳ kễ như vậy giữa vòng các dân tộc lân bang của Y-sơ-ra-ên, sự gợi nhớ đó cũng rất đáng kể đối với một số hình thức bày tỏ sự thờ phượng (chẳng hạn như Thi Tv 50:1-23) khó lồng được vào một bối cảnh nào khác. Dầu sao, công trình nghiên cứu này cũng giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn về các Thi Thiên.
    Vậy, có những thời điểm đặc biệt dành để nhắc nhở dân Y-sơ-ra-ên, toàn bộ thời gian đều ở trong tay Đức Chúa Trời và Ngài vẫn hành động kịp thời kịp lúc bằng những công tác đặc thù và thông qua những diễn tiến tự nhiên để tỏ ra sự thiện hảo Ngài nhằm giải phóng cho tuyển dân. Hơn nữa, kỷ niệm Đức Giê-hô-va chắc chắn không phải là chuyện ru ngủ hay là những lễ nghi vô nghĩa. Nó là một phương thức vui mừng nhằm bày tỏ lòng tin quyết rằng đời sống của người Y-sơ-ra-ên đang ở trong trật tự và có sự định hướng bởi Đức Giê-hô-va từng giải cứu họ trong quá khứ chắc chắn vẫn còn tiếp tục chăm xem họ.
    Những Công Việc Thiêng Liêng
    Để phần nào chứng tỏ họ sẵn sàng đáp ứng với sự thờ phượng, Đức Chúa Trời truyền dạy phải làm một số việc chứng tỏ dân sự luôn luôn vâng lời Ngài và bày tỏ ra đức tin của họ. Tuy đến giai đoạn của Môi-se, chúng ta mới thấy có nhiều ngày lễ như vậy nhưng từ thời các tộc trưởng, Đức Chúa Trời đã truyền dạy phải làm một số việc rồi. Trước hết, mỗi người nam phải chịu phép cắt bì như một dấu hiệu của giao ước (SaSt 17:10). Cần lưu ý đây là điều Áp-ra-ham buộc phải làm, nhưng không phải chủ yếu là dấu hiệu của đức tin nơi ông, nhưng là dấu hiệu của ân điển của Đức Chúa Trời đã đến với ông, và cũng kèm theo đó là sự rủa sả (17:14). Dấu hiệu của sự đáp ứng chỉ là thứ yếu và thực sự đã trở nên dấu hiệu của toàn dân Do thái. Trước đó, Đức Chúa Trời đã đòi hỏi Áp-ra-ham làm một việc khác (15:8-11). Khi Áp-ra-ham hỏi Đức Chúa Trời làm sao để ông biết rằng ông sẽ sở hữu được đất này, Đức Chúa Trời đã dạy ông mổ làm hai một con bò cái tơ, một con dê cái, một con chiên đực và một con cu rừng. Có một ngọn lửa đã lòe ngang qua xác các con vật đã bị mổ ra đó (c.17) để làm dấu hiệu chứng tỏ rằng Đức Chúa Trời sẽ giữ lời hứa của Ngài. Cũng như trụ mây, trụ lửa, đó cũng là một sự bày tỏ về sự hiện diện Ngài.
    1. Các nghi lễ thanh tẩy. Các lễ nghi tẩy sạch không phải chỉ một mình dân Y-sơ-ra-ên mới có mà thật sự chúng ta đã thấy họ thực hành truớc khi có những lời giáo huấn công nhiên vào thời của Môi-se. Có lẽ chúng cũng giống như những việc tương tự được thực hành trong các dân tộc lân bang của Y-sơ-ra-ên. Ngay từ đầu trong 35:2, chúng ta đã thấy Gia-cốp bảo cả nhà mình hãy dọn mình thanh sạch và thay đổi áo xống, nhưng qua mạch văn mới thấy nó đặc biệt quan trọng. Họ đang đi lên Bê-tên để lập một bàn thờ cho Đức Chúa Trời. Như thế đã có sự thừa nhận về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời - tuy điểm này không được đề cập rõ ràng - và sự cần thiết phải dọn mình trước khi đến gần Ngài. Lúc Môi-se ở trên núi xuống (XuXh 19:14), ông bảo toàn thể dân sự phải giặt áo xống và tự làm cho mình thanh sạch để chuẩn bị nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời. Rồi họ đến đứng dưới chân núi (c.17). Một lần nữa, đây là dấu chỉ cho thấy nếu Đức Chúa Trời phán dạy họ, họ phải tự dọn mình, tuy phần lớn những điều khoản của luật pháp đề cập sự thánh khiết vẫn chưa được ban ra. Điều quan trọng cần lưu ý trong việc này, là ý thức về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời có trước việc ban luật pháp, chứ không phải là hệ quả của việc ấy.
    Chủ đích đầu tiên của các luật lệ thanh tẩy là để biệt riêng dân chúng cho Đức Giê-hô-va. Các luật lệ ấy sẽ là cách thể hiện bề ngoài về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời, do đó chính họ cũng phải là một dân thánh (hay được biệt riêng). Thứ hai, các luật lệ ấy biệt riêng họ khỏi các dân tộc chung quanh, nhất là khỏi những niềm tin về các thần linh ma quỉ của chúng. Chính vì lý do đó mà con heo bị cấm đối với dân Y-sơ-ra-ên vì đó là một con vật được dùng để cúng tế của dân Ca-na-an đời xưa. Những con thú không tinh sạch khác như chuột, rắn và thỏ rừng đều có quan hệ với tà thuật ngoại giáo (LeLv 111-47; và PhuDnl 14:3-21 Eichrodt, I, 134). Đồng thời, các luật lệ ấy cũng nhằm cách ly họ khỏi khả năng bị lây nhiễm khi tiếp xúc với một xác chết (Dan Ds 19:11-13) hoặc với bịnh phung (LeLv 13:1-59). Nhưng phải nhớ rằng vấn đề giữ vệ sinh không phải được đặt ở hàng đầu vì còn nhiều vật truyền bịnh khác, chẳng hạn bệnh dịch hạch, đã không khiến cho người ta trở thành ô uế. Với người Hi-bá-lai, “sạch” trước hết có nghĩa là có “đủ phẩm cách để đến gần Đức Chúa Trời” (Vos, 173). Vấn đề căn bản trong đức tin của Cựu Ước là sự thể ảnh hưởng đến tình trạng quan hệ của một ai đó với Đức Chúa Trời .
    Cùng với toàn thể luật pháp, những lời giáo huấn về nghi lễ là bài học bổ sung sau khi đã noi theo những lời giáo huấn của Đức Chúa Trời. Chỉ như vậy mới có thể sống được một cuộc đời vui vẻ, đẹp lòng Đức Chúa Trời. Tuy nhiên đến cuối cùng, người ta đã thấy giáo huấn là biểu tượng nhưng không thể làm cho tinh sạch. Từ đầu người ta đã nhận thức được sự tẩy sạch chỉ bởi Đức Chúa Trời mà thôi. Đến thời Đa-vít, các nghi lễ đó là cách bày tỏ sự thanh khiết trong lòng do tác động của chính Đức Chúa Trời. Đa-vít nói: “Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch… tôi ” (Thi Tv 51:7), trong khi điều ông ngụ ý muốn nói thật ra là: “Xin… làm cho mới lại trong tôi một thần linh ngay thẳng ” (c.10).
    2. Sự thờ phượng bằng của lễ. Ý nghĩa của lễ trong Cựu Ước tập trung quanh từ ngữ Hi-bá-lai kipper, thường được dịch là “chuộc” hay “che lấp” (LeLv 1:4). Nguyên nghĩa có thể là “che lấp” (như từ ngữ A-rập có quan hệ họ hàng với nó) hoặc “xóa đi” (do tiếng Akkad). Hoặc động từ có thể nói về quá trình mua chuộc hay chuộc tội bằng cách trả một số tiền hay một tặng phẩm, một của dâng, phản ảnh ý nghĩa của danh từ Hi-bá-lai kipper (giá chuộc). Theo bối cảnh Thánh Kinh (nhất là 17:11) nghĩa sau này diễn tả đúng nhất ý niệm của người Hi-bá-lai (R. J. Thompson, NDB, 1120). Leon Morris gợi ý rằng trong Kinh Thánh, sự chuộc tội vốn có giá trị cao hơn giá chuộc phải trả. “Bao giờ cũng ẩn chứa yếu tố ân sũng trong sự chuộc tội” (Morris, 1955,162,167). Cần lưu ý cả hai phương diện chủ quan và khách quan đều được đề cập trong ý niệm cứu chuộc. Căn bản của hệ thống tế lễ gồm hai yếu tố. Trước hết, có sự khiêm nhu hạ mình của kẻ thờ phượng, tượng trưng bằng việc đặt tay trên con sinh. Hơn nữa, kẻ thờ phượng muốn đền bồi cho phía bị xúc phạm, thường là Đức Chúa Trời, để mối quan hệ cá nhân được duy trì. Thứ hai, có sự thay đổi từ tình trạng ô uế sang tình trạng tinh sạch. Ở đây, nhấn mạnh trên sự sai phạm khách quan, về một phương diện là các tiêu chuẩn của công lý Đức Chúa Trời, về phương diện khác là quá trình biến đổi để đủ điều kiện đến gần Ngài. Yếu tố thứ nhất nhấn mạnh vật được đem đến để dâng lên Đức Chúa Trời, có thể biểu trưng bằng lời cầu nguyện. Yếu tố thứ hai đề cập đến phần của Đức Chúa Trời là khiến con người có đủ tiêu chuẩn để đến gần Ngài, có thể xem như việc nhậm lời cầu nguyện.
    a. Của lễ thiêu (U{l>h). Các sinh tế và của lễ khác nhau có thể được chia làm bốn loại. Trước hết là của lễ thiêu (1:4). Có lẽ đây là sinh tế tiêu biểu của Cựu Ước, chúng ta có thể dâng nó để minh họa cho các yếu tố hiện diện trong hầu hết những của lễ khác. Căn bản của nó là đặc tính cống hiến, một vật gì đó được đem đến và dâng lên cho Đức Giê-hô-va vì cớ kẻ thờ phượng, để người ấy được ơn trước mặt Ngài.
    Người thờ phượng bắt đầu chọn một con vật đặc biệt trong bầy, không tì vết nghĩa là không có điểm nào có thể khiến cho giá trị của nó bị giảm đi. Điều này cho thấy đặc tính của nó là thay thế, sự tinh sạch của con sinh thay thế cho sự ô uế của người dâng của lễ (IPhi 1Pr 1:19). Sự tinh sạch của nó cũng liên quan đến đặc tính của dâng - phải dâng lên cho Đức Giê-hô-va những gì tốt nhất. Rồi con vật được đem đến đền tạm (đền thờ), tại đó, kẻ thờ phượng nhận tay mình (nghĩa đen là “dựa vào”) trên con sinh. Ý nghĩa của sự việc này chắc chắn có quan hệ với việc đặt tay (SaSt 48:13, 14, LeLv 24:14, Dan Ds 8:10) luôn luôn có nghĩa là việc chuyển từ người này sang người kia (Vos,162). Như vậy, đôi tay truyền tội lỗi sang cho con sinh là nạn nhân vô tội.
    Rồi bản thân người dâng của lễ phải giết con vật “trước mặt Đức Giê-hô-va ”. Con sinh phải chịu đau đớn và chết đi để nhận lấy hình phạt dành cho tội lỗi mà nó đang mang (LeLv 4:33, 17:11). Sau đó, huyết được hứng lấy rồi đem rảy trên bàn thờ, nhiều phần hoặc cả con sinh được đem thiêu trên bàn thờ. Từ ngữ Hi-bá-lai dùng để chỉ việc thiêu ở đây không có nghĩa thiêu để tiêu hủy, đúng hơn là để tinh luyện, nói lên đời sống của người dâng lễ đã được dâng lên do vâng lời như một mùi thơm cho Đức Chúa Trời (chắc có ẩn ý trong việc đề cập đến sinh tế của Đấng Christ trong Eph Ep 5:2). Cuối cùng, trong một số trường hợp (như trong của lễ chay dâng lên trong LeLv 7:11-18) sau đó có một bữa ăn sinh tế, trong đó các thầy tế lễ, hoặc các thầy tế lễ và kẻ thờ phượng cùng ăn thịt ấy. Trong Kinh Thánh, bữa ăn thông công luôn nói lên sự tương giao và phước hạnh tích cực. Như vậy, của lễ đã dâng lên Đức Chúa Trời được trả về cho kẻ thờ phượng tượng trưng rằng chẳng những để chấm dứt mọi đố kỵ mà còn nhắm đến việc được hưởng trọn vẹn ân huệ của Đức Chúa Trời nữa. Mối thông công trọn vẹn đó được tóm tắt trong ý niệm về hòa bình của Cựu Ước, nghĩa là sau khi đã dâng sinh tế, hòa bình được vãn hồi. Cuối cùng, bữa ăn thông công là bữa tiệc Đức Chúa Trời ban, được góp nhặt lại trong Tân Ước thành lời truyền dạy về Tiệc Thánh. Đấng Christ là sự hòa bình của chúng ta, và chúng ta kỷ niệm sự hy sinh dâng mình của Ngài chung quanh bàn Tiệc Thánh.
    b. Của lễ chay (m!nj >h). Ý niệm căn bản của của lễ chay là một cống vật hay tặng phẩm dâng lên để nhận được thiện cảm, thiện ý (LeLv 2:1-16). Nó phải là một vật có giá trị mà kẻ thờ phượng đã làm ra hay chuẩn bị. Nó là một phần bản thân của người dâng của lễ tượng trưng cho toàn bộ con người mình. Khi được thiêu trên bàn thờ, của lễ là một mùi thơm cho Đức Giê-hô-va. Mùi thơm của của lễ nói lên mối quan hệ chặt chẽ với lời cầu nguyện, và thường nói lên như vậy. Cả của lễ này lẫn lời cầu nguyện đều nói về việc đến gần Đức Chúa Trời và đầu phục chính mình cho sự chăm sóc của Ngài. Do việc vui mừng thực hành các nghi lễ này, người thờ phượng được nhắc nhở rằng Đức Chúa Trời chẳng những chỉ đòi hỏi sự đồng ý và xưng nhận, mà còn đòi hỏi cả việc làm nữa. Ngay trong Cựu Ước, đức tin không bày tỏ cũng đã là đức tin chết.
    c. Của lễ thù ân (hòa bình - z#b^j hoặc v+l*m!m). Của lễ thù ân được dâng lên để bày tỏ lòng tri ân Đức Chúa Trời, hoặc có lẽ để trả một lời thề nguyện. Nó cũng có thể được dùng như một bữa ăn đặc biệt trong ngày dâng của lễ.
    d. Của lễ chuộc tội hay lầm lỡ (a*v*m hay j^tt*at). Các của lễ chuộc tội hoặc chuộc lỗi (Lêv. 4 và 7) trở nên cần thiết khi người ta phạm lỗi, bị ô uế về mặt nghi lễ (Lêv. 4:2 cũng nói rõ là dành cho những người phạm tội mà không hay biết). Tội phạm với người lân cận thường dùng từ ngữ a*v*m, còn các tội phạm cùng Đức Chúa Trời thường dùng từ ngữ j^tt*at. Ở đây yếu tố chính là giải tội. Của lễ này dành cho tất cả mọi người. Các điều kiện dễ dàng được dành cho người nghèo, để họ dâng lên những gì họ có được.
    Thần Học Về Sự Thờ Phượng
    Cả các sinh tế lẫn của lễ đều là ẩn dụ về sự thánh khiết và công bình của Đức Chúa Trời. Chúng cũng nói lên việc con người đã được tạo dựng theo ảnh tượng Ngài nên cũng có khả năng để tương giao với Ngài, mặc dầu họ đã sa ngã. Hệ thống của lễ là một phần trong các phương tiện Đức Chúa Trời dùng để tạo lập nên một dân biết nghe và bước theo Ngài.
    Ở phần đầu của chương này, chúng ta đã lưu ý rằng hình thức bày tỏ một thực tại bên trong - tức sự ăn năn về đức tin. Đặc tính nội tại đó cần phải phản ảnh bằng sự ăn năn và xưng tội. Nhiều khi xưng tội rõ ràng là yếu tố chính yếu khi dâng của lễ, như trong ISa1Sm 7:5-11. Trước hết, phần đáp ứng bên trong phải được đặt nền tảng trên sự thừa nhận tất cả những điều đó đều thuộc về Đức Chúa Trời. Trong Sáng 22, Áp-ra-ham đã không hề thắc mắc việc Đức Chúa Trời có quyền đòi hỏi ông phải dâng Y-sác làm sinh tế. Nếu quả thật Đức Chúa Trời có uy quyền như Áp-ra-ham tin, làm sao ông có thể giữ lại đứa con trai của mình được? Thế nhưng, khi Đức Chúa Trời thấy được đức tin của Áp-ra-ham, Ngài đã chứng tỏ đức hiếu sinh của Ngài, và cung ứng một con vật để thay thế Y-sác.
    Đặc tính tự nguyện đáp ứng cũng rất hiển nhiên trong việc dâng của lễ cảm tạ. Nhiều khi chúng ta bị lóa mắt bởi những điều qui định chi tiết về các của lễ, quên đi sự kiện sự thờ phượng Cựu Ước vẫn dành khá nhiều chỗ cho lòng tự nguyện tự phát. Thi Thiên 116:2 ghi nhận tinh thần muốn đáp lại sự thánh thiện của Đức Chúa Trời: “Tôi sẽ lấy gì báo đáp Đức Giê-hô-va? ” giống như chúng ta vẫn suy nghĩ về người thân yêu của mình - tôi có thể tặng gì để bày tỏ tình yêu của tôi? Chúng ta có thể kể các lời thề nguyện trong Cựu Ước liên quan đến vấn đề này. Với lỗ tai của thời hiện đại, lời thề nguyện nghe có vẻ tầm thường và máy móc, nhưng đối với người Hi-bá-lai, chúng là cách đáp ứng bình thường trước Đức Giê-hô-va là chủ tể của cả đất trời . Để đáp lại ân huệ của Đức Chúa Trời, người ta có thể thề nguyện sẽ làm (SaSt 28:20-22), hoặc không làm (Thi Tv 132:2-5), hoặc chỉ đơn giản để tỏ lòng sốt sắng hoặc tri ân (22:25). Lời thề là dấu hiệu cho thấy sự ngay thẳng của đức tin và sự đáp ứng cá nhân cũng phần nào giống như sự ngay thẳng của Đức Chúa Trời - một hình thức mô phỏng mà chúng ta sẽ thảo luận ở chương 10.
    Đặc tính nội tâm và cá nhân của sự thờ phượng còn được bày tỏ trong việc thỉnh thoảng người ta cũng có thể được tha tội chỉ đơn giản bằng lời kêu cầu Đức Giê-hô-va mà thôi. Áp-ra-ham đã cầu thay cho Lót trong Sáng 18, Môi-se cầu thay cho dân sự trong XuXh 32:30-34. Các tiên tri cũng thường nài nỉ Đức Chúa Trời thay mặt dân chúng. Điều này cho thấy trong một số điều kiện nào đó, Đức Chúa Trời có thể chấp nhận những trung gian khác nhau giống như cách Ngài chấp nhận vai trò trung gian của thầy tế lễ thượng phẩm vào nơi chí thánh mỗi năm một lần để cầu thay cho dân chúng.
    Mọi điều đó nhằm hướng về một ngày khi mà chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời sẽ đưa người ta đến một tình trạng nội tâm hoàn toàn mới mẻ đã được các tiên tri diễn tả như là một giao ước mới, một tấm lòng mới. Nhưng ngay cả trước đó, người Hi-bá-lai đã biết rằng hình thức thờ phượng đích thực là chuyện của tấm lòng. Có người đã nói rằng: “Tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa ” (Thi Tv 40:8), chắc chắn người đó đang nhắm đến việc làm trọn sự công chính, còn Đa-vít thì nói “Xin hãy lấy chùm kinh giới tẩy sạch tôi ” (51:7) chẳng những ông chỉ muốn đề cập đến sự tẩy sạch bằng nghi lễ, như chúng ta từng ghi nhận, mà ông còn muốn nói đến sự tái sanh đạo đức ở bề trong nữa.
    Chúng ta có thể tóm tắt ý niệm sinh tế trong Cựu Ước như thế nào? Sự thật là không có một bức tranh nào bao gồm được đầy đủ ý nghĩa; đúng ra là phải kết hợp cả một loạt bức tranh mới nói lên được ý niệm về sinh tế. Như chúng ta đã thấy, ý niệm trọng tâm là quá trình chuộc lại hay phục hồi ân huệ nhờ sự trả giá xứng hợp. Điều này dường như khá rõ ràng trong LeLv 1:4 cũng như trong Ê-xê-chi-ên 45, tại đó sinh tế chuộc tội là yếu tố chủ đạo trong bức tranh lý tưởng về sự thờ phượng. Nhưng thêm vào đó - tuy không rõ bằng - là ý niệm về sự làm nguôi cơn thạnh nộ. Trong Cựu Ước, rõ ràng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đối với tội lỗi - thái độ trước sau như một - phải được tỏ ra. Nếu dân Chúa muốn đến Ngài thì tội lỗi phải đước che lấp và cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời cũng phải được xoay sang hướng khác. Nếu dân chúng phạm tội thờ hình tượng, họ phải sợ cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nổi lên để trừng phạt họ (PhuDnl 6:15). Cho nên, muốn được tha tội trọn vẹn cần phải cất cơn thạnh nộ ấy đi (Thi Tv 85:2-3MiMk 7:18-20 cũng xem Morris 1955, 129-36). Hơn nữa, các sinh tế của Cựu Ước cũng có tính thay thế. Chúng ta đã từng giải thích chủ đề này rồi, tức là một bộ phận thay cho toàn thể, một người thay cho nhiều người. Ý niệm này xuyên suốt qua những lời giáo huấn về sinh tế và các của lễ. Hình ảnh quan trọng nhất ở đây là hình ảnh con dê đực, mang tất cả tội lỗi của dân sự vào nơi hoang địa. Chính yếu tố này mới duy trì được đầy đủ nhất yếu tố cá nhân trong tín ngưỡng. Trong trường hợp này, huyết không phải là một yếu tố phù phép, nhưng đã được Đức Chúa Trời chấp nhận để thay thế cho sinh mạng của kẻ thờ phượng. Cuối cùng, trong tất cả những lời giáo huấn, rõ ràng Đức Chúa Trời đã tha tội vì cớ danh Ngài. Ngài không thể bị mua chuộc, ngay khi bởi ân điển mà Ngài đã có những hành động thực tiễn cho sự tha thứ. Nhưng thật sự ấy là bởi Đức Chúa Trời là Đấng muốn bày tỏ lòng nhân từ Ngài (XuXh 33:19). Trong Ê-sai, chúng ta đọc thấy thời kỳ khi mà Đức Chúa Trời vì cớ danh Ngài sẽ xóa sạch mọi tội phạm, cả khi Ngài đã mỏi mòn, chán chê vì cớ tội ác của dân sự (EsIs 43:22-25).
    Cuối cùng, cần phải nhận thức được rằng tất cả những điều qui định về sự thờ phượng Cựu Ước đều có tính cách tạm thời. Chúng phải được lặp đi lặp lại liên tục nên rất đễ trở thành những bổn phận mang tính hình thức. Rồi “tội phạm cố ý” nghĩa là tội phản loạn, chống lại Đức Chúa Trời sẽ không thể được tha. Cả nhu cầu của con người lẫn thuộc tánh của Đức Chúa Trời đều nói về một phương pháp tốt hơn. Qua tất cả các qui tắc, các giới mạng và giềng mối, thật ra cũng chỉ có một niềm hy vọng duy nhất: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trông cậy nơi Đức Giê-hô-va, vì Đức Giê-hô-va có lòng nhân từ, nơi Ngài có sự cứu rỗi nhiều. Chính Ngài sẽ chuộc Y-sơ-ra-ên khỏi các sự gian ác người ” (Thi Tv 130:7, 8).
    Niềm hy vọng về sự cứu chuộc dư dật và dứt khoát đó dường như được phân bổ khắp Cựu Ước cho đến khi nó hội tụ lại trong EsIs 53:1-12. Ở đây, tôi tớ của Đức Giê-hô-va trở thành đối tượng của hy vọng cả khi diện mạo bề ngoài của con người ấy chẳng có gì hứa hẹn cả. Ở đây có yếu tố về phán xét: “Người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta ” (c.4); “bởi sự sửa phạt người… chúng ta được lành bịnh ” (c.5). Ở đây, cũng có yếu tố về sự thay thế “Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người ” (c.6). Văn mạch chỉ rõ việc chuộc tội bằng một của lễ “người… dâng mạng sống (mình ) làm tế (lễ ) chuộc tội ” (c.10). Cuối cùng, là sự quy tội, chuyển sang sự công chính - kẻ tôi tớ ta “sẽ làm cho nhiều người được xưng công bình ” (c.11). Qua mọi việc đó, có niềm hy vọng về sự chiến thắng khải hoàn cuối cùng của Đức Chúa Trời “những ngày người sẽ thêm dài ra, và ý chỉ Đức Giê-hô-va nhờ tay người được thạnh vượng ” (c.10). Tất cả những điều kể trên chỉ là những cái nhìn thoáng qua, nhưng đã nói lên những gì tốt đẹp nhất của tín ngưỡng Cựu Ước và báo trước những điều tốt đẹp hơn. Muốn hiểu đầy đủ ý nghĩa, người ta phải đi xa hơn Cựu Ước để đến với Đấng đã đến, tự mặc lấy hình một kẻ tôi tớ và cam chịu vâng phục cho đến chết (Mac Mc 10:45, Phi Pl 2:5-11).

    Lòng Tin Kính
    “ Ở trên trời, tôi có ai trừ ra Chúa? Còn dưới đất, tôi chẳng ước ao người nào khác hơn Chúa. Thịt và lòng tôi bị tiêu hao, nhưng Đức Chúa Trời là sức lực của lòng tôi, và là phần tôi đến đời đời. ”
    Thi Tv 73:25-26
    Đặc Tính Thần Học Về Lòng Tin Kính
    Sự tin kính trong Cựu Ước là sự đáp ứng của tấm lòng đối với sự mạc khải của Đức Chúa Trời. Khi Chúa đời đời tự bày tỏ Ngài là Đấng thánh và yêu thương thì cần phải có sự đáp ứng. Sự đáp ứng thành thật và xuất phát tự đáy lòng rất đáng được ghi nhận, không chỉ vì hố sâu ngăn cách giữa Đức Chúa Trời thánh khiết với tội nhân, mà còn là vì niềm vui tìm gặp Đức Chúa Trời, Đấng hạ mình để yêu thương và chăm sóc tạo vật của Ngài. Sự đáp ứng của tín nhân Cựu Ước là một sự đáp ứng tích cực, liên quan đến toàn bộ đời sống của mình. Nó không chỉ là sự đồng thuận đơn thuần hoặc một sự xưng nhận suông. Với Áp-ra-ham, điều đó có nghĩa là sự từ bỏ, bước theo, và quan trọng nhất là bước đi trước mặt Đức Chúa Trời không chỗ trách được. Với Môi-se và dân Y-sơ-ra-ên thì điều cần yếu là phải lìa bỏ Ai Cập, lắng nghe tiếng phán của Đức Chúa Trời và dám bước theo con đường Ngài đã hoạch định. Chúng ta hãy xem xét một vài yếu tố liên quan đến việc bước đi cùng Đức Chúa Trời của tín nhân trong Cựu Ước.
    1. Sự kính sợ Đức Giê-hô-va. Sợ hãi là phản ứng đầu tiên đối với mạc khải về quyền năng. Rudolf Otto gọi ý thức về quyền năng thiêng liêng của đấng thánh khiết là yếu tố căn bản cho tất cả các tôn giáo (The Idea of the Holy, 1923). Nhưng nỗi kinh hoàng sơ khởi đó cũng chưa phải là điều mà Cựu Ước gọi là “sự kính sợ Đức Giê-hô-va ”. Thật vậy, lúc Môi-se kể lại cho dân sự nghe những gì Đức Chúa Trời đã bày tỏ cùng ông, ông đã nói rõ: “Đừng sợ chi ” (XuXh 20:20), tuy nhiên ông tiếp tục bảo cùng họ rằng Ngài đã đến để người ta kính sợ Ngài (nguyên nghĩa của từ sợ trong cả hai trường hợp nêu trên đều giống nhau). Có sự mâu thuẫn ở đây chăng? Không, Môi-se muốn họ ý thức rằng họ không cần phải sợ trong trường hợp đối mặt với những gì họ chưa biết hay chưa thể đoán định trước (sự sợ hãi vốn bắt nguồn từ ngoại giáo), nhưng cần phải sống với nhận thức đúng đắn về Đức Chúa Trời là ai.
    Sự kính sợ Đức Chúa Trời của người Hi-bá-lai thật độc đáo. Trong các tôn giáo ngoại bang, người ta luôn sống trong sự sợ hãi các thần linh và phải tìm cách làm cho những vị ấy nguôi giận. Như Gilbert Murray từng nói về người Hy lạp rằng, “họ luôn luôn sợ hãi.” Nỗi lo sợ của người Y-sơ-ra-ên đối với Đức Chúa Trời, đúng hơn là sự nhận thức đáng sợ về Đức Chúa Trời thánh khiết đã hướng về họ và chọn họ làm dân sự của Ngài. Do đó, họ cũng bước đi trong nỗi lo sợ nhưng là nỗi sợ dẫn họ đến đức tin và sự nương cậy chứ không phải là đến sự hoang mang và tê liệt về nhận thức. Sự khôn ngoan tức là nghệ thuật thiết lập những kế hoạch thông sáng và đi đến thành công, như tác giả Thi Thiên đã từng nói “Sự kính sợ Đức Giê-hô-va khởi đầu sự khôn ngoan ” (Thi Tv 111:10). Một câu liên quan và bổ sung thêm ý nghĩa cho câu trên là: “Phàm kẻ nào giữ theo điều răn Ngài có trí hiểu ”. Vậy, trước hết sự kính sợ không phải là một cảm xúc, mà là một nếp sống căn cứ trên sự đánh giá đúng đắn về sự hiện diện và chăm sóc của Đức Chúa Trời. Một thái độ như vậy bao gồm cả cảm xúc, không hề làm xa cách. Sự kính sợ như vậy dẫn đến sự sống và sự thỏa lòng (ChCn 19:23). Ở đây, chúng ta cũng chẳng trông mong sẽ nhận biết đầy trọn về sự kính sợ Đức Chúa Trời ngay trong đời này. Vì Giê-rê-mi đã từng cho biết khi giao ước đời đời được thiết lập thì sự kính sợ Đức Giê-hô-va sẽ được đặt vào lòng họ để họ không còn quay lưng lại với Đức Chúa Trời nữa (Gie Gr 34:20).
    2. Đức tin nơi Đức Chúa Trời. SaSt 15:6 chép rằng Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, thì Ngài kể sự đó là công bình cho người. Xuyên suốt Cựu Ước, chỉ một mình Đức Chúa Trời được thừa nhận là đối tượng thỏa đáng cho sự tin cậy: “Kẻ nào tin cậy nơi lòng (tâm trí ) mình là kẻ ngu muội ” (ChCn 28:26). Trong Cựu Ước, tin cậy trước hết hàm ý về sự nhận biết và thấu hiểu Đức Chúa Trời. Nhưng ở đây hơn hẳn một sự nhận biết mang tính lý thuyết; bởi nó mãi luôn là một nhận thức thực tiễn và từng trải. Tác giả Thi Thiên bảo con người hãy yên lặng và biết Đức Chúa Trời là ai, qua câu trước đó, Ngài là Đấng dẹp yên giặc giã (Thi Tv 46:9, 10).
    Thứ hai, ý thức về sự thực hữu của Đức Chúa Trời đưa người ta đến chỗ tự nguyện đầu phục Ngài để được dẫn dắt. Cũng như sự kính sợ, đức tin là một thái độ toàn diện ảnh hưởng đến mọi khía cạnh của đời sống. Điều này đã được mô tả thật ý nghĩa trong Thi Tv 37:3-5, “Hãy tin cậy Đức Giê-hô-va… Hãy khoái lạc nơi Đức Giê-hô-va… Hãy phó thác đường lối mình. ..” Một sự đầu phục như vậy cuối cùng sẽ dẫn đến sự tin cậy vào các lời hứa của Đức Chúa Trời, hay có thể nói rằng đó chính là sự vâng lời tích cực. Một khi chúng ta đã nhận biết được Đức Chúa Trời và sẵn sàng kết ước thì đời sống chỉ còn một việc là bước theo Ngài mà thôi. Chính vì lý do đó mà Cựu Ước rất thường đề cập đến “con đường sự sống ”. 26:1 cho biết rằng tác giả đã không sợ bị Đức Chúa Trời đoán xét, vì ông đã bước đi trong sự ngay thẳng. Sau đó ông thêm rằng, “Tôi cũng nhờ cậy Đức Giê-hô-va, không xiêu tó. ” Lưu ý là ông không hề nói rằng ông tin cậy nơi sự ngay thẳng của bản thân nhưng sự ngay thẳng đó chính là chứng cớ cho lòng tin cậy của ông vào nơi Đức Chúa Trời.
    Hàm chứa trong ý niệm đức tin là sự ăn năn hay, như được diễn tả đơn giản trong Cựu Ước, là “xây khỏi”. Trong khi ý niệm ấy vẫn chưa được phát triển đầy đủ như trong Tân Ước thì nó lại hiện diện thường trực xuyên suốt Cựu Ước. Xây khỏi đường lối riêng của mình để theo Chúa và các mạng lịnh Ngài hàm ý con đường của quá khứ là sai lầm. Cũng không phải chúng ta xây khỏi một lần đủ cả để theo Chúa nhưng là mỗi lần nhận biết tội lỗi là mỗi lần phải quay lại (LeLv 5:5, PhuDnl 30:2, Exe Ed 18:30).
    3. Yêu mến Đức Chúa Trời. Phần kinh văn sau đây sẽ mô tả toàn bộ bổn phận của con người đối với Đức Chúa Trời: “Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ” (PhuDnl 6:5). Ngày nay, chúng ta có thể nhận biết rằng cách nói đó của người Hi-bá-lai có nghĩa là tình yêu phải xuất phát từ con người toàn diện. Yêu thương liên hệ đến con người toàn diện và thể hiện trong mọi sinh hoạt. Theo nghĩa tổng quát, tình yêu thúc giục con người hành động nhằm thỏa mãn những ước muốn đang thôi thúc (ChCn 20:13). Nhưng, như chúng ta đã từng ghi nhận, sự khát khao căn bản của lòng người chính là sự ao ước về Đức Chúa Trời (Thi Tv 42:1). Vậy, yêu mến Chúa chính là nội lực buộc chặt với Ngài cách cá nhân và nảy sinh kết quả tự nhiên về một đời sống trung thành và cam kết. Có lẽ hình ảnh đáng giá nhất cho mối quan hệ ấy được tìm thấy trong sách tiên tri Ô-sê, qua việc thể hiện sự ràng buộc được ví sánh như tình yêu vợ chồng. Ở đây, mối quan hệ cơ bản thể hiện được những gì mà Eichrodt gọi là “nhận thức trực tiếp về sự phụ thuộc lẫn nhau” (direct sense of mutual belonging); tình yêu của con người luôn luôn là sự đáp lại tình yêu mà Đức Chúa Trời đã yêu họ.
    Đáp ứng bằng tình yêu là mối liên hệ duy nhất thích ứng với sự thành tín của Đức Chúa Trời dành cho con người. Như Phục TrGv 7:9 đã giải thích, Đức Chúa Trời giữ giao ước của Ngài với những kẻ yêu mến Ngài. Về sau, Môi-se đặt lòng yêu mến Đức Chúa Trời bên cạnh việc phục vụ và bước theo đường lối Ngài (PhuDnl 11:13, 22). Cũng cần lưu ý một lần nữa rằng tình yêu không phải là một cảm xúc về Đức Chúa Trời, tuy cảm xúc không hề bị phủ nhận, nhưng tình yêu chính là tấm lòng cam kết thể hiện bên ngoài qua sự vâng lời. Khi tuân giữ các điều răn thì con người chứng tỏ được tình yêu với Đức Chúa Trời (PhuDnl 13:34 xem GiGa 14:15). Các điều răn đã trở nên quan trọng như những phương tiện bày tỏ tình yêu của chúng ta, đến nỗi tác giả Thi Thiên đã xem sự yêu mến luật pháp quí hơn cả vàng (Thi Tv 119:127).
    Ô-sê cũng nhấn mạnh rằng lòng yêu mến Đức Chúa Trời chính là việc đáp lại tình yêu tiên khởi (prevenient love) của Ngài qua việc tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên. Đức Chúa Trời đã qua đấng tiên tri mà phán rằng: “Ta đã dùng dây nhân tình, dùng xích yêu thương kéo chúng nó đến. ..” (OsHs 11:4). Lý do duy nhất có thể minh giải cho việc tuyển chọn dân Y-sơ-ra-ên của Đức Chúa Trời, ấy là vì Ngài đã đem lòng yêu thương họ, điều đó chắc chắn không phải để đáp lại bất cứ điều gì mà dân Y-sơ-ra-ên có thể khoe khoang (PhuDnl 7:7, 8). Giê-rê-mi bổ sung chính tình yêu đời đời của Đức Chúa Trời là nền tảng cho sự thành tín mà Ngài đã tỏ ra cùng họ (Gie Gr 31:3). Chúng ta phải hiểu sở dĩ các tiên tri thích dùng từ ngữ “nhìn biết Đức Giê-hô-va ” nhất là trong mối liên hệ với vương quốc tương lai, vì nó hàm ý về sự đáp ứng tình yêu đối cùng Đức Chúa Trời (24:7, 31:34). Sự hiểu biết đầy trọn là kết cuộc của tình yêu (trong Cựu Ước, động từ “biết” thường được dùng để chỉ về sự quan hệ tình dục).
    Những Thể Hiện Đặc Trưng Của Lòng Tin Kính
    1. Ca tụng Đức Chúa Trời. Lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời của người Do Thái dẫn đến sự cảm nhận niềm vui sâu xa dường như tràn ngập những phần kinh văn đề cập đến sự thờ phượng trong Cựu Ước. Niềm vui ấy tự nhiên dẫn họ đến chỗ thốt lên sự ca tụng Đức Chúa Trời. Nguyên nghĩa chữ ca tụng (h!ll @l hay y*d >h theo tiếng Hi-bá-lai) liên hệ sự tạo ra tiếng ồn hoặc việc ra điệu bộ hay sự chơi đùa và ca hát. Qua các Thi Thiên, dường như khía cạnh này rất ít khi bị thiếu vắng trong sự thờ phượng. Trong thực tế, sự ngợi khen thường được kết hợp với việc hân hoan thuật lại công việc giàu ơn của Đức Chúa Trời qua đó kẻ thờ phượng muốn bày tỏ lòng biết ơn của mình. Những bằng chứng sớm nhất về điều đó được tìm thấy trong XuXh 15:1-27PhuDnl 26:5-9, tại đó nói đến việc xưng nhận đức tin và ca tụng được dâng lên đồng thời.
    Ý thức và việc nhớ lại sự thiện hảo của Đức Chúa Trời làm cho việc thờ phượng của người Hi-bá-lai trở thành sinh động, tươi vui (xem các Thi Thiên ca ngợi như Thi Tv 92:1-100:5103:1-118:29). Với các tín nhân Cựu Ước thì Đức Chúa Trời có ở khắp nơi và thể hiện rõ ràng, trực tiếp. Bất cứ vào thời điểm nào của đời sống, họ cũng đều đối mặt với sự hiện diện của Ngài. Phủ nhận hiện hữu của Đức Chúa Trời là một sự ngu dại (14:1) - vì thế Cựu Ước coi đó là tấm lòng gian ác. Tuy nhiên, sự hiện diện của Đức Chúa Trời luôn là kinh nghiệm cá nhân. Các Thi Thiên đầy dẫy những câu như: “Hãy đến, chúng ta hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va ” hay “Tôi sẽ hát về lòng nhân từ thương xót của Đức Giê-hô-va ” hoặc “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi ”. Tuy nhiên, như chúng ta sẽ thấy, ngay cả đến các cảm xúc tri ân riêng tư nhất cũng đòi hỏi phải được tỏ bày cách tập thể.
    Sự ca ngợi thích thú đến nỗi sự thờ phượng rất nhộn nhịp. Có nhảy múa (150:4), đủ loại nhạc khí (108:2), ca hát liên tục (33:3) và cả đến việc la hét ồn ào nữa (27:6). Chẳng có gì tẻ nhạt trong sự thờ phượng Cựu Ước! Thật vậy, người ta có ấn tượng rằng trong sự ngợi khen, con người nhận ra cứu cánh cao cả nhất của mình. Von Rad đã đưa ra nhận định: “Ca tụng và không ca tụng tương phản nhau như sự sống với sự chết: Ca tụng đã trở thành biểu hiện sơ đẳng nhất của tình trạng đang sống” (Von Rad I, 370). Sự thờ phượng “chết" của một số các hội thánh hiện nay đã lạc xa những gì Đức Chúa Trời mong đợi.
    2. Cầu nguyện. Phát triển từ cùng một mối quan hệ cá nhân cao độ giữa Đức Chúa Trời và dân Ngài là ý thức về việc con người có thể kêu cầu cùng Ngài. Tuy có nhiều hình thức cầu nguyện đặc biệt (chẳng hạn như những bài cầu nguyện trong nơi thánh ở 24:7-10) được phát triển về sau, nội dung cơ bản của sự cầu nguyện Cựu Ước vẫn là sự bộc lộ một cách hồn nhiên, tự phát niềm tin cậy dâng lên cho Đức Chúa Trời bởi kinh nghiệm cá nhân nào đó. Người đầy tớ của Áp-ra-ham (SaSt 24:42-44) biết rằng không nhất thiết chỉ có thể cầu nguyện tại các nơi thánh nhưng có thể lấy lòng tin quyết để thưa trình với Đức Chúa Trời bất cứ khi nào cần. Sự cầu nguyện trong Cựu Ước rất phổ biến (SaSt 15:2-3, 24:12-14, 26). Từ lúc ban sơ, lời cầu nguyện đã có quan hệ mật thiết với việc dâng của lễ, tự nó đã được gọi là sự “tìm kiếm Đức Giê-hô-va”. Sự liên hệ này rất quan trọng vì cho thấy một trong những thái độ căn bản của sự cầu nguyện là thuận phục ý chỉ Đức Chúa Trời, như chúng ta đã thấy, mà đặc điểm là sự trung tín dâng tế lễ. Tuy nhiên, mối liên hệ ấy không phải là cứng ngắt. Cầu nguyện nhằm bộc lộ sự tin cậy một cách tự nhiên luôn thích hợp ở bất kỳ nơi đâu và bất cứ khi nào trong đời sống.
    Đối với người Hi-bá-lai thì không hề có một ma thuật hay bất cứ một công thức nào đi liền với danh Đức Chúa Trời. XuXh 20:7 cấm lấy danh Đức Giê-hô-va làm chơi có nghĩa là việc nhắc đến danh Ngài một cách khinh suất. Điều này cùng với đặc tính tự phát của sự cầu nguyện chứng tỏ sự khác biệt rất xa giữa người Hi-bá-lai với ngoại giáo về ý niệm cầu khẩn. Eichrodt liệt kê các yếu tố sau đây rất phổ cập trong ý niệm cầu nguyện ngoại giáo nhưng lại hoàn toàn xa lạ với người Hi-bá-lai: (1) trong dân Y-sơ-ra-ên không hề sử dụng danh Chúa như một ngôn ngữ ma thuật. (2) không có những câu lập đi lập lại nhiều lần (3) không có sự khấn thầm như đọc thần chú (Eichrodt, I, 174). Sự cầu nguyện trong Cựu Ước có khuynh hướng loại trừ mọi hình thức cố định và máy móc. Cũng như danh Đức Chúa Trời chẳng hề được che giấu nhưng được phổ biến rộng rãi cho tất cả mọi người, con dân Chúa cũng được tự do kêu cầu Ngài vào bất cứ lúc nào.
    Cũng không hề có ý thức thần bí về việc tự tan biến vào Đức Chúa Trời và hoàn toàn tự tách mình khỏi thế giới khi cầu nguyện. Thật vậy, có thể cho rằng cầu nguyện Cựu Ước không phải là một phương tiện để thoát tục nhưng là một phương tiện để cộng tác tích cực hơn với Đức Chúa Trời trong công việc Ngài (xem Jacob, 176). Tất cả sẽ quan trọng hơn khi chúng ta nhớ lại rằng người Hi-bá-lai đã từng nhìn thấy mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời và thế giới trong những điều kiện thiết thân nhất. Đức Chúa Trời kêu gọi người ta nhập thế chứ chẳng bao giờ kêu gọi xuất thế, vì chính trong thế gian này Đức Chúa Trời đã tự bày tỏ Ngài là Chúa và là Đấng Cứu Chuộc.
    Cầu nguyện trong Cựu Ước bày tỏ đời sống tín ngưỡng. Cầu nguyện thể hiện lòng yêu mến và ngợi khen Chúa của con người, nó là một phương tiện để bày tỏ tình yêu đối với người lân cận. Có một điểm được nhấn mạnh nhiều nhất đó là sự cầu thay. Những gương điển hình đó là Môi-se (XuXh 32:32), A-rôn (Dan Ds 6:22-27), Sa-mu-ên (ISa1Sm 7:5-13), Sa-lô-môn (IVua 1V 8:22, 23) và Ê-xê-chia (IIVua 2V 19:14-19). Mỗi nhân vật quan trọng này cho thấy họ được xem như đóng vai trò trung gian giữa Đức Chúa Trời với loài người. Nếu điều đó không báo trước việc tất cả mọi người đều có thể cầu nguyện thì nó cũng minh họa cho một chủ đề tối quan trọng trong chức vụ của Đấng Christ. Một tội nhân cần được ai đó trình ra duyên cớ mình trước mặt Đức Chúa Trời, mặc dầu trong Cựu Ước đã xác nhận rằng tội lỗi muốn được tha không chỉ bởi sự cầu thay của con người (Exe Ed 14:12-20). Trong một ý nghĩa, tất cả những ai tin cậy Đức Chúa Trời đều cần phải cầu thay cho nhau. Do vậy, nhận thức về tội lỗi và sự yếu đuối thường gắn liền với sự cầu nguyện; bày tỏ sự đau buồn và thái độ xưng tội thường bắt đầu cho những lời cầu nguyện trong Cựu Ước.
    Tuy cầu nguyện là việc bộc lộ mối liên hệ cá nhân giữa Đức Chúa Trời với người thuộc về Ngài nhưng, như chúng ta đã thấy, sự cầu nguyện đã triển khai trọn vẹn trong sự thờ phượng chung tại đền thờ. Những bài ca đi lên (Thi Tv 120:1-134:3) cho thấy niềm vui mà những kẻ thờ phượng cảm thấy khi họ cùng đi lên nhà Đức Chúa Trời để thờ phượng (Thi Tv 137:5, 6). Trong Cựu Ước, sự cầu nguyện cá nhân và giữa hội chúng luôn luôn bổ túc cho nhau. Như Eichrodt đã nói: “Lòng tin kính chân thực và sống động không nhất thiết chỉ ẩn náu trong sự cầu nguyện riêng tư, nhưng sự ca tụng thật và tín đời sống tín ngưỡng sống động cũng sẽ được gia tăng sinh lực trong sự thờ phượng cộng đồng” (Eichrodt, I, 175). Việc người ta thường họp lại với nhau để cầu nguyện chung chắc chắn không được người Do Thái xem là một sự hạn chế, mặc dầu họ cũng biết rằng sự cầu nguyện không phải chỉ có trong đền thờ mà thôi.
    3. Tôn vinh Đức Chúa Trời. Như chúng ta đã thấy, Kinh Thánh quan niệm rằng sự tôn vinh Chúa là quan trọng và có giá trị. Tôn vinh Đức Chúa Trời theo nghĩa trong Kinh Thánh có thể được giải thích giản đơn là nhằm để cho giá trị và bản tính của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Bối cảnh của ý niệm này trong Cựu Ước là niềm tin cho rằng cả thế gian là lãnh vực để vinh quang của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Chẳng những chỉ có các từng trời rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời (Thi Tv 19:1) nhưng cả đất cũng đầy dẫy sự vinh hiển của Ngài nữa (EsIs 6:3). Chúng ta đã thấy thế nào người Hi-bá-lai quan niệm về mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với thế gian. Theo Vriezen ghi nhận điểm tương quan giữa thế giới quan của Cựu Ước và thế giới quan của giáo hội Chính thống Đông phương đó là sự nhấn mạnh về Linh của Đức Chúa Trời thật sự thâm nhập trong mọi sự vật (Vriezen,282n). Nhưng Cựu Ước thiếu mất phản ứng thần bí đối với thế gian, là điều phổ biến trong Cơ đốc giáo Đông phương. Nhưng cả hai góc nhìn nêu trên đều ý thức rằng Đức Chúa Trời có thể tự bày tỏ mình ra trong thế gian, quả thật Ngài có thể “nhìn xuyên suốt” thế giới này (Thi Tv 94:8-11). Mối quan hệ này được bày tỏ rõ nét nhất qua Sự Nhập Thể của Ngài.
    Tuy nhiên, vì tội lỗi mà người ta không thể nào nhìn thấy vinh quang của Đức Chúa Trời trong thế gian này, và khi Đức Chúa Trời tự bày tỏ thì thế gian này phải ở trong tình trạng bị đoán xét. Môi miệng Ê-sai phải được tẩy sạch trước khi ông được thấy vinh hiển và hào quang của Đức Chúa Trời (EsIs 6:6, 7 đối chiếu với XuXh 33:20). Nhưng sau sự xét đoán (sau khi đã dâng tế lễ thích hợp) tín nhân có thể chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Đức Giê-hô-va. Theo người Hi-bá-lai, vẻ đẹp trước hết là một kinh nghiệm thờ phượng, luôn liên quan đến sự hiện diện của Đức Chúa Trời (Thi Tv 50:2). Nhưng vẻ đẹp đó không bao giờ là điều chỉ để nhìn và thưởng thức. Đó chính là đặc điểm về sự bày tỏ của Đức Chúa Trời để khi người ta nhìn thấy vinh hiển Ngài thì họ cũng được tương giao. Người Hi-bá-lai thờ phượng Chúa sẽ trở nên giống như Đấng mà họ đang chiêm ngưỡng. Họ phải phản chiếu Đấng họ thờ phượng. Như chúng ta đã thấy sự ngợi khen là phương tiện để tín nhân có thể nhớ lại một cách công khai những gì Đức Chúa Trời đã làm, qua đó cũng phản chiếu vinh quang và sự cao cả của Đức Chúa Trời. Qua cách biểu tỏ, người thờ phượng cũng rao truyền vinh quang của Chúa. Như C. S. Lewis đã từng ghi nhận: “Sự ngợi khen chẳng những diễn tả mà còn làm trọn vẹn niềm vui; nó là cùng đích đã được chỉ định... Tận hưởng là tôn vinh. Khi truyền dạy cho chúng ta tôn vinh Ngài, Đức Chúa Trời mời gọi chúng ta tận hưởng Ngài.” (Reflections on the Psalms, 1958, 95, 97).
    Tất cả những điều kể trên đều sẽ có một kết cuộc tương lai. Các tiên tri đã nhìn thấy trước ngày vinh quang của Đức Giê-hô-va sẽ bao phủ cả đất như nước tràn ngập biển (EsIs 11:9). Nhưng trong sự thờ phượng, người tín hữu hưởng được tiền vị của ngày đó, vì trong sự thờ phượng, người ta kinh nghiệm vẻ đẹp và vinh quang của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Ở ngoài đền thờ, có những người không thấy được vinh quang của Chúa khi họ nhìn lên bầu trời. Vì vậy, các tiên tri trông đợi một ngày khi mà vinh quang của Chúa sẽ được tỏ ra bằng phương cách như vậy để mọi xác thịt đều cùng nhau chiêm ngưỡng (EsIs 40:4-5). Ngày đó, tất cả các yếu tố liên hệ với sự thờ phượng sẽ được nhìn thấy khắp nơi. Ngày đó là ngày tươi đẹp (EsIs 33:17, Thi Tv 48:2), ngày vui mừng (EsIs 9:2-3), ngày ca ngợi (EsIs 12:1, 4). Sẽ chẳng còn ai hướng dẫn thờ phượng để khuyến giục chúng ta nhìn biết và ngợi khen Đức Giê-hô-va, vì tất cả chúng ta, từ kẻ nhỏ nhất cho đến người lớn nhất đều sẽ nhận biết Đức Giê-hô-va.
    Kinh nghiệm đó sẽ rất mực riêng tư nhưng vẫn không mất đi tính tập thể. Sự tín kính của từng cá nhân phải được xem là cao điểm chứ không phải là khởi điểm của sự thờ phượng trong Cựu Ước. Chúng ta thường đảo ngược thứ tự ấy theo nhận thức tôn giáo mang tính cá nhân chủ nghĩa hiện đại. Thật vậy, sự tương giao riêng tư và cá nhân với Đức Chúa Trời đã có ngay từ buổi đầu. Nô-ê, Áp-ra-ham, Môi-se từng trò chuyện riêng với Đức Chúa Trời. Nhưng kinh nghiệm của họ, theo một ý nghĩa có tính cách tiêu biểu và trung gian. Các vị ấy nói thay cho tập thể và Đức Chúa Trời đối đãi với họ theo tính cách tập thể. Điều quan trọng cần nhớ là Đức Chúa Trời đã kêu gọi một dân tộc cho chính Ngài và các cá nhân cũng tìm được sự tương giao với Đức Chúa Trời trong bối cảnh của dân tộc này. Qua Đa-vít, chúng ta cũng đã thấy được các giai đoạn phát triển cao hơn của tín ngưỡng cá nhân (Thi Tv 51:1-19) nhưng mãi đến thời các tiên tri, chúng ta mới thấy nó nở rộ. Kinh nghiệm của Giê-rê-mi chứng minh cho khả năng tương giao cá nhân, thậm chí ông còn mong điều này được phổ cập (Giê 31). Ê-xê-chi-ên cũng đã làm sáng tỏ đức tin và trách nhiệm cá nhân đối với Chúa (Êxê 18). Nhưng nên nhớ tôn giáo cá nhân là nhằm kiện toàn chứ không phải phủ nhận tôn giáo xã hội. Một khi đã nhìn biết Đức Chúa Trời rõ hơn, chúng ta sẽ được tự do để yêu thương người lân cận một cách trọn vẹn hơn và cùng chia sẻ với nhau nhận thức đó. Trong chương kế tiếp, chúng ta sẽ nói đến sự chia sẻ sự sống này cách cụ thể.

    Đạo Đức Học
    “Ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất, vì ta ưa thích những sự ấy ”
    Gie Gr 9:24
    Nền Tảng Của Đạo Đức Học Cựu Ước
    Khi chia tài liệu thành nhiều chương, chúng ta thường dễ làm cho người ta nghĩ có một sự tách rời mà thật ra không có. Khi dừng lại để phản ánh các chủ đề khác nhau mà chúng ta đã từng xem xét, chúng ta cần nhớ tính nhất quán cơ bản của thần học Cựu Ước. Giao ước được đặt nền tảng trên bản tánh của Đức Chúa Trời; luật pháp bày tỏ mối quan hệ giao ước, và sự thờ phượng cùng với lòng tin kính cùng nhau phát triển từ mối quan hệ giao ước được minh định trong luật pháp. Lòng tin kính không hề đứng riêng rẽ nhưng tự nhiên bày tỏ qua đời sống đạo đức của cộng đồng, là những gì chúng ta sẽ thảo luận ở đây với chủ đề đạo đức học. Sự tin kính và đạo đức đi đôi với nhau như đức tin và việc làm trong sách Gia-cơ vậy. Sự khôn ngoan - mà chúng ta sẽ bàn tới trong chương kế tiếp - cũng không phải là không liên quan đến tất cả những điều này. Nó chỉ mô tả hình thức sống cụ thể trong giao ước. Sự nhận thức nhất quán như vậy đặc biệt quan trọng trong Cựu Ước, tại đó tất cả những gì trong đời sống đều có quan hệ với Đức Chúa Trời và các chủ đích của Ngài.
    E. Jacob tóm tắt đời sống đạo đức của con người trong Cựu Ước bằng những lời sau đây: “Nếu bản tánh con người có thể được minh định với chủ đề hình ảnh của Đức Chúa Trời thì chức năng của nó được coi là sự bắt chước giống Đức Chúa Trời” (Jacob, 173). Chủ đề bắt chước này được tiếp tục trong Tân Ước, dựa trên nền tảng các nguyên lý thần học quan trọng mà bây giờ chúng ta phải khảo sát.
    1. Bản tánh của Đức Chúa Trời. Đạo đức học Cựu Ước bày tỏ bản tánh của Đức Chúa Trời. Nền tảng thần học này, chúng ta cũng đã thấy trong trường hợp luật pháp tổng quát, là sự thật hiển nhiên nữa. Trước hết, nó ngụ ý tôn giáo và đạo đức có thể liên quan với nhau rất mật thiết. Về một phương diện, Cựu Ước không hề nói tới một đạo đức học tách rời ngoài tôn giáo, nghĩa là Đức Chúa Trời là nguồn gốc của sự thánh thiện, và nếu con người hành thiện là do họ có sự nhận biết về Đức Chúa Trời (ChCn 3:5, 6). Về phương diện khác, nhận thức về Đức Chúa Trời như vậy tất nhiên phải được thể hiện qua đời sống đạo đức. Bước đi ngay thẳng trước mặt Đức Chúa Trời là thành ngữ thông dụng chỉ về nếp sống đạo đức. Nếp sống ngay lành được nhấn mạnh rất nhiều trong Cựu Ước đến nỗi xuyên suốt thời gian giữa Cựu và Tân Ước, Do Thái giáo đã cho rằng toàn bộ nhiệm vụ của con người là tuân giữ luật pháp. Chính thống giáo trở nên chỉ chú trọng đến một vấn đề: thực hành đúng (orthopraxis ). Nếu một người Do Thái tuân giữ luật pháp, người ấy được kể là người công chính, bất kể niềm tin của người đó ra sao. Vì vậy, có nhiều ý kiến khác nhau được triển khai rộng rãi chung quanh một số vấn đề thần học. Khi tranh luận với người Pha-ri-si, Chúa chúng ta đã phản đối việc người Do Thái quá chú trọng vào việc làm. Tuy nhiên, tầm quan trọng của việc làm điều công chính luôn xuất hiện xuyên suốt Cựu Ước, chính Đấng Christ cũng tái xác nhận điều đó trong GiGa 7:17, “Nếu ai khứng làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, thì sẽ biết đạo lý ta có phải là bởi Đức Chúa Trời… hay không ” (cũng xem Mat Mt 5:19). Nhưng việc làm phải luôn là sự bày tỏ niềm tin vào Đức Chúa Trời xuất phát tự đáy lòng.
    Vì chỉ bởi một ý chí cá nhân - được diễn tả trong luật pháp - có giá trị cho mọi tầng lớp trong cộng đồng thuộc mọi thời đại thì cũng chỉ có một căn bản cho niềm tin thuần khiết đối với mọi tiêu chuẩn đạo đức. Chỉ có một cây thước đo duy nhất cho quan tòa lẫn bị cáo, và nó không thể rút ngắn hay kéo dài tùy ý kẻ có quyền. Trái lại, trong các tín ngưỡng sơ khai thường có đến hàng trăm vị thần. Phải dâng của lễ để làm nguôi cơn giận càng nhiều vị thần càng tốt, cho nên chẳng có ai dám chắc mình đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ rồi. Trong tín ngưỡng Hy Lạp trước thời Đấng Christ, người ta tin rằng các thần luôn bận rộn tranh chiến với nhau, cho nên ảnh hưởng của họ trên công việc của loài người là hoàn toàn phi lý. Đa thần giáo đặt ra rất nhiều tiêu chuẩn, nhưng độc thần giáo chỉ có một mà thôi. Tính nhất quán đó tập trung nơi Mười Điều Răn của luật pháp, và luật pháp đã được Đấng Christ tóm tắt: yêu Chúa và yêu người lân cận (Mat Mt 22:37-40).
    Tính nhất quán đó không có nghĩa là không chứa đựng yếu tố kinh nghiệm trong việc diễn giải luật pháp. Có những yếu tố tùy theo trường hợp (nếu điều này xảy ra thì...) và khôn ngoan là phải diễn giải tùy theo điều kiện sống và thời đại sống của con người. Nhưng những cách giải thích đó bao giờ cũng phải được hiểu trong liên hệ với mạc khải căn bản của Đức Chúa Trời: Ta là Đức Giê-hô-va. Mạc khải này là nền tảng cho những mạng lệnh và làm cho những mạng lệnh này trở thành trọng tâm của những gì được Cựu Ước thừa nhận (XuXh 20:1, 2).
    Vì cuối cùng luật pháp là duy nhất nên phải tuân giữ toàn bộ. Tân Ước giải thích nếu bạn chỉ phạm một điều luật mà thôi thì bạn đã là kẻ vi phạm luật pháp (Gia Gc 2:10 Gia-cơ tiếp tục giải thích vì chỉ có một Đức Chúa Trời là Đấng ban toàn thể luật pháp). Nhưng chắc chắn đây không phải là điều mới mẻ. Cựu Ước vốn hiểu rất rõ về tính nhất quán của những đòi hỏi của Đức Chúa Trời. Chính vì lý do đó mà Môi-se đã bảo dân Y-sơ-ra-ên “Hãy cẩn thận làm theo hết thảy các lời của luật pháp này. Vì chẳng phải một lời nói nào vô giá trị cho các ngươi đâu, nhưng nó là sự sống của các ngươi ” (PhuDnl 32:46, 47).
    2. Được tạo dựng theo hình ảnh Đức Chúa Trời. Đạo đức học Cựu Ước được đặt nền trên việc loài người được tạo dựng theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Khuynh hướng luật pháp của loài người thể hiện hình ảnh Đức Chúa Trời. Chúng ta đã thấy trật tự sáng tạo không làm cho Đức Chúa Trời thất vọng mặc dầu vật chất đã gây trở ngại cho nỗ lực thuộc linh. Cũng vậy, nhân tánh không bao giờ là một chướng ngại vật cho sự công chính. Trong tình trạng sa ngã, người ta đã trở nên xa lạ với sự thánh thiện, nhưng đó là bởi cớ tội lỗi, chứ không phải là bởi nhân tánh loài người. Luật pháp Cựu Ước tương phản rõ rệt với các bộ luật đương thời ở chính điểm này. Luật pháp của Cựu Ước là luật pháp dành cho dân chúng. Trong Sách Giao Ước (XuXh 21:1-23:33) các giá trị của con người luôn chiếm ưu thế so với các giá trị của vật chất.
    Con người trong Cựu Ước được buộc chặt vào Đức Chúa Trời bởi vì lòng nhân từ quá lớn lao của Ngài. Họ được chọn để bày tỏ lòng nhân từ của Chúa. Đồng thời, họ cũng được buộc chặt vào nhau bằng chính sự nhân từ đó. Như là đối tượng của lòng nhân từ của Đức Chúa Trời, con người cũng phải đối xử tử tế với nhau. Đức Chúa Trời đòi hỏi điều gì? Làm sự công bình và ưa sự nhân từ (MiMk 6:8). Con người là tạo vật mang hình ảnh của Đức Chúa Trời, vì thế phản ánh thuộc tánh của Ngài. Điều này có nghĩa là các mối quan hệ giữa họ với người chung quanh không phải chỉ là công bằng nhưng cũng có thể mang tinh thần sáng tạo và phục hòa y như cách Đức Chúa Trời đối xử với chúng ta (xem Giop G 29:12-14). Sự ngăn trở ở đây không phải là nhân tính, nhưng chính là tội lỗi.
    Vậy trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu được mạng lịnh của Đức Chúa Trời là phải nên thánh, vì Ngài là Đấng thánh (LeLv 11:14). Mạng lịnh này thường được rút gọn thành “Ta là Đức Giê-hô-va ”. Câu này chẳng những khẳng định quyền ra lịnh của Đức Chúa Trời, mà còn khẳng định khả năng con người có thể làm theo. Chính vì lý do đó một khi được hiểu đúng, luật pháp không phải là một lực lượng ngoại lai đứng đối mặt để chống lại con người. Luật pháp diễn tả bản tính đích thực của con người, và tuân thủ luật pháp không phải là việc làm máy móc, nhưng là việc phản ảnh mối quan hệ “ta - các ngươi” mà họ cần phải duy trì với Đức Chúa Trời. Lẽ dĩ nhiên con người không thể nên thánh như Đức Chúa Trời thánh khiết, nhưng họ có thể nên thánh theo cách riêng của loài người.
    Tuy nhiên, tội lỗi đã thay đổi tận gốc rễ tình trạng của con người. Cho nên, những lời giáo huấn mà Đức Chúa Trời ban cho con người không phải chỉ để giữ họ sống theo khuôn phép, nhưng để phục hồi địa vị cho họ. Luật pháp có tính cách cứu chuộc. Cho nên, noi theo đường lối của Đức Giê-hô-va trong Cựu Ước là Đấng tham dự chương trình cứu chuộc của Ngài về phương diện thể chất. Điều này có nghĩa là chẳng những họ chỉ làm điều công nghĩa mà còn phải chịu khổ vì sự công nghĩa nữa. Trong EsIs 53:1-12, người đầy tớ của Đức Giê-hô-va sẽ gánh tội lỗi của nhiều người khác, làm như vậy, họ sẽ được chữa lành. Dĩ nhiên điều đó khiến chúng ta nghĩ đến Đấng Christ, nhưng cũng nghĩ đến sự bách hại mà tất cả những ai muốn sống nhân đức đều phải cam chịu nữa (IITi 2Tm 3:12).
    Vâng giữ luật pháp liên hệ đến ý muốn của Đức Chúa Trời. Sở dĩ chúng ta sẵn sàng vâng giữ luật pháp vì luật pháp bày tỏ ý chỉ của Ngài. Nhưng ngay từ thời Cựu Ước đã thừa nhận sự vâng lời tự nó đã có hạn chế. Mục tiêu đích thực của đạo đức học là vượt qua mối liên hệ với ý chí đến mối liên hệ với bản chất, nghĩa là phục hồi mối liên hệ vốn có giữa A-đam với Đức Chúa Trời. Sự vâng lời còn đòi hỏi một tấm lòng mới biết vâng phục. Bằng sự giáo huấn bên ngoài, Đức Chúa Trời muốn dẫn dắt dân Ngài đến chỗ được tẩy sạch và đổi mới. Quá trình đó được Phao-lô mô tả trong Rô-ma chương 7 và 8. Luật pháp dẫn chúng ta đến nơi chúng ta có thể tiếp nhận sự đổi mới trong Đức Chúa Jesus Christ, Đấng giải cứu chúng ta khỏi thân thể tội lỗi này.
    Sự Phát Triển Của Các Nguyên Tắc Đạo Đức Cựu Ước
    1. Những lời dạy dỗ và mạng lịnh liên quan đến công cuộc sáng tạo. Khi sáng tạo trời đất, Đức Chúa Trời đã ban các nguyên tắc để chi phối và điều hành mọi loài sống. Các nguyên lý ấy đã trở thành cơ cấu để theo đó hết thảy mọi loài được phát triển. Chương trình cứu chuộc của Đức Chúa Trời nhằm cho các cơ cấu đó trở nên phong phú, mở rộng, cũng như phục hồi. Trước hết, con người phải hành xử quyền làm chủ bằng cách làm đầy dẫy và quản trị đất (SaSt 1:28). Ngày Sa-bát nhắc nhở họ về chính công trình sáng tạo của Đức Chúa Trời và sự nghỉ ngơi của Ngài; bởi đó mà ngày Sa-bát được chúc phước và được biệt riêng ra thánh (2:3). A-đam đã thực hiện quyền cai quản tạo vật bằng việc sắp xếp và duy trì trật tự của chúng (2:15). Qua việc làm đó, ông nhận thức được tiềm năng Đức Chúa Trời ban cho mình. Rồi A-đam và Ê-va được ban một mối liên hệ độc đáo với nhau phản ánh mối liên hệ giữa Đức Chúa Trời với dân Ngài. Đây là những cấu trúc căn bản cho cuộc sống của con người, và là nền tảng cho tất cả những điều theo sau.
    Dĩ nhiên, sự sa ngã đã ảnh hưởng trên tất cả mỗi một lãnh vực này. Cỏ dại và gai gốc đã thách thức và gây khó khăn cho sự cai trị và nghỉ ngơi của loài người. Việc làm trở thành gánh nặng, phải đổ mồ hôi và nước mắt. Mối quan hệ giữa người nam và người nữ trở thành mối quan hệ thống trị và dục vọng không thể kiềm chế hơn là mối quan hệ yêu thương lẫn nhau. Tất cả những điều đó biến đạo đức thành vấn đề và đòi hỏi phải được dạy dỗ, hướng dẫn, cũng như phải được giải thoát. Nhưng điều này không thay đổi tình trạng cơ bản về chức năng của con người. Nó không thay đổi mối quan hệ cơ bản của họ với đất đai, với công việc và với gia đình của họ.
    Trước khi chấm dứt phần thảo luận về những gì đã được ghi lại liên quan đến công cuộc sáng tạo, chúng ta cần chú ý đến nhu cầu được hướng dẫn. Nhu cầu ấy chỉ có sau khi loài người sa ngã hay đã có trước đó? Chúng ta biết rằng từ trước khi loài người sa ngã, Đức Chúa Trời đã từng chỉ dẫn họ và cả cấm đoán họ nữa (2:16, 17). Như chúng ta đã giải thích trước đây, con người ngay từ đầu cần phải biết là không thể nào sống được nếu không có lời phán của Đức Chúa Trời. Sự thông công với Đức Chúa Trời là căn bản cho sự sống. Nhưng những lời dạy dỗ ấy không nhằm thách thức người nam và người nữ, hay cung cấp cho họ một sự chỉ dẫn trọn vẹn; họ không cần điều đó. Mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với tổ phụ và tổ mẫu của loài người hoàn toàn mang tính tự nhiên. Bản năng tự nhiên thúc đẩy họ làm những gì Chúa đòi hỏi. Những lời dạy dỗ đó chỉ xác nhận và vạch rõ cơ cấu của tạo vật mà theo đó họ phải phát triển trước mặt Đức Chúa Trời. Họ còn có khả năng không vâng lời khi bị thử nghiệm, như một số học giả từng chủ trương. Vì vậy theo một ý nghĩa, đó là mô hình sơ khởi cho sự giáo huấn đạo đức sau này.
    2. Những lời dạy dỗ và định chế dành cho dân tộc giao ước của Đức Chúa Trời. Như chúng ta đã thấy, giao ước được coi là sự sống của dân Y-sơ-ra-ên và nói lên mối quan hệ giữa họ với Đức Chúa Trời. Hơn nữa, mọi quy chế cho đời sống của họ là sự diễn giải về mối quan hệ giao ước đó. Cũng như những lời phán truyền cho tạo vật, các quy chế về đời sống của dân Y-sơ-ra-ên cũng thể hiện qua các hình thức đạo đức. Chúng được nhắc nhở cho dân chúng từng b